<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Tin Tức</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/tin-tuc-tin-tuc/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Sun, 07 Jun 2026 20:27:58 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Tháng đại cát tường Saka Dawa Duchen [31/5/2022 &#8211; 29/6/2022] hội đủ ba sự kiện Đức Phật đản sinh, thành đạo và nhập niết bàn</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/thang-dai-cat-tuong-saka-dawa-duchen-3152022-2962022-hoi-du-ba-su-kien-duc-phat-dan-sinh-thanh-dao-va-nhap-niet-ban/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/thang-dai-cat-tuong-saka-dawa-duchen-3152022-2962022-hoi-du-ba-su-kien-duc-phat-dan-sinh-thanh-dao-va-nhap-niet-ban/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 02 Jun 2022 13:18:56 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin tức]]></category>
		<category><![CDATA[Tin Tức]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11210</guid>
		<description><![CDATA[Chúng con xin thành kính Đảnh lễ Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Chúng con xin thành kính đảnh lễ suối nguồn Bi mẫn bao la không bờ mé của Đức Phật Sakyamuni. Ngài đã trải qua vô&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/tin-tuc/thang-dai-cat-tuong-saka-dawa-duchen-3152022-2962022-hoi-du-ba-su-kien-duc-phat-dan-sinh-thanh-dao-va-nhap-niet-ban/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Chúng con xin thành kính Đảnh lễ Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.</p>
<p>Chúng con xin thành kính đảnh lễ suối nguồn Bi mẫn bao la không bờ mé của Đức Phật Sakyamuni. Ngài đã trải qua vô lượng kiếp để tìm kiếm con đường giải thoát và kiếp cuối cùng vì lợi lạc của hữu tình chúng sinh, Ngài đã Đản sanh tại Lumbini và trải qua 6 năm khổ hạnh – 49 ngày dưới cội cây Bồ Đề đạt thành tựu Phật Quả Viên Mãn tại Bodhgaya và để nhắc nhở chúng sinh về sự Vô thường Ngài đã thị hiện nhập Niết Bàn tại Kusinara.</p>
<p>Ngày 06/6/2022 (tức ngày 07/4 Tạng lịch) ngày Đức Phật Đản Sinh và ngày 14 tháng 6 Dương lịch (tức ngày 15 tháng 4 theo lịch Tây tạng) là một ngày Đại Cát Tường và linh thiêng nhất trong một năm, hội tụ 2 sự kiện: Đức Phật Thành Đạo – Đức Phật Nhập Niết Bàn. Công Đức của tháng Đại Cát Tường Saka Dawa Duchen sẽ tăng trưởng gấp nhiều lần và ngày 06/6 &amp; 14/6 sẽ tăng trưởng 10.000.000 lần (10 triệu lần). Nếu tạo bất thiện nghiệp cũng nhân lên tương tự. Xin hãy cùng nhau thực hành thiện hạnh như trì chú, thiền định, cúng dường, phóng sinh, tán thán…</p>
<p>Trong tháng Đại Cát Tường Saka Dawa Duchen, chúng con xin thành kính cầu nguyện các Bậc Đạo Sư trường thọ và Hạnh nguyện lợi sinh của Chư vị đều sớm viên thành, Nguyện cho cơn mưa Chánh Pháp tối thượng thấm đẫm và làm an dịu mọi khổ đau của chúng sanh. Cầu mong giáo lý Tam Thừa và các Đề án Phật giáo sẽ NHANH CHÓNG thành tựu và lan tỏa khắp ba cõi đến khi vòng luân hồi cạn kiệt.</p>
<p><strong>Viet Rigpa Foundation</strong></p>
<div class="ddict_div" style="top: 652px; max-width: 160px; left: 5px;"><img class="ddict_audio" src="chrome-extension://bpggmmljdiliancllaapiggllnkbjocb/img/audio.png" alt="" /></p>
<p class="ddict_sentence">Viet Rigpa Foundation</p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/thang-dai-cat-tuong-saka-dawa-duchen-3152022-2962022-hoi-du-ba-su-kien-duc-phat-dan-sinh-thanh-dao-va-nhap-niet-ban/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Phụ nữ trong Phật giáo &#8211; Khôi phục Lễ Thọ giới Tỳ Kheo Ni</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/tin-tuc-tin-tuc/phu-nu-trong-phat-giao-khoi-phuc-le-tho-gioi-ty-kheo-ni/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/tin-tuc-tin-tuc/phu-nu-trong-phat-giao-khoi-phuc-le-tho-gioi-ty-kheo-ni/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 05 May 2022 08:21:54 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Tài liệu tham khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Tin Tức]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11117</guid>
		<description><![CDATA[Vào thời xưa, sự khác biệt về giới tính có lẽ không quá quan trọng. Tuy nhiên, khi nền văn minh phát triển, sức mạnh và quyền lực ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn, để giúp các xã hội chống lại kẻ thù của họ. Do đó, nam giới chiếm ưu thế, vì có thể chất mạnh mẽ&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/tin-tuc-tin-tuc/phu-nu-trong-phat-giao-khoi-phuc-le-tho-gioi-ty-kheo-ni/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Vào thời xưa, sự khác biệt về giới tính có lẽ không quá quan trọng. Tuy nhiên, khi nền văn minh phát triển, sức mạnh và quyền lực ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn, để giúp các xã hội chống lại kẻ thù của họ. Do đó, nam giới chiếm ưu thế, vì có thể chất mạnh mẽ hơn. Trong thời gian sau, thì giáo dục và trí thông minh đóng một vai trò quan trọng hơn, và về mặt này, nam và nữ không có sự khác biệt. Tuy nhiên, ngày nay, tình cảm và tính nồng hậu đóng vai trò quan trọng nhất, đối với việc giải quyết sự xung đột và những vấn đề khác. Hai phẩm chất này là điều cần thiết, để kiểm soát việc sử dụng giáo dục và trí thông minh, và ngăn chận việc chúng sẽ hướng về mục tiêu phá hoại. Vì vậy hiện nay, phụ nữ phải đóng vai trò chủ yếu hơn, có lẽ vì yếu tố sinh học, nên họ có khả năng phát triển tình cảm và tính nồng hậu một cách tự nhiên hơn nam giới. Điều này bắt nguồn từ việc cưu mang đứa bé trong bụng, và thường là người chăm sóc trẻ sơ sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo truyền thống thì chiến tranh chủ yếu là do nam giới đảm nhiệm, vì họ có thể chất tốt hơn, đối với những hành vi hung hăng. Mặt khác, phụ nữ có xu hướng quan tâm và nhạy cảm hơn với sự khó chịu và đau đớn của người khác. Dù nam và nữ có tiềm năng hung hăng và nồng hậu như nhau, nhưng lại khác nhau ở điểm yếu tố nào sẽ dễ biểu lộ ra hơn, trong con người của họ. Do đó, nếu phần lớn các nhà lãnh đạo thế giới là phụ nữ, thì có lẽ sẽ có ít nguy cơ chiến tranh hơn, và hợp tác nhiều hơn, về mối quan tâm đối với toàn cầu - dù tất nhiên là một số phụ nữ có thể khó khăn! Tôi thông cảm với những người ủng hộ nữ quyền, nhưng họ không được chỉ la hét, mà phải nỗ lực để có những đóng góp tích cực cho xã hội.</p>
