<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Nghi Quỹ</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/thu-vien-phat-hoc/nghi-quy/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Sun, 07 Jun 2026 20:27:58 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Thiền Định và Thần Chú Quán Thế Âm</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/thien-dinh-va-than-chu-quan-the-am/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/thien-dinh-va-than-chu-quan-the-am/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 10 Aug 2016 18:26:04 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Nghi Quỹ]]></category>
		<category><![CDATA[Thư Viện]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6962</guid>
		<description><![CDATA[Rinpoche đã ban một tấm hình Đức Quán Thế Âm [Phạn: Avalokiteshvara] cho một cô hầu bàn mà ngài gặp tại một quán ăn tại Darjeeling, Ấn Độ. Sau đó, ngài gửi cho cô lời khuyên này, nó bao gồm một giải thích về cách quán tưởng, vô vàn lợi lạc của việc trì tụng OM MANI PADME HUM và&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/thien-dinh-va-than-chu-quan-the-am/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rinpoche đã ban một tấm hình Đức Quán Thế Âm [Phạn: Avalokiteshvara] cho một cô hầu bàn mà ngài gặp tại một quán ăn tại Darjeeling, Ấn Độ. Sau đó, ngài gửi cho cô lời khuyên này, nó bao gồm một giải thích về cách quán tưởng, vô vàn lợi lạc của việc trì tụng OM MANI PADME HUM và cách thức để hồi hướng công đức.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Con rất yêu quý,</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thầy hy vọng con vẫn khỏe mạnh. Trước đây thầy nên viết cho con. Thầy rất xin lỗi rằng trong một thời gian dài, thầy đã không viết để giải thích những điều thầy đã hứa, mặc dù thỉnh thoảng có nhớ những gì thầy đã hứa gửi cho con.  </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đối với thiền định về Đức Quán Thế Âm, Đức Phật Bi mẫn, việc trì tụng OM MANI PADME HUM rất quan trọng. Nó là một trong những điều quan trọng nhất trong cuộc đời. Ngay cả những con muỗi, ngay cả những con đỉa, ngay cả những con kiến, bởi chúng mong muốn hạnh phúc và không muốn đau khổ, ngay cả chúng cũng cần trì tụng OM MANI PADME HUM, nhưng chúng không thể bởi chúng không có một thân người cho phép chúng làm như thế. Và bởi là súc sinh, chúng không có tâm trí của con người, vì thế chúng không thể suy nghĩ nhiều hay thật sâu sắc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Việc trì tụng thần chú này tịnh hóa những ác nghiệp và các che chướng được tích tập từ vô thủy, và con cũng tích tập những công đức rộng lớn. Chẳng hạn như, nhờ trì tụng OM MANI PADME HUM, ta có thể tính đếm mỗi một giọt nước trong Thái Bình Dương, nhưng ta không thể đo lường được lợi lạc của việc trì tụng thần chú này. Các lợi lạc thật vô hạn và ngay cả chư Phật cũng không thể tính đếm được chúng. Có thể đếm được những hạt bụi trong trái đất, nhưng không thể tính đếm những lợi lạc của việc trì tụng OM MANI PADME HUM. Có thể đếm được số lá cỏ trong trái đất, nhưng không thể tính đếm những lợi lạc của việc trì tụng OM MANI PADME HUM. Có thể đếm được mỗi hạt cát trong các đại dương, nhưng lợi ích của OM MANI PADME HUM thì không thể tính đếm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đặc biệt là nếu con trì tụng OM MANI PADME HUM với Bồ đề tâm, tư tưởng quý báu của sự giác ngộ, để giải thoát vô số chúng sinh khỏi các đại dương đau khổ sinh tử và đưa họ tới hạnh phúc vô song, trạng thái của tâm toàn trí, và sau đó giải thoát bản thân để thành tựu hạnh phúc vô song, trạng thái của tâm toàn trí. Đây là tư tưởng quý báu được gọi là Bồ đề tâm. Nếu con trì tụng OM MANI PADME HUM với động lực đó thì không có công đức nào to lớn hơn, không có công đức nào khó tin hơn, và đó là điều khó tin nhất. Nó vô cùng lớn lao. Cho dù con chỉ trì tụng thần chú một lần với Bồ đề tâm, nếu được cụ thể hóa thì công đức đó sẽ vĩ đại hơn bầu trời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Con có thể thấy rằng điều này khiến nó trở thành một phương cách nhanh chóng để biến con đường thành Phật quả, trạng thái của tâm toàn trí và đặc biệt là phát triển lòng bi mẫn đối với vô số chúng sinh địa ngục, vô số ngạ quỷ, vô số súc sinh, vô số con người, vô số a tu la, vô số vị trời và vô số chúng sinh trong trạng thái trung gian. Sau đó hãy phát triển Bồ đề tâm để giải thoát họ khỏi các đại dương đau khổ của sinh tử, giải thoát tất cả chúng sinh và đưa họ tới hạnh phúc vô song, sự giải trừ tuyệt đối các che chướng và viên mãn mọi thành tựu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thầy tặng con một tấm hình Đức Quán Thế Âm, nhưng đừng nghĩ rằng nó chỉ là một tấm hình. Hãy nghĩ nó là Quán Thế Âm thực sự sống động, vĩ đại như một ngọn núi tuyết hay như Rặng Hy mã lạp sơn. Hãy nghĩ nó thực sự sống động, sự hình thành của ánh sáng, không chỉ là vật chất mà là lòng bi mẫn thực sự sống động của vô số chư Phật. Đây là sự hiển lộ của tâm toàn trí của vô số chư Phật—sự hiểu biết và năng lực viên mãn để có thể thực hiện những công việc hoàn hảo cho tất cả chúng sinh, kể cả con.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thầy hy vọng sẽ sớm xuất bản một quyển sách về các thiền định Quán Thế Âm với một lời cầu nguyện Quán Thế Âm khác nhau để đọc mỗi ngày và sau đó trì tụng OM MANI PADME HUM</span><i><span style="font-weight: 400;">. </span></i><span style="font-weight: 400;">Thầy có một quyển sách tên là </span><i><span style="font-weight: 400;">Những Giáo lý từ Khóa Nhập thất Mani</span></i><span style="font-weight: 400;"> (Teachings from the Mani Retreat), vì thế hãy đọc nó nếu con có thể.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu con đang trì tụng chỉ một chuỗi OM MANI PADME HUM, hãy quán tưởng rằng bởi lòng đại bi, Đức Quán Thế Âm đang gửi những tia sáng tới con, như những tia sáng mặt trời.  Khi con nhận lãnh những tia sáng này, tâm con trở nên hỷ lạc và an bình không thể tin nổi. Con kinh nghiệm điều này, sau đó thân con trở nên hoàn toàn trắng, như bản tánh của ánh sáng. Con hoàn toàn được tịnh hóa mọi ác nghiệp và che chướng đã tích tập từ những tái sinh vô thủy, và mọi bệnh tật và những hãm hại của tinh linh trong đời này được tịnh hóa. Quán Thế Âm cũng bởi những tia sáng tới tất cả chúng sinh—vô số chúng sinh địa ngục, vô số ngạ quỷ, vô số súc sinh, vô số con người, vô số a tu la, vô số vị trời và vô số chúng sinh trong trạng thái trung gian—từ họ con nhận mọi hạnh phúc vô thủy trong quá khứ, và mọi tích tập điều thiện lành. Con thọ nhận mọi tích tập trong những đời quá khứ, hiện tại và tương lai từ họ, cũng như hạnh phúc tối thượng, sự giải thoát khỏi các đại dương đau khổ trong sinh tử. Hãy nghĩ rằng họ hoàn toàn được tịnh hóa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy tụng OM MANI PADME HUM với xâu chuỗi Thầy cho con, trong khi nhất tâm nhìn Đức Quan Thế Âm. Trong thời gian đó, càng nhiều càng tốt, hãy cố gắng đừng sao lãng hay nghĩ tưởng bất kỳ điều gì khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu con đã nhận Đại Nhập môn Quán Thế Âm (đây là một nhập môn kéo dài hai ngày) thì trong thời gian trì tụng một chuỗi đầu tiên, chủ yếu là con nghĩ tưởng về việc tịnh hóa bản thân. Sau đó con trở thành Quán Thế Âm, hình thức của ánh sáng, có thân linh thánh của Quán Thế Âm với mọi phẩm tính, và với tâm toàn trí viên mãn, với năng lực viên mãn, lòng bi mẫn vô hạn đối với chúng sinh và năng lực viên mãn để dẫn dắt chúng sinh. Từ trái tim của con, hãy gửi đi ánh sáng—từ chữ HRIH và vòng thần chú—tới vô số chúng sinh. Họ được tịnh hóa và tất cả họ biến thành Quán Thế Âm. Trong khi con làm điều đó, hãy tụng OM MANI PADME HUM. Trong chuỗi thần chú thứ hai, con quán tưởng bản thân là Quán Thế Âm và mọi chúng sinh là Quán Thế Âm giác ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu con không từng nhận Đại Nhập môn Quán Thế Âm thì con không thể quán tưởng bản thân là Quán Thế Âm. Thay vào đó, hãy chủ yếu nghĩ là con đang tự tịnh hóa bản thân và đồng thời tất cả chúng sinh đều được tịnh hóa. Trong chuỗi thứ hai, hãy chủ yếu nghĩ tưởng rằng con đang nhận mọi phẩm tính của Quán Thế Âm, và cuối cùng chúng sinh thọ nhận mọi phẩm tính của Quán Thế Âm. Con có thể làm như thế, nhưng nếu con muốn trì tụng thần chú nhiều hơn nữa, chẳng hạn như trong năm chuỗi đầu, hãy nghĩ con đang tịnh hóa bản thân và chúng sinh, và kế đó trong năm chuỗi tiếp theo, bản thân con và chúng sinh được tịnh hóa. Trong mười chuỗi kế tiếp, hãy nghĩ rằng mọi phẩm tính của Quán Thế Âm được bản thân con và tất cả chúng sinh thọ nhận. Hãy chủ yếu tập trung vào chúng sinh được tịnh hóa và sau đó thọ nhận mọi phẩm tính. Nếu con không từng nhận đại nhập môn thì hãy làm như thế.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu con muốn nghĩ đến những người đang bị bệnh, những người đã mất hay những người đang hấp hối và muốn làm một sự cầu nguyện cho họ, hãy quán tưởng các tia sáng phóng chiếu từ Quán Thế Âm và tịnh hóa người đó. Thực hành đó trợ giúp rất nhiều cho những người đang đau yếu, đã mất hay đang hấp hối. Con cũng có thể nghĩ đến những người thân yêu và đặc biệt là những kẻ thù của con, những người thù ghét con.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cuối cùng hãy hồi hướng như sau:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Nhờ mọi công đức mà con tích tập trong quá khứ, hiện tại, và vị lai, nhờ mọi công đức trong ba thời được tích tập bởi vô số chúng sinh và vô số chư Phật, nguyện Bồ đề tâm, tư tưởng quý báu của sự giác ngộ, được phát triển không chậm trễ ngay cả một phút giây trong tim của chúng sinh sáu cõi—vô số chúng sinh địa ngục, vô số ngạ quỷ, vô số súc sinh, vô số con người, vô số a tu la, vô số các vị trời và vô số chúng sinh trong trạng thái trung gian, và đặc biệt là mọi sinh loài trong thế giới này, kể cả gia đình con và bản thân con. Nguyện Bồ đề tâm đã từng sinh khởi trong bản thân con và chúng sinh được tăng trưởng.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Nhờ mọi công đức do con tích tập trong quá khứ, hiện tại, và vị lai, và nhờ mọi công đức trong ba thời của vô số chúng sinh và vô số chư Phật, nguyện con trở thành Đức Quán Thế Âm càng nhanh càng tốt và riêng mình con đưa mọi chúng sinh tới hạnh phúc vô song của Quán Thế Âm, trạng thái của tâm toàn trí.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau đó con có thể hồi hướng công đức để không làm hại chúng sinh và cũng hồi hướng mọi ước nguyện và thành công tốt lành cho chúng sinh và giáo lý của Đức Phật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cảm ơn con rất, rất nhiều và Thầy hy vọng gặp lại con.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu con muốn nghe giáo lý và thực hành thiền định, hãy đến trung tâm của chúng tôi tại Bangalore. Thật là tốt để tham dự và gia nhập. Những người ở đó sẽ rất hài lòng. Con có thể kết nối với giám đốc điều hành. Cô ấy rất tốt, rất tận hiến trong việc làm lợi lạc chúng sinh và giáo lý của Đức Phật và rất tận tụy để các ước nguyện của Thầy được thành công.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cảm ơn con rất nhiều!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với nhiều lòng từ ái và lời cầu nguyện…</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Lama Zopa Rinpoche</b></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Nguyên tác: “Chenrezig Meditation and Mantra” </span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">http://www.lamayeshe.com/advice/chenrezig-meditation-and-mantra</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Thanh Liên dịch sang Việt ngữ</span></i></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/thien-dinh-va-than-chu-quan-the-am/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đức Avalokiteshvara Và Thần Chú Sáu-âm</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/duc-avalokiteshvara-va-than-chu-sau-am/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/duc-avalokiteshvara-va-than-chu-sau-am/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 25 Dec 2015 11:11:42 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Nghi Quỹ]]></category>
