<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Đạo sư</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/thuc-hanh/dao-su-thuc-hanh/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Fri, 17 Apr 2026 16:09:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Tiểu Sử Vắn Tắt Khandro Tare Lhamo</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/dao-su-thuc-hanh/tieu-su-van-tat-khandro-tare-lhamo/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/dao-su-thuc-hanh/tieu-su-van-tat-khandro-tare-lhamo/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 22 Oct 2021 00:59:47 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=10388</guid>
		<description><![CDATA[Khandro Tare Lhamo sinh năm Thổ Dần 1938 trong thung lũng Bokyi Yumolung của vùng du mục Golok. Cha Bà là Terton (vị phát lộ kho tàng) lỗi lạc của gia đình Apang, vị được gọi là Apang Terchen Pawo Choying Dorje (1895 - 1945), tức Orgyen Trinle Lingpa. Mẹ Bà, Damtsik Drolma, là con gái của một vị thủ lĩnh địa phương và được công nhận là hóa hiện về khẩu của Đức&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/dao-su-thuc-hanh/tieu-su-van-tat-khandro-tare-lhamo/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Khandro Tare Lhamo sinh năm Thổ Dần 1938 trong thung lũng Bokyi Yumolung của vùng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du mục</span> Golok. Cha Bà là Terton (vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> kho tàng) <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lỗi lạc</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span> Apang, vị được gọi là <b>Apang Terchen Pawo Choying Dorje</b> (1895 - 1945), tức Orgyen Trinle Lingpa. Mẹ Bà, Damtsik Drolma, là con gái của một vị thủ lĩnh địa phương và được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công nhận</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa hiện</span> về khẩu của Đức Bà Yeshe Tsogyal.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiên tri</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên quan đến</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chào đời</span> của Bà Tare Lhamo được đưa ra bởi những vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lỗi lạc</span> như Dudjom Rinpoche Jigdral Yeshe Dorje (1904 - 1987)<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Holly%20Gayley.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20KHANDRO%20TARE%20LHAMO.docx#_ftn2">[2]</a>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Dựa trên</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiên tri</span> như vậy, Bà Tare Lhamo được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công nhận</span> khi còn nhỏ là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa hiện</span> của hai nhân vật trong vùng thuộc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế hệ</span> trước, một nam và một nữ, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lần lượt</span> là Tra Gelong Tsultrim Dargye (1866 - 1937) và Sera Khandro (1892 - 1940)<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Holly%20Gayley.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20KHANDRO%20TARE%20LHAMO.docx#_ftn3">[3]</a>, vị cũng được biết đến là Uza Khandro Dewe Dorje. Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công nhận</span> thứ hai là hơi lạ thường, bởi Sera Khandro vẫn chưa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> hai năm sau khi Bà Tare Lhamo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chào đời</span>. Không có ghi chép nào về việc Bà Tare Lhamo thọ nhận hay trao truyền các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> của những vị này, cũng như việc Bà được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính thức</span> tấn phong là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa hiện</span> của vị nào. Khi còn là một đứa bé, Bà nhận được một vài trong số những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tài sản</span> của Tra Gelong và được mời đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rèn luyện</span> tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> của Ngài như một vị Ni. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tuy nhiên</span>, Bà từ chối và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quyết định</span> sống như một chủ hộ và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> sống cùng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span>. Giống như mẹ, Bà cũng được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xác nhận</span> là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa hiện</span> của Đức Bà Yeshe Tsogyal.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thời trẻ</span>, Bà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> với cha - Apang Terchen, thậm chí <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> một kho tàng với cha khi còn là một đứa bé. Từ Ngài, Bà thọ trao truyền cho Nyingtik Yabshi và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> kho tàng của Ngài trước khi Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span> vào năm 1945, khi Bà chỉ mới chín tuổi (theo cách tính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, tám tuổi theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiêu chuẩn</span> quốc tế). Theo phong tục Nyingma <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phổ biến</span> của việc trao <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền giáo</span> lý qua <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span>, Bà Tare Lhamo cùng các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">anh em trai</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> những vị nắm giữ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> của cha. Các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">anh em trai</span> của Bà, tất cả đều được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công nhận</span> là những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span>, là Gyurme Dorje (sinh năm 1928), Wangchen Nyima (sinh năm 1931) và Thubten Chokyi Nyima (sinh khoảng năm 1939). Ngài Wangchen Nyima <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nối</span> cha, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đứng đầu</span> của Tsimda Gompa, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> mà Apang Terchen <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành lập</span> năm 1925 ở Markhok trong Hạt Padma của Golok.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong phần còn lại của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời trẻ</span> và đầu tuổi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trưởng thành</span>, Bà Tare Lhamo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du hành</span> cùng mẹ - Damtsik Drolma, đến các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thánh địa</span> ở Golok và thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> từ những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lỗi lạc</span> thời ấy. Hai vị thầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> của Bà là Dodrubchen Rinpoche thứ tư - Rigdzin Jalu Dorje (1927 - 1961) và Dzongter Kunzang Nyima (1904 - 1958), cháu nội và cũng là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa hiện</span> về khẩu của vị Terton lừng danh - Dudjom Lingpa (1835 - 1904). Từ Ngài Rigdzin Jalu Dorje, Bà thọ nhận những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> về Nyingtik Yabshi. Từ Dzongter Kunzang Nyima, Bà thọ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho phép</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> kho tàng của Ngài, cũng như của Dudjom Lingpa, và Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bổ nhiệm</span> Bà là vị trông giữ kho tàng (chodak) cho pho Yeshe Tsogyal của Ngài. Từ trẻ, theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiểu sử</span> của Bà, Bà đã bắt đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> các kho tàng dưới dạng những giỏ và cuộn kinh vàng.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm hai mươi tuổi (theo cách tính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>), Bà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia nhập</span> khu trại của Dzongter Kunzang Nyima ở Rizab và kết hôn với con trai của Ngài, Mingyur Dorje (1934 - 1959), tức Pema Osel Nyingpo. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trong khoảng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> ngắn bên nhau, họ có một người con trai, Wangchuk Dorje, thường được gọi là Tulku Ngaro. Trong quá trình <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biến đổi</span> cộng sản ở Golok vào cuối những năm 1950, theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luật lệ</span> của Cộng sản <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span>, Tulku Milo và ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">anh em trai</span> của Bà Tare Lhamo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bị giam</span> giữ, cùng với nhiều nhân vật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn giáo</span> khác, nơi mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuối cùng</span> họ đều qua đời. Bà Tare Lhamo không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bị giam</span> cầm, có lẽ bởi giới tính, cũng như nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> trẻ tuổi hơn, những vị chỉ là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiếu niên</span> khi ấy. Lúc bắt đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cách mạng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Văn hóa</span> (1966 - 1976), con trai Bà qua đời vì bệnh tật và sau đấy, mẹ Bà cũng qua đời vì tuổi cao, để lại Tare Lhamo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đơn độc</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1978, Bà Tare Lhamo khởi xướng một sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hợp tác</span> với <b>Namtrul Rinpoche Jigme Phuntsok</b> (1944 - 2011), một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> kém Bà sáu tuổi, vị sống ở vùng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biên giới</span> của Hạt Serta thuộc tỉnh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tứ Xuyên</span>. Sau hơn một năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trao đổi</span> thư từ, Bà rời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quê nhà</span> Hạt Padma thuộc tỉnh Thanh Hải để đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia nhập</span> cùng với Namtrul Rinpoche ở Serta, nơi mà hai vị sống cùng nhau đến khi Bà qua đời vào năm 2002. Cùng nhau, họ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Nyenlung ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quê nhà</span> của Namtrul Rinpoche, cùng với Rigdzin Nyima, một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> đã giữ địa điểm này như một ẩn thất và sống gần bên hai vị. Mặc dù Bà Tare Lhamo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc quyền</span> là người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đứng đầu</span> của Tsimda Gompa bằng cách rời Hạt Padma, Bà và Namtrul Rinpoche vẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> là những vị thầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">căn bản</span> ở đó, và Bà đóng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vai trò</span> quan trọng trong việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1980, Khenpo Jigme Phuntsok (1933 - 2004)<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Holly%20Gayley.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20KHANDRO%20TARE%20LHAMO.docx#_ftn4">[4]</a> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban cho</span> Bà Tare Lhamo và Namtrul Rinpoche trao truyền về tuyển tập kho tàng của Apang Terchen, điều mà Bà vốn đã thọ trực tiếp từ cha khi còn là một đứa bé, và khuyến khích họ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền bá</span> rộng khắp. Sau đấy năm 1986, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho phép</span> họ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> Terton và ban trao truyền cho tuyển tập kho tàng của Lerab Lingpa (1856 - 1926)<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Holly%20Gayley.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20KHANDRO%20TARE%20LHAMO.docx#_ftn5">[5]</a>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiền thân</span> của chính Ngài. Năm 1987, Bà Tare Lhamo và Namtrul Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia nhập</span> đoàn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tùy tùng</span> khoảng 10.000 người của Ngài trong chuyến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành hương</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lịch sử</span> đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ngũ Đài Sơn</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thánh địa</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi</span> ở tỉnh Sơn Tây, nơi mà hai vị đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi quỹ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Diệu Âm</span> Sarasvati.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1990, Dola Chokyi Nyima Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban cho</span> họ trao truyền về tuyển tập kho tàng của cha Ngài - Dudjom Rinpoche Jigdral Yeshe, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho phép</span> họ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền bá</span> chúng. Không lâu sau, Bà Tare Lhamo thu hút sự chú ý quốc tế khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công nhận</span> con trai của Ngài Dola Chokyi Nyima là một trong hai vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> của Dudjom Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trong suốt</span> thập niên 80 và 90, Bà Tare Lhamo và Namtrul Rinpoche đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> các kho tàng cùng nhau và giảng dạy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rộng rãi</span>, khắp vùng Golok và hơn thế. Về sự giảng dạy, hai vị đã nắm giữ và trao truyền ba tuyển tập kho tàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span>: tuyển tập kho tàng của chính hai vị trong mười hai quyển, tuyển tập của cha Bà - Apang Terchen trong mười sáu quyển, và của Đức Jigdral Yeshe Dorje. Hai vị đã tổ chức một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp hội</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thường niên</span> tại Nyenlung mỗi mùa hè, thu hút hơn một nghìn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">môn đồ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham dự</span> kể từ những năm 90, và đóng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vai trò</span> là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quản lý</span> cho nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> khác ở Golok và các vùng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lân cận</span>, giúp gây quỹ cho các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dự án</span> tái thiết, tài trợ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span>, trong khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thường xuyên</span> viếng thăm để giảng dạy. Hai vị cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> yêu thích và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thúc đẩy</span> sử thi Gesar.