<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Quy y Tam Bảo</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/thuc-hanh/quy-y-tam-bao/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Fri, 17 Apr 2026 16:09:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Đức Phật Thích Ca thi triển thần thông tại thành Shravati</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/quy-y-tam-bao/duc-phat-thich-ca-thi-trien-than-thong-tai-thanh-shravati/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/quy-y-tam-bao/duc-phat-thich-ca-thi-trien-than-thong-tai-thanh-shravati/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 27 Feb 2026 11:05:14 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Quy y Tam Bảo]]></category>
		<category><![CDATA[Tam Bảo]]></category>

		<guid isPermaLink="false">https://kimcuongthua.org/?p=13187</guid>
		<description><![CDATA[Ngày rằm đầu tiên theo lịch Tây Tạng là ngày kỷ niệm Đức Phật thi triển thần thông, hay còn được gọi là Chötrul Düchen để kỷ niệm ngày cuối cùng của 15 ngày Đức Phật thi triển thần thông. Đức Phật đã thi triển thần thông để đáp lại sự thách thức của sáu pháp sư hiếu thắng. 15&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/quy-y-tam-bao/duc-phat-thich-ca-thi-trien-than-thong-tai-thanh-shravati/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><i>Ngày rằm đầu tiên theo lịch Tây Tạng là ngày kỷ niệm Đức Phật thi triển thần thông, hay còn được gọi là Chötrul Düchen để kỷ niệm ngày cuối cùng của 15 ngày Đức Phật thi triển thần thông. Đức Phật đã thi triển thần thông để đáp lại sự thách thức của sáu pháp sư hiếu thắng. 15 ngày này được gọi là những ngày công đức tăng trưởng, các việc làm đạo đức sẽ tạo nên công đức gấp triệu lần.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/2026/02/634323646_1371590388343414_2140308788690418892_n.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-13188" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/2026/02/634323646_1371590388343414_2140308788690418892_n.jpg" alt="634323646_1371590388343414_2140308788690418892_n" width="1448" height="1010" /></a></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngày Thứ Nhất</b></p>
<p style="text-align: justify;">Ngày thứ nhất của mùa xuân, Đức Phật đến cánh đồng đã được chuẩn bị sẵn, Ngài ngồi lên ngai sư tử trước mặt mọi người. Sau khi vua Ba Tư Nặc cúng dường Đức Phật, Đức Thế Tôn lấy một cây tăm và đặt xuống đất. Cây tăm mọc lên thành một cây thật kỳ diệu. Các nhánh của cây mọc dài ra đến vài cây số, trên cành đầy những lá, hoa, trái cây, và đủ các loại các châu báu. Ánh sáng muôn màu tỏa ra từ các châu báu tạo thành một hoạt cảnh huy hoàng tráng lệ như sự hội hợp giữa các tia sáng của mặt trời và mặt trăng. Khi gió thổi qua các cành cây tạo ra những âm thanh mà người nghe như những lời thuyết Pháp. Đức Thế Tôn liền thuyết Pháp cho Đại chúng nghe. Rất nhiều người đã tiến xa trên đường tu, một số khác đạt được quả A La Hán và hàng triệu người đã gieo được chủng tử để tái sanh về cõi người hoặc cõi chư thiên.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngày Thứ Nhì</b></p>
<p style="text-align: justify;">Ngày thứ hai vua Udrayana cúng dường Đức Phật. Như Lai liền xoay đầu qua bên phải rồi bên trái, và hai bên của pháp tòa sư tử, tức thì một núi châu báu hiện ra. Trên mỗi ngọn núi đều có một dòng suối kỳ diệu, nước có tám vị khác nhau. Có một ngọn núi được bao phủ đầy cỏ mọc để làm thức ăn cho súc vật, một ngọn núi khác được phủ đầy những thức ăn đặc biệt để cho người dùng. Đức Thế Tôn sau đó giảng pháp theo từng căn cơ và trình độ của mỗi người, nhờ vậy nhiều người đã được giải thoát. Một số người có mặt phát triển được tâm bồ đề, và tạo được chủng tự để tái sanh vào cõi người hay cõi chư thiên.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngày Thứ Ba</b></p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày thứ ba vua Shun Tsin của nước War cúng dường Như Lai. Sau khi ăn xong, Đức Phật dùng nước súc miệng. Khi nước rơi xuống mặt đất nơi đó biến thành một hồ nước lớn trải dài đến ba trăm cây số. Nước có tám vị, và dưới đáy hồ được bao phủ bằng bảy loại châu báu. Trên mặt hồ có vô số hoa sen đủ các màu sắc mọc phủ đầy, và tỏa hương thơm khắp moi nơi; các tia sáng mặt trời chiếu xuống làm sáng tỏa khắp mọi phương hướng khiến người ta có thể nhìn thấy từ khắp mọi nơi. Người nào nhìn thấy cũng cảm nhận được sự an lạc và rất hạnh phúc, và khi Phật thuyết Pháp, một số người chứng đắc A La hán, số khác tăng trưởng tâm bồ đề, và nhiều người khác đạt được chủng tự của sự tái sinh vào cõi người hay cõi chư thiên.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngày Thứ Tư</b></p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày thứ tư vua Indravarma cúng dường lên Đức Phật. Đức Thế Tôn tạo ra một hồ nước từ tám dòng suối chảy ra ngoài theo đường tròn để chảy trở về. Từ tiếng nước chảy người ta nghe được tiếng thuyết Pháp về năm năng lực, năm sức mạnh, bảy khía cạnh của Bồ đề tâm, bát chánh đạo, ba nguyên tắc của con đường giải thoát, sáu loại toàn tri và bốn tâm vô lượng. Sau khi nghe được những lời thuyết giảng này, nhiều người hiểu được tầm ảnh hưởng của Phật quả và một số khác được tái sinh về các cảnh giới của cõi người hay cõi chư thiên và hàng trăm ngàn người gia tăng việc tích đức.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngày Thứ Năm</b></p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày thứ năm, vua Brahmadatta Varanasi dâng lên cúng dường Đức Phật nhiều loại cúng phẩm khác nhau. Từ thân Như Lai tỏa ra ánh sáng vàng làm soi sáng toàn thế giới. Ánh sáng tỏa ra bao trùm khắp chúng sinh làm tịnh hóa hết các nghiệp chướng của tam độc: tham, sân và si. Thân tâm của tất cả chúng sinh trở nên an lạc, những người tham dự vô cùng hân hoan và vui mừng. Khi Đức Thế Tôn nói, khiến rất nhiều người trưởng tăng trưởng bồ đề tâm, vô số người tạo được chủng tự tái sinh về cõi người hay cõi chư thiên, và hằng hà sa số chúng sinh được tăng trưởng công đức.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngày Thứ Sáu</b></p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày thứ sáu, người xứ Licchavi (một bộ lạc rất thịnh vượng của Ấn Độ và Nepal ngày xưa) cúng dường Đức Phật, Đức Thế Tôn liền cho những người đang có mặt tại đó thấy được tâm thức của người khác, người này đọc được những ý nghỉ tốt cũng như xấu của người kia. Mọi người cảm nhận được niềm tin và tán thán kiến thức của Đức Phật. Như Lai liền thuyết giảng cho mọi người một thời Pháp, nhiều người đạt được sự hiểu biết một cách thâm sâu. Một số mở được tâm bồ đề, một số khác chứng được quả A La Hán và vô số gieo được chủng tử tái sinh về cõi người và cõi chư thiên.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngày Thứ Bảy</b></p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày thứ bảy, bộ tộc của Đức Phật, bộ tộc Thích Ca, lên cúng dường Ngài. Ngài ban phước lành cho tất cả những người đến tham dự cho họ trở thành Chakravartin, (vua am hiểu sâu rộng về Phật Pháp), mỗi người cai trị một quốc gia nhỏ và được nhiều quần thần anh minh phò trợ. Tất cả mọi người cảm thấy rất hạnh phúc với việc này và khi Đức Phật nói khiến mọi người tăng trưởng niềm tin. Nhiều người đã khai mở được bồ đề tâm, một số khác chứng quả A La Hán, và vô số người gieo được chủng tử sinh về cõi người hay cõi chư thiên.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngày Thứ Tám</b></p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày thứ tám, Indra mời Đức Phật và làm một ngai sư tử tuyệt đẹp mời Ngài ngồi. Khi Như Lai ngồi xuống, Indra bước đến phía bên tay trái cúng dường Đức Phật, trong khi đó Brahma qua phía tay phải cúng dường, họ phủ phục trước mặt Ngài trong khi mọi người ngồi yên lặng. Đức Phật đặt tay phải Ngài lên ngai sư tử trong thế bắt ấn xúc địa, tức thì một tiếng rống lớn của con voi gầm lên. Năm con quỷ thật hung tợn hiện ra và gầm lên, các ngai của sáu vị pháp sư ngồi bị phá tan đi ngay. Sau năm con quỷ xuất hiện, Ngài Kim Cang Thủ Bồ Tát xuất hiện với năm ngọn lửa phóng ra từ đỉnh chày kim cang. Sáu pháp sư hồn vía thất kinh, liền nhảy xuống nước và cút đi mất. Sáu pháp sư bỏ trốn để lại 90 ngàn đệ tử, những người này đến quy y Đức Phật và còn xin Đức Phật cho xuất gia thọ giới Tỳ Kheo. Đức Phật đón nhận họ, ngay sau đó các đầu tóc uốn quăn và râu của họ trước đó đã được làm dấu họ là môn đồ của sáu pháp sư kia đã biến đi mất một cách thật kỳ diệu. Đức Phật thuyết giảng cho họ nghe tùy theo trình độ và căn cơ của từng người khiến họ đã thoát ra khỏi được xiềng xích của tham, sân, và si và chứng được quả A La Hán. Sau đó, Như Lai phóng hào quang, 84 ngàn tia sáng phóng ra từ các lỗ chân lông của Ngài, ánh sáng tỏa sáng khắp bầu trời. Trên đỉnh của mỗi tia sáng có một đóa hoa sen xinh đẹp, và trên mỗi đóa hoa sen có một vị Phật cùng với các thị giả. Mỗi vị Phật đều đang thuyết giảng giáo Pháp của Như Lai. Một khung cảnh làm tất cả mọi người cảm thấy tâm an lạc và đức tin của họ cũng đã tăng trưởng theo. Đức Thế Tôn liền thuyết giảng một thời Pháp, nhiều người đã tăng trưởng được tâm bồ đề, nhiều người khác chứng được quả A La Hán, và vô số gieo được chủng tử tái sanh về cõi người hay cõi chư thiên.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngày Thứ Chín</b></p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày thứ chín, Brahmaraja cúng dường Đức Phật. Như Lai kéo dài thân ngài cho đến tầng trời cao nhất của cõi trời Phạm Thiên. Từ thân ngài hào quang phóng ra chiếu sáng khắp mọi hướng, và từ trên tầng trời cao nhất này Ngài thuyết Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngày Thứ Mười</b></p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày thứ mười, bốn vị vua lớn, những vị vua có tinh thần bảo vệ Phật Pháp, đến thỉnh cầu Đức Phật thuyết Pháp. Đức Phật cũng vậy, ngài kéo dài thân hình lên đến ngang hàng với chiều cao của luân hồi. Hào quang từ thân ngài phóng ra thể hiện lời thuyết pháp.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngày Thứ Mười Một</b></p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày thứ mười một, nhà bảo trợ lớn của Đức Phật có tên là Cấp Cô Độc (Anathapindika) đến cùng dường Đức Phật, Ngài ngồi trên ngai sư tử và trụ trong thiền định. Mọi người không nhìn thấy được thân tướng Đức Phật lúc bấy giờ, toàn thân Ngài tỏa hào quang vàng trong một giọng nói hùng hồn, Ngài thuyết Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngày Thứ Mười Hai</b></p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày thứ mười hai, gia đình Tseta thỉnh Đức Phật nói Pháp. Như Lai an trụ trong thiền định về tình yêu thương đại đồng, hào quang từ thân Ngài phóng ra những tia sáng vàng chiếu sáng khắp thế giới. Các tia sáng chiếu đến đâu làm tịnh hóa tam độc của tâm và làm tăng trưởng tâm từ của mọi người khiến họ yêu thương và xem nhau như cha mẹ thương yêu con cái của họ hay tình yêu thương thể hiện trong anh chị em.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngày Thứ Mười Ba</b></p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày thứ mười ba, vua Shun Tsin cúng dường đức Phật. Như Lai ngồi trên ngai sư tử và hai tia sáng, thăng lên cao 15 mét, phát ra từ rốn ngài. Trên đỉnh của mỗi tia sáng là một nụ hoa sen, trên mỗi nụ hoa sen có một vị Phật. Từ rốn của mỗi vị Phật nối tiếp lại có hai tia sáng và trên mỗi tia sáng là một đóa hoa sen với một vị Phật, và cứ thế tiếp tục, bao trùm hết các thế giới. Tất cả các vị Phật đều thuyết Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngày Thứ Mười Bốn</b></p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày thứ mười bốn, vua Udrayana cúng dường đức Phật. Ông rải bông trước mặt đức Phật, chúng biến thành một ngàn hai trăm năm mươi cỗ xe cấu tạo bằng các châu báu. Đức Phật thuyết Pháp cho chúng sinh trên khắp thế giới như một Bác Sĩ chữa lành căn bệnh.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngày Thứ Mười Lăm, Ngày Cuối Cùng</b></p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày thứ mười lăm, ngày cuối cùng ngày rằm của lễ hội mùa xuân, vua Tần Bà Sa La mang lễ vật đến cúng dường đức Phật. Đức Phật bảo vua Tần Bà Sa La mang tàu đựng thức ăn và tức thì các tàu đều chứa đầy thức ăn, có cả hằng trăm các món ăn khác nhau một cách kỳ diệu. Khi mọi người ăn, thân và tâm họ đều hoàn toàn thỏa mãn. Đức Phật hỏi họ, “Tại sao có quá nhiều khổ đau trên thế gian này?” Nhờ lực gia trì của ngài, thậm chí chúng sanh của 18 loài ngạ quỷ cũng nhận thức được khổ não của họ đều xuất phát từ những hành động mà họ đã gây ra. Họ cảm thấy đầy lòng tin nơi đức Phật. Cũng giống như những ngày trước đây những người có mặt đã bước tiến xa trên đường dạo. Một số người tăng trưởng được bồ đề tâm, một số chứng được quả vị A-La-Hán, một số khác đã giải thoát ra khỏi được luân hồi, rất nhiều người gieo được chủng tử sanh về cõi người hay cõi chư thiên, và hằng hà sa số tăng trưởng được đức hạnh của họ.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <a href="https://vietrigpa.org/2017/04/25/duc-phat-thich-ca-thi-trien-than-thong-tai-thanh-shravati/">Đức Phật Thích Ca thi triển thần thông tại thành Shravati</a></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/quy-y-tam-bao/duc-phat-thich-ca-thi-trien-than-thong-tai-thanh-shravati/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Quy y cách bên ngoài – bên trong và bí mật</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/quy-y-cach-ben-ngoai-ben-trong-va-bi-mat/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/quy-y-cach-ben-ngoai-ben-trong-va-bi-mat/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 03 Apr 2020 02:28:09 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Quy y Tam Bảo]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=9989</guid>
		<description><![CDATA[Đạo sư Padmakara cõi Uddiyana, Ngài xuất hiện như một hóa thân làm người. Công chúa Tsogyal xứ Kharchen hỏi Ngài rằng: Thưa Đạo sư, xin rủ lòng từ bi chỉ dạy cho chúng con nền tảng của mọi sự thực hành Pháp, phương cách để chấm dứt sinh và tử, một nhân nhỏ mà có lợi lạc bao la,&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/quy-y-cach-ben-ngoai-ben-trong-va-bi-mat/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đạo sư Padmakara cõi Uddiyana, Ngài xuất hiện như một hóa thân làm người. Công chúa Tsogyal xứ Kharchen hỏi Ngài rằng: Thưa Đạo sư, xin rủ lòng từ bi chỉ dạy cho chúng con nền tảng của mọi sự thực hành Pháp, phương cách để chấm dứt sinh và tử, một nhân nhỏ mà có lợi lạc bao la, một phương pháp dễ áp dụng và ít khó khăn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đạo sư hóa thân trả lời: Tsogyal, quy y là nền tảng cho mọi sự thực hành Pháp. Tam bảo là sự nâng đỡ cho mọi thực hành Pháp. Phương cách để đưa sinh và tử đến chỗ chấm dứt là quy y cùng với những phương diện phụ của sự việc ấy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Công chúa Tsogyal hỏi: Nghĩa cốt lõi của quy y là gì? Định nghĩa của nó ra sao? Khi phân chia, có bao nhiêu loại quy y?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đạo sư trả lời: Nghĩa cốt lõi của quy y là chấp nhận Phật, Pháp, Tăng là thầy, con đường và những người đồng hành để thực hành con đường với con, và rồi hứa rằng ba cái đó là quả con sẽ đạt đến. Như thế quy y nghĩa là một lời hứa hay chấp nhận. Tại sao một sự chấp nhận như vậy được gọi là quy y? Nó được gọi là quy y bởi vì sự chấp nhận Phật, Pháp và Tăng là sự nâng đỡ, nương tựa, và bảo vệ hay cứu giúp cho chúng sinh khỏi sự sợ hãi lớn lao của những khổ đau và che chướng. Đấy là nghĩa cốt lõi của quy y.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Định nghĩa của quy y là tìm sự che chở khỏi những khủng khiếp của ba cõi thấp và khỏi quan kiến thấp kém tin vào một tự ngã trong năm uẩn vô thường như các triết gia phi Phật pháp chủ trương.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi phân chia thì có ba loại: quy y cách bên ngoài, quy y cách bên trong và quy y cách bí mật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Quy y cách bên ngoài</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Công chúa Tsogyal hỏi: Về quy y cách bên ngoài, nguyên nhân muốn thọ quy y là gì? Người ta quy y đối tượng nào? Loại người nào được thọ quy y? Cách thức nào để thọ quy y? Người ta thọ quy y với thái độ đặc biệt nào?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đạo sư Padma trả lời: Nguyên nhân của thọ quy y là sợ hãi những khổ đau của vòng sinh tử, tin vào Tam Bảo là chỗ để quy y và hơn nữa, chấp nhận Tam Bảo là đối tượng quy y và là những bậc bảo hộ của sự quy y. Do ba điều này mà người ta có ý định thọ quy y. Nói chung người ta muốn quy y vì sợ chết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có nhiều người thậm chí không thấy rằng nửa cuộc đời đã trôi qua và không nghĩ đến tương lai dù chỉ một khoảnh khắc. Họ không có sự quy y.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu con sẽ không chết hay nếu con chắc chắn có lại kiếp làm người, con sẽ không cần quy y. Tuy nhiên sau khi chết và chuyển kiếp, có những thống khổ tràn khắp trong những cõi thấp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người ta quy y đối tượng nào? Con cần quy y Tam Bảo. Ai có thể chấm dứt sanh tử? Chỉ có vị Phật toàn giác là vị hoàn toàn thoát khỏi mọi khuyết điểm và đã viên mãn mọi đức hạnh. Thế nên chỉ có Pháp Ngài chỉ dạy và Tăng đoàn giữ gìn giáo lý của Ngài mới có thể chấm dứt được khỏi vòng sinh tử của ta và những người khác. Thế nên ba cái ấy là những đối tượng duy nhất để quy y, con cần quy y Tam Bảo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nói chung, có nhiều người xem những lời dạy của những bậc giác ngộ không hơn gì những lời của một thầy bói, và có những người khi kẹt quá thì nương nhờ vào hồn linh ma quỷ. Những người như vậy thật khó có sự quy y.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Loại người nào quy y? Đó là những người có quan tâm, sùng mộ, đức tin và nghĩ đến những công đức của Tam Bảo. Người ta cần có ba thái độ đặc biệt này:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vì vòng sinh tử không có khởi đầu và kết thúc, tôi phải tách lìa nó ngay lúc này!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những thần thánh chẳng phải Phật giáo không phải là những đối tượng quy y của tôi! </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Duy chỉ có trạng thái toàn giác của Phật quả là đối tượng quy y chân thật của tôi. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cách thọ quy y diễn ra như thế này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi thọ quy y, chỉ môi miệng suông thì vô ích. Đó giống như sự lẩm bẩm trống rỗng, không chắc sẽ dẫn con đến đâu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cách thọ quy y là sao? Con phải quy y với thân, ngữ, tâm thành kính. Con phải quy y với ba ý nghĩ: sợ hãi những cõi thấp của sinh tử, tin vào những ban phước của Tam Bảo, và niềm tin kiên định cùng với lòng bi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người tin đời này tốt đẹp và đời sau cũng tốt đẹp thì chỉ chết sau khi vừa định thực hành Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Điều ấy chưa đủ, con cần biết những nghi thức quy y.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người ta quy y với thái độ đặc biệt nào? Con cần quy y với một cảm thức trách nhiệm đối với lợi lạc của những người khác. Con cần quy y với thái độ này, vì con sẽ không đạt được giác ngộ trọn vẹn và đích thực chỉ nhờ từ chối sinh tử và mong muốn niết bàn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Để giải thoát tất cả chúng sinh khỏi đau khổ của sinh tử,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôi sẽ thọ quy y cho đến khi tôi và tất cả chúng sinh trong ba cõi điều thành tựu giác ngộ tối thượng!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nói chung, mọi mong ước điều là mong ước nhị nguyên. Quy y mà không thoát khỏi chấp trước nhị nguyên thì không đủ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bấy giờ công chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Quy y cách bên ngoài kèm theo bao nhiêu loại tu hành?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đạo sư trả lời: Đã quy y con phải khéo léo thực hành tám sự tu hành để ngăn chặn sự cam kết của con khỏi hư hỏng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bà hỏi: Tám sự tu hành đó là gì?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài trả lời: Trước hết có ba tu hành đặc biệt: Đã quy y Phật con không nên lễ lạy những thần thánh khác. Đã quy y Pháp con cần thôi gây hại cho chúng sinh. Đã quy y Tăng, con không nên kết giao với người ngoại đạo. Đấy là ba tu hành đặc biệt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Giải thích thêm: Trước hết đã quy y Phật, không lễ lạy những thần thánh khác nghĩa là nếu con lễ lạy những vị thần thế gian như Mahadeva, Vishnu, Maheshvara hay những vị khác thì nguyện quy y của con bị hủy hoại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thứ hai, đã quy y Pháp, thôi gây hại chúng sinh, nghĩa là nguyện quy y của con nhất định bị hủy hoại nếu con thực hiện sát sinh. Nguyện ấy bị hư hại nếu con đánh đập chúng sinh khác vì giận dữ, bắt chúng làm nô lệ, xỏ mũi chúng, nhốt chúng trong chuồng, cắt lông làm áo, v.v…</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thứ ba, đã quy y Tăng, không kết giao với người ngoại đạo nghĩa là nguyện của con bị hư hại nếu con kết bạn với người chấp giữ cái thấy và hạnh của chủ nghĩa thường biến hay đoạn kiến. Nếu cái thấy và hạnh của con phù hợp với họ, nguyện quy y của con bị hủy hoại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bất cứ trường hợp nào, mọi thực hành Pháp đều bao hàm trong quy y. Người có tà kiến không có hiểu biết này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đây là năm tu hành tổng quát:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">1- Khi bắt đầu thực hành, hãy làm một lễ cúng dường lớn với nhiều đồ ăn thức uống tốt nhất. Bày trước các đấng Tôn Quý vào ngày mười bốn và khẩn cầu các Ngài đến hưởng cúng dường. Sau đó làm lễ cúng dường vào ngày rằm. Những cúng dường này có bốn loại: cúng dường lễ lạy, cúng dường phẩm vật, cúng dường tán thán và cúng dường thực hành.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thứ nhất là cúng dường lễ lạy: đứng thẳng và chấp hai tay. Tưởng nhớ những công đức của chư Phật và chư Bồ Tát. Hãy quán tưởng đầu con chạm vào chân có dấu hiệu Pháp luân của các Ngài khi con đỉnh lễ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tiếp theo là cúng dường phẩm vật: hãy bày những đồ cúng dường không phải là sở hữu của người nào (như hoa) và những đồ cúng dường được quán tưởng, với chính thân con cũng vậy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy cúng dường những lời tán thán với âm điệu du dương.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cúng dường thực hành là phát nguyện rằng những thiện căn từ sự trau dồi Bồ đề tâm của tánh Không và lòng bi bất khả phân là để cho giác ngộ vì lợi lạc của tất cả chúng sinh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đạo sư Padma nói: Tam Bảo không cần một chút gì trong chén nước hay sự tôn kính. Mục tiêu của việc cúng dường là để cho con nhận được những tia sáng quang minh của chư Phật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Về việc cúng dường những thức ăn uống tốt nhất, hãy làm ba mâm và trì tụng OM AH HUM ba lần. Hãy tưởng tượng đồ cúng dường của con nhờ đó mà trở thành một đại dương cam lồ. Sau đó, quán tưởng Bổn Tôn của con được bao quanh bởi vô số chúng hội Tam Bảo và tưởng tượng con dâng cúng cam lồ này, khẩn cầu tất cả các Ngài thọ nhận. Nếu con không thể dâng cúng theo cách này, hãy chỉ làm một cúng dường vừa và nói: Xin Tam Bảo chấp nhận cho!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu con không có gì để cúng dường, ít nhất con phải dâng những chén nước mỗi ngày. Nếu không làm thế, nguyện quy y của con sẽ hư hao.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tam Bảo không cần những phẩm vật cúng dường như chúng sinh. Lễ cúng thực phẩm là để con tích tập công đức mà không trụ chấp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">2- Tu hành thứ hai là không bỏ Tam Bảo cao cả dù con có mất thân, mất mạng hay mất một vật gì quý báu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không từ bỏ quy y dù vì chính thân thể con: thậm chí có ai dọa móc mắt, chặt chân, cắt mũi, cắt tai hay cánh tay con, con cứ để họ làm còn hơn là phải từ bỏ Tam Bảo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không từ bỏ quy y dù với cái giá là đời sống của con: thậm chí có ai dọa giết con, con cứ để họ làm còn hơn là phải từ bỏ Tam Bảo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không từ bỏ quy y vì một món quà tặng quý giá: thậm chí nếu con được hứa cho toàn thể thế giới với châu báu để đổi lấy sự từ bỏ quy y, con cũng chớ chối bỏ quy y.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">3- Tu hành thứ ba là bất kể cái gì xảy đến cho con, dù bệnh tật, nhọc nhằn, thoải mái, hạnh phúc hay đau buồn, con nên lập một mạn đà la với năm loại đồ cúng và dâng cúng Tam Bảo, rồi phát nguyện quy y và khẩn cầu như sau:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đạo sư thiêng liêng, bậc trì giữ kim cương vĩ đại, tất cả chư Phật và chư Bồ Tát, xin lắng nghe con! Cầu mong bệnh tật của con và bất cứ cái gì gây ra bởi những hồn linh và những thế lực bất thiện đều không xảy đến. Xin ban an bình, thiện lành và tốt đẹp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngoài những điều này cũng nên tích tập công đức bằng cách tụng tán kinh điển lớn tiếng và làm những lễ cúng dường, vì những thực hành như vậy là những cái căn bản để quy y. Nếu không được như ý thì chớ sinh những tà kiến, nghĩ rằng Tam Bảo không ban phước, Pháp không thật! Trái lại hay nghĩ tôi sẽ cảm thấy tốt hơn khi nghiệp xấu của tôi đã cạn kiệt. Không nên theo đuổi những cách khác như bói toán, phù thủy, mà chỉ nên thực hành quy y.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">4- Dù con đi về phương hướng nào, hãy nhớ chư Phật và chư Bồ Tát, hãy cúng dường và quy y. Chẳng hạn, nếu ngày mai con đi về hướng đông, thì hôm nay làm một mạn đà la và cúng dường, quy y chư Phật, chư Bồ Tát của phương đó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Con nên khẩn cầu như sau trước khi đi:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đạo sư bậc trì giữ kim cương, tất cả chư Phật và chư Bồ Tát, xin hãy nghe con! Xin ngăn chặn những chướng ngại do người và loài chẳng phải người gây ra và làm cho mọi sự đều tốt lành từ lúc con rời khỏi nơi này cho đến nơi con đến.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu không làm điều này vào ngày trước khi khởi hành thì con phải làm vào lúc khởi hành.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào lúc quy y, nếu con không nhớ thọ quy y trong mười hoặc bảy bước khi đi qua ngưỡng cửa thì sự quy y của con bị hao tổn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một khi tâm con đã giao phó cho sự quy y, con sẽ không thể bị lầm lạc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">5- Hãy nghĩ đến những phẩm tính tốt của quy y và thực hành nó thường xuyên. Đã quy y Tam Bảo hãy xem đó là nơi chốn của hy vọng và niềm tin. Hãy giữ gìn Tam Bảo như nguồn quy y duy nhất và hãy khẩn cầu các Ngài. Hãy cầu sự ban phước của Tam Bảo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy nghĩ rằng biểu trưng của Tam Bảo, hoặc một bức hình, một tượng tạc, một bức vẽ, một cái tháp, một cuốn kinh, chính là Pháp thân. Có thể khi lễ lạy, cúng dường, cầu nguyện thình lình con chứng ngộ bản tính của Pháp thân. Dù điều đó không xảy ra, bằng cách đỉnh lễ cúng dường Tam Bảo và tạo nên một mối nối kết nghiệp báo, người ta sẽ trở thành đệ tử của một vị Phật tương lai.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đạo sư Padma nói: Bất kể cái gì sinh khởi trong con như những đức hạnh và an lạc của những bậc giác ngộ, con hãy xem đó là những ban phước của Thầy con và Tam Bảo. Bằng cách suy nghĩ như vậy mà con sẽ nhận được những ban phước. Bất kể những vấn nạn và những khổ sở nào con gặp, hãy xem chúng là nghiệp xấu riêng của con. Điều này sẽ chấm dứt tất cả nghiệp xấu của con. Nói chung, nếu con không giao phó cho Tam Bảo mà nắm giữ những suy nghĩ tà kiến thì Tam Bảo không ban phước! Và có thể con không thoát khỏi những địa ngục thấp nhất.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Công chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Quy y có những phẩm tính tốt nào?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đạo sư trả lời: Quy y có tám phẩm tính tốt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">1- Con gia nhập chúng hội Phật tử. Đã quy y Tam Bảo con được gọi là một Phật tử. Không quy y con không ở trong chúng hội Phật tử cho dù con có tự xưng là một con người thánh thiện, một đại thiền giả hay một vị Phật bằng xương bằng thịt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">2- Con trở thành một pháp khí thích hợp cho mọi lời nguyện như giải thoát của cá nhân (biệt giải thoát giới) chẳng hạn. Còn nếu con mất nguyện quy y thì mọi giới nguyện căn cứ trên đó đều bị hủy hoại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Để phục hồi, chỉ thiết lập lại giới nguyện quy y là đủ. Nghĩa là con cúng dường và thọ quy y trước sự hiện diện của Tam Bảo là đủ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Con cũng cầu nguyện quy y trước bất kỳ lời nguyện nào, từ những giới nguyện cho một ngày đến những lời nguyện của Mật thừa. Thế nên quy y được xem là cái khiến cho con thành một nền tảng thích hợp cho mọi lời nguyện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">3- Nguyện quy y Tam Bảo làm giảm và chấm dứt mọi nghiệp chướng đã tích lũy trong tất cả những đời quá khứ. Nghĩa là những che chướng của con sẽ hoàn toàn cạn kiệt nhờ quy y đặc biệt, trong lúc thọ quy y tổng quát thì những nghiệp chướng sẽ giảm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lại nữa khi một cảm nhận đích thực về quy y sinh ra nơi con, những nghiệp chướng sẽ chấm dứt rốt ráo, trong khi chỉ những lời nguyện quy y thì đã làm chúng giảm bớt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hơn nữa, nếu con quy y vào mọi lúc, khi đi, đứng, nằm, ngồi, thì những nghiệp chướng sẽ hoàn toàn hết sạch, trong khi chỉ thỉnh thoảng quy y thì chúng sẽ giảm bớt. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">4- Con sẽ có công đức bao la. Những phước đức thế gian như sống thọ, khỏe mạnh, rạng rỡ uy nghi, giàu có lớn đều phát xuất từ quy y. Sự giác ngộ vô thượng siêu thế gian cũng có từ quy y.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">5- Con sẽ miễn nhiễm với sự tấn công của người và phi nhân và với những chướng ngại trong đời sống này. Có nói rằng khi tám quy y chân thật đã sinh ra trong con thì không có chướng ngại nào do con người có thể làm tổn hại được con trong cuộc đời này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">6- Con sẽ thành tựu bất cứ điều gì con mong muốn. Khi tâm quy y chân thật đã sinh ra trong con, bất cứ điều gì con dự định đều không thể không thành. Tóm tắt, có nói rằng tin vào những đối tượng quy y, con sẽ nhận được bất cứ điều gì con mong muốn như khi khẩn cầu một viên ngọc như ý.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">7- Con sẽ không rơi vào các cõi thấp, những số phận xấu hay những nẻo hư hỏng, ba cõi thấp là cõi địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh. Những số phận xấu ám chỉ sinh ra ở những nơi không có Phật Pháp, giữa những bộ lạc biên địa sơ khai. Những nẻo hư hỏng ám chỉ những triết học phi Phật Pháp. Thế nên để tránh khỏi rơi vào những chỗ ấy, người ta chỉ cần quy y.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong những giáo lý Đại thừa của Mật giáo có nói rằng người ta có thể giác ngộ trong chỉ thân này và trong chỉ đời này. Điều này nghĩa là không nghi ngờ gì con sẽ nhanh chóng giác ngộ. Thế nên cần phải bỏ tà kiến nghĩ rằng chỉ quy y một lần là đủ. Con cần phải quy y trở đi trở lại cả ngày lẫn đêm. Rồi con chắc chắn sẽ giác ngộ nhanh chóng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đạo sư Padma nói: Nếu con hết mình trong việc quy y, con không cần thực hành nhiều giáo lý khác. Không nghi ngờ gì con sẽ đạt quả vị giác ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Công chúa Tsogyal lại hỏi Đạo sư: Thực hành quy y thực tế là sao? </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đạo sư trả lời: Áp dụng quy y thực tế như sau. Trước hết, hãy tưởng nguyện:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Con sẽ đặt tất cả chúng sinh trong giác ngộ viên mãn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Để làm điều đó con sẽ thực hành tích tập phước đức và trí huệ, tịnh hoá những che chướng và xóa tan những trở ngại. Vì mục đích này, con xin quy y từ ngay giây phút này cho đến khi giác ngộ</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tối thượng trong hết thảy loài người, tất cả chư Phật mười phương, con và tất cả chúng sinh vô biên xin quy y từ giây phút này cho đến khi đạt giác ngộ vô thượng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tối thượng trong hết thảy, không dính nhiễm, giáo Pháp của mười phương, con và tất cả chúng sinh vô biên xin quy y từ giây phút này cho đến khi đạt giác ngộ vô thượng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tiếp theo chú tâm lập lại ba lần:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Con quy y Phật</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Con quy y Pháp</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Con quy y Tăng</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi cầu khẩn ba lần:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cầu xin Tam Bảo che chở cho con khỏi những sợ hãi của đời này. Xin che chở cho con khỏi những sợ hãi của ba cõi thấp. Xin che chở cho con khỏi lọt vào những nẻo hư hỏng!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi sắp kết thúc hãy nói:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Qua những thiện căn này của con, nguyện con đạt được Phật quả để lợi lạc cho chúng sinh!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Con nên hồi hướng theo cách này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Công chúa Tsogyal hỏi Đạo sư hóa thân Padmakara: Phương pháp nguyện quy y là gì?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đạo sư trả lời: Người ta cần đỉnh lễ và nhiễu quanh vị Thầy có nguyện quy y, dâng Ngài hoa và nói như sau: </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thưa Thầy, xin hãy lắng nghe con. Thưa chư Phật và chư Bồ Tát trong mười phương, xin hãy lắng nghe con. Kể từ giây phút này cho đến khi giác ngộ, con (tên) xin quy y bậc tối thượng của hết thảy loài người, muôn triệu chư Phật pháp thân viên mãn vô thượng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Con quy y cái tối thượng trong hết thảy an lạc, không dính nhiễm, những Giáo Pháp Đại thừa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Con quy y cái tối thượng trong hết thảy chúng hội, Tăng già của những Bồ Tát cao cả bất thối chuyển.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào lúc lặp lại lần thứ ba lời này, con sẽ đắc giới nguyện. Hãy đỉnh lễ và rải hoa. Rồi thực hành sự tu hành giải thích ở trên và tận lực trong quy y.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đây là giải thích và áp dụng cách quy y bên ngoài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Công chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Đã quy y thì người ta được bảo vệ như thế nào?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đạo sư trả lời: Bất kỳ ai có những thực hành quy y đúng đắn như giải thích ở trên thì nhất định được Tam Bảo bảo vệ. Vì vậy, nếu con sợ lạc vào một nẻo lang thang và cầu nguyện gặp được một con đường chân chính, chắc chắn con sẽ gặp. Con cũng chắc chắn được bảo vệ khỏi những sợ hãi của cuộc đời này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi mọi phẩm tính của quy y đã sinh nơi con, con chớ nên bằng lòng mà dừng lại. Hãy tăng thêm nữa những phẩm tính đã sinh trong con. Con cần sử dụng mọi phẩm tính sinh trong tâm con để gom góp những tích tập và tịnh hóa những che chướng. Khi sự vận dụng như vậy được phát sinh, toàn bộ khả năng đã được phát động.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tất cả những người cảm thấy không có khuynh hướng làm phát sinh trực tiếp những phẩm tính sâu sa như (quán chiếu) tính Không hay mạn đà la của những Bổn Tôn trong con người họ thì vẫn có thể tịnh hoá những che chướng và gom góp những tích tập chỉ bằng sự quy y. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bấy giờ con có thể tự hỏi rằng, nếu người ta được bảo vệ khi quy y như vậy, thì có phải chư Phật sẽ xuất hiện và dẫn dắt tất cả chúng sinh hay không? Câu trả lời là chư Phật không thể tự tay đem tất cả chúng sinh ra khỏi sinh tử. Nếu các Ngài làm như vậy được, thì chư Phật với lòng đại bi và những phương tiện thiện xảo đã giải thoát cho tất cả chúng sinh không trừ một ai rồi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi con có thể tự hỏi, vậy người ta được bảo vệ bằng cái gì? Câu trả lời là người ta được bảo vệ bằng (sự thực hành) Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi quy y đã sinh ở trong con, con không cần thực hành những giáo lý khác. Không thể nào con không được bảo vệ bởi lòng bi của Tam Bảo. Điều đó giống như con chắc chắn không sợ hãi khi con đã có một đội vệ sĩ tuyệt hảo. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đạo sư Padma giải thích quy y cách bên ngoài cho công chúa Tsogyal như thế.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Quy y cách bên trong</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Công chúa Tsogyal xứ Kharchen hỏi Đạo sư hoá thân Padmakara,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người ta quy y những đối tượng bên trong nào? Loại người nào thọ quy y? Người ta quy y bằng cách thức hay phương tiện nào? Với thái độ đặc biệt và kéo dài bao lâu? Cần hoàn cảnh đặc biệt nào? Mục tiêu là gì và những phẩm tính nào?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đạo sư trả lời: Về những đối tượng quy y, con cần quy y Bổn Tôn, Guru và Dakini.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người thọ quy y là người đã thọ môn Mật thừa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cách thức hay phương pháp là quy y với thân, ngữ, tâm sùng mộ và thành kính.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Về thái độ đặc biệt của thọ quy y, con phải nhận thức vị Thầy là một vị Phật, không từ bỏ Bổn tôn dù phải từ bỏ mạng sống và thường xuyên cúng dường Dakini.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Về thời gian, con cần quy y từ khi phát Bồ đề tâm trong lễ quán đảnh cho đến khi đạt đến trạng thái một bậc Kim Cương Trì.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Về hoàn cảnh, con cần quy y với lòng sùng kính Mật thừa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Về mục tiêu hay những đức hạnh của quy y, nó làm cho con trở thành một pháp khí thích hợp cho Mật thừa và để nhận những ban phước phi thường.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Công chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Về quy y cách bên trong, người ta cần những tu hành gì?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đạo sư trả lời: Có tám tu hành. Trước hết có ba tu hành đặc biệt:</span></p>
<ol style="text-align: justify;">
<li><span style="font-weight: 400;"> Đã quy y Guru, con không được ý xấu đối với Ngài hoặc thậm chí có ý định nhạo báng Ngài.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Đã quy y Bổn Tôn, con không được gián đoạn sự thiền định về hình tướng Bổn Tôn hay sự trì tụng Ngài.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Đã quy y Dakini, con không được bỏ những ngày cúng dường định kỳ.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm tu hành tổng quát như sau:</span></p>
<ol style="text-align: justify;">
<li><span style="font-weight: 400;"> Hãy dâng cúng phần đầu tiên của bất cứ thứ gì con ăn hay uống như là cam lồ. Cúng dường phần đó khi quán tưởng Guru trên đầu con. Cúng dường khi quán tưởng Bổn Tôn nơi trung tâm trái tim và Dakini nơi trung tâm rốn. Con cần tu hành trong việc chia phần thực phẩm như vậy.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Dù đi về hướng nào, hãy cầu nguyện Guru, Bổn Tôn và Dakini. Hãy quán tưởng Guru trên đỉnh đầu con. Hãy quán tưởng chính con là Bổn Tôn và Dakini cùng những hộ pháp là những vệ sĩ của con. Đây là tu hành khi đi.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Dù phải mất mạng hay tay chân, con cần tu hành xem Guru cũng thân thiết như trái tim mình. Bổn Tôn thân thiết như đôi mắt mình, và Dakini thân thiết như thân thể mình.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Bất cứ điều gì xảy ra, như bệnh tật, khó khăn hay dễ chịu, vui hay buồn, con cần cầu khẩn Guru, cúng dường cho Bổn Tôn và lễ tiệc cho Dakini. Ngoài việc này con không nên chạy theo những phương thức khác như bói toán và phù phép.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Nhớ những đức hạnh của Guru, Bổn Tôn và Dakini, con phải quy y thường xuyên. Do quy y Guru, những che chướng đều bị xoá sạch. Do quy y Bổn Tôn, thân đại ấn sẽ đạt được. Do quy y dakini, con sẽ nhận được những thành tựu (siddhi).</span></li>