		<category><![CDATA[Thư Viện]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6589</guid>
		<description><![CDATA[By Đức Shangpa Tulku Rinpoche Lời Giới thiệu Là kết quả của việc ta bám chấp vào một “bản ngã”, sự ô nhiễm như kiêu mạn, tham muốn, vô minh, bủn xỉn và sân hận xuất hiện. Bởi những tà kiến và cảm xúc này, chúng sinh thực hiện những hành động tiêu cực cột trói chính họ vào những&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/duc-avalokiteshvara-va-than-chu-sau-am/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;">By Đức Shangpa Tulku Rinpoche</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Lời Giới thiệu</b></p>
<p style="text-align: justify;">Là kết quả của việc ta bám chấp vào một “bản ngã”, sự ô nhiễm như kiêu mạn, tham muốn, vô minh, bủn xỉn và sân hận xuất hiện. Bởi những tà kiến và cảm xúc này, chúng sinh thực hiện những hành động tiêu cực cột trói chính họ vào những nỗi khổ trong sinh tử, đó là chu kỳ sinh, lão, bệnh, tử.</p>
<p style="text-align: justify;">Tất cả chư Phật kể cả Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất hiện trong thế giới này là để khai thị cho ta con đường giải thoát khỏi nỗi đau khổ này. Để đạt được mục tiêu là sự Giác ngộ, một hành giả cần phải phát triển trí tuệ và những phẩm tính của Đức Phật. Trong giai đoạn phát triển, hành giả tu tập Bồ Tát hạnh nương tựa vào chư Phật và Bồ Tát để nhận được những giáo lý, sự ban phước, gia hộ và quán đảnh của các Ngài. Bằng sự viên mãn của sáu Ba la mật, những Đấng Vĩ đại hay Bồ Tát này tích tập công đức, lòng bi mẫn, trí tuệ và phẩm tính khổng lồ, nhờ đó các Ngài đủ năng lực để cứu giúp chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Một trong những vị Bồ Tát được tôn kính nhất ở Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật bản, Hàn Quốc và Đông Nam Á là Đức Avalokiteshvara (Đức Quán Thế Âm). Người Tây Tạng gọi Ngài là Chenrezig, người Trung Quốc gọi là Kuan Yin Pu Sa.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự Đản Sinh Kỳ diệu của Đức Avalokiteshvara trong cõi Tịnh độ Padmawati</p>
<p style="text-align: justify;">Theo bản văn Mani Kabum, trong cõi Tịnh độ Padmawati (Liên Hoa), có một vị Chuyển luân thánh vương tên là Zangpochog. Vị Vua này muốn có một hoàng nam. Vua thực hiện nhiều lễ cúng dường Tam Bảo để cầu xin được chấp nhận ước nguyện, và cứ mỗi lần cúng dường nhà vua đều sai lính hầu đi hái hoa sen.</p>
<p style="text-align: justify;">Có một lần lính hầu tìm thấy một hoa sen khổng lồ trong hồ. Cánh hoa lớn như cánh chim kên kên và hoa sắp nở. Anh ta vội vã chạy về báo tin cho Vua. Cùng với đoàn quần thần gồm các vị thượng thư, Vua đi tới hồ với nhiều vật cúng dường. Họ tìm thấy ở đó một hoa sen khổng lồ đang nở. Giữa những cánh hoa là một cậu bé khoảng mười sáu tuổi. Thân cậu bé có sắc trắng và tô điểm những dấu hiệu viên mãn của một vị Phật. Ánh sáng chiếu ra từ thân cậu. Cậu bé kêu lên: “Ta cảm thấy thương xót tất cả chúng sinh đang chịu quá nhiều đau khổ!”</p>
<p style="text-align: justify;">Vua và đoàn quần thần thực hiện nhiều cuộc cúng dường, lễ lạy cậu bé, và thỉnh mời cậu về cung điện. Do sự đản sinh kỳ diệu này, nhà Vua tặng cho cậu danh hiệu “Sinh trong Hoa Sen” hay “Tinh túy của Hoa Sen”. Vua cũng tham khảo ý kiến Đạo sư của mình là Đức Phật Amitabha (A Di Đà) về vấn đề này. Đức Phật bảo Vua rằng cậu bé này là một hiển lộ của tất cả những hoạt động của chư Phật. Ngài cũng là hiển lộ của trái tim của tất cả chư Phật. Danh hiệu của Ngài là Avalokiteshvara và Ngài đáp ứng mục đích của tất cả chúng sinh bao la như không gian.</p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Sứ mệnh của Đức Avalokiteshvara </i></b><br />
<b><i>và sự hiển lộ của Sáu Đức Phật trong sáu cõi chúng sinh</i></b></p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày trăng tròn, Vua thực hiện một lễ cúng dường Tam Bảo và Đức Avalokiteshvara thật trọng thể. Vào lúc đó, Đức Avalokiteshvara nhớ lại sứ mệnh của mình. Ngài phải giải thoát tất cả chúng sinh khỏi những đau khổ của họ. Với lòng bi mẫn vĩ đại, Ngài đăm đăm nhìn chúng sinh trong ba cõi dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Ngài nhận ra những ô nhiễm và đau khổ của họ. Ngài thấy “lòng tham muốn của họ như thác nước; sân hận như một ngọn lửa hừng hực; si mê bao phủ họ như những đám mây tối ám; kiêu mạn thì vững chắc như ngọn núi, và sự ganh tị của họ mau lẹ như cơn gió. Giây xích bản ngã cột trói mỗi một và toàn thể chúng sinh vào vòng sinh tử. Nỗi đau khổ mà họ phải trải nghiệm thì như thể họ rơi vàøo đống lửa nóng đỏ.”</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Avalokiteshvara phát khởi lòng đại bi và từ đôi mắt Ngài những giọt lệ tuôn rơi. Ngài thực hiện những cuộc cúng dường vĩ đại, lễ lạy và cầu xin thập phương chư Phật chỉ dạy làm thế nào Ngài có thể làm lợi lạc tất cả những chúng sinh này. Chư Phật đồng thanh đáp lại: “Nếu Ông muốn làm lợi lạc tất cả chúng sinh, Ông phải được thúc đẩy bởi lòng từ ái và bi mẫn. Đừng chán ngán công việc này. Đừng từ bỏ nó.” Ngài hỏi lại một lần nữa: “Làm thế nào con có thể phát triển lòng từ ái và bi mẫn?” Đức Phật A Di Đà xuất hiện để chỉ dạy cho Đức Avalokiteshvara phương pháp thực hành, và ban quán đảnh cho Ngài để hoàn thành sứ mệnh. Với sự ban phước này, Đức Avalokiteshvara ước nguyện xa rộng thêm nữa: “Từ mỗi lỗ chân lông của tôi, cầu mong tôi hiển lộ chư Phật và Bồ Tát phù hợp với mọi nhu cầu của tất cả chúng sinh. Với những hiển lộ này, cầu mong tôi giải thoát tất cả chúng sinh không loại trừ ai. Nếu tôi chấp ngã, cầu xin đầu tôi vỡ thành từng mảnh”. Đức Phật A Di Đà tán thán Ngài: “Tuyệt hảo. Chư Phật ba thời khắp mười phương và ta cũng từng phát triển thái độ giác ngộ như Ông. Chúng ta đã phát nguyện như thế và đã đạt được Giác ngộ. Ta sẽ hộ trì cho Ông.” Đức Phật A Di Đà ban phước cho lời phát nguyện của Ngài và gia trì cho Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Hiển lộ của Sáu Đức Phật trong Sáu Cõi</b></p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó Đức Avalokiteshvara phóng ra sáu ánh sáng từ thân Ngài tới sáu cõi chúng sinh. Mỗi ánh sáng hiển lộ như một Đức Phật.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Sáu Đức Phật là:</b></p>
<p style="text-align: justify;">Đức Phật Gyajin trong cõi trời điều phục tánh kiêu mạn của tất cả các vị trời và giải thoát họ khỏi nỗi khổ;</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Phật Thagzangri trong cõi bán-thần điều phục sự ganh tị và giải thoát họ khỏi nỗi khổ của sự tranh đấu và chiến tranh liên tục;</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Phật Shakyamuni (Thích Ca Mâu Ni) trong cõi người điều phục lòng tham muốn của họ và giải thoát họ khỏi sinh, lão, bệnh, tử;</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Phật Sengye Rabten trong cõi súc sinh điều phục ô nhiễm của sự vô minh, và giải thoát họ khỏi nỗi khổ khi bị săn bắt, ăn thịt và hành hạ;</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Phật Namkhazod trong cõi ngạ quỷ điều phục ô nhiễm của sự keo kiệt, bủn xỉn, và giải thoát họ khỏi nỗi khổ khi phải chịu đựng cái nóng và lạnh khủng khiếp và những nỗi khổ mãnh liệt khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhờ đó vô số chúng sinh đã được giải thoát.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Sự Hiển lộ của Đức Avalokiteshvara Thiên Thủ Thiên Nhãn </b><br />
<b>và Thần chú Sáu-Âm</b></p>
<p style="text-align: justify;">Sau một thời gian, Đức Avalokiteshvara nghĩ rằng Ngài đã làm vơi bớt một số đáng kể chúng sinh đau khổ. Từ Núi Tu Di, Ngài đăm đăm nhìn bằng đôi mắt trí tuệ, Ngài thất vọng khi nhận ra rằng số lượng chúng sinh đó không suy giảm. Ngài phóng hào quang ba lần tới sáu cõi để giải thoát tất cả chúng sinh. Khi kiểm soát một lần nữa, Ngài lại thất vọng. Thật tuyệt vọng, Ngài nghĩ: “Đúng như Đức Như Lai đã nói, không gian thì vô tận; chúng sinh cũng bao la vô tận như thế. Ta đã giải thoát quá nhiều chúng sinh và tuy thế số lượng đó không suy giảm. Samsara (sinh tử) thật vô cùng tận. Ta phải tự giải thoát chính mình.”</p>
<p style="text-align: justify;">Với tư tưởng thối thất này, Ngài làm gãy bể giới nguyện Bồ Tát. Đầu Ngài vỡ ra thành một trăm mảnh. Lòng tràn trề ân hận, Ngài cầu cứu Đức Phật A Di Đà và tất cả chư Phật: “Con đã không hoàn thành mục đích của con và của tất cả chúng sinh, xin cứu giúp con.” Đức Phật A Di Đà xuất hiện, thâu thập một trăm mảnh sọ vỡ và biến chúng thành mười một đầu. Ngài ban phước cho mười đầu có diện mạo an bình và một đầu có vẻ mặt phẫn nộ để chế ngự những kẻ không thể điều phục bằng phương tiện an bình.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó Đức Phật A Di Đà giảng dạy: “Sinh tử không có lúc bắt đầu. Sinh tử cũng không có lúc chấm dứt. Ông phải làm lợi lạc chúng sinh cho tới khi sinh tử chấm dứt. (1)</p>
<p style="text-align: justify;">Rồi Đức Phật A Di Đà truyền dạy thêm cho Ngài: “Nếu Ông muốn làm vơi nỗi khổ của sáu cõi, Ông phải truyền bá Thần chú Sáu-Âm “OM MANI PADME HUNG”. Thần chú này sẽ làm ngừng dứt tái sinh và những đau khổ của chúng sinh trong sáu cõi. Mỗi một âm sẽ tiệt trừ nguyên nhân và điều kiện (duyên) để tái sinh ở một trong sáu cõi tương ứng. “OM” sẽ tiệt trừ nhân duyên sinh vào cõi trời.”MA” sẽ tiệt trừ nhân duyên sinh vào cõi bán thần. “NI” sẽ tiệt trừ nhân duyên sinh vào cõi người. “PAD” sẽ tiệt trừ nhân duyên sinh vào cõi súc sinh. “ME” sẽ tiệt trừ nhân duyên sinh vào cõi ngạ quỷ. “HUNG” sẽ tiệt trừ nhân duyên bị sinh trong cõi địa ngục. Ông phải cam kết, bảo vệ, trì tụng và thâm nhập thần chú này. Thần chú này sẽ làm sáu cõi trống không.”</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Đức Avalokiteshvara Xuất hiện trong Thế giới này</b></p>
