<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Gelug</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-gelug/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Fri, 17 Apr 2026 16:09:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Tám đề mục chuyển hóa tâm</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tam-de-muc-chuyen-hoa-tam/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tam-de-muc-chuyen-hoa-tam/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 03 Oct 2023 01:38:30 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Gelug]]></category>
		<category><![CDATA[Tài liệu tham khảo]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=12677</guid>
		<description><![CDATA[Tám đề mục chuyển hoá tâm, một văn bản của Kadampa hành giả Langri Tangpa giải thích tuệ trí và phương pháp thực hành của Ba la mật thừa (Paramitayana ), bảy đề mục đầu nói về phương pháp - từ bi yêu thương, tâm giác ngộ hay tâm bồ đề - đề mục thứ tám nói về tuệ trí.&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tam-de-muc-chuyen-hoa-tam/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Tám đề mục chuyển hoá tâm, một văn bản của Kadampa hành giả Langri Tangpa giải thích tuệ trí và phương pháp thực hành của Ba la mật thừa (Paramitayana ), bảy đề mục đầu nói về phương pháp - từ bi yêu thương, tâm giác ngộ hay tâm bồ đề - đề mục thứ tám nói về tuệ trí.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>1- Quyết định đạt đến lợi ích to lớn nhất có thể cho tất cả chúng sinh, những người quý báu hơn những viên ngọc ước, tôi sẽ luôn luôn ôm ấp họ như những người thân thương nhất.</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Tự chính chúng ta và tất cả những chúng sinh khác muốn hạnh phúc và hoàn toàn thoát khỏi khổ đau. Trong điều này chúng ta thật sự bình đẳng. Tuy vậy, mỗi chúng ta chỉ là một cá thể, trong khi những chúng sinh khác là vô lượng.</p>
<p style="text-align: justify;">Giờ đây, có hai thái độ để quan tâm: đó là vị kỷ yêu mến chính chúng ta và đó là yêu mến những người khác. Thái độ tự yêu mến một cách vị kỷ làm cho chúng ta cứng nhắc, chúng ta nghĩ là chúng ta cực kỳ quan trọng và khao khát căn bản của chúng ta là cho chính chúng ta được hạnh phúc và cho mọi thứ diễn tiến tốt đẹp cho chúng ta. Tuy vậy, chúng ta không biết làm thế nào để đem đến điều này. Trên thực tế là hành động yêu mến vị kỷ không bao giờ làm cho chúng ta hạnh phúc.</p>
<p style="text-align: justify;">Những ai đó có thái độ yêu mến người khác nhìn những người khác quan trọng hơn hẳn chính mình và đánh giá sự giúp đỡ người khác trên tát cả những thứ khác. Và, hành động trong cách này, ngẫu nhiên tự họ trở nên rất hạnh phúc. Thí dụ, những chính trị gia chân thành quan tâm giúp đỡ hay phục vụ người khác thu hoạch những thành tích với sự tôn trọng, trong khi những ai đó luôn luôn lợi dụng và làm những việc xấu cho những người khác hạ bệ như những thí dụ của những kẻ xấu.</p>
<p style="text-align: justify;">Tạm thời bỏ qua một bên tôn giáo, đời sống tái sinh và niết bàn, ngay cả trong đời sống hiện tại những người vị kỷ đem đến những phản ứng tiêu cực ngược lại cho chính họ bởi những hành động của vị kỷ của họ. Về phương diện khác, những người như mẹ Teresa, người chân thành cống hiến cả cuộc đời và năng lực vô vị lợi phục vụ cho những người nghèo túng, khốn cùng, và neo đơn, luôn luôn được ghi nhớ bởi những hành động cao quý của họ, với sự kính trọng; những người khác không có bất cứ điều gì tiêu cực để nói về họ. Thế thì, điều này là kết quả của sự yêu mến những kẻ khác: cho dù chúng ta có muốn hay không, ngay những kẻ không phải là người thân của chúng ta luôn luôn yêu thích chúng ta, cảm thấy vui vẻ với chúng ta và có một cảm giác ấm áp đối với chúng ta. Nếu chúng ta là loại người luôn luôn nói năng lịch sự trước mặt những người khác những lại nói xấu sau lưng họ, dĩ nhiên, không ai thích chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì vậy, trong đời sống này, nếu chúng ta cố gắng giúp đỡ kẻ khác bằng nỗ lực tối đa mà chúng ta có thể làm và có ít nhất những tư tưởng ích kỷ, chúng ta sẽ có nhiều kinh nghiệm của hạnh phúc. Đời sống chúng ta không quá dài; một trăm năm là tối đa. Nếu trải qua đời sống này chúng ta cố gắng ân cần, với một trái tim ấm áp, lưu tâm cho lợi ích của những người khác và ít vị kỷ cùng giận tức, điều ấy sẽ thật tuyệt vời, xuất sắc, điếu ấy thật sự là nguyên nhân của hạnh phúc. Nếu chúng ta ích kỷ, luôn luôn đặt chính mình trước nhất và những kẻ khác là thứ yếu, kết quả chắc chắn là chúng ta sẽ hoàn tất cuối cùng. Trong ý nghĩ đặt chúng ta sau cùng và những người khác trước nhất là con đường để chúng ta tiến ra phía trước.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì vậy đừng lo lắng về kiếp sống tới hay niết bàn; những việc này sẽ tiến đến dần dần. Nếu trong kiếp sống này chúng ta duy trì là một người tốt, ấm áp, không ích kỷ, chúng ta sẽ là một công dân tốt của thế giới. Cho dù chúng ta là một Phật tử, một Ki tô hữu hay là một người cộng sản không quan hệ; điều quan trọng là khi nào chúng ta vẫn là một con người chúng ta nên là một con người tốt. Đấy là giáo nghĩa của Đạo Phật; đấy là thông điệp của tất cả mọi tôn giáo trên thế giới.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy nhiên, giáo nghĩa của Đạo Phật chứa đựng mọi kỹ năng để loại trừ và nhổ gốc rể vị kỷ và biến thành hiện thực thái độ yêu mến người khác. Thí dụ, văn bản tuyệt diệu của Tôn giả Bình Thiên (Shantideva), "Hướng dẫn về đời sống của con đường Bồ tát", rất hữu ích cho điều này. Tự chính chúng tôi thực hành theo quyển sách ấy; nó hữu dụng một cách tuyệt vời. Tâm tư chúng ta cực kỳ giảo quyệt và rất khó kiểm soát, nhưng nếu chúng ta tiến hành những tác động ảnh hưởng liên tục và kiên định, hành động không mệt mõi với suy luận hợp lý và phân tích cẩn thận, chúng ta sẽ có thể kiểm soát và chuyển hoá nó tốt hơn.</p>
<p style="text-align: justify;">Một số triết gia Tây phương nói rằng chúng ta không nên đàn áp sự giận tức của chúng ta mà bày tỏ nó - rằng chúng ta nên thực tập giận tức! Tuy nhiên, chúng ta nên có một sự phân biệt rõ ràng quan trọng ở đây giữa những vấn đề tinh thần nên bày tỏ, biểu lộ và những vấn đề không nên làm như vậy. Thỉnh thoảng chúng ta có thể có những sai lầm thật sự và thật đúng đắn để chúng ta bày tỏ để gỡ mối day dứt, tự thán thay vì để nó trở thành một nội kết phiền muộn trong tâm ta. Nhưng chúng ta không nên biểu lộ nó bằng sự giận dữ. Nếu chúng ta nuôi dưỡng, ấp ủ những tâm tư phiền não tiêu cực như giận tức chúng sẽ trở thành một thành phần của cá nhân chúng ta; mỗi lần chúng ta biểu lộ giận dữ nó trở nên dễ dàng để biểu lộ như thế một lần nữa. Chúng ta cứ làm như thế lần này rồi lần khác cho đến khi chúng ta đơn giản chỉ là một người cuồng dại hoàn toàn không thể kiểm soát. Vì vậy, trong phạm trù của những vấn đề tinh thần, có những vấn đề nào đấy thích đáng để bày tỏ còn những vấn đề khác thì không nên.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước tiên chúng ta cảm thấy khó khăn trong việc cố gắng để kiểm soát những tâm tư phiền não tiêu cực. Ngày đầu tiên, tuần đầu tiên, tháng đầu tiên chúng ta không thể kiểm soát chúng tốt đẹp được. Nhưng với sự liên tục tác động những tiêu cực của chúng ta sẽ dần dần giảm xuống. Tiến trình trong sự tu dưỡng phát triển tâm không phải đến từ việc dùng thuốc uống hay những thứ hóa chất khác; nó tùy thuộc vào việc kiểm soát tâm.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì vậy chúng ta có thể thấy rằng nếu chúng ta muốn hoàn thành những nguyện ước của chúng ta, là tạm bợ tức thời hay căn bản rốt ráo, chúng ta nên hướng thệ nguyện đến những chúng sinh khác nhiều hơn cả là những viên ngọc ước và luôn luôn yêu mến họ trên tất cả những thứ khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Câu hỏi: Có phải tất cả những mục tiêu của việc thực tập này để tu dưỡng phát triển tâm chúng ta hay thực sự là làm những việc để giúp đỡ những người khác? Điều nào là quan trọng hơn?</p>
<p style="text-align: justify;">Trả lời: Cả hai đều quan trọng. Trước tiên, nếu chúng ta không có động cơ trong sạch, bất cứ những gì chúng ta làm có thể không hài lòng. Vì vậy, việc trước nhất chúng ta nên làm là phát triển động cơ trong sạch. Nhưng chúng ta không phải chờ cho đến khi động cơ ấy hoàn toàn phát triển trước khi thật sự hành động giúp đỡ những kẻ khác. Dĩ nhiên, để giúp đỡ những kẻ khác trong những phương thức hữu hiệu nhất có thể chúng ta phải hoàn toàn giác ngộ như những Đức Phật. Ngay cả giúp đỡ những người khác trong những phương thức rộng lớn bao quát cùng khắp chúng ta cần đạt đến những tầng bậc của một vị Bồ tát, đấy là, phải có kinh nghiệm trực tiếp, nhận thức vô phân biệt thực tại của tính không và phải đạt đến những năng lực ngoài những giác quan cảm giác thông thường, hay thần thông. Tuy vậy, có nhiều trình độ khác nhau để giúp đỡ những người khác. Ngay cả trước khi chúng ta đạt đến những phẩm chất này chúng ta có thể hành động như những vị Bồ tát, nhưng thông thường những hành động của chúng ta kém hiệu quả hơn những vị ấy. Vì vậy, không phải đợi cho đến khi chúng ta đấy đủ hoàn toàn những phẩm chất, chúng ta có thể phát sinh những động cơ tốt đẹp, hảo thiện và với sự cố gắng đấy để giúp đỡ những kẻ khác trong những phương thức tốt nhất mà chúng ta có thể hành động. Điều này là một sự tiếp cận cân bằng hơn và tốt hơn là chỉ đơn giản ẩn trú một nơi cô lập nào đấy để thiền định và tụng niệm. Dĩ nhiên, điều này tủy thuộc rất nhiều trên từng cá nhân. Nếu chúng ta tin tưởng rằng an trú tại một nơi biệt lập chúng ta có thể đạt được những sự thực chứng rõ rệt trong một thời điểm nào đấy, đó lại là chuyện khác. Có lẻ tốt nhất nên dành phân nửa thời gian của chúng ta để hoạt động và phân nửa kia để thực tập thiền định.</p>
<p style="text-align: justify;">Câu hỏi: Tây Tạng là một xứ sở Phật giáo. Nếu những giá trị mà Ngài đã diễn tả là của Đạo Phật, tại sao có rất nhiều thứ không cân bằng trong xã hội Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Trả lời: Con người yếu đuối. Mặc dù Tây Tạng đúng thực là một xứ sở Phật giáo, nó cũng có những người xấu hay hư đốn. Ngay cả trong những cơ sở chùa chiền, tu viện, cũng có thể trở thành thối nát hay biến thành nơi bị lợi dụng. Nhưng tất cả đều giống nhau, so sánh với nhiều xã hội khác, Tây Tạng thanh bình hơn, hòa hiệp hơn và ít có những vấn nạn hơn.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>2- Khi kết thân với những người khác, tôi sẽ xem như tự mình là thấp nhất trong tất cả, và từ chiều sâu của con tim ôm ấp những người khác thân thương và quan trọng nhất.</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Không kể chúng ta là ai với chúng ta, chúng ta thường nghĩ những việc như, “Tôi mạnh hơn người kia, “ tôi đẹp hơn người kia”, tôi thông minh hơn người kia,” tôi giàu có hơn”, tôi xứng đáng hơn người kia rất nhiều”, v.v và v.v…- chúng ta phát sinh rất nhiều tự hào. Điều này không tốt. Thay vì vậy, chúng ta nên luôn luôn duy trì khiêm tốn. Ngay cả khi chúng ta giúp đỡ những kẻ khác và tham gia vào hoạt động từ thiện, chúng ta không nên xem chính mình trong cách kiêu căng như những người hộ vệ vĩ đại lợi ích những kẻ yếu. Điều này cũng là kiêu ngạo. Tốt hơn, chúng ta nên liên hệ trong những hành động như thế một cách thật khiêm tốn và nghĩ rằng chúng ta dâng hiến sự phụng sự của chúng ta đến mọi người.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi chúng ta so sánh chúng ta với những con thú, thí dụ, chúng ta có thể nghĩ, “ta có thân thể một con người” hay “ta là người thọ giới” và cảm thấy cao hơn những người khác. Cũng từ quan kiến ấy, chúng ta có thể nói rằng chúng ta có thân thể con người và đang thực hành lời Phật dạy và vì vậy chúng ta thật rất là hơn hẳn những côn trùng. Nhưng bằng cách khác, chúng ta có thể nói rằng những côn trùng thì thật vô tội và chẳng bao giờ lừa đảo, nhưng trái lại chúng ta thường dối trá , xuyên tạc, bóp méo chính mình trong trong những cách không thành thật để đạt đến mục tiêu cuối cùng hay tự làm mình hơn những người khác. Từ quan kiến này chúng ta phải nói là chúng ta thật tệ hơn những côn trùng, điều mà chúng chỉ tiến đến những hành động của chúng mà không giả vờ bất cứ điều gì. Đây là một phương pháp rèn luyện trong khiêm tốn nhún nhường.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>3- Thận trọng, tỉnh giác, thời khắc một vọng tưởng xuất hiện trong tâm tôi, nguy hại cho chính mình và những người khác, tôi sẽ đối diện và ngăn ngừa nó không chút chậm trễ.</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Nếu khảo sát tâm chúng ta tại những thời điểm mà chúng ta thật ích kỷ và bận rộn với chính mình để loại trừ những người khác, chúng ta sẽ thấy rằng tâm thức phiền não tiêu cực là gốc rễ của thái độ này. Vì lẽ chúng quấy rầy tâm chúng ta cực độ, thời điểm chúng ta để ý rằng chúng ta đang tiến đến gần sự ảnh hưởng của chúng, chúng ta nên áp dụng một số biện pháp hóa giải chúng. Đối thủ phổ thông với tất cả những tâm thức phiền não là thiền định trên tính không, nhưng cũng có thuốc giải đến từng loại đặc hữu mà chúng ta những người mới bắt đầu có thể áp dụng. Vì vậy, đối với chấp ngã, thủ trước, dính mắc, chúng ta thiền định trên tính xấu xí; với giận tức , trên yêu thương; với mù quáng si mê, trên duyên khởi; cho nhiều tư tưởng phiền não, trên hơi thở và năng lựơng của gió.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Điều gì là tùy thuộc hưng khởi hay duyên khởi?</p>
<p style="text-align: justify;">Trả lời: Mười hai khoen nhân duyên, hay nguyên khởi tùy thuộc tương liên. Chúng bắt đầu bằng vô minh và đi qua đến già và chết. Trên những trình độ vi tế hơn chúng ta có thể dùng duyên khởi như một nhân để chứng minh rằng mọi sự, mọi vật thì trống rỗng trong sự hiện hữu thật sự.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Tại sao chúng ta nên thiền định trên tính xấu xí để vượt thắng chấp ngã, thủ trước, hay dính mắc?</p>
<p style="text-align: justify;">Trả lời: Chúng ta phát triển sự chấp trước đến những sự kiện, sự vật bởi vì chúng ta thấy chúng như là rất hấp dẫn. Cố gắng để nhìn chúng như là không hấp dẫn, hay xấu xí, làm nó mất tác dụng hay hóa giải nó. Thí dụ, chúng ta có thể phát triển chấp trước đến thân thể một ai đấy, thấy hình dáng người ấy rất hấp dẫn. Khi chúng ta bắt đầu phân tích sự dính mắc này chúng ta thấy rằng nó chỉ căn cứ trên hình ảnh đơn thuần của làn da. Tuy nhiên, tính tự nhiên của thân thể này xuất hiện đến chúng ta như đẹp đẽ là thịt, máu, xương, da v.v…của điều nó tập hợp. Giờ đây hãy phân tích làn da con người: thí dụ, lấy của chính chúng ta. Nếu một mảnh da rơi ra và chúng ta để nó trong một ngăn khoảng vài ngày nó trở nên ghê gớm thật sự. Đây là tính tự nhiên của da. Tất cả những phần khác của thân thể cũng như vậy. Không có sự xinh đẹp trong từng mảnh thịt, của con người; khi chúng ta thấy máu chúng ta có thể cảm thấy sợ, không vướng bận. Ngay cả một khuôn mặt mỹ miều xinh đẹp: nếu nó bị trầy xước không có gì đẹp đẻ về nó; rửa sạch phấn son – không còn gì cả! Xấu xí là tính tự nhiên của thân thể vật lý. Xương người, cả bộ xương người, cũng là ghê sợ; hình ảnh sọ người cùng xương chéo X có một ý nghĩa thật tiêu cực và dữ dội.</p>
<p style="text-align: justify;">Vâng đấy là phương pháp để phân tích đối với những gì mà chúng ta dính mắc, ái luyến, hay yêu mến - sử dụng ngôn ngữ này trong ý nghĩa tiêu cực của sự dính mắc khao khát ước vọng. Hãy suy nghĩ thêm những đối tượng về phương diện xấu xí; phân tích tính tự nhiên của con người hay sự vật từ quan điểm này. Ngay cả nếu điều này không kiểm soát sự vướng mắc, chấp trước của chúng ta hoàn toàn, tối thiểu nó cũng giúp chúng ta giảm bớt sự dính mắc một ít. Đây là mục tiêu của thiền định hay thiết lập nên thói quen quán sát khía cạnh xấu xí của những sự vật.</p>
<p style="text-align: justify;">Một loại yêu thương khác, sự ân cần tử tế, nó không căn cứ trên lý do rằng “những người như vậy và như thế là xinh đẹp, vì vậy, tôi phải tôn trọng và tử tế.” Căn bản thiết yếu của lòng yêu thương tinh khiết là, “Đây là một chúng sinh muốn vui tươi hạnh phúc, không muốn phiền muộn khổ đau và có quyền để hạnh phúc. Vì vậy, tôi nên cảm nhận yêu thương và từ bi.” Loại yêu thương này hoàn toàn khác biệt với loại yêu thương đầu tiên, điều căn cứ trên sự si mê vô minh và vì vậy hoàn toàn không lành mạnh, không chính đáng. Đấy là những lý do của lòng yêu thương rộng lớn hay từ bi là lành mạnh, chính đáng, đúng đắn. Với tình yêu căn cứ trên sự chấp trước , hay dính mắc, nếu có một sự thay đổi nhỏ trên đối tượng, như một tí thay đổi của thái độ, lập tức là nguyên nhân để chúng ta đổi thay. Đấy là bởi vì cảm xúc của chúng ta chỉ căn cứ những gì trên bề mặt rất cạn cợt. Lấy một thí dụ, một cuộc hôn nhân mới mẻ. Thường thì sau vài tuần, vài tháng, hay vài năm cặp hôn nhân trở thành những kẻ thù và cuối cùng đi đến ly dị. Họ đã kết hôn trong sự yêu thương sâu lắng – không ai chọn thành thân với sự thù ghét – nhưng sau một thời gian ngắn mọi thứ thay đổi. Tại sao? Do bởi căn cứ cạn cợt trên bề mặt của mối quan hệ; một sự thay đổi nhỏ của một người là nguyên nhân cho một sự thay đổi hoàn toàn thái độ của người kia.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta nên nghĩ, “người kia là một con người như tôi. Chắc chắn là tôi muốn hạnh phúc; vì vậy, cô ta /cậu ta cũng phải muốn hạnh phúc. Như một chúng sinh tôi có quyền để hạnh phúc; cùng lý do ấy, người kia cũng thế, có quyền để hạnh phúc an lạc." Lý do chính đáng này cho khởi lên một lòng yêu thương và từ bi. Thế thì không cần biết quan niệm của chúng ta với sự thay đổi của người kia là thế nào – từ tốt đến xấu đến vô cùng tệ hại - người kia luôn luôn căn bản là một chúng sinh. Vì vậy, lý do chính để hiển lộ lòng từ bi yêu thương là luôn luôn ở đấy, cảm nhận của chúng ta đối với người kia là kiên định một cách toàn hảo.</p>
<p style="text-align: justify;">Thuốc giải độc cho sân hận-giận tức là thiền định về yêu thương, bởi vì sân hận-giận tức là một tâm thức rất thô lỗ, sống sượng, cộc cằn vì thế cần được làm dịu dàng, mềm mỏng với tình yêu thương.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi chúng ta vui thích với những đối tượng mà chúng ta nối kết, gắn bó, hay dính mắc, chúng ta chắc chắn trải qua kinh nghiệm hân hoan, khoái lạc hay thú vị; nhưng như Tổ Long Thọ đã từng nói, điều ấy như có một mụn ngứa và gảy ngứa; nó cho chúng ta sự thích ý nhưng chúng ta sẽ khá hơn nếu trước tiên chúng ta đừng có cái mụn ngứa ấy. Cũng giống như thế, khi chúng ta nhận được những thứ mà với chúng ta bị ám ảnh, mê thích chúng ta cảm thấy vui sướng, nhưng chúng ta sẽ khá hơn nếu chúng được tự do với điều mà chúng ta bị dính mắc,vướng bận, mong mỏi và là nguyên nhân để chúng ta trở nên bị ám ảnh với những thứ ấy.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>4- Bất cứ khi nào tôi thấy những chúng sinh xấu xa, tệ ác, nguy hại một cách tự nhiên và tràn ngập bởi những hành vi bạo động tiêu cực và khổ đau, tôi sẽ ôm ấp những người yêu mến hiếm hoi như vậy, y như là tôi vừa tìm thấy một kho tàng trân quý.</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Nếu chúng ta quán sát những người như bởi tự nhiên rất bạo ác, thô lỗ, tục tằn và khó chịu, phản ứng thông thường của chúng ta là lẫn tránh người ấy. Trong những trường hợp như thế tình yêu thương của chúng ta hướng đến người khác có khả năng bị giảm sút. Thay vì cho phép tình yêu thương của chúng ta đến người khác yếu đuối bởi suy nghĩ rằng kẻ kia là một người xấu ác hay tội lổi, chúng ta nên thấy người ấy như một đối tượng đặc biệt của tỉnh thương và từ bi và yêu mến người ấy dường như là chúng ta tình cờ bắt gặp một kho tàng quý giá, khó khăn để tìm thấy.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>5- Khi, vì sự thèm muốn, đố kỵ, ghen tỵ, những người khác ngược đãi tôi với sự lạm dụng, xỉ vả hay gièm pha,…,tôi sẽ chấp nhận thua cuộc và dành thắng lợi cho những kẻ khác.</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Nếu có những người xỉ vả, ngược đãi hay bình phẩm, chỉ trích chúng ta, nói rằng chúng ta kém cõi, bất tài, không đủ khả năng làm bất cứ việc gì, v.v…, chúng ta chắc là có thể rất giận dữ và phản bác lại những gì người kia nói. Chúng ta không nên hành động như vậy, thay vì thế, với sự khiêm tốn và bao dung, chúng ta nên chập nhận những gì đã được phát biểu.</p>
<p style="text-align: justify;">Nơi mà nói rằng chúng ta nên chấp nhận thất bại và nhường sự thắng lợi cho người khác, chúng phải phân làm hai loại khác nhau của tình trạng. Nếu một mặt, chúng ta bị ám ảnh với lợi ích của chính chúng ta và động cơ rất là ích kỷ, chúng ta nên chấp nhận thua cuộc và nhường chiến thắng cho kẻ khác, ngay cả có thể đời sống chúng ta bị lâm nguy. Nhưng có thể về phương diện khác, trường hợp tình trạng như vậy mà quyền lợi của những kẻ khác bị lâm nguy, chúng ta phải hành động thật năng nổ và đấu tranh vì quyền lợi của những người khác, và không chấp nhận thua cuộc với bất cứ giá nào.</p>
