<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Tam Bảo</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/thuc-hanh/quy-y-tam-bao/tam-bao/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Fri, 17 Apr 2026 16:09:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Đức Phật Thích Ca thi triển thần thông tại thành Shravati</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/quy-y-tam-bao/duc-phat-thich-ca-thi-trien-than-thong-tai-thanh-shravati/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/quy-y-tam-bao/duc-phat-thich-ca-thi-trien-than-thong-tai-thanh-shravati/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 27 Feb 2026 11:05:14 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Quy y Tam Bảo]]></category>
		<category><![CDATA[Tam Bảo]]></category>

		<guid isPermaLink="false">https://kimcuongthua.org/?p=13187</guid>
		<description><![CDATA[Ngày rằm đầu tiên theo lịch Tây Tạng là ngày kỷ niệm Đức Phật thi triển thần thông, hay còn được gọi là Chötrul Düchen để kỷ niệm ngày cuối cùng của 15 ngày Đức Phật thi triển thần thông. Đức Phật đã thi triển thần thông để đáp lại sự thách thức của sáu pháp sư hiếu thắng. 15&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/quy-y-tam-bao/duc-phat-thich-ca-thi-trien-than-thong-tai-thanh-shravati/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><i>Ngày rằm đầu tiên theo lịch Tây Tạng là ngày kỷ niệm Đức Phật thi triển thần thông, hay còn được gọi là Chötrul Düchen để kỷ niệm ngày cuối cùng của 15 ngày Đức Phật thi triển thần thông. Đức Phật đã thi triển thần thông để đáp lại sự thách thức của sáu pháp sư hiếu thắng. 15 ngày này được gọi là những ngày công đức tăng trưởng, các việc làm đạo đức sẽ tạo nên công đức gấp triệu lần.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/2026/02/634323646_1371590388343414_2140308788690418892_n.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-13188" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/2026/02/634323646_1371590388343414_2140308788690418892_n.jpg" alt="634323646_1371590388343414_2140308788690418892_n" width="1448" height="1010" /></a></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngày Thứ Nhất</b></p>
<p style="text-align: justify;">Ngày thứ nhất của mùa xuân, Đức Phật đến cánh đồng đã được chuẩn bị sẵn, Ngài ngồi lên ngai sư tử trước mặt mọi người. Sau khi vua Ba Tư Nặc cúng dường Đức Phật, Đức Thế Tôn lấy một cây tăm và đặt xuống đất. Cây tăm mọc lên thành một cây thật kỳ diệu. Các nhánh của cây mọc dài ra đến vài cây số, trên cành đầy những lá, hoa, trái cây, và đủ các loại các châu báu. Ánh sáng muôn màu tỏa ra từ các châu báu tạo thành một hoạt cảnh huy hoàng tráng lệ như sự hội hợp giữa các tia sáng của mặt trời và mặt trăng. Khi gió thổi qua các cành cây tạo ra những âm thanh mà người nghe như những lời thuyết Pháp. Đức Thế Tôn liền thuyết Pháp cho Đại chúng nghe. Rất nhiều người đã tiến xa trên đường tu, một số khác đạt được quả A La Hán và hàng triệu người đã gieo được chủng tử để tái sanh về cõi người hoặc cõi chư thiên.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngày Thứ Nhì</b></p>
<p style="text-align: justify;">Ngày thứ hai vua Udrayana cúng dường Đức Phật. Như Lai liền xoay đầu qua bên phải rồi bên trái, và hai bên của pháp tòa sư tử, tức thì một núi châu báu hiện ra. Trên mỗi ngọn núi đều có một dòng suối kỳ diệu, nước có tám vị khác nhau. Có một ngọn núi được bao phủ đầy cỏ mọc để làm thức ăn cho súc vật, một ngọn núi khác được phủ đầy những thức ăn đặc biệt để cho người dùng. Đức Thế Tôn sau đó giảng pháp theo từng căn cơ và trình độ của mỗi người, nhờ vậy nhiều người đã được giải thoát. Một số người có mặt phát triển được tâm bồ đề, và tạo được chủng tự để tái sanh vào cõi người hay cõi chư thiên.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngày Thứ Ba</b></p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày thứ ba vua Shun Tsin của nước War cúng dường Như Lai. Sau khi ăn xong, Đức Phật dùng nước súc miệng. Khi nước rơi xuống mặt đất nơi đó biến thành một hồ nước lớn trải dài đến ba trăm cây số. Nước có tám vị, và dưới đáy hồ được bao phủ bằng bảy loại châu báu. Trên mặt hồ có vô số hoa sen đủ các màu sắc mọc phủ đầy, và tỏa hương thơm khắp moi nơi; các tia sáng mặt trời chiếu xuống làm sáng tỏa khắp mọi phương hướng khiến người ta có thể nhìn thấy từ khắp mọi nơi. Người nào nhìn thấy cũng cảm nhận được sự an lạc và rất hạnh phúc, và khi Phật thuyết Pháp, một số người chứng đắc A La hán, số khác tăng trưởng tâm bồ đề, và nhiều người khác đạt được chủng tự của sự tái sinh vào cõi người hay cõi chư thiên.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngày Thứ Tư</b></p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày thứ tư vua Indravarma cúng dường lên Đức Phật. Đức Thế Tôn tạo ra một hồ nước từ tám dòng suối chảy ra ngoài theo đường tròn để chảy trở về. Từ tiếng nước chảy người ta nghe được tiếng thuyết Pháp về năm năng lực, năm sức mạnh, bảy khía cạnh của Bồ đề tâm, bát chánh đạo, ba nguyên tắc của con đường giải thoát, sáu loại toàn tri và bốn tâm vô lượng. Sau khi nghe được những lời thuyết giảng này, nhiều người hiểu được tầm ảnh hưởng của Phật quả và một số khác được tái sinh về các cảnh giới của cõi người hay cõi chư thiên và hàng trăm ngàn người gia tăng việc tích đức.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngày Thứ Năm</b></p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày thứ năm, vua Brahmadatta Varanasi dâng lên cúng dường Đức Phật nhiều loại cúng phẩm khác nhau. Từ thân Như Lai tỏa ra ánh sáng vàng làm soi sáng toàn thế giới. Ánh sáng tỏa ra bao trùm khắp chúng sinh làm tịnh hóa hết các nghiệp chướng của tam độc: tham, sân và si. Thân tâm của tất cả chúng sinh trở nên an lạc, những người tham dự vô cùng hân hoan và vui mừng. Khi Đức Thế Tôn nói, khiến rất nhiều người trưởng tăng trưởng bồ đề tâm, vô số người tạo được chủng tự tái sinh về cõi người hay cõi chư thiên, và hằng hà sa số chúng sinh được tăng trưởng công đức.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngày Thứ Sáu</b></p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày thứ sáu, người xứ Licchavi (một bộ lạc rất thịnh vượng của Ấn Độ và Nepal ngày xưa) cúng dường Đức Phật, Đức Thế Tôn liền cho những người đang có mặt tại đó thấy được tâm thức của người khác, người này đọc được những ý nghỉ tốt cũng như xấu của người kia. Mọi người cảm nhận được niềm tin và tán thán kiến thức của Đức Phật. Như Lai liền thuyết giảng cho mọi người một thời Pháp, nhiều người đạt được sự hiểu biết một cách thâm sâu. Một số mở được tâm bồ đề, một số khác chứng được quả A La Hán và vô số gieo được chủng tử tái sinh về cõi người và cõi chư thiên.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngày Thứ Bảy</b></p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày thứ bảy, bộ tộc của Đức Phật, bộ tộc Thích Ca, lên cúng dường Ngài. Ngài ban phước lành cho tất cả những người đến tham dự cho họ trở thành Chakravartin, (vua am hiểu sâu rộng về Phật Pháp), mỗi người cai trị một quốc gia nhỏ và được nhiều quần thần anh minh phò trợ. Tất cả mọi người cảm thấy rất hạnh phúc với việc này và khi Đức Phật nói khiến mọi người tăng trưởng niềm tin. Nhiều người đã khai mở được bồ đề tâm, một số khác chứng quả A La Hán, và vô số người gieo được chủng tử sinh về cõi người hay cõi chư thiên.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngày Thứ Tám</b></p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày thứ tám, Indra mời Đức Phật và làm một ngai sư tử tuyệt đẹp mời Ngài ngồi. Khi Như Lai ngồi xuống, Indra bước đến phía bên tay trái cúng dường Đức Phật, trong khi đó Brahma qua phía tay phải cúng dường, họ phủ phục trước mặt Ngài trong khi mọi người ngồi yên lặng. Đức Phật đặt tay phải Ngài lên ngai sư tử trong thế bắt ấn xúc địa, tức thì một tiếng rống lớn của con voi gầm lên. Năm con quỷ thật hung tợn hiện ra và gầm lên, các ngai của sáu vị pháp sư ngồi bị phá tan đi ngay. Sau năm con quỷ xuất hiện, Ngài Kim Cang Thủ Bồ Tát xuất hiện với năm ngọn lửa phóng ra từ đỉnh chày kim cang. Sáu pháp sư hồn vía thất kinh, liền nhảy xuống nước và cút đi mất. Sáu pháp sư bỏ trốn để lại 90 ngàn đệ tử, những người này đến quy y Đức Phật và còn xin Đức Phật cho xuất gia thọ giới Tỳ Kheo. Đức Phật đón nhận họ, ngay sau đó các đầu tóc uốn quăn và râu của họ trước đó đã được làm dấu họ là môn đồ của sáu pháp sư kia đã biến đi mất một cách thật kỳ diệu. Đức Phật thuyết giảng cho họ nghe tùy theo trình độ và căn cơ của từng người khiến họ đã thoát ra khỏi được xiềng xích của tham, sân, và si và chứng được quả A La Hán. Sau đó, Như Lai phóng hào quang, 84 ngàn tia sáng phóng ra từ các lỗ chân lông của Ngài, ánh sáng tỏa sáng khắp bầu trời. Trên đỉnh của mỗi tia sáng có một đóa hoa sen xinh đẹp, và trên mỗi đóa hoa sen có một vị Phật cùng với các thị giả. Mỗi vị Phật đều đang thuyết giảng giáo Pháp của Như Lai. Một khung cảnh làm tất cả mọi người cảm thấy tâm an lạc và đức tin của họ cũng đã tăng trưởng theo. Đức Thế Tôn liền thuyết giảng một thời Pháp, nhiều người đã tăng trưởng được tâm bồ đề, nhiều người khác chứng được quả A La Hán, và vô số gieo được chủng tử tái sanh về cõi người hay cõi chư thiên.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngày Thứ Chín</b></p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày thứ chín, Brahmaraja cúng dường Đức Phật. Như Lai kéo dài thân ngài cho đến tầng trời cao nhất của cõi trời Phạm Thiên. Từ thân ngài hào quang phóng ra chiếu sáng khắp mọi hướng, và từ trên tầng trời cao nhất này Ngài thuyết Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngày Thứ Mười</b></p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày thứ mười, bốn vị vua lớn, những vị vua có tinh thần bảo vệ Phật Pháp, đến thỉnh cầu Đức Phật thuyết Pháp. Đức Phật cũng vậy, ngài kéo dài thân hình lên đến ngang hàng với chiều cao của luân hồi. Hào quang từ thân ngài phóng ra thể hiện lời thuyết pháp.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngày Thứ Mười Một</b></p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày thứ mười một, nhà bảo trợ lớn của Đức Phật có tên là Cấp Cô Độc (Anathapindika) đến cùng dường Đức Phật, Ngài ngồi trên ngai sư tử và trụ trong thiền định. Mọi người không nhìn thấy được thân tướng Đức Phật lúc bấy giờ, toàn thân Ngài tỏa hào quang vàng trong một giọng nói hùng hồn, Ngài thuyết Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngày Thứ Mười Hai</b></p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày thứ mười hai, gia đình Tseta thỉnh Đức Phật nói Pháp. Như Lai an trụ trong thiền định về tình yêu thương đại đồng, hào quang từ thân Ngài phóng ra những tia sáng vàng chiếu sáng khắp thế giới. Các tia sáng chiếu đến đâu làm tịnh hóa tam độc của tâm và làm tăng trưởng tâm từ của mọi người khiến họ yêu thương và xem nhau như cha mẹ thương yêu con cái của họ hay tình yêu thương thể hiện trong anh chị em.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngày Thứ Mười Ba</b></p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày thứ mười ba, vua Shun Tsin cúng dường đức Phật. Như Lai ngồi trên ngai sư tử và hai tia sáng, thăng lên cao 15 mét, phát ra từ rốn ngài. Trên đỉnh của mỗi tia sáng là một nụ hoa sen, trên mỗi nụ hoa sen có một vị Phật. Từ rốn của mỗi vị Phật nối tiếp lại có hai tia sáng và trên mỗi tia sáng là một đóa hoa sen với một vị Phật, và cứ thế tiếp tục, bao trùm hết các thế giới. Tất cả các vị Phật đều thuyết Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngày Thứ Mười Bốn</b></p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày thứ mười bốn, vua Udrayana cúng dường đức Phật. Ông rải bông trước mặt đức Phật, chúng biến thành một ngàn hai trăm năm mươi cỗ xe cấu tạo bằng các châu báu. Đức Phật thuyết Pháp cho chúng sinh trên khắp thế giới như một Bác Sĩ chữa lành căn bệnh.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngày Thứ Mười Lăm, Ngày Cuối Cùng</b></p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày thứ mười lăm, ngày cuối cùng ngày rằm của lễ hội mùa xuân, vua Tần Bà Sa La mang lễ vật đến cúng dường đức Phật. Đức Phật bảo vua Tần Bà Sa La mang tàu đựng thức ăn và tức thì các tàu đều chứa đầy thức ăn, có cả hằng trăm các món ăn khác nhau một cách kỳ diệu. Khi mọi người ăn, thân và tâm họ đều hoàn toàn thỏa mãn. Đức Phật hỏi họ, “Tại sao có quá nhiều khổ đau trên thế gian này?” Nhờ lực gia trì của ngài, thậm chí chúng sanh của 18 loài ngạ quỷ cũng nhận thức được khổ não của họ đều xuất phát từ những hành động mà họ đã gây ra. Họ cảm thấy đầy lòng tin nơi đức Phật. Cũng giống như những ngày trước đây những người có mặt đã bước tiến xa trên đường dạo. Một số người tăng trưởng được bồ đề tâm, một số chứng được quả vị A-La-Hán, một số khác đã giải thoát ra khỏi được luân hồi, rất nhiều người gieo được chủng tử sanh về cõi người hay cõi chư thiên, và hằng hà sa số tăng trưởng được đức hạnh của họ.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <a href="https://vietrigpa.org/2017/04/25/duc-phat-thich-ca-thi-trien-than-thong-tai-thanh-shravati/">Đức Phật Thích Ca thi triển thần thông tại thành Shravati</a></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/quy-y-tam-bao/duc-phat-thich-ca-thi-trien-than-thong-tai-thanh-shravati/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Phật, Pháp và Tăng</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/quy-y-tam-bao/phat-phap-va-tang-2/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/quy-y-tam-bao/phat-phap-va-tang-2/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 09 Sep 2018 09:45:07 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Quy y Tam Bảo]]></category>
		<category><![CDATA[Tam Bảo]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=8914</guid>
		<description><![CDATA[1. Phật Đức Phật – bậc dẫn đường chân chính Trong các Kinh điển, Đức Phật nói rằng chúng ta cần xem bản thân là người bệnh, và Đức Phật là bác sĩ, và giáo lý là thuốc. Quan hệ của chúng ta với Đức Phật giống như một người bệnh với bác sĩ. Như khi chúng ta theo một&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/quy-y-tam-bao/phat-phap-va-tang-2/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><strong>1. Phật</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đ</strong><strong>ứ</strong><strong>c Ph</strong><strong>ậ</strong><strong>t</strong><strong> – b</strong><strong>ậ</strong><strong>c </strong><strong>d</strong><strong>ẫ</strong><strong>n </strong><strong>đ</strong><strong>ườ</strong><strong>ng</strong> <strong>chân chính</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Trong các Kinh điển, Đức Phật nói rằng chúng ta cần xem bản thân là người bệnh, và Đức Phật là bác sĩ, và giáo lý là thuốc. Quan hệ của chúng ta với Đức Phật giống như một người bệnh với bác sĩ. Như khi chúng ta theo một chế độ ăn kiêng và uống thuốc theo đơn của bác sĩ, chúng ta nên theo những chỉ dẫn của Phật và áp dụng các giáo lý này. Bằng cách uống thuốc, chúng ta sẽ thu được cả những lợi ích tạm thời và dài hạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Căn bệnh mà chúng ta mắc phải là sự ngu dốt, những cảm xúc phiền não, nhận thức sai lệch và khổ đau. Bởi vì Đức Phật đã thoát khỏi mọi căn bệnh như thế, Ngài thực sự là người chỉ dẫn đáng tin cậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Như trong các Kinh điển có nói, làm sao người ta, những kẻ trong hoàn cảnh khó khăn như chúng ta có thể giúp chúng ta thoát khỏi bãi cát lún? Giống như vậy, những người, không thể tự thoát khỏi vòng luân hồi không thể giải thoát chúng ta khỏi vòng luân hồi. Bởi thế, Đức Phật là người dẫn đường chân chính, và giáo lý là thứ thuốc hữu hiệu.</p>
<p style="text-align: justify;"><u></u><strong>Sự giác ngộ của Phật</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Quan đi</strong><strong>ể</strong><strong>m</strong> <strong>Ti</strong><strong>ể</strong><strong>u th</strong><strong>ừ</strong><strong>a</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Theo quan điểm Tiểu thừa, Phật Thích Ca Mâu Ni thành tựu Chánh giác ở Bồ Đề Đạo Tràng bằng cách chinh phục mọi che chướng cảm xúc và nhận thức. Trong tiếng Tạng, một bậc giác ngộ là <em>sangye</em>. <em>Sang </em>nghĩa là tịnh hóa các cảm xúc phiền não (<em>nyondrip</em>) và che chướng nhận thức (<em>shedrip</em>). <em>Gye</em> nghĩa là sự tỉnh thức của trạng thái tràn đầy những phẩm tính hoàn hảo của giác ngộ. Trạng thái tỉnh thức của Phật thoát khỏi mọi che chướng và sở hữu các phẩm tính hoàn hảo của kiến thức, tâm từ, lòng bi mẫn và trí tuệ.</p>
<p style="text-align: justify;">Quan điểm Tiểu thừa nhìn nhận Phật Thích Ca Mâu Ni là một chúng sinh bình thường. Dĩ nhiên, phải công nhận rằng chúng sinh bình thường này rất phi thường, nhưng từ quan điểm này, ngài sở hữu những uẩn bình phàm.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Quan đi</strong><strong>ể</strong><strong>m</strong> <strong>Đ</strong><strong>ạ</strong><strong>i th</strong><strong>ừ</strong><strong>a</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Theo Đại thừa, Phật Thích Ca Mâu Ni giác ngộ trong cõi Akanishtha, cõi trời cao nhất – một cõi Phật, không thể nhìn thấy bởi người thường.</p>
<p style="text-align: justify;">Với lòng từ bi, vì lợi ích của người khác, Ngài tái sinh trong cõi người và “giả vờ” trải qua toàn bộ quá trình của “mười hai hành động<a href="https://thuvienhoasen.org/a15343/phat-phap-va-tang#_ftn1">[1]</a>”, bao gồm cả hành động giác ngộ dưới tán Bồ đề. Bởi Phật đã hoàn toàn giác ngộ, Ngài thoát khỏi mọi trải nghiệm của luân hồi bởi vì Ngài không bị trói buộc bởi các uẩn thông thường. Ngài chỉ hiển bày các uẩn này để chúng sinh bình phàm có thể nhận thấy và đưa ra một tấm gương về con đường giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Phật giác ngộ nhờ con đường Bồ Tát, con đường mà Ngài đã trải qua từ đầu đến cuối. Ngài nói rằng với Ngài điểm khởi đầu của con đường bồ đề tâm là trong cõi địa ngục. Ngài đang kéo chiếc xe bò với một người khác, và cả hai đều bị tra tấn dữ dội. Phật nghĩ rằng: “Tại sao tôi không nhận lấy tất cả nghiệp này, tại sao không trở thành đối tượng dày vò và giải thoát cho người kia?” Ngài bảo các vị <em>yama</em><a href="https://thuvienhoasen.org/a15343/phat-phap-va-tang#_ftn2">[2]</a>, những kẻ đang tra tấn Ngài, hãy để điều này xảy ra. Nhưng họ nói: “Mọi người đều có nghiệp riêng! Ông không thể giải thoát bất kỳ ai khỏi nghiệp riêng của họ”, và đánh vào đầu ngài bằng cái búa sắt. Phật chết, nhưng bởi vì nghiệp quả tốt lành mà ước nguyện của Ngài tạo ra, Ngài ngay lập tức được giải phóng khỏi cõi địa ngục đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài đã giác ngộ ở Akanishtha; sau đó Ngài ở Tushita, một cõi Phật nơi mà Phật Vị lai, Ngài Di Lặc hiện tại an trụ. Khi thời gian chín muồi, và mọi người thích hợp để một vị Phật tái sinh trong thế giới này, Ngài được thụ thai trong tử cung người mẹ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>S</strong><strong>ự</strong> <strong>xu</strong><strong>ấ</strong><strong>t hi</strong><strong>ệ</strong><strong>n</strong><strong> c</strong><strong>ủ</strong><strong>a Ph</strong><strong>ậ</strong><strong>t trong </strong><strong>th</strong><strong>ế</strong><strong> gi</strong><strong>ớ</strong><strong>i</strong><strong> này</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Nếu chư Phật đã làm cạn kiệt mọi nguyên nhân và điều kiện của luân hồi và sự xuất hiện trong luân hồi cũng như hoàn toàn chứng ngộ chân lý tuyệt đối của tính không, làm sao và tại sao các ngài thị hiện trong thế giới này?</p>
<p style="text-align: justify;">Điều này xảy ra nhờ hai khẩn nguyện; khẩn nguyện của hữu tình chúng sinh có kết nối với chư Phật và đánh thức khỏi trạng thái ngu dốt như mơ của tâm, và khẩn nguyện của chư Phật làm lợi lạc chúng sinh và đánh thức họ khỏi trạng thái huyễn hoặc như mơ đó. Khi khẩn nguyện của hữu tình chúng sinh và của chư Phật gặp nhau, chư Phật xuất hiện trên thế giới.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự xuất hiện của các Ngài giống như trăng trên trời, được phản chiếu rõ ràng và tự nhiên trên nhiều ao hồ bên dưới. Nhưng điều này không ám chỉ rằng Đức Phật tự mình “hạ xuống” từ hư không, hay có một vị Phật “xuống đây” và một vị khác “ở trên kia”, cũng không phải có nhiều vị Phật khắp mọi nơi.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>M</strong><strong>ộ</strong><strong>t ngh</strong><strong>ì</strong><strong>n v</strong><strong>ị</strong><strong> Ph</strong><strong>ậ</strong><strong>t</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Trong thời đại đặc biệt này, một nghìn vị Phật sẽ xuất hiện. Theo các miêu tả truyền thống, tất cả những gì chúng ta thấy từng là chân không hay hư không. Sau đó gió và mưa bão nổi lên, tạo thành yếu tố đất. Mưa tiếp tục, và một nghìn bông sen nở. Các vị trời nam và nữ thấy sự kiện này và tự hỏi nó tượng trưng cho điều gì. Các vị trời tuổi cao, uyên bác có thể nhìn thấy tương lai nhờ sức mạnh của thiền định, đã nói rằng đó là dấu hiệu trong thời đại này sẽ có một nghìn vị Phật. Bởi thế, nó được gọi là <em>kalpa zangpo</em>, “thời đại xuất sắc”.</p>
<p style="text-align: justify;">Cho đến nay, chúng ta đã có bốn vị Phật. Trong mỗi thời của bốn vị Phật này, rất nhiều vị Phật khác đã xuất hiện và làm lợi lạc chúng sinh. Nhưng có một vị tối cao trong mỗi thời, bậc đảm bảo rằng mọi giáo lý của thời đại đặc biệt đó sẽ hòa hợp với lời dạy của vị Phật đó. Vị Phật tối cao của hiện tại là Phật Thích Ca Mâu Ni, tuy nhiên có rất nhiều các vị Phật khác đã đến thế giới này và làm lợi lạc chúng sinh. Ví dụ, Đức Văn Thù, Đức Quan Âm và Đức Kim Cương Thủ đều là các vị Phật, nhưng các Ngài thị hiện dưới hình tướng chư Bồ Tát. Guru Rinpoche cũng là một hóa thân của Đức Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Các vị Phật tối cao này đều đến với mười hai hành động của một vị Phật, đạt giác ngộ và thuyết Pháp. Trong trường hợp của Phật Thích Ca, Ngài sinh ra là một vị hoàng tử, nhưng các vị Phật không nhất thiết phải sinh ra làm hoàng tử như vậy.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Hai </strong><strong>trí tu</strong><strong>ệ</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Điều quan trọng là biết rằng Phật có hai kiểu trí tuệ [<em>jnana</em>]: trí tuệ nhìn thấy bản chất của mọi thứ như chúng là, và trí tuệ nhìn thấy tính đa dạng của mọi hiện tượng.</p>