<p style="text-align: justify;">Đức Phật A Di Đà đã hiển lộ sáu âm của Thần chú “Om Mani Padme Hung” trong hình thức ánh sáng từ Núi Potala tới thế giới này. Ngài cũng truyền dạy Đức Avalokiteshvara đi tới đó để giải thoát tất cả chúng sinh. Để báo trước sự xuất hiện của Đức Avalokiteshvara, toàn thể thế giới ngập đầy những dấu hiệu kỳ diệu và ánh sáng chói lọi vượt xa ánh sáng của mặt trời và mặt trăng.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong thời gian này, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đang truyền Pháp tại Núi Malaya. Một vị Bồ Tát để ý thấy ánh sáng chói lọi. Ngài quỳ xuống và hỏi Đức Phật lý do của điều này. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trả lời: “Ở phương Tây cách đây vô lượng thế giới, có một nơi gọi là Padmawati (Liên Hoa). Tại nơi đó có Đức Phật A Di Đà và Ngài có một vị Bồ Tát tên là Avalokiteshvara. Bồ Tát này đã xuất hiện tại thế giới này, đi tới Núi Potala, ở đó Bồ Tát sẽ làm lợi lạc vô số chúng sinh. Bồ Tát này là vị xuất sắc nhất trong tất cả các Bồ Tát. Ngài hiển lộ một ngàn vị Phật trùm khắp toàn thể vũ trụ để giải thoát tất cả chúng sinh.”</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Giáo lý Thần chú Sáu-Âm của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni</b></p>
<p style="text-align: justify;">Có một lần, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đang an trụ tại tu viện Anathapindika (Cấp Cô Độc), tại Vườn Jeta (Kỳ Thọ), gần Shravasti (Xá Vệ Quốc) cùng đoàn tùy tùng gồm các đệ tử của Ngài. Ngài giới thiệu vị Bồ Tát phi thường này và Thần chú Sáu-Âm với tập hội. Một Bồ Tát tên là Sarvanivaranaviskambhim (Trừ Cái Chướng) thỉnh cầu Đấng Tôn quý. Bồ Tát đảnh lễ và kêu lên: “Vì lợi lạc của chúng sinh trong sáu cõi, xin chỉ dạy cho con làm thế nào con để có được Thần chú Vĩ đại này, là trí tuệ của tất cả chư Phật. Thần chú này sẽ chặt đứt những gốc rễ của sinh tử. Kính mong Đức Phật ban cho con giáo lý này. Con cúng dường toàn thể vũ trụ như Mạn đà la. Đối với tất cả những ai ước nguyện biên chép Thần chú Sáu-Âm này, con cúng dường máu của con để làm mực, xương để làm bút và da con làm giấy viết. Xin Đức Phật ban cho con giáo lý Thần chú Sáu-Âm này.”</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ban giáo lý: “<b><i>Đây là thần chú lợi lạc nhất. Ngay cả ta cũng đã phát nguyện này trước tất cả một triệu Đức Phật và sau đó nhận lãnh giáo lý này từ Đức Phật A Di Đà.”</i></b></p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Những Lợi ích của Thần chú Sáu-Âm</i></b></p>
<p style="text-align: justify;">Công đức của Thần chú Sáu-Âm thật vô lượng và ngay cả chư Phật trong ba thời cũng không thể mô tả hết. Một số những lợi ích này là:</p>
<p style="text-align: justify;">1. Bất kỳ ai bảo vệ thần chú này, thân thể họ sẽ biến thành thân kim cương, xương biến thành xá lợi của Đức Phật và tâm thức bình thường của họ sẽ biến thành trí tuệ của chư Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">2. Bất kỳ ai trì tụng thần chú này dù chỉ một lần sẽ đạt được trí tuệ vô biên. Cuối cùng họ sẽ phát triển lòng bi mẫn và hoàn thiện sáu Ba la mật. Họ sẽ được sinh ra làm một Chuyển luân thánh vương. Họ sẽ thành tựu cấp bậc bất thối chuyển của Bồ Tát và cuối cùng đạt được Giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">3. Nếu thần chú này được khắc trên đá và những ngọn núi, khi một con người hay phi-nhân xúc chạm và nhìn thấy thần chú, người ấy sẽ phát triển nguyên nhân để trở thành một Bồ Tát trong đời sau, bằng cách ấy làm vơi dịu những đau khổ của họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Ta được dạy rằng có thể tính đếm được vô lượng cát sông Hằng và những giọt nước của đại dương nhưng công đức của việc trì tụng Thần chú Sáu-Âm thì không thể đo lường được.</p>
<p style="text-align: justify;">Thần chú Sáu-Âm là hiển lộ của ngôn ngữ và năng lực trí tuệ của tất cả chư Phật. Nó tịnh hóa tri giác bất tịnh của ta về âm thanh. Nó cũng là một phương tiện để bảo vệ tâm ta khỏi những niệm tưởng mê lầm. Nó chặt đứt vô minh và khai mở trí tuệ của ta. Nó làm tăng trưởng vô lượng sự ban phước và khiến ta có thể đạt được an bình. Thần chú này có thể cứu giúp và làm nguôi dịu hàng trăm và hàng ngàn khổ đau và khốn khó của chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Đối với một số người thì âm thanh của thần chú này thật không thể nghĩ bàn. Tuy nhiên, Bồ Tát đã phát nguyện và tích tập vô lượng công đức, trí tuệ và phương tiện thiện xảo để cứu giúp chúng sinh. Ngài có chiếc “móc” để giải thoát chúng sinh. Nếu chúng ta có niềm tin chân thành và sâu xa ở Ngài và nỗ lực trong việc thực hành Pháp, thì coi như ta có “một cái vòng chắc chắn và không bị gãy đứt.” Nhờ chiếc vòng của niềm tin, Đức Avalokiteshvara có thể “câu móc” chúng ta thoát khỏi những đau khổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Do đó, ta nên đưa Đức Avalokiteshvara vào tâm thức ta thật tôn kính, và trì tụng Thần chú Sáu-Âm thật chân thành và rõ ràng. Mọi nhu cầu thế gian và xuất thế gian của ta sẽ được đáp ứng.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Đức Avalokiteshvara ở Tây Tạng</b></p>
<p style="text-align: justify;">Ngày xưa, khi vị Vua Tây Tạng là Lha Thothori Nyentsen đang ở trong Cung điện Yumbu Lagang thì từ trên trời một chiếc hộp nhỏ rơi xuống mái cung điện. Hộp được mở ra và để lộ pho Kinh Những Nghi thức của sự Từ bỏ và Hoàn thành (spang-skong phyag-brgya-pa’imdo), một bản khắc Đà-ra-ni Viên Ngọc Như Ý (Cintamanidharani), Kinh Những Phẩm tính Phong phú của Đức Avalokiteshvara (Aryakaranda-sutra), Thần chú Sáu-Âm, và một stupa (tháp) vàng. Nhà vua không biết những Kinh sách đó là gì, nhưng hiểu rằng chúng thật tốt lành. Vua có một giấc mộng lành là sau năm thế hệ nữa, người ta sẽ thấu hiểu ý nghĩa của “những vật tốt lành”.</p>
<p style="text-align: justify;">Vị vua thứ năm sau Lha Thothori Nyentsen là Vua Songtsen Gampo. Ngài cưới công chúa Brikuti xứ Nepal và công chúa Trung Hoa đời Đường tên là Wen-Cheng (Văn Thành). Mỗi bà công chúa mang một pho tượng Thích Ca Mâu Ni tới Tây Tạng và giới thiệu văn hóa Phật Giáo với xứ này. Đức Vua cảm thấy việc mang giáo lý Phật Giáo tới cho thần dân ngài thật cần thiết. Ngài phái Thonmi Sambhota tới Ấn Độ để học văn phạm và chữ viết. Sau này Thonmi Sambhota phát minh ra mẫu tự và văn phạm Tây Tạng dựa trên Phạn ngữ. Bản Kinh Phật Giáo đầu tiên được dịch từ Phạn ngữ sang tiếng Tây Tạng là Hai mươi mốt Kinh và Tantra (Mật điển) của Đức Avalokiteshvara. Sau đó, nhiều giáo lý Phật Giáo quan trọng khác cũng đựơc phiên dịch.</p>
<p style="text-align: justify;">Vua và thần dân của ngài dấn mình vào thực hành của Đức Avalokiteshvara. Kinh điển được thâu thập và chôn dấu trong những kho tàng riêng biệt. Về sau, những Đạo sư thành tựu là Ngodrup, Nyang và vị thầy Shakya-O đã khám phá những kho tàng này. Những kho tàng được biết tới là Những Tác phẩm được Tuyển chọn của Đức Vua liên quan tới Thần chú “Om Mani Padme Hum” (mani bka-bum).</p>
<p style="text-align: justify;">Nhiều Đạo sư vĩ đại ở Tây Tạng trong quá khứ và hiện tại đã truyền bá giáo lý của Đức Avalokiteshvara cho môn đồ của họ. Có nhiều sadhana (nghi quỹ) được các Đạo sư vĩ đại như thế biên soạn. Trong quá trình thực hành, đích thân các ngài đã nhận lãnh những giáo lý từ Bổn Tôn. Nhiều hành giả Tây Tạng tuân thủ những phương pháp thực hành này để thành tựu trạng thái của Đức Avalokiteshvara và giải thoát bản thân họ khỏi những đau khổ của luân hồi sinh tử. Họ cũng dẫn dắt những người khác tới con đường viên mãn này.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhiều tu viện và ni viện cũng hướng dẫn những khóa nhập thất tịnh hóa hàng năm (Nyungne) (3), những Khóa Trì tụng Thần Chú Long trọng cho tu sĩ và cư sĩ. Các Đạo sư cũng khuyến khích việc đúc Thần Chú Sáu-Âm trên những bánh xe cầu nguyện, v.v.. để tích tập công đức. Người Tây Tạng tin rằng tất cả những việc làm này sẽ hỗ trợ cho họ trong tiến trình con đường tâm linh của họ. Họ tin rằng Đức Avalokiteshvara là vị cứu tinh và đấng bảo hộ của họ, trong khi Vua Songtsen Gampo là một Hóa Thân của Đức Avalokiteshvara, và hai vị phối ngẫu của Đức Vua là những Hóa Thân của hai Đức Tara. (Xin đọc “Bài Nguyện Đức Chenrézi” của vị vua này ở cuối bài).</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Đức Avalokiteshvara ở Trung Quốc</b></p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù Phật Giáo đến Trung Hoa từ triều Đông Hán, nhưng nó chỉ trở nên phổ biến và có ảnh hưởng tại xứ này trong đời Đường. Nhiều tín đồ của Đạo Phật đã hành hương tới Ấn Độ để nghiên cứu từ cội nguồn của giáo lý. Người nổi danh nhất trong những khách hành hương đời Đường này là Đạo sư Huyền Trang. Sử sách ghi lại rằng trong cuộc hành trình của ngài tới Ấn Độ, ngài lạc lối trong sa mạc nhưng đã nỗ lực tìm thấy đường đi nhờ kêu cầu sự gia hộ của Đức Avalokiteshvara.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong Phật Giáo Trung Hoa, có hai tông phái chính liên quan tới giáo lý và thực hành của Đức Avalokiteshvara. Tông Thiên Thai giảng dạy Kinh Saddharmapundarika hay Kinh Pháp Hoa. Trong một trong những chương của Phẩm Phổ Môn “Pu Mien Pin”, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy rằng vị Bồ Tát này có năng lực hiển lộ khắp mọi nơi và trong bất kỳ hình tướng nào để cứu giúp chúng sinh thoát khỏi đau khổ. Ngài sẵn sàng đáp ứng tất cả những ai gặp phải hiểm nguy như những nguy hiểm do vũ khí, xiềng xích, lửa đỏ, quỷ ma, những vách đá và sông nước gây ra. Đức Phật cũng dạy rằng nếu một phụ nữ ước muốn có một đứa con thì người ấy nên cầu nguyện Bồ Tát với sự tôn kính, bà ta sẽ hạ sinh đúng lúc một đứa trẻ được phú bẩm những sự ban phước, đức hạnh và trí tuệ theo sự chọn lựa của bà.</p>
<p style="text-align: justify;">Tông phái khác là Tịnh Độ tông phổ biến giáo lý của Kinh A Di Đà. Theo Kinh này, do bởi lòng bi mẫn và từ ái vô biên, Đức Phật A Di Đà đã thiết lập một Cõi Phật Thanh tịnh cho tất cả chúng sinh. Ngài nguyện rằng bất kỳ ai có niềm tin tuyệt đối ở Ngài và cõi Tịnh Độ sẽ được tái sinh ở đó. Trong cõi Tịnh Độ đó, là phụ tá cho Đức Phật A Di Đà, Đức Avalokiteshvara luôn luôn sẵn sàng đi bất kỳ nơi nào để dẫn dắt những người tín tâm tới cõi giới của sự thanh tịnh và cực lạc. Tính chất đơn giản của giáo lý này hấp dẫn và làm rung động trái tim của những ai đang tìm kiếm an bình và hạnh phúc. Với sự truyền bá tông phái thực hành này, Đức Phật A Di Đà và Đức Avalokiteshvara còn được yêu quý hơn nữa. Một câu Tục ngữ Trung Hoa được truyền tụng: “A Di Đà ở khắp mọi nơi; Quán Thế Âm ở khắp mọi nhà.”</p>