<p style="text-align: justify;">Một trong bốn mươi sáu thệ nguyện của một vị Bố tát liên hệ đến một trường hợp khi mà ai đấy làm những hành vi rất là tai hại và chúng ta phải dùng đến những biện pháp vũ lực hay bất cứ cách nào khác cần thiết để chấm dứt những hành vi bạo ngược của kẻ ấy lập tức – nếu chúng ta không hành động, chúng ta vị phạm lời thệ nguyện ấy. Có thể thấy rằng lời thệ nguyện của một vị Bố tát và đề mục thứ năm này, nói rằng một người nên chấp nhận thua cuộc và nhường thắng lợi cho kẻ khác, là mâu thuẫn, nhưng không như vậy. Thệ nguyện của một vị Bố tát đáp ứng với một tình trạng mà điểm chính yếu là sự quan tâm của một người đối với quyền lợi của những kẻ khác: nếu ai đấy đang làm những hành vi cực kỳ tai hại và nguy hiểm thì thật là sai lầm nếu không có những hành động mạnh mẻ để chấm dứt chúng, nếu cần thiết.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày nay, ngay trong những xã hội tranh đua, những hành động tự vệ mạnh mẽ hay tương tự như thế thì thường luôn luôn được đòi hỏi. Động lực như thế này không nên bị ích kỷ nhuốm màu nhưng là những cảm giác rộng rãi bao la của ân cần và từ bi yêu thương đối với kẻ khác. Nếu chúng ta hành động với những cảm nhận, ý thức như thế để hổ trợ, cứu giúp kẻ khác tránh khỏi tai họa do những nghiệp cảm tiêu cực tạo ra, điều này hoàn toàn đúng đắn.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Nếu đôi khi có thể cần thiết để có những hành động mạnh mẻ khi chúng ta thấy những điều gì ấy là sai, nhưng phán đoán của ai mà chúng ta có thể tin tưởng đối với những quyết định như thế? Chúng ta có thể dựa trên nhận thức của chính chúng ta đối với thế giới không?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp Điều ấy thật phức tạp. Khi chúng ta quyết định nhận lấy phần thua cho chính mình, chúng ta phải thấy hoặc nhường phần thắng cho kẻ kia sẽ lợi ích cho họ căn bản hay chỉ tạm thời. Chúng ta cũng phải quan tâm ảnh hưởng mà khi nhận phần thua trên chính mình sẽ có trên khả năng hay năng lực của chúng ta để hổ trợ kẻ khác trong tương lai. Nó cũng có thể là bằng việc hành động điều gì ấy mà tai hại đến kẻ khác ngay bây giờ, chúng ta tạo nên một công đức to lớn và nó sẽ có thể hổ trợ cho chúng ta làm những việc lợi ích rộng lớn hơn cho những kẻ khác về lâu về dài; đây là một nhân tố khác chúng ta phải tiếp nhận vào trong nhận thức và tạng thức, về tầm quan trọng của nó.</p>
<p style="text-align: justify;">Như đã nói trong “Hướng dẫn về đời sống của con đường Bố tát” (Bodhicaryavatara ), chúng ta phải thử nghiệm, cả bề mặt và chiều sâu, không biết những lợi ích của những hành động vốn vị cấm đoán là có nhiều tác dụng hơn là nhược điểm hay không. Tại những thời điểm khi nó thật khó khăn để mà phán quyết, chúng ta nên kiểm soát lại động cơ thúc đẩy. Trong Toát yếu Giáo nghĩa Đạo Phật (Shiksa-Samuccaya), Bình Thiên Tôn giả nói rằng những lợi ích của những hành động được làm với tâm bố đề có tác dụng nhiều hơn là những tiêu cực đối với khi hành động không có động cơ như thế. Mặc dù nó cực kỳ quan trọng, những có thể đôi khi thật khó khăn để thấy lằn ranh giữa điều gì nên làm và điều gì không nên làm, vì vậy, chúng ta nên học hỏi những kinh luận giải thích về những điều như thế. Trong những luận giải thấp hơn nó sẽ nói rằng những hành vi nào đấy là bị cấm đoán trong khi những luận giải cao hơn nói với chúng ta rằng cũng cùng những hành vi ấy nhưng được cho phép. Càng thông hiểu hơn về tất cả những điều này nó càng dễ dàng hơn, nó sẽ được quyết định điều gì nên làm trong bất cứ mọi trạng huống.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>6- Khi những ai đấy mà tôi đã từng làm lợi ích đến và trong những ai đấy tôi đã từng có những niềm hy vọng lớn lao lại mang đến cho tôi những tai họa khủng khiếp, tôi sẽ nhìn người ấy như bậc đạo sư thánh thiện của tôi.</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Thông thường chúng ta dự tưởng rằng những ai đấy mà mình từng giúp đỡ những gì to tát là phải rất biết ơn chúng ta và nếu họ lại hành động đến mình với sự vô ơn chắc là chúng ta phải giận dữ. Trong những trường hợp như thế, chúng ta không nên khó chịu nhưng thay vì thế phải thực hành nhẫn nại. Hơn thế nữa, chúng ta nên thấy những người như thế là những vị thầy thử thách sự nhẫn nhục của chúng ta và vì thế nên đối xử với họ một cách tôn trọng. Đề mục này chứa đựng tất cả trong “Hướng dẫn về đời sống của con đường Bố tát” về nhẫn nhục.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>7- Trong vắn tắt, cả trực tiếp và gián tiếp, tôi xin dâng hiến mọi niềm hạnh phúc, an lạc và lợi ích đến tất cả những bà mẹ của tôi. Tôi sẽ gánh vác một cách bí mật trên tôi tất cả những hành động tai hại và khổ đau của họ.</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Điều này hướng đến việc thực hành gánh vác trên chính chúng ta tất cả những khổ đau của những người khác và dâng hiến đến họ tất cả những niềm hạnh phúc, an lạc của chúng ta, động cơ thúc đẩy bởi lòng từ bi và yêu thương mạnh mẽ. Tự chính chúng ta muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau và có thể thấy rằng tất của hữu tình chúng sinh cũng cảm nhận như thế. Chúng ta cũng có thể thấy rằng những hữu tình chúng sinh khác ngập tràn khổ đau nhưng không biết làm thế nào để lìa xa chúng. Vì vậy, nên phát sinh ý niệm gánh vác tất cả những khổ đau và nghiệp báo tiêu cực và nguyện cầu cho nó chin muồi, trổ quả trên chính chúng ta ngay lập tức. Giống như thế, rõ ràng những hữu tình chúng sinh trống vắng hạnh phúc, họ tìm kiếm nhưng không biết làm thế nào để gặp được hạnh phúc. Vì vậy, không có chút gì bỏn xẻn xan lẫn, chúng ta nên dâng hiến cho họ tất cả những hạnh phúc của chúng ta – thân thể, phú quý và công đức – và cầu nguyện cho những điều này chin muồi, kết quả trên họ ngay lập tức.</p>
<p style="text-align: justify;">Dĩ nhiên, không chắc rằng chúng ta thật thực sự có thể gánh vác những khổ đau của kẻ khác và trao tặng hạnh phúc của chúng ta cho họ. Khi những hoán chuyển như thế giữa những hữu tình chúng sinh thật sự xảy ra, nó là kết quả của một số liên hệ nghiệp quả liên tục rất mạnh mẻ nào đấy từ quá khứ kiếp. Tuy thế, sự thiền định đề mục này là rất mãnh liệt có ý nghĩa của việc xây dựng nên sự can đảm trong tâm chúng ta và vì thế là một thực hành có lợi ích cao thượng.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong “Bảy điểm chuyển hóa tâm” nói rằng chúng ta nên luân phiên thực hành “cho và nhận” và trang bị chúng trên từng hơi thở. Và ở đây, Langri Tangpa nói rằng những điều này nên được hoàn thành một cách bí mật. Khi nó được giải thích trong “Hướng dẫn về đời sống của con đường Bố tát”, điều thực hành này không thích hợp với tâm lý những Bố tát sơ tâm – nó là những gì được chọn lựa ở một số ít hành giả. Vì thế, nó được gọi là bí mật.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Trong “Hướng dẫn về đời sống của con đường Bố tát”, Bình Thiên Tôn Giả nói rằng: “…nếu vì lợi ích của kẻ khác mình làm tổn hại chính mình, tôi sẽ đảm nhận tất cả, điều ấy thật cừ khôi, trác tuyệt. Mặt khác, Tổ Sư Long Thọ nói rằng, chúng ta không nên hành hạ thân thể mình. Thế thì, trong phương thức nào của Tôn Giả Bình Thiên lại có ý nghĩa một người nên làm tổn hại chính mình?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Điều này không có nghĩa là chúng ta phải tự đánh vào đầu mình hay những việc tương tự. Tôn Giả Bình Thiên (Shantideva) đang nói rằng tại nhưng thời điểm khi những tư tưởng tự luyến ái khởi lên mãnh liệt chúng ta phải tranh luận rất mạnh mẽ với chính mình và dùng những ý nghĩa sinh động đầy sức thuyết phục để chinh phục hay làm dịu chúng xuống; trong ý nghĩa khác, chúng ta phải tự làm tổn hại hay hao mòn tâm thức tự ngã ái luyến chính mình. Chúng ta phải phân biệt rõ ràng giữa cái "tôi" hoàn toàn bị ám thị với những quyền lợi của chính nó và cái "tôi" sẽ trở nên giác ngộ: đấy là một sự khác biệt lớn lao. Và chúng ta phải thấy câu này của “Hướng dẫn về đời sống của con đường Bố tát”, trong văn bản với những dòng này trước và thực hành theo. Có nhiều cách khác nhau cái "tôi" được bàn cãi: sự vướng mắc chấp trước chính là đặc tính của cái "tôi", ái luyến tự ngã, cái "tôi" mà chúng ta phối hợp với nó trong sự quán sát những sự kiện từ quan điểm của những kẻ khác và v.v... Chúng ta phải thấy sự bàn luận về tự ngã trong những luận giải khác nhau.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu nó thật sự lợi ích cho người khác, nếu nó lợi ích ngay cả cho một chúng sinh, nó xứng đáng cho chúng ta đảm đương trên chính mình những khổ đau hiện hữu trong tam giới hay đi đến một trong những địa ngục, và chúng ta nên có sự can đảm, dõng cảm để làm điều này. Để đạt đến giác ngộ vì lợi ích của chúng sinh chúng ta nên hoan hỉ, quyết tâm và tự nguyện để sống ở địa ngục thấp nhất, ngục A tỳ, trong thời gian vô tận. Đây là ý nghĩa của việc đảm đương những tổn hại, điều làm khổ sở, đớn đau, ưu phiền của kẻ khác trên chính chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Chúng ta phải làm gì để vào địa ngục thấp nhất?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Điểm để phát triển lòng quả cảm, can đảm, dõng mãnh là quyết tâm tự nguyện để đi đến một trong những địa ngục; nó không có nghĩa là chúng ta thật sự phải đi đến đấy. Khi hành giả Kadampa Geshe Chekawa đang sắp viên tịch, ngài đột nhiên gọi đệ tử của ngài và yêu cầu họ làm những sự cúng dường, những đàn tràng và cầu nguyện cho ngài bởi vì những sự hành trì của ngài đã không thành tựu. Những đệ tử rất bất an bởi vì họ nghĩ rằng có điều gì kinh khiếp không lành sẽ xảy ra. Tuy nhiên, ngài giải thích rằng, mặc dù suốt cuộc đời ngài đã từng cầu nguyện để được sinh ra trong những địa ngục vì lợi ích của kẻ khác, giờ đây, ngài tiếp nhận một linh cảm thuần khiết của những gì sẽ tiếp diễn - ngài sẽ được tái sinh ở cõi Tịnh Độ thay vì ở địa ngục - và đấy là tại sao ngài bối rối. Cũng như thế, nếu chúng ta phát triển một nguyện ước mãnh liệt, chân thành để tái sinh trong những cảnh giới thấp nhất vì lợi ích của những chúng sinh khác, chúng ta sẽ tích tập được một công đức to lớn vô biên và điều ấy sẽ mang đến những kết quả ngược lại.</p>
<p style="text-align: justify;">Đó là tại sao chúng tôi nói rằng, nếu chúng ta ích kỷ thì chúng ta nên ích kỷ một cách thông minh. Thực tế, hay hẹp hòi, ích kỷ làm nguyên nhân chúng ta đi xuống; thông minh ích kỷ đưa chúng ta đến Phật quả. Điều ấy thật sự thông tuệ! Bất hạnh thay, điều chúng ta thường làm trước nhất là đến với Phật quả. Theo kinh điển, chúng ta hiểu rằng để đạt đến Phật quả chúng ta cần tâm bồ đề và nếu không có nó chúng ta không thể trở nên giác ngộ; vì vậy chúng ta nghĩ, "tôi muốn quả Phật, vì thế tôi phải thực hành bồ đề tâm." Chúng ta không quá quan tâm nhiều đến bồ đề tâm cũng như Phật quả. Điều này là sai lầm một cách chắc chắn. Chúng ta phải làm ngược lại; hãy quên động cơ ích kỷ và thật sự nghĩ làm thế nào để giúp kẻ khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu chúng ta đến địa ngục chúng ta không thể giúp đỡ cho người khác hay chính mình. Chúng ta làm thế nào để giúp? Không phải chỉ bằng bố thí cho họ vài thứ gì đấy hay thi thố thần thông, nhưng bằng diễn giảng giáo pháp. Tuy nhiên, trước nhất chúng ta phải có đủ năng lực để giảng dạy. Hiện tại chúng ta không thể giải thích toàn bộ con đường - tất cả những sự hành trì và kinh nghiệm mà một người phải tiến từng bước từ trình độ thứ nhất đến cuối cùng, giác ngộ. Có thể chúng ta có thể giải thích một vài cấp độ sơ cơ qua kinh nghiệm của chính chúng ta, nhưng không thể nhiều hơn thế. Để có thể hỗ trợ những người khác trong phương pháp rộng rãi nhất bằng sự hướng dẫn họ theo toàn bộ con đường giác ngộ, trước hết chúng ta phải giác ngộ cho chính mình. Vì lý do này chúng ta nên thực hành tâm bồ đề. Điều này hoàn toàn khác biệt với cách suy nghĩ thông thường của chúng ta, khi mà chúng ta bị buộc phải nghĩ về những người khác và dâng hiến trái tim của chúng ta cho họ do bởi sự quan tâm ích kỷ về sự giác ngộ của chính chúng ta. Cách này hướng về những thứ hoàn toàn sai lạc, một loại lừa phỉnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Tôi đọc trong một quyển sách nói rằng chỉ bằng thực hành giáo pháp chúng ta ngăn ngừa chín thế hệ thân quyến của chúng ta phải sinh vào địa ngục. Điều ấy có đúng không?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Đấy là một ít phô trương! Thật sự khả dĩ những việc như thế có thể xảy ra, nhưng thông thường nó không quá đơn giản như thế. Thí dụ, chúng ta trì niệm mật ngôn OM MANI PADME HUM và dâng hiến công đức ấy cho sự nhanh chóng đạt đến giác ngộ vì lợi ích của tất cả chúng sinh. Chúng ta có thể nói rằng chỉ bằng sự trì niệm mật ngôn chung ta sẽ tốc chứng giác ngộ, nhưng chúng có thể nói rằng những sự thọ trì như thế hành động như sự đóng góp cho NHÂN của giác ngộ. Giống như thế, trong khi sự thực hành giáo pháp của chúng ta sẽ không tự hổ trợ thân quyến của chúng ta không đến những sự tái sinh thấp hơn, nhưng nó có thể hoạt động như một sự góp phần cho NHÂN này.</p>
<p style="text-align: justify;">Cho dù đây không phải là trường hợp, nếu sự hành trì của chúng ta hoạt động như nguyên nhân chính yếu của một kết quả kinh nghiệm bởi những người khác, nó sẽ mâu thuẩn với luật nghiệp báo, sự liên hệ giữa nguyên nhân và hiệu quả. Thế thì chúng ta chỉ giản dị ngồi lại và nghĩ ngơi thoãi mái và để chư Phật cùng các vị Bồ Tát làm mọi thứ cho chúng ta; chúng ta sẽ không phải nhận lấy một trách nhiệm nào đối với lợi ích của chính mình. Tuy thế, Đấng giác ngộ hoàn toàn đã từng nói rằng tất cả những gì ngài có thể làm là giảng dạy, chỉ dẫn chúng ta giáo pháp, con đường giải thoát khỏi khổ đau, và thế là nó tuỳ thuộc vào chúng ta đặt mình vào sự thực hành - Ngài đã rửa tay của Ngài đối với trách nhiệm ấy! Như đạo Phật đã dạy rằng không có đấng tạo hoá và rằng chúng ta tạo dựng mọi thứ cho chính chúng ta, vì thế chúng ta là đạo sư của chính chúng ta - trong giới hạn của luật nhân quả. Và đây là luật nghiệp báo dạy rằng nếu chúng ta làm việc lành chúng ta sẽ trải qua kết quả kinh nghiệm lành và nếu chúng ta làm việc xấu chúng ta sẽ phải trải qua những kinh nghiệm của bất hạnh, khổ đau.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Làm thế nào để phát triển nhẫn nhục?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Có rất nhiều phương pháp. Tri thức và tin tưởng vào luật nghiệp báo tự chinh nó sinh ra nhẫn nhục. Chúng ta nhận thức rằng, "điều khổ đau này tôi đang gánh chịu là lỗi lầm của tôi hoàn toàn, kết quả của những hành động của chính tôi tạo nên trong quá khứ. Vì rằng tôi không thể tránh khỏi nó tôi phải sống với nó. Tuy vậy, nếu tôi muốn tránh khổ đau trong tương lai tôi cũng có thể hành động bằng sự phát triển đạo đức như nhẫn nhục chẳng hạn. Tức tối hay giận dữ với khổ đau này sẽ chỉ tạo nên những nghiệp tiêu cực, nguyên nhân của bất hạnh tương lai". Đây là một cách thực hành nhẫn nhục.</p>
<p style="text-align: justify;">Một việc khác chúng ta có thể làm là thiền định trên sự khổ đau tự nhiên của thân thể: "Thân thể và tâm thức này là cơ sở của tất cả những khổ đau, nó là tự nhiên và không có cách nào trông mong rằng khổ đau ơi, đừng khởi lên." Loại nhận thức này hổ trợ rất hiệu quả cho việc phát triển nhẫn nhục.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta cũng có thể nhắc lại những gì đã nói trong “Hướng dẫn về đời sống của con đường Bố tát” (Bodhicaryavatara):</p>
<p style="text-align: justify;">Tại sao không vui vẻ với những gì<br />
Nếu nó có thể được cứu chữa?<br />
Và điều gì là thói quen của chúng sinh không vui vẻ về những gì<br />
Nếu nó không thể được cứu chửa?</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu có một phương pháp vượt thoát khổ đau hay một cơ hội để làm như thế, chúng không phải lo lắng. Nếu thật sự không có gì chúng ta có thể làm để thoát khổ, lo lắng không giúp được gì cả. Điều này thật đơn giản và rất rõ ràng.</p>
<p style="text-align: justify;">Những gì khác chúng ta có thể làm là suy tư sự bất lợi của tức giận và thuận lợi của thực hành nhẫn nhục. Chúng ta là những con người - một trong những phẩm chất hơn hẳn của chúng ta là khả năng suy nghĩ và phán đoán của chúng ta. Nếu chúng ta mất nhẫn nại và lại tức giận, chúng ta mất đi khả năng để thực hiện những phán xét cụ thể và vì thế mất đi một trong những công cụ hiệu lực nhất mà chúng ta có để giải quyết những vấn nạn: đấy là tuệ trí của con người. Đây là những gì mà thú vật không có. Nếu chúng ta mất đi nhẫn nhục, và lại cáu tức chúng ta đang làm tổn hại đến công cụ quý giá này. Chúng ta nên nhớ điều này; nó càng tốt hơn nhiều để có can đảm và quyết định và đối diện với khổ đau bằng nhẫn nhục.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Làm thế nào chúng ta có thể khiêm tốn hay bình thường trong khi cùng lúc hiện thực về những phẩm chất tốt đẹp mà chúng ta sở hữu?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Chúng ta phải phân biệt giữa sự tin tưởng vào những khả năng và tự hào của chúng ta. Chúng ta phải nên tin tưởng vào bất cứ những phẩm chất và khả năng thiện xảo mà chúng ta có và sử dụng chúng một cách quả cảm, can trường, nhưng chúng ta không nên có cảm xúc kiêu căng, ngạo mạn, tự mãn về chúng. Hiện hữu khiêm tốn hay bình thường không có nghĩa là cảm thấy hoàn toàn bất tài, kém cõi, và không tự lo liệu được. Sự khiêm tốn nhún nhường được phát triển như sự đối lập với tự kiêu, nhưng chúng ta nên sử dụng bất cứ những phẩm chất tốt đẹp nào mà chúng ta có đến sự trọn vẹn của nó.</p>
<p style="text-align: justify;">Một cách lý tưởng, chúng ta nên có một sự đáp ứng rộng rãi của lòng can trường, quả cảm và năng lực nhưng không phải là sự khoác lác, niềm kiêu hãnh hay làm một sự phô trương lớn về nó. Rồi thì, những khi cần, chúng ta nên vươn lên đến những trường hợp cụ thể và chiến đấu một cách dũng mảnh cho những gì đúng. Điều này là toàn hảo. Nếu chúng ta không có những phẩm chất tốt đẹp này mà lại khoác lác mọi nơi rằng chúng ta vĩ đại thế nào và trong khi cần thiết lại co đầu rút cổ lại một cách hoàn toàn, chúng ta chỉ là ngược lại. Người thứ nhất thì rất can đảm, quả cảm nhưng không tự hào; người kia thì rất tự kiêu nhưng không có can trường, dũng cảm.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>8- Thuần khiết trước những vết nhơ của sự mê tín, vướng mắc trên tám sự lưu tâm thế gian, nguyện cho tôi, bằng sự nhận thức tất cả những hiện tượng như ảo tưởng, được giải thoát khỏi sự trói buộc của vướng mắc, chấp trước.</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Đề mục này tương ứng với tuệ trí. Tất cả những thực hành trước không nên bị nhuốm bẩn bởi những vết nhơ của mê tín, vướng mắc đối với tám pháp thế gian (Bát phong: khổ - vui, được – mất, hơn – thua, khen – chê). Tám điều này có thể liên hệ như trắng, đen hay lẫn lộn. Chúng tôi nghĩ rằng nó sẽ hoàn hảo nếu chúng tôi giải thích đề mục này từ quan điểm của những sự thực hành được hoàn tất mà sự hiện hữu của chúng không bị nhuốm bẩn bởi nhận thức sai lạc của vưởng mắc đến sự tồn tại thật sự- sự mê tín, chấp trước của tám pháp thế gian.</p>
<p style="text-align: justify;">Làm thế nào một người có thể tránh bị nhuốm bẩn sự thực hành của mình trong cách này? Bằng sự nhận thức tất cả sự hiện hữu hay tồn tại như ảo tưởng và không liên hệ với sự tồn tại thật sự. Trong cách này, một người được giải thoát khỏi trói buộc của loại liên hệ hay bám víu này.</p>
<p style="text-align: justify;">Để giải thích ý nghĩa của "ảo tưởng" ở đây: sự tồn tại thật sự xuất hiện trong khía cạnh của nhiều đối tượng khác nhau, bất cứ nơi nào chúng là rõ ràng hiển nhiên, nhưng thực tế không có sự tồn tại thật sự ở đó. Sự tồn tại thật sự xuất hiện, nhưng không có gì- nó là một ảo tưởng. Mặc dù mọi thứ tồn tại xuất hiện như sự hiện hữu một cách thật sự, nó thì trống rỗng, một sự tồn tại trống rỗng. Thấy những đối tượng là trống rỗng của hiện hữu - rằng ngay cả sự tồn tại thật sự xuất hiện, không có gì, nó là ảo ảnh, hảo huyền, không thực có - một người phải nên định rõ sự hiểu biết về ý nghĩa của tính không: tính không xuất hiện rõ ràng, sự xuất hiện rõ ràng của tính không.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước nhất một người nên chắc chắn rằng tất cả mọi hiện tượng là trống không của sự tồn tại thật sự. Rồi thì về sau, khi mà có điều thuần tuý tự nhiên xuất hiện là tồn tại một cách thật sự, người ấy phản bác lại sự tồn tại thật sự bằng sự nhắc lại điều hiểu biết chắc chắn của mình trước đây là hoàn toàn vắng bóng của sự tồn tại thật sự. Khi chúng ta đặt hai điều này chung với nhau - sự hiện hữu của sự tồn tại thật sự và tính không của nó như kinh nghiệm trước đây - chúng ta khám phá sự ảo tưởng của mọi hiện tượng.</p>