<p style="text-align: justify;">Đôi khi, tôn giáo có sự nhấn mạnh về việc trọng nam khinh nữ. Tuy nhiên, trong đạo Phật thì những giới nguyện cao nhất, cụ thể là giới Tỳ kheo và Tỳ kheo ni đều bình đẳng, và có quyền lợi như nhau. Sự thể là như vậy, dù trên thực tế thì trong một vài lãnh vực nghi lễ, vì phong tục xã hội, nên chư Tỳ kheo sẽ đi trước. Nhưng Đức Phật đã ban quyền lợi cơ bản cho cả hai nhóm trong tăng đoàn một cách bình đẳng. Việc thảo luận về vấn đề có nên phục hồi lễ thọ giới Tỳ kheo ni hay không thì không có ích gì, mà câu hỏi chỉ đơn thuần là làm thế nào để thực hiện điều đó một cách đúng đắn, trong bối cảnh Luật tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài Tịch Hộ (Shantarakshita) đã đưa lễ thọ giới Tỳ kheo ni Nhất Thiết Hữu Căn Bổn (Mulasarvastivada) vào Tây Tạng. Tuy nhiên, tất cả người Ấn Độ trong nhóm của ông đều là nam nhân, và vì việc thọ giới Tỳ kheo ni đòi hỏi phải có cả hai tăng đoàn Tăng và Ni, nên ngài không thể đưa dòng Tỳ kheo ni đến Tây Tạng. Trong thời gian sau đó, một số Lạt ma Tây Tạng đã phong cho mẹ của họ làm Tỳ kheo ni, nhưng theo quan điểm của Luật tạng, thì điều này không được xem là lễ xuất gia đích thực. Kể từ năm 1959, tôi đã cảm thấy hầu hết các ni viện cần phải nâng cao tiêu chuẩn giáo dục, như tiêu chuẩn của các tu viện. Tôi đã ban hành điều đó, và ngày nay, chúng ta đã có những học giả trong số chư Ni. Nhưng đối với việc tái lập việc thọ giới Tỳ kheo ni, thì tôi không thể làm chuyện này một mình. Câu hỏi này phải được quyết định theo Luật tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Hiện nay, chúng ta có cơ hội để thảo luận về câu hỏi này với các truyền thống Phật giáo khác, chẳng hạn như truyền thống Trung Quốc, Hàn Quốc và Việt Nam, là những truyền thống vẫn còn truyền giới Tỳ kheo ni. Đã có khoảng hai mươi phụ nữ Tây Tạng thọ giới Tỳ kheo ni theo truyền thống Pháp Tạng Bộ (Dharmaguptaka). Hiện nay thì không ai bác bỏ việc họ là Tỳ kheo ni.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong ba mươi năm qua, chúng tôi đã nghiên cứu các bản Luật tạng của Nhất Thiết Hữu Căn Bổn và Pháp Tạng Bộ. Vì Luật tạng được tìm thấy trong cả hai truyền thống dựa vào tiếng Phạn, cũng như trong truyền thống Pali, nên điều hữu ích là các vị trưởng lão trong Tăng đoàn của cả ba truyền thống Luật tạng nên thảo luận vấn đề, và chia sẻ kinh nghiệm với nhau. Lễ truyền giới Tỳ kheo ni đã được tái lập ở Sri Lanka, và người ta cũng quan tâm đến việc thực hiện điều này ở Thái Lan. Việc nghiên cứu thêm sẽ hữu ích, để một ngày nào đó, chúng ta có thể vượt qua điều mà ngài Tịch Hộ đã thất bại. Tuy nhiên, là một cá nhân, tôi không có quyền quyết định vấn đề này. Việc này sẽ không phù hợp với quy cách trong Luật tạng. Tôi chỉ có quyền khởi xướng việc nghiên cứu thôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Tất cả chúng ta đều chấp nhận và thừa nhận những người Tây Tạng và Tây phương đã thọ giới Tỳ kheo ni của Pháp Tạng Bộ là chư Tỳ kheo ni Pháp Tạng Bộ. Đó không phải là vấn đề. Vấn đề là phải tìm ra cách để ban giới Tỳ kheo ni phù hợp với các bản Luật tạng Nhất Thiết Hữu Căn Bổn. Cần phải có một vị Phật sống có mặt ở đây ngay bây giờ, để chúng ta tham vấn. Nếu tôi là Phật, thì tôi có thể quyết định, nhưng sự thể không phải như vậy. Tôi không phải là Phật. Tôi có thể hành xử như một nhà độc tài về một số vấn đề, nhưng không liên quan đến vấn đề trong Luật tạng. Tôi có thể ban hành việc chư Tỳ kheo ni Tây Tạng xuất gia theo truyền thống Pháp Tạng Bộ sẽ tề tựu theo nhóm, để thực hiện ba nghi lễ tăng đoàn, đó là: lễ Bố tát (sojong) [tịnh hóa việc phạm giới hai lần mỗi tháng (gso-sbyong, Phạn ngữ: poshadha, Pali: uposatha); an cư kiết hạ (dbyar-sbyor, Phạn ngữ: varshopanayika, Pali: vassopanayika); và lễ Tự tứ (dgag-dbye, Phạn ngữ: pravarana, Pali: pavarana)]. Nhưng đối với việc thiết lập lại lễ thọ giới, thì lại là chuyện khác. Mặc dù tôi có thể mong muốn điều này xảy ra, nhưng các cao tăng phải nhất trí về điều đó. Một số người trong số các vị này đã phản đối một cách mạnh mẽ. Vì không có sự nhất trí, nên đó là vấn đề. Tuy nhiên, tôi có thể cho dịch những bản văn thích hợp với phiên bản Pháp Tạng Bộ về ba nghi lễ tăng đoàn này từ tiếng Hoa sang tiếng Tây Tạng ngay lập tức, và không ai có thể phản đối điều đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Còn về những khía cạnh khác, thì chúng ta phải thảo luận thêm. Sự hỗ trợ từ tăng đoàn của các truyền thống Phật giáo khác rất quan trọng, nên buổi họp này là một giai đoạn hữu ích trong quá trình này. Bước tiếp theo, tôi sẽ mời nhóm Tăng đoàn trưởng lão quốc tế này đến Ấn Độ. Hãy để các ngài thảo luận vấn đề này với các trưởng lão Tây Tạng có tâm địa hẹp hòi, những người phản đối việc tái thiết lập lễ thọ giới Tỳ kheo ni Nhất Thiết Hữu Căn Bổn.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày hôm nay, nếu như Đức Phật có mặt ở đây, thì chắc chắn Ngài sẽ cho phép. Nhưng tôi không thể hành xử như Đức Phật. Tuy chế độ tu viện đã có mặt ở Tây Tạng từ thế kỷ thứ tám, nhưng chưa bao giờ có các tỳ kheo ni thực hiện ba nghi lễ tăng đoàn trong tăng đoàn của chúng ta, nên bây giờ thì điều này sẽ xảy ra. Nhưng còn quá sớm để quyết định về lễ thọ giới.</p>
<p style="text-align: justify;">Có thể khó khởi đầu ba nghi lễ tăng đoàn này cho Tỳ kheo ni trong năm nay, nhưng sang năm, chúng ta có thể bắt đầu. Tỳ Kheo Ni Ba La Đề Mộc Xoa (Bhikshuni Pratimoksha) đã được dịch từ tiếng Hoa sang tiếng Tây Tạng. Bản này dài khoảng ba mươi đến bốn mươi trang. Các Tỳ kheo ni Pháp Tạng Bộ Tây Tạng sẽ phải học thuộc lòng. Nhưng sách cho ba nghi lễ tăng đoàn thì vẫn phải được dịch.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy chư Ni Tây Tạng có thể mong muốn được thọ giới như Tỳ kheo ni Nhất Thiết Hữu Căn Bổn, nhưng việc thọ giới Tỳ kheo ni Pháp Tạng Bộ không thể được chấp nhận như giới Tỳ kheo ni của Nhất Thiết Hữu Căn Bổn. Nếu cả hai có thể hoán chuyển với nhau, thì không có lý do gì để ngài A-đề-sa (Atisha) đã được yêu cầu đừng truyền giới Tỳ kheo Đại Chúng Bộ (Mahasanghika) ở Tây Tạng. [Khi đại sư Ấn Độ A-đề-sa được Vua Jangchub Wo (Tạng ngữ: Byang-chub 'od) mời đến Tây Tạng vào đầu thế kỷ 11 sau Công Nguyên, thì ông nội của nhà vua, tức Vua Yeshe Wo, đã bảo trợ cho việc tái thiết lập lễ thọ giới Tỳ kheo ni Nhất Thiết Hữu Căn Bổn trong vương quốc của mình, khi ngài thỉnh mời và sau đó thì đạo sư Hộ Pháp (Dharmapala) từ miền Đông Ấn đã viếng thăm Tây Tạng. A-đề-sa được yêu cầu đừng truyền giới Tỳ kheo Đại Chúng Bộ, vì điều đó sẽ đưa hai dòng truyền thừa của Luật tạng đến Tây Tạng.]