<p style="text-align: justify;">Thứ mà Phật nhìn thấy từ quan điểm hay trải nghiệm giác ngộ của Ngài được gọi là <em>rang nang</em> trong tiếng Tạng. Nhận thức của chúng sinh khác được gọi là <em>shyen nang</em>. Bởi thời gian là trống rỗng, <em>rang nang</em> và <em>shyen nang</em> có thể xuất hiện cùng lúc. Trí tuệ của việc nhận thấy mọi thứ bao gồm của nhận thức giác ngộ về mọi thứ <em>rang nang</em>, và nhận thức của chúng sinh, <em>shyen nang</em>. Nếu không phải như vậy, thì chư Phật sẽ không thể thuyết giảng.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Ch</strong><strong>ư</strong> <strong>Ph</strong><strong>ậ</strong><strong>t thuy</strong><strong>ế</strong><strong>t</strong><strong> gi</strong><strong>ả</strong><strong>ng ra sao</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Một hình ảnh có thể giúp chúng ta hiểu cách thức mà chư Phật thuyết giảng là hãy tưởng tượng hai người trong một căn phòng: một người thức và người kia thì ngủ, và gặp phải ác mộng. Người thức – Phật – có thể nhận ra rằng người kia đang gặp ác mộng. Điều này không chỉ được hiểu qua sự suy luận mà còn qua nhận thức trực tiếp về cơn ác mộng của người đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù người thức có thể nhận thấy cơn ác mộng của người kia một cách trực tiếp, trải nghiệm của người mơ đó không trở thành sự thật của người thức. Bởi vậy người đang thức có thể chậm rãi đánh thức người kia khỏi giấc mộng. Nhờ đó, anh ta có thể kéo người kia khỏi giấc mơ và trở về thực tại, đó là sự không tồn tại của mọi cơn ác mộng. Đó là cách mà chư Phật dạy hữu tình chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi bạn tỉnh dậy trong một giấc mơ, giấc mơ có thể tiếp tục, nhưng mối quan hệ của bạn với nó đã thay đổi. Đó là con đường của chư Bồ Tát, đặc biệt là trong giai đoạn sau thiền định. Khi bạn hoàn toàn tỉnh dậy khỏi giấc mơ, đó là Phật quả. Bạn tỉnh thức với các trải nghiệm hoàn toàn về sự thực và sự xuất hiện; nó không đúng khi nói rằng mọi hình tướng đơn giản biến mất ở điểm này.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Ba thân của chư Phật</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Bản chất của sự thật được gọi là Pháp thân, và các hình tướng là Sắc thân. Một vị Phật hòa hợp với Pháp thân trong khi xuất hiện như là Sắc thân.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Pháp thân</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Trong trạng thái tuyệt đối của niết bàn, trong Pháp thân, không có nhận thức và không có hình tướng. Nhưng điều này không có nghĩa là Pháp thân là rắn chắc và cách biệt, hay một hư không hoàn toàn tách biệt khỏi các hoạt động của chư Phật hay các hình tướng của Phật quả, tức là hai hình tướng của Sắc thân – Báo thân và Hóa thân.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Báo thân</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Các hình tướng Báo thân khởi lên từ Pháp thân, thứ như hư không tràn khắp, xuất hiện chủ yếu với chư Bồ Tát, những bậc trên con đường giác ngộ. Các Báo thân khởi lên thông qua duyên khởi như là kết quả của nghiệp và sự rộng mở của chư Bồ Tát, và sức mạnh của chư Phật hiển bày từ Pháp thân. Các hình tướng Báo thân không thể tiếp cận bởi chúng sinh bình phàm.</p>
<p style="text-align: justify;">Báo thân Phật làm lợi lạc cho chư Bồ Tát, những bậc ít nhất đạt đến địa thứ nhất. Những vị Bồ Tát này có thể nhìn thấy và thọ nhận giáo lý từ Báo thân Phật. Cách thức các Ngài thọ nhận giáo lý không giống như cách chúng ta nhận, thường là khẩu truyền. Ví dụ, các vị Bồ Tát đơn giản có thể nhìn vào thân của Báo thân Phật và nhận ra các che chướng của bản thân và cách để tịnh hóa chúng một cách rõ ràng.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Hóa thân</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Từ quan điểm Tiểu thừa, Phật được nhìn nhận như một chúng sinh bình thường, và chúng sinh bình thường coi Phật là Hóa thân Phật. Từ quan điểm Đại thừa, Phật Thích Ca Mâu Ni là Hóa thân Phật, người, như là cái bóng của Báo thân Phật, giáng sinh như một bậc toàn giác từ cõi trời Tushita. Hóa thân Phật giống như những cái bóng của Báo thân Phật, như mặt trăng phản chiếu hình bóng xuống ao.</p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù chư Phật xuất hiện, sự xuất hiện của các Ngài không phải sự xuất hiện của chân lý tương đối bình thường, ảo mộng, sản phẩm của tâm quan niệm và các lỗi lầm. Các Ngài xuất hiện một cách độc lập, nhưng sự xuất hiện này thanh tịnh chứ không có lỗi lầm. Bởi thế, những phẩm tính vô song của chư Phật được gọi là <em>zakme kyi</em> cho trong tiếng Tạng, nghĩa là “các phẩm tính không lỗi lầm”.</p>
<p style="text-align: justify;">Pháp thân có sức mạnh làm khởi lên vô số các phẩm tính không lỗi lầm. Mặc dù Hóa thân Phật Thích Ca Mâu Ni trải qua đủ mười hai hành động của một vị Phật, từ cõi trời Tushita đến khi nhập Niết Bàn, từ quan điểm Pháp thân của chư Phật, không hề có sự di chuyển hay thay đổi nào.</p>
<p style="text-align: justify;">Mục đích đằng sau việc chư Phật đến thế giới này là để chỉ ra con đường giác ngộ. Đức Phật trải qua, theo cách hoàn hảo nhất, đủ mọi giai đoạn của con đường mà chúng ta phải đi. Để chỉ ra sự từ bỏ, Phật rời bỏ cung điện và từ bỏ mọi hài lòng như thể chúng bị nhổ vào bụi. Ngài đi vào rừng, điều này giải thích tầm quan trọng của sự từ bỏ các mối bận tâm, thứ thực ra tạo nên khổ đau và trói buộc.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Nh</strong><strong>ữ</strong><strong>ng ph</strong><strong>ẩ</strong><strong>m tính</strong><strong> c</strong><strong>ủ</strong><strong>a Ph</strong><strong>ậ</strong><strong>t nh</strong><strong>ư</strong><strong> m</strong><strong>ộ</strong><strong>t v</strong><strong>ị</strong><strong> th</strong><strong>ầ</strong><strong>y</strong><a href="https://thuvienhoasen.org/a15343/phat-phap-va-tang#_ftn3"><strong>[3]</strong></a></p>
<p style="text-align: justify;">Các phẩm tính như một vị thầy của Phật là rất rõ ràng. Ngài sở hữu cả hai kiểu trí tuệ, mười sức mạnh, bốn trạng thái vô úy<a href="https://thuvienhoasen.org/a15343/phat-phap-va-tang#_ftn4">[4]</a>, mười tám đặc điểm phân biệt của trạng thái tâm của Phật, ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Tám ph</strong><strong>ẩ</strong><strong>m tính</strong><strong> c</strong><strong>ủ</strong><strong>a </strong><strong>giác ng</strong><strong>ộ</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Như trong <em>Uttaratantra shastra</em> có nói, trong tất cả, Phật là tối thượng. Trạng thái Phật quả, hay giác ngộ hoàn toàn vô song, thoát khỏi mọi lỗi lầm, và hoàn toàn đáng tin cậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Tâm giác ngộ có ba phẩm tính, làm lợi lạc chính bậc giác ngộ. Nó không giả tạo, tự nhiên và tự tỉnh thức, nghĩa là tâm của Phật không chứng ngộ do kết quả của các điều kiện bên ngoài.</p>
<p style="text-align: justify;">Ba phẩm tính của chư Phật làm lợi lạc người khác là trí tuệ vĩ đại; tâm từ lớn lao, sự chu đáo và từ bi và sức mạnh làm lợi lạc vĩ đại.</p>
<p style="text-align: justify;">Phẩm tính làm lợi lạc bản thân và phẩm tính làm lợi lạc người khác, khi được thêm vào ba phẩm tính được liệt kê trong hai loại trên, tạo thành cái đôi khi được gọi là tám khía cạnh của giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>2. Pháp</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Các </strong><strong>ý nghĩa</strong><strong> c</strong><strong>ủ</strong><strong>a t</strong><strong>ừ</strong> <strong>“</strong><strong><em>Dharma</em></strong><strong>”</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Từ “<em>Dharma</em>” trong tiếng Phạn có rất nhiều ý nghĩa khác nhau. Ví dụ, nó có thể liên quan đến kiến thức, con đường, niết bàn, hiện tượng, đối tượng của việc suy nghĩ, công đức, cuộc đời và tương lai. Ở đây Pháp liên quan đến Chánh Pháp [hay Pháp cao quý], những giáo lý của chư Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Vậy Pháp cao quý là gì? Nó là điều mà các bậc giác ngộ nhìn nhận trực tiếp, là bản tính chân thực của sự thật, và là điều mà chư Phật giảng cho người khác cho người khác như là con đường. Bởi thế, Pháp là con đường chân chính dẫn chúng ta thoát khỏi khổ đau của luân hồi và vòng sinh tử.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Pháp nh</strong><strong>ư</strong><strong> là </strong><strong>con đ</strong><strong>ườ</strong><strong>ng</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Một vài giáo lý chỉ thích hợp cho một vùng hay thời điểm đặc biệt, và khi thời điểm đặc biệt đó trôi qua, sẽ không còn hữu ích nữa. Nhưng giáo lý của chư Phật phục vụ con người liên tục xuyên suốt lịch sử và sẽ tiếp tục như vậy. Nguyên nhân của điều này là bởi chúng đề cập đến tâm bên trong của chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở Lerab Gar, tháng 9 năm 2000, Ngài Đạt Lai Lạt Ma nói rằng mọi phát triển khoa học và công nghệ với ý định tạo ra một thế giới tốt hơn chỉ đóng góp cho các nhận thức về giác quan, trong khi điều duy nhất giúp đỡ thức nội tại là trí tuệ. Nếu nó không cung cấp cách thức đối phó với các vô minh che lấp trí tuệ bẩm sinh, thì dù khoa học và công nghệ có phát triển thế nào, nó cũng không tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn. Dĩ nhiên, khoa học và công nghệ sẽ tạo ra vài ảnh hưởng tích cực, nhưng chúng sinh vẫn chịu nhiều khổ đau.</p>
<p style="text-align: justify;">Đặc biệt trong thế kỷ 20 và 21, người ta nhận thấy điều này rõ ràng hơn bất kỳ thời đại nào khác trong lịch sử loài người. Khi bạn xem tivi, những người nổi tiếng hay các ngôi sao dường như hài lòng về vật chất, nhưng họ vẫn thất vọng; họ vẫn rất tệ.</p>
<p style="text-align: justify;">Bởi vậy món quà lớn lao là được thọ nhận giáo lý Phật Đà trong cuộc đời này, cơ hội lớn lao khi có phương tiện để giải quyết vấn đề tâm, và đặc biệt là cái tôi và các vấn đề đi kèm. Thật tuyệt vời khi trí tuệ và phương tiện thiện xảo được trao truyền không gián đoạn từ thời Đức Phật, khoảng 2500 năm trước. Bởi thế, rất nhiều người đã chứng ngộ nhờ trí tuệ và phương tiện thiện xảo. Giác ngộ không phải khả năng giả thuyết; trí tuệ và phương tiện thiện xảo này đã và đang được sử dụng với thành công lớn lao.</p>
<p style="text-align: justify;">Dòng truyền thừa phương tiện thiện xảo và trí tuệ vẫn còn cho đến nay, và chúng ta có cơ hội là một phần của nó. Chính chúng ta có thể thực hành trong dòng truyền thừa này và trải qua những lợi lạc từ đó. Nếu nó từng bị gián đoạn, sẽ thật khó để tái tạo một dòng như thế.</p>
<p style="text-align: justify;">Thành ngữ Tây Tạng có câu:</p>
<p style="text-align: justify;"><em>“Pháp không ph</em><em>ả</em><em>i s</em><em>ở</em><em> h</em><em>ữ</em><em>u c</em><em>ủ</em><em>a ai c</em><em>ả</em><em>; n</em><em>ó</em><em> l</em><em>à</em><em> t</em><em>à</em><em>i s</em><em>ả</em><em>n c</em><em>ủ</em><em>a b</em><em>ấ</em><em>t k</em><em>ỳ</em><em> ai th</em><em>ự</em><em>c h</em><em>à</em><em>nh n</em><em>ó</em><em>”.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Nó không phải tài sản cá nhân của bất kỳ vị Thầy nào hay nhóm người đặc biệt nào. Nếu vị Thầy không thực hành, nó không thuộc về vị Thầy, bởi vì Pháp không phải là một nghi lễ trống rỗng. Giống như vậy, nó không phải là tài sản của nhóm người nào, bởi nó không giống như triết học Cộng sản hay tương tự. Nó thuộc về bất kỳ ai thực hành. Bất kỳ cá nhân nào thực hành Pháp sẽ được cải thiện bởi Pháp. Chính bạn có thể là người tận dụng tối đa Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Pháp nh</strong><strong>ư</strong><strong> là [đ</strong><strong>ố</strong><strong>i t</strong><strong>ượ</strong><strong>ng] </strong><strong>Quy y</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Mọi giáo lý Phật Đà có hai đặc điểm. Đầu tiên chúng phải là một phương thuốc, hay cách đối trị với các cảm xúc phiền não gây ra khổ đau cho chúng sinh. Chúng cần làm giảm những cảm xúc phiền não mà chúng sinh trải qua, và một cách tuyệt đối tiêu diệt mọi nguyên nhân. Giáo lý Phật Đà cũng cần cung cấp các bước nhờ đó hữu tình chúng sinh tiến lên các cõi cao hơn, và một cách tuyệt đối giải thoát khỏi khổ đau luân hồi và vòng sinh tử.</p>
<p style="text-align: justify;">Các giáo lý cần cung cấp nơi nương tựa theo cả hai cách. Bất kỳ điều gì hòa hợp với hai đặc điểm này là giáo lý Phật Đà. Người ta cũng nói rằng ngoài giáo lý của Phật, những giáo lý như vậy không thể được tìm thấy.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Pháp c</strong><strong>ủ</strong><strong>a </strong><strong>Kinh đi</strong><strong>ể</strong><strong>n</strong><strong> và </strong><strong>Ch</strong><strong>ứ</strong><strong>ng ng</strong><strong>ộ</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Như Ngài Vasubandhu nói trong <em>Abhidharmakosa</em>, giáo lý của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chia thành hai loại: Pháp của Kinh điển và Pháp của Chứng ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Khía cạnh Kinh điển của Phật Pháp được duy trì bởi sự nghiên cứu, bao gồm việc giảng dạy, lắng nghe, biên soạn và tranh luận. Điều này liên quan đến cả <em>che</em>, trong tiếng Tạng nghĩa là giải thích Pháp và <em>nyen</em> nghĩa là lắng nghe Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">Khía cạnh Chứng ngộ của Pháp bao gồm thiền định và thực sự chứng ngộ. Khái cạnh này xuất phát từ khía cạnh đầu tiên.</p>
<p style="text-align: justify;">Bằng cách tham gia vào các hoạt động này, chúng ta bảo tồn Pháp không chỉ trong các cuốn sách mà còn trong sự chứng ngộ của chúng sinh. Chúng ta duy trì truyền thống Pháp kinh điển và bảo tồn Pháp chứng ngộ. Nếu chúng ta đánh mất một trong hai, nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến điều còn lại; Pháp sẽ không trọn vẹn. Giống như việc điều này rất quan trọng với chúng ta, với thế hệ tương lai, điều quan trọng là có cơ hội tham gia và trở nên uyên bác cả về Pháp của Kinh điển và Pháp của Chứng ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giáo lý</strong><strong> và </strong><strong>Lu</strong><strong>ậ</strong><strong>n gi</strong><strong>ả</strong><strong>i</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung có hai kiểu Kinh điển Phật giáo. <em>Ka</em> trong tiếng Tạng là những lời dạy của chính Đức Phật và <em>tencho</em> là các luận giải của các đại học giả xứ Ấn Độ Và Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Ka</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Các giáo lý của Đức Phật gọi là <em>ka</em>. Nhưng <em>ka</em> không chỉ gồm những lời mà Đức Phật nói ra. Ví dụ, Bát nhã tâm kinh là <em>ka</em>, nhưng chính ngài Quan Âm đã giảng về Bát nhã tâm kinh, khi trả lời câu hỏi của ngài Xá Lợi Phất. Nguyên nhân nó được xếp vào <em>ka</em> là sự gia trì của Đức Phật được chuyển đến ngài Quan Âm, người trở thành phát ngôn viên của Đức Phật. Vì thế, Bát nhã tâm kinh là “<em>ka</em> khởi lên từ sự gia trì”.</p>
<p style="text-align: justify;">Có rất nhiều dịp khác mà Đức Phật không nói, nhưng âm thanh đến từ nhiều phần khác của thân ngài. Các giáo lý này được gọi là <em>chotrul gyi ka</em>, tức <em>ka</em> kỳ diệu.</p>
<p style="text-align: justify;">Chính Đức Phật gợi ý rằng khi các giáo lý của ngài được kết tập, chúng cần được bắt đầu bằng câu, “Tôi nghe như vầy …” Mọi giáo lý bắt đầu như thế đều là <em>ka</em>.</p>
<p style="text-align: justify;">Những lời dạy của Phật là thanh tịnh, hoàn hảo và an bình. Chúng hòa hợp với sự thật tương đối và tuyệt đối, chân thật, đúng đắn và là phương thuốc cho mọi căn bệnh. Chúng vượt khỏi mọi so sánh.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Tencho</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Nghĩa đen của từ <em>tencho</em> trong tiếng Tạng [tiếng Phạn là shastra] là “chỉ ra và chuyển hóa”. Khi bạn được chỉ ra rõ ràng cách thức mọi thứ thực sự là, tâm bạn được chuyển hóa. Sự ngu dốt chuyển hóa thành giác tính, tiêu cực thành tích cực. Vì thế, mục đích của <em>tencho</em> là chuyển hóa tinh tế tâm của đệ tử, và kết quả của <em>tencho</em> là bạn được bảo vệ khỏi những cõi thấp hơn.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Tencho</em> được viết bởi các học giả. Về Luận, người ta nói rằng bảy bậc trưởng lão chứng ngộ từ truyền thống Tiểu thừa gặp nhau và biên soạn bản <em>shastra</em> đầu tiên, <em>Chedrak Shedzo Chenmo</em>. Để được phép biên soạn một <em>shastra</em>, học giả, ít nhất cần phải hiểu năm ngành khoa học chính và năm ngành phụ.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm ngành chính gồm nghệ thuật, y học, ngôn ngữ, logic và triết học nội tâm.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm ngành phụ gồm đồng nghĩa, toán học, biểu diễn, thơ ca và biên soạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Chỉ người hiểu những ngành này mới có thể biên soạn luận giải về giáo lý Phật Đà. Bên cạnh đó, để có thể biên soạn một bản <em>shastra</em>, họ ít nhất phải chứng ngộ địa thứ nhất hay có thể giao tiếp với Bổn tôn, chẳng hạn Đức Văn Thù. Một cách lý tưởng, tác giả cần trực tiếp trải nghiệm <em>dharmata</em>, chân lý.</p>
<p style="text-align: justify;">Có khoảng một trăm bản <em>ka</em> (<em>Kangyur</em>) bằng tiếng Tạng và khoảng hai trăm bản <em>tencho</em> (<em>Tengyur</em>). Tất cả các bản <em>tencho</em> được viết bởi các đại học giả, những bậc uyên bác mọi ngành khoa học chính và phụ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>3. Tăng</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Nh</strong><strong>ữ</strong><strong>ng b</strong><strong>ậ</strong><strong>c v</strong><strong>ớ</strong><strong>i </strong><strong>ý đ</strong><strong>ị</strong><strong>nh</strong><strong> thi</strong><strong>ệ</strong><strong>n l</strong><strong>à</strong><strong>nh</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Những bậc nghiên cứu, quán chiếu và thiền định về giáo lý của Đức Phật, và ý định được đặt trên con đường Pháp và giác ngộ được gọi là Tăng [tiếng Tạng là <em>gendun</em>, tiếng Phạn là <em>Sangha</em>]. Từ <em>Sangha</em> nghĩa đen là “những bậc với ý định thiện lành”.</p>
<p style="text-align: justify;">Có hai kiểu đức hạnh: đức hạnh hướng về các hành động trong thế giới này, và đức hạnh tuyệt đối của việc thành tựu Chánh giác.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Quy y Tam B</strong><strong>ả</strong><strong>o</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Những người bình thường bị lạc trong sự chăm sóc và bảo vệ cái tôi và trong các cảm xúc phiền não. Dù đau đớn nào được gây ra bởi việc chăm sóc và bảo vệ cái tôi, đó là cách mà họ sống. Dù họ cố gắng nhiều lần, thái độ này không thể làm họ hạnh phúc hơn, và không giải thoát họ khỏi khổ đau.</p>
<p style="text-align: justify;">Gần như không thể với người thường để hiểu được rằng khả năng của việc buông bỏ cái tôi và làm giảm khổ đau, căng thẳng và hận thù mà chúng ta cảm thấy bên trong, có thể xuất hiện. Nó như thể bạn chắc hẳn rất điên rồ khi đề xuất như vậy. Tuy nhiên, mặt khác, rất rõ ràng là việc nuôi dưỡng và bảo vệ cái tôi là nguồn gốc của mọi khổ đau.</p>
<p style="text-align: justify;">Bởi vậy, con đường của bạn và con đường của chúng sinh thông thường trở nên khá khác biệt. Mặc dù bạn sống như một thành viên trong gia đình và chăm sóc từng thành viên, bạn vẫn nhận thấy bạn đang trở nên khác biệt với phần còn lại. Mặc dù bạn có thể kết hôn và đã thề sống với vợ/chồng, và mặc dù yêu thương và chăm sóc vẫn còn, bởi bạn làm việc với tâm, bạn sẽ nhận ra khoảng cách giữa bạn với vợ/chồng ngày càng lớn.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự tách biệt này không dựa trên kiểu thành kiến vào với bạn đời. Nó là kết quả của sự thấu suốt tăng lên mà bạn sở hữu như là kết quả của việc giải quyết vấn đề tâm. Trí tuệ bạn đang vun bồi nhìn ra không chỉ vấn đề của người khác mà còn cả vấn đề của bạn. Điều này liên quan đến việc nhìn ra cái khổ trong cuộc đời, và đâm thủng nguyên nhân của nó, thứ đang bám chấp vào cái tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta mong muốn làm việc với các vấn đề tâm lý và cảm xúc bằng cách áp dụng chánh Pháp. Vì thế, chúng ta nhận Đức Phật là người chỉ dẫn và Pháp là con đường, và chúng ta trở thành một phần của Tăng đoàn cao quý.</p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù tình yêu thương, sự chăm sóc và từ bi dành cho người khác tăng lên, và chúng ta vẫn muốn có ích với người khác hơn nữa, con đường của ta trở nên rõ ràng hơn. Vì thế, chúng ta quy y Tam Bảo một cách đúng đắn hơn. Đây là mục đích của việc nghiên cứu và thực hành của chúng ta; quy y một cách đúng đắn, không phải chỉ là nghi lễ. Chúng ta không quy y chỉ để đi theo người khác, mà để phát triển mối quan hệ cá nhân với các đối tượng quy y. Một cách tương đối, chúng ta quy Phật là người chỉ đường, Pháp là con đường và Tăng là những người đồng hành. Một cách tuyệt đối, chỉ có một sự quy y duy nhất, đó là giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Dzigar Kongtrul Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Nhóm Thuận Duyên</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <a href="https://www.google.com/url?sa=t&amp;rct=j&amp;q=&amp;esrc=s&amp;source=web&amp;cd=&amp;ved=2ahUKEwiMqfusxo6DAxV6t1YBHcM8BPwQFnoECCEQAQ&amp;url=https%3A%2F%2Fthuvienhoasen.org%2Fa15343%2Fphat-phap-va-tang&amp;usg=AOvVaw2Z3uSkmGtd1JbW-NMehYJS&amp;opi=89978449">Phật, Pháp và Tăng</a></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="https://thuvienhoasen.org/a15343/phat-phap-va-tang#_ftnref1">[1]</a> Mười hai hành động gồm: an trú trong Tushita, giáng sinh và nhập vào tử cung, chào đời, tinh thông nghệ thuật, tận hưởng phối ngẫu, từ bỏ thế giới, thực hành khổ hạnh, đạt đến điểm quan trọng của giác ngộ, chinh phục Ma vương, giác ngộ hoàn hảo, chuyển bánh xe giáo Pháp và thị hiện Niết Bàn cuối cùng. Xem <strong>Truy</strong><strong>ề</strong><strong>n th</strong><strong>ố</strong><strong>ng Nyingma c</strong><strong>ủ</strong><strong>a Ph</strong><strong>ậ</strong><strong>t gi</strong><strong>á</strong><strong>o T</strong><strong>â</strong><strong>y T</strong><strong>ạ</strong><strong>ng</strong>, quyển II, trang 169, Dudjom Rinpoche.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="https://thuvienhoasen.org/a15343/phat-phap-va-tang#_ftnref2">[2]</a> Các thế lực ma quỷ trong cõi địa ngục.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="https://thuvienhoasen.org/a15343/phat-phap-va-tang#_ftnref3">[3]</a> Xem <strong>Kho tàng các ph</strong><strong>ẩ</strong><strong>m tính</strong><strong> qu</strong><strong>ý</strong><strong> gi</strong><strong>á</strong>, Phụ lục 5.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="https://thuvienhoasen.org/a15343/phat-phap-va-tang#_ftnref4">[4]</a> Bốn sự vô úy là (1) Vô úy trong kiến thức của tất thảy mọi vật; (2) Vô úy trong kiến thức của sự ngừng mọi lỗi lầm; (3) Vô úy để tuyên bố dứt khoát rằng các hiện tượng ngăn cản con đường không trở thành thứ gì khác; (4) Vô úy rằng con đường từ bỏ nhờ đó mọi đặc tính hoàn hảo sẽ đạt được, vừa được chứng ngộ.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/quy-y-tam-bao/phat-phap-va-tang-2/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Những câu hỏi thú vị về Đức Phật</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/nhung-cau-hoi-thu-vi-ve-duc-phat/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/nhung-cau-hoi-thu-vi-ve-duc-phat/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 02 Nov 2015 05:12:35 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Quy y Tam Bảo]]></category>
		<category><![CDATA[Tam Bảo]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức mới]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6319</guid>