<p style="text-align: justify;">Tại thời điểm này không cần một sự giải thích về phương thức những sự kiện xuất hiện như ảo tưởng tách rời với những điều vừa trình bày. Bài này chì giải thích đến sự thiền định trên tính không. Mật tông tantric giảng dạy như Guhyasamaja tantra, rằng điều gọi là ảo tưởng thì hoàn toàn riêng biệt; trong đề mục này. điều được gọi là ảo tưởng không phải được biểu hiện một cách riêng biệt. Vì vậy, sự tồn tại thật sự của điều hoàn toàn tự nhiên là đối tượng của sự phản bác và nên bị bẻ lại. Khi những sự kiện, sự vật xuất hiện dứơi phương thức ảo tưởng hưng khởi một cách gián tiếp: chúng dường như là tồn tại một cách thật sự nhưng chúng không như thế.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Làm thế nào những thứ không thể tìm thấy và tồn tại một cách đơn thuần bởi sự đổ vấy cho cơ chế vận hành?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Điều ấy thật khó khăn. Nếu chúng ta có thể nhận thức rằng chủ thể và hành động tồn tại bởi lý do của sự hiện hữu tùy thuộc hưng khởi, tính không sẽ xuất hiện trong sự tùy thuộc hưng khởi hay duyên khởi. Đây là điều khó khăn nhất để hiểu.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu chúng ta đã từng nhận thức rõ vô hữu thực hữu tồn tại, kinh nghiệm của đối tượng tồn tại nói lên chính nó. Rằng chúng tồn tại bởi tự nhiên bị bác bỏ một cách hợp lý (logic), và chúng ta có thể chắc chắn một cách hợp lý rằng những sự kiện không (tồn tại) - không có cách nào chúng có thể (tồn tại) – tồn tại một cách cố hữu. Tuy nhiên chúng hiện hữu một cách rõ rệt bởi vì chúng ta biết, thấy, cảm nhận, và kinh nghiệm chúng. Vậy thì chúng tồn tại như thế nào? Chúng tồn tại một cách đơn thuần bởi năng lực của danh xưng. Điều này không đang nói rằng chúng không tồn tại; nó chưa bao giờ nói rằng những sự kiện không tồn tại. Thế thì điều gì được nói là chúng tồn tại bởi năng lực của danh xưng. Đây là một điểm khó; những gì mà chúng ta có thể hiểu một cách chậm rãi, một cách chậm rãi qua kinh nghiệm.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước nhất chúng ta phải phân tích hoặc là những thứ tồn tại thực sự hay là không, thật sự có thể tìm thấy hay không: chúng ta không thể tìm thấy chúng. Nhưng nếu chúng ta nói rằng chúng thật không tồn tại gì cả, đây là một lỗi lầm, bởi vì chúng ta quả có kinh nghiệm về chúng. Chúng ta không thể chứng minh qua lý luận hợp lý (logic) rằng những sự kiện tồn tại một cách có thể tìm thấy, nhưng chúng ta quả biết qua kinh nghiệm rằng chúng tồn tại. Vì vậy, chúng ta có thể làm một kết luận rõ ràng rằng những thứ ấy quả tồn tại. Bây giờ, nếu những thứ ấy tồn tại chỉ có hai cách trong điều chúng có thể làm như thế: hoặc là từ căn bản của chính chúng hoặc là bởi dưới sự kiểm soát của những nhân tố khác, đấy là, hoàn toàn độc lập hoặc là một cách lệ thuộc. Vì lý luận hợp lý không thể chứng minh rằng những thứ ấy tồn tại một cách độc lập, thì chỉ còn cách là chúng có thể tồn tại một cách tùy thuộc.</p>
<p style="text-align: justify;">Trên điều gì làm những thứ ấy tùy thuộc cho sự tồn tại cuả chúng? Chúng tùy thuộc trên căn bản được gắn nhãn hiệu và sự tư duy những nhãn hiệu ấy. Nếu chúng có thể tìm thấy được khi truy tầm, chúng phải tồn tại bởi tính tự nhiên của chính chúng, và vì vậy Trung Quán Luận nói rằng, những thứ ấy không tồn tại bởi tinh tự nhiên của chính chúng, sẽ là sai. Tuy nhiên, chúng ta không thể tìm thấy những thứ ấy khi truy tầm chúng. Những gì chúng ta tìm thấy tồn tại dưới sự khống chế của những nhân tố khác, vì vậy điều được nói là tồn tại chỉ đơn thuần trong danh xưng. Từ ngữ “đơn thuần” ở đây chỉ cho biết là những thứ gì ấy đang bị cắt đứt: nhưng điều gì đang bị cắt đứt thì không phải là danh xưng, nó cũng không là điều có một ý nghĩa và là đối tượng của một tâm thức có căn cứ. Chúng ta không đang nói rằng không có ý nghĩa gì đến những thứ khác hơn là những danh xưng của chúng, hay là ý nghĩa không phải là danh xưng không là đối tượng của một tâm thức có sở cứ. Điều gì bị cắt đứt là điều mà nó tồn tại bởi những thứ khác hơn là năng lực của những danh xưng. Những thứ tồn tại đơn thuần bởi năng lực của danh xưng, nhưng chúng có ý nghĩa, và ý nghĩa ấy là đối tượng của một tâm thức có sở cứ. Nhưng tính tự nhiên của những thứ ấy là chúng tồn tại thường là bởi năng lực của danh xưng.</p>
<p style="text-align: justify;">Không có cách nào khác, chỉ là năng lực của danh xưng. Điều ấy không có nghĩa là bên cạnh danh xưng không có gì. Có sự kiện, có một ý nghĩa và có một danh xưng. Ý nghĩa là gì? Ý nghĩa cũng tồn tại đơn thuần trong danh xưng.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Tâm là những gì mà tồn tại một cách thật sự hay nó cũng chỉ là một ảo tưởng?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Nó cũng giống như thế. Theo trường phái Trung Quán Prasangika, quan điểm tối thượng, chính xác nhất, nó cũng giống như thế cho dù nó là một đối tượng bên ngoài hay là nhận thức bên trong hiểu rõ, thấy rõ, nhận thức thấu đáo nó: cả hai tồn tại bởi năng lực của danh xưng; không có thứ nào thật sự tồn tại. Tư duy tự nó tồn tại đơn thuần trong danh xưng; tính không, Phật, tốt, xấu, và trung tính cũng thế thôi. Mọi thứ tồn tại duy chỉ bởi năng lực của danh xưng.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi chúng ta nói “duy chỉ danh xưng” thì không có cách nào để hiểu nó có ý nghĩa gì khác hơn là nó cắt đứt những ý nghĩa mà những ý nghĩa không chỉ là danh xưng. Thí dụ, nếu chúng ta lấy một người thật sự và một người ảo tưởng, cả hai là giống nhau trong điều họ tồn tại chỉ đơn thuần là danh xưng, nhưng có một sự khác nhau giữa họ. Bất cứ điều gì tồn tại hay không tồn tại chỉ đơn thuần là nhãn hiệu gắn lên, nhưng trong danh xưng, có những thứ tồn tại và những thứ khác không tồn tại.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo trường phái Duy Tâm (hay duy thức) những hiện tượng bên ngoài xuất hiện vốn dĩ tồn tại, nhưng thực tế là sự tồn tại bên ngoài vốn dĩ trống không, trong khi ấy tâm là thật sự tồn tại (Thị chư thức chuyển biến, Phân biệt sở phân biệt, Do thử bỉ giai vô, Cố nhất thiết duy thức). Đến đây, chúng tôi nghĩ rằng điều này cũng đủ về giáo lý đạo Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Có phải “tâm” và “thức” là những thuật ngữ tương đương?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Có những sự phân biệt trong tiếng Tây Tạng, nhưng thật khó khăn để nói có hay không những từ ngữ tiếng Anh mang cùng ý nghĩa. “Tâm” (mind) liên hệ đến thức chính yếu (tâm vương) nó hầu như giống với “thức” ( bát thức-consciousness). Trong tiếng Tây Tạng, “tỉnh thức” (awareness) là thuật ngữ thông dụng nhất và được phân chia thành thức chính yếu (tâm vương) và những nhân tố tinh thần thứ yếu ( tâm sở), cả hai có những sự phân chia thêm nữa. Cũng thế, khi chúng ta nói về tỉnh thức thì có tỉnh thức của tinh thần và tỉnh thức của giác quan, và trước đây có nhiều sự phân chia thành những trình độ của thô và vi tế. Có hay không những từ ngữ tiếng Anh tương ứng với thuật ngữ Tây Tạng một cách chính xác … thì thật khó khăn để nói.</p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"><b>Đức Dalai Lama 14</b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Tuệ Uyển</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <a href="https://thuvienhoasen.org/p39a10846/7/tam-de-muc-chuyen-hoa-tam">Tám Đề Mục Chuyển Hóa Tâm</a></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tam-de-muc-chuyen-hoa-tam/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tám tiết thơ giúp tập luyện tâm thức</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tam-tiet-tho-giup-tap-luyen-tam-thuc/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tam-tiet-tho-giup-tap-luyen-tam-thuc/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 25 Jul 2023 01:38:20 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Gelug]]></category>
		<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Tài liệu tham khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=12509</guid>
		<description><![CDATA[Lời giới thiệu: Bài chuyển ngữ dưới đây trích từ một quyển sách của Đức Đạt-Lai Lạt-Ma mang tựa đề "Tâm Thức Giác Ngộ, Những lời khuyên Trí tuệ cho những con người ngày nay" (L'Esprit en Eveil, Conseils de Sagesse aux hommes d'aujourd'hui, nxb Presses du Chatelet, 2009. Phiên bản tiếng Anh: In My Own Words, nxb Hay House,&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tam-tiet-tho-giup-tap-luyen-tam-thuc/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Lời giới thiệu: Bài chuyển ngữ dưới đây trích từ một quyển sách của Đức Đạt-Lai Lạt-Ma mang tựa đề "Tâm Thức Giác Ngộ, Những lời khuyên Trí tuệ cho những con người ngày nay" (L'Esprit en Eveil, Conseils de Sagesse aux hommes d'aujourd'hui, nxb Presses du Chatelet, 2009. Phiên bản tiếng Anh: In My Own Words, nxb Hay House, 2008). Phần chuyển ngữ gồm toàn bộ một chương ngắn (chương 8, tr. 121-129) bình giảng một bài thơ gồm tám tiết bốn câu do một nhà sư Tây Tạng thuộc hậu bán thế kỷ XI và tiền bán thế kỷ XII trước tác nhằm vào việc luyện tập tâm thức cho một người tu tập Đạo Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">"Tám Tiết thơ giúp tập luyện Tâm thức" là tựa của một bài thơ ngắn do một nhà sư Tây Tạng là Guéshé Langri Tangpa (1054-1123) trước tác với chủ đích giúp phát huy tinh thần giác ngộ qua phép thiền định về hoán chuyển giữa ta và người khác, (một phép thiền định rất phổ thông của Phật giáo Tây Tạng: đó là cách tự nguyện xin được nhận về phần mình tất cả khổ đau của người khác, và trao lại cho họ tất cả những gì đạo hạnh của mình), và xem đấy là mục đích cao cả nhất trong cuộc sống của chính mình. Tôi được nghe giảng về các tiết thơ này từ thuở còn bé khi tôi còn ở Lhassa, và từ đấy mỗi ngày tôi đều đọc lên những tiết thơ ấy, đấy cũng là những gì thuộc vào sự tu tập hằng ngày của tôi. Những tiết thơ ấy như sau:</p>
<p style="text-align: justify;">"Tôi quyết tâm hành động bằng mọi cách để mang lại<br />
Sự an vui tuyệt vời cho tất cả chúng sinh,<br />
Sự tuyệt vời ấy vượt lên trên tất cả những thứ bùa phép mầu nhiệm nhất,<br />
Tôi xin được yêu thương chúng sinh với tất cả tâm hồn tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Mỗi khi tiếp xúc với họ,<br />
Tôi xin tự xem mình là người kém cỏi nhất,<br />
Và trong tận đáy lòng, tôi xin kính cẩn xem tất cả<br />
Đều là những con người tối thượng.</p>
<p style="text-align: justify;">Đối với từng hành động, tôi xin luôn dò xét<br />
Trong tận cùng tâm thức, nếu có một xúc cảm bấn loạn nào lóe lên,<br />
Có thể mang lại nguy hại cho người khác hoặc cho tôi,<br />
Thì tôi sẽ cương quyết chống lại hầu loại bỏ nó.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi xin yêu thương tất cả chúng sinh hung dữ,<br />
Những ai đã tạo ra những thảm họa nặng nề,<br />
Và những khổ đau mênh mông,<br />
Tôi xin yêu thương họ như vừa khám phá ra một gia tài vô giá.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì ganh ghét mà một số người ngược đãi tôi,<br />
Trút lên tôi những lời nhục mạ, vu khống và mọi điều tệ hại khác,<br />
Thì trước những thử thách ấy, tôi xin nhẫn nhục chịu đựng,<br />
Và hiến dâng cho họ tất cả sự vinh quang.</p>
<p style="text-align: justify;">Đối với những người vô cớ làm tôi bị thương tổn nặng nề,<br />
Dù tôi từng mang lại sự tốt lành cho họ và đặt hết lòng tin nơi họ,<br />
Thì tôi xin vẫn được xem họ<br />
Như những vị thầy tâm linh tốt nhất của tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Tóm lại tôi xin mang lại cho tất cả chúng sinh,<br />
Dù trực tiếp hay gián tiếp và không phân biệt một ai<br />
Mọi sự giúp đỡ và những niềm phúc hạnh của tôi,<br />
Và đổi lại, tôi xin gánh vác với tất cả sự kính cẩn<br />
Những bất hạnh và khổ đau của những người mẹ của tôi, (xem tất cả chúng sinh như những người mẹ của mình).</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi xin cố gắng giữ cho các phép tu tập ấy<br />
Không bị ô nhiễm bởi tám mối lo toan thế tục, (gồm có: lợi lộc, lạc thú, ngợi khen, vinh quang, danh vọng, thua thiệt, khổ đau, thất sủng, quở phạt) .<br />
Và khi đã thấu hiểu được thế nào là bản chất ảo giác của mọi hiện tượng,<br />
Thì khi ấy tôi cũng sẽ được giải thoát khỏi sự trói buộc của bám víu".</p>
<p style="text-align: justify;">Bảy tiết đầu tiên của bài "Tám tiết thơ giúp tập luyện tâm thức" đề cập đến chủ đề liên quan đến thể dạng giác ngộ quy ước (hay tương đối) của tâm thức mà thuật ngữ Phật giáo gọi là bồ-đề-tâm (bodhicita) tương đối. Tiết sau cùng nêu lên thật ngắn gọn thể dạng thứ hai của sự giác ngộ là bồ-đề-tâm tuyệt đối.</p>
<p style="text-align: justify;">Tiết thứ nhất của bài thơ mang ý nghĩa như sau: "Những ai đã quyết tâm mang lại sự an vui tối thượng cho tất cả chúng sinh, một sự an vui quý giá hơn cả viên bảo châu mầu nhiệm giúp thực hiện được mọi điều nguyện ước, tất nhiên sẽ phát nguyện như sau: xin cho tôi được mãi mãi yêu thương tất cả chúng sinh". Tiết thơ nêu lên sự tương kết giữa "tôi" và người khác. Thế nhưng trên thực tế sự tương kết đó có thật sự xảy ra hay không? Trong cuộc sống thường nhật, thật ra ta chỉ biết quan tâm - tất nhiên là với tất cả sự hăng say - đến cá nhân mình và quyền lợi của mình. Ta đặt lên trên hết sự tìm kiếm an vui hầu mang lại hạnh phúc và tránh khỏi khổ đau cho riêng mình. Đấy là mối bận tâm hàng đầu và trọng đại nhất so với tất cả những mối bận tâm khác, và đấy cũng là gánh nặng mà ta phải tự đảm trách cho mình. Trong khi đó, việc lo toan cho người khác thì ta lại đặt xuống hàng thứ yếu, không có gì đáng để quan tâm hoặc đấy là một thứ gì hoàn toàn vô nghĩa.</p>
<p style="text-align: justify;">Thực trạng đó phải được thay đổi, chúng ta phải gia tăng sự luyện tập tâm thức đến một mức độ có thể hoán đổi được việc xem sự an vui của chính mình là quan trọng hơn hết và đặt sự an vui của người khác xuống hàng thứ yếu. Chúng ta cần phải phát huy một sự kính trọng sâu xa và một mối quan tâm chân thật đến sự an vui của người khác và đồng thời không nên quan tâm quá đáng đến sự an vui của chính mình. Đấy là mục đích cần phải thực hiện. Muốn thành công ta phải luyện tập tâm thức mình thật chuyên cần, sự luyện tập đó dựa vào nhiều phương pháp khác nhau.</p>
<p style="text-align: justify;">Tiết thứ hai là: "Mỗi khi có dịp tiếp xúc với người khác, tôi xin tự xem mình là người kém cỏi hơn cả, và tất cả các người khác đều hàm chứa một giá trị tối thượng, sự quán nhận ấy xuất phát tự đáy tim tôi". Tất nhiên là cách cư xử khiêm tốn nêu lên trong tiết thơ trên đây trái ngược lại với thái độ trịch thượng mà ta thường có khi phóng nhìn vào người khác. Vì thế ta nên thay đổi thái độ đó và phải kính trọng tất cả chúng sinh, xem tất cả chúng sinh đều là anh chị em của mình và riêng mình thì phải là người thấp kém nhất khi so sánh với họ. Ta phải biết yêu thương họ và mang thân xác, tâm thức cũng như toàn diện con người của ta để hướng vào mục đích mang lại sự an vui cho tất cả chúng sinh mà chính chúng ta đã đặt họ lên hàng tối thượng.</p>
<p style="text-align: justify;">Tiết thứ ba là: "Đối với từng hành động, tôi xin luôn canh chừng từ trong tận cùng của tâm thức tôi, nếu thấy có một sự hiềm khích hay méo mó nào xảy ra có thể mang lại nguy hại cho người khác và cho tôi, thì tôi sẽ cương quyết đương đầu ngay hầu loại bỏ nó". Chỉ khi nào biết thương yêu người khác và tự đặt mình vào một vị thế khiêm tốn, thì khi đó chúng ta mới có thể nhận thấy được những gì lệch lạc sẵn có trong tâm thức của mình từ trước, chẳng hạn như thái độ tâm thần lầm lạc tự cho mình là quan trọng hơn hết, hoặc các quan điểm sai lầm về bản chất thật sự của chính mình. Tiết thơ thứ ba nêu lên các sự lệch lạc ấy nhằm khuyên chúng ta phải canh chừng ngay từ bên trong tâm thức để ngăn chặn không cho các cách hành xử lầm lẫn như thế có thể xảy ra. Khi chúng vừa lóe lên thì ta phải kiểm soát ngay tâm ý của mình, tương tự như ta phải canh chừng an ninh cho một ngôi nhà. Sự canh chừng đó phải thật cẩn trọng và cảnh giác, sự cẩn trọng và cảnh giác ấy có thể so sánh với hai người lính cảnh sát của nội tâm. Khi tâm thức đã được canh giữ cẩn thận thì ta sẽ không còn cần đến sự kiểm soát của bất cứ một người cảnh sát nào ở bên ngoài, vì trong trường hợp đó đương nhiên ta sẽ không phạm vào các hành động thiếu đạo hạnh và độc hại. Thế nhưng nếu không có hai người cảnh sát bên trong - tức sự cẩn trọng và cảnh giác - canh giữ, thì dù cho hùng mạnh đến đâu các lực lượng cảnh sát bên ngoài cũng khó mà kiểm soát được một tình trạng hung bạo khi nó đã bùng nổ ra. Thật cũng không đến đỗi quá khó để nhận thấy điều ấy, sự can thiệp của cảnh sát nào mấy khi hiệu quả trước những thảm cảnh do khủng bố gây ra.</p>
<p style="text-align: justify;">Tiết thứ tư là: "Mỗi khi trông thấy các chúng sinh hung ác phải gánh chịu sức mạnh nghiền nát của những hành động hung bạo và sai lầm, thì tôi xin được xem họ như những gì trân quý nhất, tương tự như tôi vừa khám phá ra một kho tàng". Nội dung của tiết thơ nêu lên trường hợp những kẻ ghê tởm nhất, chẳng hạn như những kẻ ăn thịt người hay những kẻ thật tồi tệ. Mặc dù không hề có ý định làm hại họ, thế nhưng thói thường chúng ta vẫn tìm cách tránh né họ và quay ra hướng khác để tránh mọi sự giao tiếp với họ. Thế nhưng thật ra ta không nên giữ thái độ như thế. Những gì mà chúng ta cần phải tập là yêu thương họ, dù cho họ đang hiện diện trước mặt ta hay không cũng thế. Chúng ta phải cố gắng tập luyện như thế nào để mỗi khi gặp họ ta sẽ không thốt lên: "Thật khổ! Lại phải làm một cái gì đây để giúp họ!", hoặc: "Lại thêm một gánh nặng nữa, một sự khổ nhọc nữa phải gánh vác!". Thay vì phản ứng như vậy khi gặp họ, thì ta nên tìm thấy niềm hân hoan như vừa khám phá ra một viên bảo châu quý giá, một kho tàng hay một cái gì đó thật tuyệt vời, phải xem đấy là một cơ hội hiếm hoi mang lại cho ta dịp may để giúp đỡ họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Tiết thứ năm là: "Khi người khác trút lên đầu tôi mọi sự giận dữ, nguyền rủa tôi, vu khống tôi, hoặc mang lại mọi thứ tệ hại khác cho tôi, thì xin cho tôi đủ sức gánh chịu mọi sự thua thiệt và hiến dâng cho họ sự vinh quang". Thật hết sức quan trọng phải giữ một thái độ rộng mở và thiết tha yêu thương người khác. Tuy nhiên hơn thế nữa việc tu tập còn đòi hỏi chúng ta nhất thiết phải giữ thái độ ấy đối với những ai vì một lý do nào đó muốn làm hại ta, dù đấy là trường hợp họ bị khích động bởi sự giận dữ thúc đẩy họ thực thi những ý đồ lắt léo nhằm mục đích cố tình làm thương tổn đến ta, hay đấy là trường hợp mà họ chỉ mang những ý định ấy trong đầu cũng vậy. Trong các trường hợp như thế, ta phải xem họ như những gì vô cùng quý giá. Thái độ mà ta phải giữ đối với những người khi mà sự ác ý của họ chuyển thành hành động chống lại ta, là phải chấp nhận sự thua thiệt và mất mát về phần mình và nhường cho họ sự chiến thắng. Đấy là ý nghĩa của tiết thơ trên đây.</p>
<p style="text-align: justify;">Tiết thứ sáu là: "Đối với một người mà tôi hằng mang lại điều tốt cho họ, thế nhưng họ lại đối xử tồi tệ với tôi, thì xin cho tôi được xem người ấy như một vị đạo sư tối thượng". Tất nhiên trong số trùng trùng điệp điệp chúng sinh, luôn luôn có một số nào đó mà ta phải miễn cưỡng giúp đỡ họ, hoặc phải cố gắng tỏ ra thật tốt đối với họ - đấy là một thái độ cao cả và thích đáng. Thói thường người được giúp đỡ phải tỏ ra biết ơn và phải có một vài cử chỉ nào đó trước lòng tốt của ta. Thế nhưng cũng có trường hợp mà người được ta giúp đỡ lại đối xử một cách quá thấp kém không xứng đáng với hành động của ta. Trường hợp đó khiến cho ta cảm thấy bị tổn thương và bị đối xử tệ bạc. Vậy một người đang tu tập cách hành xử trong cuộc sống hay nói cách khác là một vị bồ-tát, thì phải phản ứng ra sao? Tất nhiên là phải đối xử với người ấy như là một vị đạo sư hướng dẫn tâm linh cho mình, và xem đấy là một dịp may vô cùng quý giá được gặp một người như thế để yêu mến họ, bởi vì chính họ đã mang lại một cơ hội hiếm hoi để giúp mình luyện tập sự kiên nhẫn và lòng bao dung. Đấy là thể dạng tâm thức mà người bồ-tát phải tập luyện.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đây chúng ta xét đến nội dung của tiết thứ bảy, đấy là: "Tóm lại, tôi xin được trực tiếp hay gián tiếp mang lại sự tốt lành và tình thương cho tất cả những người mẹ của tôi; tôi xin được kín đáo nhận chịu về phần tôi tất cả những bất hạnh và khổ đau của những người mẹ ấy". Trường hợp này vẫn còn thuộc vào cấp bậc giác ngộ tương đối của tâm thức. Nếu muốn cho cách hành xử tốt đẹp đó, tức là yêu thương người khác hơn cả chính mình, được phát huy thật cao độ và nhiệt tình, thì nó phải được thoát ra từ cội nguồn của lòng từ bi. Từ bi là một phản ứng của tâm thức khi nó không thể chịu đựng nổi trước những cảnh khổ đau của người khác và phát lộ những ước nguyện mãnh liệt cầu mong sao cho họ tìm được sự giải thoát trước những khổ đau ấy. Tất nhiên một mặt chúng ta phải biết lo lắng sâu xa khi nghĩ đến những cảnh thống khổ của người khác, thế nhưng một mặt khác thì chúng ta cũng phải biết mở rộng lòng mình cho niềm hân hoan tràn ngập, khi chúng ta nhìn thấy những cảnh hạnh phúc và an vui của người khác, và đấy cũng là một cách phát lộ lòng tốt và tình thương của mình. Cả hai thái độ ấy - tức lòng từ bi và sự hân hoan phát sinh từ tình thương chân thật - là cội nguồn giúp cho yêu thương bám rễ, và sự yêu thương đó sẽ thúc đẩy chúng ta nên nghĩ đến người khác hơn là chính mình. Đấy cũng là nguyên tắc căn bản trong phép luyện tập gọi là tonglen (tức là cách hiến dâng và nhận lãnh) mà tiết thơ trên đây đã nêu lên.</p>