<p style="text-align: justify;">Hơn nữa, nếu như lễ xuất gia Pháp Tạng Bộ là lễ xuất gia Nhất Thiết Hữu Căn Bổn, thì lễ xuất gia Phật giáo Nguyên thủy (Theravada) cũng là lễ xuất gia Nhất Thiết Hữu Căn Bổn, và đó là điều vô lý. Chúng ta phải thiết lập lại lễ thọ giới Tỳ kheo ni Nhất Thiết Hữu Căn Bổn, hoàn toàn theo Luật tạng của Nhất Thiết Hữu Căn Bổn.</p>
<p style="text-align: justify;">Vậy thì mùa đông này, hãy tổ chức một hội nghị tương tự như hội nghị này, nhưng ở Ấn Độ, tại Bồ Đề Đạo Tràng, Sarnath, hay Delhi. Ngoài các trưởng lão Tăng đoàn quốc tế đã tham dự hội nghị Hamburg này, chúng ta sẽ mời tất cả các nhà lãnh đạo Tăng đoàn Tây Tạng, và tất cả các vị Trụ Trì của các tu viện lớn của cả bốn truyền thống Tây Tạng, thậm chí có thể bao gồm cả các hành giả đạo Bon. Đạo Bon vẫn có Tỳ kheo ni. Chúng ta sẽ mời các học giả Tỳ kheo cao cấp, được tôn trọng nhất. Vậy thì số người tổng cộng khoảng một trăm vị. Sau đó, tôi sẽ yêu cầu các trưởng lão Tăng đoàn quốc tế trực tiếp trình bày trước mặt các vị này những lý lẽ hợp lý của họ, để ủng hộ việc tái lập lễ truyền giới Tỳ kheo ni. Điều này sẽ rất hữu ích. Người Tây Tạng chúng tôi sẽ tài trợ cho một hội nghị như vậy, và quyết định ai sẽ là người tốt nhất để tổ chức hội nghị này.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong hai mươi sáu thế kỷ qua, nhiều sự khác biệt đã phát triển giữa các phiên bản A Tỳ Đạt Ma (Abhidharma) trong tiếng Pali và tiếng Phạn. Ngài Long Thọ (Nagarjuna) đã làm sáng tỏ những điểm nào đó, còn những sự khác biệt hiển nhiên khác giữa hai truyền thống thì có thể được làm sáng tỏ, bằng cách khảo sát. Dựa trên tinh thần này, chúng ta có thể tự do xem xét lời Phật dạy, chẳng hạn như liên quan đến núi Tu Di (Mount Meru), trái đất bằng phẳng, mặt trời và mặt trăng có kích thước gần giống nhau, và có cùng khoảng cách với trái đất. Đây là những điều hoàn toàn không thể chấp nhận được. Ngay cả vị Giáo Thọ của tôi ở Lhasa đã sử dụng kính viễn vọng của tôi, và cũng nhìn thấy bóng của những ngọn núi trên mặt trăng, và phải đồng ý rằng mặt trăng không tự phát ra ánh sáng, như A Tỳ Đạt Ma đã nói. Vì vậy, đối với sự minh giải của ngài Long Thọ, thì Tăng đoàn không cần phải thảo luận. Điều này cũng đúng về vấn đề Kinh điển, nhưng lại hoàn toàn khác biệt, khi nói đến Luật tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Tất cả các bản dịch Luật tạng đều bắt đầu bằng lời kính lễ đấng Toàn Giác. Điều này có nghĩa là chính Đức Phật đã ấn chứng những kinh sách này, vì chỉ có một vị Phật toàn giác mới biết những hành vi nào phải được thực hành, và những hành vi nào phải được từ bỏ. Mặt khác, trong các sách A Tỳ Đạt Ma thì lời kính lễ được dâng lên cho Đức Văn Thù Sư Lợi. Ngoài ra, sau khi Đức Phật nhập niết bàn, thì một đại hội Tăng đoàn đã được tổ chức, và đã tạo ra một vài sự thay đổi trong Luật tạng. Đức Phật đã cho phép Tăng đoàn thực hiện điều này, và nó có thể được mở rộng đến những điểm khác. Ví dụ như người Tây Tạng chúng tôi tu tập Bồ tát thừa và Mật thừa, mỗi thừa đều có giới nguyện riêng của nó. Một số điểm và một số giới trong các thừa này sẽ mâu thuẫn với nhau, và trong Luật tạng. Đối với vấn đề như vậy, thì những giới cao hơn phải được ưu tiên hơn những giới thấp hơn.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong thế kỷ 21, khái niệm về chiến tranh đã lỗi thời. Thay vì vậy, chúng ta phải đối thoại với nhau, để giải quyết sự tranh chấp, và đối với việc này mà chỉ có trí thông minh thôi thì chưa đủ. Chúng ta còn phải có lòng nồng hậu và quan tâm đến phúc lợi của người khác một cách nghiêm túc. Đối với sự đối thoại chân thành, thì lòng bi quan trọng hơn. Vì yếu tố sinh học, nên phụ nữ nhạy cảm với nỗi khổ của người khác hơn nam giới. Ví dụ như không có nhiều phụ nữ làm nghề giết mổ hay bán thịt. Vì vậy, đối với những cuộc đàm phán quốc tế, thì phụ nữ rất cần thiết, và nên đóng vai trò lớn hơn.</p>
<p style="text-align: justify;">Tứ chúng của Đức Phật gồm có chư Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc (cận sự nam) và Ưu bà di (cận sự nữ). Rõ ràng là phụ nữ và nam giới có vai trò bình đẳng. Tuy nhiên hiện nay, tứ chúng chưa hoàn thiện trong cộng đồng Tây Tạng. Trong số tám tự do và mười thuận lợi của kiếp người quý giá, thì một trong những điều này là sinh ra nơi trung thổ, được xác định về mặt địa lý hoặc tâm linh. Tây Tạng không được xác định như trung thổ, về mặt địa lý. Còn về mặt được xác định như vùng đất tâm linh, thì phải là nơi có đủ tứ chúng. Rõ ràng là Tây Tạng không có Tỳ kheo ni, nên không đầy đủ. Nhiều người Tây Tạng nói rằng nếu chư Tỳ kheo có mặt ở nơi nào, thì đó là trung thổ, vì chư Tỳ kheo là nhóm quan trọng nhất trong tứ chúng. Nhưng điều đó chỉ xác định tính tương đồng với một trung thổ, và tính tương đồng với kiếp người quý báu. Đáng lẽ chư đạo sư trước đây ở Tây Tạng phải chú ý đến điều này.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi có thể khởi xướng việc cải thiện giáo dục cho chư Ni Tây Tạng, mà không cần tham khảo ý kiến của một nhóm Tăng đoàn. Tôi đã làm việc này, và nhiều chư Ni đã đạt được trình độ học thức cao. Trong các tu viện ở Mundgod, tôi đã thông báo rằng chúng ta phải chuẩn bị cho kỳ khảo thí Geshema. Một số cao tăng đã phản đối việc này, nhưng tôi nói với họ rằng Đức Phật đã ban cho nam giới và nữ giới quyền bình đẳng, để trở thành Tỳ kheo và Tỳ kheo ni, vậy thì tại sao không có quyền bình đẳng, để trở thành Geshe và Geshema? Tôi nghĩ vấn đề là những vị cao tăng này không quen với cách suy nghĩ này.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào đầu thập niên sáu mươi, tôi đã triệu tập không chỉ chư Tăng, mà cả chư Ni, và nói rằng họ cũng có thể tham gia lễ sojong (Bố tát) hai lần mỗi tháng. Trong những năm đó, không có Tỳ kheo ni, nên mặc dù các Sa di ni (shramanerika) thường không được phép tham dự lễ sojong của chư Tăng, nhưng các vị Giáo Thọ của tôi đã cho phép các Sa di ni làm như vậy. Vì vậy, chúng tôi đã bắt đầu thực hiện điều này. Đã có một vài sự phản đối châm biếm từ các tu viện ở Nam Ấn, vì chưa bao giờ có trường hợp chư Tăng Ni hành trì lễ sojong với nhau, nhưng không có nhà sư nào hoàn tục vì việc này!</p>