</ol>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Công chúa Tsogyal hỏi Đạo sư Padma: Quy y cách bên trong có được những đức hạnh nào?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đạo sư Padma trả lời: Do quy y Guru, con được bảo vệ khỏi những trói buộc của tâm ý niệm. Những chướng ngại của vô minh và ngu si được xoá sạch. Sự tích tập quán chiếu và tỉnh giác được hoàn thiện, và con sẽ nhận được thành tựu chứng ngộ tự phát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Do quy y Bổn Tôn, con được bảo vệ khỏi những tri giác thường tục, gom góp được sự tích tập trí tuệ tự hữu và đạt được sự thành tựu đại ấn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Do quy y Dakini, con sẽ được bảo vệ khỏi những chướng ngại và hồn linh xấu ác. Trở ngại đói khổ của ngạ quỷ được loại bỏ, sự tích tập buông bỏ và thoát khỏi những bám níu được hoàn thiện và sẽ đạt được sự thành tựu hoá thân đại lạc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Công chúa Tsogyal hỏi Đạo sư: Quy y cách bên trong thực tế là gì?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đạo Sư Padma đáp: Trước tiên con nên phát khởi nguyện vọng hướng đến giác ngộ tối thượng. Sau đó quán tưởng guru, yidam, dakini ngự trên mặt trời, mặt trăng, và hoa sen trên bầu trời phía trước con và nói ba lần:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Guru tôn quý, gốc rễ của dòng truyền,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bổn Tôn Yidam, đấng khởi nguyên của mọi thành tựu,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Dakini, đấng ban ân phước tối diệu,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Con xin kính lễ ba gốc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau đó, hãy tập trung không xao lãng tâm con vào guru, yidam, dakini và lập lại:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Con quy y nơi guru, yidam, và dakini.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Kế tiếp khẩn nguyện như sau:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chư guru, yidam, và dakini, cầu xin ban cho con ân phước của thân, khẩu, ý các Ngài!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Xin ban những quán đảnh trên con! Xin ban những thành tựu thông thường và tối thượng! Xin mở lòng từ của Ngài đến con, đứa con sùng mộ của Ngài!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau đó hóa tán guru vào đỉnh đầu con, yidam vào giữa ngực con, và dakini vào giữa rốn con.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Công Chúa Tsogyal hỏi vị Thầy: Phương pháp nguyện thọ quy y cách bên trong như thế nào?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vị Thầy đáp: Nghi thức nguyện thọ quy y cách bên trong lần đầu như sau: quan trọng là phải nhận được quán đỉnh. Vẫn giữ được tự thân quán đỉnh là nhận được quy y. Nếu con thật sự thọ quy y mà không nhận quán đỉnh, hãy đỉnh lễ và đi nhiễu quanh vị guru, dâng cúng hoa cho Ngài và nói:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thưa Thầy, xin lắng nghe con. Tập hội chư Bổn Tôn, chư dakini, và quyến thuộc của mandala Bổn Tôn, xin hãy lắng nghe con. Ngay từ giờ cho đến khi đạt được cấp bậc vidyadhara tối thượng của mahamudra, con tên là....... xin thọ quy y nơi gốc của dòng truyền, tất cả những guru thiêng liêng và siêu phàm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Con xin thọ quy y nơi tất cả tập hội của Bổn Tôn, suối nguồn của mọi thành tựu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Con xin thọ quy y nơi tất cả dakini, những đấng ban ân phước tối diệu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nguyện thọ quy y đạt được sau khi niệm bài này ba lần.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đó là nghi thức thọ giới nguyện. Ta đã giải thích quy y cách bên trong.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Quy y cách bí mật</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Công Nương Tsogyal, Công chúa xứ Kharchen, hỏi vị Thầy: Về thọ quy y cách bí mật, người ta thọ quy y nơi đối tượng nào? Loại người nào thọ quy y? Người ta thọ quy y theo cách thức hay phương pháp nào? Người thọ quy y với thái độ đặc biệt nào? Quy y trong thời gian nào? Thọ quy y trong hoàn cảnh nào? Có mục đích và đức hạnh gì?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vị Thầy trả lời: Về phần những đối tượng của quy y cách bí mật, con phải thọ quy y trong kiến (quan điểm), thiền (suy niệm), và hành (hành động).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Loại người thọ quy này phải là người có những khả năng cao nhất, mong muốn đạt được giác ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Về phương pháp hay cách thức, con phải thọ quy y nhờ kiến, thiền, hành và quả. Nghĩa là con phải quy y với kiến xác quyết, thiền định có kinh nghiệm, và hành vi có vị bình đẳng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Về phần thái độ đặc biệt, kiến thoát khỏi tham dục, có nghĩa không mong muốn nào khác hơn là đạt Phật quả hay dứt bỏ luân hồi. Sự thiền định thoát khỏi trụ vào sự tập trung trên hình tướng cụ thể và không rơi vào thiên kiến, thì không thể mô tả bằng ngôn từ bình thường. Hành động thoát khỏi lấy, bỏ, tức là không rơi vào bất cứ phạm trù nào.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Về thời gian là kể từ lúc quy y cho đến khi đạt giác ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Về hoàn cảnh là thọ quy y mà không muốn tái sinh nào nữa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Về mục tiêu hay đức hạnh là đạt được giác ngộ viên mãn ngay trong kiếp sống này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Công Chúa Tsogyal hỏi: Về quy y cách bí mật, người ta cần tu hành những thực hành nào?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đạo Sư Padma đáp: Có ba tu hành tiên khởi:</span></p>
<ol style="text-align: justify;">
<li><span style="font-weight: 400;"> Về cái thấy (kiến) sở hữu sự chứng ngộ: con phải tu hành trong xác quyết rằng không có Phật quả nào khác cần thành tựu, vì tất cả chúng sinh và chư Phật đều có cùng nền tảng (Phật tính). Con phải tu hành trong xác quyết rằng hình tướng xuất hiện và tính Không là bất khả phân, qua chứng ngộ rằng những hình tướng đó và tâm là không khác biệt.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Về tu hành trong sự thiền định có kinh nghiệm: Không nên để tâm hướng ngoại, đừng tập trung vào trong, mà hãy tu hành để tâm được nghỉ ngơi tự nhiên, và thoát khỏi điểm quy chiếu.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Về phần hành động: Hãy tu hành kinh nghiệm không gián đoạn. Dù vào tất cả mọi lúc đi, đứng, nằm, ngồi đều không có gì để thiền định về, tu hành không xao lãng dù chỉ trong một khoảnh khắc.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: justify;"><b>Sau đây là tám tu hành thông thường:</b></p>
<ol style="text-align: justify;">
<li><span style="font-weight: 400;"> Không từ bỏ vị Thầy cho dù chứng ngộ tâm con là Phật.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Không gián đoạn những thiện căn cho dù con chứng ngộ những hình tướng là tâm.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Tránh làm những hành động xấu dù là vi tế nhất, cho dù con không còn sợ cõi địa ngục.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Không phỉ báng bất kỳ giáo lý nào, cho dù con không còn nuôi dưỡng bất cứ hy vọng đạt giác ngộ nào.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Không nên kiêu mạn hay khoe khoang cho dù con chứng ngộ những đại định cao cấp.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Luôn luôn cảm thấy có lòng bi với chúng sinh, cho dù con hiểu được chính mình và người khác là bất nhị.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Hãy tu hành nơi chốn nhập thất (hoang vắng), cho dù con nhận ra luân hồi và niết bàn là không hai (bất nhị).</span></li>
</ol>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Công Chúa Tsogyal hỏi vị Đạo Sư Hóa Thân: Về thọ quy y cách bí mật, người ta được ban sự bảo vệ nào và đức hạnh gì?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đạo Sư Padma đáp: Đã thọ quy y nơi kiến, con được bảo vệ khỏi cả hai thường kiến và đoạn kiến, tà kiến và chấp chặt được loại bỏ, sự tích lũy của pháp tính quang minh được viên mãn, và những thành tựu bất tận của thân, khẩu, ý sẽ đạt được.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đã thọ quy y nơi thiền định, cái thấy (kiến) cũng sẽ bảo vệ sự thiền định. Những che chướng của sự chấp chặt và tập khí sâu dày được tiêu trừ, sự tích lũy tính hợp nhất bất nhị được tích tụ và những thành tựu của xác quyết và giải thoát bổn nguyên sẽ đạt được.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đã thọ quy y nơi hành: Con được bảo vệ khỏi hạnh kiểm hư hỏng và tà kiến của chủ nghĩa hư vô. Những che chướng của đạo đức giả và sự ngu dại được tiêu trừ, sự tích lũy của không bám chấp trong khi bận rộn được hoàn thiện, và sự thành tựu của việc chuyển bất kỳ những gì được kinh nghiệm thành sự chứng ngộ sẽ đạt được.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Công Chúa Tsogyal hỏi Đạo Sư Padma: Cách thực hành thực tế của thọ quy y cách bí mật là gì?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vị Thầy trả lời: Kiến, trong sự thoải mái tự nhiên, phải thoát khỏi tham dục và không thiên vị, cực đoan.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự thiền định phải thoát khỏi những tập trung vào những hình tướng cụ thể và những điểm quy chiếu. Điều này không thể diễn tả bằng bất cứ ngôn từ thông thường nào.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có thể nói rằng, không nên đặt tâm con hướng ra ngoài, cũng không tập trung nó vào bên trong; hãy an nhiên tự tại không chỗ trụ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy an nghỉ không xao lãng trong trạng thái của kinh nghiệm bất tận vào lúc đi, đứng, nằm, hay ngồi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những cảm giác về sự trọn vẹn, hoan hỷ, trống không, phúc lạc, hay trong sáng, tất cả đều là những kinh nghiệm tạm thời. Không nên xem chúng là những điều kỳ diệu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi những trạng thái của tâm xảy ra như xáo động, che ám, hay hôn trầm, hãy sử dụng những kinh nghiệm này như sự tu hành. Bất cứ những gì xảy ra như vậy, không nên xem chúng là những khuyết điểm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Công Chúa Tsogyal hỏi: Phương pháp thọ nguyện quy y cách bí mật như thế nào?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đạo Sư đáp: Đỉnh lễ và nhiễu quanh vị Thầy, dâng cúng hoa cho Ngài. Người đệ tử phải áp dụng tư thế ngồi kiết già và với lòng bi thọ nguyện trau dồi bồ đề tâm vì lợi ích của chính mình và người khác. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau đó nhìn chăm chú lên bầu trời không chuyển động tròng mắt, hãy để cho tỉnh giác của con an nghỉ – một cách tỉnh thức, sinh động, trong sáng, và tỏa khắp – thoát khỏi sự bám trụ vào người thấy biết và cái được thấy biết. Chính điều này là cái thấy có xác quyết, thiền định có kinh nghiệm, và hành động có liên kết! Như vậy nó nên được chỉ ra. Hãy thiền định như đã nhắc đến ở trên đây.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đây là giải nghĩa về thọ quy y cách bí mật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đạo Sư Hoá Thân Padma nói: Đây là hướng dẫn khẩu truyền của Ta, trong đó những giáo huấn nội, ngoại, và bí mật, những cái thấy cao và thấp, Mantra thừa và thừa Triết học được cô đọng thành một gốc duy nhất trong cách thọ quy y ngoại, nội và bí mật. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi áp dụng nó một cách tương ứng, con sẽ hướng về thực hành Pháp, việc thực hành Pháp của con sẽ trở thành con đường, và con đường của con sẽ chín muồi thành quả. Công chúa xứ Kharchen, con hãy hiểu như vậy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Điều này hoàn tất giáo huấn về thực hành thọ quy y như con đường của hành giả.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">SAMAYA. ẤN NIÊM, ẤN NIÊM, ẤN NIÊM.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Dakini Yeshe Tsogyal ghi lại và chôn dấu</b></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Phát lộ bởi Đức Nyang Ral Nyima Oser và Đức Sangye Lingpa</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><span style="font-weight: 400;">Việt dịch: Erik Pema </span></em><i>Kansas</i></p>
<p><em>Nguồn: <a href="https://thuvienhoasen.org/a5976/quy-y">Quy Y</a></em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/quy-y-cach-ben-ngoai-ben-trong-va-bi-mat/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Phật, Pháp và Tăng</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/quy-y-tam-bao/phat-phap-va-tang-2/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/quy-y-tam-bao/phat-phap-va-tang-2/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 09 Sep 2018 09:45:07 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Quy y Tam Bảo]]></category>
		<category><![CDATA[Tam Bảo]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=8914</guid>
		<description><![CDATA[1. Phật Đức Phật – bậc dẫn đường chân chính Trong các Kinh điển, Đức Phật nói rằng chúng ta cần xem bản thân là người bệnh, và Đức Phật là bác sĩ, và giáo lý là thuốc. Quan hệ của chúng ta với Đức Phật giống như một người bệnh với bác sĩ. Như khi chúng ta theo một&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/quy-y-tam-bao/phat-phap-va-tang-2/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><strong>1. Phật</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đ</strong><strong>ứ</strong><strong>c Ph</strong><strong>ậ</strong><strong>t</strong><strong> – b</strong><strong>ậ</strong><strong>c </strong><strong>d</strong><strong>ẫ</strong><strong>n </strong><strong>đ</strong><strong>ườ</strong><strong>ng</strong> <strong>chân chính</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Trong các Kinh điển, Đức Phật nói rằng chúng ta cần xem bản thân là người bệnh, và Đức Phật là bác sĩ, và giáo lý là thuốc. Quan hệ của chúng ta với Đức Phật giống như một người bệnh với bác sĩ. Như khi chúng ta theo một chế độ ăn kiêng và uống thuốc theo đơn của bác sĩ, chúng ta nên theo những chỉ dẫn của Phật và áp dụng các giáo lý này. Bằng cách uống thuốc, chúng ta sẽ thu được cả những lợi ích tạm thời và dài hạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Căn bệnh mà chúng ta mắc phải là sự ngu dốt, những cảm xúc phiền não, nhận thức sai lệch và khổ đau. Bởi vì Đức Phật đã thoát khỏi mọi căn bệnh như thế, Ngài thực sự là người chỉ dẫn đáng tin cậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Như trong các Kinh điển có nói, làm sao người ta, những kẻ trong hoàn cảnh khó khăn như chúng ta có thể giúp chúng ta thoát khỏi bãi cát lún? Giống như vậy, những người, không thể tự thoát khỏi vòng luân hồi không thể giải thoát chúng ta khỏi vòng luân hồi. Bởi thế, Đức Phật là người dẫn đường chân chính, và giáo lý là thứ thuốc hữu hiệu.</p>
<p style="text-align: justify;"><u></u><strong>Sự giác ngộ của Phật</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Quan đi</strong><strong>ể</strong><strong>m</strong> <strong>Ti</strong><strong>ể</strong><strong>u th</strong><strong>ừ</strong><strong>a</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Theo quan điểm Tiểu thừa, Phật Thích Ca Mâu Ni thành tựu Chánh giác ở Bồ Đề Đạo Tràng bằng cách chinh phục mọi che chướng cảm xúc và nhận thức. Trong tiếng Tạng, một bậc giác ngộ là <em>sangye</em>. <em>Sang </em>nghĩa là tịnh hóa các cảm xúc phiền não (<em>nyondrip</em>) và che chướng nhận thức (<em>shedrip</em>). <em>Gye</em> nghĩa là sự tỉnh thức của trạng thái tràn đầy những phẩm tính hoàn hảo của giác ngộ. Trạng thái tỉnh thức của Phật thoát khỏi mọi che chướng và sở hữu các phẩm tính hoàn hảo của kiến thức, tâm từ, lòng bi mẫn và trí tuệ.</p>
<p style="text-align: justify;">Quan điểm Tiểu thừa nhìn nhận Phật Thích Ca Mâu Ni là một chúng sinh bình thường. Dĩ nhiên, phải công nhận rằng chúng sinh bình thường này rất phi thường, nhưng từ quan điểm này, ngài sở hữu những uẩn bình phàm.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Quan đi</strong><strong>ể</strong><strong>m</strong> <strong>Đ</strong><strong>ạ</strong><strong>i th</strong><strong>ừ</strong><strong>a</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Theo Đại thừa, Phật Thích Ca Mâu Ni giác ngộ trong cõi Akanishtha, cõi trời cao nhất – một cõi Phật, không thể nhìn thấy bởi người thường.</p>
<p style="text-align: justify;">Với lòng từ bi, vì lợi ích của người khác, Ngài tái sinh trong cõi người và “giả vờ” trải qua toàn bộ quá trình của “mười hai hành động<a href="https://thuvienhoasen.org/a15343/phat-phap-va-tang#_ftn1">[1]</a>”, bao gồm cả hành động giác ngộ dưới tán Bồ đề. Bởi Phật đã hoàn toàn giác ngộ, Ngài thoát khỏi mọi trải nghiệm của luân hồi bởi vì Ngài không bị trói buộc bởi các uẩn thông thường. Ngài chỉ hiển bày các uẩn này để chúng sinh bình phàm có thể nhận thấy và đưa ra một tấm gương về con đường giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Phật giác ngộ nhờ con đường Bồ Tát, con đường mà Ngài đã trải qua từ đầu đến cuối. Ngài nói rằng với Ngài điểm khởi đầu của con đường bồ đề tâm là trong cõi địa ngục. Ngài đang kéo chiếc xe bò với một người khác, và cả hai đều bị tra tấn dữ dội. Phật nghĩ rằng: “Tại sao tôi không nhận lấy tất cả nghiệp này, tại sao không trở thành đối tượng dày vò và giải thoát cho người kia?” Ngài bảo các vị <em>yama</em><a href="https://thuvienhoasen.org/a15343/phat-phap-va-tang#_ftn2">[2]</a>, những kẻ đang tra tấn Ngài, hãy để điều này xảy ra. Nhưng họ nói: “Mọi người đều có nghiệp riêng! Ông không thể giải thoát bất kỳ ai khỏi nghiệp riêng của họ”, và đánh vào đầu ngài bằng cái búa sắt. Phật chết, nhưng bởi vì nghiệp quả tốt lành mà ước nguyện của Ngài tạo ra, Ngài ngay lập tức được giải phóng khỏi cõi địa ngục đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài đã giác ngộ ở Akanishtha; sau đó Ngài ở Tushita, một cõi Phật nơi mà Phật Vị lai, Ngài Di Lặc hiện tại an trụ. Khi thời gian chín muồi, và mọi người thích hợp để một vị Phật tái sinh trong thế giới này, Ngài được thụ thai trong tử cung người mẹ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>S</strong><strong>ự</strong> <strong>xu</strong><strong>ấ</strong><strong>t hi</strong><strong>ệ</strong><strong>n</strong><strong> c</strong><strong>ủ</strong><strong>a Ph</strong><strong>ậ</strong><strong>t trong </strong><strong>th</strong><strong>ế</strong><strong> gi</strong><strong>ớ</strong><strong>i</strong><strong> này</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Nếu chư Phật đã làm cạn kiệt mọi nguyên nhân và điều kiện của luân hồi và sự xuất hiện trong luân hồi cũng như hoàn toàn chứng ngộ chân lý tuyệt đối của tính không, làm sao và tại sao các ngài thị hiện trong thế giới này?</p>
<p style="text-align: justify;">Điều này xảy ra nhờ hai khẩn nguyện; khẩn nguyện của hữu tình chúng sinh có kết nối với chư Phật và đánh thức khỏi trạng thái ngu dốt như mơ của tâm, và khẩn nguyện của chư Phật làm lợi lạc chúng sinh và đánh thức họ khỏi trạng thái huyễn hoặc như mơ đó. Khi khẩn nguyện của hữu tình chúng sinh và của chư Phật gặp nhau, chư Phật xuất hiện trên thế giới.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự xuất hiện của các Ngài giống như trăng trên trời, được phản chiếu rõ ràng và tự nhiên trên nhiều ao hồ bên dưới. Nhưng điều này không ám chỉ rằng Đức Phật tự mình “hạ xuống” từ hư không, hay có một vị Phật “xuống đây” và một vị khác “ở trên kia”, cũng không phải có nhiều vị Phật khắp mọi nơi.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>M</strong><strong>ộ</strong><strong>t ngh</strong><strong>ì</strong><strong>n v</strong><strong>ị</strong><strong> Ph</strong><strong>ậ</strong><strong>t</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Trong thời đại đặc biệt này, một nghìn vị Phật sẽ xuất hiện. Theo các miêu tả truyền thống, tất cả những gì chúng ta thấy từng là chân không hay hư không. Sau đó gió và mưa bão nổi lên, tạo thành yếu tố đất. Mưa tiếp tục, và một nghìn bông sen nở. Các vị trời nam và nữ thấy sự kiện này và tự hỏi nó tượng trưng cho điều gì. Các vị trời tuổi cao, uyên bác có thể nhìn thấy tương lai nhờ sức mạnh của thiền định, đã nói rằng đó là dấu hiệu trong thời đại này sẽ có một nghìn vị Phật. Bởi thế, nó được gọi là <em>kalpa zangpo</em>, “thời đại xuất sắc”.</p>
<p style="text-align: justify;">Cho đến nay, chúng ta đã có bốn vị Phật. Trong mỗi thời của bốn vị Phật này, rất nhiều vị Phật khác đã xuất hiện và làm lợi lạc chúng sinh. Nhưng có một vị tối cao trong mỗi thời, bậc đảm bảo rằng mọi giáo lý của thời đại đặc biệt đó sẽ hòa hợp với lời dạy của vị Phật đó. Vị Phật tối cao của hiện tại là Phật Thích Ca Mâu Ni, tuy nhiên có rất nhiều các vị Phật khác đã đến thế giới này và làm lợi lạc chúng sinh. Ví dụ, Đức Văn Thù, Đức Quan Âm và Đức Kim Cương Thủ đều là các vị Phật, nhưng các Ngài thị hiện dưới hình tướng chư Bồ Tát. Guru Rinpoche cũng là một hóa thân của Đức Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Các vị Phật tối cao này đều đến với mười hai hành động của một vị Phật, đạt giác ngộ và thuyết Pháp. Trong trường hợp của Phật Thích Ca, Ngài sinh ra là một vị hoàng tử, nhưng các vị Phật không nhất thiết phải sinh ra làm hoàng tử như vậy.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Hai </strong><strong>trí tu</strong><strong>ệ</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Điều quan trọng là biết rằng Phật có hai kiểu trí tuệ [<em>jnana</em>]: trí tuệ nhìn thấy bản chất của mọi thứ như chúng là, và trí tuệ nhìn thấy tính đa dạng của mọi hiện tượng.</p>
<p style="text-align: justify;">Thứ mà Phật nhìn thấy từ quan điểm hay trải nghiệm giác ngộ của Ngài được gọi là <em>rang nang</em> trong tiếng Tạng. Nhận thức của chúng sinh khác được gọi là <em>shyen nang</em>. Bởi thời gian là trống rỗng, <em>rang nang</em> và <em>shyen nang</em> có thể xuất hiện cùng lúc. Trí tuệ của việc nhận thấy mọi thứ bao gồm của nhận thức giác ngộ về mọi thứ <em>rang nang</em>, và nhận thức của chúng sinh, <em>shyen nang</em>. Nếu không phải như vậy, thì chư Phật sẽ không thể thuyết giảng.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Ch</strong><strong>ư</strong> <strong>Ph</strong><strong>ậ</strong><strong>t thuy</strong><strong>ế</strong><strong>t</strong><strong> gi</strong><strong>ả</strong><strong>ng ra sao</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Một hình ảnh có thể giúp chúng ta hiểu cách thức mà chư Phật thuyết giảng là hãy tưởng tượng hai người trong một căn phòng: một người thức và người kia thì ngủ, và gặp phải ác mộng. Người thức – Phật – có thể nhận ra rằng người kia đang gặp ác mộng. Điều này không chỉ được hiểu qua sự suy luận mà còn qua nhận thức trực tiếp về cơn ác mộng của người đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù người thức có thể nhận thấy cơn ác mộng của người kia một cách trực tiếp, trải nghiệm của người mơ đó không trở thành sự thật của người thức. Bởi vậy người đang thức có thể chậm rãi đánh thức người kia khỏi giấc mộng. Nhờ đó, anh ta có thể kéo người kia khỏi giấc mơ và trở về thực tại, đó là sự không tồn tại của mọi cơn ác mộng. Đó là cách mà chư Phật dạy hữu tình chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi bạn tỉnh dậy trong một giấc mơ, giấc mơ có thể tiếp tục, nhưng mối quan hệ của bạn với nó đã thay đổi. Đó là con đường của chư Bồ Tát, đặc biệt là trong giai đoạn sau thiền định. Khi bạn hoàn toàn tỉnh dậy khỏi giấc mơ, đó là Phật quả. Bạn tỉnh thức với các trải nghiệm hoàn toàn về sự thực và sự xuất hiện; nó không đúng khi nói rằng mọi hình tướng đơn giản biến mất ở điểm này.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Ba thân của chư Phật</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Bản chất của sự thật được gọi là Pháp thân, và các hình tướng là Sắc thân. Một vị Phật hòa hợp với Pháp thân trong khi xuất hiện như là Sắc thân.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Pháp thân</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Trong trạng thái tuyệt đối của niết bàn, trong Pháp thân, không có nhận thức và không có hình tướng. Nhưng điều này không có nghĩa là Pháp thân là rắn chắc và cách biệt, hay một hư không hoàn toàn tách biệt khỏi các hoạt động của chư Phật hay các hình tướng của Phật quả, tức là hai hình tướng của Sắc thân – Báo thân và Hóa thân.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Báo thân</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Các hình tướng Báo thân khởi lên từ Pháp thân, thứ như hư không tràn khắp, xuất hiện chủ yếu với chư Bồ Tát, những bậc trên con đường giác ngộ. Các Báo thân khởi lên thông qua duyên khởi như là kết quả của nghiệp và sự rộng mở của chư Bồ Tát, và sức mạnh của chư Phật hiển bày từ Pháp thân. Các hình tướng Báo thân không thể tiếp cận bởi chúng sinh bình phàm.</p>
<p style="text-align: justify;">Báo thân Phật làm lợi lạc cho chư Bồ Tát, những bậc ít nhất đạt đến địa thứ nhất. Những vị Bồ Tát này có thể nhìn thấy và thọ nhận giáo lý từ Báo thân Phật. Cách thức các Ngài thọ nhận giáo lý không giống như cách chúng ta nhận, thường là khẩu truyền. Ví dụ, các vị Bồ Tát đơn giản có thể nhìn vào thân của Báo thân Phật và nhận ra các che chướng của bản thân và cách để tịnh hóa chúng một cách rõ ràng.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Hóa thân</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Từ quan điểm Tiểu thừa, Phật được nhìn nhận như một chúng sinh bình thường, và chúng sinh bình thường coi Phật là Hóa thân Phật. Từ quan điểm Đại thừa, Phật Thích Ca Mâu Ni là Hóa thân Phật, người, như là cái bóng của Báo thân Phật, giáng sinh như một bậc toàn giác từ cõi trời Tushita. Hóa thân Phật giống như những cái bóng của Báo thân Phật, như mặt trăng phản chiếu hình bóng xuống ao.</p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù chư Phật xuất hiện, sự xuất hiện của các Ngài không phải sự xuất hiện của chân lý tương đối bình thường, ảo mộng, sản phẩm của tâm quan niệm và các lỗi lầm. Các Ngài xuất hiện một cách độc lập, nhưng sự xuất hiện này thanh tịnh chứ không có lỗi lầm. Bởi thế, những phẩm tính vô song của chư Phật được gọi là <em>zakme kyi</em> cho trong tiếng Tạng, nghĩa là “các phẩm tính không lỗi lầm”.</p>
<p style="text-align: justify;">Pháp thân có sức mạnh làm khởi lên vô số các phẩm tính không lỗi lầm. Mặc dù Hóa thân Phật Thích Ca Mâu Ni trải qua đủ mười hai hành động của một vị Phật, từ cõi trời Tushita đến khi nhập Niết Bàn, từ quan điểm Pháp thân của chư Phật, không hề có sự di chuyển hay thay đổi nào.</p>
<p style="text-align: justify;">Mục đích đằng sau việc chư Phật đến thế giới này là để chỉ ra con đường giác ngộ. Đức Phật trải qua, theo cách hoàn hảo nhất, đủ mọi giai đoạn của con đường mà chúng ta phải đi. Để chỉ ra sự từ bỏ, Phật rời bỏ cung điện và từ bỏ mọi hài lòng như thể chúng bị nhổ vào bụi. Ngài đi vào rừng, điều này giải thích tầm quan trọng của sự từ bỏ các mối bận tâm, thứ thực ra tạo nên khổ đau và trói buộc.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Nh</strong><strong>ữ</strong><strong>ng ph</strong><strong>ẩ</strong><strong>m tính</strong><strong> c</strong><strong>ủ</strong><strong>a Ph</strong><strong>ậ</strong><strong>t nh</strong><strong>ư</strong><strong> m</strong><strong>ộ</strong><strong>t v</strong><strong>ị</strong><strong> th</strong><strong>ầ</strong><strong>y</strong><a href="https://thuvienhoasen.org/a15343/phat-phap-va-tang#_ftn3"><strong>[3]</strong></a></p>
<p style="text-align: justify;">Các phẩm tính như một vị thầy của Phật là rất rõ ràng. Ngài sở hữu cả hai kiểu trí tuệ, mười sức mạnh, bốn trạng thái vô úy<a href="https://thuvienhoasen.org/a15343/phat-phap-va-tang#_ftn4">[4]</a>, mười tám đặc điểm phân biệt của trạng thái tâm của Phật, ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Tám ph</strong><strong>ẩ</strong><strong>m tính</strong><strong> c</strong><strong>ủ</strong><strong>a </strong><strong>giác ng</strong><strong>ộ</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Như trong <em>Uttaratantra shastra</em> có nói, trong tất cả, Phật là tối thượng. Trạng thái Phật quả, hay giác ngộ hoàn toàn vô song, thoát khỏi mọi lỗi lầm, và hoàn toàn đáng tin cậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Tâm giác ngộ có ba phẩm tính, làm lợi lạc chính bậc giác ngộ. Nó không giả tạo, tự nhiên và tự tỉnh thức, nghĩa là tâm của Phật không chứng ngộ do kết quả của các điều kiện bên ngoài.</p>
<p style="text-align: justify;">Ba phẩm tính của chư Phật làm lợi lạc người khác là trí tuệ vĩ đại; tâm từ lớn lao, sự chu đáo và từ bi và sức mạnh làm lợi lạc vĩ đại.</p>
<p style="text-align: justify;">Phẩm tính làm lợi lạc bản thân và phẩm tính làm lợi lạc người khác, khi được thêm vào ba phẩm tính được liệt kê trong hai loại trên, tạo thành cái đôi khi được gọi là tám khía cạnh của giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>2. Pháp</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Các </strong><strong>ý nghĩa</strong><strong> c</strong><strong>ủ</strong><strong>a t</strong><strong>ừ</strong> <strong>“</strong><strong><em>Dharma</em></strong><strong>”</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Từ “<em>Dharma</em>” trong tiếng Phạn có rất nhiều ý nghĩa khác nhau. Ví dụ, nó có thể liên quan đến kiến thức, con đường, niết bàn, hiện tượng, đối tượng của việc suy nghĩ, công đức, cuộc đời và tương lai. Ở đây Pháp liên quan đến Chánh Pháp [hay Pháp cao quý], những giáo lý của chư Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Vậy Pháp cao quý là gì? Nó là điều mà các bậc giác ngộ nhìn nhận trực tiếp, là bản tính chân thực của sự thật, và là điều mà chư Phật giảng cho người khác cho người khác như là con đường. Bởi thế, Pháp là con đường chân chính dẫn chúng ta thoát khỏi khổ đau của luân hồi và vòng sinh tử.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Pháp nh</strong><strong>ư</strong><strong> là </strong><strong>con đ</strong><strong>ườ</strong><strong>ng</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Một vài giáo lý chỉ thích hợp cho một vùng hay thời điểm đặc biệt, và khi thời điểm đặc biệt đó trôi qua, sẽ không còn hữu ích nữa. Nhưng giáo lý của chư Phật phục vụ con người liên tục xuyên suốt lịch sử và sẽ tiếp tục như vậy. Nguyên nhân của điều này là bởi chúng đề cập đến tâm bên trong của chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở Lerab Gar, tháng 9 năm 2000, Ngài Đạt Lai Lạt Ma nói rằng mọi phát triển khoa học và công nghệ với ý định tạo ra một thế giới tốt hơn chỉ đóng góp cho các nhận thức về giác quan, trong khi điều duy nhất giúp đỡ thức nội tại là trí tuệ. Nếu nó không cung cấp cách thức đối phó với các vô minh che lấp trí tuệ bẩm sinh, thì dù khoa học và công nghệ có phát triển thế nào, nó cũng không tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn. Dĩ nhiên, khoa học và công nghệ sẽ tạo ra vài ảnh hưởng tích cực, nhưng chúng sinh vẫn chịu nhiều khổ đau.</p>
<p style="text-align: justify;">Đặc biệt trong thế kỷ 20 và 21, người ta nhận thấy điều này rõ ràng hơn bất kỳ thời đại nào khác trong lịch sử loài người. Khi bạn xem tivi, những người nổi tiếng hay các ngôi sao dường như hài lòng về vật chất, nhưng họ vẫn thất vọng; họ vẫn rất tệ.</p>
<p style="text-align: justify;">Bởi vậy món quà lớn lao là được thọ nhận giáo lý Phật Đà trong cuộc đời này, cơ hội lớn lao khi có phương tiện để giải quyết vấn đề tâm, và đặc biệt là cái tôi và các vấn đề đi kèm. Thật tuyệt vời khi trí tuệ và phương tiện thiện xảo được trao truyền không gián đoạn từ thời Đức Phật, khoảng 2500 năm trước. Bởi thế, rất nhiều người đã chứng ngộ nhờ trí tuệ và phương tiện thiện xảo. Giác ngộ không phải khả năng giả thuyết; trí tuệ và phương tiện thiện xảo này đã và đang được sử dụng với thành công lớn lao.</p>
<p style="text-align: justify;">Dòng truyền thừa phương tiện thiện xảo và trí tuệ vẫn còn cho đến nay, và chúng ta có cơ hội là một phần của nó. Chính chúng ta có thể thực hành trong dòng truyền thừa này và trải qua những lợi lạc từ đó. Nếu nó từng bị gián đoạn, sẽ thật khó để tái tạo một dòng như thế.</p>
<p style="text-align: justify;">Thành ngữ Tây Tạng có câu:</p>
<p style="text-align: justify;"><em>“Pháp không ph</em><em>ả</em><em>i s</em><em>ở</em><em> h</em><em>ữ</em><em>u c</em><em>ủ</em><em>a ai c</em><em>ả</em><em>; n</em><em>ó</em><em> l</em><em>à</em><em> t</em><em>à</em><em>i s</em><em>ả</em><em>n c</em><em>ủ</em><em>a b</em><em>ấ</em><em>t k</em><em>ỳ</em><em> ai th</em><em>ự</em><em>c h</em><em>à</em><em>nh n</em><em>ó</em><em>”.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Nó không phải tài sản cá nhân của bất kỳ vị Thầy nào hay nhóm người đặc biệt nào. Nếu vị Thầy không thực hành, nó không thuộc về vị Thầy, bởi vì Pháp không phải là một nghi lễ trống rỗng. Giống như vậy, nó không phải là tài sản của nhóm người nào, bởi nó không giống như triết học Cộng sản hay tương tự. Nó thuộc về bất kỳ ai thực hành. Bất kỳ cá nhân nào thực hành Pháp sẽ được cải thiện bởi Pháp. Chính bạn có thể là người tận dụng tối đa Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Pháp nh</strong><strong>ư</strong><strong> là [đ</strong><strong>ố</strong><strong>i t</strong><strong>ượ</strong><strong>ng] </strong><strong>Quy y</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Mọi giáo lý Phật Đà có hai đặc điểm. Đầu tiên chúng phải là một phương thuốc, hay cách đối trị với các cảm xúc phiền não gây ra khổ đau cho chúng sinh. Chúng cần làm giảm những cảm xúc phiền não mà chúng sinh trải qua, và một cách tuyệt đối tiêu diệt mọi nguyên nhân. Giáo lý Phật Đà cũng cần cung cấp các bước nhờ đó hữu tình chúng sinh tiến lên các cõi cao hơn, và một cách tuyệt đối giải thoát khỏi khổ đau luân hồi và vòng sinh tử.</p>
<p style="text-align: justify;">Các giáo lý cần cung cấp nơi nương tựa theo cả hai cách. Bất kỳ điều gì hòa hợp với hai đặc điểm này là giáo lý Phật Đà. Người ta cũng nói rằng ngoài giáo lý của Phật, những giáo lý như vậy không thể được tìm thấy.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Pháp c</strong><strong>ủ</strong><strong>a </strong><strong>Kinh đi</strong><strong>ể</strong><strong>n</strong><strong> và </strong><strong>Ch</strong><strong>ứ</strong><strong>ng ng</strong><strong>ộ</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Như Ngài Vasubandhu nói trong <em>Abhidharmakosa</em>, giáo lý của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chia thành hai loại: Pháp của Kinh điển và Pháp của Chứng ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Khía cạnh Kinh điển của Phật Pháp được duy trì bởi sự nghiên cứu, bao gồm việc giảng dạy, lắng nghe, biên soạn và tranh luận. Điều này liên quan đến cả <em>che</em>, trong tiếng Tạng nghĩa là giải thích Pháp và <em>nyen</em> nghĩa là lắng nghe Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">Khía cạnh Chứng ngộ của Pháp bao gồm thiền định và thực sự chứng ngộ. Khái cạnh này xuất phát từ khía cạnh đầu tiên.</p>
<p style="text-align: justify;">Bằng cách tham gia vào các hoạt động này, chúng ta bảo tồn Pháp không chỉ trong các cuốn sách mà còn trong sự chứng ngộ của chúng sinh. Chúng ta duy trì truyền thống Pháp kinh điển và bảo tồn Pháp chứng ngộ. Nếu chúng ta đánh mất một trong hai, nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến điều còn lại; Pháp sẽ không trọn vẹn. Giống như việc điều này rất quan trọng với chúng ta, với thế hệ tương lai, điều quan trọng là có cơ hội tham gia và trở nên uyên bác cả về Pháp của Kinh điển và Pháp của Chứng ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giáo lý</strong><strong> và </strong><strong>Lu</strong><strong>ậ</strong><strong>n gi</strong><strong>ả</strong><strong>i</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung có hai kiểu Kinh điển Phật giáo. <em>Ka</em> trong tiếng Tạng là những lời dạy của chính Đức Phật và <em>tencho</em> là các luận giải của các đại học giả xứ Ấn Độ Và Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Ka</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Các giáo lý của Đức Phật gọi là <em>ka</em>. Nhưng <em>ka</em> không chỉ gồm những lời mà Đức Phật nói ra. Ví dụ, Bát nhã tâm kinh là <em>ka</em>, nhưng chính ngài Quan Âm đã giảng về Bát nhã tâm kinh, khi trả lời câu hỏi của ngài Xá Lợi Phất. Nguyên nhân nó được xếp vào <em>ka</em> là sự gia trì của Đức Phật được chuyển đến ngài Quan Âm, người trở thành phát ngôn viên của Đức Phật. Vì thế, Bát nhã tâm kinh là “<em>ka</em> khởi lên từ sự gia trì”.</p>
<p style="text-align: justify;">Có rất nhiều dịp khác mà Đức Phật không nói, nhưng âm thanh đến từ nhiều phần khác của thân ngài. Các giáo lý này được gọi là <em>chotrul gyi ka</em>, tức <em>ka</em> kỳ diệu.</p>
<p style="text-align: justify;">Chính Đức Phật gợi ý rằng khi các giáo lý của ngài được kết tập, chúng cần được bắt đầu bằng câu, “Tôi nghe như vầy …” Mọi giáo lý bắt đầu như thế đều là <em>ka</em>.</p>
<p style="text-align: justify;">Những lời dạy của Phật là thanh tịnh, hoàn hảo và an bình. Chúng hòa hợp với sự thật tương đối và tuyệt đối, chân thật, đúng đắn và là phương thuốc cho mọi căn bệnh. Chúng vượt khỏi mọi so sánh.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Tencho</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Nghĩa đen của từ <em>tencho</em> trong tiếng Tạng [tiếng Phạn là shastra] là “chỉ ra và chuyển hóa”. Khi bạn được chỉ ra rõ ràng cách thức mọi thứ thực sự là, tâm bạn được chuyển hóa. Sự ngu dốt chuyển hóa thành giác tính, tiêu cực thành tích cực. Vì thế, mục đích của <em>tencho</em> là chuyển hóa tinh tế tâm của đệ tử, và kết quả của <em>tencho</em> là bạn được bảo vệ khỏi những cõi thấp hơn.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Tencho</em> được viết bởi các học giả. Về Luận, người ta nói rằng bảy bậc trưởng lão chứng ngộ từ truyền thống Tiểu thừa gặp nhau và biên soạn bản <em>shastra</em> đầu tiên, <em>Chedrak Shedzo Chenmo</em>. Để được phép biên soạn một <em>shastra</em>, học giả, ít nhất cần phải hiểu năm ngành khoa học chính và năm ngành phụ.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm ngành chính gồm nghệ thuật, y học, ngôn ngữ, logic và triết học nội tâm.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm ngành phụ gồm đồng nghĩa, toán học, biểu diễn, thơ ca và biên soạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Chỉ người hiểu những ngành này mới có thể biên soạn luận giải về giáo lý Phật Đà. Bên cạnh đó, để có thể biên soạn một bản <em>shastra</em>, họ ít nhất phải chứng ngộ địa thứ nhất hay có thể giao tiếp với Bổn tôn, chẳng hạn Đức Văn Thù. Một cách lý tưởng, tác giả cần trực tiếp trải nghiệm <em>dharmata</em>, chân lý.</p>
<p style="text-align: justify;">Có khoảng một trăm bản <em>ka</em> (<em>Kangyur</em>) bằng tiếng Tạng và khoảng hai trăm bản <em>tencho</em> (<em>Tengyur</em>). Tất cả các bản <em>tencho</em> được viết bởi các đại học giả, những bậc uyên bác mọi ngành khoa học chính và phụ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>3. Tăng</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Nh</strong><strong>ữ</strong><strong>ng b</strong><strong>ậ</strong><strong>c v</strong><strong>ớ</strong><strong>i </strong><strong>ý đ</strong><strong>ị</strong><strong>nh</strong><strong> thi</strong><strong>ệ</strong><strong>n l</strong><strong>à</strong><strong>nh</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Những bậc nghiên cứu, quán chiếu và thiền định về giáo lý của Đức Phật, và ý định được đặt trên con đường Pháp và giác ngộ được gọi là Tăng [tiếng Tạng là <em>gendun</em>, tiếng Phạn là <em>Sangha</em>]. Từ <em>Sangha</em> nghĩa đen là “những bậc với ý định thiện lành”.</p>
<p style="text-align: justify;">Có hai kiểu đức hạnh: đức hạnh hướng về các hành động trong thế giới này, và đức hạnh tuyệt đối của việc thành tựu Chánh giác.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Quy y Tam B</strong><strong>ả</strong><strong>o</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Những người bình thường bị lạc trong sự chăm sóc và bảo vệ cái tôi và trong các cảm xúc phiền não. Dù đau đớn nào được gây ra bởi việc chăm sóc và bảo vệ cái tôi, đó là cách mà họ sống. Dù họ cố gắng nhiều lần, thái độ này không thể làm họ hạnh phúc hơn, và không giải thoát họ khỏi khổ đau.</p>
