<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Nhân Quả</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/thuc-hanh/tam-xa-ly-luan-hoi/nhan-qua/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Fri, 17 Apr 2026 16:09:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Sự hiểu biết về nghiệp</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/tam-xa-ly-luan-hoi/su-hieu-biet-ve-nghiep/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/tam-xa-ly-luan-hoi/su-hieu-biet-ve-nghiep/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 02 Sep 2018 00:28:30 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Nhân Quả]]></category>
		<category><![CDATA[Tâm xả ly Luân hồi]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=8878</guid>
		<description><![CDATA[Ba hình thức đau khổ được đề cập trong chương trước là kết quả của nghiệp. Kinh Một trăm Nghiệp quả giảng nghĩa làm thế nào những loại nghiệp khác nhau tạo ra đủ loại sinh loài. Theo Phật giáo, mọi sự do nghiệp tạo ra, không có gì là tác phẩm của một đấng toàn năng. Mọi sự ta làm&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/tam-xa-ly-luan-hoi/su-hieu-biet-ve-nghiep/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ba hình thức đau khổ được đề cập trong chương trước là kết quả của nghiệp. </span><i><span style="font-weight: 400;">Kinh Một trăm Nghiệp quả</span></i><span style="font-weight: 400;"> giảng nghĩa làm thế nào những loại nghiệp khác nhau tạo ra đủ loại sinh loài. Theo Phật giáo, mọi sự do nghiệp tạo ra, không có gì là tác phẩm của một đấng toàn năng. Mọi sự ta làm tạo nên hậu quả của nó, kết quả của nó. Không có đấng siêu việt hay vị trời nào hài lòng hay khó chịu về những gì ta làm và khen thưởng hay trừng phạt những thiện hạnh hay ác hạnh của ta. Luật nghiệp quả, trong thực tế là định luật tương thuộc, có thể được nói theo cách này: Mọi sự ta làm sẽ có những kết quả. Một thiện hạnh sẽ có những kết quả tốt. Một ác hạnh sẽ có những kết quả xấu. Không có điều gì và không ai quyết định việc khen thưởng hay trừng phạt ta. Chính sức mạnh của hành động mang lại kết quả tương ứng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự tương tác của tất cả những hành động mà ta làm thì thật phức tạp, như những câu chuyện sau đây minh họa. Một bà lão vừa nghe giảng về những kết quả của nghiệp tại một tu viện lân cận. Khi nói về những lợi lạc của thiện hạnh, Lạt ma đã khẳng định rằng ngay cả những thiện hạnh nhỏ bé cũng có những kết quả to lớn, chẳng hạn như, nhờ tụng một lần duy nhất danh hiệu của Đức Phật A Di Đà, ta sẽ được tái sinh trong cõi tịnh độ Sukhavati </span><span style="font-weight: 400;">(Cực Lạc). Khi nói về hậu quả tiêu cực của những ác hạnh, ngài nói rằng lỗi lầm nhỏ bé nhất, thậm chí một sự nói dối đơn giản, cũng đủ để nhận chìm chúng ta trong những địa ngục trong hàng ngàn kiếp. Bà lão bối rối, đi tới vị Lạt ma và hỏi ngài: “Nếu những gì ngài nói về kết quả của các thiện hạnh là chân thực, không chỉ các Lạt ma mà ngay cả con cũng thành Phật trong đời này. Trái lại, nếu con tin điều ngài nói về ác hạnh, thì chắc chắn là không chỉ một mình con mà ngay cả ngài cũng sẽ đọa địa ngục! Như thế, chúng ta đứng ở đâu?”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong thực tế, không ai trong chúng ta xử sự hoàn toàn tích cực hay tiêu cực. Hành vi của ta, nghiệp của ta bao gồm rất nhiều yếu tố không xứng hợp hoàn toàn bị kết buộc vào nhau, điều tiêu cực cùng với điều tích cực, khiến các kết quả cũng vô cùng phức tạp. Người ta nói rằng mỗi màu sắc của một chiếc lông công có nhân quả riêng của nó. Chỉ có một bậc hoàn toàn chứng ngộ mới có thể quyết định một cách chính xác đâu là nguyên nhân của một sự việc. Không ai hành động theo một cách thế hoàn toàn tích cực hay tiêu cực, và vì thế những kết quả mà ta gặt hái thật hỗn tạp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ý niệm nghiệp thường bị ngộ nhận và lầm lẫn với thuyết định mệnh, sự chấp nhận thụ động định mệnh của ta. Khi đó nghiệp được coi là một sức mạnh lôi kéo ta giống như một kiện rơm bị xô đẩy trên đại dương của cuộc đời. Tuy nhiên, đây không phải là lý thuyết về nghiệp của Phật giáo, là cái gì không hoàn toàn là định mệnh mà năng động hơn nhiều.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Định luật nghiệp quả chính là định luật của sự tương thuộc, của sự xuất hiện có điều kiện. Như đã được giải thích trong tiết mục trước, điều ta là hiện nay là kết quả của quá khứ của ta, của nghiệp mà ta từng tích tập. Sức mạnh của nghiệp này đã định hình chúng ta và đặt ra các giới hạn của những gì mà ta đang là. Điều đó giải thích vì sao ta không luôn luôn thành tựu được những gì ta muốn. Dĩ nhiên là chúng ta bị giới hạn nhưng trong hình thức, không gian của ta, ta có sự chọn lựa để hành động theo một cách thế nào đó hay không. Giờ đây tương lai của ta nằm trong tay ta. Điều ta làm hiện nay sẽ tạo nên tương lai của ta. Đây là luật nghiệp quả. Mỗi người có nghiệp riêng của họ, hay chính xác hơn nữa, mỗi người </span><i><span style="font-weight: 400;">là</span></i><span style="font-weight: 400;"> nghiệp của riêng họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngoài nghiệp cá nhân (biệt nghiệp) còn có cái được gọi là nghiệp tập thể (cộng nghiệp). Thế giới mà ta sống trong đó là sản phẩm của cộng nghiệp của những cư dân của nó. Những chúng sinh cùng chia sẻ những cấp độ hiện hữu theo nghiệp giống nhau có thể truyền thông với nhau, là điều họ không thể làm được nếu họ sống ở những thế giới khác nhau. Tuy nhiên, cách thức chúng sinh hành động trong một cấp độ nghiệp nào đó và cách họ bị ảnh hưởng một cách riêng lẻ bởi các sự kiện chung nhất thì tùy thuộc vào biệt nghiệp của họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ta tích </b><b>tập nghiệp</b><b> ra sao?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ta tích tập nghiệp bởi định luật nhân quả, hay hành động-phản ứng. Theo </span><i><span style="font-weight: 400;">Abhidharmakosha</span></i><span style="font-weight: 400;"> (A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận), có hai loại hành động, hai khía cạnh của sự tích tập nghiệp, là điều trong tiếng Tây Tạng chúng tôi gọi là </span><i><span style="font-weight: 400;">sempele</span></i><span style="font-weight: 400;"> và </span><i><span style="font-weight: 400;">sampele</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Yếu tố thứ nhất là hoạt động của tâm, tư tưởng, ý hướng. </span><i><span style="font-weight: 400;">Sempe-le</span></i><span style="font-weight: 400;"> có nghĩa là nghĩ tưởng mà không hành động. Thực ra, mỗi hành động bắt đầu trong tâm ta. Không có một tư tưởng lúc ban đầu thì không thể có hành động. Đây là nghiệp của tâm, của động lực. Ta không đưa nó vào hành động, nhưng động lực đã có ở đó. Yếu tố thứ hai, </span><i><span style="font-weight: 400;">sampe-le</span></i><span style="font-weight: 400;">, nghĩa là đưa tư tưởng vào hành động, dù bằng vật lý (thân thể) hay bằng ngôn từ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những phạm trù khác nhau này về các hành vi có thể có ba loại kết quả: nghiệp tích cực, tiêu cực, hay trung tính. Nghiệp tiêu cực là kết quả của một hành vi thực sự ác hại, chẳng hạn như sát sinh, nói dối, hay trộm cắp. Ta nói về mười hành vi ác hại, là những điều nằm trong các nguyên nhân chính yếu của nghiệp tiêu cực. Nghiệp tích cực là sản phẩm của những hành động tốt lành (thiện hạnh), như bố thí, bảo vệ mạng sống, sống đức hạnh và v.v... Nghiệp trung tính xuất phát từ sự không hoạt động của ta, như khi ta ngủ và khi ta ở trong </span><i><span style="font-weight: 400;">samadhi.</span></i><span style="font-weight: 400;"> Khi đó ta không tạo nghiệp, dù tích cực hay tiêu cực.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ba loại n</b><b>ghiệp quả</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ta phân biệt ba loại kết quả.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Loại kết quả đầu tiên được gọi là kết quả trực tiếp, hay kết quả của sự thuần thục. Chẳng hạn như một người phạm tội sát nhân do hận thù một bậc phi thường vô cùng tử tế đối với chúng ta. Kết quả trực tiếp của một hành động khủng khiếp như thế có thể là, chẳng hạn thế, bị tái sinh trong những địa ngục hay phải chịu sự đau khổ hết sức dữ dội.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Loại kết quả thứ hai là điều ta gọi là điều kiện tương tự. Giống như kết quả trực tiếp của một kẻ sát nhân như thế sẽ bị tái sinh trong địa ngục, điều kiện tương tự sẽ là tái sinh trong thế giới con người nhưng với một thọ mạng ngắn ngủi. Bởi tính chất tương tự của điều kiện, người đó sẽ chết một cách dữ dội bởi một tai nạn, một cuộc tấn công, hay một sự kiện tương tự.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Loại kết quả thứ ba bao gồm những hậu quả phụ thuộc. Chẳng hạn như sau kết quả trực tiếp của việc tái sinh trong địa ngục và đã kinh nghiệm các điều kiện tương tự, ta vẫn có thể phải chịu những hậu quả phụ thuộc, chẳng hạn như bị sinh ra ở một nơi vô cùng hỗn loạn, không vững chắc, là nơi nạn đói và chiến tranh xảy ra ác liệt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Nghiệp t</b><b>huần thục</b><b> theo bốn cách</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mặc dù điều này không được đề cập trong bản văn của Gampopa, nó rất ích lợi để giúp ta hiểu rõ bốn cách thuần thục của nghiệp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trước hết là tức thì. Ngay sau hành động là kết quả của nó. Ta đánh người nào đó và người ấy đánh trả lại. Ta sỉ nhục người nào đó và ngay lập tức người ấy đáp trả. Hậu quả xảy ra trong một cuộc đời được gọi là hậu quả tức thời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cách thứ hai là khi kết quả không được nhìn thấy ngay trong đời này nhưng xảy ra trong đời sau.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thứ ba là khi kết quả được tạo ra trong một tương lai không được xác định, bởi hành động đã phạm không quá mạnh mẽ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cách thứ tư là khi nó không rõ ràng dù hành động sẽ có một kết quả hay không. Nó yếu tới nỗi có thể không có kết quả đáng kể nào.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tầm quan trọng của sức mạnh của động lực cho thấy tương lai của ta không hoàn toàn do những hành động trong quá khứ quyết định. Giả sử như do bởi nghiệp được kết hợp với những hành động trong quá khứ của ta, ta được cho là sẽ hành động theo một cách nào đó. Nếu động lực hiện tại của ta đi theo một hướng đối nghịch và rất mạnh mẽ, hậu quả của nghiệp tiêu cực của ta có thể bị trì hoãn hay thậm chí được ngăn ngừa và khi đó ta có thể đi theo một hướng mới. Khi động lực mạnh mẽ hơn áp đảo động lực yếu, đó là một ví dụ của điều mà ta gọi là kết quả tức thời. Một cách tự nhiên, những cơ chế này cũng áp dụng cho các thiện hạnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Đập vỡ xiềng xích của nghiệp</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chừng nào ta còn là những tù nhân của tiến trình tích tập nghiệp này, dù là nghiệp xấu hay tốt, ta còn bị trói buộc trong sinh tử. Khi tạo nghiệp tốt, nghiệp xấu, rồi nghiệp trung tính, ta đi lòng vòng, lên xuống, trong sự lầm lạc của sinh tử. Tuy nhiên, mọi nghiệp đều nhất thời: những kết quả xuất hiện và biến mất. Chúng không phải là một thành phần của chúng ta; chúng ngẫu nhiên và tạm bợ. Vì thế ta có thể hoàn toàn đập vỡ xiềng xích và giải thoát bản thân.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mọi nghiệp, dù xấu hay tốt, đều có thể được tịnh hóa. Ngay cả nghiệp xấu xa nhất cũng có thể được tẩy sạch khi ta thành tâm hối tiếc điều ta đã làm và cam kết không tái phạm. Khi đó ta thay thế ác nghiệp bằng thiện nghiệp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nhưng thậm chí ta có thể đi xa hơn nữa, và điều tốt nhất ta có thể làm là đập vỡ xiềng xích của nghiệp một lần và mãi mãi. Điều này có thể thực hiện được nếu ta hoàn toàn tẩy trừ sự vô minh của ta, là ảo tưởng về bản ngã. Việc chiến thắng sự vô minh, mê lầm của ta, giải thoát ta khỏi sự kìm kẹp của bản ngã. Ngay khi không còn “người” kinh nghiệm những kết quả của nghiệp, dây xích của nó bị đập vỡ. Không có sự tích tập của nghiệp thì không có thêm nghiệp quả.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đây là một câu chuyện minh họa vấn đề này. Trong thời Đức Phật còn tại thế, vua A Xà Thế giết cha của mình, là một A La Hán thánh thiện. Về sau, do ảnh hưởng của Đề Bà Đạt Đa, một người em họ có tánh hay ganh tị của Đức Phật, nhà vua toan giết ngay cả Đức Phật. Thật may mắn là vua đã không thể phạm vào hành động vô cùng tàn ác này. Năm tháng trôi qua và nhà vua hiểu được sự khủng khiếp của tội ác đó. Tràn ngập sự ăn năn, vua đã hối lỗi và khẩn cầu Đức Phật gửi đến cho ông một người để nghe ông sám hối và giúp ông tịnh hóa bản thân. Đức Phật đã phái Đức Văn Thù, là người thay vì trấn an nhà vua, đã cam đoan là vua sẽ bị đọa vào địa ngục đen tối nhất mà không có chút hy vọng nào ra khỏi nơi đó. Vua A Xà Thế tuyệt vọng. Khi vua rơi vào trạng thái vô cùng tuyệt vọng, thình lình Đức Văn Thù hỏi ông: “Hãy nhìn kỹ xem. Ai sắp bị thiêu cháy trong địa ngục? Cái gì ở trong ông thực sự sắp vào địa ngục? Cái gì, hay ai?”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">A Xà Thế tìm kiếm và cuối cùng, trong chốc lát, nhận ra được chân tánh của mình. Ông nhận ra rằng mình không phải là một đơn vị độc lập sẽ đi vào địa ngục, mà là một toàn thể (một uẩn) và một sự xuất hiện từ nhiều nguyên nhân và điều kiện (duyên); hầu như là một tiến trình. Trong chốc lát, ông nhận ra chân tánh của mình. Ngay lập tức ông đập vỡ sợi xích nghiệp quả và hoàn toàn giải thoát bản thân. Ông đã đạt được cấp độ thứ nhất của sự chứng ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mục tiêu chính yếu của Giáo Pháp là đập vỡ sợi xích nghiệp quả, đập vỡ sự dính mắc, bám chấp, gắn kết này, nó chính là gốc rễ của sinh tử. Việc giảm thiểu sự gắn kết với một cái ngã, sự dính mắc vào ý niệm bản ngã, cho phép ta buông bỏ, thư thản. Cuối cùng ta có thể đặt xuống gánh nặng vô ích mà ta từng mang quá lâu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rất cần phải thấu hiểu điều này, thậm chí cho đến chừng nào đời sống hàng ngày của ta còn được quan tâm, và đặc biệt là ở phương Tây, nơi cách tiếp cận tâm lý có khuynh hướng giải thích mọi vấn đề trong sự liên hệ với những kinh nghiệm trong thời thơ ấu. Theo cách tiếp cận của Phật giáo, chính ký ức, sự dính mắc vào các ký ức là nguồn mạch thực sự của các vấn đề. Trong thực tế, bạn không còn là đứa trẻ bị ngược đãi, không được yêu thương, bị ngộ nhận đó nữa. Vào lúc này, nỗi khổ đó chỉ tác động lên bạn bởi bạn nghĩ rằng bạn là con người đó. Nếu bạn không bám chấp vào những hồi ức đó, nếu bạn không gắn kết với đứa trẻ mà có một thời bạn là, thì những kinh nghiệm trong quá khứ không còn là vấn đề đối với bạn nữa và không thể ảnh hưởng tới bạn. Chúng sẽ chỉ là hồi ức về những sự kiện đã xảy ra cho người nào khác. Ngay khi ta hiểu rằng quá khứ là quá khứ, hiểu rằng nó chỉ là một ký ức, thì ngay lập tức ta giải thoát bản thân khỏi những vấn đề mà ta từng mang theo trên người rất lâu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vì thế, hãy cố gắng thấu hiểu và chứng ngộ sâu xa tính Không. Việc thấu hiểu và kinh nghiệm chân lý tuyệt đối là vũ khí tối thượng có thể chặt đứt dây xích nghiệp quả.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tuy nhiên, đồng thời cũng rất cần phải hiểu rằng đừng bao giờ phớt lờ nghiệp hay xem thường những hậu quả của nó. Chừng nào ta còn kinh nghiệm một bản ngã thì ta còn ở trong sự lầm lạc và vô minh, và như thế còn chịu tác động của những hậu quả của nghiệp. Vì thế, hãy cần thận trọng càng tốt để tích tập thiện nghiệp và tránh tạo ra ác nghiệp, trong khi cố gắng phát triển sự hiểu biết về thực tại tối hậu. Những giáo huấn này là giáo huấn cốt tủy của các Lạt ma Kadampa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b></b><strong>Ringu Tulku</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em><span style="font-weight: 400;">Việt dịch: Thanh Liên</span></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Trích: Con đường dẫn đến Phật quả, NXB Shambhala Boston – London . 2003 </em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/tam-xa-ly-luan-hoi/su-hieu-biet-ve-nghiep/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tái Sinh Và Nghiệp</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/tam-xa-ly-luan-hoi/tai-sinh-va-nghiep/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/tam-xa-ly-luan-hoi/tai-sinh-va-nghiep/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 13 Aug 2016 06:53:01 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Nhân Quả]]></category>
		<category><![CDATA[Tâm xả ly Luân hồi]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6965</guid>
		<description><![CDATA[Tái sinh và nghiệp là những vấn đề liên quan đến nhau gắn liền với mỗi cuộc đời. Mỗi khoảnh khắc là sự nối tiếp của khoảnh khắc trước đó, và theo quan điểm Phật giáo sự nối tiếp từ khoảnh khắc này tới khoảnh khắc khác dường như không dứt. Tái sinh, nói một cách giản dị là sự&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/tam-xa-ly-luan-hoi/tai-sinh-va-nghiep/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tái sinh và nghiệp là những vấn đề liên quan đến nhau gắn liền với mỗi cuộc đời. Mỗi khoảnh khắc là sự nối tiếp của khoảnh khắc trước đó, và theo quan điểm Phật giáo sự nối tiếp từ khoảnh khắc này tới khoảnh khắc khác dường như không dứt. Tái sinh, nói một cách giản dị là sự nối tiếp của tâm thức.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Có những mức độ tái sinh khác nhau – tái sinh của những người bình thường và chúng sinh trong những cõi giới khác, như là súc sinh, trời, thần linh, và bồ tát. Sự tái sinh tối thượng là hóa thân (</span><i><span style="font-weight: 400;">nirmanakaya)</span></i><span style="font-weight: 400;"> của Phật – đó là sự hiển thị thân vật chất của Phật. Từ này, </span><i><span style="font-weight: 400;">nirmanakaya</span></i><span style="font-weight: 400;"> – </span><i><span style="font-weight: 400;">tulku</span></i><span style="font-weight: 400;"> trong tiếng Tạng có một định nghĩa đặc biệt. Theo nghĩa đen, nó có nghĩa là “ hiện thân”. Tái sinh áp dụng cho tất cả chúng sinh, nhưng thuật ngữ </span><i><span style="font-weight: 400;">tulku</span></i><span style="font-weight: 400;"> lại ám chỉ đến hóa thân của những hành giả thành tựu đặc biệt, những vị bồ tát và những vị phật toàn vẹn. Những tái sinh này chỉ có mục đích duy nhất là để phục vụ chúng sinh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Một định nghĩa đơn giản của tái sinh là sự nối tiếp của tâm thức. Nghĩa là cùng một tâm thức nhưng tái sinh vào những thân thể khác nhau. Tâm thức khiến cho việc tái sinh diễn ra liên tục dưới những hình tướng vật lý khác nhau. Vì lý do này, theo Phật giáo, rõ ràng là tâm thức không chết mà chỉ có thân thể chết. Cái chết là của thân thể. Tâm thức không chết. Đây là hai vấn đề quan trọng cần nắm bắt được ngay từ đầu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thời điểm của cái chết là một khoảnh khắc mạnh mẽ. Nếu một người bình thường ở khoảnh khắc đó có lòng thành tâm mạnh mẽ, và có lòng bi mẫn, và sự sáng suốt, trạng thái tâm thức của người này sẽ tác động to lớn và tích cực vào kiếp tái sinh của họ. Trong khoảnh khắc này, nếu tâm thức ở trạng thái tiêu cực như là sân hận, cự tuyệt, sợ hãi, vân vân, thì sẽ có tác động tiêu cực mạnh mẽ vào kiếp tái sinh tương lai. Vì vậy, thời điểm của cái chết là điều cực kỳ quan trọng cần xem xét vì liên quan tới tái sinh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nói chung, tái sinh của những chúng sinh bình thường có thể chia làm hai loại, nhưng điều quan trọng cần nhớ rằng mỗi cá nhân là một trường hợp đơn lẻ. Có cái chết bình thường không có bất kỳ nhân tố tích cực hay tiêu cực nào trong suốt thời điểm của cái chết. Những người trải qua loại này sẽ tái sinh với sự kiểm soát hoàn toàn của nghiệp kiếp trước của họ, bởi vì không có ảnh hưởng đặc biệt nào trong khoảnh khắc diễn ra cái chết. Nếu có tác động mạnh mẽ của các yếu tố tích cực hay tiêu cực, khi đó các yếu tố này sẽ lấn át nghiệp quá khứ. Đây là loại tái sinh thứ hai mà những tư tưởng tích cực hay tiêu cực sẽ dẫn dắt tâm thức chúng sinh vào tái sinh tích cực hay tiêu cực.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tái sinh của một vị Bồ tát khá là khác với các chúng sinh bình thường. Các Bồ tát là những người đã thực hành Bồ tát đạo thành công, và có Lời thề của Bồ tát, do vậy họ cam kết để đạt tới giác ngộ vì tất cả chúng sinh cũng như bản thân họ. Đây là một bồ tát đích thực. Có những hành giả rất tinh tấn và những vị bồ tát đạt được tỉnh giác của bồ tát sơ địa. Nhưng có sự khác nhau giữa hai cấp độ này. Những hành giả rất tinh tấn chưa đạt tới </span><i><span style="font-weight: 400;">bhumi</span></i><span style="font-weight: 400;"> đầu tiên, nhưng do họ có động cơ tốt đẹp nên họ sẽ tái sinh trong những hoàn cảnh giúp họ tiếp tục thực hành bồ đề tâm. Họ đã có những cam kết về Bồ tát đạo, và do sức mạnh Bồ đề tâm của họ, sự tái sinh của họ sẽ có nhiều hoặc là ít hơn hành động của một vị Bồ tát. Những người này có thể được gọi là những vị Bồ tát thế gian vì họ chưa thực sự đạt được </span><i><span style="font-weight: 400;">bhumi</span></i><span style="font-weight: 400;"> đầu tiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Theo các kinh điển, ngay khi một vị Bồ tát sơ địa đạt được tỉnh giác đầu tiên, sự hiển thị của người này không bị giới hạn nữa. Đức Phật nói rằng vị Bồ tát sơ địa có thể cùng lúc hiển thị ở một trăm nơi khác nhau để trợ giúp chúng sinh. Ngài có thể hiển thị ở một trăm ngân hà khác nhau, hay là ở một trăm vị trí khác nhau trong một quốc gia. Từ cấp độ sơ địa cho đến cấp độ thập địa của quả vị Bồ tát, năng lực xác định để tái sinh vì lợi ích của chúng sinh sẽ được gia tăng, và do vậy tạo thành loại khác của tái sinh – gọi là hóa thân Bồ tát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong truyền thống Phật giáo Kim Cương Thừa của Tây Tạng, chúng tôi có các </span><i><span style="font-weight: 400;">tulkus</span></i><span style="font-weight: 400;">. Kim Cương Thừa có những phương pháp xác định các đạo sư hóa thân, và dùng những phương pháp này có thể tìm bất kỳ đạo sư hóa thân nào, không chỉ những hóa thân của các đạo sư mà cả hóa thân của những người khác nữa. Dĩ nhiên, nếu một </span><i><span style="font-weight: 400;">tulku</span></i><span style="font-weight: 400;"> tái sinh trong một vũ trụ khác thì không thể đem ngài trở lại, nhưng nếu tái sinh trong vùng xung quanh thì hóa thân của họ có thể tìm được. Phương pháp này chỉ sử dụng để tìm các Đạo sư, không được dùng để tìm những người bình thường, các nhà lãnh đạo chính trị, hay là các vị vua. Phương pháp này được sử dụng chỉ để tìm các lãnh tụ tôn giáo, một truyền thống mà cho đến nay chưa bao giờ bị phá vỡ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không phải tất cả các Đạo sư đều được tìm thấy. Một số </span><i><span style="font-weight: 400;">tulkus</span></i><span style="font-weight: 400;"> trở lại một số lần nhất định nhưng sau đó không tìm thấy nữa. Chắc chắn cũng có những Đạo sư vĩ đại tái sinh mà không được nhận ra chính thức. Bởi có những lý do liên quan đến hạnh Bồ tát của mỗi Đạo sư, mà họ không xuất hiện công khai.