<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Nghi lễ</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/thuc-hanh/kim-cuong-thua/nghi-le-kim-cuong-thua/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Fri, 17 Apr 2026 16:09:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Tấm gương soi tỏ những điều nên làm và nên bỏ</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/kim-cuong-thua/tam-guong-soi-to-nhung-dieu-nen-lam-va-nen-bo/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/kim-cuong-thua/tam-guong-soi-to-nhung-dieu-nen-lam-va-nen-bo/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 04 Nov 2019 01:32:35 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Nghi lễ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=9616</guid>
		<description><![CDATA[Trong bản văn ngắn này, Kyabjé Dudjom Rinpoche diễn giảng một vài điểm trọng yếu của giới hạnh mà Giáo đoàn hành giả tu sĩ và Giáo đoàn yogin vidyadhara (hành giả trì minh vương) phải tuân giữ. Bản văn này được biên soạn với hy vọng bảo tồn những phương diện của truyền thống trước nguy cơ bị mai&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/kim-cuong-thua/tam-guong-soi-to-nhung-dieu-nen-lam-va-nen-bo/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><b>Trong bản văn ngắn này, Kyabjé Dudjom Rinpoche diễn giảng một vài điểm trọng yếu của giới hạnh mà Giáo đoàn hành giả tu sĩ và Giáo đoàn yogin vidyadhara (hành giả trì minh vương) phải tuân giữ. Bản văn này được biên soạn với hy vọng bảo tồn những phương diện của truyền thống trước nguy cơ bị mai một vĩnh viễn.</b></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Đấng dẫn dắt vô song của thời đại may mắn này, Pháp Vương của dòng họ Shakya (Thích Ca),</span></i></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Hiện thân của tất cả chư Phật, Đấng Sinh trong hồ xứ Oddiyana (Liên Hoa Sinh),</span></i></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Đức Vua và các thần dân, và tất cả các Vidyadhara (Trì minh vương) của các dòng kama và terma</span></i></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Trước các ngài, cánh đồng toàn hảo để tích tập công đức và trí tuệ, con xin kính cẩn đảnh lễ!</span></i></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Hai cộng đồng hành giả của Kinh thừa và Mật thừa, những tu sĩ cạo tóc và những yogin (hành giả) tóc dài,</span></i></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Với cái thấy (kiến) của Trung Đạo và giới hạnh (hành) của Luật,</span></i></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Và sự hợp nhất tối thượng của các giai đoạn phát triển và thành tựu, Đại Viên Mãn-</span></i></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Đây là truyền thống bí mật vĩ đại của Cổ Dịch trong Xứ Tuyết,</span></i></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Với sáu phẩm tính vĩ đại của nó. Đối với những vidyadhara đã khởi hành trên con đường này,</span></i></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Với giáo lý truyền khẩu, những khám phá terma và những thị kiến thanh tịnh của nó</span></i></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Bây giờ tôi sẽ trình bày một ít vấn đề giới hạnh như lời khuyên dạy,</span></i></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Mô tả những gì nên làm theo và nên từ bỏ, trong đời sống hàng ngày và vào những dịp đặc biệt,</span></i></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Vì thế hãy lưu ý với sự trong sáng và nhất tâm.</span></i></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Ngài Vasubandhu Thế Thân) uyên bác tối thượng đã nói:</span></p>
<p><b>Giáo lý của Đức Phật có hai phương diện:</b></p>
<p><b>Những yếu tố Kinh điển và chứng ngộ</b></p>
<p><b>Những điều này chỉ được hộ trì nhờ việc giảng dạy</b></p>
<p><b>Và bằng cách thực hành[2] </b></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Như câu này nói, trách nhiệm của những vị hộ trì các giáo lý và thành viên của Giáo đoàn là bảo đảm rằng Phật Pháp quý báu, với hai phương diện Kinh điển và chứng ngộ, sẽ không bị suy hoại mà trường tồn trong thế giới.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Giáo đoàn có hai cộng đồng: những môn đồ cạo tóc của Kinh thừa và những hành giả tóc dài của Mật thừa. Hai nhóm này được thiết lập do sắc lệnh đặc biệt khi lần đầu tiên, nhờ Tu viện trưởng Shantarakshita, Đạo sư Liên Hoa Sinh và Vua Trisong Detsen, ánh sáng Phật Pháp đã chiếu soi trên xứ Tây Tạng tăm tối, mang lại cho chúng ta thành ngữ nổi tiếng “hai Giáo Đoàn được đức vua tôn kính”. Cho tới ngày nay, hai Giáo đoàn này vẫn tiếp tục tồn tại song hành. Mặc dù chúng hơi khác biệt nhau về hình tướng bên ngoài, y phục và v.v... được dựa trên cách thế đặc biệt trong đó những giới nguyện được trì giữ, không có sự khác biệt trong việc thực hành hợp nhất Kinh điển và tantra (Mật điển) và hộ trì ba bộ giới nguyện để phát triển những phẩm tính chứng ngộ sâu xa.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Về phương pháp các hành giả này thực hành, Đạo sư vĩ đại Liên Hoa Sinh, đấng giống như một Đức Phật thứ hai, đã nói:</span></p>
<p><b>Bên ngoài, hãy thực hành theo Kinh điển,</b></p>
<p><b>Hết sức thận trọng đối với nhân quả và những gì bạn nên theo và phải tránh.</b></p>
<p><b>Bên trong, hãy thực hành theo thần chú bí mật vô song,</b></p>
<p><b>Đó là điều thiết yếu để kết hợp các giai đoạn phát triển và thành tựu.</b></p>
<p><b>Một cách bí mật, hãy thực hành theo Atiyoga bí mật vĩ đại,</b></p>
<p><b>Và đạt được giải thoát trong thân ánh sáng chỉ một đời duy nhất.</b></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Trước hết khi ta dấn mình vào Phật đạo, điều quan trọng là những điều kiện tốt lành đúng đắn phải được củng cố với một vị Thầy, vì thế hãy bắt đầu bằng nghi lễ xuống tóc và thọ giới quy y trước một Đạo sư tâm linh chân chính. Sau đó, nếu thọ giới tu sĩ, bạn nên nhận những giới nguyện của một Sa di hay Tỳ kheo hoặc Tỳ kheo ni – tùy theo tuổi tác và năng lực của bạn – trước một tập hội gồm Tu viện trưởng, Acharya (Đạo sư, A xà lê) và số thành viên trong Tăng đoàn được quy định trong một dòng tu không đứt đoạn có nguồn gốc từ Tu viện trưởng vĩ đại Shantarakshita. Cho dù bạn là một hành giả Mật thừa (ngakpa), bạn vẫn phải tuân giữ ba bộ giới luật, vì thế hãy giữ giới nguyện của một hành giả cư sĩ (upasaka) theo năng lực đặc biệt của bạn. Khi ấy, dựa trên căn bản này, hãy thọ các giới nguyện của một Bồ Tát theo một trong hai truyền thống, nhưng tốt nhất là theo cách tiếp cận Trung Đạo, và khi ấy, nhờ đi vào một trong những mạn đà la vĩ đại và nhận trọn vẹn bốn quán đảnh, bạn sẽ sở hữu ba bộ giới nguyện. Tuy nhiên, chỉ nhận các giới nguyện thì không đủ, bạn phải nỗ lực để trì giữ những hứa nguyện bạn đã lập và không để cho chúng bị hư hỏng. Cách thức giữ gìn chúng đã được giảng dạy trong những bản văn khác nhau của ba bộ giới nguyện. Điều quan trọng là bạn phải áp dụng những gì được giảng dạy cho tâm thức của riêng bạn và nhập tâm những giáo huấn bằng việc thực hành.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Đức Phật, Đạo sư bi mẫn, đã ban cho ta một tóm lược cốt tủy như sau:</span></p>
<p><b>Không làm điều ác, </b></p>
<p><b>Nuôi dưỡng hạnh lành, </b></p>
<p><b>Điều phục tâm thức- </b></p>
<p><b>Đó là Phật Pháp.</b></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Nền móng là một ý hướng hoàn toàn trong sạch và cao quý và một đức tin chân thành nơi Tam Bảo. Khi ấy:</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">* Hoàn toàn từ bỏ mọi ý hướng và hành động tiêu cực của thân, ngữ và tâm có thể tác hại cho người khác là cốt tủy của pratimoksha, hay giới nguyện giải thoát cá nhân.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">* Hết lòng thực hành mọi loại đức hạnh mang lại lợi lạc cho người khác là cốt tủy của giới nguyện Bồ Tát.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">* Cội gốc của hai giới nguyện này là điều phục tâm phóng túng của ta bằng phương tiện chánh niệm, tỉnh giác và tận tâm, và tu hành bản thân để nhận ra sự thuần tịnh gồm chứa của hình tướng và sự hiện hữu. Đây là cốt tủy của giới nguyện Mật thừa.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Đây là cách thực hành nhờ kết hợp những đề mục của ba bộ giới nguyện trong một giáo huấn trọng yếu duy nhất.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Để sử dụng giáo huấn này một cách dễ dàng, ngay từ lúc bạn đi vào Thánh Pháp và trở thành một hành giả của Pháp, thái độ bên trong và cách hành xử (giới hạnh) bên ngoài của bạn cần vượt xa thái độ và hành xử của một người thế tục bình thường. Như một câu tục ngữ nói:</span></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Dấu hiệu của sự hiểu biết chân thực là một tính khí an bình,</span></i></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Và dấu hiệu của việc đã thiền định là ít phiền não.</span></i></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Trái lại, nếu thái độ và cách hành xử của bạn thậm chí không tốt hơn chút nào so với một người bình thường bị vướng kẹt trong những công việc thế gian, thì bạn có thể tự coi mình như một học giả chỉ vì bạn có một vài hiểu biết trí thức về một ít bản văn. Hoặc bạn có thể nghĩ rằng bạn là một tu sĩ hoàn hảo chỉ vì bạn duy trì tình trạng độc thân. Hoặc chỉ vì biết cách tụng một ít bản văn nghi lễ, bạn có thể bắt đầu tự cho rằng mình là một ngakpa. Đây hoàn toàn là những ví dụ hiển nhiên của sự kiêu ngạo, và chỉ cho thấy rằng ngay cả với Pháp ta cũng có thể sai lầm theo chiều hướng xấu. Như Dakpo Lharjé [Gampopa] vô song đã nói:</span></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Khi không được thực hành đúng đắn, ngay cả Pháp cũng có thể bắn thẳng ta vào các cõi thấp.</span></i></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Nói chung, đối với những người đã khởi hành trên con đường Giáo Pháp, nguồn mạch của mọi sự hiểu biết nằm ở việc đọc (nghiên cứu) và viết, vì thế việc rèn luyện những kỷ luật này được nhấn mạnh từ lúc còn trẻ. Sau đó ta nên tiếp tục nghiên cứu bộ môn nào đó trong các khoa học tổng quát và hết sức nỗ lực trong việc nghiên cứu và suy niệm những nguyên lý hiếm có của Kinh điển và thần chú và v.v..., cho tới khi đạt được một sự hiểu biết sâu xa những vấn đề cốt tủy, cho dù phải mất bao nhiêu thời gian chăng nữa.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Đặc biệt là từ lúc bạn gia nhập một Giáo đoàn gồm các hành giả tu sĩ hộ trì giáo lý, bạn nên nỗ lực để chỉ có một thái độ tích cực và cách hành xử (giới hạnh) trong sạch, phụng sự các Đạo sư và Giáo Pháp, tịnh hóa những che chướng của riêng bạn và tích tập công đức và trí tuệ, để bạn trở thành một mẫu mực đầy cảm hứng cho những thế hệ tương lai. Như câu tục ngữ nổi tiếng nói:</span></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Đối với những người có đức tin, là một suối nguồn cảm hứng.</span></i></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Đối với người giàu có, là một cánh đồng để vun trồng công đức.</span></i></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Hãy nỗ lực và nghiên cứu triệt để, nhớ lại những bản văn thực hành hàng ngày, học cách vẽ các mạn đà la dùng cho các nghi lễ Mật thừa, học cách làm và trang hoàng torma và những vật cúng dường khác, học vũ điệu của tu viện và những giai điệu của các bài ca nghi lễ, cũng như cách sử dụng các nhạc khí khác nhau và v.v..., khiến bạn trở nên lão luyện. Tối quan trọng là những người gánh vác trách nhiệm duy trì các truyền thống thực hành – Đạo sư kim cương, vị hướng dẫn việc tụng niệm, Thầy nghi lễ (chopon) và thị giả nghi lễ và v.v… - hãy tu hành để trở nên quen thuộc với việc thực hành theo truyền thống đích thực.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Trong phạm vi hành xử (giới hạnh), dù bạn là một nhà sư, một ngakpa hay một ni cô, điều tối quan trọng là bạn phải sống theo lời dạy sau đây: “Điều phục tâm mình là cốt tủy của Pháp”. Thiện tâm vĩ đại nhất mà ta có thể tự biểu lộ là tận tụy tu hành theo những lời dạy của giáo lý ta đang theo đuổi. Hãy tránh cư xử theo cách thế đối nghịch, giả dối đối với những giới nguyện và lời hứa, làm tăng thêm sự dính mắc và gây hấn đối với bằng hữu, hoặc tranh cãi với người trên và kẻ dưới, với những nhóm khác hay những người giữ những quan điểm khác biệt. Để dễ dàng làm được điều đó, điều tối quan trọng là giống như bạn tránh uống thuốc độc, bạn hãy hoàn toàn từ bỏ tất cả những gì có thể làm sai lạc giáo lý, từ bỏ mọi cuộc tranh luận hay chia rẽ và mọi điều tiêu cực khiến bạn phải chịu sự trừng phạt nghiêm khắc của các Dakini và Hộ Pháp là những bậc có đôi mắt trí tuệ.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Chưa kể tới các Khenpo, các vị Thầy và các Lạt ma cao cấp, bạn nên tỏ lòng tôn kính tất cả những người thâm niên hơn bạn về mặt giới luật hay nghiên cứu, biểu lộ lòng tốt và tình thương đối với học trò nhỏ tuổi hơn bạn, và chỉ cư xử một cách thân tình và dễ thương với mọi Pháp hữu. Không thể chấp nhận việc phê bình chỉ trích hay nói năng cay nghiệt với nhau, gây xích mích hay nói ngay cả điều nhỏ bé nhất có thể gây mối bất hòa trong Giáo đoàn.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Tránh dùng những vật được cúng dường cho Tam Bảo vào mục đích riêng tư của bạn bởi điều này sẽ mang lại những nghiệp quả ghê gớm. Đừng đi ra ngoài mà không mặc y tu sĩ đúng cách. Hoàn toàn từ bỏ mọi cách hành xử làm ô danh, chẳng hạn như chơi các trò chơi trong khu vực tu viện, cờ bạc, cười lớn tiếng, hút thuốc, hít thuốc, la hét, cãi cọ và đánh nhau, lang thang trên đường phố và dính mắc vào những việc không liên quan tới bạn. Hãy thận trọng để cư xử phù hợp với Pháp bất kỳ khi nào bạn xuất hiện nơi công cộng hay trên các lối đi trong tu viện, và đừng tham gia vào những hoạt động thông thường như làm đồ mộc hay khâu vá, trừ phi nó được làm cho Giáo đoàn hay Tu viện.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Không cần phải nói rằng những người đã thọ giới nguyện tu sĩ không được phép uống rượu, dù chỉ với một lượng bằng một giọt sương trên lá cỏ, mà ngay cả các ngakpa cũng bị cấm uống hơn một tách[3] mỗi ngày. Có câu nói rằng:</span></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Hành giả Mật thừa say rượu</span></i></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Sẽ bị quay nướng trong Địa ngục Kêu gào</span></i><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Thịt là thực phẩm độc hại, càng ít dùng thì càng tốt. Điều tối quan trọng là tránh dùng thịt khi đó là phong tục địa phương, và chắc chắn là trong những cuộc hội họp chính yếu thì không nên phục vụ món thịt.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Các Khenpo hộ trì luật, các Đạo sư kim cương hướng dẫn các thực hành Kim Cương thừa, các vị hướng dẫn việc tụng niệm, các Đạo sư và đệ tử, những người phụ trách những nhạc khí nghi lễ, những người đặc trách tài chính, các thị giả v.v... nên đảm nhận công việc theo trách nhiệm mà không ăn ở hai lòng (nhị tâm) hoặc đạo đức giả. Nếu người có trách nhiệm bị đau ốm và phải được miễn làm việc thì cần tìm người thay thế. Bất kỳ khi nào một thành viên trong Giáo đoàn bị đau ốm, người ấy cần được chăm sóc và chữa trị thuốc thang, và nếu một thành viên của Giáo đoàn qua đời, nên thực hiện những tang lễ và các thực hành cần thiết để tích tập công đức theo một cách thế đúng đắn, phù hợp với khả năng sẵn có.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Đừng lãng phí bất kỳ điều gì, ngay cả một cây kim hay sợi chỉ, bởi đó là bộ phận của tài sản chung của Giáo đoàn. Hãy đặc biệt chăm sóc các vật cúng dường, nhạc khí, các tấm nệm, dụng cụ nấu bếp và v.v…, để không có vật gì bị hư hỏng hay vỡ bể. Nếu có thứ gì bị mất mát hay vỡ bể thì nó cần được thay thế. Bạn nên thanh toán tiền cho mọi việc sửa chữa những thiệt hại nhỏ bé. Những người làm việc trong tu viện nên giữ gìn đền chùa, các khu sinh hoạt và mọi nền nhà được sạch sẽ và bảo dưỡng tốt đẹp để chúng vẫn mang lại cảm hứng cho bản thân họ và những người khác. Vị Thầy nghi lễ và các vị phụ tá nên cẩn trọng khi làm và trang hoàng các vật cúng dường torma và v.v... theo truyền thống thích hợp, thực hiện các lễ cúng dường theo cách thức tốt nhất trong khả năng, chỉ sử dụng những thành phần tinh sạch và thuần tịnh, lau chùi và để dành mọi vật liệu và đồ dùng họ đã sử dụng. Những người nấu bếp và những người làm trong nhà bếp nên giữ nơi làm việc sạch sẽ và hợp vệ sinh, và dọn thực phẩm vào những thời gian thích hợp.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Các Khenpo, Acharya và tất cả các vị giữ các địa vị cao cấp và có thanh danh trong công việc không nên cố gắng làm người khác biết ơn bằng cách phô bày mọi điều tốt lành họ đã làm và quản lý. Những thành viên có địa vị thấp của Giáo đoàn nên nhận ra lòng tốt của những vị có chức quyền và tỏ lòng tôn kính các ngài. Hơn nữa, trong mọi lĩnh vực, mọi người đừng nên quan tâm tới những kẻ làm gương xấu và chỉ theo những người tốt lành. Đây là những lời khuyên dạy nói chung cho các Giáo đoàn.</span></p>