<p style="text-align: justify;">Gần như không thể với người thường để hiểu được rằng khả năng của việc buông bỏ cái tôi và làm giảm khổ đau, căng thẳng và hận thù mà chúng ta cảm thấy bên trong, có thể xuất hiện. Nó như thể bạn chắc hẳn rất điên rồ khi đề xuất như vậy. Tuy nhiên, mặt khác, rất rõ ràng là việc nuôi dưỡng và bảo vệ cái tôi là nguồn gốc của mọi khổ đau.</p>
<p style="text-align: justify;">Bởi vậy, con đường của bạn và con đường của chúng sinh thông thường trở nên khá khác biệt. Mặc dù bạn sống như một thành viên trong gia đình và chăm sóc từng thành viên, bạn vẫn nhận thấy bạn đang trở nên khác biệt với phần còn lại. Mặc dù bạn có thể kết hôn và đã thề sống với vợ/chồng, và mặc dù yêu thương và chăm sóc vẫn còn, bởi bạn làm việc với tâm, bạn sẽ nhận ra khoảng cách giữa bạn với vợ/chồng ngày càng lớn.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự tách biệt này không dựa trên kiểu thành kiến vào với bạn đời. Nó là kết quả của sự thấu suốt tăng lên mà bạn sở hữu như là kết quả của việc giải quyết vấn đề tâm. Trí tuệ bạn đang vun bồi nhìn ra không chỉ vấn đề của người khác mà còn cả vấn đề của bạn. Điều này liên quan đến việc nhìn ra cái khổ trong cuộc đời, và đâm thủng nguyên nhân của nó, thứ đang bám chấp vào cái tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta mong muốn làm việc với các vấn đề tâm lý và cảm xúc bằng cách áp dụng chánh Pháp. Vì thế, chúng ta nhận Đức Phật là người chỉ dẫn và Pháp là con đường, và chúng ta trở thành một phần của Tăng đoàn cao quý.</p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù tình yêu thương, sự chăm sóc và từ bi dành cho người khác tăng lên, và chúng ta vẫn muốn có ích với người khác hơn nữa, con đường của ta trở nên rõ ràng hơn. Vì thế, chúng ta quy y Tam Bảo một cách đúng đắn hơn. Đây là mục đích của việc nghiên cứu và thực hành của chúng ta; quy y một cách đúng đắn, không phải chỉ là nghi lễ. Chúng ta không quy y chỉ để đi theo người khác, mà để phát triển mối quan hệ cá nhân với các đối tượng quy y. Một cách tương đối, chúng ta quy Phật là người chỉ đường, Pháp là con đường và Tăng là những người đồng hành. Một cách tuyệt đối, chỉ có một sự quy y duy nhất, đó là giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Dzigar Kongtrul Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Nhóm Thuận Duyên</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <a href="https://www.google.com/url?sa=t&amp;rct=j&amp;q=&amp;esrc=s&amp;source=web&amp;cd=&amp;ved=2ahUKEwiMqfusxo6DAxV6t1YBHcM8BPwQFnoECCEQAQ&amp;url=https%3A%2F%2Fthuvienhoasen.org%2Fa15343%2Fphat-phap-va-tang&amp;usg=AOvVaw2Z3uSkmGtd1JbW-NMehYJS&amp;opi=89978449">Phật, Pháp và Tăng</a></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="https://thuvienhoasen.org/a15343/phat-phap-va-tang#_ftnref1">[1]</a> Mười hai hành động gồm: an trú trong Tushita, giáng sinh và nhập vào tử cung, chào đời, tinh thông nghệ thuật, tận hưởng phối ngẫu, từ bỏ thế giới, thực hành khổ hạnh, đạt đến điểm quan trọng của giác ngộ, chinh phục Ma vương, giác ngộ hoàn hảo, chuyển bánh xe giáo Pháp và thị hiện Niết Bàn cuối cùng. Xem <strong>Truy</strong><strong>ề</strong><strong>n th</strong><strong>ố</strong><strong>ng Nyingma c</strong><strong>ủ</strong><strong>a Ph</strong><strong>ậ</strong><strong>t gi</strong><strong>á</strong><strong>o T</strong><strong>â</strong><strong>y T</strong><strong>ạ</strong><strong>ng</strong>, quyển II, trang 169, Dudjom Rinpoche.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="https://thuvienhoasen.org/a15343/phat-phap-va-tang#_ftnref2">[2]</a> Các thế lực ma quỷ trong cõi địa ngục.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="https://thuvienhoasen.org/a15343/phat-phap-va-tang#_ftnref3">[3]</a> Xem <strong>Kho tàng các ph</strong><strong>ẩ</strong><strong>m tính</strong><strong> qu</strong><strong>ý</strong><strong> gi</strong><strong>á</strong>, Phụ lục 5.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="https://thuvienhoasen.org/a15343/phat-phap-va-tang#_ftnref4">[4]</a> Bốn sự vô úy là (1) Vô úy trong kiến thức của tất thảy mọi vật; (2) Vô úy trong kiến thức của sự ngừng mọi lỗi lầm; (3) Vô úy để tuyên bố dứt khoát rằng các hiện tượng ngăn cản con đường không trở thành thứ gì khác; (4) Vô úy rằng con đường từ bỏ nhờ đó mọi đặc tính hoàn hảo sẽ đạt được, vừa được chứng ngộ.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/quy-y-tam-bao/phat-phap-va-tang-2/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nội Qui Y Và Thiền Định Trong Tính Không</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/quy-y-tam-bao/noi-qui-y-va-thien-dinh-trong-tinh-khong/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/quy-y-tam-bao/noi-qui-y-va-thien-dinh-trong-tinh-khong/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 16 May 2017 07:20:44 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Quy y Tam Bảo]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7642</guid>
		<description><![CDATA[Tìm hiểu Tính Không Tại sao thực hành phương pháp nội qui y của mật tông quá khó? Tại vì nó được hoàn thành bởi tâm, ở trong tâm. Để bắt đầu công việc này, qui y phải được thực hiện bằng tất cả trái tim, trọn vẹn cả tâm hồn. Qui y không phải là lặp đi lặp lại&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/quy-y-tam-bao/noi-qui-y-va-thien-dinh-trong-tinh-khong/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><b><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tìm hiểu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tính Không</span></b></p>
<p style="text-align: justify;">Tại sao <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> nội <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">qui y</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mật tông</span> quá khó? <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tại vì</span> nó được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thành</span> bởi tâm, ở trong tâm. Để bắt đầu công việc này, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">qui y</span> phải được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span> bằng tất cả trái tim, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọn vẹn</span> cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm hồn</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Qui y</span> không phải là lặp đi lặp lại một vài câu nói trong khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm không</span> có một chút <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rung động</span> nào. Có nhiều người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">qui y</span> vì tập tục, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xã giao</span>. Miệng thì tụng: “ Namo Thầy, namo Phật, namo Pháp, namo Tăng ” mà không hiểu một chút <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> gì và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm không</span> một chút rung cảm nào. Một số người khác thì lặp đi lặp lại theo những người chung quanh như một con vẹt. Đó không phải là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">qui y</span>, nó giống như dùng một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bữa ăn</span> sáng, như đi nhà thờ theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thói quen </span>hoặc vì bắt buộc, mà không có một chút thay đổi gì, không có một chút cảm nhận nào, là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> đang đặt chân lên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Như tôi đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhấn mạnh</span> ở trên, khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> dùng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> nội <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">qui y</span> thì tâm của ta trở nên làm một với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật tính</span>, làm một với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại lạc</span>, làm một với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trí tuệ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> chuyển tất cả vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảnh giới</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thánh thiện </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> của Heruka. Đừng kiếm tìm những đối tượng nào khác ở bên ngoài để qui y! Tôi biết rằng qúy vị đang nghĩ nó ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đâu đó</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trước mặt</span> qúy vị. Tâm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhị nguyên</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> nghĩ, “Tôi đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">qui y</span>.” <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta </span>đang ngồi đây, nhưng làm một vài việc ở ngoài kia. Tâm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhị nguyên</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phân biệt</span> chủ thể và đối tượng (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhị nguyên</span>: tôi/qui y, chúng ta/đây....--Dg). Ngay khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> nghĩ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> đang làm một việc gì thì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lập tức</span>, một cách rất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> nghĩ đến một hành động ở bên ngoài. Điều này xẩy ra bởi vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> đã có quá nhiều dấu vết <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhị nguyên</span>, dấu vết hay phân tích và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">so sánh</span> trong tâm khảm của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta </span>(đây chính là những tiền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý niệm</span> đã có sẵn ở trong đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>, đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">huân tập</span> do tập quán, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thói quen</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span>... từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">muôn vàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiếp trước</span> --Dg).</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế, khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">áp dụng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> nội <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">qui y</span> thì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính tâm</span> ta trở nên niềm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an lạc</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính tâm</span> ta. Khi ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát khởi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng tin</span> mãnh liệt vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân tính</span> thì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngay lập tức</span> nó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biến chuyển</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> trong ta như là Heruka. Ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> cảm nhận ta và Heruka là một. Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh thần</span> đó ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">qui y</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phương pháp</span> này cực kỳ hữu hiệu và ơn ích. Có thể rất khó hiểu nhưng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> nên làm thử.</p>
<p style="text-align: justify;">Để hiểu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">qui y</span> này, bắt buộc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> phải hiểu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tính Không</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span>, công việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển hóa</span> của tâm ta vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại lạc</span>, vào sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vĩnh cửu</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> sẽ khô cằn như một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý niệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bình thường</span>, thay vì đó chính là sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sung mãn</span> của một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> nội tại. Nếu ta đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu rõ</span> ràng về tâm bản nhiên, nếu tâm ta đã từng có những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span> thì đó là mối <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên hệ</span> thật dễ dàng cho tâm ta trở nên làm một với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span>, để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển hóa</span> và hòa nhập ta là một với Heruka. Với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> này tâm ta hòa nhập trong nguồn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năng lượng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại lạc</span> của Heruka thay vì những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ganh ghét</span>, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham lam</span> và những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bám víu</span> thông thường.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu thực sự tâm ta đã hòa nhập trong niềm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an lạc</span> đó thì ta không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cần phải</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cầu nguyện</span>, không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cần phải </span>tụng những câu: “ Namo Phật... <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vân vân</span>...” <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Lời nói</span> không qui y! Những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kẻ yếu hèn</span> thường cần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngôn từ</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thông</span> nhưng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngôn từ</span> chỉ có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giá trị</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngôn từ</span>. Nếu ta đã thực sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết hợp</span> với nguồn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại lạc</span> thì ta đâu cần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">qui y</span> bằng những lời thốt ra từ môi miệng. Như vậy, dù ở bất cứ đâu, làm bất cứ gì, trong bất cứ thời điểm nào, ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vẫn có</span> thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">qui y</span> trong từng giây từng phút, vì ta đã là một với những sự việc này rồi. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> biết rằng sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vĩnh cửu</span>, niềm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an lạc</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> thì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô cùng</span> sâu thẳm và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong sáng</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Qui y </span>không phải là ngồi bắt chéo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân như</span> trong lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>. Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> này là một sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiềm ẩn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tùy thuộc</span> vào những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành vi</span> bên ngoài. Như vậy qua <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu tập</span> thanh tẩy này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thể đạt</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> một cách nhanh chóng và dễ dàng.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự đạt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngộ tính</span> không có một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giá trị</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vĩnh cửu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thường hằng</span>. Ngược lại, niềm vui của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế gian</span> thì ngắn ngủi và thường để lại đớn đau khi nó biến mất. Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bám víu</span> vào những thú vui <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vật chất</span> thì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> sẽ không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span> khi nó ra đi.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> không hiểu thấu đáo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span> bằng những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực chứng</span> thì ít ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> cũng phải có một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý niệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rõ ràng</span> về nó, để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vượt qua</span> được những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý niệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lầm</span> trên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> đi, đó là những vết hằn đã in sâu trong tâm khảm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>. Thông thường, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý niệm</span> mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> đã có về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> thì rất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span>. Tôi nghĩ, “Tôi là Thubten Yeshe” nên trong tâm tôi đã có một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình ảnh</span> rõ rệt nào đó về cái đầu, tay chân cùng những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác quan</span> của tôi. Cho tới khi nào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> còn nhìn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> theo kiểu này thì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> không thể nào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hòa hợp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm thức</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> với sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất diệt</span>, với niềm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an lạc</span>. Khi có sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu biết</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span> thì chính sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu biết</span> này sẽ là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên nhân</span> để phá vỡ những hành động xấu xẩy ra hàng ngày, đây là luật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên đới</span> của dòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tư tưởng</span>, nó làm việc một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span>, tự động trong tâm của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> có một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí thông minh</span> bén nhậy, thì không khó lắm để hiểu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cần phải</span> học những bài triết <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phức tạp</span>, cũng không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cần phải</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> những bài tập của các vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Lạt ma</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Dĩ nhiên</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> có thể học trong sách hoặc qua một vị thầy, nhưng nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> có khả năng, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> có thể học qua <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô cùng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đơn giản</span> này: đừng tin những gì do <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngũ quan</span> đem lại. Không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cần phải </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> hơn cũng không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cần phải</span> khôn ngoan hơn nữa để biết rằng cái gì đã ngăn che không cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> nhìn ra được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span>. Hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận xét</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đơn giản</span> rằng tất cả những gì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> cảm nhận được hàng ngày trong cuộc sống qua <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế giới</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm giác</span> thì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lầm</span>. Đó là những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lầm</span> của cái tôi. Ngay khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> phát giác ra điều này thì những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan điểm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lầm</span> tự nó sẽ biến mất. Điều cốt tủy mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu tập</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt diệu</span> này mang lại là nó sẽ giúp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> nhìn ra ngay được những phóng chiếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lầm</span> của cái tôi để rồi cắt đứt nó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> luôn luôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm thấy</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất an</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lo lắng</span>. Trên đường đến gặp một người, ta thường nghĩ, “ có thể cô ta không thích tôi, không biết anh ta có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiện cảm</span> với tôi không? ước gì tôi là người dễ thương” hoặc “ có thể cô ta không thích giọng nói của tôi,” ...vân...vân... Những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tư tưởng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đa nghi</span> như vậy thường đến từ những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý niệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lầm</span>, từ những lối <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">diễn dịch</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lạc</span> của một tâm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô minh</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> nên sớm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span> rằng tất cả sự vật đều bị sơn một lớp bởi tâm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô minh</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan niệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hão huyền</span>, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tư tưởng</span> và những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm xúc</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> đều không có một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên hệ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tế</span> nào. Chúng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cá biệt</span>, ta nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chấm dứt</span> ngay những cảm nghĩ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất tịnh</span> này. Ngay cả khi người khác khinh thường ta, gọi ta là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kẻ trộm</span> cắp, ta cũng nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiểm soát</span> lại và không nên buồn khổ. Đó là những ơn ích <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tế</span> mà sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu biết</span> này mang lại.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì đang sống trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế giới</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm giác</span> nên ta cho rằng những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý niệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lầm</span> và những phóng chiếu của tâm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô minh</span> là thật. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> thường nghĩ nhìn được là tin được: “Tôi đã nhìn thấy cái đó thì nó phải thật chứ!” Lại có những người tin một cách say mê, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mù quáng</span> rằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">triết thuyết</span> của họ mới thực là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lý tưởng</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xã hội</span>, cộng sản hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tư bản</span>, đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lầm</span> hết, đều là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảo tưởng</span> hết! Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> cứ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tin theo</span> kiểu này, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta </span>sẽ không bao giờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khám phá</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span>, nó sẽ ở xa mãi tận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đâu đâu</span>. Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan điểm</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế giới</span> này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">huyễn ảo</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan điểm</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tại</span> thì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lờ mờ</span> như một tấm màn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hư ảo</span> dầy đặc thì cái <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan niệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lầm</span> đó sẽ tự biến mất, cái còn lại là những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghịch lý</span> của nó, đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan niệm</span> đúng về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span>. Ở ngay giây phút vượt thoát ra ngoài tâm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhị nguyên</span>, là lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> có thể học được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span> trong từng giây phút, trong từng ngày. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ngũ quan</span> của ta không thể rời khỏi những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bám víu</span> vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế giới</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm giác</span>, chính vì thế mà ta vẫn thường tin rằng bất cứ cái gì ta thấy được đều thật như nó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span>. Nhưng nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> cứ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> và những điều mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> tin thì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> sẽ biết được rằng không có lúc nào mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> không học <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span>, tiếp cận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span>. Đôi khi sách vở và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">triết học</span> còn làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> rối mù hơn là giúp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> hiểu được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span>; vì nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> không biết làm cách nào để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phối hợp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chữ nghĩa</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> thì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chữ nghĩa</span> sẽ gây ra rất nhiều trở ngại, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phiền toái</span> cho tâm ta. Nếu ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý thức</span> được công việc này thì ngay một chữ cũng đủ cho ta hiểu trọn cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Những người nào nghĩ rằng để hiểu được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cần phải</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> hàng ngàn vạn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tài liệu</span>, phải nhớ từng chữ của những bài tập, thì họ sẽ bị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhàm chán</span> và điên đầu. Rồi họ cho rằng, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cố gắng</span> hiểu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không </span>trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span> của họ là một điều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không tưởng</span>. Nhưng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> có thể hiểu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span> một cách dễ dàng khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> nhìn nhận bất cứ điều gì, bất cứ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan niệm</span> nào được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận xét</span> bởi một tâm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô minh</span> thì đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">huyễn ảo</span>, đều không có thật, ngay cả những gì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên hệ</span> đến nó. Mặc dù, trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô lượng kiếp</span> cái tôi của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> đã thâu thập, đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bám víu</span> vào những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự kiện</span> mà bây giờ nó bắt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> phải tin rằng “cái này thật, cái kia thật,” đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên nhân</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span>. Cho tới khi nào tâm ta còn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô minh</span> thì ta sẽ nhìn thấy bất cứ một đối tượng nào cũng đều nằm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong vòng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhị nguyên</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong vòng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phân biệt</span>. Bất cứ đối tượng nào được cảm nhận theo kiểu này cũng đều là những cảm nhận không có thật.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tuy nhiên</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> cũng không thể nói rằng chẳng cái gì có thực: “ Mũi tôi, lưỡi tôi, miệng tôi -- không có cái gì của tôi là thực.” Làm thế nào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> có thể nói rằng không có ánh sáng, không có cái bàn? Cái kiểu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lý luận</span> phủ nhận này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> sai. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tốt hơn</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận xét</span>: dù có hay không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan niệm </span>của tôi về cái bàn thì cái bàn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vẫn có</span> thực, lúc đó ta sẽ thấy rằng cái <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận xét</span> của ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> không có thực. Hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận xét</span>, tất cả những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan niệm</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> về bất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cứ sự</span> việc gì, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> cũng đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thấy</span> rằng không có một cái nào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tồn tại</span> (thực có) như nó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> luôn luôn nói về sự vật theo kiểu này: “ Nước Nepal như thế này, nước Mỹ như thế này, Âu châu giống như thế này...vân...vân...” <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> đang nói một điều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô nghĩa</span> lý. Nước Nepal, nước Mỹ và Âu châu mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> đang nói đều không có thật như vậy, rồi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> lại nghĩ: “ Ồ, cái lớp thiền này khó quá!” hay “ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu tập</span> theo kiểu này cũng mang lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span> thôi! ” <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> đang sống trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một thế</span> giới <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mộng tưởng</span> của những đối tượng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">huyễn ảo</span>. Cái tâm mộng mị của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> đang làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span>,</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quan điểm</span> này không có nghĩa là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> hãy từ chối sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế giới</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm quan</span>. Điều này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hợp lý</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> không nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan tâm</span> về một nước Nepal có hay không có; công việc của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> là hãy kiểm chứng xem sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">diễn giải</span> của tâm ta về một nước Nepal như thế nào? có thực hay là không? <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vấn đề</span> ở đây là, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý niệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lầm</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> lên một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan điểm</span> về một nước Nepal mà nó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> không giống một chút nào với một nước Nepal thực ở ngoài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiên nhiên</span>, ngay cả những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên quan đến</span> nó, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bám víu</span> vào nó. Cái tâm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô minh</span> của tôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng </span>về tôi như thế này: “ Thubten Yeshe như thế này, thế này, thế này....” -- nhưng điều này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> không đúng một chút nào so với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thật</span> của tôi -- tôi đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bám víu</span> vào những điều không có thực này, thật là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tội nghiệp</span> cho những phóng tưởng này! <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> đã phát triển những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bám víu</span> qua <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">muôn vàn</span> kiếp sống, vì tin rằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nếu không</span> có cái gì để bám vào thì sẽ bị mất mát, bị hụt hẫng. Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> tin vào sự vật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô thường</span> thì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> sẽ bị mất, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thí dụ</span>, trong tiến trình của sự chết, ta thực sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sợ hãi</span> vì ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm thấy</span> mất tất cả.</p>