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hầu hết các môn phái Phật giáo Kim Cương Thừa đều có ít nhất một Đạo sư hóa thân, hay là </span><i><span style="font-weight: 400;">tulku</span></i><span style="font-weight: 400;">. Điều này thường khởi đầu khi một Đạo sư thánh thiện và vĩ đại thiết lập một tu viện có một đệ tử đặc biệt, và thu hút một nhóm các tín đồ. Khi Đạo sư đó viên tịch, sự tái sinh của người này thường được tìm thấy bởi người đồng môn gần gũi, có thể là một đệ tử, hoặc là một trong số những vị thầy còn sống của Đạo sư này. Các đệ tử sẽ chăm sóc </span><i><span style="font-weight: 400;">tulku</span></i><span style="font-weight: 400;"> dưới sự chỉ bảo của người đệ tử chính, hoặc là của hóa thân của người Thầy của Đạo sư. Sớm hay muộn thì vị Đạo sư tái sinh sẽ trở thành người đứng đầu của tu viện và tiếp tục các hoạt động làm lợi ích cho chúng sinh. Đó là hoạt động của hệ thống </span><i><span style="font-weight: 400;">tulku</span></i><span style="font-weight: 400;">. Cùng là một đạo sư, và vài đệ tử gần gũi đồng thời cũng là những người thầy, họ tái sinh liên tục để đảm bảo sự nối tiếp liên tục của việc giảng dạy trong tu viện. Ở Tây Tạng đã từng có hàng ngàn tu viện, và 80 phần trăm trong số này có ít nhất một </span><i><span style="font-weight: 400;">tulku</span></i><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tái sinh là một phần của hiện tượng không ngừng hiển thị từ thời vô thủy . Cũng như vậy, sự tái sinh của các Bồ tát và các Đạo sư vĩ đại luôn luôn diễn ra. Theo lịch sử ghi nhận, việc nhận ra các hóa thân như thế - những người mang cùng tước hiệu và tiếp nối vị trí, chỉ có trong Kim Cương Thừa. Ở những thời đại khác và nơi khác, các </span><i><span style="font-weight: 400;">tulkus</span></i><span style="font-weight: 400;"> xuất hiện và được nhận ra bởi các phẩm chất đặc biệt mà họ biểu hiện trong cuộc sống của họ, nhưng không có dòng dõi đặc biệt của </span><i><span style="font-weight: 400;">tulkus</span></i><span style="font-weight: 400;"> được thiết lập. Hệ thống thừa nhận </span><i><span style="font-weight: 400;">tulkus</span></i><span style="font-weight: 400;"> là duy nhất có trong Kim Cương Thừa. Vị lama hóa thân đầu tiên là Karmapa thứ nhất - Dusum Khyenpa, là người mang cùng tên, lãnh đạo cùng dòng truyền thừa, và phụ trách cùng tu viện và các đệ tử, ngài đã để lại cho các đệ tử những chỉ dẫn làm thế nào để tìm thấy tái sinh của ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hóa thân Phật, sự hiển thị của phật là khác với hóa thân của một vị bồ tát. Hóa thân phật vượt qua mọi hữu hạn. Ngay cả Bồ tát thập địa vẫn có một số giới hạn nhất định. Một vị bồ tát thập địa có một vài giới hạn trong sự hiển thị. Dù ngài có nhiều năng lực cực kỳ to lớn nhưng vẫn hạn chế. Một vị Phật là vô hạn. Tất cả các Bồ tát đều có nhiều hiện thân đặc biệt, mà năng lực hiển thị của họ tùy thuộc vào cấp độ của họ - sơ địa là 100, rồi tăng lên ở mỗi cấp độ kế tiếp. Vị phật vượt qua mọi giới hạn và có thể tiếp tục hiển thị vô tận vì những điều tốt lành cho tất cả chúng sinh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hóa thân Phật như là không gian chứa đựng mọi chúng sinh và mọi điều, không bị giới hạn ở một hành tinh hay một thiên hà mà bao gồm tất cả sự vật. Vì không gian là vô tận. Nếu bạn xây một tòa nhà bê tông, không gian không mất đi. Nếu bạn phá hủy tòa nhà thì không gian vẫn ở đó. Không gian không đến từ đâu cả. Nó không phải là thứ chúng ta có thể nắm giữ, vì nó tràn ngập khắp nơi. Việc làm của Đức Phật cũng vậy – là vô hạn, vượt ra khỏi tính nhị nguyên, và diễn ra bất cứ nơi nào có các nhân và duyên để trợ giúp. Nếu tất cả chúng sinh trong toàn bộ thế giới hệ cầu nguyện thành tâm cùng một lúc, thì sự cầu phúc của Đức Phật cũng sẽ rải đều cho từng chúng sinh. Một vị Phật sẽ không có trở ngại nào khi ban nhiều ân phúc vì Phật đã vượt ra mọi giới hạn. Khi một vị Phật hiển thị cho chúng sinh có sự tỉnh giác của cấp Bồ tát sơ địa, Phật sẽ thị hiện trong hình tướng của Báo thân </span><i><span style="font-weight: 400;">(sambhokaya)</span></i><span style="font-weight: 400;">. Hình tướng này được mô tả như là thân thể để một chúng sinh ở cấp độ thấp hơn – ngôi Bồ tát ban đầu, có thể nhận thức được một vị Phật. Ở các cấp độ tinh tấn khác nhau sẽ có những năng lực nhận biết khác nhau. Có thể suy luận một cách đơn giản, như là bạn nhìn thấy một khuôn mặt quen trong đám đông. Bạn thấy quen thuộc và nhận ra người này vì bạn biết về anh ấy hay là chị ấy. Bạn nhận ra các dấu hiệu của người này. Khi gặp một vị Phật, nếu bạn không quen thuộc với các biểu hiện vi tế thì bạn sẽ không biết đã gặp một vị Phật. Khi một vị Phật thị hiện cho chúng sinh dưới cấp Bồ tát sơ địa thì thường xuất hiện trong hóa thân, và là hóa thân vô hạn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Để hiểu biết về tái sinh và nghiệp, từ quan điểm Phật giáo, chúng ta phải nhìn vào chúng sinh, những trải nghiệm của họ, và môi trường xung quanh họ. Có một thuật ngữ được dùng trong các kinh điển Phật giáo để chỉ những hiện tượng này – đó là ảo tưởng / hay là huyễn hoặc. Các kinh điển nói về cuộc đời của một chúng sinh bình thường, bao gồm môi trường xung quanh, các sự kiện, và các điều kiện – là huyễn hoặc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Trong kinh Mật điển, có ba loại huyễn ảnh /ảo tưởng. Loại đầu tiên và dài nhất là khi ta bắt đầu từ vô thủy cho tới trước khi đạt được Giác ngộ - gọi là huyễn ảnh của luân hồi. Loại thứ hai bắt đầu từ khi chúng sinh sinh ra cho đến lúc chết. Nó kéo dài một kiếp sống, và gọi là huyễn ảnh của cuộc đời. Loại thứ ba là ngắn nhất và diễn ra trong giấc ngủ - từ lúc bắt đầu ngủ cho đến khi thức giấc – loại này gọi là huyễn ảnh của giấc mơ. Tất cả ba loại này đều là những huyễn ảnh có tác động như nhau, chỉ khác duy nhất là mức độ kéo dài của từng loại. Theo quan điểm Mật thừa, đây là một cách nhìn vào toàn bộ sự sinh tử của chúng sinh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Mỗi một huyễn ảnh có một gắn kết chung để giữ chúng lại với nhau, giống như các hạt của tràng hạt được gắn với nhau bởi một sợi dây nhỏ. Huyễn ảnh của luân hồi bị nắm giữ bởi “cái tôi”. Bất kể là sinh ra ở cõi giới người hay là súc sinh, trong địa ngục hay thiên đường “cái tôi” luôn hiện diện. Cho đến trước khi đạt được giác ngộ thì “cái tôi” vẫn còn. Huyễn ảnh về kiếp sống được củng cố bởi nghiệp riêng biệt mà hiển thị đối với từng cá nhân. Nghiệp được tạo ra và tập trung vào bản ngã của cá nhân. Huyễn ảnh thứ ba, giấc mơ phụ thuộc vào tiềm thức của cá nhân. Loại tiềm thức này thể hiện trong giấc mơ. Điều này nghĩa là bạn không thể mơ về những điều mà bạn không trải nghiệm trực tiếp hoặc là gián tiếp. Đôi khi giấc mơ là sự nhận biết trước do mối liên hệ mạnh mẽ của tiềm thức với một vài trường hợp được gọi là trực giác. Nhưng nó cũng có thể là nỗi ám ảnh thể hiện qua giấc mơ do bạn nghĩ về một điều gì quá nhiều. Cũng có thể do bạn lo lắng về một vấn đề và vì lý do nào đó nó thể hiện trong những giấc mơ, và do vậy không ích lợi cho bạn. Những giấc mơ đến từ tiềm thức cá nhân, rồi chính bản ngã của cá nhân giữ huyễn ảnh giấc mơ lại cùng với nhau.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Ba loại huyễn ảnh này được chứa đựng trong bản ngã, và đều liên quan với cái tôi trong cùng một cách thức. Tái sinh thường liên quan đặc biệt với loại huyễn ảnh về cuộc đời, và tiếp tục cho tới huyễn ảnh của kiếp sống sau. Giữa các huyễn ảnh của các kiếp sống có một giai đoạn quan trọng – được gọi là giai đoạn trung gian (hay là trung ấm. ND) sẽ được đề cập chi tiết sau.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Sự tái sinh trả lời cho chúng ta nhiều câu hỏi. Tại sao người này giàu có nhưng người khác lại nghèo? Tại sao có người ốm yếu trong khi người khác lại khỏe mạnh? Tại sao mọi người lại nhìn, nghĩ, và sống khác nhau? Tại sao có người sinh ra trong quốc gia thường xảy ra chiến tranh tàn khốc, nhưng người khác thì sinh ra trong một quốc gia thanh bình? Khi một người tái sinh, thì kiếp sống hiện tại của người này là sự thể hiện của nghiệp cá nhân – đó là các nhân và duyên đã tạo từ các kiếp sống trước. Đó cũng là nhân của bất kỳ hoàn cảnh nào mà một người đang trải nghiệm. Hiểu biết điều này (nhân – duyên) là nền tảng quan trọng cho sự hiểu biết toàn bộ lời dạy của Đức Phật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Nghiệp và tái sinh là thuộc về mức độ chân lý tương đối. Ngay một cá nhân ở trong một hoàn cảnh nhất định – có thể là một hoàn cảnh tồi tệ - ở cùng thời điểm đó người này vẫn có khả năng trở thành Giác ngộ. Mọi người đều có khả năng như nhau để trở thành Giác ngộ. Đó là chân lý tuyệt đối. Đó là lý do tại sao điều này là nỗ lực xứng đáng để lọc sạch và sửa chữa những hiểu lầm trong chính chúng ta và những người khác. Nếu các hoàn cảnh là đúng đắn, nếu có những người cố gắng với lòng bi mẫn để giúp người khác, thì trí tuệ của họ có thể tăng trưởng. Một người tội lỗi có thể trở thành người tốt. Về bản chất tối thượng mọi người là hoàn hảo, là một vị Phật. Mặc dù vậy, ở khía cạnh tương đối, mọi người có nhiều điều không hoàn hảo cho đến khi tỉnh thức của họ đạt được ở mức độ nhất định. Tái sinh và nghiệp cho phép chúng ta hoạt động hướng tới tỉnh giác ở mức độ tương đối. Trong một ý nghĩa nhất định, chúng là phương tiện giúp chúng ta tinh tấn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có một số hiểu sai về nghiệp (karma). Nhiều người nghĩ nghiệp là không thể thay đổi. Họ nói “Ồ đó là nghiệp” và họ từ bỏ (nỗ lực thực hành). Tại sao điều đó lại xảy ra? Quan điểm này là kết quả của tư tưởng xem nghiệp là bản chất cốt lõi. Ở khía cạnh tuyệt đối, nghiệp không tồn tại, nhưng nói một cách tương đối, mọi thứ đều là nghiệp, do vậy nghiệp là chân lý tương đối. Nghiệp là tương đối nên có thể thay đổi. Nó không phải là bất di bất dịch. Nếu nghiệp là chân lý tuyệt đối, Phật có thể không bao giờ tồn tại, bởi lẽ làm thế nào một người có thể trở thành Phật? Ở khía cạnh chân lý tuyệt đối, nếu nghiệp không thể hủy bỏ thì điều đó không thể xảy ra. Nghiệp là chân lý tương đối - lời dạy này luôn được nhắc trong các Kinh điển, Giới luật, Luận tạng, và Mật điển. Dù chúng ta có bất kỳ loại “nghiệp xấu” nào, thì luôn luôn có cách để thanh lọc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>BÁNH XE CUỘC ĐỜI</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Các Kinh điển đều nói đến giáo lý của Đức Phật về sự phụ thuộc lẫn nhau của nhân và quả. Giáo lý quan trọng giải thích về điều này – là mười hai mối liên hệ duyên khởi (còn gọi là thập nhị duyên khởi. ND). Giáo lý này trình bày rõ về toàn bộ quá trình liên tục của huyễn ảnh lớn trong bức tranh rộng lớn về chu kỳ tái sinh, luân hồi; trong chuỗi liên tục ngắn hơn của một kiếp sống đơn lẻ, và chuỗi liên tục của mỗi khoảnh khắc. Trong các tu viện Phật giáo Tây Tạng, chúng ta thường nhìn thấy bức tranh mô tả huyễn ảnh của chu trình luân hồi và mười hai mối liên hệ duyên khởi như là Bánh xe của Cuộc đời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Mối duyên khởi đầu tiên là vô minh</span></i><span style="font-weight: 400;">. Bởi chúng ta không nhận biết được tính vô nhị do bản ngã / cái “tôi”, nên chúng ta trở nên nhị nguyên. Bị che đậy bởi cái “tôi”, chúng ta không nhìn thấy thực thể tối thượng. Đây là vô minh, mối liên kết đầu tiên trong chuỗi duyên khởi. Trong Bánh xe Cuộc đời, vô minh được biểu hiện như một người đàn ông mù lòa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Mối duyên khởi thứ hai là hành</span></i><span style="font-weight: 400;">. Do vô minh</span><i><span style="font-weight: 400;">, </span></i><span style="font-weight: 400;">chúng ta phát triển sự ham muốn để làm vài thứ, để hành động – hành động tích cực, hành động tiêu cực, hoặc là những hành động không xấu cũng không tốt. Do kết quả của ham muốn này, những nhân và duyên tiếp theo được tạo ra. Ham muốn để hành động là</span> <span style="font-weight: 400;">mối liên kết thứ hai trong chuỗi nhân duyên. Một bình gốm biểu tượng cho ham muốn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Mối duyên khởi thứ ba là thức. </span></i><span style="font-weight: 400;">Ham muốn hướng tới ý thức mà khởi đầu với nhận thức tốt và xấu. Trong bức tranh, hình ảnh con khỉ ăn trái đào là biểu tượng cho điều này. Nếm trải kinh nghiệm luân hồi tạo ra si mê, cung cấp thức ăn cho ý thức này phát triển. Mối liên kết thứ ba có khả năng tạo ra ý thức vững chắc để tiếp tục trong tương lai.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Mối duyên khởi thứ tư là sắc tướng</span></i><span style="font-weight: 400;">. Biểu thị qua hình ảnh hai người đàn ông trong một cái thuyền, mang biểu thị của các duyên, bao gồm hiện tượng bên ngoài, như là các nguyên tố và các hình tướng nhị nguyên và nhiều loại khác. Mỗi khía cạnh của ý thức gắn với những cơ chế môi trường.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Mối duyên khởi thứ năm là sáu giác quan</span></i><span style="font-weight: 400;">. Do phân chia hơn nữa tính nhị nguyên, thông qua mắt/hình tướng, tai/âm thanh, lưỡi/vị, da/tiếp xúc qua va chạm, và mũi/ ngửi, trở thành vững chắc hơn. Mối liên kết này được mô tả trong Bánh xe Cuộc đời như là sáu căn nhà trống rỗng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Mối duyên khởi thứ sáu là xúc. </span></i><span style="font-weight: 400;">Gọi là sự tiếp xúc. Đây là sự gặp gỡ của giác quan và sự vật thông qua giác quan, khi các giác quan trở thành mạnh mẽ đã phát triển mang tính đối ngẫu. Đó là dục vọng – ham muốn để chạm hay là tiếp xúc với các đối tượng thông qua giác quan, và điều này biểu tượng qua hình ảnh sự giao hợp của người đàn ông và người phụ nữ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Mối duyên khởi thứ bảy là thọ</span></i><span style="font-weight: 400;">. Mối duyên khởi thứ sáu dẫn đến duyên khởi thứ bảy – là kết quả của tiếp xúc. Đó là cảm thọ thỏa mãn hoặc đau đớn. Khi có tiếp xúc hay là va chạm lúc đó bạn có cảm thọ. Nếu đó là tốt đẹp thì bạn sẽ thích; nếu nó là tồi tệ, bạn sẽ không thích. Một âm thanh, mùi vị, bất cứ điều gì có thể đưa đến sự thỏa mãn hay là đau đớn. Lúc đó sẽ phát triển hơn nữa yếu tố này: là khi có ai đó ca ngợi bạn thì bạn vui vẻ, và khi có người lăng mạ thì bạn khó chịu. Điều này là sự phát triển phân tách ra, nhưng được xem là một phần của duyên khởi thứ bảy. Trong bức tranh, mối duyên khởi này được biểu hiện như một người mù bởi những mũi tên xuyên vào hai mắt, vì các cảm thọ có thể quá độ và khiến chúng ta không thấy được bản chất và hoàn cảnh thật sự.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Mối duyên khởi thứ tám là tham ái. </span></i><span style="font-weight: 400;">Tham ái</span> <span style="font-weight: 400;">khiến bạn luôn luôn muốn hơn nữa. Điều này được thể hiện trong bức tranh là mọi người đang uống. Yếu tố này đưa đến do sự phát triển thêm của cảm giác nhị nguyên. Cá nhân bị gắn với các hình tướng, vị, va chạm nhất định. Và có ham muốn nhiều hơn nữa. Cùng với luyến ái và tham lam đối với mọi thứ, bạn có thể dẫn tới ác cảm đối với những thứ bạn không thích, và nỗi sợ hãi bạn sẽ bị mất những thứ bạn có. Vì vậy, nó không phải chỉ là một mặt. Bạn bị gắn vào nỗi sợ vì mặt khác của tính tham lam. Bạn không thể từ bỏ vài thứ bạn muốn có, nhưng bạn cũng không thể từ bỏ điều bạn không muốn có. Cả hai cực đoan này đều được coi là tham ái.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Mối duyên khởi thứ chín là thủ</span></i><span style="font-weight: 400;">. Bạn có khuynh hướng theo đuổi những thứ bạn ham muốn hoặc là từ chối những thứ bạn ác cảm. Điều này được mô tả trong bức tranh như là một con khỉ đang nắm giữ trái cây. Điều này cũng có thể vận hành theo cách ngược lại, khi nỗi sợ hãi hoặc là ác cảm được gia tăng hướng tới những điều tốt cho bạn, nhưng bạn lại từ chối. Hay là vài điều là không tốt cho bạn, ngay cả rất có hại, nhưng do tham ái và tham lam những thứ này vẫn tăng lên, do vậy bất chấp những điều này, bạn sẽ làm bất cứ điều gì để có được nó. Nghiện ma túy là một ví dụ về điều này. Nắm giữ và chiếm đoạt là kết quả của duyên khởi thứ tám, cái này gia tăng tham ái và lòng tham, và làm tăng thêm ham muốn và theo đuổi những mục tiêu của tham ái.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Mối duyên khởi thứ mười là hữu</span></i><span style="font-weight: 400;">. Hay còn được dịch như là tác thành. Đó là sự tích tụ của nghiệp đã củng cố để đưa đến các quả tương lai - ham dục, luyến ái, và nắm giữ. Mối duyên khởi này mở cửa cho chuỗi tiếp tục của các nhân duyên, và cũng lát đường để tái sinh vào một trong sáu cõi giới của luân hồi. Điều này được biểu thị là một phụ nữ có bầu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Mối duyên khởi thứ mười một là sinh</span></i><span style="font-weight: 400;">. Đây là quả của các nhân và duyên đã được tạo ra từ những mối duyên khởi trước. Đó là sự sinh. Tùy thuộc vào nghiệp, nhân và duyên, chúng sinh sẽ sinh vào trong một của sáu cõi giới. Cõi giới người ban cho ta cơ hội tốt nhất cho sự tỉnh giác. Cũng có thể sinh vào các cõi giới của trời, nửa trời nửa người (atula), súc sinh, ma đói, và địa ngục. Khi các duyên chín muồi, sự sinh diễn ra. Nó được mô tả trong Bánh xe Cuộc đời như là sự sinh ra của đứa trẻ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Mối duyên khởi thứ mười hai</span></i> <i><span style="font-weight: 400;">là lão và tử</span></i><span style="font-weight: 400;">. Khi sự sinh diễn ra, tuổi già và cái chết theo ta một cách tự nhiên. Sinh ra là khởi đầu của cái chết. Cái chết là khởi đầu chu kỳ của mọi thứ lại bắt đầu. Một xác chết là biểu thị cho điều này trong bức tranh Bánh xe Cuộc đời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Duyên khởi đầu tiên, vô minh, duyên khởi thứ tám, tham ái, và duyên khởi thứ chín, thủ/ nắm giữ, được xem là ba ô nhiễm. Con gà trống là biểu thị cho sự nắm giữ; con rắn biểu thị cho ham dục và tham ái; và con heo biểu thị cho vô minh, đây là các yếu tố được thể hiện ở trung tâm của Bánh xe Cuộc đời. Duyên khởi thứ hai, hành và duyên khởi thứ mười, hữu/tạo tác, được phân loại như là hành động, hay là nghiệp. Trong Bánh xe Cuộc đời, duyên khởi này được thấy như là một viền tròn bao quanh ba ô nhiễm chính, một bên là những người có các hoàn cảnh tốt đẹp, và một bên khác là những người có các hoàn cảnh tồi tệ. Các duyên khởi thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy, mười một, và mười hai được phân loại như là nền tảng cho sự khổ đau của luân hồi. Cũng có một cách nhìn khác về mười hai mối duyên khởi theo một thứ tự khác. Toàn bộ Bánh xe Cuộc đời bị nắm giữ bởi ma quỷ, Diêm vương (Yama), và Thần Chết – điều này nghĩa là dù ở cõi giới hay hoàn cảnh nào thì chu kỳ tái sinh vẫn tiếp diễn. Thoát ra khỏi sự đắm chìm vào bánh xe, Đức Phật chỉ cho ta con đường giải thoát khỏi tái sinh và khổ đau.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Đấy là nguyên lý tái sinh được dạy trong các Kinh điển Phật giáo và Mật điển. Tái sinh, và việc chuyển từ kiếp sống này sang kiếp sống khác được giảng rõ ràng trong các giáo lý của Mật thừa. Thực sự là ích lợi và quan trọng để hiểu một số quan niệm Mật thừa về tâm và thể xác của con người. Theo quan điểm Mật thừa, tâm và thân có nhiều mức độ, có một số điều vượt ra khỏi thân và tâm do sự nhận thức và hiểu biết hạn hẹp về chính chúng ta và những chúng sinh khác sống quanh ta. Thân và tâm mà chúng ta nhận thức hình thành một phần nhỏ của bức tranh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Có một thân thể vũ trụ vĩ mô, bao hàm tất cả những điều chúng ta nhận biết và trải nghiệm trong nó. Toàn bộ vũ trụ là thân chúng ta vì chúng ta ở trong đó. Nó là thân thể to lớn hơn của chúng ta, và bất kỳ điều gì xảy ra trong bộ phận nào của vũ trụ này cũng đều tác động tới chúng ta, mặc dầu chúng ta không ý thức đầy đủ về nó như thế nào. Thuật chiêm tinh của Mật thừa có thể ích lợi trong cuộc sống của mọi người, bởi vì đây là phương pháp phát hiện ra những biến cố của vũ trụ này và cách thức giải quyết chúng. Nếu ai đó đặt tay thuộc thân thể vật lý của bạn vào lửa, bạn cảm thấy đau rát. Điều này cũng xảy ra với cơ thể lớn hơn (vũ trụ). Bất kỳ điều gì xảy ra trong bộ phận nào của vũ trụ cũng tác động đến ta. Chúng ta có lẽ trải nghiệm nó như là một tâm trạng tồi tệ, hay ngược lại, một vận may lớn về tài chính của chúng ta hoặc là các mối quan hệ cá nhân, hoặc là sự sa ngã hay tiến bộ của tinh thần. Chiêm tinh có thể xác định những điều đang tiếp diễn trong thiên hà và hệ mặt trời của chúng ta, nhưng các ảnh hưởng vượt ra khỏi đó (hệ mặt trời) cũng tác động vào chúng ta. Trong giáo lý Mật thừa, vũ trụ vĩ mô này được gọi là “ ngàn lần thứ ba” – nghĩa là 100 triệu hệ thống mặt trời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> “ Ngàn lần thứ hai” nhỏ hơn ngàn lần thứ ba. Nó biểu hiện 1,000 lần của 1,000 hay là một triệu lần. Bất cứ điều gì xảy ra trong phần này của vũ trụ tác động trực tiếp đến chúng ta nhiều hơn các biến cố trong vũ trụ vĩ mô lớn hơn. Những biến cố trong “ngàn lần đầu tiên” – 1,000 hệ mặt trời bao quanh ta trong mọi hướng, tác động vào chúng ta rất mạnh. Những gì xảy ra trong hệ mặt trời của chúng ta sẽ tác động trực tiếp nhất vào chúng ta. Tất nhiên là bất kỳ điều gì xảy ra trên hành tinh (trái đất) của chúng ta thì có ảnh hưởng sâu xa vào chúng ta. Bây giờ chúng ta có thể phân tích về suy thoái môi trường và tác động của nó vào các dạng sống, chúng ta đang trải nghiệm về sự thật này như thế nào. Có các chứng cớ của ngành khoa học về trái đất về các tác động môi trường vào chúng ta, và tác động của chúng ta vào môi trường.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Sau khi xem xét của các lĩnh vực chi tiết của những biểu thị, các giáo lý Mật thừa còn giải thích về những sự kiện trong cơ thể mỗi cá nhân tác động vào tâm trí như thế nào. Ở mức độ thân vật lý của con người như chúng ta, có một thân bên ngoài, một thân bên trong, và thân vi tế. Thân bên ngoài có thể là tích cực hoặc tiêu cực. Thân bên trong tích cực hơn là tiêu cực. Và thân vi tế là tích cực. Tâm – bản tính phật là hoàn hảo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Hơi thở cũng tương tự như các yếu tố này của thân. Thở là hoạt động liên tục. Trong hơi thở có hơi thở ngoài, hơi thở trong, và hơi thở vi tế. Thông qua thiền, trì tụng, thể dục, và các thực hành khác nhau, thân bên ngoài có thể được thanh lọc vì hơi thở ngoài đang được thanh lọc, và các hơi thở trong và vi tế có thể ảnh hưởng tới thân và hơi thở bên ngoài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Mối quan hệ vật lý giữa các thân và tâm được khai triển ngay trước khi chúng ta được thụ thai trong người mẹ. Mối kết nối giữa thân đặc biệt và tâm được phát triển chỉ ở khoảnh khắc trước khi thụ thai. Sự hòa trộn vào nhau này giữa tâm phi vật chất và thân vật chất là một trong số bước quan trọng nhất của tiến trình tái sinh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Tâm là rất vi tế, nhưng tư tưởng và tình cảm được sinh ra từ tâm lại không vi tế như là bản chất tinh khiết của tâm. Tư tưởng và cảm xúc là hữu hạn, nhưng tâm là vô hạn. Tư tưởng là biểu thị của vô minh, và điều đó khiến tâm trở nên giới hạn. Năng lượng vi tế nhất của vũ trụ là thành phần vi tế nhất của thực thể vật lý. Năng lượng vi tế này cùng với những tư tưởng và cảm xúc của tâm có khả năng kết nối và gắn lại với nhau. Năng lượng vũ trụ vi tế, cùng với tư tưởng và cảm xúc, kết hợp với năng lượng của nghiệp – được gọi là gió hay là khí của nghiệp đi vào thực thể vật lý đầu tiên. Thực thể này được biết như là thân dạng lỏng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Dưới những điều kiện bình thường, thân lỏng trở nên đông đặc sau hai mươi chín ngày. Nó đông chậm, nhưng sau hai mươi chín ngày khí nghiệp, năng lượng của vũ trụ, và yếu tố cảm xúc của tâm, tất cả tập trung vào trung tâm của thân lỏng đã đông đặc. Khí nghiệp liên quan đến cha, mẹ và chúng ta. Tất cả những duyên khởi nghiệp đến cùng với nhau. Nó giống như là trung tâm của cơn lốc. Vào thời điểm đó dù chúng ta ở bất cứ nơi nào, ngay cả cách xa 20 triệu thiên hà, thì tâm của chúng ta vẫn sẽ đến với người cha và người mẹ nghiệp duyên của chúng ta, để hợp nhất vào thân lỏng đó. Thân chúng ta biểu hiện thân lỏng đã đông đặc theo các nhân và duyên – đó là nghiệp. Điều này khởi đầu từ điểm được gọi là kinh mạch trung tâm – ở chính giữa thân thể.