<p><b>Nguyên tắc chỉ đạo về cách Hành xử Hàng ngày của Các Thành viên trong Giáo đoàn</b></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Thay vì nằm lì trên giường, hãy trở dậy ngay khi chuông báo trước rạng đông vang lên, và hãy thực hành ngondro, tụng những bài nguyện nhật tụng khác và thực hiện sadhana của Bổn Tôn riêng của bạn. Sau bình minh, hãy chùi rửa, dọn dẹp căn phòng của bạn, và sau đó tham dự lớp học hay thực hành nhóm. Khi lớp học hay thực hành nhóm chấm dứt, hãy yên lặng trở về phòng bạn, chớ lang thang không mục đích ở những nơi bạn muốn đến. Khi có chuông báo khóa thiền định buổi tối, cổng chính phải đóng lại, và mọi người nên thực hành ở phòng riêng, dâng những lời cầu nguyện cho các Hộ Pháp Và v.v..., và nghiên cứu càng nhiều càng tốt. Sau đó, khi chấm dứt khóa tối, hãy thực hành yoga giấc ngủ, và buổi sáng khi bạn thức dậy, hãy thực hành yoga thức dậy từ giấc ngủ và làm mọi thực hành đã đề cập ở trên.</span></p>
<p><b>Những cuộc Hội họp chính yếu</b></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Hãy thực hiện những thực hành đúng đắn phù hợp với truyền thống trong mọi dịp quan trọng, kể cả năm ngày đặc biệt mỗi tháng[4] và năm ngày kỷ niệm chính trong năm, lễ hội những điều huyền diệu (Chotrul Duchen), ngày 15 tháng tư âm lịch (Saga Dawa Duchen), ngày mồng mười tháng thân[5], ngày mồng bốn tháng sáu (Chokhor Duchen), ngày hai mươi mốt tháng chín (Lhabab Duchen) và lễ tháng mười hai, cũng như thực hiện tất cả những thực hành drupchen hay drupcho đặc biệt.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Hơn nữa, bất kỳ khi nào một tín chủ bảo trợ một thực hành trong ngày, Đạo sư kim cương, vị hướng dẫn việc tụng niệm, Giới sư và người quản lý tài chính nên họp lại trước khi thực hành và thảo luận về những gì cần làm. Sau đó điều này phải được truyền đạt tới chopon một ngày trước thực hành để mọi việc cúng dường có thể được chuẩn bị và sắp xếp bằng một phương cách đơn giản hoặc phức tạp khi có hoàn cảnh thích hợp. Họ cũng thảo luận xem thực hành trong một ngày sẽ kéo dài bao lâu, tùy theo độ dài của việc tụng niệm và v.v…</span></p>
<p><b>Nguyên tắc chỉ đạo cho Thực hành thực sự</b></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Tù và thổi lần thứ nhất để thông báo cho mọi người biết một tu tập đang được tiến hành. Khi tiếng tù và cất lên lần thứ hai, những người cùng thực hành sẽ đi tới cổng phòng họp và cởi giày. Khi đặt các zen của họ một cách cung kính trên cẳng tay, họ đi vào bên trong theo hàng lối và sau khi dâng những lễ lạy, họ vẫn đứng đằng sau chỗ ngồi của mình. Với tiếng tù và lần thứ ba, ngay khi Đạo sư kim cương an tọa, toàn thể tập hội ngồi xuống theo thứ tự thích đáng dựa trên thâm niên về giới luật và sự uyên bác. Sau đó vị hướng dẫn việc tụng niệm bắt đầu tụng.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Nếu các tu sĩ và ngakpa thực hành tách biệt ở những nơi riêng rẽ thì điều đó không thích đáng, nhưng vào những dịp các tu sĩ và ngakpa cùng thực hành, tăng và ni nên ngồi trước các ngakpa, hướng về phía trước tập hội, như một dấu hiệu của sự tôn kính. Trong những hàng riêng của mình, các hành giả nên ngồi thẳng lưng với đôi chân bắt chéo, và không nghiêng ngả, đi lại, túm tụm lại, đùa giỡn, thiếp ngủ, hay đứng dậy và bỏ đi trước khi chấm dứt khóa thực hành.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Trong lúc Giới sư ghi danh sách các hành giả trước khi buổi lễ thực sự bắt đầu, những người tới muộn nên thực hiện mười cho tới ba mươi lễ lạy ở giữa các hàng ghế chính như một sự sám hối. Những người tới sau khi phần chính của thực hành đã bắt đầu nên thực hiện từ ba mươi tới năm mươi lễ lạy. Những người tới muộn hơn nữa thì tùy hoàn cảnh, họ nên thực hiện năm mươi tới một trăm lễ lạy. Các ngakpa không được phép mang con cái vào phòng họp.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Nói chung, bất kỳ làm thực hành nào, dù là một thực hành Kinh thừa hay Mật thừa, nó cần được thực hiện một cách đúng đắn phù hợp với các bản văn, đừng trộn lẫn các yếu tố của Kinh điển và thần chú.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Chỉ có thể mang vào phòng họp những chiếc tô truyền thống và những tấm vải trắng hình vuông có cạnh dài một phút (0,3m), mọi loại bình chứa và giỏ đựng thực phẩm đều bị cấm chỉ. Cách thức đúng đắn để cúng dường hay nhận lãnh trà, thukpa và v.v… nên được học tập bằng cách nhìn xem các tu sĩ cao cấp làm việc đó ra sao. Việc này được làm vào ban đêm, không sớm quá và cũng không trễ quá.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Khi bạn tụng niệm, tránh phát âm sai các từ hay tụng nhanh hơn hay chậm hơn những người khác. Đừng phô trương bằng cách tụng lớn tiếng, nhưng tụng đều đều và nhẹ nhàng với cường độ không quá cao hay quá thấp. Nói chung, trong các ‘nghi lễ trống’ chỉ Đạo sư kim cương mới có chuông và chày. Trong các thực hành an bình hay các ‘nghi lễ chuông’ thì mọi người đang làm thực hành chính nên có một chày và chuông.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Khi rời tập hội, bạn hãy đi thật yên tĩnh và trật tự, không nhảy bổ tới, không chạy lăng xăng hay xô lấn. Hãy đi ra theo hàng lối, bắt đầu với hàng cuối cùng, và sau đó khi bắt đầu thời khóa kế tiếp, hãy đi về theo trật tự đúng đắn, bắt đầu với những người ngồi phía trước.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Mọi lễ cầu nguyện được cử hành cho người sống hay người chết như được khẩn cầu, khi được Giới sư thông báo, thì đừng nên quá ngắn.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Đối với những thực hành như nghi lễ chay (nyungné) và Tara, là những thực hành thuộc kriya hay charya tantra, bạn không nên sử dụng trống sọ người, kèn bằng xương đùi (kangling) hay bất kỳ loại trống nào có chứa đựng các dharani (đà ra ni) của cấp độ tối cao của Thần chú bí mật.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Bất kỳ khi nào bạn thực hành nghi lễ Mật thừa, bạn nên nương tựa ‘bốn cánh cửa’ sau đây được đề cập trong các bản văn của thần chú bí mật:</span></p>
<p><b>Cánh cửa trì tụng để quán tưởng xác thực.</b></p>
<p><b>Cánh cửa thần chú bí mật để khẩn cầu tâm trí tuệ.</b></p>
<p><b>Cánh cửa thiền định để tập trung nhất tâm.</b></p>
<p><b>Cánh cửa các ấn nghi lễ để truyền đạt ý nghĩa tượng trưng.</b></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Khi bạn ngồi trong tập hội, điều quan trọng là phải ngồi thẳng lưng để những điểm trọng yếu của thân được thẳng và các gió (khí) năng lực vi tế bên trong lưu chuyển một cách đúng đắn. Điều này tạo ra những điều kiện thích hợp cho việc quán tưởng xác thực. Trì tụng lời của bản văn theo một nhịp đều đặn, không quá chậm cũng không quá vội vã, và sử dụng những giai điệu được truyền xuống từ những Vidyadhara vĩ đại trong quá khứ tạo nên những điều kiện đặc biệt để việc quán tưởng thêm phần rõ ràng, và để thành tựu mọi phẩm tính của việc thiền định.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Việc tiến hành trì tụng thần chú trong những giai đoạn thích hợp phù hợp với bản văn nhằm khẩn cầu tâm trí tuệ của Bổn Tôn. Khi trì tụng, nếu bạn cầm mala (chuỗi hạt) trong bàn tay trái ngang trái tim và đếm túc số, điều ấy sẽ làm cho việc quán tưởng thần chú xoay tròn được rõ ràng. Bất kỳ khi nào bạn bắt ấn vào lúc cúng dường, tán thán và v.v..., đó là khía cạnh động tác nghi lễ có ý nghĩa tượng trưng.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Việc thêm âm nhạc vào những nghi lễ thần chú không phải để làm cho nghi lễ thêm phần hấp dẫn và gây ấn tượng. Đạo sư vĩ đại Guru Rinpoche đã nói:</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Sử dụng âm nhạc trong thần chú bí mật nhanh chóng khẩn cầu những ân phước.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Nếu những loại âm nhạc tụng niệm hay giải trí có xuất xứ từ những Trì Minh Vương trong quá khứ được duy trì đúng đắn, chúng sẽ mang lại những ân phước vĩ đại. Nếu không, việc tạo nên một âm thanh ồn ào bằng cách tụng những bản văn với đủ loại giai điệu và sử dụng các nhạc khí khác nhau mà không theo bất kỳ truyền thống chân thực nào, sẽ được gọi là “thần chú bí mật lạc vào huyền bí”, và là điều nên tránh.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Khi bạn dùng chày và chuông, bạn nên cầm chày trong bàn tay phải ngang trái tim. Nên cầm chuông bằng tay trái, không cao hơn nách trái và ngang hàng với ngực. Khi rung chuông, hãy làm thật nhẹ nhàng với ngón tay cái và ngón đeo nhẫn chứ không bằng cả bàn tay. Khi bắt ấn, đôi bàn tay bạn nên giữ ngang trái tim, cẩn trọng để tạo nên âm thanh tối thiểu với cái chuông. Khi bạn đặt chày và chuông xuống, khuôn mặt của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na trên cán chuông hướng về phía cái chày.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Trống damaru nên được sử dụng chậm rãi và nhẹ nhàng vào những thời điểm thích hợp, cùng với xập xõa rolmo. Mỗi khi trống damaru được sử dụng cùng lúc tụng bản văn thì không dùng chuông. Khi sử dụng xập xõa rolmo, bạn nên giữ cánh tay trái xa thân bạn, và chỉ hơi đưa bàn tay phải lên, không giơ cao hơn bề rộng của bốn ngón tay. Các xập xõa không nên đặt cái này ngay trên cái kia, chúng hơi gối lên tạo thành một hình lưỡi liềm. Xập xõa silnyen được sử dụng theo cách tương tự, ngoại trừ chúng được cầm trong tư thế thẳng đứng. Khi đánh trống, nên cầm ở giữa cán chiếc que đánh và nên đánh trống nhẹ nhàng và không đánh ở giữa hay ở mép trống. Như có nói:</span></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Đừng khuấy động tận đáy sâu đại dương.</span></i></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Đừng đánh vào má sư tử tuyết.</span></i></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Cũng có câu nói rằng âm thanh tụng niệm không được lấn át tiếng trống mà tiếng trống cũng không được át mất tiếng tụng niệm, có nghĩa là trống nên được đánh đều đều và êm dịu.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Kèn trum-pét làm bằng xương đùi (kangling) được sử dụng trong những dịp ‘xua đuổi’, ‘đe dọa’ hay ‘thịnh nộ kinh hoàng’[6] cùng với xập xõa rolmo. Số lần nó được thổi có thể học từ việc quan sát và chỉ dạy. Các trum-pét dài (dungchen) và kèn cổ (gyaling) cũng được sử dụng cùng với xập xõa rolmo, tùy theo cách ta được dạy. Ngoại trừ khi được sử dụng để khẩn cầu kiết tường sau thực hành, chúng nên ngừng lại một lát trước xập xõa rolmo. Đối với tù và (bằng vỏ ốc xà cừ) thì cũng thế, ngoại trừ việc nó chỉ được thổi vào các dịp ‘xua đuổi’ và ‘trục xuất’.[7]</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Nói chung, Đạo sư kim cương và vị hướng dẫn việc tụng niệm nên quyết định một thực hành sẽ kéo dài bao lâu và những chi tiết của việc tụng niệm và âm nhạc trước thực hành. Phần chính của thực hành cần được tiến hành theo một nhịp độ vừa phải, không quá chậm và cũng không quá nhanh. Vị Thầy nghi lễ (chopon) nên thi hành các bổn phận của mình một cách đúng đắn, không sai lầm, làm mọi sự phù hợp với những giáo huấn được ban cho trong các bản văn và vào những thời điểm thích hợp. Trà và thukpa được dọn ra khi Giới sư ra dấu hiệu. Những người phục vụ nên dọn thực phẩm theo thứ tự từng hàng, không phạm bất kỳ sai lần nào như đánh đổ, làm rơi rớt vật gì đó trên sàn, và sau đó nên dọn dẹp sạch sẽ. Điều quan trọng là mọi sự phải được thực hành một cách đúng đắn và cẩn trọng, phù hợp với truyền thống do các Đạo sư vĩ đại trong quá khứ truyền lại, và không đi theo đường tắt hay làm việc cẩu thả và bừa bãi.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Theo cách này, toàn bộ tập hội gồm vị lãnh đạo việc tụng niệm, Thầy nghi lễ, Giới sư, những tu sĩ cao cấp, các đầu bếp, người phục vụ trà, người quản lý, người quét tước và v.v..., đứng đầu là Đạo sư kim cương, tất cả đều phải cùng nhau làm việc, mỗi người làm công việc của mình một cách đúng đắn, như được trình bày ở đây trong những nguyên tắc chỉ đạo này, và không phó mặc mọi sự cho một hay hai người. Bất kỳ khi nào một thực hành dài như một drupchen được thực hiện trong vài ngày, ngay khi các người tham dự an tọa, Giới sư nên dâng những lễ lạy từ cuối hàng, và đọc to, rõ ràng và không sai lầm những nguyên tắc chỉ đạo này để mọi người được khuyến khích thực hành đúng đắn và duy trì những truyền thống trong quá khứ.</span></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Mọi lợi lạc và hạnh phúc đến từ giáo lý của Đức Phật,</span></i></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Giáo lý này lại tùy thuộc vào những Giáo đoàn hộ trì nó,</span></i></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Vì thế cầu mong Giáo đoàn giảng dạy và thực hành Kinh điển và Mật điển,</span></i></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Để toàn thể thế giới trở thành một quốc độ toàn mỹ!</span></i></p>
<p><em>Bản văn này được biên soạn theo lời khẩn cầu của một nhóm đệ tử của Jikdral Yeshe Dorje (H.H. Dudjom Rinpoche), là một đệ tử của Đức Phật Padmasambhava (Liên Hoa Sinh), đã nghiên cứu rộng rãi và diễn giảng triết học, và là một hành giả cư sĩ và Vidyadhara (Trì Minh Vương). Cầu mong bản văn này là nguyên nhân để việc nghiên cứu và thực hành các giáo lý quý báu của Phái Cổ Dịch phát triển và truyền bá sâu rộng!</em></p>
<p><b>Đức Dudjom Rinpoche</b></p>
<p><i></i><i><span style="font-weight: 400;">Anh dịch: Adam</span></i></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Việt dịch: Thanh Liên</span></i></p>
<p><em>Nguồn: <a href="https://thuvienhoasen.org/a8150/tam-guong-soi-to-nhung-dieu-nen-lam-va-nen-bo">Tấm gương soi tỏ những điều nên làm và nên bỏ</a></em></p>
<p><i></i><em><span style="font-weight: 400;">[1] ge ‘dun rig ‘dzin ‘dus sde’i bca’ yig blang dor gsal ba’i me long, Người hộ trì sự thấu suốt, Trì minh vương.</span></em></p>
<p><em><span style="font-weight: 400;">[2] Abhidharmakosha VIII, 39.</span></em></p>
<p><em><span style="font-weight: 400;">[3] Theo nghĩa đen: ‘một tách sọ người’ hay kapala.</span></em></p>
<p><em><span style="font-weight: 400;">[4] Ngày mùng 8, 10, 15, 25 và 30 mỗi tháng theo lịch Tây Tạng.</span></em></p>