<p style="text-align: justify;">Để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng nghiệm</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân tính</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span>, trước nhất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> phải <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm kiếm</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khám phá</span> ra nó đang ở trong tâm của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>. Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm kiếm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân tính</span> ở những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện tượng</span> bên ngoài như cây cối, cái bàn hoặc ở một người nào khác thì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> sẽ không bao giờ tìm được. Theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> của các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> Ấn Độ và các vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Lạt ma</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span> không bao giờ được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng nghiệm</span> theo kiểu này.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng sinh</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luân hồi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> là thích nhìn ra bên ngoài. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> thường nghĩ rằng, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> có thể hiểu được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tại</span> bằng cách nhìn vào những gì người khác làm. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cố gắng</span> có được những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiến bộ</span> bằng cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dòm ngó</span> những người hàng xóm. Họ có cái gì? Làm sao họ có được những thứ đó? Chính những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xu hướng</span> này đã nói lên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> không thể tìm được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực thể</span>. Nếu đây là những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thái độ</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> thì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> sẽ không bao giờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng nghiệm</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span>, mặc dù có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học hỏi</span> cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một đời</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khám phá</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nội tâm</span>, để có được những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng nghiệm</span> nội tại của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> phải bắt đầu bằng cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm kiếm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản lai diện mục</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>. Khi đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khám phá</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực thể</span> nội tại đó, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> sẽ dễ dàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khám phá</span> ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực thể</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế giới</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện tượng</span> này. Nguyên lý <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">căn bản</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span> không đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ trí </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thông minh</span>, như việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> những lời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dạy bảo</span> của các vị thầy hay từ những buổi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thảo luận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span>. Nếu chỉ qua những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương tiện</span> đó, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> không thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng nghiệm</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> cũng phải <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiểm soát</span> tâm để xác định được những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý niệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lầm</span>, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan điểm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mù quáng</span> và nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> thanh tẩy.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chân tính</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span>, nằm ngay ở tâm mà tại sao <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> chưa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khám phá</span> ra được, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặc dầu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học hỏi</span> cả nhiều năm trời? <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tại vì</span> những rung cảm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xấu xa</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tội lỗi</span> đang che kín, đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngăn cản</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> làm việc này. Do đó, để cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân tính</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiển lộ</span> trong tâm, một điều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô cùng</span> quan trọng khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học hỏi</span> những lời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dạy bảo</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiểm soát</span> tâm là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> nên tẩy rửa những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chướng ngại</span> bằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp </span>thanh tẩy, như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> thờ lạy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn kính</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> hợp nhất với Phật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cang Tát Đỏa</span>. Nói cách khác, để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh tiến</span> trong việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực chứng</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> cần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> hai điểm: phát triển sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu biết</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span> và thanh tẩy những căn bệnh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm thần</span>, như những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý niệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lầm</span>, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan điểm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mù quáng</span> mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khám phá</span> ra chúng khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> phân tích tâm. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sức mạnh</span> của sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phối hợp</span> này sẽ dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> trên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span> một cách dễ dàng hơn.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ngày xưa</span>, khi đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lạt ma</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây tạng</span> Tsong Khapa đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> và phân tích <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span> theo sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dạy bảo </span>của phái Madhyamaka (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung đạo</span>), thì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trước mặt</span> ngài và nói: “ Không có ai trên quả đất này có thể dạy con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span>.” Vì thế,<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Lạt ma</span> Tsong Khapa đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi vào</span> những hang cốc cô tịch, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> thanh tẩy và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>, sau cùng ngài đã trực <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngộ tính</span> không, nó vượt hẳn ra ngoài những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý niệm</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span> theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan điểm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung đạo</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Long Thọ</span>. Như vậy, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp </span>Heruka Vajrasattva chẳng những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô cùng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt diệu</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lãnh vực</span> thanh tẩy mà còn giúp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khám phá</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân tính</span> một cách dễ dàng, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nội tâm</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> có một mãnh lực tự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phá hủy</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý niệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lầm</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sở dĩ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> phải bàn thảo dài dòng về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span> là để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cắt nghĩa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề</span> nội <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">qui y</span>. Để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ </span>nội <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">qui y</span> một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đúng đắn</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> phải hiểu được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span> và thanh tẩy những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan niệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lầm </span>của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> về những phóng chiếu, về những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vọng tưởng</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản ngã</span>. Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> nghĩ “Tôi như thế này, thế khác, sinh ở đây, mang những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc tính</span> này... vân...vân...” là những trở ngại bắt đầu kéo đến. Những phóng chiếu của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản ngã</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên nhân</span> của những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thí dụ</span>, một người sinh ra trong một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Do thái</span>, ngay khi họ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xác nhận</span> họ thuộc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủng tộc</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Do thái</span> là ngàn năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lịch sử</span> đến với họ. Cho tới khi nào cái tôi còn đó, là những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề</span>, những trở ngại tự động xẩy ra.</p>
<p style="text-align: justify;">Gía trị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt vời</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm lý</span> học <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo</span> là nó có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thể diệt</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trừ tận gốc</span> rễ mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chấm dứt</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn </span>và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mãi mãi</span> tất cả những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên nhân</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề</span>. Như vậy, gía trị này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> khác biệt với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giá trị</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm lý </span>học của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây phương</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm lý</span> học <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây phương</span> chỉ làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giảm bớt</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">triệu chứng</span> của khổ đau, nhưng gốc rễ của khổ đau vẫn còn đó, khi thay đổi một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự kiện</span> nhỏ trong một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn thể</span> rộng lớn lại là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên nhân</span> cho một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề</span> khác nổi dậy. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> nên hiểu thấu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề</span> này và hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biết ơn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đức Phật</span> đã chỉ dạy cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm lý</span> học <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt vời</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điều trị</span> tận gốc những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con người</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu tập</span> này là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> tự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển hoá</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần tính</span> của Heruka, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> nên hiểu rằng tất cả tiến trình <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển hoá</span> này đều được tự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thể hiện</span> qua <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sức mạnh</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính tâm</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>. Nó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt đối</span> không là gì cả nếu đem <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">so sánh</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự kiện</span> trở nên một cái gì, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thí dụ</span>, trở nên một cây nến. Hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> khác nhau. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> phải <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt đối</span> hiểu thấu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề</span> này. Rất nguy hiểm nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng tỏ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề</span>. Tôi nghĩ rằng những người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây phương</span> phải mất một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> rất dài mới hiểu được. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> bắt buộc phải nhìn ra được sự khác biệt này.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi hiểu được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> sẽ có một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sức mạnh</span> đem tâm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết hợp</span> làm một với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại lạc</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân tính</span>, điều này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> khác biệt với những phóng chiếu, với những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vọng tưởng</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản ngã</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại lạc</span> này được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển hoá</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần tính</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> có thể nhìn được sự khác biệt to lớn giữa sự trở nên Heruka Vajrasattva và trở nên một cây nến. Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> không có sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu biết</span> sâu thẳm về sự tự phát triển của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> này thì khi có người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phê bình</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> “cái gì là sự khác biệt khi trở nên một Heruka hay một cây nến? <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tốt hơn</span> hết hãy trở nên một đoá <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoa hồng</span>, ít ra anh còn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">có mùi </span>thơm!”, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cứng họng</span> mà không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trả lời</span> được. Rồi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> bắt đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi ngờ</span> việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu tập</span>: “ Đây là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý kiến</span> hay. Tôi không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trả lời</span> được câu hỏi. Có lẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn thể</span> công việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> của tôi sẽ không mang lại ơn ích gì mà chỉ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cố gắng</span> trở nên một cây nến.” Nếu đây là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trình độ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu biết</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề </span>này thì nó còn kém hơn cả cái chẳng có gì. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> nên hiểu sự khác biệt này.</p>
<p style="text-align: justify;">Hầu như tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đức Phật</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thích Ca </span>hay Quan Thế Âm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát</span>. Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> có một chút <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu biết</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng </span>được dễ dàng. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vậy thì</span> với những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý niệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lầm</span> và những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vọng tưởng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vật chất</span> sẽ là những trở ngại rất lớn cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> trong việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> về sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển hoá</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân tính</span> vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần tính </span>Heruka. Nói một cách khác, nếu lúc nào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> cũng ấp ủ, cũng mang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình ảnh</span> Phật đi khắp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mọi nơi</span>, thì chính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> tưởng này sẽ làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> dễ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> đến Ngài, rồi một ngày nào đó bất chợt Ngài sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện</span> ngay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trước mặt</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>. Như tôi đã từng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> ở trên, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự quán</span> tưởng sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện </span>cùng một lúc, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> không cần bắt đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> về một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đức Phật</span> nhỏ rồi từ từ lớn dần, lớn dần thành một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đức Phật</span> lớn.</p>
<p style="text-align: justify;">Như vậy, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">qui y</span> theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mật tông</span> không dễ dàng chút nào. Nó khó hơn nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">so sánh </span>với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">qui y</span> thông thường (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bề ngoài</span>) theo kinh sách mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> thường đọc. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tuy nhiên</span>, một khi tâm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt đến</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trình độ</span> nào đó trong việc phát triển <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> thì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> nội <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">qui y</span> một cách dễ dàng hơn. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> cũng nên hiểu rằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> nội <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">qui y</span> này không có gì đi ngược lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật Pháp</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phương pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mật tông</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phê bình</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh điển</span> là tốt hay xấu! <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phương pháp</span> khác biệt này được mang ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dạy bảo</span> là vì tâm của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> có nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trình độ </span>phát triển khác nhau. Đến đây tôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết nghĩ</span> không còn gì phải <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> thêm về sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">qui y</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span> nữa.</p>
<p style="text-align: justify;"><b><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">PHÁT TÂM</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">BỒ ĐỀ</span></b></p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiếp theo</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">qui y</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát nguyện</span> Tâm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Đề</span> theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mật tông</span>. Điều này có nghĩa là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> cần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát khởi</span> lòng hăng say đạt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quả vị</span> Heruka càng nhanh càng hay, như thế <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> mới có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đủ khả năng</span> hướng dẫn những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> khác đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quả vị</span> Heruka, cũng trong một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> rất ngắn. Làm như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vậy thì</span> không bao giờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> còn lười biếng. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thí dụ</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> sẽ làm gì nếu một con nai mẹ đang bị kẹt trong bụi lửa. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> không thể ngồi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoải mái</span> mà nói: “Hãy để nó cháy đi, tôi không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời giờ</span> để lôi nó ra bây giờ, tôi sẽ làm lát nữa.” <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Dĩ nhiên</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> phải ngưng ngay những công việc mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> đang làm, không cần biết nó quan trọng đến thế nào, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> phải <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vội vàng</span> cứu con nai ra khỏi đống lửa ngay. Cũng giống như vậy, một khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> biết <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> đang bị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trói buộc</span> và cháy trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lửa dục</span> vọng, trong lửa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mê lầm</span> thì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> không thể lười biếng được nữa. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> sẽ mau mau <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển hóa </span>tất cả những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sinh hoạt</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong đời</span> sống như ăn, ngủ, làm việc vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Pháp</span>. Ta sẽ không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho phép</span> ta đắm chìm trong biển <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trầm luân</span> một giây phút nào nữa.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng thực sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> vẫn lười biếng. Cái tâm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xấu xa</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> vẫn đẩy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> vào cuộc sống đầy hưởng thụ: “Hãy để mẹ tôi cháy, tôi sẽ cứu bà ấy ra sau khi tôi hưởng thụ xong.” <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Dĩ nhiên</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta </span>không nói những lời như vậy, nhưng những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thái độ</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong đời</span> sống <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phản ảnh</span> những cảm nghĩ ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nội tâm</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>. Hãy thận trọng! <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thường có</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thái độ</span> này. Hãy tưởng tượng : Tôi đang ngồi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thưởng thức</span> những món cao lương mĩ vị trong một nhà hàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sang trọng</span> thì học trò của tôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hối hả </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thông báo</span> mẹ tôi đang bị cháy. Tôi vẫn ngồi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thản nhiên</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trả lời</span>, “khoan đã, tôi còn ăn tráng miệng nữa!” Có phải qúy vị nghĩ ngay đến lòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ích kỷ</span> của tôi phải không? <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Dĩ nhiên</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời nói</span> trên hơi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quá đáng</span> nhưng nó cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> biết một chút về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thái độ</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong đời</span> sống thường ngày.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Dĩ nhiên</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> không nên tức giận, không nên quá <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xúc động</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề</span> này. Nếu tôi khích động quý vị thật mạnh, quý vị sẽ chẳng muốn làm bất cứ điều gì mà chỉ muốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> hết để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi vào</span> rừng núi sâu mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>. Nếu làm như vậy, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> lại tạo thêm một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề</span> nữa rồi. Tôi không muốn làm quý vị quá hăng say, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tốt hơn</span> hết <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> nên từ tốn, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoải mái</span>, nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm hiểu</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải quyết</span> mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề</span> bằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span>. Như tôi nói ở trên, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thường thường</span> ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây tạng</span>, sau những buổi học tập về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu tập</span>, các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền sinh</span> trở nên quá hăng say, họ vội vã muốn rời lớp học, từ giã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu viện</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi vào</span> những hang động trong núi sâu để sống và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> như Milarepa. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thực ra</span>, có rất nhiều người đã ra đi và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dĩ nhiên</span>, hầu hết đã quay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở về </span>sau vài ngày.</p>
<p style="text-align: justify;">Điều này cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> biết <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sức mạnh</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Pháp</span> như thế nào. Có nhiều người nghĩ rằng đây là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quyền lực</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Lạt ma</span> có thể thay đổi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đời sống</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con người</span>. Nhưng đây chính là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sức mạnh</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Pháp</span> đã thay đổi tâm của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con người</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm thức</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thái độ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta </span>thay đổi. Đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sức mạnh</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Pháp</span>, chẳng phải bùa phép của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Lạt ma</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng tôi</span> không biết một chút huyền thuật nào!</p>
<p style="text-align: justify;">Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tập</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">diệu pháp</span> Heruka Vajrasattva, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> lặp lại lời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tụng niệm</span> 3 lần mỗi khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">qui y</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát nguyện</span> Tâm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Đề</span>. Tại sao phải lập lại như vậy? <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> làm như vậy để khẳng định rằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta </span>có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời giờ</span> để thiền và để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thẩm thấu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> của từng lời tụng vào tâm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> như vậy, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> sẽ làm cho qua lệ và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm hồn</span> sẽ trở nên khô cằn, không có một chút rung cảm nào với những lời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cầu nguyện</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tuy nhiên</span>, như tôi đã từng nhắc và khuyên bảo nhiều lần, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">qui y</span> không phải <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đơn giản</span> là lặp đi lặp lại những lời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tụng niệm</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> có thể tụng lên bằng tiếng Anh, tiếng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây tạng</span>, tiếng Phạn...<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vân vân</span>... hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta </span>có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">im lặng</span>. Một điều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô cùng</span> quan trọng là hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý thức</span> cái gì đang xẩy ra trong tâm của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>. Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> có một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> mãnh liệt và có một trí <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu biết</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên tục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lâu dài</span> thì đạt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quả vị</span> Phật chính là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mục đích</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> trên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường tu tập</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> như vậy, dù có niệm “ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nam mô Phật</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nam mô</span> Thầy ...” cả triệu lần cũng chẳng có gì xẩy ra. Thật là phí giờ và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tốn công</span> sức!</p>
<p style="text-align: justify;">Theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại thừa</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">qui y</span> cả ngàn lần, tiến dâng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mạn đà la </span>(<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo tràng</span>) cả ngàn lần, quì lạy cả trăm ngàn lần ...<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vân vân</span>... Làm như vậy có nghĩa là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu tập</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">qui y</span> bằng tất cả thân khẩu và nhất là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọn vẹn</span> cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm hồn</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>. Nếu miệng lẩm bẩm “ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nam mô Phật</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nam mô</span> Pháp, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nam mô</span> Tăng ” rồi nghĩ rằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">qui y</span> xong thì rất có thể miệng thì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">qui y</span> mà tâm thì uống coca cola. Như vậy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> sẽ được những ơn ích gì khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tụng niệm</span> những lời chú đó? Có thể một vài câu chú có những mãnh lực riêng, nhưng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dầu vậy</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vẫn có</span> quyền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi ngờ</span> nó không có ơn ích gì cả nếu tâm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> còn bận rộn, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bám víu</span> vào những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề</span> khác mà không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tâm</span> chú ý vào lời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tụng niệm</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">qui y</span> không dễ chút nào. Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">qui y</span> tập thể, mỗi người lo chuyện riêng của mình, mỗi người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">để tâm </span>một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nơi khác</span> nhau. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tùy theo</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu biết</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tùy theo</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý thức</span> mà mỗi người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">qui y</span> khác nhau. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mặc dầu </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> tụng những câu chú giống nhau, lặp đi lặp lại những lời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cầu nguyện</span> giống y hệt nhau mà mỗi người có sự rung cảm, có những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng nghiệm</span> khác nhau, điều này nói lên mỗi người trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> có những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span>, có những tâm cảm khác nhau.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi bắt đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Tâm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Đề</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> sẽ biết có rất nhiều đường để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cứu độ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>. Bổn phận của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát</span> là thực thi sáu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh nguyện</span> (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bố thí</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trì giới</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhẫn nhục</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh tấn</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định và trí huệ</span>.) nhưng phải cần một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> rất lâu để những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh nguyện</span> này thực sự thấm nhập vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm hồn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>. Nó không có kết quả liền trong một ngày, một giờ. Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh nguyện</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm thấy </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> đã làm được một công việc hữu ích trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>. Mỗi khi ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm thấy</span> ta đã không làm được công việc gì hữu ích, không giúp gì được cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> thì ta phải biết rằng ta đã không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bi</span> chút nào. Một khi ta chỉ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">để ý</span> đến những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề</span> riêng tư thì ta càng trở nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ích kỷ</span> hơn, hẹp hòi hơn, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cô đơn </span>hơn. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bị ám ảnh</span> “Tôi có quá nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề</span>... trở ngại này... khó khăn kia... <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề</span> của tôi... <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề</span> của tôi...” và như vậy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> sẽ không còn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">để ý</span> đến những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề</span> của người khác chung quanh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> nữa. Kết quả là ta không còn một chút <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bi</span> nào dành cho họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám ảnh</span> đó là những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên nhân</span> đem đến sự tự hủy hoại mình. Đừng bận tâm về họ vì ta nghĩ rằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuối cùng</span> họ sẽ hiểu được những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề</span> của họ chăng? Những người muốn tự tử không hiểu một chút gì về những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề</span> của họ. Đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lý do</span> họ tự giết mình. Cái nhìn của họ quá hẹp hòi, quá chật hẹp, quá nhỏ bé. Tự tử không bao giờ là kết quả của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tế</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong thời cổ Ấn Độ, có một ông vua giết cha của mình, khi ông <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trực nhận</span> ra điều ông đã làm, ông bắt đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hối hận</span>, bắt đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hối tiếc</span>, buồn đến độ ông không còn dám nghĩ đến bất cứ điều gì khác. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cuối cùng</span>, ông ta đến với Phật, Phật hỏi ông “Giết cha của anh có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đáng giá</span> không.” <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tự nhiên</span>, ông <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xúc động</span>, tâm ông bắt đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tỉnh lại</span>. Ông <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">suy nghĩ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> về câu nói của Phật, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuối cùng</span> ông ngộ ra rằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mục đích</span> chính của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời Phật dạy</span> là ông nên giết đi cái tâm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bám víu</span> và cái tâm lường gạt, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vọng tưởng</span> đã đem ông vào cuộc sống <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luân hồi</span> này. Qua sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực chứng</span> đó, ông đã trở nên một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">la hán</span>. Điểm quan trọng ở đây là ông ta đã quá bận tâm, đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bị ám ảnh</span> quá nhiều bởi những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề</span> riêng, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm xúc</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô minh</span> này đã tràn đầy tâm ông đến nỗi không còn một chỗ trống nào cho sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bình an</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh thản</span>. Nếu tâm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> quá hẹp hòi, quá nhỏ bé thì sẽ không còn một chỗ nào cho cả chính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>, còn nói chi dành cho người khác?</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Chiếc-bình-thiền-định : <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tập</span> chín vòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hơi thở</span></b></p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">qui y</span> và đối tượng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">qui y</span> đã chảy tan thành ánh sáng rồi hòa tan vào ta, ta hãy tập trung <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định </span>vào một điểm là Heruka Vajrasattva hay Vajradhara (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tùy theo</span> sự chọn lựa đối tượng để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">qui y</span> của mỗi người --Dg) <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> khi nào ta trở nên làm một với Ngài. Nếu những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý tưởng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhị nguyên</span> bắt đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát khởi</span>, hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát nguyện</span> Tâm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Đề</span>, như tôi đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> ở trên.</p>