<p style="text-align: justify;">Hiện nay sự sùng bái vị Bồ Tát này được kết hợp hết sức chặt chẽ với truyền thống và niềm tin của người Trung Hoa. Điều này có thể được chứng minh từ sự thay đổi giới tính của Bồ Tát từ nam thành nữ. Những bức họa khám phá ở Dun-huang (Đơn Hồng) đã miêu tả Bồ Tát là một người nam có râu mép. Đôi khi Ngài cũng được mô tả có mười một đầu, một ngàn mắt và một ngàn tay. Tuy nhiên, sau thời kỳ này Bồ Tát được biểu lộ như một nữ nhân mặc y phục trắng gọi là Bạch Y Quán thế Âm. Ta có thể biện minh cho sự thay đổi như thế bởi Kinh điển Đại thừa dạy rằng một Bồ Tát có thể mang bất kỳ thân tướng và hình dạng nào để cứu giúp chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Những hành giả Avalokiteshvara</b></p>
<p style="text-align: justify;">Tiểu sử của các Đạo sư vĩ đại luôn luôn là một nguồn cảm hứng bất tận. Những hoạt động giác ngộ của các ngài làm lợi ích vô số chúng sinh. Ở đây chúng tôi giới thiệu hai Đạo sư vĩ đại đã thực hành giáo lý của Đức Avalokiteshvara và đã đạt được Giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Một trong những Đạo sư vĩ đại là Gelongma Palmo (hay Tỳ khưu ni Lakshmi) sống vào thế kỷ thứ mười hay mười một. Bà sinh trong một gia đình hoàng tộc của Vương quốc Ấn Độ, và xuất gia khi còn trẻ. Bà thọ nhận nhiều giáo lý từ những Đạo sư vĩ đại trong thời đại của bà và thực hành thật tinh tấn. Do nghiệp quá khứ chín mùi, bà bị mắc bệnh phong cùi và bị mọi người ném vào rừng. Bà có một một thị kiến về Vua Indrabodhi, (2) ngài khuyên bà thực hành pháp Avalokiteshvara.</p>
<p style="text-align: justify;">Bà đã trì tụng những thần chú của Đức Avalokiteshvara và về sau liên tục thực hành nhập thất Nyungne (3) trước hình tượng của Bồ Tát này. Nhờ lòng sùng mộ và tinh tấn thực hành, bà đã có thể khỏi bệnh phong cùi. Bà cũng phát triển lòng từ ái và bi mẫn lớn lao đối với tất cả chúng sinh. Bà trở thành một ni cô giác ngộ và đã dẫn dắt nhiều đệ tử trong thực hành của Đức Avalokiteshvara.</p>
<p style="text-align: justify;">Một hành giả vĩ đại khác của thực hành Avalokiteshvara là Thangtong Gyalpo (1385-1509). Ngài sinh ở miền Tsang-thượng ở Tây Tạng. Một hôm, trong khi đang thực hành Thần chú Sáu-Âm, Đức Avalokiteshvara siêu phàm hiện ra trước mặt ngài, chỉ dạy và ban quán đảnh cho ngài. Ngài đạt được giác ngộ nhờ tinh tấn thực hành. Dựa trên sự thực hành và thành tựu của ngài, ngài đã biên soạn sadhana “Vì Lợi lạc của Tất cả Chúng sinh Bao la như Không gian” (xin đọc sadhana “Làm Không gian Ngập đầy Lợi ích của Chúng sinh” ở cuối bài này).<br />
để dẫn dắt chúng sinh trong thực hành của Đức Avalokiteshvara. Bản văn này được tìm thấy trong mọi trường phái Phật Giáo Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài có thể nhớ lại đời trước ngài là Gelong Padma Karpo (hay Tỳ kheo Bạch Liên). Trong đời đó, từ năm 20 tới 80 tuổi, ngài đã thực hành Nhập thất Nyungne Avalokiteshvara thật kiên định. Thậm chí ngài còn có thể nhớ được ngài đã khẩn cầu Đại Bồ Tát này ra sao. Lời khẩn cầu này được ghi lại trong những lời cầu nguyện Phật giáo và được truyền tới ngày nay.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi giác ngộ, ngài cũng khám phá nhiều kho tàng giáo lý được cất dấu, và đã giới thiệu giáo lý của Đức Phật cho nhiều người. Ngài đã tô tạo vô số hình tượng, Kinh sách và các stupa (tháp) tượng trưng cho thân, ngữ và tâm của Đức Phật. Ngài đã thiết lập hơn một trăm cầu phà và cầu treo bằng sắt để làm lợi lạc chúng sinh. Để khuyến khích thiện hạnh trong dân chúng và để hỗ trợ cho phí tổn của công việc xây dựng, ngài đã miêu tả cuộc đời của những Bồ Tát trong quá khứ trong những vở nhạc kịch dân gian. Trong thời đại của ngài, mọi hoạt động của ngài thật không thể nghĩ bàn.</p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Kết luận</i></b></p>
<p style="text-align: justify;">Theo Giáo lý của Đức Phật, việc được nhận lãnh giáo lý của Đức Avalokiteshvara và Thần chú Sáu-Âm thì cực kỳ khó khăn. Nhờ công đức đã tích tập, chúng ta có thể nghiên cứu về Đức Avalokiteshvara, tiến trình phát triển, sứ mệnh vĩ đại và sự thành tựu của ngài. Chúng ta cũng nghiên cứu về những công đức không thể nghĩ bàn của Thần chú, chúng ta nên hoan hỉ và trân quý cơ hội hy hữu này.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu chúng ta trì tụng Thần chú giải thoát tất cả chúng sinh khỏi sinh tử này, ta sẽ có thể tịnh hóa những ác hạnh của ta, quét sạch những che chướng và hoàn thiện Bồ Đề tâm của ta. Do đó chúng ta nên:</p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Coi Đức Avalokiteshvara là Bổn Tôn của ta,</i></b><br />
<b><i>Trì tụng Thần chú Sáu-Âm như thần chú cốt tủy,</i></b><br />
<b><i>Giải thoát khỏi nỗi sợ của việc đi xuống những cõi thấp.</i></b></p>
<p style="text-align: justify;">Với điều này tôi hoàn tất bài giảng về Đức Avalokiteshvara và Thần chú Sáu-Âm với một đoạn kệ từ Ba mươi bảy Thực hành của Một Bồ Tát:</p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Bởi công đức phát sinh từ điều này, cầu mong tất cả chúng sinh</i></b><br />
<b><i>Nhờ phương tiện của Bồ Đề tâm tuyệt đối và tương đối,</i></b><br />
<b><i>Trở thành Đấng Bảo hộ Avalokiteshvara, bậc không an trú trong</i></b><br />
<b><i>Những đối cực của vòng luân hồi sinh tử (4) và sự cứu giúp riêng lẻ. Cầu mong công đức và những điều tốt lành tăng trưởng!</i></b></p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Hồi hướng Công đức</i></b></p>
<p style="text-align: justify;"> Kinh sách có nói rằng:<br />
“<b><i>Không ai sở hữu được Phật Pháp </i></b><br />
<b><i>Ngoại trừ những người kiên trì thực hành Pháp.</i></b>”<br />
Cầu mong công đức của tặng phẩm Phật Pháp này được chia sẻ cho tất cả chúng sinh.<br />
Cầu mong tất cả những ai có mối quan hệ với Đức Avalokiteshvara<br />
có thể gặp được giáo lý của Ngài,<br />
và cầu xin mọi người phát triển lòng đại bi<br />
và từ ái của Ngài đối với mọi chúng sinh.<br />
Cầu xin tất cả chúng sinh có thể đi theo vết chân ngài<br />
Để Thành tựu Giác ngộ.<br />
Việc tán thán Đức Avalokiteshvara,<br />
Lắng nghe Thánh hiệu và nhìn thấy thân tướng của Ngài<br />
Sẽ giải thoát chúng sinh khỏi mọi nỗi thống khổ.</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Shangpa Rinpoche</i><br />
<i>Giảng tại Trung tâm Phật Giáo Karma Kagyud, Singapore.</i><br />
<i>Nguyên tác: “<a href="http://www.dhagpo-kagyu.org/anglais/science-esprit/chemin/medit/methodes/avalokitesvara_shangpa1.htm">Arya Avalokitesvara and the Six Syllable Mantra</a>”</i><br />
<i>by Venerable Shangpa Rinpoche.</i></p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><b><i>Sadhana Đức Chenrézi</i></b><br />
<b><i>Làm Không gian Ngập đầy Lợi ích của chúng sinh</i></b></p>
<p style="text-align: justify;">Bài Nguyện Quy y và Bồ Đề tâm: (lập lại ba lần)<br />
Sangyé cho tang tsok kyi chok nam la<br />
Nơi Phật, Pháp và Tăng Siêu việt<br />
Changchup par du da ni kyab su chi<br />
Con quy y cho tới khi đạt được Giác ngộ.<br />
Da ki jin sok gyipé sonam kyi<br />
Nhờ công đức của việc thực hành bố thí và những ba-la-mật khác,<br />
Dro la pen chir sangyé drubpar sho<br />
Cầu mong con thành tựu Phật Quả để làm lợi lạc chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Quán tưởng:</b><br />
Da sok ka kyap semchen kyi<br />
Trên đỉnh đầu con và vô lượng chúng sinh,<br />
Chitsuk pékar dawe teng<br />
Trên một bông sen trắng và đĩa mặt trăng,<br />
Hri lé pakchok chenrezi<br />
Xuất hiện chữ Hrih, từ đó hiển lộ<br />
Đức Chenrézi cao quý và siêu phàm.<br />
Kar sel oser nga den tro<br />
Ngài có sắc trắng chói ngời, phóng ra ánh sáng năm màu,<br />
Dzumden tukché chen kyi zi<br />
Và mỉm cười với cái nhìn bi mẫn.<br />
Chak shi tangpo teljar dzé<br />
Bốn bàn tay Ngài, hai tay trước chắp lại,<br />
O nyi sheltreng pékar nam<br />
Hai tay dưới cầm một chuỗi pha lê và bông sen trắng.<br />
Tar tang rinchen gyen kyi tré<br />
Ngài mặc y phục lụa là và những vật trang sức quý báu,<br />
Ridak pakpé toyok sol<br />
Và một mảnh da nai choàng trên vai.<br />
Opamépé u gyen chen<br />
Đức A Di Đà tô điểm đỉnh đầu Ngài.<br />
Shab nyi dorjé kyiltrung shuk<br />
Ngài an tọa trong tư thế kim cương,<br />
Drimé dawar gyap tenpa<br />
Lưng tựa vào một đĩa mặt trăng bất nhiễm.<br />
Kyapné kundu ngowor kyur<br />
Ngài hiện thân tinh túy đích thực của mọi sự quy y.</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Tưởng tượng rằng bạn và tất cả chúng sinh cầu nguyện cùng một giọng, trì tụng ba, bảy, hay càng nhiều lần càng tốt:</i></p>
<p style="text-align: justify;">Jowo kyonkyi mako kudok kar<br />
Đức Chenrézi, sắc trắng thuần khiết, không bị những khiếm khuyết làm hoen ố,<br />
Dzok sangyé kyi u la gyen<br />
Đỉnh đầu Ngài được tô điểm bởi Đức Phật toàn giác,<br />
Tukjé chen kyi dro la zi<br />
Ngài nhìn chúng sinh với đôi mắt bi mẫn<br />
Chenrézi la chatsel lo<br />
Xin kính lễ Đức Chenrézi!<br />
Detar tséchik sol tabpé<br />
Nhờ lời cầu nguyện nhất tâm này,<br />
Pakpé ku lé ozer tro<br />
Ánh sáng phóng chiếu từ Đấng Cao quý,<br />
Matak lé nang trulshé jang<br />
Tịnh hóa những tri giác mê lầm phát khởi từ nghiệp bất tịnh:<br />
Chi no déwachen kyi shing<br />
Thế giới trở thành Cõi Cực Lạc,<br />
Nang chu kyédroi lu nga yi<br />
Thân, ngữ và tâm của chúng sinh<br />
Chenrézi wang ku sung tuk<br />
Trở thành Thân, Ngữ và Tâm của Đức Chenrézi siêu phàm,<br />
Nang trak rik tong yermé gyur<br />
Hình tướng, âm thanh và giác tánh bất khả phân với tánh Không.</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Khi thiền định về điều này, hãy trì tụng thần chú:</i><br />
<b>Om mani pémé hung hri</b></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Sau khi trì tụng càng nhiều càng tốt, hãy an trụ trong bản tánh cốt tủy, thoát khỏi những ý niệm về chủ thể, đối tượng và hành động.</i></p>
<p style="text-align: justify;">Dakshen lu nang pakpé ku<br />
Thân con và những người khác xuất hiện như thân tướng của Đấng Cao quý,<br />
Dra trak yiké trukpé yang<br />
Những âm thanh là điệu du dương của thần chú Sáu Âm,<br />
Trentok yeshé chenpoi long<br />
Những hồi ức và niệm tưởng là sự trải rộng của đại trí tuệ.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Hồi hướng:</b><br />
Géwa diyi nyur tu da<br />
Nhờ công đức của sự tu tập này<br />
Chenrézi wang drup gyur né<br />
Cầu mong con nhanh chóng thành tựu Đức Chenrézi,<br />
Drowa chik kyang malupa<br />
Và không bỏ sót một chúng sinh nào,<br />
Té yi sa la gopar sho<br />