<p style="text-align: justify;">Từ những năm bảy mươi, một số người Tây Tạng đã thọ giới Tỳ kheo ni theo truyền thống Trung Quốc. Một trong những lý do chính mà tôi đã viếng thăm Đài Loan, là để tận mắt chứng kiến dòng truyền thừa Tỳ kheo ni ở đó, và phối kiểm tình hình của nó. Tôi đã chỉ định Losang Tsering nghiên cứu về giới Tỳ kheo ni, và cho đến nay, ông đã làm việc này được hai mươi năm. Chúng tôi đã nỗ lực hết sức. Tôi đã yêu cầu các vị Tỳ kheo chuyên truyền giới Tỳ kheo của Trung Quốc tổ chức một cuộc họp tăng đoàn quốc tế, nhưng các vị này không thể làm như vậy. Bản thân tôi không thể triệu tập một cuộc họp như vậy, vì những khó khăn và phức tạp sẽ xảy ra từ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Tôi cảm thấy nếu một tổ chức khác triệu tập một cuộc họp như vậy thì tốt hơn, nên đã yêu cầu Jampa Chodroen làm điều đó. Tất cả những gì một nhà sư có thể làm, đều đã được thực hiện. Bây giờ, chúng ta cần có sự nhất trí rộng rãi từ các vị trưởng lão Tỳ kheo Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Lễ thọ giới Sa di và Sa di ni có nói rằng người ta nên biết những đối tượng thích hợp với lòng tôn kính. Nó nói rằng dù về mặt giới nguyện, thì Tỳ kheo ni cao hơn, nhưng họ không phải là đối tượng để các Sa di tôn kính. Có lẽ điều này cũng cần được sửa đổi lại, khi nghĩ đến Bồ tát giới và Mật giới, đặc biệt là Mật giới về việc không được miệt thị phụ nữ. Từ quan điểm đó, thì việc giữ điểm này trong Luật tạng là điều bất tiện. Vì vậy, để giữ gìn ba loại giới nguyện, thì cũng phải sửa đổi một vài điểm nhỏ. Còn đối với việc nghiên cứu giới Tỳ kheo ni Nhất Thiết Hữu Căn Bổn trước khi thọ nhận chúng, thì những người đã trở thành Tỳ kheo ni trong dòng truyền thừa Pháp Tạng Bộ có thể đọc và nghiên cứu, dù họ phải thực hiện nghi lễ theo Pháp Tạng Bộ. Tuy nhiên, vẫn còn một vấn đề, đối với việc những người không phải là Tỳ kheo ni sẽ nghiên cứu những giới nguyện này.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi thực hiện tất cả những sự sửa đổi này, đặc biệt là về mặt thiết lập lại lễ truyền giới Tỳ kheo ni của phái Nhất Thiết Hữu Căn Bổn, thì điều cực kỳ quan trọng là việc này không chỉ được một số Tăng đoàn Tây Tạng thực hiện. Chúng ta phải tránh việc chia rẽ Tăng đoàn. Phải có sự nhất trí rộng rãi trong tăng đoàn Tây Tạng nói chung. Do đó, chúng tôi đang thực hiện những bước xa hơn theo chiều hướng đó. Xin cảm ơn tất cả những nỗ lực của quý vị.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Dalai Lama 14</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Lozang Ngodrub</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Hiệu đính: Võ Thư Ngân </em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Alexander Berzin sao chép và hiệu đính sơ [với lời minh giải về câu trả lời của Đức Dalai Lama trong ngoặc vuông].</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em> Trích đoạn từ: A Summary Report of the 2007 International Congress on the Women's Role in the Sangha: Bhikshuni Vinaya and Ordination Lineages (Part 4)</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/tin-tuc-tin-tuc/phu-nu-trong-phat-giao-khoi-phuc-le-tho-gioi-ty-kheo-ni/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tháng Đại Cát tường Saka Dawa Duchen [12/5/2021 – 10/06/2021] &#8211; Hội đủ ba sự kiện Đức Phật Đản sinh, Thành đạo, nhập Niết bàn</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/tin-tuc-tin-tuc/thang-dai-cat-tuong-saka-dawa-duchen-1252021-10062021-hoi-du-ba-su-kien-duc-phat-dan-sinh-thanh-dao-nhap-niet-ban/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/tin-tuc-tin-tuc/thang-dai-cat-tuong-saka-dawa-duchen-1252021-10062021-hoi-du-ba-su-kien-duc-phat-dan-sinh-thanh-dao-nhap-niet-ban/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 12 May 2021 13:06:23 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin Tức]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=10121</guid>
		<description><![CDATA[Chúng con xin thành kính Đảnh lễ Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Chúng con xin thành kính đảnh lễ suối nguồn Bi mẫn bao la không bờ mé của Đức Phật Sakyamuni. Ngài đã trải qua vô&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/tin-tuc-tin-tuc/thang-dai-cat-tuong-saka-dawa-duchen-1252021-10062021-hoi-du-ba-su-kien-duc-phat-dan-sinh-thanh-dao-nhap-niet-ban/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<div class="kvgmc6g5 cxmmr5t8 oygrvhab hcukyx3x c1et5uql ii04i59q">
<p dir="auto" style="text-align: justify;"><span style="font-size: 12pt;">Chúng con xin thành kính Đảnh lễ Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.</span></p>
</div>
<div dir="auto" style="text-align: justify;"></div>
<p dir="auto" style="text-align: justify;"><span style="font-size: 12pt;">Chúng con xin thành kính đảnh lễ suối nguồn Bi mẫn bao la không bờ mé của Đức Phật Sakyamuni. Ngài đã trải qua vô lượng kiếp để tìm kiếm con đường giải thoát và kiếp cuối cùng vì lợi lạc của hữu tình chúng sinh, Ngài đã Đản sanh tại Lumbini và trải qua 6 năm khổ hạnh – 49 ngày dưới cội cây Bồ Đề đạt thành tựu Phật Quả Viên Mãn tại Bodhgaya và để nhắc nhở chúng sinh về sự Vô thường Ngài đã thị hiện nhập Niết Bàn tại Kusinara.</span></p>
<div dir="auto" style="text-align: justify;"></div>
<div dir="auto" style="text-align: justify;"></div>
<p dir="auto" style="text-align: justify;"><span style="font-size: 12pt;">Ngày 19/05/2021 (tức ngày 07/4 Tạng lịch) ngày Đức Phật Đản Sinh và ngày 26 tháng 5 Dương lịch (tức ngày 15 tháng 4 theo lịch Tây tạng) là một ngày Đại Cát Tường và linh thiêng nhất trong một năm, hội tụ 2 sự kiện: Đức Phật Thành Đạo – Đức Phật Nhập Niết Bàn. Công Đức của tháng Đại Cát Tường Saka Dawa Duchen sẽ tăng trưởng gấp nhiều lần và ngày 19/05 &amp; 26/05 sẽ tăng trưởng 10.000.000 lần (10 triệu lần). Nếu tạo bất thiện nghiệp cũng nhân lên tương tự. Xin hãy cùng nhau thực hành thiện hạnh như trì chú, thiền định, cúng dường, phóng sinh, tán thán …</span></p>
<div dir="auto" style="text-align: justify;"></div>
<div dir="auto" style="text-align: justify;"></div>
<p dir="auto" style="text-align: justify;"><span style="font-size: 12pt;">Trong tháng Đại Cát Tường Saka Dawa Duchen, chúng con xin thành kính cầu nguyện các Bậc Đạo Sư trường thọ và Hạnh nguyện lợi sinh của Chư vị đều sớm viên thành, Nguyện cho cơn mưa Chánh Pháp tối thượng thấm đẫm và làm an dịu sự khổ đau của chúng sanh trong đại dịch Covid 19. Cầu mong giáo lý Tam Thừa và các Đề án Phật giáo sẽ NHANH CHÓNG thành tựu và lan tỏa khắp ba cõi đến khi vòng luân hồi cạn kiệt.</span></p>