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cuối năm</span> 2000, Bà Tare Lhamo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lâm bệnh</span> và năm sau, Bà được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chẩn đoán</span> mắc một căn bệnh, điều có lẽ là ung thư thực quản. Các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biện pháp</span> khác nhau về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tiễn</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cố gắng</span> chữa lành, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> cả việc dành <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> ở các bệnh viện tại Barkham và Thành Đô. Bà qua đời vào ngày 6 tháng 3 năm 2002 ở Thành Đô và nhục thân Bà được đưa về Nyenlung không lâu sau để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cử hành</span> tang lễ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thích hợp</span>. Namtrul Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quản lý</span> và phát triển <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cộng đồng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> trong gần một thập niên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> khi qua đời vào ngày 7 tháng 11 năm 2011.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Truyền thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> của Bà Tare Lhamo và Namtrul Rinpoche được trao lại cho con trai của Ngài - Tulku Lhaksam, vị hiện là người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đứng đầu</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Nyenlung và là vị trì giữ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> cho các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> kho tàng của hai vị và của Apang Terchen. Bên cạnh việc là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> của Đức Zhichen Kunzang Nyima, Tulku Lhaksam cũng được xem là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> của Tulku Ngaro, người con trai đã chết trẻ của Bà Tare Lhamo. Ngày nay, di cốt của Bà Tare Lhamo và Namtrul Rinpoche được thờ bên cạnh nhau trong một phòng thờ trong khuôn viên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span> ở Nyenlung.</p>
<div style="text-align: justify;"></div>
<div>
<p style="text-align: justify;"><strong>Holly Gayley</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><i> Việt ngữ: Pema Jyana </i></p>
<p><em>Nguồn Anh ngữ: <a href="https://treasuryoflives.org/biographies/view/Tare-Lhamo/8651.">Khandro Tare Lhamo</a></em></p>
<p><em>Nguồn việt ngữ: <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a36684/tieu-su-van-tat-khandro-tare-lhamo-1938-2002-">Tiểu Sử Vắn Tắt Khandro Tare Lhamo (1938 - 2002</a>)</em></p>
<div>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Holly%20Gayley.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20KHANDRO%20TARE%20LHAMO.docx#_ftnref1">[1]</a> Holly Gayley là Giáo Sư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trợ Lý</span> (Assistant Professor) trong Phòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nghiên Cứu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn Giáo</span> tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại Học</span> Colorado, Boulder.</em></p>
</div>
<div>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Holly%20Gayley.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20KHANDRO%20TARE%20LHAMO.docx#_ftnref2">[2]</a> Về Dudjom Rinpoche, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/a35008/tieu-su-van-tat-dudjom-rinpoche-jigdral-yeshe-dorje-1904-1987-">https://thuvienhoasen.org/a35008/tieu-su-van-tat-dudjom-rinpoche-jigdral-yeshe-dorje-1904-1987-</a>.</em></p>
</div>
<div>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Holly%20Gayley.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20KHANDRO%20TARE%20LHAMO.docx#_ftnref3">[3]</a> Về Sera Khandro, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/a36670/tieu-su-van-tat-duc-sera-khandro-kunzang-dekyong-wangmo-1892-1940-">https://thuvienhoasen.org/a36670/tieu-su-van-tat-duc-sera-khandro-kunzang-dekyong-wangmo-1892-1940-</a>.</em></p>
</div>
<div>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Holly%20Gayley.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20KHANDRO%20TARE%20LHAMO.docx#_ftnref4">[4]</a> Về Khenpo Jigme Phuntsok, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/a27321/tieu-su-van-tat-duc-kyabje-jigme-phuntsok-rinpoche">https://thuvienhoasen.org/a27321/tieu-su-van-tat-duc-kyabje-jigme-phuntsok-rinpoche</a>.</em></p>
</div>
<div>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Holly%20Gayley.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20KHANDRO%20TARE%20LHAMO.docx#_ftnref5">[5]</a> Về Lerab Lingpa, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/a35557/tieu-su-van-tat-terchen-lerab-lingpa-terton-sogyal-1856-1926-">https://thuvienhoasen.org/a35557/tieu-su-van-tat-terchen-lerab-lingpa-terton-sogyal-1856-1926-</a>.</em></p>
</div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/dao-su-thuc-hanh/tieu-su-van-tat-khandro-tare-lhamo/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Vòng tròn chuyển hóa</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/vong-tron-chuyen-hoa/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/vong-tron-chuyen-hoa/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 02 Jan 2020 05:11:43 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=9707</guid>
		<description><![CDATA[Một xứ sở đẹp đẽ là một ảo ảnh như giấc mộng, Thật vô nghĩa khi bám chấp vào nó. Trừ phi thế lực nội tại của những cảm xúc tiêu cực bị chinh phục, Cuộc chiến đầu với những kẻ thù bên ngoài sẽ không bao giờ chấm dứt. Khyentse Rinpoche Cuối những năm 1950, người Trung Quốc xâm&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/vong-tron-chuyen-hoa/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><b><i>Một xứ sở đẹp đẽ là một ảo ảnh như giấc mộng,</i></b></p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Thật vô nghĩa khi bám chấp vào nó.</i></b></p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Trừ phi thế lực nội tại của những cảm xúc tiêu cực bị chinh phục,</i></b></p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Cuộc chiến đầu với những kẻ thù bên ngoài sẽ không bao giờ chấm dứt.</i></b></p>
<p style="text-align: justify;"><em><span style="font-weight: 400;">Khyentse Rinpoche</span></em></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cuối những năm 1950, người Trung Quốc xâm chiếm Tây Tạng, việc ấy được tiến hành bằng sự thâm nhập từ từ trong thập kỷ trước, đã nhanh chóng biến thành một cuộc xâm lược quân sự toàn bộ – đặc biệt là tại Kham ở miền đông Tây Tạng. Khi những viên chức Trung Quốc tới Denkhok và hỏi về chỗ ở của Rinpoche, vợ ngài đã gửi cho ngài một lá thư mật dặn ngài đừng về nhà. Bà hối thúc ngài đi từ Khampagar, một tu viện khi ấy ngài đang thăm viếng, tới thẳng Lhasa. Bản thân bà cũng thoát nạn trong đường tơ kẽ tóc những người lính Trung Quốc có mặt khắp nơi để gặp ngài đến đường đi. Họ vội vã tới Lhasa, bỏ lại đằng sau mọi thứ, kể cả những quyển sách quý báu của Rinpoche và hầu hết những tác phẩm của ngài. Chẳng bao lâu những người còn lại của gia đình gặp được ngài. Họ cùng đi hành hương tới miền Trung Tây Tạng. Sau đó, trong sáu tháng, Khyentse Rinpoche ngồi trước pho tượng Đức Phật Cao Quý nổi tiếng ở Lhasa để tụng một trăm ngàn bài cúng dường mạn đà la thế giới. Một trận dịch đang hoành hành tại Lhasa, vì thế ngài cũng cử hành nhiều buổi lễ và cầu nguyện cho người bệnh và người chết, như thể không biết rằng gia đình ngài lo sợ bản thân ngài sẽ bị nhiễm bệnh. Mẹ ngài và anh cả Shedrup của ngài đều chết trong thời gian bị bệnh dịch.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi ấy, có tin là người Trung Quốc đã sung công điền trang của gia đình Dilgo ở Kham và lấy đi tất cả tài sản của họ. Khandro Lhamo, vợ của Rinpoche thuật lại:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Một hôm tại Lhasa, vài viên chức Trung Quốc tới gặp tôi và hỏi: ‘Vị phối ngẫu tôn kính, bà đang làm gì?’</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôi trả lời rằng tôi vừa mới ngồi ở đó, và tặng cho họ ít trái cây. Họ hỏi các cô con gái của tôi đang làm gì và tôi nói chúng đang lễ lạy tại chùa chính của Lhasa. Họ hỏi tôi có nhớ nhà không và có phải Rinpoche và tôi đang dự tính quay về. Tôi nói tôi nhớ nhà, và muốn nhanh chóng trở về. Rồi họ hỏi tại sao chúng tôi tới miền Trung Tây Tạng, và có phải chủ nghĩa Cộng Sản được thiết lập ở Kham vào lúc chúng tôi ra đi. Tôi trả lời là chúng tôi đi hành hương, còn về chủ nghĩa Cộng Sản thì đó là một từ mà trước đây tôi chưa bao giờ nghe. Nhìn thấy ít kẹo đỏ và trắng bày trên bàn, viên chức Trung Quốc hỏi có phải chúng tôi có tục lệ ăn kẹo đỏ và trắng không. Khi tôi trả lời là đúng như thế, họ nói chủ nghĩa Cộng Sản thì hoàn toàn giống như kẹo đỏ và trắng. Tôi hỏi họ mục đích của Cộng Sản là gì, họ nói đó là cái gì rất tốt đẹp, giống như kẹo. Tôi bảo họ rằng nếu nó là cái gì giống như kẹo thì tôi có một dịp may để thấy yêu thích nó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi ấy tôi đã biết rằng người Trung Quốc đã chiếm toàn bộ của cải và ngựa của chúng tôi ở miền Đông Tây Tạng, nhưng tôi giả vờ không biết. Tôi sợ rằng họ có thể bắt chúng tôi. Họ bảo tôi chuẩn bị trở về Kham, nơi chúng tôi sẽ gặp những người lính Trung Quốc; Rinpoche sẽ phải trả một ngàn yuan, và tôi phải trả năm trăm. Tôi cảm ơn họ rất nhiều và nói chúng tôi sẵn sàng lên đường.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mọi người từ Kham tới Lhasa đều bị bắt và đưa trở về. Một số bị buộc phải bỏ lại con cái, và họ rụng rời sửng sốt. Một số nhảy xuống sông để trốn hay tự vận, nhưng hầu hết trong số đó bị trói lại và bị đẩy lên xe vận tải. Vì thế tôi lập tức đi gặp Rinpoche tại Tsurphu, trụ xứ của Karmapa ở tây bắc Lhasa. Bây giờ chúng tôi không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc trốn đi. Chúng tôi đã để những con ngựa ăn cỏ gần Tsurphu, nhưng người Trung Quốc đã lấy trộm hết. Vì thế tôi mượn một con ngựa đi tới Lhasa và mua thêm mười hai con ngựa nữa. Tôi trở về đêm đó và tới nơi lúc rạng đông. Pawo Rinpoche cũng cho chúng tôi một con ngựa rất khoẻ. Những con yak mang hành lý của chúng tôi. Rinpoche luôn luôn đi bộ. Khó có thể so sánh Rinpoche với những Lạt Ma khác; ngài luôn luôn khiêm tốn và thường chăm sóc mọi người. Chúng tôi có tất cả mười ba người. Chúng tôi đi bộ khoảng một tháng rưỡi, dựng lều vào ban đêm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi chỉ còn cách biên giới Bhutan vài ngày đường thì chúng tôi biết rằng quân đội Trung Quốc đang tới gần phía sau chúng tôi. Vì thế không còn lựa chọn nào khác, chúng tôi đành phải bỏ mọi hành lý, hầu hết sách và những pho tượng quý báu để đi nhanh hơn và không bị chú ý, ẩn núp vào ban ngày và đi vào ban đêm. Nhiều người Tây Tạng chạy trốn và quân Trung Quốc bắn ngay khi nhìn thấy. Chúng tôi leo một đèo núi và kiệt quệ tới nỗi phải ở lại đó ban đêm. Trời lạnh dữ dội. Rinpoche ngồi trên một tảng đá, Nyenpa Rinpoche ngồi bên kia. Tôi ngồi gần đó. Tất cả những con yak vẫn còn thắng yên cương; chúng tôi không có gì cho chúng ăn. Tuyết rơi suốt ba ngày đêm. Chúng tôi không thể đốt lửa để pha trà bởi quân Trung Quốc sẽ nhìn thấy khói. Chẳng có nơi nào để đi, chỉ có vô vàn những sườn núi đầy đá nhỏ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau cùng khi chúng tôi tới biên giới Bhutan, hầu như chúng tôi không còn gì để ăn, chỉ có một mẩu nhỏ bột lúa mạch, bơ và thịt khô. Chúng tôi phải đợi mười hai ngày trên một ngọn núi cao ở biên giới trong khi lính Bhutan chờ chỉ thị. Cuối cùng, chính phủ Bhutan cho phép chúng tôi vào. Họ rất tử tế với chúng tôi và tặng mọi người lúa mạch và gạo. Một phu nhân già cho mỗi người chúng tôi ít súp. Chúng tôi đi xuyên qua những cánh rừng Bhutan trong màn mưa không dứt, và có quá nhiều đỉa tới nỗi cả người và những con ngựa bị hút máu khắp nơi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi chúng tôi tới một nơi gọi là Wangdi, có người nghe tin tức trên một radio nhỏ là Khyentse Chokyi Lodro đã mất tại Sikkim.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi chúng tôi tới Ấn Độ, tôi rất ngạc nhiên khi nhìn thấy những xe hơi và xe lửa. Khi ấy Khyentse Rinpoche bốn mươi chín tuổi. Ngài đi Sikkim để cử hành lễ hỏa táng Khyentse Chokyi Lodro. Tại Kalompong và Darjeeling ngài cũng gặp những đại Lạt Ma khác như Dudjom Rinpoche và Kangyur Rinpoche mà ngài trao đổi giáo lý với những vị này”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Theo khẩn cầu của hoàng gia Bhutan, Khyentse Rinpoche tới sống ở Bhutan. Ngài trở thành thầy giáo gần thủ đô Thimpu. Chẳng bao lâu sự viên mãn nội tại của ngài đã cuốn hút nhiều đệ tử tới với ngài, và năm tháng qua đi, ngài trở thành Đạo Sư Phật Giáo lỗi lạc ở Bhutan, được mọi người từ nhà vua cho tới người nông dân tầm thường nhất tôn kính.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một buổi tối tại Paro, ngài thình lình yêu cầu một tu sĩ của ngài đi tới thủ đô Thimpu, cách hai giờ lái xe, để đưa một tấm hình nhỏ của nữ bảo hộ Ekajati cho vị vua trẻ, cùng một lá thư nói rằng nhà vua nên mang nó theo người vào ngày hôm sau. Sáng hôm sau, khi nhà vua đùi xe xuống biên giới Ấn Độ, chiếc xe jeep của vua bị lạc tay lái ở khúc quanh trên đường núi, va vào bờ núi dốc và lộn nhào, bật lên vài lần trước khi vỡ tan ở tuốt bên dưới. Mọi người đều chết ngoại trừ nhà vua, người ta tìm được ông bị tống ra ngoài khi xe rơi xuống và bình yên vô sự. Những sự kiện tương tự đã củng cố mạnh mẽ sự trung thành và niềm tin của mọi người nơi Rinpoche.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ khi Phật Giáo Kim Cương thừa được Đức Padmasambhava đưa vào Bhutan lần đầu tiên vào thế kỷ thứ tám và sau đó vào thế kỷ mười lăm bởi vị terton Bhutan Pema Lingpa và vị Thầy Tây Tạng thế kỷ mười bảy có ảnh hưởng to lớn Shabdrung Ngawang Namgyal, vương quốc núi non này đã liên tục thành công trong việc duy trì sự độc lập và không bị xâm chiếm. Nền văn hoá Phật Giáo có thể phát triển mà không bị trở ngại, và giá trị của nó được in dấu sâu xa trong tâm thức của người dân. Mỗi ngọn đồi được một ngôi chùa nhỏ che phủ, vây quanh là những lá cờ cầu nguyện bay phần phật trong gió. Những bánh xe cầu nguyện chuyển động suốt ngày đêm nhờ những dòng nước lũ và những con lạch nhỏ. Núi và rừng được tô điểm lấm tấm những ẩn thất trong đó các ẩn sĩ hiến dâng thời gian của họ cho việc thiền định. Mỗi năm một lần, họ đi xuống những thung lũng vào mùa gặt hái để khất thực, và tại mỗi trang trại họ được cúng dường gạo và rau khô. Trong một tháng họ nhận đủ lương thực để trải qua thời gian còn lại của năm trong ẩn thất cô tịch.