<p style="text-align: justify;">Thật ra trên thực tế, sự kiện hoán chuyển hạnh phúc của mình cho người khác và ngược lại xin nhận chịu khổ đau của họ chỉ có thể xảy ra được trong một số trường hợp thật hiếm hoi: tức là chỉ có thể thực hiện được khi nào giữa ta và người ấy đã từng có một sự liên hệ và tương quan nghiệp lực thật đặc biệt nào đó từ các kiếp trước. Chỉ trong các trường hợp như thế thì sự hoán chuyển khổ đau của người khác sang cho cho mình may ra mới có thể xảy ra được, trên thực tế thì chuyện ấy rất khó thực hiện. Thế nhưng tại sao lại khuyến khích mọi người nên tập luyện theo phép tu tập ấy? Bởi vì đấy là một phương pháp giúp đạt được một cá tính cực mạnh, một lòng quả cảm vô song và một sự nhiệt tình sâu đậm; những phẩm tính ấy sẽ giúp cho sự tu tập của mình thăng tiến nhanh hơn trên đường đưa đến giác ngộ tâm linh.</p>
<p style="text-align: justify;">Tiết thứ tám và cũng là tiết cuối cùng mang ý nghĩa như sau: "Cầu xin cho sự tu tập của tôi tránh được mọi sự ô nhiễm của tám mối lo toan thế tục. Vì quán nhận được tất cả các dharma tức là các thành phần cấu hợp tạo ra mọi hiện tượng đều là ảo giác, nên tôi cầu xin loại bỏ được chúng hầu giải thoát cho tôi ra khỏi sự trói buộc của các chu kỳ hiện hữu". Ý nghĩa nêu lên trong tiết thơ thứ tám là sự giác ngộ tuyệt đối của tâm thức. Trong khi các tiết khác chỉ nhắm vào các phương tiện tu tập, thì tiết thứ tám lại hướng trực tiếp vào con đường giác ngộ tâm linh.</p>
<p style="text-align: justify;">Phát huy tâm thức hướng vào mục đích yêu thương người khác hơn cả chính mình đôi khi cũng cho thấy một sự nguy hiểm nào đó, bởi vì chúng ta từng bị chi phối từ quá lâu đời bởi những lệch lạc tâm thần thường phát sinh khi tu tập Đạo Pháp. Vì muốn được nhiều người biết đến nên đôi khi ta cũng có thể rơi vào sự thèm khát uy danh do phép tu tập vì lòng vị tha mang lại; hoặc biết đâu từ trong thâm tâm ta cũng mong đợi một cách kín đáo những người được hưởng các thành quả tu tập của ta sẽ mang tặng ta những món quà hồi đáp. Hoặc giả ta cũng có thể thốt lên: "Chính thế! Tôi đây là một người tu hành, một người tu tập Đạo Pháp!". Đó là những gì có thể mang lại cho ta những cảm tính kiêu hãnh để tự thấy mình cao hơn và chính mình là người ban ơn cho kẻ khác. Tất cả những sự méo mó tâm thần đó và các thái độ do chúng làm phát sinh có thể xảy ra với chúng ta bất cứ lúc nào. Vì thế việc tu tập mang lại giác ngộ cho tâm thức cũng có thể trở nên nguy hiểm, do đó chúng ta phải thật thận trọng không để vướng vào những gì mà người ta gọi là "tám mối lo toan của thế tục" (còn gọi là "tám dharma thế tục") (có thể xem thêm bài viết "Khái niệm về tám mối lo toan thế tục" của Hoang Phong trên các mạng Thư Viện Hoa Sen, Quảng Đức,...), trong số các mối lo toan đó có thể kể ra: hy vọng được vinh quang, hy vọng được ngợi khen, hy vọng được thích thú, hy vọng được lợi lộc... Nhất định phải loại bỏ hoàn toàn những thứ lệch lạc ấy ra khỏi việc tu tập Đạo Pháp của mình. Phải giữ cho sự tu tập được tinh khiết, tức là phải hoàn toàn quên mình và đặt người khác lên trên mọi sự ngờ vực. Đấy là một điều vô cùng quan trọng.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Vài lời lạm bàn của người dịch</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Đức Đạt-Lai Lạt-Ma viết và thuyết giảng theo nhiều cấp bậc khác nhau nhằm mục đích thích nghi với quảng đại người đọc và người nghe. Quyển sách trên đây thuộc vào một cấp bậc khá đại cương, thế nhưng cũng vô cùng sâu sắc. Bài thơ của nhà sư Guéshé Langri Tangpa trên đây có thể xem như một bài kinh ngắn, và những lời bình giảng của Đức Đạt-Lai Lạt-Ma tuy ngắn gọn, dễ hiểu nhưng thật ra rất thâm sâu và uyên bác, thế nhưng thiết nghĩ một vài lời ghi chú thêm về một vài chi tiết biết đâu cũng có thể giúp cho người đọc dễ theo dõi hơn nữa về bài thơ cũng như phần bình giải của Đức Đạt-Lai Lạt-Ma. Các lời ghi chú này gồm trong ba chủ đề: thứ nhất là tính cách thiết thực của việc tu tập do bài thơ nêu lên, thứ hai là sự kiện nêu lên trong tiết thơ thứ bảy cho rằng tất cả chúng sinh đều là những người mẹ của mình, thứ ba là khái niệm về sự giác ngộ tuyệt đối nêu lên trong tiết thơ thứ tám thay cho phần kết luận của toàn bộ bài thơ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Tính cách thiết thực của bài thơ</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Mở đầu cho phần thuyết giảng Đức Đạt-Lai Lạt-Ma cho biết là nội dung của bảy tiết thơ đầu tiên thuộc lãnh vực của sự giác ngộ quy ước còn gọi là bồ-đề-tâm tương đối. Vậy sự giác ngộ hay bồ-đề-tâm quy ước là gì?</p>
<p style="text-align: justify;">Đó là những lời nguyện ước và các cách hành xử của một người bồ-tát. Vì thế trong mỗi tiết thơ chúng ta đều nhận thấy trước hết là sự nguyện ước, sau đó là hành động:</p>
<p style="text-align: justify;">- tiết thứ nhất: quyết tâm thực hiện sự an vui cho tất cả chúng sinh - tôi xin yêu thương tất cả họ.</p>
<p style="text-align: justify;">- tiết thứ hai: xin được làm người khiêm tốn nhất - xem tất cả các chúng sinh khác đều cao hơn mình.</p>
<p style="text-align: justify;">- tiết thứ ba: nguyện canh chừng từng xúc cảm bấn loạn - cương quyết đương đầu và loại bỏ các xúc cảm ấy.</p>
<p style="text-align: justify;">- tiết thứ tư: xin hội đủ nghị lực để yêu thương những người hung ác - xem họ như một gia tài quý báu khôn lường.</p>
<p style="text-align: justify;">- tiết thứ năm: xin nhẫn nhục chịu đựng sự ngược đãi của những người hung ác - hiến dâng cho họ sự vinh quang.</p>
<p style="text-align: justify;">- tiết thứ sáu: nguyện rằng nếu những người mà mình hằng giúp đỡ làm thương tổn đến mình - thì sẽ xem họ như những vị thầy tốt nhất.</p>
<p style="text-align: justify;">- tiết thứ bảy: nguyện hiến dâng hạnh phúc của riêng mình cho tất cả các người mẹ - xin gánh chịu tất cả khổ đau của họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Các quyết tâm và các cách hành xử trên đây là những phương tiện thiện xảo (upaya) giúp các người tu tập và các vị bồ-tát thăng tiến trên đường giác ngộ. Các phương tiện thiện xảo đó cũng có thể xem như những phương thuốc hóa giải giúp cho một cá thể khống chế cái tôi của mình. Thật vậy đối với một người tu tập, cái tôi luôn luôn là một trở ngại to lớn nhất và kiên cố nhất. Chẳng những "cái tôi" là một bức tường vững chắc ngăn chặn con đường hướng về giác ngộ mà còn là một yếu tố tâm thần gây ra mọi thứ xúc cảm bấn loạn trong tâm thức và cũng là nguyên nhân chính yếu nhất trói buộc một cá thể trong chu kỳ bất tận của luân hồi. Một cách vắn tắt, bảy tiết thơ đầu tiên là những liều thuốc hóa giải giúp cho người tu tập quên mình để phát động lòng từ bi hướng vào người khác, hầu vượt lên trên cái ngã của mình. Tuy nhiên liều thuốc nêu lên trong tiết thơ thứ bảy có vẻ là một liều thuốc mạnh hơn hết, đó là cách tập cho mình nhìn vào tất cả chúng sinh và xem họ là những người mẹ của mình. Vậy ý nghĩa thật sự của tiết thơ này ra sao?</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Xem tất cả chúng sinh đều là những người mẹ của mình</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Nội dung của toàn bài thơ được dựa trên nguyên tắc của phép tu tập gọi là "phép hoán chuyển giữa ta và người khác" (tonglen), thế nhưng ý nghĩa của tiết thơ thứ bảy biểu trưng rõ rệt và trực tiếp nhất cho nguyên tắc đó: tức nhận chịu mọi khổ đau của người khác và hiến dâng cho họ tất cả hạnh phúc của mình. Người khác ở đây có nghĩa là tất cả chúng sinh và đấy cũng là tất cả những người mẹ của mình, gồm người mẹ trong kiếp sống này và tất cả những người mẹ của mình trong muôn ngàn kiếp trước. Những người mẹ ấy tất nhiên đã tái sinh và biết đâu họ là những chúng sinh đang sống bên cạnh chúng ta hôm nay, hoặc đang hiện hữu khắp nơi trong thế giới này. Chúng ta phải cư xử với họ như những người mẹ của mình. Do đó thiết nghĩ cũng nên mở thêm một dấu ngoặc ở đây để nghĩ rằng Vu Lan không nhất thiết là một dịp lễ để chúng ta cầu an hay cầu siêu cho một người mẹ, mà đúng hơn là một dịp để mỗi chúng ta hồi hướng tất cả công đức và hiến dâng hạnh phúc của mình cho tất cả những người mẹ trong ba ngàn thế giới thế giới, đã từng sinh ra mình trong quá khứ và sẽ còn sinh ra mình trong tương lai. Các chữ "trực tiếp" trong tiết thơ thứ bảy là có ý nói đến người mẹ của mình trong kiếp sống này, và chữ "gián tiếp" là để chỉ tất cả những người mẹ của mình trong quá khứ xuyên qua hình tướng của những chúng sinh khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Phép tu tập "hoán chuyển giữa ta và người khác" nêu lên trong tiết thơ thứ bảy là do Tịch Thiên (thế kỷ thứ VIII) đề nghị trong tập Nhập Bồ-đề Hành luận (Bodhicaryavatara) và cũng biểu trưng cho liều thuốc hóa giải mạnh nhất để chống lại cái tôi hay cái ngã. Tuy nhiên Đức Đạt-Lai Lạt-Ma cũng nhắc cho chúng ta biết nội dung của tiết thơ thứ bảy vẫn còn thuộc vào lãnh vực của bồ-đề-tâm tương đối. Vậy bồ-đề-tâm tuyệt đối là gì và phần kết luận trong tiết thơ thứ tám muốn nói lên điều gì?</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Khái niệm về Bồ-đề-tâm</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Bồ-đề-tâm tiếng Phạn là Bodhicitta, bodhi có nghĩa là tỉnh thức, tỉnh giác hay giác ngộ, citta là tâm trí, tâm thức... Sở dĩ mạn phép dài dòng như trên đây vì nguyên gốc Hán ngữ của chữ tâm có nghĩa là tim, thế nhưng chữ tâm trong thuật ngữ bồ-đề-tâm lại có nghĩa là lý trí hay trí tuệ và không tượng trưng cho một thể dạng xúc cảm nào cả. Bồ-đề-tâm do đó có nghĩa là "Tâm thức giác ngộ", "Tinh thần giác ngộ" hay "Tư duy giác ngộ"... Bồ-đề-tâm là một khái niệm xác định vị trí, lý tưởng, hành động và sự giác ngộ của một người bồ-tát, do đó bồ-đề-tâm được xem là khái niệm căn bản nhất của Phật giáo Đại thừa nói chung và của Phật giáo Tây Tạng nói riêng. Bồ-đề-tâm gồm có hai thể dạng khác nhau là bồ-đề-tâm tương đối và bồ-đề-tâm tuyệt đối, mà Đức Đạt-Lai Lạt-Ma còn gọi một cách khác là sự giác ngộ quy ước và sự giác ngộ tuyệt đối. Một cách tổng quát Bồ-đề-tâm tương đối biểu trưng cho lòng từ bi và bồ-đề-tâm tuyệt đối biểu trưng cho sự Giác ngộ hay Trí tuệ.</p>
<p style="text-align: justify;">Bồ-đề-tâm tương đối (samvrtibodhicitta) gồm có hai thể dạng là bồ-đề-tâm ước vọng tức là sự biểu lộ ước nguyện của người bồ-tát ước mong đạt được giác ngộ vì lợi ích của chúng sinh, và bồ-đề-tâm thực hiện tức là hành động của người bồ-tát. Hai thể dạng ấy được thể hiện trong bảy tiết đầu tiên của bài thơ.</p>
<p style="text-align: justify;">Bồ đề tâm tuyệt đối (paramarthabodhicitta) là sự quán nhận hai thứ tánh không (sunyata) cùng một lúc: tánh không của một "cái tôi cá thể" và "bản chất vô thực thể" tức ảo giác của mọi hiện tượng, và cũng thật tuyệt vời vì tuy rằng tất cả đều là trống không thế nhưng bồ-đề-tâm tuyệt đối vẫn hàm chứa một sức mạnh quán thấy được Phật tính nơi mỗi chúng sinh. Nói cách khác bồ-đề-tâm-tuyệt đối là khả năng cảm nhận thật sâu xa bản thể "như lai" (tathata - ainsité, suchness) của hiện thực. Đấy là ý nghĩa biểu trưng cho sự Giác ngộ và Giải thoát nêu lên trong tiết thơ thứ tám thay cho phần kết luận.</p>
<p style="text-align: justify;">Tóm lại khi nào chúng ta chưa đủ sức chuyển động chung với vô thường, hòa nhập với bản chất vô thực thể của vũ trụ và nhìn thấy Phật tính trong nơi sâu kín của mỗi chúng sinh thì khi ấy chúng ta vẫn còn là kẻ tôi đòi của sự bám víu và nô lệ cho cái tôi đang chỉ huy từ bên trong tâm thức của chính mình.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Dalai Lama 14</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch Hoang Phong</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Bures-Sur-Yvette, 29.07.11</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <a href="https://thuvienhoasen.org/p39a12552/7/tam-tiet-tho-giup-tap-luyen-tam-thuc">Tám Tiết Thơ Giúp Tập Luyện Tâm Thức</a></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tam-tiet-tho-giup-tap-luyen-tam-thuc/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tăng tiến tín tâm vào tính Phật của chúng ta</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tang-tien-tin-tam-vao-tinh-phat-cua-chung-ta/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tang-tien-tin-tam-vao-tinh-phat-cua-chung-ta/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 17 Apr 2023 11:38:06 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Gelug]]></category>
		<category><![CDATA[Tài liệu tham khảo]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=12229</guid>
		<description><![CDATA[Hỏi: Xin Ngài cho biết cách thức tốt nhất để tăng tiến tín tâm vào Tính Phật của chúng ta ? Đáp: Căn cứ trên khái niệm về Tính không nghĩa là Quang Minh khách thể, và cũng căn cứ khái niệm về Quang Minh chủ thể, chúng ta cố gắng phát triển một sự lí hội thông hiểu sâu&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tang-tien-tin-tam-vao-tinh-phat-cua-chung-ta/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Hỏi: Xin Ngài cho biết cách thức tốt nhất để tăng tiến tín tâm vào Tính Phật của chúng ta ?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Căn cứ trên khái niệm về Tính không nghĩa là Quang Minh khách thể, và cũng căn cứ khái niệm về Quang Minh chủ thể, chúng ta cố gắng phát triển một sự lí hội thông hiểu sâu sắc hơn về Tính Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi nghĩ chuyện này không dễ, nhưng xuyên qua tự tìm hiểu tường tận cả hai, về phương diện trí tuệ và xuyên qua cảm ứng với những cảm thọ hàng ngày của chúng ta, chúng ta có một cách thức để phát triển một loại trải nghiệm hoặc cảm thọ sâu sắc hơn vềTính Phật.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Tâm quang minh giác chiếu.</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Bài 2. Bản chất của tâm</p>
<p style="text-align: justify;">Bản chất chân không diệu viên và quang minh giác chiếu là cái chúng ta gọi là ‘quang sắc giác chiếu’ ( Skt. prabhasvara;‘clear light; quang sắc giác chiếu; thường tịch quang; quang minh thanh tịnh; tịnh quang); nó là quang minh giác chiếu rỗng thông mở ra các khả hữu cho các hiển hiện và, ở mức độ của tâm thanh tịnh, là quang minh giác chiếu trong chính nó và của chính nó; và đó là lí do tại sao chúng ta gọi nó là tính giác tự chiếu, linh tâm tự chiếu, nhất điểm linh quang, hoặc tính tràn đầy sáng tỏ chiếu khắp ( self-luminous cognition or clarity).</p>
<p style="text-align: justify;">The open and luminous nature of mind is what we call the ‘clear light’; it is an open clarity that, at the level of pure mind is aware in and of itself; that is why we call it self-luminous cognition or clarity.</p>
<p style="text-align: justify;">[Cognition; Skt. jnana, trí tuệ bát nhã; Skt. buddhi, giác ] [ĐHP: linh tâm tự chiếu; nhất điểm linh quang]
<p style="text-align: justify;">Không có một tỉ dụ nào thích hợp thực sự để minh họa tính quang minh giác chiếu này ở mức độ thanh tịnh. Nhưng ở mức độ bình thường, chúng ta có thể liên tưởng dễ dàng hơn, chúng ta có thể có được một thoáng nhìn thấy vài phương diện của nó bằng sự hiểu biết sáng tỏ một trong những hiển hiện của tâm -- trạng thái chiêm bao. Chúng ta hãy nói đó là một đêm tối, và trong bóng tối toàn thể này chúng ta đang chiêm bao, hoặc đang trải nghiệm một thế giới chiêm bao. Hư không tâm ý nơi mà chiêm bao xảy ra -- độc lập với nơi chốn vật lí nơi chúng ta đang ở -- có thể được so sánh với tính chân không diệu viên, rỗng thông mở ra các khả hữu cho các hiển hiện của tâm, trong khi đó khả năng của tâm cho trải nghiệm, mặc dù bóng tối bên ngoài, tương ứng với tính quang minh giác chiếu của nó.</p>
<p style="text-align: justify;">Tính giác quang chiếu này ôm trọn, viên dung tất cả nhận thức của tâm và là tính quang minh giác chiếu bản nhiên trong những trải nghiệm này.</p>
<p style="text-align: justify;">(This lucidity encompasses all mind’s knowledge and is the clarity inherent in these experiences )</p>
<p style="text-align: justify;">Nó cũng là tính giác quang chiếu của cái gì hoặc ai đang trải nghiệm chúng; chủ thể nhận biết là tính giác quang chiếu và cái được biết là tính giác cảnh chiếu chỉ là hai phương diện của cùng một tính đức.</p>
<p style="text-align: justify;">(It is also the ludicity of what or who experiences them; knower and known, lucidity and luminosity are but two facets of the same quality).</p>
<p style="text-align: justify;">Trong trạng thái viên minh giác chiếu (intelligence), đang trải nghiệm chiêm bao, nó là tính giác quang chiếu, và trong trạng thái quang minh giác chiếu hiện diện trong những trải nghiệm của nó, nó là tính giác cảnh chiếu</p>
<p style="text-align: justify;">(As the intelligence that experiences the dream, it is lucidity, and as the clarity present in its experiences, it is luminosity)</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng ở mức độ bất nhị của tâm thanh tịnh, nó là một và cùng một tính đức, ‘quang minh giác chiếu’, được gọi là ‘prabhasvara’ trong Phạn ngữ, hoặc ‘selwa’ trong Tạng ngữ. Tỉ dụ này có thể hữu ích trong sự hiểu biết sáng tỏ, nhưng hãy ghi nhớ trong tâm rằng nó chỉ là một minh họa để chỉ vào mức độ tập quán của một hiển hiện đặc thù của tính quang minh giác chiếu.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong tỉ dụ, có một sự khác biệt giữa tính giác quang chiếu của chủ thể nhận thức, và tính giác cảnh chiếu của những trải nghiệm của chủ thể đó. Đó là bởi vì chiêm bao là một trải nghiệm nhị nguyên đối đãi, được phân biệt trong thuật ngữ của chủ thể và khách thể, trong đó tính quang minh giác chiếu hiển hiện chính nó tức thời trong tính nhận biết sáng tỏ (awareness; tính giác chiếu) hoặc tính giác quang chiếu của chủ thể và trong tính giác cảnh chiếu của những đối tượng của nó.</p>
<p style="text-align: justify;">Thật ra, tỉ dụ thì bị hạn hẹp, bởi vì, về căn bản không có nhị nguyên đối đãi trong những tâm thanh tịnh: tính bất nhị cũng là tính đức của tính quang minh giác chiếu, có bản chất căn bản là bất nhị.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Dalai Lama 14</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Đặng Hữu Phúc</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <a href="https://thuvienhoasen.org/p39a15289/7/tang-tien-tin-tam-vao-tinh-phat-cua-chung-ta">Tăng Tiến Tín Tâm Vào Tính Phật Của Chúng Ta</a></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tang-tien-tin-tam-vao-tinh-phat-cua-chung-ta/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Thực hành Cho và Nhận mỗi ngày</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/thuc-hanh-cho-va-nhan-moi-ngay/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/thuc-hanh-cho-va-nhan-moi-ngay/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 08 Feb 2023 08:38:46 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Gelug]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=12025</guid>
		<description><![CDATA[Vào buổi chiều sau khóa giảng của Đức Đạt Lai Lạt Ma, chúng tôi đi uống trà với Geshe của một trung tâm của chúng tôi cùng vài đệ tử của vị này. Geshe-la nài nỉ tôi cho trung tâm một lời khuyên hay nhất, và chúng tôi trò chuyện chút ít về những khó khăn. Tôi nói rằng ta&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/thuc-hanh-cho-va-nhan-moi-ngay/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Vào buổi chiều sau khóa giảng của Đức Đạt Lai Lạt Ma, chúng tôi đi uống trà với Geshe của một trung tâm của chúng tôi cùng vài đệ tử của vị này. Geshe-la nài nỉ tôi cho trung tâm một lời khuyên hay nhất, và chúng tôi trò chuyện chút ít về những khó khăn. Tôi nói rằng ta cần có một trái tim rộng mở. Có những quan điểm khác nhau, vì thế hãy đưa ra những quan điểm lợi lạc hơn. Giống như một con đường bị những hòn đá ngăn trở, trước hết bạn phải nhận ra các chướng ngại để có thể dọn sạch chúng.</p>
<p style="text-align: justify;">Một bà ngồi cạnh tôi bị đau ở quai hàm vì thế bà hỏi tôi làm cách nào xử sự với cái đau đó. Tôi nói với bà rằng điều hết sức quan trọng là đọc lời cầu nguyện này mỗi ngày:</p>
<p><span style="font-weight: 400;">Khi bạn hạnh phúc, hãy nghĩ:</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">“Nguyện cho tất cả chúng sinh được hạnh phúc và an lành”.</span></p>
<p style="text-align: justify;">Khi bạn đau khổ, có những vấn đề, mắc bệnh ung thư, bệnh aids, rắc rối trong mối quan hệ, bất kỳ điều gì, hãy nghĩ:</p>
<p style="text-align: justify;">“Nguyện đại dương khổ đau sinh tử của tất cả chúng sinh khô cạn".</p>