		<description><![CDATA[Từ khi đức Phật đản sinh đến thành đạo Thân thế của Đức Phật như thế nào? Đức Phật Thích Ca Mâu xuất thân là một Thái tử, tên Tất-Đạt-Đa, dòng họ Cồ Đàm, Vương tộc Thích Ca, thuộc đẳng cấp Sát-đế-lợi, con vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma-Da. Đức Phật đản sinh vào ngày? Ngài sinh vào ngày&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/tin-tuc/nhung-cau-hoi-thu-vi-ve-duc-phat/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong>Từ khi đức Phật đản sinh đến thành đạo<br />
</strong><br />
<em>Thân thế của Đức Phật như thế nào?<br />
</em><br />
Đức Phật Thích Ca Mâu xuất thân là một Thái tử, tên Tất-Đạt-Đa, dòng họ Cồ Đàm, Vương tộc Thích Ca, thuộc đẳng cấp Sát-đế-lợi, con vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma-Da.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Đức Phật đản sinh vào ngày?<br />
</em><br />
Ngài sinh vào ngày rằm tháng tư năm 624 trước Tây lịch (theo Nam tông); mùng tám tháng tư (theo Bắc tông) tại vườn Lâm-tỳ-ni, nước Ca-tỳ-la-vệ.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Hoàn cảnh của đức Phật trước khi xuất gia?<br />
</em><br />
Bảy ngày sau khi Thái tử đản sanh, hoàng hậu Ma-Da từ trần. Khi lớn lên, Ngài đã có tư tưởng muốn thoát ly, tầm đạo nhưng theo lệnh vua cha, Ngài cưới công chúa Da-Du-Đà-La là con vua Thiện Giác ở nước Kosala. Thái tử và công chúa Da-Du-Đà-La có một người con trai là La-Hầu-La.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguyên nhân khiến đức Phật xuất gia tầm đạo?<br />
</em><br />
Thái tử thấy bốn cảnh: Già, bệnh, chết và vị Tu Sĩ ở bốn cửa thành sau những lần đi dạo:</p>
<p style="text-align: justify;">- Cửa thành phía Đông: Gặp một người già</p>
<p style="text-align: justify;">- Cửa thành phía Nam: Gặp một người bệnh</p>
<p style="text-align: justify;">- Cửa thành phía Tây: Gặp một người chết</p>
<p style="text-align: justify;">- Cửa thành phía Bắc: Gặp một vị Tu sĩ, Ngài quyết định rời bỏ ngôi báu, cung điện, vợ con…, để lên đường tầm đạo.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Đức Phật yêu cầu Vua cha Tịnh Phạn bốn điều gì ?<br />
</em><br />
- Làm sao cho con trẻ mãi không già.</p>
<p style="text-align: justify;">- Làm sao cho con mạnh mãi không đau</p>
<p style="text-align: justify;">- Làm sao cho con sống hoài không chết</p>
<p style="text-align: justify;">- Làm sao cho mọi người hết khổ<br />
<em><br />
Sự xuất gia của đức Phật diễn ra như thế nào?<br />
</em><br />
- Vào lúc nửa đêm, Thái tử vào phòng từ giã vợ đẹp con ngoan.</p>
<p style="text-align: justify;">- Ngài cùng Xa Nặc hướng về phía Đông vượt thành xuất gia.</p>
<p style="text-align: justify;">- Vượt dòng sông A-Nô-Ma, Ngài tự cạo bỏ râu tóc và khoác áo Sa môn.</p>
<p style="text-align: justify;">- Ngài xuất gia vào ngày mùng 8 tháng 2 âm lịch.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Từ khi đức Phật thành đạo đến Niết Bàn<br />
</strong><br />
<em>Quá trình năm năm tầm đạo của đức Phật?<br />
</em><br />
- Tại Tỳ Xá Ly, Thái tử tham học với Đạo sư A-La-La. Ngài đã chứng thiền Vô Sở Hữu Xứ.</p>
<p style="text-align: justify;">- Tại Vương Xá Thành, Thái tử tham học với Đạo sư Uất-Đầu-Lam-Phất. Ngài đã chứng quả vị Phi Tưởng phi Phi Tưởng Xứ.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Còn sáu năm tu khổ hạnh?<br />
</em><br />
Có hai phương pháp khổ hạnh:</p>
<p style="text-align: justify;">- Phương pháp hướng nội: Nghiến răng, chặn lưỡi trên nóc họng, kiềm hãm ý niệm bất thiện bằng ý niệm thiện.</p>
<p style="text-align: justify;">- Phương pháp hướng ngoại: Chỉ đứng và ngồi chứ không nằm. Khi cần nằm thì nằm trên gai nhọn.</p>
<p style="text-align: justify;">Mùa đông: Mặc toàn giẻ rách, vải lượm tử thi, rơm cỏ, da súc vật khô,…</p>
<p style="text-align: justify;">Mùa hè: Ban ngày sống dưới ánh nắng mặt trời, ban đêm sống trong rừng rậm…</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Phương pháp sống lúc này của đức Phật?<br />
</em><br />
Nhận thấy hành khổ hạnh không kết quả, Ngài đã thọ dụng bát cháo sữa của cô bé Sujata, trở lại con đường trung đạo để tu hành.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Đức Phật có phương pháp Thiền định như nào?<br />
</em><br />
Thái tử đã ngồi nhập định suốt 49 ngày đêm dưới cội Bồ-đề. Phương pháp hành thiền đưa đến giác ngộ gồm bốn giai đoạn nhập định là: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền. Trong đêm thứ 49 Ngài chứng được Tam minh (tức là Túc mạng minh, Thiên nhãn minh và Lậu tận minh). Lúc đó nhằm ngày mùng 8 tháng 12 âm lịch, khi ấy Ngài 30 tuổi.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Người đệ tử đầu tiên của Đức Phật là ai?<br />
</em><br />
Sau khi thành đạo người đầu tiên Đức Phật nghĩ đến để dạy đạo là hai vị thầy trước đây: A - La - La và Uất - Đầu - Lam - Phất. Nhưng họ đã chết.</p>
<p style="text-align: justify;">Tiếp theo Ngài nghĩ đến năm người bạn đồng tu tại vườn Nai (Lộc Uyển). Mấy người bạn ấy là các ông: Kiều Trần Như, Ác Bệ Thập Lực, Ma Ha Nam và Bạc Đề. Năm vị này là đệ tử đầu tiên của Đức Phật.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Người đệ tử cuối cùng của đức Phật là ai?<br />
</em><br />
Ông Phạm chí tên Tu Bạt Đà La đã 120 tuổi là người đệ tử cuối cùng của Đức Phật.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Có mấy hạng đệ tử của đức Phật?<br />
</em><br />
Có bốn hạng đệ tử. Đó là:</p>
<p style="text-align: justify;">- Tỳ Kheo</p>
<p style="text-align: justify;">- Tỳ Kheo Ni</p>
<p style="text-align: justify;">- Ưu Bà Tắc</p>
<p style="text-align: justify;">- Ưu Bà Di</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Người cúng dường sau cùng cho đức Phật là ai?<br />
</em><br />
Ông Thuần Đà là người sau cùng dâng cúng dường Đức Phật một bát cháo nấm.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Bài Pháp đầu tiên mà đức Phật thuyết giảng là bài nào?<br />
</em><br />
Bài Pháp đầu tiên của Đức Phật là Tứ Diệu Đế, thuyết cho năm người bạn đồng tu tại vườn Nai (Lộc Uyển). Tứ Diệu Đế: nhận định đời là khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường diệt khổ.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Bài pháp cuối cùng?<br />
</em><br />
Bài thuyết Pháp cuối cùng của Đức Phật là bài Kinh Di Giáo.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Năm thời Kinh đức Phật thuyết giảng là gì?<br />
</em><br />
- Kinh Hoa Nghiêm</p>
<p style="text-align: justify;">- Kinh A Hàm</p>
<p style="text-align: justify;">- Kinh Phương Đẳng</p>
<p style="text-align: justify;">- Kinh Bát Nhã</p>
<p style="text-align: justify;">- Kinh Pháp Hoa</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Sự hóa độ của đức Phật bao gồm những gì?<br />
</em><br />
- Hóa độ theo thứ lớp căn cơ</p>
<p style="text-align: justify;">- Hóa độ tùy phương tiện</p>
<p style="text-align: justify;">- Hóa độ theo tinh thần bình đẳng</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Hình thành Tam Bảo được hình thành khi nào?<br />
</em><br />
Tam Bảo được hình thành từ khi Đức Phật thuyết pháp và thâu nhận năm vị đệ tử đầu tiên tại Vườn Nai. Lúc bấy giờ có Phật, Pháp và Tăng.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Đức Phật nhập Niết Bàn khi nào?<br />
</em><br />
Khi phước duyên hoàn mãn, Đức Phật đã 80 tuổi. Ngài quyết định nhập Niết Bàn tại rừng Sa-la ở xứ Câu –ly, cách thành Ba-la-nại chừng 120 dặm. Lúc ấy ngày rằm tháng hai âm lịch năm 544.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/nhung-cau-hoi-thu-vi-ve-duc-phat/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Cuộc Đời của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/cuoc-doi-cua-duc-phat-thich-ca-mau-ni-2/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/cuoc-doi-cua-duc-phat-thich-ca-mau-ni-2/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 02 Nov 2015 05:03:16 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Quy y Tam Bảo]]></category>
		<category><![CDATA[Tam Bảo]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức mới]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6316</guid>
		<description><![CDATA[Lời giới thiệu Theo sự xác định niên đại truyền thống, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Shakya thub-pa), còn được gọi là Đức Phật Cồ Đàm (Gau-ta-ma), sống trong khoảng thời gian từ năm 566 đến 485 trước Công Nguyên ở miền Trung Bắc Ấn Độ. Các nguồn tài liệu về Phật giáo có rất nhiều bản tường thuật&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/tin-tuc/cuoc-doi-cua-duc-phat-thich-ca-mau-ni-2/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<h2 class="h3" style="text-align: justify;"></h2>
<h2 class="h3" style="text-align: justify;"><strong>Lời giới thiệu</strong></h2>
<p style="text-align: justify;">Theo sự xác định niên đại truyền thống, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (<em>Shakya thub-pa</em>), còn được gọi là Đức Phật Cồ Đàm (<em>Gau-ta-ma</em>), sống trong khoảng thời gian từ năm 566 đến 485 trước Công Nguyên ở miền Trung Bắc Ấn Độ. Các nguồn tài liệu về Phật giáo có rất nhiều bản tường thuật khác nhau về cuộc đời của Ngài, theo thời gian, lại có thêm những chi tiết dần dần xuất hiện. Vì những tài liệu văn học Phật giáo đầu tiên chỉ được viết sau ba thế kỷ từ khi Đức Phật nhập diệt, khó mà biết chắc độ chính xác của các chi tiết tìm thấy trong các bài tường thuật này. Hơn nữa, chỉ vì một số chi tiết trong dạng văn bản xuất hiện muộn hơn các chi tiết khác, ta không có đủ lý do để coi nhẹ giá trị của chúng. Nhiều chi tiết có thể đã được tiếp tục truyền miệng sau khi các chi tiết khác đã được viết ra.</p>
<p style="text-align: justify;">Hơn nữa, các tiểu sử truyền thống của các đạo sư Phật giáo vĩ đại, gồm cả chính Đức Phật, thường được biên soạn vì mục đích giáo huấn, chớ không phải để lưu trữ tài liệu lịch sử. Cụ thể hơn, tiểu sử của các đạo sư vĩ đại đã được viết theo cách để giảng dạy và truyền cảm hứng cho các Phật tử đang theo đuổi con đường tâm linh, đi đến sự giải thoát và giác ngộ. Vì vậy, để có được lợi lạc từ câu chuyện về cuộc đời của Đức Phật, chúng ta cần hiểu câu chuyện theo bối cảnh này và phân tích các bài học mà ta có thể học hỏi được từ đó.</p>
<h2 class="h3" style="text-align: justify;"><strong>Nguồn gốc tài liệu</strong></h2>
<p style="text-align: justify;">Các nguồn tài liệu sớm nhất về cuộc đời của Đức Phật bao gồm, trong phạm vi kinh điển Phật Giáo Nguyên Thủy, một vài bản kinh bằng tiếng Pali từ <em>Kinh Trung A Hàm</em> (<em>The Collection of Middle -Length Discourses</em>, tiếng Pali: <em>Majjhima Nikaya</em>) và từ các tông phái Tiểu thừa khác nhau, một số bản kinh về Giới Luật, liên quan đến nội quy giới luật của tu viện. Tuy vậy, mỗi một bản kinh này chỉ nêu lên những mảnh nhỏ về cuộc đời của Đức Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Bản tường thuật đầu tiên mở rộng hơn xuất hiện trong bộ thi phẩm Phật giáo vào cuối thế kỷ thứ hai trước Công Nguyên, như <em>Kinh Đại Sự</em> (<em>Great Matters</em>, tiếng Phạn: <em>Mahavastu</em>) của trường phái Đại Chúng Bộ (Mahasanghika school) thuộc Tiểu thừa. Tuy không thuộc về <em>Tam Tạng Kinh Điển</em> (<em>sDe-snod gsum</em>,tiếng Phạn: <em>Tripitaka</em>, <em>Three Baskets</em>), bản văn này đã bổ sung các chi tiết, ngoài <em>Tam Tạng Kinh Điển</em> (<em>sDe-snod gsum</em>, tiếng Phạn: <em>Tripitaka</em>, <em>Three Baskets</em>), chẳng hạn như Đức Phật sanh ra là thái tử trong một gia đình hoàng tộc. Một thi phẩm khác xuất hiện trong kinh văn của trường phái Nhất Thiết Hữu Bộ, thuộc về Tiểu thừa là: <em>Phổ Diệu Kinh</em> (<em>The Extensive Play Sutra</em>, tiếng Phạn:<em>Lalitavistara Sutra</em>). Các bản kinh Đại thừa về sau của tác phẩm này (<em>rGya-cher rol-pa’i mdo</em>) đã mượn và trau chuốt thêm chi tiết dựa vào bản trước, ví dụ bằng cách giải thích rằng Đức Thích Ca Mâu Ni đã giác ngộ rất lâu từ trước, và việc hóa thân làm Thái Tử Tất Đạt Đa chỉ nhằm để chứng minh con đường đạt được giác ngộ, để hướng dẫn chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Cuối cùng, một số trong các bản tiểu sử này được đưa vào <em>Tam Tạng Kinh Điển</em>. Nổi tiếng nhất là bản <em>Huyền Thoại về Cuộc Đời của Đức Phật</em> (<em>Deeds of the Buddha</em>, <em>Sangs-rgyas-kyi spyod-pa zhes-bya-ba’i snyan-ngag chen-po</em>, tiếng Phạn: <em>Buddhacarita</em>) do nhà thơ Ashvaghosha (<em>rTa-dbyangs</em>) viết vào thế kỷ thứ nhất của Công Nguyên. Các bản văn khác còn xuất hiện muộn hơn trong các Mật điển, như trong Chakrasamvara (‘ <em>Khor-lo bde-mchog</em>). Ở đây, chúng ta tìm thấy sự tường thuật rằng trong khi xuất hiện như Đức Thích Ca Mâu Ni, thuyết giảng <em>Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa</em> (<em>Sutras on Far-Reaching Discriminating Awareness, Sher-phyin mdo</em>, <em>Prajnaparamita Sutras</em>, <em>Perfection of Wisdom Sutras</em>), Đức Phật đồng thời hóa thân thành Đức Kim Cương Trì (Vajradhara) và dạy Mật điển.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ mỗi bản tường thuật, chúng ta có thể học hỏi được điều gì đó và có được nguồn cảm hứng. Tuy nhiên, chủ yếu là ta hãy xem xét các bản văn mô tả Đức Phật lịch sử.</p>
<h2 class="h3" style="text-align: justify;"><strong>Đản Sinh, Cuộc Đời Niên Thiếu và Tâm Xả Ly</strong></h2>
<p style="text-align: justify;">Theo những bản tường thuật sớm nhất thì Đức Thích Ca Mâu Ni (<em>Shakya thub-pa</em>) được sinh ra trong một gia đình chiến binh, quý tộc giàu sang ở nước Thích Ca (Shakya), có thủ đô là thành Ca Tỳ La Vệ (<em>Kapilavastu</em>, <em>Ser-skya’i gnas</em>), nằm ở biên giới giữa Ấn Độ và Nepal ngày nay. Không có sự đề cập về việc Ngài sanh ra là thái tử trong một gia đình hoàng tộc. Chỉ trong những bản tường thuật sau này mới nói đến việc Ngài sanh ra là thái tử và có tên là Tất Đạt Đa (<em>Siddhartha</em>,<em>Don-grub</em>). Phụ thân ngài là Tịnh Phạn (Shuddhodana, <em>Zas gtsang-ma</em>). Trong các văn bản về sau, danh tánh mẫu thân của Ngài là Ma Gia (Maya-devi, <em>Lha-mo sGyu-‘ phrul-ma</em>) cũng xuất hiện, cũng như tường thuật về việc Đức Phật được thụ thai một cách thần kỳ trong giấc mơ, bà Ma Gia thấy con voi trắng sáu ngà đi vào bên hông bà và lời tiên tri của nhà hiền triết A Tư Đà (Asita), rằng đứa bé sẽ trở thành một ông vua vĩ đại, hoặc một nhà hiền triết cao quý. Về sau, cũng có việc mô tả sự đản sanh thanh tịnh của Đức Phật từ bên hông của mẹ ngài ở một nơi không xa thành Ca Tỳ La Vệ, trong vườn Lâm TỳNi (Lumbini Grove, <em>Lumbi-na’i tshal</em>), việc Ngài bước đi bảy bước lúc đản sanh và nói “ta đã đến nơi”, cùng với cái chết của mẹ ngài sau khi sanh ra ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Thời niên thiếu, Đức Phật sống một cuộc đời hoan lạc. Ngài lập gia đình và có một người con trai là La Hầu La (Rahula, <em>sGra-gcan ‘dzin</em>). Trong những bản văn về sau có ghi tên người vợ của ngài là Da Du Đà La (Yashodhara, <em>Grags ‘ dzin-ma</em>). Tuy nhiên, lúc hai mươi chín tuổi, Đức Phật từ bỏ cuộc sống gia đình và di sản hoàng tộc của mình, trở thành một người tầm đạo lang thang hành khất (<em>dge-sbyong</em>, tiếng Phạn: <em>shramana</em>).</p>
<p style="text-align: justify;">Điều quan trọng là hãy nhìn vào tâm xả ly của Đức Phật trong bối cảnh xã hội và thời điểm lúc bấy giờ. Khi trở thành người tầm đạo lang thang hành khất, Đức Phật đã không bỏ rơi vợ con mình, để họ sống đơn độc trong nghèo đói. Chắc chắn là họ đã được gia đình đông đúc giàu có của Ngài chăm sóc. Hơn nữa, việc Đức Phật thuộc về đẳng cấp chiến binh có nghĩa là chắc chắn một ngày nào đó, Ngài sẽ phải rời khỏi gia đình để ra trận mạc. Gia đình của một người chiến binh phải chấp nhận điều này, vì đây là bổn phận của người đàn ông. Những chiến binh trong thời Ấn Độ cổ đại không hề mang theo gia đình của họ đến các doanh trại.</p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù trận chiến có thể là để chống lại những kẻ thù bên ngoài, nhưng cuộc chiến thật sự là chống lại những kẻ thù bên trong chúng ta, và đây chính là cuộc chiến mà Đức Phật đã ra đi để chiến đấu. Đức Phật rời bỏ gia đình vì mục đích này, cho thấy đó là bổn phận của một người tầm đạo, hiến dâng cả cuộc đời mình để theo đuổi một mục đích. Tuy nhiên, trong thế giới hiện đại của chúng ta, nếu rời bỏ gia đình để trở thành người xuất gia và phát động trận chiến bên trong này, chúng ta cần phải bảo đảm rằng người nhà của mình sẽ được chăm sóc tốt. Điều này có nghĩa là không chỉ lo lắng cho nhu cầu của người hôn phối và con cái của mình, mà còn cho cha mẹ già của chúng ta nữa. Tuy nhiên, dù ta có rời bỏ gia đình hay không thì bổn phận của một Phật tử đi theo con đường tâm linh là làm giảm bớt đau khổ, bằng cách vượt qua sự say mê đối với các thú vui, như Đức Phật đã làm.</p>
<p style="text-align: justify;">Để vượt qua nỗi khổ, Đức Phật muốn hiểu rõ bản chất của sinh, lão, bệnh, tử, tái sinh, buồn phiền và vô minh. Một thời gian sau, một bản văn mở rộng hơn về điều này xuất hiện, qua tình tiết về Xa Nặc, người đánh xe ngựa, đưa Đức Phật du hành một chuyến qua thành phố. Khi Ngài trông thấy người bệnh, người già, người chết và tu sĩ khổ hạnh, Xa Nặc giải thích cho Ngài hiểu về những người này. Nhờ vậy, Đức Phật đã nhận định rõ ràng nỗi khổ thật sự mà mọi người phải trải qua và phương cách khả dĩ để thoát khổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Tình tiết liên quan đến việc nhận sự giúp đỡ của người đánh xe ngựa về con đường tâm linh tương quan với tình tiết về Arjuna trong cuốn <em>Bhagavad Gita</em> (<em>Srid-sgrub</em>), nghe người đánh xe ngựa của Ngài là Krishna (‘ <em>Dom-pa nag-po</em>) nói về sự cấp thiết đối với việc theo đuổi nghĩa vụ của một chiến binh như ngài, và chiến đấu trong một trận chiến đối nghịch với những người thân của Ngài. Trong cả hai trường hợp của Phật tử và tín đồ theo Ấn Độ giáo, chúng ta đều có thể thấy một ý nghĩa sâu sắc hơn của việc vượt qua khỏi những bức tường của cuộc sống thoải mái của mình, với những gì thân quen và không bao giờ từ bỏ bổn phận tìm ra chân lý. Trong mỗi trường hợp, có lẽ chiếc xe ngựa tiêu biểu cho cỗ xe của tâm thức dẫn đến sự giải thoát, và lời nói của người đánh xe thể hiện động lực thúc đẩy cỗ xe đó, cụ thể là chân lý về thực tại.</p>
<h2 class="h3" style="text-align: justify;"><strong>Tu Học và Giác Ngộ</strong></h2>
<p style="text-align: justify;">Là một người độc thân lang thang tầm đạo, Đức Phật đã tu học với hai vị thầy về các phương pháp để đạt đến những mức độ định tâm khác nhau (<em>bsam-gtan</em>, tiếng Phạn: <em>dhyana</em>) và định vô sắc. Mặc dù Ngài đã có thể đạt đến các trạng thái sâu xa của định tâm hoàn hảo, không còn trải nghiệm nỗi khổ thô trọng, hay ngay cả hạnh phúc tầm thường của thế gian, nhưng ngài không thấy thỏa mãn. Những trạng thái tâm thức cao hơn này chỉ mang lại sự vơi đi tạm thời, không phải là sự giải thoát vĩnh viễn đối với những cảm thọ ô trược, và chắc chắn không diệt được những nỗi khổ trầm luân, sâu xa hơn mà Ngài đã tìm cách vượt qua. Sau đó, Ngài hành trì pháp tu cực kỳ khổ hạnh với năm người bạn đồng tu, nhưng lối tu hành này cũng không loại bỏ được những vấn đề sâu sắc hơn, liên quan đến sanh tử luân hồi bất khống chế (‘ <em>khor-ba</em>, tiếng Phạn: <em>samsara</em>). Việc Đức Phật chấm dứt việc nhịn ăn sau sáu năm tu hành khổ hạnh bên bờ sông Ni Liên Thiền (Nairanjana River,<em>Chu-bo Nai-ranyja-na</em>), cùng với việc cô gái Tu Già Đa (Sujata, <em>Legs-par skyes-ma</em>) dâng cho Ngài một bát cơm sữa, chỉ xuất hiện trong các bản tường thuật về sau.</p>
<p style="text-align: justify;">Đối với chúng ta, tấm gương của Đức Phật cho thấy ta không nên chỉ thỏa mãn với việc tĩnh tâm hoàn toàn, hay đạt được cảm giác “thăng hoa” nhờ thiền định, không kể đến những phương tiện nhân tạo như chất ma túy. Đi vào một trạng thái hôn mê sâu xa, hoặc hành hạ hay trừng phạt bản thân cũng không phải là giải pháp. Chúng ta phải đi trọn con đường dẫn đến sự giải thoát và giác ngộ, không nên thỏa mãn với những phương tiện tâm linh không thể đưa ta đến những mục tiêu này.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi từ bỏ lối tu khổ hạnh, Đức Phật đã ngồi thiền một mình trong rừng già để chiến thắng nỗi sợ hãi. Bên trong sự sợ hãi là tâm ái ngã và sự bám chấp vào “cái tôi” không thể hiện hữu, thậm chí chúng còn mạnh hơn thái độ thôi thúc tìm kiếm các thú vui và giải trí tiềm ẩn bên trong. Vì vậy, trong tác phẩm <em>Pháp Luân của Vũ Khí Sắc Bén</em> (<em>Blo-sbyong mtshon-cha’i ‘khor-lo</em>) vào thế kỷ thứ 10 trước Công Nguyên, vị đạo sư người Ấn Độ Dharmarakshita (<em>Dharma-rakshi-ta</em>) đã sử dụng hình ảnh các con công đi lang thang trong rừng cây độc để tiêu biểu cho các vị bồ tát sử dụng và chuyển hóa những cảm xúc độc hại của tham sân si, để giúp họ vượt thoát tâm ái ngã và sự bám chấp lấy một “cái tôi” bất khả.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau nhiều công phu hành thiền, Đức Phật đã hoàn toàn giác ngộ lúc ngài ba mươi lăm tuổi. Các bản tường thuật về sau còn cung cấp các chi tiết về việc Ngài giác ngộ dưới một cây bồ đề (byang-chub-kyi shing) ở Bồ Đề Đạo Tràng (Bodh Gaya, rDo-rje gdan) ngày nay, sau khi đã ngăn chặn thành công các cuộc tấn công của Ma Vương (bDud). Vị Ma Vương ganh tỵ này đã cố gắng ngăn cản Đức Phật giác ngộ bằng cách biến hiện ra những hình ảnh đáng sợ hoặc cám dỗ, nhằm làm nhiễu loạn việc thiền định của Đức Phật dưới cội bồ đề.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo những bản tường thuật đầu tiên thì Đức Phật đã hoàn toàn giác ngộ bằng cách đạt được ba loại tri thức: tri thức toàn vẹn về tất cả các kiếp quá khứ của ngài, về nghiệp và sự tái sinh của tất cả chúng sinh, và Tứ Diệu Đế. Các bản tường thuật về sau còn giải thích rằng với việc giác ngộ, Đức Phật đã đạt được sự toàn trí.</p>
<h2 class="h3" style="text-align: justify;"><strong>Giảng Dạy và Thành Lập Tăng Đoàn</strong></h2>