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Bhutan, dù Khyentse Rinpoche đi tới đâu, mỗi buổi sáng trước rạng đông rất lâu, những người sùng mộ đã bắt đầu nối đuôi trước cửa nhà ngài, chờ ngài chấm dứt bài cầu nguyện buổi sáng. Sau hết, họ đi vào cúng dường ngài những miếng cơm, bột lúa mạch nướng, phô mát không kem, và bơ tươi được chất thành vòng tròn, những giỏ rơm dệt nhiều màu tuyệt đẹp. Họ xin ngài cầu nguyện cho sự an lành của họ, và ngài đặt bàn tay lên đầu họ để ban phước.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi Khyentse Rinpoche du hành ở Bhutan, dường như cả xứ đều biết việc đó. Cứ khoảng mười dặm lại có một nhóm dân chúng hay đôi khi với một ít tu sĩ đứng chờ ở bên đường gần một trang trại hay một ngôi làng. Một ngọn lửa lớn chất đầy những cành bách xù ẩm ướt đưa lên trời những cuộn khói thơm phức. Vài tấm thảm len dệt tay được trải ra trước một cái bàn gỗ, được chạm khắc tuyệt đẹp với những con rồng, chim, và hoa sen, bày biện cao lương mỹ vị và những bình trà nóng. Đoàn người dừng lại và được cúng dường thức ăn nhẹ. Đôi khi Khyentse Rinpoche ban phước từ xe hơi, đôi khi ngài bước ra và ngồi một lát để ban sự trường thọ cho hội chúng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi đi tới một tu viện hay ngôi làng lớn hơn, Khyentse được một đoàn dài các tu sĩ và giới chức địa phương chờ đón. Được dẫn dắt bởi những tu sĩ chơi âm nhạc và giơ cao những lá cờ thêu kim tuyến, đôi khi nhảy múa, một đoàn rước chậm rãi đưa ngài về trại. Ở đó, viên thị trưởng, chánh án, và những giới chức khác, trong lễ phục với một thanh gươm trong bao kiếm bạc bên hông, lễ lạy trước mặt ngài và dâng cho ngài trà và thực phẩm. Ngày hôm sau, hàng ngàn người từ khắp nơi xung quanh tụ họp trong sân tu viện và Khyentse Rinpoche ban phước cho họ khi họ đi thành hàng qua ngài trong nhiều giờ. Khi đám đông quá lớn, ngài sẽ được đưa bằng một cái kiệu giữa những hàng người sùng mộ ngồi trong một bãi đất trống, rải lên người họ những hạt gạo đã được hiến cúng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau khi tới nơi định đến, Khyentse Rinpoche thường ở lại đó một tháng hay hơn nữa, ban giáo lý và cử hành những buổi lễ chính. Ngay khi chúng hoàn tất, ngài cho đi tiếp. Ngài du hành suốt năm, mang theo một tá gói lớn gồm sách và những đồ lễ. Năm hay sáu tu sĩ thị giả đi cùng với ngài, có cả những Lạt Ma Hóa thân và những hành giả, dù ở nơi đâu thì họ cũng nhận lĩnh đều đặn những giáo lý của ngài mỗi ngày một hay hai giờ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ba hay bốn lần một năm, Khyentse Rinpoche cử hành những buổi lễ lớn gọi là drupchen, hay những thành tựu vĩ đại, kéo dài từ tám cho tới mười bốn ngày đêm liên tiếp. Toàn thể giáo đoàn tập hợp từ bảy giờ sáng tới bảy giờ tối, và ban đêm thì được chia thành ba nhóm lần lượt duy trì nghi lễ và sự trì tụng các thần chú không gián đoạn. Trong những đền chùa tráng lệ có những cánh đồng và khu rừng vây quanh, những buổi lễ này được ngắt quãng bởi âm nhạc, những vũ điệu thiêng liêng, và những điệu bộ và nghi lễ cúng dường có tính chất tượng trưng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có lần Khyentse Rinpoche trải qua hai tuần ở Động Hang Cọp tại Paro Taksang. Ở đó ngài cúng dường một trăm ngàn ngọn đèn bơ và ban nhiều giáo lý và lễ quán đảnh. Trong khi ngài ở đó, ngài có một linh kiến về Lạt Ma vĩ đại thế kỷ mười tám Jigme Lingpa, vị Thầy này có một quyển sách trên đầu, tóc được cột lại, và mặc một áo choàng trắng và một khăn choàng có sọc đỏ và trắng. Jigme Lingpa đặt tay lên đầu Khyentse Rinpoche và nói: “Con là người kế thừa những giáo lý của ta, Tâm Yếu của Pháp Giới Bao la (Longchen Nyingthig). Con có thể làm việc với những giáo lý ấy bất kỳ điều gì con muốn”. Jigme Lingpa cũng bảo ngài rằng cần phải xây dựng bốn stupa (tháp) lớn để duy trì nền hòa bình ở Bhutan và bảo đảm sự trường tồn của Phật Pháp. Mỗi tháp nên chứa một trăm ngàn tháp thu nhỏ. Điều này đã được thực hiện thật phù hợp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khyentse Rinpoche là một trong những vị Thầy hiếm có với một khả năng đặc biệt, là những vị nổi danh trong truyền thống Nyingma là terton, những vị khám phá những kho tàng tâm linh, nghĩa là các ngài có thể khám phá những giáo lý mà Guru Padmasambhava đã cất dấu vì sự lợi lạc của những thế hệ tương lai. Khi Guru sinh trong hoa sen – Đức Padmasambhava – ban những quán đảnh làm thuần thục và những giáo huấn giải thoát cho Vua Trisong Detsen, cho Dakini Yeshe Tsogyal, và cho hai mươi lăm đệ tử chính yếu khác, Ngài đã phó thác những giáo lý đặc biệt cho mỗi vị trong số đó và đã cất dấu một cách kỳ diệu những giáo lý này như những “kho tàng” ở những địa điểm khác nhau – những ngôi chùa, những hình ảnh linh thánh, tảng đá, hồ và thậm chí trong không gian. Ngài đã tiên tri rằng những đệ tử đặc biệt này sẽ tái sinh trong tương lai và đưa những giáo lý này ra khỏi nơi cất dấu, sử dụng và trao truyền chúng vì sự lợi lạc của chúng sinh trong thời đại của họ. Khi đã đúng thời, một terton chứng nghiệm những linh kiến hay dấu hiệu cho thấy địa điểm hay cách thức khám phá kho tàng đã được định trước, hay terma. Trong trường hợp của “kho tàng tâm,” những giáo lý không được khai quật một cách tự nhiên nhưng xuất hiện trong tâm vị terton, và đây là phương pháp được chọn lựa đối với hầu hết những giáo lý được Khyentse Rinpoche khám phá. Trải qua nhiều thế kỷ, một số ít gồm một trăm Đạo Sư terton đã xuất hiện. Cách thức truyền dạy này, đôi khi được gọi là dòng truyền thừa “ngắn”, bổ túc cho dòng truyền thừa “dài” của Kinh điển, được truyền dạy từ Đạo Sư tới đệ tử qua những thế hệ từ thời Đức Padmasambhava.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong một trong những linh kiến terma này, Khyentse Rinpoche nhìn thấy mạn đà la viên mãn của Đức Phật Amitayus (Vô Lượng Thọ) xuất hiện trên mặt một cái hồ ở miền Đông Tây Tạng. Theo linh kiến này, ngài đã biên soạn cả một quyển sách về giáo lý và những thực hành tâm linh. Nói chung, những kho tàng tâm linh của Khyentse Rinpoche chứa đầy năm quyển sách.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau khi thoát khỏi Tây Tạng và tới Ấn Độ, Khyentse Rinpoche đã trở thành một trong những vị Thầy chính của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Như ngài thuật lại trong tự truyện của ngài, lần đầu tiên ngài gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma ở Lhasa:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Có lần tôi đang cầu nguyện trong Điện Jokhang ở Lhasa, gần pho tượng mới của Đức Padmasambhava. Bỗng nhiên tôi ngửi thấy mùi hương trầm thơm phức, và một vài viên chức mặc gấm thêu kim tuyến đi vào, theo sau là một tu sĩ mang kính, gương mặt xanh xao. Trông ngài giống những bức hình của Đức Đạt Lai Lạt Ma mà tôi từng nhìn thấy. Ngài đang xem pho tượng mới của Guru Padmasambhava và cúng dường một chiếc khăn lễ trước tượng. Khi ngài đi ngang qua tôi, ngài hỏi tôi từ đâu tới, tên tôi là gì, và tôi đang cử hành lễ gì. Ngài bảo tôi hãy cầu nguyện thật thiết tha, và đi tới chùa Đức Phật Cao Quý, ngài ở đó khoảng một giờ. Đó là lần đầu tiên tôi gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Về sau tôi có hai dịp lại được gặp ngài tại cung điện mùa hè của ngài ở Lhasa với anh Sangye Nyenpa Rinpoche của tôi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rốt cuộc sau khi chúng tôi tới Ấn Độ, Nyenpa Rinpoche đi hành hương Varanasi (Ba La Nại) và gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma ở đó. Ngài hỏi người em cao lớn có mái tóc dài của ông đâu, và có phải ông ta đã bị người Trung Quốc hãm hại. Ngài hài lòng khi biết rằng chúng tôi đã trốn thoát an toàn và nói rằng sau này chúng tôi sẽ gặp nhau”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không lâu sau này, tất cả các Lạt Ma chính yếu của bốn phái Phật Giáo Tây Tạng đã tập họp tại Dharamsala, trụ xứ của Đức Đạt Lai Lạt Ma ở Ấn Độ, để cầu nguyện cho sự trường thọ của ngài và thảo luận về việc bảo tồn Phật Giáo Tây Tạng tại hải ngoại. Các phái Nyingma, Sakya, và Kagyu đã được yêu cầu chọn một vị đại diện để cúng dường Đức Đạt Lai Lạt Ma một mạn đà la tượng trưng cho toàn thể thế giới. Trong những dịp như thế, bất kỳ ai thực hiện sự cúng dường theo truyền thống cũng bắt đầu bằng việc đọc một bài diễn văn dài, uyên bác, mô tả thế giới theo vũ trụ học Tây Tạng và những nguyên lý nền tảng của lịch sử và giáo thuyết Phật Giáo. Thông thường thì một đại học giả sẽ biên soạn một bài thuyết trình như thế trong một vài tuần lễ và đọc trong ngày hôm ấy, nhưng Khyentse Rinpoche chỉ được thỉnh cầu đọc một bài diễn văn một ngày trước đó. Tuy thế, ngài chấp nhận không quá câu nệ. Một học giả nghe được những gì xảy ra và cảm thấy tiếc là Khyentse Rinpoche đã được mời đọc một bài diễn văn quan trọng như thế mà không được chuẩn bị. Ông ta mang tới cho ngài một quyển sách có một bài thuyết trình tương tự, và đề nghị Khyentse Rinpoche nên nghiên cứu và đọc nó vào ngày hôm sau. Khyentse lịch sự cảm ơn vị học giả, nhưng đặt quyển sách xuống bàn, tiếp tục cuộc trò chuyện đang diễn ra với những người khách của ngài, và sau đó đi ngủ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngày hôm sau, khi đã tới lúc đọc diễn văn trước sự hiện diện của Đức Đạt Lai Lạt Ma và tập hội uyên bác, Khyentse Rinpoche đứng dậy, mở quyển sách ra lần đầu tiên, và cầm nó – không lật một trang – đọc một bài thuyết trình hết sức uyên thâm dài khoảng hai giờ. Cuối cùng, trong việc cúng dường Tám Món Kiết Tường cho Đức Đạt Lai Lạt Ma, người ta nghe thấy một tiếng sấm khi ngài cầm một vỏ ốc xà cừ trong tay.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mọi người kinh ngạc bởi sự uyên bác của Khyentse Rinpoche, mà điều đó về sau nổi tiếng trong cộng đồng Tây Tạng ở Ấn Độ. Ngày hôm sau, khi Khyentse Rinpoche vào từ giã Đức Đạt Lai Lạt Ma, Đức Phật Sống nói: “Phải chăng ngày hôm qua có một dấu hiệu tốt lành với tiếng sấm?”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Về sau Đức Đạt Lai Lạt Ma mời Khyentse Rinpoche tới trụ xứ của Ngài ở Dharamsala nhiều lần. Trong nhiều năm, Khyentse Rinpoche đã ban cho Ngài hầu hết những giáo lý chính yếu của truyền thống Nyingma.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngọn núi chót vót khoác lên mình những khu rừng trinh nữ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đỉnh đầu nàng lộng lẫy trong chiếc khăn xếp phủ tuyết, vươn tận bầu trời,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngực nàng choàng những chiếc khăn sương mù óng ánh như bạc:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hạnh phúc biết bao những yogi thảnh thơi đã bỏ đi những công việc của đời này!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khyentse Rinpoche</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi bạn nhìn một ngọn núi sừng sững</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy nhớ về cái thấy sâu xa:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cái thấy là tâm của vị Thầy,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bất khả phân với bản tính của bổn tâm bạn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi bạn nhìn một khu rừng đáng yêu,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy nhớ về những kinh nghiệm và sự chứng ngộ:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đừng hy vọng hay hoài nghi về chúng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chúng hoàn toàn là sự phô diễn của vị Thầy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi bạn nhìn một vườn hoa</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy nhớ về hành động, giải thoát một cách tự nhiên:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mọi hành động hòa hợp với Pháp</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là đời sống toàn hảo của vị Thầy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Dù những tư tưởng của bạn có thể lầm lạc,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chúng không thể không là những sản phẩm của trí năng của bạn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu bạn trả tự do cho tư tưởng của bạn</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nơi không có sự gì xuất hiện, an trụ, hay chấm dứt,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chúng sẽ biến mất vào tính Không.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tính Không trần trụi ấy là guru:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trí tuệ nguyên sơ siêu vượt trí năng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khyentse Rinpoche</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không gian mà bản tính thì tự do với mọi ý niệm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Gồm chứa mọi sự;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cũng thế, phạm vi bất nhiễm của chân tính của tâm</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thấm đẫm mọi chúng sinh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Maitreya-Asanga</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cái mà chúng ta thường gọi là tâm chính là tâm mê lầm, một cơn lốc hỗn loạn của những tư tưởng bị tham, sân và si thúc bách. Không giống như Giác tính giác ngộ, tâm này luôn luôn bị một sự mê lầm cái này sau cái kia thổi bạt đi. Những tư tưởng thù ghét hay tham muốn thình lình xuất hiện không báo trước, được gây nên bởi những hoàn cảnh như thế như một cuộc gặp gỡ không mong đợi với một đối thủ hay một bằng hữu, và trừ phi chúng lập tức bị chế ngự bằng một cách đối trị đúng đắn, chúng sẽ nhanh chóng bắt rễ và phát triển, củng cố ưu thế quen thuộc của sự sân hận và tham muốn trong tâm thức và càng lúc càng làm sâu đậm thêm những dấu vết của nghiệp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tuy thế, dù những tư tưởng này có vẻ mạnh mẽ, chúng chỉ là những tư tưởng và sau cùng sẽ biến mất vào tính Không. Một khi bạn nhận ra bản tính nội tại của tâm, những tư tưởng này – là những gì dường như luôn luôn xuất hiện và biến mất – không còn đánh lừa bạn được nữa. Giống như những đám mây hình thành, tồn tại một thời gian, và sau đó biến mất trong sự trống không (tinh Không) của tâm; trong thực tế đã chẳng có điều gì xảy ra.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi ánh sáng mặt trời rọi xuống một miếng pha lê, ánh sáng của mọi màu sắc cầu vồng xuất hiện; tuy thế chúng không có thực chất để bạn có thể nắm bắt. Cũng thế, mọi tư tưởng trong trạng thái muôn màu muôn vẻ của chúng – lòng sùng mộ, bi mẫn, sự tai hại, tham muốn – thì hoàn toàn không có thực chất. Đây là tâm của vị Phật. Không tư tưởng nào không phải là tính Không; nếu bạn nhận ra bản tính trống không của những tư tưởng ngay khi chúng xuất hiện, chúng sẽ biến mất. Sự tham muốn và sân hận sẽ chẳng bao giờ có thể làm rối loạn tâm thức. Những cảm xúc mê lầm tự chúng sẽ sụp đổ. Sẽ không có hành động tiêu cực nào được tích tập, vì thế sẽ chẳng có đau khổ nào tiếp nối theo sau.