<p style="text-align: justify;">Bắt đầu từ điểm này của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">diệu pháp</span>, ta không còn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> như những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình thức</span> thông thường; thay vì như vậy, vì đã trở nên làm một với Heruka nên ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> như Heruka hoặc Vajradhara. Do đó, ta không còn nghĩ rằng “ tôi là thế này...thế khác...” hay tưởng tượng đây là thể xác được tạo bởi xương, thịt, máu nữa...-- nhưng cũng đừng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bám víu</span> vào những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình tượng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần thánh</span> này. Điều này có nghĩa là ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> ta là Heruka nhưng đừng phát triển <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng tin</span> ta là Heruka (nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bám víu</span> vào đối tượng, chấp vào đối tượng sẽ tạo cho ta chấp vào cái tôi, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiêu căng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngã mạn</span> - Dg). Sau này, ta sẽ làm giống như vậy khi ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tụng niệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mật chú</span> trong lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sức mạnh</span> của sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điều chỉnh</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Bây giờ, trong lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> mình là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần linh</span>, ta hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> chiếc-bình-thiền-định. Theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> này, hãy chỉ thở bằng mũi, miệng ngậm lại. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thở vào</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thở ra</span> chậm chậm, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> không đứt quãng, nhưng khúc giữa của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hơi thở</span> hơi mạnh hơn khúc đầu và khúc cuối. Nó giống như hình dạng của hạt gạo, hai đầu nhỏ lại, khúc giữa phình ra một chút. Đừng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sử dụng</span> cách thở gò bó mà ta thường thấy trong một vài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> của Ấn Độ giáo.</p>
<p style="text-align: justify;">Có rất nhiều kênh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần lực</span> (psychic energy channels) trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con người</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>. Ở đây <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> chỉ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">để ý </span>đến ba kênh chính (ba đường kinh mạch chính -Dg). Kinh mạch <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> là một ống sáng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong suốt</span> to khoảng ngón tay út, chạy ở giữa cột xương sống thẳng từ luân xa trên đỉnh đầu (luân xa 7, huyệt bá hội-Dg) xuống luân xa dưới cùng (luân xa 1, huyệt trường cường -Dg). Ở bên phải và bên trái của kinh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> này cũng có hai ống sáng nhưng nhỏ hơn ống giữa, chúng chạy từ hai lỗ mũi lên luân xa đỉnh đầu, ở đây chúng uốn vòng xuống như cái cán của cây dù, rồi chạy xuống dọc theo hai bên của kinh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span>, đến một điểm cách phía dưới rốn chừng 4 ngón tay chúng chạy vòng vào bên trong rồi nhập vào kinh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> những kênh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần lực</span> này, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hơi thở</span> thứ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhất khí</span> vào qua lỗ mũi trái: chậm chậm, từ từ mạnh, rồi chậm chậm. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quán tưởng</span> khí <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi vào</span> kinh mạch bên trái, tràn đầy, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi xuống</span> rồi bắt vào kinh mạch bên phải, đi trở lên và ra ở lỗ mũi phải. Hãy đẩy khí này ra bên ngoài hấp lực của trái đất, bên ngoài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thái dương</span> hệ, ra đi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mãi mãi</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mang theo</span> tất cả những nguồn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năng lượng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiêu cực</span> như những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bám víu</span>, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham vọng</span>, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiệp chướng</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>. Hãy làm như vậy 3 lần.</p>
<p style="text-align: justify;">Hãy tập trung và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">theo dõi</span> sự chuyển động của khí trong đường kinh mạch này, hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">để tâm</span> trở nên làm một với sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">di chuyển</span> của luồng khí lực này. Đừng nghĩ đến những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề</span> nào khác. Đừng cho rằng những đường kinh mạch này là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thể chất</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cấu tạo</span> bằng xương thịt, mà hãy nhớ rằng ta đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng </span>chính ta đang là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần linh</span> và những kinh mạch này là những đường <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần lực</span>. Nhưng ta cũng đừng nắm giữ, đừng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bám víu</span> vào cái thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh thần</span> này mà hãy thanh lọc nó như đã trình bày ở trên. Hãy lặp lại sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tập</span> này 3 lần cho lỗ mũi bên phải, khí <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi vào</span> lỗ mũi phải và đi ra bằng lỗ mũi trái. Khí <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi xuống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bằng kinh</span> mạch bên phải rồi chạy ngược lên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bằng kinh</span> mạch bên trái, đẩy ra ngoài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không gian</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô tận</span> tất cả những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chướng</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham lam</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sân hận</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngu si</span>, có nghĩa là tất cả những gì ta không muốn có ở trong ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Rồi bây giờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hít vào</span> bằng cả hai lỗ mũi, khí <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi vào</span> cả hai đường kinh mạch bên phải và bên trái tới cái điểm mà nó nối với đường kinh mạch <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> (dưới rốn 4 ngón tay). Để giúp ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">theo dõi</span> dễ dàng, ta có thể nuốt nước miếng khi khí <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi xuống</span>. Khi khí đi đến chỗ kinh mạch <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span>, hãy hóp bắp thịt khu xương chậu lại rồi dẫn luồng khí lực đi ngược lên, từ luân xa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuối cùng</span> vào đường kinh mạch <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span>, lên luân xa hoả đại (luân xa 3, vùng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đan điền</span> -Dg), ở đây nó sẽ gặp và hoà tan vào khí lực từ trên xuống. Một luồng khí <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an lạc</span> sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> ở đây, hãy giữ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hơi thở</span> và tập trung vào điểm này. Điều này rất quan trọng. Cho tới khi nào không còn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm thấy</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoải mái</span> thì hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thở ra</span> một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> bằng mũi. Nhưng thay vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thở ra</span> ngay, khí mà ta đã giữ sẽ đi trở lên và hòa tan trong đường kinh mạch ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span>. Hãy làm như vậy 3 lần.</p>
<p style="text-align: justify;">Việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tập</span> này rất hữu ích trong khi phát huy nguồn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năng lượng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an lạc</span> trong hệ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần kinh</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kinh nghiệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an lạc</span> là một phần quan trọng của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mật tông</span>. Do đó việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tập</span> này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô cùng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cần thiết</span> và mang lại nhiều ơn ích. Đây là suối nguồn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an lạc</span>, xẩy ra trong tâm của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> - <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính tâm</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>, không phải của ai khác - nó được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển hoá</span> vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tòa sen</span> cùng với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủng tử</span> HUM khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">diệu pháp</span> này.</p>
<p style="text-align: justify;">Như vậy, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chắc chắn</span> một điều là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> sẽ được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an lạc</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh thản</span> khi đến đoạn cuối của việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tập</span> chiếc-bình-thiền-định này. Tâm của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> sẽ không còn cơ hội để nghĩ đến những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> mờ ám hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở về</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> xưa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span> nữa. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiểm soát</span> được tâm của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> có thể chọn bất cứ đối tượng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> nào mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> muốn. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> không thể thiền nếu tâm còn bị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quấy nhiễu</span>, còn bị lay động. Ngòai ra còn một ơn ích khác do công việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tập</span> này mang lại là nó sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phá hủy</span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> hung hăng, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiêu ngạo</span>, thích khoe khoang của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>; nó sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giảm bớt</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mê tín dị đoan</span> và giúp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> vững mạnh trên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu tập</span> này.</p>
<p style="text-align: justify;">Do đó, điều quan trọng để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an lạc</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> nên giữ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hơi thở</span> và tập trung nó tại luân xa 3 (khí tụ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đan điền</span> -Dg). Hãy chú ý <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thường xuyên</span> đến niềm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an lạc</span>. Niềm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an lạc</span> này đi ngược lại với những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm giác</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thích thú</span> thường tình mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> thường <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong đời</span> sống <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô minh</span> hàng ngày, chúng chỉ là những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô ý thức</span>. Tại sao hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> này lại khác nhau? <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tại vì</span> một đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ trí</span> tuệ, một đến từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô minh</span>. Một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span>, còn một đưa đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span>, bám viú, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham lam</span>. Qua sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tập</span> này, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khám phá</span> ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> là ai, cũng không cần tôi phải nói, qúy vị sẽ tự biết.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quán tưởng</span> nguồn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năng lực</span> hòa tan trong kinh mạch <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thở ra</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình ảnh</span> của công việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> luyện nguồn tâm hỏa kundalini. Vì thế, hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thận trọng</span> khi làm việc này và đừng nghĩ rằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> sẽ tiêu phí khí lực trong lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>. Sau khi đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tập</span> xong 9 vòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hơi thở </span>của chiếc-bình-thiền-định, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> bước vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> chính của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu tập</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Lama Yeshe Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Trích từ nguyên tác: The Tantric Path of Purification của Lama Yeshe Do Wisdom Publications xuất bản - Vô Huệ Nguyên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trích dịch</span></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/quy-y-tam-bao/noi-qui-y-va-thien-dinh-trong-tinh-khong/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đức Lục Độ Mẫu Tara</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/kim-cuong-thua/duc-luc-do-mau-tara/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/kim-cuong-thua/duc-luc-do-mau-tara/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 11 Jul 2016 21:30:35 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Quy y Tam Bảo]]></category>
		<category><![CDATA[Tam căn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6914</guid>
		<description><![CDATA[Tara, Ngài là một bậc giác ngộ thuộc địa thứ 12, có thể thỏa mãn mọi ước muốn của chúng sanh. Tara là hiện thân lòng từ bi của chư Phật ba thời, quá khứ, hiện tại và vị lai. Ngài là vị Thánh nữ có khả năng thực hiện và hoàn thành mọi hoạt động giác ngộ của chư&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/kim-cuong-thua/duc-luc-do-mau-tara/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tara, Ngài là một bậc giác ngộ thuộc địa thứ 12, có thể thỏa mãn mọi ước muốn của chúng sanh. Tara là hiện thân lòng từ bi của chư Phật ba thời, quá khứ, hiện tại và vị lai. Ngài là vị Thánh nữ có khả năng thực hiện và hoàn thành mọi hoạt động giác ngộ của chư Phật.</span></p>
<h3 style="text-align: justify;"><b>NGUỒN GỐC ĐỨC TARA XANH</b></h3>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vô số kiếp, có một công chúa tên là Yeshe Dawa. Nhờ sự học và trí tuệ của mình, nàng có lòng tin kiên cố với Ba ngôi Tam Bảo Phật, Pháp, Tăng. Nàng thấu hiểu đời sống bất như ý của bản chất luân hồi, do vậy nàng quyết định giải thoát khỏi tất cả mọi đau khổ. Do thấu hiểu tất cả chúng sinh cũng giống như mình đều muốn hạnh phúc và không muốn đau khổ nên Công chúa Yeshe Dawa đã trưởng dưỡng lòng từ bi và tình yêu thương hướng về mỗi chúng sinh. Nàng không thích lối sống xa hoa trong cung điện vàng ngọc, và đã phát lời nguyện dẫn dắt hướng đạo cho hàng nghìn chúng sinh trên con đường giải thoát mỗi ngày trước bữa ăn sáng, cho hàng nghìn chúng sinh trước bữa ăn trưa, và thậm chí nhiều hơn nữa trước khi đi ngủ. Vì nhân duyên này, công chúa được tôn xưng là Arya (Bậc tôn quý) có thể chứng ngộ trực tiếp bản chất của thực tại và danh xưng đó biểu lộ các hạnh nguyện giải thoát của Ngài.  Một bậc lãnh tụ tâm linh của thời đó đã khuyên: Công chúa hãy cầu nguyện để tái sinh làm thân trượng phu. Nhưng công chúa Yeshe Drawa đã phát nguyện thành tựu giác ngộ trong thân người nữ và còn liên tục hóa thân trở lại trong hình tướng nữ nhân để cứu độ hữu tình. Dù cho chúng ta là thân nam hay nữ thì Đức Tara là tấm gương cho chúng ta. Giống như mọi hữu tình, Ngài cũng là một chúng sinh bình thường, có những vấn đề căng thẳng và tình cảm phiền não. Nhưng nhờ tu tập Phật pháp rèn luyện tâm linh nên Ngài đã đạt được toàn giác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong một bản Kinh Lục Độ Phật Mẫu khác có kể rằng: Đức Tara được sinh ra từ giọt nước mắt bi mẫn của Đức Quan Âm. Nhân duyên vì Đức Avalokiteshvara hay Đức Quan Âm đã không ngừng cứu độ chúng sinh để giải thoát tất cả thoát khỏi cõi địa ngục thống khổ. Sau khi hoàn thành công hạnh này, Ngài chỉ kịp nghỉ ngơi một chút, nhưng ngay sau đó Ngài nhận ra rằng trong cõi địa ngục thống khổ kia thoáng chốc lại đầy tất cả những chúng sinh mình vừa cứu khỏi, bởi họ lại vừa tạo tác thêm những ác nghiệp cực trọng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong khoảnh khắc tuyệt vọng, Đức Quan Âm đã nhỏ những giọt nước mắt bi mẫn vì lời nguyện cứu khổ cho những chúng sinh vô minh đó. Một trong những giọt nước mắt từ bi của Đức Quan Âm đã biến thành Đức Lục Độ Phật Mẫu Tara để khích lệ Ngài trên con đường Bồ Tát hạnh. Khi đó, Đức Tara đã nói với đức Quán Thế Âm rằng: “Ôi bậc cao quý, xin đừng bỏ hạnh nguyện cao thượng vì lợi ích chúng sinh hữu tình, tôi đã được khích lệ, tùy hỷ bởi mọi hành động vô ngã của Ngài, tôi thấu hiểu những gian khổ vĩ đại mà Ngài đã trải qua. Nhưng có lẽ, nếu tôi mang hình dáng một nữ bồ tát với tên gọi Tara, xuất hiện như một cộng sự của ngài thì sẽ có thể trợ giúp cho những nỗ lực cao cả nhất của Ngài”. Và Đức Tara đã phát nguyện: “Tôi nguyện cùng Ngài giải thoát tất cả chúng sinh vô minh trong cõi luân hồi thống khổ mà không để sót một ai!”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đức Tara phát nguyện rằng bất kỳ người nào nghe được danh hiệu Ngài, nhìn thấy Ngài, niệm danh hiệu Ngài thì tất nhưng ước nguyện thế gian đều được sở cầu như ý, ngay cả tâm nguyện xuất thế gian cũng được được viên mãn. Đức Tara nhìn thấy nỗi khổ của luân hồi vì mong nguyện thế gian của chúng sinh không được như ý, Ngài liền phát nguyện có đầy đủ năng lực giúp họ viên mãn được mọi sở cầu thế gian, và dần giúp họ giác ngộ về chân lý tuyệt đối. Nếu biết thực hành nghi quỹ Tara một cách đúng đắn với Bồ Đề tâm chân thật vì lợi ích giác ngộ cho hết thảy khổ não chúng sinh thì tất cả những gì mà chúng ta mong nguyện tự lợi lợi tha đều được thành tựu.</span></p>
<h3 style="text-align: justify;"><b>ĐỨC TARA LÀ HIỆN THÂN CỦA CÔNG HẠNH GIÁC NGỘ</b></h3>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Phật giáo Tây Tạng có rất nhiều Bổn tôn, nhưng Lục Độ Mẫu Tara là một trong những vị quán tưởng dễ dàng nhất bởi hình ảnh của Bà giống như bất kỳ ai trong chúng ta. Có những vị Bổn tôn có bốn đầu, sáu tay, một số có tám tay, và bạn phải quán tưởng các vị khi hành trì. Nhưng với Lục Độ mẫu Tara, bạn có thể quán tưởng mẹ bạn hay một người phụ nữ thân thiết nhất của bạn.” (Jamyang Dagmo La Sakya). Ngài Khenpo Sodargye cũng đã từng giảng rằng: “Lục Độ Mẫu Tara là bà mẹ cứu rỗi và giải phóng hữu tình chúng sinh. Bà giống như người mẹ trao cho chúng ta sự ấm áp bất tận.” Vì vậy, việc quán tưởng thực hành Bổn tôn Lục Độ Mẫu Tara đem lại những thành tựu siêu việt là không thể nghĩ bàn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sắc tướng Phật mẫu của Đức Tara biểu trưng cho trí tuệ là nhân tố chính để loại bỏ vô minh. Sự vô minh này đã gây lầm lẫn thực tại và là gốc rễ của sự đau khổ. Người phụ nữ có xu hướng cảm nhận và nhận thức nhanh chóng nhờ vào trực giác và trí tuệ bí mật. Đức Tara biểu trưng cho phẩm hạnh này! Một cách không quản ngại, Ngài có khả năng giúp chúng ta phát triển những phẩm hạnh đó. Do vậy đức Tara được gọi là mẹ của tất cả chư Phật, vì Ngài được biểu trưng cho trí tuệ chứng ngộ thực tại, nên Ngài hiện thân sinh ra để đạt toàn giác, là tâm tự do khỏi vô minh chấp thủ, bản ngã.</span></p>
<h3 style="text-align: justify;"><b>THẦN CHÚ ĐỨC TARA XANH</b></h3>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không chỉ làm mãn nguyện bất cứ mong cầu nào của chúng sanh, mà Ngài còn giúp làm tan biến những nỗi sợ hãi của họ, như tám nỗi sợ lớn và mười sáu nỗi sợ nhỏ trong đó có nỗi sợ bị trộm cướp, sợ nước, rắn, chất độc, tù đày, v.v…, cả mọi nỗi sợ nội tâm trên con đường tới chân lý tuyệt đối. Việc trì tụng thần chú mười âm của đức Lục Độ Mẫu Tara (</span><b>OM TARE TUTTARE TURE SVAHA</b><span style="font-weight: 400;">) giúp cho mọi nỗi sợ hãi của họ được lắng dịu và mong cầu của họ được thỏa mãn. Câu tâm chú dịch nghĩa:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>“Om”: </i></b><span style="font-weight: 400;">Đại diện cho sự giác ngộ về thân, ngữ (khẩu) và ý.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>“Tare”:</i></b><span style="font-weight: 400;"> Giải thoát khỏi luân hồi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>“Tutare”: </i></b><span style="font-weight: 400;">Giải thoát bạn khỏi tám nỗi sợ hãi xuất phát từ sự thiếu hiểu biết, tham, sân, kiêu ngạo, ghen ghét, tham lam, nghi ngờ và tà kiến.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>“Ture”:</i></b><span style="font-weight: 400;"> Giải phóng khỏi khổ đau, giải thoát chúng ta khỏi các nguyên nhân thực sự làm rối loạn suy nghĩ, làm ta đau khổ thực sự.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>“Soha”:</i></b><span style="font-weight: 400;"> Thiết lập cội gốc của con đường trong trái tim của bạn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nói cách khác, bằng cách nương tựa đức Lục Độ Mẫu Tara bạn nhận được các phước lành của Ngài trong trái tim bạn. Điều này mang đến cho bạn không gian để thiết lập cội gốc của con đường, được biểu thị bởi </span><b>TARE TUTTARE TURE</b><span style="font-weight: 400;">, trong trái tim của bạn. Bằng cách thiết lập các con đường của ba chúng sinh trong tim bạn, bạn tịnh hóa mọi bất tịnh của thân, ngữ và tâm trí của bạn. Đây là ý nghĩa ngắn gọn của câu tâm chú.</span></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/kim-cuong-thua/duc-luc-do-mau-tara/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Những câu hỏi thú vị về Đức Phật</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/nhung-cau-hoi-thu-vi-ve-duc-phat/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/nhung-cau-hoi-thu-vi-ve-duc-phat/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 02 Nov 2015 05:12:35 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Quy y Tam Bảo]]></category>
		<category><![CDATA[Tam Bảo]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức mới]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6319</guid>
		<description><![CDATA[Từ khi đức Phật đản sinh đến thành đạo Thân thế của Đức Phật như thế nào? Đức Phật Thích Ca Mâu xuất thân là một Thái tử, tên Tất-Đạt-Đa, dòng họ Cồ Đàm, Vương tộc Thích Ca, thuộc đẳng cấp Sát-đế-lợi, con vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma-Da. Đức Phật đản sinh vào ngày? Ngài sinh vào ngày&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/tin-tuc/nhung-cau-hoi-thu-vi-ve-duc-phat/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong>Từ khi đức Phật đản sinh đến thành đạo<br />
</strong><br />
<em>Thân thế của Đức Phật như thế nào?<br />
</em><br />
Đức Phật Thích Ca Mâu xuất thân là một Thái tử, tên Tất-Đạt-Đa, dòng họ Cồ Đàm, Vương tộc Thích Ca, thuộc đẳng cấp Sát-đế-lợi, con vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma-Da.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Đức Phật đản sinh vào ngày?<br />
</em><br />
Ngài sinh vào ngày rằm tháng tư năm 624 trước Tây lịch (theo Nam tông); mùng tám tháng tư (theo Bắc tông) tại vườn Lâm-tỳ-ni, nước Ca-tỳ-la-vệ.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Hoàn cảnh của đức Phật trước khi xuất gia?<br />
</em><br />
Bảy ngày sau khi Thái tử đản sanh, hoàng hậu Ma-Da từ trần. Khi lớn lên, Ngài đã có tư tưởng muốn thoát ly, tầm đạo nhưng theo lệnh vua cha, Ngài cưới công chúa Da-Du-Đà-La là con vua Thiện Giác ở nước Kosala. Thái tử và công chúa Da-Du-Đà-La có một người con trai là La-Hầu-La.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguyên nhân khiến đức Phật xuất gia tầm đạo?<br />
</em><br />
Thái tử thấy bốn cảnh: Già, bệnh, chết và vị Tu Sĩ ở bốn cửa thành sau những lần đi dạo:</p>
<p style="text-align: justify;">- Cửa thành phía Đông: Gặp một người già</p>
<p style="text-align: justify;">- Cửa thành phía Nam: Gặp một người bệnh</p>
<p style="text-align: justify;">- Cửa thành phía Tây: Gặp một người chết</p>
<p style="text-align: justify;">- Cửa thành phía Bắc: Gặp một vị Tu sĩ, Ngài quyết định rời bỏ ngôi báu, cung điện, vợ con…, để lên đường tầm đạo.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Đức Phật yêu cầu Vua cha Tịnh Phạn bốn điều gì ?<br />
</em><br />
- Làm sao cho con trẻ mãi không già.</p>
<p style="text-align: justify;">- Làm sao cho con mạnh mãi không đau</p>
<p style="text-align: justify;">- Làm sao cho con sống hoài không chết</p>
<p style="text-align: justify;">- Làm sao cho mọi người hết khổ<br />
<em><br />
Sự xuất gia của đức Phật diễn ra như thế nào?<br />
</em><br />
- Vào lúc nửa đêm, Thái tử vào phòng từ giã vợ đẹp con ngoan.</p>
<p style="text-align: justify;">- Ngài cùng Xa Nặc hướng về phía Đông vượt thành xuất gia.</p>
<p style="text-align: justify;">- Vượt dòng sông A-Nô-Ma, Ngài tự cạo bỏ râu tóc và khoác áo Sa môn.</p>
<p style="text-align: justify;">- Ngài xuất gia vào ngày mùng 8 tháng 2 âm lịch.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Từ khi đức Phật thành đạo đến Niết Bàn<br />
</strong><br />
<em>Quá trình năm năm tầm đạo của đức Phật?<br />
</em><br />
- Tại Tỳ Xá Ly, Thái tử tham học với Đạo sư A-La-La. Ngài đã chứng thiền Vô Sở Hữu Xứ.</p>
<p style="text-align: justify;">- Tại Vương Xá Thành, Thái tử tham học với Đạo sư Uất-Đầu-Lam-Phất. Ngài đã chứng quả vị Phi Tưởng phi Phi Tưởng Xứ.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Còn sáu năm tu khổ hạnh?<br />
</em><br />
Có hai phương pháp khổ hạnh:</p>
<p style="text-align: justify;">- Phương pháp hướng nội: Nghiến răng, chặn lưỡi trên nóc họng, kiềm hãm ý niệm bất thiện bằng ý niệm thiện.</p>
<p style="text-align: justify;">- Phương pháp hướng ngoại: Chỉ đứng và ngồi chứ không nằm. Khi cần nằm thì nằm trên gai nhọn.</p>
<p style="text-align: justify;">Mùa đông: Mặc toàn giẻ rách, vải lượm tử thi, rơm cỏ, da súc vật khô,…</p>
<p style="text-align: justify;">Mùa hè: Ban ngày sống dưới ánh nắng mặt trời, ban đêm sống trong rừng rậm…</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Phương pháp sống lúc này của đức Phật?<br />
</em><br />
Nhận thấy hành khổ hạnh không kết quả, Ngài đã thọ dụng bát cháo sữa của cô bé Sujata, trở lại con đường trung đạo để tu hành.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Đức Phật có phương pháp Thiền định như nào?<br />
</em><br />
Thái tử đã ngồi nhập định suốt 49 ngày đêm dưới cội Bồ-đề. Phương pháp hành thiền đưa đến giác ngộ gồm bốn giai đoạn nhập định là: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền. Trong đêm thứ 49 Ngài chứng được Tam minh (tức là Túc mạng minh, Thiên nhãn minh và Lậu tận minh). Lúc đó nhằm ngày mùng 8 tháng 12 âm lịch, khi ấy Ngài 30 tuổi.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Người đệ tử đầu tiên của Đức Phật là ai?<br />
</em><br />
Sau khi thành đạo người đầu tiên Đức Phật nghĩ đến để dạy đạo là hai vị thầy trước đây: A - La - La và Uất - Đầu - Lam - Phất. Nhưng họ đã chết.</p>
<p style="text-align: justify;">Tiếp theo Ngài nghĩ đến năm người bạn đồng tu tại vườn Nai (Lộc Uyển). Mấy người bạn ấy là các ông: Kiều Trần Như, Ác Bệ Thập Lực, Ma Ha Nam và Bạc Đề. Năm vị này là đệ tử đầu tiên của Đức Phật.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Người đệ tử cuối cùng của đức Phật là ai?<br />
</em><br />
Ông Phạm chí tên Tu Bạt Đà La đã 120 tuổi là người đệ tử cuối cùng của Đức Phật.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Có mấy hạng đệ tử của đức Phật?<br />
</em><br />
Có bốn hạng đệ tử. Đó là:</p>
<p style="text-align: justify;">- Tỳ Kheo</p>
<p style="text-align: justify;">- Tỳ Kheo Ni</p>
<p style="text-align: justify;">- Ưu Bà Tắc</p>
<p style="text-align: justify;">- Ưu Bà Di</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Người cúng dường sau cùng cho đức Phật là ai?<br />
</em><br />
Ông Thuần Đà là người sau cùng dâng cúng dường Đức Phật một bát cháo nấm.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Bài Pháp đầu tiên mà đức Phật thuyết giảng là bài nào?<br />
</em><br />
Bài Pháp đầu tiên của Đức Phật là Tứ Diệu Đế, thuyết cho năm người bạn đồng tu tại vườn Nai (Lộc Uyển). Tứ Diệu Đế: nhận định đời là khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường diệt khổ.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Bài pháp cuối cùng?<br />
</em><br />
Bài thuyết Pháp cuối cùng của Đức Phật là bài Kinh Di Giáo.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Năm thời Kinh đức Phật thuyết giảng là gì?<br />
</em><br />
- Kinh Hoa Nghiêm</p>
<p style="text-align: justify;">- Kinh A Hàm</p>
<p style="text-align: justify;">- Kinh Phương Đẳng</p>
<p style="text-align: justify;">- Kinh Bát Nhã</p>
<p style="text-align: justify;">- Kinh Pháp Hoa</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Sự hóa độ của đức Phật bao gồm những gì?<br />
</em><br />
- Hóa độ theo thứ lớp căn cơ</p>
<p style="text-align: justify;">- Hóa độ tùy phương tiện</p>
<p style="text-align: justify;">- Hóa độ theo tinh thần bình đẳng</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Hình thành Tam Bảo được hình thành khi nào?<br />
</em><br />
Tam Bảo được hình thành từ khi Đức Phật thuyết pháp và thâu nhận năm vị đệ tử đầu tiên tại Vườn Nai. Lúc bấy giờ có Phật, Pháp và Tăng.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Đức Phật nhập Niết Bàn khi nào?<br />
</em><br />
Khi phước duyên hoàn mãn, Đức Phật đã 80 tuổi. Ngài quyết định nhập Niết Bàn tại rừng Sa-la ở xứ Câu –ly, cách thành Ba-la-nại chừng 120 dặm. Lúc ấy ngày rằm tháng hai âm lịch năm 544.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/nhung-cau-hoi-thu-vi-ve-duc-phat/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Cuộc Đời của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/cuoc-doi-cua-duc-phat-thich-ca-mau-ni-2/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/cuoc-doi-cua-duc-phat-thich-ca-mau-ni-2/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 02 Nov 2015 05:03:16 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Quy y Tam Bảo]]></category>
		<category><![CDATA[Tam Bảo]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức mới]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6316</guid>
		<description><![CDATA[Lời giới thiệu Theo sự xác định niên đại truyền thống, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Shakya thub-pa), còn được gọi là Đức Phật Cồ Đàm (Gau-ta-ma), sống trong khoảng thời gian từ năm 566 đến 485 trước Công Nguyên ở miền Trung Bắc Ấn Độ. Các nguồn tài liệu về Phật giáo có rất nhiều bản tường thuật&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/tin-tuc/cuoc-doi-cua-duc-phat-thich-ca-mau-ni-2/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<h2 class="h3" style="text-align: justify;"></h2>
<h2 class="h3" style="text-align: justify;"><strong>Lời giới thiệu</strong></h2>
<p style="text-align: justify;">Theo sự xác định niên đại truyền thống, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (<em>Shakya thub-pa</em>), còn được gọi là Đức Phật Cồ Đàm (<em>Gau-ta-ma</em>), sống trong khoảng thời gian từ năm 566 đến 485 trước Công Nguyên ở miền Trung Bắc Ấn Độ. Các nguồn tài liệu về Phật giáo có rất nhiều bản tường thuật khác nhau về cuộc đời của Ngài, theo thời gian, lại có thêm những chi tiết dần dần xuất hiện. Vì những tài liệu văn học Phật giáo đầu tiên chỉ được viết sau ba thế kỷ từ khi Đức Phật nhập diệt, khó mà biết chắc độ chính xác của các chi tiết tìm thấy trong các bài tường thuật này. Hơn nữa, chỉ vì một số chi tiết trong dạng văn bản xuất hiện muộn hơn các chi tiết khác, ta không có đủ lý do để coi nhẹ giá trị của chúng. Nhiều chi tiết có thể đã được tiếp tục truyền miệng sau khi các chi tiết khác đã được viết ra.</p>
<p style="text-align: justify;">Hơn nữa, các tiểu sử truyền thống của các đạo sư Phật giáo vĩ đại, gồm cả chính Đức Phật, thường được biên soạn vì mục đích giáo huấn, chớ không phải để lưu trữ tài liệu lịch sử. Cụ thể hơn, tiểu sử của các đạo sư vĩ đại đã được viết theo cách để giảng dạy và truyền cảm hứng cho các Phật tử đang theo đuổi con đường tâm linh, đi đến sự giải thoát và giác ngộ. Vì vậy, để có được lợi lạc từ câu chuyện về cuộc đời của Đức Phật, chúng ta cần hiểu câu chuyện theo bối cảnh này và phân tích các bài học mà ta có thể học hỏi được từ đó.</p>
<h2 class="h3" style="text-align: justify;"><strong>Nguồn gốc tài liệu</strong></h2>
<p style="text-align: justify;">Các nguồn tài liệu sớm nhất về cuộc đời của Đức Phật bao gồm, trong phạm vi kinh điển Phật Giáo Nguyên Thủy, một vài bản kinh bằng tiếng Pali từ <em>Kinh Trung A Hàm</em> (<em>The Collection of Middle -Length Discourses</em>, tiếng Pali: <em>Majjhima Nikaya</em>) và từ các tông phái Tiểu thừa khác nhau, một số bản kinh về Giới Luật, liên quan đến nội quy giới luật của tu viện. Tuy vậy, mỗi một bản kinh này chỉ nêu lên những mảnh nhỏ về cuộc đời của Đức Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Bản tường thuật đầu tiên mở rộng hơn xuất hiện trong bộ thi phẩm Phật giáo vào cuối thế kỷ thứ hai trước Công Nguyên, như <em>Kinh Đại Sự</em> (<em>Great Matters</em>, tiếng Phạn: <em>Mahavastu</em>) của trường phái Đại Chúng Bộ (Mahasanghika school) thuộc Tiểu thừa. Tuy không thuộc về <em>Tam Tạng Kinh Điển</em> (<em>sDe-snod gsum</em>,tiếng Phạn: <em>Tripitaka</em>, <em>Three Baskets</em>), bản văn này đã bổ sung các chi tiết, ngoài <em>Tam Tạng Kinh Điển</em> (<em>sDe-snod gsum</em>, tiếng Phạn: <em>Tripitaka</em>, <em>Three Baskets</em>), chẳng hạn như Đức Phật sanh ra là thái tử trong một gia đình hoàng tộc. Một thi phẩm khác xuất hiện trong kinh văn của trường phái Nhất Thiết Hữu Bộ, thuộc về Tiểu thừa là: <em>Phổ Diệu Kinh</em> (<em>The Extensive Play Sutra</em>, tiếng Phạn:<em>Lalitavistara Sutra</em>). Các bản kinh Đại thừa về sau của tác phẩm này (<em>rGya-cher rol-pa’i mdo</em>) đã mượn và trau chuốt thêm chi tiết dựa vào bản trước, ví dụ bằng cách giải thích rằng Đức Thích Ca Mâu Ni đã giác ngộ rất lâu từ trước, và việc hóa thân làm Thái Tử Tất Đạt Đa chỉ nhằm để chứng minh con đường đạt được giác ngộ, để hướng dẫn chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Cuối cùng, một số trong các bản tiểu sử này được đưa vào <em>Tam Tạng Kinh Điển</em>. Nổi tiếng nhất là bản <em>Huyền Thoại về Cuộc Đời của Đức Phật</em> (<em>Deeds of the Buddha</em>, <em>Sangs-rgyas-kyi spyod-pa zhes-bya-ba’i snyan-ngag chen-po</em>, tiếng Phạn: <em>Buddhacarita</em>) do nhà thơ Ashvaghosha (<em>rTa-dbyangs</em>) viết vào thế kỷ thứ nhất của Công Nguyên. Các bản văn khác còn xuất hiện muộn hơn trong các Mật điển, như trong Chakrasamvara (‘ <em>Khor-lo bde-mchog</em>). Ở đây, chúng ta tìm thấy sự tường thuật rằng trong khi xuất hiện như Đức Thích Ca Mâu Ni, thuyết giảng <em>Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa</em> (<em>Sutras on Far-Reaching Discriminating Awareness, Sher-phyin mdo</em>, <em>Prajnaparamita Sutras</em>, <em>Perfection of Wisdom Sutras</em>), Đức Phật đồng thời hóa thân thành Đức Kim Cương Trì (Vajradhara) và dạy Mật điển.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ mỗi bản tường thuật, chúng ta có thể học hỏi được điều gì đó và có được nguồn cảm hứng. Tuy nhiên, chủ yếu là ta hãy xem xét các bản văn mô tả Đức Phật lịch sử.</p>
<h2 class="h3" style="text-align: justify;"><strong>Đản Sinh, Cuộc Đời Niên Thiếu và Tâm Xả Ly</strong></h2>
<p style="text-align: justify;">Theo những bản tường thuật sớm nhất thì Đức Thích Ca Mâu Ni (<em>Shakya thub-pa</em>) được sinh ra trong một gia đình chiến binh, quý tộc giàu sang ở nước Thích Ca (Shakya), có thủ đô là thành Ca Tỳ La Vệ (<em>Kapilavastu</em>, <em>Ser-skya’i gnas</em>), nằm ở biên giới giữa Ấn Độ và Nepal ngày nay. Không có sự đề cập về việc Ngài sanh ra là thái tử trong một gia đình hoàng tộc. Chỉ trong những bản tường thuật sau này mới nói đến việc Ngài sanh ra là thái tử và có tên là Tất Đạt Đa (<em>Siddhartha</em>,<em>Don-grub</em>). Phụ thân ngài là Tịnh Phạn (Shuddhodana, <em>Zas gtsang-ma</em>). Trong các văn bản về sau, danh tánh mẫu thân của Ngài là Ma Gia (Maya-devi, <em>Lha-mo sGyu-‘ phrul-ma</em>) cũng xuất hiện, cũng như tường thuật về việc Đức Phật được thụ thai một cách thần kỳ trong giấc mơ, bà Ma Gia thấy con voi trắng sáu ngà đi vào bên hông bà và lời tiên tri của nhà hiền triết A Tư Đà (Asita), rằng đứa bé sẽ trở thành một ông vua vĩ đại, hoặc một nhà hiền triết cao quý. Về sau, cũng có việc mô tả sự đản sanh thanh tịnh của Đức Phật từ bên hông của mẹ ngài ở một nơi không xa thành Ca Tỳ La Vệ, trong vườn Lâm TỳNi (Lumbini Grove, <em>Lumbi-na’i tshal</em>), việc Ngài bước đi bảy bước lúc đản sanh và nói “ta đã đến nơi”, cùng với cái chết của mẹ ngài sau khi sanh ra ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Thời niên thiếu, Đức Phật sống một cuộc đời hoan lạc. Ngài lập gia đình và có một người con trai là La Hầu La (Rahula, <em>sGra-gcan ‘dzin</em>). Trong những bản văn về sau có ghi tên người vợ của ngài là Da Du Đà La (Yashodhara, <em>Grags ‘ dzin-ma</em>). Tuy nhiên, lúc hai mươi chín tuổi, Đức Phật từ bỏ cuộc sống gia đình và di sản hoàng tộc của mình, trở thành một người tầm đạo lang thang hành khất (<em>dge-sbyong</em>, tiếng Phạn: <em>shramana</em>).</p>