<p style="text-align: justify;">Sau khi thành tựu giải thoát và giác ngộ, Đức Phật đã ngần ngại về việc chỉ dạy cho người khác phương cách để đạt được những thành tựu như thế. Ngài cảm thấy rằng sẽ không có ai hiểu được điều này. Tuy nhiên, các vị trời Phạm Thiên (Brahma, <em>Tshang-pa</em>) và Đế Thích (Indra,<em>dBang-po</em>) đã khẩn nài xin Ngài chỉ dạy cho. Theo các giáo huấn của Bà La Môn mà sau đó phát triển thành Ấn Độ giáo, Phạm Thiên là vị trời sáng tạo ra vũ trụ và Đế Thích là Vua của chư Thiên. Trong lời khẩn cầu của mình, Phạm Thiên nói với Đức Phật rằng thế gian này sẽ phải chịu nhiều đau khổ triền miên nếu Đức Phật không giảng dạy, và ít nhất cũng có một số người sẽ hiểu được lời của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Chi tiết này có thể là một yếu tố trào phúng cho thấy sự thù thắng của giáo huấn của Đức Phật, vượt qua các phương pháp truyền thống tâm linh của Ấn Độ trong thời của ngài. Xét cho cùng, nếu ngay cả những chư Thiên cao trọng nhất còn công nhận rằng thế giới cần những lời dạy của Đức Phật, vì chính họ còn thiếu phương tiện để giúp chúng sinh vĩnh viễn chấm dứt nỗi khổ; thì chúng ta là những đệ tử bình thường, còn cần những giáo huấn này nhiều hơn nữa. Hơn nữa, trong hình tượng của Phật giáo thì Phạm Thiên tiêu biểu cho sự kiêu mạn. Niềm tin sai lầm của vị trời này cho rằng mình là bậc sáng tạo toàn năng, tượng trưng cho mẫu mực của niềm tin sai lầm vào tự ngã tồn tại như một “ cái tôi” bất khả – cụ thể là một “cái tôi” có thể điều khiển hết mọi thứ trên đời. Niềm tin lầm lạc như vậy chắc chắn sẽ mang đến sự thất vọng và đau khổ. Chỉ có giáo huấn của Đức Phật về cách mỗi người chúng ta tồn tại như thế nào sẽ cống hiến phương cách đưa đến sự chân diệt của nỗi khổ thật sự và nguyên nhân thật sự tạo khổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Chấp nhận lời yêu cầu của Phạm Thiên và Đế Thích, Đức Phật đã đến Sa Nặc (Sarnath) và ở Vườn Lộc Uyển (Deer Park, <em>Ri-dags-kyi gnas</em>, tiếng Phạn: <em>Mrgadava</em>), Ngài đã dạy Tứ Diệu Đế cho năm người đồng môn của mình trước đây. Trong hình tượng của Phật giáo, nai tượng trưng cho sự nhu hòa, vì vậy, Đức Phật đã giảng dạy một phương tiện nhu hòa, tránh các cực đoan của chủ nghĩa khoái lạc và chủ nghĩa khổ hạnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Chẳng bao lâu sau, một số thanh niên ở Ba La Nại (Varanasi, <em>Va-ra-na-si</em>) gần đó cũng gia nhập theo Đức Phật làm khất sĩ lang thang, giữ lối sống độc thân nghiêm ngặt. Cha mẹ của những người này trở thành những đệ tử tại gia và bắt đầu thí thực cho đoàn khất sĩ. Khi có người nào trong tăng đoàn đã được đào tạo đầy đủ và có đủ khả năng thì Đức Phật gửi người ấy ra ngoài giảng dạy cho người khác. Bằng cách này, nhóm đệ tử khất sĩ theo Đức Phật nhanh chóng phát triển và chẳng bao lâu, họ đã định cư và hình thành những cộng đồng “tăng lữ” riêng biệt tại nhiều nơi.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Phật đã tổ chức những cộng đồng tăng lữ này theo các nguyên tắc thực tiễn. Các tăng sĩ, nếu chúng ta có thể dùng thuật ngữ này ngay từ đầu, có thể nhận những ứng viên gia nhập cộng đồng, nhưng họ phải tuân theo một số giới hạn nhất định để tránh việc va chạm với chính quyền thế tục. Vì vậy, Đức Phật không cho phép các tội phạm, những người phục vụ cho hoàng gia như trong quân đội chẳng hạn, những nô lệ chưa được trả tự do, và những người mắc bệnh truyền nhiễm như phong cùi gia nhập vào cộng đồng tăng lữ. Hơn nữa, những ai dưới hai mươi tuổi cũng không được chấp nhận. Đức Phật muốn tránh bất cứ sự rắc rối nào và bảo đảm sự tôn kính của dân chúng đối với cộng đồng tăng lữ và Phật pháp. Điều này cho chúng ta thấy rằng, là đệ tử của Đức Phật, chúng ta cần tôn trọng những phong tục địa phương và hành động với lòng tôn trọng, để dân chúng có một ấn tượng tốt đẹp về đạo Phật và nhờ vậy, họ sẽ tôn trọng Phật giáo.</p>
<p style="text-align: justify;">Không lâu sau đó, Đức Phật quay về vương quốc Ma Kiệt Đà (Magadha, <em>Yul ma-ga-dha</em>), nơi Bồ Đề Đạo Tràng tọa lạc. Ngài được Vua Tần Bà Sa La (Bimbisara, <em>gZugs-can snying-po</em>) <em>,</em> người trở thành một thí chủ và đệ tử của Đức Phật, mời đến thủ đô, thành Vương Xá (Rajagrha, <em>rGyal-po’i khab</em>) – ngày nay là Rajgir. Ở đó, những người bạn của Xá Lợi Phất (Shariputra, <em>Sha-ri’i bu</em>) và Mục Kiền Liên (Maudgalyayana, <em>Mo’u dgal-gyi bu</em>) cũng gia nhập vào tăng đoàn đang lớn mạnh của Đức Phật và trở thành một số trong những đệ tử thân cận nhất của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong vòng một năm sau khi đạt giác ngộ, Đức Phật đã trở về thành phố quê hương của Ngài là Ca Tỳ La Vệ, nơi con trai của Ngài là La Hầu La cũng gia nhập vào tăng đoàn. Trước đó, người em trai khác mẹ của Đức Phật là A Nan (Nanda, <em>dGa’-bo</em>) tuấn tú, cũng rời bỏ gia đình và gia nhập tăng đoàn. Phụ thân của Đức Phật, Vua Tịnh Phạn (Shuddhodana), rất buồn vì không còn ai nối dõi tông đường, nên nhà vua đã thỉnh cầu Đức Phật rằng trong tuơng lai, một người con trai trong gia đình phải có sự chấp thuận của cha mẹ mới được gia nhập tăng đoàn. Đức Phật hoàn toàn đồng ý. Điểm tường thuật này cho thấy không phải Đức Phật tàn nhẫn với cha của mình, mà cho thấy tầm quan trọng trong việc tránh tạo ra ác cảm đối với đạo Phật, đặc biệt là trong gia đình của chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Có một chi tiết xuất hiện sau này về việc Đức Phật gặp gỡ gia đình của Ngài là khi Ngài dùng thần thông để đến Cõi Trời Tam Thập Tam Thiên, hoặc theo một số tài liệu, là Cõi Trời Đâu Suất (Tushita, <em>dGa’-ldan</em>) để giảng dạy cho thân mẫu của Ngài, người đã tái sanh vào cõi này. Điều này cho thấy tầm quan trọng của lòng biết ơn và trả hiếu cho mẹ.</p>
<h2 class="h3" style="text-align: justify;"><strong>Sự Phát Triển của Tăng Đoàn</strong></h2>
<p style="text-align: justify;">Các cộng đồng tăng lữ của Đức Phật buổi ban đầu còn nhỏ, không quá hai mươi người. Mỗi cộng đồng tự trị và tuân theo ranh giới được đặt ra cho đường đi khất thực của các tăng sĩ. Hành động và quyết định của mỗi cộng đồng được thực hiện theo cách bỏ phiếu nhất trí trong nhóm để tránh sự bất hòa. Không ai được đặt để là người có quyền hành duy nhất. Thay vào đó, Đức Phật đã chỉ dẫn cho tăng chúng xem chính giáo pháp là quyền lực. Ngay cả chính giới luật tăng đoàn cũng có thể thay đổi, nếu thấy cần thiết, nhưng bất cứ sự thay đổi nào cũng phải dựa vào sự đồng thuận của cả cộng đồng.</p>
<p style="text-align: justify;">Vua Tần Bà Sa La đã đề nghị Đức Phật chấp nhận tục lệ của các nhóm khất sĩ khác, chẳng hạn như của Kỳ Na giáo (Jains, <em>gCer-bu-pa</em>) <em>,</em> tổ chức lễ Phát Lồ Sám Hối bốn kỳ mỗi tháng <em>(gso-sbyong, Skt. uposhadha).</em> Theo tục lệ này, các thành viên của cộng đồng tăng lữ sẽ tụ họp vào đầu mỗi quý trong mỗi tháng âm lịch để bàn luận về các giáo huấn. Đức Phật đã đồng ý, điều này cho thấy Ngài cởi mở với những đề nghị theo tục lệ của từng thời điểm. Thật ra thì Đức Phật đã tạo mô hình cho nhiều phương diện trong cộng đồng tâm linh và cấu trúc của các bài giảng của Ngài theo Kỳ Na giáo. Đại Cần Dũng (Mahavira), người sáng lập Kỳ Na giáo, đã sống trước Đức Phật khoảng nửa thế kỷ.</p>
<p style="text-align: justify;">Không lâu sau đó, Xá Lợi Phất (Shariputra) đã yêu cầu Đức Phật thành lập quy định về giới luật tăng đoàn. Tuy nhiên, Đức Phật đã quyết định chờ cho tới khi những vấn đề cụ thể phát sinh rồi mới lập một lời thệ nguyện để tránh sự tái diễn của một trường hợp tương tự như thế. Đức Phật đã sử dụng đường lối này đối với cả hai loại hành vi, những hành vi phá hoại tự nhiên, có hại cho người nào phạm phải, và những hành vi đạo đức trung lập bị ngăn cấm đối với một số người trong một số trường hợp, vì một số lý do nào đó. Vì vậy, những giới luật (<em>‘ dul-ba,</em>tiếng Phạn: <em>vinaya</em>) này rất thực dụng và được hình thành đặc biệt, với mối quan tâm chính của Đức Phật là để tránh các vấn đề và không tạo ra hành vi phạm giới.</p>
<p style="text-align: justify;">Dựa trên những giới luật này, Đức Phật lập ra việc tụng giới trong bốn kỳ tăng hội mỗi tháng, cùng với việc chư tăng công khai thừa nhận bất kỳ sự phạm giới nào. Việc trục xuất ra khỏi tăng đoàn sẽ xảy ra đối với những vi phạm nghiêm trọng nhất, ngoài ra thì người phạm giới chỉ phải trải qua thời gian thử thách. Vào thời gian sau, các kỳ họp như thế được tổ chức hai lần mỗi tháng.</p>
<p style="text-align: justify;">Tục lệ kế tiếp Đức Phật đề ra là việc an cư kiết hạ trong ba tháng mùa mưa (<em>dbyar-gnas,</em> tiếng Phạn: <em>varshaka</em>), trong suốt thời gian này, chư tăng phải ở một chỗ, tránh việc đi lại. Mục đích là để ngăn ngừa việc gây hại cho mùa màng khi chư tăng phải băng qua những cánh đồng, khi đường sá bị lũ lụt. Việc giữ gìn khóa an cư kiết hạ mùa mưa dẫn đến việc thiết lập các tu viện cố định. Một lần nữa, sự phát triển này xảy ra là để tránh bất kỳ sự tổn hại nào cho cộng đồng cư sĩ và có được sự tôn trọng của họ. Việc xây dựng các tu viện cố định cũng được chấp thuận vì đó là điều thực tế.</p>
<p style="text-align: justify;">Bắt đầu từ khóa an cư kiết hạ mùa mưa lần thứ hai trở đi, Đức Phật đã trải qua hai mươi lăm mùa an cư kiết hạ ở rừng Kỳ Viên (Jetavana,<em>rGyal-bu rgyal-byed-kyi tshal</em>) bên ngoài Xá Vệ (Shravasti, <em>gNyan-yod</em>) <em>,</em> thủ đô của vương quốc Câu Tát La (Koshala, <em>Ko-sa-la</em>). Ở đây, thương nhân Cấp Cô Độc (Anathapindada, <em>mGon-med zas-sbyin</em>) đã xây một tu viện cho Đức Phật và các tăng chúng của Ngài, và Vua Ba Tư Nặc (Prasenajit, <em>rGyal-po gSa-rgyal</em>) cũng bảo trợ thêm cho tăng đoàn. Tu viện tại Kỳ Thọ Cấp Cô Độc viên (Jetavana) là nơi nhiều sự kiện lớn đã xảy ra trong đời Đức Phật. Sự kiện nổi tiếng nhất là việc Ngài đánh bại các vị đạo trưởng của sáu trường phái ngoại đạo lớn vào thời của Ngài, trong một cuộc thi triển thần thông.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày nay, không ai trong chúng ta có thể thực hiện những thần thông điêu luyện. Tuy nhiên, việc Đức Phật sử dụng thần thông thay vì dùng lập luận để đánh bại các đối thủ của Ngài cho thấy rằng khi tâm trí của kẻ khác không cởi mở với lý luận, thì cách tốt nhất để thuyết phục họ về giá trị của sự hiểu biết của bản thân là chứng minh cho họ thấy trình độ thực chứng bằng việc làm và hành vi của mình. Có một câu ngạn ngữ trong tiếng Anh: “Hành động có tiếng vang lớn hơn lời nói”.</p>
<h2 class="h3" style="text-align: justify;"><strong>Thành Lập Ni Đoàn</strong></h2>
<p style="text-align: justify;">Trong sự nghiệp hoằng hóa sau này của Đức Phật, Ngài đã thiết lập một cộng đồng nữ tu ở Tỳ Xá Ly (Vaishali, <em>Yangs-pa-can</em>), theo lời thỉnh cầu của người dì của Ngài là bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề (Mahaprajapati, <em>sKye-dgu’i bdag-mo chen-mo</em>) <em>.</em> Lúc đầu, Ngài miễn cưỡng với việc khởi xướng một ni đoàn như vậy, nhưng rồi Ngài quyết định việc đó cũng có thể thực hiện được, nếu Ngài lập nhiều giới nguyện hơn cho chư ni, so với chư tăng. Khi làm như vậy, Đức Phật không có ý cho rằng nữ giới ít giữ kỷ luật hơn nam giới và cần phải điều phục tâm nhiều hơn bằng cách giữ nhiều giới hơn. Đúng hơn là Ngài e ngại việc thành lập một ni đoàn sẽ mang lại tai tiếng và giáo pháp của Ngài sẽ sớm chấm dứt. Trên hết, Đức Phật muốn tránh sự bất kính của quần chúng khắp nơi, vì vậy, ni đoàn cần phải vượt qua bất cứ sự nghi ngờ nào về các hành vi vô đạo đức.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy nhiên, nói một cách tổng quát thì Đức Phật đã ngần ngại trong việc thành lập giới luật và sẵn sàng cho xóa bỏ một số quy luật nhỏ hơn, nếu như chúng được xem là không cần thiết. Chính sách của Ngài cho thấy sự năng động của hai chân lý – chân lý sâu xa nhất và vẫn tôn trọng chân lý quy ước phù hợp với phong tục của địa phương. Mặc dầu trong chân lý sâu xa nhất thì không có vấn đề gì với việc lập ni đoàn; tuy nhiên, để tránh cho thường dân xem nhẹ Phật giáo thì cần phải có thêm giới luật cho chư ni. Theo chân lý sâu xa nhất thì dù xã hội có nói gì cũng không thành vấn đề; tuy nhiên, theo chân lý quy ước thì việc cộng đồng Phật giáo xứng đáng được công chúng kính trọng và tin tưởng là điều quan trọng. Vì vậy, trong thời đại và xã hội tân tiến, ở những nơi có thể có sự bất kính đối với đạo Phật nếu như có bất kỳ thành kiến nào xảy ra đối với chư ni hay phụ nữ nói chung, hoặc đối với bất kỳ nhóm người thiểu số nào vì phong tục của Phật giáo, thì noi theo tinh thần của Đức Phật, chúng ta sẽ sửa đổi những phong tục đó, để chúng phù hợp với tiêu chuẩn của thời đại.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau cùng, lòng khoan dung và bi mẫn là những nguyên tắc then chốt trong giáo huấn của Đức Phật. Thí dụ, Ngài đã khuyến khích các Phật tử mới, những người trước đây đã hỗ trợ cộng đồng tôn giáo khác, nên tiếp tục việc hỗ trợ này. Trong tăng thân cũng thế, Ngài cũng chỉ bảo các thành viên phải chăm sóc lẫn nhau. Ví dụ, nếu một vị tăng bị bệnh thì các vị tăng khác phải chăm sóc cho người đó, bởi vì tất cả đều là thành viên của gia đình Phật tử. Đây cũng là một giới luật quan trọng đối với tất cả các Phật tử tại gia.</p>
<h2 class="h3" style="text-align: justify;"><strong>Phương Pháp Giảng Dạy của Đức Phật</strong></h2>
<p style="text-align: justify;">Đức Phật dạy mọi người vừa bằng tấm gương sống của Ngài, vừa bằng các chỉ giáo của Ngài. Về các chỉ giáo, Ngài áp dụng hai phương pháp, tùy vào lúc Ngài đang thuyết giảng cho một nhóm hay một cá nhân. Trước các nhóm thính chúng, Đức Phật sẽ giảng giải theo hình thức thuyết pháp, thường lập lại từng điểm với những từ ngữ khác nhau, để thính chúng có thể nhớ kỹ hơn. Tuy nhiên, khi ban chỉ giáo cho các cá nhân, thường là sau buổi thọ trai mà một gia đình nào đó đã thỉnh mời Ngài và tăng chúng của Ngài, Đức Phật sẽ sử dụng cách tiếp cận khác. Ngài không bao giờ phản đối hay thách thức quan điểm của người nghe, mà sẽ chấp nhận lập trường của họ và nêu ra những câu hỏi để giúp người nghe làm sáng tỏ tư tưởng của họ. Bằng cách này, Đức Phật dẫn dắt người nghe cải thiện lập trường của họ và dần dần đạt được sự hiểu biết sâu xa hơn về thực tại. Một ví dụ là việc Đức Phật dẫn dắt một người kiêu hãnh thuộc đẳng cấp tu sĩ Bà La Môn hiểu rằng tính ưu việt không bắt nguồn từ đẳng cấp người đó được sinh ra, mà từ việc phát triển những phẩm chất tốt đẹp của họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Một ví dụ khác nữa là lời chỉ dẫn của Đức Phật đối với một bà mẹ tuyệt vọng, người đã mang xác đứa con của mình tìm đến Đức Phật và van Ngài hãy giúp cho đứa bé sống lại. Đức Phật bảo bà mẹ hãy mang đến cho Ngài một hạt giống mù tạt từ một ngôi nhà mà cái chết chưa bao giờ xảy ra, rồi Ngài sẽ xem có thể làm được gì để giúp con của bà. Người đàn bà đó đi hết từ nhà nọ đến nhà kia, nhưng gia đình nào cũng đều có người đã chết. Dần dần, bà nhận ra rằng mọi người đều phải chết và nhờ vậy, bà đã có thể bình tâm đem đứa con của mình đi hỏa táng.</p>
<p style="text-align: justify;">Phương pháp giảng dạy của Đức Thế Tôn cho chúng ta thấy rằng khi giúp người khác giải quyết vấn đề cá nhân, tốt nhất là đừng đối đầu với họ. Cách hữu hiệu nhất là giúp họ tự suy nghĩ cho chính họ. Tuy nhiên, đối với những nhóm người muốn học hỏi về giáo pháp thì chúng ta cần phải giải thích một cách thẳng thắn và rõ ràng.</p>
<h2 class="h3" style="text-align: justify;"><strong>Những Mưu Đồ Chống Lại Đức Phật và Ly Gián</strong></h2>
<p style="text-align: justify;">Bảy năm trước khi Đức Phật nhập niết bàn, người em họ đố kỵ của Ngài là Đề Bà Đạt Đa (Devadatta, <em>Lhas-byin</em>) đã mưu đồ đoạt quyền lãnh đạo tăng đoàn của Ngài. Tương tự như thế, Thái Tử A Xà Thế (Ajatashatru, <em>Ma-skyes dgra</em>) cũng âm mưu soán ngôi của cha là Vua Tần Bà Sa La, người cai trị xứ Ma Kiệt Đà. Vì vậy nên hai người cùng nhau bày mưu lập kế. Thái Tử A Xà Thế tìm cách mưu sát Vua Tần Bà Sa La, và cuối cùng thì nhà vua từ bỏ ngai vàng, truyền ngôi lại cho con trai của mình. Thấy được sự thành công của Thái Tử A Xà Thế, Đề Bà Đạt Đa đã nhờ thái tử ám sát Đức Phật, nhưng mọi mưu kế sát hại Ngài đều thất bại.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó, Đề Bà Đạt Đa cố tâm lôi kéo tăng chúng rời xa Đức Phật bằng cách tuyên bố rằng mình “ thánh thiện” hơn cả người anh họ của mình, và vì thế, đã đề nghị ra một hệ thống giới luật nghiêm nhặt hơn. Theo quyển “Thanh Tịnh Đạo” (<em>The Path of Purification, tiếng Pali: Visuddhimagga</em>) của đại sư Phật Âm (Buddhaghosa), một vị thầy của Phật Giáo Nguyên Thủy vào thế kỷ thứ Tư trước Công Nguyên, thì những đề nghị Đề Bà Đạt Đa đưa ra cho tăng sĩ bao gồm:</p>
<ul style="text-align: justify;">
<li>mặc y vá từ những vải rách,</li>
<li>chỉ mặc ba chiếc y mà thôi,</li>
<li>đi khất thực và không bao giờ nhận lời mời đi thọ trai,</li>
<li>không bỏ sót nhà nào khi đi khất thực,</li>
<li>dùng hết một lượt những thức ăn thọ bát được</li>
<li>chỉ ăn từ bình bát của mình</li>
<li>từ chối mọi thực phẩm khác,</li>
<li>chỉ sống trong rừng,</li>
<li>sống dưới tàng cây,</li>
<li>sống ngoài trời, không ở trong nhà,</li>
<li>chủ yếu là sống ở những khu mộ địa,</li>
<li>hài lòng với những nơi trú ngụ nào mình tìm được trong khi đi từ nơi này đến nơi khác,</li>
<li>ngủ ngồi, không bao giờ được ngủ nằm</li>
</ul>
<p style="text-align: justify;">Đức Phật nói rằng nếu tăng chúng nào muốn áp dụng thêm những giới luật này thì cũng được, nhưng Ngài không buộc ai phải làm như thế. Tuy vậy, một số tăng sĩ của Ngài đã chọn đi theo Đề Bà Đạt Đa, rời bỏ tăng đoàn của Đức Phật và lập tăng thân riêng của họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo Phật Giáo Nguyên Thủy thì các giới luật phụ trội do Đề Bà Đạt Đa đặt ra được gọi là mười ba hạnh đầu đà (<em>tiếng Pali: dhutanga</em>) <em>.</em>Truyền thống chư tăng sống trong rừng vẫn còn được tìm thấy, ví dụ ở Thái Lan ngày nay, dường như phát xuất từ lối thực hành này. Ngài Đại Ca Diếp (Mahakashyapa, ‘ <em>Od-bsrung chen-po</em>), đệ tử của Đức Phật, là hành giả nổi tiếng nhất về việc tuân theo giới luật nghiêm khắc này. Nhiều hình thức của giới luật này cũng được các vị khất sĩ (tiếng Phạn: <em>sadhu</em>) tuân theo, trong truyền thống Ấn Độ giáo. Việc thực hành của họ dường như là sự tiếp nối truyền thống của các khất sĩ lang thang tầm đạo vào thời Đức Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Đại thừa có một danh mục tương tự về mười hai hạnh đầu đà đặc thù (<em>sbyangs-pa’ispaceyon-tan, tiếng Phạn: dhutaguna</em>) <em>.</em> Danh mục này bỏ đi điều “không bỏ sót nhà nào khi đi khất thực”, thêm vào điều “mặc y đã bị vứt bỏ trong thùng rác”, gộp chung hai điểm “đi khất thực” và “chỉ ăn từ bình bát của mình” vào thành một. Các đại thành tựu giả Mật tông (<em>grub-thob chen-po, tiếng Phạn: mahasiddha</em>) của truyền thống Ấn Độ sau này đã tuân theo đa số những giới luật này. Các vị này có mặt trong cả hai tôn giáo, Phật giáo Đại thừa và Ấn Độ giáo.</p>
<p style="text-align: justify;">Việc tách ra khỏi truyền thống Phật giáo đã được củng cố, rồi thành lập một tăng đoàn khác – ví dụ, trong thời kỳ hiện đại, việc thành lập một trung tâm Phật giáo riêng biệt – không phải là vấn đề. Hành động này, tự bản thân nó không tạo ra một “sự ly gián trong cộng đồng tăng sĩ ”, một trong ngũ nghịch <em>(mtshams-med lnga)</em>. Tuy nhiên, Đề Bà Đạt Đa đã tạo ra sự ly gián và phạm vào một trọng tội như thế, bởi vì nhóm tăng sĩ tách ra và đi theo ông đã nuôi một ác ý tột cùng đối với cộng đồng tăng lữ của Đức Phật và chỉ trích họ kịch liệt. Theo một vài bản tường thuật thì ý đồ ly gián xấu xa này đã kéo dài đến vài thế kỷ.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="reference">[Về danh mục ngũ nghịch, xin xem: Bồ Tát Giới Trọng.]</span></p>
<p style="text-align: justify;">Việc tường thuật về sự ly gián này cho thấy Đức Phật cực kỳ khoan dung và không phải là người theo chủ nghĩa cơ bản. Nếu đệ tử của Ngài muốn áp dụng giới luật nghiêm khắc hơn những gì Ngài đã đặt ra cho họ thì điều đó cũng không sao; và nếu họ không muốn thì cũng được. Không ai bị bắt buộc phải thực hành những gì Đức Phật đã dạy. Ngay cả nếu một vị tăng hay vị ni nào muốn rời khỏi giáo đoàn thì cũng được. Tuy vậy, điều vô cùng tiêu cực là việc chia rẽ cộng đồng Phật giáo, đặc biệt là tách rời cộng đồng tăng ni thành hai hoặc nhiều nhóm, trong đó một nhóm hay cả hai lại có ác ý tột cùng với nhau, cố tâm làm mất uy tín hay hủy hoại nhau. Ngay cả việc tham gia vào một trong những bè phái xung đột này sau đó và tham dự vào chiến dịch thù hận đối với phe kia là điều cực kỳ có hại. Tuy nhiên, nếu một trong những nhóm này tham gia vào hành động phá hoại hoặc gây nguy hại, hay áp dụng giới luật tai hại, thì lòng từ bi nơi bạn sẽ kêu gọi mọi người cảnh giác về mối nguy hiểm khi gia nhập vào nhóm đó. Tuy nhiên, động cơ của bạn khi làm việc này phải không bao giờ trộn lẫn với tâm sân, hận, hoặc ý muốn trả thù.</p>
<h2 class="h3" style="text-align: justify;"><strong>Đức Phật Nhập Diệt</strong></h2>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù khi đã thành tựu giải thoát, Đức Phật đã vượt qua cái chết bình thường thiếu sự khống chế; tuy nhiên, ở tuổi tám mươi mốt, Đức Phật quyết định rằng việc dạy cho các đệ tử của Ngài hiểu về lẽ vô thường sẽ là điều lợi lạc, và Ngài đã rời bỏ thân xác của mình. Trước khi thực hiện điều này, Ngài đã cho thị giả của Ngài là A Nan (Ananda, <em>Kun-dga’-bo</em>) một cơ hội để thỉnh cầu Ngài sống và giảng dạy lâu hơn, nhưng A Nan đã không hiểu được sự gợi ý của Đức Phật. Điều này cho thấy rằng một vị Phật chỉ giảng dạy khi có sự thỉnh cầu, và nếu không ai thỉnh cầu hoặc quan tâm nữa thì Ngài sẽ đi nơi khác, nơi nào Ngài có thể tạo nhiều lợi lạc hơn. Sự hiện diện và giáo huấn của một vị thầy tùy thuộc vào các đệ tử.</p>
<p style="text-align: justify;">Thế rồi ở Câu Thi Na (Kushinagara, <em>Ku-sha’i grong-khyer, gNas rtsva-mchog</em>) <em>,</em> tại nhà của Thuần Đà (Chunda), Đức Phật lâm trọng bệnh sau khi thọ dụng bữa ăn do vị thí chủ này cúng dường Ngài và nhóm tăng sĩ của Ngài. Trong giờ phút cuối cùng, Đức Phật nói với các tăng sĩ rằng nếu họ có điều gì nghi ngờ, hoặc có những thắc mắc chưa có câu trả lời, thì họ nên dựa vào các giáo huấn của Ngài và nguyên tắc giới luật của họ. Những điều đó giờ đây sẽ là thầy của họ. Vì vậy, Đức Phật đã chỉ rõ rằng mỗi người phải giải đáp thắc mắc của mình từ những giáo huấn đó. Không một ai có thẩm quyền tuyệt đối để đưa ra câu trả lời. Thế rồi Đức Thế Tôn nhập diệt.</p>
<p style="text-align: justify;">Thuần Đà đã hoàn toàn quẫn trí khi nghĩ rằng mình đã đầu độc Đức Phật. Nhưng A Nan đã an ủi vị gia chủ này, nói rằng thật ra ông đã tạo nghiệp lực thiện hảo to lớn, hay “công đức” lớn khi cúng dường cho Đức Phật bữa ăn cuối cùng, trước khi Ngài nhập diệt.</p>
<p style="text-align: justify;">Lễ trà tỳ đã được cử hành cho Đức Phật, và xá lợi của Ngài được an vị trong các bảo tháp – đài kỷ niệm chứa đựng thánh tích – đặc biệt ở những nơi trở thành bốn thánh địa hành hương lớn cho Phật tử:</p>
<ul style="text-align: justify;">
<li>Lâm Tỳ Ni, nơi Đức Phật đản sanh,</li>
<li>Bồ Đề Đạo Tràng, nơi Đức Phật đạt giác ngộ,</li>
<li>Sa Nặc, nơi Ngài ban Giáo Pháp đầu tiên,</li>
<li>Câu Thi Na, nơi Ngài nhập diệt.</li>
</ul>
<h2 class="h3" style="text-align: justify;"><strong>Kết Luận</strong></h2>
<p style="text-align: justify;">Những truyền thống Phật giáo khác nhau có những sự tường thuật khác nhau về cuộc đời của Đức Phật. Sự khác biệt đó cho thấy mỗi truyền thống quan niệm như thế nào về Đức Phật và những gì ta có thể học được từ tấm gương của Ngài.</p>
<ul>
<li style="text-align: justify;">Những văn bản Tiểu thừa chỉ nói về Đức Phật lịch sử. Bằng cách nêu gương Ngài đã tu tập miên mật ra sao để đạt được giác ngộ, chúng ta sẽ học hỏi cách tự nỗ lực tu hành.</li>
<li style="text-align: justify;">Theo văn bản tổng quát của Đại Thừa thì Đức Phật đã đạt giác ngộ từ nhiều a tăng kỳ kiếp trước. Bằng cách thị hiện một cuộc đời với mười hai hạnh giác ngộ, Ngài đã dạy chúng ta rằng việc giác ngộ đòi hỏi sự tu tập mãi mãi vì lợi ích của tất cả chúng sinh.</li>
<li style="text-align: justify;">Theo bản tường thuật của Tối Thượng Du Già Mật Điển (anuttarayoga tantra), thì Đức Phật thị hiện là Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa (<em>The Sutra on Far-reaching Discriminateing Awareness</em>, <em>The Prajnaparamita Sutras)</em>, đồng thời vừa là Đức Kim Cang Trì (Vajradhara) giảng dạy Mật điển. Điều này cho thấy rằng pháp tu Mật tông hoàn toàn dựa vào giáo huấn Trung Luận (Madhyamaka) về không tướng (voidness).</li>
</ul>
<p><strong>By Alexander Berzin</strong><br />
<em>Tháng Hai, 2005, duyệt lại vào tháng Tư, 2007</em><br />
<em> Tenzin Dechen dịch, Lozang Ngodrub hiệu đính</em></p>