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khyentse Rinpoche</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu một người có lòng bi mẫn, người ấy là vị Phật;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không có lòng bi mẫn, người ấy là Thần Chết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với lòng bi mẫn, cội gốc của Pháp được vun trồng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không có lòng bi mẫn, cội gốc của Pháp bị mục nát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người có lòng bi mẫn tốt lành ngay khi họ giận dữ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người không có lòng bi mẫn giết hại ngay khi họ mỉm cười.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đối với người có lòng bi mẫn, ngay cả kẻ thù cũng trở thành bằng hữu,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không có lòng bi mẫn, ngay cả bằng hữu cũng trở thành kẻ thù.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với lòng bi mẫn, ta có mọi Pháp,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không có lòng bi mẫn, ta chẳng sở hữu Pháp nào.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với lòng bi mẫn, ta là Phật tử chân thực,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không có lòng bi mẫn, ta tệ hơn kẻ trần tục.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngay cả khi thiền định về tính Không, ta cần có lòng bi mẫn như cốt tuỷ của nó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một hành giả Giáo Pháp phải có một bản tánh tràn trề bi mẫn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lòng đại bi giống như một viên ngọc như ý.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lòng đại bi hoàn thành những hy vọng của bản thân và chúng sinh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vì thế, tất cả các bạn, những người từ bỏ và các gia chủ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy nuôi dưỡng lòng bi mẫn và các bạn sẽ thành tựu Phật Quả.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Shabkar</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Giống như giữa mặt trời không có bóng tối,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với một yogi, toàn thể vũ trụ và chúng sinh đều xuất hiện như những Bổn Tôn –</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và yogi hài lòng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Giống như trong một đảo vàng không có những hòn đá tầm thường,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với một yogi mọi âm thanh lừng vang như những thần chú –</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và yogi hài lòng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Giống như một cánh chim băng qua bầu trời trống không, trong trẻo không để lại dấu vết,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với một yogi mọi tư tưởng xuất hiện như cái tuyệt đối –</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và yogi hài lòng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong Giác tinh bao la không bị giam hãm trong các thời khóa hình thức,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với một yogi mọi thiền định đều thanh thản và thoải mái –</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và yogi hài lòng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thoát khỏi những tạo tác của tâm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ta chứng ngộ rằng các hiện tượng là trạng thái tuyệt đối.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngươi, bạn ta, cũng nên chứng ngộ điều này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đừng tin vào những giáo lý trí thức –</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy nhận ra tính nhất như bao la và vô sinh đó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Shabkar</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu hôm nay bạn chiến thắng tính chấp ngã, đêm nay bạn sẽ giác ngộ. Nếu bạn chiến thắng nó ngày mai, đêm mai bạn sẽ giác ngộ. Nhưng nếu chẳng bao giờ bạn chiến thắng nó, bạn sẽ chẳng bao giờ giác ngộ. Nhưng “ta” chỉ là một tư tưởng. Những tư tưởng và cảm xúc không có sự vững chắc, sắc tướng, hình dạng, hay màu sắc nội tại. Khi một tư tưởng sân hận xuất hiện trong tâm mạnh mẽ tới nỗi bạn cảm thấy kích động và muốn đập phá, phải chăng sự sân hận đang vung vũ khí? Có phải nó ở trên đầu của kẻ thù? Nó có thể đốt cháy những sự vật như ngọn lửa, đè bẹp chúng như một tảng đá, hay cuốn chúng đi như một dòng sông hung bạo? Không. Giống như tư tưởng hay cảm xúc khác, sân hận không có sự hiện hữu đích thực – không có ngay cả một vị trí rõ ràng trong thân, ngữ, hay tâm của bạn. Nó giống như gió đang gầm rống trong không gian trống trải.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thay vì để cho những tư tưởng hoang dại bắt bạn làm nô lệ, hãy chứng ngộ tính Không cốt tuỷ của chúng. Nếu bạn điều phục sự thù ghét ở bên trong, bạn sẽ khám phá rằng không có duy nhất một kẻ thù nào bị bỏ lại ở bên ngoài. Nếu không như thế, cho dù bạn có thể chế ngự mọi người trong toàn thể thế giới, sự thù ghét của bạn sẽ chỉ phát triển mạnh mẽ hơn. Việc nuông chiều nó không bao giờ làm nó lắng dịu. Kẻ thù thực sự duy nhất không thể chịu đựng nổi là chính sự thù ghét. Hãy khảo sát bản tính của thù ghét; bạn sẽ nhận ra rằng nó chỉ là một tư tưởng. Khi bạn thấy nó như nó là, nó sẽ biến mất như một đám mây trong bầu trời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khyentse Rinpoche</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bạn và tất cả chúng sinh đều bình đẳng trong việc ước muốn hạnh phúc;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bạn và tất cả chúng sinh đều bình đẳng trong việc không mong muốn đau khổ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Để trở nên quen thuộc với việc chăm sóc người khác hơn bản thân bạn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bạn nên quán tưởng sự hoán đổi bản thân bạn và người khác:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi bạn thở vào và thở ra,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy nhận vào bản thân nỗi khổ đau của họ và gửi cho họ hạnh phúc của bạn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy chứng ngộ rằng mọi sự xuất hiện là trò phô diễn của tuyệt đối,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bản tính nguyên sơ, sự giản đơn không bị bẻ gãy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu bạn không bám chấp thì bất kỳ điều gì xuất hiện đều tự nhiên giải thoát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy chỉ an trụ trong vị bình đẳng vĩ đại, không lấy hay bỏ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chúng sinh non nớt, không thấu hiểu điều này,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Coi các hiện tượng như thể chúng bền vững và thực có;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vì thế khởi đầu một chuỗi những ham muốn và ghét bỏ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và những đau khổ ghê gớm của luân hồi sinh tử – một sự giả dối không hiện hữu!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những gốc rễ mạnh mẽ là</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự vô minh và việc coi chúng sinh và những hiện tượng là thực sự hiện hữu;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự hiện hữu có điều kiện xảy tới</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ việc trở nên quen thuộc với những điều này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không có gì để soi sáng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không có gì để tiệt trừ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi nhìn một cách viên mãn tự thân sự viên mãn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi nhận ra sự viên mãn, ta giải thoát một cách viên mãn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Shechen Gyaltsap</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mọi niềm vui mà thế gian gồm chứa</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đến từ việc ước muốn hạnh phúc cho người khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mọi khổ đau mà thế gian chất chứa</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đến từ việc mong muốn lạc thú cho bản thân.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có cần sự giải thích dài dòng?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chúng sinh non nớt tìm kiếm cho bản thân.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chư Phật dốc sức vì hạnh phúc của người khác:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy nhìn sự khác biệt đã phân chia họ!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như thế, khi mang lại niềm vui cho chúng sinh, tôi cũng làm vui lòng chư Phật–</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi xúc phạm chúng sinh, tôi cũng xúc phạm chư Phật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Shantideva</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Giống như đất và những yếu tố (đại) thấm nhập muôn phương,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nhẫn chịu như tự thân bầu trời kham nhẫn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vì vô lượng chúng sinh không bờ bến,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cầu mong tôi là mặt đất và dưỡng chất của họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như thế vì mọi sinh loài,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vô biên như bầu trời,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cầu mong tôi cung cấp cho họ phương kế sinh nhai và thực phẩm</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cho tới khi họ không còn bị khổ đau trói buộc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với tất cả những ai bệnh hoạn trong thế gian,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cho tới khi mọi tật bệnh của họ được chữa lành,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cầu mong với họ tôi trở thành</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bác sĩ, điều dưỡng và thuốc men.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi trút xuống một trận lụt thức ăn và nước uống,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cầu mong tôi xua tan những điều bất hạnh của nạn đói khát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và trong những thời đại được biểu thị bởi sự khan hiếm và thiếu thốn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cầu mong bản thân tôi xuất hiện như thức uống và dưỡng chất.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đối với chúng sinh nghèo nàn và cơ cực,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cầu mong tôi trở thành một kho tàng luôn luôn dồi dào,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và nằm trước mặt gần tầm tay họ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một suối nguồn phong phú mọi sự họ có thể cần.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như thế, thân tôi, và chưa kể mọi của cải của tôi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cùng mọi công đức đã tích tập và được tích tập,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôi hiến tặng họ tất cả không giữ lại điều gì</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Để đem lại lợi ích của chúng sinh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Shantideva</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mỗi một trong vô lượng cuộc đời của chúng ta từ vô thuỷ, chúng ta phải có những bậc cha mẹ. Vào lúc này hay lúc khác, mỗi một chúng sinh duy nhất hẳn đã từng là mẹ hay cha của ta. Khi chúng ta nghĩ tưởng tới tất cả chúng sinh này – những người từng là cha mẹ của chúng ta – đã phải lang thang quá lâu và không người cứu giúp trong vòng luân hồi sinh tử giống như những người mù lạc đường thì chúng ta không thể không cảm thấy một lòng bi mẫn lớn lao đối với họ. Tuy nhiên, tự bản thân lòng bi mẫn thì không đủ; họ cần sự giúp đỡ thực sự. Nhưng chừng nào tâm ta vẫn còn bị giới hạn bởi sự tham luyến, thì có may mắn lắm việc ban tặng họ thực phẩm, quần áo, tiền bạc, hay sự yêu thương một cách đơn giản sẽ chỉ mang lại cho họ một hạnh phúc hạn hẹp và nhất thời. Điều chúng ta phải làm là tìm ra một phương pháp để hoàn toàn giải thoát họ khỏi sự đau khổ. Điều này chỉ có thể được thực hiện bằng cách đi theo một con đường tâm linh và tự chuyển hoá bản thân để chúng ta có thể chuyển hoá những người khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lòng bi mẫn phải được hướng tới tất cả chúng sinh một cách vô tư mà không phân biệt giữa những người là bạn hữu và những người là kẻ thù. Với lòng bi mẫn thường hằng này trong tâm, mọi hành vi tích cực, ngay cả việc cúng dường một bông hoa hay sự trì tụng duy nhất một câu thần chú, chúng ta nên thực hiện với ước muốn là nó có thể mang lại lợi ích tất cả các sinh loài không loại trừ ai.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những bậc Thầy vĩ đại trong quá khứ đã coi giáo lý quý báu nhất là sự bất khả phân của tính Không và lòng bi mẫn. Các ngài nuôi dưỡng từ, bi, hỷ và xả – bốn tư tưởng vô lượng (tứ vô lượng tâm) nhờ đó khả năng giúp đỡ những người khác phát khởi không chút dụng công. Được thúc đẩy bởi lòng bi mẫn đối với tất cả chúng sinh, chúng ta nên củng cố một cách vững chắc trong trái tim ta ý hướng đạt được giác ngộ vì sự lợi lạc của chúng sinh. Không có ý hướng này, lòng bi mẫn của chúng ta sẽ là một mô phỏng mờ nhạt của cái gì đích thực. Có câu nói rằng: “Ước muốn hạnh phúc cho người khác, ngay cả đối với những người muốn làm hại chúng ta, là nguồn mạch của hạnh phúc viên mãn”. Cuối cùng, khi chúng ta đạt được cấp độ này, lòng bi mẫn đối với tất cả chúng sinh tự phát khởi theo một cách thế hoàn toàn tự nhiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Điều tối cần là phải tập trung toàn bộ cuộc đời chúng ta vào việc hứa nguyện đạt được Phật Quả vì lợi ích của người khác, cho tới khi điều này trở nên rõ ràng còn thì cuộc đời này hoàn toàn vô nghĩa và đáng thất vọng biết bao. Chúng ta sẽ mủi lòng và đau buồn bởi thân phận bi đát của chúng sinh trong thời đại khó khăn này, và một cảm thức mạnh mẽ về sự quyết định thoát khỏi sinh tử sẽ phát khởi. Nếu những thái độ này thực sự bén rễ, những phẩm tính và sự thành tựu của Đại Thừa chắc chắn sẽ phát triển từ đó. Nhưng nếu quyết định chân thực thoát khỏi luân hồi sinh tử đó không cắm rễ vững chắc trong tâm thức ta, sự thực hành Pháp của ta sẽ không bao giờ phát triển một cách viên mãn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tất cả chúng sinh thì giống nhau trong ước muốn được hạnh phúc và không bị đau khổ. Sự khác biệt to lớn giữa bản thân ta và những người khác thì vô số – tôi chỉ có một, nhưng những người khác thì vô vàn. Vì thế, hạnh phúc và đau khổ của tôi thì hoàn toàn vô nghĩa khi so sánh với hạnh phúc và đau khổ của vô lượng chúng sinh. Vấn đề thực sự cần quan tâm là chúng sinh hạnh phúc hay đau khổ. Đây là nền tảng của tâm thức đã quyết định đạt được Giác ngộ. Chúng ta nên ước muốn người khác hạnh phúc hơn bản thân ta, và ta nên đặc biệt ước mong những người chúng ta coi như kẻ thù và những người đối xử tệ bạc với ta đều được hạnh phúc. Nếu không thế thì đâu là mục đích của lòng bi mẫn?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Đức Dilgo Khyentse Rinpoche</b></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Anh dịch: <span style="font-weight: 400;">Nhóm Dịch Thuật Padmakara</span></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Thanh Liên</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Trích: Hành trình đi tới Giác Ngộ - Cuộc đời và Thế giới của Khyentse Rinpoche, Đạo sư tâm linh Tây Tạng</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/vong-tron-chuyen-hoa/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Làm Thế Nào Để Tìm Ra Đạo Sư và Trở Thành Một Đệ Tử</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/dao-su-thuc-hanh/lam-the-nao-de-tim-ra-mot-dao-su-va-tro-thanh-mot-de-tu/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/dao-su-thuc-hanh/lam-the-nao-de-tim-ra-mot-dao-su-va-tro-thanh-mot-de-tu/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 28 Mar 2017 10:58:56 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7371</guid>