Cầu mong con kiến lập tất cả chúng sinh trong mức độ của họ.</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Thiền định và trì tụng về Đấng Bi mẫn Vĩ đại, “Làm Không gian Ngập đầy Lợi ích của Chúng sinh” do đại thành tựu giả Tangtong Gyalpo biên soạn. Sadhana này được phú tặng với những sự ban phước. Sarwa Mangala.</i></p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><b><i>Bài Nguyện Đức Chenrezi</i></b></p>
<p style="text-align: justify;">Namo Lokeshvaraya<br />
Tukjé zikshik jikten wangchuk shap<br />
Đấng cai quản siêu phàm của thế giới, xin đoái hoài tới con với lòng bi mẫn!<br />
Gonkyap dzochik jétsun tukjé ter<br />
Đấng tôn quý, kho tàng của lòng nhân từ, xin làm nơi nương tựa (quy y) của con!<br />
Solwa depso panchok chenrézi<br />
Đức Chenrézi cao quý nhất, con khẩn cầu Ngài.<br />
Tamé korwé gyamtso chenpo lé<br />
Từ đại dương sinh tử bao la,<br />
Drolwé depon dzochik chenrézi<br />
Đức Chenrézi, xin dẫn dắt con trong khi vượt tới bờ kia.<br />
Mishé timuk munpé tiptsa na<br />
Khi con bị vô minh và lầm lạc ngăn che,<br />
Selwé dronmé dzochik chenrézi<br />
Đức Chenrézi, xin là ngọn đèn chói lọi.<br />
Drala shedang metar bartsa na<br />
Khi con bừng bừng sân hận đối với kẻ thù,<br />
Shiwé chugyun dzochik chenrézi<br />
Đức Chenrézi, xin làm một dòng suối an tịnh.<br />
Nyenla dochak chushin druktsa na<br />
Khi con là xoáy nước hấp dẫn nồng nhiệt đối với những người thân cận con<br />
Neluk tokpar dzochik chenrézi<br />
Đức Chenrézi, xin giúp con hiểu được bản tánh của sự sống.<br />
Norla sernai dupé damtsa na<br />
Khi con mệt nhoài bởi trói buộc của việc bám chấp vào của cải,<br />
Tongwé nyerpa dzochik chenrézi<br />
Đức Chenrézi, xin là người quản gia của sự nhàm chán.<br />
Ludi chungshi nekyi zintsa na<br />
Khi thân xác tứ đại này trở nên bệnh hoạn,<br />
Menpé gyelpo dzochik chenrézi<br />
Đức Chenrézi, xin là bậc y vương.<br />
Chikar tsershing jigdrak jungtsa na<br />
Khi nỗi khủng khiếp và hãi sợ của cái chết xuất hiện,<br />
Shelton semso dzochik chenrézi<br />
Đức Chenrézi, xin an ủi con bằng cách cho con thấy dung nhan Ngài.<br />
Drokmé bardo trang la khyamtsa na<br />
Khi con lang thang cô độc trên con đường bardo khúc khuỷu,<br />
Jelwé ngoshé dzochik chenrézi<br />
Đức Chenrézi, xin là bạn đồng hành tôn kính của con.<br />
Mangpoi kyilné chikpur drotsa na<br />
Vào giờ chết con phải ra đi một mình, bỏ lại bằng hữu và gia đình,<br />
Dagpé shingtu kyol chik chenrézi<br />
Đức Chenrézi, xin dẫn dắt con tới những cõi thuần tịnh (Sukhavati).<br />
Ngelgo lekyi dungel jungtsa na<br />
Khi con đau đớn trong thai tạng,<br />
Okyi gur khang pupchik chenrézi<br />
Đức Chenrézi, xin dựng một chiếc lều ánh sáng.<br />
Mishé chipé lusu gyurtsa na<br />
Khi con mang thân xác của một đứa trẻ dốt nát,<br />
Drokchok shenyen dzochik chenrézi<br />
Đức Chenrézi, xin là người dẫn đường và bằng hữu tâm linh của con.<br />
Tagtu chiwor gomshing soldep na<br />
Khi con cầu nguyện và thiền định,<br />
Tsawai lamar dzochik chenrézi<br />
Đức Chenrézi, xin là guru gốc trên đầu con.<br />
Nyingka pemor gomshing gyeten na<br />
Khi con thiền định,<br />
Yidam lhachog dzochik chenrézi<br />
Đức Chenrézi, xin là vị heruka trên bông sen trắng trong trái tim con.<br />
Chinang gelkyen barché jungtsa na<br />
Khi những chướng ngại và khó khăn xảy ra ở ngoài và trong,<br />
Shiwé chokyong dzochik chenrézi<br />
Đức Chenrézi, xin là vị Hộ Pháp an bình của con.<br />
Trekom dungel nekyi zintsa na<br />
Khi con chịu đói và khát,<br />
Chido ngodrup tsolchik chenrézi<br />
Đức Chenrézi, xin ban cho con thành tựu mà con mong muốn.<br />
Kyepé tala chiwa ngepar ong<br />
Và lúc cuối cuộc đời, cái chết là điều chắc chắn,<br />
Ma ong lungten dzochik chenrézi<br />
Đức Chenrézi, xin báo trước số phận của con.<br />
Lhang lhang yigé drukmé soldep na<br />
Trong lúc trì tụng rõ ràng thần chú Sáu Âm,<br />
Gyuntu tukjé zikshik chenrézi<br />
Đức Chenrézi, xin nhìn xuống với lòng bi mẫn.<br />
Gewa diyi sangyé gopang chok<br />
Cầu mong con đạt được Phật địa siêu việt<br />
Nyur du top par dzochik chenrézi<br />
Nhờ công đức của lời cầu nguyện này và sự ban phước của Đức Chenrézi.</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Đây là một bài nguyện cốt tủy được rút ra từ tác phẩm của Pháp vương </i><br />
<i>Songtsen Gampo.</i></p>
<p style="text-align: justify;">Pagpa chenrézi wang tukjé ter<br />
Kho tàng của lòng bi mẫn mãnh liệt,<br />
Kordang chepa dagla gongsu sol<br />
Đức Chenrézi cao quý, xin nhớ tưởng tới con<br />
Da dang pama rigdruk semchen nam<br />
Con khẩn cầu Ngài dẫn dắt tất cả chúng sinh trong sáu cõi,<br />
Nyur du korwé dzo lé dreltu sol<br />
Những bậc cha mẹ của con và bản thân con, mau chóng vượt qua đại dương sinh tử,<br />
Kyewa didang tserab tamché du<br />
Trong đời này và mọi cuộc đời chúng con.<br />
Drowé gonpo chenrézi wang gi<br />
Được chỉ dạy trong con đường cao quý không thể sai lạc<br />
Ma nor lamzang ngonsum tené kyang<br />
Nhờ năng lực của Đức Chenrézi, vị cứu tinh của chúng sinh,<br />
Nyur du sangyé sala shagtu sol<br />
Cầu mong con mau chóng đạt được trạng thái Phật Quả.</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Trích “Tuyển Tập các Thực Hành”, dịch từ nguyên bản “Collection of Practices”</i><br />
<i>by Padmakara Translation Group.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Chú thích:</b></p>
<p style="text-align: justify;"><i>(1) Trong “Vật Trang hoàng Quý báu của sự Giải thoát”, Đức Gampopa đã nói rằng “không chấm dứt” có nghĩa là phải cần tới một thời gian rất dài để giải thoát tất cả chúng sinh nhưng điều đó không có nghĩa là việc giải thoát vĩnh viễn không thể thực hiện được. Từ quan điểm của một chúng sinh bình thường, đối với chúng ta, samsara – vòng sinh tử - thì quá dài khi nhìn nơi nó bắt đầu và chấm dứt. Tuy nhiên, đối với tất cả chư Phật hay những Đấng giác ngộ thì đó chỉ là một ảo tưởng, và ảo tưởng không có tính đồng nhất của sự hiện hữu hay không hiện hữu. Mọi người đều có thể quét sạch ảo tưởng này, bởi nó không chứa dựng bất kỳ chân lý nào trong đó. Trong văn cảnh này, nó có nghĩa là “Đức Avalokiteshvara phải làm lợi lạc tất cả chúng sinh cho tới khi tất cả họ được giải thoát.” </i><br />
<i>(2) Vua Indrabodhi là người đầu tiên nhận lãnh giáo lý Kim Cương thừa từ Đức Phật và cũng là vị thánh thứ 84.</i><br />
<i>(3) Nyungne (phiên âm là NYUNG NAY) là một thực hành chay tịnh đặc biệt để tịnh hóa và làm tươi mới được các hành giả của tất cả bốn trường phái chính của Phật Giáo Tây Tạng thực hành.</i><br />
<i>Nyungne gồm có hai ngày thực hành và một thời khóa kết thúc ngắn vào sáng ngày thứ ba. </i><br />
<i>(4) Niết bàn</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên</i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/duc-avalokiteshvara-va-than-chu-sau-am/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Bài Khẩn Nguyện Bảy Dòng</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/bai-khan-nguyen-bay-dong/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/bai-khan-nguyen-bay-dong/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 02 Oct 2015 04:58:24 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kinh sách Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Nghi Quỹ]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Thư Viện]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6052</guid>
		<description><![CDATA[Sự Thành tựu Sâu xa của Lạt ma được rút ra từ terma [1] của Lạt ma Sang Du [của Guru Chho Wang] Kính lễ các Bổn Tôn! Ôi những đệ tử may mắn cao quý trong tương lai: nếu các con tìm kiếm sự nương tựa nơi ta, Orgyen,[2] hãy đi tới một nơi hẻo lánh và nghĩ tưởng&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/bai-khan-nguyen-bay-dong/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;" align="center">Sự Thành tựu Sâu xa của Lạt ma được rút ra từ terma [1]
của Lạt ma Sang Du [của Guru Chho Wang]
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong><em>Kính lễ các Bổn Tôn! Ôi những đệ tử may mắn cao quý trong tương lai: nếu các con tìm kiếm sự nương tựa nơi ta, Orgyen,[2] hãy đi tới một nơi hẻo lánh và nghĩ tưởng về sự mỏi nhọc của vô thường và nỗi buồn của sinh tử. Điều này rất quan trọng. Hãy hoàn toàn giao phó các con cho ta – thân thể, trái tim, tinh thần. Hãy coi mọi nguồn mạch của sự hy vọng và nương tựa thì nằm ở trong ta, Orgyen, và hãy tin rằng ta hoàn toàn thấu hiểu những niềm vui, nỗi buồn, và hy vọng của các con. Đừng van nài ta bằng những vật cúng dường và tán thán. Hãy đặt sang một bên những sự tích tập. Thay vào đó, với thân, khẩu, và ý sùng mộ, hãy cầu nguyện với Bài Khẩn nguyện Bảy Dòng này:</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/12036393_1198107983536555_5490233208513957459_n.jpg"><img class="  wp-image-6054 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/12036393_1198107983536555_5490233208513957459_n-225x300.jpg" alt="12036393_1198107983536555_5490233208513957459_n" width="352" height="469" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><b>HUNG OR GYEN YUL GYI NUP JYANG TSHAM</b><br />
Hung Nơi biên giới phía bắc xứ Orgyen,<br />
<b>PEMA GE SAR DONG PO LA</b><br />
Trong nhụy của một đóa hoa sen,<br />
<b>YA TSHEN CHHOK GI NGO DRUB NYEY</b><br />
Ngài đã đạt được thành tựu kỳ diệu, tuyệt hảo nhất.<br />
<b>PEMA JYUNG NAY ZHEY SU DRAK</b><br />
Lừng danh là Đức Liên Hoa Sanh,<br />
<b>KHOR DU KHAN DRO MANG PO KOR</b><br />
Ngài được vây quanh bởi một đoàn tuỳ tùng rộng lớn gồm các dakini.<br />
<b>KHYE KYI JEY SU DAK DRUB KYI</b><br />
Khi con thực hành, đi theo dấu chân Ngài,<br />
<b>JYIN GYIY LOB CHHYIR SHEK SU SOL</b><br />
Con cầu nguyện Ngài quang lâm ban rải những ân phước.<br />
<b>GURU PEMA SIDDHI HUNG</b></p>
<p style="text-align: justify;">Hãy tiếp tục cầu nguyện cho tới khi lòng khao khát mãnh liệt khiến các con rơi lệ. Nếu các con trở nên tràn ngập niềm tin, hãy hít một hơi thở sâu và an trụ trong tỉnh giác, đôi mắt nhận biết rõ ràng, rộng mở và không xao lãng. Cần gì phải nói rằng ta sẽ che chở cho những đệ tử đã cầu nguyện như thế? Họ sẽ trở thành những đứa con của các Đấng Chiến Thắng trong ba thời. Tâm họ sẽ đạt được sự quán đảnh siêu việt của giác tánh tự-sinh. Sự thiền định của họ sẽ trở nên mãnh liệt và kiên cố, và giác tánh nguyên sơ sẽ triển nở. Họ sẽ thuần thục nhờ những sự ban phước siêu việt tự-sinh và có thể làm vơi đi nỗi đau khổ của người khác. Khi họ thay đổi, những nhận thức mà những người khác có về họ cũng đồng thời thay đổi. Vì thế họ sẽ thành tựu Phật sự và hoàn thiện mọi phẩm tính tâm linh. Trong sự bao la vĩ đại của Pháp Thân, cầu mong những con trai tâm yếu và những con gái thân thiết của ta gặp được phương pháp làm thuần thục và giải thoát siêu việt này. Đặc biệt, bởi Bài Khẩn nguyện Bảy Dòng này mang lại những sự ban phước sâu xa nhất của ta, ta khuyên các con bí mật trì giữ kho tàng tâm được tái-khám phá này. Cầu mong nó gặp được Chokyi Wangchuk thông tuệ và bi mẫn.</p>