<p style="text-align: justify;">Lý tưởng nhất là mỗi ngày bạn hãy thỉnh thoảng thực hành pháp tonglen (pháp cho và nhận, hoán đổi ta và người). Đặc biệt là mỗi khi bạn thực hành việc nhận lĩnh những đau khổ, bạn sẽ tích tập công đức bao la như bầu trời, bởi bạn đang nhận những khổ đau của vô số chúng sinh và tịnh hóa ác nghiệp không chỉ của đời này mà cả ác nghiệp của những đời quá khứ nữa. Vì thế khi bạn phát triển lòng bi mẫn mãnh liệt đối với thú vật hay con người thì ác nghiệp trong nhiều kiếp của bạn sẽ được tịnh hóa. Và khi bạn thực hành việc cho đi (hiến tặng) thì bạn tịnh hóa ác nghiệp bạn đã làm trong ngày hôm nay, trong đời này và những đời quá khứ. Thực hành đó tịnh hóa ác nghiệp trong nhiều kiếp.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Lama Zopa Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Thanh Liên</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <a href="https://thuvienhoasen.org/p39a11346/7/thuc-hanh-cho-va-nhan-moi-ngay">Thực hành Cho và Nhận mỗi ngày</a></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/thuc-hanh-cho-va-nhan-moi-ngay/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Cho và nhận &#8211; Một cách thiết thực để hướng đến tình yêu và lòng từ bi</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/cho-va-nhan-mot-cach-thiet-thuc-de-huong-den-tinh-yeu-va-long-tu-bi/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/cho-va-nhan-mot-cach-thiet-thuc-de-huong-den-tinh-yeu-va-long-tu-bi/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 29 Jan 2023 02:38:40 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Gelug]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=12005</guid>
		<description><![CDATA[Khi mọi người ở một thị trấn hay thành phố lớn cảm thấy cô đơn, điều này không có nghĩa là họ thiếu người đồng hành, mà là họ thiếu tình cảm của con người. Kết quả là sức khỏe tinh thần của họ cuối cùng trở nên rất kém. Mặt khác, những người lớn lên trong bầu không khí&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/cho-va-nhan-mot-cach-thiet-thuc-de-huong-den-tinh-yeu-va-long-tu-bi/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Khi mọi người ở một thị trấn hay thành phố lớn cảm thấy cô đơn, điều này không có nghĩa là họ thiếu người đồng hành, mà là họ thiếu tình cảm của con người. Kết quả là sức khỏe tinh thần của họ cuối cùng trở nên rất kém. Mặt khác, những người lớn lên trong bầu không khí tình cảm của con người có sự phát triển nhẹ nhàng và tích cực hơn nhiều về cơ thể, tâm trí và hành vi của họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Trẻ em lớn lên thiếu một không khí tích cực thì thường có nhiều những thái độ tiêu cực hơn. Điều này rõ ràng cho thấy bản chất căn bản của con người. Cũng thế, như tôi đã từng đề cập, thân thể con người biết thưởng thức sự hòa bình của tâm hồn. Những thứ đang quấy rầy chúng ta có một ảnh hưởng rất tệ hại đối với sức khỏe của chúng ta. Điều này cho thấy rằng toàn bộ cấu trúc của sức khỏe chúng ta tương ứng với không khí của tình cảm con người. Do thế, năng lực của chúng ta cho lòng từ bi là ở đấy. Vấn đề duy nhất là chúng ta có nhận ra điều này và sử dụng nó hay không.</p>
<p style="text-align: justify;">Mục tiêu căn bản của lời giải thích của tôi là để cho thấy rằng chúng ta vốn là từ bi, bản chất như thế, rằng lòng từ bi là điều gì đấy rất cần thiết và là điều gì đó mà chúng ta có thể phát triển. Thật quan trọng để biết chính xác ý nghĩa của lòng từ bi. Sự giải thích của Phật giáo là lòng từ bi đó căn cứ trên một sự chấp nhận hay nhận thức rõ ràng rằng những người khác như chính chúng ta, muốn hạnh phúc và có quyền để vượt thắng khổ đau. Trên căn bản đó, chúng ta phát triển một sự quan tâm nào đó về lợi ích của người khác, bất chấp thái độ của họ đối với chúng ta. Đó là lòng từ bi.</p>
<p style="text-align: justify;">Tình yêu và lòng trắc ẩn của bạn đối với bạn bè trong nhiều trường hợp thật sự là dính mắc. Cảm giác này không dựa trên nhận thức rằng tất cả chúng sinh đều có quyền bình đẳng để được hạnh phúc và vượt qua đau khổ. Thay vào đó, nó dựa trên ý tưởng rằng thứ gì đó là "của tôi", "bạn của tôi" hoặc thứ gì đó tốt cho "tôi". Đó là sự dính mắc. Do đó, khi thái độ của người đó đối với bạn thay đổi, cảm giác gần gũi của bạn sẽ ngay lập tức biến mất. Với cách khác, bạn phát triển một loại mối quan tâm nào đó không phân biệt, về thái độ của người khác đối với bạn, đơn giản bởi vì người đó là đồng loại và có mọi quyền để vượt qua đau khổ. Cho dù người đó tuy trung lập với bạn hay thậm chí trở thành kẻ thù của bạn, thì mối quan tâm của bạn vẫn duy trì như vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Lòng từ bi chân thành và sự dính mắc là mâu thuẫn với nhau. Theo sự thực hành của Phật giáo, để phát triển lòng từ bi chân thành thì chúng ta trước nhất cần phải thực hành thiền về bình đẳng và hành xả, tách riêng mình ra khỏi những người rất gần gũi với mình. Sau đó, thì chúng ta phải loại bỏ những cảm giác tiêu cực đối với những kẻ thù của chúng ta. Tất cả chúng sinh phải được nhìn như bình đẳng. Trên căn bản đó, thì chúng ta có thể dần dần phát triển lòng từ bi chân thành cho tất cả mọi người.</p>
<p style="text-align: justify;">Như được nói rằng lòng từ bi chân thành không giống như sự thương hại hay một cảm giác rằng những người khác thế nào ấy là thấp hơn chúng ta. Đúng hơn, với lòng từ bi chân thành thì chúng ta nhìn những người khác quan trọng hơn chính mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Để phát sinh lòng từ bi chân thật, trước hết người ta phải trải qua quá trình rèn luyện tính bình đẳng. Điều này trở nên rất quan trọng vì nếu không có cảm giác bình đẳng đối với tất cả, cảm xúc của chúng ta đối với người khác sẽ bị thành kiến. Vì vậy, bây giờ tôi sẽ cung cấp cho bạn một ví dụ ngắn gọn về một khóa đào tạo thiền định của Phật giáo về việc phát triển tính bình đẳng. Trước tiên, bạn nên nghĩ về một nhóm nhỏ những người mà bạn biết, chẳng hạn như bạn bè và người thân của bạn, đối với những người mà bạn gắn bó. Thứ hai, bạn nên nghĩ về một số người mà bạn cảm thấy hoàn toàn thờ ơ. Và thứ ba, hãy nghĩ về một số người mà bạn không thích.</p>
<p style="text-align: justify;">Một khi chúng ta đã tưởng tượng những người khác nhau này, thì chúng ta nên cố gắng để tâm thức chúng ta đi vào thể trạng tự nhiên và thấy vấn đề nó đáp ứng một cách bình thường như thế nào một khi chạm trán với những người này. Chúng ta sẽ thấy rằng sự phản ứng tự nhiên của chúng ta sẽ là dính mắc hay gắn bó với những người bạn của chúng ta, không thích những người chúng ta xem như là kẻ thù, và hoàn toàn dửng dưng đối với những người chúng ta xem như là trung tính hay người dưng. Rồi thì chúng ta hãy tự hỏi chính mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Bạn nên so sánh ảnh hưởng của hai thái độ đối lập mà bạn có đối với bạn bè và kẻ thù của mình, và xem tại sao bạn nên có trạng thái tâm trí dao động như vậy đối với hai nhóm người khác nhau này. Bạn nên xem những phản ứng như vậy có ảnh hưởng gì đến tâm trí của bạn và cố gắng xem sự vô ích của việc liên quan đến chúng theo cách cực đoan như vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta đã thảo luận về những ưu và nhược điểm của việc chấp chứa sự thù oán và việc phát sinh sân hận đối với những kẻ thù, và tôi cũng đã nói một ít về những khuyết điểm của việc cực kỳ dính mắc đối với những người thân và v.v… Quý vị nên phản chiếu về điều này và sau đó cố gắng để giảm thiểu tối đa những cảm xúc mạnh mẽ đối với những nhóm người đối lập này. Sau đó điều quan trọng nhất là quý vị nên phản chiếu về nền tảng căn bản giữa chính mình và tất cả những chúng sinh khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Giống như quý vị có khát vọng bẩm sinh tự nhiên để hạnh phúc và vượt thắng khổ đau, thì tất cả những chúng sinh khác cũng như chính ta có quyền để đáp ứng nguyện vọng bẩm sinh này, tất cả những chúng sinh khác cũng vậy. Vậy thì trên căn bản chính xác nào chúng ta lại phân biệt?</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu nhìn tổng thể loài người, chúng ta là động vật xã hội. Hơn nữa, cấu trúc của nền kinh tế, giáo dục hiện đại, v.v... cho thấy rằng thế giới đã trở thành một nơi nhỏ hơn và chúng ta phụ thuộc nhiều vào nhau. Trong hoàn cảnh như vậy, tôi nghĩ lựa chọn duy nhất là sống và làm việc với nhau một cách hài hòa và giữ trong tâm trí của chúng ta sự quan tâm đến toàn thể nhân loại. Đó là cách nhìn và cách duy nhất mà chúng ta phải áp dụng để tồn tại.</p>
<p style="text-align: justify;">Về bản chất, đặc biệt là một con người, sở thích của tôi không độc lập với người khác. Hạnh phúc của tôi phụ thuộc vào hạnh phúc của người khác. Vì vậy, khi tôi nhìn thấy những người hạnh phúc, tự động tôi cũng cảm thấy hạnh phúc hơn một chút so với khi tôi nhìn thấy những người trong hoàn cảnh khó khăn. Ví dụ, khi chúng ta nhìn thấy những bức ảnh trên truyền hình cho thấy những người chết đói ở Somalia, bao gồm cả người già và trẻ nhỏ thì chúng ta sẽ tự động cảm thấy buồn, bất kể nỗi buồn đó có thể dẫn đến một sự giúp đỡ tích cực nào đó hay không.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong đời sống hàng ngày của chúng ta, bây giờ chúng ta sử dụng nhiều tiện nghi tốt đẹp, kể cả những thứ như máy điều hòa không khí. Tất cả những thứ hay tiện nghi này thực tế không phải do bởi chính chúng ta nhưng do bởi sự liên hệ trực tiếp hay gián tiếp của những người khác. Mọi thứ phối hợp với nhau. Thật không thể trở lại cung cách sống của một vài thế kỷ trước khi chúng ta chỉ lệ thuộc vào những khí cụ đơn giản chứ không phải là tất cả những thứ máy móc này. Rất rõ ràng đối với chúng ta rằng những tiện nghi mà chúng ta đang thụ hưởng bây giờ là sản phẩm của các hoạt động của rất nhiều người.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì tất cả chúng ta đều có quyền bình đẳng để được hạnh phúc và vì tất cả chúng ta đều liên kết với nhau, bất kể một cá nhân quan trọng như thế nào, về mặt logic, lợi ích của năm tỷ người khác trên hành tinh này quan trọng hơn lợi ích của một người. Bằng cách suy nghĩ theo những hướng này, cuối cùng bạn có thể phát triển ý thức về trách nhiệm toàn cầu. Các vấn đề môi trường hiện đại, chẳng hạn như sự suy giảm của tầng ôzôn, cũng cho chúng ta thấy rõ sự cần thiết của sự hợp tác của thế giới. Dường như cùng với sự phát triển, cả thế giới đã trở nên nhỏ bé hơn rất nhiều, nhưng ý thức của con người thì vẫn còn tụt hậu.</p>
<p style="text-align: justify;">Thái độ rộng rãi hơn hay vị tha hơn là rất liên hệ với thế giới ngày nay. Nếu chúng ta nhìn vào hoàn cảnh từ những khía cạnh khác nhau, chẳng hạn như sự phức tạp và liên kết nội tại bản chất của sự tồn tại hiện đại, rồi thì chúng ta sẽ dần dần chú ý một sự thay đổi trong quan điểm của chúng ta, vì thế khi chúng ta nói "những người khác" và khi chúng ta nghĩ về "những người khác", thì chúng ta không còn phủ nhận họ như điều gì đó không liên hệ với chúng ta. Chúng ta sẽ không còn cảm thấy dửng dưng.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu bạn chỉ nghĩ đến bản thân, nếu bạn quên đi quyền lợi và hạnh phúc của người khác, hoặc tệ hơn nữa, nếu bạn bóc lột người khác, thì cuối cùng bạn sẽ thất bại. Bạn sẽ không có người bạn nào thể hiện sự quan tâm đến sự cát tường của bạn. Hơn nữa, nếu một bi kịch ập đến với bạn, thay vì cảm thấy được quan tâm, những người khác thậm chí có thể thầm vui mừng. Ngược lại, nếu một cá nhân có lòng từ ái, vị tha và luôn quan tâm đến lợi ích của người khác, thì dù người đó có quen biết nhiều người, nhưng khi đi đến đâu, người đó cũng sẽ lập tức kết bạn với người khác. Và khi người đó gặp phải bi kịch, sẽ có rất nhiều người đến giúp đỡ.</p>
<p style="text-align: justify;">Một tình bạn chân chính phát triển trên cơ sở tình cảm của con người chứ không phải tiền bạc hay quyền lực. Tất nhiên, do quyền lực hoặc sự giàu có của bạn, nhiều người có thể tiếp cận bạn với nụ cười tươi hoặc quà tặng. Nhưng trong sâu thẳm đây không phải là những người bạn thực sự của bạn; đây là những người bạn của sự giàu có hoặc quyền lực của bạn. Chừng nào tài sản của bạn vẫn còn, thì những người này sẽ thường xuyên tiếp cận bạn. Nhưng khi vận may của bạn suy giảm, chúng sẽ không còn ở đó nữa. Với kiểu bạn này, sẽ không ai chân thành giúp bạn nếu bạn cần. Đó là thực tế.</p>
<p style="text-align: justify;">Tình bạn chân chính của con người là trên cơ sở tình cảm của con người, không phân biệt địa vị của bạn. Do đó, bạn càng tỏ ra quan tâm đến phúc lợi và quyền lợi của người khác, bạn càng là một người bạn chân chính. Bạn càng cởi mở và chân thành, thì cuối cùng sẽ có nhiều lợi ích hơn đến với bạn. Nếu bạn quên hoặc không bận tâm về người khác, thì cuối cùng bạn sẽ đánh mất lợi ích của chính mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Có những ảnh hưởng tích cực đa dạng của việc tăng cường cảm giác của chúng ta về lòng từ bi. Một trong những cách đó là năng lực của lòng từ bi của chúng ta càng lớn, thì sự uyển chuyển bền bỉ của chúng ta càng lớn khi đối diện với những khó khăn và cũng như năng lực của chúng ta để chuyển hóa chúng thành những điều kiện tích hơn.</p>
<p style="text-align: justify;">Một hình thức thực hành có vẻ khá hiệu quả trong việc nâng cao lòng từ bi được tìm thấy trong Hướng Dẫn Về Cách Sống Của Bồ Tát, một văn bản kinh điển của Phật giáo. Trong thực hành này, bạn hình dung con người cũ của bạn, hiện thân của tính tự cao tự đại, ích kỷ, v.v... và sau đó hình dung một nhóm người đại diện cho những chúng sinh khác. Sau đó, bạn chấp nhận quan điểm của người thứ ba như một người quan sát trung lập, không thiên vị và đưa ra đánh giá so sánh về giá trị, lợi ích và sau đó là tầm quan trọng của hai nhóm này. Bạn sẽ tự nhiên bắt đầu cảm thấy nghiêng về vô số người khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi cũng nghĩ rằng năng lực thái độ vị tha của chúng ta đối với chúng sinh càng mạnh, thì chúng ta càng trở nên can đảm hơn. Chúng ta càng can đảm thì càng ít bị nản lòng và mất hy vọng. Do thế, lòng từ bi cũng là một cội nguồn của sức mạnh nội tại.</p>
<p style="text-align: justify;">Với sức mạnh nội tâm được gia tăng, bạn có thể phát triển lòng quyết tâm vững vàng và nếu có quyết tâm thì cơ hội thành công sẽ cao hơn, bất kể có thể có trở ngại gì. Ngược lại, nếu bạn cảm thấy do dự, sợ hãi và thiếu tự tin thì thường bạn sẽ nảy sinh thái độ bi quan. Tôi coi đó là mầm mống thật sự của thất bại. Vì vậy, ngay cả theo nghĩa thông thường, lòng trắc ẩn hay từ bi là rất quan trọng cho một tương lai thành công.</p>
<p style="text-align: justify;">Đã quán chiếu trên những sai lầm của một cung cách suy nghĩ và lối sống vị kỷ, và cũng đã quán chiếu trên những hậu quả tích cực của việc chánh niệm về sự cát tường của những chúng sinh khác và làm việc cho lợi ích của chúng sinh và tự tin về điều này rồi thì trong việc hành thiền của Phật giáo có một chủ đề đặc biệt được gọi là "sự thực hành Cho và Nhận". Việc sử dụng quán tưởng, một cách căn bản liên hệ đến việc nhận vào chính mình tất cả những kinh nghiệm đau đớn khổ sở, tiêu cực và không muốn của những chúng sinh khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Bạn tưởng tượng sẽ tự mình gánh lấy nỗi đau khổ này và sau đó cho đi hoặc chia sẻ với người khác những phẩm chất tích cực của bản thân, chẳng hạn như trạng thái tâm hồn đức hạnh, năng lượng tích cực, sự giàu có, hạnh phúc của bạn, v.v... Một hình thức đào tạo như vậy, về mặt tâm lý mang lại sự chuyển hóa trong tâm trí của bạn một cách hiệu quả đến mức cảm giác yêu thương và lòng từ bi trắc ẩn của bạn được nâng cao hơn nhiều.</p>
<p style="text-align: justify;">Một điều bạn nên nhớ là việc chuyển hóa tinh thần cần có thời gian và không hề dễ dàng. Tôi nghĩ một số người đến từ phương Tây, nơi công nghệ quá tốt, nghĩ rằng mọi thứ đều tự động. Bạn không nên mong đợi sự biến đổi tâm linh này diễn ra trong một thời gian ngắn; Đó là điều không thể. Hãy ghi nhớ nó và nỗ lực không ngừng, rồi sau 1 năm, 5 năm, 10 năm, 15 năm nữa, cuối cùng bạn sẽ thấy sự thay đổi nào đó. Đôi khi tôi vẫn cảm thấy rất khó để thực hành những điều này. Tuy nhiên, tôi thật sự tin rằng những thực hành này cực kỳ hữu ích.</p>
<p style="text-align: justify;">Câu trích dẫn từ sách của Tịch Thiên mà tôi thích nhất là:<br />
"Khi không gian vẫn còn tồn tại,<br />
Khi chúng sinh vẫn còn hiện hữu,<br />
Cho đến lúc đó, tôi nguyện vẫn hiện diện<br />
Để xua tan khổ đau của trần thế".</p>
<p><strong>Đức Dalai Lama 14</strong></p>
<p><em>Việt dịch: Quảng Cơ, Tuệ Uyển</em></p>
<p><em>Trích: Năng lực của Từ bi</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/cho-va-nhan-mot-cach-thiet-thuc-de-huong-den-tinh-yeu-va-long-tu-bi/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đối phó với sân hận và cảm xúc</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/doi-pho-voi-san-han-va-cam-xuc/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/doi-pho-voi-san-han-va-cam-xuc/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 27 Jan 2023 13:38:44 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Gelug]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11990</guid>
		<description><![CDATA[Có lẽ có hai loại tức giận. Một loại tức giận có thể được chuyển đổi thành một cảm xúc tích cực. Ví dụ: nếu một người có động cơ từ bi chân thành và quan tâm đến ai đó và người đó không để ý đến cảnh báo của người ấy về hành động của họ, thì không có&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/doi-pho-voi-san-han-va-cam-xuc/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Có lẽ có hai loại tức giận. Một loại tức giận có thể được chuyển đổi thành một cảm xúc tích cực. Ví dụ: nếu một người có động cơ từ bi chân thành và quan tâm đến ai đó và người đó không để ý đến cảnh báo của người ấy về hành động của họ, thì không có cách nào khác ngoại trừ việc sử dụng một số loại năng lực để ngăn chặn hành vi sai trái của người đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo kinh nghiệm của tôi, rõ ràng nếu mỗi cá nhân nỗ lực thì sẽ thay đổi được. Tất nhiên, sự thay đổi không phải là ngay lập tức và cần rất nhiều thời gian. Để thay đổi và đối phó với cảm xúc, điều quan trọng là phải phân tích những suy nghĩ nào là hữu ích, mang tính xây dựng và có lợi cho chúng ta. Ý tôi chủ yếu là những suy nghĩ giúp chúng ta bình tĩnh hơn, thoải mái hơn và mang lại cho chúng ta sự yên tâm, thay vì những suy nghĩ tạo ra sự bất an, sợ hãi và thất vọng.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong cơ thể có hàng tỷ hạt khác nhau. Tương tự như vậy, có nhiều suy nghĩ khác nhau và nhiều trạng thái của tâm trí khác nhau. Điều thông tuệ là bạn nên quan sát kỹ thế giới tâm trí của mình và phân biệt giữa các trạng thái tâm có lợi và có hại. Một khi bạn có thể nhận ra giá trị của trạng thái tâm trí tốt, thì bạn có thể tăng cường hoặc nuôi dưỡng chúng.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Phật đã dạy các nguyên tắc của Bốn Chân Lý Cao Quý (Tứ Diệu Đế) và những nguyên tắc này tạo nên nền tảng của Phật Pháp. Chân lý Cao quý thứ ba là sự chấm dứt. Trong phạm trù này, sự chấm dứt có nghĩa là trạng thái của tâm trí hoặc chất lượng tinh thần, thông qua thực hành và nỗ lực, chấm dứt tất cả các cảm xúc tiêu cực. Đó là trạng thái mà cá nhân đã đạt đến trạng thái hoàn thiện của tâm trí, không bị ảnh hưởng bởi các cảm xúc và suy nghĩ phiền não và tiêu cực khác nhau.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo Phật giáo, trạng thái của sự chấm dứt (diệt đế) thật sự là nơi nương tựa mà tất cả các Phật tử thực hành đều tìm kiếm. Lý do người ta tìm nơi nương tựa nơi Đức Phật, không phải vì ngay từ đầu Đức Phật đã là một người đặc biệt, mà vì Đức Phật đã thực chứng trạng thái diệt đế thực sự.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung, trong kinh luận Phật giáo, cảm xúc hoặc suy nghĩ tiêu cực được định nghĩa là trạng thái gây xáo trộn trong tâm thức của chúng ta. Những cảm xúc và suy nghĩ phiền não này là yếu tố tạo ra bất hạnh và xáo trộn trong chúng ta. Tình cảm nói chung không nhất thiết phải là điều gì đó tiêu cực. Tại một hội nghị khoa học mà tôi tham dự cùng với nhiều nhà tâm lý học và nhà khoa học thần kinh, người ta kết luận rằng ngay cả các vị Phật cũng có cảm xúc, theo định nghĩa của cảm xúc được tìm thấy trong các ngành khoa học khác nhau. Vì vậy, karuna (lòng từ bi hoặc lòng tốt vô hạn) có thể được mô tả như một loại cảm xúc.</p>
<p style="text-align: justify;">Đương nhiên cảm xúc có thể tích cực và tiêu cực. Tuy nhiên, khi nói về sự tức giận, v.v... chúng ta đang đối mặt với những cảm xúc tiêu cực. Cảm xúc tiêu cực là những cảm xúc ngay lập tức tạo ra một số loại bất hạnh hoặc không thoải mái và về lâu dài, tạo ra một số hành động nhất định. Những hành động đó cuối cùng dẫn đến tổn hại cho người khác và điều này mang lại đau đớn hoặc khổ sở cho chính mình. Đây là những gì chúng tôi muốn nói đến các cảm xúc tiêu cực.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong thực hành Mật tông, có những kỹ thuật thiền định cho phép chuyển hóa năng lượng của sự giận dữ. Đây là lý do đằng sau những vị bổn tôn phẫn nộ. Trên cơ sở động lực từ bi, trong một số trường hợp, tức giận có thể hữu ích vì nó mang lại cho chúng ta thêm năng lượng và cho phép chúng ta hành động nhanh chóng. Tuy nhiên, tức giận thường dẫn đến hận thù và hận thù luôn là tiêu cực. Hận thù ẩn chứa ác ý.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi thường phân tích sự tức giận ở hai cấp độ: cấp độ cơ bản của con người và cấp độ Phật giáo. Từ cấp độ con người, không liên quan đến truyền thống tôn giáo hay ý thức hệ, chúng ta có thể nhìn vào nguồn gốc của hạnh phúc của chúng ta: sức khỏe tốt, cơ sở vật chất và bạn đồng hành tốt. Bây giờ từ quan điểm sức khỏe, những cảm xúc tiêu cực như hận thù là rất tồi tệ.</p>