		<description><![CDATA[Đấng đạo sư không chỉ là một con người mà còn chính là con đường tu. Mục đích là nhận ra rằng đạo sư tối thượng là tuệ giác của chính chúng ta. Bây giờ hãy chia sẻ về tri kiến thanh tịnh (pure perception) và về Phật Giáo Kim Cang Thừa. Đầu tiên, tôi muốn nói với các bạn&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/dao-su-thuc-hanh/lam-the-nao-de-tim-ra-mot-dao-su-va-tro-thanh-mot-de-tu/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><em>Đấng đạo sư không chỉ là một con người mà còn chính là con đường tu. Mục đích là nhận ra rằng đạo sư tối thượng là tuệ giác của chính chúng ta. </em></p>
<p style="text-align: justify;">Bây giờ hãy chia sẻ về tri kiến thanh tịnh (pure perception) và về Phật Giáo Kim Cang Thừa. Đầu tiên, tôi muốn nói với các bạn rằng chúng ta không nên hiểu về tri kiến thanh tịnh như đây là luật xử thế. Điều này rất quan trọng. Tri kiến thanh tịnh không phải là một nguyên tắc xử thế gì cả. Thật đáng tiếc bởi vì khi Kim Cang Thừa được giảng dạy, đôi khi người ta nói rằng các hành giả (tu tập theo Kim Cang Thừa) bắt buộc phải có một tri kiến thuần khiết đối với Đấng đạo sư kim cang. Nghe như thế thì giống như đây chính là một đạo đức Kim Cang Thừa.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng các bạn hãy nên cố gắng tiếp cận tri kiến thanh tịnh theo một phương cách khác (khác hơn là cách suy nghĩ như trên). Tri kiến thanh tịnh phải được vận dụng như là một pháp môn tu tập, có nghĩa là các bạn cần phải tập làm quen, nhuần nhuyễn với tri kiến ấy. Có những lúc, trong cương vị của một người mới tu, các bạn sẽ  đánh mất tri kiến thanh tịnh. Các bạn cần phải nhớ rằng, không thể nào ngồi đó mang kỳ vọng là các bạn sẽ có được tri kiến thanh tịnh một cách trọn vẹn hoàn hảo ngay từ đầu. Điều này không hiện hữu đâu. Nếu các bạn ôm lấy một sự mong đợi như thế thì điều ấy sẽ làm cho bạn cảm thấy tội lỗi. Tri kiến thanh tịnh đã là nguyên nhân đưa đến rất nhiều cảm giác tội lỗi. Hãy hiểu về tri kiến thanh tịnh như là một điều gì đó mà các bạn có ý nguyện muốn hướng đến; các bạn cần phải huân tập tri kiến thanh tịnh.</p>
<p style="text-align: justify;"><em><strong>Tri kiến thanh tịnh sẽ xảy đến khi bạn khao khát thèm thuồng tánh không.</strong></em></p>
<p style="text-align: justify;">Khi bạn, trong cương vị của một chiếc bình chứa, chấp nhận được khái niệm về tánh không, thì tri kiến thanh tịnh (sẽ sinh khởi) một cách dễ dàng hơn. Hiểu về tánh không có nghĩa là, trên căn bản, bạn phải  biết rằng bất cứ điều gì mà bạn nhìn thấy, hoặc trải nghiệm, thật ra chỉ là một sự phóng tưởng của chính bạn; và trên thực tế, điều mà bạn nhìn thấy hoặc trải qua không thực sự hiện hữu như cách phóng tưởng của bạn đâu. Khi bạn có thể chấp nhận được như vậy, không phải chỉ trên phương diện lý trí mà cả trên phương diện thực tiễn, thì bạn đang đến gần hơn với cái hiểu về tánh không. Mỗi một khi bạn đưa ra một xét đoán nào đó, hãy cố gắng bằng mọi cách tự nói với bản thân  mình, “<strong>Đây  chỉ  là  một  sự phóng tưởng của tôi; đây chỉ là tư tưởng giới hạn (nhỏ hẹp) của tôi</strong>.” Nếu bạn có thể làm được như vậy, bắt đầu ở ngay mức độ thấp bé nhất, chẳng hạn như (xét đoán) về tách trà ngon hay tách trà dở, trở lên cho đến việc xét đoán về hiện tướng của một Vị đạo sư kim cang, thì qua đó bạn cũng có thể dần dà làm quen được với tri kiến thanh tịnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta đang không nói đến  việc chúng  ta phải nghĩ về Vị đạo sư kim cang như là một vị Phật. Chúng ta đang không nói về vị ấy như là một Vị đạo sư màu hoàng kim, có thêm nhiều tay, nhiều chân và một con mắt thứ ba. Chúng ta không cần phải tự bày ra để tin là như thế; chúng ta không cần phải tạo ra một hiện tượng mới mẻ và cho rằng đó là tri kiến thanh tịnh. Làm như vậy là sai rồi. Tri kiến thanh  tịnh chính là khi bạn biết được rằng bất cứ  điều gì mà bạn suy nghĩ, đặc biệt những gì bạn nghĩ về đạo sư của bạn, là sự phóng tưởng của chính bạn thôi. <strong>Những việc như kết tội, quy lỗi hay trách móc sẽ từ từ giảm thiểu</strong>. Khi việc kết tội, quy lỗi và trách móc ngưng bặt, thì tri kiến của bạn sẽ trở nên thuần khiết hơn.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Trong Phật Giáo Kim Cang Thừa, Đấng đạo sư không chỉ là một con người mà còn chính là con đường tu</strong>. Mục đích ở đây là nhận chân ra được rằng đạo sư tối thượng là tuệ giác của chính chúng ta. Và bằng cách nào chúng ta vén mở được đạo sư tuệ giác bên trong ấy? Bằng cách xé bỏ lớp kén của cái tôi, xé bỏ lớp kén của sự chấp ngã. Sau rất nhiều công phu phân tích và quán chiếu, (bạn sẽ thấy ra rằng) <strong>đạo sư bên ngoài chính là người giúp bạn phá vỡ đi cái tôi của mình. </strong>Đây là mục tiêu chính yếu của bạn. <strong>Cách thức mà bạn liên hệ với Đạo sư của bạn, xuyên qua những tác động giữa ngài với bạn, cần phải được đặt nền tảng trên mức độ mà ngài có thể xé bỏ được lớp kén nhiều hay ít bao nhiêu.</strong> Xin các bạn hãy ghi nhớ rằng <strong>ý thích của Đạo sư của bạn bắt buộc cũng phải là ý nguyện muốn phá vỡ màn vô minh của đệ tử</strong>. Dựa trên mục tiêu ấy, đạo sư có thể sẽ bảo bạn phải thi hành đủ thứ đủ mọi loại việc thật đáng kinh ngạc. Kinh ngạc cho cái gì? Kinh ngạc cho cái bản ngã và không thể nào chấp nhận được đối với cái bản ngã ấy!  Nhưng các  bạn cần phải làm tất cả những việc ấy như đây chính là phương cách chữa trị tốt lành nhất.</p>
<p style="text-align: justify;">Thêm vào đó, lẽ dĩ nhiên, các bạn vẫn cần phải đối xử với Đấng đạo sư theo đúng lễ nghi, với lòng tôn kính và sự khiêm cung. Những thứ như nghi lễ, sự kính trọng, đức  khiêm  cung giống  như là  những  món  châu  bảo  trang nghiêm. <strong>Không có những thứ ấy thì việc lễ lạy hay các việc làm tương tự cũng chẳng khác nào một lớp vỏ kén khác mà thôi, càng ngày lớp vỏ kén ấy càng dầy ra, dầy hơn nữa, dầy đến nỗi mà bạn sẽ phải cần một phương cách khác để có thể đập vỡ</strong>. Nói chung, tất cả đều phải quay ngược lại về với động cơ muốn thành tựu giác ngộ. Tất cả mọi thứ đều phải đặt nền tảng trên động cơ ấy.</p>
<p style="text-align: justify;">Có rất nhiều sự hiểu lầm về mối liên hệ đạo sư‐đệ tử. Nói một cách cụ thể, khi một vị đạo sư Kim Cang Thừa ra lệnh cho đệ tử làm theo bất cứ điều gì mà đạo sư đã yêu cầu, thì đây không phải là trường hợp tiêu biểu của một sự thờ thần hay biểu hiện sự độc tài. Đây chính là một sự đồng<strong> thuận của Vị Thầy và Đệ tử.</strong> Là người học trò, bạn muốn vén mở tuệ giác, và thầy của bạn cũng thế, ngài cũng muốn làm như thế. Đó là sự đồng thuận giữa bạn và thầy của bạn, và dựa trên sự đồng thuận ấy, bạn và thầy của bạn chung sức làm việc với nhau.  <strong>Nếu bạn không có được một sự đồng thuận  như thế thì  thật  là  khó  khăn  biết chừng nào. </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Các cụm từ “Đạo sư kim cang” hay “Đạo sư gốc” là ngôn ngữ đặc thù của Kim Cang Thừa.  Lẽ dĩ nhiên, Đại Thừa cũng có khái niệm về đạo sư, sư phụ hay vị thầy chỉ đạo nhưng vị đạo sư của Đại Thừa chủ yếu là một người dẫn đường, một người  giáo thọ  hay  là  một  huấn luyện viên. Trong khi đó thì trong Kim Cang Thừa, vị thầy tuy biểu hiện giống như một huấn luyện viên, nhưng còn hơn thế nữa, vị ấy cũng <strong>chính là con đường tu.</strong> Ngay cả trong các pháp môn hành trì của Kim Cang Thừa, điều này cũng thể hiện rõ rệt. Trong truyền thống tu tập của Đại Thừa, chẳng hề bao giờ có một phương tiện tu tập nào dạy cho chính bản thân ta tan hòa vào trái tim của sư phụ ta, hoặc là sư phụ của ta tan hòa vào chính bên trong ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy thế, trong tất cả các thừa, đặc biệt là Đại Thừa và Kim Cang Thừa, vị  đạo sư chủ  đạo chính là giác tuệ của tâm ta – về điều này thì các bạn đừng bao giờ lầm lẫn!</p>
<p style="text-align: justify;"><em>(trích TUYỂN TẬP RIME)</em></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> <em>Ngài Dzongsar Khyentse Rinpoche</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/dao-su-thuc-hanh/lam-the-nao-de-tim-ra-mot-dao-su-va-tro-thanh-mot-de-tu/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử sơ lược Đức Mindrolling Trichen thứ 11</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/tieu-su-so-luoc-duc-mindrolling-trichen-thu-11/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/tieu-su-so-luoc-duc-mindrolling-trichen-thu-11/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 27 Feb 2017 07:05:40 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống Mindoling Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Mindroling]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7286</guid>
		<description><![CDATA[Tu viện trưởng thứ 11 của tu viện Mindrolling, Đức Trichen Jurme Kunzang Wangyal sinh ra trong gia đình của vị tu viện trưởng thứ 10 của Mindrolling, ngài Trichen Jurme Dondrub Wangyal và vợ là Yum Dawa Droma, vào ngày thứ mười tám, tháng âm lịch đầu tiên của năm Cừu Sắt. Đức Mindrolling Trichen Rinpoche đã thọ nhận&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/tieu-su-so-luoc-duc-mindrolling-trichen-thu-11/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Tu viện trưởng thứ 11 của tu viện Mindrolling, Đức Trichen Jurme Kunzang Wangyal sinh ra trong gia đình của vị tu viện trưởng thứ 10 của Mindrolling, ngài Trichen Jurme Dondrub Wangyal và vợ là Yum Dawa Droma, vào ngày thứ mười tám, tháng âm lịch đầu tiên của năm Cừu Sắt.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Mindrolling Trichen Rinpoche đã thọ nhận những giáo lý sâu rộng và sự gia trì từ rất nhiều đạo sư Tây Tạng lỗi lạc. Ngài Dzongsar Khyentse Chökyi Lodro, ngài Sechen Kongtrul vĩ đại, ngài Minling Chung Rinpoche, ngài Minling Khen Rinpoche, ngài Sechen Rabjam Rinpoche, ngài Dordzin Namdrol Gyatso, ngài Dordzin Dechen Choedzin và ngài Gelong Kunzangla là một số đạo sư danh tiếng mà ngài đã theo học.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/01-107.jpg"><img class="  wp-image-7288 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/01-107-300x200.jpg" alt="01 (107)" width="629" height="419" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Đức Dilgo Khyentse Rinpoche và Đức Mindrolling Trichen Rinpoche </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Vị thầy gốc của Đức Mindrolling Trichen Rinpoche là ngài Dzongsar Khyentse Chökyi Lodrö, người đã truyền cho ngài những chỉ dẫn quý báu về Mật nhiệm (Guhyagarbhatantra) với những diễn giải khác nhau. Ngài Dzongsar Khyentse Rinpoche công bố rằng Đức Rinpoche Jurme Kunzang Wangyal đã vô cùng xuất sắc trong việc hiểu tường tận và thực hành những giáo lý quý báu này, và chỉ dẫn Đức Rinpoche truyền lại giáo lý đó mười một lần cho những học trò may mắn và xứng đáng trong tương lai.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau nhiều năm theo học các đạo sư vĩ đại của Tây Tạng, Đức Mindrolling Trichen Rinpoche đã dành hơn 14 năm cho các đợt nhập thất, và thành tựu trong nhiều thực hành. Trong số những dấu hiệu kỳ diệu, có thể kể đến việc Ngài đã biên soạn nên nhiều giáo lý và khám phá ra kho tàng của Đấng Đại bi Jigten Wangchuk Pema Garwang.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Trichen thứ 10 của tu viện Mindrolling đã nhập diệt khi Rinpoche mới lên bảy tuổi. Trong những năm sau đó, Rinpoche đã tiếp tục việc học tập và bắt đầu thực hiện các nhiệm vụ của người kế thừa ngôi vị tu viện trưởng. Sự kiện Trung Quốc xâm lược Tây tạng năm 1959 và những hậu quả của cuộc chiến này đã cản trở lễ tấn phong chính thức của ngài. Theo lời thỉnh cầu của tăng đoàn và gia đình, Đức Trichen của tu viện Mindrolling đã rời khỏi Tây Tạng khi 29 tuổi.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Mindrolling Trichen Rinpoche đã lưu lại Bhutan một thời gian rồi rời qua Ấn Độ. Ngài đã gặp gỡ và lưu trú cùng đạo sư vĩ đại Đức Dudjom Rinpoche, người bạn cũ của Đức Trichen thứ 10 của tu viện Mindrolling.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/01-132.jpg"><img class="  wp-image-7289 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/01-132-300x200.jpg" alt="01 (132)" width="572" height="381" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Đức Đức Dalai Lama 14 và Đức Mindrolling Trichen Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1962, Đức Dudjom Rinpoche và Đức Dilgo Khyentse Rinpoche đã cử hành nghi lễ tấn phong chính thức cho Đức Trichen thứ 11 của tu viện Mindrolling với sự hiện diện của nhiều vị thầy và các vị chức sắc danh tiếng ở Tu viện Zangdok Palri tại Kalimpong. Ở Kalimpong, trong quá trình làm việc thân cận với Đức Dudjom Rinpoche, Đức Karmapa thứ 16, Đức Dilgo Khyentse Rinpoche và những vị khác, Rinpoche đã tích cực tham gia vào việc thiết lập Phật pháp tại Ấn Độ. Ngài đã tổ chức nhiều pháp hội, các lễ quán đảnh và các buổi giảng pháp lớn.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1976, Đức Mindrolling Trichen Rinpoche rời tới Dehra Dun, Ấn Độ, đảm nhiệm vị trí tu viện trưởng từ xa của Tu viện Mindrolling và tiếp tục làm lợi lạc cho chúng sinh quan việc chuyển Pháp luân. Sự hiện diện của ngài trên thế giới đã truyền cảm hứng cho mọi người gìn giữ con đường thanh tịnh vị tha và từ bi. Những nỗ lực của ngài hầu hết tập trung vào việc truyền bá tầm nhìn và lời khuyên của vị Pháp Vương vĩ đại Chögyal Terdag Lingpa: đảm bảo sự thanh tịnh của giáo pháp và duy trì giới luật.</p>
<p style="text-align: justify;">Nổi danh ở Tây Tạng là hóa thân của Đức Liên Hoa Sanh, Đức Mindrolling Trichen Rinpoche thứ 11 của tu viện Mindrolling được khắp giới Phật giáo kính ngưỡng và tôn sùng là Đại thành tựu giả và là một trong những đạo sư thành tựu vĩ đại nhất của thế kỷ.</p>