<p><em><span style="font-weight: 400;">[5] Gyurme Dorje và Matthew Kapstein trong Trường phái Nyingma của Phật Giáo Tây Tạng, quyển 2, trang 99, số 1393 viết: “..phù hợp với lịch Phukpa mới của truyền thống Mindrollin, tháng thân là tháng năm, và những hệ thống Tshurpu và Phakpa cổ hơn thì tính đó là tháng bảy”.</span></em></p>
<p><em><span style="font-weight: 400;">[6] Ý nghĩa của những thuật ngữ trong văn cảnh này không rõ ràng.</span></em></p>
<p><em><span style="font-weight: 400;">[7] Một lần nữa, ý nghĩa ở đây không rõ ràng.</span></em></p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/kim-cuong-thua/tam-guong-soi-to-nhung-dieu-nen-lam-va-nen-bo/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ý nghĩa cúng dường theo Kim cương thừa</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/drukpa-kagyu/y-nghia-cung-duong-theo-kim-cuong-thua/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/drukpa-kagyu/y-nghia-cung-duong-theo-kim-cuong-thua/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 02 Sep 2018 10:01:27 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Drukpa Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Drukpa]]></category>
		<category><![CDATA[Nghi lễ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=8884</guid>
		<description><![CDATA[Có vô số cách thức cúng dường: Thành kính cúng dường lên chư Phật chư Bồ Tát vì chư Phật Bồ Tát đã thành tựu những phẩm chất giác ngộ siêu việt và công hạnh lợi tha vĩ đại. Thành kính tri ân và hiếu thảo với cha mẹ bậc sinh thành vì đã luôn từ bi chăm sóc dưỡng&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/drukpa-kagyu/y-nghia-cung-duong-theo-kim-cuong-thua/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có vô số cách thức cúng dường:</span></p>
<ul style="text-align: justify;">
<li style="font-weight: 400;"><span style="font-weight: 400;">Thành kính cúng dường lên chư Phật chư Bồ Tát vì chư Phật Bồ Tát đã thành tựu những phẩm chất giác ngộ siêu việt và công hạnh lợi tha vĩ đại.</span></li>
<li style="font-weight: 400;"><span style="font-weight: 400;">Thành kính tri ân và hiếu thảo với cha mẹ bậc sinh thành vì đã luôn từ bi chăm sóc dưỡng dục ta nên người.</span></li>
<li style="font-weight: 400;"><span style="font-weight: 400;">Cúng dường bố thí cho những chúng sinh khổ đau nghèo khó rất cần nơi giúp đỡ nương tựa bởi đối với ta dù chỉ là một chút nhưng đối với họ ý nghĩa rất nhiều.</span></li>
</ul>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hết thảy hạnh cúng dường này đều là cội nguồn giúp nhanh chóng tích lũy vô lượng công đức, chẳng khác nào vun bổi chăm bón cho cánh đồng phúc điền màu mỡ tốt tươi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bạn đừng nên so đo toan tính xem nên chọn cách cúng dường nào ưu việt nhất mà hãy hiểu rằng làm lợi ích cho chúng sinh với tâm vô ngã vị tha là cách tốt nhất, thù thắng nhất để cúng dường lên chư Phật, bởi chư Phật thương chúng sinh chẳng khác nào mẹ hiền thương con đỏ. Nếu bạn làm lợi ích cho bất cứ chúng sinh nào, người mẹ từ bi chắc chắn sẽ hoan hỷ mỉm cười.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ý nghĩa cúng dường theo truyền thống Kim Cương Thừa</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thông thường bạn có thể nhận thấy khi nghe giảng Phật Pháp, mỗi bậc Thầy có thể giảng theo cách riêng của các Ngài – tùy theo giáo lý thuộc Nguyên thủy, Đại thừa hay Kim Cương thừa. Chỉ riêng trong Kim Cương thừa cũng có rất nhiều truyền thừa khác nhau. Đôi khi bạn thấy lúng túng, cũng có nhiều người nói với tôi rằng họ cảm thấy băn khoăn khi trở thành Phật tử. Trong Kim Cương thừa có quá nhiều con đường, nhiều pháp thực hành… khiến họ không biết phải chọn pháp thực hành nào. Giá như mọi thứ đơn giản hơn. Xét từ một góc độ nhất định thì họ nói đúng. Thoạt đầu bạn có thể thấy hơi phức tạp. Đức Phật Thích Ca đã thuyết giảng 84000 pháp môn khác nhau, bởi vô số người trong chúng ta có những tính cách và trình độ khác nhau. Chẳng hạn như ngày hôm nay tới đây, các bạn mỗi người đều mặc một bộ trang phục khác nhau. Người mặc áo trắng, người mặc comple hoặc đồ thời trang, bởi lẽ mỗi người chúng ta đều có những quan niệm riêng, phong cách và mong muốn riêng. Thế nên nếu có ai đó đưa một cái áo ngắn tay và yêu cầu tất cả mọi người đều phải thích trang phục đó thì chưa chắc mọi người đã nghe theo. Do vậy, nếu Đức Phật chỉ ban cho một pháp môn duy nhất thì có thể sẽ khó thích ứng được với tất cả mọi người. Bởi từ bi nên Ngài đã ban truyền vô số giáo pháp, 84000 pháp môn của Ngài dành cho vô lượng chúng sinh với muôn vàn đặc tính khác nhau.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như vậy nhìn từ một góc độ khác, chúng ta thấy chỉ riêng số pháp môn vô lượng này cũng đã chứng tỏ Đức Phật là bậc Đại từ bi, với lòng từ mênh mông vô lượng Ngài đã chỉ ra vô số con đường. Bất kể lựa chọn đi theo lối nào, bạn cũng đều cần hiểu về Giáp Pháp, cần biết chắt lọc được tinh túy cốt lõi của 84000 pháp môn. Khi hiểu được điều tinh túy của các pháp môn, chúng ta có thể hiểu được trọn vẹn giáo pháp. Và cốt yếu của giáo pháp nằm trọn trong 3 điều: </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">(i) Không nên làm điều bất thiện gây tổn hại tới người khác hoặc chúng sinh, bởi đó chính là nhân dẫn tới đau khổ cho chính mình và chúng sinh. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">(ii) Hãy làm mọi thiện hạnh lợi ích cho người khác vì những nghiệp này sẽ mang lại ích lợi cho chúng ta. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">(iii) Điều thứ ba, vì sao chúng ta lại phạm nghiệp bất thiện ? Vì sao mình nói chuyện mềm mỏng với người này và cáu gắt với người kia. Tất cả đều do tâm. Nếu ta có tâm từ bi, tâm thấu hiểu, tâm cảm thông yêu thương – kết quả là những điều dễ chịu nảy sinh. Từ tâm sân giận, ghét bỏ - những điều bất thiện nảy sinh. Như vậy điều cốt yếu thứ ba là điều phục tâm. Làm việc thiện, từ bỏ việc bất thiện và điều phục  tâm mình chính là gốc, tâm sai sử gọi là Tâm vương. Tâm là chủ, Khẩu và Ý là tớ. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cho dù bạn có đi khắp các đền chùa, dù có thực hành 10.000 khóa lễ cúng dường, thì tinh túy của việc thực hành đó cũng nằm trọn trong ba điểm cốt yếu này. Chẳng hạn hôm nay chúng ta có thể nghe rằng Đức Phật dạy khi thực hành thiện hạnh, chúng ta sẽ được đón nhận phúc báo. Những thiện hạnh có thể dưới bất cứ hình thức nào mang lại lợi ích cho người khác, có thể là cúng dường chư Phật và chư Bồ Tát, với động cơ thiện lành mong nguyện lợi ích cho chúng sinh, hoặc cũng có thể là một thiện hạnh giúp đỡ chúng sinh khác trong cơn nguy cấp. Thiện hạnh cứu trợ chúng sinh không nhất thiết phải sang tận Châu Phi mới làm được. Ví dụ ngay khi tới đây, bạn hòa đồng và tuân theo sự sắp xếp, ngồi ngay ngắn theo hàng, hoặc tiếp đón đạo hữu, tất cả những điều đó đều giúp bạn tích lũy công đức. Bất cứ sự cúng dường nào cũng đều mang lại công đức. Và trên con đường tu tập thực hành, chúng ta cũng có phương tiện tịnh hóa để tiêu trừ nghiệp báo khi mắc phải những nghiệp bất thiện. Vì sao chúng ta phải cúng dường rất nhiều – chẳng hạn như hôm nay có thể không nhiều phẩm vật cúng dường so với những dịp khác, nếu bạn biết chúng ta quán tưởng phẩm vật cúng dường như thế nào chắc hẳn bạn sẽ vô cùng ngạc nhiên. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chúng ta quán tưởng những thiên nữ trong vũ điệu cúng dường. Vô số thiện nam tín nữ cùng phẩm vật như nhà cửa, xe cộ, vô số phẩm vật và nhã nhạc ngân vang, trong Kim Cương thừa chúng ta thường xuyên sử dụng âm nhạc. Vì sao bạn thường cầu nguyện thầm, trí tụng thầm, mọi thứ đều tiến hành trong lặng lẽ, vậy mà các nghi thức lại thường dùng rất nhiều pháp khí âm thanh. Có thể ngày nay bạn nhìn những pháp khí này và cảm thấy xa lạ, song cách đây hàng ngàn năm đây lại là những pháp khí vô cùng quen thuộc, giống như nhạc rock thời nay vậy. Có thể bạn vẫn thắc mắc, cho dù trống và linh có là những thứ quen thuộc trong thời quá khứ, vì sao chúng ta lại cúng dường âm thanh này lên chư Phật? Có hai lý do, song cả hai đều không phải vì chư Phật thích âm nhạc từ những pháp khí này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lý do thứ nhất là sự nhìn nhận theo nhân quả: bất cứ thứ gì chúng ta yêu thích – chẳng hạn nếu chúng ta muốn sức khỏe, bạn cần thực hành bố thí thuốc men, như vậy bạn sẽ gieo nhân mang lại sức khỏe cho chúng sinh. Nếu bạn muốn luôn được nghe những điều tốt đẹp, những âm thanh dễ chịu, những điều êm tai, mọi người không la hét cáu gắt với bạn suốt ngày, bạn muốn Sếp luôn nói nhẹ nhàng với bạn, như vậy hàng ngày chúng ta cần nói những điều dễ chịu, mềm mỏng với những người xung quanh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi thực hành Phật  Pháp – chúng ta cúng dường âm thanh nhã nhạc, đây là nhìn từ góc độ nhân quả. Như tôi đã nhắc ở trên, cốt yếu của Phật Pháp không nằm ngoài 3 điều – tích lũy công đức, đoạn trừ bất thiện nghiệp và điều phục tâm mình. Như vậy nếu nhìn từ góc độ điều phục tâm, chúng ta cúng dường âm nhạc lên chư Phật, giống như bất cứ khi nào cúng dường, chúng ta đều thực hành buông xả. Cho dù bố thí một đô la cho người hành khất, chúng ta cũng cần buông xả. Như vậy trong tâm chúng ta cũng buông xả âm thanh nhã nhạc để cúng dường lên chư Phật. Điều này có ý nghĩa khác biệt như thế nào? Loài người chúng ta thường bám chấp mạnh mẽ vào âm thanh mà không chịu hiểu rằng âm thanh vốn là không. Chẳng hạn khi ai đó nói bạn là người tốt thì lập tức miệng bạn sẽ nở nụ cười rất tươi. Chỉ hai phút sau, nếu có ai đó nói bạn là người xấu, thì ngay lập tức tâm trạng bạn sẽ thay đổi. Thực chất khi có ai nói bạn tốt hay xấu, bạn sẽ không đẹp hơn, xấu hơn, gầy hay béo hơn. Tất cả chỉ là âm thanh. Xét theo khoa học, âm thanh được tạo nên từ sự rung động của các nguyên tử vô cùng nhỏ - trong đó chẳng có gì tốt, xấu, vui buồn. Chính sự bám chấp vào âm thanh khiến chúng ta thấy vui hay buồn. Do vậy khi cúng dường âm nhạc lên chư Phật, chúng ta thực hành đoạn trừ tâm bám chấp vào âm thanh của chúng ta – tức là tâm tạo tác khiến chúng ta phân biệt âm thanh thành hay dở, khen chê, trách móc hay chỉ trích. Mọi trải nghiệm vui buồn của chúng ta cũng vậy, mà chúng ta thường gọi là ngũ trần, khởi nguồn từ ngũ căn của chúng ta. Chúng ta thích những thứ mềm mại, không thích những gì thô cứng. Chúng ta thích những thứ đẹp đẽ, không thích đồ xấu xí. Tương tự như vậy, từ âm thanh, mùi vị, đều bắt nguồn từ ngũ giác của chúng ta. Chúng ta có những thứ mình yêu thích hoặc ham muốn. Vậy nên chúng ta có thể cúng dường lên chư Phật bất cứ thứ gì mà ngũ căn của chúng ta yêu thích. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nói như vậy để bạn hiểu được vì sao chúng ta lại có những thiên nam, thiên nữ trong vũ điệu cúng dường – bởi sự liên hệ với sự bám chấp vào nhãn căn (mắt nhìn). Như vậy chúng ta cúng dường những thứ tốt đẹp – mỹ nam, mỹ nữ, nhà cửa – bất cứ thứ gì mắt chúng nó nhìn thấy và cho là đẹp, đều có thể cúng dường lên chư Phật. Mấu chốt ở đây không phải là chư Phật thích những thứ này, mà đây là những thứ do nghiệp lực khiến chúng ta nảy sinh tham muốn và khởi tâm bám chấp – vì vậy chúng ta cần đoạn trừ tâm bám chấp này. Do đó, chúng ta có thể cúng dường bất cứ thứ gì có thể cuốn hút ngũ căn của chúng ta, như hoa đẹp, quả ngon, quần áo, trang sức – chúng ta cúng dường tất cả những thứ này lên chư Phật bởi chúng làm tăng trưởng tâm tham muốn và bám chấp mạnh mẽ của chúng ta. Mục đích không phải làm hài lòng chư Phật hay không, cho dù bạn có cúng dường một triệu đô la hay chỉ một hòn đá bình thường, đối với Phật đều như nhau. Bạn có phỉ báng hay tán thán chư Phật cả ngày cũng chẳng khác gì nhau, các Ngài sẽ chẳng hề động tâm. Chỉ có chúng ta sẽ gánh lấy nghiệp báo hay tích lũy công đức tùy theo hành động của mình, còn đối với chư Phật sẽ không có bất cứ sự phân biệt nào. Điều quan trọng là sự tác động đối với tâm chúng ta, vì vậy trong Đại Thừa hoặc Kim Cương Thừa, khi chúng ta cúng dường, chẳng hạn hôm nay chúng ta chỉ có vài bông hoa để cúng dường, song chúng ta vẫn quán tưởng toàn vũ trụ ngập tràn những bông hoa tươi đẹp. Chúng ta có thể cúng dường lên chư Phật cả Hong Kong. Cho dù chúng ta không có toàn quyền đối với Hong Kong, song chúng ta vẫn có thể quán tưởng như vậy. Và chúng ta vẫn tích lũy nhiều công đức, bởi tất cả đều bắt nguồn từ tâm chúng ta và giúp chúng ta đoạn trừ bám chấp. Đó chính là cách mọi thứ đang diễn ra.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Đức Nhiếp Chính Vương Gyalwa Dokhampa </b></p>
<p style="text-align: justify;"><em><span style="font-weight: 400;">Nguồn: <a href="https://r.search.yahoo.com/_ylt=AwrKBLKeroJlE.sLtqdrUwx.;_ylu=Y29sbwNzZzMEcG9zAzIEdnRpZAMEc2VjA3Ny/RV=2/RE=1703091998/RO=10/RU=https%3a%2f%2fdaibaothapmandalataythien.org%2fy-nghia-cung-duong-theo-truyen-thong-kim-cuong-thua/RK=2/RS=V3Id3Dr9biyU6rApMUh8VZT2tgE-">Ý nghĩa cúng dàng theo truyền thống Kim Cương Thừa</a></span></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/drukpa-kagyu/y-nghia-cung-duong-theo-kim-cuong-thua/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Pháp khí trong Đạo Phật và sự hộ trợ nhận biết Tâm linh</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/phap-trong-dao-phat-va-su-ho-tro-nhan-biet-tam-linh/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/phap-trong-dao-phat-va-su-ho-tro-nhan-biet-tam-linh/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 10 Oct 2015 15:03:31 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Ningthik]]></category>
		<category><![CDATA[Longchen Ningthik]]></category>
		<category><![CDATA[Nghi lễ]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6125</guid>