<div class="o9v6fnle cxmmr5t8 oygrvhab hcukyx3x c1et5uql ii04i59q"><span style="font-size: 12pt;">~ Viet Rigpa Foundation</span></div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/tin-tuc-tin-tuc/thang-dai-cat-tuong-saka-dawa-duchen-1252021-10062021-hoi-du-ba-su-kien-duc-phat-dan-sinh-thanh-dao-nhap-niet-ban/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Thông bạch lịch Hoằng Pháp Đức Drikung Kyabgon Chetsang Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/tin-tuc-tin-tuc/thong-bach-lich-hoang-phap-duc-drikung-kyabgon-chetsang-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/tin-tuc-tin-tuc/thong-bach-lich-hoang-phap-duc-drikung-kyabgon-chetsang-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 24 Dec 2018 22:57:22 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin Tức]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức mới]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=9163</guid>
		<description><![CDATA[THÔNG BẠCH CHUYẾN HOẰNG PHÁP ĐỨC PHÁP VƯƠNG KYABGON CHETSANG RINPOCHE VÀ TĂNG ĐOÀN TRUYỀN THỪA DRIKUNG KAGYU Được sự cho phép của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt nam và ban Tôn giáo Chính phủ, trung tâm Drikung Kagyu Dharma Raja hoan hỷ thông báo chuyến viếng thăm Việt nam cuối năm 2018, đầu năm 2019 của Đức&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/tin-tuc-tin-tuc/thong-bach-lich-hoang-phap-duc-drikung-kyabgon-chetsang-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<div id="js_90l" class="_5pbx userContent _3576" data-ad-preview="message" data-ft="{&quot;tn&quot;:&quot;K&quot;}">
<div id="id_5c2100b5ad6995f16418645" class="text_exposed_root text_exposed">
<p style="text-align: center;">
<p style="text-align: center;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/48416801_1126639710830262_8172287698644500480_n.jpg"><img class="alignnone size-medium wp-image-9164" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/48416801_1126639710830262_8172287698644500480_n-212x300.jpg" alt="48416801_1126639710830262_8172287698644500480_n" width="212" height="300" /></a><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/48406547_1126639704163596_6659607900689793024_n.jpg"><img class="alignnone size-medium wp-image-9165" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/48406547_1126639704163596_6659607900689793024_n-212x300.jpg" alt="48406547_1126639704163596_6659607900689793024_n" width="212" height="300" /></a><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/48396130_1126639687496931_2756410556310093824_n.jpg"><img class="alignnone size-medium wp-image-9166" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/48396130_1126639687496931_2756410556310093824_n-212x300.jpg" alt="48396130_1126639687496931_2756410556310093824_n" width="212" height="300" /></a><img class="alignnone size-medium wp-image-9167" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/48423634_1126639657496934_4815600611691069440_n-212x300.jpg" alt="48423634_1126639657496934_4815600611691069440_n" width="212" height="300" /></p>
<p style="text-align: center;">THÔNG BẠCH CHUYẾN HOẰNG PHÁP ĐỨC PHÁP VƯƠNG KYABGON CHETSANG RINPOCHE VÀ TĂNG ĐOÀN TRUYỀN THỪA DRIKUNG KAGYU</p>
<p style="text-align: justify;">Được sự cho phép của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt nam và ban Tôn giáo Chính phủ, trung tâm Drikung Kagyu Dharma Raja hoan hỷ thông báo chuyến viếng thăm Việt nam cuối năm 2018, đầu năm 2019 của Đức Drikung Kyabgon Chetsang Rinpoche - Bậc thủ ngôi thứ 37 của dòng truyền thừa Drikung Kagyu, cùng với Tăng đoàn Phật giáo Ấn độ.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng tôi trân trọng kính mời Chư Tôn <span class="text_exposed_show">đức Tăng Ni, quý vị Phật tử cùng đến tham dự Pháp hội theo lịch trình thuyết giảng xuyên suốt bốn thành phố lớn của Việt nam với những giáo lý thâm diệu và các pháp Quán đảnh sâu xa, rộng lớn từ Đức Kyabgon Chetsang Rinpoche và các Đạo sư chứng ngộ của dòng truyền thừa Drikung Kagyu Phật giáo Ấn độ.</span></p>
<div class="text_exposed_show" style="text-align: center;">
<p style="text-align: justify;">~ Nguồn: Drikung Kagyu Dharma Raja Center<br />
Tôn ảnh: Đức Drikung Kyabgon Chetsang Rinpoche và lịch hoằng pháp<br />
<a href="https://l.facebook.com/l.php?u=http%3A%2F%2Fwww.vietrigpa.org%2F%3Ffbclid%3DIwAR3RWvvdhwtCegX2AYWAWyCN0wIHvLuEBGryaeNSaDxeG4AV3OqF4lqUo1E&amp;h=AT3VHf-GBiKWvG9oA0ybFpE6gwStOdHY-XWk7-pr8zmW33ReRFecgy5IIhNqByVCFzWRs2Qnp3WVVdrECAb-2ixl3XIUjvuiQ6APQSviHFlQCZaHQTjO4EWTBr5xAMF5MVg8_ww8z3sdpKjhxfg8eYQ4iFBn58hzj8Bjy3aW4ed_8DGo-XAaIIowNLotJKRgtSBjvYkcD4EV-roy9OxTt6ukBmun-fjTk05u7zkvOok5rafCXhekoaJsRwVT8eMMc0kulGlqnc_hTpq40Kt05lnAmxkAa9ynA4-XznMCyQKq2-cb2_DNZqksG6ExXbH-plEiqD6WFymrtkcRI5KodSao6CVsJp--lmKTsX65LpqmgXEdObIztVMit9hGduiXViDiFkZ-3eAgMfOOcuJx8KsqNVe63xmu9_ug0-KKgartd2cmfduZ7thAl-CPvUH28vzve4Pejv_kW2w7WiGJhxGkoIrBORbSKFekkpDjztE3KByJldDNe82g8aH4FTEwmNApUJV9unNV2dg0nw9xNg0rtor_nworX53oMvy73VU1qvmujwXvZO7lUkyDfkf4_aCFw7Pu_6V8T8t-kCXUEz0QMsyAocX_VjMV3K6BLKfo3G0mYtPd" target="_blank" rel="noopener nofollow" data-ft="{&quot;tn&quot;:&quot;-U&quot;}" data-lynx-mode="async">www.vietrigpa.org</a></p>
</div>
</div>
</div>
<div class="_3x-2" data-ft="{&quot;tn&quot;:&quot;H&quot;}"></div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/tin-tuc-tin-tuc/thong-bach-lich-hoang-phap-duc-drikung-kyabgon-chetsang-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Bí quyết để trở thành người hạnh phúc</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/tin-tuc-tin-tuc/bi-quyet-de-tro-thanh-nguoi-hanh-phuc-nhat-the-gioi/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/tin-tuc-tin-tuc/bi-quyet-de-tro-thanh-nguoi-hanh-phuc-nhat-the-gioi/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 10 Dec 2015 11:38:16 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin Tức]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6472</guid>
		<description><![CDATA[Matthieu Ricard Các nhà thần kinh học của Mỹ, sau nhiều cuộc thử nghiệm, đã tìm ra được người hạnh phúc nhất trên thế giới. Đó chính là một nhà nghiên cứu về tế bào di truyền đã từ bỏ cuộc sống hiện đại, phù hoa để lên đương tới Tây Tạng, trở thành nhà tu hành Phật giáo và&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/tin-tuc-tin-tuc/bi-quyet-de-tro-thanh-nguoi-hanh-phuc-nhat-the-gioi/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;">Matthieu Ricard</p>