<p>Nguồn: http://www.berzinarchives.com/web/vi/archives/approaching_buddhism/teachers/lineage_masters/life_shakyamuni_buddha.html</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/cuoc-doi-cua-duc-phat-thich-ca-mau-ni-2/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Phật, Pháp và Tăng</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/phat-phap-va-tang/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/phat-phap-va-tang/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 16 Sep 2015 09:42:27 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Quy y Tam Bảo]]></category>
		<category><![CDATA[Tam Bảo]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5503</guid>
		<description><![CDATA[Đức Dzigar Kongtrul Rinpoche 1. PHẬT Đức Phật – bậc dẫn đường chân chính Trong các Kinh điển, Đức Phật nói rằng chúng ta cần xem bản thân là người bệnh, và Đức Phật là bác sĩ, và giáo lý là thuốc. Quan hệ của chúng ta với Đức Phật giống như một người bệnh với bác sĩ. Như khi&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/phat-phap-va-tang/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Rinpoche_Pecha-500x500.jpg"><img class="  wp-image-5506 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Rinpoche_Pecha-500x500-300x300.jpg" alt="Rinpoche_Pecha-500x500" width="386" height="386" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Đức Dzigar Kongtrul Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><b>1. PHẬT</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Đức Phật – bậc dẫn đường chân chính</b></p>
<p style="text-align: justify;">Trong các Kinh điển, Đức Phật nói rằng chúng ta cần xem bản thân là người bệnh, và Đức Phật là bác sĩ, và giáo lý là thuốc. Quan hệ của chúng ta với Đức Phật giống như một người bệnh với bác sĩ. Như khi chúng ta theo một chế độ ăn kiêng và uống thuốc theo đơn của bác sĩ, chúng ta nên theo những chỉ dẫn của Phật và áp dụng các giáo lý này. Bằng cách uống thuốc, chúng ta sẽ thu được cả những lợi ích tạm thời và dài hạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Căn bệnh mà chúng ta mắc phải là sự ngu dốt, những cảm xúc phiền não, nhận thức sai lệch và khổ đau. Bởi vì Đức Phật đã thoát khỏi mọi căn bệnh như thế, ngài thực sự là người chỉ dẫn đáng tin cậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Như trong các Kinh điển có nói, làm sao người ta, những kẻ trong hoàn cảnh khó khăn như chúng ta có thể giúp chúng ta thoát khỏi bãi cát lún? Giống như vậy, những người, không thể tự thoát khỏi vòng luân hồi không thể giải thoát chúng ta khỏi vòng luân hồi. Bởi thế, Đức Phật là người dẫn đường chân chính, và giáo lý là thứ thuốc hữu hiệu.</p>
<p style="text-align: justify;"><b><u>Sự giác ngộ của Phật</u></b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Quan điểm Tiểu thừa</b></p>
<p style="text-align: justify;">Theo quan điểm Tiểu thừa, Phật Thích Ca Mâu Ni thành tựu Chánh giác ở Bồ Đề Đạo Tràng bằng cách chinh phục mọi che chướng cảm xúc và nhận thức. Trong tiếng Tạng, một bậc giác ngộ là <i>sangye</i>. <i>Sang</i> nghĩa là tịnh hóa các cảm xúc phiền não (<i>nyondrip</i>) và che chướng nhận thức (<i>shedrip</i>). <i>Gye</i> nghĩa là sự tỉnh thức của trạng thái tràn đầy những phẩm tánh hoàn hảo của giác ngộ. Trạng thái tỉnh thức của Phật thoát khỏi mọi che chướng và sở hữu các phẩm tánh hoàn hảo của kiến thức, tâm từ, lòng bi mẫn và trí tuệ.</p>
<p style="text-align: justify;">Quan điểm Tiểu thừa nhìn nhận Phật Thích Ca Mâu Ni là một chúng sinh bình thường. Dĩ nhiên, phải công nhận rằng chúng sinh bình thường này rất phi thường, nhưng từ quan điểm này, ngài sở hữu những uẩn bình phàm.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Quan điểm Đại thừa</b></p>
<p style="text-align: justify;">Theo Đại thừa, Phật Thích Ca Mâu Ni giác ngộ trong cõi Akanishtha, cõi trời cao nhất – một cõi Phật, không thể nhìn thấy bởi người thường.</p>
<p style="text-align: justify;">Với lòng từ bi, vì lợi ích của người khác, ngài tái sinh trong cõi người và “giả vờ” trải qua toàn bộ quá trình của “mười hai hành động<a href="http://thuvienhoasen.org/p39a15343/6/phat-phap-va-tang#_ftn1">[1]</a>,” bao gồm cả hành động giác ngộ dưới tán Bồ đề. Bởi Phật đã hoàn toàn giác ngộ, ngài thoát khỏi mọi trải nghiệm của luân hồi bởi vì ngài không bị trói buộc bởi các uẩn thông thường. Ngài chỉ hiển bày các uẩn này để chúng sinh bình phàm có thể nhận thấy và đưa ra một tấm gương về con đường giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Phật giác ngộ nhờ con đường Bồ Tát, con đường mà ngài đã trải qua từ đầu đến cuối. Ngài nói rằng với ngài điểm khởi đầu của con đường bồ đề tâm là trong cõi địa ngục. Ngài đang kéo chiếc xe bò với một người khác, và cả hai đều bị tra tấn dữ dội. Phật nghĩ rằng, “Tại sao tôi không nhận lấy tất cả nghiệp này, tại sao không trở thành đối tượng dày vò và giải thoát cho người kia?” Ngài bảo các vị <i>yama</i><a href="http://thuvienhoasen.org/p39a15343/6/phat-phap-va-tang#_ftn2">[2]</a>, những kẻ đang tra tấm ngài, hãy để điều này xảy ra. Nhưng họ nói, “Mọi người đều có nghiệp riêng! Ông không thể giải thoát bất kỳ ai khỏi nghiệp riêng của họ,” và đánh vào đầu ngài bằng cái búa sắt. Phật chết, nhưng bởi vì nghiệp quả tốt lành mà ước nguyện của ngài tạo ra, ngài ngay lập tức được giải phóng khỏi cõi địa ngục đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài đã giác ngộ ở Akanishtha; sau đó ngài ở Tushita, một cõi Phật nơi mà Phật Vị lai, ngài Di Lặc hiện tại an trụ. Khi thời gian chín muồi, và mọi người thích hợp để một vị Phật tái sinh trong thế giới này, ngài được thụ thai trong tử cung người mẹ.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Sự xuất hiện của Phật trong thế giới này</b></p>
<p style="text-align: justify;">Nếu chư Phật đã làm cạn kiệt mọi nguyên nhân và điều kiện của luân hồi và sự xuất hiện trong luân hồi cũng như hoàn toàn chứng ngộ chân lý tuyệt đối của tánh không, làm sao và tại sao các ngài thị hiện trong thế giới này?</p>
<p style="text-align: justify;">Điều này xảy ra nhờ hai khẩn nguyện; khẩn nguyện của hữu tình chúng sinh có kết nối với chư Phật và đánh thức khỏi trạng thái ngu dốt như mơ của tâm, và khẩn nguyện của chư Phật làm lợi lạc chúng sinh và đánh thức họ khỏi trạng thái huyễn hoặc như mơ đó. Khi khẩn nguyện của hữu tình chúng sinh và của chư Phật gặp nhau, chư Phật xuất hiện trên thế giới.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự xuất hiện của các ngài giống như trăng trên trời, được phản chiếu rõ ràng và tự nhiên trên nhiều ao hồ bên dưới. Nhưng điều này không ám chỉ rằng Đức Phật tự mình “hạ xuống” từ hư không, hay có một vị Phật “xuống đây” và một vị khác “ở trên kia,” cũng không phải có nhiều vị Phật khắp mọi nơi.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Một nghìn vị Phật</b></p>
<p style="text-align: justify;">Trong thời đại đặc biệt này, một nghìn vị Phật sẽ xuất hiện. Theo các miêu tả truyền thống, tất cả những gì chúng ta thấy từng là chân không hay hư không. Sau đó gió và mưa bão nổi lên, tạo thành yếu tố đất. Mưa tiếp tục, và một nghìn bông sen nở. Các vị trời nam và nữ thấy sự kiện này và tự hỏi nó tượng trưng cho điều gì. Các vị trời tuổi cao, uyên bác có thể nhìn thấy tương lai nhờ sức mạnh của thiền định, đã nói rằng đó là dấu hiệu trong thời đại này sẽ có một nghìn vị Phật. Bởi thế, nó được gọi là <i>kalpa zangpo</i>, “thời đại xuất sắc.”</p>
<p style="text-align: justify;">Cho đến nay, chúng ta đã có bốn vị Phật. Trong mỗi thời của bốn vị Phật này, rất nhiều vị Phật khác đã xuất hiện và làm lợi lạc chúng sinh. Nhưng có một vị tối cao trong mỗi thời, bậc đảm bảo rằng mọi giáo lý của thời đại đặc biệt đó sẽ hòa hợp với lời dạy của vị Phật đó. Vị Phật tối cao của hiện tại là Phật Thích Ca Mâu Ni, tuy nhiên có rất nhiều các vị Phật khác đã đến thế giới này và làm lợi lạc chúng sinh. Ví dụ, Đức Văn Thù, Đức Quan Âm và Đức Kim Cương Thủ đều là các vị Phật, nhưng các ngài thị hiện dưới hình tướng chư Bồ Tát. Guru Rinpoche cũng là một hóa thân của Đức Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Các vị Phật tối cao này đều đến với mười hai hành động của một vị Phật, đạt giác ngộ và thuyết Pháp. Trong trường hợp của Phật Thích Ca, ngài sinh ra là một vị hoàng tử, nhưng các vị Phật không nhất thiết phải sinh ra làm hoàng tử như vậy.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Hai trí tuệ</b></p>
<p style="text-align: justify;">Điều quan trọng là biết rằng Phật có hai kiểu trí tuệ [<i>jnana</i>]: trí tuệ nhìn thấy bản chất của mọi thứ như chúng là, và trí tuệ nhìn thấy tính đa dạng của mọi hiện tượng.</p>
<p style="text-align: justify;">Thứ mà Phật nhìn thấy từ quan điểm hay trải nghiệm giác ngộ của ngài được gọi là <i>rang nang</i> trong tiếng Tạng. Nhận thức của chúng sinh khác được gọi là <i>shyen nang</i>. Bởi thời gian là trống rỗng, <i>rang nang</i> và <i>shyen nang</i>có thể xuất hiện cùng lúc. Trí tuệ của việc nhận thấy mọi thứ bao gồm của nhận thức giác ngộ về mọi thứ <i>rang nang</i>, và nhận thức của chúng sinh, <i>shyen nang</i>. Nếu không phải như vậy, thì chư Phật sẽ không thể thuyết giảng.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Chư Phật thuyết giảng ra sao</b></p>
<p style="text-align: justify;">Một hình ảnh có thể giúp chúng ta hiểu cách thức mà chư Phật thuyết giảng là hãy tưởng tượng hai người trong một căn phòng: một người thức và người kia thì ngủ, và gặp phải ác mộng. Người thức – Phật – có thể nhận ra rằng người kia đang gặp ác mộng. Điều này không chỉ được hiểu qua sự suy luận mà còn qua nhận thức trực tiếp về cơn ác mộng của người đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù người thức có thể nhận thấy cơn ác mộng của người kia một cách trực tiếp, trải nghiệm của người mơ đó không trở thành sự thật của người thức. Bởi vậy người đang thức có thể chậm rãi đánh thức người kia khỏi giấc mộng. Nhờ đó, anh ta có thể kéo người kia khỏi giấc mơ và trở về thực tại, đó là sự không tồn tại của mọi cơn ác mộng. Đó là cách mà chư Phật dạy hữu tình chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi bạn tỉnh dậy trong một giấc mơ, giấc mơ có thể tiếp tục, nhưng mối quan hệ của bạn với nó đã thay đổi. Đó là con đường của chư Bồ Tát, đặc biệt là trong giai đoạn sau thiền định. Khi bạn hoàn toàn tỉnh dậy khỏi giấc mơ, đó là Phật quả. Bạn tỉnh thức với các trải nghiệm hoàn toàn về sự thực và sự xuất hiện; nó không đúng khi nói rằng mọi hình tướng đơn giản biến mất ở điểm này.</p>
<p style="text-align: justify;"><b><u>Ba thân của chư Phật</u></b></p>
<p style="text-align: justify;">Bản chất của sự thật được gọi là Pháp thân, và các hình tướng là Sắc thân. Một vị Phật hòa hợp với Pháp thân trong khi xuất hiện như là Sắc thân.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Pháp thân</b></p>
<p style="text-align: justify;">Trong trạng thái tuyệt đối của niết bàn, trong Pháp thân, không có nhận thức và không có hình tướng. Nhưng điều này không có nghĩa là Pháp thân là rắn chắc và cách biệt, hay một hư không hoàn toàn tách biệt khỏi các hoạt động của chư Phật hay các hình tướng của Phật quả, tức là hai hình tướng của Sắc thân – Báo thân và Hóa thân.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Báo thân</b></p>
<p style="text-align: justify;">Các hình tướng Báo thân khởi lên từ Pháp thân, thứ như hư không tràn khắp, xuất hiện chủ yếu với chư Bồ Tát, những bậc trên con đường giác ngộ. Các Báo thân khởi lên thông qua duyên khởi như là kết quả của nghiệp và sự rộng mở của chư Bồ Tát, và sức mạnh của chư Phật hiển bày từ Pháp thân. Các hình tướng Báo thân không thể tiếp cận bởi chúng sinh bình phàm.</p>
<p style="text-align: justify;">Báo thân Phật làm lợi lạc cho chư Bồ Tát, những bậc ít nhất đạt đến địa thứ nhất. Những vị Bồ Tát này có thể nhìn thấy và thọ nhận giáo lý từ Báo thân Phật. Cách thức các ngài thọ nhận giáo lý không giống như cách chúng ta nhận, thường là khẩu truyền. Ví dụ, các vị Bồ Tát đơn giản có thể nhìn vào thân của Báo thân Phật và nhận ra các che chướng của bản thân và cách để tịnh hóa chúng một cách rõ ràng.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Hóa thân</b></p>
<p style="text-align: justify;">Từ quan điểm Tiểu thừa, Phật được nhìn nhận như một chúng sinh bình thường, và chúng sinh bình thường coi Phật là Hóa thân Phật. Từ quan điểm Đại thừa, Phật Thích Ca Mâu Ni là Hóa thân Phật, người, như là cái bóng của Báo thân Phật, giáng sinh như một bậc toàn giác từ cõi trời Tushita. Hóa thân Phật giống như những cái bóng của Báo thân Phật, như mặt trăng phản chiếu hình bóng xuống ao.</p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù chư Phật xuất hiện, sự xuất hiện của các ngài không phải sự xuất hiện của chân lý tương đối bình thường, ảo mộng, sản phẩm của tâm quan niệm và các lỗi lầm. Các ngài xuất hiện một cách độc lập, nhưng sự xuất hiện này thanh tịnh chứ không có lỗi lầm. Bởi thế, những phẩm tánh vô song của chư Phật được gọi là<i>zakme kyi</i> cho trong tiếng Tạng, nghĩa là “các phẩm tánh không lỗi lầm.”</p>
<p style="text-align: justify;">Pháp thân có sức mạnh làm khởi lên vô số các phẩm tánh không lỗi lầm. Mặc dù Hóa thân Phật Thích Ca Mâu Ni trải qua đủ mười hai hành động của một vị Phật, từ cõi trời Tushita đến khi nhập Niết Bàn, từ quan điểm Pháp thân của chư Phật, không hề có sự di chuyển hay thay đổi nào.</p>
<p style="text-align: justify;">Mục đích đằng sau việc chư Phật đến thế giới này là để chỉ ra con đường giác ngộ. Đức Phật trải qua, theo cách hoàn hảo nhất, đủ mọi giai đoạn của con đường mà chúng ta phải đi. Để chỉ ra sự từ bỏ, Phật rời bỏ cung điện và từ bỏ mọi hài lòng như thể chúng bị nhổ vào bụi. Ngài đi vào rừng, điều này giải thích tầm quan trọng của sự từ bỏ các mối bận tâm, thứ thực ra tạo nên khổ đau và trói buộc.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Những phẩm tánh của Phật như một vị thầy<a href="http://thuvienhoasen.org/p39a15343/6/phat-phap-va-tang#_ftn3"><b>[3]</b></a></b></p>
<p style="text-align: justify;">Các phẩm tánh như một vị thầy của Phật là rất rõ ràng. Ngài sở hữu cả hai kiểu trí tuệ, mười sức mạnh, bốn trạng thái vô úy<a href="http://thuvienhoasen.org/p39a15343/6/phat-phap-va-tang#_ftn4">[4]</a>, mười tám đặc điểm phân biệt của trạng thái tâm của Phât, ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Tám phẩm tánh của giác ngộ</b></p>
<p style="text-align: justify;">Như trong <i>Uttaratantra shastra</i> có nói, trong tất cả, Phật là tối thượng. Trạng thái Phật quả, hay giác ngộ hoàn toàn vô song, thoát khỏi mọi lỗi lầm, và hoàn toàn đáng tin cậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Tâm giác ngộ có ba phẩm tánh, làm lợi lạc chính bậc giác ngộ. Nó không giả tạo, tự nhiên và tự tỉnh thức, nghĩa là tâm của Phật không chứng ngộ do kết quả của các điều kiện bên ngoài.</p>
<p style="text-align: justify;">Ba phẩm tánh của chư Phật làm lợi lạc người khác là trí tuệ vĩ đại; tâm từ lớn lao, sự chu đáo và từ bi và sức mạnh làm lợi lạc vĩ đại.</p>
<p style="text-align: justify;">Phẩm tánh làm lợi lạc bản thân và phẩm tánh làm lợi lạc người khác, khi được thêm vào ba phẩm tánh được kiệt kê trong hai loại trên, tạo thành cái đôi khi được gọi là tám khía cạnh của giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>2. PHÁP</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Các ý nghĩa của từ “<i>Dharma</i>”</b></p>
<p style="text-align: justify;">Từ “<i>Dharma</i>” trong tiếng Phạn có rất nhiều ý nghĩa khác nhau. Ví dụ, nó có thể liên quan đến kiến thức, con đường, niết bàn, hiện tượng, đối tượng của việc suy nghĩ, công đức, cuộc đời và tương lai. Ở đây Pháp liên quan đến Chánh Pháp [hay Pháp cao quý], những giáo lý của chư Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Vậy Pháp cao quý là gì? Nó là điều mà các bậc giác ngộ nhìn nhận trực tiếp, là bản tánh chân thực của sự thật, và là điều mà chư Phật giảng cho người khác cho người khác như là con đường. Bởi thế, Pháp là con đường chân chính dẫn chúng ta thoát khỏi khổ đau của luân hồi và vòng sinh tử.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Pháp như là con đường</b></p>
<p style="text-align: justify;">Một vài giáo lý chỉ thích hợp cho một vùng hay thời điểm đặc biệt, và khi thời điểm đặc biệt đó trôi qua, sẽ không còn hữu ích nữa. Nhưng giáo lý của chư Phật phục vụ con người liên tục xuyên suốt lịch sử và sẽ tiếp tục như vậy. Nguyên nhân của điều này là bởi chúng đề cập đến tâm bên trong của chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở Lerab Gar, tháng 9 năm 2000, Ngài Đạt Lai Lạt Ma nói rằng mọi phát triển khoa học và công nghệ với ý định tạo ra một thế giới tốt hơn chỉ đóng góp cho các nhận thức về giác quan, trong khi điều duy nhất giúp đỡ thức nội tại là trí tuệ. Nếu nó không cung cấp cách thức đối phó với các vô minh che lấp trí tuệ bẩm sinh, thì dù khoa học và công nghê có phát triển thế nào, nó cũng không tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn. Dĩ nhiên, khoa học và công nghệ sẽ tạo ra vài ảnh hưởng tích cực, nhưng chúng sinh vẫn chịu nhiều khổ đau.</p>
<p style="text-align: justify;">Đặc biệt trong thế kỷ 20 và 21, người ta nhận thấy điều này rõ ràng hơn bất kỳ thời đại nào khác trong lịch sử loài người. Khi bạn xem tivi, những người nổi tiếng hay các ngôi sao dường như hài lòng về vật chất, nhưng họ vẫn thất vọng; họ vẫn rất tệ.</p>
<p style="text-align: justify;">Bởi vậy món quà lớn lao là được thọ nhận giáo lý Phật Đà trong cuộc đời này, cơ hội lớn lao khi có phương tiện để giải quyết vấn đề tâm, và đặc biệt là cái tôi và các vấn đề đi kèm. Thật tuyệt vời khi trí tuệ và phương tiện thiện xảo được trao truyền không gián đoạn từ thời Đức Phật, khoảng 2500 năm trước. Bởi thế, rất nhiều người đã chứng ngộ nhờ trí tuệ và phương tiện thiện xảo. Giác ngộ không phải khả năng giả thuyết; trí tuệ và phương tiện thiện xảo này đã và đang được sử dụng với thành công lớn lao.</p>
<p style="text-align: justify;">Dòng truyền thừa phương tiện thiện xảo và trí tuệ vẫn còn cho đến nay, và chúng ta có cơ hội là một phần của nó. Chính chúng ta có thể thực hành trong dòng truyền thừa này và trải qua những lợi lạc từ đó. Nếu nó từng bị gián đoạn, sẽ thật khó để tái tạo một dòng như thế.</p>
<p style="text-align: justify;">Thành ngữ Tây Tạng có câu:</p>
<p style="text-align: justify;"><i>“Pháp không phải sở hữu của ai cả; nó là tài sản của bất kỳ ai thực hành nó.”</i></p>
<p style="text-align: justify;">Nó không phải tài sản cá nhân của bất kỳ vị thầy nào hay nhóm người đặc biệt nào. Nếu vị thầy không thực hành, nó không thuộc về vị thầy, bởi vì Pháp không phải là một nghi lễ trống rỗng. Giống như vậy, nó không phải là tài sản của nhóm người nào, bởi nó không giống như triết học Cộng sản hay tương tự. Nó thuộc về bất kỳ ai thực hành. Bất kỳ cá nhân nào thực hành Pháp sẽ được cải thiện bởi Pháp. Chính bạn có thể là người tận dụng tối đa Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Pháp như là [đối tượng] Quy y</b></p>
<p style="text-align: justify;">Mọi giáo lý Phật Đà có hai đặc điểm. Đầu tiên chúng phải là một phương thuốc, hay cách đối trị với các cảm xúc phiền não gây ra khổ đau cho chúng sinh. Chúng cần làm giảm những cảm xúc phiền não mà chúng sinh trải qua, và một cách tuyệt đối tiêu diệt mọi nguyên nhân. Giáo lý Phật Đà cũng cần cung cấp các bước nhờ đó hữu tình chúng sinh tiến lên các cõi cao hơn, và một cách tuyệt đối giải thoát khỏi khổ đau luân hồi và vòng sinh tử.</p>
<p style="text-align: justify;">Các giáo lý cần cung cấp nơi nương tựa theo cả hai cách. Bất kỳ điều gì hòa hợp với hai đặc điểm này là giáo lý Phật Đà. Người ta cũng nói rằng ngoài giáo lý của Phật, những giáo lý như vậy không thể được tìm thấy.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Pháp của Kinh điển và Chứng ngộ</b></p>
<p style="text-align: justify;">Như ngài Vasubandhu nói trong <i>Abhidharmakosha</i>, giáo lý của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chia thành hai loại: Pháp của Kinh điển và Pháp của Chứng ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Khía cạnh Kinh điển của Phật Pháp được duy trì bởi sự nghiên cứu, bao gồm việc giảng dạy, lắng nghe, biên soạn và tranh luận. Điều này liên quan đến cả <i>che</i>, trong tiếng Tạng nghĩa là giải thích Pháp và <i>nyen</i> nghĩa là lắng nghe Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">Khía cạnh Chứng ngộ của Pháp bao gồm thiền định và thực sự chứng ngộ. Khái cạnh này xuất phát từ khía cạnh đầu tiên.</p>
<p style="text-align: justify;">Bằng cách tham gia vào các hoạt động này, chúng ta bảo tồn Pháp không chỉ trong các cuốn sách mà còn trong sự chứng ngộ của chúng sinh. Chúng ta duy trì truyền thống Pháp kinh điển và bảo tồn Pháp chứng ngộ. Nếu chúng ta đánh mất một trong hai, nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến điều còn lại; Pháp sẽ không trọn vẹn. Giống như việc điều này rất quan trọng với chúng ta, với thế hệ tương lai, điều quan trọng là có cơ hội tham gia và trở nên uyên bác cả về Pháp của Kinh điển và Pháp của Chứng ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Giáo lý và Luận giải</b></p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung có hai kiểu Kinh điển Phật giáo. <i>Ka</i>trong tiếng Tạng là những lời dạy của chính Đức Phật và <i>tencho</i> là các luận giải của các đại học giả xứ Ấn Độ và Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Ka</i></b></p>
<p style="text-align: justify;">Các giáo lý của Đức Phật gọi là <i>ka</i>. Nhưng <i>ka</i>không chỉ gồm những lời mà Đức Phật nói ra. Ví dụ, Bát nhã tâm kinh là <i>ka</i>, nhưng chính ngài Quan Âm đã giảng về Bát nhã tâm kinh, khi trả lời câu hỏi của ngài Xá Lợi Phất. Nguyên nhân nó được xếp vào <i>ka</i> là sự gia trì của Đức Phật được chuyển đến ngài Quan Âm, người trở thành phát ngôn viên của Đức Phật. Vì thế, Bát nhã tâm kinh là “<i>ka</i>khởi lên từ sự gia trì.”</p>
<p style="text-align: justify;">Có rất nhiều dịp khác màĐức Phật không nói, nhưng âm thanh đến từ nhiều phần khác của thân ngài. Các giáo lý này được gọi là <i>chotrul gyi ka</i>, tức <i>ka</i> kỳ diệu.</p>
<p style="text-align: justify;">Chính Đức Phật gợi ý rằng khi các giáo lý của ngài được kết tập, chúng cần được bắt đầu bằng câu, “Tôi nghe như vầy …” Mọi giáo lý bắt đầu như thế đều là <i>ka</i>.</p>
<p style="text-align: justify;">Những lời dạy của Phật là thanh tịnh, hoàn hảo và an bình. Chúng hòa hợp với sự thật tương đối và tuyệt đối, chân thật, đúng đắn và là phương thuốc cho mọi căn bệnh. Chúng vượt khỏi mọi so sánh.</p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Tencho</i></b></p>