<p style="text-align: justify;">Trichen Dorje Chang, theo danh hiệu mà nhiều người biết tới ngài, đã ở bên gia đình và Tăng đoàn tu viện Mindrolling tại Dehra Dun cho tới khi ngài nhập diệt.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào 7 giờ tối ngày thứ 3 trong tháng đầu của Những điều kỳ diệu, năm Chuột Đất (9 tháng Hai 2008), không hề có một sự khó chịu mảy may, với dung mạo rạng rỡ hơn bao giờ hết, và nét mặt mỉm cười, Đức Trichen thứ 11 của tu viện Mindrolling ngắm nhìn mọi người xung quanh với ánh mắt đầy tình thương. Rồi trong dáng vẻ nghỉ ngơi, Đức Trichen của tu viện Mindrolling Kyabje Jurme Kunzang Wangyal đã biểu hiện hoạt động cuối cùng là chuyển di tâm ý giác ngộ của ngài tới một cõi khác, để chuyển tâm của những chúng sinh cần được thuần phục về pháp.</p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"><em>Nguồn: <a style="color: #000000;" href="http://mindrolling.org/history/HHMindrollingTrichenRinpoche.cfm">http://mindrolling.org/history/HHMindrollingTrichenRinpoche.cfm</a></em></span></p>
<p style="text-align: justify;">Việt ngữ: Satya</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/tieu-su-so-luoc-duc-mindrolling-trichen-thu-11/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Đức Yongey Mingyur Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-yongey-mingyur-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-yongey-mingyur-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 15 Feb 2017 14:25:10 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Karma Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Karma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7270</guid>
		<description><![CDATA[Đức Yongyey Mingyur Rinpoche sinh năm 1975 tại một ngôi làng nhỏ thuộc rặng Himalaya gần biên giới Nepal và Tây Tạng, là con trai của bậc Đạo sư đáng kính Tulku Urgyen Rinpoche, Đức Mingyur Rinpoche đã sớm hướng đến một cuộc sống tĩnh lặng ngay khi còn nhỏ và thường trốn đến thiền tập ở các hang động&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-yongey-mingyur-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đức Yongyey Mingyur Rinpoche sinh năm 1975 tại một ngôi làng nhỏ thuộc rặng Himalaya gần biên giới Nepal và Tây Tạng, là con trai của bậc Đạo sư đáng kính Tulku Urgyen Rinpoche, Đức Mingyur Rinpoche đã sớm hướng đến một cuộc sống tĩnh lặng ngay khi còn nhỏ và thường trốn đến thiền tập ở các hang động xung quanh ngôi làng. Tuy nhiên, trong những năm tháng tuổi thơ đầu đời, Đức Mingyur Rinpoche đã phải chịu đựng những cơn hoảng loạn suy nhược khiến Ngài mất đi khả năng tương tác với mọi người hay sự vui thú với cảnh vật xung quanh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm lên 9 tuổi, Đức Mingyur Rinpoche đã rời đến Nagi Gonpa, một nơi ẩn tu nhỏ thuộc ngoại ô thung lũng Kathmandu để học thiền với cha Ngài. Trong khoảng gần 3 năm, Đức Tulku Urgyen đã hướng dẫn Ngài tu tập giáo lý Đại Thủ Ấn và Đại Viên Mãn thâm diệu, những giáo lý được xem là bí mật và chỉ được giảng dạy cho những hành giả cao cấp. Suốt thời gian này, cha Ngài đã truyền dạy một cách ngắn gọn cho cậu con trai nhỏ tuổi và sau đó gửi Ngài đi thiền tập cho đến khi Ngài đạt được những kinh nghiệm trực tiếp của giáo lý.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm 11 tuổi, Đức Mingyur Rinpoche đã được thỉnh cầu tới ở tại Tu viện Sherab Ling thuộc miền Bắc Ấn Độ, trụ sở của Đức Tai Situ Rinpoche và một trong những tu viện quan trọng nhất của truyền thống Kagyu. Trong lúc đó, Ngài đã tu học các giáo lý mà Đại dịch giả Marpa đã mang đến Tây Tạng, cũng như các nghi quỹ của truyền thừa Karma Kagyu, cùng với vị Thầy hướng dẫn nhập thất của Tu viện, Đức Lama Tsultrim. Ngài đã được Đức Tai Situ tấn phong là vị Hóa thân thứ 7 của Đức Yongey Mingyur Rinpoche năm lên 12 tuổi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Đức Yongey Mingyur Rinpoche</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Khóa nhập thất 3 năm</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi Đức Mingyur Rinpoche 13 tuổi, Ngài đã thỉnh cầu cha Ngài là Đức Tulku Urgyen Rinpoche và Đức Tai Situ Rinpoche cho phép tham gia khóa nhập thất truyền thống 3 năm, bắt đầu thực hiện tại Tu viện Sherab Ling. Một người còn quá nhỏ tuổi mà có một lời thỉnh cầu như vậy quả là một điều lạ thường nhưng cả hai vị đều đồng ý và chẳng bao lâu Đức Mingyur Rinpoche bắt đầu việc nhập thất dưới sự hướng dẫn của Đức Saljey Rinpoche, một thiền sư có học vấn uyên bác và kinh nghiệm thâm sâu đã dành toàn bộ nửa sau cuộc đời để nhập thất nghiêm mật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong suốt 3 năm tiếp theo, Đức Mingyur Rinpoche đã thực hành pháp các pháp tu Sơ khởi và Giai đoạn Phát triển dành cho những hành giả cao cấp bằng việc sử dụng sự quán tưởng và những âm thanh linh thiêng để chuyển đổi quá trình nhận thức thông thường và cuối cùng là Giai đoạn Hoàn thiện, bao gồm làm việc với năng lượng vi tế của cơ thể và Thiền Đại Thủ Ấn, một phương cách thực hành cho phép hành giả trải nghiệm trực tiếp bản tánh của tâm. Sự tinh tấn siêu việt mà Đức Mingyur Rinpoche đã minh chứng trong suốt kỳ nhập thất đã dẫn đến kết quả Ngài đạt được cấp độ phi thường trong việc làm chủ tâm trí và cảm xúc. Tại thời điểm này, khi lần đầu tiên Ngài khám phá ra cách mà thiền có thể được sử dụng để đối trị, chuyển hóa với những vấn đề cảm xúc đầy thách thức, Ngài đã hoàn toàn vượt qua được cơn hoảng loạn suy nhược tinh thần đã khiến Ngài gặp nhiều khó khăn khi còn nhỏ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi Đức Yongey Mingyur Rinpoche hoàn thành kỳ nhập thất 3 năm thì vị Thầy kính yêu của Ngài Đức Saljey Rinpoche cũng viên tịch, vị trí quản lý của Ngài tại Tu viện Sherab Ling bị bỏ trống. Để thay thế vị trí của Ngài, Đức Tai Situ Rinpoche đã bổ nhiệm Đức Mingyur trở thành vị Thầy hướng dẫn các khóa nhập thất tiếp theo của Tu viện, trao trách nhiệm cho Ngài hướng dẫn giúp đỡ tăng ni, trong đó có những hành giả lâu năm về những vướng mắc trong kỳ nhập thất 3 năm. Đức Mingyur Rinpoche khi đó mới 17 tuổi là một trong những vị Lama trẻ tuổi nhất từng giữ vị trí này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Coi sóc Tu viện Sherab Ling</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đức Mingyur Rinpoche tiếp tục thọ nhận các trao truyền quan trọng từ cha Ngài và Đức Khenchen Thrangu Rinpoche, một vị Lama quan trọng thuộc truyền thống Kagyu. Năm lên 19 tuổi, Ngài đã đăng ký vào Trường Dzongsar, tại đây, dưới sự kèm sát của Đức Khenpo Kunga Wangchul lừng danh, Ngài đã học các chủ đề chính yếu của truyền thống Phật học, bao gồm triết học Con đường Trung Đạo và logic Phật giáo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm hai mươi tuổi, Ngài được Đức Tai Situ Rinpoche giao phó làm Tu viện trưởng Tu viện Sherab Ling. Trong vai trò mới, Ngài đã có công trong việc thiết lập một học viện mới tại Tu viện này. Tại đây Ngài làm trợ giảng trong thời gian thực hiện nhiệm vụ của mình, làm vị thầy hướng dẫn nhập thất cho kỳ nhập thất ba năm ba tháng. Trong suốt giai đoạn này, kéo dài cho đến khi Ngài hai mươi lăm tuổi, Đức Mingyur Rinpoche thường lưu lại thực hiện khóa nhập thất ngắn từ 1 đến 3 tháng trong khi tiếp tục giám sát các hoạt động của Tu viện Sherab Ling. Khi Ngài hai mươi ba tuổi, Ngài đã thọ nhận sự tấn phong từ Đức Tai Situ Rinpoche.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Những trao truyền quan trọng</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong giai đoạn này, Đức Mingyur Rinpoche đã thọ nhận trao truyền Dzogchen quan trọng từ Đức Nyoshul Khen Rinpoche vĩ đại, một bậc Thầy lừng danh của truyền thống Nyingma. Tổng cộng một trăm ngày, kéo dài trong nhiều năm. Đạo sư vĩ đại này đã trao truyền “dòng khẩu truyền" của Tâm Yếu của Đại Viên Mãn. Những giáo huấn về cắt đứt (trekcho) và vượt qua (tögal) của dòng truyền thừa Dzogchen là cực kỳ bí mật và chỉ có thể được truyền cho một người vào một thời điểm. Giống như Ngài đã nghiên cứu tu học với cha mình trước đây, Đức Mingyur Rinpoche đã thọ nhận được chỉ dẫn tu thiền đầy đủ và chỉ quay trở lại để thọ nhận thêm giáo lý một khi Ngài đã trực tiếp kinh nghiệm được những gì được dạy trước đó. Đây là cách thức giáo lý quý hiếm được gọi là "hướng dẫn theo kinh nghiệm".</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong những năm sau đó, ngoài các chủ đề quan trọng khác, Đức Mingyur Rinpoche tiếp tục học năm môn truyền thống của truyền thống Phật giáo (Trung Đạo, Bát nhã, Vi Diệu Pháp, Lượng, và Luật). Ngài cũng tiếp tục tinh luyện sự tỉnh giác thiền định thông qua tu tập hàng ngày và nhập thất ẩn cư định kỳ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cho đến ngày nay, Đức Mingyur Rinpoche tiếp tục việc nghiên cứu và thiền định của mình. Gần đây hơn, Ngài thọ nhận những trao truyền Dzogchen quan trọng từ Đức Kyabje Trulshik Rinpoche, bao gồm cả các giáo lý được kiết tập theo truyền thống Nyingma (Nyingma Kama) và Tâm Yếu Bốn Tập (Nyingtik Yabshi). Ngài cũng tham gia trao truyền Kho tàng Giáo lý quý báu của Đức Jamgon Kongtrul (Rinchen Terdzö) và Kho tàng chỉ dẫn (Damngak dzo), diễn ra tại Tu viện Sherab Ling.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Phật Pháp và Khoa học</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngoài nền tảng rộng lớn của mình trong thiền và triết học Phật giáo, Đức Mingyur Rinpoche đã dành sự quan tâm cả đời cho tâm lý học, vật lý học và thần kinh học. Ngay từ khi còn nhỏ, Ngài đã bắt đầu một loạt các cuộc thảo luận không chính thức với nhà thần kinh học nổi tiếng Francisco Varela, người đã đến Nepal để học thiền với cha Ngài, Đức Tulku Urgyen Rinpoche. Nhiều năm sau đó, vào năm 2002, Đức Mingyur Rinpoche và một số các thiền sinh tu tập dài hạn khác đã được mời đến Phòng thí nghiệm Waisman về hình ảnh và ứng xử của não bộ tại Đại học Wisconsin theo yêu cầu của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Ở đó, Richard Davidson, Antoine Lutz, và các nhà khoa học khác nghiên cứu những ảnh hưởng của thiền định trên não của thiền sinh cao cấp. Các kết quả của nghiên cứu đột phá này đã được báo cáo trong nhiều ấn phẩm được đọc nhiều nhất trên thế giới, bao gồm cả </span><i><span style="font-weight: 400;">National Geographic and Time</span></i><span style="font-weight: 400;">. Những nghiên cứu tiếp theo được thực hiện tại Đại học Harvard, MIT, và các trung tâm nghiên cứu quan trọng khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đức Mingyur Rinpoche tiếp tục dồn hết tâm trí của mình với nghiên cứu này và góp phần tích cực vào các cuộc đối thoại sôi động giữa khoa học phương Tây và Phật giáo. Ngài là một nhà tư vấn cho Viện Tâm thức và Đời sống và tham gia với tư cách đối tượng nghiên cứu trong việc nghiên cứu liên tục tác dụng sinh lý và thần kinh của thiền định.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phong cách giảng dạy của Đức Mingyur Rinpoche ảnh hưởng sâu sắc bởi kiến thức khoa học. Ngài đặc biệt nổi tiếng với khả năng làm phong phú và dễ hiểu với những trình bày của Ngài về hiểu biết và thực hành cổ xưa của Phật giáo Tây Tạng với những phát hiện của khoa học hiện đại. Chính hy vọng rằng mối quan hệ đang phát triển giữa các lĩnh vực dường như khác nhau này sẽ mang lại kiến ​​thức quan trọng để giúp chúng ta nhận ra tiềm năng đầy đủ của con người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Các hoạt động</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngoài gánh vác trọng trách tại Tu viện Sherab Ling, Đức Mingyur Rinpoche còn là Tu viện trưởng của Tu viện Tergar Osel Ling tại Kathmandu, Nepal và Tu viện Tergar Rigzin Khachö Targyé Ling tại Bodhgaya, Ấn Độ. Ngài cũng thường xuyên giảng dạy tại châu Âu, Bắc Mĩ, Nam Mĩ và châu Á, tại đây Ngài cũng dẫn dắt một số lượng các Nhóm và Trung tâm Thiền Tergar</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đức Mingyur Rinpoche là một tác giả được thế giới tôn vinh. Cuốn sách đầu tiên của Ngài “Sống một đời vui” nằm trong danh sách những cuốn sách bán chạy nhất thế giới trên tờ New York Times và được dịch sang 20 thứ tiếng. Cuốn sách thứ hai, “Trí tuệ hoan hỷ” khám phá cảm xúc và các tình huống trong cuộc sống có thể được sử dụng như các tảng đá kê bước chân để khám phá niềm vui và tự do. Cuốn sách mới nhất của Đức Mingyur Rinpoche là một cuốn sách tranh dành cho trẻ con với nhan đề </span><i><span style="font-weight: 400;">Ziji: The Puppy that Learned to Meditate.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một trong những niềm đam mê lớn nhất của Đức Mingyur Rinpoche là đem thực hành thiền tới mọi người ở tất cả các địa vị trong xã hội. Ngài đang làm việc cùng với những người chuyên nghiệp từ các ngành nghề khác nhau để làm cho sống một đời vui nhập thất thích nghi trong nhiều bối cảnh khác nhau, bao gồm bệnh viện, trường học, nhà tù và đào tạo lãnh đạo. Như là một phần của sự nỗ lực này, Ngài đang phát triển các chương trình để đào tạo các trợ giáo và các cố vấn viên để giảng dạy thực hành thiền trong các bối cảnh khác nhau.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đầu tháng 6, năm 2011, Đức Mingyur Rinpoche đã rời khỏi tu viện của Ngài ở Bodhgaya, Ấn Độ để bắt đầu một giai đoạn nhập thất ẩn cư kéo dài. Vào tháng 11 năm 2015, Đức Mingyur Rinpoche đã xuất hiện trở lại sau 4 năm nhập thất ẩn cư. Hiện tại, Ngài đang giảng dạy các đệ tử thuộc tu viện và các phật tử phương Tây trên khắp thế giới.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Nguồn: http://tergar.org/meditation/why-meditate/</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Việt ngữ: Sonam Lhamo (Nhóm Viet Rigpa Lotsawas)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hiệu đính: Giác nhiên</span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với  Đức Yongey Mingyur Rinpoche đều được Ngài dẫn dắt liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này cầu mong Ngài sớm quang lâm đến Việt nam.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-yongey-mingyur-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đức Kyabje Namkhai Nyingpo Rinpoche đời thứ 7</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-kyabje-namkhai-nyingpo-rinpoche-7th/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-kyabje-namkhai-nyingpo-rinpoche-7th/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 15 Feb 2017 14:17:02 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7266</guid>
		<description><![CDATA[Đức Kyabje Namkhai Nyingpo Rinpoche đời thứ 7 sinh năm 1966 tại thung lũng linh thiêng Tongzhang Thrichu Geonpa thuộc miền Đông Bhutan. Thân phụ của Ngài là Yab Tshering Gyaltshen và thân mẫu của Ngài là Yum Sherabmo. Ngài được sinh ra cùng với nhiều dấu hiệu kiết tường và diệu kỳ. Dòng nước uống nhà Ngài chuyển sang&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-kyabje-namkhai-nyingpo-rinpoche-7th/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Đức Kyabje Namkhai Nyingpo Rinpoche đời thứ 7 sinh năm 1966 tại thung lũng linh thiêng Tongzhang Thrichu Geonpa thuộc miền Đông Bhutan. Thân phụ của Ngài là Yab Tshering Gyaltshen và thân mẫu của Ngài là Yum Sherabmo. Ngài được sinh ra cùng với nhiều dấu hiệu kiết tường và diệu kỳ. Dòng nước uống nhà Ngài chuyển sang màu sữa, cầu vồng tuyệt đẹp xuất hiện trên bầu trời và  “Kharchhu”, “Kharchhu” là những tiếng đầu tiên Ngài thốt ra, chính là tên Tu viện của Ngài ở Tây Tạng. Ngài cũng nhớ danh hiệu của những thị giả trước đây và những sự việc có liên quan sâu sắc đã xảy ra đời trước.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/13343073_1087524921319453_3012951619871104224_n.jpg"><img class="  wp-image-7268 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/13343073_1087524921319453_3012951619871104224_n-221x300.jpg" alt="13343073_1087524921319453_3012951619871104224_n" width="386" height="524" /></a></p>