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Tất cả các giác quan được tập trung ở trung tâm của thân. Các chi là quan trọng, nhưng chúng không quan trọng đối với sự tiếp tục của cuộc sống. Nếu ai đó cắt rời chân hoặc tay của chúng ta, nếu được chăm sóc tốt thì chúng ta sẽ không chết. Nếu cơ thể bị cắt đôi ở phần giữa, hoặc là đầu bị cắt rời, thì chúng ta sẽ chết. Trung tâm (phần giữa) của cơ thể là quan trọng nhất. Tất cả các kinh mạch đều xuất phát từ đó. Những kinh mạch bên ngoài bao gồm các động mạch, mạch máu, dây thần kinh. Thân vi tế có những kinh mạch riêng của nó mà chúng ta không thể thấy được. Tất cả đều được phát triển qua các chuyển động của khí nghiệp, năng lượng vũ trụ, và cảm xúc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Có một ẩn dụ đơn giản. Một đồng cỏ xinh đẹp với nhiều rễ cây có thể ăn được ở dưới đất. Có một gia đình thỏ sống dựa vào đồng cỏ. Hàng ngày những con thỏ đi từ nơi ở của chúng dưới một bụi cây tới đồng cỏ để ăn các rễ cây. Sau một thời gian, dấu chân của chúng tạo ra những lối đi tới tất cả những nơi quan trọng có thức ăn và nước. Cũng như vậy, do năng lượng di chuyển trong thân lỏng, nó cũng phát triển tất cả các mạch và các chi, và tất cả những thứ thích hợp với các chuyển động của nó. Chuyển động lần vết theo hình tướng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Các chuyên gia và những người có trực giác có thể đọc được nét mặt, lòng bàn tay, và có khả năng thấy được tương lai, bởi vì những đặc điểm vật lý này là kết quả của toàn bộ tiến trình nghiệp kết nối giữa tâm và thân đối với mỗi cuộc đời riêng biệt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Có một cách giải thích đơn giản về làm thế nào tâm không hình tướng lại đi vào hình tướng, tình cảm, giác quan, và vân vân của một thân vật lý. Kiếp trước của một chúng sinh có thể là một thần linh hoặc là một súc sinh, nhưng nó có thể sinh làm người trong kiếp này. Có sinh thì có diệt. Khi tâm thức rời khỏi thân thể thì đó là cái chết. Sự chết là của thân chứ không phải của tâm thức. Tâm thức không chết mà luôn luôn tiếp diễn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>BARDO</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Cuộc đời của một chúng sinh được tạo thành nhiều giai đoạn, và kết thúc bằng cái chết, sau đó nối tiếp một giai đoạn khác, mà trong tiếng Tạng gọi là </span><i><span style="font-weight: 400;">bardo</span></i><span style="font-weight: 400;">. Hiểu biết về bardo là cần thiết để nắm bắt được những quá trình quan trọng của cuộc sống và cái chết của mọi chúng sinh. Cố gắng để hiểu biết về điều này, chúng ta học cách làm thế nào để vận dụng các giai đoạn này như là một phương tiện hướng tới sự tỉnh giác vĩ đại hơn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Từ bardo nghĩa là “ở giữa”. Khi bạn nghe về bardo, nếu bạn biết một chút về Phật giáo Tây Tạng, ý nghĩ đầu tiên của bạn về điều này có lẽ là một quá trình tiếp sau cái chết, do những điều có lẽ bạn đã được nghe hoặc được đọc trong các sách, như là cuốn “ </span><i><span style="font-weight: 400;">Sách Tây Tạng về cái chết</span></i><span style="font-weight: 400;">” (Tử thư Tây Tạng)”. Trong khi quá trình sau khi chết chỉ là một phần của bardo, thực sự những bài giảng về bardo miêu tả nhiều giai đoạn mà không chỉ giới hạn ở thời gian sau khi cái chết. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã cho những lời dạy về bardo, và từ đó nhiều bậc thầy được học và nhận thức được về nó đã tiếp tục sự truyền dạy này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Nói một cách dễ hiểu, bardo mô tả tình trạng trung gian của mọi thứ. Thí dụ, khoảng trống giữa luân hồi và niết bàn, tinh khiết và ô nhiễm, sinh và chết, chết và tái sinh – đó là bardo. Có sáu khía cạnh của bardo mà bao hàm và tóm tắt mọi mặt của quá trình luân hồi và tinh thần. Sáu khía cạnh này là bardo sinh, bardo giấc mơ, bardo thiền định, bardo của khoảnh khắc chết, bardo của chân lý tuyệt đối, bardo vũ trụ hay là bardo sinh thành - đây là bardo kéo dài từ thời điểm của cái chết cho đến thời điểm tái sinh vào kiếp sống khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Bardo sinh</i></b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Khi một chúng sinh được tái sinh trong vũ trụ này như là một chúng sinh hữu tình, đó là sự phối hợp cùng nhau của thân, khẩu, và tâm của chúng sinh riêng biệt đó trong vũ trụ. Do một kết quả của huân tập nghiệp bởi chúng sinh đó, ý thức của nó đi vào trong cõi giới riêng biệt của tồn tại. Đó là khoảnh khắc nối kết đầu tiên giữa thân vật chất và ý thức của chúng sinh đó. Sau đó, thân vật lý và tâm thức không hình tướng kết hợp và truyền tin cho nhau. Điều này có thể được giải thích trong sự sinh của con người, mặc dù quá trình này là tương tự đối với mọi chúng sinh. Vì chúng ta là người nên chúng ta có thể hiểu biết hầu hết lời giải thích về kết hợp của sự tồn tại theo quan điểm của loài người. Thân vật lý phát triển phù hợp với năng lực của tâm thức không hình tướng: theo ham muốn của nó, sự vô minh của nó, sự sân hận của nó, sự keo kiệt của nó, sự kiêu ngạo và ghen tị của nó. Loại ý thức mà chúng sinh đã tạo lập sẽ xác định thân vật chất sẽ phát triển của nó – hoặc là nó lành mạnh hay không lành mạnh, phát triển trọn vẹn hay kém phát triển. Một vài chúng sinh là hoàn thiện, nhưng một số khác lại bị méo mó / biến dạng, và đây là các phương tiện mà các chúng sinh hình thành. Đó là một quá trình phức tạp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong suốt hai mươi chín ngày đầu tiên của thể vật chất bên trong người mẹ, ý thức ở mọi nơi, và thấm vào thể vật chất này. Khi ý thức thâm nhập vào, nó không có thể vật chất nhưng nó liên hệ với thể vi tế nhất – nguyên tố không khí. Năng lượng này hay là thể khí có thể nhận và được thâm nhập bởi ý thức. Khi thể vật chất trở nên đông đặc hơn, thì ý thức không thể di chuyển tự do mọi nơi. Do không thể thâm nhập tự do trong thể vật chất đã rắn hơn, ý thức chuyển vào điểm giữa của thể vật chất đang phát triển. Nó trở thành kinh mạch trung tâm, hay là </span><i><span style="font-weight: 400;">Tsa uma</span></i><span style="font-weight: 400;">. Từ kinh mạch trung tâm này, ý thức phát tán ra, và hiển thị trong tất cả các hướng thông qua các trung tâm năng lượng và các kinh mạch phụ trợ - gọi là </span><i><span style="font-weight: 400;">khorla và tsa </span></i><span style="font-weight: 400;">trong tiếng Tạng. Từ ngày thứ hai mươi chín cho đến khi đứa trẻ ra đời, thông qua những nguồn này các tác nhân chuyển động, và thể vật chất phát triển phù hợp với nghiệp của nó. Đây là quá trình sinh trưởng của ý thức diễn ra như thế nào. Đứa trẻ ra đời đánh dấu sự phát triển hoàn toàn của mọi vị trí quan trọng của ý thức. Sau khi sinh, đứa trẻ tiếp tục phát triển, nhưng là phát triển nhân tố đã có sẵn. Không có điều gì mới được thêm vào.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Ở giai đoạn này có sự phối hợp của tâm thức, các giác quan, vũ trụ, của “cái tôi” và hình tướng. Mũi và khứu giác, lưỡi và vị giác, thể xác và va chạm được phối hợp ở các mức độ bên ngoài. Các mức độ bên trong, có sự phối hợp của tâm thức, bản tính Phật, và bản ngã, ham muốn, sân, vô minh, ghen tị, và vân vân. Chuỗi này của tâm đã nhận thức và những chướng ngại hoặc là các ô nhiễm liên quan đến mỗi cá nhân, là những thực thể tương đối cơ bản mà cá nhân đó sẽ đương đầu trong kiếp sống đó. Nó sẽ ảnh hưởng tương lai của cuộc đời. Từ loại nghiệp này mà mỗi cá nhân có thể học hỏi về chân lý tuyệt đối.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Mặc dù trong các bài giảng của Kim Cương Thừa, mỗi nguyên tử của một thân thể con người có thể được nhìn như là sự bộc lộ của những loại nghiệp này, nhưng các điểm quan trọng là thân, khẩu và tâm. Thân là biểu lộ vật chất, khẩu là sự bộc lộ, và tâm là cốt lõi. Mức độ tối thượng của thân, hay là biểu hiện dạng vật chất, là hóa thân </span><i><span style="font-weight: 400;">(nirmanakaya</span></i><span style="font-weight: 400;">). Mức độ tối thượng của lời nói, hoặc là sự bộc lộ, là báo thân (</span><i><span style="font-weight: 400;">sambhogaya)</span></i><span style="font-weight: 400;">. Sự hiển lộ tối thượng của tâm (</span><i><span style="font-weight: 400;">dharmakaya</span></i><span style="font-weight: 400;">) là Pháp thân. Đây là chân lý của khía cạnh đầu tiên của bardo, bardo của sự sinh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Bardo giấc mơ</i></b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Loại thứ hai là bardo giấc mơ. Trọng tâm chủ yếu của bardo này là giúp chúng ta hiểu về vũ trụ, sự sống của chúng ta, toàn bộ kinh nghiệm của chúng ta như là một giấc mơ. Có ba phần của loại bardo này: giấc mơ luân hồi, giấc mơ cuộc đời, và giấc mơ khi ngủ. Giấc mơ luân hồi kéo dài từ vô thủy cho đến khi tỉnh giác tối thượng – đó là quả vị Phật. Dù chúng ta thuộc cõi giới nào, dù chúng ta là loại chúng sinh nào, thì chúng ta đều đang trong mơ. Tất cả các giấc mơ đều là hành trình của bản ngã, ngay cả ở động vật, vì chúng đều xuất phát từ cái tôi. Nếu chúng ta là người hay trời, cái tôi cũng vẫn tồn tại. Chúng ta có thể giàu, chúng ta có thể nghèo, chúng ta có thể thuộc các nền văn hóa khác nhau, nhưng luôn luôn có cái tôi. Chúng ta tỉnh thức từ “cái tôi” này khi chúng ta đạt được Giác ngộ - quả vị Phật. Đó là thời điểm duy nhất chúng ta sẽ được giải thoát hoàn toàn ra khỏi “cái tôi”. Quả vị Phật là sự chấm dứt của giấc mơ luân hồi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Giấc mơ thứ hai là giấc mơ cuộc đời. Giấc mơ này còn được biết như là giấc mơ của nghiệp. Tùy theo kinh nghiệm của những hành động cá nhân đã tạo tác mà chúng ta trải nghiệm giấc mơ về nghiệp khác nhau. Cùng một điều có thể làm chúng ta hạnh phúc, nhưng cũng làm chúng ta đau buồn; đôi khi chúng ta ghét nó, và đôi khi lại yêu thích nó. Đôi khi nó giúp ích cho chúng ta, như nhưng đôi khi lại gây rắc rối cho chúng ta. Không có gì là chắc chắn cả. Không có gì là “thực” hay là cố định như là sự thật hiển nhiên. Mọi điều đều thay đổi. Cùng là một điều nhưng tác động vào những người khác nhau theo các cách khác nhau. Đó là giấc mơ cuộc đời. Nó khởi đầu khi chúng ta sinh ra, và kết thúc khi chúng ta chết. Giấc mơ khác lại nối tiếp sau đó. Giấc mơ lại tiếp tục chừng nào mà chúng ta vẫn trôi lăn trong sinh tử.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Giấc mơ khi ngủ là giấc mơ của tiềm thức và là một hoạt động của tiềm thức, loại này sẽ xác định nội dung giấc mơ của chúng ta. Đôi khi chúng ta mơ về tương lai. Đôi khi chúng ta mơ về quá khứ. Chúng ta không mơ về bất cứ điều gì mà không liên quan đến chúng ta bởi bất cứ điều gì ta mơ là về chính chúng ta. Đây là giấc mơ khi ngủ. Chúng ta tỉnh dậy từ giấc mơ vào buổi sáng. Trong lời dạy về bardo, thực hành là để nhận biết các huyễn ảnh và điều không thực của giấc mơ khi ta đang ngủ. Bạn sẽ đạt được tỉnh thức để giấc mơ của bạn không đánh lừa bạn nữa. Bạn có thể điều khiển giấc mơ của bạn thay vì để giấc mơ điều khiển bạn. Khi bạn có được sự giải thoát hoàn toàn trong giấc ngủ mộng của bạn, bạn sẽ đạt được một số giải thoát nhất định trong giấc mơ cuộc đời. Những điều huyền diệu của sự tỉnh thức lớn lao này liên quan tới việc làm chủ của giấc mơ trong khi ngủ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cũng là quan trọng để chúng ta xem xét qua về những điều nhiệm màu này, bởi liên quan tới khả năng điều khiển giấc mơ. Mọi người thường lầm lẫn giữa điều huyền diệu và ảo thuật. Một điều huyền diệu là kết quả của việc đạt tới sự giải thoát tuyệt đối. Trong khi phép ảo thuật chỉ là tương đối, là nghệ thuật thế gian, một loại trình diễn. Nhà ảo thuật làm nhiều điều do biết những mánh khóe cần thiết hoặc là dùng một năng lượng vật chất mạnh mẽ, những lời nói đặc biệt, hay là khả năng tưởng tượng và hình dung. Những công cụ này về cơ bản không đáng tin cậy, vì chúng liên quan đến nỗi sợ hãi và hy vọng. Khao khát để làm một điều gì đó dẫn đến hy vọng để thực hiện nó thành công, và nỗi sợ rằng nó có thể thất bại. Tất cả những thứ này được buộc chặt vào bản ngã, cái “tôi”. Rất thú vị để xem ảo thuật, nhưng về cơ bản nó không làm lợi lạc cho ai cả. Các nhà ảo thuật có lẽ cũng đầy đau khổ, sân hận, ham muốn, vô minh, mọi điều, nhưng sự phi thường của họ là họ biết kỹ xảo (để làm nhiều điều). Điều duy nhất chúng ta có thể học từ ảo thuật – nó chứng minh cho chúng ta rằng vòng sinh tử là huyễn ảnh. Bởi vì vậy nó mới được trình diễn bởi ảo thuật. Không có huyễn ảnh, thì không có gì như là ảo thuật có thể thực hiện được. Đó là một mánh khóe, nghệ thuật của huyễn ảnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Điều huyền diệu thực sự là giải thoát. Không có gì liên quan đến bản ngã. Bản ngã càng giảm đi, thì điều huyền diệu càng sâu sắc hơn. Nhiều người trải nghiệm sự huyền diệu, nhưng họ lại không nhận ra. Điều huyền diệu đơn giản là những lời dạy sâu sắc của Đức Phật có thể thay đổi một chúng sinh đang đau khổ hoặc bị dày vò bởi tội lỗi trở thành chúng sinh tử tế nhất chỉ trong một khoảnh khắc có sự hiểu biết đúng đắn. Sự huyền diệu này của Pháp có thể thay đổi thế giới từ một nơi nhiều lo âu thành một nơi thanh bình. Bước đầu tiên là cần hiểu đúng và hành động đúng: đó là lòng từ bi hướng về nhau như là những anh, chị em của nhau. Nếu sự thực hành như vậy đã được chấp nhận bởi cả thế giới, thì bạo lực và chiến tranh đã không thể xảy ra. Tôn trọng những cách thức cơ bản của mối tương quan như vậy có thể tạo ra một điều huyền diệu – đó là có thể đem lại hòa bình cho toàn bộ thế giới. Nếu các chúng sinh có khả năng hiểu biết và chấp nhận điều này, hơn là nghĩ về một điều huyền diệu đang xảy ra đâu đó, thì họ không cần bất kỳ nỗ lực về phía họ, họ đã đạt được giải thoát. Họ đạt tới giải thoát trong giấc mơ cuộc đời trong cùng một cách họ có thể có sự giải thoát trong giấc mơ khi ngủ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong giấc ngủ bạn mơ thấy lửa. Bạn nhận ra bạn đang mơ, bạn biết bạn đang ngủ trong phòng không có lửa. Bạn nhìn thấy tay của mình trong giấc mơ, nhưng tay của bạn là tay trong giấc mơ, không phải là tay thực của bạn. Nếu trong giấc mơ bạn đặt tay của mình lên lửa trong năm giờ, thì các ngón tay của bạn cũng không bị đốt cháy. Đó không phải là ảo thuật, mà là một loại của sự huyền diệu xảy ra khi bạn biết cách điều khiển tình trạng trong giấc ngủ mộng của bạn. Khi quá trình này được thực hiện trong giấc mơ cuộc sống, thì nó cũng là một điều huyền diệu và được thực hiện theo cách thức tương tự. Những điều huyền diệu của các đạo sư vĩ đại trong quá khứ đã được thực hành theo cách này. Các đạo sư này đã giải thoát bởi vì họ nhận thức được bản chất tuyệt đối của mọi sự vật. Đối với họ, những người đã đạt sự giải thoát như vậy, thì không có gì gây trở ngại cho họ, họ không hy vọng hay sợ hãi, họ đã được tháo gỡ, và đó là tại sao họ có khả năng thực hiện những điều huyền diệu. Những điều huyền diệu là vô hạn, và khi một người điều khiển được giấc ngủ mơ, rồi đến giấc mơ cuộc đời, đó là sự khởi đầu để làm chủ giấc mơ sinh tử luân hồi. Toàn bộ sự tiến triển của giải thoát và thức tỉnh khỏi giấc mơ luân hồi được biết như là quả vị Phật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Bardo thiền định</i></b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Loại thứ ba là bardo thiền định, và có thể được phân làm ba loại: thiền định thân, thiền định khẩu, và thiền định tâm. Trạng thái thiền trong tiếng Tạng được gọi là </span><i><span style="font-weight: 400;">samten</span></i><span style="font-weight: 400;">, nghĩa là “tâm ổn định” , và mỗi khía cạnh này là một loại của </span><i><span style="font-weight: 400;">samten</span></i><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Cách ngồi đúng là thân </span><i><span style="font-weight: 400;">samten</span></i><span style="font-weight: 400;"> (thiền thân). Sự ổn định của thân sẽ phát triển trạng thái thiền định một cách tự nhiên. Một thí dụ về ngôi chùa, để xem xét tầm quan trọng của sự chuẩn bị thân thích hợp và tác động của nó vào trạng thái tâm. Khi chúng ta đi tới chùa, chúng ta nhận thấy mọi thứ xung quanh đều yên tĩnh, bên trong ngôi chùa thì sạch sẽ, hình ảnh đức Phật đẹp đẽ. Sự giản dị mang lại cảm giác thanh thản tự nhiên cho bất kỳ ai đến chùa. Cũng như vậy, chuẩn bị để giữ thân thích hợp cũng cho ta sự yên tĩnh và giúp ích cho trạng thái thiền định. Thân là ngôi đền của tâm. So sánh với ngôi chùa, nơi hoàn toàn trái ngược là một phòng nhảy disco với đầy tiếng nhạc ầm ĩ và ánh đèn màu, và mọi người nhảy nhót. Nó kích động mọi người và phá vỡ sự yên tĩnh bên trong của họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Cách ngồi đúng là hai chân bắt chéo nhau, lưng thẳng, đây không phải chỉ là một đặc trưng văn hóa riêng của Phương Đông, mặc dù ở phương Tây, khi Phật giáo bắt đầu truyền bá sang, nhiều người có khuynh hướng xem nó là kiểu ngồi của người phương Đông, vì đây không phải là thói quen của họ, và khá là khó khăn đối với họ. Hiệu quả của tư thế này là dựa trên phối hợp của thân, khẩu và tâm. Tư thế ngồi đúng hỗ trợ kinh mạch trung tâm là nơi tâm điểm của năng lượng sống của chúng ta. Để tâm được yên tĩnh trong trạng thái thiền định, thì mọi thứ phải theo đúng trình tự; khi đó yên tĩnh sẽ đạt được dễ dàng. Hầu hết mọi người đều nhất trí rằng, khi ăn thì tư thế tốt nhất là ngồi thẳng. Nếu bạn nằm trên giường để ăn có thể có hại cho sức khỏe của bạn, vì bạn có thể bị nghẹt thở do cách ăn đó, và cũng không tốt cho tiêu hóa. Khi bạn ngủ, bạn phải nằm xuống. Nếu bạn ngủ đứng bạn sẽ bị ngã và khiến bạn bị đau. Ngủ ngồi trong ghế cũng không phải là cách nghỉ ngơi thoải mái, thuận tiện. Tương tự như vậy, tư thế thiền đúng là tư thế tự nhiên dẫn tới thiền định. Áp dụng tư thế này để phát huy trạng thái thiền định là thiền thân.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Thiền khẩu là nói những lời thích hợp. Tất cả những lời cầu nguyện, đọc tụng, và niệm chú đều có nhiều mức độ về ý nghĩa. Một số chỉ là những câu nói bình thường, một số khác lại là những câu nói biểu tượng, và tất cả có thể được gọi là những lời nói của thiền khẩu. Chúng ta đã giảng giải về điều gì có thể suy tư khi nói những lời cầu nguyện phát khởi bồ đề tâm. Với thân thể ngồi trong tư thế hợp lý nhất, và lời nói cũng bộc lộ sự sâu sắc nhất, đây là sự nối kết tích cực quan trọng cần được phát huy. Nếu chúng ta nói với ai đó “tôi tôn trọng bạn”, người đó cảm thấy vui. Nhưng nếu ta nói “tôi ghét bạn”, dĩ nhiên là người ấy cảm thấy khó chịu. Đây là một ví dụ về năng lực mà lời nói có thể tạo ra. Một người hát một bài hát hay và giọng cũng hay sẽ làm bạn thấy dễ chịu và có thể khiến bạn trầm tĩnh lại. Nhưng nếu một người hát dở và bộc lộ nhiều tiêu cực trong bài hát, điều này có thể khiến bạn thấy khó chịu. Cũng như so sánh âm thanh của tiếng chuông chùa trong trẻo được gõ trong phòng thờ yên tĩnh với âm thanh tiếng cạo của các móng tay trên bảng đen. Đây là tác động của âm thanh. Nói những lời tốt đẹp trong cách đúng đắn là thiền khẩu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Thiền tâm liên quan đến những suy nghĩ đúng đắn. Tâm nghỉ ngơi trong yên tĩnh. Nó được nghỉ ngơi trong trạng thái tự nhiên, luôn đưa suy nghĩ từ bi và yêu thương hướng tới những chúng sinh khác. Suy nghĩ theo cách này dẫn đến việc tỉnh thức được chân lý tuyệt đối. Có sự thành tâm và tin tưởng vào những người đã đạt được quả vị Phật, và tin vào những lời dạy của Đức Phật, các Bồ tát, và những Đạo sư đã tỉnh giác là sẽ có được quan điểm đúng đắn, cách thức đúng đắn, và sự hướng dẫn đúng đắn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Để có thể thiền thân, khẩu, và tâm thích hợp, bạn phải thực hành không chỉ khi bạn ngồi thiền, mà cả khi bạn đi, khi bạn làm việc, khi bạn ăn, khi bạn nấu, khi bạn nói chuyện với người khác, khi bạn ngủ - nghĩa là mọi lúc. Có một cách tốt hơn để thực hành và để cải thiện việc thiền của bạn. Chúng ta cải thiện bằng cách có chánh niệm và tỉnh giác. Vì vậy, bardo thiền là trạng thái thiền ổn định bao hàm thân, khẩu và tâm. Mở rộng trạng thái thiền sau cả thời gian ngồi thiền chính thức, giữ trạng thái thiền ổn định ngay cả trong các hoạt động hàng ngày, đây là thực hành có thể trợ giúp để chuẩn bị cho những thời điểm đầy thách thức, lớn lao khi chuyển tiếp giữa các kiếp sống – thời điểm chết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Bardo của thời điểm cái chết</i></b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Trước khi chúng ta nhận thấy chính ta ở bardo của khoảnh khắc chết, thì chúng ta nên chuẩn bị cho việc này. Nếu chúng ta đợi cho đến khi thời điểm của cái chết xuất hiện, lúc đó mới chuẩn bị về tâm thức thì khi đó quá muộn. Chúng ta có thể chuẩn bị sớm, bất cứ khi nào có thể để làm những việc lợi ích và có ý nghĩa, và tránh làm những việc vô nghĩa và gây hại. Theo cách này, công đức được tích tụ ở bên ngoài, và trí tuệ được tích tụ bên trong. Bất cứ khi nào chúng ta có thể tinh tấn và cải thiện, thì chúng ta phải nắm lấy cơ hội để thực hành. Tất cả chúng ta sẽ chắc chắn phải đối mặt với thời điểm của cái chết vào một ngày nào đó, và đó là sự kiện quan trọng nhất trong cuộc đời của chúng ta. Không có gì đảm bảo rằng chúng ta những người đang đọc những dòng này sẽ còn sống khoảng 100 năm nữa. Tất cả chúng ta đều sẽ chết. Rất ít những em bé hiện nay đang trong bụng mẹ sẽ còn sống sau một thế kỷ. Chúng ta sẽ chết, và chúng ta phải đối diện với thực tế này một cách thành thật. Hầu hết chúng ta đều không biết được khi nào chúng ta sẽ chết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Thời điểm của cái chết là rất quan trọng, bởi vì đó là khoảng thời gian chuyển tiếp từ kiếp sống này sang giai đoạn kế tiếp để dẫn đến kiếp sống tiếp theo. Sự phán xét về chúng ta sẽ dựa trên cơ sở nghiệp của chúng ta, những nhân và duyên mà chúng ta đã tạo ra thông qua các tư tưởng và hành động của chúng ta trong quá khứ, chứ không phải của ai khác. Nếu chúng ta có hiểu biết rõ ràng và có một cơ hội tốt, chúng ta có thể tích tụ công đức và tịnh hóa những nghiệp xấu trước đây vào thời điểm đó. Chúng ta có thể làm điều này vào thời điểm của cái chết tốt hơn là ở bất cứ thời gian nào khác. Ngay bây giờ chúng ta có thể cầu nguyện, thiền định, phát khởi bồ đề tâm, và làm nhiều điều thiện với một lượng thành tâm, tịnh hóa, tin tưởng và sức mạnh nhất định, nhưng vào thời điểm của cái chết, tiềm năng của những thứ này được nhân lên rất to lớn nếu chúng ta được học hỏi làm thế nào để suy nghĩ rõ ràng, hồi hướng công đức, và tận dụng cơ hội đặc biệt này. Vào lúc chết, một ý nghĩ rất ngắn có năng lực hơn cả nhiều năm suy nghĩ trong toàn bộ cuộc đời. Đó là lý do tại sao để nhận thức rõ rằng bạn đang ở trong những thời điểm cuối của cuộc sống lại rất quan trọng như vậy, rằng bạn còn sống và đang đối mặt với sự kiện quan trọng nhất của kiếp sống đó vì mục đích tinh tấn hơn nữa của bạn. Vì vậy đó là thời điểm rất then chốt, và biết về các yếu tố sẽ làm xáo trộn tâm trí là hữu ích cho chúng ta.