<p style="text-align: justify;">Các nhà thần kinh học của Mỹ, sau nhiều cuộc thử nghiệm, đã tìm ra được người hạnh phúc nhất trên thế giới. Đó chính là một nhà nghiên cứu về tế bào di truyền đã từ bỏ cuộc sống hiện đại, phù hoa để lên đương tới Tây Tạng, trở thành nhà tu hành Phật giáo và là thị giả của Đức Đạt Lai Lạt Ma.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Làm thế nào để tất cả chúng ta có được hạnh phúc? Ông cho rằng, chúng ta có thể huấn luyện tâm trí mình theo những thói quen đem lại hạnh phúc để có được cảm giác thanh thản và mãn nguyện thật sự.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Con đường từ một nhà  khoa học tài ba trở thành một tỳ kheo thông tuệ</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Matthieu Ricard sinh ngày 15/2/1946 tại Aix-les-Bains (Savoie, Pháp), là con trai của ông Jean-François Revel - một triết gia Pháp nổi tiếng, và bà Yahne Le Toumelin - một nữ họa sĩ theo trường phái trừu tượng đã đi theo tiếng gọi của Phật giáo từ năm 1968. Sinh trưởng trong một môi trường như vậy, Matthieu Ricard đã sớm hình thành những tư tưởng triết học và Phật giáo và mang trong mình niềm đam mê và khát khao được tìm hiểu về cuộc sống tu hành chốn thiền môn.</p>
<p style="text-align: justify;">Bởi vậy, sau khi theo đuổi ngành Sinh vật phân tử học tại trường đại học, làm việc tại Viện Pasteur và hoàn thành luận án tiến sĩ Sinh vật học của Đại học Sorbonne vào năm 1972, chàng trai Matthieu Ricard khi ấy mới 26 tuổi đã thông báo với cha mẹ, các thầy giáo và bạn bè về quyết định sẽ từ bỏ sự nghiệp khảo cứu khoa học, bỏ học bổng sang Hoa Kỳ nghiên cứu thêm về Sinh vật học, bỏ cả tương lai của một nhà khoa học có hạng phía trước để xuống tóc đi tu, làm một tỳ kheo học đạo tại vùng đất Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Đây quả là một tin quá bất ngờ khiến tất cả mọi người đều vô cùng ngạc nhiên, nhất là đối với cha mẹ của Matthieu Ricard – những người đã đặt biết bao kỳ vọng vào cậu con trai tài giỏi của mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Để giải thích về quyết định được cho là khó hiểu này, Matthieu Ricard đã có một cuộc nói chuyện thú vị với cha mình, giữa một nhà tu hành Phật giáo và một triết gia, trong đó có đoạn: “Con đã theo đuổi khoa học là vì con thích khảo cứu. Nhưng rồi con thấy khảo cứu khoa học có hay đến mấy cũng không giải quyết được vấn đề căn bản của con người. Con đã thấy làm khảo cứu là miên man đi sâu vào mọi chi tiết, mà riêng con, con thấy không thể làm mãi như thế được.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong khi đó, con lại để ý đến đời sống tâm linh. Mới đầu, không có gì là rõ rệt. Khi 15 tuổi, con đã tìm đọc vài cuốn sách về tôn giáo, về Thiên Chúa giáo, Ấn độ giáo, Hồi giáo, nhưng kỳ thay, không đọc Phật giáo. Hồi đó, sách về Phật giáo, khảo cứu hay dịch thuật rất ít, được viết dưới nhãn quan của người Tây phương hiểu sai Phật giáo là một triết học hư vô (nihilism) không màng đến trần thế…</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng thực ra con để tâm vào đạo Phật là vào năm 1966, khi đó con 20 tuổi, còn ở đại học, sắp vào Viện Pasteur. Con được xem một bộ phim của một người bạn là Arnaud Desjardins về những vị Lạt Ma Tây Tạng đã phải di cư sang Bhutan khi Trung Cộng tiến chiếm xứ này. Cũng khoảng thời gian đó, con được nói chuyện với một người bạn khác - tiến sĩ Frederick Leboyer - mới ở Darjeeling (Ấn Độ) về, kể lại có gặp mấy vị Lạt Ma đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Chính những hình ảnh của Arnaud, của Frederick và chuyện họ kể lại đã gặp các vị Lạt Ma đó đã giúp con có quyết định phải sang Hy Mã Lạp Sơn. Vì con có cảm tưởng con đã thấy ở các vị Lạt Ma đó hình ảnh của chính những điều họ dạy dỗ, khuyên răn mọi người. Con không hiểu rõ tại sao, chỉ thấy họ đúng là những bậc thánh nhân toàn hảo, những nhà hiền triết mà bây giờ, ở Tây phương rất khó tìm thấy.</p>
<p style="text-align: justify;">Muốn gặp các ngài Socrates hay Plato hay ngồi dưới chân thánh Francis d’Assisi thì làm sao được? Nhưng sẵn đây chính các ngài là hiện thân của những bậc thánh hiền. Con tự nhủ, nếu có ai đạt được đến sự toàn thiện, toàn hảo thì phải là các vị này”.</p>
<p style="text-align: justify;">Vậy là, Matthieu Ricard đã thực hiện chuyến đi đầu tiên của mình tới Ấn Độ vào năm 1967, khi ấy  ông tròn 21 tuổi. Trong chuyến đi định mệnh, ông đã có cơ duyên gặp gỡ với một vị  đại sư Lạt Ma tên là Kangyur Rinpoché đầy lòng nhân ái và từ bi. Matthieu Ricard được thầy chỉ dạy về tâm linh, nhưng chưa bao giờ  học một lớp học liên tục về Phật giáo nào cả.</p>
<p style="text-align: justify;">Ricard kể lại với cha mình: “Thầy con nói rằng: “Phật giáo có rất nhiều điều hay để học, nhưng điều quan trọng là chớ bao giờ chuyên chú quá vào sách vở lý thuyết mà quên mất thực hành, bởi thực hành mới là trọng tâm của tu tập đạo pháp”. Học với thầy, con tự khám phá ra điều căn bản của quan hệ thầy/ trò là tâm mình phải hoà đồng được với tâm của thầy. Có  thế mới học được phép quán tưởng để đi đến sự hiểu biết giác ngộ”...</p>
<p style="text-align: justify;">Về đến Paris thì mệt nhoài nhưng con thấy chuyến đi đó là một mặc khải đã chi phối ý nghĩa và hướng đi của đời con, mà con không biết nói ra thế nào. Sau khi ở Ấn  Độ về, học năm đầu tại Viện Pasteur con mới thấy rõ phải gặp lại thầy con là một điều quan trọng nhường nào. Lúc nào, con cũng nghĩ đến điều  ấy”.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế  mà, đến năm 1972, Matthieu Ricard quyết tâm từ bỏ cuộc sống hiện đại và sự nghiệp đầy hứa hẹn của một nhà khoa học để lên đường sang Tây Tạng, tập trung vào việc thực hành Phật giáo. Ông sống ở dãy Himalaya, học tập với vị đại sư Kangyur Rinpoché và một số bậc thầy vĩ đại khác trong giới Phật giáo. Năm 1979, Ricard chính thức trở thành tu sĩ, là người học trò gần gũi và thân thiết nhất của đại sư Dilgo Khyentse Rinpoché.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1980, cũng nhờ có đại sư Khyentse Riponché, ông đã có cơ hội lần đầu tiên được gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma mà sau này ông đã trở thành phiên dịch viên tiếng Pháp cho ngài bắt đầu từ năm 1989. Sau khi người thầy Khyentse Rinponché qua đời vào năm 1991, kể từ đó, Ricard đã dành mọi tâm huyết và hoạt động của mình để thực hiện tư tưởng đã được thầy truyền dạy.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Bàn về  những bí quyết của hạnh phúc</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Matthieu Ricard đã sống trên rặng núi Himalaya từ hơn gần bốn chục năm nay bên những vị thầy tâm linh lớn. Ông ở tại tự viện Shéchèn (Nepal), cống hiến cuộc  đời cho tu hành, bảo tồn nền văn hóa Tây Tạng và cho những dự án nhân đạo ở Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngoài thời gian thu tập và phiên dịch tiếng Pháp cho Đức Đạt Lai Lạt Ma, ông còn có nhiều hoạt động khác trong vai trò của một nhà nhiếp ảnh, dịch giả và đã xuất bản những tác phẩm bàn về triết lý cuộc sống của nhà Phật cũng như mối tương quan giữa Phật giáo và khoa học.</p>