<p style="text-align: justify;">Điều quan trọng là hãy nhìn vào tâm xả ly của Đức Phật trong bối cảnh xã hội và thời điểm lúc bấy giờ. Khi trở thành người tầm đạo lang thang hành khất, Đức Phật đã không bỏ rơi vợ con mình, để họ sống đơn độc trong nghèo đói. Chắc chắn là họ đã được gia đình đông đúc giàu có của Ngài chăm sóc. Hơn nữa, việc Đức Phật thuộc về đẳng cấp chiến binh có nghĩa là chắc chắn một ngày nào đó, Ngài sẽ phải rời khỏi gia đình để ra trận mạc. Gia đình của một người chiến binh phải chấp nhận điều này, vì đây là bổn phận của người đàn ông. Những chiến binh trong thời Ấn Độ cổ đại không hề mang theo gia đình của họ đến các doanh trại.</p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù trận chiến có thể là để chống lại những kẻ thù bên ngoài, nhưng cuộc chiến thật sự là chống lại những kẻ thù bên trong chúng ta, và đây chính là cuộc chiến mà Đức Phật đã ra đi để chiến đấu. Đức Phật rời bỏ gia đình vì mục đích này, cho thấy đó là bổn phận của một người tầm đạo, hiến dâng cả cuộc đời mình để theo đuổi một mục đích. Tuy nhiên, trong thế giới hiện đại của chúng ta, nếu rời bỏ gia đình để trở thành người xuất gia và phát động trận chiến bên trong này, chúng ta cần phải bảo đảm rằng người nhà của mình sẽ được chăm sóc tốt. Điều này có nghĩa là không chỉ lo lắng cho nhu cầu của người hôn phối và con cái của mình, mà còn cho cha mẹ già của chúng ta nữa. Tuy nhiên, dù ta có rời bỏ gia đình hay không thì bổn phận của một Phật tử đi theo con đường tâm linh là làm giảm bớt đau khổ, bằng cách vượt qua sự say mê đối với các thú vui, như Đức Phật đã làm.</p>
<p style="text-align: justify;">Để vượt qua nỗi khổ, Đức Phật muốn hiểu rõ bản chất của sinh, lão, bệnh, tử, tái sinh, buồn phiền và vô minh. Một thời gian sau, một bản văn mở rộng hơn về điều này xuất hiện, qua tình tiết về Xa Nặc, người đánh xe ngựa, đưa Đức Phật du hành một chuyến qua thành phố. Khi Ngài trông thấy người bệnh, người già, người chết và tu sĩ khổ hạnh, Xa Nặc giải thích cho Ngài hiểu về những người này. Nhờ vậy, Đức Phật đã nhận định rõ ràng nỗi khổ thật sự mà mọi người phải trải qua và phương cách khả dĩ để thoát khổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Tình tiết liên quan đến việc nhận sự giúp đỡ của người đánh xe ngựa về con đường tâm linh tương quan với tình tiết về Arjuna trong cuốn <em>Bhagavad Gita</em> (<em>Srid-sgrub</em>), nghe người đánh xe ngựa của Ngài là Krishna (‘ <em>Dom-pa nag-po</em>) nói về sự cấp thiết đối với việc theo đuổi nghĩa vụ của một chiến binh như ngài, và chiến đấu trong một trận chiến đối nghịch với những người thân của Ngài. Trong cả hai trường hợp của Phật tử và tín đồ theo Ấn Độ giáo, chúng ta đều có thể thấy một ý nghĩa sâu sắc hơn của việc vượt qua khỏi những bức tường của cuộc sống thoải mái của mình, với những gì thân quen và không bao giờ từ bỏ bổn phận tìm ra chân lý. Trong mỗi trường hợp, có lẽ chiếc xe ngựa tiêu biểu cho cỗ xe của tâm thức dẫn đến sự giải thoát, và lời nói của người đánh xe thể hiện động lực thúc đẩy cỗ xe đó, cụ thể là chân lý về thực tại.</p>
<h2 class="h3" style="text-align: justify;"><strong>Tu Học và Giác Ngộ</strong></h2>
<p style="text-align: justify;">Là một người độc thân lang thang tầm đạo, Đức Phật đã tu học với hai vị thầy về các phương pháp để đạt đến những mức độ định tâm khác nhau (<em>bsam-gtan</em>, tiếng Phạn: <em>dhyana</em>) và định vô sắc. Mặc dù Ngài đã có thể đạt đến các trạng thái sâu xa của định tâm hoàn hảo, không còn trải nghiệm nỗi khổ thô trọng, hay ngay cả hạnh phúc tầm thường của thế gian, nhưng ngài không thấy thỏa mãn. Những trạng thái tâm thức cao hơn này chỉ mang lại sự vơi đi tạm thời, không phải là sự giải thoát vĩnh viễn đối với những cảm thọ ô trược, và chắc chắn không diệt được những nỗi khổ trầm luân, sâu xa hơn mà Ngài đã tìm cách vượt qua. Sau đó, Ngài hành trì pháp tu cực kỳ khổ hạnh với năm người bạn đồng tu, nhưng lối tu hành này cũng không loại bỏ được những vấn đề sâu sắc hơn, liên quan đến sanh tử luân hồi bất khống chế (‘ <em>khor-ba</em>, tiếng Phạn: <em>samsara</em>). Việc Đức Phật chấm dứt việc nhịn ăn sau sáu năm tu hành khổ hạnh bên bờ sông Ni Liên Thiền (Nairanjana River,<em>Chu-bo Nai-ranyja-na</em>), cùng với việc cô gái Tu Già Đa (Sujata, <em>Legs-par skyes-ma</em>) dâng cho Ngài một bát cơm sữa, chỉ xuất hiện trong các bản tường thuật về sau.</p>
<p style="text-align: justify;">Đối với chúng ta, tấm gương của Đức Phật cho thấy ta không nên chỉ thỏa mãn với việc tĩnh tâm hoàn toàn, hay đạt được cảm giác “thăng hoa” nhờ thiền định, không kể đến những phương tiện nhân tạo như chất ma túy. Đi vào một trạng thái hôn mê sâu xa, hoặc hành hạ hay trừng phạt bản thân cũng không phải là giải pháp. Chúng ta phải đi trọn con đường dẫn đến sự giải thoát và giác ngộ, không nên thỏa mãn với những phương tiện tâm linh không thể đưa ta đến những mục tiêu này.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi từ bỏ lối tu khổ hạnh, Đức Phật đã ngồi thiền một mình trong rừng già để chiến thắng nỗi sợ hãi. Bên trong sự sợ hãi là tâm ái ngã và sự bám chấp vào “cái tôi” không thể hiện hữu, thậm chí chúng còn mạnh hơn thái độ thôi thúc tìm kiếm các thú vui và giải trí tiềm ẩn bên trong. Vì vậy, trong tác phẩm <em>Pháp Luân của Vũ Khí Sắc Bén</em> (<em>Blo-sbyong mtshon-cha’i ‘khor-lo</em>) vào thế kỷ thứ 10 trước Công Nguyên, vị đạo sư người Ấn Độ Dharmarakshita (<em>Dharma-rakshi-ta</em>) đã sử dụng hình ảnh các con công đi lang thang trong rừng cây độc để tiêu biểu cho các vị bồ tát sử dụng và chuyển hóa những cảm xúc độc hại của tham sân si, để giúp họ vượt thoát tâm ái ngã và sự bám chấp lấy một “cái tôi” bất khả.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau nhiều công phu hành thiền, Đức Phật đã hoàn toàn giác ngộ lúc ngài ba mươi lăm tuổi. Các bản tường thuật về sau còn cung cấp các chi tiết về việc Ngài giác ngộ dưới một cây bồ đề (byang-chub-kyi shing) ở Bồ Đề Đạo Tràng (Bodh Gaya, rDo-rje gdan) ngày nay, sau khi đã ngăn chặn thành công các cuộc tấn công của Ma Vương (bDud). Vị Ma Vương ganh tỵ này đã cố gắng ngăn cản Đức Phật giác ngộ bằng cách biến hiện ra những hình ảnh đáng sợ hoặc cám dỗ, nhằm làm nhiễu loạn việc thiền định của Đức Phật dưới cội bồ đề.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo những bản tường thuật đầu tiên thì Đức Phật đã hoàn toàn giác ngộ bằng cách đạt được ba loại tri thức: tri thức toàn vẹn về tất cả các kiếp quá khứ của ngài, về nghiệp và sự tái sinh của tất cả chúng sinh, và Tứ Diệu Đế. Các bản tường thuật về sau còn giải thích rằng với việc giác ngộ, Đức Phật đã đạt được sự toàn trí.</p>
<h2 class="h3" style="text-align: justify;"><strong>Giảng Dạy và Thành Lập Tăng Đoàn</strong></h2>
<p style="text-align: justify;">Sau khi thành tựu giải thoát và giác ngộ, Đức Phật đã ngần ngại về việc chỉ dạy cho người khác phương cách để đạt được những thành tựu như thế. Ngài cảm thấy rằng sẽ không có ai hiểu được điều này. Tuy nhiên, các vị trời Phạm Thiên (Brahma, <em>Tshang-pa</em>) và Đế Thích (Indra,<em>dBang-po</em>) đã khẩn nài xin Ngài chỉ dạy cho. Theo các giáo huấn của Bà La Môn mà sau đó phát triển thành Ấn Độ giáo, Phạm Thiên là vị trời sáng tạo ra vũ trụ và Đế Thích là Vua của chư Thiên. Trong lời khẩn cầu của mình, Phạm Thiên nói với Đức Phật rằng thế gian này sẽ phải chịu nhiều đau khổ triền miên nếu Đức Phật không giảng dạy, và ít nhất cũng có một số người sẽ hiểu được lời của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Chi tiết này có thể là một yếu tố trào phúng cho thấy sự thù thắng của giáo huấn của Đức Phật, vượt qua các phương pháp truyền thống tâm linh của Ấn Độ trong thời của ngài. Xét cho cùng, nếu ngay cả những chư Thiên cao trọng nhất còn công nhận rằng thế giới cần những lời dạy của Đức Phật, vì chính họ còn thiếu phương tiện để giúp chúng sinh vĩnh viễn chấm dứt nỗi khổ; thì chúng ta là những đệ tử bình thường, còn cần những giáo huấn này nhiều hơn nữa. Hơn nữa, trong hình tượng của Phật giáo thì Phạm Thiên tiêu biểu cho sự kiêu mạn. Niềm tin sai lầm của vị trời này cho rằng mình là bậc sáng tạo toàn năng, tượng trưng cho mẫu mực của niềm tin sai lầm vào tự ngã tồn tại như một “ cái tôi” bất khả – cụ thể là một “cái tôi” có thể điều khiển hết mọi thứ trên đời. Niềm tin lầm lạc như vậy chắc chắn sẽ mang đến sự thất vọng và đau khổ. Chỉ có giáo huấn của Đức Phật về cách mỗi người chúng ta tồn tại như thế nào sẽ cống hiến phương cách đưa đến sự chân diệt của nỗi khổ thật sự và nguyên nhân thật sự tạo khổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Chấp nhận lời yêu cầu của Phạm Thiên và Đế Thích, Đức Phật đã đến Sa Nặc (Sarnath) và ở Vườn Lộc Uyển (Deer Park, <em>Ri-dags-kyi gnas</em>, tiếng Phạn: <em>Mrgadava</em>), Ngài đã dạy Tứ Diệu Đế cho năm người đồng môn của mình trước đây. Trong hình tượng của Phật giáo, nai tượng trưng cho sự nhu hòa, vì vậy, Đức Phật đã giảng dạy một phương tiện nhu hòa, tránh các cực đoan của chủ nghĩa khoái lạc và chủ nghĩa khổ hạnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Chẳng bao lâu sau, một số thanh niên ở Ba La Nại (Varanasi, <em>Va-ra-na-si</em>) gần đó cũng gia nhập theo Đức Phật làm khất sĩ lang thang, giữ lối sống độc thân nghiêm ngặt. Cha mẹ của những người này trở thành những đệ tử tại gia và bắt đầu thí thực cho đoàn khất sĩ. Khi có người nào trong tăng đoàn đã được đào tạo đầy đủ và có đủ khả năng thì Đức Phật gửi người ấy ra ngoài giảng dạy cho người khác. Bằng cách này, nhóm đệ tử khất sĩ theo Đức Phật nhanh chóng phát triển và chẳng bao lâu, họ đã định cư và hình thành những cộng đồng “tăng lữ” riêng biệt tại nhiều nơi.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Phật đã tổ chức những cộng đồng tăng lữ này theo các nguyên tắc thực tiễn. Các tăng sĩ, nếu chúng ta có thể dùng thuật ngữ này ngay từ đầu, có thể nhận những ứng viên gia nhập cộng đồng, nhưng họ phải tuân theo một số giới hạn nhất định để tránh việc va chạm với chính quyền thế tục. Vì vậy, Đức Phật không cho phép các tội phạm, những người phục vụ cho hoàng gia như trong quân đội chẳng hạn, những nô lệ chưa được trả tự do, và những người mắc bệnh truyền nhiễm như phong cùi gia nhập vào cộng đồng tăng lữ. Hơn nữa, những ai dưới hai mươi tuổi cũng không được chấp nhận. Đức Phật muốn tránh bất cứ sự rắc rối nào và bảo đảm sự tôn kính của dân chúng đối với cộng đồng tăng lữ và Phật pháp. Điều này cho chúng ta thấy rằng, là đệ tử của Đức Phật, chúng ta cần tôn trọng những phong tục địa phương và hành động với lòng tôn trọng, để dân chúng có một ấn tượng tốt đẹp về đạo Phật và nhờ vậy, họ sẽ tôn trọng Phật giáo.</p>
<p style="text-align: justify;">Không lâu sau đó, Đức Phật quay về vương quốc Ma Kiệt Đà (Magadha, <em>Yul ma-ga-dha</em>), nơi Bồ Đề Đạo Tràng tọa lạc. Ngài được Vua Tần Bà Sa La (Bimbisara, <em>gZugs-can snying-po</em>) <em>,</em> người trở thành một thí chủ và đệ tử của Đức Phật, mời đến thủ đô, thành Vương Xá (Rajagrha, <em>rGyal-po’i khab</em>) – ngày nay là Rajgir. Ở đó, những người bạn của Xá Lợi Phất (Shariputra, <em>Sha-ri’i bu</em>) và Mục Kiền Liên (Maudgalyayana, <em>Mo’u dgal-gyi bu</em>) cũng gia nhập vào tăng đoàn đang lớn mạnh của Đức Phật và trở thành một số trong những đệ tử thân cận nhất của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong vòng một năm sau khi đạt giác ngộ, Đức Phật đã trở về thành phố quê hương của Ngài là Ca Tỳ La Vệ, nơi con trai của Ngài là La Hầu La cũng gia nhập vào tăng đoàn. Trước đó, người em trai khác mẹ của Đức Phật là A Nan (Nanda, <em>dGa’-bo</em>) tuấn tú, cũng rời bỏ gia đình và gia nhập tăng đoàn. Phụ thân của Đức Phật, Vua Tịnh Phạn (Shuddhodana), rất buồn vì không còn ai nối dõi tông đường, nên nhà vua đã thỉnh cầu Đức Phật rằng trong tuơng lai, một người con trai trong gia đình phải có sự chấp thuận của cha mẹ mới được gia nhập tăng đoàn. Đức Phật hoàn toàn đồng ý. Điểm tường thuật này cho thấy không phải Đức Phật tàn nhẫn với cha của mình, mà cho thấy tầm quan trọng trong việc tránh tạo ra ác cảm đối với đạo Phật, đặc biệt là trong gia đình của chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Có một chi tiết xuất hiện sau này về việc Đức Phật gặp gỡ gia đình của Ngài là khi Ngài dùng thần thông để đến Cõi Trời Tam Thập Tam Thiên, hoặc theo một số tài liệu, là Cõi Trời Đâu Suất (Tushita, <em>dGa’-ldan</em>) để giảng dạy cho thân mẫu của Ngài, người đã tái sanh vào cõi này. Điều này cho thấy tầm quan trọng của lòng biết ơn và trả hiếu cho mẹ.</p>
<h2 class="h3" style="text-align: justify;"><strong>Sự Phát Triển của Tăng Đoàn</strong></h2>
<p style="text-align: justify;">Các cộng đồng tăng lữ của Đức Phật buổi ban đầu còn nhỏ, không quá hai mươi người. Mỗi cộng đồng tự trị và tuân theo ranh giới được đặt ra cho đường đi khất thực của các tăng sĩ. Hành động và quyết định của mỗi cộng đồng được thực hiện theo cách bỏ phiếu nhất trí trong nhóm để tránh sự bất hòa. Không ai được đặt để là người có quyền hành duy nhất. Thay vào đó, Đức Phật đã chỉ dẫn cho tăng chúng xem chính giáo pháp là quyền lực. Ngay cả chính giới luật tăng đoàn cũng có thể thay đổi, nếu thấy cần thiết, nhưng bất cứ sự thay đổi nào cũng phải dựa vào sự đồng thuận của cả cộng đồng.</p>
<p style="text-align: justify;">Vua Tần Bà Sa La đã đề nghị Đức Phật chấp nhận tục lệ của các nhóm khất sĩ khác, chẳng hạn như của Kỳ Na giáo (Jains, <em>gCer-bu-pa</em>) <em>,</em> tổ chức lễ Phát Lồ Sám Hối bốn kỳ mỗi tháng <em>(gso-sbyong, Skt. uposhadha).</em> Theo tục lệ này, các thành viên của cộng đồng tăng lữ sẽ tụ họp vào đầu mỗi quý trong mỗi tháng âm lịch để bàn luận về các giáo huấn. Đức Phật đã đồng ý, điều này cho thấy Ngài cởi mở với những đề nghị theo tục lệ của từng thời điểm. Thật ra thì Đức Phật đã tạo mô hình cho nhiều phương diện trong cộng đồng tâm linh và cấu trúc của các bài giảng của Ngài theo Kỳ Na giáo. Đại Cần Dũng (Mahavira), người sáng lập Kỳ Na giáo, đã sống trước Đức Phật khoảng nửa thế kỷ.</p>
<p style="text-align: justify;">Không lâu sau đó, Xá Lợi Phất (Shariputra) đã yêu cầu Đức Phật thành lập quy định về giới luật tăng đoàn. Tuy nhiên, Đức Phật đã quyết định chờ cho tới khi những vấn đề cụ thể phát sinh rồi mới lập một lời thệ nguyện để tránh sự tái diễn của một trường hợp tương tự như thế. Đức Phật đã sử dụng đường lối này đối với cả hai loại hành vi, những hành vi phá hoại tự nhiên, có hại cho người nào phạm phải, và những hành vi đạo đức trung lập bị ngăn cấm đối với một số người trong một số trường hợp, vì một số lý do nào đó. Vì vậy, những giới luật (<em>‘ dul-ba,</em>tiếng Phạn: <em>vinaya</em>) này rất thực dụng và được hình thành đặc biệt, với mối quan tâm chính của Đức Phật là để tránh các vấn đề và không tạo ra hành vi phạm giới.</p>
<p style="text-align: justify;">Dựa trên những giới luật này, Đức Phật lập ra việc tụng giới trong bốn kỳ tăng hội mỗi tháng, cùng với việc chư tăng công khai thừa nhận bất kỳ sự phạm giới nào. Việc trục xuất ra khỏi tăng đoàn sẽ xảy ra đối với những vi phạm nghiêm trọng nhất, ngoài ra thì người phạm giới chỉ phải trải qua thời gian thử thách. Vào thời gian sau, các kỳ họp như thế được tổ chức hai lần mỗi tháng.</p>
<p style="text-align: justify;">Tục lệ kế tiếp Đức Phật đề ra là việc an cư kiết hạ trong ba tháng mùa mưa (<em>dbyar-gnas,</em> tiếng Phạn: <em>varshaka</em>), trong suốt thời gian này, chư tăng phải ở một chỗ, tránh việc đi lại. Mục đích là để ngăn ngừa việc gây hại cho mùa màng khi chư tăng phải băng qua những cánh đồng, khi đường sá bị lũ lụt. Việc giữ gìn khóa an cư kiết hạ mùa mưa dẫn đến việc thiết lập các tu viện cố định. Một lần nữa, sự phát triển này xảy ra là để tránh bất kỳ sự tổn hại nào cho cộng đồng cư sĩ và có được sự tôn trọng của họ. Việc xây dựng các tu viện cố định cũng được chấp thuận vì đó là điều thực tế.</p>
<p style="text-align: justify;">Bắt đầu từ khóa an cư kiết hạ mùa mưa lần thứ hai trở đi, Đức Phật đã trải qua hai mươi lăm mùa an cư kiết hạ ở rừng Kỳ Viên (Jetavana,<em>rGyal-bu rgyal-byed-kyi tshal</em>) bên ngoài Xá Vệ (Shravasti, <em>gNyan-yod</em>) <em>,</em> thủ đô của vương quốc Câu Tát La (Koshala, <em>Ko-sa-la</em>). Ở đây, thương nhân Cấp Cô Độc (Anathapindada, <em>mGon-med zas-sbyin</em>) đã xây một tu viện cho Đức Phật và các tăng chúng của Ngài, và Vua Ba Tư Nặc (Prasenajit, <em>rGyal-po gSa-rgyal</em>) cũng bảo trợ thêm cho tăng đoàn. Tu viện tại Kỳ Thọ Cấp Cô Độc viên (Jetavana) là nơi nhiều sự kiện lớn đã xảy ra trong đời Đức Phật. Sự kiện nổi tiếng nhất là việc Ngài đánh bại các vị đạo trưởng của sáu trường phái ngoại đạo lớn vào thời của Ngài, trong một cuộc thi triển thần thông.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày nay, không ai trong chúng ta có thể thực hiện những thần thông điêu luyện. Tuy nhiên, việc Đức Phật sử dụng thần thông thay vì dùng lập luận để đánh bại các đối thủ của Ngài cho thấy rằng khi tâm trí của kẻ khác không cởi mở với lý luận, thì cách tốt nhất để thuyết phục họ về giá trị của sự hiểu biết của bản thân là chứng minh cho họ thấy trình độ thực chứng bằng việc làm và hành vi của mình. Có một câu ngạn ngữ trong tiếng Anh: “Hành động có tiếng vang lớn hơn lời nói”.</p>
<h2 class="h3" style="text-align: justify;"><strong>Thành Lập Ni Đoàn</strong></h2>
<p style="text-align: justify;">Trong sự nghiệp hoằng hóa sau này của Đức Phật, Ngài đã thiết lập một cộng đồng nữ tu ở Tỳ Xá Ly (Vaishali, <em>Yangs-pa-can</em>), theo lời thỉnh cầu của người dì của Ngài là bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề (Mahaprajapati, <em>sKye-dgu’i bdag-mo chen-mo</em>) <em>.</em> Lúc đầu, Ngài miễn cưỡng với việc khởi xướng một ni đoàn như vậy, nhưng rồi Ngài quyết định việc đó cũng có thể thực hiện được, nếu Ngài lập nhiều giới nguyện hơn cho chư ni, so với chư tăng. Khi làm như vậy, Đức Phật không có ý cho rằng nữ giới ít giữ kỷ luật hơn nam giới và cần phải điều phục tâm nhiều hơn bằng cách giữ nhiều giới hơn. Đúng hơn là Ngài e ngại việc thành lập một ni đoàn sẽ mang lại tai tiếng và giáo pháp của Ngài sẽ sớm chấm dứt. Trên hết, Đức Phật muốn tránh sự bất kính của quần chúng khắp nơi, vì vậy, ni đoàn cần phải vượt qua bất cứ sự nghi ngờ nào về các hành vi vô đạo đức.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy nhiên, nói một cách tổng quát thì Đức Phật đã ngần ngại trong việc thành lập giới luật và sẵn sàng cho xóa bỏ một số quy luật nhỏ hơn, nếu như chúng được xem là không cần thiết. Chính sách của Ngài cho thấy sự năng động của hai chân lý – chân lý sâu xa nhất và vẫn tôn trọng chân lý quy ước phù hợp với phong tục của địa phương. Mặc dầu trong chân lý sâu xa nhất thì không có vấn đề gì với việc lập ni đoàn; tuy nhiên, để tránh cho thường dân xem nhẹ Phật giáo thì cần phải có thêm giới luật cho chư ni. Theo chân lý sâu xa nhất thì dù xã hội có nói gì cũng không thành vấn đề; tuy nhiên, theo chân lý quy ước thì việc cộng đồng Phật giáo xứng đáng được công chúng kính trọng và tin tưởng là điều quan trọng. Vì vậy, trong thời đại và xã hội tân tiến, ở những nơi có thể có sự bất kính đối với đạo Phật nếu như có bất kỳ thành kiến nào xảy ra đối với chư ni hay phụ nữ nói chung, hoặc đối với bất kỳ nhóm người thiểu số nào vì phong tục của Phật giáo, thì noi theo tinh thần của Đức Phật, chúng ta sẽ sửa đổi những phong tục đó, để chúng phù hợp với tiêu chuẩn của thời đại.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau cùng, lòng khoan dung và bi mẫn là những nguyên tắc then chốt trong giáo huấn của Đức Phật. Thí dụ, Ngài đã khuyến khích các Phật tử mới, những người trước đây đã hỗ trợ cộng đồng tôn giáo khác, nên tiếp tục việc hỗ trợ này. Trong tăng thân cũng thế, Ngài cũng chỉ bảo các thành viên phải chăm sóc lẫn nhau. Ví dụ, nếu một vị tăng bị bệnh thì các vị tăng khác phải chăm sóc cho người đó, bởi vì tất cả đều là thành viên của gia đình Phật tử. Đây cũng là một giới luật quan trọng đối với tất cả các Phật tử tại gia.</p>
<h2 class="h3" style="text-align: justify;"><strong>Phương Pháp Giảng Dạy của Đức Phật</strong></h2>
<p style="text-align: justify;">Đức Phật dạy mọi người vừa bằng tấm gương sống của Ngài, vừa bằng các chỉ giáo của Ngài. Về các chỉ giáo, Ngài áp dụng hai phương pháp, tùy vào lúc Ngài đang thuyết giảng cho một nhóm hay một cá nhân. Trước các nhóm thính chúng, Đức Phật sẽ giảng giải theo hình thức thuyết pháp, thường lập lại từng điểm với những từ ngữ khác nhau, để thính chúng có thể nhớ kỹ hơn. Tuy nhiên, khi ban chỉ giáo cho các cá nhân, thường là sau buổi thọ trai mà một gia đình nào đó đã thỉnh mời Ngài và tăng chúng của Ngài, Đức Phật sẽ sử dụng cách tiếp cận khác. Ngài không bao giờ phản đối hay thách thức quan điểm của người nghe, mà sẽ chấp nhận lập trường của họ và nêu ra những câu hỏi để giúp người nghe làm sáng tỏ tư tưởng của họ. Bằng cách này, Đức Phật dẫn dắt người nghe cải thiện lập trường của họ và dần dần đạt được sự hiểu biết sâu xa hơn về thực tại. Một ví dụ là việc Đức Phật dẫn dắt một người kiêu hãnh thuộc đẳng cấp tu sĩ Bà La Môn hiểu rằng tính ưu việt không bắt nguồn từ đẳng cấp người đó được sinh ra, mà từ việc phát triển những phẩm chất tốt đẹp của họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Một ví dụ khác nữa là lời chỉ dẫn của Đức Phật đối với một bà mẹ tuyệt vọng, người đã mang xác đứa con của mình tìm đến Đức Phật và van Ngài hãy giúp cho đứa bé sống lại. Đức Phật bảo bà mẹ hãy mang đến cho Ngài một hạt giống mù tạt từ một ngôi nhà mà cái chết chưa bao giờ xảy ra, rồi Ngài sẽ xem có thể làm được gì để giúp con của bà. Người đàn bà đó đi hết từ nhà nọ đến nhà kia, nhưng gia đình nào cũng đều có người đã chết. Dần dần, bà nhận ra rằng mọi người đều phải chết và nhờ vậy, bà đã có thể bình tâm đem đứa con của mình đi hỏa táng.</p>
<p style="text-align: justify;">Phương pháp giảng dạy của Đức Thế Tôn cho chúng ta thấy rằng khi giúp người khác giải quyết vấn đề cá nhân, tốt nhất là đừng đối đầu với họ. Cách hữu hiệu nhất là giúp họ tự suy nghĩ cho chính họ. Tuy nhiên, đối với những nhóm người muốn học hỏi về giáo pháp thì chúng ta cần phải giải thích một cách thẳng thắn và rõ ràng.</p>
<h2 class="h3" style="text-align: justify;"><strong>Những Mưu Đồ Chống Lại Đức Phật và Ly Gián</strong></h2>
<p style="text-align: justify;">Bảy năm trước khi Đức Phật nhập niết bàn, người em họ đố kỵ của Ngài là Đề Bà Đạt Đa (Devadatta, <em>Lhas-byin</em>) đã mưu đồ đoạt quyền lãnh đạo tăng đoàn của Ngài. Tương tự như thế, Thái Tử A Xà Thế (Ajatashatru, <em>Ma-skyes dgra</em>) cũng âm mưu soán ngôi của cha là Vua Tần Bà Sa La, người cai trị xứ Ma Kiệt Đà. Vì vậy nên hai người cùng nhau bày mưu lập kế. Thái Tử A Xà Thế tìm cách mưu sát Vua Tần Bà Sa La, và cuối cùng thì nhà vua từ bỏ ngai vàng, truyền ngôi lại cho con trai của mình. Thấy được sự thành công của Thái Tử A Xà Thế, Đề Bà Đạt Đa đã nhờ thái tử ám sát Đức Phật, nhưng mọi mưu kế sát hại Ngài đều thất bại.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó, Đề Bà Đạt Đa cố tâm lôi kéo tăng chúng rời xa Đức Phật bằng cách tuyên bố rằng mình “ thánh thiện” hơn cả người anh họ của mình, và vì thế, đã đề nghị ra một hệ thống giới luật nghiêm nhặt hơn. Theo quyển “Thanh Tịnh Đạo” (<em>The Path of Purification, tiếng Pali: Visuddhimagga</em>) của đại sư Phật Âm (Buddhaghosa), một vị thầy của Phật Giáo Nguyên Thủy vào thế kỷ thứ Tư trước Công Nguyên, thì những đề nghị Đề Bà Đạt Đa đưa ra cho tăng sĩ bao gồm:</p>
<ul style="text-align: justify;">
<li>mặc y vá từ những vải rách,</li>
<li>chỉ mặc ba chiếc y mà thôi,</li>
<li>đi khất thực và không bao giờ nhận lời mời đi thọ trai,</li>
<li>không bỏ sót nhà nào khi đi khất thực,</li>
<li>dùng hết một lượt những thức ăn thọ bát được</li>
<li>chỉ ăn từ bình bát của mình</li>
<li>từ chối mọi thực phẩm khác,</li>
<li>chỉ sống trong rừng,</li>
<li>sống dưới tàng cây,</li>
<li>sống ngoài trời, không ở trong nhà,</li>
<li>chủ yếu là sống ở những khu mộ địa,</li>
<li>hài lòng với những nơi trú ngụ nào mình tìm được trong khi đi từ nơi này đến nơi khác,</li>
<li>ngủ ngồi, không bao giờ được ngủ nằm</li>
</ul>
<p style="text-align: justify;">Đức Phật nói rằng nếu tăng chúng nào muốn áp dụng thêm những giới luật này thì cũng được, nhưng Ngài không buộc ai phải làm như thế. Tuy vậy, một số tăng sĩ của Ngài đã chọn đi theo Đề Bà Đạt Đa, rời bỏ tăng đoàn của Đức Phật và lập tăng thân riêng của họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo Phật Giáo Nguyên Thủy thì các giới luật phụ trội do Đề Bà Đạt Đa đặt ra được gọi là mười ba hạnh đầu đà (<em>tiếng Pali: dhutanga</em>) <em>.</em>Truyền thống chư tăng sống trong rừng vẫn còn được tìm thấy, ví dụ ở Thái Lan ngày nay, dường như phát xuất từ lối thực hành này. Ngài Đại Ca Diếp (Mahakashyapa, ‘ <em>Od-bsrung chen-po</em>), đệ tử của Đức Phật, là hành giả nổi tiếng nhất về việc tuân theo giới luật nghiêm khắc này. Nhiều hình thức của giới luật này cũng được các vị khất sĩ (tiếng Phạn: <em>sadhu</em>) tuân theo, trong truyền thống Ấn Độ giáo. Việc thực hành của họ dường như là sự tiếp nối truyền thống của các khất sĩ lang thang tầm đạo vào thời Đức Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Đại thừa có một danh mục tương tự về mười hai hạnh đầu đà đặc thù (<em>sbyangs-pa’ispaceyon-tan, tiếng Phạn: dhutaguna</em>) <em>.</em> Danh mục này bỏ đi điều “không bỏ sót nhà nào khi đi khất thực”, thêm vào điều “mặc y đã bị vứt bỏ trong thùng rác”, gộp chung hai điểm “đi khất thực” và “chỉ ăn từ bình bát của mình” vào thành một. Các đại thành tựu giả Mật tông (<em>grub-thob chen-po, tiếng Phạn: mahasiddha</em>) của truyền thống Ấn Độ sau này đã tuân theo đa số những giới luật này. Các vị này có mặt trong cả hai tôn giáo, Phật giáo Đại thừa và Ấn Độ giáo.</p>
<p style="text-align: justify;">Việc tách ra khỏi truyền thống Phật giáo đã được củng cố, rồi thành lập một tăng đoàn khác – ví dụ, trong thời kỳ hiện đại, việc thành lập một trung tâm Phật giáo riêng biệt – không phải là vấn đề. Hành động này, tự bản thân nó không tạo ra một “sự ly gián trong cộng đồng tăng sĩ ”, một trong ngũ nghịch <em>(mtshams-med lnga)</em>. Tuy nhiên, Đề Bà Đạt Đa đã tạo ra sự ly gián và phạm vào một trọng tội như thế, bởi vì nhóm tăng sĩ tách ra và đi theo ông đã nuôi một ác ý tột cùng đối với cộng đồng tăng lữ của Đức Phật và chỉ trích họ kịch liệt. Theo một vài bản tường thuật thì ý đồ ly gián xấu xa này đã kéo dài đến vài thế kỷ.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="reference">[Về danh mục ngũ nghịch, xin xem: Bồ Tát Giới Trọng.]</span></p>
<p style="text-align: justify;">Việc tường thuật về sự ly gián này cho thấy Đức Phật cực kỳ khoan dung và không phải là người theo chủ nghĩa cơ bản. Nếu đệ tử của Ngài muốn áp dụng giới luật nghiêm khắc hơn những gì Ngài đã đặt ra cho họ thì điều đó cũng không sao; và nếu họ không muốn thì cũng được. Không ai bị bắt buộc phải thực hành những gì Đức Phật đã dạy. Ngay cả nếu một vị tăng hay vị ni nào muốn rời khỏi giáo đoàn thì cũng được. Tuy vậy, điều vô cùng tiêu cực là việc chia rẽ cộng đồng Phật giáo, đặc biệt là tách rời cộng đồng tăng ni thành hai hoặc nhiều nhóm, trong đó một nhóm hay cả hai lại có ác ý tột cùng với nhau, cố tâm làm mất uy tín hay hủy hoại nhau. Ngay cả việc tham gia vào một trong những bè phái xung đột này sau đó và tham dự vào chiến dịch thù hận đối với phe kia là điều cực kỳ có hại. Tuy nhiên, nếu một trong những nhóm này tham gia vào hành động phá hoại hoặc gây nguy hại, hay áp dụng giới luật tai hại, thì lòng từ bi nơi bạn sẽ kêu gọi mọi người cảnh giác về mối nguy hiểm khi gia nhập vào nhóm đó. Tuy nhiên, động cơ của bạn khi làm việc này phải không bao giờ trộn lẫn với tâm sân, hận, hoặc ý muốn trả thù.</p>
<h2 class="h3" style="text-align: justify;"><strong>Đức Phật Nhập Diệt</strong></h2>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù khi đã thành tựu giải thoát, Đức Phật đã vượt qua cái chết bình thường thiếu sự khống chế; tuy nhiên, ở tuổi tám mươi mốt, Đức Phật quyết định rằng việc dạy cho các đệ tử của Ngài hiểu về lẽ vô thường sẽ là điều lợi lạc, và Ngài đã rời bỏ thân xác của mình. Trước khi thực hiện điều này, Ngài đã cho thị giả của Ngài là A Nan (Ananda, <em>Kun-dga’-bo</em>) một cơ hội để thỉnh cầu Ngài sống và giảng dạy lâu hơn, nhưng A Nan đã không hiểu được sự gợi ý của Đức Phật. Điều này cho thấy rằng một vị Phật chỉ giảng dạy khi có sự thỉnh cầu, và nếu không ai thỉnh cầu hoặc quan tâm nữa thì Ngài sẽ đi nơi khác, nơi nào Ngài có thể tạo nhiều lợi lạc hơn. Sự hiện diện và giáo huấn của một vị thầy tùy thuộc vào các đệ tử.</p>
<p style="text-align: justify;">Thế rồi ở Câu Thi Na (Kushinagara, <em>Ku-sha’i grong-khyer, gNas rtsva-mchog</em>) <em>,</em> tại nhà của Thuần Đà (Chunda), Đức Phật lâm trọng bệnh sau khi thọ dụng bữa ăn do vị thí chủ này cúng dường Ngài và nhóm tăng sĩ của Ngài. Trong giờ phút cuối cùng, Đức Phật nói với các tăng sĩ rằng nếu họ có điều gì nghi ngờ, hoặc có những thắc mắc chưa có câu trả lời, thì họ nên dựa vào các giáo huấn của Ngài và nguyên tắc giới luật của họ. Những điều đó giờ đây sẽ là thầy của họ. Vì vậy, Đức Phật đã chỉ rõ rằng mỗi người phải giải đáp thắc mắc của mình từ những giáo huấn đó. Không một ai có thẩm quyền tuyệt đối để đưa ra câu trả lời. Thế rồi Đức Thế Tôn nhập diệt.</p>
<p style="text-align: justify;">Thuần Đà đã hoàn toàn quẫn trí khi nghĩ rằng mình đã đầu độc Đức Phật. Nhưng A Nan đã an ủi vị gia chủ này, nói rằng thật ra ông đã tạo nghiệp lực thiện hảo to lớn, hay “công đức” lớn khi cúng dường cho Đức Phật bữa ăn cuối cùng, trước khi Ngài nhập diệt.</p>
<p style="text-align: justify;">Lễ trà tỳ đã được cử hành cho Đức Phật, và xá lợi của Ngài được an vị trong các bảo tháp – đài kỷ niệm chứa đựng thánh tích – đặc biệt ở những nơi trở thành bốn thánh địa hành hương lớn cho Phật tử:</p>
<ul style="text-align: justify;">
<li>Lâm Tỳ Ni, nơi Đức Phật đản sanh,</li>
<li>Bồ Đề Đạo Tràng, nơi Đức Phật đạt giác ngộ,</li>
<li>Sa Nặc, nơi Ngài ban Giáo Pháp đầu tiên,</li>
<li>Câu Thi Na, nơi Ngài nhập diệt.</li>
</ul>
<h2 class="h3" style="text-align: justify;"><strong>Kết Luận</strong></h2>
<p style="text-align: justify;">Những truyền thống Phật giáo khác nhau có những sự tường thuật khác nhau về cuộc đời của Đức Phật. Sự khác biệt đó cho thấy mỗi truyền thống quan niệm như thế nào về Đức Phật và những gì ta có thể học được từ tấm gương của Ngài.</p>
<ul>
<li style="text-align: justify;">Những văn bản Tiểu thừa chỉ nói về Đức Phật lịch sử. Bằng cách nêu gương Ngài đã tu tập miên mật ra sao để đạt được giác ngộ, chúng ta sẽ học hỏi cách tự nỗ lực tu hành.</li>
<li style="text-align: justify;">Theo văn bản tổng quát của Đại Thừa thì Đức Phật đã đạt giác ngộ từ nhiều a tăng kỳ kiếp trước. Bằng cách thị hiện một cuộc đời với mười hai hạnh giác ngộ, Ngài đã dạy chúng ta rằng việc giác ngộ đòi hỏi sự tu tập mãi mãi vì lợi ích của tất cả chúng sinh.</li>
<li style="text-align: justify;">Theo bản tường thuật của Tối Thượng Du Già Mật Điển (anuttarayoga tantra), thì Đức Phật thị hiện là Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa (<em>The Sutra on Far-reaching Discriminateing Awareness</em>, <em>The Prajnaparamita Sutras)</em>, đồng thời vừa là Đức Kim Cang Trì (Vajradhara) giảng dạy Mật điển. Điều này cho thấy rằng pháp tu Mật tông hoàn toàn dựa vào giáo huấn Trung Luận (Madhyamaka) về không tướng (voidness).</li>
</ul>
<p><strong>By Alexander Berzin</strong><br />
<em>Tháng Hai, 2005, duyệt lại vào tháng Tư, 2007</em><br />
<em> Tenzin Dechen dịch, Lozang Ngodrub hiệu đính</em></p>
<p>Nguồn: http://www.berzinarchives.com/web/vi/archives/approaching_buddhism/teachers/lineage_masters/life_shakyamuni_buddha.html</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/cuoc-doi-cua-duc-phat-thich-ca-mau-ni-2/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tara Đấng giải thoát chúng sinh</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tara-dang-giai-thoat-chung-sinh/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tara-dang-giai-thoat-chung-sinh/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 21 Sep 2015 15:38:40 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Gelug]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Gelug]]></category>
		<category><![CDATA[Quy y Tam Bảo]]></category>
		<category><![CDATA[Tam căn]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5799</guid>
		<description><![CDATA[ By Lama Zopa Rinpoche  Ý nghĩa tối hậu của cuộc đời Trước hết tôi chân thành cảm ơn mọi người đã tới tham dự khóa thiền định này. Tôi vô cùng hoan hỉ vì các bạn muốn làm cho đời mình lợi lạc cho chúng sinh bằng cách phát triển tâm thức các bạn, vì các bạn quan tâm tới&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tara-dang-giai-thoat-chung-sinh/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong> By Lama Zopa Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"> <b>Ý nghĩa tối hậu của cuộc đời</b><img class="imglazy imgcontent" src="/wp-content/uploads/blank.gif" alt="blank" align="right" border="0" hspace="5" vspace="5" data-original="http://old.thuvienhoasen.org/tara-danggiaithoatchungsinh.jpg" /></p>
<p style="text-align: justify;">Trước hết tôi chân thành cảm ơn mọi người đã tới tham dự khóa thiền định này. Tôi vô cùng hoan hỉ vì các bạn muốn làm cho đời mình lợi lạc cho chúng sinh bằng cách phát triển tâm thức các bạn, vì các bạn quan tâm tới hạnh phúc của người khác. Tôi chân thành cảm ơn tất cả các bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Bạn không tham dự những khóa thiền định và thực hành tâm linh để có một thân thể khỏe mạnh, và thậm chí không phải để được an bình nhất thời trong tâm thức. Bạn thực hành tâm linh để có sự an bình vĩnh cửu, với sự giải thoát tối hậu khỏi những phiền não hay những tư tưởng náo động. Vào lúc này bạn đã có một thân người quý báu. Ngay cả việc sử dụng thân người này để đạt được hạnh phúc tối hậu của sự giải thoát vĩnh cửu khỏi mọi vấn đề và những nguyên nhân của chúng – những tư tưởng náo động và kết quả của hành động, hay nghiệp – vẫn không phải là mục đích tối hậu của việc bạn có thân người quý báu này. Mục đích thực sự của việc mang thân người quý báu vào lúc này là để tránh làm tổn hại chúng sinh; và trên nền tảng của điều đó, làm lợi lạc cho tất cả chúng sinh, mỗi chúng sinh trong đó đều mong muốn hạnh phúc và không muốn đau khổ. (Hình trên: Đức Tara Xanh)</p>
<p style="text-align: justify;">Khi ở tận đáy lòng, bạn đã có thái độ thuần tịnh là không muốn làm hại chúng sinh, khi ấy bạn hành động để làm lợi ích cho họ mà không có sự phân biệt. Bạn không thừa nhận một vài người, chẳng hạn như những người thân và bạn hữu, là thân thiết và giúp đỡ họ, nhưng lại coi những người khác là kẻ thù và không giúp đỡ họ - hay thậm chí còn làm hại họ. Hơn là những tư tưởng phân biệt này, bạn có một thái độ thuần tịnh của lòng từ ái, nghĩ tới việc làm lợi lạc tất cả chúng sinh bao la như không gian vô hạn. Với thái độ từ ái và bi mẫn này đối với tất cả chúng sinh, bạn cũng nên hành động để làm lợi lạc cho họ một cách bình đẳng. Đây là mục đích chính của việc chúng ta mang thân người quý báu này. Đây là ý nghĩa tối hậu của cuộc đời.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Hạnh phúc Vĩnh cửu<br />
</b><br />
Bạn nên sống mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút, để thành tựu mục đích tối hậu này. Đây là lý do tại sao bạn nỗ lực để được khỏe mạnh và trường thọ. Mục đích của mọi việc bạn làm – ngủ, thức dậy, mặc quần áo, ăn uống, đi đứng, nằm ngồi, chữa bệnh – là để phát triển thiện tâm đối với mỗi chúng sinh, và để hành động mang lại lợi ích đồng đều cho họ. Những sinh loài khác hoàn toàn giống bạn trong việc mong muốn ngay cả sự an nhàn nhỏ bé nhất và không muốn chút ưu phiền nào, ngay cả trong giấc mơ. Họ hoàn toàn giống như bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Cũng như bạn muốn tiệt trừ mọi nỗi khổ của bạn và đạt được hạnh phúc, mỗi sinh loài khác cũng vậy. Họ hoàn toàn giống như bạn. Vì thế, bạn cần tiệt trừ nỗi khổ của họ và giúp họ đạt được hạnh phúc.</p>
<p style="text-align: justify;">Và một lần nữa, cũng như bạn, những sinh loài khác mong muốn hạnh phúc vĩ đại nhất, vĩnh cửu nhất. Khi bạn đi mua sắm, bạn cố gắng mua được món hàng có chất lượng tốt nhất, những món hàng bền nhất mà bạn có thể. Giống như thế, mỗi chúng sinh ước muốn có được hạnh phúc vĩ đại nhất, vững bền nhất – và hạnh phúc đó có nghĩa là sự đại giải thoát. Đại giải thoát có nghĩa là giải trừ hai che chướng: che chướng của những tư tưởng náo động thô nặng và những che chướng của các dấu vết vi tế trong tâm. Khi sự ngừng dứt những che chướng này được thiết lập trên tâm thức thì đây là hạnh phúc thuần tịnh nhất của sự toàn giác.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì sao hạnh phúc của sự toàn giác thì vĩnh cửu? Đó là bởi một khi những che chướng, nguyên nhân của đau khổ, đã được hoàn toàn giải trừ thì đau khổ không thể tái diễn và hạnh phúc không thể bị hủy hoại. Bởi nguyên nhân của đau khổ đã bị tiệt trừ nên đau khổ không thể quay đầu trở lại.</p>
<p style="text-align: justify;">Để ví dụ, vì sao hiện nay tâm thức chúng ta bị những tư tưởng náo động như tham, sân và si sai khiến? Tâm chúng ta bị những độc chất này ngăn che là bởi chúng là sự tiếp tục của những phiền não trong tâm, hay những tư tưởng náo động, đã hiện hữu ngày hôm qua. Bởi chúng ta không tẩy trừ những tư tưởng náo động của ngày hôm qua nên sự tiếp tục của những tư tưởng này – những tư tưởng náo động của ngày hôm nay – đã phát khởi.</p>
<p style="text-align: justify;">Đời trước của chúng ta cũng tương tự như thế: Nếu trong đời trước chúng ta đã hoàn toàn giải trừ những tư tưởng náo động bằng cách thực hiện biện pháp chữa trị của con đường trong tâm ta, thì trong đời này chúng ta không thể bị sinh ra với những phiền não này trong tâm. Không thể có sự tiến hóa như thế nếu chúng ta đã ngừng dứt sự tiếp tục của những tư tưởng náo động. Không có gì gây ra những tư tưởng náo động trong đời này thì sẽ không có những tư tưởng náo động – và không có bất hạnh hay những vấn đề trong đời này.</p>
<p style="text-align: justify;">Chẳng hạn như nếu một miếng vải bị dơ trong nhiều ngày và hôm qua đã được giặt sạch thì không có sự tiếp tục của bụi bẩn ngày hôm qua. Cũng thế, một khi những che chướng của tư tưởng náo động hoàn toàn được giải trừ thì chúng không thể lại phát sinh bởi không có nguyên nhân, và không thể xảy ra việc kinh nghiệm đau khổ một lần nữa. Đây là hạnh phúc vĩnh cửu của giải thoát. Như tôi đã đề cập ở trên, mục đích tối hậu của việc có được thân người quý báu này là để giải thoát tất cả các sinh loài khỏi các che chướng, hay những dấu vết trong tâm, và dẫn dắt họ tới giải thoát vĩ đại nhất của sự toàn giác, là hạnh phúc vĩnh cửu, vô song.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Phát triển tâm<br />
</b><br />
Bây giờ, để thành tựu công trình vĩ đại này cho chúng sinh, bạn phải phát triển tâm bạn bằng cách nỗ lực lắng nghe, quán chiếu và thiền định về các giáo lý. Và để bạn có thể dẫn dắt chúng sinh tới hạnh phúc vô song này của sự toàn giác, họ phải đi theo con đường. Vì thế, để dẫn dắt chúng sinh trong con đường dẫn tới sự toàn giác, bạn phải biểu thị các giáo lý cho họ. Để biểu thị các giáo lý, phương tiện dẫn dắt chúng sinh trong con đường đi tới sự toàn giác, bản thân bạn phải thật thấu suốt, không chút sai lầm, mức độ của tâm, những đặc điểm và nghiệp của mỗi một chúng sinh. Bởi chúng sinh có những mức độ và đặc điểm tâm thức khác nhau nên các phương pháp mà bạn biểu thị cho họ cũng phải có những loại khác nhau. Một lần nữa bạn phải nhận thức thật rõ ràng, không chút sai lầm, tất cả những phương tiện để dẫn dắt chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Tâm duy nhất có thể nhận ra tất cả những điều này một cách viên mãn là tâm toàn trí. Vì thế, để thành tựu công trình vĩ đại này cho chúng sinh, lợi ích tối hậu này của sự giải thoát, là điều chúng sinh cần và thiếu, bản thân bạn cần có tâm toàn trí.</p>
<p style="text-align: justify;">Chẳng hạn như một vị thầy – dù ở trong một trường học, Đại học hay Tu viện – giảng dạy những đề tài khác nhau cho những lớp học khác nhau để dạy học viên kiến thức khoa học, toán học, kỹ sư, sinh học, y học, tâm lý học hay bất kỳ môn gì. Mọi người thường chấp nhận rằng một học sinh càng có giáo dục thì càng dễ tìm việc làm, kiếm sống và có một đời sống dễ chịu. Mục đích tổng quát của giáo dục là để có một cuộc sống dễ chịu hơn. Và để giáo dục người khác, bản thân vị thầy phải được giáo dục và am hiểu mọi vấn đề mà ông giảng dạy. Bạn càng ít hiểu biết – hay càng nhiều vô minh – thì khả năng giáo dục và giúp đỡ người khác của bạn càng bị giới hạn. Bạn càng hiểu biết thì bạn càng có thể đáp ứng những ước muốn của người khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu bạn bị mù, bạn không thể dẫn dắt người khác tới nơi họ muốn. Nếu bạn không có tay thì bạn không thể cứu giúp mẹ của bạn đang gặp nguy hiểm vì bị rơi xuống một vách núi, hay bị một con sông cuốn trôi và bị chết đuối. Giống như thế, để hướng dẫn chúng sinh một cách hoàn hảo tới hạnh phúc vô song của sự toàn giác, trước hết bạn nên có tâm toàn trí.</p>