		<description><![CDATA[By Tulku Thondup Rinpoche  Buổi nói chuyện về Nghệ Thuật Buổi Tối của Tây Tạng tại Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật Tinh Tế, Boston vào ngày 01 tháng 3 năm 1990.Tôi muốn nói một vài lời về ý nghĩa của nghệ thuật Phật giáo ở Tây Tạng. Như bạn đã biết, trong nghệ thuật Tây Tạng phần lớn những đồ&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/phap-trong-dao-phat-va-su-ho-tro-nhan-biet-tam-linh/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>By Tulku Thondup Rinpoche </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span id="yui_3_16_0_1_1444476784425_6394">Buổi nói chuyện về Nghệ Thuật Buổi Tối của Tây Tạng tại Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật Tinh Tế, Boston vào ngày 01 tháng 3 năm 1990.</span><br clear="none" /><br clear="none" /><span id="yui_3_16_0_1_1444476784425_6391">Tôi muốn nói một vài lời về ý nghĩa của nghệ thuật Phật giáo ở Tây Tạng. Như bạn đã biết, trong nghệ thuật Tây Tạng phần lớn những đồ tạo tác đều tượng trưng cho giáo lý Phật giáo. Người Tây Tạng xem chúng như những đối tượng của tôn kính, suối nguồn gợi cảm hứng và để tạo công đức, mà không như những vật liệu để trang trí trong nhà họ. Với người Tây Tạng, sự linh thiêng của pháp khí tôn giáo là thật thâm sâu, khi tôi còn thiếu niên, thầy tôi thường nói với chúng tôi, “Khi con khảo nghiệm hoặc nhìn vào một hình ảnh, không nên nghĩ hay nói rằng, ‘đây là một hình ảnh đẹp hay xấu,’ mà phải nghĩ hay nói, ‘nghệ sĩ thật khéo léo hay không khéo léo,’ nếu không, bạn đang sắp đặt một đối tượng thiêng liêng như thể nó là một đồ vật bình thường.” Sự tôn kính và sùng mộ của họ đến các biểu tượng tôn giáo không chỉ là một phản ứng văn hóa hay tri thức, mà là một cảm nhận sâu sắc và một diễn tả tự nhiên từ tấm lòng. </span><br clear="none" /><br clear="none" />Khi Phật giáo là trái tim của cuộc sống người Tây Tạng, phần lớn các pháp khí của dân Tây Tạng đều tượng trưng cho giáo lý đạo Phật. Đó là điều tại sao các đồ vật tôn giáo có một vai trò và vị trí vô song trong xã hội Tây Tạng. Do vậy, tôi muốn nói về cách Phật tử sùng đạo ở Tây Tạng sử dụng các đồ vật tôn giáo như những công cụ rèn luyện tâm linh và quan điểm triết học phía sau chúng là gì.. <br clear="none" /><br clear="none" />Trước hết, một cách triết học, điểm quan trọng nhất phải hiểu là những Phật tử Tây Tạng không phải là những người thờ phụng-thần tượng. Chúng ta không thờ cúng những pháp khí tôn giáo với mong đợi sẽ nhận được thành tựu từ một hình tượng bằng đồng, v.v... Mà chúng ta sử dụng chúng như một công cụ hay sự hỗ trợ để tạo ra một cảm hứng đến Giáo Pháp và phát sinh kinh nghiệm đạo đức, như sự sùng kính, an bình, lòng bi, thiền định, và trí tuệ. Nếu đối tượng tôn giáo trở thành một công cụ để phát triển tư duy đạo đức trong tâm chúng ta, thì pháp khí đó chuyển thành một hỗ trợ tâm linh rất hùng mạnh và có lợi cho cuộc sống ta. Tuy nhiên điều đó không do đồ vật mà vì nhận thức tích cực và cảm nhận sùng kính của chúng ta, gợi cảm hứng bằng cái thấy và sống với pháp khí tôn giáo. Do vậy chúng ta sử dụng pháp khí như một chìa khóa, mà suối nguồn ban phước chính yếu nằm trong tâm thức chúng ta. <br clear="none" /><br clear="none" /><span id="yui_3_16_0_1_1444476784425_7263">Thứ hai, liên quan đến chừng mực làm thế nào sử dụng những đồ vật như sự hỗ trợ tâm linh, chúng ta không thấy một pháp khí tôn giáo, như một tượng Phật, chỉ giống như một tác phẩm nghệ thuật. Chúng ta thấy hay thực hành cái thấy nó như một vị Phật sống để phát sinh cảm hứng, sùng kính, và nhận thức thanh tịnh trong chính ta. Chúng ta tỏ lòng tôn kính đến nó để phát sinh khiêm tốn, cúng dường đến nó để phát sinh rộng lượng, thiền định về nó để đem lại thanh bình và yên tĩnh, và chúng ta tiếp nhận ban phước từ nó như thể từ một vị Phật sống, để phát triển kinh nghiệm tâm linh chúng ta. Nhờ đó qua sự hỗ trợ của đồ vật ban phước, chúng ta hoàn thiện hai tích lũy: tích lũy công đức và tích lũy trí tuệ. </span><br clear="none" /><br clear="none" /><span id="yui_3_16_0_1_1444476784425_7260">Chúng ta thấy hình tượng của đức Phật như đức Phật thật sự có tất cả các phẩm tính Phật, như lòng bi cho tất cả chúng sanh, giống như người mẹ cho đứa con duy nhất trí tuệ biết tất cả những gì xảy ra và nhu cầu của chúng sanh xảy ra cùng lúc, cũng như chân lý tối hậu, và năng lực an định đau khổ của thế gian và đáp ứng mọi mong ước của chúng ta. <br clear="none" /></span><br clear="none" />Ngoài ra, mỗi chi tiết của pháp khí đều có ý nghĩa vô song của riêng nó. Mỗi chi tiết biểu tượng nhiều khía cạnh khác nhau của phẩm tính Phật và giảng dạy ý nghĩa của Giáo Pháp. Như một ví dụ, hãy xem xét một thangka của Avalokiteshvara, đức Phật của Lòng Bi, và tôi sẽ giải thích ý nghĩa của các chi tiết.<br clear="none" /><br clear="none" />Nước da trắng như pha lê của Ngài biểu thị Ngài thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi cảm xúc và tri thức bất tịnh. <br clear="none" />Ngài ngồi vững chãi trong tư thế hoa sen biểu thị Ngài an trụ trong bản tánh tối hậu bất biến. <br clear="none" />Vẻ ngoài tươi trẻ biểu thị Ngài vượt lên đau khổ của tuổi tác và suy hoại. <br clear="none" />Đôi mắt yêu thương giống như hươu không chớp của Ngài biểu thị Ngài đang luôn quan sát tất cả chúng sanh chưa từng ngưng nghỉ để đáp ứng nhu cầu của họ.<br clear="none" />Khuôn mặt thanh bình luôn mỉm cười biểu thị Ngài hưởng thụ thanh thản và hoan hỷ tối thượng mà sự đau khổ không biết. <br clear="none" /><br clear="none" />Năm lễ phục bằng lụa và tám trang sức châu ngọc của Sambhogakaya (Báo Thân) biểu thị Ngài trong thân tướng Sambhogakaya, thân vi tế của hai sắc thân Phật. <br clear="none" />Hai bàn tay chắp lại nơi ngực biểu thị Ngài đã hợp nhất hay viên mãn luân hồi và niết bàn như một trong bản tánh tối hậu. <br clear="none" />Viên ngọc như ý trong hai tay đầu tiên của Ngài biểu thị phương tiện thiện xảo của Ngài, đáp ứng mong ước của tất cả chúng sanh. <br clear="none" />Hoa sen trắng trong tay trái Ngài biểu thị trí tuệ của Ngài, vô nhiễm với bất cứ tri thức và cảm xúc nhiễm ô nào, ngay cả nếu hiện thân của Ngài xuất hiện trong nhiều cõi khác nhau, giống như một hoa sen thì thanh tịnh ngay cả dù nó tăng trưởng trong bùn. Cũng biểu tượng rằng Ngài thuộc về gia đình hoa sen (Liên Hoa Bộ) thuộc ngũ bộ Phật. <br clear="none" />Chuỗi pha lê trong tay phải Ngài biểu thị hoạt động Phật liên tục phục vụ chúng sanh như lần chuỗi không kết thúc. <br clear="none" /><br clear="none" />Nếu được rèn luyện trong cái thấy và tập trung trên biểu thị công đức của đồ vật tâm linh, bạn sẽ đi suốt các giai đoạn khác nhau của sự hiểu rõ giá trị tâm linh. Trước tiên, các kinh nghiệm tâm linh bất cứ những gì bạn đã có hay đang có, sẽ được kích thích chỉ bằng việc thấy hay sống trong sự hiện diện của đồ vật tâm linh. Sau đó, sẽ đến lúc không cần dựa vào biểu tượng tôn giáo, và mọi hình tướng của pháp giới sẽ trở thành suối nguồn của giáo lý, cảm hứng, sức mạnh, và kinh nghiệm tâm linh. <br clear="none" /><br clear="none" /><span id="yui_3_16_0_1_1444476784425_7289">Ở Tây Tạng, những pháp khí tôn giáo phong phú nhất được bảo tồn trong các điện thờ của tu viện, với sự cúng dường công phu và lễ hội, cầu nguyện liên tục. Ngoài ra, trong hầu hết làng mạc, bạn sẽ thấy một đền thờ đầy những hình ảnh và kinh điển, phục vụ như những đối tượng sùng kính và cầu nguyện cho dân địa phương. Kế đó, trong mỗi nhà, nếu có phương tiện, người ta dành riêng một phòng để làm điện thờ, đầy dẫy những biểu tượng tôn giáo. Và thậm chí trong nhà của những gia đình nghèo nhất, họ nỗ lực tối đa và mơ ước sẽ có một bàn thờ nhỏ với một số biểu tượng tôn giáo và tối thiểu cũng sắp xếp một số chén nước và đèn bơ như một cúng dường trước bàn thờ, như họ luyện tập tâm linh trong sự rộng lượng, sùng kính, và thiền định. <br clear="none" /></span><br clear="none" /><span id="yui_3_16_0_1_1444476784425_7291">Qua sự hỗ trợ của các đồ vật tinh thần, nếu kinh nghiệm tâm linh về an bình và giác ngộ sinh khởi trong chúng ta, thì bất cứ sống ở đâu, chung quanh chúng ta sẽ trở thành một đền thờ tâm linh đẹp đẽ và hạnh phúc.</span></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong>Tulku Thondup Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dich: Đại Nguyệt</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Biên soạn: Harold Talbort </em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: Trích từ tác phẩm Hành trình giác ngộ</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nhà xuất bản Tôn giáo</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/phap-trong-dao-phat-va-su-ho-tro-nhan-biet-tam-linh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ý nghĩa lễ quán đảnh</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/y-nghia-le-quan-danh/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/y-nghia-le-quan-danh/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 18 Sep 2015 05:28:48 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Drukpa Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Drukpa]]></category>
		<category><![CDATA[Nghi lễ]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5646</guid>
		<description><![CDATA[Nhiếp Chính Vương Khamtrul Rinpoche Jigme Pema Nyinjadh đời thứ IX khai thị Một đặc trưng của Phật Giáo Kim Cương Thừa là nghi thức bắt buộc tham dự việc phát nguyện, phụng sự và thực hành nghi quĩ (tiếng Phạn là sadhana) theo một đức bổn tôn hay một vị bồ tát nào đó. Đó là nghi thức mà&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/y-nghia-le-quan-danh/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<div align="center"><strong><i>Nhiếp Chính Vương Khamtrul Rinpoche Jigme Pema Nyinjadh đời thứ IX khai thị</i></strong></div>
<div align="center"></div>
<div align="center"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/9.jpg"><img class="alignnone  wp-image-5647" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/9-300x199.jpg" alt="9" width="497" height="330" /></a></div>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;">Một đặc trưng của Phật Giáo Kim Cương Thừa là nghi thức bắt buộc tham dự việc phát nguyện, phụng sự và thực hành nghi quĩ (tiếng Phạn là sadhana) theo một đức bổn tôn hay một vị bồ tát nào đó. Đó là nghi thức mà một bậc thày tu chứng thành tựu một pháp môn nào đấy trao truyền trực tiếp cho các đệ tử pháp môn đó, bao gồm mô tả, giảng nghĩa, quán tưởng và thứ lớp tu tập cùng với các nghi lễ cúng dường và thần chú tương ứng. Mặc dù vậy, quán đỉnh còn mang ý nghĩa nhiều hơn những gì cấu thành nên nó; nó là sự trao truyền nguồn ân phúc và năng lực gia trì của cả một dòng truyền thừa.</p>
<p style="text-align: justify;">Quán đỉnh ban sự gia trì và trao quyền thể nhập thực hành một nghi quỹ tantra. Quán đỉnh có thể ngắn hoặc dài, đơn giản hay phức tạp. Quán đỉnh thường bao gồm (1) wang (tiếng Phạn là Abisheka) tức là phần quán đỉnh thánh hoá người đệ tử thành vị hoá thần bản tôn, (2) lung tức là phần khẩu truyền - tụng đọc một bài kinh văn (đôi khi có thể là tụng bản cô đọng hoặc tụng nhanh đầy đủ cả bài kinh), và (3) tri là những phần giảng dạy hướng dẫn cách tu tập thực hành. Trong những trường hợp đặc biệt, chỉ cần một nghi lễ rút gọn kết nối người đệ tử với nghi quỹ thực hành đi kèm cùng trì tụng thần chú liên quan là đủ.<br />
Như theo lời dạy của một bậc Kim Cương Thượng Sư:</p>
<p style="text-align: justify;">"Hầu hết các pháp tu trì tụng thần chú và quán tưởng của tantrayana hay Kim Cương Thừa đòi hỏi hành giả phải được thụ nhận quán đỉnh, được trao quyền và được hướng đạo từ một bậc thầy phẩm hạnh trước khi bắt đầu tu tập thực hành một nghi quỹ hay sadhana nào đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy nhiên, một số pháp tu do Đức Phật Thích Ca truyền cho đại chúng không phải tuân theo quy định này. Tất cả các pháp môn trong Kinh thừa chắc chắn đều đã chứa đầy ân đức gia trì của Đức Phật rồi nên bất kỳ ai mong muốn đều có thể thực hành theo, trong đó bao gồm cả các pháp tu của Đức Bồ Tát Quan Âm (Chenrezig) và của Phật Mẫu Tara Xanh (Lục Độ Mẫu). Đương nhiên, mặc dù vậy bạn luôn được khuyến khích thụ quán đỉnh Kim Cương Thừa của Quan Âm và Lục Độ Mẫu bất kể khi nào có cơ duyên. Mặc dù pháp môn mà tôi đang nói đến ở đây có thể được tu tập thụ trì ngay lập tức nhờ phúc đức gia trì của Đức Thế Tôn. Khi bạn được thụ nhận quán đỉnh Quan Âm, sự tu tập và năng lực kết nối bạn với căn bản thượng sư (tsaway lama) của mình và Bản Tôn Quan Âm càng được tăng trưởng hơn.”<br />
Lễ quán đỉnh truyền pháp đầy đủ trong Đạo Phật thường được chia làm bốn phần:</p>
<p style="text-align: justify;">1. quán đỉnh bình.<br />
2. quán đỉnh bí mật.<br />
3. quán đỉnh trí tuệ.<br />
4. quán đỉnh khẩu, âm, ngữ hay quán đỉnh ‘như thị’</p>
<p style="text-align: justify;">Quán đỉnh thứ tư mặc dù được gọi là ‘Ngữ quán đỉnh’ nhưng không bao giờ được trình bày bằng ‘ngôn từ’. Đôi khi một biểu tượng nào đó được dùng để minh hoạ cho thể tính trong sáng quang minh của tâm.<br />
Chuyển hoá Độc tố thành Cam lồ<br />
(Kinh)<br />
Bốn quán đỉnh giai đoạn thành thục giống như nguồn suối cam lồ<br />
Tịnh hóa bốn ám chướng và gieo trồng hạt giống tứ thân,<br />
Là căn bản của con đường tu trì thần chú.<br />
Đây là lời huấn thị tâm yếu của ta.<br />
(Luận)</p>
<p style="text-align: justify;">Khi ta tìm được một bậc đạo sư phạm hạnh và trì giữ tam muội gia giới (samaya), khi đó ta có thể thụ nhận giáo pháp Kim Cương Thừa. Nếu hỏi về sự khác biệt giữa kinh thừa và mật thừa thì xin trả lời đó chính là nghi thức quán đỉnh, tiếng Phạn nghĩa là abhisheka. Bất kỳ pháp tu nào đòi hỏi phải được thụ nhận quán đỉnh thì chúng ta gọi đó là pháp tu theo Kim Cương Thừa. Nếu pháp tu nào không đòi hỏi phải thụ nhận quán đỉnh thì pháp tu đó thuộc về hệ thống kinh thừa.</p>
<p style="text-align: justify;">Lý do cần phải có quán đỉnh</p>
<p style="text-align: justify;">Tâm thức phàm phu của chúng ta không được thành thục và chín muồi. Vì thế, nó cần phải được thuần thục bằng quán đỉnh. Theo tiếng Tạng, cam lồ có nghĩa là dutsi được dùng để chỉ một chất liệu có thể chuyển hóa các độc tố thành cam lồ. Nó còn được gọi là thứ mật ngọt thanh tịnh hay nước cam lồ vô ưu. Cho nên sự liên hệ này nhắc đến phẩm chất của sự chuyển hóa giống như trong thuật luyện kim vậy</p>
<p style="text-align: justify;">Trong thuật luyện kim, các hợp kim được chuyển hóa thành vàng. Tâm thức của chúng ta giống như hợp kim được chuyển hóa thành vàng nhờ vào lễ truyền pháp quán đỉnh. Trong khi dòng suối cam lồ được quán đỉnh ban phúc lên chúng ta trong buổi lễ, chúng ta thiền định và quán tưởng mình chuyển hóa, thể nhập và an trụ trong trạng thái của Bản tôn hóa thần, nhờ đó tịnh hóa hết thảy ám chướng và tà niệm. Chúng ta hiển lộ tâm tính của mình đồng như tâm của Bản tôn hóa thần không khác. Toàn bộ sắc thân của chúng ta được chuyển hóa thành mandala của bản tôn.</p>
<p style="text-align: justify;">Thông qua bốn quán đỉnh, chúng ta tịnh hóa bốn ám chướng. Nhờ tịnh hóa bốn ám chướng, chúng ta gieo trồng hạt giống thành tựu tứ thân trong tương lai. Các thứ lớp này là những yếu tố căn bản của tantra, gốc rễ của hệ thống Kim Cương Thừa. Nếu chúng ta không đón nhận lễ truyền pháp quán đỉnh này, chúng ta không có quyền thực hành tu tập Kim Cương Thừa. Vì thế chúng ta cần phải biết trân quý cơ hội hy hữu khi được đón nhận quán đỉnh<br />
Bốn quán đỉnh đó là:<br />
• quán đỉnh bình,<br />
• quán đỉnh bí mật,<br />
• quán đỉnh trí tuệ<br />
• quán đỉnh thứ tư.</p>
<p style="text-align: justify;">Bốn ám chướng gồm:<br />
• thân,<br />
• khẩu,<br />
• ý,<br />
• khí vi tế.</p>
<p style="text-align: justify;">Bốn thân gồm:<br />
• Hóa Thân,<br />
• Báo Thân,<br />
• Pháp Thân,<br />
• Thể tínhthân Svabhavikakaya.</p>
<p style="text-align: justify;">Thông qua thiền định về quán đỉnh đầu tiên, tức là bình quán, chúng ta tịnh hóa các ám chướng của thân. Hiện giờ chúng ta thấy bản thân mình chỉ là một phàm phu thường tình bằng xương, bằng máu vốn là nguồn gốc của phiền não khổ đau. Nếu như chúng ta thấy rõ được điều này trong lễ truyền pháp quán đỉnh, chúng ta có thể hiển lộ được thân phàm phu của mình thành thân giác ngộ. Nói cách khác, chúng ta chuyển hóa bản thân mình thành bản tôn hóa thần. Bằng cách thể nhập vào trạng thái của hóa thần, chúng ta gieo trồng hạt giống thành tựu Hóa Thân Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong phần quán đỉnh thứ hai gọi là mật quán, chúng ta tịnh hóa những ám chướng gây ra bởi khẩu nghiệp. Tất cả những khẩu nghiệp bất thiện và những lời vô nghĩa không biết dừng nghỉ của chúng ta được chuyển hóa thành khẩu giác ngộ của Đức Phật. Bằng cách tịnh hóa các ác nghiệp ám chướng thuộc về khẩu, chúng ta gieo trồng hạt giống thành tựu Báo Thân Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhờ quán đỉnh thứ ba tức là quán đỉnh trí tuệ, chúng ta tịnh hóa tất các ác nghiệp ám chướng thuộc về ý. Tất cả si mê ám chướng (Trần sa hoặc) của chúng ta được chuyển hóa thành bản chất trí tuệ và tự tính tâm của chúng ta hiển lộ vô biên không giới hạn. Bằng cách tịnh hóa ý nghiệp, chúng ta gieo trồng hạt giống thành tựu Pháp Thân Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Quán đỉnh thứ tư đôi khi còn được gọi là quán đỉnh ngữ tôn quý, song thông thường được gọi là quán đỉnh ‘thứ tư’. Nhờ được thụ nhận quán đỉnh thứ tư này, chúng ta tịnh hóa các ám chướng vi tế ( vô minh hoặc) để thành tựu quả vị giác ngộ. Những ám chướng vi tế của phân biệt nhị nguyên được chuyển hóa thành sự tỉnh thức nguyên thủy – trí tuệ bản lai. Bằng cách tịnh hóa các ám chướng vi tế, chúng ta gieo trồng hạt giống thành tựu Thể tính thân siêu việt Svabhavikakaya<br />