<p style="text-align: justify;">Tiêu biểu trong số các tác phẩm của ông là cuốn “Tu sĩ và triết gia” ghi lại cuộc trò chuyện giữa hai cha con ông được dịch ra 21 thứ tiếng, cuốn “Vô tận trong lòng bàn tay” với đồng tác giả là giáo sư Trịnh Xuân Thuận - một nhà vật lý thiên văn học nổi tiếng người Việt mang quốc tịch Mỹ, cuốn “Biện luận về hạnh phúc”, “Thành tuyết”, “Nghệ thuật thiền định” và “Hạnh phúc: Hướng dẫn phát triển kĩ năng quan trọng nhất trong cuộc sống”. Ngoài ra, Ricard còn là dịch giả của rất nhiều sách Phật giáo Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Bàn về chân hạnh phúc, Matthieu Ricard đã bày tỏ quan điểm của mình như sau: Thực ra, “hạnh phúc” là một khái niệm mơ hồ và người ta thường bị lẫn lộn giữa hạnh phúc đích thực và những cảm giác thích thú. Khi thích thú, chúng ta nhảy lên, làm động tác này, động tác nọ, rồi chúng ta ngã xuống, mệt nhoài và chán nản. Sự thích thú thì tùy thuộc vào hoàn cảnh. Nó bị điều kiện hoá. Nếu ăn một ly kem thì tuyệt, hai ly thì cũng được, nhưng ăn đến ly thứ ba thì bạn sẽ muốn nôn ra. Sự thích thú là thế đấy.</p>
<p style="text-align: justify;">Còn hạnh phúc, đó là nhận thức bẩm sinh của chúng ta. Chúng ta đi trên tuyết, đi dưới bầu trời đầy sao và cảm thấy rất thích thú, không có một xung đột nội tâm nào cả. Khi bạn có một cử chỉ thân thương với một đứa bé, không có ràng buộc gì cả, không đòi hỏi khen hay thưởng gì cả, bạn sẽ cảm thấy được tình yêu thương thuần tuý.</p>
<p style="text-align: justify;">Rồi dần dần, bạn bắt đầu phân biệt các trạng thái khác nhau của tâm mình, gồm những trạng thái mang lại an vui và những trạng thái mang lại phiền não cho mình và  cho người khác. Bạn tự hỏi không biết mình có  thể loại bỏ trạng thái gây phiền não để nuôi dưỡng trạng thái an vui hay không. Vấn đề ở chỗ là: Những cảm xúc gây phiền não đó có phải là một phần thực chất của tâm bạn hay không?</p>
<p style="text-align: justify;">Thông thường, khi ta có một cảm xúc như tức giận chẳng hạn, chúng ta hoàn toàn gắn mình với cảm xúc đó: ta là  nỗi tức giận. Rồi chúng ta tiếp tục thoát khỏi mình và đi đến mục tiêu của nỗi tức giận, chính là kẻ đã làm ta nổi giận. Cứ thế, chúng ta bực dọc vì nỗi giận. Bất cứ khi nào ta nhìn thấy hoặc nhớ đến người đó, cơn giận lại nổi lên, không bao giờ chấm dứt.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy nhiên, thay vì nhìn vào mục tiêu của cơn giận, bạn có thể tách cái tâm của mình ra khỏi cơn giận. Bạn có thể nhìn cơn giận như nhìn một ngọn lửa hay một ngọn núi lửa. Bạn nhìn vào nó, quan sát nó như một hiện tượng. Nếu bạn làm như vậy, bạn có thể tách rời nó ra khỏi nguồn nhiên liệu của nó, tức là mục tiêu của cơn giận. Rồi từ từ, cơn giận sẽ tan đi, giống như người ta thường nói là sương mai tan đi khi mặt trời lên. Ta không đè nén cơn giận vào một nơi nào đó như một quả  bom hẹn giờ. Ta lờ nó đi, không để cho nó nổ. Ta giải quyết nó theo cách làm cho nó bị vô hiệu hóa.</p>
<p style="text-align: justify;">Có một hình ảnh rất hay trong giáo lý nhà Phật. Tâm của chúng ta giống như bề mặt của tấm gương soi. Tính chất của tấm gương là phản chiếu tất cả mọi hình ảnh: những nét mặt giận dữ hoặc tươi cười hay những nét mặt buồn bã, trầm tư. Nhưng những hình ảnh này không thâm nhập vào trong tấm gương. Chúng không phải là một phần của tấm gương. Nếu chúng là một phần của tấm gương, chúng sẽ ngăn cản những hình ảnh khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Nét mặt giận dữ sẽ vẫn nằm lại trong gương và nét mặt tươi cười sẽ không bao giờ hiện lên được. Tương tự như vậy, có một sự tỉnh giác thuần khiết, từ đó mọi ý niệm khởi phát. Nếu quả đúng như vậy thì những cảm xúc gây đau khổ được gắn kết với những nguyên nhân và những điều kiện.</p>
<p style="text-align: justify;">Bằng cách luyện tâm, sử dụng đúng thuốc trị, thay thế sự căm ghét bằng lòng yêu thương, thay lòng tham lam bằng tự do nội tâm, bạn có thể thay đổi được cảnh quan của tâm hồn. Đấy là thiền. Thiền là một từ rất xa lạ, nhưng thật sự, thiền chỉ có nghĩa là làm quen với một cách hiện hữu, nuôi dưỡng những phẩm chất nội tâm của mình.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/tin-tuc-tin-tuc/bi-quyet-de-tro-thanh-nguoi-hanh-phuc-nhat-the-gioi/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tứ chúng hòa hợp</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/tin-tuc-tin-tuc/tu-chung-hoa-hop-3/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/tin-tuc-tin-tuc/tu-chung-hoa-hop-3/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 06 Sep 2015 18:15:40 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin Tức]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=4597</guid>
		<description><![CDATA[Đức Phật Thích Ca Mô Ni Đã cách đây từ rất lâu, tại vùng có tên là Kashi, có bốn con vật: Voi, Thỏ, Khỉ và Gà Gô chung sống cùng nhau trong một khu rừng rậm. Bốn con vật này rất yêu thương và tử tế với nhau. Giữa chúng chẳng bao giờ nảy sinh ý định nào gây&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/tin-tuc-tin-tuc/tu-chung-hoa-hop-3/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>Đức Phật Thích Ca Mô Ni</strong></p>
<p><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/IMG_0953.jpg"><img class="  wp-image-7302 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/IMG_0953-224x300.jpg" alt="IMG_0953" width="471" height="631" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Đã cách đây từ rất lâu, tại vùng có tên là Kashi, có bốn con vật: Voi, Thỏ, Khỉ và Gà Gô chung sống cùng nhau trong một khu rừng rậm. Bốn con vật này rất yêu thương và tử tế với nhau. Giữa chúng chẳng bao giờ nảy sinh ý định nào gây hại cho nhau dù là nhỏ nhất, ngược lại chúng sống với nhau rất vui vẻ. Vào một dịp nọ, chúng có một cuộc thảo luận với nhau như sau: <strong><em>“Chúng ta là những loài vật khác nhau nhưng lại dành cho nhau tình yêu thương và sự gần gũi tuyệt vời giống như nước hòa quyện vào sữa không thể nào tách rời.”</em></strong> Tuy nhiên, tình bạn này vẫn chưa hoàn hảo và điều quan trọng là chúng ta phải thiết lập một cách thức để bày tỏ <strong><em>sự trân trọng</em></strong> dành cho nhau. Chúng đã thống nhất xem ai sinh trước, ai sinh sau bằng cách so mình với cây Ni-câu -đà.