<p style="text-align: justify;"><i>(Trích VAJRAYANA FOUNDATION DAILY PRACTICE)<br />
Bản dich Việt ngữ: Thanh Liên</i></p>
<p style="text-align: justify;">[1]Kho tàng giáo lý được Đức Liên Hoa Sanh chôn dấu và sẽ được khám phá vào những thời điểm thích hợp để làm lợi lạc chúng sinh trong tương lai.<br />
[2]Đức Padmasambhava (Liên Hoa Sanh).</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/bai-khan-nguyen-bay-dong/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lời thỉnh cầu ngắn gọn tới Gesar làm lắng dịu những xung đột và mang lại bình an và hạnh phúc</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/loi-thinh-cau-ngan-gon-toi-gesar-lam-lang-diu-nhung-xung-dot-va-mang-lai-binh-an-va-hanh-phuc/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/loi-thinh-cau-ngan-gon-toi-gesar-lam-lang-diu-nhung-xung-dot-va-mang-lai-binh-an-va-hanh-phuc/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 05 Sep 2015 10:45:35 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kinh sách Ripa]]></category>
		<category><![CDATA[Nghi Quỹ]]></category>
		<category><![CDATA[Ripa]]></category>
		<category><![CDATA[Thư Viện]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=4130</guid>
		<description><![CDATA[RAM YAM KHAM OM AH HUNG HUNG HUNG HUNG RIK SUM PEMA DRAK PO KUR SHENG PA Ngài là bậc hiển lộ trong hình tướng hoa sen phẫn nộ, thủ lĩnh của ba gia đình Phật , NYIK MAI DUL KA MA LU DUL WAI PAL Bậc điều phục tất cả những chúng sinh khó được điều phục trong thời&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/loi-thinh-cau-ngan-gon-toi-gesar-lam-lang-diu-nhung-xung-dot-va-mang-lai-binh-an-va-hanh-phuc/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/60455_565748816817973_355324433_n.jpg"><img class="alignnone  wp-image-4131" src="/wp-content/uploads/60455_565748816817973_355324433_n-300x300.jpg" alt="60455_565748816817973_355324433_n" width="443" height="443" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>RAM YAM KHAM</strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong>OM AH HUNG</strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong>HUNG HUNG HUNG</strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong>RIK SUM PEMA DRAK PO KUR SHENG PA</strong></p>
<p style="text-align: center;">Ngài là bậc hiển lộ trong hình tướng hoa sen phẫn nộ, thủ lĩnh của ba gia đình Phật ,</p>
<p style="text-align: center;"><strong><br />
NYIK MAI DUL KA MA LU DUL WAI PAL</strong></p>
<p style="text-align: center;">Bậc điều phục tất cả những chúng sinh khó được điều phục trong thời ngũ trược,</p>
<p style="text-align: center;"><strong><br />
DU DUL GESAR NORBU DRA DUL TSAL</strong></p>
<p style="text-align: center;">Ngài là bậc điều phục ma quỷ, Gesar phẫn nộ tôn.</p>
<p style="text-align: center;"><strong><br />
PA TUL PONNU KA DO PO NYA PUNG</strong></p>
<p style="text-align: center;">Cùng tất cả những hóa thân, cùng đoàn tùy tùng, daki's và các sứ giả của Ngài,</p>
<p style="text-align: center;"><strong><br />
DRA LA WERMAI KOR DANG CHE PA NAM</strong></p>
<p style="text-align: center;">Với đoàn tùy tùng của drala và wermas , xin hãy đến đây,</p>
<p style="text-align: center;"><strong><br />
DIR SHEK SER KYEM DUTSI PU CHÖD BULU</strong></p>
<p style="text-align: center;">và cùng uống nước cam lồ hay rượu vàng này.</p>
<p style="text-align: center;"><strong><br />
DA TA NYIK MA NGA DÖ DÜ DE RU</strong></p>
<p style="text-align: center;">Bây giờ đang là thời kỳ ngũ trược ác thế.</p>
<p style="text-align: center;"><strong><br />
NYON MONG DUK NGAI TOP SHUK ME TAR BAR</strong></p>
<p style="text-align: center;">Sức mạnh của những cảm xúc tiêu cực, tham đắm và khổ đau bùng phát như lửa.</p>
<p style="text-align: center;"><strong><br />
CHE DRÖ SHE GYU DU DANG GONG PÖ LAM</strong></p>
<p style="text-align: center;">Con người không ngừng biến thành loài ác thú,</p>
<p style="text-align: center;"><strong><br />
MAK JAK NE TSUN TRUL GYI KORLO KOR</strong></p>
<p style="text-align: center;">Lao vào sự hỗn loạn của chiến tranh, bệnh tật và vũ khí.</p>
<p style="text-align: center;"><strong><br />
DUL TREN TSON GYI DRO LA TSE WA DANG</strong></p>
<p style="text-align: center;">Vũ khí hạt nhân được nhắm tới việc tiêu diệt con người,</p>
<p style="text-align: center;"><strong><br />
GYAL KAM DUK NGAL JIK PAI NAR WA LA</strong></p>
<p style="text-align: center;">Đất nước ở trong mối họa của nỗi đau khôn cùng.</p>
<p style="text-align: center;"><strong><br />
TUK DAM MA YEL GESAR DRA LAI GYAL</strong></p>
<p style="text-align: center;">Vị vua của Drala, xin đừng quên lời hứa nguyện của Ngài.</p>
<p style="text-align: center;"><strong><br />
KOR DANG CHEY PA DRAK PO KUR SHENG NEY</strong></p>
<p style="text-align: center;">Nhân lên gấp bội những hóa thân của Ngài đầy khắp vũ trụ.</p>
<p style="text-align: center;"><strong><br />
TRUL PA YANG TRUL NANG SI JIK TEN KENG</strong></p>
<p style="text-align: center;">Xin hãy luôn che trở và bảo vệ để mang lại hạnh phúc.</p>
<p style="text-align: center;"><strong><br />
DE DEN BU LA SUNG KYOB YEL MAI DZEU</strong></p>
<p style="text-align: center;">Ở khắp các quốc gia, đất nước trên thế giới</p>
<p style="text-align: center;"><strong><br />
GYAL KAM DI TSON ZAM LING CHON KUN DU</strong></p>
<p style="text-align: center;">Xin chấm dứt chiến tranh, vũ khí và xung đột</p>
<p style="text-align: center;"><strong><br />
MAK TRUK TSON CHEY YUL NGO SHOM PA DOK</strong></p>
<p style="text-align: center;">Loại bỏ ốm đau, bệnh tật và nỗi sợ bị tấn công.</p>
<p style="text-align: center;"><strong><br />
NEY DON RIM YAM LO BOR JIK PA SOK</strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong><br />
NGA DÖ GÜ PÄ CHEN NGEN KUN SOL LA</strong></p>
<p style="text-align: center;">Loại bỏ tất cả những hoàn cảnh tiêu cực</p>
<p style="text-align: center;"><strong><br />
ZAM LING DRO NAM PEN DE PEL LA CHO</strong></p>
<p style="text-align: center;">Mang tất cả chúng sinh trên thế giới tới sự hạnh phúc và thịnh vượng,</p>
<p style="text-align: center;"><strong><br />
BAR CHEY DU DE YUL LEY RAB GYAL NEY</strong></p>
<p style="text-align: center;">Chiến thắng trong việc loại bỏ các chướng ngại và các thế lực ma quỷ trên thế giới,</p>
<p style="text-align: center;"><strong><br />
CHOK LEY NAM PAR GYAL WAI TIN LE DZE</strong></p>
<p style="text-align: center;">Tham gia vào hoạt động truyền bá giác ngộ khắp mọi nơi.</p>
<p style="text-align: center;"><em>Trong thời điểm căng thẳng này của những đau khổ trong thời ngũ trược, khi con người trở thành quỷ dữ và những cảm xúc tiêu cực bùng phát như lửa, các quốc gia đang lâm vào cảnh hỗn loạn bởi chiến tranh, vũ khí và bệnh tật, Khai Mật Tạng Namkha Drimed Rabjam đã trước tác văn này với động cơ hoàn toàn thanh tịnh để cho sự sợ hãi của chiến tranh được lắng dịu và mang lại bình an, hạnh phúc cho thế giới. Chuyển dịch bởi Jeremy Morrelli tại Berkeley, California ngày 16, tháng 10, năm 2001.</em></p>
<p style="text-align: center;"><em> </em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/loi-thinh-cau-ngan-gon-toi-gesar-lam-lang-diu-nhung-xung-dot-va-mang-lai-binh-an-va-hanh-phuc/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Quan điểm của Đại Viên Mãn(Dzogchen) về Pháp tu mở đầu(ngondro)</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/quan-diem-cua-dai-vien-mandzogchen-ve-phap-tu-mo-daungondro/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/quan-diem-cua-dai-vien-mandzogchen-ve-phap-tu-mo-daungondro/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 03 Sep 2015 16:09:23 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Nghi Quỹ]]></category>
		<category><![CDATA[Thư Viện]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3845</guid>
		<description><![CDATA[Đức Dudjom Rinpoche Trong bất kỳ thực hành nào mà ta dấn thân vào, chân lý tương đối và tuyệt đối thì đồng-hiện hữu. Phương tiện và trí tuệ đồng-hiện hữu. Những kinh nghiệm và tánh Không đồng-hiện hữu. Bởi đây là bản tánh của thực tại chúng ta kinh nghiệm, thực hành ngondro (chuẩn bị sơ bộ) Kim Cương&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/quan-diem-cua-dai-vien-mandzogchen-ve-phap-tu-mo-daungondro/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>Đức Dudjom Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Trong bất kỳ thực hành nào mà ta dấn thân vào, chân lý tương đối và tuyệt đối thì đồng-hiện hữu. Phương tiện và trí tuệ đồng-hiện hữu. Những kinh nghiệm và tánh Không đồng-hiện hữu. Bởi đây là bản tánh của thực tại chúng ta kinh nghiệm, thực hành ngondro (chuẩn bị sơ bộ) Kim Cương thừa hiện hữu như một phương tiện để chứng ngộ trạng thái giác ngộ vô thuỷ.</p>
<p style="text-align: justify;">Giai đoạn cuối cùng của ngondro Kim Cương thừa, Lama’i Naljor (Guru Yoga), là tinh tuý của phương pháp này. Trong thực hành Lama’i Naljor bạn đạt tới cấp độ trí tuệ này khi vị Lạt ma tan hoà và trở thành một với bạn. Vào thời điểm này bạn an trụ trong bản tánh tuyệt đối của vạn pháp, nó là trạng thái đích thực của sự thiền định như nó là (như được truyền dạy trong các giáo lý Dzogchen – Đại Viên Mãn).</p>
<p style="text-align: justify;">Vào lúc bắt đầu của ngondro Kim Cương thừa chúng ta khẩn cầu sự hiện diện của Lạt ma. Bởi Lạt ma là bậc làm điển hình cho những phẩm tính của con đường và mục đích, chúng ta thừa nhận Lạt ma là sự khởi đầu và chấm dứt của mọi thực hành.</p>
<p>Sau khi bắt đầu bằng cách thừa nhận Lạt ma, chúng ta suy niệm về sự khó được của thân người (về phương diện có được những hoàn cảnh thuận lợi cho sự thực hành). Thân người này là nền tảng của con đường tâm linh và do đó quý báu và cần được hết sức quý  trọng. Nếu bạn không quý trọng hoàn cảnh trong đó bạn đã tìm thấy bản thân bạn, thì bạn sẽ không tận dụng được những hoàn cảnh quý báu của bạn và một cơ hội vĩ đại sẽ bị phí phạm.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó chúng ta suy niệm về sự vô thường và cái chết. Mọi sự  hiện hữu đều là đối tượng của sự biến đổi và tan rã. Mặc dù bạn chết nhưng bạn vẫn không tìm được sự giải thoát bằng việc chỉ đơn giản mất đi thân tướng vật lý của bạn. Bạn chỉ đi lòng vòng trong cái thấy sinh tử, nhận vô số thân tướng khác phù hợp với tri giác theo khuôn mẫu của bạn. Bản tánh của samsara (sinh tử) là sự kinh nghiệm về nỗi đau khổ xuất hiện qua nỗ lực duy trì ảo tưởng của sự nhị nguyên. Chúng ta suy niệm về điều đó.</p>