Bốn quán đỉnh này thường tương ứng với bốn thứ lớp tantra tối thượng như tantra Hỷ Kim Cương Hevajra (Kyedorje), Thắng Lạc Kim Cương Chakrasamvara (Demchog), Kim Cương Phật Mẫu Vajrayogini (Dorje Naljorma)</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Thụ nhận Năng lực</b></p>
<p style="text-align: justify;">"Thực sự sẽ rất thâm sâu và nhiệm màu nếu hành giả có thể bắt đầu con đường hành trì Kim Cương Thừa dựa trên sự hiểu biết minh xác về mật đạo tantra. Một số đạo sư Tây Tạng trong quá khứ từng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của các giáo pháp Kim Cương Thừa bằng sự biểu trưng của linh kim cương và chử kim cương. Người Tây Tạng cho rằng nếu hành giả biết sử dụng những pháp khí này đồng thời hiểu được tầm quan trọng của pháp khí này và hiểu biết đầy đủ về đạo lộ Kim Cương Thừa thì khi rung linh, nó sẽ mang ý nghĩa và sự biểu đạt thâm sâu vi diệu. Nếu không, việc rung chuông đơn thuần thực sự không chứa đựng một chút ý nghĩa nào. Ai cũng có thể thấy được là chuông đeo ở cổ bò có thể kêu rất to.”</p>
<p style="text-align: justify;">Quán đỉnh mới chỉ là sự khởi đầu nhập môn. Để được lợi ích dài lâu, tiếp theo sau đó phải là sự tu tập hành trì đúng cách dưới sự hướng đạo của Kim cương thượng sư giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Các pháp tu tantra được phân chia theo hệ thống thứ lớp trong đó quán đỉnh là một yếu tố quan trọng không thể thiếu, vì vậy một lễ truyền pháp quán đỉnh – hay wang có thể thuộc về bất kỳ một tantra nào. (Số lượng và loại tantra phụ thuộc vào hệ phái Phật Giáo cụ thể). Những quán đỉnh phổ biến nhất là của những hóa thần bản tôn như Quan Âm Tứ Thủ, Lục Độ Mẫu và A Di Đà (Chenrezi, Green Tara, Amitabha).<br />
Bất kỳ giáo pháp nào liên quan đến quán đỉnh đều đòi hỏi đi kèm với phát nguyện thực hành tu tập.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Những yêu cầu để được thụ quán đỉnh</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Phát tâm</b></p>
<p style="text-align: justify;">(1) phát tâm nguyện thụ nhận ân đức gia trì<br />
(2) phát tâm thực hành những giáo pháp tương ứng trong tương lai<br />
(3) phát tâm tức thời thực hành giáo pháp được truyền thụ</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Nhân duyên điều kiện</b></p>
<p style="text-align: justify;">Để lễ truyền pháp quán đỉnh hiệu nghiệm, cần hội đủ ba nhân duyên điều kiện sau:</p>
<p style="text-align: justify;">1. Động cơ của người thày phải thanh tịnh dựa trên cơ sở tình yêu thương và lòng bi mẫn. Người thày cũng phải đã từng đón nhận lễ truyền pháp quán đỉnh và bản thân có kinh nghiệm tu chứng.<br />
2. Người đệ tử phải có tín tâm không chút nghi báng về sự hợp thức của buổi lễ và phẩm hạnh của đạo sư. Người thày phải được hiểu là hiện thân của Đức Phật và bậc đạo sư của chính ngài. Những phẩm chất cá nhân thường nhật của người thày không quan trọng bằng vai trò là kim cương thượng sư của ngài.<br />
3. Những pháp khí biểu tượng trong buổi lễ như tranh ảnh, hình tượng, bình quán đỉnh [bumpa], và những phẩm vật cúng dường được chuẩn bị đầy đủ</p>
<p style="text-align: justify;">Một pháp tu là chân thực khi nó hội tụ đầy đủ các phương diện sau của sự truyền pháp:<br />
1. bắt nguồn từ một dòng truyền thừa không gián đoạn<br />
2. sự truyền pháp bao gồm nghi lễ quán đỉnh<br />
3. khẩu truyền phần kinh văn của nghi quĩ<br />
4. giảng nghĩa kinh văn và các hình ảnh biểu tượng<br />
5. truyền trao năng lượng tâm linh vốn là đặc trưng và hiện hữu sẵn có trong các bản tôn/pháp tu.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Nghi thức</b></p>
<p style="text-align: justify;">Để tham gia quán đỉnh truyền pháp, bạn phải hoàn tất lễ Quy y. Cũng có lúc, lễ Quy y được tiến hành ngay trước buổi truyền pháp để những người sơ tâm có thể tham gia. Đây là trường hợp thường thấy ở các nước phương Tây do các đạo sư Kim Cương Thừa không đến thăm được nhiều và thường xuyên.<br />
Một lễ quán đỉnh wang bao gồm nhiều nghi lễ thánh hóa/tịnh hóa. Đại lễ quán đỉnh chính có thể bao gồm bốn phần truyền pháp, gia trì hoặc thánh hóa, một số nghi lễ này lại chia ra thành nhiều nghi lễ nhỏ hơn nữa.</p>
<p style="text-align: justify;">Một nghi lễ Quán đỉnh wang nhỏ thường gồm ba phần tịnh hóa Thân, Khẩu, Ý –ba cửa ngõ tạo nghiệp (karma) của mỗi chúng sinh. Thực chất, xét ở bình diện tuyệt đối, Thân, Khẩu, Ý vốn dĩ vẫn thanh tịnh, chỉ có điều chúng ta chưa nhận ra được điều đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Về bản chất, mục đích của tu tập mật thừa là tịnh hóa mọi tạo tác của Thân, Khẩu, Ý bằng cách tiêu trừ những nhiễm ô phiền não bất tịnh của thân tâm (kelshas) để những hành động của chúng ta trở nên giống như những thiện hạnh của chư Phật. Như lời Pháp Vương Karmapa Urgyen Trinley đã khai thị: Hạnh phúc đạt được khi ta hợp nhất động cơ và hành động.</p>
<p style="text-align: justify;">Thụ nhận quán đỉnh cũng giống như việc gieo một hạt giống trong tâm thức; sau này, khi hội đủ nhân duyên, hạt giống đó sẽ nảy mầm thành Giác ngộ. Vì vậy mà, khi một Đại lễ Quán đỉnh được tuyên bố, thì thường đi kèm với ‘Yêu cầu Quy y’ là ‘phát nguyện trì giữ’</p>
<p style="text-align: justify;">Lễ Tịnh hóa Thân giúp thanh lọc những uế trược về thân để chúng ta có thể quán tưởng bản thân mình thành vị hóa thần bản tôn. Chẳng hạn như, bất luận già hay trẻ, nam hay nữ, chúng ta đều là Quán Thế Âm Bồ Tát với một mặt, bốn tay, cầm tràng hạt và ngọc như ý, v.v...<br />
Lễ Tịnh hóa Khẩu giúp thanh lọc khẩu nghiệp và cho phép chúng ta trì tụng câu thần chú tương ứng.</p>
<p style="text-align: justify;">Lễ Tịnh hóa Ý giúp ta thực chứng sự bất nhị của tâm mình và tâm của bản tôn, từ đó siêu việt được năng – sở đối đãi nhị nguyên thường ngày.</p>
<p style="text-align: justify;">Cả ba nghi lễ trên đây ban năng lực cho phép ta hành trì một pháp tu thiền định nào đó mà theo đấy (bên cạnh những yếu tố khác nữa) ta được phép quán tưởng tự thân là hóa thần bản tôn, trì tụng thần chú, xua tan những vọng tưởng phân biệt giữa hành giả và đức bản tôn. Hình thức tu tập này giúp chúng ta liễu ngộ bản tâm của mình với tâm của chư Phật không khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Do các phần quán tưởng diễn ra trong đại lễ quán đỉnh chính khá dài và phức tạp, nên người ta có thể chuẩn bị những tờ chú thích và giảng nghĩa. Một số người có thể mang theo giấy bút để ghi lại.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu lễ quán đỉnh wang còn bao gồm Bình Quán thì sẽ cần có các bình quán đỉnh trang trí bằng lông khổng tước. Nước ở trong bình sẽ được Kim Cương Thượng Sư tịnh hóa trước khi diễn ra lễ quán đỉnh. Trong lúc tiến hành nghi lễ, bình nước sẽ được đặt lên đầu các Phật tử (họ thường xếp thành hàng và từng người một tiến lên để nhận sự gia trì từ Kim Cương Thượng Sư) và có thể được ban một chút nước cam lồ từ bình nước thiêng. (Ngài sẽ đổ nước cam lồ vào lòng bàn tay bạn đang chụm lại, sau đó bạn sẽ hớp nước từ lòng bàn tay, và xoa lên đầu mình chỗ nước còn sót lại)</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Chuẩn bị cho lễ quán đỉnh</b></p>
<p style="text-align: justify;">Bạn cần chuẩn bị kỹ lưỡng như thể đang chuẩn bị được thụ nhận lễ quán đỉnh từ chính Đức Phật Thế Tôn vậy bởi vì bạn đang thực sự đón nhận sự truyền thừa và dòng ân phúc gia trì từ đức phật truyền không gián đoạn đến các bậc truyền thừa tổ sư cho đến bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong nghi thức chuẩn bị trước khi tiến hành buổi lễ quán đỉnh, đức thượng sư sẽ quán tưởng ngài là một hoá thần bản tôn. Trong suốt buổi lễ quán đỉnh, bạn cần tôn kính xem đức thượng sư bất khả phân với hoá thần đó và quán tưởng ngài trong pháp tướng của bản tôn. Buổi lễ sẽ đắc pháp thành tựu hơn nếu bạn có thể xây dựng được một niềm tin không lay chuyển rằng mình đang thụ nhận quán đỉnh từ một vị hoá thần.</p>
<p style="text-align: justify;">Chẳng hạn như, nếu bạn đang thụ quán đỉnh Quan Âm thì bạn cần không ngừng quán tưởng đức Kim Cương Thượng Sư trong pháp tướng của Bồ Tát Quan Thế Âm và tin tưởng rằng chính Đức Bồ Tát Quan Thế Âm đang trao truyền quán đỉnh cho bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước khi gia nhập đàn tràng quán đỉnh, bạn cần cởi bỏ giày dép và xúc miệng bằng nước sạch. (Thông thường sẽ có những người phụ giúp rót nước và cầm ống nhổ để bạn xúc miệng.)</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu đức kim cương thượng sư đã an toạ, bạn cần hướng về ngài đỉnh lễ ba lần. Trước mỗi lần đỉnh lễ, bạn nhẹ nhàng chắp hai bàn tay khum khum lại với nhau và chạm vào trán, cổ họng và ngực. Nếu vì lý do sức khoẻ hay những lý do khác không thể đỉnh lễ dài, thì bạn có thể hướng về đức thượng sư cúi thấp mình ba lần.</p>
<p style="text-align: justify;">Tốt nhất là bạn có thể ngồi thế liên hoa hai chân bắt chéo nhau, nhưng nếu vì lý do thân thể không thể an toạnhư vậy được thì cũng có thể ngồi trên ghế hoặc bệ. Nếu khi ngồi bắt chéo chân khiến chân và lưng bạn đau mỏi thì hãy nhẹ nhàng thay đổi tư thế. Bạn không nên nằm trên sàn hay ngồi duỗi chân chĩa về phía thượng sư.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước khi lễ quán đỉnh bắt đầu, vị thị giả của ngài thông thường sẽ đưa cho bạn một nhúm gạo và bạn cần giữ nhúm gạo đó trong tay. Nhúm gạo đó được dùng để cúng dường mandala diễn ra ngay sau khi lễ quán đỉnh bắt đầu.</p>
<p style="text-align: justify;">Luôn có ít nhất hai lần cúng dường mandala trong một buổi lễ quán đỉnh (lúc bắt đầu và lúc kết thúc), vì vậy bạn có thể để lại một ít gạo bên cạnh mình (hoặc bỏ vào túi) dành cho phần cúng dường mandala vào cuối buổi lễ.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong khi chờ lễ quán đỉnh bắt đầu, thay vì ngó nghiêng xung quanh, bạn nên suy ngẫm về lý do tại sao bạn có mặt tại đàn tràng. Khai phát tâm bồ đề như sau là vô cùng trọng yếu: chúng hữu tình chịu nhiều ưu phiền khổnão bất như ý gây ra bởi si mê và dục vọng. Cho dù có thể nhận thức được hiện thực khổ đau mang tính phổ quát này song bạn không thể làm được gì nhiều vì cũng như tất cả mọi chúng sinh khác, bạn đã bị buộc ràng vào nó quá lâu rồi. Chỉ bằng cách thành tựu từ bi, trí tuệ và dũng lực của chư Phật mới có thể tự cứu chính mình và chúng sinh khỏi khổ đau, như vậy là vì lợi ích của hết thảy hữu tình mà bạn nguyện thụ nhận quán đỉnh này. (Đây cũng chính là nội dung của Tứ đế và Bồ Đề nguyện của Đại Thừa)</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Phần mở đầu</b></p>
<p style="text-align: justify;">Lễ Quán đỉnh thường được bắt đầu bằng lễ phát nguyện Quy y và một số bài cầu nguyện tán tụng mở đầu. Tiếp đến là lễ cúng dường mandala lên kim cương thượng sư tôn quí (guru), bạn cần quán tưởng ngài là vị hóa thần bản tôn, vi nhiễu vây quanh ngài là chư Phật và chư vị Bồ Tát.</p>
<p style="text-align: justify;">Vị tăng thị giả cho ngài có thể làm mẫu cho bạn noi theo, thường là đỉnh lễ ba lần đồng thời đổ đầy gạo lên chiếc đĩa mandala bằng bạc. Trong lúc này, đại chúng tham dự kiết ấn cúng dường mandala (trong đó hai ngón tay áp út được đặt đối nhau hướng thẳng lên, biểu tượng cho trục của vũ trụ theo quan niệm của người Ấn Độ cổ đại về vũ trụ học), tuy nhiên nó không phải là điều căn bản. Hãy quán tưởng rằng bằng cách không chỉ cúng dường một chút gạo như vậy, bạn thực sự đang cúng dường toàn bộ vũ trụ trong đó có hàng triệu triệu thế giới chứa đầy những phẩm vật cúng dường cát tường. Theo đó chính là bạn đang cúng dường toàn bộ những phẩm vật đó lên đức Kim Cương Thượng Sư, người truyền trao pháp quán đỉnh cho bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi vị thị giả tụng xong bài kệ cúng dường mandala và tung gạo vào không trung thì bạn cũng làm tương tự bằng cách chuyển động bàn tay xuất phát từ nơi trái tim hướng ra phía ngoài để phát tán những hạt gạo – cử chỉ này tượng trưng cho tâm chí thành của hành động cúng dường này.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó, Kim Cương Thượng Sư sẽ trì tụng một số lời cầu nguyện triệu thỉnh bằng tiếng Tạng. Bạn cố gắng nhắc lại theo ngài từng câu càng nhiều càng tốt. Để biểu hiện tín tâm sùng kính hiến dâng, đại chúng thường chắp hai tay trước ngực trong lúc khẩu truyền,cầu nguyện.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong phần mở đầu hay chuẩn bị này, chúng ta trì tụng Bảy Lời Cầu Nguyện:<br />
1. Chúng con nguyện sám hối tất cả mọi tội lỗi đã gây ra từ vô thủy<br />
2. Chúng con hoan hỷ tùy hỷ tất cả công đức của chư Phật, chư Bồ tát và hết thảy hữu tình<br />
3. Chúng con phát nguyện Bồ đề tâm Tuyệt đối – thực chứng Chân lý cứu kính hay còn gọi là Chân Không<br />
4. Chúng con nguyện Quy y Phật – Pháp – Tăng cho đến khi thành tựu Giác ngộ<br />
5. Chúng con nguyện trưởng dưỡng Bồ đề tâm Tương đối – mong cầu thành tựu Đại Giác ngộ vì lợi ích giải thoát hết thảy chúng hữu tình khỏi luân hồi<br />
6. Với mục đích này chúng con nguyện tinh tấn tu hành đạt tới Giác ngộ giải thoát<br />
7. Chúng con nguyện hồi hướng toàn bộ công đức này tới toàn bộ chúng hữu tình để được bình an và giải thoát</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Lịch sử, nguồn gốc</b></p>
<p style="text-align: justify;">Thông thường, Kim Cương Thượng Sư sẽ giải thích về nguồn gốc của mật chú tantra, tức là về việc tantra đó được đưa vào thực hành tu tập như thế nào và có quan hệ gì đến dòng truyền thừa của ngài.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Giải thích quán đỉnh</b></p>
<p style="text-align: justify;">Trong suốt đại lễ quán đỉnh, nhiều phần quán tưởng và nghi lễ khác nhau được thực hiện. Có thể đức Kim Cương Thượng Sư sẽ giới thiệu về các đề mục này ngay từ đầu, hoặc giải thích vào thời điểm thích hợp sau đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Quán tưởng trong phần chính của nghi lễ quán đỉnh wang phức tạp hơn quán tưởng trong nghi lễ chuẩn bị. Chẳng hạn, trong phần chính bạn có thể phải quán tưởng về các vị bản tôn xuất hiện trên không trung, hay từ tim của Kim Cương Thượng Sư, và những chủng tử tự bằng tiếng Tạng hiện ra ở những vị trí nhất định trên thân ngài hay ngay trên thân bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Bạn có thể được yêu cầu quán tưởng những luồng ánh sáng với màu sắc khác nhau từ tim ngài phóng ra tỏa chiếu lên bạn cùng vô số chúng hữu tình, thanh lọc mọi phiền trược nhiễm ô.</p>
<p style="text-align: justify;">Đôi khi, theo yêu cầu của Kim Cương Thượng Sư, bạn có thể phải quán tưởng về chính tự thân mình trong pháp tướng của những bản tôn. Nghi lễ Tịnh Hóa Thân này được thực hiện khi vị thị giả dâng hương.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong phần Tịnh Hóa Khẩu, thông thường bạn sẽ phải quán tưởng thần chú của vị hóa thần bản tôn (viết bằng tiếng Tạng) đi từ tim của Kim Cương Thượng Sư thể nhập vào tim bạn. Lúc này, ngài sẽ trì thần chú và bạn nhắc theo ba lần.<br />
Trong nghi lễ Tịnh Hóa Ý, bạn quán tưởng trong tâm chủng tử tự của vị bản tôn và bằng cách chú tâm vào chủng tử tự này – tức là tinh yếu của đức bản tôn - bạn cố gắng liễu ngộ tâm mình và tâm của Thượng Sư hay đức bản tôn hóa thần là bất khả phân.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Phần kết thúc quán đỉnh</b></p>
<p style="text-align: justify;">Đại lễ Quán đỉnh kết thúc với nhiều bài tán tụng cầu nguyện và lễ cúng dường mandala cuối cùng để bày tỏ lòng tri ân tới Kim Cương Thượng Sư vì đã trao truyền quán đỉnh (wang). Trong phần kết thúc quán đỉnh này, các đệ tử xếp thành hàng một đi nhiễu qua nơi tòa của Kim Cương Thượng Sư để thụ nhận gia trì, chẳng hạn ngài sẽ đặt chày kim cương hay bình quán đỉnh lên đỉnh đầu đệ tử, hoặc đôi khi để chiêm bái một hình ảnh nào đó.<br />