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Có ba điều sẽ làm xáo trộn tâm trí chúng ta vào thời điểm của cái chết là danh tiếng, tài sản, và các mối quan hệ của chúng ta. Sự bám víu vào danh, tài sản, hay là người thân mà chúng ta sẽ phải chia lìa là chướng ngại lớn nhất để giữ tâm trí trong sáng. Khi thời điểm cái chết đến, chúng ta phải sẵn sàng để thoát khỏi mọi thứ. Chúng ta phải nhận thức rằng chúng ta không cần những thứ này nữa, và ngay cả chúng ta có nắm giữ tiền trong tay, thì cũng không thể đem theo, vì tiền bạc sẽ nằm trong bàn tay lạnh lẽo của chúng ta, và vô dụng. Danh tiếng cũng vậy. Sau một cáo phó ngắn trong trang sau của một tờ báo, chúng ta sẽ bị lãng quên. Những người chúng ta thân cận sẽ tiếp tục cuộc sống của họ và gánh vác nó không có chúng ta. Sự chuẩn bị quan trọng nhất cho thời điểm chết là làm mọi điều với khả năng tốt nhất của chúng ta trong cuộc đời, để chúng ta không có gì phải nuối tiếc, không hành động nào khiến ta cảm thấy tiếc, tội lỗi, hoặc là hổ thẹn. Chúng ta phải có những cảm xúc đơn sơ vào thời điểm chết. Và để có được những cảm xúc này chúng ta phải chuẩn bị trước bằng cách làm bất cứ điều gì có ý nghĩa trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Chúng ta có thể sử dụng tài sản vật chất, tiếng tăm, hay là chức vụ, hay là chúng ta có thể thực hiện những hành động lợi lạc riêng tư vì chúng sinh khác. Sau khi làm những việc thiện, chúng ta hồi hướng công đức cho sự lợi lạc của tất cả chúng sinh, và mong muốn chân thành rằng mọi chúng sinh sẽ thoát khỏi những khổ đau của luân hồi – Bánh xe Cuộc đời. Và chúng ta cũng cầu nguyện rằng, theo khả năng của mình, chúng ta có thể được tái sinh trong cõi người, vun trồng đức hạnh nhiều hơn, và có thể đạt được sự tỉnh giác về chân lý tuyệt đối. Chúng ta cũng có thể cầu nguyện được tái sinh trong cõi Cực lạc, Tịnh độ Sukhavati – nơi mà chúng ta được chỉ dẫn con đường đi đến giác ngộ bởi một vị Phật là hiện thân của trí tuệ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Một người có thể dâng hiến bất kỳ điều gì mà người đó có khả năng dâng hiến. Nếu bạn có đủ khả năng cầu nguyện chân thành “ </span><i><span style="font-weight: 400;">Nguyện tôi sẽ vào địa ngục để giúp đỡ tất cả chúng sinh ở đó, cho đến khi họ thoát khỏi địa ngục, và tôi có thể còn ở lại đó</span></i><span style="font-weight: 400;">”, thì đây là điều tốt nhất nên làm. Dù vậy, điều chính yếu là làm điều gì bạn có thể, và làm với khả năng tốt nhất của bạn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Vào thời điểm của cái chết, có một thực hành đặc biệt cần làm, cái này được biết như là sự di chuyển của tâm thức, hay là phowa trong tiếng Tạng. Để có khả năng thực hiện điều này đòi hỏi phải rèn luyện đặc biệt một thời gian. Hoàn thành thực hành này một cách thành công thì tâm thức sẽ giải thoát được không bị tái sinh vào các cõi giới thấp hơn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Bardo của bản chất tối thượng</i></b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Bardo của bản chất tối thượng là cốt lõi cao quý nhất của Kim Cương Thừa. Mọi thứ trong toàn vũ trụ là một biểu thị của bản chất tối thượng. Mọi sự vật nói với bạn về bản chất tối thượng, mọi sự vật cho bạn thông điệp, mọi sự vật đang chỉ cho bạn thấy sự vô thường. Bạn bè đến với nhau, nói chuyện, và tận hưởng thú vui bạn bè với nhau, nhưng khi cuộc gặp kết thúc thì họ lại phân tán. Một vị vua xây một cung điện, nhưng ngay khi ông ta hoàn thành cung điện và cảm thấy mãn nguyện về sự hoàn thành của nó, thì cung điện cũng bắt đầu hư hoại. Chắc chắn theo thời gian, cung điện rồi sẽ bị suy tàn và sụp đổ. Một đứa trẻ mới sinh khiến chúng ta vui mừng vì có thêm một thành viên mới trong gia đình, nhưng trong tương lai rồi đứa trẻ cũng sẽ chết, vì có sinh thì phải có chết. Vào buổi sáng chúng ta nhìn thấy mặt trời mọc. Đây là sự khởi đầu của một ngày. Nhưng mặt trời sẽ lặn sau núi, và bóng tối trùm xuống. Những hiện tượng này luôn đến và sẽ đến. Đó là bản chất thực của mọi sự vật và hiện tượng. Hiện tượng của sự sống nói cho bạn biết rằng mọi thứ đều là không, mọi thứ là vô thường, mọi thứ chỉ là hiển lộ tạm thời – nhưng về cốt lõi thì nó là tuyệt đối, là bản chất Phật. Nhận thức ra điều này để có thể tận dụng đầy đủ giá trị của cơ hội đang hiện diện trong từng khoảnh khắc của cuộc sống chúng ta, đó là bardo của bản chất tối thượng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Bardo sinh thành</i></b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Loại bardo thứ sáu và cuối cùng là khá thân thuộc với nhiều người – những người đã nghe về bardo này. Nó là trạng thái giữa cái chết của cơ thể này trong cuộc sống này, và sự tái sinh trong kiếp sống tiếp theo. Khi bất kỳ chúng sinh thuộc bất kỳ cõi giới nào chuyển từ kiếp sống hiện tại vào trạng thái trung gian, thì độ dài của thời gian trong trạng thái trung gian và loại trải nghiệm mà chúng sinh ấy có hoàn toàn phụ thuộc vào nghiệp của chúng sinh ấy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Bardo sau khi chết, giữa cái chết và sự thụ thai vào một thể xác mới, là một phần quan trọng của quá trình tái sinh. Nhiều bài giảng đã dạy về điều này, như là kinh Mật thừa có tên “</span><i><span style="font-weight: 400;">Giải thoát bằng Sự lắng nghe</span></i><span style="font-weight: 400;">”. Kinh này và nhiều kinh mật thừa khác đã giải thích về quá trình sau khi chết. Giai đoạn này là đặc biệt quan trọng đối với con người, và đó là một bài giảng cho con người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Bardo sau khi chết bắt đầu ở thời điểm của cái chết và kết thúc vào thời điểm thụ thai trong sự tái sinh tiếp theo. Giai đoạn bardo này tối đa là bốn mươi chín ngày. Tối thiểu có thể là một phần giây, nhưng dài nhất là bốn mươi chín ngày. Vấn đề này được nói rõ trong các kinh điển và được áp dụng cho mọi người sống trên trái đất của chúng ta.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Quá trình chết là quá trình đảo ngược của quá trình thụ thai. Chúng ta đi ra khỏi cơ thể cùng với cách mà chúng ta đi vào đó. Mọi điều xảy ra khi chúng ta đi vào cũng xảy ra tương tự như khi chúng ta đi ra khỏi thể xác. Cách duy nhất bạn đi ra khỏi nhà mình là đi qua cửa, cùng với cách mà bạn đi vào. Nếu là một cái chết bình thường và dễ chịu, không phải là chết vì tai nạn hay bất cứ loại nào tương tự như vậy, thì dấu hiệu đầu tiên rằng cái chết đang đến là khi yếu tố đất của người này tan vào trong đất của vũ trụ. Vào thời khắc đó, người ta cảm thấy cực kỳ nặng và không thể chuyển động. Khi đó yếu tố khí tan vào khí của vũ trụ, do vậy cảm thấy khó thở. Tất cả những dấu hiệu này cho chúng ta biết rằng sự sống đang rời bỏ thể xác. Yếu tố đất tan vào đất vũ trụ, khí tan vào khí vũ trụ, nước tan vào nước vũ trụ, và lửa tan vào lửa vũ trụ, là những dấu hiệu cho từng giai đoạn. Cái chết là sự hút các yếu tố vật chất của chúng ta vào trong các yếu tố của tự nhiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Tất cả cảm giác, tình cảm, và sau cùng là hình tướng vật lý đã phát triển sau khi tâm thức đã kết nối với cơ thể ở giai đoạn thụ thai trở lại nơi mà chúng đã đến. Đầu tiên là các chi trở nên lạnh và mất cảm giác. Trung tâm của cơ thể vẫn ấm, vì vậy, tâm điểm tràn vào giữa. Bên trong kinh mạch trung tâm, các năng lượng tích cực và tiêu cực của vũ trụ thể hiện trong những màu sắc tương phản là trắng và đỏ. Lúc đó có thể nói tâm trí rất yếu ớt, mờ nhạt, cơ thể và tâm trở thành không có ý thức. Đó là khoảnh khắc của sự hấp thu cuối cùng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Cái chết và các giai đoạn sau khi chết là sự thay đổi đột ngột sâu sắc trong trải nghiệm của chúng ta. Đây là lý do tại sao chúng ta không nhớ được những gì đã xảy ra trong các kiếp sống trước. Nó giống như một vụ nổ rất lớn dẫn đến mất trí nhớ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Nếu bạn có lòng thành tâm trong sáng và lòng từ tinh khiết, nếu bạn là một thiền giả rất lão luyện, và nếu bạn có thể tỉnh giác về trạng thái ở thời điểm quyết định này, bạn sẽ có một cơ hội thực sự ở thời điểm của cái chết để đạt giác ngộ, bởi vì vào khoảnh khắc đó bạn được thoát khỏi hoàn toàn mọi nối kết nghiệp của đời sống này. Thời điểm va chạm và yếu ớt đó có thể trở nên giác ngộ, bởi vì chỉ có Phật tính của bạn ở đó, nếu bạn có thể nhận ra nó. Nếu một người không có lòng từ hay là sự thành tâm, thông thường người đó sẽ sợ, hoặc là có thể giận dữ hay là bực bội, và rồi, dĩ nhiên cơ hội này sẽ bị mất đi. Cái chết tốt nhất là chết tự nhiên và là cách chết thích hợp, bởi vì giúp tâm thức dễ dàng hơn và không bị sợ hãi, tham lam, sân hận, hay bực bội. Thiền và những thực hành ích lợi khác có thể giúp chúng ta nuôi dưỡng sức mạnh của tâm thức. Chúng ta không phải lãng phí cái chết tự nhiên của mình. Đối những thiền sư vĩ đại – những người tỉnh giác và không sợ hãi, có sự rèn luyện tâm thức, thì đây là cơ hội của cả một cuộc đời – cơ hội cho sự giác ngộ. Giai đoạn ban đầu này có thể dài hoặc ngắn. Nó có thể là ba ngày, hoặc ngắn như một khoảnh khắc. Điều này tùy thuộc vào từng cá nhân. Giai đoạn đặc biệt này của bardo được gọi là trạng thái ánh tịnh quang đầu tiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Ánh tịnh quang thứ hai xảy đến khi bạn thức tỉnh từ trạng thái bất tỉnh. Thời điểm này mỗi cá nhân có cơ hội để sinh vào cõi Tịnh độ. Trong các giáo lý của Kim Cương Thừa, sự thực hành tái sinh về cõi Cực lạc có các mức độ bên ngoài, bên trong, và bí mật. Đây là cõi Phật, cho nên đối với tâm thức bình thường như chúng ta thì không dễ dàng để hình dung, nhưng đó là nơi các chúng sinh có thể chọn lựa sự sinh. Để dễ hiểu hơn, chúng ta có lẽ nên hình dung nó như là thể vật lý bên ngoài tái sinh vào cõi Tịnh độ. Khi bạn tỉnh thức từ trạng thái bất tỉnh sau cái chết, do sự hồi hướng và từ bi của mình mà bạn có thể đạt được quả vị Bồ tát đầu tiên bằng cách sinh vào cõi Tịnh độ của Đức Phật A di Đà, là một trong năm vị Phật Dhyani của Gia đình Hoa sen (Lotus family). Có nhiều cõi giới thanh tịnh mà một chúng sinh trong đó có thể thành một vị Bồ tát, và cõi Tịnh độ của Đức Phật A Di Đà là một trong số đó. Và cũng có mức độ bên ngoài, bên trong, và bí mật như đã lưu ý. Nếu bạn có khả năng được sinh vào mức độ bên ngoài của cõi Tịnh Độ A Di Đà như là một Bồ tát cấp sơ địa ngay khi bạn tỉnh thức từ cơn choáng của cái chết, nếu như bạn đã gieo các nhân tốt, và tích tụ đủ công đức.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu một cá nhân không đạt được giác ngộ ở trạng thái ánh tịnh quang đầu tiên, hoặc không được sinh như một vị Bồ tát ở cõi Tịnh Độ A Di Đà, thì tâm thức của người này sẽ đi ra ngoài cơ thể, bởi vì kết nối nghiệp với thân vật lý và tâm thức đã kết thúc. Vì tâm thức đi ra ngoài, nên người này sẽ đi vào giai đoạn bardo thứ hai. Giai đoạn bardo thứ nhất bao gồm hai trạng thái ánh tịnh quang thứ nhất và thứ hai. Sau đó, giai đoạn bardo thứ hai bắt đầu – là giai đoạn ở giữa khi rời bỏ thân xác và sự tái sinh tiếp theo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hiện tại, ta đang sống trong một thân xác, các giác quan và tâm thức hoạt động thông qua cơ thể vật lý tạo thành bởi các nhân – duyên nghiệp của chúng ta. Chúng ta có thể nghe từ hai tai, chúng ta có thể ngửi từ mũi, chúng ta có thể thấy phía trước, và hai bên trong một khoảng cách nhất định, và nếu chúng ta muốn nhìn đằng sau, chúng ta phải quay người lại. Trong suốt giai đoạn bardo thứ hai, mọi thứ trở nên sống động, đường vào đến từ mọi nơi. Bạn không bị giới hạn bởi tai vật lý, và có thể nghe thấy mọi thứ. Tất cả các giác quan thoát khỏi thân xác vật chất hữu hạn. Hiện tại, những thứ chúng ta nghe, thấy, va chạm, vị giác là phụ thuộc vào các bộ phận giác quan. Đường vào và những trải nghiệm cũng tập trung vào đó. Nhưng vào giai đoạn bardo thứ hai, không có sự giới hạn như vậy, vì vậy toàn bộ là âm thanh và ánh sáng. Mọi thứ đều trở thành âm thanh và ánh sáng, giống như một vụ nổ lớn không bao giờ ngừng lại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Theo các kinh điển như là </span><i><span style="font-weight: 400;">Kinh Sự giải thoát Vĩ đại</span></i><span style="font-weight: 400;"> và kinh Mật thừa như là </span><i><span style="font-weight: 400;">Giải thoát bằng Sự Lắng nghe</span></i><span style="font-weight: 400;">, ở giai đoạn bardo thứ hai, nếu bạn nhận ra rằng bạn đã chết, và bạn đang ở trong trạng thái bardo, và rằng tất cả âm thanh và ánh sáng, và biểu hiện này chỉ là một phần của bạn, và đó là nghiệp của bạn, ý thức của bạn đang biểu lộ, và nếu bạn có khả năng quan sát Phật tính, hoặc là ngay cả bạn có khả năng tập trung vào bất kỳ vị Phật hay Bồ tát nào, bạn có thể được giải thoát vào thời điểm đó rất dễ dàng. Đức Phật nói rằng việc nhận biết điều đó cũng đủ cho giải thoát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Nói chung, đối với những người bình thường không tạo công đức và không có thực hành tốt, sẽ rất khó khăn cho họ để nghĩ bất kỳ điều gì vào lúc đó, và trong trường hợp xấu nhất trải nghiệm của họ có lẽ là cảnh tượng kinh hoàng nhất có thể hình dung được. Điều này có thể so sánh với sự rơi từ máy bay với độ cao 50,000 feet. Lúc đó bạn chỉ có một mẩu giấy và một cái bút lông và phải thực hiện bức họa thư tốt nhất của mình trước khi chạm đất. Điều đó rất khó. Đối với những người có lòng thành tâm thanh tịnh và lòng từ trong sáng, khi ở trong hoàn cảnh như vậy, có lẽ họ không thể nhớ nhiều về điều gì cần làm, nhưng nếu họ nhớ tới Phật A Di Đà hay là bất cứ vị Phật hay Bồ tát nào cũng có thể giúp họ rất nhiều. Do vậy, việc thực hành trong một kiếp sống là cực kỳ quan trọng, vì để chuẩn bị cho thời điểm chuyển tiếp này. Đối với những người thực hành chuyên cần khi họ còn sống, thời điểm cái chết đến và giai đoạn bardo này đạt được, nếu nỗi sợ hãi xuất hiện thì nó sẽ nương vào lòng thành tâm và lòng từ của họ. Và đó là một cơ hội to lớn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Sau giai đoạn này, một người sẽ nổi ra từ mọi ánh sáng và âm thanh, và phát triển một nhân dạng được gọi là bardo cơ thể. Trong thời điểm gần nhất với kiếp sống trước, thì bardo chứa đầy những tình cảm, suy nghĩ, và nhận thức của kiếp sống đó. Giai đoạn ở giữa này là không rõ ràng và nhiều chướng ngại. Nửa sau của giai đoạn này chứa đầy những cảm giác của kiếp sống kế tiếp vì các cảm giác của kiếp trước đã lu mờ. Khoảng thời gian nằm giữa của giai đoạn này có một khoảng vừa có một ít của quá khứ và một ít của tương tai. Nếu một người là nam giới trong kiếp sống này, thì sẽ trở thành phụ nữ trong kiếp sau, và khoảng giữa đó sẽ là cái ngưỡng cảm xúc, tinh thần và vật chất của sự hiển lộ thân vật lý khác nhau. Nếu bạn đưa ra một thí dụ như là một người và một động vật, thì cũng có giai đoạn ngưỡng ở giữa. Đó là một bardo nhỏ khác ở giữa, và ở đó có chút hỗn độn, nhưng nó vẫn trao một cơ hội khác cho sự giải thoát lớn lao.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Trong suốt thời gian chuyển đổi từ kiếp trước sang kiếp sau, nếu những người bạn và gia đình cầu nguyện và có nhiều hành động tạo công đức với lòng hồi hướng thành tâm và niềm tin mạnh mẽ, thì người chết trong cõi bardo sẽ được tác động rất lợi lạc, theo năng lực nghiệp của người đó. Khi một người đang ở trong bardo, người ấy có thể nghe những lời giảng như khi còn sống. Nếu có đủ khả năng để hiểu được, những lời giảng sẽ được tiếp thu và có thể đạt được một mức độ tỉnh thức. Vào giai đoạn bardo, những lời cầu nguyện có thể có ảnh hưởng tốt đẹp tới người chết, vì trạng thái bardo là rất trong sáng không bị những chướng ngại của thân và khẩu. Chỉ duy nhất có tâm thức là còn giữ ý thức với nghiệp và những điều bất thiện của nó. Chính tâm thức dễ tác động vào nhất lúc đó. Vì vậy, những người thân thuộc còn sống có trách nhiệm và cơ hội để làm lợi lạc người quá cố bằng những lời cầu nguyện của mình. Đó là lòng yêu thương rất quan trọng đối với người thân đã mất.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Giai đoạn thứ ba của bardo là giai đoạn cuối cùng của bardo sau khi chết và trước khi tái sinh. Vào giai đoạn đó trải nghiệm về âm thanh và ánh sáng chói chang trở lại, chỉ trước khi đi vào lại sự tái sinh, vào thời điểm chuyển từ giai đoạn bardo sang giai đoạn sống, thì toàn bộ mọi trải nghiệm về sự sống và sự chết được lặp lại. Các kinh điển mô tả những biểu thị được trải nghiệm ở ngưỡng này như là những nữ thần hòa bình và phẫn nộ, những ánh sáng đó biểu thị cho các cõi giới sinh khác nhau, và vân vân. Nếu một người có sự tinh tấn lớn lao thì họ cũng có cơ hội để đạt được giải thoát ở thời điểm này. Nếu có lòng từ và thành tâm mãnh liệt, tâm thức không bị lấn áp bởi các hiển thị của tất cả hiện tượng bardo, người này vẫn có thể chọn được sự tái sinh vào khoảnh khắc đó – nếu có lòng từ bi, thành tâm, nhận thức và tỉnh giác mạnh mẽ. Nếu không thì luồng gió nghiệp sẽ đưa bạn vào nơi nghiệp của bạn sẽ tái sinh. Đó là cơ hội cuối cùng trong chừng mực mà giai đoạn bardo có thể thực hiện. Sau đó trạng thái bardo sẽ qua đi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Bardo sinh thành là kết nối giữa một kiếp sống này và kiếp sống kế tiếp. Quá trình bardo này là một quá trình tái sinh. Khi bạn được tái sinh trong kiếp sống tới thì đó là quá trình tái sinh sẽ hiển thị thân vật chất. Vì vậy giai đoạn này là cực kỳ quan trọng, và các bài giảng Phật giáo luôn khuyến khích một người chuẩn bị cho thời điểm đó. Nếu bạn không đạt được giác ngộ trong kiếp sống này, thì ít nhất bạn hãy chuẩn bị cho thời điểm đó – vì đây là cơ hội tốt nhất để đạt được giác ngộ. Ngay cả nếu một người không được giải thoát ở thời điểm ánh sáng đầu tiên, thì vẫn còn cơ hội lớn hơn cho sự tái sinh tích cực và thích hợp trong kiếp sống tương lai nếu người này có sự tích tụ nghiệp tốt và thực hành từ kiếp sống này. Cái chết là một kết quả bình thường của sự sinh ra (có sinh thì có diệt), vì thế chúng ta nên biết tận dụng thích hợp khi nó xảy ra.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Có một số điều muốn nhắc nhở những người đang tu tập và muốn thực hành để chuẩn bị cho các giai đoạn bardo. Điều quan trọng luôn luôn các bạn phải nhớ đó là tính vô thường. Chúng ta không bao giờ biết khi nào chúng ta sẽ chết. Các bác sĩ có thể cho chúng ta một sự ước đoán, nhưng chúng ta không thể biết chắc chắn, vì vậy cái chết có thể đến bất ngờ. Hiểu biết rõ về sự vô thường sẽ giúp chúng ta rất nhiều trong việc sẵn sàng cho thời điểm chết. Khi nó đến ta sẽ ít bị sốc, sợ hãi và kháng cự. Nếu chúng ta nhận thức sâu sắc về tính vô thường, những trạng thái tiêu cực của tâm thức sẽ không diễn ra, bởi lẽ chúng ta biết rằng cái chết sẽ đến, ngay cả nếu chúng ta không thích thì việc phàn nàn cũng không giúp được gì. Bạn nên chấp nhận cái chết để có thể tận dụng nó một cách thoải mái và chính xác, bạn đừng giận dữ và để sự giận dữ ảnh hưởng bạn vào thời điểm hết sức quan trọng này. Hãy luôn luôn nhớ mọi thứ đều vô thường.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Một số người nghĩ rằng nhớ về tính vô thường khiến họ không tổ chức được công việc hay là không tốt cho việc kinh doanh của họ. Điều đó không đúng. Họ có thể là những nhà kinh doanh giỏi nếu họ luôn nhớ theo cách hiểu đúng đắn về vô thường. Luôn luôn là tốt cho bạn nếu có nhiều kế hoạch dự phòng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Một điểm khác cần ghi nhớ: Đừng bỏ qua bất cứ cơ hội nào để thực hiện thiện căn hay là tránh xa các căn bất thiện. Cần nắm lấy những cơ hội như thế một cách nghiêm túc, bởi lẽ chúng rất quan trọng khi kết thúc. Nếu chúng ta chỉ nhìn vào những thứ có thể làm, mà quên đi việc tạo thiện căn, và không biết tận dụng nó, thì chúng ta đã đánh mất cơ hội đó. Nếu chúng ta nhận thấy sự tiêu cực mà chúng ta có thể tránh, nhưng do lười biếng và không áy náy về nó, rồi cứ tiếp tục làm và bị lôi cuốn vào đó, thì đấy cũng là một sự lãng phí quá mức. Sẽ là tốt hơn nhiều nếu xem xét cả điều tiêu cực và tích cực một cách nghiêm túc. Và tránh làm những điều tiêu cực càng ít càng tốt, và thực hiện những hành động tích cực càng nhiều càng tốt. Nếu bạn gặp ai đó trên đường và xin bạn tiền, và bạn chỉ có 50 xu thì hãy cho nó, bởi vì 50 xu không nhiều. Nếu bạn cho và người xin có thể sử dụng thì bạn tạo được nghiệp tốt. Chúng ta không nên từ chối ngay cả những điều nhỏ. Nếu một con ruồi rơi vào ly nước của bạn, bạn không nên chỉ vớt nó ra và cho vào bồn rửa khiến nó chết. Hãy lấy con ruồi ra và bỏ nó ra ngoài cửa sổ trước khi bạn mở nước trong bồn. Thật là đơn giản, vì bạn không cần phải cố gắng quá nhiều, và làm như vậy không khiến bạn trở thành một người cuồng tín. Một vài người nghĩ “Có lợi gì trong việc cứu một con ruồi? Tôi không ăn chay”. Dĩ nhiên là bạn có thể ăn thịt, nhưng bạn cũng có thể cứu con ruồi nữa. Sẽ là tốt hơn nếu bạn ăn thịt và cứu một con ruồi còn hơn là bạn không làm điều gì tích cực cả. Có một số người thường cầu nguyện cho những chúng sinh mà họ ăn – đây là một việc làm tốt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Thực hành giấc mơ (bardo giấc mơ) được xem là rất hữu ích trong việc chuẩn bị cho giai đoạn bardo, bởi vì bardo có một chút ít giống như một giấc mơ. Tất nhiên, ảo ảnh ngắn của giấc mơ không thể so sánh với tầm cỡ của bardo, nhưng chúng có mối liên hệ có thể lợi ích cho việc thực hành. Khi chúng ta ngủ và mơ, chúng ta nên cố gắng đạt và gìn giữ tâm thức và tỉnh giác đủ để nhận ra ta đang trong mộng. Điều này không hề quấy rầy sự nghỉ ngơi của chúng ta, mà có lẽ giúp ích chúng ta nghỉ ngơi tốt hơn trong khi mơ, bởi vì nếu một con hổ bám đuổi theo ta trong giấc mơ thì ta sẽ không quá sợ hãi, và chúng ta sẽ không bị kiệt sức khi tỉnh giấc. Thay vào đó chúng ta có thể quan sát con hổ làm gì, nó có thể nhảy xổ vào hoặc là cắn, nhưng chúng ta không hề hấn gì cả. Con hổ có lẽ nói chuyện với chúng ta, hay là chúng ta đến gần nó, hoặc là con hổ lại ngủ thiếp đi. Trau dồi sự tỉnh giác trong giấc mơ là rất ích lợi cho việc chuẩn bị đối với bardo sinh thành.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Những thực hành như là </span><i><span style="font-weight: 400;">phowa,</span></i><span style="font-weight: 400;"> sự di chuyển tâm thức, hoặc là </span><i><span style="font-weight: 400;">phowa</span></i><span style="font-weight: 400;"> ban phúc lành, đều sẽ ích lợi, cũng như nhận những lễ quán đảnh liên quan đến bardo. Bất kỳ thực hành Pháp nào cũng rất lợi lạc. Bất kỳ tư tưởng thiện nào, cảm xúc tốt đẹp nào, hoặc là những hành động giúp ích hướng tới chúng sinh khác đều rất có ích cho chúng ta. Nếu bạn có thể thiền về bản chất của tâm, suy tư và kinh nghiệm sâu sắc về bản chất của tâm thì sẽ cực kỳ ích lợi. Thực sự, đó là một trong những phần quan trọng nhất của thiền định đối với việc nhận ra tính Phật của chính bạn. Ngay cả, nếu nó chỉ là một ý niệm thoáng qua của sự tỉnh giác cũng sẽ rất hữu ích rồi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> Đây là tất cả sự chuẩn bị to lớn cho bardo. Nếu bạn đọc sách </span><i><span style="font-weight: 400;">Tử thư Tây Tạng </span></i><span style="font-weight: 400;">một cách cẩn thận và suy tư về nó – không phải là bị ám ảnh, mà là đọc với sự điềm tĩnh và hợp lý, và suy tưởng về nó – đó sẽ là trợ giúp tốt, bởi vì nó cho bạn một thái độ về điều gì nên mong đợi và điều gì cho rằng sẽ xảy ra. Những điều bạn học từ cuốn sách sẽ giúp ích cho bạn sau này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Điểm cuối cùng: từ bây giờ chúng ta có thể liên hệ một cách thuận lợi với vũ trụ thông qua các giác quan vật lý của chúng ta, và chúng ta sẽ trải nghiệm rất sống động trong bardo khi sử dụng các bài tập vi tế. Điều này được gọi là nghe âm thanh của tự nhiên. Cần thực hành vào lúc yên tĩnh, khi mọi thứ xung quanh tĩnh lặng. Có một âm thanh to diễn ra liên tục, nhưng vì chúng ta luôn luôn nghĩ, nói chuyện, hoặc là bận rộn bởi những thứ khác, nên chúng ta chưa bao giờ nghe được âm thanh đó. Khi chúng ta yên lặng, chúng ta có thể nghe được nó một chút. Khi nghỉ ngơi ở nhà, tập trung vào âm thanh này, và cố gắng trong tĩnh lặng để duy trì nó. Điều này sẽ giúp ích cực kỳ, vì đây là một trong số các âm thanh mà chúng ta sẽ bắt gặp trong suốt giai đoạn bardo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hiểu biết về tái sinh, những nguyên nhân và tiến trình của nó là nền tảng hết sức quan trọng đối với sự hiểu biết Phật Pháp. Thông thường, mọi người nhìn cái chết như là một hiện tượng rất tiêu cực, sợ hãi và ác cảm với nó. Nhưng cái chết không phải là tiêu cực. Nó là một phần quan trọng của tiến trình dẫn đến giác ngộ viên mãn. Học hỏi để có cái chết tự nhiên, đầy ý nghĩa là một trong những điều ích lợi nhất chúng ta có thể làm trong cuộc sống hiện tại của chúng ta. Nếu chúng ta biết cách chết đúng đắn, chúng ta có thể đi thẳng tới giải thoát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Kenting Tai Situpa Thứ XII</i></b></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Trích từ: (Chương 3) ĐÁNH THỨC VỊ PHẬT ĐANG NGỦ (AWAKENING THE SLEEPING BUDDHA)</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Nguyên Toàn dịch từ tiếng Anh</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Nhà xuất bản Tôn Giáo - Hà Nội 2010</span></i></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/tam-xa-ly-luan-hoi/tai-sinh-va-nghiep/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>NGHIỆP: LUẬT NHÂN QUẢ</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/nghiep-luat-nhan-qua/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/nghiep-luat-nhan-qua/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 07 Sep 2015 17:47:01 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Nhân Quả]]></category>
		<category><![CDATA[Tâm xả ly Luân hồi]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=4662</guid>
		<description><![CDATA[               Đạo Sư Chatral Rinpoche trong một nghi lễ phóng sing thường niên  Ngài từ bỏ việc xấu, làm việc thiện, như giáo lý về nhân quả.  Công hạnh của Ngài noi theo tiến trình của các Thừa. Nhờ cái Thấy viên mãn, Ngài thoát khỏi mọi bám chấp.  Bậc Thầy Vô Song, con đảnh&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/nghiep-luat-nhan-qua/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://kimcuongthua.vn/wp-content/uploads/Chatral-Rinpoche-121.jpg"><img class="  wp-image-4663 aligncenter" src="http://kimcuongthua.vn/wp-content/uploads/Chatral-Rinpoche-121-300x225.jpg" alt="Chatral Rinpoche (121)" width="485" height="364" /></a><strong>               Đạo Sư Chatral Rinpoche trong một nghi lễ phóng sing thường niên </strong></p>
<h4 style="text-align: center;"><strong><i>Ngài từ bỏ việc xấu, làm việc thiện, như giáo lý về nhân quả. </i> </strong><br />
<strong><i>Công hạnh của Ngài noi theo tiến trình của các Thừa.</i></strong><br />
<strong><i>Nhờ cái Thấy viên mãn, Ngài thoát khỏi mọi bám chấp. </i> </strong><br />