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Voi nói: “Lần đầu tiên mình nhìn thấy những chiếc lá non trên cây thì cái cây đó cao bằng mình.”</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>“Lần đầu tiên mình nhìn thấy cái cây này, mình nghĩ là nó cao khoảng bằng mình”, Khỉ nói.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>“Mình nhớ là khi cái cây này còn nhỏ, mình đã liếm những giọt sương trên lá cây”, Thỏ nói.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>“Khi rễ cây còn ở dưới mặt đất, mình đã bón phân cho cây, và cây đã lớn lên”, Gà Gô nói.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Qua cuộc thảo luận này, bốn con vật có thể tìm ra trật tự tuổi tác của chúng – từ lớn tuổi nhất đến nhỏ tuổi nhất. <strong><em>Vì thế chúng đã quyết định rằng người nhỏ tuổi nên kính trọng người lớn tuổi hơn và những người lớn tuổi nên yêu thương, chăm sóc những người nhỏ tuổi hơn.</em></strong> Voi đã mang Khỉ trên lưng còn Khỉ thì mang Thỏ trên lưng và Thỏ thì mang Gà Gô trên lưng. Khi chúng gắn bó với nhau rất khăng khít bằng sợi dây kim cương của tình yêu thương, Gà Gô đưa ra lời khuyên thế này: <strong><em>“ Mặc dù bây giờ chúng ta rất trân trọng nhau nhưng chỉ riêng điều đó thôi chưa đủ. Chúng ta vẫn cần phải Hòa hợp và Thẳng thắn với nhau hơn.”</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">“Chúng tớ hoàn toàn đồng ý.”,  ba con vật còn lại nói, và chúng đã sống với nhau theo cách đó<strong><em>. Nhờ cách sống hòa thuận với nhau, tất cả chim chóc và thú vật trong khu rừng đó chẳng bao giờ làm hại nhau và luôn dành tình yêu thương và sự trìu mến cho nhau – như nước hòa sữa chẳng thể tách rời – chúng đã tận hưởng niềm vui, sự hòa thuận và hạnh phúc ngập tràn.</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Bình giảng: </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Câu chuyện "Tứ chúng hòa hợp" là câu chuyện rất ý nghĩa về bốn loại động vật - chim, thỏ, khỉ và voi do chính Đức Phật Shakyamuni viết nên. Điểm tinh yếu của giáo lý này là chúng ta nên sống hòa hợp với tất cả động vật trong thế giới này và đừng bao giờ làm hại chúng vì chúng đã từng là cha mẹ của nhau trong nhiều đời không những một lần và rất nhiều lần. Giáo lý này cũng dạy chúng ta cách sống chuẩn mực trong xã hội giữa người trẻ và người già: Người già nên thương yêu người trẻ còn người trẻ nên kính trọng người già. Có một câu thành ngữ rất hay như thế này: Giống như các tầng của một ngôi Bảo tháp, người sau nên tiếp nhận những kinh nghiệm từ những người đi trước. Nhờ ý nghĩa thực tiễn của câu chuyện này, nó đã lưu truyền rộng rãi khắp Tây Tạng cho đến tận ngày nay.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Câu chuyện này được trích dịch từ cuốn Language Pathways với tên gốc “The four Harmonious Friends”</em></p>
<p style="text-align: justify;">Việt ngữ : Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính: Giác Nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng hữu tình chúng sinh sống một cuộc đời yêu thương và hòa thuận.   </em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Chú thích: </em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nyagrodha: Là một loại cây ở Ấn Độ có lá dài và rộng. </em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Kashi: ( Được dịch từ tiếng Phạn) là tên cổ của thành phố Benares ở Ultar Pradesh, miền Bắc Ấn Độ. Ngày nay thành phố này được biết đến rộng rãi với tên gọi Varanasi.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em> </em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/tin-tuc-tin-tuc/tu-chung-hoa-hop-3/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Khai thị của các Đạo sư về lợi ích khi quay Kinh luân</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/tin-tuc-tin-tuc/khai-thi-cua-cac-dao-su-loi-lac-khi-quay-kinh-luan/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/tin-tuc-tin-tuc/khai-thi-cua-cac-dao-su-loi-lac-khi-quay-kinh-luan/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 06 Sep 2015 15:20:20 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin Tức]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=4474</guid>
		<description><![CDATA[=&#62;  01- Loi Ich Kinh Luan - Garchen Rinpoche(pdf) =&#62;  02- Loi Ich Kinh Luan - Lama Zopa Rinpoche(pdf) =&#62; 03- Loi Ich Kinh Luan-Jigdal Dagchen Rinpoche(pdf) =&#62; 04- Luan Giang ve Kinh Luan(pdf)]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/260966725_6c10456c48_o-300x245.jpg"><img class="  wp-image-4248 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/260966725_6c10456c48_o-300x245-300x245.jpg" alt="260966725_6c10456c48_o-300x245" width="354" height="289" /></a></p>
<p style="text-align: center;">=&gt;  <a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/01-Loi-Ich-Kinh-Luan-Garchen-Rinpoche.pdf">01- Loi Ich Kinh Luan - Garchen Rinpoche(pdf)</a></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/maxresdefault2.jpg"><img class="alignnone  wp-image-4378" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/maxresdefault2-199x300.jpg" alt="maxresdefault" width="261" height="393" /></a></p>
<p style="text-align: center;">=&gt;  <a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/02-Loi-Ich-Kinh-Luan-Lama-Zopa-Rinpoche.pdf">02- Loi Ich Kinh Luan - Lama Zopa Rinpoche(pdf)</a></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/JIGDALDAGCHENSAKYA.jpg"><img class="alignnone  wp-image-4479" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/JIGDALDAGCHENSAKYA-210x300.jpg" alt="JIGDALDAGCHENSAKYA" width="271" height="387" /></a></p>
<p style="text-align: center;">=&gt; <a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/03-Loi-Ich-Kinh-Luan-Jigdal-Dagchen-Rinpoche.pdf">03- Loi Ich Kinh Luan-Jigdal Dagchen Rinpoche(pdf)</a></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/259129_111337738961001_640805_o.jpg"><img class="alignnone size-medium wp-image-4385" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/259129_111337738961001_640805_o-250x300.jpg" alt="259129_111337738961001_640805_o" width="250" height="300" /></a></p>
<p style="text-align: center;">=&gt; <a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/04-Luan-Giang-ve-Kinh-Luan.pdf">04- Luan Giang ve Kinh Luan(pdf)</a></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/tin-tuc-tin-tuc/khai-thi-cua-cac-dao-su-loi-lac-khi-quay-kinh-luan/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