<p style="text-align: justify;">Nghĩa đen của từ <i>tencho</i> trong tiếng Tạng [tiếng Phạn là shastra] là “chỉ ra và chuyển hóa.” Khi bạn được chỉ ra rõ ràng cách thức mọi thứ thực sự là, tâm bạn được chuyển hóa. Sự ngu dốt chuyển hóa thành giác tánh, tiêu cực thành tích cực. Vì thế, mục đích của <i>tencho</i> là chuyển hóa tinh tế tâm của đệ tử, và kết quả của <i>tencho</i> là bạn được bảo vệ khỏi những cõi thấp hơn.</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Tencho</i> được viết bởi các học giả. Về Luận, người ta nói rằng bảy bậc trưởng lão chứng ngộ từ truyền thống Tiểu thừa gặp nhau và biên soạn bản <i>shastra</i> đầu tiên, <i>Chedrak Shedzo Chenmo</i>. Để được phép biên soạn một<i>shastra</i>, học giả, ít nhất cần phải hiểu năm ngành khoa học chính và năm ngành phụ.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm ngành chính gồm nghệ thuật, y học, ngôn ngữ, logic và triết học nội tâm.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm ngành phụ gồm đồng nghĩa, toán học, biểu diễn, thơ ca và biên soạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Chỉ người hiểu những ngành này mới có thể biên soạn luận giải về giáo lý Phật Đà. Bên cạnh đó, để có thể biên soạn một bản <i>shastra</i>, họ ít nhất phải chứng ngộ địa thứ nhất hay có thể giao tiếp với Bổn tôn, chẳng hạn Đức Văn Thù. Một cách lý tưởng, tác giả cần trực tiếp trải nghiệm <i>dharmata</i>, chân lý.</p>
<p style="text-align: justify;">Có khoảng một trăm bản <i>ka</i> (<i>Kangyur</i>) bằng tiếng Tạng và khoảng hai trăm bản <i>tencho</i> (<i>Tengyur</i>). Tất cả các bản <i>tencho</i> được viết bởi các đại học giả, những bậc uyên bác mọi ngành khoa học chính và phụ.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>3. TĂNG</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Những bậc với ý định thiện lành</b></p>
<p style="text-align: justify;">Những bậc nghiên cứu, quán chiếu và thiền định về giáo lý của Đức Phật, và ý định được đặt trên con đường Pháp và giác ngộ được gọi là Tăng [tiếng Tạng là<i>gendun</i>, tiếng Phạn là <i>Sangha</i>]. Từ <i>Sangha</i> nghĩa đen là “những bậc với ý định thiện lành.”</p>
<p style="text-align: justify;">Có hai kiểu đức hạnh: đức hạnh hướng về các hành động trong thế giới này, và đức hạnh tuyệt đối của việc thành tựu Chánh giác.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Quy y Tam Bảo</b></p>
<p style="text-align: justify;">Những người bình thường bị lạc trong sự chăm sóc và bảo vệ cái tôi và trong các cảm xúc phiền não. Dù đau đớn nào được gây ra bởi việc chăm sóc và bảo vệ cái tôi, đó là cách mà họ sống. Dù họ cố gắng nhiều lần, thái độ này không thể làm họ hạnh phúc hơn, và không giải thoát họ khỏi khổ đau.</p>
<p style="text-align: justify;">Gần như không thể với người thường để hiểu được rằng khả năng của việc buông bỏ cái tôi và làm giảm khổ đau, căng thẳng và hận thù mà chúng ta cảm thấy bên trong, có thể xuất hiện. Nó như thể bạn chắc hẳn rất điên rồ khi đề xuất như vậy. Tuy nhiên, mặt khác, rất rõ ràng là việc nuôi dưỡng và bảo vệ cái tôi là nguồn gốc của mọi khổ đau.</p>
<p style="text-align: justify;">Bởi vậy, con đường của bạn và con đường của chúng sinh thông thường trở nên khá khác biệt. Mặc dù bạn sống như một thành viên trong gia đình và chăm sóc từng thành viên, bạn vẫn nhận thấy bạn đang trở nên khác biệt với phần còn lại. Mặc dù bạn có thể kết hôn và đã thề sống với vợ/chồng, và mặc dù yêu thương và chăm sóc vẫn còn, bởi bạn làm việc với tâm, bạn sẽ nhận ra khoảng cách giữa bạn với vợ/chồng ngày càng lớn.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự tách biệt này không dựa trên kiểu thành kiến vào với bạn đời. Nó là kết quả của sự thấu suốt tăng lên mà bạn sở hữu như là kết quả của việc giải quyết vấn đề tâm. Trí tuệ bạn đang vun bồi nhìn ra không chỉ vấn đề của người khác mà còn cả vấn đề của bạn. Điều này liên quan đến việc nhìn ra cái khổ trong cuộc đời, và đâm thủng nguyên nhân của nó, thứ đang bám chấp vào cái tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta mong muốn làm việc với các vấn đề tâm lý và cảm xúc bằng cách áp dụng chánh Pháp. Vì thế, chúng ta nhận Đức Phật là người chỉ dẫn và Pháp là con đường, và chúng ta trở thành một phần của Tăng đoàn cao quý.</p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù tình yêu thương, sự chăm sóc và từ bi giành cho người khác tăng lên, và chúng ta vẫn muốn có ích với người khác hơn nữa, con đường của ta trở nên rõ ràng hơn. Vì thế, chúng ta quy y Tam Bảo một cách đúng đắn hơn. Đây là mục đích của việc nghiên cứu và thực hành của chúng ta; quy y một cách đúng đắn, không phải chỉ là nghi lễ. Chúng ta không quy y chỉ để đi theo người khác, mà để phát triển mối quan hệ cá nhân với các đối tượng quy y. Một cách tương đối, chúng ta quy Phật là người chỉ đường, Pháp là con đường và Tăng là những người đồng hành. Một cách tuyệt đối, chỉ có một sự quy y duy nhất, đó là giác ngộ.</p>
<address>Trích: Nghiên cứu Phật học 1, Dzigar Kongtrul Rinpoche</address>
<address>Việt dịch: Nhóm Thuận Duyên.</address>
<address>(<a href="http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-44_10-1670_12-1/">CÙNG DỊCH GỈA</a>)<br />
</address>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<p style="text-align: justify;"><a href="http://thuvienhoasen.org/p39a15343/6/phat-phap-va-tang#_ftnref1">[1]</a> Mười hai hành động gồm: an trú trong Tushita, giáng sinh và nhập vào tử cung, chào đời, tinh thông nghệ thuật, tận hưởng phối ngẫu, từ bỏ thế giới, thực hành khổ hạnh, đạt đến điểm quan trọng của giác ngộ, chinh phục Ma vương, giác ngộ hoàn hảo, chuyển bánh xe giáo Pháp và thị hiện Niết Bàn cuối cùng. Xem <b><i>Truyền thống Nyingma của Phật giáo Tây Tạng</i></b>, quyển II, trang 169, Dudjom Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://thuvienhoasen.org/p39a15343/6/phat-phap-va-tang#_ftnref2">[2]</a> Các thế lực ma quỷ trong cõi địa ngục.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://thuvienhoasen.org/p39a15343/6/phat-phap-va-tang#_ftnref3">[3]</a> Xem <b><i>Kho tàng các phẩm tánh quý giá</i></b>, Phụ lục 5.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://thuvienhoasen.org/p39a15343/6/phat-phap-va-tang#_ftnref4">[4]</a> Bốn sự vô úy là (1) Vô úy trong kiến thức của tất thảy mọi vật; (2) Vô úy trong kiến thức của sự ngừng mọi lỗi lầm; (3) Vô úy để tuyên bố dứt khoát rằng các hiện tượng ngăn cản con đường không trở thành thứ gì khác; (4) Vô úy rằng con đường từ bỏ nhờ đó mọi đặc tính hoàn hảo sẽ đạt được, vừa được chứng ngộ.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/phat-phap-va-tang/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Quy y, nền tảng của mọi con đường</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/quy-y-nen-tang-cua-moi-con-duong/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/quy-y-nen-tang-cua-moi-con-duong/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 10 Sep 2015 05:15:08 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Quy y Tam Bảo]]></category>
		<category><![CDATA[Tam Bảo]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=4863</guid>
		<description><![CDATA[Đặt Tam Bảo lên đầu, là quy y bên ngoài,  Ngài thực sự chứng ngộ Ba Nguồn Gia Trì, là quy y bên trong;  Ngài đã hoá hiện ba Thân, là quy y tối thượng.  Bậc Thầy Vô Song, con đảnh lễ dưới chân Ngài.  Quy y là nền tảng của tất cả mọi con đường (của tất cả mọi&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/quy-y-nen-tang-cua-moi-con-duong/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;">
<p style="text-align: center;"><i>Đặt Tam Bảo lên đầu, là quy y bên ngoài, </i><br />
<i>Ngài thực sự chứng ngộ Ba Nguồn Gia Trì, là quy y bên trong; </i><br />
<i>Ngài đã hoá hiện ba Thân, là quy y tối thượng. </i><br />
<i>Bậc Thầy Vô Song, con đảnh lễ dưới chân Ngài. </i></p>
<p style="text-align: justify;">Quy y là nền tảng của tất cả mọi con đường (của tất cả mọi pháp tu), và được giải thích dưới ba đề mục như sau: làm sao để đến với quy y, quy y như thế nào, và những giới luật và lợi ích của quy y.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>I. LÀM SAO ĐỂ ĐẾN VỚI QUY Y </b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>1. Tín Tâm </b></p>
<p style="text-align: justify;">Quy y mở ra cánh cửa đi vào tất cả những giáo lý và phương pháp hành trì. Cũng như thế, chính tín tâm mở ra cánh cổng đưa ta đến với quy y. Do vậy, bước đầu quan trọng trong việc quy y là phải phát triển một tín tâm kiên cố và lâu dài. Tín tâm hay niềm tin gồm có ba loại: niềm tin sống động (vivid faith), niềm tin tha thiết, và niềm tin kiên định.</p>
<p style="text-align: justify;">1.1 NIỀM TIN SỐNG ĐỘNG</p>
<p style="text-align: justify;">Niềm tin sống động là niềm tin được thôi thúc trong chúng ta qua việc chúng ta nghĩ tưởng về lòng bi mẫn bao la của chư Phật và những bậc Thầy vĩ đại. Chúng ta có thể kinh nghiệm loại tín tâm này khi viếng thăm một ngôi chùa có nhiều biểu tượng cho thân, khẩu, ý của chư Phật, hoặc sau một cuộc gặïp gỡ một vị Thầy hay một thiện tri thức vĩ đại mà ta vừa đích thân diện kiến, hoặc khi nghe về những phẩm hạnh hay tiểu sử của những vị Thầy.</p>
<p style="text-align: justify;">1.2 NIỀM TIN THA THIẾT</p>
<p style="text-align: justify;">Niềm tin tha thiết là lòng nhiệt thành của chúng ta muốn thoát khỏi những đau khổ của ba cõi thấp khi chúng ta được nghe mô tả về những cõi thấp; sự nhiệt thành của chúng ta muốn vui hưởng hạnh phúc của những cõi cao và của con đường giải thoát khi chúng ta được nghe về những cõi cao và về con đường giải thoát; sự nhiệt thành của chúng ta để dấn mình vào những thiện hạnh khi ta nghe nói về những lợi ích mà những thiện hạnh này sẽ mang lại cho chúng ta; và sự nhiệt thành của chúng ta để tránh xa ác hạnh khi ta hiểu được về những tổn hại mà những hành vi bất thiện sẽ gây ra.</p>
<p style="text-align: justify;">1.3 NIỀM TIN KIÊN ĐỊNH</p>
<p style="text-align: justify;">Niềm tin kiên định là niềm tin vào Tam Bảo khởi lên từ đáy lòng ta một khi chúng ta thấu hiểu được những đức tánh phi thường và năng lực gia hộ mà Tam Bảo có thể đem đến cho chúng ta. Đây chính làø toàn bộ niềm tin duy nhất nơi Tam Bảo xuất phát từ nhận thức rằng Phật, Pháp, Tăng là nơi nương tựa duy nhất không bao giờ vơi cạn, mãi mãi muôn đời và trong tất cả mọi hoàn cảnh, cho dù chúng ta đang hạnh phúc, buồn bã, đau đớn, bệnh tật, dù sống hay chết.*<br />
Đức Tôn Quý xứ Oddiyana đã nói rằng:</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Sự chí tâm chí thành cho phép lực gia trì thấm nhập vào hành giả. </i><br />
<i>Khi tâm thoát khỏi mọi nghi ngờ, thì bất kỳ điều gì các con mong muốn cũng có thể thành tựu</i>.</p>
<p style="text-align: justify;">Do đó, tín tâm giống như một hạt giống, từ đó mọi điều thiện có thể tăng trưởng. Nếu thiếu tín tâm, hạt giống như thể bị thiêu đốt. Trong kinh có nói:</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Đối với những người thiếu tín tâm </i><br />
<i>Không có điều thiện nào được phát triển, </i><br />
<i>Cũng như từ một hạt giống đã bị thiêu đốt </i><br />
<i>Sẽ chẳng bao giờ có chồi xanh nào mọc được. </i></p>
<p style="text-align: justify;">Trong bảy báu vật cao quý (thất thánh bảo), tín tâm là điều quan trọng nhất. Có câu nói rằng:</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Bánh xe quý báu của tín tâm </i><br />
<i>Cả ngày lẫn đêm lăn trên con đường đức hạnh. </i></p>
<p style="text-align: justify;">Tín tâm là nhiên liệu quý báu nhất trong tất cả những tài nguyên mà chúng ta có được. Tín tâm đem lại một nguồn đức hạnh vô tận, giống như một kho tàng. Tín tâm cưu mang chúng ta suốt trên con đường giải thoát giống như đôi chân, và thâu thập mọi điều tốt đẹp cho chúng ta như đôi tay.</p>
<p style="text-align: justify;"><i>* Điều này có nghĩa là tín tâm của chúng ta đối với pháp môn quy y sẽ khiến cho chúng ta có khả năng đối phó với những kinh nghiệm xảy ra trong thân trung ấm (bardo) sau cái chết. </i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Tín tâm là tài sản và kho tàng vĩ đại nhất, là đôi chân tốt đẹp nhất; </i><br />
<i>Là nền tảng để thâu thập mọi đức hạnh, giống như đôi tay. </i></p>
<p style="text-align: justify;">Lòng bi mẫn và lực gia trì của Tam Bảo ban cho chúng ta thì thật không thể nghĩ bàn. Tuy nhiên năng lực gia trì này có thể thấm nhập một cách sâu đậm trong ta hay không thì hoàn toàn tùy thuộc vào tín tâm và lòng quy ngưỡng của ta đối với Tam Bảo. Nếu bạn có tín tâm và lòngï quy ngưỡng bao la, thì lực gia trì và lòng bi mẫn mà bạn nhận được từ vị Thầy của bạn và từ Tam Bảo cũng sẽ bao la tương đương như vậy. Nếu tín tâm và lòng quy ngưỡng của bạn chỉ ở mức độ trung bình thì lòng bi mẫn và lực gia trì mà bạn nhận được cũng sẽ trung bình. Nếu tín tâm và lòng quy ngưỡng của bạn thật ít ỏi, thì chỉ có rất ít lòng bi mẫn và lực gia trì sẽ đến với bạn. Nếu bạn hoàn toàn không có lòng tin và sự quy ngưỡng nào thì bạn sẽ tuyệt đối không nhận được gì cả. Nếu không có lòng tin thì ngay cả việc được gặp Đức Phật và được Ngài nhận làm đệ tử cũng hoàn toàn chẳng có ích lợi gì, giống như đối với nhà sư Thiện Tinh (Sunaksatra) mà câu chuyện của ông đã được kể ở chương trước, và với người anh em bà con của Đức Phật là ông Devadatta (Đề Bà Đạt Đa).</p>
<p style="text-align: justify;">Ngay cả ngày nay, bất kỳ khi nào Đức Phật được khẩn cầu với tín tâm và lòngï quy ngưỡng chân thành, thì Ngài hiện diện ở đó và gia hộ cho ta. Đối với lòng bi mẫn của Đức Phật thì không có chuyện gần hay xa.</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Đối với tất cả những ai nghĩ tưởng tới Ngài với tín tâm </i><br />
<i>Đức Phật hiện diện ở đó trước mặt họ </i><br />
<i>Và sẽ ban truyền quán đảnh và từ bi gia hộ cho họ. </i></p>
<p style="text-align: justify;">Và Đạo Sư vĩ đại xứ Oddiyana có nói:</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Đối với tất cả thiện nam tín nữ có lòng tin nơi ta, </i><br />
<i>Ta, Liên Hoa Sanh, </i><br />
<i>Chưa hề rời xa – Ta ngủ bên cửa nhà họ. </i><br />
<i>Với Ta, không có cái chết; </i><br />
<i>Trước mặt mỗi người có tín tâm, </i><br />
<i>đều có một Liên Hoa Sanh. </i></p>
<p style="text-align: justify;">Khi ta có niềm tin kiên cường, lòng bi mẫn của Đức Phật có thể hiện diện trong bất kỳ sự việc gì. Điều này được minh họa qua câu chuyện của một bà lão sùng tín được cứu giúp để đạt được Phật Quả nhờ vào một cái răng của một con chó.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày xưa có một bà cụ, con trai bà là một thương gia. Anh ta thường đi Ấn Độ buôn bán. Một hôm bà cụ nói với con: “Ở Bồ Đề Đạo Tràng tại Ấn Độ có Đức Phật Toàn Giác. Con hãy đem về cho mẹ một vài thánh tích đặc biệt từ Ấn Độ để mẹ có thể đảnh lễù.” Bà lập lại lời thỉnh cầu nhiều lần, nhưng người con thường quên lãng và chẳng bao giờ đem về cho bà những gì bà yêu cầu.</p>
<p style="text-align: justify;">Một hôm, khi người con đang chuẩn bị đi Ấn Độ thêm một lần nữa, bà mẹ nói: “Lần này, nếu con không đem về vật gì để mẹ đảnh lễ thì mẹ sẽ tự sát trước mặt con!”</p>
<p style="text-align: justify;">Người con đi Ấn Độ, kết thúc việc mua bán như đã dự định và lên đường trở về nhà, một lần nữa lại quên điều yêu cầu của mẹ. Chỉ khi về gần tới nhà anh ta mới chợt nhớ ra.</p>
<p style="text-align: justify;">“Nay ta sẽ phải làm gì?” anh tự nghĩ. “Ta đã không mang được thứ gì về để cho mẹ già của ta đảnh lễ. Nếu ta về nhà tay không, bà sẽ tự sát!”</p>
<p style="text-align: justify;">Nhìn quanh, anh ta thấy một cái đầu chó đang nằm trên đất gần đó. Anh ta nhổ một cái răng và dùng miếng lụa gói lại.<br />
Về đến nhà, anh đưa nó cho mẹ và nói: “Đây là một trong những răng nanh của Đức Phật. Mẹ có thể dùng nó để trợ giúp cho mẹ khi cầu nguyện.”</p>
<p style="text-align: justify;">Bà lão tin lời con. Bà có lòng tin mãnh liệt nơi chiếc răng, hoàn toàn như thể đó thực sự là chiếc răng của Phật. Bà luôn luôn cúng dường và đảnh lễ, và từ chiếc răng chó xuất hiện nhiều hạt ngọc kỳ diệu.* Khi bà lão chết, một vòm ánh sáng cầu vồng xuất hiện quanh bà cùng những dấu hiệu khác của sự thành tựu.</p>
<p style="text-align: justify;"><i>* ring bsrel: những vật thể hình tròn giống như những hạt ngọc tí hon xuất hiện từ xá lợi của các hành giả chứng đắc. </i></p>
<p style="text-align: justify;">Một cái răng chó thì không chứa đựng chút lực gia trì nào. Nhưng lòng tin của bà lão mãnh liệt tới nỗi bà đoan chắc rằng nó thực sự là răng của Đức Phật. Nhờ niềm tin của bà, chiếc răng thấm đẫm ơn gia hộ của Đức Phật, cho tới cuối cùng thì cái răng chó không khác gì chiếc răng Phật thực sự.</p>
<p style="text-align: justify;">Xưa kia, trong tỉnh Kongpo, có một người chất phác mà sau này được biết với cái tên Jowo Ben. Ông làm một cuộc hành trình tới miền Trung Tây Tạng để gặp Jowo Rinpoche.**</p>
<p style="text-align: justify;"><i>** Pho tượng Đức Phật nổi tiếng ở Lhasa. Xem chú thích 295 </i></p>
<p style="text-align: justify;">Thoạt đầu khi ông tới trước tượng thì quanh đó không có người giữ chùa hay bất kỳ ai khác. Thấy thực phẩm cúng dường và đèn bơ ở trước pho tượng, ông tưởng tượng thấy Jowo Rinpoche nhúng bánh cúng vào bơ chảy lỏng trong các ngọn đèn và ăn chúng. Ông tin rằng những ngọn tim đèn cháy sáng là để làm cho bơ tan lỏng.</p>
<p style="text-align: justify;">“Ta nghĩ rằng tốt hơn mình nên ăn một ít giống như Jowo Rinpoche,” ông tự nghĩ và nhúng một miếng bánh bột lấy từ bánh torma cúng dường vào trong bơ rồi ăn. Ông nhìn vào khuôn mặt đang tươi cười của Ngài Jowo.</p>
<p style="text-align: justify;">“Ngài thật là một Lạt Ma tốt bụng,” ông nói. “Ngay cả khi chó đến ăn trộm thực phẩm được cúng dường của Ngài, Ngài cũng mỉm cười; khi gió lùa làm những ngọn đèn của Ngài kêu xèo xèo, Ngài vẫn mỉm cười. Đây, tôi gởi Ngài đôi giàøy ủng. Làm ơn trông chừng chúng một lát dùm tôi trong khi tôi đi nhiễu quanh Ngài.”***</p>
<p style="text-align: justify;"><i>*** Việc ăn những món cúng dường và dựng đôi giày của ông ta trước pho tượng được coi là một hành vi phạm thượng, khiếm nhã. </i></p>
<p style="text-align: justify;">Ông cởi giày đặt trước tượng. Trong lúc ông đang đi nhiễu quanh con đường chính chạy quanh ngôi chùa thì người giữ chùa nhìn thấy đôi giày ủng. Ông ta sắp ném đôi giày ra ngoài thì bức tượng nói:</p>
<p style="text-align: justify;">“Không được ném chúng đi. Kongpo Ben đã gởi đôi giày này cho ta!”</p>
<p style="text-align: justify;">Cuối cùng Ben trở lại và lấy đôi giày.</p>
<p style="text-align: justify;">“Người ta gọi Ngài là một Lạt Ma tốt bụng quả là không sai”, ông nói với pho tượng. “Sang năm Ngài lại đến thăm chúng tôi nữa nhé. Tôi sẽ giết một con heo già để nấu cho Ngài và đãi Ngài ít bia lúa mạch đã được cất lâu năm, rất hấp dẫn.”</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài Jowo nói: “Ta sẽ đến.”</p>
<p style="text-align: justify;">Ben trở về nhà và nói với vợ: “Tôi đã mời Ngài Jowo Rinpoche, thế nhưng tôi không biết chính xác chừng nào Ngài tới, vậy làm ơn đừng quên để mắtù đến Ngài.”</p>
<p style="text-align: justify;">Một năm trôi qua. Một ngày nọ, khi đang kéo nước trên sông, vợ của Ben thấy rõ ràng bóng phản chiếu của Ngài Jowo Rinpoche trên mặt nước.</p>
<p style="text-align: justify;">Bà lập tức chạy về nhà nói với chồng “Có cái gì ở dưới đó, trong con sông…tôi không rõ đó có phải là người mà ông mời không.”</p>
<p style="text-align: justify;">Ben chạy ra sông và thấy Jowo Rinpoche sáng ngời trong nước. Cho là Ngài bị chìm xuống sông, Ben nhảy xuống. Khi chộp được linh ảnh, ông thấy là có thể thực sự nắm được linh ảnh ấy và đem linh ảnh đi theo.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi gần đến nhà Ben, họ tới trước một tảng đá khổng lồ bên đường. Ngài Jowo không muốn đi xa hơn nữa.</p>
<p style="text-align: justify;">“Ta không vào nhà của cư sĩ,” Ngài nói, và biến mất vào tảng đá.</p>
<p style="text-align: justify;">Địa điểm mà người ta nhìn thấy Ngài Jowo hiện đến nay được gọi là Jowo Dolé, còn dòng sông nơi linh ảnh của Ngài xuất hiện thì có tên là Sông Jowo. Thậm chí ngày nay, người ta nói rằng địa điểm mà Ngài Jowo hiện ra cũng có thể ban ơn gia hộ cho chúng ta tương tự như tượng Ngài Jowo ở Lhasa, và mọi người đều đến nơi đây để đảnh lễ và cúng dường. Chính nhờ sức mạnh của niềm tin kiên định mà Ben đã trực nhận được lòng từ bi của Đức Phật. Mặc dù ông ăn bơ từ các ngọn đèn và ăn thực phẩm lấy từ các món cúng dường, lại đặt đôi giày trước tượng Ngài Jowo – bình thường thì những hành vi này toàn làø điều sai trái – nhưng sức mạnh của niềm tin của ông đã làm cho những việc làm này trở nên hoàn toàn tốt đẹp.</p>
<p style="text-align: justify;">Thêm nữa, cũng chỉ duy nhất nương nơi tín tâm mà việc ta thực chứng được chân lý tuyệt đối - trạng thái như nhiên – sẽ được phát sinh. Trong một quyển Kinh có nói:</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Ô, Xá Lợi Phất, chân lý tuyệt đối chỉ được chứng ngộ nương nơi tín tâm. </i></p>
<p style="text-align: justify;">Khi bạn phát triển được một tín tâm hoàn toàn siêu vượt những gì tầm thường, thì nhờ năng lực của tín tâm siêu phàm ấy mà lực gia trì của Thầy của bạn và của Tam Bảo sẽ thấm nhập vào bạn. Sau đó, bạn sẽ đạt được những chứng ngộ đích thực và sẽ trực nhận đượïc trạng thái như nhiên. Khi điều đó xảy ra, bạn sẽ cảm thấy một niềm tin mãnh liệt và có được lòng xác tín thậm chí còn phi thuờng và kiên cố hơn nữa, nơi Thầy của bạn và nơi Tam Bảo. Theo đó, tín tâm và việc đạt đuợc trạng thái như nhiên hỗ trợ lẫn nhau.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước khi từ giã Ngài Jetsun Mila, Dagpo Rinpoche hỏi Ngài khi nào ông nên bắt đầu giảng dạy.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài Jetsun trả lời: “Một ngày kia con sẽ chứng ngộ được cái thấy trong sáng phi thường về bản tánh của chân tâm của con, hoàn toàn khác biệt với cái thấy con hiện có. Vào lúc đó, niềm tin kiên định sẽ xuất hiện trong con và con sẽ nhận ra ta, người cha già của con, như một vị Phật đích thực. Đó là lúc con nên bắt đầu giảng dạy.”</p>
<p style="text-align: justify;">Do đó, khả năng ta có được để đón nhận lòng từ bi và lực gia trì từ Thầy của ta và từ Tam Bảo hoàn toàn phụ thuộc vào lòng quy ngưỡng và tín tâm.</p>
<p style="text-align: justify;">Có lần một đệ tử thỉnh cầu đạo sư Jowo Atisa: “Ngài Jowo, xin ban phước cho con”</p>
<p style="text-align: justify;">“Đệ tử giải đãi,” Ngài Atisa trả lời: “hãy cho ta lòng quy ngưỡng của ngươi...”</p>
<p style="text-align: justify;">Như thế, thật vô cùng cần thiết để có lòng tin cậy kiên cố và tuyệt đối, phát sinh từ một tín tâm và lòng quy ngưỡng phi thường. Điều đó mở ra cánh cửa để thọ nhận quy y.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>2. Nguyện Lực </b></p>
<p style="text-align: justify;">Có ba mức độ nguyện lực khác nhau để thọ quy y với tín tâm như trên.</p>
<p style="text-align: justify;">2.1 NGUYỆN LỰC QUY Y CỦA NHỮNG NGƯỜI HẠ CĂN</p>
<p style="text-align: justify;">Ta sợ hãi phải chịu đựng những đau khổ của ba cõi thấp – cõi địa ngục, cõi ngạ quỷ và cõi súc sinh – và niềm sợ hãi này thúc đẩy chúng ta quy y với ý hướng đơn giản là đạt được hạnh phúc của cõi Trời và người.</p>
<p style="text-align: justify;">2.2 NGUYỆN LỰC QUY Y CỦA NHỮNG NGƯỜI TRUNG CĂN</p>
<p style="text-align: justify;">Ta nhận thức rằng cho dù ta tái sinh ở bất kỳ cõi giới cao hay thấp nào trong vòng luân hồi, ta đều không thể thoát khỏi đau khổ, và nhận thức này đã thúc đẩy chúng ta quy y Tam Bảo với mục đích duy nhất là bản thân ta đạt được Niết Bàn, được an lành và thoát khỏi tất cả đau khổ trong luân hồi.</p>
<p style="text-align: justify;">2.3 NGUYỆN LỰC QUY Y CỦA CÁC BẬC THƯỢNG CĂN</p>