<strong><i>Bậc Thầy Vô Song, con đảnh lễ dưới chân Ngài. </i></strong></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Chương này cần phải được giảng giải và học hỏi [với thái độ] tương tự như đối với những chương khác. Chủ đề trong chương này sẽ được giải thích dưới ba đề mục: hành động tiêu cực (ác hạnh) là những gì nên từ bỏ, hành động tích cực (thiện hạnh) là những điều nên tuân theo; và tính chất hoàn toàn quyết định của các hành động tạo nghiệp.</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><i>*Từ Phạn ngữ karma (T.T. las), bây giờ thường được sử dụng trong Anh ngữ để ám chỉ kết quả của những hành động trong quá khứ, nhưng karma thực ra chỉ đơn thuần có nghĩa là “những hành động.” Tuy nhiên, người Tây Tạng cũng sử dụng thành ngữ las trong ngôn ngữ thông thường để ám chỉ toàn thể tiến trình , hay nguyên lý, của nhân và quả, rgyu’bras, và đây là chủ đề của chương này. </i></h4>
<h4 style="text-align: justify;"><b>I. NHỮNG ÁC HẠNH PHẢI TỪ BỎ </b></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Điều khiến cho chúng ta phải tái sinh trong những cõi cao hay bị đọa trong cõi thấp của vòng luân hồi chính là những hành vi thiện hay ác mà bản thân chúng ta đã tích lũy. Chính vòng luân hồi được tạo ra bởi các hành vi này, và bao gồm tất cả những kết quả của các hành vi ấy – chứ không có bất cứ điều gì khác đưa dẫn chúng ta vào những cảnh giới cao hay thấp. Đây cũng chẳng phải chỉ là sự ngẫu nhiên. Vì thế, vào mọi lúc, chúng ta nên luôn luôn quán sát hậu quả của các hành động tích cực và tiêu cực, cố tránh tất cả những điều xấu và làm những điều tốt.</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><b>1. Mười hành vi bất thiện nên tránh</b> (Thập ác)</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Ba hành vi trong số mười hành vi bất thiện là những hành vi thuộc về thân: sát sinh, lấy những gì không được cho, và tà dâm (quan hệ tình dục bất chánh); bốn hành vi thuộc về khẩu: nói dối, gieo mối bất hòa, nói lời cay nghiệt, và nói chuyện phiếm vô ích; ba hành vi thuộc về ý: tham muốn, muốn làm tổn hại người khác, và quan điểm sai lạc (tà kiến).</h4>
<h4 style="text-align: justify;">1.1 <b>SÁT SINH </b></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Sát sinh có nghĩa là cố ý làm bất cứ điều gì để kết thúc sinh mạng của một chúng sinh khác, dù là người, súc vật hoặc bất kỳ sinh linh nào khác.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Người lính giết kẻ địch trong chiến trận là một ví dụ của việc sát sinh vì thù hận (sân). Việc giết một con thú hoang để ăn thịt hay lấy da của chúng làm y phục là sát sinh bởi lòng tham. Giết mà không biết hậu quả là đúng hay sai – hay như những kẻ ngoại đạo (tirthika) tin rằng đó là một việc đức hạnh – là sát sinh bởi sự vô minh (si).</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Có ba trường hợp sát sinh được gọi là những hành vi có quả báo tức thời (hiện báo), vì những hành vi này dẫn đến sự tái sinh ngay lập tức trong Địa Ngục Vô Gián mà không kinh qua trạng thái trung ấm, đó là: giết cha, giết mẹ, và giết một vị A La Hán.70</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Một số người trong chúng ta nghĩ rằng chỉ phạm tội sát sinh khi có hành vi giết hại cụ thể bằng chính đôi bàn tay của mình; và rất có thể là chúng ta tưởng tượng là chúng ta vô tội vì chưa hề bao giờ phạm tội sát sinh. Nhưng ngay từ đầu thì không một ai trong chúng ta, dù cao hay thấp, mạnh mẽ hay yếu đuối lại chưa từng phạm lỗi đạp chết vô số côn trùng dưới chân khi dạo bước.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Đặc biệt hơn, những Lạt Ma và tu sĩ khi tới nhà thăm các tín chủ, được dâng cúng máu và thịt của thú vật bị giết và được nấu thành thức ăn; mùi vị của thịt hấp dẫn họ tới nỗi họ ngấu nghiến món ăn với sự khoái trá mà không có chút xíu ân hận hay thương xót nào đối với những con vật bị giết. Trong những trường hợp như vậy, hậu quả ác nghiệp của người sát sinh sẽ ập xuống cho cả chủ lẫn khách không hề có sự khác biệt.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Khi những nhân vật quan trọng và viên chức chính quyền đi du hành, dù họ đi tới đâu thì cũng có vô số súc vật bị giết để dùng vào việc tổ chức những buổi tiệc trà và tiệc chiêu đãi của họ. Những người giàu có theo thói quen sát hại vô số súc vật. Trong số tất cả các gia súc của họ, ngoại trừ một vài con vật già nua ở đây đó, thì họ không để bất cứ con vật nào chết tự nhiên mà đều giết thịt từng con một khi các con vật ấy lớn dần. Hơn nữa, trong mùa hè, chính những con trâu bò và những con cừu này, khi chúng ăn cỏ thì chúng lại giết hại vô số côn trùng, ruồi, kiến và thậm chí cả cá con và ếch nhái; trong khi chúng đang nuốt cỏ, chúng nghiền nát những con côn trùng này dưới bộ móng của chúng, hay làm những con côn trùng bị ngập lún trong phân. Hậu quả của ác nghiệp của tất cả các hành động này sẽ xảy tới với chủ nhân cũng như cho các con vật. Nếu đem so sánh với ngựa, trâu bò và những loại gia súc khác thì con cừu là một nguồn đặc biệt gây nhiều tổn hại. Khi chúng ăn cỏ, chúng nuốt tất cả các sinh vật bé nhỏ – ếch, rắn, chim con, v.v... Khi bị xén lông vào mùa hè, hàng trăm ngàn sinh vật sống trên mỗi bộ lông cừu đều bị giết chết. Lúc sinh đẻ vào mùa đông, không tới phân nửa cừu con được giữ lại, còn bao nhiêu đều bị giết thịt khi vừa sinh ra. Cừu mẹ được dùng để lấy sữa và sinh sản cho tới khi chúng quá già và suy kiệt; lúc đó chúng bị giết để lấy thịt và da. Và không một con cừu đực nào, dù có bị thiến hay không, tới lúc trưởng thành mà không bị giết ngay lập tức. Nếu cừu có rận thì hàng triệu chấy rận trên mỗi con cừu sẽ bị chết đồng loạt. Bất cứ ai sở hữu một bầy cừu một trăm con hay nhiều hơn nữa, bảo đảm sẽ tái sinh ít nhất một lần trong địa ngục.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Trong mỗi một đám cưới, vô số cừu bị giết khi của hồi môn được gởi đi, lúc tiễn cô dâu về nhà chồng, và khi cô dâu được cha mẹ chồng đón nhận. Sau đo,ù mỗi khi cô dâu trẻ về thăm gia đình, chắc chắn những súc vật khác sẽ bị đem giết. Nếu bạn bè và thân quyến mời cô ra và phục vụ cô bất cứ thứ gì trừ món thị thì cô sẽ làm ra vẻ lúng túng ăn không ngon miệng và ăn với vẻ khinh khỉnh như thể cô đã quên cách nhai.71 Nhưng nếu giết một con cừu mập mạp và đặt phần thịt vú và bộ lòng trước mặt cô, thì cô sẽ ngồi xuống thật trịnh trọng như một con tiểu quỷ mặt đỏ, lôi con dao nhỏ ra, rồi cô nuốt chửng cả miếng thịt kèm theo những cái chắp môi. Ngày hôm sau cô lên đường, và trở về nhà buông phịch một xác thú đầy máu me xuống đất, y như thể một tên thợ săn - nhưng còn tệ hơn thế nữa, mỗi khi cô đi đâu ra ngoài, chắc chắn chẳng khi nào cô về tay không.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Trẻ con cũng vậy, chúng gây ra vô số cái chết cho súc vật trong lúc chơi đùa, dù chúng có biết điều đó hay không. Chẳng hạn trong mùa hè, chúng giết chết nhiều con côn trùng chỉ bằng cách dùng một cành liễu hay một cái roi da đập xuống mặt đất khi chúng đi bộ dọc theo con đường. Như vậy nên trong thực tế, tất cả loài người chúng ta dùng toàn bộ thời gian của mình để sát sinh, chẳng khác nào loài yêu quái. Thực thế – hãy xem bằng cách nào chúng ta giết chết trâu bò của mình để thưởng thức thịt và máu của chúng trong khi chúng đã dành toàn bộ cuộc đời để phục vụ và nuôi dưỡng chúng ta bằng sữa của chúng, như thể chúng là mẹ của chúng ta – chúng ta còn tệ hơn bất kỳ thứ yêu tinh nào.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Hành vi cướp đi mạng sống được hoàn tất khi bao gồm đầy đủ bốn yếu tố của một ác hạnh. Hãy lấy ví dụ về một người thợ săn giết một con dã thú. Trước hết, ông ta thấy một con nai thực sự, hay một con hươu xạ, hoặc bất kể con vật nào, và nhận thấy rõ rằng đây chính là con vật, không chút nghi ngờ: việc nhận biết đó là một sinh vật chính là căn bản cho sự hành động. Kế đó, ước muốn giết con thú phát khởi: ý tưởng giết con thú là động cơ để thực hiện hành vi giết hại. Sau đó ông ta bắn vào điểm nhược của con vật bằng một khẩu súng, bằng cung tên hay bất kỳ vũ khí nào khác: hành động giết hại của thân là việc thực hiện hành vi ấy. Ngay sau đó, chức năng sinh tồn của con vật ngừng dứt, sự nối kết giữa thân và tâm của nó bị tách lìa: đó là sự hoàn tất cuối cùng của hành động sát sinh.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Còn một ví dụ khác: theo yêu cầu của gia chủ, người đồ tể giết một con cừu được nuôi để lấy thịt. Trước tiên, chủ nhà bảo người hầu hay người hàng thịt giết một con cừu. Điều căn bản là ông ta biết rằng có một sinh vật có liên quan đến ác hạnh naỳ – đó là một con cừu. Động lực (ý định) hay ý tưởng giết con vật, sẽ hiện diện ngay khi ông ta quyết định con cừu này hay con cừu kia sẽ bị giết. Việc thực hiện hành động sát sinh thực sự xảy ra khi người đồ tể sắp sửa giết con cừu, vật nó ngã ngửa, cột bốn chân nó lại với nhau bằng những sợi dây da và buộc một sợi thừng quanh mõm cho tới khi nó chết ngạt. Con vật ngừng thở trong sự đau đớn dữ dội của sự dãy chết, đôi mắt trợn trừng của nó ngả màu hơi xanh, kéo mây và trào lệ. Xác nó bị kéo ra khỏi nhà và giai đoạn cuối cùng, sự chấm dứt đời sống của nó, đưa tới sự hoàn tất ác hạnh. Không để phí chút thời gian nào, con vật bị lột da bằng một con dao, da thịt nó vẫn còn đang rung động vì “năng lực toả-khắp”* chưa đủ thời gian để lìa khỏi xác; như thể con vật vẫn còn sống. Ngay lập tức, nó được nướng trên một ngọn lửa và nấu trên bếp lò, rồi được mang ra ăn. Khi bạn nghĩ về nó, về những con vật như vậy bị ăn thịt, trong thực tế nó đang bị ăn tươi nuốt sống, và loài người chúng ta thì không khác gì những con thú săn mồi.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Giả sử hôm nay bạn có ý định giết một con vật, hoặc bạn nói rằng sẽ giết, nhưng không thực sự làm điều đó. Như thế là đã có căn bản, có sự hiểu biết rằng đó là một chúng sinh, và có ý định hay ý tưởng giết hại con vật. Do đó, hai trong số các yếu tố của ác hạnh đã có mặt đầy đủ, và mặc dù sự tác hại ít nặng nề hơn so với việc bạn hoàn thành hành vi sát sinh trong thực tế, nhưng giống như sự phản chiếu trong một tấm gương, dấu vết của một hành động tiêu cực (ác hạnh) vẫn tồn tại.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Một số người tưởng rằng chỉ có những ai sử dụng thân thể để thực hiện việc sát sinh mới tạo ra hậu quả của ác nghiệp, còn người chỉ ra lệnh thì không - hay nếu có tạo thì cũng chỉ tạo một ít hậu quả mà thôi. Nhưng bạn nên biết rằng nghiệp quả xảy đến với tất cả những người có liên quan đến hành vi xấu ác đều đồng đều như nhau, ngay cả với những người chỉ cảm thấy vui thích về điều đó – đừng nói chi tới người thực sự ra lệnh cho việc sát sinh được thực hiện. Mỗi người nhận toàn bộ nghiệp quả của việc giết hại một con vật. Không làm gì có việc một hành động sát sinh lại có thể được chia ra cho nhiều người.<br />
<i>*Một trong năm năng lực vi tế (rlung), hay “gióù” trong thân thể (xem thuật ngữ). </i></h4>
<h4 style="text-align: justify;">1.2. <b>LẤY NHỮNG GÌ KHÔNG ĐƯỢC CHO </b></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Việc lấy những gì không được cho gồm có ba loại: lấy bằng bạo lực, lấy bằng cách ăn trộm lén lút và lấy bằng thủ đoạn gian trá.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Lấy bằng bạo lực. Cũng gọi là lấy bằng sự áp chế, có nghĩa là cưỡng chiếm của cải hay tài sản của người khác; và người làm công việc cưỡng chiếm này là một cá nhân có quyền lực chẳng hạn như một ông vua, là một người không có chủ quyền hợp pháp đối với những tài sản kia. Điều này cũng bao gồm sự cưỡng đoạt bởi một số đông người, ví dụ như là một quân đội.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Lấy bằng trộm cắp. Điều này có nghĩa lấy mất của cải vật chất một cách bí mật, giống như một kẻ trộm ban đêm không bị chủ nhân bắt gặp.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Lấy bằng thủ đoạn gian trá. Nghĩa là lấy tài sản của người khác, ví dụ như trong giao dịch mua bán, bằng cách nói dối người khác, hoặc dùng cân và những dụng cụ đo lường sai lạc hoặc dùng các thủ đoạn lừa bịp khác.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Ngày nay, chúng ta nghĩ rằng trong lãnh vực kinh doanh và những phạm vi khác, việc lừa lọc hay dùng thủ đoạn để lấy đi những thứ gì đó của người khác thì không có gì là sai trái miễn là chúng ta không công khai trộm cắp. Nhưng trong thực tế, bất kỳ lợi nhuận nào chúng ta có thể tạo ra bằng cách lừa gạt người khác thì đều không khác với sự ăn cắp công khai.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Đặc biệt là ngày nay, các vị lạt ma và tu sĩ thấy rằng không có tổn hại hay sai lầm nào trong việc làm kinh doanh; quả thực họ tiêu phí toàn bộ cuộc đời vào công việc đó, và cảm thấy hơi tự hào về sự thành thạo của họ. Tuy nhiên, không có gì làm suy yếu tâm lực của một lạt ma hay tu sĩ hơn là việc làm kinh doanh. Bị choáng ngợp trong công việc giao dịch, ông ta ít cảm thấy có khuynh hướng theo đuổi việc nghiên cứu hay tu tập để tịnh hóa những che chướng của mình – và dù sao chăng nữa thì cũng chẳng còn sót lại chút thời giờ nào để dành cho công việc tu tập như vậy. Tất cả thời giờ, từ lúc thức cho đến khi đi ngủ, đều bị hao phí mải mê với những trương mục kế toán. Bất cứ ý niệm nào về lòng quy ngưỡng, tâm chán ghét luân hồi, hay lòng bi mẫn thì những ý niệm đó cũng đều bị tiệt trừ và sự mê lầm thường xuyên chế ngự ông ta.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Một đêm kia, Ngài Jetsun Milarepa đến một tu viện và ngủ qua đêm trước cửa một căn phòng. Vị tu sĩ sống trong phòng đang nằm trên giừơng suy nghĩ về việc làm thế nào bán xác của con bò mà ông ta dự định sẽ làm thịt vào ngày mai: “Ta sẽ được ngần đó tiền cho cái đầu, xương vai đáng giá ngần ấy, và thịt vai được chừng ấy, chừng ấy cho giò và cẳng chân.” Ông ta tiếp tục tính toán giá trị của từng món và từng phần của con bò, bên trong và bên ngoài. Tới rạng sáng, ông ta không chợp mắt được chút nào nhưng đã tính toán được xong xuôi mọi thứ ngoại trừ việc phải hỏi giá cái đuôi. Ông lập tức ngồi dậy, hoàn tất công phu quy ngưỡng và thực hành phần cúng dường bánh cúng (torma).</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Khi đi ra đến ngoài, ông ta bước ngang qua chỗ Ngài Jetsun vẫn còn đang say ngủ, và mắng nhiếc Ngài một cách khinh bỉ: “Ông xưng là hành giả của Giáo Pháp, mà cho tới giờ này vẫn còn ngủ ở đây! Ông không công phu hành trì hay tụng niệm chút nào hay sao?”</h4>
<h4 style="text-align: justify;">“Tôi luôn mất ngủ như vầy,” Ngài Jetsun Mila trả lời. “Tôi vừa thức suốt đêm để nghĩ về cách bán con bò mà tôi sắp giết. Tôi chỉ mới chợp mắt được một chút…” Và như thế Ngài phơi bày những khuyết điểm che dấu của vị tăng, rồi bỏ đi.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Giống như vị tu sĩ trong truyện này, ngày nay những người mà cả đời chỉ chí thú việc kinh doanh đã dùng cả ngày lẫn đêm hoàn toàn mê đắm trong việc tính toán. Họ bị choán ngợp trong ảo tưởng, ngay cả khi cái chết đến, họ cũng sẽ chết mà vẫn mê lầm như thế. Hơn thế nữa, thương mại có liên quan đến tất cả những loại hành vi tiêu cực (ác hạnh). Người ta có hàng hóa để bán, dù trong thực tế là loại kém tệ, nhưng họ lại đề cao chất lượng của nó bằng bất kỳ cách nào họ có thể nghĩ ra. Họ nói dối công khai, chẳng hạn như khách hàng này người mua nọ đã trả tới giá nào ra sao, nhưng họ đã từ chối không bán; hoặc lúc ban đầu họ đã mua vào với số tiền lớn như thế nào. Khi cố gắng mua cho bằng được những món hàng đang được hai người khác thương lượng, thì họ dùng đến sự vu khống nhằm kích động sự bất hoà giữa hai bên. Họ dùng những lời lẽ nặng nề để nói xấu hàng hoá của đối thủ cạnh tranh, nhằm việc tranh nợ hoặc các thứ tương tự khác. Họ say mê trong những cuộc trò chuyện vô nghĩa bằng cách đòi hỏi giá cả kỳ cục hoặc mặc cả những thứ mà họ chẳng có ý định mua. Họ ghen tỵ và thèm muốn những thứ thuộc sở hữu của người khác, nỗ lực hết mình để được người kia cho những món đó. Họ luôn mong đối thủ của mình bị tổn hại, luôn mong muốn dành được phần tốt hơn của đối thủ. Nếu họ buôn bán gia súc, họ bị dính mắc trong việc sát sinh. Vì thế trong thực tế, việc kinh doanh bao gồm tất cả mười hành động bất thiện (thập ác), may ra thì có thể không phải kể đến tà kiến và tà dâm. Sau đó, khi việc thương lượng của họ tiến hành không tốt đẹp thì cả hai bên đều hao phí tài sản, mọi người đều khốn khổ, các thương nhân có thể trở thành đói khát, đem lại tổn thất cho bản thân họ và cho cả những kẻ đối tác. Nhưng nếu họ gặt hái chút ít thành công, thì dù có kiếm lời nhiều đến đâu chăng nữa họ chẳng bao giờ thấy đủ. Ngay cả những người giàu có như Đa Văn Thiên (Vaisravana) vẫn cảm thấy thích thú trong những việc kinh doanh bất chính. Cuối cùng khi cái chết tới gần, họ sẽ đấm ngực trong đau khổ, bởi toàn bộ đời người của họ đã bị tiêu phí trong những sự mê ám như vậy, là những thứ giờ đây đang trở thành gánh nặng lôi họ xuống các cõi thấp.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Để tích lũy những ác hạnh vô tận và hoàn toàn làm cho bạn trở nên đồi bại, hư hỏng thì không có gì hữu hiệu hơn là làm việc buôn bán và thương mại. Bạn sẽ thấy bản thân mình luôn luôn nghĩ đến các phương thức đánh lừa người khác như thể bạn đang xem xét một bộ sưu tập gồm các loại dao, dùi và kim xem dụng cụ nào sắc bén nhất. Khi nghiền ngẫm không ngừng về những tư tưởng ác hại, bạn quay lưng lại với lý tưởng Bồ Đề tâm là tư tưởng cứu giúp những chúng sinh khác, và những hành động nguy hại của bạn sinh sôi nảy nở vô tận.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Việc lấy đi những gì không được cho cũng bao gồm bốn yếu tố làm cho ác hạnh được hoàn tất; những điều này cũng đã được giảng rõ rồi. Tuy nhiên, bất cứ sự tham dự nào vào trong các hành vi bất thiện đó, dù chỉ là biếu tặng những kẻ đi săn hoặc những tên trộm cắp chút ít thực phẩm giúp cho cuộc hành trình của chúng thì việc này cũng đủ để đem lại cho bạn một phần hậu quả tương đương với hậu quả của hành vi bất thiện gây ra bởi tội sát sinh và trộm cướp của chúng.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">1.3 <b>TÀ DÂM </b></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Những quy luật sau đây là dành cho cư sĩ. Ở Tây Tạng, trong triều đại của vị Pháp Vươnng Songtsen Gampo, luật pháp được đặt nền tảng trên mười hành động tốt lành (thập thiện). Những quy luật này được thiết lập, bao gồm những luật lệ dành cho người dân sống trong xã hội và những giới luật dành cho cộng đồng tôn giáo. Ở đây, chúng ta đang đề cập tới những quy luật hạn chế trong cách cư xử dành cho người thế gian. Là những người chủ gia đình, họ nên tuân theo một đạo lý thích hợp. Riêng đối với Tăng và Ni, họ được đòi hỏi phải tránh tất cả mọi hành vi tính dục.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Sự tà dâm nghiêm trọng nhất là việc dẫn dắt người khác phá vỡ giới nguyện của họ. Tà dâm cũng bao gồm những hành vi được liên kết với những cá nhân nào đó, hoặc tại một nơi chốn và hoàn cảnh đặc biệt nào đó như là: sự thủ dâm; những quan hệ tình dục với người đã có gia đình hoặc với người đã hứa hôn với người khác; hoặc với người còn độc thân nhưng công khai giữa ban ngày, trong khi đang giữ nguyện trai giới một ngày, trong khi bệnh tật, trong lúc kiệt sức, trong lúc có thai, trong khi vừa mất một người thân, trong khi có kinh nguyệt, trong lúc đang hồi phục sau khi sinh nở; ở nơi có sự hiện diện của các biểu tượng của Tam Bảo; với cha mẹ mình, hay với những thành viên khác trong gia đình (họ hàng), với trẻ em chưa tới tuổi dậy thì; hay có quan hệ tính dục qua cửa miệng hay hậu môn, vân vân.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">1.4 <b>NÓI DỐI </b></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Nói dối có ba loại: nói dối thông thường, nói dối nghiêm trọng và những lời giả dối của lạt ma giả mạo.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Những lời nói dối thông thường. Đó là bất kỳ những lời phát biểu không chân thật nào, được nói ra với ý định lừa gạt người khác.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Những lời nói dối nghiêm trọng. Đó là những lời phát biểu chẳng hạn như: thiện hạnh thì không đem lại lợi ích và không có hại gì khi làm các hành động bất thiện, không có hạnh phúc gì trong các cõi Phật và không có đau khổ trong những cõi thấp, hoặc là những lời phát biểu rằng Đức Phật không có các phẩm hạnh tốt đẹp. Những lời phát biểu như vậy được gọi là nói dối nghiêm trọng bởi không có những lời nói dối nào khác có thể đem lại các hậu quả gây lầm lạc nghiêm trọng hơn thế nữa.</h4>
<h4 style="text-align: justify;"> Những lời giả dối của lạt ma giả mạo. Đây là tất cả những lời tuyên bố không thành thật rằng mình có những phẩm tính cao cả và có oai lực, ví dụ như đã đạt được những Bồ Tát địa, hay có thần lực thấu thị. Ngày nay, những kẻ mạo danh lại thành công hơn những vị Thầy chân thực, và tư tưởng cùng hành động của mọi người dễ dàng bị những kẻ mạo danh gây ảnh hưởng. Do đó, có một số người tự xưng là những đạo sư hay là những thành tựu giả trong nỗ lực lừa gạt người khác. Họ tuyên bố là mình có một linh kiến về một Bổn Tôn nào đó và tổ chức các lễ cúng dường tạ ơn Ngài, hoặc tuyên bố là họ thấy một tinh linh và đã trừng trị nó. Thường thì đây chỉ là những lời dối gạt của các Lạt Ma giả mạo, nên hãy thận trọng đừng tin tưởng một cách mù quáng vào những kẻ lừa gạt và bất tài như thế. Bởi có thể nói rằng việc tìm ra được vị Thầy chân chính làm ảnh hưởng tới đời này lẫn đời sau, nên điều tối quan trọng là hãy đặt niềm tin của bạn vào một hành giả Giáo Pháp mà bạn biết rõ, một người luôn luôn khiêm tốn, và bản tánh bên trong cùng cách hành sử bên ngoài của Ngài thì tương ưng với nhau.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Nói chung, có những người bình thường có được một mức độ thấu-thị-giới-hạn-trong-ý-niệm nào đó, nhưng khả năng này không thường hằng, và chỉ có hiệu lực trong một thời gian. Khả năng thấu suốt hoàn toàn thuần tịnh chỉ hiện ra với những bậc đã đạt tới quả vị siêu việt, vì thế khả năng này thật cực kỳ khó đạt được.72</h4>