<p style="text-align: justify;">Bởi có tâm toàn trí, bạn cũng có năng lực toàn hảo và lòng đại bi đối với mọi chúng sinh. Nhờ có lòng đại bi không phân biệt này, bạn sẽ không bị lâm vào tình cảnh là cứu giúp người này mà không giúp đỡ người khác. Hành động của bạn không có sự phân biệt. Và với tâm toàn trí, bạn sẽ có năng lực khám phá mọi phương tiện thiện xảo để hướng dẫn chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Phát triển lòng bi mẫn<br />
</b><br />
Làm thế nào để có thể phát triển lòng bi mẫn? Làm thế nào để sự tương tục tâm thức này trở thành tâm toàn trí? Thậm chí bạn có thể hình dung điều này nhờ ví dụ đơn giản này: Khi bạn học thuộc lòng điều gì, vào lúc đầu tâm bạn hoàn toàn không biết gì hết. Ngay lúc bắt đầu, thậm chí bạn không biết mẫu tự abc; nhưng với sự giúp đỡ của một thầy giáo và nhờ nỗ lực, dần dần bạn bắt đầu học tập. Khi bạn tiếp tục, bạn học càng ngày càng nhiều hơn. Tâm có bản tánh là có thể phát triển sự hiểu biết. Tâm có khả năng hiểu biết những hiện tượng thô sơ và ngay cả những điều vi tế nếu bạn cố gắng làm việc này một cách đúng đắn.</p>
<p style="text-align: justify;">Giờ đây bạn có lòng bi mẫn đối với một vài chúng sinh, mặc dù bạn không hoàn toàn phát triển lòng bi mẫn, có nghĩa là lòng bi đối với mọi sinh loài. Tuy nhiên, bạn có thể phát triển lòng bi nhỏ bé hiện có đối với những chúng sinh này để lòng bi ấy trở nên mỗi lúc một to lớn hơn. Bạn có thể phát triển lòng bi đối với những chúng sinh này. Bằng cách thấu hiểu các giáo lý và thực hành thiền định, bạn cũng có thể phát triển lòng bi đối với chúng sinh mà hiện nay bạn không cảm thấy bi mẫn. Theo cách này lòng bi có thể phát triển.</p>
<p style="text-align: justify;">Với lòng bi mẫn bạn có đối với người khác, với sự hiểu biết trong hiện tại về những ước muốn của họ và các phương pháp để đáp ứng những ước muốn đó, bạn có một vài khả năng để giúp đỡ chúng sinh. Thậm chí vào lúc này, với thân người này, với sự hiểu biết và lòng bi bạn đã có, bạn có một vài năng lực để giúp đỡ những người khác. Bởi sự hiểu biết của bạn về tất cả chúng sinh và bởi lòng bi đối với họ phát triển nhờ thực hiện phương cách chữa trị của con đường trong tâm bạn, dần dần những che chướng của bạn mỗi lúc một ít đi, và càng lúc bạn càng hiểu biết hơn. Khi tiến trình này hoàn tất, bạn sẽ có năng lực toàn hảo và viên mãn để hướng dẫn chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Phát triển tâm toàn trí<br />
</b><br />
Làm thế nào để có thể tách rời tâm thức khỏi những phiền não? Trong đời sống hàng ngày của bạn, bạn có thể nhận ra rằng cho dù vào buổi sáng tâm bạn tràn ngập sân hận, sự sân hận này không kéo dài; tâm bạn không bị sân hận áp đảo liên tục. Buổi sáng bạn có thể giận dữ với người nào đó, nhưng vào buổi chiều thì sự giận dữ không còn nữa – thay vào đó bạn có thể bám luyến hay dửng dưng đối với người đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Thậm chí bạn không thiền định thì những tư tưởng náo động cũng phát khởi và chuyển hóa. Điều này chứng tỏ bản tánh của tâm không đồng nhất với tham, sân, si, kiêu ngạo hay ganh tị. Tâm bị những độc chất này tạm thời ngăn che, nhưng tự nó không đồng nhất với các độc chất ấy. Nếu tự thân tâm thức đồng nhất với sân hận thì nó phải có tính chất của sân hận một cách tự nhiên và liên tục. Hoặc tâm có tính chất của tham luyến một cách tự nhiên và liên tục. Như thế, đối với một đối tượng, sân hận và tham luyến phát khởi đồng thời.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu một tấm gương hoàn toàn đồng nhất với bụi bám trên đó thì bụi không thể bị lau sạch – điều này giống như lau bụi cho sạch bụi. Bởi gương không đồng nhất mà chỉ bị bụi che phủ nhất thời nên bạn có thể lau sạch gương bằng nước và một mảnh vải. Càng lau sạch bụi thì phản chiếu của gương càng trong sáng hơn. Tương tự như thế, khi bạn lắng nghe, quán chiếu và thiền định về con đường tuần tự dẫn tới giác ngộ, khi bạn phát triển thêm nữa những nhận thức về con đường này, trước tiên những che chướng của bạn dần dần càng lúc càng yếu đi, và sau đó hoàn toàn bị giải trừ.</p>
<p style="text-align: justify;">Mahayana, hay Đại thừa, con đường dẫn tới giác ngộ có năm con đường: đó là con đường công đức, chuẩn bị, chánh kiến, thiền định và vô-học. Và con đường Ba la mật có mười cấp độ hay mười bhumi (địa). Những che chướng nào đó được tẩy trừ khi bạn thành tựu cấp độ thứ ba, con đường chánh kiến; và những che chướng lớn hơn nữa được giải trừ khi bạn đạt được con đường thiền định. Khi một Bồ Tát đạt tới địa thứ tám của con đường Ba la mật, che chướng tư tưởng náo động thô sơ hoàn toàn được giải trừ. Nhờ phát triển tâm tới địa thứ chín và mười, Bồ Tát tẩy trừ ngay cả những che chướng vi tế, những vết nhơ trong tâm, hay những dấu vết để lại trong tâm do những che chướng của tư tưởng náo động như sự vô minh bám chấp vào cái tôi thì hiện hữu tự khía cạnh riêng của nó.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong khi cái tôi chỉ đơn thuần được quy gán cho các uẩn bởi tư tưởng, vô minh bám chấp vào cái tôi như cái gì độc lập, hiện hữu tự khía cạnh riêng của nó. Do bởi những dấu vết để lại trên tâm thức, mọi sự xuất hiện như hiện hữu tự khía cạnh riêng của nó. Tuy nhiên, ngay cả những che chướng vi tế này cũng hoàn toàn bị giải trừ khi tâm được phát triển tới địa thứ chín hay thứ mười. Khi phương thức chữa trị của con đường hoàn toàn ở trong tâm thì ngay cả một vết nhơ mỏng manh nhất cũng không còn. Vào lúc này, sự tương tục của tâm trở thành tâm toàn trí, hoàn toàn thấu suốt tất cả quá khứ, hiện tại và vị lai không chút sai lầm; thấu suốt mọi tâm thức và ước muốn của chúng sinh; và thấu suốt mọi phương tiện khác nhau để hướng dẫn chúng sinh một cách hoàn hảo.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Những chướng ngại cho sự thành công<br />
</b><br />
Để thành tựu điều này, chúng ta phải hoàn tất những chứng ngộ của con đường tuần tự dẫn tới giác ngộ, hay lam rim. Việc phát triển tâm bạn trong con đường tuần tự dẫn tới giác ngộ là điều quan trọng nhất và lợi lạc nhất đối với bạn, và đặc biệt là đối với những chúng sinh khác. Tuy nhiên, ngay cả việc thành tựu một vài hạnh phúc nhỏ bé trong đời này cũng gặp nhiều trở ngại. Ngay cả việc tìm một việc làm cũng mất nhiều tháng, thậm chí nhiều năm. Ngay cả trong việc kinh doanh, là công việc nhỏ bé để đạt được hạnh phúc chỉ cho cuộc đời này, cũng có nhiều chướng ngại. Vì thế dĩ nhiên là việc phát triển tâm bạn và thành tựu sự giải thoát vĩnh cửu của tâm toàn trí vì lợi lạc của tất cả chúng sinh phải có nhiều chướng ngại. Do đó tất nhiên là có nhiều chướng ngại trong việc phát triển tâm bạn và thành tựu giải thoát vĩnh cửu của tâm toàn trí vì lợi ích của tất cả chúng sinh. Có nhiều chướng ngại bên trong do những tư tưởng náo động gây ra: tâm bất mãn; tâm ích kỷ; tâm của những bận tâm thế tục, sự bám níu vào cuộc đời này và những toàn thiện trong sinh tử.</p>
<p style="text-align: justify;">Bận tâm thế tục mang lại rất nhiều vấn đề trong đời này: sợ hãi, lo lắng, ngã lòng, thậm chí tự tử. Tâm bám chấp này không cho phép những hoạt động hàng ngày của bạn trở thành đức hạnh, nguyên nhân của hạnh phúc. Hơn nữa, khi sự bận tâm thế tục xen vào việc bạn tìm kiếm hạnh phúc trong những đời sau, có nghĩa là nhận một tái sinh tốt lành, thậm chí sự bận tâm thế tục này không để cho bạn có đươc hạnh phúc và an bình trong tâm từ giờ này sang giờ khác trong đời sống hiện tại của bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Cho dù bạn nỗ lực thực hành Pháp, sự bận tâm thế tục không cho phép việc thực hành của bạn trở thành Pháp thuần tịnh. Việc bám níu vào những toàn thiện trong sinh tử cũng khiến cho bạn tái sinh một lần nữa, vì thế bạn liên tục trải nghiệm nỗi khổ của cái chết và kinh nghiệm mọi vấn đề này. Nó không cho phép bạn thành tựu giải thoát vĩnh cửu khỏi đau khổ và những nguyên nhân của đau khổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung, sự vô minh tin rằng cái ta, là cái chỉ đơn thuần được tư tưởng quy gán cho các uẩn, hiện hữu từ khía cạnh riêng của nó, là nguyên nhân chính của đau khổ. Vô minh này là cội gốc của mọi đau khổ. Nhưng cũng có tâm thức ích kỷ không cho phép bạn có chút bình an trong tâm. Chừng nào bạn còn liên tục theo đuổi thái độ ích kỷ, bạn sẽ không có bất kỳ sự buông xả nào, hạnh phúc nào. Ngoài việc làm hại bạn, thái độ ích kỷ liên tục mang tai họa đến cho tất cả chúng sinh khác – từ ngày này sang ngày khác, tháng ngày sang tháng khác, năm này sang năm khác, và đời này sang đời khác. Nó không cho phép những hoạt động của đời sống hàng ngày của bạn trở thành nguyên nhân khiến bạn thành tựu sự toàn giác, tâm toàn trí, vì chúng sinh. Tương tự như thế, sự tham luyến bám chấp vào những toàn thiện trong sinh tử không cho phép những hành động hàng ngày của bạn trở thành nguyên nhân của giải thoát.</p>
<p style="text-align: justify;">Cái nhìn đầy ảo tưởng tin rằng có một cái ta độc lập, mặc dù đó là một lẽ duyên sinh, không cho phép bạn nhận ra bản tánh tuyệt đối của cái tôi. Chừng nào bạn còn bám chấp vào cái tôi như hiện hữu thực sự, bạn không thể nào nhận ra bản tánh tuyệt đối của cái tôi. Theo cách này, bạn không có cách nào thoát khỏi đau khổ, thoát khỏi sinh tử. Việc theo đuổi vô minh bằng cách này không cho phép những hành động trong đời sống hàng ngày của bạn trở thành một phương cách chữa trị cho sinh tử, cho nguyên nhân của đau khổ và mọi vấn đề về hậu quả.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Nương tựa Đức Tara<br />
</b><br />
Có rất nhiều chướng ngại bên trong đối với việc phát triển tâm thức của bạn, và những chướng ngại bên trong này tạo ra nhiều chướng ngại bên ngoài. Vì thế, để bạn có thể thành công trong việc thực hành Pháp và thể nhập con đường tuần tự dẫn tới giác ngộ, bạn phải nương tựa vào một Bổn Tôn đặc biệt hay một vị Phật, chẳng hạn như Đức Tara. Mọi công hạnh của chư Phật đã hiển lộ trong Đức Tara, Đấng Giải Thoát chúng sinh - phương diện nữ của chư Phật – để giúp chúng sinh hoàn thành mỹ mãn hạnh phúc nhất thời và tối hậu.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhiều yogi Ấn Độ đã nương tựa Đức Tara. Nhờ nương tựa Đức Tara, họ đã hoàn tất con đường và thực hiện những tác phẩm vĩ đại cho việc giảng dạy và cho chúng sinh, dẫn dắt vô số chúng sinh trong con đường dẫn tới hạnh phúc nhất thời và tối hậu. Chẳng hạn như đại học giả Lạt ma Atisha, người đã hoàn tất toàn bộ con đường tuần tự dẫn tới giác ngộ, đã nương tựa Đức Tara.</p>
<p style="text-align: justify;">Lạt ma Atisha được Yeshe O, vị vua Pháp của Tây Tạng thỉnh mời để thiết lập lại và truyền bá Phật Pháp ở Tây Tạng. Lạt ma Atisha cũng biên soạn Ngọn Đèn Soi Đường Giác ngộ,(1) là tác phẩm đã lập ra thuật ngữ con đường tuần tự dẫn tới giác ngộ. Nhờ lắng nghe, quán chiếu và thiền định về Ngọn Đèn Soi Đường Giác ngộ, rất nhiều người đã đạt được giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngoài việc làm lợi lạc cho những hành giả Tây Tạng đang thực nghiệm và thành tựu con đường dẫn tới giác ngộ, ngày nay, thậm chí bản văn của Lạt ma Atisha cũng mang lại lợi ích rộng rãi ở Tây phương. Ánh sáng của giáo lý lam rim này đã xua tan rất nhiều vô minh, ngay cả trong tâm thức của nhiều ngàn người đang sống ở Tây phương. Bởi Ngọn Đèn Soi Đường Giác ngộ hợp nhất mọi giáo lý của Đức Phật thành một thực hành tuần tự mà nhờ đó ai cũng có thể đạt được giác ngộ và nhiều hành giả đã có thể sử dụng nó để tu hành tâm thức trong con đường dẫn tới giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù Lạt ma Atisha đã thị tịch rất lâu ở Tây Tạng, ngài vẫn làm lợi lạc chúng ta bằng cách cho ta cơ hội để hiểu biết những giáo lý của con đường tuần tự dẫn tới giác ngộ. Việc thấu hiểu và thực hành con đường này mang lại cho bạn lòng tin và nhiều hạnh phúc. Nhờ hiểu biết nguyên nhân của hạnh phúc, bạn có cơ hội để đạt được bất kỳ hạnh phúc nào bạn ước muốn. Đây là những công hạnh của Lạt ma Atisha làm lợi lạc tất cả chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Lạt ma Atisha có thể hiến tặng những lợi lạc bao la này cho chúng sinh và các giáo lý nhờ tin tưởng vào Đức Tara. Trong suốt cuộc đời của Lạt ma Atisha, Đức Tara luôn luôn cho ngài những lời chỉ dạy. Khi Lạt ma Atisha phải quyết định về việc thực hiện những công trình cho chúng sinh – chẳng hạn như du hành sang Tây Tạng - ngài luôn luôn cầu xin Đức Tara, và sau đó làm theo những chỉ dẫn của Tara. Giống như thế, thời nay ngay cả những yogi Tây Tạng đang thể nhập con đường tuần tự dẫn tới giác ngộ, đạt được thành công to lớn trong việc phát triển tâm thức của họ, cũng nương tựa vào Đức Tara.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Những lợi ích của thực hành Tara<br />
</b><br />
Đức Tara nhanh chóng giúp bạn thành công trong việc đạt được hạnh phúc tối hậu của giác ngộ. Bạn nhận lãnh rất nhiều công đức tốt lành, hay nguyên nhân của hạnh phúc; nó ngăn cản một tái sinh đau khổ trong đời sau của bạn; bạn nhận nhập môn từ hàng triệu vị Phật; và bạn thành tựu giác ngộ. Tuy nhiên, bên cạnh những điều này, thực hành Tara có nhiều lợi lạc khác. Việc trì tụng lời cầu nguyện Hai mươi mốt Đức Tara (2) với lòng sùng mộ vào lúc bình minh hay chạng vạng tối – hay tưởng nhớ Đức Tara, hát tụng những bài nguyện và tụng các thần chú bất kỳ lúc nào vào ban ngày hay đêm – che chở bạn khỏi nỗi sợ và những hiểm nguy, và đáp ứng mọi ước nguyện của bạn. Nếu bạn cầu nguyện Đức Tara, Ngài sẽ đặc biệt cứu giúp bạn thật nhanh chóng.</p>
<p style="text-align: justify;">Cũng có nhiều lợi lạc nhất thời nhờ thực hành Tara, hoặc bằng cách trì tụng thần chú Tara hay lời cầu nguyện Hai mươi mốt Đức Tara. Đức Tara có thể giải quyết nhiều vấn đề trong đời bạn: cứu bạn khỏi bị chết sớm; giúp bạn khỏi bệnh; khiến bạn thành công trong việc kinh doanh; giúp bạn tìm được việc làm; làm bạn giàu có. Khi bạn có một vấn đề thực sự nghiêm trọng, chẳng hạn như một chứng bệnh đe dọa sinh mạng, nếu bạn nương tựa Đức Tara, thì rất thường là bạn sẽ được gỡ ra khỏi vấn đề đó; bạn sẽ khỏi chứng bệnh đó. Nếu bạn ăn phải chất độc, nếu bạn nương tựa Đức Tara, chất độc sẽ không làm tổn hại bạn. Nhờ thực hành các lời cầu nguyện và thần chú của Đức Tara, những cặp vợ chồng khó có con sẽ có thể có một đứa con – trai hay gái như họ mong muốn. Đây là những kinh nghiệm hết sức thông thường. Nhờ các thực hành Tara, bạn có thể có được mọi hạnh phúc của đời này mà bạn ước muốn.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu bạn tụng lời cầu nguyện Hai mươi mốt Đức Tara mỗi buổi tối một lần thì không thể xảy ra việc bạn bị chết đói – tôi có thể bảo đảm điều này! Đó cũng là một kinh nghiệm hết sức thông thường đối với các cư sĩ, tăng và ni khó khăn về tài chánh và gặp những vấn đề như thế đã được cứu thoát nhờ thực hành Tara. Trong kinh nghiệm riêng của tôi, tôi đã từng thấy nhiều trường hợp những người đã trì tụng và nương tựa Đức Tara và được cứu thoát khỏi nguy cơ chết sớm vì bệnh tật mà không cần dùng thuốc.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ý nghĩa của TARE<br />
</b><br />
Thần chú Tara là OM TARE TUTTARE TURE SOHA. Để giải thích ý nghĩa của TARE TUTTARE TURE: TARE có nghĩa là giải thoát khỏi samsara (sinh tử). Từ Samsara này có nghĩa là những uẩn: sắc uẩn, hay thân thể vật lý; thọ uẩn; tưởng uẩn, hành uẩn, và thức uẩn. Những uẩn này mà cái tôi được quy gán, được tạo nên bởi những chủng tử ô nhiễm của nghiệp và những tư tưởng náo động (tư tưởng rối loạn). Dưới sự sai khiến của nghiệp và những tư tưởng náo động, thức uẩn trong đời trước xoay tròn tới đời này. Bởi những uẩn này bị ô nhiễm do chủng tử nghiệp và những tư tưởng náo động, trong việc gặp gỡ những đối tượng ưa thích và không đáng ưa, những tư tưởng náo động khác nhau như tham và sân xuất hiện. Khi chủng tử của những tư tưởng náo động hiện diện, một lần nữa bạn tạo nghiệp. Nghiệp và những tư tưởng náo động lại tạo nên thức uẩn để xoay vòng, hay kết hợp với các uẩn trong đời sau.</p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù thân thể thô nặng này không tiếp tục sang đời sau, nhưng thức uẩn thì đi tiếp tới đời sau. Từ đời này sang đời khác, nó liên tục xoay tròn (luân hồi). Từ đời này sang đời sau, từ đời trước tới đời hiện tại, thức uẩn xoay tròn. Nó kết hợp với những uẩn này trong hiện tại, sau đó hợp nhất với những uẩn trong đời sau. Đây là lý do tại sao những uẩn này được gọi là samsara (sinh tử), hay hiện hữu luân hồi.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế, TARE cho thấy Mẹ Tara giải thoát chúng sinh khỏi sinh tử, khỏi nỗi khổ thực sự, hay thoát khỏi những vấn đề. Bạn có thể liên kết điều này với những nỗi khổ đặc biệt của nhân loại: sinh, lão, bệnh và tử; gặp những đối tượng không ưa thích và kinh nghiệm sự thù ghét; không tìm được những đối tượng ưa thích hay tìm được chúng nhưng không hài lòng. Cho dù bạn vui hưởng bao nhiêu lạc thú chăng nữa thì cũng không có sự mãn nguyện. Cho dù bạn theo đuổi dục vọng tới đâu chăng nữa thì bạn cũng chẳng mãn nguyện chút nào.</p>
<p style="text-align: justify;">Cũng thế, chẳng có gì là chắc chắn trong sinh tử. Bạn phải liên tục lìa bỏ thân xác, và liên tục nhận thân thể khác. Cũng giống như thế, bạn liên tục kinh nghiệm nỗi khổ của việc kết hợp với một thân thể khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Bà mẹ trong đời hiện tại của bạn đến từ mẹ của bà, tức bà của bạn; bà của bạn đến từ bà mẹ khác; và bà mẹ đó đến từ bà mẹ khác. Cha của bạn thì cũng thế. Bạn có thể thấy thân thể mà bạn đang có này là một tập hợp của tất cả tinh dịch và máu huyết đã tiếp tục từ cha mẹ cho tới con cái trong vô số thế hệ không thể tưởng tượng nổi từ khi trái đất này tiến hóa, từ khi nhân loại bắt đầu. Tập hợp của tinh dịch này đi tới bạn qua cha bạn, ông của bạn, ông cố của bạn, và v.v.. Máu huyết thì cũng thế, nó đến với bạn qua mẹ bạn, bà của bạn, và v.v.. Bởi thân thể mà bạn hiện có này là một tiếp nối của toàn bộ tinh dịch và máu huyết từ tất cả những chúng sinh này, do đó không có chút thực chất nào để bám chấp, không có lý do gì để dính mắc vào thân thể này, vào sinh tử này. Chất thừa thãi từ mọi nhà vệ sinh trong một thành phố lớn đều tập trung vào một ống cống lớn – thân thể chúng ta cũng giống như ống cống lớn này.</p>
<p style="text-align: justify;">Bởi liên tục kết hợp với thân xác như thế, bạn liên tục kinh nghiệm những vấn đề. Nếu bạn ở địa vị cao, bạn rơi xuống địa vị thấp. Điều này liên tục xảy ra. Khi bạn sinh ra, bạn sinh ra một mình không có ai làm bạn đồng hành; khi bạn chết, bạn cũng chết một mình. Ngay cả thân thể này cũng không đồng hành với tâm thức; tâm thức phải đi một mình sang đời sau. Tất cả những điều này là những vấn đề của nỗi khổ thực sự. Nếu bạn nương tựa vào Đức Tara bằng cách quy y Ngài và làm những thực hành Tara – chẳng hạn như trì tụng thần chú hay các bài tán thán – với TARE, Đức Tara sẽ giải thoát bạn khỏi tất cả những đau khổ thực sự này.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ý nghĩa của TUTTARE<br />
</b><br />
Từ thứ hai, TUTTARE, giải thoát bạn khỏi tám nỗi sợ hãi. Có tám nỗi sợ liên quan tới những nỗi nguy hiểm bên ngoài đến từ lửa, nước, không khí, đất, và cũng từ những việc chẳng hạn như những kẻ trộm cướp và thú vật nguy hiểm. Tuy nhiên, những hiểm nguy chính yếu đến từ tham, sân, si, kiêu ngạo, ganh tỵ, bủn xỉn, nghi ngờ và tà kiến. Tám tư tưởng náo động này mà bạn có trong tâm là những nguy hiểm chính yếu. Nhờ nương tựa Đức Tara và thực hành Tara, bạn được giải thoát khỏi tám nguy hiểm bên trong này, tám tư tưởng náo động này. Theo cách này, bạn cũng được giải thoát khỏi những nguy hiểm bên ngoài, bởi những nguy hiểm bên ngoài này đến từ những tư tưởng náo động bên trong.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ thứ hai, TUTTARE, giải thoát bạn khỏi tám nỗi sợ, giải thoát bạn khỏi nguyên nhân thực sự của đau khổ: nghiệp và những tư tưởng náo động hoàn toàn-sinh khởi. Hoàn toàn-sinh khởi có nghĩa là những tư tưởng náo động mang lại mọi khổ đau. Bằng cách nương tựa Đức Tara và thực hành Tara, bạn được giải thoát khỏi nguyên nhân thực sự của đau khổ: đây là ý nghĩa của TUTARE.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ý nghĩa của TURE<br />
</b><br />
Từ thứ ba, TURE, giải thoát bạn khỏi bệnh tật. Trong Bốn Chân lý Cao quý (Tứ Diệu Đế), TURE biểu thị sự ngừng dứt của đau khổ (Đạo Đế), là Pháp tối hậu. Về mặt giải thoát khỏi bệnh tật, bệnh tật thực sự mà ta có là sự vô minh (si) không biết bản tánh tuyệt đối của cái ta, và mọi tư tưởng náo động phát khởi từ sự vô minh này. Đây là những bệnh tật thực sự, trầm trọng mà ta mắc phải. Với sự ngừng dứt tất cả những bệnh tật này của những tư tưởng náo động, mọi đau khổ thực sự, mọi vấn đề là hậu quả, cũng được ngừng dứt. Bởi giải thoát chúng ta khỏi bệnh tật, TURE thực sự giải thoát chúng ta khỏi nguyên nhân thực sự, những tư tưởng náo động, và cũng giải thoát ta khỏi những đau khổ thực sự.</p>
<p style="text-align: justify;">Làm thế nào chúng ta có thể thành tựu Pháp tối hậu này, sự ngửng dứt thực sự nguyên nhân và kết quả của đau khổ? Điều gì có thể dẫn dắt ta tới trạng thái này, sự ngừng dứt đau khổ, là ý nghĩa của TURE? Bạn thành tựu điều này bằng cách thực hành con đường chân chính. Như được biểu lộ trong những con đường của Thừa Thấp của các vị Thanh Văn và Độc Giác, và trong con đường Đại Thừa, con đường chân chính là trí tuệ trực tiếp nhận thức tánh Không. Đây là Pháp tuyệt đối. Việc thể nhập trí tuệ này trong tâm ta dẫn ta tới trạng thái ngừng dứt đau khổ. Con đường chân chính này được bao hàm trong TUTARE, giải thoát ta khỏi tám nỗi sợ hãi – từ giải thoát gián tiếp biểu thị con đường chân chính. Và như tôi vừa giải thích, từ thứ ba, TURE, giải thoát bạn khỏi bệnh tật thực sự, là những tư tưởng náo động.</p>
<p style="text-align: justify;">Để kết luận, nhờ nương tựa (quy y) Đức Tara, làm các thực hành Tara chẳng hạn như trì tụng thần chú Tara, và thực hành con đường được bao hàm trong thần chú đó, bạn có thể thành tựu trạng thái toàn giác với bốn kaya (thân), là sự ngừng dứt, giải thoát khỏi hai che chướng. Tóm lại, OM TARE TUTTARE TURE SOHA có nghĩa là “Con đảnh lễ Đấng Giải thoát, Mẹ của tất cả các Đấng Chiến Thắng.” Tara là mẹ của tất cả các Đấng Chiến Thắng, hay chư Phật. Tại sao chư Phật được gọi là các Đấng Chiến Thắng? Đó là bởi các Ngài chiến thắng hai che chướng.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Mẹ Tara<br />
</b><br />
Đức Tara được gọi là Mẹ là bởi bà mẹ sinh ra những đứa con. Ý nghĩa thực sự của Tara là trí tuệ siêu việt của đại lạc và tánh Không bất-nhị, là trí tuệ thấu suốt chân lý tuyệt đối và tương đối của mọi sự hiện hữu. Đây là guru (Đạo sư) tuyệt đối, guru đích thực – và chúng ta nên thấu hiểu ý nghĩa đích thực này của guru. Mặc dù chư Phật có những phương diện (diện mạo, hình tướng) khác nhau và những danh hiệu khác nhau, nhưng tất cả chư Phật đều được sinh ra từ trí tuệ siêu việt của đại lạc và tánh Không bất-nhị này, là Pháp thân. Trong thực tế, mỗi vị Phật là hiện thân của guru tuyệt đối này: một hiển lộ trong nhiều; nhiều hiển lộ trong một. Guru tuyệt đối hiển lộ trong tất cả những phương diện khác nhau này của Phật; tinh túy của tất cả chư Phật là guru tuyệt đối. Ý nghĩa thực sự của guru, guru tuyệt đối, hiển lộ trong diện mạo (hình tướng) bình thường là guru chân lý-tương đối, vị Lạt ma mà từ ngài bạn trực tiếp nhận những giáo lý.</p>
<p style="text-align: justify;">Như Khedrup Sangye Yeshe đã giải thích: “Trước guru, thậm chí danh hiệu ‘Phật’ cũng không có.” Toàn bộ Guru Puja biểu lộ rằng nền tảng là guru, Pháp thân, trí tuệ siêu việt của đại lạc và tánh Không bất-nhị. Ngay từ lúc khởi đầu, trong khi kinh nghiệm đại lạc, chúng ta hiển lộ như guru-deity (Bổn Tôn-Đạo sư). Ngay cả việc tiền-phát triển ruộng công đức cũng xuất phát từ đại lạc và tánh Không bất khả phân, và từ ruộng công đức này chúng ta nhận lễ nhập môn; chúng ta khẩn cầu được ban phước (gia trì) để phát triển những chứng ngộ của con đường tuần tự tới giác ngộ từ lúc bắt đầu cho tới khi chấm dứt; và chúng ta cũng thực hiện bốn loại cúng dường (ngoài, trong, bí mật và tuyệt đối). Chúng ta tu hành tâm thức với những thiền định này, là những gì xuất phát từ đại lạc và tánh Không bất-nhị.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước tiên chúng ta gặp guru bên ngoài và riêng rẽ. Sau khi nhận giáo lý, ta lắng nghe, quán chiếu và thiền định về con đường do guru này biểu lộ. Trên nền tảng của lòng sùng mộ đúng đắn đối với guru, dần dần chúng ta thể nhập phương cách chữa trị của con đường và giải trừ những che chướng của ta. Khi những che chướng của ta hoàn toàn được giải trừ, chúng ta gặp gỡ guru trong tâm thức.</p>
<p style="text-align: justify;">Trên nền tảng thể nhập Ba nguyên lý của Con Đường, chúng ta nhận lãnh bốn nhập môn viên mãn Yoga Tantra Tối thượng, là những nhập môn chắc chắn gieo trồng những chủng tử của bốn thân trong tâm thức chúng ta. Điều này cho phép ta thực hành sự hợp nhất tịnh quang và huyễn thân. Bằng cách dần dần thể nhập con đường này, chúng ta có thể hoàn toàn cắt đứt ngay cả quan điểm nhị nguyên vi tế, ngừng dứt ngay cả những tâm thô nặng của những thị kiến trắng, đỏ và tăm tối, là những thị kiến còn vi tế hơn những tâm thức thô nặng vừa đề cập nhưng thô lậu hơn khi so sánh với tâm vi tế của tịnh quang.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi bạn thành tựu Pháp thân, trí tuệ siêu việt của đại lạc và tánh Không bất-nhị, bạn đã thành tựu guru (Đạo sư). Bạn đã thành tựu ước muốn được biểu lộ trong lời nguyện hồi hướng thường dùng của chúng ta: “Nhờ tất cả những công đức này cầu mong con nhanh chóng thành tựu sự giác ngộ của Đức Phật-Đạo sư, và dẫn dắt mỗi một chúng sinh tới sự giác ngộ của Đức Phật-Đạo sư.” Trong thực tế, nhờ tu hành tâm thức của bạn trong những thiền định này, phát triển tâm bạn trong con đường, dòng tương tục của tâm bạn trở thành dòng tương tục của guru. Trong tương lai, bạn thực sự trở thành guru mà bạn đã quán tưởng.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế, tất cả chư Phật đều sinh ra từ guru tuyệt đối, trí tuệ siêu việt của đại lạc và tánh Không bất-nhị, là ý nghĩa thực sự của Mẹ. Trí tuệ siêu việt này, tâm vi tế hoàn toàn thuần tịnh này, hiển lộ trong phương diện (hình tướng, diện mạo) nữ nhân này, là vị được quy gán là “Tara”.</p>
<p style="text-align: justify;">Thường thì trẻ con cảm thấy gần mẹ hơn cha. Khi chúng gặp rắc rối gì, hầu hết trẻ con kêu đòi mẹ chúng. Tôi không hiểu biết về phương Tây, nhưng ở phương Đông thì ngay cả những người trưởng thành, khi bị đau khổ hay gặp những vấn đề nghiêm trọng, họ đều nương tựa mẹ của họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Cha tôi chết khi tôi còn nhỏ, và tôi không nhớ chút gì về diện mạo của ông. Người ta nói ông có một bộ râu ở cằm, ông đọc các bản văn rất hay và ít nói. Tất cả những gì tôi có thể nhớ rõ ràng là chiếc chuba (áo choàng dài) bằng da cừu của cha tôi. Mọi người trong gia đình ngủ dưới chiếc chuba vĩ đại ấy – nó là chiếc mền của chúng tôi. Cả nhà cố gắng để nằm dưới nó. Tôi có thể nhớ điều đó thật rõ ràng. Tôi được giới thiệu với chiếc chuba của cha tôi – đó là tất cả những gì tôi nhớ.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế mẹ tôi là người lớn duy nhất trong nhà. Chị tôi, vì lớn hơn một chút, có thể giúp đỡ mẹ tôi chút ít bằng cách đưa súc vật của chúng tôi ra núi và dẫn chúng về nhà. Nếu không, những đứa trẻ khác trong nhà – tất cả có ba đứa, kể cả tôi – thật là vô dụng. Bởi chị tôi phải trông coi súc vật nên một mình mẹ tôi phải cáng đáng mọi công việc khó nhọc.</p>
<p style="text-align: justify;">Một hôm mẹ tôi phải đi vào rừng để lấy củi. Chúng tôi chờ ở ngoài cửa. Bởi không đứa nào trong chúng tôi có thể nấu nướng, chúng tôi ra ngoài chờ bà về và cho chúng tôi ít thức ăn. Bà từ rừng trở về thật muộn với một gánh củi rất nặng. Sau khi về tới nhà, bà không đốt nổi một ngọn lửa vì bà bị bệnh, rất đau đớn. Lò không có lửa và không có thực phẩm. Bà nằm xuống cạnh lò sưởi, kêu gào mẹ của bà: “Ama! Ama!” Lúc đó bà tôi vẫn còn sống, ở khá gần chúng tôi, có lẽ khoảng năm hay mười phút đi bộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Ba đứa chúng tôi – tôi, anh Sangye, và một đứa em khác có bím tóc nhỏ sau lưng, và sau này đã chết – không biết phải làm gì. Chúng tôi chỉ ngồi quanh lò sưởi nhìn mẹ tôi. Không có lửa; không ai trong chúng tôi có thể nhóm lửa. Chúng tôi chỉ ngồi và nhìn mẹ.<br />
Cũng giống như thế, bằng cách này hay cách khác, ngay cả những người đã trưởng thành cũng kêu cầu mẹ của họ khi họ đau khổ hay gặp vấn đề thật sự nghiêm trọng. Tuy nhiên, Đức Tara thì còn gần gũi, thân thiết với chúng ta hơn mẹ của ta.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ý nghĩa của OM TARE TUTTARE TURE SOHA<br />
</b><br />
Phương diện nữ này, Đức Tara, Mẹ của tất cả các Đấng Chiến Thắng, dẫn dắt bạn và chúng sinh thoát khỏi hiểm nguy của việc bị rơi vào sinh tử hay Niết bàn thấp, và dẫn dắt bạn tới trạng thái viên mãn của sự giác ngộ, là trạng thái được bảo đảm bằng năm trí tuệ siêu việt và bốn thân.</p>
<p style="text-align: justify;">Nghĩa thô của ba từ TARE TUTTARE TURE này là: “Đối trước Ngài, hiện thân những công hạnh của tất cả chư Phật, dù con ở trong hoàn cảnh hạnh phúc hay bất hạnh, con luôn luôn đảnh lễ với thân, ngữ và tâm con.”</p>
<p style="text-align: justify;">Mọi con đường (Thừa Thấp, Đại Thừa, Ba la mật Thừa, Mật Thừa) từ lúc khởi đầu cho tới khi giác ngộ đều được bao hàm trong TARE TUTTARE TURE. Phương cách chữa trị của con đường và mọi che chướng mà nó giải trừ đều bao hàm trong TARE TUTTARE TURE. Đối với lam rim, TARE là con đường tuần tự của chúng sinh hạ căn; TUTTARE, con đường tuần tự của chúng sinh trung căn, và TURE, con đường tuần tự của chúng sinh thượng căn. Mọi đặc điểm chính của những thiền định lam rim được bao hàm trong thần chú này. Trong thần chú TAYATA OM MUNI MUNI MAHAMUNIYE SOHA, MUNI MUNI MAHAMUNIYE cũng có thể có quan hệ với lam rim theo cách này.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ cuối cùng SOHA có nghĩa là thiết lập cội gốc của con đường trong tim bạn. Nói cách khác, bằng cách nương tựa Đức Tara và làm thực hành Tara, bạn nhận lãnh những sự ban phước của Đức Tara trong trái tim bạn. Điều này cho bạn không gian để thiết lập cội gốc của con đường, được biểu thị bởi TARE TUTTARE TURE, trong tim bạn. Bằng cách thiết lập con đường của ba căn cơ chúng sinh trong tim bạn, bạn tịnh hóa mọi bất tịnh của thân, ngữ và tâm bạn, và thành tựu thân linh thánh, ngữ linh thánh, và tâm linh thánh của Đức Tara, được biểu thị bằng OM. Thân, ngữ và tâm bạn được chuyển hóa thành thân linh thánh, ngữ linh thánh và tâm linh thánh của Đức Tara. Đây là ý nghĩa thô của OM TARE TUTTARE TURE SOHA.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Quán tưởng Đức Tara<br />
</b><br />
Khi bạn trì tụng thần chú, hãy quán tưởng Đức Tara trong không gian trước mặt bạn, ngang với trán bạn, ở một khoảng cách vừa phải - khoảng bề dài một thân người. Như tôi đã đề cập khi giảng nghĩa thần chú, trước tiên hãy nghĩ tới trí tuệ siêu việt của đại lạc của tất cả chư Phật, trí tuệ ấy hoàn toàn thấu suốt mọi sự hiện hữu. Hãy nghĩ tới tâm linh thánh này của Pháp thân, guru (đạo sư) tuyệt đối. Bởi tâm linh thánh của tất cả chư Phật, guru tuyệt đối, được ràng buộc bởi lòng đại bi đối với bạn và tất cả chúng sinh, những người bị ngăn che và đau khổ dưới sự sai khiến của nghiệp và những tư tưởng náo động, tâm linh thánh ấy hiển lộ trong thân tướng nữ nhân đặc biệt này của Đức Tara. Điều này xảy ra là nhờ lòng bi mẫn. Giống như bạn hành động dưới sự sai khiến của sân hận và tham luyến, chư Phật làm việc vì bạn và chúng sinh dưới sự hướng dẫn của lòng bi.</p>
<p style="text-align: justify;">Tâm linh thánh của tất cả chư Phật hiển lộ trong Đức Tara, phương diện (hình tướng) nữ nhân này. Diện mạo của Ngài ra sao? Đức Tara mang tính chất của ánh sáng xanh lục, với một mặt và hai tay. Ngài có vẻ mặt thật an bình và hơi mỉm cười. Tóc Ngài đen tuyền, một nửa được búi lên và một nửa buông chùng, và tô điểm một hoa utpala (hoa sen xanh) trên đỉnh đầu. Đức Tara trang điểm những vật trang sức quý giá gồm chuỗi hạt, xuyến, băng tay, và v.v.. Đôi mắt Ngài tràn đầy thương yêu và bi mẫn, không mở lớn nhưng hơi tròn và trong sáng. Đôi mắt của Đức Tara biểu lộ lòng bi mẫn đối với bạn, giống như cái nhìn thương yêu mà một bàn mẹ gởi cho đứa con thân yêu duy nhất của bà. Bàn tay phải Ngài cầm một cành hoa utpala, trong ấn ban những chứng ngộ siêu việt. Bàn tay trái cầm một cành hoa utpala khác, ba ngón tay hướng thẳng lên biểu thị sự nương tựa Phật, Pháp và Tăng đoàn.</p>
<p style="text-align: justify;">Với bộ ngực hoàn toàn bày lộ, Đức Tara trang điểm một chuỗi hạt quý giá, ngoài ra còn có những vòng hoa quý báu và những khăn choàng cổ khác nhau. Chân phải của Ngài duỗi ra, và chân trái co lại. Phía sau Ngài là một đĩa mặt trăng. Đức Tara tô điểm những dấu hiệu thiêng liêng viên mãn và những minh họa của một vị Phật. Trên trán Ngài có một chữ OM trắng, tinh túy của thân kim cương linh thánh; ở cổ Ngài, một chữ AH đỏ, tinh túy của ngữ kim cương linh thánh; và ở tim Ngài, một chữ HUNG xanh dương, tinh túy của tâm kim cương linh thánh.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ chữ OM, những tia cam lồ trắng phóng ra, đập mạnh vào trán bạn, và đi vào người bạn để tịnh hóa mọi che chướng và nghiệp tiêu cực bạn đã tích tập với thân bạn từ những tái sinh tự vô thủy cho tới bây giờ. Từ chữ AH ở cổ họng của Đức Tara, những tia cam lồ đỏ được phóng ra và đập vào cổ họng của bạn; mọi che chướng và nghiệp tiêu cực được tích tập với ngữ của bạn được hoàn toàn tịnh hóa. Kế đó, từ chữ HUNG nơi tim Đức Tara, những tia cam lồ xanh dương được phóng ra và đi vào tim bạn; mọi che chướng và nghiệp tiêu cực được tích tập với tâm bạn từ những tái sinh tự vô thủy tới nay được tịnh hóa. Nhờ lòng bi mẫn đối với bạn và tất cả chúng sinh, Mẹ Tara đã tịnh hóa bạn. Hãy tập trung vào điều này khi bạn trì tụng thần chú OM TARE TUTTARE TURE SOHA. Hoặc nếu bạn muốn, bạn có thể quán tưởng Đức Tara trên đỉnh đầu bạn như trong sadhana Tara ngắn gọn. (2)</p>
<p style="text-align: justify;">Khi bạn chấm dứt việc thiền định, hãy cầu nguyện Đức Tara: “Không trì hoãn ngay cả một giây, cầu mong con trở thành Đức Tara và trong mỗi giây giải thoát vô số chúng sinh khỏi mọi nỗi khổ của họ và dẫn dắt họ tới sự toàn giác.”</p>
<p style="text-align: justify;">Hãy cầu nguyện được thành tựu ước nguyện này bằng việc phát triển Bồ đề tâm, ước nguyện thành tựu Tara vì lợi lạc của chúng sinh. Bởi bạn không theo đuổi tâm ích kỷ mà đã chuyển hóa thái độ của bạn thành thái độ sử dụng đời bạn để phụng sự chúng sinh, giúp họ đạt được hạnh phúc nhất thời và tối hậu, Đức Tara hết sức hài lòng bạn. Việc bạn thực hành tư tưởng từ bi của Bồ đề tâm và giới hạnh, có nghĩa là giữ gìn giới nguyện của bạn, đã làm Đức Tara vui lòng hơn hết. Những thực hành Đại thừa cốt tủy này là những món cúng dường tuyệt vời nhất bạn có thể dâng lên Đức Tara; những thực hành này đưa bạn tới gần Đức Tara hơn, khiến Ngài nhanh chóng trợ giúp để mọi hoạt động của bạn được thành công. Việc Đức Tara cứu giúp bạn nhiều hay ít thì tùy thuộc vào việc bạn thực hành cốt tủy của giáo lý Đại thừa tới mức độ nào.</p>
<p style="text-align: justify;">Như thế, do bởi thái độ Bồ đề tâm của bạn, Đức Tara hết sức hài lòng bạn; Ngài tan thành ánh sáng xanh lục, đi vào trán bạn, và thấm nhập vào trái tim bạn. Hãy nghĩ: “Thân, ngữ và tâm tôi đã được ban phước (gia trì) để trở thành thân linh thánh, ngữ linh thánh và tâm linh thánh của Đức Tara.” Nhờ nhận lãnh những sự ban phước của Đức Tara với một tâm an tĩnh, sùng mộ, bạn gieo trồng chủng tử để phát triển tâm bạn và thực sự thành tựu Tara.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi thấm nhập, nếu bạn muốn, hãy tập trung nhất tâm vào bản tánh của tâm linh thánh của Đức Tara. Sau đó hãy kết thúc thực hành của bạn bằng cách hồi hướng công đức cho sự phát triển Bồ đề tâm và việc thành tựu Tara của bạn, để dẫn dắt mọi chúng sinh đạt được giác ngộ của Đức Tara càng nhanh càng tốt.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ hai giáo lý được giảng vào Tháng Năm 1987 tại Tu viện Kopan và Viện Himalayan Yogic, Nepal. Nhà Xuất bản Wisdom xuất bản lần đầu tiên năm 1993 như một Bản Ghi chép Trí tuệ.</p>
<p style="text-align: justify;">Để truy cập một bản in Những Lời Tán thán 21 Đức Tara bằng Tạng ngữ và Anh ngữ, xin đọc website của FPMT. (2)</p>
<p style="text-align: justify;">Nguyên tác: “Tara The Liberator” by Lama Zopa Rinpoche<br />
http://www.lamayeshe.com/lamazopa/tara.shtml<br />
Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Chú thích: </b><br />
(<i>1) Xin đọc: “Ngọn Đèn Soi Đường Giác ngộ”, bản dịch Việt ngữ của Hồng Như:<br />
(2) Xin đọc:<br />
- “Tán Dương 21 Đức Quan Âm Tara”, Việt, Anh và Tạng ngữ, bản dịch Việt ngữ của Hồng Như:<br />
- “Phương pháp Hành trì Lục Quan Âm, Suối nguồn của Vạn Pháp”, bản dịch Việt ngữ của Tâm Bảo Đàn và Chơn-Pháp Nguyễu Hữu Hiệu:<br />
- “Giọt Bất tử Tuyệt vời: Pháp Hành trì Mạn đà la Trường thọ của Đức Bạch Quan Âm” bản dịch Việt ngữ của Tâm Bảo Đàn:<br />
- “Hai mươi mốt Đoản kệ Tán thán Quan Âm” bản dịch Việt ngữ của Tâm Bảo Đàn:</i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tara-dang-giai-thoat-chung-sinh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Bổn Tôn – Suối Nguồn Của Những Thành Tựu</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/bon-ton-suoi-nguon-cua-nhung-thanh-tuu-2/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/bon-ton-suoi-nguon-cua-nhung-thanh-tuu-2/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 18 Sep 2015 08:56:47 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Karma Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Karma]]></category>
		<category><![CDATA[Quy y Tam Bảo]]></category>
		<category><![CDATA[Tam căn]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5688</guid>
		<description><![CDATA[ By Đức Jamgon Kongtrul Rinpoche đời thứ 3   Đức Jamgon Kongtrul Rinpoche đời thứ 4  Vienna, Tháng Mười 1987 Những phương pháp đặc biệt của Kim Cương thừa nhắm vào việc đưa những sắc tướng mà chúng ta thường kinh nghiệm là bất tịnh tới một bình diện thanh tịnh. Trọng tâm của sự chuyển hóa này là thấu hiểu&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/bon-ton-suoi-nguon-cua-nhung-thanh-tuu-2/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong> By Đức Jamgon Kongtrul Rinpoche đời thứ 3 </strong></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/JamgonKongtrul01.jpg"><img class="alignnone  wp-image-5693" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/JamgonKongtrul01-221x300.jpg" alt="JamgonKongtrul01" width="338" height="459" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong> Đức Jamgon Kongtrul Rinpoche đời thứ 4 </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Vienna</i></b><b><i>, Tháng Mười 1987</i></b></p>
<p style="text-align: justify;">Những phương pháp đặc biệt của Kim Cương thừa nhắm vào việc đưa những sắc tướng mà chúng ta thường kinh nghiệm là bất tịnh tới một bình diện thanh tịnh. Trọng tâm của sự chuyển hóa này là thấu hiểu rằng mọi hiện tượng chỉ xuất hiện trên bình diện tương đối khi chúng ta kinh nghiệm chúng. Trên bình diện tuyệt đối thì chúng không có bất kỳ hiện hữu chân thật nào – chúng không là gì ngoài một giấc mộng, một ảo ảnh. Nếu ta thấu hiểu bản chất đích thực của mọi sự vật, thì tự điều này trở thành kinh nghiệm về sự thuần tịnh của chúng.</p>
<p style="text-align: justify;">Ta không thể chuyển hóa những kinh nghiệm bất tịnh thành thanh tịnh chỉ bằng cách trì tụng một thần chú để biến đổi các hiện tượng. Cũng không nhờ một vài chất thể đặc biệt sở hữu những năng lực như thế, hay nhờ những sự cúng dường cho một vài vị trời để họ giúp đỡ lại ta. Tất cả những điều này không có quan hệ gì tới những gì xảy ra trong Kim Cương thừa. Điều cần quan tâm là phát triển sự thấu suốt rằng thế giới của các sắc tướng tự nó không hiện diện như một sự vô minh; chính thái độ bám chấp của chúng ta vào các sự vật đã đem lại vô minh. Để kinh nghiệm tính chất thuần tịnh của mọi sự thì không có gì đáng làm hơn là thấu hiểu rằng trên bình diện tương đối các sự việc xuất hiện bởi những điều kiện (duyên) khác nhau và bởi lý duyên sinh, nhưng trên bình diện tuyệt đối thì chúng không thực sự hiện hữu. Hai phương diện này không tách lìa nhau.</p>