<p>Kế đó ta quán chiếu về điều kiện và kiểu mẫu của cái thấy thuộc về nghiệp của ta. Chúng ta nhận ra cách thế trong đó tri giác và những sự đối phó của ta hoàn toàn bị thống trị bởi điều kiện nhị nguyên rất khó huỷ diệt.</p>
<p style="text-align: justify;">Những suy niệm này được gọi là Lo-tog nam-zhi – Bốn Tư tưởng Xoay chuyển Tâm về sự thực hành. Mục đích của chúng là để khuyến khích ta không còn chú tâm tới việc làm theo khuôn mẫu và lập lại-theo khuôn mẫu có tính chất bó buộc. Điều quan trọng là an trụ trong những thực hành Lo-tog nam-zhi này vào lúc bắt đầu thực hành để phát triển động cơ thích đáng cho sự thực hành.</p>
<p style="text-align: justify;">Thực hành theo cách này thì giống như làm bằng phẳng một mảnh đất đã được cày xới khiến cho nó sẵn sàng để gieo trồng. Sau đó chúng ta cần gieo hạt giống. Gieo hạt giống là thọ nhận sự Quy y; phát triển Bồ Đề tâm; cúng dường kyil-khor – mạn đà la - (để tích tập những nguyên nhân có lợi lạc cho sự thực hiện phương tiện và trí tuệ) và sự tịnh hoá nhờ việc trì tụng Dorje Sempa (Vajrasattva, Đức Phật Kim Cương Tát Đỏa). Những thực hành này thì giống như gieo hạt giống trên mặt đất (được chuẩn bị bởi sự suy niệm Lo-tog nam-zhi – Bốn Tư tưởng Xoay chuyển Tâm về sự thực hành).</p>
<p>Từ viễn cảnh của điều kiện tương đối (trong đó chúng ta tìm thấy bản thân) thì không thể chứng ngộ bản tánh tuyệt đối của thực tại mà không liên kết với những gì là tương đối. Không sử dụng hoàn cảnh tương đối như một nền tảng bạn không thể chứng ngộ được chân tánh của Tâm. Cùng cách thế đó, không có thực hành tương đối này, bạn không thể trực tiếp thấu hiển bản tánh của tánh Không. Sự tương đối và tuyệt đối đồng-hiện hữu – chúng đồng hành chặt chẽ; quả nhiên là thực sự rất cần nhận ra điều này.</p>
<p style="text-align: justify;">Giờ đây chúng ta hãy xem xét sự Quy y. Ở bình diện bên ngoài, có những điều được gọi là Kon-chog Sum (Tam Bảo): Sang-gyé, Cho và Gendun (Phật, Pháp và Tăng). Sang-gyé là nguồn mạch của Cho. Những người mà tâm thức của họ xoay chuyển hướng về Cho là Gendun.</p>
<p style="text-align: justify;">Bởi chúng ta hiện hữu trong sự nhị nguyên, chúng ta kinh nghiệm sự không hài lòng mê lầm. Vì lý do này, chúng ta thọ Quy y để được giải thoát khỏi kinh nghiệm về sự không hài lòng tự-phát triển. Do ngộ nhận chân tánh của ta (bởi những hình tướng lọc lừa xuất hiện khi những yếu tố (đại) khác nhau kết hợp phù hợp với những kiểu mẫu của sự mê lầm nhị nguyên) thân người này trở thành bình chứa những phóng chiếu nhị nguyên vô tận. Nó trở thành một nguồn mạch của sự tham luyến, trong phạm vi cung cấp những sự xác định lọc lừa của sự sống. Sự tham luyến này vẫn rất cường liệt cho tới khi bạn nhận ra được chân tánh của sự sống. Cho tới khi bạn hoàn toàn được giải thoát khỏi sự lọc lừa mà thân thể của bạn xác nhận giá trị của sự hiện hữu của bạn, sự không hài lòng sẽ không ngừng bóp méo kinh nghiệm của bạn. Do bởi điều này, Kun-chog Sum (Tam Bảo) hiện hữu như một trọng điểm của sự Quy y.</p>
<p>Như thế, nói một cách tổng quát, ta nên Quy y (nương tựa) Phật, Pháp và Tăng với lòng sùng mộ. Nhưng một cách sâu xa, Sang-gyé, Cho và Gendun có tính chất tượng trưng. Tam Bảo là một phương cách sâu xa và thiện xảo để đưa dẫn ta ra khỏi sự sinh tử huyễn hoá tự-tạo lập này.</p>
<p style="text-align: justify;"> Từ quan điểm của Dzogchen (Đại Viên Mãn), Sang-gyé, Cho và Gendun thì ở trong chúng ta. Ở bình diện tuyệt đối, tâm thức này của chúng ta, nó không có mọi tọa độ để tham chiếu, tự bản thân nó là Sang-gyé (rigpa – sự tự chói sáng). Ở bề ngoài, Cho hiển lộ như âm thanh và ý nghĩa: bạn nghe nó và thực hành nó. Nhưng từ một quan điểm nội tại, Cho thì trống không. Trong bản chất, nó là sự phô diễn không ngừng nghỉ, không bị chướng ngại, tự chói sáng của rigpa – Tâm nguyên sơ. Ở bên ngoài, Gendun bao gồm những vị mà tâm thức của họ xoay chuyển hướng về Cho. Nhưng ở bên trong, Gendun là phương diện rộng khắp, bao gồm tất cả của Tâm.</p>
<p>Ba điều này cũng được hoàn toàn thành tựu trong chúng ta. Tuy nhiên, bởi ta không nhận ra điều này, ta cần thọ Quy y nơi Sang-gyé, Cho và Gendun bên ngoài. Khi bạn thực sự thực hành ngondro Kim Cương thừa một cách đúng đắn, bạn quán tưởng Đức Padmasambhava với lòng sùng mộ nhiệt thành; bạn thực hiện những sự lễ lạy với thân bạn trong sự khiêm tốn; và bạn trì tụng nghi thức Quy y với ngữ của bạn. Sau đó, khi bạn ngồi một cách yên lặng vào cuối buổi thực hành (và tan hoà sự quán tưởng vào bản thân bạn) bạn nhận ra rằng tất cả ba điều này – chủ thể, đối tượng và hoạt động – không gì khác hơn là rigpa! Sự thiền định là bản thân ta; Đức Padmasambhava là sự sáng tạo của riêng ta. Hãy hoàn toàn an trụ trong bản tánh của rigpa. Ngoài rigpa, không có gì để tìm kiếm!</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói trong Do-de Kalpa Zangpo: ‘Ta đã hiển lộ trong một cách thế như mộng đối với chúng sinh như mộng và ban một Cho (Giáo Pháp) như mộng, nhưng thực ra ta chưa từng giảng dạy và chưa từng thực sự xuất hiện.’ Từ  quan điểm Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chưa từng xuất hiện và Giáo Pháp chưa từng được giảng dạy, mọi sự chỉ là sự tri giác, chỉ hiện hữu trong phạm vi hiển hiện của như thị.</p>
<p style="text-align: justify;">Đối với sự thực hành Quy y, phương diện tương đối là đối tượng của sự Quy y mà đứng trước các Ngài bạn dâng cúng sự sùng mộ, lễ lạy và v.v.. Phương diện tuyệt đối thì không có nỗ lực. Khi bạn tan hoà sự quán tưởng và an trụ trong trạng thái tự nhiên không cần dụng công của tâm, ý niệm Quy y không còn hiện hữu nữa.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự phát triển của chang-chub-sem (Bồ Đề tâm) hay tư tưởng giác ngộ có nghĩa là nếu chúng ta chỉ làm việc cho độc nhất bản thân ta thì ta không đi theo con đường của Cho và sự giác ngộ của ta bị ngăn trở. Điều tối quan trọng là chúng ta phát triển tư tưởng giác ngộ để giải thoát tất cả chúng sinh khỏi vòng sinh tử. Chúng sinh thì vô hạn như bầu trời. Họ từng là những cha và mẹ của chúng ta. Họ hoàn toàn đau khổ trong vòng sinh tử này mà tất cả chúng ta tạo nên từ nền tảng của sự sống. Vì thế tư tưởng giải thoát họ khỏi nỗi đau khổ này thì thực sự hết sức mạnh mẽ. Không có nó chúng ta sẽ có ý niệm mê lầm là chúng ta sống tách biệt với tất cả chúng sinh.</p>
<p>Tư tưởng giác ngộ (trong lời nguyện Bồ Đề tâm) là: ‘Từ nay trở đi cho tới khi luân hồi sinh tử trống rỗng tôi sẽ làm việc vì lợi ích của tất cả chúng sinh là những người từng là cha và mẹ tôi.’ Vì thế từ quan điểm tương đối, có chúng sinh được giải thoát, có lòng bi mẫn được phát triển, và có ‘tôi’, người phát triển lòng bi mẫn. Phương cách để phát triển và biểu lộ lòng bi mẫn thực sự được chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng rõ. Chang-chub-sem tương đối là như thế.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế trong thực hành chang-chub-sem tương đối này, bạn quán tưởng tất cả chúng sinh và phát triển tư tưởng giác ngộ. Bạn nỗ lực giải thoát họ khỏi mọi đau khổ cho tới khi đạt được giác ngộ. Bạn trì tụng sự phát triển chang-chub-sem (Bồ Đề tâm) nhiều lần như thực hành của bạn yêu cầu. Giáo huấn (phù hợp với những giáo lý về sự phát triển chang-chub-sem) là bạn phải hoán đổi hạnh phúc của riêng bạn để nhận nỗi khổ của người khác. Khi bạn thở ra bạn hiến tặng mọi hạnh phúc và niềm vui (và ngay cả những nguyên nhân của chúng) cho tất cả chúng sinh. Khi bạn hít vào bạn nhận mọi nỗi đau đớn và khốn khổ của họ khiến cho họ có thể được giải thoát khỏi nó. Thực hành này cũng rất quan trọng. Không có sự phát triển chang-chub-sem và không có sự tự giải thoát mình ra khỏi sự tham luyến (đối với sự phô diễn sắc tướng của tánh Không) chúng ta không thể đạt được giác ngộ. Chính vì chúng ta không thể biểu lộ lòng bi mẫn đối với người khác và do bị dính mắc vào ý niệm về cái ‘ta’ mà chúng ta không thoát khỏi sự nhị nguyên. Tất cả những điều này là những phương diện tương đối của thực hành chang-chub-sem.</p>
<p style="text-align: justify;">Đối với phương diện tuyệt đối của chang-chub-sem, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói với đệ tử Rabjor của Ngài: “Mọi hiện tượng thì như một ảo ảnh và một giấc mộng.” Lý do khiến Đức Phật nói điều này là bởi bất kỳ điều gì hiển lộ đều là đối tượng của sự biến đổi và tan rã; không có gì vốn tự bền chắc, thường hằng, tách biệt, liên tục, hay được định hình. Nếu bạn thấy thế giới là bền chắc, bạn tự cột trói mình bằng một sợi thừng của sự vướng mắc và bị nó giam cầm và lôi đi (như một con chó). Bạn bị kéo vào những hoạt động có thể chẳng bao giờ chấm dứt, đó là lý do tại sao vòng sinh tử dường như kéo dài vô tận.</p>
<p style="text-align: justify;">Bạn có thể nghĩ rằng bởi sinh tử như một giấc mộng, có lẽ sự giác ngộ thì bền chắc và thường hằng. Nhưng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói rằng tự thân Niết Bàn thì như một giấc mộng – một ảo ảnh. Không có điều gì có thể được đặt tên là Niết Bàn; không có gì được gọi là Niết Bàn như một điều gì cụ thể.</p>
<p style="text-align: justify;"> Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói thẳng về điều này: “Sắc tướng là sự trống không (tánh Không).” Ví dụ như mặt trăng được phản chiếu trong nước, nhưng không có mặt trăng trong nước; chưa từng có! Không có sắc tướng ở đó để có thể nắm bắt. Nó trống không! Rồi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói tiếp: “Tự thân sự trống không (tánh Không) là sắc tướng.” Sự trống không (tánh Không) tự nó đã xuất hiện trong cách thế của sắc tướng. Bạn không thể tìm ra tánh Không tách lìa sắc tướng. Bạn không thể phân cách hai điều đó. Bạn không thể nắm bắt chúng như những thực thể tách biệt. Mặt trăng được phản chiếu trong nước, nhưng nước không phải là mặt trăng. Mặt trăng không phải nước, tuy nhiên bạn không thể tách rời nước và mặt trăng. Một khi bạn hiểu được điều này ở bình diện kinh nghiệm thì không có luân hồi sinh tử. Trong cảnh giới của sự chứng ngộ không có sinh tử hay Niết Bàn! Khi nói về giáo lý Dzogchen, sinh tử và Niết bàn chỉ là ý niệm nhị nguyên khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng khi nhìn mặt trăng này trong nước, bạn có thể nói: “ Nhưng nó ở đó, tôi có thể nhìn thấy nó!” Nhưng khi bạn với lấy nó và cố gắng chạm vào nó – nó không có ở đó! Những tư tưởng xuất hiện trong Tâm thì cũng thế. Vì thế nếu bạn hỏi: “Làm thế nào điều này thực sự xảy ra?” bạn cần suy xét rằng mọi sự xuất hiện từ nguyên nhân tương thuộc. Như vậy nguyên nhân tương thuộc này là gì? Nó chỉ đơn giản là mặt trăng và nước không hiện hữu riêng biệt. Nước trong trẻo là nguyên nhân đầu tiên, và mặt trăng là nguyên nhân thứ yếu hay phụ thuộc. Khi hai nguyên nhân này gặp nhau thì nguyên nhân tương thuộc này hiển lộ. Nó là sự xuất hiện ngẫu nhiên của nguyên nhân đầu tiên và nguyên nhân thứ yếu.</p>