Nếu mandala của vị bản tôn đã được kiến lập (dành cho những đại lễ quán đỉnh), bạn nên chiêm bái và đỉnh lễ đức bản tôn hóa thần ở trung tâm của mandala để đón nhận gia trì và thành tựu pháp.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Drukpa Việt Nam</p>
<p></b></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/y-nghia-le-quan-danh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Dẫn nhập vào Nghệ thuật Mật giáo</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/dan-nhap-vao-nghe-thuat-mat-giao/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/dan-nhap-vao-nghe-thuat-mat-giao/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 15 Sep 2015 08:50:56 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Drukpa Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Drukpa]]></category>
		<category><![CDATA[Nghi lễ]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5317</guid>
		<description><![CDATA[Pháp Vương Gyalwang Drukpa Nghệ  thuật Mật giáo – một truyền thống tiêu biểu của nghệ thuật Phật giáo - là một nghệ thuật siêu việt bởi đó là nghệ thuật của các thứ lớp chứng ngộ và hướng đến sự giác ngộ. Khi nói đến nghệ thuật Mật giáo, xin quý độc giả đừng hiểu quá đơn giản rằng&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/dan-nhap-vao-nghe-thuat-mat-giao/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/anh-dance_renamed_4307_thumb_medium460_0.jpg"><img class="wp-image-5319 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/anh-dance_renamed_4307_thumb_medium460_0-221x300.jpg" alt="anh dance_renamed_4307_thumb_medium460_0" width="319" height="433" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: center;"><strong>Pháp Vương Gyalwang Drukpa</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Nghệ  thuật Mật giáo – một truyền thống tiêu biểu của nghệ thuật Phật giáo - là một nghệ thuật siêu việt bởi đó là nghệ thuật của các thứ lớp chứng ngộ và hướng đến sự giác ngộ. Khi nói đến nghệ thuật Mật giáo, xin quý độc giả đừng hiểu quá đơn giản rằng nghệ thuật này chỉ nhằm mô tả những biểu tượng hay giáo lý Đạo Phật như vòng luân hồi, cảnh giới Niết Bàn hay tiểu sử cuộc đời Đức Phật và chư Bồ Tát. Nghệ thuật Mật giáo thực sự là thế giới của sự chuyển hóa bên trong và bên ngoài. Do Phật giáo là một triết lý vũ trụ nên ngoài sự miêu tả CÁI ĐẸP bằng các hình thái biểu hiện nghệ thuật khác nhau, nghệ thuật Mật giáo còn thể hiện nhân sinh quan, triết lý sâu sắc, các pháp tu tập và các phương tiện độ thế của Đạo Phật. Điều đó mang tới những điểm khác biệt đầy ý nghĩa của loại hình nghệ thuật này so với các loại hình nghệ thuật thế gian. Đây cũng là điều mà người viết, với thiển kiến của mình, xin mạo muội chia sẻ qua đôi lời dẫn nhập, với hy vọng tạo cảm hứng giúp quý vị độc giả bước vào tìm hiểu thế giới thiêng liêng, huyền ảo, sâu sắc và tràn đầy đạo vị giác ngộ của truyền thống nghệ thuật này.</p>
<p style="text-align: justify;">Có rất nhiều trường phái nghệ thuật thế gian, tuy nhiên người nghệ sỹ thông thường của thế gian không có mục tiêu tối thượng là dẫn đến giác ngộ. Một cách chung nhất, họ chỉ cảm thụ được những thăng trầm cảm xúc đang diễn ra trong tâm hồn mình. Quá trình sáng tác của người nghệ sỹ thông thường dựa vào sự thăng hoa cảm xúc trong thế giới của vọng tưởng nhị nguyên được người nghệ sỹ diễn đạt ra bên ngoài thông qua tài năng nghệ thuật. Tuy nhiên, người nghệ sỹ thế gian mới chỉ đạt đến việc cảm nhận được cảm xúc mà chưa trải nghiệm thực sự được toàn bộ bản thể của cảm xúc (đó là Tự tính Tâm). Họ cũng không có những phương pháp rốt ráo để chuyển hóa cảm xúc. Những động cơ sáng tác thế gian cũng rất đa dạng: “vị nhân sinh” hay “vị nghệ thuật”, vì một lý tưởng cao đẹp hay chỉ thỏa mãn cái Tôi, vì các mục đích thế gian như tiền tài, danh tiếng, giao thiệp, quyền lực hoặc thậm chí sáng tác một cách vô định. Điều đáng nói là những động cơ đó và những cảm xúc yêu, ghét, mừng, giận hoặc bất kỳ loại cảm xúc nào khác đều có bản chất vô thường sinh diệt. Khi tâm hết thăng hoa, người nghệ sỹ thế gian lại thường rơi vào những bế tắc vì không tìm thấy cảm xúc sáng tạo. Do không kết nối được với sức mạnh sáng tạo, với suối nguồn từ bi trí tuệ và Phật tính bên trong, nên người nghệ sỹ thế gian không những chưa sử dụng được hết tiềm năng sáng tạo vô hạn của mình, mà còn thường cảm thấy hạn chế trong việc biểu hiện cảm xúc của bản thân và cô lập với thế giới bên ngoài.</p>
<p style="text-align: justify;">Nghệ  thuật Mật giáo bắt nguồn từ trí tuệ tự  tính tâm, đó là sự chuyển hóa giác ngộ của thế giới bên trong và bên ngoài. Bên trong là những đức hạnh từ, bi, hỷ, xả, vô ngã, vị tha cho đến khi từ bỏ thân ngũ uẩn, vượt qua trạng thái trung ấm, hóa thân chuyển thế và tiếp tục công hạnh vì lợi ích chúng sinh. Bên ngoài là kho tàng nghệ thuật cao siêu thâm diệu chứa đựng toàn bộ tinh túy ý nghĩa của kinh điển thông qua hệ thống các tranh tượng, hội họa, điêu khắc, âm nhạc, và các đồ thờ. Nghệ sỹ Mật giáo kết nối với chúng sinh thông qua lòng từ bi và trí tuệ thanh tịnh bên trong, và biểu lộ phẩm tính và năng lượng thanh tịnh của tâm giác ngộ bên trong ra bên ngoài thông qua các tác phẩm. Giống như người bắn cung thiện xảo cần hợp nhất cả con mắt ngắm, mũi tên và mục tiêu, người nghệ sĩ Mật giáo phải hợp nhất trọn vẹn trí tuệ diệu quan sát, phương pháp thù thắng tu tập cùng phương tiện thiện xảo lợi ich chúng sinh và mục đích tối thượng giác ngộ chúng sinh trong quá trình sáng tác.</p>
<p style="text-align: justify;">    <img class=" aligncenter" src="/wp-content/uploads/anh dieu khac_thumb_medium460_0.jpg" alt="alt" />Nghệ thuật Mật giáo là nghệ thuật bắt nguồn từ tâm nguyện từ bi. Các phương tiện hành trì của Mật thừa là những mối tương quan giữa các nguyên lý tâm thức, các thứ lớp trí tuệ, hình vẽ, cử chỉ mật ấn, màu sắc biểu tượng và các vị trí không gian hòa hợp trên 4 chiều của thực tại có đủ sức tác động trên bốn bình diện vật chất, tâm lý, tình cảm, tinh thần, và cũng là sự song hành giữa Tiểu vũ trụ và Đại vũ trụ, giữa tâm thức và thiên nhiên, giữa nghi lễ và thực tế, giữa vật chất và tinh thần. Tất cả sự biểu đạt này đều không dựa trên suy nghĩ võ đoán hoặc cảm xúc ngẫu hứng vô thường mà là những trải nghiệm giác ngộ qua vô số thế hệ. Như vậy, các hành giả Mật thừa vẫn tiến mãi về mục đích sáng tạo mà không lạc trong sa mạc của ly tán và vọng tưởng.</p>
<p style="text-align: justify;">   Nghệ  thuật Mật giáo được biểu hiện qua các phương tiện tượng trưng cho Thân, Ngữ, Ý giác ngộ như:</p>
<p style="text-align: justify;">+ Thân: qua các hình ảnh và tượng Phật, Bản Tôn.</p>
<p style="text-align: justify;">+ Ngữ: qua Giáo lý, Thi ca, Tán tụng, Âm nhạc và Chân ngôn</p>
<p style="text-align: justify;">+ Ý: qua những Vũ điệu Kim Cương Thừa. Hành giả Mật giáo trong Vũ điệu Kim Cương Thừa tự thân hợp nhất với Bản tôn, tâm trụ trong tâm của Bản tôn, khẩu tương ứng với chân ngôn của Bản tôn. Đó là tam mật tương ứng. Với Tâm hài hòa thanh tịnh trí tuệ, nghệ sĩ kết nối với suối nguồn của tâm trí tuệ Bát Nhã nên nghệ thuật được họ thể hiện một cách tự nhiên trong đời sống để phụng sự chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">   <img class=" aligncenter" src="/wp-content/uploads/dsc00105_thumb_medium460_0.jpg" alt="alt" /><br />
Trí tuệ thế gian thông thường chưa thể giúp trải nghiệm đầy đủ nghệ thuật Mật giáo! Nhằm đạt được trải nghiệm chân thật về nghệ thuật Mật giáo, chúng ta cần hạnh ngộ bậc Thượng sư giác ngộ để trở thành nghệ sỹ làm chủ số phận chính mình, để dũng cảm chuyển hóa thế giới cảm xúc bên trong, vượt qua sợ hãi, khổ đau và tín ngưỡng, chuyển hóa thành sức mạnh của lòng bi mẫn, sự sáng tạo và tri kiến thanh tịnh. Chứng ngộ được toàn thể vũ trụ chính là sự phóng chiếu của mỗi chúng sinh và cũng là sự thấu hiểu rằng CHÚNG TA sáng tạo mọi hình ảnh và màu sắc của mọi hiện hữu. Những biểu tượng giải thích trong ấn phẩm này chỉ là minh họa cho hành trình giác ngộ của mỗi cá nhân. Nguyện rằng những giải thích bằng hình ảnh, biểu trưng này sẽ dẫn dắt tất cả mọi người nhìn thẳng vào chính nội tâm mình, nơi thực tại chân lý được dung chứa và biểu lộ trong tâm pháp giới bao la của mỗi chúng sinh!</p>
<p style="text-align: justify;">Mạnh Xuân, Thăng Long - Hà Nội, Phật Lịch 2554<br />
Cẩn Bút</p>
<p style="text-align: justify;">Vô  Úy</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>(trích phần "Dẫn nhập"  tác phẩm "Nghệ thuật Mật giáo", Drukpa Việt Nam, Nhà Xuất bản Mỹ Thuật, Nhà sách Nhã Nam liên kết phát hành tháng 3 năm 2010. Các trích đoạn nội dung khác của cuốn sách này sẽ được lần lượt giới thiệu với Quý vị trong những bài viết sau)</em></p>
<p style="text-align: justify;">http://www.drukpavietnam.org/index.php/thu-vien/kinh-sach/443-ngh-thut-mt-giao</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/dan-nhap-vao-nghe-thuat-mat-giao/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ý nghĩa Bổn tôn trong nghệ thuật Kim Cương Thừa</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/y-nghia-bon-ton-trong-nghe-thuat-kim-cuong-thua/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/y-nghia-bon-ton-trong-nghe-thuat-kim-cuong-thua/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 10 Sep 2015 20:38:55 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Nghi lễ]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5016</guid>
		<description><![CDATA[Nghệ thuật Mật giáo là cánh cửa trở về tự tính tâm. Những bức hoạ trong thế giới nghệ thuật huyền diệu này bắt nguồn từ trí tuệ bản lai của truyền thống Phật giáo qua nhiều thế kỷ, những bức họa này diễn tả sự nội chứng tâm linh sâu kín nhất của loài người. Đồng thời, hoàn toàn&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/y-nghia-bon-ton-trong-nghe-thuat-kim-cuong-thua/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;" align="justify">Nghệ thuật Mật giáo là cánh cửa trở về tự tính tâm. Những bức hoạ trong thế giới nghệ thuật huyền diệu này bắt nguồn từ trí tuệ bản lai của truyền thống Phật giáo qua nhiều thế kỷ, những bức họa này diễn tả sự nội chứng tâm linh sâu kín nhất của loài người. Đồng thời, hoàn toàn siêu vượt ra ngoài phạm vi xuất xứ của chúng. Những bức họa này là sự biểu đạt nguyên sơ về linh kiến giải thoát, phản chiếu tiềm năng sâu kín nhất nơi mỗi người: Đó chính là sự giải thoát giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;" align="justify">Trong đạo Phật có một thuật ngữ riêng để chỉ cảnh giới tịnh độ của chư Bồ tát hiền hoà cũng như các chư tôn phẫn nộ này, đó là Báo thân Sambhogakaya (có nghĩa là “hiện thân của đại hỉ lạc”). Chiêm ngưỡng và thiền quán về những bức họa linh thiêng và những hình ảnh chư tôn phẫn nộ này sẽ giúp chúng ta viên mãn trong cuộc sống cũng như trong giai đoạn chuyển tiếp sau khi chết. Khi mà những trạng thái của ý thức của con người tồn tại được thể hiện qua hình ảnh chư tôn, ngay lập tức trở thành biểu tượng của giai đoạn chuyển tiếp mà người Tây Tạng gọi là Bardo (có nghĩa là trạng thái trung gian). Chính trong giai đoạn này, thần thức sẽ chuyển tiếp trước khi thay đổi hoàn toàn sang một thể thức khác, một con người khác, ở một nơi khác và tại một thời điểm khác.</p>
<p style="text-align: justify;" align="justify">Các Bồ Tát và chư tôn được thờ phụng trong đạo Phật hoàn toàn không tách rời với cuộc sống và những kinh nghiệm hàng ngày của con người, mà đó chính là sự phản ánh các trạng thái ý thức khác nhau. Đức Phật, các Tara và chư Bồ tát hiền hoà khác tượng trưng cho các trạng thái ý thức siêu việt, trong khi đó chư tôn phẫn nộ biểu trưng cho những khuynh huớng bên trong như: Thù hằn, đố kị, tham lam và tội lỗi. Khi chúng ta không biết đến những năng lượng tiềm ẩn hay còn gọi là phần tối trong con người mình thì chúng sẽ bộc lộ một cách bệnh hoạn. Nhưng khi chúng ta chủ động nhìn nhận chúng một cách có ý thức thì chúng ta sẽ dễ dàng chấp nhận và bao dung hơn với chính bản thân mình cũng như với người khác. Đó cũng là lúc chúng ta có thể chuyển hóa những năng lượng tiềm ẩn bên trong con người mình thành năng lực sáng tạo. Tương tự như vậy, chư bản tôn hỷ lạc mà chúng ta thường thấy trong tư thế song vận đại lạc tướng thường nêu biểu cho sự chuyển hoá năng lượng của sự đam mê thành sức mạnh tỉnh thức tinh thần. Nói cách khác, đây là sự kết hợp hài hoà giữa năng lượng dương tính và năng lượng âm tính, nhân tố cốt lõi tạo thành vũ trụ và thế giới. Mục đích tối thượng của cuộc hành trình tâm linh sẽ đưa chúng ta đến đại hỷ lạc được miêu tả trong những biểu tượng mang tính tâm linh.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/y-nghia-bon-ton-trong-nghe-thuat-kim-cuong-thua/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Giải thích Kiến lập Mandala</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/giai-thich-kien-lap-mandala/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/giai-thich-kien-lap-mandala/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 10 Sep 2015 20:32:39 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Nghi lễ]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5014</guid>