<p style="text-align: justify;">Trạng thái tinh thần của bạn phải luôn điềm tĩnh. Ngay cả khi một số lo lắng xảy ra, vì nó chắc chắn xảy ra trong cuộc sống, bạn nên luôn điềm tĩnh. Giống như một làn sóng, nổi lên từ mặt nước và hòa tan trở lại vào nước, những xáo trộn này rất ngắn, vì vậy chúng sẽ không ảnh hưởng đến thái độ tinh thần cơ bản của bạn. Nếu bạn giữ được điềm tĩnh huyết áp của bạn vẫn bình thường hơn và kết quả là sức khỏe của bạn sẽ được cải thiện.</p>
<p style="text-align: justify;">Một số người bạn thân của tôi bị huyết áp cao, nhưng họ không bao giờ đến gần việc khủng hoảng về sức khỏe và họ không bao giờ cảm thấy mệt mỏi. Trong những năm qua tôi đã gặp một số thực tập viên rất tốt. Trong khi đó, có những bạn khác dù có vật chất tốt nhưng khi chúng tôi bắt đầu nói chuyện, sau những lời tốt đẹp ban đầu, họ bắt đầu phàn nàn và đau buồn. Mặc dù sung túc về vật chất, nhưng những người này không có tâm hồn điềm tĩnh và ôn hòa. Kết quả là họ luôn phải lo lắng về tiêu hóa, giấc ngủ và mọi thứ! Do đó rõ ràng rằng sự tĩnh lặng về tinh thần là một yếu tố rất quan trọng để có một sức khỏe tốt.</p>
<p style="text-align: justify;">Nguồn hạnh phúc thứ hai đến từ cơ sở vật chất của chúng ta. Đôi khi tôi thức dậy vào sáng sớm, nếu tâm trạng của tôi không được tốt lắm, thì khi nhìn đồng hồ, tôi cảm thấy tâm trạng không thoải mái. Sau đó, vào những ngày khác, có lẽ do kinh nghiệm của ngày hôm trước, khi tôi thức dậy tâm trạng của tôi rất dễ chịu và yên bình. Lúc đó, khi nhìn vào chiếc đồng hồ của mình, tôi thấy nó đẹp đến lạ thường. Tuy nhiên, nó là cùng một chiếc đồng hồ, phải không? Sự khác biệt đến từ thái độ tinh thần. Việc sử dụng các phương tiện vật chất của chúng ta có đem lại sự hài lòng thật sự hay không phụ thuộc vào thái độ tinh thần của chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Thật là xấu cho của cải vật chất của chúng ta nếu tâm trí của chúng ta bị cơn giận chi phối. Nói lại từ kinh nghiệm của bản thân, khi còn trẻ, tôi thỉnh thoảng sửa đồng hồ. Tôi đã thử và thất bại nhiều lần. Đôi khi tôi sẽ mất kiên nhẫn và đánh đồng hồ! Trong những lúc đó, sự tức giận của tôi đã làm thay đổi toàn bộ thái độ của tôi và sau đó tôi cảm thấy rất hối hận vì hành động của mình. Nếu mục tiêu của tôi là sửa đồng hồ, vậy tại sao tôi lại đập nó xuống bàn? Một lần nữa, bạn có thể thấy thái độ tinh thần của một người là quan trọng như thế nào để sử dụng cơ sở vật chất vì sự hài lòng hoặc lợi ích thật sự của chính họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Nguồn hạnh phúc thứ ba là những người bạn đồng hành của chúng ta. Rõ ràng là khi điềm tĩnh về tinh thần, bạn là người trung thực và cởi mở. Ngay cả khi có sự khác biệt lớn về quan điểm, bạn có thể giao tiếp ở cấp độ như con người. Bạn có thể gạt những ý kiến khác nhau này sang một bên và giao tiếp với tư cách như những con người. Tôi nghĩ đó là một cách để tạo cảm giác tích cực trong tâm trí người khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi nghĩ rằng tình cảm con người chân chính có giá trị hơn là địa vị, v.v... Tôi chỉ là một con người đơn giản. Thông qua kinh nghiệm và kỷ luật tinh thần của tôi, một thái độ mới nhất định đã phát triển. Điều này không có gì đặc biệt. Bạn, người mà tôi nghĩ đã có một nền giáo dục tốt hơn và nhiều kinh nghiệm hơn bản thân tôi, có nhiều tiềm năng để thay đổi hơn trong bản thân. Tôi đến từ một ngôi làng nhỏ, không có nền giáo dục hiện đại và không có nhận thức sâu sắc về thế giới. Ngoài ra, từ năm 15 hay 16 tuổi, tôi đã có một loại gánh nặng không thể tưởng tượng được.</p>
<p style="text-align: justify;">Mỗi người trong số các bạn nên cảm thấy rằng mình có tiềm năng to lớn và với sự tự tin và nỗ lực hơn một chút, bạn sẽ thật sự có thể thay đổi nếu muốn. Nếu bạn cảm thấy cuộc sống hiện tại của mình không mấy dễ chịu hoặc gặp một số khó khăn, thì đừng nhìn vào những điều tiêu cực này. Hãy nhìn thấy mặt tích cực, tiềm năng và hãy nỗ lực.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì vậy, liên quan đến việc tiếp xúc với đồng loại, thì thái độ tinh thần của chúng ta là rất quan trọng. Ngay cả đối với một người không tín ngưỡng, chỉ là một chúng sinh trung thực giản dị, thì nguồn hạnh phúc cuối cùng là ở thái độ tinh thần của chúng ta. Ngay cả khi bạn có sức khỏe tốt, cơ sở vật chất được sử dụng đúng cách và quan hệ tốt với những người khác, thì nguyên nhân chính của một cuộc sống hạnh phúc là ở bên trong.</p>
<p style="text-align: justify;">Bây giờ bạn có thể thấy cách giảm thiểu sự tức giận và thù hận như thế nào. Đầu tiên, điều cực kỳ quan trọng là phải nhận ra sự tiêu cực của những cảm xúc này nói chung, đặc biệt là sự thù hận. Tôi coi hận thù là kẻ thù cuối cùng. "Kẻ thù", tôi muốn nói có nghĩa là người hoặc nhân tố trực tiếp hoặc gián tiếp phá hủy sự quan tâm của chúng ta. Mối quan tâm của chúng ta vốn là việc cuối cùng tạo ra tạo ra hạnh phúc.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta cũng có thể nói về kẻ thù bên ngoài. Ví dụ, trong trường hợp của riêng tôi, các anh chị em người Hoa của chúng tôi hay đúng hơn là những người cầm quyền Trung Quốc đang hủy hoại các quyền của người Tây Tạng và theo cách đó, đau khổ và lo lắng ngày càng nhiều hơn. Nhưng dù có mạnh mẽ đến đâu, nó cũng không thể phá hủy nguồn hạnh phúc tối cao của tôi, đó là sự tĩnh lặng của tâm tôi. Đây là điều mà kẻ thù bên ngoài không thể tiêu diệt được. Đất nước của chúng ta có thể bị xâm lược, tài sản của chúng ta có thể bị phá hủy, bạn bè của chúng ta có thể bị giết, nhưng những điều này chỉ là thứ yếu cho hạnh phúc tinh thần của chúng ta. Nguồn gốc cuối cùng của hạnh phúc tinh thần của tôi là sự yên tâm của tôi. Không gì có thể phá hủy điều này ngoại trừ sự tức giận của chính tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Hơn nữa, bạn có thể trốn thoát hoặc ẩn náu khỏi kẻ thù bên ngoài và đôi khi bạn thậm chí có thể lừa dối kẻ thù. Ví dụ, nếu có ai đó quấy rầy sự bình yên của tôi, tôi có thể lẩn tránh bằng cách khóa cửa và ngồi yên lặng một mình. Nhưng tôi không thể làm điều đó với sự tức giận! Bất cứ nơi nào tôi đi, nó luôn ở đó. Mặc dù tôi đã khóa cửa phòng nhưng cơn tức giận vẫn còn trong lòng. Trừ khi bạn áp dụng một phương pháp nhất định, còn thì không có khả năng thoát khỏi. Do đó, hận thù hay tức giận - và ở đây tôi muốn nói đến sự tức giận tiêu cực - cuối cùng là kẻ hủy diệt thật sự sự bình yên của tôi và do đó là kẻ thù thật sự của tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Một số người cho rằng kìm nén cảm xúc là không tốt, nên để nó lộ ra ngoài sẽ tốt hơn nhiều. Tôi nghĩ rằng có sự khác biệt giữa các cảm xúc tiêu cực khác nhau. Ví dụ, với sự thất vọng, có một sự thất vọng nhất định phát triển do kết quả của các sự kiện trong quá khứ. Đôi khi nếu bạn che giấu những sự kiện tiêu cực này, chẳng hạn như lạm dụng tình dục, thì điều này có ý thức hoặc vô thức sẽ tạo ra vấn đề. Vì vậy, trong trường hợp này, tốt hơn hết là bạn nên bày tỏ sự thất vọng và nói ra.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của chúng tôi về sự tức giận, nếu bạn không cố gắng giảm bớt nó, nó sẽ vẫn tồn tại trong bạn và thậm chí còn tăng lên. Sau đó, ngay cả với những sự cố nhỏ, bạn sẽ ngay lập tức nổi giận. Một khi bạn cố gắng kiểm soát hoặc rèn luyện cơn giận của mình, thì cuối cùng, ngay cả những sự kiện lớn cũng sẽ không gây ra cơn giận.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi cơn giận đến, có một kỹ thuật quan trọng giúp bạn giữ được sự bình yên trong tâm hồn. Bạn không nên trở nên bất mãn hoặc thất vọng, bởi vì đây là nguyên nhân của sự tức giận và thù hận. Có một mối liên hệ tự nhiên giữa nguyên nhân và kết quả. Một khi các nguyên nhân và điều kiện nhất định được đáp ứng đầy đủ, thì rất khó để ngăn chặn quá trình nhân quả đó thành hiện thực. Điều quan trọng là phải xem xét tình huống để ở giai đoạn rất sớm, người ta có thể dừng quá trình nhân quả. Sau đó, nó không tiếp tục đến một giai đoạn nâng cao.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong luận điển Phật giáo Hướng Dẫn Về Lối Sống Của Bồ Tát, học giả vĩ đại Tịch Thiên (Shantideva) đề cập rằng điều rất quan trọng là đảm bảo rằng chúng ta không bị rơi vào tình huống dẫn đến bất mãn, bởi vì không hài lòng là mầm mống của sân hận. Điều này có nghĩa là chúng ta phải có một cái nhìn nhất định đối với tài sản vật chất của chúng ta, đối với những người đồng hành và bạn bè của chúng ta và đối với các tình huống khác nhau.</p>
<p style="text-align: justify;">Thực tế, cảm giác không hài lòng, không vui, mất hy vọng, v.v... của chúng ta có liên quan đến mọi hiện tượng. Nếu chúng ta không áp dụng cách nhìn đúng đắn, có thể bất cứ điều gì và mọi thứ đều có thể khiến chúng ta thất vọng. Tuy nhiên, các hiện tượng là một phần của thực tại và chúng ta phải tuân theo các quy luật của sự tồn tại. Vì vậy, điều này khiến chúng ta chỉ có một lựa chọn: là thay đổi thái độ của chính mình. Bằng cách mang lại sự thay đổi trong cách nhìn của chúng ta đối với các sự vật và sự kiện, tất cả các hiện tượng có thể trở thành bạn bè hoặc nguồn hạnh phúc, thay vì trở thành kẻ thù hoặc nguồn gây thất vọng.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở một khía cạnh nào đó, có kẻ thù là điều rất tệ. Nó làm xáo trộn sự bình yên tinh thần của chúng ta và phá hủy một số điều tốt đẹp của chúng ta. Nhưng nếu nhìn ở góc độ khác, chỉ có kẻ thù mới cho chúng ta cơ hội rèn luyện tính kiên nhẫn. Không ai khác cung cấp cho chúng ta cơ hội khoan dung. Vì chúng ta không biết phần lớn trong số năm tỷ con người trên trái đất này, nên phần lớn mọi người cũng không cho chúng ta cơ hội để thể hiện sự khoan dung hay kiên nhẫn. Chỉ những người mà chúng ta biết và những người tạo ra vấn đề cho chúng ta mới thật sự cung cấp cho chúng ta cơ hội tốt để rèn luyện lòng khoan dung và kiên nhẫn.</p>
<p style="text-align: justify;">Tịch Thiên (Shantideva) nói rằng chính ý định làm hại chúng ta đã khiến kẻ thù trở nên rất đặc biệt. Nếu kẻ thù không có ý định làm hại chúng ta, thì chúng ta sẽ không phân loại người đó thành kẻ thù, do đó thái độ của chúng ta sẽ hoàn toàn khác. Chính ý định làm hại chúng ta của người đó khiến người đó trở thành kẻ thù và vì thế kẻ thù tạo cơ hội cho chúng ta rèn luyện lòng khoan dung và nhẫn nại. Do đó kẻ thù quả thật là một người thầy đáng quý. Bằng cách suy nghĩ theo những dòng này, cuối cùng bạn có thể giảm bớt những cảm xúc tiêu cực về tinh thần, đặc biệt là sự thù hận.</p>
<p style="text-align: justify;">Một câu hỏi khác là nếu bạn luôn khiêm tốn thì người khác có thể lợi dụng bạn và bạn nên phản ứng như thế nào? Nó khá đơn giản: bạn nên hành động với trí tuệ hoặc lẽ thường, không tức giận và hận thù. Nếu tình huống đến mức bạn cần phải hành động từ phía mình, bạn có thể thực hiện biện pháp đối phó mà không cần tức giận. Trên thực tế, những hành động tuân theo trí tuệ thật sự chứ không phải là tức giận trên thực tế có hiệu quả hơn. Biện pháp đối phó được thực hiện trong lúc tức giận thường có thể sai. Không có giận dữ và không có hận thù, chúng ta có thể đối phó hiệu quả hơn.</p>
<p style="text-align: justify;">Có một kiểu thực hành bao dung khác liên quan đến việc chấp nhận những đau khổ của người khác một cách có ý thức. Tôi đang nghĩ đến những tình huống mà khi tham gia vào một số hoạt động nhất định, chúng ta nhận thức được những khó khăn, những khó khăn và vấn đề có liên quan trước mắt, nhưng tin chắc rằng những hành động đó sẽ có tác dụng rất có lợi về lâu dài. Vì thái độ của chúng ta và chí nguyện của chúng ta và mong muốn mang lại lợi ích lâu dài đó, đôi khi chúng ta có ý thức và cố ý nhận về mình những khó khăn và vấn đề liên quan đến ngắn hạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi hoàn toàn chắc chắn rằng nếu vị Đạt Lai Lạt Ma thứ mười bốn này ít cười hơn, có lẽ tôi sẽ có ít bạn bè hơn ở nhiều nơi khác nhau. Thái độ của tôi đối với người khác là luôn nhìn họ từ cấp độ con người. Ở cấp độ đó, dù là tổng thống, hoàng hậu hay người ăn xin, không có sự khác biệt, miễn là có tình cảm con người chân chính với nụ cười tình cảm chân thành của con người.</p>
<p style="text-align: justify;">Lòng từ bi là điều tuyệt vời và quý giá nhất. Khi chúng ta nói về lòng từ bi, tôi tin rằng bản chất cơ bản của con người là từ bi và tế nhị. Ví dụ, một nhà khoa học đã nói với tôi rằng vài tuần đầu tiên sau khi sinh là giai đoạn quan trọng nhất, vì trong thời gian đó, não của đứa trẻ mở rộng. Trong giai đoạn đó, sự tiếp xúc của người mẹ hoặc của một người nào đó đang cư xử giống như một người mẹ là rất quan trọng. Điều này cho thấy rằng mặc dù đứa trẻ có thể không nhận ra ai là ai, nhưng về mặt thể chất, nó vẫn cần tình cảm của người khác. Nếu không có điều đó, nó rất có hại cho sự phát triển lành mạnh của não bộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi chúng ta đến bệnh viện, không phân biệt chất lượng của bác sĩ, nếu bác sĩ thể hiện tình cảm chân thành và sự quan tâm sâu sắc đến chúng ta và nếu người ấy mỉm cười, thì chúng ta cảm thấy ổn. Nhưng nếu bác sĩ ít thể hiện tình cảm của con người, thì mặc dù người ấy có thể là một chuyên gia rất giỏi, thì chúng ta vẫn có thể cảm thấy không tự tin và lo sợ. Đây là bản chất của con người.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong giáo dục, theo tôi, những bài học mà chúng ta học được từ những người thầy không chỉ giỏi mà còn thể hiện tình cảm với học sinh sẽ đi sâu vào tâm trí chúng tôi. Bài học từ các giáo viên khác có thể không. Mặc dù bạn có thể bị bắt buộc phải học và có thể sợ giáo viên, nhưng bài học có thể không thấm vào đâu. Phần lớn phụ thuộc vào tình cảm từ giáo viên.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi chúng ta trẻ và đến khi chúng ta già, chúng ta lệ thuộc sâu xa vào tình cảm của người khác. Giữa những giai đoạn này chúng ta thường cảm thấy rằng chúng ta có thể làm mọi thứ mà không cần sự giúp đỡ của người khác và rằng tình cảm của người khá đơn giản là không quan trọng. Nhưng ở giai đoạn này thì tôi nghĩ rằng thật rất quan trọng để giữ tình cảm con người sâu xa.</p>
<p><strong>Đức Dalai Lama 14</strong></p>
<p><em>Việt dịch: Quảng Cơ, Tuệ Uyển</em></p>
<p><em>Trích: Năng lực của Từ bi</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/doi-pho-voi-san-han-va-cam-xuc/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đối diện với sự chết và lâm chung</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/doi-dien-voi-su-chet-va-lam-chung-2/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/doi-dien-voi-su-chet-va-lam-chung-2/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 27 Jan 2023 12:38:02 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Gelug]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11989</guid>
		<description><![CDATA[Vấn đề đối mặt với cái chết một cách thanh thản là một vấn đề rất khó khăn. Theo lẽ thường, dường như có hai cách giải quyết vấn đề và đau khổ. Đầu tiên chỉ đơn giản là cố gắng tránh vấn đề, gạt nó ra khỏi tâm trí của bạn, mặc dù thực tế của vấn đề đó&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/doi-dien-voi-su-chet-va-lam-chung-2/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Vấn đề đối mặt với cái chết một cách thanh thản là một vấn đề rất khó khăn. Theo lẽ thường, dường như có hai cách giải quyết vấn đề và đau khổ. Đầu tiên chỉ đơn giản là cố gắng tránh vấn đề, gạt nó ra khỏi tâm trí của bạn, mặc dù thực tế của vấn đề đó vẫn còn đó và nó không giảm thiểu. Một cách khác để giải quyết vấn đề này là nhìn thẳng vào vấn đề và phân tích nó, làm cho nó trở nên quen thuộc với bạn và nói rõ rằng nó là một phần trong cuộc sống của chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Bệnh tật xảy ra. Nó không phải là một cái gì đó đặc biệt; nó là một phần của tự nhiên và là một thực tế của cuộc sống. Tất nhiên chúng ta có mọi quyền để tránh bệnh tật và đau đớn, nhưng bất chấp nỗ lực đó, khi bệnh tật xảy ra, tốt hơn là nên chấp nhận nó. Mặc dù bạn nên cố gắng hết sức để chữa khỏi nó càng sớm càng tốt, nhưng bạn không có thêm gánh nặng về tinh thần nào khác. Như học giả vĩ đại Ấn Độ Tịch Thiên (Shantideva) đã nói: "Nếu có cách để vượt qua đau khổ, thì không cần phải lo lắng; nếu không có cách nào để vượt qua đau khổ, thì lo lắng cũng chẳng ích gì”. Loại thái độ lý trí đó khá hữu ích.</p>
<p style="text-align: justify;">Cái chết là một phần của cuộc sống của tất cả chúng ta. Cho dù chúng ta có thích hay không, nó chắc chắn sẽ xảy ra. Thay vì tránh suy nghĩ về nó, tốt hơn là thấu hiểu ý nghĩa của nó. Tất cả chúng ta đều có cùng một cơ thể, cùng một loại thịt xương con người, và do đó tất cả chúng ta sẽ chết. Tất nhiên, có một sự khác biệt lớn giữa cái chết tự nhiên và cái chết tai nạn, nhưng về cơ bản cái chết sẽ đến sớm hay muộn. Nếu từ đầu, thái độ của bạn là: "Vâng, cái chết là một phần của cuộc sống của chúng ta", thế thì nó có thể dễ đối mặt hơn.</p>
<p style="text-align: justify;">Có hai cách tiếp cận riêng biệt để đối phó với một vấn đề. Một là chỉ đơn giản là tránh nó bằng cách không nghĩ về nó. Cái kia, hiệu quả hơn nhiều, là đối mặt với nó một cách trực tiếp vì thế bạn đã có ý thức về nó. Nói chung, có hai loại vấn đề hoặc đau khổ: Với một loại, có thể, bằng cách tiếp nhận một thái độ nào đó, thì người ta có thể thật sự làm giảm năng lực cùng mức độ đau khổ và lo lắng. Tuy nhiên, có thể có những loại vấn đề và đau khổ khác mà việc tiếp nhận một loại thái độ và cách suy nghĩ nào đó có thể không nhất thiết làm giảm mức độ đau khổ, nhưng điều đó vẫn sẽ chuẩn bị cho bạn đối mặt với nó.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi những điều không may xảy ra trong cuộc sống của chúng ta thì có hai kết quả có thể xảy ra. Một khả năng là tinh thần bất ổn, lo lắng, sợ hãi, nghi ngờ, thất vọng và cuối cùng là trầm cảm, và trong trường hợp xấu nhất, thậm chí là tự tử. Đó là một cách. Khả năng khác là do trải nghiệm bi thảm đó mà bạn trở nên thực tế hơn, bạn trở nên gần với thực tại hơn. Với sức mạnh của sự thẩm tra, trải nghiệm bi thảm có thể khiến bạn trở nên mạnh mẽ hơn, đồng thời gia tăng sự tự tin và lòng tự lập của bản thân. Sự kiện không may có thể là một nguồn sức mạnh bên trong.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự thành công trong cuộc sống và tương lai của chúng ta phụ thuộc vào động cơ và sự quyết tâm hay sự tự tin của chúng ta. Trải qua những trải nghiệm khó khăn, cuộc sống đôi khi trở nên đầy đủ ý nghĩa hơn. Nếu bạn nhìn vào những người mà ngay từ đầu cuộc đời của họ đã có tất cả mọi thứ, bạn có thể thấy rằng khi những điều nhỏ nhặt xảy ra, họ sẽ sớm mất hy vọng hoặc trở nên cáu kỉnh. Những người khác đã phát triển thái độ tinh thần mạnh mẽ hơn do kết quả của những khó khăn của họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi nghĩ rằng người đã từng trải qua nhiều gian khổ có thể đứng vững hơn khi đối mặt với vấn đề hơn là người chưa từng trải qua đau khổ. Từ góc độ này, thế thì một đau khổ nào đó có thể là một bài học tốt cho cuộc sống.</p>
<p style="text-align: justify;">Riêng tôi, tôi đã mất đất nước của mình và tệ hơn nữa, đất nước của tôi đã có rất nhiều sự tàn phá, đau khổ và bất hạnh. Tôi đã dành không chỉ phần lớn cuộc đời mình mà còn là phần tốt nhất của cuộc đời mình bên ngoài Tây Tạng. Nếu bạn chỉ nghĩ về điều này từ góc độ đó, hầu như không có bất cứ điều gì tích cực. Nhưng ở một góc độ khác, bạn có thể thấy rằng vì những điều không may này mà tôi đã có một kiểu tự do khác, chẳng hạn như cơ hội gặp gỡ những người khác nhau từ các truyền thống khác nhau và cũng có thể gặp gỡ các nhà khoa học từ các lĩnh vực khác nhau, và tôi đã học được nhiều điều quý giá. Vì vậy, những kinh nghiệm bi thảm của tôi cũng có một số khía cạnh đáng giá.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhìn vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau thật sự làm giảm bớt gánh nặng tinh thần. Theo quan điểm của Phật giáo, mọi sự kiện đều có nhiều khía cạnh và đương nhiên một sự kiện có thể được nhìn từ nhiều góc độ khác nhau. Rất hiếm hoặc hầu như không thể xảy ra một sự kiện có thể là tiêu cực từ mọi quan điểm. Vì vậy, sẽ rất hữu ích khi có điều gì đó xảy ra, hãy cố gắng nhìn nó từ nhiều góc độ khác nhau và sau đó bạn có thể nhìn thấy những khía cạnh tích cực hoặc có lợi. Hơn nữa, nếu có điều gì đó xảy ra, việc so sánh với một số sự kiện khác hoặc với sự kiện của người khác hoặc quốc gia khác sẽ rất hữu ích ngay lập tức. Điều này cũng rất hữu ích trong việc duy trì sự hòa bình của bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Bây giờ tôi sẽ giải thích, với tư cách là một tu sĩ Phật giáo, làm thế nào để đối phó với cái chết. Đức Phật đã dạy các nguyên tắc của Bốn Chân Lý Cao Quý (Tứ Diệu Đế), trong đó nguyên tắc đầu tiên là Sự thật về Khổ. Sự thật về Khổ được giảng dạy trong bối cảnh có ba đặc tính của sự tồn tại, đặc điểm thứ nhất là tính vô thường. Khi nói về bản chất của vô thường, chúng ta phải ghi nhớ rằng có hai cấp độ. Một là mức độ thô, khá rõ ràng và là sự ngừng tiếp tục của một cuộc sống hoặc một sự kiện. Nhưng bản chất vô thường đang được giảng dạy liên quan đến Tứ Diệu Đế đề cập đến khía cạnh vi tế hơn của vô thường, đó là bản chất tạm thời của sự tồn tại.</p>