<p style="text-align: justify;">Cảnh tượng của tất cả chúng sinh đắm chìm trong đại dương vĩ đại của luân hồi sinh tử, của đau khổ triền miên, qua nhiều loại đau khổ khác nhau không thể tưởng tượng nổi, chính những điều này thúc đẩy chúng ta quy y với chí nguyện có thể an lập tất cả chúng sinh trong trạng thái toàn giác vô song của Phật Quả viên mãn và toàn thiện.</p>
<p style="text-align: justify;">Đối với ba mức độ động lực và tác ý trên đây, thì riêng chúng ta nên chọn con đường của những bậc thượng căn vĩ đại, có chí nguyện muốn quy y vì mong muốn an lập toàn thể vô lượng chúng sinh không sót một ai trong trạng thái Phật Quả viên mãn.</p>
<p style="text-align: justify;">Thoạt nhìn thì hạnh phúc của chư Thiên và thế gian loài người có vẻ là niềm hạnh phúc chân thật. Tuy nhiên, trên thực tế, chúng sinh trong cõi Trời và cõi người vẫn không thể thoát khỏi đau khổ; và ngay khi phước báu của những thiện hạnh mà họ đã gieo trồng bị cạn kiệt thì họ sẽ rơi trở lại vào những cõi thấp. Vậy tại sao lại nỗ lực đạt được hạnh phúc của những cõi cao nếu như những hạnh phúc này chỉ kéo dài trong khoảnh khắc? Cõi Niết Bàn của những vị Thanh Văn và Độc Giác Phật đem lại sự an bình và hạnh phúc nhưng chỉ cho độc nhất chúng ta; trong khi tất cả chúng sinh – là cha và mẹ của chúng ta từ vô thủy – đang đắm chìm trong đại dương đau khổ vô tận của vòng luân hồi. Nên nếu ta không nỗ lực cứu giúp họ thì đó sẽ là điều sai lầm to lớn. Do đó, quy y Tam Bảo với ước nguyện tất cả chúng sinh có thể đạt đến Phật Quả là con đường của những bậc thượng căn vĩ đại và là cánh cổng dẫn tới công đức vô biên. Đó cũng là con đường chúng ta nên đi theo. Trong Vòng Hoa Châu Báu có nói:</p>
<p style="text-align: justify;">Bởi chúng sinh thì bao la vô tận<br />
Nên ước nguyện cứu giúp họ cũng bao la vô tận như vậy.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>II. QUY Y NHƯ THẾ NÀO </b></p>
<p style="text-align: justify;">Theo Phật Giáo Nguyên Thủy, ta quy y (nương tựa) nơi Đức Phật như vị Thầy, nơi Giáo Pháp như con đường, và nơi Tăng Đoàn như những bạn đồng hành trên suốt con đường.</p>
<p style="text-align: justify;">Phương pháp tổng quát của Mật Thừa phi thường là quy y bằng cách cúng dường thân, khẩu và ý cho Thầy của ta, cung nghinh các Bổn Tôn như những vị hộ trì, và cung nghinh các Không-Hành nữ hay Thiên Nữ Trí Tuệ (dakini) như những người bạn đồng hành.</p>
<p style="text-align: justify;">Phương pháp tối cao, đặc biệt của Tâm Yếu Kim Cương là quy y nơi con đường thần tốc, nhờ đó hành giả sử dụng những kinh mạch (channels) như đây chính là các Hoá Thân, tu luyện các năng lượng (energies), như đây chính là các Báo Thân và tịnh hóa những tinh túy (essences), như đây chính là Pháp Thân.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi ta nhất tâm, một mực nương tựa vào trạng thái như nhiên bất hoại bên trong ta thì việc nương tựa này phải được đặt nền tảng trên trí huệ nguyên sơ vốn sẵn có trong quy y. Bản chất cốt lõi của trí huệ đó là tánh Không (emptiness); biểu lộ tự nhiên của trí huệ đó là tánh sáng (clarity); và lòng từ bi của trí huệ này là sự tỏa rạng khắp nơi (all pervasive).111 Quy y ở đây có nghĩa là với tất cả lòng tin, ta ý thức ra được trong dòng tâm thức của chính chúng ta về sự bất khả phân vĩ đại của ba yếu tánh trên đây của trí huệ nguyên sơ.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi đã có một hiểu biết rõ ràng như vậy về tất cả con đường cần thiết để thọ giới quy y, giờ đây chúng ta tiếp tục đi tới việc thật sự thực hành quy y. Trước hết, hãy quán tưởng ruộng công đức – đây chính là đối tượng mà bạn quán tưởng trước mặt trong khi thọ lễ quy y.</p>
<p style="text-align: justify;">Hãy xem nơi bạn đang ở là một Phật điền hoàn toàn đẹp đẽ và thật vừa ý, được làm bằng đủ loại chất liệu quý báu. Mặt đất bóng láng như mặt gương, không có bất kỳ núi đồi, thung lũng hay bất cứ cảnh tượng thiếu sự hài hòa nào. Ở chính giữa, phía trước bạn, mọc lên một cây như ý với năm cành lớn tỏa ra từ thân cây. Lá, hoa và trái hoàn hảo của cây như ý vươn tới bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, xa rộng tới nỗi làm tràn ngập cả bầu trời, và mỗi cành, nhánh treo vô số ngọc quý rất đẹp và những cái chuông đủ loại.</p>
<p style="text-align: justify;">Trên cành chính là một cái ngai bằng ngọc được tám con sư tử lớn nâng lên. An toạ trên ngai, trên một chỗ ngồi gồm một bông sen nhiều màu sắc, một mặt trời và một mặt trăng, là vị Bổn Sư hay Đạo Sư Gốc (root lama) của bạn, suối nguồn không gì sánh được của lòng bi mẫn, hiện thân của tất cả chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai; vị Đạo Sư Gốc xuất hiện trong hình tướng của Đức Kim Cang Trì vĩ đại xứ Oddiyana. Thân Ngài mang sắc màu trắng quyến rũ pha sắc hồng. Ngài có một mặt, hai tay, hai chân114 và ngồi trong tư thế vương giả.* Tay phải Ngài cầm một chày vajra (kim cương) năm chấu bằng vàng với ấn phẫn nộ. Trong tay trái với ấn thiền định, Ngài cầm một bình bát làm bằng sọ người đựng đầy chất cam lồ trí tuệ bất tử. Trên nắp bình là một cây như ý. Ngài mặc một áo choàng bằng gấm thêu kim tuyến, khoác thêm y áo của một tu sĩ và một áo thụng tay dài màu xanh dương, trên đầu Ngài là một vương miện hoa sen. Ngồi trong tư thế hợp nhất với Ngài là vị phối ngẫu của Ngài, Thiên Nữ Trí Tuệ (dakini)</p>
<p style="text-align: justify;"><i>* rgyal po’I rol stabs: tư thế du hí vương giả, với chân phải duỗi ra một nửa và chân trái xếp vào. </i></p>
<p style="text-align: justify;"> <b>I. QUY Y - NỀN TẢNG CỦA MỌI CON ĐƯỜNG </b></p>
<p style="text-align: justify;">Yeshe Tsogyal thân trắng, đang cầm một lưỡi dao cong và một bình bát làm bằng sọ người.</p>
<p style="text-align: justify;">Hãy quán tưởng Ngài như vậy trong không gian phía trước, mặt hướng về bạn. Trên đỉnh đầu Ngài là tất cả những Lạt Ma của dòng truyền thừa, vị này ngồi trên vị kia, người ngồi phía trên không chạm vào người phiá dưới. Những vị Thầy của truyền thống Mật điển thông thường thì nhiều vô số, nhưng ở đây chúng ta đặc biệt quán tưởng những nhân vật chính của dòng truyền thưà Tâm-Yếu của Đại Viên Mãn: Đức Phật Phổ Hiền, Pháp Thân; Đức Phật Kim Cang Tát Đỏa, Báo Thân; Ngài Garab Dorje, Hóa Thân; Đạo Sư Manjusrimitra (Diệu Đức Hữu); Guru Sri Simha (Cát Tường Sư Tử); Ngài Jnanasutra (Kỳ Na Tu Đa La) uyên bác; đại học giả Vimalamitra; đức Liên Hoa Sinh xứ Oddiyana và ba đệ tử thân cận của Ngài, Đức Vua, Thần dân và vị Phối ngẫu – tức là vị Pháp Vương Trisong Detsen, đại dịch giả Vairotsana và Thiên Nữ Trí Tuệ Yeshe Tsogyal; đức Longchen Rabjampa toàn trí; và đức Rigdzin Jigme Lingpa. Mỗi người trong số các Ngài phải được quán tưởng với những bảo vật trang sức và các biểu tượng riêng. Tất cả được vây quanh bởi vô số Bổn Tôn (Yidam) của bốn phân loại Mật điển và bởi các vị Không-Hành nam (daka) và Không-Hành nữ (dakini).</p>
<p style="text-align: justify;">Trên cành phía trước là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Đấng Chiến Thắng, được bao quanh bởi một ngàn lẻ hai vị Phật Toàn Giác của Hiền Kiếp này cùng tất cả chư Phật trong quá khứ, hiện tại, và vị lai trong mười phương. Tất cả các Ngài có hình tướng Hoá Thân siêu việt, đắp y tu sĩ, có đầy đủ ba mươi hai tướng hảo của Phật Quả – nhục kế nhô cao, lòng bàn chân có in dấu các luân xa, v.v… - và tám mươi tướng phụ. Tất cả các Ngài an toạ trong tư thế kim cương. Một số vị có sắc trắng, một số sắc vàng, một số sắc đỏ, một số sắc xanh lục, và một số có sắc xanh dương. Những tia sáng tuyệt diệu toả chiếu ra từ thân tướng các Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Trên cành bên phải, hãy quán tưởng tám Đại Đệ Tử, dẫn đầu bởi các Bồ Tát Pháp Vương Tử của Ba Phật Bộ – Văn Thù, Kim Cương Thủ, và Quán Tự Tại – và được bao quanh bởi toàn thể Tăng Đoàn tôn quý gồm chư vị Bồ Tát. Các Ngài có sắc trắng, vàng, đỏ, xanh dương, xanh lục. Tất cả đều mang mười ba món trang sức của Báo Thân, và đứng trên hai chân.</p>
<p style="text-align: justify;">Trên cành bên trái hãy quán tưởng hai vị Thanh Văn (Sravaka) chính yếu là Ngài Xá Lợi Phất và Ngài Mục Kiền Liên, được tăng đoàn cao quý gồm chư vị Thanh Văn và Độc Giác Phật bao quanh. Tất cả các Ngài có sắc trắng, và đắp ba y tu sĩ. Các Ngài cũng đêàu đứng, tay cầm tích trượng và bình bát.</p>
<p style="text-align: justify;">Trên cành phía sau, hãy quán tưởng Pháp bảo trong hình dạng những chồng sách. Trên cùng là sáu triệu bốn trăm ngàn Mật điển (tantra) của Đại Viên Mãn, được bao bọc bởi một lưới ánh sáng, tựa đề của mỗi quyển sách hướng về phía bạn.* Tất cả những quyển sách này xuất hiện rất rõ ràng và minh bạch, và ngân vang giai điệu tự nhiên của những nguyên âm và phụ âm.</p>
<p style="text-align: justify;">Giữa những cành cây là tất cả chư Hộ Pháp quang vinh, là những vị vừa là Hộ Pháp trí tuệ lẫn những vị Hộ Pháp đã được nhiếp phục do nghiệp quả của những hành động trong quá khứ của họ.118 Tất cả những nam Hộ Pháp đều hướng mặt ra ngoài; hoạt động của họ là ngăn ngừa những chướng ngại từ bên ngoài thâm nhập vào trong, bảo vệ chúng ta khỏi những chướng ngại và những trở ngại để chúng ta có thể thực hành Giáo Pháp và đạt được giác ngộ. Tất cả những nữ Hộ Pháp đều hướng mặt vào trong; hoạt động của họ là giữ gìn những thành tựu bên trong không để cho hé lộ ra ngoài.</p>
<p style="text-align: justify;"><i>* Đây là những quyển sách Tây Tạng bằng lá rời và dài, được bọc trong vải, với một tiêu đề bằng vải được gắn ở cuối sách bên tay trái. </i></p>
<p style="text-align: justify;">Hãy nghĩ tưởng về tất cả chư vị này của lễ quy y, là những vị với phẩm hạnh cao quý của trí tuệ. Hãy nghĩ tưởng đến lòng bi mẫn và năng lực vô lượng, họ đang dẫn dắt bạn như người dẫn đường vĩ đại duy nhất của bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Hãy hình dung ở bên phải bạn là người cha và bên trái là người mẹ trong hiện đời của bạn. Phía trước bạn, một đám đông trùng trùng điệp điệp cùng tụ hội che kín mặt đất – đó làø tất cả chúng sinh trong ba cõi và trong sáu nẻo luân hồi; hàng thứ nhất gồm tất cả những người thù ghét bạn và tất cả những kẻ gây chướng ngại hoặc làm tổn thương bạn. Cùng với bạn, tất cả những người này đều đứng với hai bàn tay chắp lại. Khi bày tỏ lòng tôn kính bằng thân bạn, hãy gieo mình xuống đất lễ lạy. Khi bày tỏ lòng tôn kính với khẩu của bạn, hãy tụng đọc lời nguyện quy y. Khi bày tỏ lòng tôn kính bằng ý của bạn, hãy nuôi dưỡng tư tưởng như sau:</p>
<p style="text-align: justify;">“Ô, Đạo Sư và Tam Bảo, bất kỳ điều gì xảy đến với con, dù thuận lợi hay bất lợi, hạnh phúc hay đau khổ, tốt hay xấu, bất kỳ bệnh tật hay đau khổ nào xảy ra cho con, con không có sự nương tựa hay che chở nào khác ngoài Ngài. Ngài là bậc gia trì duy nhất, người hướng dẫn duy nhất, nơi trú ẩn duy nhất và là niềm hy vọng duy nhất của con. Từ bây giờ cho đến khi con đạt được tâm-yếu của Giác Ngộ, con đặt mọi sự trông cậy và niềm tin của con vào Ngài. Con sẽ không tìm kiếm những lời khuyên dạy của cha, không thỉnh cầu lời chỉ dạy của mẹ, cũng không tự mình quyết định. Chính Ngài, vị Thầy và Tam Bảo của con, mà con nhận làm nơi nương tựa. Chính Ngài là đối tượng đểø con thực hiện các lễ cúng dường. Con tự cam kết chỉ với một mình Ngài. Con không có nơi nương tựa nào khác, không còn hy vọng nào khác ngoài Ngài!”</p>
<p style="text-align: justify;">Với sự xác tín nồng nhiệt này, hãy đọc tụng bản văn sau đây:</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Cho tới khi đạt được tâm-yếu của Giác Ngộ,121 con luôn luôn nương tựa </i><br />
<i>Nơi những Đấng Thiện Thệ của Ba Lựïc Gia Trì, là Tam Bảo chân thực, </i><br />
<i>Nơi Bồ Đề Tâm, là chân tánh của kinh mạch (channels), năng lực (engergies) và tinh túy (essences), </i><br />
<i>Và nơi mạn đà la tinh yếu của chân tánh, của sự hiển lộ tự nhiên và của lòng bi mẫn. </i></p>
<p style="text-align: justify;">Trong mỗi thời khoá, nếu có thể thì hãy đọc bài này càng nhiều lần càng tốt. Cho tới khi bạn đọc xong câu nguyện này ít nhất một trăm ngàn lần, thì bạn hãy dụng công tụng đọc câu nguyện này trong những thời khoá riêng biệt và hãy để cho công phu này trở thành là một công phu liên tục và quan trọng nhất của bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Có thể bạn ngạc nhiên tại sao kẻ thù và những người gây chướng ngại cho bạn lại được ưu tiên hơn cả cha mẹ bạn trong lúc quy y vì kẻ thù thì được quán tưởng ở phía trước đám đông, trong khi cha và mẹ bạn lại ở phía sau bên cạnh bạn. Lý do là vì chúng ta, những người bước trên con đường Đại Thừa, phải có lòng từ bi đối với toàn thể chúng sinh vô tận một cách đồng đều không phân biệt. Đặc biệt hơn nữa, cách duy nhất để tích lũy một khối lượng công đức vô biên và không lãng phí tất cả những gì ta đã vun bồi là hãy lấy hạnh nhẫn nhục làm phần thực hành chính yếu của ta. Có câu nói rằng:</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Làm sao chúng ta có thể thực hành nhẫn nhục nếu không có ai làm ta nổi giận. </i></p>
<p style="text-align: justify;">Chính những họa hại gây nên bởi kẻ thù và những kẻ tạo ra chướng ngại đã ban cho bạn cơ hội phát triển hạnh nhẫn nhục. Từ quan điểm này của Giáo Pháp, nếu bạn quán chiếu sâu sắc thì bạn sẽ thấy ra được rằng kẻ thù và những kẻ gây ra chướng ngại còn tử tế với bạn hơn cả cha mẹ bạn. Cha mẹ bạn, khi dạy cho bạn mọi thủ đoạn và cách thức lọc lừa cần thiết để bạn thành công trong thế gian này, họ là những người có thể tạo nên chướng ngại khiến bạn không thể thoát ra khỏi đáy sâu của những cõi thấp trong các đời vị lai. Vì thế lòng tốt của họ không vĩ đại như ta tưởng. Trái lại, kẻ thù và những kẻ gây chướng ngại thì cực kỳ tử tế với bạn. Chính nghịch cảnh mà kẻ thù gây ra cho bạn đã cung cấp cho bạn đúng căn nguyên để thực hành nhẫn nhục. Dù bạn có thích hay không thì kẻ thù của bạn cũng đã chia cắt bạn ra khỏi của cải và tài sản của bạn – mà của cải và tài sản chính là những ràng buộc ngăn cản không cho bạn thoát khỏi luân hồi và vì the,á chúng chính là nguồn gốc của mọi đau khổ. Những thế lực tiêu cực và những kẻ gây chướng ngại cũng cung cấp cho bạn sự tập trung để thực hành nhẫn nhục. Nhờ bệnh tật và đau khổ do họ gây ra mà nhiều hành động sai lầm trong quá khứ được tịnh hóa. Hơn nữa, kẻ thù và chướng ngại đem bạn tới với Giáo Pháp, giống như kẻ thù và chướng ngại đã đưa Ngài Jetsun Milarepa và sư cô Palmo đến với Giáo Pháp, khi cô chú của Ngài Jetsun Milarepa cướp đi tất cả tài sản của Ngài và khi sư cô Palmo bị mắc bệnh phong cùi do loài thuỷ long (naga) gây ra; cô đã hiến mình cho việc thực hành tu tập theo pháp môn Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm (Avalokiteshvara) và sau đó đạt được thành tựu siêu việt. Đấng Toàn Giác, Pháp Vương Longchenpa đã nói:</p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Bị đau khổ tấn công, ta phát hiện Giáo Pháp </i></b><br />
<b><i>Và tìm ra con đường giải thoát. </i></b><br />
<b><i>Xin cảm ơn những thế lực xấu ác! </i></b><br />
<b><i>Khi phiền muộn tràn ngập tâm tưởng, ta phát hiện Giáo Pháp. </i></b><br />
<b><i>Và tìm thấy hạnh phúc vĩnh cửu. </i></b><br />
<b><i>Xin cảm ơn những muộn phiền! </i></b><br />
<b><i>Nhờ thương tổn gây ra bởi các tinh linh, ta phát hiện Giáo Pháp. </i></b><br />
<b><i>Và tìm thấy sự vô úy. </i></b><br />
<b><i>Xin cảm ơn những bóng ma và quỷ dữ! </i></b><br />
<b><i>Nhờ lòng thù hận của con người mà ta phát hiện Giáo Pháp </i></b><br />
<b><i>Và tìm được lợi lạc và hạnh phúc. </i></b><br />
<b><i>Xin cám ơn những kẻ thù ghét ta! </i></b><br />
<b><i>Nhờ nghịch cảnh tàn bạo mà ta phát hiện Giáo Pháp </i></b><br />
<b><i>Và tìm thấy con đường bất biến. </i></b><br />
<b><i>Xin cảm ơn nghịch cảnh! </i></b><br />
<b><i>Nhờ bị người khác thúc ép mà ta phát hiện Giáo Pháp </i></b><br />
<b><i>Và tìm thấy ý nghĩa tinh yếu. </i></b><br />
<b><i>Xin cảm ơn tất cả những kẻ xô đẩy ta! </i></b><br />
<b><i>Để đáp đền lòng tốt, ta hồi hướng công đức cho tất cả các ngươi. </i></b></p>
<p style="text-align: justify;">Vì vậy, kẻ thù không chỉ rất tử tế với bạn trong đời này, mà họ còn là cha mẹ bạn trong những đời quá khứ. Đây là điều tại sao bạn nên dành cho họ một vị trí quan trọng trong khi hành trì pháp tu quy y.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi tới lúc kết thúc thời công phu quy y, hãy quán tưởng lòng khát khao, quy ngưỡng của bạn tạo ra vô số những tia sáng phóng ra từ những Bổn Tôn quy y. Những tia sáng này phóng tỏa vào bạn và tất cả chúng sinh, và giống như bầy chim bị một viên đạn bắn làm cho tan tác, tất cả chúng sinh và bạn vù vù bay lên và hoà nhập vào các Bổn Tôn.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó những Bổn Tôn chung quanh tan thành ánh sáng, từ ngoài vào trong và tan biến vào vị Thầy ở trung tâm là hiện thân của ba đối tượng quy y. Tất cả những Bổn Tôn ngự trên đầu của vị Thầy cũng tan biến vào Ngài. Sau đó vị Thầy hoà tan và biến vào ánh sáng. Hãy ngơi nghỉ trong trạng thái nguyên sơ của Pháp Thân trong thời gian ngắn dài tùy sức, thoát khỏi tất cả mọi tạo tác, không vướng mắc vào bất kỳ vọng niệm nào.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi bạn xả thiền, hãy hồi hướng công đức cho vô lượng chúng sinh bằng những lời như sau:</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Nương nơi công đức của công phu hành trì này, </i><br />
<i>Xin cho con nhanh chóng chứng đắc ngôi Tam Bảo </i><br />
<i>Và xin cho con an lập mỗi một chúng sinh </i><br />
<i>Không sót một ai, tùy vào căn cơ của họ. </i></p>
<p style="text-align: justify;">Hãy luôn nghĩ tưởng đến những Bổn Tôn của Giáo Pháp quy y trong mọi tình huống. Khi bạn đi, hãy quán tưởng các Ngài trong không gian trên vai phải của bạn và hình dung rằng bạn đang đi nhiễu quanh các Ngài. Khi ngồi, hãy quán tưởng các Ngài trên đầu như nơi nương tựa của những lời nguyện cầu của bạn. Khi ăn, hãy quán tưởng các Ngài ở cổ họng và cúng dường các Ngài phần đầu tiên của thức ăn hay đồ uống. Khi ngủ, hãy quán tưởng các Ngài ở giữa tim bạn. Pháp tu này chủ yếu để bạn có thể giải thể những mê lầm, giúp cho mê lầm tan hoà vào với tịnh quang.</p>
<p style="text-align: justify;">Bất cứ bạn làm gì, đừng bao giờ xa lìa hình ảnh trong sáng của các Bổn Tôn của giáo pháp quy y trong dòng tâm thức. Hãy giao phó bản thân bạn với toàn bộ tín tâm cho Tam Bảo và hoàn toàn hiến mình để thọ nhận quy y.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>III. GIỚI LUẬT VÀ LỢI ÍCH CỦA QUY Y </b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>1. Giới Luật Của Quy Y </b></p>
<p style="text-align: justify;">Giới luật bao gồm ba điều phải từ bỏ, ba điều nên làm và ba thái độ bổ sungï phải được tuân giữ.</p>
<p style="text-align: justify;">1.1 BA ĐIỀU PHẢI TỪ BỎ</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi đã quy y với đức Phật, chớ tôn thờ những thần thánh trong vòng luân hồi. Nói khác đi, những vị Trời của các kẻ ngoại đạo như Isvara hoặc Visnu cũng như những vị thần địa phương, các thổ địa, hay bất kỳ những vị trời hay tinh linh thế tục mạnh mẽ nào khác, bản thân họ chưa giải thoát khỏi những đau khổ của luân hồi, nên bạn chớ coi họ như chỗ nương tựa của mình trong những đời sau, đừng cúng dường hay đảnh lễ họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Đã quy y Pháp, đừng làm tổn hại người khác, ngay cả trong giấc mơ của bạn. Hãy quyết lòng nỗ lực che chở họ với khả năng tốt nhất của bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Đã quy y Tăng, đừng dính líu với những kẻ ngoại đạo và những người như thế, là những kẻ không tin tưởng vào giáo lý của các Đấng Chiến Thắng hay không tin Đức Phật Toàn Giác là đấng đã giảng dạy những điều đó. Mặc dù không thật sự có những kẻ ngoại đạo ở Tây Tạng, bạn cũng nên tránh dính líu với bất kỳ người nào hành động như một kẻ ngoại đạo (tirthika) – ví dụ như khi họ sỉ nhục và chỉ trích vị Thầy và Giáo Pháp của bạn, hoặc phỉ báng giáo lý sâu xa của Mật Thừa.</p>
<p style="text-align: justify;">1.2 BA ĐIỀU NÊN LÀM</p>
<p style="text-align: justify;">Đã quy y Đức Phật, hãy tôn kính ngay cả một mảnh nhỏ của pho tượng đã vỡ tượng trưng cho Ngài. Hãy đặt tượng lên đầu bạn,* để ở nơi tinh sạch, có lòng tin, có nhận thức và tri kiến thanh tịnh, xem pho tượng như Trân Bảo thật sự của Đức Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Đã quy y Pháp, hãy tôn kính ngay cả một mảnh giấy chỉ hiện có một chữ của Kinh điển trên đó. Hãy đặt mảnh giấy ấy lên đầu bạn và xem đó là Trân Bảo thật sự của Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;"><i>* Đặt vật gì lên đầu mình là một dấu hiệu của sự tôn kính. </i></p>
<p style="text-align: justify;">Đã quy y Tăng, hãy coi bất kỳ những gì biểu tượng cho các Ngài, dù chỉ là một mảnh vải nhỏ có màu đỏ hay vàng, như Trân Bảo đích thực của Tăng Đoàn. Hãy tôn kính những biểu tượng ấy, đặt lên đầu, để ở nơi sạch sẽ và nhìn những biểu tượng đó với niềm tin và tri kiến thanh tịnh.</p>
<p style="text-align: justify;">1.3 BA GIỚI LUẬT BỔ SUNG</p>
<p style="text-align: justify;">Hãy coi Thầy của bạn, bậc thiện tri thức đã giảng dạy cho bạn ở nơi đây và ngay bây giờ điều gì nên làm và không nên làm, như là Trân Bảo đích thực của Đức Phật. Thậm chí không dẫm lên bóng của Thầy, và hãy nhiệt tình phụng dưỡng và tôn kính Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Hãy coi từng lời nói của vị Thầy cao cả của bạn như Trân Bảo đích thực của Giáo Pháp. Hãy chấp nhận mọi điều Ngài nói không bất tuân một điểm nhỏ nào.</p>
<p style="text-align: justify;">Hãy coi đoàn thị giả, đệ tử của Ngài và những bằng hữu tâm linh của bạn là những người với giới hạnh thuần khiết như Trân Bảo đích thực của Tăng Đoàn. Hãy tôn kính họ với thân, khẩu, ý của bạn và không bao giờ làm họ phải phiền não dù chỉ trong chốc lát.</p>
<p style="text-align: justify;">Đặc biệt, trong Mật Thừa, vị Thầy là đối tượng quy y chính yếu: thân Ngài là Tăng; khẩu Ngài là Pháp và ý Ngài là Phật. Do vậy, hãy nhận thức rằng Ngài không khác gì sự hợp nhất tinh túy của Tam Bảo và hãy nhìn thấy mọi hành động của Ngài đều trọn vẹn, không gì sai suất. Hãy đi theo Ngài với lòng tin tuyệt đối và nỗ lực cầu nguyện Ngài trong mọi lúc. Nên nhớ rằng khi bạn làm phật lòng Ngài bằng bất kỳ những gì đến từ thân, khẩu, ý, đó là bạn đãø từ bỏ toàn bộï quy y. Vì vậy hãy quyết tâm vàø nỗ lực làm hài lòng Ngài trong mọi lúc.</p>
<p style="text-align: justify;">Cho dù điều gì xảy tới với bạn, vừa ý hay khó chịu, tốt hay xấu, bệnh tật hay đau khổ, hãy hoàn toàn giao phó bản thân bạn cho Thầy của bạn. Hãy nhận thức rằng mọi hạnh phúc đều xuất phát từ lòng từ bi của Tam Bảo. Có câu nói rằng mọi sự vừa ý và tốt đẹp trong thế gian này, ngay cả một cơn gió nhẹ thoảng qua trong một ngày nóng bức, đều xuất phát từ lòng từ bi và lực gia trì của Đức Phật. Cũng thế, thiện niệm nhỏ bé nhất xuất hiện trong tâm bạn bắt nguồn từ năng lực không thể nghĩ bàn của lực gia trì từ Ngài. Trong Nhập Bồ Tát Hạnh, Ngài Santideva có nói:</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Giống như khi một tia chớp xé toang màn đêm, </i><br />
<i>Ánh sáng ấy phơi bày tất cả những đám mây đen đang ẩn trốn, </i><br />
<i>Cũng thế, hiếm hoi biết bao, nhờ năng lực của chư Phật, </i><br />
<i>Mà những thiện niệm chóng vánh khởi lên và thoáng qua trong thế giới này. </i></p>