		<description><![CDATA[Ý tưởng Mandala khởi nguồn rất lâu trước lịch sử của Mandala. Ở mức độ sớm nhất của tôn giáo Ấn Độ thậm chí cả tôn giáo Ấn - Âu và Tây Á, trong kinh Vệ Đà và nền văn học có liên quan, Mandala là một thuật ngữ đế chỉ một chương, một tuyển tập thần chú, hoặc là&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/giai-thich-kien-lap-mandala/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Ý tưởng Mandala khởi nguồn rất lâu trước lịch sử của Mandala. Ở mức độ sớm nhất của tôn giáo Ấn Độ thậm chí cả tôn giáo Ấn - Âu và Tây Á, trong kinh Vệ Đà và nền văn học có liên quan, Mandala là một thuật ngữ đế chỉ một chương, một tuyển tập thần chú, hoặc là những bài tán tụng trong những nghi lễ Vệ Đà, có lẽ xuất phát từ tâm điểm của hình tròn như là tâm điểm trong những bài hát. Người ta đã tin rằng vũ trụ khởi nguồn từ những bài thánh ca, âm thanh thiêng liêng trong đó chứa đựng những mô hình căn nguyên của chúng sinh và vạn vật.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế có một ý nghĩa rõ ràng về mandala là kiểu mẫu của vũ trụ. Bản thân từ mandala xuất phát từ gốc “manda” có ý nghĩa là tinh túy và hậu tố “la” sau này được thêm vào nghĩa là “chứa đựng”. Từ đó mandala được giải thích rõ ràng là chứa đựng sự tinh túy. Hình ảnh mandala biểu trưng cho thân và tâm của đức Phật. Trong đạo Phật bí truyền, nguyên lý về mandala là sự hiển diện của đức Phật trong mình nhưng không nhất thiết có sự hiểu diện của những hóa thần. Những hóa thần có thể được biểu trưng là một bánh xe, cây cối hoặc một đồ trang sức hay bất kỳ hiện thân mang tính tượng trưng khác.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Sáng tạo một Mandala</strong>: Sự bắt đầu của một mandala lấy trung tâm là một dấu chấm. Nó là một biểu tượng rõ ràng về sự vô hạn. Nó có nghĩa là chủng tử - một hạt giống, là điểm bắt đầu quan trọng nhất. Tâm điểm này thu hút tất cả năng lượng vũ trụ bên ngoài, và trong vai trò là lực hút, năng lượng của người tín tâm được khai mở và cũng được hút vào trong đó. Vì vậy, mandala là biểu trưng của tất cả không gian vũ trụ bên ngoài và bên trong. Mục đích là loại bỏ sự ngăn cách giữa vật thể và chủ thể. Trong quá trình này, mandala được coi là một bản tôn hóa thần.Trong việc kiến lập mandala, một đường thẳng sẽ xuất hiện từ tâm điểm và những đường thẳng khác sẽ được vẽ cho đến khi chúng giao nhau tạo ra những hình tam giác. Vòng tròn được vẽ xung quanh biểu trưng cho ý thức đầy xung lực khởi đầu. Hình vuông bên ngoài biểu trưng cho thế giới vật chất hướng ra bốn phương, được biểu trưng bởi bốn cổng, khu vực trung tâm là nơi an trụ của bản tôn hóa thần. Trung tâm mandal được coi là sự tinh túy, và đường tròn là sự bảo trì. Bởi vậy, một bức tranh Mandala hoàn chỉnh có nghĩa là bảo trì sự tinh túy.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kiến lập Mandala</strong>: Trước khi một vị tăng được phép đảm nhận công việc kiến lập mandala, vị sư đó phải trải qua một thời gian dài được đào tạo kỹ năng về nghệ thuật và khả năng ghi nhớ, học cách vẽ tất cả các loại biểu tượng khác nhau và nghiên cứu những tư tưởng triết học có liên quan. Ví dụ, tại tự viện Namgyal thì thời gian này kéo dài đến ba năm. Ở những giai đoạn đầu tiên, những vị tăng phải ngồi ở phần ngoài của chiếc Mandala cơ bản chưa được phủ sơn, phải luôn hướng mặt vào trung tâm Mandala. Đối với những Mandala cỡ lớn, khi những vị sư vẽ được một nửa, họ phải đứng trên sàn nhà và cúi người xuống để rắc màu. Theo truyền thống thì một Mandala được phân chia thành bốn phần bằng nhau và mỗi vị sư chịu trách nhiệm một phần. Tại nơi những vị tăng đứng để rắc màu, một người phụ việc sẽ nối bốn phần lại với nhau. Những người phụ việc này làm việc mang tính hợp tác sẽ giúp bốn vị sư rắc màu vào bốn phần trong khi bốn vị sư phác những chi tiết khác. Những vị sư sẽ nhớ lại tất cả những chi tiết của một mandala giống như phần trong chương trình đào tạo tại tự viện của họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Một điều rất quan trọng phải nhớ là một mandala hoàn toàn dựa chính xác vào kinh điển. Khi kết thúc mỗi phần công việc, chư tăng hồi hướng bất cứ công đức tâm linh hoặc nghệ thuật được tích lũy được từ công việc này vì lợi ích của hết thảy hữu tình.Sự thực hành này được thực hiện trong tất cả những tác phẩm nghệ thuật tâm linh. Một lý do chính chư tăng tập trung cực kỳ cao độ vào công việc bởi họ thực sự đang truyền đạt giáo lý của đức Phật. Mandala chứa đựng những lời giáo huấn của đức Phật để chứng đại giải thoát giác ngộ, động cơ thanh tịnh và sự hoàn hảo trong tác phẩm của họ tạo duyên cho những người chiêm ngưỡng được lợi ích cao nhất.</p>
<p style="text-align: justify;">Mỗi chi tiết trong 4 phần Mandala đều hướng mặt về trung tâm, vì thế mỗi chi tiết đó đều hướng mặt về nơi Bản Tôn an trụ trong Mandala. Sự phối cảnh của Chư Tăng và những người chiêm ngưỡng đứng xung quanh Mandala thì những chi tiết ở phần gần nhất với người chiêm ngưỡng dường như bị đảo ngược, trong khi đó những chi tiết trong phần xa nhất thì đúng chiều. Nói chung, mỗi vị Tăng chịu trách nhiệm phần của mình trong khi sơn rắc các phần cung điện vuông. Khi sơn những đường tròn đồng tâm, thì họ phải lần lượt chuyển động xung quanh Mandala. Họ đợi cho toàn bộ giai đoạn hoàn thành trước khi cùng nhau di chuyển ra ngoài. Điều này đảm bảo cho sự cân bằng được duy trì và cả bốn phần của Mandala đều được hoàn tất cùng một lúc. Việc chuẩn bị để kiến lập một Mandala là sự nỗ lực về nghệ thuật nhưng đồng thời nó cũng là một hành động đầy tôn kính. Trong sự tôn kính này, những tư tưởng và sắc tướng được kiến lập, trong đó những trực giác sâu sắc nhất sẽ được biểu đạt là nghệ thuật tâm linh.</p>
<p style="text-align: justify;">Việc kiến lập Mandala thường được thiền định là một chuỗi trải nghiệm không gian mà tinh túy của nó có trước sự tồn tại, điều này có nghĩa là tư tưởng có trước sắc tướng. Ở dạng phổ biến nhất, Mandala chính là hàng loạt vòng tròn đồng tâm. Mỗi Mandala đều có một Bản Tôn hóa thần riêng an trụ trong cấu trúc hình vuông được đặt đồng tâm bên trong những vòng tròn này. Hình vuông hoàn hảo của Mandala chỉ ra rằng không gian tuyệt đối của trí tuệ vốn không si ám. Cấu trúc hình vuông này có 4 cổng được vẽ rất tỷ mỷ biểu trưng cho sự hội tụ của Tứ Vô Lượng Tâm (Từ, Bi, Hỷ, Xả). Mỗi chiếc cổng được trang hoàng bằng những chiếc chuông, tràng hoa và các chi tiết trang trí khác. Hình vuông này xác định kiến trúc của Mandala được miêu tả là một cung điện hoặc một ngôi chùa có bốn mặt: Là một cung điện bởi vì nó là nơi an trụ của các Bản Tôn chính trong Mandala, còn là một ngôi chùa bởi chứa đựng tinh túy của Đức Phật, hàng loạt những đường tròn bao quanh cung điện trung tâm theo một cấu trúc mang tính biểu tượng mạnh mẽ. Bắt đầu với những vòng tròn bên ngoài, bạn sẽ nhận thấy một vành lửa, thường được mô tả là một hình trang trí có đường cuộn độc đáo. Vành lửa biểu trưng cho quá trình chuyển hóa mà những phàm tình chúng sinh phải trải qua trước khi nhập vào miền Tịnh Độ linh thiêng bên trong. Kế đến là một vòng Quyền Trượng Kim Cương, chỉ ra sự không thể phá hủy và kim cương giống như sự huy hoàng rực rỡ của các cảnh giới tâm linh của mandala.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong đường tròn đồng tâm kế tiếp, đặc biệt là những mandala đặc trưng của những Bản Tôn phẫn nộ, bạn có thể nhìn thấy tám nghĩa địa được sắp xếp trên một băng rộng. Tám nghĩa địa này biểu trưng cho tám yếu tố của thức loài người trói buộc họ vào thế giới hiện tượng và vòng sinh tử. Sau cùng, tại trung tâm của mandala là tọa vị của Bản Tôn, nhìn vào trung tâm Bản Tôn của mandala thì sẽ biết được thuộc mandala nào. Người ta cho rằng mandala có được quyền lực này là do chính Bản Tôn trong mandala. Một cách chung nhất là Bản Tôn trung tâm có thể là một trong ba loại dưới đây: <strong>Bản Tôn Hiền Hòa.</strong> Một Bản Tôn hiền hòa biểu trưng cho sự tiếp cận tâm linh và tồn tại đặc biệt riêng của mình. Ví dụ, một hình ảnh Bồ Tát hay (Quán Thế Âm Bồ Tát) biểu trưng cho lòng từ là trọng tâm của trải nghiệm tâm linh; Bồ Tát Văn Thù thì lấy trí tuệ làm trọng tâm và Đức Kim Cương Thủ lại nhấn mạnh tới lòng dũng cảm và trí lực để tìm cầu trí tuệ thiêng liêng. <strong>Bản Tôn phẫn nộ</strong>. Những Bản Tôn phẫn nộ biểu trưng sự đấu tranh mạnh mẽ để vượt qua sự xa lánh ghét bỏ trong mỗi người. Bản Tôn là hiện thân của tất cả phiền não bên trong làm đen tối những tư tưởng, lời nói và hành động của chúng ta và ngăn cản chúng ta đạt đến mục đích của đạo Phật là sự toàn giác. Theo truyền thống thì những Bản Tôn phẫn nộ được hiểu là những khía cạnh của nguyên lý Từ Bi, chỉ đáng sợ đối với những người thấy họ như những thế lực bên ngoài. Khi nhận ra được những khía cạnh của tự thân và được thuần dưỡng với sự thực hành tâm linh thì họ nhận ra pháp tướng bên ngoài của các vị hóa thần này rất thanh tịnh và từ bi.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Biểu tượng màu sắc của Mandala: </strong>Nếu hình thể là cốt yếu của mandala thì màu sắc cũng như vậy. Bốn phần của cung điện mandala được phân chia điển hình theo những hình tam giác cân của màu sắc, bao gồm bốn phần của 5 màu: Màu trắng, vàng, đỏ, xanh lục, xanh sẫm. Mỗi màu này đều có liên quan tới một trong năm đức Phật siêu việt, thêm nữa chúng cũng có liên quan tới năm ảo tưởng của bản chất con người. Những ảo tưởng này che chướng bản chất chân thật của chúng ta, nhưng thông qua việc thực hành tâm linh, chúng có thể chuyển hóa thành năm trí tuệ tương ứng với năm đức Phật siêu việt, cụ thể là: <strong>Màu trắng – Vairocana (Đức Tỳ Lư Giá Na Phật)</strong>: Ảo tưởng của vô minh trở thành Pháp giới thể tính trí.<strong> Màu vàng - Ratnasambhava (Bảo sinh Phật)</strong>: Ảo tưởng của ngã mạn chuyển thành Bình đẳng tính trí. <strong>Màu đỏ - Đức Adi đà: </strong>Si mê của chấp thủ trở thành diệu quan sát trí. <strong>Màu xanh lục - (Bất Không thành tựu Phật):</strong> Si mê đố kỵ trở thành Thành sở tác trí. <strong>Màu xanh sẫm - (Đức Asuc Bệ):</strong> Si mê của sân giận trở thành Đại viên kính trí.</p>
<p style="text-align: justify;">Mandala là phẩm vật cúng dường thiêng liêng. Bên cạnh việc trang trí và làm cho những ngôi chùa, và nơi ở trở nên thiêng liêng, đời sống sinh hoạt của người Tây Tạng, theo truyền thống mandala được cúng dường tới các bậc Thầy khi thỉnh cầu các bậc Thầy truyền trao giáo Pháp hay quán đỉnh - họ dùng mandala để biểu trưng cho toàn bộ vũ trụ, bày tỏ lòng tri ân cao nhất đối với giáo pháp tôn quý. <em>Một lần trong khung cảnh hoang sơ của Ấn Độ, Đại Thành Tựu Giả Tilopa đã yêu cầu Naropa cúng dường mandala. Lúc bấy giờ ở đó không có sẵn chất liệu để kiến lập một mandala nên Naropa đã đi tiểu vào cát và tạo thành một mandala bằng cát ướt để làm phẩm vật cúng dường lên bậc Thầy của mình. Trong một dịp khác, Đức Naropa đã dùng máu, đầu và các chi của mình để tạo một mandala cúng dường. Bậc Thầy của Ngài đã hoan hỷ</em> .</p>
<p style="text-align: justify;">Kết luận sự quán tưởng và cụ thể hóa khái niệm mandala là một trong những đóng góp có ý nghĩa nhất của Đạo Phật đối với tâm lý học tôn giáo. Mandala được coi là nơi linh thiêng, bằng chính sự hiển diện của mandala trên thế giới này đã nhắc nhở người chiêm ngưỡng về nội tại của tính thiêng liêng trong vũ trụ và tiềm năng của nó trong bản thân mỗi người Trong Đạo Phật mục đích của mandala là chấm dứt sự đau khổ của con người, để thành tựu giác ngộ, để đạt được chính kiến về Thực Tại. Mandala là một phương tiện để khám phá ra phẩm chất siêu việt thông qua sự chứng ngộ Mandala nơi tự tâm của mỗi người.</p>
<p>http://www.drukpavietnam.org/index.php/giao-phap-thuc-hanh/giai-thich-thuat-ngu/196-gii-thich-kin-lp-mandala</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/giai-thich-kien-lap-mandala/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ý nghĩa của vũ điệu Kim Cương Thừa</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/y-nghia-cua-vu-dieu-kim-cuong-thua/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/y-nghia-cua-vu-dieu-kim-cuong-thua/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 10 Sep 2015 20:23:56 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Nghi lễ]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5011</guid>
		<description><![CDATA[Các vũ điệu Kim Cương Thừa Tây Tạng mang nhiều ý nghĩa biểu tượng. Ví dụ, khi một vũ công đeo mặt nạ đầu hươu dùng thanh gươm cắt đứt một hình nộm thì đó không phải là một hành động tàn ác, mà để tượng trưng cho sự diệt trừ bản ngã bằng lưỡi gươm đại trí tuệ. Những&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/y-nghia-cua-vu-dieu-kim-cuong-thua/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<div>
<p style="text-align: justify;" align="justify"><em>Các vũ điệu Kim Cương Thừa Tây Tạng mang nhiều ý nghĩa biểu tượng. Ví dụ, khi một vũ công đeo mặt nạ đầu hươu dùng thanh gươm cắt đứt một hình nộm thì đó không phải là một hành động tàn ác, mà để tượng trưng cho sự diệt trừ bản ngã bằng lưỡi gươm đại trí tuệ. Những vũ công mang mặt nạ chạy rượt đuổi nhau trong cảnh náo loạn ồn ào không phải để diễn tả cảnh truy đuổi ma quỷ mà tượng trưng cho nguồn năng lượng bên trong cơ thể không ngừng khuấy động tâm thức của chúng ta. Màn múa lặng lẽ yên bình tiếp theo sau đó tượng trưng cho sự an tĩnh nội tại có được khi vắng bặt mọi vọng niệm. Tuy nhiên, chỉ một vài yếu tố mang tính tượng trưng như thế này không đủ để nêu biểu được hết ý nghĩa thâm sâu mà các vũ điệu Mật thừa chứa đựng trong cảnh giới thiền định rộng lớn vô biên về ‘linh ảnh’, bản tâm nguyên thuỷ thanh tịnh của vạn pháp vô vi và hữu vi.</em></p>
</div>
<p style="text-align: justify;" align="justify"><em>Vũ điệu Mật thừa là sự phản chiếu của tâm giác ngộ. (Lochen Dharmashri)</em></p>
<p style="text-align: justify;">Đạo Phật ra đời ở Ấn Độ vào thế kỷ thứ VI trước Công Nguyên, khi Thái tử Siddharta thành tựu đại trí tuệ và trở thành Đức Phật Thế Tôn Shakya Muni. Từ năm ba mươi tuổi đến tận lúc thể nhập niết bàn ở tuổi tám mươi, Đức Thế Tôn không ngừng sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh hoá độ vô số đệ tử. Giáo pháp của Ngài vô cùng phong phú và ở nhiều mức độ khác nhau để khế hợp với căn tính của chúng sinh vô lượng.</p>
<p style="text-align: justify;">Đối với một số đệ tử xuất chúng, Đức Phật hoá thân thành những bản tôn như Kalachakra (Thời Luân Kim Cương) và Guhyasamaj để giúp họ tấn tốc thành tựu trên con đường tu tập Phật đạo sử dụng những kỹ thuật thiền định thiện xảo. Khi ấy, Đức Phật còn hóa hiện thành những Bản tôn mang hình tướng phẫn nộ tượng trưng cho năng lực vô ngại của tâm đại từ đại bi. Những bản tôn đó nhảy múa theo hàng nghìn giai điệu oai nghiêm khác nhau, diễn tả vô số những hoạt động lợi tha của các ngài. Đây là nguồn gốc ra đời các vũ điệu Mật thừa thiêng liêng ở Ấn Độ. Chúng thường được phô diễn trong những buổi đại lễ cúng dường <em>ganachakra</em>. Trong những dịp như thế, những vũ công thường nhảy múa một cách tự nhiên, tự do không bó buộc, không ngần ngại hay ức chế. Theo thời gian, các vũ điệu được hệ thống hoá: chúng được truyền dạy lại cho những người tài năng xuất chúng và được cắt nghĩa chú giải. Sự truyền thừa không gián đoạn từ thầy xuống đệ tử đồng thời được các kinh nghiệm thực chứng của các đại thiền sư làm cho phong phú hơn đã bảo lưu gìn giữ được pháp môn này.</p>
<p style="text-align: justify;">Mãi đến thế kỷ thứ V sau CN, Đạo Phật mới được truyền vào Tây Tạng khi vua Lhatori Nyentsen lần đầu tiên truyền bá bộ kinh Phật. Sau đó, phải đến thời vua Songtsen Gampo và Trisong Detsen (742-787) thì Đạo Phật mới thực sự hoằng truyền khắp đất nước Tây Tạng. Vua Trisong Detsen đã thỉnh mời Phương Trượng người Ấn Độ Shantarakshita tới kiến lập một ngôi đại tự viện. Ngài Shantarakshita vì không thể chế ngự được các thế lực chống phá Phật Pháp và quỷ thần nên tuyên bố rằng chỉ có Đức Liên Hoa Sinh Padmasambhava mới có thể hàng phục và hoàn thành được sứ mạng này. Đạo sư Mật thừa đầy quyền năng được biết đến với danh hiệu Guru Rinpoche (Đức Đạo Sư Tôn Quý) được người dân Tây Tạng tôn kính như đức Phật thứ hai. Ngài đến từ Uddiyana (hiện nay là thung lũng Swat miền bắc Pakistan). Ngài du hoá tới Ấn Độ, sau đấy là Tây Tạng. Tại đây, ngài kiến thiết nền tảng vững chắc cho sự phát triển của Đạo Phật. Ngài xây dựng và cử hành lễ gia trì cho ngôi tự viện Samye đầu tiên của Tây Tạng. Khi chuẩn bị gia trì cho khu vực tự viện Samye, ngài đã bay lên không trung và hàng phục quỷ thần thổ địa bằng một vũ điệu oai vũ. Chuyện kể rằng khu vực bóng râm của ngài phủ xuống đất đánh dấu ranh giới của ngôi đại tự. Về sau, sự kiện này được tưởng niệm bằng những vũ điệu gắn liền với bản tôn Vajrakilaya (Phổ Ba Kim Cương), một pháp tu vẫn còn lưu giữ cho đến ngày hôm nay.</p>
<p style="text-align: justify;" align="justify"><strong>Các vũ điệu Mật thừa bắt nguồn từ những linh ảnh</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Những linh ảnh từ đó phát xuất các vũ điệu Mật Thừa thường là sự thực chứng của những đạo sư “khám phá kho tàng” (<em>terton</em>), các ngài được tôn kính là những hoá thân của các đệ tử Liên Hoa Sinh. Sau khi truyền pháp quán đỉnh cho các đệ tử để thiền định về một mandala nào đấy (mandala là sự trình bày mang tính biểu tượng về Pháp giới và những Hoá thần an trú trong đó), và ban dạy tất cả những giáo pháp cần thiết, Đạo Sư Liên Hoa Sinh đã giao phó lại cho các đệ tử những giáo pháp được viết trên những tấm da bằng thứ ngôn ngữ mang tính biểu tượng mà ngài cất giữ trong không trung, mặt đất, khe núi, hồ nước hoặc một biểu tượng linh thiêng nào đó. Rồi ngài thọ ký cho một trong những đệ tử của mình có mặt lúc bấy giờ sẽ trở thành người thừa kế một kho tàng tâm linh thiêng liêng nhất định, đồng thời, huyền ký vào thời gian nào, nơi nào, và trong hoàn cảnh nào thì thân tái sinh của người đệ tử đó sẽ khám phá ra kho tàng giáo pháp (<em>terma</em>) để mang lại lợi lạc cho chúng sinh vào thời đại tương ứng. Những giáo pháp này vô cùng nhiệm màu vì đặc biệt khế hợp với từng thời đại mà chúng xuất hiện.</p>