<p style="text-align: justify;">Bằng cách quán chiếu về các mức độ thô hơn của vô thường, người ta sẽ có thể đối đầu và chống lại sự bám chấp ở tính thường còn hoặc tồn tại vĩnh viễn về đặc tính hay bản ngã của chính mình, bởi vì nắm bắt ở tính thường còn buộc chúng ta phải bám chấp vào chính "bây giờ" hoặc các vấn đề của chính mình suốt đời. Bằng cách giải thoát sự kìm kẹp của việc bám chấp và tồn tại vĩnh viễn này trong chúng ta, thì chúng ta sẽ ở một vị trí tốt hơn để thấu hiểu giá trị của sự hoạt động vì những kiếp sống tương lai của chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Một trong những lý do tại sao tỉnh thức về cái chết và sự vô thường là rất quan trọng trong thực hành tôn giáo của Đạo Phật vì người ta cho rằng trạng thái tâm trí của bạn lúc chết có ảnh hưởng rất lớn đến việc xác định hình thức tái sinh bạn có thể có. Cho dù đó là trạng thái tinh thần tích cực hay tiêu cực đều sẽ có tác dụng rất lớn. Vì vậy, thực hành tôn giáo của Đạo Phật nhấn mạnh rất lớn tầm quan trọng của sự tỉnh thức về cái chết và vô thường.</p>
<p style="text-align: justify;">Một trong những tác dụng phụ tích cực của việc duy trì mức độ tỉnh thức về cái chết rất cao là nó sẽ chuẩn bị cho cá nhân đến mức mà khi cá nhân đó thật sự đối mặt với cái chết, người ấy sẽ ở một vị trí tốt hơn để duy trì sự có mặt của tâm thức người ấy. Đặc biệt trong Phật giáo Mật tông, người ta coi trạng thái tâm thức mà một người trải qua lúc sắp chết là vô cùng vi tế và vì sự tinh tế của cấp độ tâm thức đó, nó cũng có một sức mạnh to lớn và tác động lên sự tương tục của tâm thức của hành giả.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong các thực hành Mật tông, chúng tôi nhận thấy rất nhiều sự nhấn mạnh vào những quán chiếu về tiến trình của cái chết, vì thế cá nhân vào lúc chết không chỉ giữ được sự chánh niệm của tâm thức mà còn có thể sử dụng trạng thái vi tế đó của tâm thức một cách hiệu quả hướng tới việc thực chứng con đường [tu tập].</p>
<p style="text-align: justify;">Từ quan điểm Mật thừa, toàn bộ quá trình tồn tại được giải thích trong dạng thức của ba giai đoạn được biết như là "sự chết", "trạng thái trung ấm" và "tái sinh". Tất cả ba giai đoạn tồn tại này được xem như là những trạng thái hoặc biểu hiện của tâm thức và các năng lượng đi kèm hoặc thúc đẩy tâm thức, vì thế trạng thái trung ấm và tái sinh không gì khác hơn là các cấp độ khác nhau của tâm thức và năng lượng vi tế. Ví dụ về các trạng thái dao động như vậy có thể được tìm thấy trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, khi trong suốt 24 giờ trong ngày chúng ta trải qua chu kỳ ngủ sâu, thời kỳ thức và trạng thái giấc mơ. Sự tồn tại hàng ngày của chúng ta trên thực tế được đặc trưng bởi ba giai đoạn này.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi cái chết trở thành một thứ gì đó quen thuộc với bạn, khi bạn có một số kiến thức về các quá trình của nó và có thể nhận ra các dấu hiệu bên ngoài và bên trong của nó, thì bạn đã chuẩn bị sẵn sàng cho nó. Theo kinh nghiệm của bản thân, tôi vẫn không tự tin rằng vào lúc chết, tôi sẽ thực sự thực hiện tất cả những thực hành mà tôi đã chuẩn bị. Tôi không có gì đảm bảo!</p>
<p style="text-align: justify;">Đôi khi tôi nghĩ về cái chết, tôi có một cảm giác hào hứng nào đó. Thay vì sợ hãi, tôi có cảm giác tò mò và điều này khiến tôi dễ dàng chấp nhận cái chết hơn rất nhiều. Tất nhiên, gánh nặng duy nhất của tôi nếu tôi chết hôm nay là: "Ồ, chuyện gì sẽ xảy ra với Tây Tạng? Còn văn hóa Tây Tạng thì sao? Còn về quyền của sáu triệu người dân Tây Tạng thì sao?” Đây là mối quan tâm chính của tôi. Nếu không, tôi hầu như không cảm thấy sợ hãi gì với cái chết.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong thực hành cầu nguyện hàng ngày của tôi, tôi quán tưởng tám yoga bổn tôn khác nhau và tám cái chết khác nhau. Có lẽ khi cái chết đến, mọi sự chuẩn bị của tôi có thể thất bại. Tôi hy vọng là không! Tôi nghĩ rằng những thực hành này rất hữu ích về mặt tinh thần trong việc đối phó với cái chết. Ngay cả khi không có kiếp sau, sẽ có lợi ích nào đó nếu họ giải tỏa được nỗi sợ hãi. Và bởi vì ít sợ hãi hơn, người ta có thể chuẩn bị đầy đủ hơn. Nếu bạn đã chuẩn bị đầy đủ thế thì vào lúc lâm chung, bạn có thể giữ được sự thanh thản cho tâm hồn mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi nghĩ rằng lúc chết một tâm hồn thanh thản là điều cần thiết cho dù bạn tin vào điều gì, cho dù đó là Phật giáo hay một tôn giáo nào khác. Vào lúc chết, cá nhân không nên tìm cách phát triển sự tức giận, thù hận, v.v... Tôi nghĩ ngay cả những người không tín ngưỡng cũng thấy tốt hơn là ra đi trong thanh thản thì hạnh phúc hơn nhiều. Ngoài ra, đối với những người tin vào thiên đàng hoặc một số quan niệm khác, tốt nhất là nên ra đi trong thanh thản với suy nghĩ về Chúa của riêng một người hoặc niềm tin vào các thế lực cao hơn. Đối với các Phật tử và các truyền thống Ấn Độ cổ đại khác, vốn chấp nhận thuyết tái sinh hay nghiệp báo, đương nhiên vào lúc chết, trạng thái tâm hồn đức hạnh sẽ có lợi.</p>
<p><strong>Đức Dalai Lama 14</strong></p>
<p><em>Việt dịch: Quảng Cơ, Tuệ Uyển</em></p>
<p><em>Trích: Năng lực của Từ bi</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/doi-dien-voi-su-chet-va-lam-chung-2/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Toại nguyện, niềm vui và cuộc sống tốt lành</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/toai-nguyen-niem-vui-va-cuoc-song-tot-lanh/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/toai-nguyen-niem-vui-va-cuoc-song-tot-lanh/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 13 Jan 2023 06:58:32 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Gelug]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11986</guid>
		<description><![CDATA[Thực tế cơ bản là tất cả chúng sinh, đặc biệt là con người, muốn hạnh phúc và không muốn đau đớn và khổ sở. Trên cơ sở đó, chúng ta có mọi quyền để được hạnh phúc và sử dụng các phương pháp khác nhau hoặc có nghĩa là vượt qua đau khổ và đạt được cuộc sống hạnh&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/toai-nguyen-niem-vui-va-cuoc-song-tot-lanh/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Thực tế cơ bản là tất cả chúng sinh, đặc biệt là con người, muốn hạnh phúc và không muốn đau đớn và khổ sở. Trên cơ sở đó, chúng ta có mọi quyền để được hạnh phúc và sử dụng các phương pháp khác nhau hoặc có nghĩa là vượt qua đau khổ và đạt được cuộc sống hạnh phúc hơn. Thật đáng để suy nghĩ nghiêm túc về những hậu quả tích cực và tiêu cực của các phương pháp này. Bạn nên biết rằng có sự khác biệt giữa hậu quả của quan tâm ngắn hạn và quan tâm dài hạn và - và lợi ích dài hạn là quan trọng hơn. Các Phật tử thường nói rằng không có tuyệt đối và mọi thứ đều quan hệ. Vì vậy chúng ta phải phân xử tùy theo hoàn cảnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Trải nghiệm và cảm giác của chúng ta chủ yếu liên quan đến cơ thể và tâm thức. Chúng ta biết từ kinh nghiệm hàng ngày của mình rằng hạnh phúc về tinh thần là có lợi. Ví dụ, mặc dù hai người có thể phải đối mặt với cùng một loại bi kịch, nhưng một người có thể đối mặt với nó dễ dàng hơn người kia do thái độ tinh thần của người ấy.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi tin rằng nếu ai đó thật sự muốn một cuộc sống hạnh phúc thì rất quan trọng là theo đuổi cả phương tiện bên trong và bên ngoài; nói cách khác, phát triển tinh thần và phát triển vật chất. Người ta cũng có thể nói "phát triển tâm linh", nhưng khi tôi nói "tâm linh", thì không nhất thiết có nghĩa là bất kỳ loại đức tin tôn giáo nào. Khi tôi sử dụng từ ngữ "tâm linh", thì tôi muốn nói là những phẩm chất tốt đẹp cơ bản của con người. Đó là: tình cảm con người, ý thức của liên hệ, trung thực, kỷ luật và sự thông minh của con người thích hợp vốn được hướng dẫn bởi động cơ tốt lành. Chúng ta có tất cả những phẩm chất này từ khi sinh ra; chúng không đến với chúng ta sau này trong cuộc sống của chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Là con người, tất cả chúng ta đều có tiềm năng con người như nhau, trừ khi có một số chức năng não nào chậm phát triển. Bộ não tuyệt vời của con người là nguồn gốc sức mạnh của chúng ta và nguồn cội tương lai của chúng ta, miễn là chúng ta sử dụng nó đúng hướng. Nếu chúng ta sử dụng trí óc thông minh của con người trong cung cách sai lầm, thì đó thật sự là một thảm họa.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi nghĩ con người là những chúng sinh siêu việt trên hành tinh này. Con người không chỉ có tiềm năng tạo ra cuộc sống hạnh phúc cho bản thân họ, mà còn để giúp đỡ những chúng sinh khác. Chúng ta có một khả năng sáng tạo tự nhiên và nhận ra điều này thật là rất quan trọng.</p>
<p style="text-align: justify;">Với việc nhận ra tiềm năng của chính mình và sự tự tin vào khả năng của cá nhân, chúng ta có thể xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Theo kinh nghiệm của riêng tôi, sự tự tin là rất quan trọng. Kiểu tự tin đó không phải là sự mù quáng; nhưng đó là nhận thức về tiềm năng của chính mình. Trên cơ bản đó, chúng ta có thể tự chuyển hóa bằng cách gia tăng những phẩm chất tốt đẹp và giảm thiểu những phẩm chất tiêu cực.</p>
<p style="text-align: justify;">Giáo lý cơ bản của Đức Phật là lời dạy của Ngài về Bốn Chân Lý Cao Quý: 1) Rằng có đau khổ; 2) đau khổ đó có nguyên nhân; 3) có sự chấm dứt đau khổ; và, 4) có một con đường dẫn đến tự do khỏi khổ đau. Nguyên tắc cơ bản của giáo huấn này là nguyên lý nhân quả phổ quát. Điều gì trở nên quan trọng trong sự hiểu biết về giáo lý cơ bản này đó là nhận thức chân thật về tiềm năng của chính chúng ta và nhu cầu sử dụng chúng một cách tối đa. Nhìn trong ánh sáng này, thì mọi hành động của con người chúng ta trở nên đầy ý nghĩa.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi tin rằng bộ não con người và lòng từ bi cơ bản của con người là tự nhiên trong một loại cân bằng nào đó. Đôi khi, khi lớn lên, chúng ta có thể quên lãng tình cảm của con người và chỉ tập trung vào não bộ [hay lý trí] con người, do đó mất cân bằng. Rồi thì đó là những thảm họa và không chào đón sự việc xảy ra.</p>
<p style="text-align: justify;">Nụ cười là một đặc điểm rất quan trọng trên khuôn mặt con người. Nhưng vì trí thông minh của con người, cho nên ngay cả phần bản chất tốt đẹp đó của con người cũng có thể bị sử dụng sai lạc, chẳng hạn như nụ cười mỉa mai hay nụ cười xã giao, chỉ nhằm tạo ra sự nghi ngờ. Tôi cảm thấy rằng một nụ cười chân thành, trìu mến là rất quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Làm thế nào người ta tạo ra nụ cười, thì phần lớn phụ thuộc vào thái độ của chính họ. Thật không hợp lý khi mong đợi nụ cười từ người khác nếu tự ta không mỉm cười với chính mình. Do đó, người ta có thể thấy rằng nhiều thứ phụ thuộc vào cung cách cư xử của chính mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Điều quan trọng là sử dụng trí thông minh và óc phán đoán của con người, đồng thời lưu tâm đến lợi ích cho hạnh phúc lâu dài và ngắn hạn. Cho đến một thời điểm nhất định, cơ thể tự nó là một bộ chỉ bảo tốt. Ví dụ, nếu một ngày nào đó loại thực phẩm nào đó khiến bạn khó chịu, thì sau này bạn sẽ không muốn tiêu thụ loại thực phẩm đó. Có vẻ như ở một giai đoạn nhất định, chính cơ thể có thể cho chúng ta biết điều gì là phù hợp để có được cát tường và hạnh phúc và điều gì là không.</p>
<p style="text-align: justify;">Đôi khi trí thông minh của bạn có thể chống lại mong muốn trước mắt của bạn vì nó biết trước hậu quả lâu dài. Vì vậy, vai trò của trí thông minh là xác định tiềm năng tích cực và tiêu cực của một sự kiện hoặc yếu tố có thể có cả kết quả tích cực và tiêu cực. Đó là vai trò của trí thông minh, với sự tỉnh thức đầy đủ được cung cấp bởi tu học, để đánh giá và theo đó sử dụng tiềm năng cho lợi ích hoặc cát tường của chính một người.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu chúng ta xem xét thế giới tinh thần của mình, chúng ta thấy rằng có nhiều yếu tố tinh thần khác nhau có cả mặt tích cực và tiêu cực. Ví dụ, chúng ta có thể xem xét hai loại khá giống nhau: một là tự tin và hai là tự phụ hoặc kiêu ngạo. Cả hai đều giống nhau ở chỗ đều là trạng thái tinh thần phấn chấn mang lại cho bạn sự tự tin và mạnh dạn một mức độ nhất định. Nhưng tự phụ và kiêu căng có xu hướng dẫn đến những hậu quả tiêu cực hơn, trong khi sự tự tin có xu hướng dẫn đến những hậu quả tích cực hơn.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi thường phân biệt giữa các loại bản ngã khác nhau. Một loại bản ngã là tự nâng niu bản thân để đạt được lợi ích nào đó cho bản thân, coi thường quyền lợi của người khác. Đây là bản ngã tiêu cực. Một bản ngã khác nói: "Tôi phải là một con người tốt. Tôi phải phục vụ. Tôi phải hoàn toàn chịu trách nhiệm”. Loại cảm giác mạnh mẽ về cái "tôi" hay tự ngã ấy phản đối một số cảm xúc tiêu cực của chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì vậy, có hai loại bản ngã, và trí tuệ hay óc thông minh tạo nên một sự khác biệt. Tương tự thế, chúng ta phải có khả năng phân biệt giữa sự khiêm tốn chân thật và sự thiếu tự tin. Người ta có thể nhầm hai thứ ấy vì cả hai đều là những chức năng tinh thần hơi khiêm tốn, nhưng một là tích cực và một là tiêu cực.</p>
<p style="text-align: justify;">Có cả mong muốn tích cực và tiêu cực. Ví dụ, văn học Phật giáo Đại thừa đề cập đến hai ước muốn hoặc hai nguyện vọng. Một là nguyện vọng mang lại lợi ích cho tất cả chúng sinh và nguyện vọng khác là đạt được thể trạng Giác Ngộ hoàn toàn cho mục đích đó. Nếu không có hai loại nguyện vọng này, việc đạt được Toàn giác là không thể. Nhưng cũng có những điều tiêu cực do ham muốn. Đối trị cho mong muốn tiêu cực này là sự toại nguyện. Luôn luôn có những cực đoan, nhưng con đường trung đạo mới là con đường thích hợp.</p>
<p style="text-align: justify;">Cảm giác toại nguyện là yếu tố then chốt để đạt được hạnh phúc. Sức khỏe thân thể, của cải vật chất và những người bạn đồng hành là ba yếu tố để có được hạnh phúc. Sự toại nguyện là chìa khóa sẽ quyết định kết quả của những mối quan hệ của quý vị với cả ba yếu tố này.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi thái độ của chúng ta đối với của cải vật chất và sự thịnh vượng của chúng ta không đúng đắn, nó có thể dẫn đến sự dính mắc cực độ đối với những thứ như tài sản, nhà cửa và của cải của chúng ta. Điều này có thể dẫn đến không thể cảm thấy toại nguyện. Nếu điều đó xảy ra, rồi thì người ta sẽ luôn ở trong trạng thái không hài lòng, luôn muốn nhiều hơn nữa. Theo một cách nào đó, người ta sau đó thật sự nghèo, bởi vì đau khổ của nghèo đói là đau khổ của sự mong muốn một cái gì đó và cảm thấy thiếu nó.</p>
<p style="text-align: justify;">Bây giờ khi chúng ta nói về đối tượng của sự thích thú hay ham muốn và cát tường vật chất, giáo lý nhà Phật đề cập đến năm loại đối tượng của ham muốn: hình tướng, âm thanh, mùi hương, vị nếm và xúc chạm. Những đối tượng hưởng thụ này có dẫn đến hạnh phúc, hài lòng và toại nguyện hay không, hay ngược lại, làm nảy sinh đau khổ và bất mãn phụ thuộc rất nhiều vào cách bạn áp dụng khả năng thông minh của mình. Thái độ của chúng ta trong cuộc sống hàng ngày là yếu tố then chốt để quyết định xem những điều này có thật sự tạo ra sự hài lòng lâu dài và chân thật hay không. Phần lớn phụ thuộc vào thái độ của chính chúng ta. Và đối với yếu tố tinh thần này, động lực là điều quan trọng then chốt.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong kinh luận Phật giáo, cuộc sống con người được xem như một dạng tồn tại hoặc tái sinh thuận lợi. Có nhiều yếu tố khác nhau có thể bổ sung cho sự tồn tại thuận lợi của con người, chẳng hạn như có tuổi thọ, sức khỏe tốt, của cải vật chất và tài hùng biện vì thế người ta có thể liên hệ với người khác theo cách có lợi hơn. Nhưng liệu những điều kiện này có dẫn đến sự tồn tại có lợi hơn hay có hại hơn hay không phụ thuộc rất nhiều vào cách bạn sử dụng chúng và liệu bạn có áp dụng khả năng thông minh hay không.</p>
<p style="text-align: justify;">Kinh luận Phật giáo đề cập đến việc thực hành Sáu Ba La Mật. Ví dụ, trong trường hợp có được của cải vật chất, theo Phật giáo, sự bố thí và hành động ban cho được coi là nguyên nhân của sự giàu có. Nhưng để thực hành lòng bố thí và ban cho thành công, trước hết người ta phải có một kỷ luật đạo đức lành mạnh (trì giới). Và kỷ luật đạo đức đó chỉ có thể đạt được nếu một người có khả năng chịu đựng gian khổ (nhẫn nhục) khi đối đầu với chúng. Để làm được điều đó, bạn cũng cần một mức độ vui vẻ nỗ lực (tinh tấn) nhất định.</p>
<p style="text-align: justify;">Để thực hành áp dụng thành công nỗ lực vui vẻ (tinh tấn), người ta phải có khả năng tập trung, chú tâm (thiền định) vào các sự kiện, hành động hoặc mục tiêu. Điều đó lại phụ thuộc vào việc bạn có khả năng thực hiện năng lực phán đoán (tuệ trí) của mình hay không, để đánh giá giữa điều gì là đáng mong muốn và điều gì là không đáng mong muốn, điều gì là tiêu cực và điều gì là tích cực.</p>
<p style="text-align: justify;">Làm thế nào để chúng ta thực hiện các nguyên tắc được quy định trong việc thực hành Sáu Ba La Mật trong cuộc sống hàng ngày của mình? Phật giáo khuyến nghị nên sống một cuộc đời trong giới luật đạo đức tuân thủ những gì được gọi là Mười Giới (thập thiện), hoặc Tránh Mười Hành động Tiêu cực. Hầu hết các Hành động Tiêu cực là điểm chung của tất cả các truyền thống tôn giáo. Chúng bị coi là tiêu cực hoặc không mong muốn đối với xã hội nói chung, bất kể quan điểm tôn giáo nào.</p>
<p style="text-align: justify;">Ứng xử tốt là cung cách mà cuộc sống trở nên đầy đủ ý nghĩa hơn, mang tính xây dựng hơn và hòa bình hơn. Đối với điều này, phần lớn phụ thuộc vào hành vi của chúng ta và thái độ tinh thần của chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Dalai Lama 14</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Quảng Cơ, Tuệ Uyển</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Trích: Năng lực của Từ bi</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/toai-nguyen-niem-vui-va-cuoc-song-tot-lanh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Phát tâm Bồ đề</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/phat-tam-bo-de/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/phat-tam-bo-de/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 13 Jan 2023 06:38:34 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Gelug]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11984</guid>
		<description><![CDATA[Nghi lễ cho việc phát tâm vị tha nguyện ước giác ngộ là một nghi thức đơn giản. Mục tiêu của nó là để khẳng định và ổn định nguyện vọng đạt đến Quả Phật của chúng ta vì lợi ích của tất cả chúng sinh. Sự khẳng định này là thiết yếu cho việc làm nổi bật sự thực hành&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/phat-tam-bo-de/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Nghi lễ cho việc phát tâm vị tha nguyện ước giác ngộ là một nghi thức đơn giản. Mục tiêu của nó là để khẳng định và ổn định nguyện vọng đạt đến Quả Phật của chúng ta vì lợi ích của tất cả chúng sinh. Sự khẳng định này là thiết yếu cho việc làm nổi bật sự thực hành bi mẫn.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta bắt đầu nghi lễ này bằng việc quán tưởng một hình tượng của Đức Phật. Một khi việc quán tưởng là phân minh, chúng ta cố gắng để tưởng tượng rằng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thật sự hiện diện trước mặt chúng ta. Chúng ta tưởng tượng rằng Ngài được vây quanh bởi những đại sư Ấn Độ trong quá khứ, Long Thọ, người thiết lập trường phái triết lý Trung Quán và sự diễn giải vi diệu nhất về tính không, và Vô Trước, đạo sư truyền thừa chính của phương diện "phương pháp" bao la của sự thực tập của chúng ta, là ở trong những đại sư ấy. Chúng ta cũng tưởng tượng Đức Phật được vây quanh bởi những đạo sư của bốn trường phái Phật Giáo Tây Tạng: Sakya, Gelugpa, Nyingma, và Kagyu. Sau đó chúng ta tưởng tượng chính mình được vây quanh bởi tất cả chúng sinh. Diễn đàn bây giờ được thiết lập cho việc phát tâm vị tha nguyện ước giác ngộ. Các hành giả của những tín ngưỡng khác có thể tham dự trong nghi lễ đơn giản bằng việc trau dồi một thái độ nhiệt tâm, vị tha đối với tất cả chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Bảy điều quán nguyện thực hành</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Nghi lễ bắt đầu với một nghi thức mà trong ấy công đức được tích tập và phiền não được tiêu trừ. Chúng ta tiến hành nghi thức này bằng việc quán chiếu trên những điểm thiết yếu của Bảy Điều Quán Nguyện.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Điều thực hành thứ nhất</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Tôn kính</p>