<p style="text-align: justify;">Sắp đặt nó một cách trực tiếp, nguyên nhân đầu tiên hay nền tảng của sinh tử là sự nhị nguyên – sự phân cách giả tạo của tánh Không và sắc tướng. Từ điều này mọi sự hiển lộ trở thành những nguyên nhân phụ thuộc trong khuôn khổ của cái thấy thuộc về nghiệp. Chúng cùng tụ hội và tạo nên sự hiển lộ của sinh tử (chừng nào ta còn dính mắc vào sự phô diễn sắc tướng của tánh Không như một định nghĩa của sự hiện hữu). Mọi sự mà ta kinh nghiệm như sinh tử chỉ hiện hữu trong khuôn mẫu tương thuộc này. Bạn phải hết sức xác quyết về điều này! Khi bạn tiến xa hơn nữa (và khảo sát bản tánh của nguyên nhân tương thuộc) bạn nhận ra rằng nó không là gì khác hơn là tánh Không. Vì thế, tách lìa tánh Không thì không có Cho. Cái thấy tối hậu của Thegchen (Đại Thừa) là tánh Không, nhưng quan điểm này không hiện hữu trong những giáo lý thấp.</p>
<p>Nếu bạn thực sự nhìn vào kinh nghiệm của bạn về sự hiện hữu với con mắt thiền định, bạn bắt đầu nhìn mọi sự như trò nô đùa của tánh Không. Các hiện tượng (như những toạ độ quy chiếu) trở nên cạn kiệt và cuối cùng bạn đạt tới bản tánh cốt tuỷ của chúng, đó là tánh Không. Nhưng sau khi nói ra điều này, có thể dẫn tới việc bạn nói: ‘Trong trường hợp đó chúng ta sẽ không cần bất kỳ điều gì.’ Nhưng bạn có cần điều gì hay không là tuỳ ở bạn. Nó chỉ đơn giản tuỳ thuộc vào tâm bạn! Chỉ bàn luận suông về tánh Không thì không đủ! Bạn phải thể nhập nó và sau đó quán sát chính mình. Nếu tâm bạn thực sự không có sự tạo tác quy chiếu, thì không có hy vọng, không sợ hãi, không có sự tiêu cực – tâm bạn giải thoát khỏi điều đó! Nó giống như việc vẫy bàn tay bạn trong không trung! Bất kỳ điều gì xuất hiện thì hoàn toàn không bị ngăn che.</p>
<p>Mục đích của thiền định là an trụ trong trạng thái tự nhiên này. Trong trạng thái đó mọi hiện tượng được trực tiếp nhận ra trong tánh Không cốt tuỷ của chúng. Đó là lý do tại sao chúng ta thực hành thiền định. Sự thiền định tịnh hoá mọi sự vào bản tánh trống không của chúng. Trước tiên chúng ta phải nhận ra rằng bản tánh tuyệt đối, tự nhiên đó của các sự vật (vạn pháp) thì trống không. Sau đó, bất kỳ điều gì hiển lộ đều là sự nô đùa của dharmakaya (Pháp Thân.) Từ bản tánh trống không của sự hiện hữu xuất hiện mọi sự hiển lộ tương đối từ đó chúng ta tạo lập samsara (luân hồi sinh tử). Bạn cần hiểu thật rõ ràng các sự việc hiện hữu ra sao trong thực tế và chúng xuất hiện thế nào trong phạm vi nhị nguyên. Rất cần thiết phải có Cái Thấy (Kiến) này, bởi không có Cái Thấy thì  sự thiền định của bạn trở nên trầm trệ. Chỉ ngồi và nói: ‘Nó hoàn toàn trống không’ thì giống như lật úp một chiếc tách nhỏ ! Không gian nhỏ bé đó trong cái tách vẫn là một sự trống không hết sức hạn hẹp, giới hạn. Thậm chí bạn không thể dùng nó để uống trà!</p>
<p style="text-align: justify;">Điều cốt yếu là thực sự thấu hiểu cốt lõi của vấn đề như nó là. Trong ý nghĩa tuyệt đối thì không có chúng sinh kinh nghiệm sự không hài lòng. Sự không hài lòng này trống không như bầu trời trong trẻo, nhưng do bởi tham luyến vào sự phô diễn sắc tướng của tánh Không, (nguyên nhân tương thuộc) phạm vi tương đối của các sự việc trở thành một cạm bẫy huyễn hoá trong đó có chúng sinh kinh nghiệm sự không hài lòng. Đây là ý nghĩa của samsara.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong việc diễn tả phẩm tính cốt tuỷ của Bà Mẹ Vĩ đại, tánh Không, có nói là: ‘Mặc dù bạn nghĩ tưởng về việc biểu lộ bản tánh của Tâm Kinh, bạn không thể diễn tả nên lời.’ Nó hoàn toàn siêu vượt sự diễn bày, siêu vượt sự suy tưởng, siêu vượt ý niệm. Nó chưa từng sanh. Nó chưa từng diệt. Nếu bạn hỏi nó giống cái gì, nó giống như bầu trời. Bạn chẳng bao giờ tìm thấy giới hạn của bầu trời. Bạn chẳng bao giờ tìm ra trung tâm của bầu trời. Vì thế bản tánh giống như- bầu trời này tượng trưng cho tánh Không: nó bao la, vô hạn, và tự do, với chiều sâu và sự trải dài vô tận.</p>
<p>Nhưng sau khi nói điều này, bạn có thể nói: ‘Như vậy rigpa của riêng tôi, bản tánh tâm của riêng tôi thì như bầu trời, thoát khỏi mọi giới hạn.’ Nhưng điều này không phải là nó! Nó không chỉ trống không. Nếu bạn nhìn vào nó thì có một điều gì đó để nhìn. ‘Nhìn’ chỉ là một từ mà bạn phải sử dụng để truyền đạt. Nhưng bạn có thể nhìn điều đó. Bạn có thể thiền định về điều đó. Bạn có thể nghỉ ngơi trong đó, và mọi sự xuất hiện trong điều kiện bao la đó. Nếu bạn nhìn chân tánh của tánh Không và sắc tướng là bất nhị – như nó thực sự là – thì đây là mẹ của tất cả chư Phật. Toàn bộ sự phiếm luận này là một sự cụ thể hoá của chang- chub-sem (Bồ Đề tâm) tuyệt đối.</p>
<p>Kế đó là sự tịnh hoá nhờ Đức Dorje Sempa (Vajrasattva, Kim Cương Tát Đoả). Trong ý nghĩa tuyệt đối thì không có gì để tịnh hoá, không ai có thể tịnh hoá bạn, và không có sự tịnh hoá. Nhưng bởi chúng sinh hình như không thể để mặc như vậy (như nó là), các vấn đề trở nên hơi rắc rối. Những che chướng và những lầm lạc nhị nguyên xuất hiện như hậu quả của việc bám chấp vào sự phô diễn sắc tướng của tánh Không.</p>
<p>Trong tri giác huyễn hoá của sự bám chấp này nơi sự phô diễn sắc tướng của tánh Không, bản thân chúng ta chịu khuất phục sự không hài lòng không ngừng dứt. Bởi lý do này, sự tịnh hoá trở thành một phương tiện thiện xảo tương đối. Để tịnh hoá những lầm lạc của ta, yab-yum (sự hợp nhất của nam nữ Bổn Tôn) Dorje Sempa xuất hiện từ trạng thái rigpa chân thật của riêng bạn và dòng cam lồ từ kyil-khor (mạn đà la) bí mật của sự hợp nhất của các Ngài hoàn toàn tịnh hoá những che chướng của bạn. Bạn đi vào sự quán tưởng và trì tụng thần chú trăm-âm; và đây là ý nghĩa của sự tịnh hoá. Trong trạng thái tự nhiên của các sự vật (trong trạng thái của sự hiện hữu) mọi sự thì thanh tịnh từ nguyên thuỷ – như bầu trời. Đây là sự tịnh hoá tuyệt đối của Dorje Sempa.</p>
<p style="text-align: justify;">Bây giờ chúng ta tới pháp cúng dường khyil-khor (mạn đà la). Khyil-khor được cúng dường để tích tập những nguyên nhân tốt lành. Tại sao chúng ta cần tích tập những nguyên nhân tốt lành? Chính do bởi sự bám chấp vào sự phô diễn sắc tướng của tánh Không mà luân hồi sinh tử huyễn hoá đã xảy ra; vì thế chúng ta cần thực hành từ bỏ mọi sự. Bởi có ảo tưởng nên có một phương pháp để tịnh hoá ảo tưởng, chúng ta có thể sử dụng pháp này như một phương tiện thiện xảo tương đối. Bởi bạn có thể tịnh hoá nên cũng có một phương pháp để tích tập những nguyên nhân tốt lành. Khi bạn cúng dường ‘thân thể con, của cải và những sự vinh quang của con’, thì đây là sự cúng dường khyil-khor (mạn đà la) tương đối, tượng trưng. Từ quan điểm tuyệt đối, những sự vật này thì trống không, giống như bầu trời trống không trong trẻo. Do đó nếu bạn an trụ trong trạng thái của giác tánh nguyên sơ thì đó là sự cúng dường khyil-khor tuyệt đối và sự tích tập tuyệt đối những nguyên nhân tốt lành.</p>
<p>Sau đó tới thực hành Lama’i Naljor (Guru Yoga). Do bởi sự bám chấp vào sự phô diễn sắc tướng của tánh Không, Lạt ma xuất hiện như bậc khơi dậy sự thanh tịnh của tâm. Ngài là đối tượng mà ta cảm nhận một cách thanh tịnh. Bởi sự bám chấp ngăn che tâm thức (và bởi bạn cảm thấy sự thanh tịnh của tri giác đối với Lạt ma) nên cả bạn lẫn Lạt ma xuất hiện để hiện hữu trong phạm vi của sự nhị nguyên (như thể bản tánh nền tảng của Tâm bạn, trong phạm vi của Pháp Thân, thì khác biệt). Do đó, ở bên ngoài, bạn quán tưởng Lạt ma với lòng sùng mộ to lớn. Sau đó bạn nhận quán đảnh của trạng thái bất nhị của ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Đây là tất cả những thực hành bên ngoài, tương đối của pháp Lama’i Naljor (Guru Yoga) trong đó bạn khẩn cầu sự hiện diện trí tuệ của Lạt ma có tính chất tượng trưng có thể nhìn thấy được. Rồi bạn trì tụng những lời kim cương: “Lạt ma tan hoà vào ánh sáng và hợp nhất với chính con… Ngài thấy đấy! Nhất vị của rigpa và tánh Không (rig-tong) là khuôn mặt đích thực của Lạt ma!”</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu bạn hỏi Lạt ma tuyệt đối ở đâu, thì Ngài không ở đâu ngoài nơi đó – trong bản tánh tuyệt đối của Tâm! Trạng thái tuyệt đối của rigpa là nơi Lạt ma được hoàn toàn đạt tới như trí tuệ nguyên sơ và không gian trong trẻo. Việc chỉ đơn giản tiếp tục trong sự tỉnh giác về nó như thế nào, là thực hành Dzogchen của Lama’i Naljor.</p>
<p style="text-align: justify;"> Đây là cách ngondro Kim Cương thừa bên ngoài gắn liền với ngondro bên trong trong phạm vi của giáo lý ati-yoga./.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Một Giáo lý của Đức Dudjom Rinpoche</strong><strong><br />
Việt dịch: Thanh Liên</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em> Nguyên tác: Dzogchen View of Tantric Ngondro</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Ngak’chang Rinpoche ghi lại từ những giảng dạy khẩu truyền ban tặng bởi Đức Jigdral Yeshé Dorje Rinpoche, Vị Lãnh đạo Siêu việt đầu tiên của phái Nyingma của Tây Tạng tại hải ngoại; có bổ sung những câu trả lời các câu hỏi của Ngak’chang Rinpoche trong những buổi tiếp kiến riêng, liên quan tới ngondro Dudjom gTérsar ngắn gọn, Bodhanath, Kathmandu, Nepal, 1979.</em></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/quan-diem-cua-dai-vien-mandzogchen-ve-phap-tu-mo-daungondro/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nghi quỹ thực hành</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/nghi-quy-thuc-hanh/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/nghi-quy-thuc-hanh/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 03 Sep 2015 15:59:33 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Nghi Quỹ]]></category>
		<category><![CDATA[Thư Viện]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3838</guid>
		<description><![CDATA[01 - Nghi quỹ Cầu vãng sanh cực lạc 02- Nghi quỹ Đạo Sư Du Già - Garchen Rinpoche 03- Nghi quỹ dakini Yeshe Tsogyal 04- Nghi Quỹ Dược Sư]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>01 - <a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Nghi-quy-dakini-Yeshe-Tsogyal.pdf">Nghi quỹ</a> <a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Cầu-vãng-sanh-cực-lạc-.pdf">Cầu vãng sanh cực lạc</a></p>
<p>02- <a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Nghi-quy-dakini-Yeshe-Tsogyal.pdf">Nghi quỹ</a> <a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Đạo-Sư-Du-Già-Garchen-Rinpoche-.pdf">Đạo Sư Du Già - Garchen Rinpoche</a></p>
<p>03- <a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Nghi-quy-dakini-Yeshe-Tsogyal.pdf">Nghi quỹ dakini Yeshe Tsogyal</a></p>
<p>04- <a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Nghi-Quỹ-Dược-Sư.pdf">Nghi Quỹ Dược Sư</a></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/nghi-quy-thuc-hanh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