<p style="text-align: justify;">“Những sắc tướng bất tịnh” hay “những sắc tướng thuần tịnh” có nghĩa là gì? “Bất tịnh” ám chỉ việc ta tin tưởng rằng các sự việc (các pháp) thực có và hiện hữu tương thuộc. Việc tin tưởng rằng các sự việc thực sự hiện hữu là một quan điểm cực đoan không đúng đắn bởi chân tánh của mọi sự là tánh Không. Nếu muốn nhận ra tánh Không của mọi hiện tượng thì ta không thể chấp nhận những gì ta được bảo cho biết. Thật ra, rất khó thấu hiểu chân tánh của các sự việc chỉ bằng cách trò chuyện hay nghe nói về nó.</p>
<p style="text-align: justify;">Không phải sắc tướng đơn thuần của các sự việc gây nên sự vô minh, mà chính bởi cách thế chúng ta liên kết với các sự việc và bám chấp vào chúng như thực có. Bởi tự thân các sự việc thì trống không, chúng vượt lên các phạm trù sinh hay diệt. Việc chúng xuất hiện là phương diện của sự tự-biểu lộ không ngăn ngại. Các phương pháp khác nhau của Kim Cương thừa được dùng để thấu hiểu điều đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Đối với thực hành Kim Cương thừa, ta cần nhận ta rằng những sự việc chỉ xuất hiện trên bình diện tương đối nhưng trong chân tánh của chúng thì chúng không thực sự hiện hữu. Tuy nhiên, ta vẫn tin rằng các sự việc là thực có. Đây là hai viễn cảnh khác nhau, và tất cả những gì cần quan tâm là nối kết chúng với nhau để chúng không thường xuyên mâu thuẫn nhau. Những phương pháp Kim Cương thừa khác nhau, chẳng hạn như thiền định về các phương diện của Đức Phật (Tây Tạng: yidam, nghĩa đen: mối ràng buộc tâm) và những thần chú được dùng để chấm dứt những mâu thuẫn hiển nhiên này.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong “ba cội nguồn” của Kim Cương thừa – Lạt ma, Bổn tôn (yidam) và Hộ Pháp (vị Bảo Trợ) – thì Lạt ma là cội nguồn quan trọng nhất; Bổn tôn và Hộ Pháp là những hiển lộ của Lạt ma. Tâm của Lạt ma là Dharmakaya (Pháp Thân), tánh Không của Pháp giới. Các Bổn tôn xuất hiện từ đó như một biểu lộ của lòng bi mẫn và sự quang minh nội tại của tâm. Như thế các ngài không có loại hiện hữu thực sự như được gán cho những vị trời thế tục.</p>
<p style="text-align: justify;">Lý do khiến các Bổn tôn xuất hiện trong những thân tướng đa dạng, chẳng hạn như an bình và phẫn nộ, là bởi các đệ tử có những thái độ, cái nhìn (thị kiến) và những nguyện ước khác nhau. Để đáp ứng những ước muốn khác nhau này, các Bổn tôn có những sắc tướng khác nhau như một biểu lộ của lòng bi mẫn của Lạt ma. Các Bổn tôn cũng xuất hiện trong rất nhiều cách thế khác nhau để tượng trưng rằng toàn bộ việc bám chấp của ta vào những sắc tướng bất tịnh được tịnh hóa.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta có một tri giác nhị nguyên và luôn luôn suy nghĩ trong những phạm trù nhị nguyên. Vì thế, chúng ta không thể nối kết với Bổn tôn tối thượng và ta cần một điều gì đó đại diện cho ngài. Nhiều thân tướng của các Bổn tôn mà ta biết từ những hình ảnh thì ở trong hình thức đại diện đó tượng trưng cho Bổn tôn tối thượng. Thiền định về các Bổn tôn được phân chia thành hai giai đoạn là phát triển (Tây Tạng: Kjerim) và thành tựu (TT: Dsogrim). Ý nghĩa của chúng như sau:</p>
<p style="text-align: justify;">Mọi sắc tướng xuất hiện trong một sự tương thuộc. Điều gì đó xuất hiện vào một thời điểm, tồn tại một thời gian và lại biến mất. Hai giai đoạn thiền định được dùng để tượng trưng rằng nguyên lý sinh diệt được tiến hành trên một bình diện thuần tịnh. Sự xuất hiện của một Bổn tôn tượng trưng rằng việc bám chấp vào sự xuất hiện (sinh khởi) của thế giới kinh nghiệm thế tục được tịnh hóa. Các giai đoạn phát triển có những yếu tố khác nhau: trước tiên ta quán tưởng chính mình là Bổn tôn, sau đó ta quán tưởng Bổn tôn trong không gian trước mặt ta, ta cúng dường và tán thán v.v.. Lý do khiến trước tiên ta quán tưởng chính mình là Bổn Tôn như sau: tất cả chúng ta đều thấy mình hết sức quan trọng. Nếu bây giờ có ai nói với ta: “Anh không thực sự hiện hữu,” thì ta khó có thể thấu hiểu và chấp nhận điều này. Trong giai đoạn phát triển ta xử sự với việc này bằng cách không suy nghĩ về việc ta có hiện hữu hay không, mà chỉ đơn thuần không để ý tới vấn đề này và quán tưởng bản thân ta trong hình tướng của Bổn tôn. Nếu ta quán tưởng chính mình là Bổn tôn, trong khi tỉnh giác rằng Bổn tôn là một biểu lộ của sự thuần tịnh viên mãn, thì sự bám chấp vào một cái “tôi” sẽ biến mất một cách tự nhiên.</p>
<p style="text-align: justify;">Việc quán tưởng Bổn tôn trong không gian trước mặt ta tiến hành theo một cách thế tương tự. Ta bám chấp vào mọi đối tượng bên ngoài mà ta tri giác. Trong giai đoạn phát triển ta tưởng tượng toàn thể thế giới bên ngoài là cung điện của Bổn tôn. Bổn tôn ở giữa cung điện và tất cả chúng sinh xuất hiện trong hình tướng của Bổn tôn. Bằng cách quán tưởng các sắc tướng bất tịnh trong hình tướng thuần tịnh của chúng, ta chìến thắng được việc bám chấp vào chúng.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế, điều quan trọng là thấu hiểu rằng mọi yếu tố của giai đoạn phát triển có một nội dung tượng trưng. Không có sự thấu hiểu này, chẳng hạn như tin rằng Bổn tôn thực sự hiện hữu, ta hoàn toàn mê mờ trong việc thiền định và thậm chí phát triển ảo tưởng. Nếu ta sử dụng những giai đoạn phát triển và thành tựu khác nhau về các Bổn tôn, điều quan trọng là phải hiểu rõ ý nghĩa của những hình tướng khác nhau của các ngài. Ví dụ như, tại sao ta quán tưởng mười sáu tay, bốn chân v.v.. nếu chỉ có hai tay hai chân thì có thực sự đầy đủ không? Tin rằng ta phải quán tưởng thế này là vì các Bổn tôn thực sự trông giống như thế là một nhận thức sai lầm. Tin vào hiện hữu thực sự của Bổn tôn là một điều khá buồn cười và hết sức vô minh. Thay vì như thế, ta nên hiểu rằng có điều gì đó được tịnh hóa và cái gì đó là một phương pháp tịnh hóa. Việc quán tưởng một Bổn tôn có bốn tay, ví dụ thế, là một biểu tượng của việc tịnh hóa cách thế thông thường của ta khi kinh nghiệm các sự việc trong cái gọi là các phạm trù có bốn phần. Ví dụ như bốn yếu tố (tứ đại) và mọi sự khác ta tin tưởng xuất hiện trong một cách thế có bốn phần. Ba mắt của một Bổn tôn tượng trưng cho việc chiến thắng của cách thế ta suy nghĩ trong những phạm trù có ba phần. Ví dụ như ba thời (quá khứ, hiện tại, tương lai). Điều tương tự áp dụng cho tất cả những chi tiết khác của Bổn tôn; tất cả các chi tiết đó là để tịnh hóa sự bám chấp thông thường của ta vào thế giới của những kinh nghiệm.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/10334325_772623562782081_5394708910730915832_n.jpg"><img class="  wp-image-5690 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/10334325_772623562782081_5394708910730915832_n-197x300.jpg" alt="10334325_772623562782081_5394708910730915832_n" width="330" height="503" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Bổn tôn Quan Thế Âm Bồ Tát</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Không có sự hiểu biết này, ta kết thúc trong thiền định đầy những nhận thức sai lầm. Ta tin rằng những sự việc là thật có hay không có chút hiện hữu nào. Đó là cách ta đi vào một con đường hoàn toàn sai lạc, là con đường không liên quan gì tới Kim Cương thừa hay Phật Giáo hiểu theo cách thông thường. Tin rằng các Bổn tôn thực sự hiện hữu và không hiểu rằng các ngài là những biểu tượng của sự tịnh hóa những ý niệm tri giác của ta về thế giới kinh nghiệm, điều ấy sẽ chỉ khiến cho những khái niệm phát triển thêm nữa. Kết quả là những ảo tưởng ta đã có sẽ trở nên mạnh mẽ hơn, sau đó chúng có thể dẫn tới kinh nghiệm sợ hãi trong khi thiền định hay dẫn tới sự xuất hiện của những tư tưởng mà ta không biết phải xử sự thế nào với chúng. Vì thế, trong thực hành thiền định, đặc biệt là trong Kim Cương thừa, điều hết sức quan trọng là phải có được cái nhìn đúng đắn (chánh kiến).</p>
<p style="text-align: justify;">Chánh kiến này ra sao? Đó là việc thấu hiểu rằng sự xuất hiện tương đối của các sự việc và thực tại tối hậu của chúng là một sự hợp nhất, thấu hiểu rằng chúng không tách lìa nhau và không mâu thuẫn nhau.</p>
<p style="text-align: justify;">Các giai đoạn phát triển về các Bổn tôn tương ứng với chân lý tương đối, cách thế sự việc xuất hiện.</p>
<p style="text-align: justify;">Các giai đoạn thành tựu tương ứng với nguyên lý rằng rốt cuộc thì các sự vật không thực sự hiện hữu. Đồng thời ta cần thấu hiểu rằng cả hai giai đoạn tạo thành một sự hợp nhất.</p>
<p style="text-align: justify;">Các giai đoạn thành tựu thường được dùng để tránh rơi vào cái thấy cực đoan tin rằng các sự việc thực sự hiện hữu. Các giai đoạn phát triển ngăn ngừa cái thấy cực đoan khi tin rằng các sự việc không có chút hiện hữu nào, chỉ là một sự trống rỗng. Việc hiểu rằng cả hai giai đoạn tạo thành một sự hợp nhất khiến ta thấu hiểu rằng mọi sự là sự hợp nhất của đại lạc và tánh Không. Nhờ thiền định theo cách này, bằng cách áp dụng thực hành Bổn tôn, ta có thể đạt được những thành tựu tương đối và tuyệt đối. Trong ý nghĩa đó, Bổn tôn được gọi là “cội nguồn của những thành tựu.”</p>
<p style="text-align: justify;">Các vị bảo trợ (Hộ Pháp), “cội nguồn của hoạt động,” có thể được coi là biểu lộ đa dạng của các Bổn tôn, lại là biểu lộ của tâm Pháp giới của Lạt ma. Bởi Kim Cương thừa là con đường rất sâu xa nên ý nghĩa của các vị bảo trợ là bảo vệ ta thoát khỏi nhiều tình huống và chướng ngại mâu thuẫn có thể xuất hiện khi ta đang đi trên con đường đó. Trong Kim Cương thừa, các Bổn tôn và Hộ Pháp rất quan trọng, tuy nhiên Lạt ma, cội nguồn của sự ban phước, là yếu tố quan trọng nhất. Lý do là chỉ nhờ Lạt ma mà ân phước và sự hứng khởi mới có thể đi vào dòng tâm thức của riêng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Mọi yếu tố được sử dụng trên con đường Kim Cương thừa có một ý nghĩa sâu xa. Thân của Bổn tôn là sự hợp nhất của sắc tướng và tánh Không, thần chú là sự hợp nhất của âm thanh và tánh Không, và tâm là sự hợp nhất của tỉnh giác (giác tánh) và tánh Không. Nếu ta áp dụng những yếu tố này vào thực hành của riêng ta, bằng cách hoàn toàn an trú trong sự tỉnh giác này, tự hào Bổn tôn có thể phát khởi trong ta. Nhưng để làm được như thế ta phải thấu suốt ý nghĩa đích thực của những điều này. Chỉ quan tâm tới việc quán tưởng bản thân ta là Bổn tôn thì không đủ, bởi bằng sự quán tưởng đơn thuần ta không thành tựu sự thấu suốt này.</p>
<p style="text-align: justify;">Các hành giả phải thấu suốt ba điều. Cái thấy cả hai loại thực tại tạo nên một sự hợp nhất bất khả phân. Đối với con đường, việc thấu suốt phương pháp và trí tuệ là một sự hợp nhất thì rất quan trọng. Đối với quả, ta cần hiểu rằng hai thân (kaya) là những gì được thành tựu là một sự hợp nhất. Đặc biệt là khi thực hành Mahamudra (Đại Ấn) hay Maha Ati, sự thấu suốt ba yếu tố này (cái thấy, con đường và quả) hết sức quan trọng. Nếu không, ta không thể chứng ngộ kết quả nhờ thực hành này.</p>
<p style="text-align: justify;">Cái được gọi là “Bổn tôn tối thượng” ra sao? Chẳng hạn như Đức Chenrezig (Từ Thị) xuất hiện trong một hình thức hết sức đặc biệt, với bốn tay v..v.. Tuy nhiên, đây không phải là phương diện tối thượng của Bổn tôn này mà chỉ là cách thế ngài xuất hiện. Bổn tôn tối thượng là sự tỉnh giác rằng biểu lộ của Đức Chenrezig là lòng bi mẫn của tất cả chư Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Thân tướng của Dorje Phagmo (Heo nái Kim cương) (1) là một hình thức tượng trưng. Dorje Phagmo tối thượng là không gian của các hiện tượng, là trí tuệ siêu việt tối thượng, mẹ của tất cả chư Phật, là người sinh ra tất cả chư Phật. Bà là ba la mật của trí tuệ./.</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Nguyên tác: “Yidams – the Source of Accomplishments”</i><br />
<i>by Jamgon Kongtrul Rinpoche</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><a href="http://www.diamondway.org/bt/jamgon4.htm">http://www.diamondway.org/bt/jamgon4.htm</a></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>(1)Vajravarahi (Tib. Dorje Phagmo) Một Dakini là phối ngẫu của Cakrasamvara. Bà là một Bổn tôn chính của dòng Kagyu và là hiện thân của trí tuệ. </i><br />
<i>Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên</i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/bon-ton-suoi-nguon-cua-nhung-thanh-tuu-2/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Phật, Pháp và Tăng</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/phat-phap-va-tang/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/phat-phap-va-tang/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 16 Sep 2015 09:42:27 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Quy y Tam Bảo]]></category>
		<category><![CDATA[Tam Bảo]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5503</guid>
		<description><![CDATA[Đức Dzigar Kongtrul Rinpoche 1. PHẬT Đức Phật – bậc dẫn đường chân chính Trong các Kinh điển, Đức Phật nói rằng chúng ta cần xem bản thân là người bệnh, và Đức Phật là bác sĩ, và giáo lý là thuốc. Quan hệ của chúng ta với Đức Phật giống như một người bệnh với bác sĩ. Như khi&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/phat-phap-va-tang/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Rinpoche_Pecha-500x500.jpg"><img class="  wp-image-5506 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Rinpoche_Pecha-500x500-300x300.jpg" alt="Rinpoche_Pecha-500x500" width="386" height="386" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Đức Dzigar Kongtrul Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><b>1. PHẬT</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Đức Phật – bậc dẫn đường chân chính</b></p>
<p style="text-align: justify;">Trong các Kinh điển, Đức Phật nói rằng chúng ta cần xem bản thân là người bệnh, và Đức Phật là bác sĩ, và giáo lý là thuốc. Quan hệ của chúng ta với Đức Phật giống như một người bệnh với bác sĩ. Như khi chúng ta theo một chế độ ăn kiêng và uống thuốc theo đơn của bác sĩ, chúng ta nên theo những chỉ dẫn của Phật và áp dụng các giáo lý này. Bằng cách uống thuốc, chúng ta sẽ thu được cả những lợi ích tạm thời và dài hạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Căn bệnh mà chúng ta mắc phải là sự ngu dốt, những cảm xúc phiền não, nhận thức sai lệch và khổ đau. Bởi vì Đức Phật đã thoát khỏi mọi căn bệnh như thế, ngài thực sự là người chỉ dẫn đáng tin cậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Như trong các Kinh điển có nói, làm sao người ta, những kẻ trong hoàn cảnh khó khăn như chúng ta có thể giúp chúng ta thoát khỏi bãi cát lún? Giống như vậy, những người, không thể tự thoát khỏi vòng luân hồi không thể giải thoát chúng ta khỏi vòng luân hồi. Bởi thế, Đức Phật là người dẫn đường chân chính, và giáo lý là thứ thuốc hữu hiệu.</p>
<p style="text-align: justify;"><b><u>Sự giác ngộ của Phật</u></b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Quan điểm Tiểu thừa</b></p>
<p style="text-align: justify;">Theo quan điểm Tiểu thừa, Phật Thích Ca Mâu Ni thành tựu Chánh giác ở Bồ Đề Đạo Tràng bằng cách chinh phục mọi che chướng cảm xúc và nhận thức. Trong tiếng Tạng, một bậc giác ngộ là <i>sangye</i>. <i>Sang</i> nghĩa là tịnh hóa các cảm xúc phiền não (<i>nyondrip</i>) và che chướng nhận thức (<i>shedrip</i>). <i>Gye</i> nghĩa là sự tỉnh thức của trạng thái tràn đầy những phẩm tánh hoàn hảo của giác ngộ. Trạng thái tỉnh thức của Phật thoát khỏi mọi che chướng và sở hữu các phẩm tánh hoàn hảo của kiến thức, tâm từ, lòng bi mẫn và trí tuệ.</p>
<p style="text-align: justify;">Quan điểm Tiểu thừa nhìn nhận Phật Thích Ca Mâu Ni là một chúng sinh bình thường. Dĩ nhiên, phải công nhận rằng chúng sinh bình thường này rất phi thường, nhưng từ quan điểm này, ngài sở hữu những uẩn bình phàm.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Quan điểm Đại thừa</b></p>
<p style="text-align: justify;">Theo Đại thừa, Phật Thích Ca Mâu Ni giác ngộ trong cõi Akanishtha, cõi trời cao nhất – một cõi Phật, không thể nhìn thấy bởi người thường.</p>
<p style="text-align: justify;">Với lòng từ bi, vì lợi ích của người khác, ngài tái sinh trong cõi người và “giả vờ” trải qua toàn bộ quá trình của “mười hai hành động<a href="http://thuvienhoasen.org/p39a15343/6/phat-phap-va-tang#_ftn1">[1]</a>,” bao gồm cả hành động giác ngộ dưới tán Bồ đề. Bởi Phật đã hoàn toàn giác ngộ, ngài thoát khỏi mọi trải nghiệm của luân hồi bởi vì ngài không bị trói buộc bởi các uẩn thông thường. Ngài chỉ hiển bày các uẩn này để chúng sinh bình phàm có thể nhận thấy và đưa ra một tấm gương về con đường giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Phật giác ngộ nhờ con đường Bồ Tát, con đường mà ngài đã trải qua từ đầu đến cuối. Ngài nói rằng với ngài điểm khởi đầu của con đường bồ đề tâm là trong cõi địa ngục. Ngài đang kéo chiếc xe bò với một người khác, và cả hai đều bị tra tấn dữ dội. Phật nghĩ rằng, “Tại sao tôi không nhận lấy tất cả nghiệp này, tại sao không trở thành đối tượng dày vò và giải thoát cho người kia?” Ngài bảo các vị <i>yama</i><a href="http://thuvienhoasen.org/p39a15343/6/phat-phap-va-tang#_ftn2">[2]</a>, những kẻ đang tra tấm ngài, hãy để điều này xảy ra. Nhưng họ nói, “Mọi người đều có nghiệp riêng! Ông không thể giải thoát bất kỳ ai khỏi nghiệp riêng của họ,” và đánh vào đầu ngài bằng cái búa sắt. Phật chết, nhưng bởi vì nghiệp quả tốt lành mà ước nguyện của ngài tạo ra, ngài ngay lập tức được giải phóng khỏi cõi địa ngục đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài đã giác ngộ ở Akanishtha; sau đó ngài ở Tushita, một cõi Phật nơi mà Phật Vị lai, ngài Di Lặc hiện tại an trụ. Khi thời gian chín muồi, và mọi người thích hợp để một vị Phật tái sinh trong thế giới này, ngài được thụ thai trong tử cung người mẹ.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Sự xuất hiện của Phật trong thế giới này</b></p>
<p style="text-align: justify;">Nếu chư Phật đã làm cạn kiệt mọi nguyên nhân và điều kiện của luân hồi và sự xuất hiện trong luân hồi cũng như hoàn toàn chứng ngộ chân lý tuyệt đối của tánh không, làm sao và tại sao các ngài thị hiện trong thế giới này?</p>
<p style="text-align: justify;">Điều này xảy ra nhờ hai khẩn nguyện; khẩn nguyện của hữu tình chúng sinh có kết nối với chư Phật và đánh thức khỏi trạng thái ngu dốt như mơ của tâm, và khẩn nguyện của chư Phật làm lợi lạc chúng sinh và đánh thức họ khỏi trạng thái huyễn hoặc như mơ đó. Khi khẩn nguyện của hữu tình chúng sinh và của chư Phật gặp nhau, chư Phật xuất hiện trên thế giới.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự xuất hiện của các ngài giống như trăng trên trời, được phản chiếu rõ ràng và tự nhiên trên nhiều ao hồ bên dưới. Nhưng điều này không ám chỉ rằng Đức Phật tự mình “hạ xuống” từ hư không, hay có một vị Phật “xuống đây” và một vị khác “ở trên kia,” cũng không phải có nhiều vị Phật khắp mọi nơi.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Một nghìn vị Phật</b></p>
<p style="text-align: justify;">Trong thời đại đặc biệt này, một nghìn vị Phật sẽ xuất hiện. Theo các miêu tả truyền thống, tất cả những gì chúng ta thấy từng là chân không hay hư không. Sau đó gió và mưa bão nổi lên, tạo thành yếu tố đất. Mưa tiếp tục, và một nghìn bông sen nở. Các vị trời nam và nữ thấy sự kiện này và tự hỏi nó tượng trưng cho điều gì. Các vị trời tuổi cao, uyên bác có thể nhìn thấy tương lai nhờ sức mạnh của thiền định, đã nói rằng đó là dấu hiệu trong thời đại này sẽ có một nghìn vị Phật. Bởi thế, nó được gọi là <i>kalpa zangpo</i>, “thời đại xuất sắc.”</p>
<p style="text-align: justify;">Cho đến nay, chúng ta đã có bốn vị Phật. Trong mỗi thời của bốn vị Phật này, rất nhiều vị Phật khác đã xuất hiện và làm lợi lạc chúng sinh. Nhưng có một vị tối cao trong mỗi thời, bậc đảm bảo rằng mọi giáo lý của thời đại đặc biệt đó sẽ hòa hợp với lời dạy của vị Phật đó. Vị Phật tối cao của hiện tại là Phật Thích Ca Mâu Ni, tuy nhiên có rất nhiều các vị Phật khác đã đến thế giới này và làm lợi lạc chúng sinh. Ví dụ, Đức Văn Thù, Đức Quan Âm và Đức Kim Cương Thủ đều là các vị Phật, nhưng các ngài thị hiện dưới hình tướng chư Bồ Tát. Guru Rinpoche cũng là một hóa thân của Đức Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Các vị Phật tối cao này đều đến với mười hai hành động của một vị Phật, đạt giác ngộ và thuyết Pháp. Trong trường hợp của Phật Thích Ca, ngài sinh ra là một vị hoàng tử, nhưng các vị Phật không nhất thiết phải sinh ra làm hoàng tử như vậy.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Hai trí tuệ</b></p>
<p style="text-align: justify;">Điều quan trọng là biết rằng Phật có hai kiểu trí tuệ [<i>jnana</i>]: trí tuệ nhìn thấy bản chất của mọi thứ như chúng là, và trí tuệ nhìn thấy tính đa dạng của mọi hiện tượng.</p>
<p style="text-align: justify;">Thứ mà Phật nhìn thấy từ quan điểm hay trải nghiệm giác ngộ của ngài được gọi là <i>rang nang</i> trong tiếng Tạng. Nhận thức của chúng sinh khác được gọi là <i>shyen nang</i>. Bởi thời gian là trống rỗng, <i>rang nang</i> và <i>shyen nang</i>có thể xuất hiện cùng lúc. Trí tuệ của việc nhận thấy mọi thứ bao gồm của nhận thức giác ngộ về mọi thứ <i>rang nang</i>, và nhận thức của chúng sinh, <i>shyen nang</i>. Nếu không phải như vậy, thì chư Phật sẽ không thể thuyết giảng.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Chư Phật thuyết giảng ra sao</b></p>
<p style="text-align: justify;">Một hình ảnh có thể giúp chúng ta hiểu cách thức mà chư Phật thuyết giảng là hãy tưởng tượng hai người trong một căn phòng: một người thức và người kia thì ngủ, và gặp phải ác mộng. Người thức – Phật – có thể nhận ra rằng người kia đang gặp ác mộng. Điều này không chỉ được hiểu qua sự suy luận mà còn qua nhận thức trực tiếp về cơn ác mộng của người đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù người thức có thể nhận thấy cơn ác mộng của người kia một cách trực tiếp, trải nghiệm của người mơ đó không trở thành sự thật của người thức. Bởi vậy người đang thức có thể chậm rãi đánh thức người kia khỏi giấc mộng. Nhờ đó, anh ta có thể kéo người kia khỏi giấc mơ và trở về thực tại, đó là sự không tồn tại của mọi cơn ác mộng. Đó là cách mà chư Phật dạy hữu tình chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi bạn tỉnh dậy trong một giấc mơ, giấc mơ có thể tiếp tục, nhưng mối quan hệ của bạn với nó đã thay đổi. Đó là con đường của chư Bồ Tát, đặc biệt là trong giai đoạn sau thiền định. Khi bạn hoàn toàn tỉnh dậy khỏi giấc mơ, đó là Phật quả. Bạn tỉnh thức với các trải nghiệm hoàn toàn về sự thực và sự xuất hiện; nó không đúng khi nói rằng mọi hình tướng đơn giản biến mất ở điểm này.</p>
<p style="text-align: justify;"><b><u>Ba thân của chư Phật</u></b></p>
<p style="text-align: justify;">Bản chất của sự thật được gọi là Pháp thân, và các hình tướng là Sắc thân. Một vị Phật hòa hợp với Pháp thân trong khi xuất hiện như là Sắc thân.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Pháp thân</b></p>
<p style="text-align: justify;">Trong trạng thái tuyệt đối của niết bàn, trong Pháp thân, không có nhận thức và không có hình tướng. Nhưng điều này không có nghĩa là Pháp thân là rắn chắc và cách biệt, hay một hư không hoàn toàn tách biệt khỏi các hoạt động của chư Phật hay các hình tướng của Phật quả, tức là hai hình tướng của Sắc thân – Báo thân và Hóa thân.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Báo thân</b></p>
<p style="text-align: justify;">Các hình tướng Báo thân khởi lên từ Pháp thân, thứ như hư không tràn khắp, xuất hiện chủ yếu với chư Bồ Tát, những bậc trên con đường giác ngộ. Các Báo thân khởi lên thông qua duyên khởi như là kết quả của nghiệp và sự rộng mở của chư Bồ Tát, và sức mạnh của chư Phật hiển bày từ Pháp thân. Các hình tướng Báo thân không thể tiếp cận bởi chúng sinh bình phàm.</p>
<p style="text-align: justify;">Báo thân Phật làm lợi lạc cho chư Bồ Tát, những bậc ít nhất đạt đến địa thứ nhất. Những vị Bồ Tát này có thể nhìn thấy và thọ nhận giáo lý từ Báo thân Phật. Cách thức các ngài thọ nhận giáo lý không giống như cách chúng ta nhận, thường là khẩu truyền. Ví dụ, các vị Bồ Tát đơn giản có thể nhìn vào thân của Báo thân Phật và nhận ra các che chướng của bản thân và cách để tịnh hóa chúng một cách rõ ràng.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Hóa thân</b></p>
<p style="text-align: justify;">Từ quan điểm Tiểu thừa, Phật được nhìn nhận như một chúng sinh bình thường, và chúng sinh bình thường coi Phật là Hóa thân Phật. Từ quan điểm Đại thừa, Phật Thích Ca Mâu Ni là Hóa thân Phật, người, như là cái bóng của Báo thân Phật, giáng sinh như một bậc toàn giác từ cõi trời Tushita. Hóa thân Phật giống như những cái bóng của Báo thân Phật, như mặt trăng phản chiếu hình bóng xuống ao.</p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù chư Phật xuất hiện, sự xuất hiện của các ngài không phải sự xuất hiện của chân lý tương đối bình thường, ảo mộng, sản phẩm của tâm quan niệm và các lỗi lầm. Các ngài xuất hiện một cách độc lập, nhưng sự xuất hiện này thanh tịnh chứ không có lỗi lầm. Bởi thế, những phẩm tánh vô song của chư Phật được gọi là<i>zakme kyi</i> cho trong tiếng Tạng, nghĩa là “các phẩm tánh không lỗi lầm.”</p>
<p style="text-align: justify;">Pháp thân có sức mạnh làm khởi lên vô số các phẩm tánh không lỗi lầm. Mặc dù Hóa thân Phật Thích Ca Mâu Ni trải qua đủ mười hai hành động của một vị Phật, từ cõi trời Tushita đến khi nhập Niết Bàn, từ quan điểm Pháp thân của chư Phật, không hề có sự di chuyển hay thay đổi nào.</p>
<p style="text-align: justify;">Mục đích đằng sau việc chư Phật đến thế giới này là để chỉ ra con đường giác ngộ. Đức Phật trải qua, theo cách hoàn hảo nhất, đủ mọi giai đoạn của con đường mà chúng ta phải đi. Để chỉ ra sự từ bỏ, Phật rời bỏ cung điện và từ bỏ mọi hài lòng như thể chúng bị nhổ vào bụi. Ngài đi vào rừng, điều này giải thích tầm quan trọng của sự từ bỏ các mối bận tâm, thứ thực ra tạo nên khổ đau và trói buộc.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Những phẩm tánh của Phật như một vị thầy<a href="http://thuvienhoasen.org/p39a15343/6/phat-phap-va-tang#_ftn3"><b>[3]</b></a></b></p>
<p style="text-align: justify;">Các phẩm tánh như một vị thầy của Phật là rất rõ ràng. Ngài sở hữu cả hai kiểu trí tuệ, mười sức mạnh, bốn trạng thái vô úy<a href="http://thuvienhoasen.org/p39a15343/6/phat-phap-va-tang#_ftn4">[4]</a>, mười tám đặc điểm phân biệt của trạng thái tâm của Phât, ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Tám phẩm tánh của giác ngộ</b></p>
<p style="text-align: justify;">Như trong <i>Uttaratantra shastra</i> có nói, trong tất cả, Phật là tối thượng. Trạng thái Phật quả, hay giác ngộ hoàn toàn vô song, thoát khỏi mọi lỗi lầm, và hoàn toàn đáng tin cậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Tâm giác ngộ có ba phẩm tánh, làm lợi lạc chính bậc giác ngộ. Nó không giả tạo, tự nhiên và tự tỉnh thức, nghĩa là tâm của Phật không chứng ngộ do kết quả của các điều kiện bên ngoài.</p>
<p style="text-align: justify;">Ba phẩm tánh của chư Phật làm lợi lạc người khác là trí tuệ vĩ đại; tâm từ lớn lao, sự chu đáo và từ bi và sức mạnh làm lợi lạc vĩ đại.</p>
<p style="text-align: justify;">Phẩm tánh làm lợi lạc bản thân và phẩm tánh làm lợi lạc người khác, khi được thêm vào ba phẩm tánh được kiệt kê trong hai loại trên, tạo thành cái đôi khi được gọi là tám khía cạnh của giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>2. PHÁP</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Các ý nghĩa của từ “<i>Dharma</i>”</b></p>
<p style="text-align: justify;">Từ “<i>Dharma</i>” trong tiếng Phạn có rất nhiều ý nghĩa khác nhau. Ví dụ, nó có thể liên quan đến kiến thức, con đường, niết bàn, hiện tượng, đối tượng của việc suy nghĩ, công đức, cuộc đời và tương lai. Ở đây Pháp liên quan đến Chánh Pháp [hay Pháp cao quý], những giáo lý của chư Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Vậy Pháp cao quý là gì? Nó là điều mà các bậc giác ngộ nhìn nhận trực tiếp, là bản tánh chân thực của sự thật, và là điều mà chư Phật giảng cho người khác cho người khác như là con đường. Bởi thế, Pháp là con đường chân chính dẫn chúng ta thoát khỏi khổ đau của luân hồi và vòng sinh tử.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Pháp như là con đường</b></p>
<p style="text-align: justify;">Một vài giáo lý chỉ thích hợp cho một vùng hay thời điểm đặc biệt, và khi thời điểm đặc biệt đó trôi qua, sẽ không còn hữu ích nữa. Nhưng giáo lý của chư Phật phục vụ con người liên tục xuyên suốt lịch sử và sẽ tiếp tục như vậy. Nguyên nhân của điều này là bởi chúng đề cập đến tâm bên trong của chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở Lerab Gar, tháng 9 năm 2000, Ngài Đạt Lai Lạt Ma nói rằng mọi phát triển khoa học và công nghệ với ý định tạo ra một thế giới tốt hơn chỉ đóng góp cho các nhận thức về giác quan, trong khi điều duy nhất giúp đỡ thức nội tại là trí tuệ. Nếu nó không cung cấp cách thức đối phó với các vô minh che lấp trí tuệ bẩm sinh, thì dù khoa học và công nghê có phát triển thế nào, nó cũng không tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn. Dĩ nhiên, khoa học và công nghệ sẽ tạo ra vài ảnh hưởng tích cực, nhưng chúng sinh vẫn chịu nhiều khổ đau.</p>
<p style="text-align: justify;">Đặc biệt trong thế kỷ 20 và 21, người ta nhận thấy điều này rõ ràng hơn bất kỳ thời đại nào khác trong lịch sử loài người. Khi bạn xem tivi, những người nổi tiếng hay các ngôi sao dường như hài lòng về vật chất, nhưng họ vẫn thất vọng; họ vẫn rất tệ.</p>
<p style="text-align: justify;">Bởi vậy món quà lớn lao là được thọ nhận giáo lý Phật Đà trong cuộc đời này, cơ hội lớn lao khi có phương tiện để giải quyết vấn đề tâm, và đặc biệt là cái tôi và các vấn đề đi kèm. Thật tuyệt vời khi trí tuệ và phương tiện thiện xảo được trao truyền không gián đoạn từ thời Đức Phật, khoảng 2500 năm trước. Bởi thế, rất nhiều người đã chứng ngộ nhờ trí tuệ và phương tiện thiện xảo. Giác ngộ không phải khả năng giả thuyết; trí tuệ và phương tiện thiện xảo này đã và đang được sử dụng với thành công lớn lao.</p>
<p style="text-align: justify;">Dòng truyền thừa phương tiện thiện xảo và trí tuệ vẫn còn cho đến nay, và chúng ta có cơ hội là một phần của nó. Chính chúng ta có thể thực hành trong dòng truyền thừa này và trải qua những lợi lạc từ đó. Nếu nó từng bị gián đoạn, sẽ thật khó để tái tạo một dòng như thế.</p>
<p style="text-align: justify;">Thành ngữ Tây Tạng có câu:</p>
<p style="text-align: justify;"><i>“Pháp không phải sở hữu của ai cả; nó là tài sản của bất kỳ ai thực hành nó.”</i></p>
<p style="text-align: justify;">Nó không phải tài sản cá nhân của bất kỳ vị thầy nào hay nhóm người đặc biệt nào. Nếu vị thầy không thực hành, nó không thuộc về vị thầy, bởi vì Pháp không phải là một nghi lễ trống rỗng. Giống như vậy, nó không phải là tài sản của nhóm người nào, bởi nó không giống như triết học Cộng sản hay tương tự. Nó thuộc về bất kỳ ai thực hành. Bất kỳ cá nhân nào thực hành Pháp sẽ được cải thiện bởi Pháp. Chính bạn có thể là người tận dụng tối đa Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Pháp như là [đối tượng] Quy y</b></p>
<p style="text-align: justify;">Mọi giáo lý Phật Đà có hai đặc điểm. Đầu tiên chúng phải là một phương thuốc, hay cách đối trị với các cảm xúc phiền não gây ra khổ đau cho chúng sinh. Chúng cần làm giảm những cảm xúc phiền não mà chúng sinh trải qua, và một cách tuyệt đối tiêu diệt mọi nguyên nhân. Giáo lý Phật Đà cũng cần cung cấp các bước nhờ đó hữu tình chúng sinh tiến lên các cõi cao hơn, và một cách tuyệt đối giải thoát khỏi khổ đau luân hồi và vòng sinh tử.</p>
<p style="text-align: justify;">Các giáo lý cần cung cấp nơi nương tựa theo cả hai cách. Bất kỳ điều gì hòa hợp với hai đặc điểm này là giáo lý Phật Đà. Người ta cũng nói rằng ngoài giáo lý của Phật, những giáo lý như vậy không thể được tìm thấy.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Pháp của Kinh điển và Chứng ngộ</b></p>
<p style="text-align: justify;">Như ngài Vasubandhu nói trong <i>Abhidharmakosha</i>, giáo lý của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chia thành hai loại: Pháp của Kinh điển và Pháp của Chứng ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Khía cạnh Kinh điển của Phật Pháp được duy trì bởi sự nghiên cứu, bao gồm việc giảng dạy, lắng nghe, biên soạn và tranh luận. Điều này liên quan đến cả <i>che</i>, trong tiếng Tạng nghĩa là giải thích Pháp và <i>nyen</i> nghĩa là lắng nghe Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">Khía cạnh Chứng ngộ của Pháp bao gồm thiền định và thực sự chứng ngộ. Khái cạnh này xuất phát từ khía cạnh đầu tiên.</p>
<p style="text-align: justify;">Bằng cách tham gia vào các hoạt động này, chúng ta bảo tồn Pháp không chỉ trong các cuốn sách mà còn trong sự chứng ngộ của chúng sinh. Chúng ta duy trì truyền thống Pháp kinh điển và bảo tồn Pháp chứng ngộ. Nếu chúng ta đánh mất một trong hai, nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến điều còn lại; Pháp sẽ không trọn vẹn. Giống như việc điều này rất quan trọng với chúng ta, với thế hệ tương lai, điều quan trọng là có cơ hội tham gia và trở nên uyên bác cả về Pháp của Kinh điển và Pháp của Chứng ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Giáo lý và Luận giải</b></p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung có hai kiểu Kinh điển Phật giáo. <i>Ka</i>trong tiếng Tạng là những lời dạy của chính Đức Phật và <i>tencho</i> là các luận giải của các đại học giả xứ Ấn Độ và Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Ka</i></b></p>
<p style="text-align: justify;">Các giáo lý của Đức Phật gọi là <i>ka</i>. Nhưng <i>ka</i>không chỉ gồm những lời mà Đức Phật nói ra. Ví dụ, Bát nhã tâm kinh là <i>ka</i>, nhưng chính ngài Quan Âm đã giảng về Bát nhã tâm kinh, khi trả lời câu hỏi của ngài Xá Lợi Phất. Nguyên nhân nó được xếp vào <i>ka</i> là sự gia trì của Đức Phật được chuyển đến ngài Quan Âm, người trở thành phát ngôn viên của Đức Phật. Vì thế, Bát nhã tâm kinh là “<i>ka</i>khởi lên từ sự gia trì.”</p>
<p style="text-align: justify;">Có rất nhiều dịp khác màĐức Phật không nói, nhưng âm thanh đến từ nhiều phần khác của thân ngài. Các giáo lý này được gọi là <i>chotrul gyi ka</i>, tức <i>ka</i> kỳ diệu.</p>
<p style="text-align: justify;">Chính Đức Phật gợi ý rằng khi các giáo lý của ngài được kết tập, chúng cần được bắt đầu bằng câu, “Tôi nghe như vầy …” Mọi giáo lý bắt đầu như thế đều là <i>ka</i>.</p>
<p style="text-align: justify;">Những lời dạy của Phật là thanh tịnh, hoàn hảo và an bình. Chúng hòa hợp với sự thật tương đối và tuyệt đối, chân thật, đúng đắn và là phương thuốc cho mọi căn bệnh. Chúng vượt khỏi mọi so sánh.</p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Tencho</i></b></p>
<p style="text-align: justify;">Nghĩa đen của từ <i>tencho</i> trong tiếng Tạng [tiếng Phạn là shastra] là “chỉ ra và chuyển hóa.” Khi bạn được chỉ ra rõ ràng cách thức mọi thứ thực sự là, tâm bạn được chuyển hóa. Sự ngu dốt chuyển hóa thành giác tánh, tiêu cực thành tích cực. Vì thế, mục đích của <i>tencho</i> là chuyển hóa tinh tế tâm của đệ tử, và kết quả của <i>tencho</i> là bạn được bảo vệ khỏi những cõi thấp hơn.</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Tencho</i> được viết bởi các học giả. Về Luận, người ta nói rằng bảy bậc trưởng lão chứng ngộ từ truyền thống Tiểu thừa gặp nhau và biên soạn bản <i>shastra</i> đầu tiên, <i>Chedrak Shedzo Chenmo</i>. Để được phép biên soạn một<i>shastra</i>, học giả, ít nhất cần phải hiểu năm ngành khoa học chính và năm ngành phụ.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm ngành chính gồm nghệ thuật, y học, ngôn ngữ, logic và triết học nội tâm.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm ngành phụ gồm đồng nghĩa, toán học, biểu diễn, thơ ca và biên soạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Chỉ người hiểu những ngành này mới có thể biên soạn luận giải về giáo lý Phật Đà. Bên cạnh đó, để có thể biên soạn một bản <i>shastra</i>, họ ít nhất phải chứng ngộ địa thứ nhất hay có thể giao tiếp với Bổn tôn, chẳng hạn Đức Văn Thù. Một cách lý tưởng, tác giả cần trực tiếp trải nghiệm <i>dharmata</i>, chân lý.</p>
<p style="text-align: justify;">Có khoảng một trăm bản <i>ka</i> (<i>Kangyur</i>) bằng tiếng Tạng và khoảng hai trăm bản <i>tencho</i> (<i>Tengyur</i>). Tất cả các bản <i>tencho</i> được viết bởi các đại học giả, những bậc uyên bác mọi ngành khoa học chính và phụ.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>3. TĂNG</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Những bậc với ý định thiện lành</b></p>
<p style="text-align: justify;">Những bậc nghiên cứu, quán chiếu và thiền định về giáo lý của Đức Phật, và ý định được đặt trên con đường Pháp và giác ngộ được gọi là Tăng [tiếng Tạng là<i>gendun</i>, tiếng Phạn là <i>Sangha</i>]. Từ <i>Sangha</i> nghĩa đen là “những bậc với ý định thiện lành.”</p>
<p style="text-align: justify;">Có hai kiểu đức hạnh: đức hạnh hướng về các hành động trong thế giới này, và đức hạnh tuyệt đối của việc thành tựu Chánh giác.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Quy y Tam Bảo</b></p>
<p style="text-align: justify;">Những người bình thường bị lạc trong sự chăm sóc và bảo vệ cái tôi và trong các cảm xúc phiền não. Dù đau đớn nào được gây ra bởi việc chăm sóc và bảo vệ cái tôi, đó là cách mà họ sống. Dù họ cố gắng nhiều lần, thái độ này không thể làm họ hạnh phúc hơn, và không giải thoát họ khỏi khổ đau.</p>
<p style="text-align: justify;">Gần như không thể với người thường để hiểu được rằng khả năng của việc buông bỏ cái tôi và làm giảm khổ đau, căng thẳng và hận thù mà chúng ta cảm thấy bên trong, có thể xuất hiện. Nó như thể bạn chắc hẳn rất điên rồ khi đề xuất như vậy. Tuy nhiên, mặt khác, rất rõ ràng là việc nuôi dưỡng và bảo vệ cái tôi là nguồn gốc của mọi khổ đau.</p>
<p style="text-align: justify;">Bởi vậy, con đường của bạn và con đường của chúng sinh thông thường trở nên khá khác biệt. Mặc dù bạn sống như một thành viên trong gia đình và chăm sóc từng thành viên, bạn vẫn nhận thấy bạn đang trở nên khác biệt với phần còn lại. Mặc dù bạn có thể kết hôn và đã thề sống với vợ/chồng, và mặc dù yêu thương và chăm sóc vẫn còn, bởi bạn làm việc với tâm, bạn sẽ nhận ra khoảng cách giữa bạn với vợ/chồng ngày càng lớn.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự tách biệt này không dựa trên kiểu thành kiến vào với bạn đời. Nó là kết quả của sự thấu suốt tăng lên mà bạn sở hữu như là kết quả của việc giải quyết vấn đề tâm. Trí tuệ bạn đang vun bồi nhìn ra không chỉ vấn đề của người khác mà còn cả vấn đề của bạn. Điều này liên quan đến việc nhìn ra cái khổ trong cuộc đời, và đâm thủng nguyên nhân của nó, thứ đang bám chấp vào cái tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta mong muốn làm việc với các vấn đề tâm lý và cảm xúc bằng cách áp dụng chánh Pháp. Vì thế, chúng ta nhận Đức Phật là người chỉ dẫn và Pháp là con đường, và chúng ta trở thành một phần của Tăng đoàn cao quý.</p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù tình yêu thương, sự chăm sóc và từ bi giành cho người khác tăng lên, và chúng ta vẫn muốn có ích với người khác hơn nữa, con đường của ta trở nên rõ ràng hơn. Vì thế, chúng ta quy y Tam Bảo một cách đúng đắn hơn. Đây là mục đích của việc nghiên cứu và thực hành của chúng ta; quy y một cách đúng đắn, không phải chỉ là nghi lễ. Chúng ta không quy y chỉ để đi theo người khác, mà để phát triển mối quan hệ cá nhân với các đối tượng quy y. Một cách tương đối, chúng ta quy Phật là người chỉ đường, Pháp là con đường và Tăng là những người đồng hành. Một cách tuyệt đối, chỉ có một sự quy y duy nhất, đó là giác ngộ.</p>
<address>Trích: Nghiên cứu Phật học 1, Dzigar Kongtrul Rinpoche</address>
<address>Việt dịch: Nhóm Thuận Duyên.</address>
<address>(<a href="http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-44_10-1670_12-1/">CÙNG DỊCH GỈA</a>)<br />
</address>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<p style="text-align: justify;"><a href="http://thuvienhoasen.org/p39a15343/6/phat-phap-va-tang#_ftnref1">[1]</a> Mười hai hành động gồm: an trú trong Tushita, giáng sinh và nhập vào tử cung, chào đời, tinh thông nghệ thuật, tận hưởng phối ngẫu, từ bỏ thế giới, thực hành khổ hạnh, đạt đến điểm quan trọng của giác ngộ, chinh phục Ma vương, giác ngộ hoàn hảo, chuyển bánh xe giáo Pháp và thị hiện Niết Bàn cuối cùng. Xem <b><i>Truyền thống Nyingma của Phật giáo Tây Tạng</i></b>, quyển II, trang 169, Dudjom Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://thuvienhoasen.org/p39a15343/6/phat-phap-va-tang#_ftnref2">[2]</a> Các thế lực ma quỷ trong cõi địa ngục.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://thuvienhoasen.org/p39a15343/6/phat-phap-va-tang#_ftnref3">[3]</a> Xem <b><i>Kho tàng các phẩm tánh quý giá</i></b>, Phụ lục 5.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://thuvienhoasen.org/p39a15343/6/phat-phap-va-tang#_ftnref4">[4]</a> Bốn sự vô úy là (1) Vô úy trong kiến thức của tất thảy mọi vật; (2) Vô úy trong kiến thức của sự ngừng mọi lỗi lầm; (3) Vô úy để tuyên bố dứt khoát rằng các hiện tượng ngăn cản con đường không trở thành thứ gì khác; (4) Vô úy rằng con đường từ bỏ nhờ đó mọi đặc tính hoàn hảo sẽ đạt được, vừa được chứng ngộ.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/phat-phap-va-tang/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