<p style="text-align: justify;">Trong điều thực hành thứ nhất, chúng ta dâng lòng tôn kính với Đức Phật bằng việc quán chiếu trong những phẩm chất của giác ngộ của thân, miệng, và tâm của Ngài. Chúng ta có thể chứng tỏ lòng thành tín và dâng hiến bằng việc lễ lạy trước khi quán tưởng hình tượng của Đức Phật. Bằng việc tỏ lòng quy kính từ trái tim, chúng ta cũng tỏ lòng tôn kính những phẩm chất Phật trong chính chúng ta. (Nhất giả lễ kính chư Phật - Nhị giả xưng tán Như Lai)</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Điều thực hành thứ hai</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Cúng dường</p>
<p style="text-align: justify;">Điều thực hành thứ hai là cúng dường. Chúng ta có thể thực hiện việc cúng dường vật chất hay đơn giản tưởng tượng chúng ta đang cúng dường những sở hữu quý giá đến chúng hội mà chúng ta đang quán tưởng phía trước chúng ta. Việc cúng dường sâu sắc và đầy đủ ý nghĩa nhất của chúng ta là sự thực hành tâm linh chuyên cần của chúng ta. Tất cả những phẩm chất tốt đẹp mà chúng ta đã tích tập là kết quả của việc tiến hành trong những hành vi đức hạnh. Những hành vi bi mẫn, hành vi ân cần, ngay cả một nụ cười mỉm vào người nào đấy hay tỏ lòng quan tâm cho người nào đấy đang đau đớn, tất cả là những hành vi đức hạnh. Chúng ta cúng dường những điều này trong bất cứ thí dụ nào của lời nói đức hạnh. Những thí dụ có thể bao gồm những lời khen ngợi, chúc tụng mà chúng ta đã nói với người khác, việc tái cam đoan, những lời êm dịu hay an ủi - tất cả những hành vi tích cực được tiến hành qua lời nói. Chúng ta cũng cúng dường những hành vi tinh thần của đạo đức. Việc trau dồi lòng vị tha, cảm nhận về ân cần săn sóc, lòng bi mẫn của chúng ta. Và lòng tin tưởng sâu xa cũng như sự dâng hiến giáo nghĩa Phật Đà của chúng ta là ở trong những sự cúng dường này. Tất cả những điều này là những hành vi đức hạnh tinh thần. Chúng ta có thể quán tưởng tất cả những thứ này trong hình thức của những đối tượng tuyệt đẹp và quý giá phong phú mà chúng ta cúng dường đến Đức Phật và hội chúng được quán tưởng phía trước chúng ta. Chúng ta có thể cúng dường bằng tinh thần đến toàn thể pháp giới, vũ trụ, môi trường của chúng ta với những khu rừng, đồi núi, đồng cỏ, và những cánh đồng bông hoa. Bất kể chúng có thuộc sở hữu của chúng ta hay không, chúng ta có thể cúng dường một cách tinh thần. (Tam giả quảng tu cúng dường)</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Điều thực hành thứ ba</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sám hối</p>
<p style="text-align: justify;">Điều thực hành thứ ba là sám hối. Yếu tố then chốt của sám hối là việc đang nhận thức về những hành vi tiêu cực của chúng ta, những việc làm sai lầm mà chúng ta đã từng dấn thân vào. Chúng ta nên trau dồi một cảm nhận hối lỗi sâu xa và rồi hình thành một quyết tâm mạnh mẽ không theo đuổi trong những thái độ phi đạo đức như thế trong tương lai. (Tứ giả sám hối nghiệp chướng)</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Điều thực hành thứ tư</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Tùy hỷ</p>
<p style="text-align: justify;">Điều thực hành thứ tư là việc tập tùy hỷ. Bằng việc tập trung trên những hành vi đức hạnh quá khứ, chúng ta phát triển một niềm hoan hỷ lớn trong việc hoàn thành của chúng ta. Chúng ta phải bảo đảm rằng chúng ta không bao giờ hối hận bất cứ hành vi tích cực nào mà chúng ta đã làm mà đúng hơn là chúng ta tìm thấy niềm hoan hỷ với việc thực hành những việc làm tốt đẹp ấy. Thậm chí quan trọng hơn, chúng ta nên tùy hỷ trong những hành vi tích cực với người khác, những chúng sinh thấp kém hơn chúng ta, yếu đuối hơn chúng ta, cao siêu hơn chúng ta, hay mạnh mẽ hơn chúng ta hay ngang bằng với chúng ta. Thật quan trọng để bảo đảm rằng thái độ của chúng ta đối với những đức hạnh của người khác không bị làm mờ đi bởi sự ganh đua hay ghen tỵ; chúng ta phải cảm thấy một sự ngưỡng mộ thuần khiết và hoan hỷ đối với những phẩm chất và sự hoàn thành của họ. (Ngũ giả tùy hỷ công đức)</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Điều thực hành thứ năm và thứ sáu</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Khuyến thỉnh và Cầu xin</p>
<p style="text-align: justify;">Trong hai điều thực hành tiếp theo chúng ta thỉnh cầu chư Phật giảng dạy hay chuyển bánh xe pháp vì lợi ích của tất cả chúng sinh, sau đó cầu xin các Ngài đừng tìm cầu an lạc niết bàn cho riêng các Ngài mà thôi.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Điều thực hành thứ bảy</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Hồi hướng</p>
<p style="text-align: justify;">Điều thực hành thứ bảy và cuối cùng là điều quán nguyện hồi hướng. Tất cả những công đức và năng lực tích cực chúng ta đã tạo được từ tất cả những điều thực hành trước và những việc làm đức hạnh được hồi hướng đến mục tiêu cứu kính tâm linh: việc đạt đến Quả Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Đã thực hiện những thực tập chuẩn bị của Bảy Điều Quán Nguyện, chúng ta bây giờ đã sẵn sàng để phát sinh thật sự tâm vị tha nguyện ước giác ngộ. Bài kệ đầu tiên của buổi lễ bắt đầu với sự hiện diện của động cơ thích đáng:</p>
<p style="text-align: justify;">Với nguyện ước giải thoát tất cả chúng sinh</p>
<p style="text-align: justify;">Câu thứ hai và thứ ba xác định những đối tượng của quy y: Phật Bảo, Pháp Bảo, và Tăng Bảo. Thời điểm của chí nguyện cho việc tìm cầu sự quy y này cũng được thiết lập trong những dòng này:</p>
<p style="text-align: justify;">Con sẽ luôn luôn quy y với<br />
Phật Bảo, Pháp Bảo, và Tăng Bảo.</p>
<p style="text-align: justify;">Bài kệ thứ hai là sự phát sinh tâm vị tha nguyện ước giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Được làm cho nhiệt tình bởi tuệ trí và từ bi</p>
<p style="text-align: justify;">Hôm nay với sự hiện diện của chư Phật</p>
<p style="text-align: justify;">Con phát tâm nguyện ước tỉnh thức hoàn toàn</p>
<p style="text-align: justify;">Vì lợi ích của tất cả chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Bài kệ này nhấn mạnh tầm quan trọng của tuệ trí và từ bi hợp nhất. Giác ngộ không là từ bi không tuệ trí hay tuệ trí tách rời từ bi. Đấy là một đặc thù của tuệ trí thực chứng tinh không được liên hệ ở đây. Có một sự thực chứng trực tiếp về tính không, hay ngay cả một nhận thức hay sự thấu hiểu thông tuệ về nó, điều ấy biểu thị khả năng cho một sự chấm dứt sự hiện hữu bất giác của chúng ta. Khi tuệ trí như vậy làm đầy đủ lòng từ bi của chúng ta, phẩm chất tiếp theo của từ bi là mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Chữ "được làm cho nhiệt tình" (enthused) trong câu kệ này biểu thị một lòng từ bi dấn thân và vô cùng năng động, không chỉ là một thể trạng của tâm thức.</p>
<p style="text-align: justify;">Câu tiếp theo,</p>
<p style="text-align: justify;">Hôm nay trong sự hiện diện của chư Phật</p>
<p style="text-align: justify;">Biểu thị rằng chúng ta đang ngưỡng mộ để đạt được thể trạng thật sự của một Đức Phật. Nó cũng có thể biết được với ý nghĩa là chúng ta đang kêu gọi sự chú ý của tất cả chư Phật để chứng minh cho sự kiện này, như chúng ta tuyên bố.</p>
<p style="text-align: justify;">Con phát tâm nguyện ước tỉnh thức hoàn toàn</p>
<p style="text-align: justify;">Vì lợi ích của tất cả chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Bài kệ cuối cùng, từ tác phẩm Hướng Dẫn Lối Sống Bồ tát của Tôn Giả Tịch Thiên ở Ấn Độ từ thế kỷ thứ 8, được biết là:</p>
<p style="text-align: justify;">Cho đến khi không gian còn tồn tại,</p>
<p style="text-align: justify;">Cho đến khi chúng sinh còn hiện hữu,</p>
<p style="text-align: justify;">Cho đến lúc ấy, con nguyện cũng hiện diện</p>
<p style="text-align: justify;">Và xua tan khổ não của trần gian.</p>
<p style="text-align: justify;">Những dòng này biểu lộ một tình cảm mãnh liệt. Một vị Bồ tát phải tự xem mình như vật sở hữu của tất cả chúng sinh. Giống như một hiện tượng trong thế giới tự nhiên hiện hữu ở đấy để người khác thụ hưởng và sử dụng, vì vậy sự hiện hữu và tồn tại của chính chúng ta sẵn sàng cho tất cả chúng sinh. Chỉ một lần chúng ta bắt đầu nghĩ trong những dạng thức như vậy là chúng ta có thể phát triển một tư tưởng đầy năng lực "Con sẽ dâng hiến toàn bộ sự hiện hữu của con vì lợi ích của người khác. Con tồn tại chỉ để phục vụ cho chúng sinh". Những quan điểm năng động như vậy tự hướng vào những hành vi làm lợi ích cho chúng sinh, và trong tiến trình cho những nhu cầu của chính chúng ta được đầy đủ. Bằng trái lại, nếu chúng ta sống trong toàn bộ cuộc sống bị thúc đẩy bởi lòng vị kỷ, chúng ta cuối cùng sẽ không thể đạt được những khát vọng vị kỷ của chính chúng ta, sẽ tệ hơn nhiều so với sự cát tường của kẻ khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Đức Phật lịch sử, bậc chúng ta tôn kính, nếu đã duy trì một đời sống vị kỷ như chúng ta, bây giờ chúng ta cũng sẽ đối xử với Ngài như những người thông thường khác, và nói rằng: "Ông hãy im lặng. Ông hãy câm mồm lại". Nhưng không phải như vậy. Bởi vì Đức Phật Thích Ca đã chọn bỏ rơi những cung cách vị kỷ và yêu mến người khác, chúng ta xem Ngài như một đối tượng của sự tôn kính.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Phật Thích Ca, những đạo sư rực sáng của Ấn Độ như Long Thọ và Vô Trước, và những đạo sư tột bậc của Tây Tạng trong quá khứ tất cả đều đã đạt được thể trạng giác ngộ của các ngài như một kết quả của sự thay đổi hoàn toàn nền tảng trong thái độ đối với chính các ngài và những người khác. Các ngài đã tìm cầu sự nương tựa. Các ngài đã ôm ấp sự cát tường của các chúng sinh khác. Các ngài đã đi đến thấy rằng sự luyến ái và chấp trước chính mình vào tự ngã như kẻ thù sinh đôi và cội nguồn sinh đôi vô đạo đức. Các ngài đã chiến đấu với hai năng lực này, và đã loại trừ chúng. Như một kết quả của sự thực tập, những chúng sinh vĩ đại này bây giờ đã trở thành những đối tượng cho sự ngưỡng mộ và noi gương của chúng ta. Chúng ta phải noi theo gương của các ngài và hành động để thấy sự tự luyến ái và chấp trước vào tự ngã như kẻ thù để loại trừ.</p>
<p style="text-align: justify;">Do vậy, trong khi đem những tư tưởng này đến tâm thức và quán chiếu chúng, chúng ta đọc theo ba bài kệ tiếp theo ba lần:</p>
<p style="text-align: justify;">Với nguyện ước giải thoát tất cả chúng sinh</p>
<p style="text-align: justify;">Con luôn luôn quy y</p>
<p style="text-align: justify;">Với Phật Bảo, Pháp Bảo, và Tăng Bảo</p>
<p style="text-align: justify;">Cho đến khi con đạt được sự giác ngộ hoàn toàn.</p>
<p style="text-align: justify;">Được làm cho nhiệt tình bởi tuệ trí và từ bi</p>
<p style="text-align: justify;">Hôm nay với sự hiện diện của chư Phật</p>
<p style="text-align: justify;">Con phát tâm nguyện ước tỉnh thức hoàn toàn</p>
<p style="text-align: justify;">Vì lợi ích của tất cả chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Cho đến khi không gian còn tồn tại,</p>
<p style="text-align: justify;">Cho đến khi chúng sinh còn hiện hữu,</p>
<p style="text-align: justify;">Cho đến lúc ấy, con nguyện cũng hiện diện</p>
<p style="text-align: justify;">Và xua tan khổ não của trần gian.</p>
<p style="text-align: justify;">Điều này hợp thành nghi thức phát tâm vị tha nguyện ước giác ngộ. Chúng ta phải cố gắng quán chiếu nghĩa của những dòng kệ này, hay bất cứ khi nào chúng ta thấy có thời gian. Tôi đã làm điều này và thấy nó rất quan trọng cho việc thực hành của tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Chân thành cảm ơn.</p>
<p><strong>Đức Dalai Lama 14</strong></p>
<p><em>Việt dịch: Tuệ Uyển</em></p>
<p><em>Trích: Trái tim rộng mở - Thực tập bi mẫn trong đời sống hàng ngày, NXB Ananda Viet Foundation Thư viện hoa sen</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/phat-tam-bo-de/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Quả Phật</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/qua-phat-2/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/qua-phat-2/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 05 Jan 2023 08:58:30 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Gelug]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11970</guid>
		<description><![CDATA[Để quy y một cách chân thành trong Ba Ngôi Tôn Quý, với lòng khao khát thâm sâu đạt đến giác ngộ vô thượng nhằm để làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, chúng ta cần thấu hiểu bản chất của giác ngộ. Chúng ta, dĩ nhiên, phải nhận ra rằng bản chất của cuộc sống trần gian là đầy&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/qua-phat-2/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Để quy y một cách chân thành trong Ba Ngôi Tôn Quý, với lòng khao khát thâm sâu đạt đến giác ngộ vô thượng nhằm để làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, chúng ta cần thấu hiểu bản chất của giác ngộ. Chúng ta, dĩ nhiên, phải nhận ra rằng bản chất của cuộc sống trần gian là đầy khổ não. Chúng ta biết rằng sự phù phiếm của việc theo đuổi trong vòng sinh tử có thể dường như vô cùng cám dỗ. Chúng ta quan tâm vì sự khổ đau mà người khác đang liên tục trải nghiệm, và chúng ta khao khát giúp họ vượt khỏi khổ não của họ. Khi sự thực hành của chúng ta được thúc đẩy bằng nguyện vọng này, việc hướng chúng ta đạt đến giác ngộ cứu kính của Quả Phật, chúng ta ở trên con đường của Đại Thừa.</p>
<p style="text-align: justify;">Thuật ngữ Đại Thừa thường được phối hợp với những hình thức Phật Giáo được truyền bá vào Tây Tạng, Trung Hoa, và Nhật Bản. Thuật ngữ này đôi khi cũng được áp dụng đến những trường phái Phật Giáo khác nhau. Tuy nhiên, ở đây tôi đang sử dụng thuật ngữ Đại Thừa trong ý nghĩa của một nguyện vọng nội tại của sự thực tập cá nhân. Động cơ tối thượng chúng ta có thể có là cung ứng tất cả chúng sinh với hạnh phúc, và nỗ lực mà chúng ta có thể dấn thân là đang hỗ trợ tất cả chúng sinh đạt đến hạnh phúc ấy.</p>
<p style="text-align: justify;">Những hành giả Đại Thừa dâng hiến chính mình đạt đến thể trạng của một Đức Phật. Họ hành động trong việc loại trừ si mê, phiền não, lòng vị kỷ được thúc đẩy bởi những hình thức tư tưởng cản trở họ đạt đến thể trạng giác ngộ hoàn toàn, thông suốt mọi sự cho phép họ làm lợi ích thật sự cho người khác. Hành giả dâng hiến chính họ để tinh luyện những phẩm chất đức hạnh chẳng hạn như rộng lượng, đạo đức, và nhẫn nhục đến mức độ họ sẽ tự dâng hiến trong bất cứ phương cách cần thiết nào và sẽ chấp nhận tất cả mọi khó khăn và bất công nhằm để phục vụ người khác. Quan trọng nhất, họ phát triển tuệ trí của họ: sự thực chứng tính không. Họ hành động với việc làm cho sự thực chứng này về tính không của sự tồn tại cố hữu (vô tự tính) ngày càng thậm thâm hơn. Họ phải tinh luyện tuệ giác này và phải làm sâu sắc thêm sự vi tế của tâm thức họ nhằm để được như thế. Dĩ nhiên, thật khó khăn để diễn tả tiến trình tiến đến việc đạt được cứu kính của Quả Phật. Cũng đủ để nói rằng khi sự thực chứng của chúng ta về tính không của sự tồn tại cố hữu trở nên thậm chí sâu hơn, tất cả những dấu vết của vị ngã được tiêu trừ và hành giả tiếp cận thể trạng giác ngộ trọn vẹn của Quả Phật. Tuy nhiên, cho đến khi chính chúng ta bắt đầu tiếp cận thật sự những sự thực chứng như vậy, sự thấu hiểu của chúng ta vẫn là lý thuyết.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi những dấu vết cuối cùng của những nhận thức si mê sai lầm và những thiên hướng của chúng đã được loại trừ khỏi tâm thức hành giả, tâm tinh khiết ấy là tâm của một Đức Phật. Hành giả đã đạt đến giác ngộ. Giác ngộ, tuy nhiên, có một số phẩm chất khác, liên hệ trong kinh luận Phật Giáo như những thân. Một số thân này có thân thể vật chất, những thân khác thì không. Những thân không có hình thể vật chất kể cả thân chân thật - thanh tịnh pháp thân. Đây là những gì mà tâm tinh khiết được biết đến. Phẩm chất toàn tri của tâm giác ngộ, năng lực của nó nhận thức một cách liên tục tất cả mọi hiện tượng cũng như bản chất hiện hữu trống rỗng của sự tồn tại cố hữu được biết như thân tuệ trí của Đức Phật - tuệ trí thân. Và bản chất trống rỗng của tâm toàn tri này được liên hệ như thân tự nhiên của Đức Phật - tự tính thân. Không thân nào trong đây (được xem như là những khía cạnh của thân chân thật) có hình thể vật chất. Tất những thân đặc thù này được đạt đến qua phương diện "tuệ trí" của con đường tu tập.</p>
<p style="text-align: justify;">Rồi thì có những biểu hiện vật lý của giác ngộ. Ở đây chúng ta đi vào một thế giới vô cùng khó khăn nắm bắt đối với hầu hết chúng ta. Các biểu hiện được gọi là những hình thể của thân Đức Phật. Thọ dụng thân của Đức Phật là một biểu hiện có thân thể vật lý nhưng không thể thấy gần như đối với tất cả chúng ta. Thọ dụng thân có thể được nhận thức chỉ bởi những bậc thực chứng vô cùng cao độ, các vị Bồ tát những người trải nghiệm thậm thâm chân lý cứu kính được thúc đẩy bởi khát vọng mãnh liệt đạt đến Quả Phật vì lợi ích của tất cả chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ thọ dụng thân này vô biên ứng thân đồng thời lưu xuất. Không như thọ dụng thân, những biểu hiện này của sự đạt đến giác ngộ trọn vẹn Phật Quả là có thể thấy được và đến gần được bởi những con người thông thường, đấy là những con người như chúng ta. Do bởi phương tiện của những ứng thân mà các Đức Phật mới có thể hỗ trợ chúng ta. Nói cách khác, những biểu hiện này là hóa thân của những bậc giác ngộ. Những thân này đảm đương một cách hoàn toàn và thuần khiết vì lợi ích của chúng ta. Những thân này hình thành sự hiện hữu vào lúc hành giả đạt được giác ngộ hoàn toàn, như một kết quả của nguyện vọng từ bi của vị ấy để giúp đỡ người khác. Chính là bằng phương tiện của những ứng thân vật chất này mà một Đức Phật dạy dỗ người khác phương pháp mà chính ngài nhờ đó đạt đến thể trạng giải thoát khổ não.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Phật giúp đỡ chúng ta qua những ứng thân như thế nào? Phương tiện trung gian chính mà qua đấy một Đức Phật hiển hiện hành vi giác ngộ là giáo huấn này. Đức Phật Thích Ca bậc đã đạt đến giác ngộ dưới cội cây bồ đề 2.500 năm trước đây, là một ứng thân.</p>
<p style="text-align: justify;">Một sự giải thích về những khía cạnh khác nhau về thể trạng giác ngộ của Quả Phật như vậy có thể nghe hơi giống như khoa học giả tưởng, một cách đặc biệt nếu chúng ta khám phá vô biên ứng thân của vô lượng chư Phật biểu hiện trong vô số thế giới nhằm để hỗ trợ vô số chúng sinh. Tuy nhiên, ngoại trừ sự thấu hiểu của chúng ta về Quả Phật đủ phức tạp để nắm bắt những phương diện luận lý hơn của giác ngộ, nếu không thì sự quy y Phật Bảo của chúng ta sẽ không đủ năng lực cần thiết. Sự thực hành Đại Thừa, mà trong ấy chúng ta tự phát nguyện cung ứng hạnh phúc cho tất cả chúng sinh, là một hứa nguyện rộng lớn. Nếu sự thấu hiểu của chúng ta về Phật Bảo là giới hạn với một nhân vật lịch sử Thích Ca Mâu Ni, chúng ta sẽ là đang tìm kiếm sự nương tựa trong một người nào đó đã chết rất lâu rồi và không còn có năng lực để hỗ trợ chúng ta. Nhằm để cho sự quy y của chúng ta là năng lực thật sự, chúng ta phải nhận thức những khía cạnh khác nhau của thể trạng Quả Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta giải thích về sự tương tục bất diệt trong sự tồn tại của một Đức Phật như thế nào? Chúng ta hãy nhìn vào tâm thức chúng ta. Nó giống như một dòng sông - một sự tuôn chảy tương tục của sự hiểu biết, mỗi sự tuôn chảy đưa đến một sự tuôn chảy khác của hiểu biết. Dòng suối của những thời khắc của ý thức như vậy đi hết giờ này đến giờ khác, năm này đến năm khác, và ngay cả, phù hợp với quan điểm của Đạo Phật, từ kiếp sống này đến kiếp sống khác. Mặc dù thân thể chúng ta không thể đồng hành với với chúng ta một khi năng lực của sự sống cạn kiệt, nhưng những thời khắc của tâm thức tiếp tục, qua cái chết và cuối cùng đi vào kiếp sống tới, bất cứ hình thức nào mà nó có thể có. Mỗi chúng ta sở hữu một dòng suối tâm thức như thế. Và nó không có bắt đầu và không có kết thúc. Không có điều gì có thể chấm dứt nó. Trong ý nghĩa này nó không giống như những cảm xúc như sân hận hay luyến ái, là những thứ có thể được làm cho chấm dứt bằng việc áp dụng những phương pháp đối trị. Xa hơn nữa, bản chất thiết yếu của tâm thức được nói là tinh khiết; những nhiễm ô có thể được loại trừ, làm cho sự sự tương tục của tâm thức tinh khiết này bất diệt. Một tâm như vậy, giải thoát khỏi mọi nhiễm ô, là thân chân thật của một Đức Phật, thanh tịnh Pháp thân.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu chúng ta quán chiếu thể trạng giác ngộ trọn vẹn trong cách này, sự đánh giá của chúng ta về sự vĩ đại của Đức Phật lớn mạnh, cũng như niềm tin của chúng ta. Khi chúng ta nhận thức những phẩm chất của một Đức Phật, nguyện vọng của chúng ta để đạt đến thể trạng này sâu sắc mãnh liệt hơn. Chúng ta đi đến đánh giá đúng giá trị và sự cần thiết của một bậc có thể ứng hóa những hình thể khác nhau nhằm để giúp đỡ vô lượng chúng sinh. Điều này ban cho chúng ta sức mạnh và quyết tâm để đạt đến tâm giác ngộ.</p>
<p><strong>Đức Dalai Lama 14</strong></p>
<p><em>Việt dịch: Tuệ Uyển</em></p>
<p><em>Trích: Trái tim rộng mở - Thực tập bi mẫn trong đời sống hàng ngày, NXB Ananda Viet Foundation Thư viện hoa sen</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/qua-phat-2/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