<h4 style="text-align: justify;">1.5 <b>GIEO MỐI BẤT HOÀ </b></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Việc gieo mối bất hoà có thể công khai hay bí mật.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Gieo mối bất hoà công khai. Đây là một chiến lược thường dùng của những người nắm quyền. Điều này bao gồm việc tạo ra mối bất hòa giữa hai người cùng hiện diện bằng cách công khai kể với một người rằng người kia nói xấu sau lưng anh ta, và tiếp tục diễn tả lại những gì người thứ nhất đã nói hay làm hại người thứ hai – và sau đó có thể hỏi cả hai tại sao hiện giờ vẫn đối xử với nhau như thể không có chuyện gì xảy ra giữa họ.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Gieo mối bất hoà bí mật. Điều này có nghĩa là chia rẽ hai người đang rất hoà thuận với nhau bằng cách kể lại sau lưng người thứ hai cho người thứ nhất nghe về những điều kinh khủng mà người thứ hai được cho là đã nói về người thứ nhất trong khi người thứ hai lại là một người mà người thứ nhất luôn quan tâm đến.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Trường hợp tệ nhất trong việc gieo mối bất hoà là gây mâu thuẫn giữa những thành viên trong Tăng Đoàn. Việc gây nên sự rạn nứt giữa vị Thầy của Mật Thừa và đệ tử của Ngài, hoặc trong nhóm huynh đệ hay tỉ muội tâm linh thì đặc biệt nghiêm trọng.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">1.6 <b>NÓI LỜI CAY NGHIỆT </b></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Lời nói cay nghiệt là, chẳng hạn như phê bình một cách thô bạo về những khuyết điểm trên thân thể của người khác, công khai gọi người ta là chột, điếc, mù v.v.. Điều này bao gồm sự phơi bày những khiếm khuyết che dấu của người khác, đủ mọi loại lời nói xúc phạm và, trong thực tế, ngay cả bất kỳ những lời nào làm người khác không vui hay không thoải mái, cho dù là lời ngọt ngào chứ không cay nghiệt.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Đặc biệt, nói xúc phạm một người trước mặt một vị Thầy, trước mặt một huynh đệ tâm linh, hay một bậc hiền thánh là một lỗi lầm rất nghiêm trọng.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">1.7 <b>NÓI CHUYỆN PHIẾM VÔ ÍCH</b></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Nói chuyện phiếm vô ích là nói nhiều mà không có bất cứ mục đích nào: ví dụ, kể lại những gì ta tưởng là Giáo Pháp nhưng thật ra không phải – như nghi lễ của những Bà la môn (brahmin);73 hay nói bâng quơ về những chủ đề làm khuấy động lòng tham muốn hay sân hận, như kể những chuyện của gái điếm, hát những bài ca dâm dật, hoặc bàn luận về chuyện cướp bóc và chiến tranh. Đặc biệt, làm quấy nhiễu việc cầu nguyện hay trì tụng của người khác bằng cách tuôn ra những lời lẽ vô dụng làm cho họ bị xao lãng thì điều này đặc biệt tai hại, bởi việc ấy ngăn cản họ trong việc tích tập công đức.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Những mẩu chuyện ngồi lê đôi mách mà thoạt nhìn dường như phát sinh hoàn toàn tự nhiên và tự phát, nhưng khi bạn xem xét kỹ lưỡng hơn, thì được thúc đẩy bởi sự tham dục hay thù hận, và mức độ nặng nề của những lỗi lầm sẽ tương xứng với số lượng tham muốn hay sân hận được tạo nên trong tâm bạn hay tâm người khác khi nói về những mẩu chuyện này.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Trong khi bạn đang tụng đọc những lời cầu nguyện hay trì tụng các câu minh chú mà lại trộn lẫn với sự trò chuyện không thích đáng thì việc ấy sẽ ngăn chặn sự kết trái của công phu tu tập của bạn, cho dù bạn có tụng niệm nhiều tới đâu chăng nữa. Điều này đặc biệt áp dụng cho những loại chuyện tầm phào khác nhau lan truyền trong hàng ngũ Tăng Đoàn. Chỉ một người duy nhất nói chuyện tầm phào là đã có thể làm cho công đức của toàn thể hội chúng bị tiêu huỷ và những hành động đáng khen của các tín chủ và người bảo trợ của hội chúng cũng bị uổng phí.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Trong xứ Ấn Độ cao quý, như một thông lệ, chỉ có những bậc đã đạt được những thành tựu cao nhất và hoàn toàn trong sạch, đã đoạn diệt được tất cả những lỗi lầm xấu xa thì những vị ấy mới có quyền sử dụng quỹ cúng dường cho Tăng Đoàn. Đức Phật không cho phép một ai khác được làm điều đó. Nhưng ngày nay, người ta chỉ cần học được một hay hai nghi thức Mật thừa, và ngay khi có thể trì tụng các nghi quỹ ấy là họ bắt đầu sử dụng bất kỳ những vật cúng dường nguy hiểm nào74 mà họ có thể nhận được. Nếu không được thọ nhận các lễ quán đảnh, không trì giữ tất cả các mật nguyện, không tinh thông các giai đoạn phát triển và hoàn thiện, và không hoàn tất những điều kiện đòi hỏi của việc tụng niệm minh chú, mà lại đi nhận cúng dường bằng cách cử hành những nghi lễ mật thừa – nghĩa là chỉ hát tụng những minh chú bí mật một cách qua loa giống như những phù thủy đạo Bon – thì đây là một vi phạm nặng nề. Sử dụng những của cúng dường nguy hiểm này được so sánh với việc ăn những viên sắt nóng: nếu người bình thường cùng dự phần mà không có quai hàm bằng gang thép của sự hợp nhất hai giai đoạn phát triển và hoàn thiện, thì họ sẽ tự đốt cháy mình và bị hủy hoại. Như có câu nói rằng:</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><i>Phẩm vật cúng dường nguy hiểm là những lưỡi dao bén chết người; </i><br />
<i>Cứ tiêu xài, và của ấy sẽ cắt đứt huyết mạch của giải thoát. </i></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Chẳng những không tinh thông hai giai đoạn thiền định của pháp tu Mật Thừa mà những người như vậy, cho dù có thể họ biết chút ít những ngôn từ của các nghi thức nhưng thậm chí họ cũng không lo tụng niệm những ngôn từ ấy một cách đúng đắn. Tệ hơn nữa, vào lúc họ trì tụng thần chú – là phần quan trọng nhất – họ lại bắt đầu tán gẫu, và trong suốt thời gian được ấn định để trì chú, họ tuôn ra một lô toàn những chuyện tầm phào không dứt, những chuyện ngập đầy tham vọng và kích động. Điều này thật tai hại cho chính bản thân họ và cho cả những người khác. Điều tối quan trọng là các tu sĩ và các Lạt Ma phải từ bỏ loại chuyện phiếm này và tập trung vào việc tụng chú mà không được tro øchuyện.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">1.8 <b>THAM MUỐN </b></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Sự tham muốn bao gồm tất cả những tư tưởng thèm muốn hay hám lợi, thậm chí kể cả những niệm tưởng vi tế nhất mà chúng ta có thể có đối với tài sản của người khác. Khi suy tưởng rằng sẽ dễ chịu biết bao nếu như những thứ kỳ diệu đó của họ lại thành của mình, chúng ta cứ mơ tưởng được sở hữu những thứ ấy, vạch ra những kế hoạch để chiếm đoạt chúng, v.v…</h4>
<h4 style="text-align: justify;">1.9 <b>MUỐN LÀM TỔN HẠI NGƯỜI KHÁC </b></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Điều này ám chỉ tất cả những tư tưởng hiểm độc mà ta có thể có về những người khác. Ví dụ như suy nghĩ với lòng oán ghét hay giận dữ để xem bằng cách nào chúng ta có thể làm hại được họ; cảm thấy thất vọng khi họ thành công hay phát đạt; mong muốn họ bớt sung túc, bớt hạnh phúc hay bớt tài giỏi; hoặc cảm thấy vui mừng khi những điều khó chịu xảy ra cho họ.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">1.10 <b>TÀ KIẾN </b></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Tà kiến bao gồm quan điểm cho rằng hành động không tạo nghiệp quả, và quan điểm của thuyết vĩnh cửu và thuyết hư vô.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Theo quan điểm hành động không tạo nghiệp quả thì thiện hạnh không đem lợi ích và ác hạnh không gây tổn hại. Quan điểm của thuyết vĩnh cửu và hư vô bao gồm tất cả những quan điểm khác nhau của những kẻ ngoaiï đạo. Mặc dù những tà kiến loại này có thể được chia ra thành ba trăm sáu mươi quan điểm sai lầm, hay sáu mươi hai tà kiến, nhưng tất cả có thể được tóm tắt thành hai phân loại bao gồm chủ nghĩa vĩnh cửu và chủ nghĩa hư vô.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Những người theo chủ nghĩa vĩnh cửu tin là có một cái ngã thường hằng và một đấng tạo hoá (tạo lập thế giới) hiện hữu vĩnh cửu bên ngoài ta, chẳng hạn như các vị thần Isvara hay Vishnu. Những người theo thuyết hư vô tin rằng tất cả sự vật hoàn toàn tự phát, không có đời quá khứ hay đời vị lai,<br />
không có nghiệp quả, không có tự do và giải thoát.75 Như có nói trong học thuyết của thần Isvara Sắc Đen:</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><i>Mặt trời mọc, nước chảy xuống, </i><br />
<i>Hạt đậu xoe tròn, chiều dài đâm tủa và cái bén nhọn của cây gai, </i><br />
<i>Vẻ đẹp của con mắt ngũ sắc của đuôi công; </i><br />
<i>Chẳng do ai tạo, tất cả đều tự phát một cách tự nhiên. </i></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Họ biện luận rằng khi mặt trời mọc ở phương Đông, không ai ở đó làm cho nó mọc. Khi một dòng sông chảy xuống thấp, không ai lèo lái cho nước chảy xuống. Không ai lăn những hạt đậu để làm tất cả những hạt đậu tròn xoe, hay làm cho tất cả các mũi gai thành dài, sắc nhọn, và dựng đứng. Không ai vẽ những con mắt đẹp đẽ nhiều màu trên một đuôi công... Tất cả những sự việc này chỉ là thuần túy như thế, được sinh do những đặc tánh riêng của chúng. Và vì thế mọi sự trong thế gian này dù thoải mái hay khó chịu, xấu hay tốt – mọi hiện tượng đều tự phát một cách hoàn toàn tự nhiên. Không có nghiệp từ quá khứ, không có những đời trước, không có những đời sau.76</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Nếu cho rằng văn bản của những học thuyết như vậy là chân chính và thuận theo những bản văn ấy, hoặc ngay cả không noi theo nhưng lại suy gẫm cho rằng lời của Đức Phật, cũng như những giáo huấn của vị Thầy của bạn, hay những trước tác của những nhà luận giảng uyên bác là những lời sai lạc, rồi đâm ra hoài nghi, chỉ trích những lời này, thì tất cả đều được bao gồm trong điều được gọi là tà kiến.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Điều tệ hại nhất trong mười hành động bất thiện là sát sinh và tà kiến. Như đã có câu nói rằng:</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><i>Không hành vi nào tệ hại hơn việc cướp đi mạng sống của một chúng sinh khác; Trong mười hành vi bất thiện, tà kiến là nặng nề nhất. </i></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Ngoại trừ chúng sinh trong các địa ngục, không ai không chùn bước trước cái chết hay không ai không coi trọng cuộc đời mình hơn bất kỳ điều gì khác. Thế nên, huỷ diệt một cuộc đời là một hành động cực kỳ bất thiện. Trong Tịnh Ức Diệu Pháp Kinh có nói rằng ta sẽ phải trả lại bất kỳ mạng sống nào ta đã cướp đi bằng năm trăm kiếp sống của riêng ta, và nếu ta giết chết dù chỉ một chúng sinh thì ta sẽ phải trải qua một đại kiếp trong thân trung ấm ở các cõi địa ngục.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Còn tệ hại hơn nữa là trong khi đang thực hiện một việc công đức, chẳng hạn như xây dựng một biểu tượng của Tam Bảo, mà bạn lại làm việc đó như thể đây là một lý do bào chữa để qua đó mà bạn phạm những ác hạnh như sát sinh. Ngài Padampa Sangye đã nói:</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><i>Xây dựng pháp bảo hộ trì cho Tam Bảo trong khi gây ra tổn hại và đau khổ </i><br />
<i>Là ném đời sau của bạn vào trong gió. </i></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Cũng là điều sai lầm quấy quá nếu bạn nghĩ rằng bạn đang làm điều đáng ca ngợi khi giết súc vật và dâng cúng thịt và máu của chúng cho các lạt ma được mời tới nhà bạn, hay dâng cúng những món này cho một hội chúng các tu sĩ. Hậu quả của ác nghiệp sẽ xảy tới cho cả người cho lẫn người nhận. Người cho, mặc dù làm việc cung cấp thực phẩm, nhưng đang tạo ra một món cúng dường bất tịnh; và người nhận đang chấp thuận thực phẩm không thích hợp. Bất kỳ kết quả tốt lành nào cũng đều sẽ bị hậu quả tiêu cực lấn át (lợi bất cập hại). Quả thực, trừ khi bạn có khả năng làm hồi sinh các nạn nhân của bạn ngay tại chỗ, còn thì không có tình huống nào mà hành vi sát sinh lại không làm ô uế bạn như là một hành vi bất thiện. Bạn cũng có thể đoan chắc rằng việc ấy sẽ làm tổn hại cuộc đời và công hạnh của vị Thầy.78 Nếu bạn không có khả năng chuyển di tâm thức chúng sinh đến trạng thái cực lạc, thì bạn nên thực hiện mọi nỗ lực để tránh việc cướp đi mạng sống của các chúng sinh ấy.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Nếu bạn có tà kiến, cho dù chỉ trong một khoảnh khắc, điều ấy sẽ phá vỡ tất cả các giới nguyện của bạn và bạn tự loại mình ra khỏi cộng đồng Phật tử. Tà kiến cũng sẽ không cho bạn có được sự tự do khi đang có được thân người trong đời này để thực hành Giáo Pháp. Từ giây phút tâm thức bạn bị những tà kiến làm nhiễm ô, thì ngay cả những việc tốt lành mà bạn làm cũng không dẫn tới được giải thoát và những việc xấu ác bạn đã phạm cũng chẳng thể sám hối được nữa.79</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><b>2. Hậu Quả Của Muời Hành Vi Bất Thiện </b></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Mỗi hành vi tiêu cực sinh ra bốn loại nghiệp quả: quả chín muồi trổ sinh, quả tương ứng với nhân đã gieo, quả trổ sinh nghiệp cảnh, và quả tăng trưởng liên tục.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">2.1 <b>QUẢ CHÍN MUỒI TRỔ SANH</b> 80</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Nếu phạm vào bất kỳ một trong mười ác hạnh nào trong khi để cho lòng sân hận thúc đẩy thì điều này sẽ dẫn đến sự tái sinh trong các cõi địa ngục. Phạm điều ác bởi lòng tham dục sẽ bị đọa vào cõi ngạ quỷ; phạm điều ác do vô minh thì sẽ phải đọa vào cõi súc sinh. Một khi bị đọa vào trong những cõi thấp này, chúng ta phải trải qua những nỗi thống khổ đặc biệt ở cõi đó.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Ngoài ra, khi có một sự thôi thúc rất mạnh mẽ – lòng tham, sân, hay si cực kỳ dữ dội– thì sự thôi thúc này sẽ là động cơ dẫn đến việc liên tục tích tụ những ác hạnh trong một thời gian dài, và điều này sẽ đưa đến việc tái sinh trong các cõi địa ngục. Nếu sự thôi thúc bớt mạnh và các ác hạnh giảm thiểu đi, thì sẽ đưa đến việc tái sinh làm ngạ quỷ; nếu ít hơn nữa thì sẽ tái sinh làm súc vật.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">2.2 <b>QUẢ TƯƠNG ỨNG VỚI NHÂN </b></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Ngay cả cuối cùng, khi chúng ta đã thoát được ra khỏi cõi thấp, nơi mà quả chín muồi hoàn toàn trổ sinh đã khiến ta phải bị đoạ sinh vào ấy, và nay ta đã có được một thân người, nhưng dù như thế thì chúng ta sẽ vẫn phải tiếp tục trải qua kinh nghiệm của quả tương tự với nhân. Thật vậy, trong các cõi thấp cũng có nhiều loại đau khổ khác nhau tương tự với những nguyên nhân đặc biệt. Những kết quả tương tự với nguyên nhân này có hai loại: những hành nghiệp tương ứng với nguyên nhân và những kinh nghiệm tương ứng với nguyên nhân.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">2.2.1 Hành nghiệp tương ứng với nguyên nhân</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Quả này là một xu hướng thích hợp với những hành vi cùng loại, giống như là nhân lúc ban đầu. Nếu trước đó chúng ta từng sát sinh thì chúng ta vẫn còn thích giết hại; nếu chúng ta đã từng ăn trộm, chúng ta vẫn thích thú khi lấy những gì không được cho; và v.v. Điều này giải thích lý do tại sao, có một số người nào đó ngay từ lúc còn rất nhỏ đã giết tất cả các côn trùng và ruồi muỗi mà họ nhìn thấy. Một khuynh huớng sát sinh như thế tương ứng với những hành vi tương tự mà họ đã thực hiện trong các đời trước. Từ khi mới lọt lòng, mỗi người trong chúng ta hành động hoàn toàn khác biệt nhau, bị dẫn dắt bởi những thôi thúc của nghiệp lực khác nhau. Một số thích giết hại, một số thích ăn trộm, trong khi những người khác lại không cảm thấy ham thích những hành vi như thế và thay vào đó họ thích làm việc thiện.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Tất cả những khuynh hướng như vậy là những gì còn sót lại của những hành động trước kia, hay nói khác đi là quả tương tự với nhân. Đó là điều mà tại sao người ta lại nói:</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><i>Muốn biết những gì bạn làm trước kia, hãy nhìn bạn bây giờ. </i><br />
<i>Muốn biết nơi bạn sắp sinh vào, hãy nhìn những gì bây giờ bạn đang làm.</i>81</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Đối với loài vật thì cũng thế. Bản năng của những loài thú như chim ưng và chó sói là giết hại; bản năng của chuột là ăn trộm – trong mỗi trường hợp là một kết quả tương ứng với nguyên nhân, và được tạo nên bởi hành nghiệp trước đây của chúng.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">2.2.2 Kinh nghiệm tương ứng với nguyên nhân</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Mỗi một hành vi trong mười hành vi bất thiện đều dẫn tới một cặp hậu quả (a pair of effects) cho những kinh nghiệm mà chúng ta phải trải qua sau đó.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Sát sinh. Việc sát sinh ở một kiếp trước không chỉ làm cho thọ mạng của đời hiện tại của chúng ta bị thâu ngắn mà ta sẽ còn thường xuyên bị bệnh tật. Đôi khi có những đứa bé đã chết ngay khi mới sinh ra đời như là quả tương tự với nhân của việc chúng đã từng sát sinh trong một đời quá khứ; trong nhiều kiếp, chúng có thể tiếp tục chết ngay lập tức khi vừa sinh ra đời và cứ lập đi lập lại như vậy. Cũng có những người sống tới tuổi trưởng thành nhưng từ thuở ấu thơ đã bị bệnh tật hành hạ, hết bệnh này tới bệnh kia không ngưng nghỉ cho tới khi chết -- một lần nữa, đó là kết quả của việc giết hại và hành hung những người khác trong một kiếp trước. Đối mặt với những tình huống như vậy, điều quan trọng là phải sám hối với lòng ân hận về những hành động đã làm trong quá khứ, hơn là tìm cách làm dịu đi những khó khăn trước mắt. Chúng ta nên sám hối với lòng hối hận và phát nguyện từ bỏ những hành vi như vậy; và như một cách đối trị với những quả báo của nghiệp cũ, hãy nỗ lực làm những thiện hạnh và từ bỏ những ác hạnh.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Lấy những gì không được cho. Việc trộm cắp trong đời quá khứ không chỉ làm chúng ta nghèo hèn trong đời này mà ta còn có thể phải bị chịu đựng cướp bóc, mất trộm, hoặc những tai họa khác chẳng hạn như là việc kẻ thù và đối thủ của chúng ta chia năm xẻ bảy những món tài sản ít oi mà ta kiếm được. Vì lý do này, bất cứ ai hiện nay đang thiếu thốn tiền bạc hay của cải thì tốt hơn hết là nên tạo ra thậm chí một tia lửa nhỏ công đức cón hơn là bỏ đi lên núi làm giàu. Nếu số phận bạn không giàu có vì bạn ít bố thí trong những đời trước, thì không nỗ lực nào trong đời này có thể giúp bạn được. Hãy xem của cải mà hầu hết những kẻ trộm cướp có được từ mỗi chuyến cướp bóc của họ – thường thì hầu như nhiều hơn những gì bản thân mặt đất có thể giữ được. Tuy nhiên những người sống bằng nghề trộm cướp luôn luôn kết thúc đời mình trong sự đói khát. Cũng hãy chú ý đến những thương nhân hay những kẻ chiếm đoạt tài sản của Tăng Đoàn đã thất thu trong việc kiếm tiền ra sao, cho dù tài sản của họ có lớn tới đâu chăng nữa. Trái lại, những người hiện nay đang được hưởng quả lành của việc bố thí của họ trong quá khứ thì trọn đời họ chẳng bao giờ thiếu thốn của cải, và đối với nhiều người trong số những người này thì mọi việc tốt lành xảy tới mà họ không cần chút xíu nỗ lực nào. Vậy, nếu bạn hy vọng trở nên giàu có, hãy dành hết mọi nỗ lực của bạn để làm việc từ thiện và cúng dường!</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Châu Diêm Phù Đề này (Jambudvipa – cõi người) là nơi có thể tạo được những điều kiện đặc biệt 60 dành cho quả báo trổ sinh từ những hành động của ta trong quá khứ, khiến những gì chúng ta làm trong đời khi trước thì về sau có khả năng trổ quả cũng trong đời này – hay thậm chí ngay lập tức nếu những việc ta làm đã được tạo trong những hoàn cảnh đặc thù nào đó. Vì thế dùng tới cách trộm cướp, lừa gạt hay những phương cách khác để lấy đi những gì không được cho với hy vọng làm giàu thì điều này hoàn toàn ngược lại với những gì chúng ta dự định. Nghiệp báo sẽ giam giữ chúng ta trong thế giới ngạ quỷ trong nhiều đại kiếp. Thậm chí cho đến cuối đời này, quả báo sẽ bắt đầu có ảnh hưởng và sẽ làm chúng ta ngày càng nghèo khổ, ngày càng khó khăn. Chúng ta sẽ bị tước mất sự kiểm soát trên một số ít của cải còn sót lại của mình. Cho dù chúng ta giàu có tới đâu, tính tham lam sẽ làm chúng ta càng ngày càng cảm thấy thiếu thốn và mất mát. Của cải của chúng ta sẽ trở thành nguyên nhân của những ác hạnh. Ta sẽ giống như những ngạ quỷ canh giữ kho tàng nhưng không thể sử dụng những gì chúng sở hữu. Hãy để ý kỹ những người bên ngoài có vẻ giàu có. Nếu họ không biết phát triển lòng quảng đại hay bố thì tài sản của họ một cách rộng rãi cho Giáo Pháp – nguồn gốc của hạnh phúc và an lành trong đời này và trong những đời kế tiếp -- hoặc ngay cả họ không biết rộng rãi trong việc mua thực phẩm và quần áo, thì họ thực sự còn nghèo hơn cả những người nghèo khó. Kinh nghiệm tương tự như kiếp ngạ quỷ của họ ngay bây giờ là quả tương tự với nhân, và điều này xảy ra là do việc bố thí bất tịnh của họ trong quá khứ.82</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Tà dâm. Ta được biết rằng việc thả mình trong các hành động tà dâm sẽ làm chúng ta có một người vợ (hay chồng) chẳng những không duyên dáng mà còn có lối cư xử phóng đãng hay thù địch nữa. Khi những cặp vợ chồng không thể ngưng tranh cãi hoặc đánh nhau, mỗi người thường đổ lỗi cho những tánh xấu của người kia. Trong thực tế, mỗi người trong những cặp vợ chồng đó đang kinh nghiệm hậu quả tương tự với nguyên nhân, là quả báo của sự tà dâm của họ trong quá khứ. Thay vì thù ghét nhau, họ nên nhận ra rằng đó là kết quả của những hành vi bất thiện trong quá khứ của họ và nên nhẫn nhịn lẫn nhau. Ngài Padampa Sangye có nói:</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><i>Gia đình thì thoáng qua như đám đông trong phiên chợ; </i><br />
<i>Dân chúng xứ Tingri, đừng nên cãi vã hay đánh nhau! </i></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Nói dối. Kinh nghiệm tương tự với nguyên nhân gây ra từ sự nói dối trong những đời quá khứ là chúng ta không những thường bị chỉ trích hay xem thường mà còn hay bị người khác nói dối ngược lại. Nếu bây giờ bạn bị kết tội và chỉ trích không đúng, thì đó là kết quả của việc bạn đã từng nói dối trong quá khứ. Thay vì nổi giận và lăng mạ những người đã nói những điều như thế về bạn, hãy biết ơn họ vì họ đã giúp bạn làm cạn kiệt những quả báo của nhiều hành động bất thiện. Bạn nên cảm thấy hạnh phúc. Ngài Rigdzin Jigme Lingpa nói:</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><i>Kẻ thù đáp trả việc tốt của bạn bằng việc xấu giúp bạn tinh tấn trong thực hành. </i><br />
<i>Lời buộc tội sai lầm là một ngọn roi dẫn bạn tới đức hạnh. </i><br />
<i>Kẻ ấy là vị thầy tiêu diệt tất cả bám chấp và tham dục trong bạn. </i><br />
<i>Hãy nhìn vào tấm lòng tử tế to lớn của hắn mà bạn không bao giờ có thể đền đáp!</i></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Gieo mối bất hoà.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Kết quả tương tự với nguyên nhân của việc gieo mối bất hoà trong đời trước là không chỉ những người cộng sự và tôi tớ của ta không thể thuận thảo với nhau mà họ còn hay tranh cãi và chống đối chúng ta. Phần nhiều, các vị thị giả của các lạt ma, những người tuỳ viên của các vị lãnh đạo hay những người phục vụ cho chủ nhà, giữa họ lại không hòa thuận với nhau, và tuy nhiều lần được yêu cầu làm việc gì đó, họ từ chối không nghe lời và còn bướng bỉnh tranh cãi. Những kẻ đầy tớ của người bình thường thì giả vờ như không nghe thấy khi được chủ yêu cầu làm những việc vặt, ngay cả những việc dễ làm. Chủ nhà phải lập lại mệnh lệnh hai, ba lần; và sau cùng chỉ khi ông ta nổi giận và nói nặng với họ thì họ mới chịu làm những gì đã được yêu cầu một cách chậm chạp và miễn cưỡng. Ngay cả khi làm xong việc họ cũng chẳng nghĩ tới chuyện quay trở lại báo cho chủ biết. Họ thường ở trong một tâm trạng không tốt. Nhưng người chủ chỉ đang gặt hái kết quả của sự bất hòa mà chính ông đã gieo trong quá khứ. Do đó, ông ta nên hối tiếc những hành vi bất thiện của chính mình, và giải hòa những mối bất đồng của riêng ông và những người khác.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Nói cay nghiệt. Việc nói cay nghiệt trong những đời quá khứ sẽ không chỉ khiến mọi điều người khác nói với chúng ta là những lời công kích và sỉ nhục, mà hơn nữa, kết quả của việc này là mọi điều ta nói ra cũng đều gây nên những sự tranh cãi.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Lời nói cay nghiệt thì tệ hại nhất trong bốn hành vi bất thiện của khẩu. Như tục ngữ có nói:</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><i>Lời nói không có cung tên cũng không đao kiếm, nhưng xé rách tâm người ta thành từng mảnh. </i></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Việc đột ngột kích động sự hận thù nơi người khác, hay – còn tệ hơn nữa – thậm chí chỉ nói một lời công kích một bậc hiền thánh sẽ khiến ta phải trải qua nhiều đời trong những cõi thấp mà không có bất kỳ cơ hội nào để giải thoát. Có lần một người bà la môn tên là Kapila lăng mạ những tu sĩ của Đức Phật Ca Diếp (Kasyapa), gọi họ là “đầu ngựa,” “đầu bò” và nhiều tên khác giống như vậy. Ông ta bị tái sinh thành con yêu quái giống-như-cá ở biển với mười tám cái đầu. Ông không thoát khỏi trạng thái đó trong suốt một kiếp và thậm chí sau đó còn bị tái sinh trong địa ngục. Một ni cô gọi một vị ni khác là chó cái, bản thân cô bị tái sinh làm chó cái năm trăm đời. Có nhiều câu chuyện tương tự như thế. Vậy hãy học cách luôn nói năng dịu dàng. Ngoài ra, vì bạn không bao giờ biết được ai là một bậc Thánh hay Bồ Tát, hãy tu tập bản thân để thấy tất cả chúng sinh đều thanh tịnh. Hãy học cách tán thán họ và ca tụng những thành tựu và phẩm hạnh tốt lành của họ. Người ta nói rằng chỉ trích hay nói công kích một vị Bồ Tát thì còn tệ hại hơn việc giết hại tất cả chúng sinh trong tam giới:</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><i>Phỉ báng một Bồ Tát là một trọng tội, </i><br />
<i>Nặng hơn cả việc giết hại tất cả chúng sInh trong tam giới; </i><br />