<p>Cậu bé đã được Đức Pháp Vương Gyalwa Karmapa 16 công nhận là Đức Namkhai Nyingpo đời thứ 7, Ngài đã tiên đoán rõ ràng về sự tái sinh này khi mô tả danh hiệu cha mẹ và những chi tiết khác như thế. Tuy nhiên, để có sự công nhận sâu hơn, các đệ tử đã kiểm tra cậu bé theo phương thức truyền thống. Cậu bé được cho xem các chuỗi tràng hạt, hộp đựng xá lợi, chuông, chày kim cương … của Đức Namkhai Nyingpo Rinpoche đời trước. Trước sự chứng kiến của các đệ tử lâu năm của đấng tiền nhiệm và một vị đại diện của Chính phủ Hoàng gia Bhutan, cậu bé chỉ lựa chọn những thứ đồ thuộc về đấng tiền nhiệm mà không hề có chút nhầm lẫn và vì thế đã được tôn xưng là vị hóa thân chính thức.</p>
<p>Cho nên vào năm 1972, năm lên 6 tuổi, Ngài đã lên tiếp quản vị trí của bậc tiền nhiệm tại Pema Shedrup Chholing hay Tu viện Kharchu thứ hai tại Bumthang. Việc học tập chính thức của Đức Kyabje Namkhai Nyingpo Rinpoche bắt đầu vào năm 1970 và ngay tức khắc Ngài có được kĩ năng đọc viết cơ bản. Ngài có khả năng đọc, viết và nhớ các bài cầu nguyện tinh yếu một cách dễ dàng.</p>
<p>Năm lên tám tuổi, Đức Kyabje Namkhai Nyingpo Rinpoche đã thọ Quy y và hai lần nhận Quán đảnh Trường thọ từ Đức Pháp Vương Gyalwa Karmapa 16. Vào cùng năm, Nhiếp Chính Vương đã thọ nhận Quán đảnh Kalachakra, các giáo lý Nhập Bồ Tát Hạnh và nhiều giáo lý khác từ Đức Dalai Lama 14.</p>
<p>Theo đúng những lời chỉ dẫn của Đức Pháp Vương Dilgo Khyentse Dorji Chang, Nhiếp Chính Vương đã nghiên cứu trọn vẹn 13 bản văn lớn và các luận giảng từ Đức Khen Rinpoche Kunga Wanghcuk. Ngài cũng đã thọ nhận các giáo lý bLapTue, toàn bộ 3 phần của pháp tu thiền của Kamala Shila, Bimalai Rigmi Ba-dang Chigcharwa; Dakpo Thargyen và Drubthab Kintue. Nhờ đó, Ngài đã trở thành một trong những Đạo sư kinh điển vĩ đại nhất trong thời đại của chúng ta.</p>
<p>Đức Kyabje Namkhai Nyingpo Rinpoche tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu về triết học Phật giáo cùng nhiều chư Đạo sư và theo truyền thống bất bộ phái Ngài đã thọ nhận các giáo lý và trao truyền từ bốn trường phái chính của Phật giáo Tây Tạng. Ngài đã trao truyền giáo lý đặc biệt Kho Tàng Phương Bắc (Jangter) tới nhiều vị Lama và các Rinpoche.</p>
<p>Đức Kyabje Namkhai Nyingpo Rinpoche dành sự tập trung chủ yếu vào việc chăm sóc, đào tạo tăng ni tại các Tu viện của Ngài ở Bhutan, đồng thời vào việc nghiên cứu tu học và thực hành Giáo Pháp. Ngài đã ban truyền rất nhiều giáo lý, quán đảnh và khẩu truyền tại Tu viện  của Ngài và các địa điểm khác ở Bhutan và Ấn Độ.</p>
<p><em>Nguồn: https://namkhainyingpo.wordpress.com/2016/06/09/the-seventh-namkhai-nyingpo/</em></p>
<p>Việt ngữ: Tara Devi (Nhóm Viet Rigpa Lotsawas)</p>
<p>Hiệu đính: Giác Nhiên</p>
<p><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với Đức Kyabje Namkhai Nyingpo Rinpoche  đời thứ 7 đều được Ngài dẫn dắt liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này cầu mong Ngài sớm quang lâm đến Việt Nam.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với Đức Kyabje Namkhai Nyingpo Rinpoche 7<sup>th</sup> đều được Ngài dẫn dắt liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này cầu mong Ngài sớm quang lâm đến Việt nam.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-kyabje-namkhai-nyingpo-rinpoche-7th/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử sơ lược Đức Lama Zopa Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/7254/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/7254/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 15 Feb 2017 14:07:06 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Gelug]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Gelug]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7254</guid>
		<description><![CDATA[Lama Zopa Rinpoche, bậc Thầy dẫn dắt tâm linh của Tổ chức Bảo Tồn Truyền Thống Phật Giáo Đại thừa (FPMT), Ngài là Hóa thân của hành giả Sherpa Nyingma Kunsang Yeshe, Lawudo Lama. Đức Lama Zopa Rinpoche sinh năm 1946 tại Thami, cách hang động Lawudo không xa lắm, thuộc vùng núi Everest - Nepal, nơi tiền thân của&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/7254/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Lama Zopa Rinpoche, bậc Thầy dẫn dắt tâm linh của Tổ chức Bảo Tồn Truyền Thống Phật Giáo Đại thừa (FPMT), Ngài là Hóa thân của hành giả Sherpa Nyingma Kunsang Yeshe, Lawudo Lama. Đức Lama Zopa Rinpoche sinh năm 1946 tại Thami, cách hang động Lawudo không xa lắm, thuộc vùng núi Everest - Nepal, nơi tiền thân của Ngài đã hành thiền suốt 20 năm cuối đời. Trong khi vị tiền thân thực hành theo Truyền thống Sakya, thì Lawudo Lama là một Đạo sư vĩ đại nắm giữ các giáo lý ẩn mật của truyền thống Nyingma.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Lama Zopa Rinpoche đã rời khỏi Thami khi Ngài khoảng 4 tuổi và được đưa đến Tu viện rất gần biên giới Nepal và Tây Tạng. Lama Zopa Rinpoche đã ở Tu viện khoảng vài năm cho đến khi đến Tây Tạng để thọ giới Sadi vào năm 1958 và tiếp tục việc nghiên cứu tu học tại Tu viện của Domo Geshe ở Phagri, Tây Tạng.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Đức Dalai Lama 14 và Lama Zopa Rinpoche</i></b></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Năm 1959, Lama Zopa Rinpoche đã vượt thoát khỏi Tây Tạng và tiếp tục việc tu học tại Tu viện Sera Jhe ở Buxa Duar thuộc miền Bắc Ấn Độ. Tại đây, chính phủ Ấn Độ đã cung cấp nơi ở cho các tu sĩ đến từ Tu viện Sera, Ganden và Drepung những người muốn tiếp tục việc nghiên cứu tu học cùng các tu sĩ thuộc các môn phái khác. Chính tại Buxa Duar, Lama Zopa Rinpoche đã trở thành đệ tử của Đức Geshe Rabten Rinpoche và sau đó là đệ tử của Lama Thubten Yeshe. Frida Bedi sau đó đã mời Đức Lama Zopa Rinpoche đến tham gia tu học tại ngôi trường bà xây dựng dành cho các vị Lama Hóa thân.Việc tiếp xúc với người phương Tây của Lama Zopa Rinpoche bắt đầu năm 1965 tại Darjeeling. Khi gặp công chúa Zina Rachevsky người Nga, Cô đã trở thành đệ tử phương Tây đầu tiên của Rinpoche. Năm 1969, Ngài đã thành lập Trung tâm Mahayana Gompa tại Kopan, phía trên Đại Bảo tháp Boudhnath ở Kathmandu, Nepal.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Lama Yeshe Rinpoche và Lama Zopa Rinpoche</i></b></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Theo sự thỉnh cầu của Zina Rachevsky, các vị Lama bắt đầu giảng dạy các khóa học Phật giáo cho người phương Tây ở Kopan. Năm 1971, Lama Zopa Rinpoche đã thọ giới Tỳ khưu từ Đức Pháp Vương Ling Rinpoche tại Bồ Đề Đạo Tràng. Trước năm 1975, có 12 trung tâm đã bắt đầu đi vào hoạt động. Năm 1976, tổ chức được đặt tên là Tổ chức Bảo tồn truyền thống Phật Giáo Đại thừa (FPMT).</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Lama Zopa Rinpoche có rất nhiều dự án khác nhau trên thế giới, một trong những dự án quan trọng là Tôn tượng Phật Di Lặc cao 500 foot mà Rinpoche đang xây dựng tại Bồ Đề Đạo Tràng, bao gồm các trường học, bệnh viện và các dự án xã hội như các phòng khám bệnh cùi và những dự án xã hội này đã tồn tại và đi vào hoạt động được 15 năm. Một số dự án khác mà Lama Zopa Rinpoche đang thực hiện là quỹ thực phẩm Sera Jhe - cung cấp thức ăn, các bữa ăn sáng, trưa, tối hàng ngày cho 2500 tu sĩ. Quỹ mang tên Lama Tsongkhapa đã cung cấp nguồn trợ cấp cho 100 vị Thầy chính thuộc Truyền thống Gelugpa từ các tu viện khác nhau. Lama Zopa Rinpoche cũng có rất nhiều quỹ xây dựng các Dự án tâm linh như Bảo tháp, Kinh luân ... Lama Zopa Rinpoche có một đam mê mạnh mẽ trong việc thu thập các bản văn Giáo Pháp từ tất cả các truyền thống khác nhau.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Nguồn: http://www.buddhanet.net/masters/zopa.htm</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Việt ngữ: Sonam Lhamo (Nhóm Viet Rigpa Lotsawas)</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Hiệu đính: Giác nhiên</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với Đức Lama Zopa Rinpoche đều được Ngài dẫn dắt liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này cầu mong Ngài sớm quang lâm đến Việt Nam.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/7254/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử ngắn Nữ Đạo sư Tôn Quý Sangyum Kamala Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-ngan-nu-dao-su-ton-quy-sangyum-kamala-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-ngan-nu-dao-su-ton-quy-sangyum-kamala-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 02 Apr 2016 01:42:27 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6667</guid>
		<description><![CDATA[Nữ Đạo sư Tôn Quý Sangyum Kamala Rinpoche sinh trưởng tại làng Pangi, gần Manali, bang Himachal Pradesh thuộc miền Bắc Ấn Độ, trong một Dòng truyền thừa Pháp xuất sắc. Phụ thân của Ngài, Đức Tulshuk Lingpa là một vị Terton trứ danh thuộc Dòng truyền thừa Nyingma. Ngài đã du hành đến Sikkim và truyền bá giáo lý&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-ngan-nu-dao-su-ton-quy-sangyum-kamala-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/unnamed2.jpg"><img class="  wp-image-6669 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/unnamed2-200x300.jpg" alt="unnamed" width="277" height="416" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Nữ Đạo sư Tôn Quý Sangyum Kamala Rinpoche sinh trưởng tại làng Pangi, gần Manali, bang Himachal Pradesh thuộc miền Bắc Ấn Độ, trong một Dòng truyền thừa Pháp xuất sắc. Phụ thân của Ngài, Đức Tulshuk Lingpa là một vị Terton trứ danh thuộc Dòng truyền thừa Nyingma. Ngài đã du hành đến Sikkim và truyền bá giáo lý Đức Phật khắp Tây Tạng, Nepal, Sikkim và Ấn độ theo cả hai phương diện tâm linh và thế tục. Thân mẫu của Ngài, Phunsok Choedon là một đại hành giả và một vị Dakini thực sự đã dâng hiến trọn đời mình cho việc thực hành Pháp. Khi thị tịch ở tuổi 83, nhục thân của bà vẫn trong tư thế thiền định suốt 7 ngày và một chiếc cầu vồng hình tròn đã xuất hiện trên bầu trời phía trên phòng bà.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Chatral-Rinpoche-74.jpg"><img class="  wp-image-6671 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Chatral-Rinpoche-74.jpg" alt="Chatral Rinpoche (74)" width="433" height="284" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Nữ Đạo sư Tôn Quý Sangyum Rinpoche sinh trưởng trong môi trường thấm nhuần sự thực hành Pháp với những ân phước gia trì từ lòng tín tâm sâu xa và năng lực tâm linh huyền diệu của Mật thừa. Ngài đã gặp vị Thầy gốc, Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche và Đức Pháp Vương Chatral Rinpoche năm 13 tuổi tại Simla - Ấn Độ. Thân phụ của Ngài cũng là đệ tử của Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche. Ông của Ngài là một Terton lừng danh, một thầy thuốc có tiếng đến từ Golok – Tây Tạng, và là đệ tử của Đức Dudjom Lingpa [Đức Dudjom Lingpa là đời trước của Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche]. Năm 20 tuổi, Nữ Đạo sư Tôn Quý Sangyum Rinpoche trở thành phối ngẫu tâm linh của Đức Pháp Vương Chatral Rinpoche, bậc Đạo sư Dzogchen [Đại Viên Mãn] vĩ đại của thời đại ngày nay.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/1009923_10153197010781360_5904117147555982214_n.jpg"><img class="  wp-image-6670 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/1009923_10153197010781360_5904117147555982214_n-244x300.jpg" alt="1009923_10153197010781360_5904117147555982214_n" width="326" height="401" /></a></p>
<p style="text-align: center;">(Ảnh Đức Chatral Rinpoche &amp; Sangyum Rinpoche và gia đình)</p>
<p style="text-align: justify;">Suốt cuộc đời mình, đặc biệt là kể từ khi trở thành phối ngẫu tâm linh của Đức Pháp Vương Chatral Rinpoche, Nữ Đạo sư Tôn Quý Sangyum Rinpoche đã thọ nhận và thực hành suối nguồn giáo lý một cách không gián đoạn của truyền thống thực hành Dudjom Tersar và Longchen Nyingthik. Nữ Đạo sư Tôn Quý Sangyum Rinpoche đã liên tục trợ duyên cho vô số các Yogi [Nam hành giả] và Yogini [Nữ hành giả] nhập thất ẩn tu khắp Nepal và Ấn Độ dưới sự hướng dẫn của Đức Pháp Vương Chatral Rinpoche và đặc biệt bà đã thể hiện lòng bi mẫn sâu sắc qua việc chăm sóc cho những người bần cùng nhất về cả hai phương diện vật chất và tâm linh.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/10670138_1546156595616195_6814533503088455272_n.jpg"><img class="  wp-image-6668 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/10670138_1546156595616195_6814533503088455272_n-300x206.jpg" alt="10670138_1546156595616195_6814533503088455272_n" width="540" height="371" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Bà noi theo tấm gương của Đức Pháp Vương Chatral Rinpoche cứu mạng sống của vô số chúng sinh qua việc phóng sinh hàng triệu cá xuống sông Ganges và xây dựng rất nhiều Bảo tháp, Kinh luân và hỗ trợ nhiều dự án tâm linh khác ở Nepal và Ấn Độ. Nữ Đạo sư Tôn Quý Sangyum Rinpoche có ba cô con gái. Cô cả và cô út đã kết hôn với các vị tái sinh [Tulku], cô hai không lập gia đình. Ngài có hai cô cháu gái.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: http://www.berlin-buddhismus.de/kamala-rinpoche.html</em></p>
<p style="text-align: justify;">Việt ngữ: Tara Devi (Nhóm Rigpa Lotsawas)</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính: Giác Nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Tiểu sử này được dịch sau khi chúng tôi đến Nepal vào tháng 1 năm 2016 để đảnh lễ nhục thân </em><em>Đức Pháp Vương Chatral Rinpoche một Đạo Sư đánh kính, sau khi Ngài thị tịch được ít ngày. Nhờ ân phước của Đức Pháp Vương Chatral Rinpoche, chúng tôi đã được diện kiến Nữ Đạo sư Tôn Quý Sangyum Rinpoche và nhờ ân phước của Sangyum Rinpoche chúng tôi đã hoàn thiện bản tiểu sử ngắn gọn này trong ngày Dakini (25/2/1016 Lịch Tạng). Cầu mong nhờ công đức nhỏ nhoi này trí tuệ của sự huyền diệu của Chư Dakini sẽ làm làm an dịu mọi đau khổ của chúng sinh. Cầu mong những hóa thân của Đức Pháp Vương Chatral Rinpoche sớm trở lại để tiếp tục những công hạnh lợi sinh của Ngài. </em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-ngan-nu-dao-su-ton-quy-sangyum-kamala-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Đức Ralo Rigdzin Wangyal Dorje Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-ralo-rigdzin-wangyal-dorje-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-ralo-rigdzin-wangyal-dorje-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 17 Dec 2015 13:48:15 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6527</guid>