<p style="text-align: justify;">Thế nên, việc nhận ra lòng bi mẫn của chư Phật trong mọi sự việc sẽ cứu giúp bạn và đem lại hạnh phúc cho bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Bất cứ khi nào bạn đối mặt với bệnh tật hay đau khổ, khi gặp ma quỷ và khi những kẻ thù gây nên chướng ngại, hoặc bất kỳ việc gì khác có thể xảy đến với bạn, thì bạn hãy chỉ cầu nguyện Tam Bảo và không dựa vào bất kỳ phương pháp nào khác để đối phó những khó khăn như thế. Nếu bạn phải trải qua việc chữa trị hay sử dụng một nghi thức chữa bệnh, thì hãy làm những việc đó trong niềm nhận thức rằng chính các sự việc đó cũng là hoạt động của Tam Bảo.</p>
<p style="text-align: justify;">Hãy học hỏi để có niềm tin và tri kiến thanh tịnh bằng cách nhận thức được rằng tất cả mọi việc đã xuất hiện đều là do Tam Bảo làm cho hiển lộ. Khi bạn lên đường đi tới một nơi nào đó, dù để làm việc hay vì một vài lý do nào khác, hãy kính lễ Phật, Pháp và Tăng ở hướng đó. Hãy trì tụng lời nguyện quy y liên tục hàng ngày, hoặc bạn dùng bài nguyện Tâm-Yếu đã trích dẫn ở trên, hoặc tụng đọc bài nguyện dưới đây có tên là Tứ Quy Y, thông dụng cho tất cả các Thừa:</p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Con quy y Đạo Sư, </i></b><br />
<b><i>Con quy y Phật. </i></b><br />
<b><i>Con quy y Pháp. </i></b><br />
<b><i>Con quy y Tăng. </i></b></p>
<p style="text-align: justify;">Hãy khuyên bảo người khác quy y và khuyến khích họ thực hành pháp môn quy y. Hãy giao phó bản thân bạn và những người khác cho Tam Bảo trong cả đời này lẫn những đời sau, và hãy thực hành pháp môn quy y [tụng lời nguyện quy y và quán tưởng ruộng công đức quy y] một cách siêng năng.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi bạn đi ngủ, hãy quán tưởng những Bổn Tôn của ruộng công đức, như đã mô tả ở trên, nhưng đặt tất cả những vị ấy trong tim bạn, và rơi vào giấc ngủ trong khi dồn hết tâm thức tập trung vào các Ngài. Nếu không thể làm như vậy, hãy nghĩ tưởng đến Thầy của bạn và đến Tam Bảo như đang thực sự hiện diện bên gối của bạn, tràn đầy lòng từ bi với bạn. Sau đó đi vào giấc ngủ với niềm tin và tri giác thanh tịnh không đánh mất niệm tưởng về Tam Bảo.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi bạn ăn hay uống, hãy quán tưởng Tam Bảo trong cổ họng và cúng dường các Ngài mọi thứ mà bạn ăn hay uống. Nếu bạn không làm được điều đó, hãy cúng dường các Ngài ngụm nước hay miếng ăn đầu tiên, và nghĩ: “Con cúng dường những món này lên Tam Bảo.”</p>
<p style="text-align: justify;">Khi bạn có quần áo mới, trước khi mặc vào lần đầu tiên, hãy nâng chúng lên và thầm cúng dường chúng cho Tam Bảo. Sau đó hãy mặc vào với niệm tưởng rằng Tam Bảo đã ban chúng cho bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Bất cứ khi nào bạn thấy điều gì đem lại cho bạn sự hoan hỷ hay lòng khao khát, hãy thầm cúng dường điều ấy lên Tam Bảo trân quý: những khu vườn đáng yêu đầy hoa, những giòng suối trong trẻo, những ngôi nhà xinh đẹp, những vườn cây tươi mát, những tài sản và của cải vô tận, những người đàn ông và phụ nữ ăn mặc đẹp đẽ.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi rót nước, hãy tung vài giọt vào không trung và nói: “Con cúng dường nước này cho Tam Bảo,” trước khi rót nước vào bình chứa.</p>
<p style="text-align: justify;">Tất cả những hoàn cảnh tốt đẹp và đáng ao ước trong đời này – mọi tiện nghi, hạnh phúc, sự mến mộ, thuận lợi hay bất cứ điều gì bạn có được– cũng đều phát xuất từ lòng từ bi của Tam Bảo. Với lòng quy ngưỡng và tri kiến thanh tịnh, hãy nghĩ rằng: “Con cúng dường tất cả những điều này cho các Ngài”. Hãy cúng dường lên các Ngài bất kỳ nguồn công đức nào mà bạn tạo được – lễ lạy, cúng dường, thiền định về Bổn Tôn, tụng niệm các câu minh chú (mantra), v.v... - và hãy hồi hướng tất cả những nguồn công đức này vì lợi ích của tất cả chúng sinh. Hãy thường xuyên cúng dường Tam Bảo khi bạn có thể làm được, vào ngày mồng một, ngày rằm và sáu thời trong ngày (ba thời vào ban ngày, ba thời vào ban đêm).* Luôn tuân theo những thời điểm đặc biệt này để cúng dường Tam Bảo.</p>
<p style="text-align: justify;">Bất kỳ điều gì xảy tới, dù xấu hay tốt, đừng bao giờ quên quy y Tam Bảo. Hãy tu tập bản thân cho đến khi ngay cả cảm giác sợ hãi trong một cơn ác mộng cũng không làm bạn quên quy y, bởi điều đó có nghĩa là bạn cũng sẽ nhớ để quy y như thế trong thân trung ấm. Tóm lại, hãy đặt toàn bộ niềm tin của bạn nơi Tam Bảo và không bao giờ từ bỏ việc quy y cho dù phải trả giá bằng cả cuộc đời bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Xưa kia, ở Ấn Độ, có một hành giả cư sĩ Phật Giáo bị một số người ngoại đạo (tirthika) bắt giam, họ nói với ông: “Nếu ngươi từ bỏ quy y Tam Bảo, chúng ta sẽ không giết. Nếu không, chúng ta sẽ giết chết ngươi.”</p>
<p style="text-align: justify;"><i>* dus drug, sáu thời: ba thời ban ngày và ba thời ban đêm. </i></p>
<p style="text-align: justify;">Ông ta trả lời: “Tôi chỉ có thể từ bỏ quy y bằng miệng, tôi không bao giờ có thể làm điều đó bằng tâm.” Vì thế họ giết ông.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta nên thực sự giống như vị cư sĩ đó. Một khi ta từ bỏ quy y Tam Bảo, thì dù những pháp tu mà chúng ta thực hành có sâu xa tới đâu chăng nữa, ta có thể không còn là một phần tử của cộng đồng Phật giáo nữa. Có câu nói rằng:</p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Chính việc quy y Tam Bảo cho ta thấy sự khác biệt giữa một Phật tử và một người không phải là Phật tử. </i></b></p>
<p style="text-align: justify;">Có nhiều kẻ ngoại đạo tránh làm những hành vi ác hại, thiền định về các Bổn Tôn, thực hành nương vào những kinh mạch và năng lực, và đạt được những thành tựu thông thường. Nhưng bởi không biết quy y Tam Bảo, họ không ở trên con đường đi tới giải thoát và sẽ không thoát khỏi luân hồi.</p>
<p style="text-align: justify;">Không có duy nhất một điều nào trong tất cả những giáo lý Kinh điển và Mật điển mà Ngài Jowo Atisa không biết hay chưa từng đọc. Nhưng Ngài cho rằng trong tất cả những giáo lý đó, quy y Tam Bảo có tầm quan trọng bậc nhất khiến Ngài đã lấy đó làm một chủ đề để dạy đệ tử – tới nỗi người ta đặt biệt danh cho Ngài là “Học Giả Quy Y.”</p>
<p style="text-align: justify;">Vậy, từ giây phút bạn đi vào con đường giải thoát và trở thành một Phật tử, hãy thực hành quy y cùng với các giới luật của việc quy y, và đừng bao giờ từ bỏ giới luật cho dù mạng sống của bạn đang bị lâm nguy. Như trong một Kinh điển có ghi:</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Những người quy y Phật </i><br />
<i>Là những đệ tử cư sĩ chân chính; </i><br />
<i>Họ không nên tìm kiếm quy y </i><br />
<i>Nơi bất kỳ thần thánh nào khác. </i><br />
<i>Những người quy y Thánh Pháp </i><br />
<i>Không nên có các tư tưởng ác hại. </i><br />
<i>Những người quy y Tăng Đoàn cao quý </i><br />
<i>Không nên kết giao với những kẻ ngoại đạo. </i></p>
<p style="text-align: justify;">Ngày nay, một số người khẳng định mình là đệ tử của Tam Bảo nhưng lại không có sự tôn kính tối thiểu đối với những đại diện của Tam Bảo. Họ coi những tranh tượng tượng trưng cho Đức Phật hay những pho sách chứa đựng những lời dạy của Ngài là những món hàng bình thường có thể được mang ra rao bán hay cầm cố. Điều này gọi là “sinh sống bằng cách bắt giữ Tam Bảo để đòi tiền chuộc” và là một lỗi lầm hết sức nghiêm trọng. Chỉ ra chỗ khiếm khuyết của một bức vẽ hay tượng của một vị Phật hoặc chỉ trích bức tranh hay bức tượng Phậtùù, thì trừ khi bạn ước định được sự cân xứng để sửa chữa bức tượng hay bức tranh đóù, còn bằng không thì đó cũng là một lỗi lầm nghiêm trọng và nên tránh. Đặt Kinh sách trực tiếp trên sàn nhà, bước qua chúng, thấm nước bọt vào ngón tay để lật trang sách và những cư xử thiếu tôn kính khác cũng đều là những lỗi lầm nghiêm trọng. Chính Đức Phật đã nói:</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Sau khi năm trăm năm chấm dứt </i><br />
<i>Ta sẽ hiện diện trong Kinh điển. </i><br />
<i>Hãy xem Kinh điển chính là Ta </i><br />
<i>Và tỏ lòng tôn kính. </i></p>
<p style="text-align: justify;">Một câu châm ngôn để dùng mỗi ngày nói rằng chúng ta không nên đặt những hình ảnh lên trên Kinh điển. Thay vì tượng trưng cho thân hay ý của Đức Phật thì Kinh điển tượng trưng cho ngữ của Ngài, dạy chúng ta điều gì nên làm và điều gi không nên làm và cũng bảo đảm tính liên tục của giáo lý của Ngài. Do đó, kinh điển không khác với bản thân Đức Phật, và thiêng liêng một cách đặc biệt.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngoài ra, phần lớn mọi người nghĩ rằng chuông và chày* là những đồ vật bình thường. Họ không hiểu rõ rằng chúng là những bảo vật tượng trưng cho Tam Bảo. Chày tượng trưng cho tâm Phật, cho năm trí huệ. Chuông mang hình ảnh của một khuôn mặt, theo ngoại Mật điển thì đó là Đức Tỳ Lô Giá Na (Vairochana), và theo quan điểm của các Mật điển thượng thừa thì đó là Đức Vajradhatvishvari. Nói khác đi, chuông mang hình ảnh của thân Phật. Những chữ chạm khắc trên chuông là tám chủng tự của tám vị phối ngẫu, và bản thân của chuông tượng trưng cho ngữ của Phật, âm thanh của Giáo Pháp. Như vậy, chuông và chày đồng thời đáp ứng mọi tiêu chuẩn đại diện cho thân, khẩu và ý của Đức Phật. Đặc biệt hơn, đây là hai đối tượng bao gồm tất cả các mạn đà la của Kim Cương Mật Thừa, và vì thế được coi là những đối tượng mật nguyện phi thường. Như vậy, nếu bạn thiếu tôn kính với những pháp bảo này thì đó là một lỗi lầm nghiêm trọng. Hãy luôn luôn tôn kính các pháp bảo.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>2. Lợi Ích Của Quy Y </b></p>
<p style="text-align: justify;">Quy y là nền tảng của mọi công phu tu tập. Chỉ bằng việc quy y là bạn đã gieo trồng hạt giống của giải thoát trong bản thân bạn. Bạn tự rời xa mọi ác hạnh đã tích lũy, và ngày càng phát triển những thiện hạnh. Quy y là nơi nương tựa cho mọi giới nguyện, là suối nguồn của mọi phẩm tánh tốt đẹp. Cuối cùng, quy y sẽ dẫn bạn đến Phật Quả. Và trong suốt thời gian từ nay cho đến ngày đạt được Phật Quả, quy y sẽ bảo đảm cho bạn là bạn sẽ nhận được sự che chở của những vị Trời từ tâm và thực hiện được mọi điều bạn mong ước; bạn sẽ không xa rời tư tưởng của Tam Bảo; bạn sẽ nhớ đến các Ngài từ đời này sang đời khác và tìm được hạnh phúc và an lành trong đời này và trong những kiếp tái sinh tương lai. Lợi ích của quy y được coi là vô lượng.</p>
<p style="text-align: justify;"><i>*Chuông và chày là những “đối tượng mật nguyện (samaya),” những linh vật cần thiết trong những pháp tu của Kim Cương Thừa (xem Thuật ngữ). </i></p>
<p style="text-align: justify;">Trong Bảy Mươi Đoản Kệ Quy Y có nói:</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Thật ra, ai cũng có thể thọ giới nguyện, </i><br />
<i>Ngoại trừ những người không quy y. </i></p>
<p style="text-align: justify;">Quy y là nền tảng cần thiết cho tất cả các giới nguyện Biệt Giải Thoát (Pratimoksa), những giới nguyện của một hành giả cư sĩ, một sa di, một tu sĩ v.v... Trước khi phát triển Bồ Đề Tâm, nhận quán đảnh của Kim Cương Thừa hay Mật Thừa, và nhận quán đảnh của tất cả những pháp hành trì khác, quy y là yếu tố cần thiết để nhận giới nguyện đầy đủ và xác thực. Nếu trước tiên không thọ giới quy y thì không có cách nào để bắt đầu ngay cả việc hành trì pháp tịnh hóa và chuyển hoá hằng ngày. Quy y sẽ hỗ trợ cho tất cả những giới nguyện và mọi đức tánh tốt lành.</p>
<p style="text-align: justify;">Việc quy y với một lòng tin, thấu hiểu một cách sâu sắc về những phẩm tánh cao quý của Tam Bảo, sẽ đem lại lợi ích không còn phải nghi ngờ gì nữa. Nhưng thậm chí chỉ đơn giản nghe được danh từ “Phật,” hoặc tạo được bất kỳ mối liên kết nào, dù có thể rất mỏng manh, với bất kỳ đại diện nào của thân, khẩu và ý của Đức Phật, là có thể gieo trồng hạt giống của giải thoát, và cuối cùng sẽ dẫn đến trạng thái siêu vượt đau khổ. Trong Tạng Luật (Vinaya) có một câu chuyện kể về một con chó săn đuổi một con heo quanh một bảo tháp. Nhờ kinh nghiệm “nhiễu quanh” này, hạt giống giác ngộ đã được gieo trồng trong cả hai con vật.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo một câu chuyện khác, có ba người đạt được Phật Quả chỉ nhờ một bức tượng tsa tsa bằng đất sét. Một hôm có một người thấy tượng tsa tsa nhỏ bằng đất sét nằm trên mặt đất ngay bên lề đường.</p>
<p style="text-align: justify;">Ông ta nói: “Nếu để tượng nằm đó, trời mưa sẽ làm hỏng nó; tốt hơn ta nên làm điều gì cho nó.” Vì vậy, trước khi đi, ông ta lấy một miếng đế giày da cũ có ai bỏ gần đó che tượng lại.</p>
<p style="text-align: justify;">Một người khác tự nghĩ khi đi qua chỗ đó: “Thật sai lầm khi dùng một đế giày cũ che tượng tsa tsa kia”, và vì thế ông ta bỏ cái đế đi.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhờ vào quả lành của ý hướng thiện lành của họ mà cả người dùng đế giày che tượng tsa tsa lẫn người bỏ cái đế ra đều được thừa hưởng những vương quốc trong các đời sau.</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Với tâm ý thanh tịnh, </i><br />
<i>Người che đầu tượng Phật bằng một đế giày </i><br />
<i>Và người sau đó lại lấy đếù đi </i><br />
<i>Cả hai đều thừa hưởng một vương quốc. </i></p>
<p style="text-align: justify;">Ba người – người đầu tiên đã nặn bức tượng tsa tsa, người thứ hai che tượng lại bằng một cái đế giày, và người cuối cùng lấy đế giày ra – tất cả đều đạt được hạnh phúc ở những cõi cao, được thừa hưởng vương quốc như một lợi lạc nhất thời, và cùng lúc đã tiến tới Phật Quả bằng cách gieo trồng trong tâm thức chính mình chủng tử của sự giải thoát tối hậu.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhờ quy y mà bạn đã tự tách mình khỏi mọi hành động bất thiện. Quy y Tam Bảo với tín tâm chân thành và mãnh liệt sẽ làm suy giảm và cạn kiệt ngay cả những hành động xấu ác mà bạn đã tích tập trong quá khứ. Và từ lúc đó trở đi, những năng lực gia hộø tràn đầy bi mẫn của Tam Bảo sẽ đáp trả lại tất cả những niệm tưởng thiện lành của bạn, tới nỗi bạn sẽ chẳng còn làm bất kỳ điều tổn hại nào nữa.</p>
<p style="text-align: justify;">Một ví dụ khác là Vua A Xà Thế (Ajatasatru), người đã giết cha mình nhưng về sau quy y Tam Bảo. Ông đã chịu đựng những thống khổ của địa ngục trong một tuần lễ và sau đó được giải thoát.</p>
<p style="text-align: justify;">Và Đề Bà Đạt Đa (Devadatta), người đã phạm ba tội ác dẫn tới quả báo tức thời, thậm chí đã phải chịu đựng lửa địa ngục ngay khi còn sống. Nhưng vào lúc đó ông có niềm tin vào giáo lý của Đức Phật và gào lên: “Tôi quyết định quy y Đức Phật từ tận trong xương tủy của tôi!” Đức Phật đã giảng rằng nhờ những lời này mà Devadatta sẽ trở thành một vị Phật Độc Giác có danh hiệu là Dũng Khí Phật. Như thế, giờ đây nhờ thiện tâm của một vị Thầy hay thiện tri thức, bạn đã nhận được Giáo Pháp đích thực và phát khởi một chút ý nguyện mỏng manh muốn làm điều tốt lành và ngưng làm điều sai trái. Nếu bạn nỗ lực thực hành quy y Tam Bảo, tâm thức bạn sẽ nhận được nhiều sự gia trì và bạn sẽ phát triển mọi phẩm hạnh tốt lành của con đường đạo, chẳng hạn như bạn sẽ phát triển được niềm tin, có được tri giác thanh tịnh, không còn mang đầy ảo tưởng về sinh tử luân hồi và sẽ quyết định tìm giải thoát, hoặc sẽ phát triển được niềm tin vào luật nhân quả, v.v... Trái lại, cho dù giờ đây sự chán ghét luân hồi hay quyết tâm đạt được giải thoát của bạn có mãnh liệt tới đâu chăng nữa, nhưng nếu bạn không hết lòng quy y Thầy của bạn và quy y Tam Bảo, hay không cầu nguyện các Ngài, thì bạn sẽ bị sắc tướng bên ngoài quyến rũ. Bạn sẽ trở thành cuồng tín và những niệm tưởng lọc lừa sẽ mau chóng xuất hiện tới nỗi việc này dễ dàng biến thành ác hạnh, ngay cả trong khi bạn đang làm điều tốt. Vì thế, thật vô cùng cần thiết để bạn phải hiểu rằng không có gì tốt đẹp hơn việc quy y để cắt đứt sự vận hành của những việc bất thiện trong tương lai.</p>
<p style="text-align: justify;">Bây giờ nói đến một vấn đề quan trọng khác. Có câu nói rằng:</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Ma quỷ đặc biệt thù ghét những người kiên trì trong tu tập. </i></p>
<p style="text-align: justify;">Và:</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Càng tu tập mãnh liệt thì ma quỷ càng mạnh mẽ. </i></p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta đang ở trong một thời đại suy đồi, những người thiền định về ý nghĩa sâu xa và những người tràn đầy năng lực thiện hạnh, chính họ lại dễ bị những cám dỗ của đời sống thế tục đánh lừa. Họ bị gia đình và bạn bè cản trở. Họ đau khổ bởi những nghịch cảnh như bệnh tật và bị nhiễu loạn bởi những mầm mống tiêu cực. Tâm thức họ bị tràn ngập bởi thất niệm và luôn đắn đo, do dự. Dưới nhiều hình thức phóng tâm như thế, những chướng ngại cho việc thực hành Giáo Pháp xuất hiện và tiêu hủy tất cả công đức của họ. Nhưng, để đối trị với những nguy hiểm này, nếu bạn thực sự nỗ lực chân thành quy y Tam Bảo thì tất cả những gì gây trở ngại cho việc tu tập của bạn sẽ được chuyển hoá thành ra những hoàn cảnh thuận lợi, và công đức của bạn sẽ tăng trưởng liên tục.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày nay, khi những gia chủ loan báo rằng họ đang tự bảo vệ bản thân và gia đình họ khỏi bị bệnh tật trong năm, họ đã mời thỉnh một số Lạt Ma và đệ tử của các vị này – trong khi không một ai trong số các Lạt Ma đó đã từng nhận lãnh quán đảnh cần thiết hay từng nhận khẩu truyền, cũng không thực hành những tụng niệm căn bản. Các gia chủ thỉnh mời các vị này khai mở mạn đà la của một vài Bổn Tôn phẫn nộ.126 Không kinh qua giai đoạn phát triển (generation stage) và giai đoạn toàn thiện (completion stage), họ trợn tròn đôi mắt như những chiếc đĩa nhỏ và thả mình vào một cơn giận dữ điên cuồng nhắm vào một hình nhân bằng bột nhào.* Họ luôn thực hiện những lễ “cúng dường đỏ” gồm máu và thịt, và họ lên tiếng kêu gào “Đem chúng tới! Giết chúng! Liệu hồn đấy! Đánh chúng!” để khơi dậy trong lòng bất cứ ai nghe thấy những lời này những cảm xúc khích động dữ dội. Điều Ngài Milarepa nói dưới đây cho ta có một cái nhìn rõ ràng hơn về những nghi lễ như thế :</p>
<p style="text-align: justify;"><i>* Hiểu một cách đúng đắn thì một hình nhân như thế tượng trưng cho khái niệm sai lạc rằng bản ngã thực sự hiện hữu. Ở đây nghi thức linh thiêng đang được sử dụng trong một cách thế hời hợt bề ngoài, đối nghịch với ý hướng của pháp môn hành trì. </i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Cầu thỉnh những Bổn Tôn trí tuệ để bảo vệ chúng sinh thế tục chẳng khác nào lôi một vị vua từ ngai vàng xuống và bắt quét nhà. </i></p>
<p style="text-align: justify;">Ngài Padampa Sangye nói:</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Họ làm một mạn đà la Mật Chú trong một chuồng dê </i><br />
<i>trong làng và tuyên bố đó là một hình thức giải độc! </i></p>
<p style="text-align: justify;">Những pháp thực hành thuộc loại này làm nhiễm độc Mật Thừa và biến Mật Thừa thành pháp tu hành của những người theo đạo Bưn. Những người thực hiện những pháp tu “giải thoát” phải vượt lên mọi tư lợi. Chỉ có những người như thế, hành động trên một phạm vi rộng lớn vì lợi ích của chúng sinh và vì giáo pháp, mới có thể có đủ phẩm tính để giải thoát những địch thủ và những người gây chướng ngại là những kẻ đang phạm mười ác hạnh. Nhưng khi một pháp tu như thế được thực hiện với tâm sân hận thông thường, với đầu óc phe phái, thì pháp hành trì ấy không những sẽ không có năng lực để giải thoát các chúng sinh liên hệ, mà còn gây ra việc phải bị đọa xuống địa ngục cho người hành trì pháp ấy.</p>
<p style="text-align: justify;">Đối với những người không thành tựu những giai đoạn phát triển (generation stage) và giai đoạn toàn thiện (completion stage) và những người không tuân theo các mật nguyện, việc thực hiện những nghi lễ “cúng dường đỏ” gồm máu và thịt không đem lại kinh nghiệm chứng ngộ nào từ các</p>
<p style="text-align: justify;">Bổn Tôn trí tuệ lẫn những Hộ Pháp. Thay vào đó, những vị Trời và ma quỷ ác độc sẽ tụ hội lại để cùng hưởng thụ những vật thực cúng dường và bánh cúng (torma). Dường như họ có thể mang lại một số lợi ích tức thời, nhưng kết quả sau cùng sẽ là vô số những hậu quả không ai mong muốn.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự che chở gia hộ tốt nhất là bạn hãy đặt niềm tin nơi Tam Bảo. Hãy thỉnh cầu những vị Thầy và những tăng sĩ là những người đã an định và kiểm soát được tâm thức của mình để xin các Ngài tụng một trăm ngàn lần bài nguyện quy y. Bạn sẽ nhận được lực gia hộ từ Tam Bảo; sẽ không có điều gì bất như ý xảy ra cho bạn trong đời này và mọi ước muốn của bạn sẽ được thực hiện một cách tự nhiên. Những Thiện Thần sẽ bảo vệ bạn, và thậm chí tất cả những ai có thể làm hại bạn – ma quỷ và những kẻ gây chướng ngại – sẽ không tới gần bạn được.</p>
<p style="text-align: justify;">Có lần, một số người bắt được một tên trộm và đánh cho hắn một trận, mỗi lần đánh một gậy là họ niệm một câu trong bài nguyện quy y:</p>
<p style="text-align: justify;">“Tôi quy y Phật,” chát! “Tôi quy y Pháp,” chát! ..v..v...</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi đã khắc sâu những lời này vào tâm thức tên trộm, họ thả hắn đi. Tên trộm ngủ đêm dưới một cây cầu, tâm thức hắn tràn đầy lời lẽ của bài nguyện quy y, cùng với ký ức về trận đòn đau đớn mà hắn đã nhận. Trong khi hắn nằm ở đó thì một nhóm quỷ ma kéo tới gần cây cầu. Nhưng sau đó chúng la lên: “Ở đây có người quy y Tam Bảo!” và tất cả bỏ chạy, la hét inh ỏi.</p>
<p style="text-align: justify;">Để diệt trừ những ác hạnh của cuộc đời này thì không có cách nào tốt hơn việc quy y Tam Bảo tận đáy lòng bạn. Và trong những đời tương lai, quy y Tam Bảo sẽ đem tới cho bạn giải thoát và giác ngộ. Thậm chí khó có thể hình dung được tất cả những lợi ích của việc quy y.</p>
<p style="text-align: justify;">Kinh Vô Nhiễm có nói:</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Nếu tất cả công đức của quy y </i><br />
<i>Có hình tướng, </i><br />
<i>Thì toàn thể không gian sẽ hoàn toàn tràn ngập, </i><br />
<i>Không đủ sức dung chứa.</i></p>
<p style="text-align: justify;">Và trong Bát Nhã Tập Kệ có nói:</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Nếu công đức của quy y có hình tướng, </i><br />
<i>Thì cả ba cõi cũng không thể chứa được. </i><br />
<i>Làm sao đo lường nước bốn biển </i><br />
<i>Chỉ bằng một chiếc muỗng nhỏ? </i></p>
<p style="text-align: justify;">Thêm nữa, như Đại Nhật Tâm Kinh có nói:</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Người coi Đức Phật là nơi nương tựa</i><br />
<i>Mười triệu ma quỷ cũng không thể hãm hại; </i><br />
<i>Dù họ vi phạm giới nguyện hay đau khổ trong tâm, </i><br />
<i>Chắc chắn họ sẽ siêu vượt tái sinh.</i></p>
<p style="text-align: justify;">Do đó, hãy nhiệt thành, tận tụy hành trì pháp môn quy y, đây là nền tảng của tất cả những pháp tu của Giáo Pháp, bởi lẽ lợi ích của quy y thì thật vô biên vô tận.</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Con đã thực hiện ba bước quy y nhưng ít lòng tin chân thành, </i><br />
<i>Con đã thực hành ba bước hướng dẫn nhưng để cho </i><br />
<i>giới nguyện lơi lỏng. </i><br />
<i>Xin từ bi gia hộ cho con và những kẻ bạc nhược như con </i><br />
<i>Khiến niềm tin của chúng con kiên cố và bất thối chuyển.</i></p>
<p style="text-align: justify;">http://thuvienhoasen.org/p39a6395/chuong-i-quy-y-nen-tang-cua-moi-con-duong</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/quy-y-nen-tang-cua-moi-con-duong/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