<i>Tất cả những lỗi lầm lớn nhỏ như thế mà con từng tích lũy, con xin phát lồ sám hối. </i></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Nói chuyện tầm phào vô ích. Kết quả tương tự với nguyên nhân của việc nói chuyện tầm phào vô ích không chỉ làm cho những gì ta nói không có giá trị, mà còn làm chúng ta thiếu cương quyết và tự tin. Không ai tin chúng ta ngay cả khi ta nói sự thật, và chúng ta sẽ thiếu tự tin khi nói trước đám đông.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Tham lam. Hậu quả của sự tham lam không chỉ ngăn trở không cho ta đạt được những gì mong muốn nhất, mà còn gây ra tất cả những tình huống mà ta ít ưa thích nhất.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Mong ước làm tổn hại người khác. Như kết quả của ước muốn làm hại người khác, chúng ta sẽ không chỉ sống trong nỗi sợ hãi liên tục mà sẽ còn phải chịu đựng sự tổn hại thường xuyên.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Tà kiến. Hậu quả của việc nuôi dưỡng tà kiến là chúng ta sẽ không chỉ khăng khăng cố chấp trong những tin tưởng có hại như vậy, mà tâm ta cũng sẽ bị những điều dối gạt và những nhận thức sai lầm làm cho rối loạn.</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><b>2.3 QUẢ TRỔ SANH NGHIỆP CẢNH </b></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Quả trổ sinh thành nghiệp cảnh là tác động của quả trên môi trường sống của chúng ta. Việc sát sinh đưa đến sự tái sinh vào những nơi hiểm trở, tăm tối, gồm toàn những khe núi và vách đá đầy sự nguy hiểm rình rập. Việc lấy những gì không được cho đưa đến sự tái sinh vào những miền tả tơi nghèo đói, ở đó sương muối và mưa đá hủy diệt các vụ mùa và cây cối không sinh trái quả. Sự tà dâm buộc chúng ta phải sống ở những nơi kinh tởm đầy phân và những chất thải, những đầm lầy, v.v. Việc nói dối sẽ đem tới cho chúng ta vật chất bấp bênh, thường xuyên hoảng loạn thần kinh và hay gặp những sự việc và hoàn cảnh khủng khiếp. Việc nói gây bất hoà khiến chúng ta phải cư trú ở những vùng khó đi lại, bị cắt xẻ với những hẻm núi sâu, những ngọn đèo lởm chởm đá và những nơi tương tự. Việc nói lời cay nghiệt đưa đến sự tái sinh trong một miền đất ảm đạm, toàn đá và gai góc. Việc nói chuyện tầm phào vô ích sẽ khiến ta tái sinh vào miền đất trơ trụi và cằn cỗi, mặc dù làm việc cật lực cũng không sản xuất được gì; thời tiết không thích hợp và không dự đoán được. Tánh tham lam sẽ gây nên những vụ mùa kém cỏi và tất cả những thứ bệnh tật khác tại những nơi chốn và thời đại khó sống. Việc mong muốn làm tổn hại người khác dẫn tới việc tái sinh vào những nơi đầy rẫy sự ghê sợ khủng khiếp với nhiều nỗi khổ khác nhau. Tà kiến khiến tái sinh vào những hoàn cảnh bần cùng không nơi nương tựa hay người che chở.</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><b>2.4 QUẢ TĂNG TRƯỞNG LIÊN TỤC </b></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Quả tăng trưởng liên tục là chúng ta sẽ có khuynh hướng lập đi lập lại nhiều lần bất kỳ hành động nào ta đã làm trước đó trong đời trước. Điều này đem lại một chuỗi đau khổ vô tận trong suốt tất cả những đời sau của chúng ta. Khi đo,ù những hành vi bất thiện của chúng ta sinh sôi nẩy nở nhiều hơn nữa và khiến chúng ta phải lang thang vô tận trong luân hồi.</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><b>II. NHỮNG THIỆN HẠNH NÊN LÀM</b> (Thập thiện)</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Nói một cách tổng quát thì mười hành động tích cực hay thập thiện bao gồm việc sau khi đã hiểu rõ những hậu quả tai hại của ác hạnh, ta hứa nguyện là sẽ dứt khoát không bao giờ phạm phải bất cứ hành động bất thiện nào, chẳng hạn như sát sinh, lấy những gì không được cho và v. v…</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Thọ một giới nguyện như vậy trước mặt một vị Thầy hay một vị giáo thọ thì không nhất thiết phải buộc là như vậy; mặc dù bản thân bạn quyết định từ nay sẽ tránh tất cả những việc sát sinh, chẳng hạn thế – hoặc tránh sát sinh ở một nơi đặc biệt hoặc vào những thời điểm đặc biệt, hay tránh giết những súc vật nào đó – thì tự chính điều này đã là một hành vi tích cực rồi. Tuy nhiên, nếu bạn hứa nguyện dưới sự chứng giám của một vị Thầy, một bằng hữu tâm linh hay một biểu tượng của Tam Bảo thì sẽ khiến cho việc hứa nguyện đó trở thành đặc biệt mạnh mẽ.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Việc bạn ngẫu nhiên chấm dứt việc sát sinh hay ngừng làm những hành động bất thiện khác thì chưa đủ. Hãy đếm thử xem đã bao nhiêu lần bản thân bạn hứa nguyện là sẽ tránh làm những ác hạnh, dù cho có điều gì xảy ra chăng nữa. Do đó, ngay cả người thường, không thể hoàn toàn kiêng cữ việc sát sinh, vẫn có thể rút ra được lợi ích to lớn từ việc thọ giới không sát sinh trong một thời kỳ nào đó hằng năm, hoặc là trong tháng giêng là Tháng Huyền Nhiệm; hoặc trong tháng tư, được gọi là Vaisakha – tháng Tam Hiệp (đức Phật đản sinh, thành đạo và nhập diệt cùng một ngày); hoặc vào mỗi ngày rằm hay mồng một, hay trong một năm, tháng hay ngày đặc biệt nào đó.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Ngày xưa, một người đồ tể trong làng lập một lời nguyện trước sự chứng giám của Ngài Katyayana tôn quý rằng ông sẽ không sát sinh vào ban đêm. Ông ta bị tái sinh vào một trong những địa ngục Cô Độc, ở đó mỗi ngày ông ta bị hành hạ suốt ngày trong một căn nhà bằng kim loại nóng chảy. Nhưng mỗi đêm ông ta lại được nghỉ ngơi thật hạnh phúc và thoải mái trong một cung điện cùng với bốn thiên nữ.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Như vậy, mười thiện hạnh bao gồm việc từ bỏ mười hành vi bất thiện cùng với việc thực hành thập thiện như là những pháp tốt lành để đối trị lại với thập ác.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Ba hành vi tốt lành của thân là: (1) từ bỏ sát sinh, thay vào đó là bảo vệ mạng sống của chúng sinh; (2) từ bỏ việc lấy những gì không được cho, và thay vào đó là hành hạnh bố thí (rộng lượng); và (3) từ bỏ sự tà dâm, và thay vào đó là tuân theo những giới luật.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Bốn hành vi tốt lành của khẩu là: (1) từ bỏ việc nói dối, thay vào đó là nói sự thật, (2) từ bỏ việc gieo mối bất hoà; thay vào đó là giải hòa các cuộc tranh luận; (3) từ bỏ việc nói những lời cay nghiệt, thay vào đó nói những lời êm tai; và (4) chấm dứt nói chuyện tầm phào vô ích, thay vào đó là trì tụng những lời cầu nguyện.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Ba hành vi tốt lành của ý là: (1) từ bỏ lòng tham, thay vào đó là học cách bố thí; (2) từ bỏ việc mong muốn làm hại người khác, thay vào đó là nuôi dưỡng ước muốn giúp đỡ họ; và (3) đoạn diệt những tà kiến, thay vào đó củng cố cho mình quan điểm chân chính và xác thực.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Quả chín muồi trổ sinh của những hành vi này là bạn sẽ được tái sinh vào một trong ba cảnh giới cao.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Quả tương tự với nhân, hay với hành vi tạo tác, là bạn sẽ vui thích trong khi làm những thiện hạnh trong tất cả những đời sau, và nhờ đó, công đức của bạn càng ngày càng tăng trưởng.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Quả tương tự với nhân, trên phương diện kinh nghiệm phải trải qua, được mô tả như sau đối với mỗi một hành vi thiện lành trong mười thiện hạnh: đối với việc từ bỏ sát sinh, bạn sẽø có một cuộc đời trường thọ ít bệnh tật; đối với việc từ bỏ trộm cướp, bạn sẽ không bị những kẻ thù hay bị ai cướp đoạt mất tự do, thịnh vượng; đối với việc từ bỏ tà dâm, sẽ có một người được phối ngẫu duyên dáng và ít gặp phải các tình địch; đối với việc từ bỏ nói dối là được mọi người tán thán và thương yêu; đối với việc từ bỏ gieo mối bất hoà là được bạn bè và những người hầu hạ tôn kính; đối với việc từ bỏ những lời nói cay nghiệt, bạn sẽ chỉ nghe những lời êm ái dễ chịu; đối với việc từ bỏ việc nói chuyện tầm phào vô ích, bạn sẽ được người khác lắng nghe một cách nghiêm trang; đối với việc từ bỏ lòng tham muốn, bạn ta sẽ được thỏa mãn những ước nguyện; đối với việc từ bỏ những tư tưởng ác hại, bạn sẽ không gặp phải những hoạ hại; và đối với việc từ bỏ các tà kiến thì chánh kiến trong tâm bạn sẽ tăng trưởng.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Quả dẫn đến nghiệp cảnh là, trong mỗi trường hợp bạn làm việc thiện lành, nơi chốn bạn sinh vào sẽ trái ngược lại với nơi chốn của những quả bất thiện: nghĩa là bạn sẽ được sinh vào những nơi có tất cả những hoàn cảnh hoàn hảo nhất.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Quả tăng trưởng liên tục là bất kỳ những thiện hạnh nào bạn làm cũng sẽ được nhân lên gấp bội, đem tới cho bạn sự may mắn không bao giờ dứt…</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><b>III. TÍNH CHẤT HOÀN TOÀN QUYẾT ĐỊNH CỦA CÁC HÀNH VI TẠO NGHIỆP </b></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Trong sự muôn màu muôn vẻ không thể nghĩ bàn, những niềm vui và nỗi khổ mà mỗi chúng sinh phải kinh qua – từ những cõi giới cao nhất xuống tới địa ngục sâu thẳm nhất – tất cả những quả vui và khổ ấy cũng chỉ phát sinh từ những hành vi thiện và bất thiện mà mỗi cá nhân đã tích lũy trong quá khứ. Điều này đã được nói đến trong Kinh Bách Nghiệp:</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><i>Mọi hoan hỷ và phiền não của chúng sinh </i><br />
<i>Đều đến từ những hành nghiệp của họ, </i><br />
<i>Đức Phật đã dạy như thế. </i><br />
<i>Hành nghiệp đa dạng như thế nào </i><br />
<i>Tạo nên chúng sinh đa dạng như thế ấy, </i><br />
<i>Và thúc đẩy những cuộc lang thang đa dạng của họ. </i><br />
<i>Quả thực mạng lưới của hành nghiệp bao la xiết bao! </i></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Bất kỳ sức mạnh, quyền lực, của cải, hay tài sản nào mà giờ đây có thể chúng ta đang tận hưởng, chẳng có thứ gì trong những thứ ấy đi theo chúng ta khi ta chết. Chúng ta chỉ có thể mang theo những hành vi thiện và ác mà chúng ta đã tạo ra trong đời mình, là những thứ sẽ đẩy chúng ta tới những cảnh giới luân hồi cao hay thấp. Trong Thắng Quân Vương Sở Vấn Kinh, chúng ta đọc được những câu sau đây:</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><i>Khi tới lúc phải ra đi, Ôi Bệ Hạ,</i><br />
<i>Chẳng có bạn bè, của cải, hay gia đình đi theo được. </i><br />
<i>Nhưng cho dù chúng sinh từ đâu đến, và dù họ đi về đâu,</i><br />
<i>Hành nghiệp của họ sẽ theo họ như hình với bóng.</i></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Kết quả của những hành vi thiện và bất thiện của chúng ta có thể không biểu hiện ra ngay lập tức và không dễ dàng nhận thấy được, nhưng chúng cũng không hoàn toàn biến mất. Chúng ta sẽ kinh nghiệm quả báo của từng hành vi một khi hội đủ những nhân duyên thích hợp.</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><i>Ngay cả sau một trăm kiếp </i><br />
<i>Hành nghiệp của chúng sinh sẽ không bao giờ mất đi. </i><br />
<i>Khi hội đủ các nhân duyên </i><br />
<i>Quả hoàn toàn chín muồi sẽ trổ. </i></h4>
<h4 style="text-align: justify;">như trong Kinh Bách Nghiẹâp đã nói. Và trong bản văn Kho Báu Thiện Đức, chúng ta đọc thấy như sau:</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><i>Khi chim đại bàng cất cánh bay cao vút, </i><br />
<i>Thời gian trôi qua, chẳng thể nào thấy bóng nó đâu; </i><br />
<i>Nhưng chim và bóng vẫn còn nối kết. </i><br />
<i>Hành nghiệp của ta cũng thế: </i><br />
<i>Khi hội đủ nhân duyên, quả sẽ hiển hiện. </i></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Khi một con chim cất cánh và bay cao lên bầu trời, cái bóng của nó dường như biến mất. Nhưng điều này không có nghĩa là cái bóng không còn hiện hữu. Sau cùng, bất cứ nơi nào con chim đáp xuống thì ở đó lại có bóng của nó, hoàn toàn sẫm màu và rõ ràng như trước. Tương tự như vậy, cho dù trong chốc lát không thể thấy được những hành vi thiện hay ác của ta trong quá khứ nhưng những hành nghiệp ấy chắc chắn đến một lúc nào đó sẽ quay trở lại với ta vào lúc kết thúc.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Thật vậy, làm sao những điều này lại không xảy đến đối với những người bình thường như chúng ta, khi ngay cả chư Phật và các bậc A La Hán, là những bậc đã thoát khỏi mọi chướng ngại của hành nghiệp và cảm xúc, vẫn còn phải chịu nhận những hậu quả của các hành vi trong quá khứ.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Một ngày nọ, quân đội của Virudhaka, quốc vương xứ Sravasti, tấn công thành phố của bộ tộc Sakya (Thích Ca)* và tàn sát 80.000 người. Vào lúc đó, Đức Phật bị nhức đầu. Khi các đệ tử của Ngài hỏi tại sao có chuyện như thế thì Ngài trả lời:</h4>
<h4 style="text-align: justify;">“Nhiều kiếp trước, những người Sakya đó là ngư phủ sống bằng nghề đánh bắt và ăn nhiều cá. Một hôm họ bắt</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><i>* Bộ tộc của Đức Phật, ngày nay sống ở biên giới Ấn Độ và Nepal. </i></h4>
<h4 style="text-align: justify;">được hai con cá lớn, và thay vì giết ngay thì họ lại cột chúng vào một cái cọc. Khi hai con cá bị mắc cạn quằn quại vì đau đớn, chúngï nghĩ: “Những người này đang giết chúng ta, mặc dù ta chẳng làm điều gì hại họ. Để báo thù, cầu mong có ngày chúng ta giết được họ, dù họ không làm gì hại ta.” Kết quả ý nghĩ của hai con cá lớn là chúng tái sinh làm vua Virudhaka và tể tướng Matropakara, trong khi tất cả những con cá khác bị ngư phủ giết trở thành quân đội của họ. Ngày nay họ đã tàn sát những người của bộ tộc Sakya.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">“Vào lúc đó, ta là con của một trong những ngư phủ đó và ta đã cười vui khi thấy hai con cá bị cột đang quằn quại đau đớn. Hậu quả của hành vi đó là ngày nay ta bị nhức đầu. Nếu ta không thành tựu được những phẩm hạnh ta hiện có, thì ta cũng đã bị quân đội của vua Virudhaka giết.”</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Trong một dịp khác, chân của Đức Phật bị thương vì mảnh cây keo 84 – là hậu quả của việc Ngài đã giết hại một chiến sĩ mang giáo đen trong một đời trước khi Ngài là một Bồ Tát.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Trong tất cả các đệ tử Thanh Văn của Đức Phật thì Ngài Mục Kiền Liên (Maudgalyayana) là bậc có oai lực thần thông đệ nhất. Tuy nhiên, Ngài vẫn bị Parivrajikas giết hại, bởi nghiệp lực chiêu cảm của những hành vi trong quá khứ của Ngài. Chuyện xảy ra như sau:</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Ngài Xá Lợi Phất (Sariputra) siêu phàm và Ngài Đại Mục Kiền Liên thường du hành đến những thế giới khác như các cõi địa ngục hay ngạ quỷ để làm lợi ích cho chúng sinh ở đó. Một ngày kia, trong lúc ở địa ngục, các Ngài đi ngang một vị thầy ngoại đạo tên là Purnakasyapa bị tái sinh ở đó và phải chịu vô số nỗi đau khổ khác nhau.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Ông ta nói với các Ngài: “Các bậc Tôn Quý, khi các Ngài trở về cõi người, làm ơn nói với những đệ tử trước đây của tôi là đạo sư Purnakasyap của họ đã bị đọa địa ngục. Hãy nói với họ dùm tôi là con đường của các Parivrajika không phải là con đường đạo đức. Con đường đạo đức nằm trong giáo lý của Đức Phật Thích Ca. Con đường của chúng tôi thì sai lầm; họ nên từ bỏ nó, hãy học hỏi để đi theo Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Và đặc biệt, xin nói với họ là bất cứ khi nào họ hành lễ cúng dường trước lăng mộ mà họ xây để chứa xương cốt của tôi thì một cơn mưa kim loại nóng chảy lại đổ xuống người tôi. Tôi van các Ngài, xin nói với họ đừng cử hành các lễ cuộc cúng dường như vậy nữa.”</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Hai Ngài trở về cõi người. Xá Lợi Phất tới trước tiên và đưa cho những người ngoại đạo thông điệp của vị thầy của họ nhưng vì thiếu những nhân duyên thuộc nghiệp tất yếu nên họ không nghe Ngài. Khi Mục Kiền Liên tới, Ngài hỏi Xá Lợi Phất đã trao cho những người ngoại đạo thông điệp của Purnakasyapa chưa.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">“Rồi,” Xá Lợi Phất trả lời, “nhưng họ không nói một lời nào.”</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Mục Kiền Liên nói: “Vì họ không hiểu được những gì ông nói, tự tôi sẽ nói với họ.” Và Ngài ra đi để thuật lại với họ những điều Purnakasyapa đã nói.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Nhưng những kẻ ngoại đạo nổi giận: “Không chấp nhận được kẻ sỉ nhục chúng ta, hắn đang chỉ trích Đạo Sư (Guru) của chúng ta!” họ nói. “Hãy đánh hắn!” Họ tấn công Ngài, đánh Ngài mềm người và bỏ Ngài nằm đó.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Cho đến lúc đó, ngay cả một tập hợp tấn công của cả tam giới cũng không thể làm tổn hại tới một sợi tóc trên đầu Ngài Mục Kiền Liên, huống chi là sự đánh đập của những người ngoại đạo. Nhưng vào lúc đó, vì hành nghiệp của quá khứ đè trĩu lên Ngài để cho quả được trổ nên Ngài đành bó tay như bất kỳ một người phàm phu nào khác.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Ngài nói: “Ngay cả việc chỉ suy nghĩ xem làm sao để sử dụng thần thông mà tôi còn không làm được, thì nói chi tới chuyện làm được điều đó,” Ngài Xá Lợi Phất bọc Ngài trong chiếc y và vác Ngài đi.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Khi họ đi tới Rừng Kỳ Thọ (Rừng Jeta ï), Ngài Xá Lợi Phất la lên, “Tôi không thể chịu nổi ngay cả việc nghe tả lại về cái chết của bạn tôi! Làm sao tôi có thể nhìn chuyện đó xảy ra?” và Ngài nhập niết bàn cùng với nhiều vị A La Hán khác. Lập tức sau đó, Ngài Mục Kiền Liên cũng siêu vượt nỗi đau khổ.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Có lần, có một vị tăng sống ở Kashmir tên là Ravati, là người có nhiều đệ tử. Ông ta là một nhà thấu thị và có thần thông. Một ngày nọ, ông đang nhuộm màu vàng nghệ chiếc y tu sĩ của mình trong một khu rừng rậm. Cùng lúc đó, một người thế tục sống gần đó đang tìm con bò đi lạc. Anh ta thấy khói bốc lên từ cánh rừng già bèn đi tới xem chuyện gì xảy ra.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Thấy vị tăng đang đun lửa, anh ta hỏi: “Ông đang làm gì vậy?”</h4>
<h4 style="text-align: justify;">“Tôi đang nhuộm y,” vị tu sĩ trả lời.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Người đàn ông nhấc nắp vạc nhuộm lên và nhìn vào trong.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">“Đó là thịt!” anh ta la lên, và quả thực khi vị tăng nhìn vào trong vạc thì cũng thấy là thịt.<br />
Người đàn ông bèn dẫn vị tu sĩ giao cho nhà vua, và nói: “Thưa Ngài, vị sư này ăn trộm con bê của tôi. Hãy trừng phạt ông ta.” Nhà vua đem Ravati quăng vào hầm.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Tuy nhiên vài ngày sau, con bò mẹ của người đàn ông tự tìm thấy ra con bê con đi lạc của nó. Anh ta trở lại gặp nhà vua và nói: “Thưa Ngài, nhà sư này hoàn toàn không ăn trộm bò của tôi; làm ơn thả ông ta ra.”</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Nhưng nhà vua đãng trí quên thả Ravati. Suốt trong sáu tháng nhà vua không nhớ gì về việc đó.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Sau đó, một ngày nọ, một nhóm nhiều đệ tử của vị tu sĩ mà bản thân họ đã đạt được thần thông, họ bay trên không gian và hạ xuống trước mặt nhà vua.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">“Ravati là nhà sư thanh tịnh và vô tội ,” họ nói với nhà vua. “Xin thả Ngài ra.”</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Nhà vua đi thả vị sư, và khi thấy tình trạng suy yếu của Ravati, lòng nhà vua tràn đầy sự hối hận.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">“Tôi định đến sớm hơn, nhưng đã để lâu quá,” nhà vua kêu lên, “Tôi đã phạm một tội khủng khiếp.”</h4>
<h4 style="text-align: justify;">“Ngài chẳng làm gì ác cả,” vị sư nói. “Đây hoàn toàn là kết quả những hành nghiệp của riêng tôi.”</h4>
<h4 style="text-align: justify;">“Đó là hành động nào?”, nhà vua hỏi.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">“Trong một đời quá khứ, tôi là kẻ trộm, và có lần tôi ăn trộm một con bê. Khi người chủ đuổi theo, tôi bỏ chạy, để lại con bê kế bên một vị Độc Giác Phật đang ngẫu nhiên thiền định trong một bụi cây. Người chủ bắt vị Độc giác Phật ném vào hố trong sáu ngày. Khi hậu quả hành vi của tôi đã hoàn toàn chín muồi, tôi phải trải qua nhiều đời đau khổ trong những cõi thấp. Những đau khổ mà giờ đây tôi vừa chịu đựng trong đời này là đau khổ cuối cùng trong số đó.”</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Một ví dụ khác là câu chuyện người con trai của Surabhibhadra,85 một vị Vua Ấn Độ. Một ngày nọ, hoàng tử được mẫu hậu đưa cho một áo lụa không có đường nối. Hoàng tử không muốn mặc ngay và nói: “Con sẽ mặc vào ngày thừa kế vương quốc.”</h4>
<h4 style="text-align: justify;">“Con sẽ không bao giờ được thừa kế vương quốc,” mẫu hậu nói. “Điều đó chỉ có thể xảy ra khi nào phụ vương con chết. Nhưng phụ vương của con và Thầy Long Thọ (Nagarjuna) có cùng một loại sinh lực,86 như vậy không có khả năng phụ vương chết trong khi Ngài Long Thọ Bồ Tát vẫn còn sống. Và vì Ngài Long Thọ Bồ Tát có năng lực kéo dài thọ mạng của Ngài nên phụ vương của con sẽ không bao giờ chết. Đó là điều tại sao những người anh của con đã chết mà không thừa kế được vương quốc.”</h4>
<h4 style="text-align: justify;">“Vậy con có thể làm được gì?” hoàng tử hỏi.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">“Hãy đến gặp Thầy Long Thọ hỏi xin cái đầu của Ngài. Ngài sẽ đồng ý vì Ngài là một Bồ Tát. Ta thấy không còn giải pháp nào khác.”</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Hoàng tử tới gặp Long Thọ Bồ Tát và hỏi xin cái đầu của Ngài. “Hãy cắt lấy nó và đem đi,” Đạo sư nói. Hoàng tử dùng kiếm chém vào cổ Ngài Long Thọ Bồ Tát. Nhưng không có chuyện gì xảy ra. Như thể lưỡi kiếm của hoàng tử chặt vào không khí.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">“Vũ khí không thể làm tổn thương ta,” Đạo sư giải thích, “vì năm trăm đời trước ta đã hoàn toàn tự tịnh hóa tất cả những quả hoàn toàn chín muồi của việc sử dụng vũ khí. Tuy nhiên, có một ngày ta đã giết một côn trùng khi cắt cỏ kusa. Hậu quả chín muồi của hành động đó chưa cắt được đầu ta, vậy nếu ngươi dùng cỏ kusa làm kiếm thì ngươi có thể cắt được đầu ta.”</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Vì vậy, hoàng tử nhổ một lá cỏ kusa và cắt đầu Ngài Long Thọ. Đầu liền rơi xuống đất. Ngài Long Thọ nhập Niết Bàn và hát:</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><i>Bây giờ ta rời bỏ thế gian để đến cõi Cực Lạc; </i><br />
<i>Sau này, ta sẽ quay lại ngay chính trong thân này.</i>87</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Nếu ngay cả những con người phi thường như vậy vẫn còn phải kinh nghiệm quả báo của những hành vi trong quá khứ của các Ngài thì làm thế nào chúng ta - là những kẻ mà những hành động bất thiện, hoàn toàn không thể tính đếm, đã được tích luỹ từ vô thủy trong những cuộc lang thang của chúng ta qua các cõi của luân hồi – lại có thể hy vọng giải thoát khỏi luân hồi trong khi chúng ta vẫn còn tích lũy ác hạnh? Ngay cả việc thoát ra khỏi những cõi thấp cũng cực kỳ khó khăn. Vậy, bằng mọi giá, chúng ta hãy tránh làm những hành động xấu ác nhỏ bé nhất dù chỉ trong phút giây, và chuyên chú làm bất kỳ điều gì tốt lành mà chúng ta có thể làm, cho dù những điều tốt lành ấy có vẻ tầm thường vô nghĩa. Chừng nào chúng ta còn chưa nỗ lực tinh tấn, thì mỗi một khoảnh khắc của ác hạnh sẽ tiếp tục dẫn dắt chúng ta đọa xuống nhữõng cõi thấp trong nhiều kiếp. Đừng bao giờ xem thường những hành động xấu ác dù nhỏ nhặt nhất, và cho rằng chúng không thể gây tổn hại lớn lao. Như Bồ Tát Tịch Thiên (Santideva) có nói:</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><i>Ác hạnh, dù chỉ trong khoảng khắc </i><br />
<i>Cũng đủû dẫn tới một kiếp trong địa ngục A-Tì, </i><br />
<i>Bao ác hạnh tôi đã từng tạo từ vô thủy – </i><br />
<i>Chẳng cần nói cũng biết, chúng ngăn cản không cho tôi đến được các cõi cao! </i></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Và trong Kinh Hiền Ngu, chúng ta thấy có nói:</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><i>Đừng xem thường ác hạnh dù nhỏ bé, </i><br />
<i>Và tin rằng chúng không tác hại: </i><br />
<i>Ngay cả một tia lửa nhỏ xíu, </i><br />
<i>Cũng có thể thiêu rụi một núi cỏ. </i></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Tương tự như thế, ngay cả những thiện hạnh nhỏ bé nhất cũng đem lại lợi ích to lớn. Chớ có xem thường, đừng cho rằng những thiện hạnh nhỏ bé là việc không đáng làm.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Trong một đời quá khư,ù vua Mandhatri là một người nghèo khó. Một ngày nọ, trên đường đi dự một đám cưới với một nắm đậu trong tay, ông gặp Đức Phật Ksantisarana đang du hành qua làng. Được thúc đẩy bởi lòng sùng kính mãnh liệt, ông tung nắm đậu vào Ngài. Bốn hạt đậu rơi vào bình bát và hai hạt khác chạm vào ngực Ngài. Việc trổ quả của hành động này khiến ông tái sinh làm đại đế cai trị châu Diêm Phù Đề. Vì bốn hạt đậu rơi vào bình bát của Phật nên ông được cai trị bốn trung châu trong tám vạn năm. Bởi một trong hai hạt đậu chạm vào tim Phật, ông trở thành Hoàng Đế cai quản cảnh giới của Tứ Thiên Vương trong tám vạn năm khác; và do hạt đậu thứ hai, ông được liên tiếp chia đồng đều chủ quyền với ba mươi bảy vị Trời Đế Thích trên cung Trời thứ Ba Mươi Ba.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Người ta có nói ngay cả quán tưởng Đức Phật và tung một đoá hoa vào hư không cũng dẫn tới việc bạn được chia vương quyền của Vua Trời Đế Thích trong một thời gian dài khó tưởng tượng nổi. Đây là điều tại sao Kinh Hiền Ngu nói:</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><i>Không làm những thiện hạnh nhỏ bé, </i><br />