		<description><![CDATA[Đức Ralo Rigdzin Wangyal Dorje Rinpoche sinh vào rạng sáng ngày mùng 8 tháng 8 năm 1933 (năm Mộc Tuất theo Tạng lịch) tại Pargon Dechen Kyiphug, Tây Tạng. Đây chính là nơi mà Đức Sangye Lama, vị Terton (Khai Mật Tạng Vương) đầu tiên đã nhập thất ẩn tu. Trong suốt tháng chào đời của Đức Ralo Rinpoche, tất cả&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-ralo-rigdzin-wangyal-dorje-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Đức Ralo Rigdzin Wangyal Dorje Rinpoche sinh vào rạng sáng ngày mùng 8 tháng 8 năm 1933 (năm Mộc Tuất theo Tạng lịch) tại Pargon Dechen Kyiphug, Tây Tạng. Đây chính là nơi mà Đức Sangye Lama, vị Terton (Khai Mật Tạng Vương) đầu tiên đã nhập thất ẩn tu. Trong suốt tháng chào đời của Đức Ralo Rinpoche, tất cả các nông trại đều đón nhận những vụ mùa bội thu và ai cũng tin rằng đó chính là dấu hiệu kiết tường.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi lớn lên, Đức Ralo Rinpoche học Phật pháp Tây Tạng từ ông Ngài, Đức Dhechen Rinpoche và cha Ngài, Đức Ralo Karam Vajra Rinpoche, những hậu duệ tiếp nối Dòng truyền thừa Ra Tobden Pawo.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Ralo-Rinpoche.jpg"><img class="  wp-image-6529 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Ralo-Rinpoche.jpg" alt="Ralo Rinpoche" width="352" height="513" /></a></p>
<p style="text-align: center;">Đức Ralo Rinpoche</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Đức Ralo Rinpoche lên 11 tuổi, Ngài đã thực hiện khóa nhập thất 3 tháng. Chính tại đây Ngài đã trực ngộ và thể nhập vào Tánh Không (shunyata) và nguyện rằng sẽ tu học giáo lý Đại Viên Mãn (Dzogchen)</p>
<p style="text-align: justify;">Năm lên 17 tuổi, Đức Ralo Rinpoche đã thực hiện kì nhập thất truyền thống 3 năm, 3 tháng, 3 ngày và đạt được sự chứng ngộ Tam Căn bản: Đạo sư, Bổn tôn và Dakini (Guru, Yidam, Khandro).</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 26 tuổi, Đức Ralo Rinpoche đã di chuyển từ Tây Tạng tới Ấn Độ và sau đó chấp nhận lời mời của Hoàng gia Bhutan ở lại đây.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 27 tuổi, Ngài đã di chuyển từ Bhutan tới Darjeeling, Ấn Độ để thỉnh giáo lý từ Đức Chatral Sangye Dorje Rinpoche, một Bậc Đạo sư Dzogchen vĩ đại.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/His-Holiness-Kyabje-Chatral-Rinpoche-and-Ralo-Rinpoche.jpg"><img class="  wp-image-6528 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/His-Holiness-Kyabje-Chatral-Rinpoche-and-Ralo-Rinpoche-228x300.jpg" alt="His Holiness Kyabje Chatral Rinpoche and Ralo Rinpoche" width="371" height="488" /></a></p>
<p style="text-align: center;">Đức Chatral  Rinpoche &amp; Đức Ralo Rinpoche</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Ralo Rinpoche đã thọ nhận rất nhiều quán đảnh Dzogchen, khẩu truyền, giáo huấn từ Đức Chatral Rinpoche và lại tiếp tục một kì nhập thất ẩn tu 3 năm, 3 tháng, 3 ngày. Sau lần nhập thất này, Ngài đã đạt được chứng ngộ Đại Viên Mãn (Dzogchen) và kinh nghiệm nhiều dấu hiệu thành tựu.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở độ tuổi khoảng 33, 34, Đức Ralo Rinpoche thọ nhận nhiều giáo lý Kim cương thừa hơn và hoàn thành bộ giáo lý về Yidam Vajrakilaya (Bổn tôn Kim Cang Phổ Ba) tại Ấn Độ và Nepal.</p>
<p style="text-align: justify;">Khoảng vào giai đoạn cuối của kì nhập thất Yidam của Đức Ralo Rinpoche, Đức Dilgo Khyentse Rinpoche, một trong những vị Thầy và học giả vĩ đại của Dòng truyền thừa Nyingma vào thế kỉ thứ 20, đã yêu cầu Ngài tới Đài Loan để thỉnh cầu giáo pháp Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Đây là thời điểm bắt đầu khai mở những giáo lý của Đức Ralo Rinpoche tại Đài Loan, nơi Ngài đã thiết lập các trung tâm Pháp. Về sau, Ngài đã du hành tới nhiều địa điểm như Hồng Kông. Nhật Bản và Hoa Kỳ, tại những nơi này Ngài cũng trao truyền các giáo lý và thiết lập các trung tâm Phật Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Ralo Rinpoche đã tu học cùng nhiều vị Thầy vĩ đại của thời kì Phật giáo Tây Tạng thế kỉ 20, bao gồm Đức Dudjom Rinpoche, Đức Karmapa đời thứ XVI, Đức Jamyang Khyentse Chokyi Lodro và Đức Penor Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Là một hành giả và học giả của Bất Bộ Phái (Rimé), Đức Ralo Rinpoche cũng nghiên cứu và thực hành rất nhiều pháp tu thuộc Dòng truyền thừa Kagyu và Sakya của Phật giáo Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Ralo Rinpoche còn là một bậc thành tựu về Y học Tây Tạng và thể theo thỉnh cầu Ngài thường kiểm tra, đưa ra lời khuyên với phương pháp phù hợp cho từng cá nhân để trị bệnh của họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Những hoạt động Từ Bi không ngừng nghỉ đều khởi nguồn từ tấm lòng và tâm trí của Đức Ralo Rinpoche. Hiện tại, Ngài sống tại tu viện của mình ở Parphing, Nepal và chăm sóc việc đào tạo tu sĩ tại đây.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Ralo Rinpoche thị tịch vào ngày 26 tháng 12 năm 2011 tại Nepal. Nhục thể của Ngài được hỏa táng vào ngày 14 tháng 2 tại Tu viện Rigzin Phodrang, Nepal. Cầu vồng xuất hiện quanh mặt trời khi lễ Puja bắt đầu được cử hành. Nhiều dấu hiệu kiết tường và những nét huyền bí xuất hiện xung quanh khu vực diễn ra lễ Puja.</p>
<p style="text-align: justify;">http://wcbs.us/pb/wp_cec17277/wp_cec17277.html</p>
<p style="text-align: justify;">Việt ngữ: Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính: Giác nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với</em><em> </em><em>Đức Ralo Rigdzin Wangyal Dorje Rinpoche</em> <em>đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này những hóa thân của Ngài sớm quang lâm đến Việt nam</em></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-ralo-rigdzin-wangyal-dorje-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử của Đức Sang Sang Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-cua-duc-sang-sang-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-cua-duc-sang-sang-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 17 Dec 2015 13:37:10 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Karma Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Karma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6519</guid>
		<description><![CDATA[Đức Trulshik Rinpoche &#38; Đức Sang Sang Rinpoche Đức Sang Sang Rinpoche sinh năm 1959. Thân phụ của Ngài là Passang Gonpo, thân mẫu của Ngài Youdon. Khi ở độ tuổi còn rất nhỏ Ngài đã có những linh kiến về những kiếp trước, Ngài đã nhớ và mô tả lại rất rõ nét về kiếp trước của Ngài khi đang&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-cua-duc-sang-sang-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;">Đức Trulshik Rinpoche &amp; Đức Sang Sang Rinpoche</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Sang Sang Rinpoche sinh năm 1959. Thân phụ của Ngài là Passang Gonpo, thân mẫu của Ngài Youdon. Khi ở độ tuổi còn rất nhỏ Ngài đã có những linh kiến về những kiếp trước, Ngài đã nhớ và mô tả lại rất rõ nét về kiếp trước của Ngài khi đang trong tư thế thiền định và tụng chú.</p>
<p style="text-align: justify;"><img class="  wp-image-6522 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/384030_286511239570_1459972026_n-230x300.jpg" alt="384030_286511239570_1459972026_n" width="405" height="528" /></p>
<p style="text-align: center;">Đức Sang Sang Rinpoche</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi nhìn thấy những dấu hiệu kì lạ này, cha mẹ Ngài đã thông báo cho Nhiếp chính Vương Dhephuk Rinpoche. Sau khi kiểm chứng cẩn thận, Nhiếp Chính Vương đã thỉnh cầu đến Đức Pháp Vương Gyalwang Karmapa đời thứ 16 và Đức Trulshik Rinpoche. Bởi vậy Ngài đã được xác nhận ấn chứng không thể nhầm lẫn là Hóa thân của Lama Tenzin Choedhar, một hành giả mật thừa người đã đạt thành tựu về những thực hành tâm linh vô cùng vĩ đại và là đệ tử của Đức Trulsik Rinpoche đời trước và là Cha của Đức Trulsik Rinpoche đời hiện tại. Vào năm 1965, Đức Trulshik Rinpoche và Nhiếp Chính Vương Dhephuk Rinpoche đã tổ chức lễ tấn phong cho Ngài tại Singe Phuk, một thánh địa linh thiêng của Đức Liên Hoa Sinh ở Solukhumbhu, Nepal.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong vài năm, Ngài đã học các môn học cơ bản khác nhau như đọc và viết từ hai vị Thầy tôn kính là Ngawang Sangye ở Singe Phuk và Ngawang Tashi ở Phuk Mo Che. Vào thời điểm này, Ngài cũng thọ nhận các giáo lý khác nhau từ những thực hành nền tảng chung cho đến những giáo lý làm chín muồi và Giải thoát thâm diệu từ Đức Trulshik Rinpoche ở Phuk Mo Che và Nhiếp Chính Vương Dhephuk Rinpoche ở Chu Karmo tại Solukhumbhu.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào năm 1968, theo tâm nguyện và lời khuyên của Đức Trulshik Rinpoche, Nhiếp Chính Vương Dhephuk Rinpoche và Tulku Urgyen Rinpoche, Ngài đã du hành đến Tu viện Rumtek, trung tâm nghiên cứu Phật Pháp và vị trí của Đức Pháp Vương Gyalwang Karmapa đời thứ 16 Rangjung Rigpe Dorje. Tại đây, Ngài đã tu học cùng với bốn vị trưởng tử tâm và khoảng 30 vị Tulku và Lama, từ các môn học cơ bản và tổng quát tới các bộ luận Phật Pháp vĩ đại từ năm 1968 đến năm 1979.</p>
<p><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/P1010132.jpg"><img class=" wp-image-6520 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/P1010132-300x225.jpg" alt="OLYMPUS DIGITAL CAMERA" width="536" height="402" /></a></p>
<p style="text-align: center;">Đức Trulshik Rinpoche &amp; Đức Sang Sang Rinpoche</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài đã lần lượt học tất cả các nghi quỹ của Dòng truyền thừa thực hành này như: chơi các nhạc cụ tôn giáo, tụng kinh, nhảy múa và làm bánh Torma...vv. Ngài đã thọ các giới nguyện từ Đức Pháp Vương Karmapa đời thứ 16 như: Biệt giải thoát, Bồ Tát giới, Mật nguyện và rất nhiều các giáo huấn thâm diệu như quán đảnh làm chín muồi dòng tâm thức, luận giảng về trao truyền đọc của các giáo lý thâm diệu gồm có các kho tàng tâm linh vĩ đại của truyền thống Kagyu (Great Secret Treasure of Kagyu)</p>
<p style="text-align: justify;">Cuối cùng, sau khi thực hành theo những gì Ngài đã được nghe, Đức Pháp Vương đã gửi Ngài tới Solukhumbhu, Nepal vào năm 1980, đồng thời ban cho Ngài một bảng đánh giá và một bức thư giới thiệu với một lời khuyên thú vị vì lợi lạc của Phật Pháp và tất cả chúng sinh nói chung và nói riêng.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó, Ngài đã di chuyển tới Nepal để chuyển Bánh Xe Pháp, hoàn thành tâm nguyện lợi sinh. Ngài được bổ nhiệm quản lý Tu viện Choekar Lhundrup Choeling, được thiết lập bởi Nhiếp Chính Vương Dhephuk Rinpoche. Ngài đã ở đó một thời gian rất lâu và hoàn thành tâm nguyện của nhiều người ở đây thông qua việc giảng dạy giáo pháp và nhập thất. Ngài cũng thực hiện rất nhiều khóa nhập thất tại Tu viện Thupten Choeling của Đức Trulshik Rinpoche và giữ trọng trách của một Đạo sư Kim cương của Tu viện trong một thời gian dài. Ngài đã thọ nhận rất nhiều giáo lý toàn diện và thâm diệu của trường phái Nyingma từ Đức Trulshik Rinpoche và Nhiếp Chính Vương Dhephuk Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ Đức Dilgo Khyentse Rinpoche, Ngài đã thọ nhận các giáo huấn vi diệu như trao truyền đọc các bản văn giáo lý Đức Phật (Kagyur), quán đảnh và trao truyền đọc của Bộ sưu tập các phương pháp thực hành (Dubthab Kundue), Truyền thống Chokling Tersa mới, the Treasure of Pith Instruction, the Great Precious Treasure, the Treasury of Vast Teaching and the Six Volumes of Jatson Nyingpo …</p>
<p style="text-align: justify;">Từ Đức Dudjom Rinpoche đời trước, Ngài đã thọ nhận toàn bộ các quán đảnh và trao truyền đọc của Giáo lý Kho báu của Đức Dudjom Rinpoche đời trước và đời sau và từ Tulku Urgyen Rinpoche, Ngài đã thọ nhận các giáo huấn toàn diện như Một trăm Quán đảnh thực hành Pháp Chod. Ngài cũng thọ nhận các giáo lý thâm diệu từ nhiều vị Đạo sư tâm linh cao cấp như Đức Đạt Lai Lạt ma thứ 14 và Đức Pháp Vương Sakya Trizin.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo tâm nguyện của Đức Pháp Vương Shamar Rinpoche và Đức Jamgon Kontrul Rinpoche, sau khi  nhận nhiều lời mời từ Chủ tịch hiệp hội Phật giáo Đông Nam Á, Lama Gelek và những bậc tôn kính khác, vào năm 1986 Đức Sang Sang Rinpoche đã đến các trung tâm Pháp khác nhau ở châu Á gồm có Đài Loan và Hồng Kông nơi đại diện của Tu viện Rumtek. Theo đó, Ngài đã di chuyển đến nhiều quốc gia và thực hiện các hoạt động tâm linh sâu rộng.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ năm 1990, sau khi Nhiếp Chính Vương Dhephuk Rinpoche viên tịch, Ngài đã đảm đương trách nhiệm quản lý Tu viện Choekar Lhundrup Choeling và Pangpo Che Choekhor Yangtse ở Solukhumbhu. Từ năm 1995, Ngài đã đại diện cho Đức Trulshik Rinpoche trong nhiều dịp để chịu trách nhiệm tổ chức lễ hội long trọng Mani Rildrup (Lễ hội dành cho việc làm thuốc Pháp trì chú Mani) được tổ chức tại Tu viện Rong Chiwang Jangchup Choeling tại Lower Solukhumbhu. Ngài vẫn tiếp tục dẫn dắt tổ chức lễ hội này cho đến ngày nay.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài cũng đã du hành đến nhiều quốc gia khác nhau như Đài Loan, Hồng Kông, Malaysia, Indonesia, Singapore, Nga và Mỹ... để giảng dạy và Hoằng dương Phật Pháp và văn hóa Phật giáo đến mọi người.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ năm 1994, nghĩ đến giáo Pháp và lợi lạc của chúng sinh, Ngài đã hoàn thành toàn bộ việc xây dựng Tu viện mới Lhundrup Choeling gần Buddhanilkanta, Narayanthan - Nepal khi nhận được sự hỗ trợ tài chính của những người mộ Đạo trong và ngoài nước. Năm 2000, Nhiếp Chính Vương Kunzig Shamar Rinpoche và Đức Trulshik Rinpoche đã được mời tới lễ tấn phong vị tái sinh của Đức Dhephuk Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/534462_219894608118556_301902800_n.jpg"><img class="  wp-image-6521 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/534462_219894608118556_301902800_n-225x300.jpg" alt="534462_219894608118556_301902800_n" width="384" height="512" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Qua việc tổ chức nghi lễ trọng đại này, Ngài đồng thời có thể thiết lập một Tu viện dành cho tu sĩ và làm phát triển suối nguồn giáo lý và thực hành tu tập Phật Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 2003, Đức Trulshik Rinpoche đã vui vẻ chấp nhận lời mời của Ngài để ban toàn bộ quán đảnh và trao truyền đọc của văn bản gốc Kho tàng Tâm linh vĩ đại, ví dụ như Methods of Practice, the Good Vase of Granting Wish and the Treasure teaching of the former and later Dudjom ... Vì nỗ lực của Ngài, các vị Rinpoche tái sinh như Đức Dilgo Khyentse Rinpoche, Đức Dudjom Rinpoche và Đức Dhephuk Rinpoche cùng hàng nghìn các vị Tulku, Lama, Khenpo, hàng ngàn tăng ni và hơn mười nghìn cư sĩ đã có cơ hội quý giá để thọ nhận các giáo lý thâm diệu dẫn họ đến con đường giải thoát.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài liên tục hoằng truyền các giáo lý Phật Pháp ở khắp nơi, Đức Sang Sang Rinpoche là một Bậc hộ trì giáo lý và không biết mệt mỏi để lợi lạc đến tất cả chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>http://chiwongmonastery.com/component/option,com_easygallery/Itemid,60/act,photos/cid,129/</em></p>
<p style="text-align: justify;">Việt ngữ: Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính: Giác nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với</em><em> </em><em>Đức Sang Sang Rinpoche</em> <em>đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này Ngài sớm quang lâm đến Việt nam</em></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-cua-duc-sang-sang-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