<p style="text-align: justify;">Một số các kho tàng này chứa đựng những chỉ dạy về các vũ điệu mới. Nổi tiếng nhất là kho tàng giáo pháp do Guru Chowang (1212-1270) khám phá ra. Trong một linh kiến, ngài thấy mình đang cưỡi trên lưng bạch mã chở ngài bay thẳng lên không trung tới ngọn núi màu đồng rực rỡ. Ở đó, ngài gặp tám hoá thân của Đạo Sư Liên Hoa Sinh và thụ nhận giáo pháp về chân tâm. Ngài còn nhìn thấy hải hội Thánh chúng đang nhảy múa trước đức Đạo Sư Liên Hoa Sinh. Sau sự thực chứng này, ngài phát minh ra đại lễ kỷ niệm Liên Hoa Sinh mùng mười tháng giêng hàng năm trình diễn bằng vũ điệu lịch sử truyền pháp của Liên Hoa Sinh vào Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Một số những kinh nghiệm thực chứng ấy diễn ra như những phép màu. Trong tiểu sử của Pháp Vương Gyalwang Drukpa đời thứ I Tsangpa Gyare, một Thánh Tăng sống vào thế kỷ thứ XII, ghi lại:</p>
<p style="text-align: justify;">‘Khi đại hành giả yogi Tsangpa Gyare sắp khai mở cánh cửa tâm linh của vùng thánh địa Tsari ở miền Nam Tây Tạng, ngài đi đến bên hồ rùa ngọc. Quỷ thần bảo vệ hồ nước biến hoá thành một con rùa lớn như trâu yak và chặn đường đi của ngài. Những người cũng đi với ngài ai cũng giật mình kinh sợ song Đức Tsangpa Gyare lập tức nhảy lên lưng con rùa. Ngài hét lên ‘Những kẻ muốn thử sức mình chống lại đệ tử dòng truyền thừa rồng sấm (<em>Drukpa</em>) hãy hiện nguyên hình’ và nhảy múa trên lưng con quái vật. Ngay lập tức, con rùa biến thành viên đá cuội. Đức Tsangpa Gyare dùng tay và chân nghiền nát hòn đá như thể nó làm bằng đất sét và chế ngự mạng sống của ác thần. Ngài giao cho nó sứ mệnh bảo hộ vùng thánh địa và phát thệ nguyện cứu giúp tất cả các hành giả Phật Pháp. Trên phiến đá ấy vẫn còn lưu giữ dấu tay và chân của Đức Tsangpa Gyare cho đến tận ngày nay.’</p>
<p>http://www.drukpavietnam.org/index.php/giao-phap-thuc-hanh/giai-thich-thuat-ngu/198-y-ngha-ca-v-iu-kim-cng-tha</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/y-nghia-cua-vu-dieu-kim-cuong-thua/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Chuỗi hạt trong hành trì Kim Cang Thừa</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/chuoi-hat-trong-hanh-tri-kim-cang-thua/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/chuoi-hat-trong-hanh-tri-kim-cang-thua/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 10 Sep 2015 20:08:30 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Nghi lễ]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5008</guid>
		<description><![CDATA[Đối với người hành trì Mật Tông, chuỗi hạt (mala) là một pháp khí không thể thiếu. Chuỗi hạt gắn kết với người hành trì thân thiết hơn mọi người thường tưởng. Theo truyền thống của Việt Nam cũng như của Trung Quốc. Chuỗi hạt gồm 108 hạt tượng trưng cho sự xuyên suốt của Phật Giáo qua 108 chướng&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/chuoi-hat-trong-hanh-tri-kim-cang-thua/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><em>Đối với người hành trì Mật Tông, chuỗi hạt (mala) là một pháp khí không thể thiếu. Chuỗi hạt gắn kết với người hành trì thân thiết hơn mọi người thường tưởng. Theo truyền thống của Việt Nam cũng như của Trung Quốc. Chuỗi hạt gồm 108 hạt tượng trưng cho sự xuyên suốt của Phật Giáo qua 108 chướng kiết sử, phiền não của chúng sinh. Ở Tây Tạng, người ta cũng quan niệm rằng chuỗi hạt đóng góp một phần không nhỏ đến việc thành tựu các pháp tu học. Xin gởi đến các bạn lời khai thị của đạo sư Liên Hoa Sanh về chuỗi hạt. Đoạn trích dẫn dưới đây được trích dẫn từ cuốn Luận Giảng về Pháp hành Lokeshvara của thầy Hồng Nhật</em></p>
<p style="text-align: justify;"> Ngài Liên Hoa Sanh dạy : "Loại chuỗi tốt nhất dùng tăng số lượng trì tụng là chuỗi làm bằng vài loại ngọc quý, loại chuỗi trung làm bằng hạt của cây hay hột của trái cây, loại chuỗi thấp làm bằng gỗ, đất, đá hay thuốc."</p>
<p>Chuỗi làm bằng vỏ ốc, đất gỗ hay hạt từ cây hay quả có mục đích dùng để thành tựu các nghi thức và sự nghiệp tức tai (cầu an), chuỗi làm bằng vàng sẽ thành tựu sự nghiệp tăng ích (cầu dồi dào), chuỗi san hô đỏ thì tốt nhất cho việc thành tựu các nghi quỹ về kính ái (tăng uy lực), chuỗi làm bằng sắt hay turquoise (lam ngọc) tốt trong các pháp hàng phục (phẫn nộ), chuỗi làm bằng Dzi hay các loại đá quý có thể dùng để thành tựu bất cứ loại sự nghiệp nào mà ta cần làm.</p>
<p>Chuỗi làm bằng hạt đá mơ (apricot stone) sẽ thành tựu sự nghiệp công ích, chuỗi làm bằng hạt "lotton" tròn đen thành tựu pháp kính ái, bằng hạt bồ đề sẽ thành tựu mọi bộ pháp, bằng hạt raksa thành tựu pháp hàng phục, làm bằng gỗ cây bồ đề thành tựu sự nghiệp tức tai, bằng hạt trái dâu thành tựu pháp kính ái, bằng gỗ cây đào (gỗ gụ) thành tựu pháp hàng phục, chuỗi bằng ngà, nhất là ngà voi, thành tựu mọi sự nghiệp, bằng đá tốt cho phép tăng ích, làm bằng dược liệu tốt cho phép hàng phục, bằng các loại châu ngọc tốt cho mọi pháp. Tuy nhiên, không nên làm chuỗi bằng nhiều loại hạt khác nhau nếu không biết sự kết hợp này đem lại hiệu quả gì, nếu không sẽ không đem lại kết quả mong muốn. Chuỗi bằng sắt hay thép sẽ tích tụ công đức mỗi lần trì niệm một cách tổng quát, chuỗi bằng đồng hơn gấp bốn lần, bằng raksa hơn 20 triệu lần, bằng ngọc trai gấp 100 triệu lần, bằng bạc gấp 100.000 lần, bằng hồng ngọc trai gấp hơn 100 triệu lần, chuỗi hạt bồ đề vô lượng lợi ích khi tác bốn pháp.</p>
<p>Dây xâu chuỗi phải dùng ba, năm, chín sợi, không dùng số khác vì ba là ba thân, năm là năm Phật hay năm trí, chín là chín thừa.</p>
<p>Hột mẫu châu có thể kết ba hột tượng trưng cho Kim Cương tánh của chúng sanh. Ba thân, hột nhỏ nhất ngoài cùng nên màu lam (xanh dương), có lẽ nên bằng ngọc bích (lapis) tượng trưng cho bất động trí, hột giữa màu đỏ là Kim Cương khẩu, hột trong cùng màu trắng là Kim Cương thân, chuỗi phải được một vị Đạo Sư gia trì và bạn phải tự gia trì bằng cách chuyển khí năng vào đó, bạn phải chuyển khí năng vào đó trước khi lần chuỗi để được lợi ích thật sự, bạn có thể tẩm hương trầm vào chuỗi.</p>
<p>Kế đó, tự quán mình thành Bổn Tôn rồi cầm chuỗi bằng tay trái và đặt mẫu châu thẳng đứng ở trung tâm, tụng chú để chuyển mọi Pháp thân thành Trí của thực tánh.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>OM SVABHAVA   SUDDHA   SARVA   DHARMA SVABHAVA SUDDHO HAM.</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Thần chú này tẩy sạch và biến các ý tưởng bất tịnh thành không trí, mẫu châu hiện ra như Bổn Tôn trong mandala và những chuỗi khác hiện ra như quyến thuộc của Ngài, phần hành trì quán tưởng về samayasattva, kế tiếp câu triệu Jnanasattva, triệu mời Ngài đến, kéo móc Ngài và hoà nhập Ngài vào samayasattva cũng như bạn đã làm trong nghi quỹ, triệu thỉnh chư Tôn từ tịnh thổ đến trước mặt rồi họ hoà nhập vào chuỗi và an trú ở đó. Do đó, mỗi phần của chuỗi là toàn bộ mandala gồm có Bổn Tôn quyến thuộc, toà sen, trang trí, đồ dùng cầm tay, màu sắc. Gia trì chuỗi theo cách này phải nhân mỗi chú tự của bộ chú nào mà bạn tụng lên 100.000 lần sẽ được các nghiệp quả tốt, vì vậy phải cẩn trọng khi thi hành.</p>
<p>Chuỗi của bạn không những tượng trưng cho chư Tôn mà còn là khẩu của chư Tôn, thí dụ bạn tụng bài chú 100 chữ thì mẫu châu tượng trưng chủng tự OM và những hạt châu khác tượng trưng cho các chữ còn lại.</p>
<p>Ngài Liên Hoa Sanh dạy : "Khi tụng chú tức tai dùng đầu ngón cái mà lần chuỗi, khi tụng chú tăng ích dùng ngón đeo nhẫn, dùng ngón cái và ngón đeo nhẫn khi tụng chú kính ái và dùng ngón áp út lần chuỗi khi tụng chú hàng phục. Tay phải ít khi dùng lần chuỗi thí dụ trong vài pháp phẫn nộ, vài sách dạy dùng cả 2 tay, nhưng không nên chỉ dùng một tay phải"</p>
<p>Bất cứ lúc nào đang hành pháp nào hoặc tức tai, tăng ích...luôn nhớ rằng ngón cái là Kim Cương câu sẽ câu triệu các năng lực tâm linh chư Tôn và sự gia trì, lần bằng ngón này sẽ dễ lần hơn lần chuỗi bằng cách đẩy lẹ hai tay.</p>
<p>Từ kim khẩu của ngài Padmasambhava : "Nếu chuỗi đã được gia trì bởi đạo sư, và bởi chính bạn như là một phần của bộ pháp đang đi, chuỗi phải được mang theo như hình với bóng. Giữ nguyện chánh về Kim Cương chuỗi là không bao giờ rời khỏi thân bạn".</p>
<p>Không để chuỗi rời khỏi thân nhịêt của bạn, không đưa người khác cầm, không đặt tay vào chuỗi kẻ khác, không dược chuyền chuỗi cho người thất lời nguyện hoặc một người hoàn toàn khác với mình sờ mó.</p>
<p>Hãy cầm chuỗi khi đọc chú, không được chơi giỡn, bói toán trên chuỗi hoặc khắc dán gì trên chuỗi, phải để một nơi trang trọng với thái độ kính trọng.</p>
<p>Không được khoe chuỗi cho người khác xem, không đặt nơi thấp, không được để trên đất, đừng gắn thêm hạt chỗi vào tràng chuỗi mà không có ý nghĩa gì khác, hoặc chỉ vì trang sức cho nó, nếu ta giữ được các giới thệ nguyện liên quan đến chuỗi ta sẽ thành tựu pháp đang hành trì. Điều quan trọng là phải bảo vệ khỏi bị ô nhiễm bởi kẻ thiếu đức, ngay cả loại chuỗi hột bồ đề hay bằng vàng sẽ không còn được lợi ích cho ai nếu nó chạm phải tay người phạm ngũ nghịch đại tội, qua tay đồ tể, qua kẻ thất Kim Cương nguyện, bạn sẽ thất bại trong pháp tu. Chuỗi lấy được do không chánh đáng, bị hư hỏng, chuỗi đã được cúng dường cho chư Tôn để trang sức không được phép sử dụng cá nhân. Thật là ý xấu khi nghĩ rằng : "Chuỗi bây giờ được gia trì nên ta lấy nó sử dụng". Dĩ nhiên thật xấu khi trộm hoặc bán lại chuỗi này. Số lượng hột phải không trên dưới 100, chuỗi bị cháy, bị thú vật đạp lên, bị chuột cắn, đều không tốt, những loại này phải bỏ đi vì đã vô dụng.</p>
<p>Những hành giả Mật Giáo, chuỗi là biểu tượng cao quý thiêng liêng để hành pháp, được xem là Bổn Tôn nên không được cho kẻ khác xem. Phải xem chuỗi là nơi quy y, nhờ vậy đạt được năng lực tâm linh và gia trì ở mức độ cao vì bạn đã hoàn toàn nương dựa vào chuỗi.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>(trích Luận Giảng về Pháp hành Lokeshvara</em></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/chuoi-hat-trong-hanh-tri-kim-cang-thua/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ý nghĩa của Chân ngôn thần chú trong việc chữa lành</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/y-nghia-cua-chan-ngon-than-chu-trong-viec-chua-lanh/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/y-nghia-cua-chan-ngon-than-chu-trong-viec-chua-lanh/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 10 Sep 2015 19:59:46 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Nghi lễ]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5003</guid>
		<description><![CDATA[Chân ngôn là một đơn âm hoặc chuỗi âm thanh đầy năng lực, những âm thanh này chứa đựng hàng loạt sóng âm ba và năng lượng. Khi trì tụng, chân ngôn không chỉ giúp tiêu trừ bệnh tật, phiền não, nghiệp chướng mà còn có năng lực kết nối, hợp nhất tâm chúng ta với những tầng tâm thức&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/y-nghia-cua-chan-ngon-than-chu-trong-viec-chua-lanh/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Chân ngôn là một đơn âm hoặc chuỗi âm thanh đầy năng lực, những âm thanh này chứa đựng hàng loạt sóng âm ba và năng lượng. Khi trì tụng, chân ngôn không chỉ giúp tiêu trừ bệnh tật, phiền não, nghiệp chướng mà còn có năng lực kết nối, hợp nhất tâm chúng ta với những tầng tâm thức cao hơn. Chân ngôn hay thần chú như vậy là chìa khóa trực tiếp giúp hiển lộ vũ trụ pháp giới bên ngoài và bên trong, là công cụ nhanh chóng, nhẹ nhàng, hiệu quả để tiếp cận những kênh năng lượng linh thiêng từ các chiều tâm thức cao hơn. Công lực của chân ngôn phụ thuộc vào trạng thái thiền định và nội chứng của bạn và đặc biệt vào sự hướng đạo chỉ dẫn từ một bậc Thầy tâm linh giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Chân ngôn thần chú là sự kết hợp của các chữ chủng tử  linh thiêng phát ra những năng lượng tâm linh tích cực, một chân ngôn hay còn gọi là một Mantra không phải là lời cầu nguyện mà là bản chất sâu kín của thực tại nên đôi khi người ta trì tụng như là tán tụng. Trong tiếng Phạn, từ "Man" là "suy nghĩ", trong khi từ "Tra" có nghĩa là "giải phóng bản thân khỏi thế giới vật chất".Việc kết hợp nghĩa hai từ này tạo thành "Mantra" có nghĩa là tư tưởng được giải thoát và bảo vệ hay còn gọi là Bảo hộ tâm.</p>
<p style="text-align: justify;">Chân ngôn bí mật và linh thiêng diễn đạt những âm thanh và tinh túy năng lượng cơ bản để mang lại sự hài hòa của những yếu tố giữa thân và tâm.Trì tụng một chân ngôn đem lại năng lượng chữa lành kỳ lạ và giúp chúng ta đạt được sự cân bằng giữa thân và tinh thần, giống như thức ăn cung cấp cho cơ thể thì chân ngôn thần chú nuôi dưỡng chữa lành tâm hồn cho mỗi chúng ta. Theo cách này, chân ngôn chính là sự hỗ trợ tinh thần đầy năng lực, nó không chỉ là những âm thanh theo những quy ước mà là sự cộng hưởng những năng lượng nguyên sơ vi tế đã sẵn có trong mỗi chúng ta. Khi trì tụng chân ngôn sóng âm ba được cộng hưởng phát ra những năng lượng chữa lành nhẹ nhàng khắp thân tâm chúng ta. Diễn đạt dưới góc độ tâm linh, chân ngôn là phương tiện  giao tiếp, kết nối của Bản Tôn, chư Phật và Bồ Tát với chúng sinh để có thể đem lại sự tịnh hóa nghiệp chướng và chứng ngộ cho hết thảy vạn loài hữu tình.</p>
<p style="text-align: justify;">Về cách thức, nói chung, người mới trì tụng chân ngôn đầu tiên nên trì tụng để nghe rõ âm thanh mình trì tụng để  sóng âm ba của chân ngôn phát ra lan tỏa sâu hơn vào tim và cuối cùng chúng ta có thể an trụ trong sự an tịnh, để siêu thanh bên trong tự  nhậm vận hoạt động. Trên quan điểm thực hành, điều này vô cùng quan trọng.</p>
<p style="text-align: justify;">Có một số chân ngôn mà chúng ta phải trì tụng lặng lẽ trong tự thân. Tuy nhiên, có một vài chân ngôn không được phép trì tụng nếu không được nhận quán đỉnh hoặc khẩu truyền từ bậc Kim cương Thượng sư. Trong trường hợp này, chúng ta cần đón nhận sự hướng đạo chính thức về cách sử dụng chân ngôn. Sở dĩ bậc Thầy tâm linh cần truyền trao chân ngôn thần chú cho đệ tử vì khi bậc Thầy giác ngộ tán tụng khẩu truyền cho đệ tử mình, cũng là ban truyền dòng ban phúc gia trì không gián đoạn để các đệ tử có năng lực gia trì và tiếp tục thực hành chân ngôn đạt được thành tựu. Nhờ vậy, năng lực và công đức tu trì chân ngôn sẽ tăng trưởng theo cấp số nhân. Trong thiền định Phật giáo, nhiều thứ có thể được sử dụng làm đối tượng của thiền định như hơi thở được sử dụng để nhiếp tâm tránh niệm, việc tỉnh giác lúc đi được sử dụng làm thiền định đi, những cảm xúc được sử dụng làm sự tập trung trong sự phát triển của lòng từ bi và quán tưởng hình ảnh và đối tượng được sử dụng trong việc thiền quán. Chân ngôn là âm thanh, từ hay cụm từ cũng được sử dụng là đối tượng của thiền định, âm thanh của chân ngôn có thể được trì tụng to hay trì tụng thầm.</p>
<p style="text-align: justify;">Chân ngôn liên quan đến các yếu tố lịch sử cụ thể hay các Bản Tôn nguyên mẫu hay cũng có thể không có liên quan những điều trên. Ví dụ chân ngôn liên quan đến Đức Phật lịch sử là: "Om muni muni mahamuni Shakyamuni svaha", chân ngôn liên quan đến Bản tôn Đức Avalokiteshvara Quán Thế Âm Bồ Tát là "Om mani padme hum", hay Chân ngôn Prajnaparamita Bát Nhã Ba la mật "Gate gate paragate parasamgate bodhi svaha" không chỉ liên quan  với một bậc giác ngộ mà còn với một bộ kinh nổi tiếng là kinh Bát Nhã ba-la-mật (trí tuệ hoàn hảo).</p>
<p style="text-align: justify;"> Vô Úy</p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/y-nghia-cua-chan-ngon-than-chu-trong-viec-chua-lanh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