<i>Vì tin rằng chẳng lợi lạc gì: </i><br />
<i>Tuần tự từng giọt nước một </i><br />
<i>Khi đến lúc, </i><br />
<i>Có thể làm đầy một hồ lớn. </i></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Và Kho Báu Thiện Đức có nói:</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><i>Từ những hạt giống không lớn hơn hạt mù tạt, </i><br />
<i>Mọc thành những cây ashota bát ngát </i><br />
<i>Chỉ trong một năm </i><br />
<i>Có thể vươn cành rộng hàng lý. </i><br />
<i>Sự tăng trưởng của thiện và ác </i><br />
<i>Thậm chí còn nhanh hơn thế. </i></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Hạt của cây ashota không lớn hơn hạt cây mù tạt, nhưng cây ashota thì phát triển nhanh tới nỗi cành lá của chúng lớn hàng lý chỉ trong một năm. Tuy nhiên ngay cả hình ảnh này cũng chưa đủ mô tảû sự lớn mạnh khủng khiếp của những hành vi thiện và ác.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Cũng thế, dù phạm phải giới luật nhỏ bé nhất cũng gây nên những điều xấu ác to lớn. Một ngày kia Long Vương Elapatra đội lốt một vị Chuyển Luân Thánh Vương và đến gặp Đức Phật.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Đức Phật khiển trách: “Sự tổn hại mà người tạo ra cho giáo lý của Đức Phật Ca Diếp (Kasyapa) đối với ngươi còn chưa đủ hay sao mà bây giờ lại còn muốn làm tổn hại giáo lý của ta? Hãy hiện nguyên hình mà lắng nghe Giáo Pháp!”</h4>
<h4 style="text-align: justify;">“Nếu làm như vậy, nhiều người sẽ hại con,” Long Vương trả lời; vì thế Đức Phật bèn đặt Long Vương dưới vòng gia hộ của đức Kim Cương Thủ (Vajrapani), Long Vương bèn biến thành một con rắn khổng lồ dài vài lý (một lý khoảng 4,8km). Trên đầu rắn mọc một cây elapatra lớn, đè bẹp con rắn với sức nặng của nó, rễ cây nhung nhúc côn trùng chúng làm cho con rắn đau đớn khủng khiếp.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Đức Phật hỏi tại sao Long Vương lại như thế này, Long Vương trả lời rằng, “Xưa kia, vào thời đại giáo lý của Đức Phật Ca Diếp (Kasyapa), khi ấy con là một tu sĩ. Một hôm áo của con bị vướng vào một cây elapatra lớn mọc bên đường và bị kéo tuột ra. Con giận dữ điên cuồng và liền phạm giới luật,88 con đã đốn ngã thân cây. Những gì Ngài thấy hôm nay là hậu quả của hành vi đó.”</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Đối với tất cả những hành vi thiện hay ác, động cơ thúc đẩy (tác ý) là yếu tố quan trọng nhất để quyết định những hành vi ấy mang tính chất thiện hay bất thiện, nặng hay nhẹ. Điều này cũng giống như một cái cây: nếu rễ của nó có dược tính, thì thân và lá của nó cũng sẽ có dược tính. Nếu rễ độc hại thì thân và lá cũng độc. Lá thuốc không thể phát triển từ một rễ độc. Tương tự, nếu một động cơ (hay tác ý) phát triển từ sự kích động hay bám chấp, và do đó không hoàn toàn thanh tịnh, thì hành vi theo sau bắt buộc phải tiêu cực, mặc dù mang vẻ tích cực. Trái lại, nếu động cơ thanh tịnh, thì cho dù hành vi có vẻ tiêu cực nhưng trong thực tế lại là tích cực. Trong Kho Báu Thiện Đức có nói:</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><i>Nếu rễ là thuốc thì đọt mầm cũng thế. </i><br />
<i>Nếu rễ độc thì khỏi cần nói, đọt mầm cũng độc. </i><br />
<i>Điều làm cho một hành vi thành thiện hay ác không phải </i><br />
<i>ở chỗ bề ngoài ra sao </i><br />
<i>Hoặc kích thước thế nào, mà dựa trên động cơ phiá sau là tốt hay xấu. </i></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Vì lý do này, thậm chí đã có thời chư vị Đại Bồ Tát, những bậc Trưởng Tử của các Đấng Chiến Thắng, được phép vi phạm bảy hành vi bất thiện của thân và khẩu với điều kiện là tâm của các Ngài thanh tịnh và thoát khỏi mọi tham muốn ích kỷ. Điều này được minh họa bằng những ví dụ của Thuyền Trưởng Đại Bi Tâm giết Chiến sĩ Giáo Đen, hay của thanh niên bà la môn Tình Nhân Thiên Tú đã phạm giới hạnh với một thiếu nữ bà la môn.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Có lần, trong một đời trước, Đức Phật là một thuyền trưởng tên là Đại Bi Tâm. Ngài đang vượt biển với năm trăm thương nhân thì tên cướp biển ác độc tên là Chiến Sĩ Giáo Đen xuất hiện, đe dọa giết tất cả mọi người. Thuyền trưởng nhận thấy những lái buôn này đều là những vị Bồ Tát* không còn phải trở lại luân hồi, và nếu một người nào đó giết họ thì người ấy sẽ phải chịu đau khổ trong địa ngục trong vô số kiếp. Được thúc đẩy bởi một cảm xúc bi mẫn mãnh liệt, Ngài nghĩ: “Nếu ta giết hắn, hắn sẽ không phải xuống địa ngục. Do đó ta chẳng còn chọn lựa nào khác, dù rằng điều đó có nghĩa là chính ta phải đọa địa ngục.” Với lòng can đảm phi thường, Ngài đã giết tên cướp biển, và khi làm hành động này Ngài đã tích tập được một lượng công đức tương đương với công đức tích tập trong bảy mươi ngàn kiếp theo cách bình thường. Nhìn bề ngoài của việc làm đó thì đây là một ác hạnh, bởi Bồ Tát đang phạm vào hành vi sát sinh. Nhưng điều ấy đã được thực hiện mà không có chút động cơ ích kỷ nào. Nhìn gần, việc ấy cứu mạng sống của 500 người lái buôn. Và trong phạm vi xa rộng hơn thì việc ấy cứu Chiến Sĩ Giáo Đen khỏi phải chịu đau</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><i>* Các Bồ Tát là những bậc đã đạt tới một quả vị mà ở đó các Ngài không còn bị bắt buộc phải quay trở lại vòng luân hồi nữa. </i></h4>
<h4 style="text-align: justify;">khổ trong địa ngục. Vì vậy, trên thực tế thì hành động đó chính là một thiện hạnh vô cùng mạnh mẽ.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Lại có một người bà la môn tên là Tình Nhân Thiên Tú sống lâu năm trong rừng, giữ giới nguyện trong sạch. Một ngày nọ, anh ta đi khất thực trong một ngôi làng. Một thiếu nữ bà la môn thất tình với anh, tuyệt vọng tới nỗi sắp tự tử. Được thúc đẩy bởi lòng bi mẫn đối với cô ta, chàng thanh niên đã cưới cô, và hành động này đã đem lại cho anh bốn mươi ngàn kiếp công đức.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Đối với những người như vậy thì việc giết hại hay phá vỡ giới nguyện trong sạch được cho phép. Trái lại, những hành vi tương tự nhưng lại làm với động cơ ích kỷ do bởi sự tham dục, sân hận hay vô minh thì đều không được phép đối với bất kỳ ai.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Một Bồ Tát với tâm rộng lớn bao la, không một dấu vết tham dục cá nhân, cũng có thể lấy trộm của những người giàu mà keo kiệt, và nhân danh họ, cúng dường của cải cho Tam Bảo hay cho những người nghèo túng.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Việc nói dối để che chở người nào đó sắp bị giết, hay để bảo vệ tài sản thuộc về Tam Bảo thì cũng được cho phép làm. Nhưng lừa dối người khác vì lợi lạc của mình thì không bao giờ là điều đúng đắn…</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Việc gieo sự bất hoà, chẳng hạn như giữa hai người bạn thân – trong đó có một người chuyên làm điều xấu trong khi người kia yêu thích làm việc tốt lành – thì điều này cũng được cho phép, đó là nếu có nguy cơ tính khí mạnh mẽ của người xấu sẽ làm hư hỏng người tốt. Tuy nhiên, tuyệt đối không được phép chia rẽ hai người đang hoà thuận với nhau.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Lời nói cay nghiệt có thể được dùng, ví dụ thế, như một phương tiện mạnh mẽ hơn để đem Giáo Pháp tới với những người mà cách răn dạy mềm mỏng không tạo được ấn tượng cho họ – hoặc có thể dùng khi cần răn dạy một đệ tử nhằm phô bày lỗi lầm tiềm ẩn của anh ta. Như Ngài Atisa có nói:</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><i>Vị Thầy tốt nhất là người tấn công vào những lỗi lầm tiềm ẩn của bạn; </i><br />
<i>Giáo huấn tuyệt hảo nhất là lời chỉ dạy nhắm thẳng tới những lỗi lầm tiềm ẩn ấy. </i></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Tuy nhiên, nói lời cay nghiệt chỉ để sỉ nhục người khác thì không được cho phép.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Nói chuyện phiếm vô ích có thể được sử dụng như một phương tiện để giới thiệu Giáo Pháp cho những người thích trò chuyện và những người mà ta không có cách nào khác đem Giáo Pháp lại cho họ. Nhưng hoàn toàn không được dùng chuyện phiếm để làm cho chính mình và những người khác bị xao lãng.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Đối với ba hành vi bất thiện của ý thì không ai được phép vi phạm, bởi đứng về mặt của động lực (tác ý) thì không có cách nào để chuyển hoá những động cơ này thành động cơ tốt lành. Một khi tư tưởng xấu ác đã khởi lên, thì việc ấy sẽ luôn luôn phát triển thành một điều gì đó không tốt lành.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Tâm thức là người duy nhất khởi xướng điều tốt và điều xấu. Có nhiều trường hợp khi những tư tưởng khởi lên trong tâm, cho dù chúng không được chuyển hoá thành lời nói hay hành động thì vẫn có một hậu quả tốt hay xấu hết sức mạnh mẽ trổ ra. Vì thế, hãy luôn luôn kiểm soát tâm bạn. Nếu tư tưởng của bạn tốt lành, hãy hoan hỷ và làm nhiều điều tốt lành hơn nữa. Nếu chúng tiêu cực, hãy sám hối lập tức, cảm thấy xấu xa và tủi hổ rằng bạn vẫn còn nuôi dưỡng những tư tưởng như vậy mặc dù đã tiếp nhận mọi giáo lý, và hãy tự nhủ từ giờ trở đi bạn phải nỗ lực hết sức không để cho những tư tưởng như thế xuất hiện trong tâm. Ngay cả khi bạn làm điều thiện, hãy quán sát động lực (tác ý) của bạn thật kỹ lưỡng. Nếu ý hướng của bạn tốt, hãy thực hiện điều bạn suy nghĩ. Nếu động cơ của bạn là để gây ấn tượng cho mọi người, hoặc được đặt trên nền tảng của sự ganh đua hay khao khát danh vọng thì hãy cương quyết chuyển hóa tác ý để cho tác ý ấy được thấm đẫm Bồ Đề Tâm. Nếu bạn hoàn toàn không chuyển hoá được động cơ thúc đẩy bạn, thì tốt hơn hết là bạn nên trì hỗn không nên thực hiện việc thiện lành đó.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Một ngày nọ, Geshe đang mong đợi một nhóm đông thí chủ của Ngài tới thăm. Sáng hôm đó, Ngài sắp xếp đồ cúng dường trên bàn thờ trước hình tượng của Tam Bảo hết sức ngăn nắp. Khi quán sát động cơ thúc đẩy mình, Ngài nhận ra là chúng không thanh tịnh, và điều Ngài đang làm chỉ là để tạo sự chú ý cho các vị tín chủ hảo tâm của Ngài; vì thế Ngài hốt một nắm đất và ném lên toàn bộ các thức cúng dường, Ngài nói: “Này ông Tỳ Khưu, hãy ở yên ở đó và đừng có màu mè!”</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Khi Padampa Sangye nghe được chuyện này, Ngài nói: “Trong cả xứ Tây Tạng, nắm bụi mà Ben Kungyal ném là món cúng dường tuyệt hảo nhất!”</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Vì thế, hãy luôn cẩn trọng canh chừng tâm của bạn. Ở trình độ của chúng ta, là những người tầm thường, ta không thể không có những tư tưởng và hành động bị thôi thúc bởi những động cơ xấu ác. Nhưng nếu chúng ta có thể lập tức nhận ra điều sai lầm, rồi sám hối và nguyện không tái phạm nữa thì chúng ta sẽ cắt đứt mối ràng buộc với động cơ xấu ác.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Một ngày khác, Geshe Ben đang ở nhà của một vài tín chủ. Lúc gia chủ ra khỏi phòng, Geshe Ben nghĩ: “Ta không còn trà. Ta sẽ lấy trộm một ít để nấu khi trở về thiền thất.”</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Nhưng lúc đặt tay vào túi trà của họ, đột nhiên Ngài nhận ra điều mình đang làm và lên tiếng gọi các tín chủ lại: “Hãy lại đây nhìn xem tôi đang làm gì! Chặt tay tôi đi!”</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Ngài Atisa nói: “Từ khi thọ giới nguyện Biệt Giải Thoát (Pratimoksa), ta chưa từng bị ô nhiễm ngay cả bởi một lỗi lầm nhỏ nhất. Trong khi thực hành giới luật Bồ Đề Tâm, ta đã vi phạm một hay hai lỗi nhỏ bé. Và từ khi thọ giới của Kim</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Cương Mật Thừa, mặc dù thỉnh thoảng còn vấp ngã, nhưng ta không để những lỗi lầm hay những sa sút này lưu lại trong ta quá một ngày.”</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Khi đi du hành, ngay khi khởi lên bất kỳ niệm xấu nào trong tâm, Ngài lấy đế mạn đà la bằng gỗ89 luôn mang theo trong người ra và sám hối tư tưởng xấu của mình, nguyện rằng không bao giờ tái phạm.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Một ngày nọ, Geshe Ben đang tham dự một hội chúng đông đảo gồm các vị tiến sĩ Phật Học tại Penyulgyal. Một lát sau món sữa đông được mang ra mời khách. Geshe Ben ngồi ở một hàng giữa và nhận thấy những vị tăng ngồi ở hàng đầu nhận được khẩu phần lớn.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">“Món sữa đông trông thật ngon lành,” Ngài tự nghĩ, “nhưng ta không nghĩ mình sẽ được phần tốt như thế.”</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Ngay lập tức Ngài tự nhận ra: “Mi ghiền sữa đông chua rồi!” Ngài nghĩ thế, và lật úp bình bát của mình. Khi người có nhiệm vụ phân phối sữa tới hỏi Ngài có muốn dùng không thì Ngài từ chối.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">“Tâm thức xấu xa này đã có một phần ăn rồi.” Ngài nói.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Mặc dù hoàn toàn không có gì sai trái khi muốn được nhận phần bằng nhau của bữa tiệc cùng những vị tu sĩ thanh tịnh khác, nhưng chính tánh tự cho mình là quan trọng trong tư tưởng mong cầu được nhận món sữa chua ngon lành đã khiến Ngài từ chối nó.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Nếu bạn luôn quán sát tâm bạn như vậy, tuân theo những gì lành mạnh và từ bỏ những gì độc hại, tâm bạn sẽ nhu nhuyễn và mọi tư tưởng của bạn sẽ trở nên tốt lành.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Ngày xưa, có một người bà la môn tên là Ravi, là người luôn kiểm soát tâm mình. Bất cứ khi nào một niệm xấu khởi lên, ông để một viên sỏi đen sang một bên và khi khởi lên một niệm tốt, ông đặt một viên sỏi trắng. Thoạt tiên, tất cả đều là những hòn sỏi đen. Sau đó, khi ông kiên trì trong việc phát triển các pháp đối trị và làm những thiện hạnh, từ bỏ những ác hạnh, một thời gian sau, số lượng sỏi trắng và đen bằng nhau. Cuối cùng thì ông có toàn sỏi trắng. Đây là cách thức bạn nên phát triển hành động tốt lành như một phương pháp đối trị, cùng với sự tỉnh thức và cảnh giác, và chớ làm ô nhiễm bản thân ngay cả bằng những hành động bất thiện nhỏ bé nhất.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Cho dù bạn không tích tụ những hành vi bất thiện trong đời này, bạn cũng không thể thấu biết được sự rộng lớn của tất cả những hành động mà bạn từng tích lũy trong vòng luân hồi vô thủy, hoặc không thể hình dung ra được hậu quả của những ác hạnh mà bạn phải trả quả. Vì thế có những người mặc dù giờ đây hoàn toàn hiến mình cho đức hạnh và tu tập tánh Không, nhưng họ vẫn tràn đầy đau khổ. Có những quả không trổ sanh lập tức mà ngủ ngầm, chờ ngày đưa đến việc trổ sanh trong những cõi thấp. Nhưng những quả thuộc loại hậu nghiệp này lại xuất hiện nhờ vào những pháp tu đối trị mà họ áp dụng trong cuộc đời để giúp cho những quả ấy trổ ngay trong đời này. Kinh Kim Cương có nói:</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><i>Các vị Bồ Tát hành trì trí tuệ bát nhã siêu việt vẫn bị đau khổ – quả thực, họ sẽ bị đau khổ khủng khiếp – bởi những hành nghiệp trong quá khứ, thay vì sẽ gây đau khổ trong những đời sau, thì đã trổ quả ngay trong đời này. </i></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Ngược lại, có những người chỉ làm ác hạnh mà vẫn kinh nghiệm được ngay lập tức kết quả của một vài thiện hạnh; những thiện hạnh này, lẽ ra phải chờ thêm một thời gian lâu sau mới trổ. Điều này đã xảy ra trong xứ Aparantaka. Một trận mưa toàn đá quý đã đổ xuống trong bảy ngày liền, sau đó bảy ngày mưa quần áo, và bảy ngày nữa mưa ngũ cốc. Cuối cùng là một trận mưa đất. Mọi người đều bị đè chết và bị tái sinh trong địa ngục.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Những tình huống như thế, khi người làm tốt phải chịu đau khổ, người làm ác lại hưởng sự thành công thịnh vượng, là những tình huống luôn luôn xảy ra như là nghiệp báo của những hành vi đã làm trong quá khứ. Hành động hiện nay của bạn, dù xấu hay tốt, sẽ đem đếùn quả trổ sanh trong đời kế tiếp hay những đời sau nữa. Vì lý do này, thật là điều hết sức cần thiết để phát triển một lòng tin vững chắc vào nghiệp báo là cái gì không thể nào tránh khỏi của những hành động mà bạn đã tạo tác và luôn luôn hành sử một cách phù hợp.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Không nên sử dụng loại ngôn ngữ Phật Học của những kiến giải của chân lý tối hậu (tánh Không) để xem thường luật nhân quả. Đạo Sư Vĩ Đại xứ Oddiyana đã nói:</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><i>Hỡi Đại Vương, trong Mật Thừa của tôi, kiến (cái Thấy) là điều quan trọng nhất. Tuy nhiên, đừng để hành động của Ngài sa sẩy theo chiều hướng của cái thấy. Nếu làm như vậy, Ngài sẽ rơi vào tà kiến của ma quỷ, sẽ bày trò phiếm luận rằng thiện thì không mà ác cũng không. Nhưng cũng đừng để cái thấy của Ngài sa sẩy theo chiều hướng của những hành động tạo tác, nếu không, Ngài sẽ bị mắc kẹt vào duy vật và hệ tư tưởng giáo điều,* và như vậy, thì giải thoát sẽ không bao giờ tới. ... Đó là điều tại sao cái thấy của tôi cao hơn bầu trời, mà sự chú tâm của tôi dành cho mọi hành động tạo tác và cho kết quả của những hành động tạo tác ấy thì còn tinh nhuyễn hơn cả bột mì. ** </i></h4>
<h4 style="text-align: justify;"><i>* dngos po dang mtshan ma, nghĩa đen: vật chất và các đặc tánh của vật chất.</i><br />
<i>Điều này có nghĩa là ta sẽ không bao giờ vượt được khỏi những khái niệm tạo </i><br />
<i>tác. </i><br />
<i>** zhib có nghĩa là mịn (như bột mì) và cũng có nghĩa là vô cùng tỉ mỉ, chính </i><br />
<i>xác. </i></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Vậy, cho dù trong cái thấy, bạn có hoàn toàn chứng ngộ được bản tánh của thực tại như thế nào chăng nữa thì bạn cũng phải hết sức chú tâm tới những hành vi của bạn và kết quả của những hành vi ấy.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Có lần, có một người hỏi Ngài Padampa Sangye rằng: “Một khi chúng ta đã chứng ngộ tánh Không, việc phạm những ác hạnh có còn tác hại chúng ta hay không?”</h4>
<h4 style="text-align: justify;">“Một khi các ông chứng ngộ tánh Không,” Ngài Padampa Sangye trả lời, “thì thật là vô lý khi làm việc bất thiện. Khi các ông chứng ngộ tánh Không thì lòng đại bi xuất hiện hết sức tự nhiên cùng lúc với tánh Không.”</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Do đó, nếu bạn muốn hành trì Giáo Pháp một cách đích thực, bạn nên dành ưu tiên lựa chọn làm những việc gì phù hợp với luật nhân quả. Cái thấy (kiến) và hành động phải được nuôi dưỡng song hành với nhau. Dấu hiệu cho thấy bạn đã thấu suốt giáo lý về nghiệp quả phải giống như Ngài Jetsun Milarepa đã thấy.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Một ngày nọ, một đệ tử hỏi Ngài: “Thưa Ngài Jetsun, mọi hành vi chúng con thấy Ngài làm đều vượt lên sự hiểu biết của những người bình thường. Ngài Jetsun tôn quý, phải chăng ngay từ lúc khởi đầu, Ngài đã là một hoá thân của Đức Kim Cương Trì (Vajradhara), hay của một vị Phật hoặc Bồ Tát?”</h4>
<h4 style="text-align: justify;">“Nếu các con coi ta là một hoá thân của Đức Kim Cương Trì, hay của một vị Phật hoặc Bồ Tát,” Ngài Jetsun trả lời, “thì điều này cho thấy các con có lòng tin nơi Ta – nhưng tuy vậy, các con khó có thể nào có được một cái thấy nào sai lầm to tát hơn là như thế về Giáo Pháp! Khởi đầy, ta đã chất chồng những hành động cực kỳ ác hại, sử dụng chú thuật và tạo ra mưa đá. Ta cũng sớm nhận ra rằng mình không có cách nào thoát khỏi cảnh đọa sinh vào địa ngục. Vì thế, ta đã thực hành Giáo Pháp với lòng nhiệt thành không ngơi nghỉ. Nương vào những phương pháp sâu xa của Mật Thừa, ta đã phát triển được những phẩm tính đặc biệt trong chính ta. Giờ đây, nếu các con không thể phát triển bất kỳ quyết tâm chân thực nào để thực hành Giáo Pháp, thì đó là vì các con không tin vào luật nhân quả. Bất cứ ai với chút ít quyết tâm, có thể phát triển lòng dũng cảm như ta đã làm nếu họ có được sự xác tín chân thật và chân thành tin tưởng vào nghiệp báo của những hành vi của họ. Khi đo,ù họ sẽ đắc được những quả vị thành tựu tương tự như ta – và rồi, người khác cũng sẽ nghĩ rằng những kẻ ấy là hiện thân của Đức Kim Cương Trì, hay của một vị Phật hoặc Bồ Tát nào khác.”</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Chính niềm tin vào nhân quả của Jetsun Milarepa đã hoàn toàn thuyết phục Ngài rằng khi đã phạm phải những ác hạnh trong thời niên thiếu thì chắc chắn Ngài sẽ bị đoạ sinh trong cõi địa ngục. Do lòng xác tín này, Ngài đã miên mật tu tập với một sự quyết tâm khó tìm thấy được trong bất kỳ câu chuyện nào ở Ấn Độ hay Tây Tạng – không có câu chuyện nào có thể so sánh được với câu chuyện kể về những thử thách và nỗ lực miên mật của Ngài.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Như vậy, tận đáy lòng bạn, hãy khơi dậy lòng xác tín nơi điểm cực kỳ trọng yếu này, là nguyên lý nhân quả. Hãy luôn luôn thực hiện càng nhiều càng tốt các thiện hạnh bất cứ khi nào bạn có thể thực hiện được, cho dù chúng nhỏ bé tới đâu chăng nữa; trong khi thực hiện các thiện hạnh này thì phải áp dụng ba phương tiện thiện xảo tối thượng.* Hãy tự hứa là sẽ không bao giờ lập lại những hành vi xấu ác tiêu cực cho dù nhỏ bé nhất và cho dù mạng sống của bạn bị đe dọa đi chăng nữa.<br />
<i>* Xem Phần Một, Chương Một, Mục II, tiết 4. </i><br />
Khi thức giấc vào buổi sáng, đừng bất thần nhảy xuống giường như con bò hay cừu phóng ra khỏi chuồng của nó. Trong lúc vẫn còn ở trên giường, hãy thư dãn tâm thức bạn, xoay nhìn vào trong tâm và quán sát tâm ấy thật kỹ càng. Nếu bạn đã làm bất kỳ điều bất thiện nào vào ban đêm trong giấc mộng thì hãy ân hận và sám hối. Trái lại, nếu bạn làm điều gì đó tốt lành thì hãy hoan hỷ và hồi hướng công đức để đem đến lợi lạc của tất cả chúng sinh. Hãy khơi dậy Bồ Đề Tâm, và nghĩ rằng: “Hôm nay tôi sẽ làm bất cứ hành động tốt lành, tích cực nào mà tôi có thể làm được, sẽø hết sức tránh bất kỳ hành động tiêu cực hay xấu ác nào, khiến cho tất cả chúng sinh vô biên đều đạt được Phật Quả viên mãn.”</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Buổi tối, lúc đi ngủ, đừng vội rơi vào trạng thái vô giác. Hãy sử dụng chút ít thời gian để thư dãn trên giường và quán sát chính mình trong cách thức tương tự như trên: “Ta đã vận dụng ngày hôm nay như thế nào? Ta đã có làm điều gì tốt lành không?” Nếu bạn đã thực hiện một số điều thiện lành thì hãy hoan hỷ và hồi hướng công đức để tất cả chúng sinh để họ đều đạt được Phật quả. Nếu bạn làm điều gì sai, bạn nên nghĩ: “Thật là tồi bại! Ta đã vừa tự hủy hoại chính mình!” Hãy sám hối việc làm đó và nguyện không bao giờ tái phạm.</h4>
<h4 style="text-align: justify;">Trong mọi lúc, hãy tỉnh thức và cảnh giác để không bám chấp vào những nhận thức về vũ trụ và về tất cả những chúng sinh sống ở trong đó như là thực có và đặc chắc. Hãy tu tập bản thân để nhìn mọi sự như trò nô đùa của những màn huyễn hoá. Hãy làm cho tâm bạn nhu nhuyễn bằng cách luôn gìn giữ tâm ấy trên một tiến trình tốt lành và chân thật. Đây chính là mục tiêu cũng như kết quả của những gì mà ta đãõ giảng giải, đó là việc thực hành bốn pháp chuyển tâm để không còn đắm nhiễm luân hồi. Theo các pháp này thì tất cả những thiện hạnh bạn làm sẽ tự động kết nối với ba phương tiện thiện xảo tối thượng. Như có câu nói rằng:</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><i>Người làm việc thiện cũng giống như cây dược thảo; </i><br />
<i>Ai nương cậy vào anh ta cũng đều được lợi lạc. </i><br />
<i>Người làm điều ác thì giống như cây tẩm độc; </i><br />
<i>Ai nương cậy vào hắn cũng đều bị hủy hoại. </i></h4>
<h4 style="text-align: justify;">Nếu bản thân bạn có tâm thái đúng đắn, bạn sẽ có thể chuyển tâm của tất cả những ai liên hệ với bạn91 hướng về Giáo Pháp chân thật. Vô lượng công đức cho chính bạn và người khác sẽ gia tăng không bờ bến. Bạn sẽ không bao giờ còn tái sinh vào những cõi thấp, là nơi mà viễn ảnh của bạn ngày càng tệ mạt hơn, và bạn sẽ luôn luôn có những nhân duyên đặc biệt để có được một cuộc đời sinh ra trên cõi Trời hay trong cõi người. Ngay cả những miền đất nào là nơi trú ngụ của những vị trì giữ một giáo lý như thế thì vùng đất ấy cũng sẽ có được phước báu, có được sự may mắn và sẽ luôn luôn được chư Thiên bảo vệ.</h4>
<h4 style="text-align: justify;"><i>Con biết hết tất cả về nghiệp, nhưng con không thực sự tin tưởng. </i><br />
<i>Con đã nghe nhiều Giáo Pháp, nhưng chưa từng đưa Giáo Pháp vào thực hành. Xin từ bi gia hộ cho con và những kẻ tạo ác nghiệp giống con, </i><br />
<i>Khiến tâm chúng con có thể chan hoà với Pháp. </i></h4>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/nghiep-luat-nhan-qua/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
