<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Đạo sư Barom</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-kagyn/barom-kagyu/dao-su-barom/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Fri, 17 Apr 2026 16:09:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Tự do và Thong dong &#8211; Một bài ca Kim Cương tự phát</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tu-do-va-thong-dong-mot-bai-ca-kim-cuong-tu-phat/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tu-do-va-thong-dong-mot-bai-ca-kim-cuong-tu-phat/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 31 Mar 2022 07:03:25 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Barom Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Barom]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=10987</guid>
		<description><![CDATA[Hạnh phúc không thể được tìm thấy qua cố gắng và ý chí lớn lao, mà đã sẵn hiện tiền, trong sự buông xả trống trải và để mặc. Chớ có ráng sức, không có cái gì để làm hay không làm. Cái gì chốc lát khởi lên trong thân tâm không có chút quan trọng thực sự nào, không&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tu-do-va-thong-dong-mot-bai-ca-kim-cuong-tu-phat/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Hạnh phúc không thể được tìm thấy<br />
qua cố gắng và ý chí lớn lao,<br />
mà đã sẵn hiện tiền, trong sự buông xả trống trải và để mặc.</p>
<p>Chớ có ráng sức,<br />
không có cái gì để làm hay không làm.<br />
Cái gì chốc lát khởi lên trong thân tâm<br />
không có chút quan trọng thực sự nào,<br />
không có chút thực tại nào.<br />
Tại sao đồng hóa với, và trở nên bám chấp vào nó,<br />
đặt phán xét lên nó và lên chính chúng ta?</p>
<p>Tốt hơn là đơn giản<br />
để cho toàn bộ trò chơi xảy ra riêng phần nó,<br />
khởi lên và lặng xuống như những cơn sóng –<br />
không biến đổi hay mó tay vào bất cứ cái gì –<br />
và nhận thấy mọi sự tan biến và lại xuất hiện<br />
như thế nào, trở đi trở lại như huyễn thuật,<br />
thời gian không có lúc chấm dứt.</p>
<p>Chỉ sự tìm kiếm hạnh phúc của chúng ta<br />
ngăn cản chúng ta thấy nó.<br />
Nó giống như một cầu vồng sống động bạn theo đuổi<br />
mà không bao giờ nắm bắt được,<br />
hay như một con chó rượt theo cái đuôi của mình.</p>
<p>Dù an lạc không hiện hữu<br />
như một sự vật và nơi chốn hiện thực,<br />
nó luôn luôn hiện tiền<br />
và đi cùng bạn mỗi một phút giây.<br />
Chớ tin vào thực tại<br />
của những kinh nghiệm tốt xấu,<br />
chúng như khí hậu phù du của ngày hôm nay,<br />
như những cầu vồng trong bầu trời.</p>
<p>Muốn nắm bắt cái không thể nắm bắt,<br />
bạn tự làm kiệt sức mình vô ích.<br />
Ngay khi bạn mở trống và buông xả nắm tay siết chặt của<br />
sự bám nắm này,<br />
không gian vô biên là ở đấy – rỗng rang, mời mọc và<br />
thoải mái tiện nghi.</p>
<p>Hãy dùng lấy cái trống rộng này, cái tự do và thoải mái<br />
tự nhiên này.<br />
Chớ tìm cái gì khác hơn nữa.<br />
Chớ đi vào rừng rậm um tùm<br />
tìm kiếm con voi Giác ngộ vĩ đại,<br />
nó vốn đã an nhiên trong nhà<br />
ở trước lò sưởi của bạn.<br />
Không có gì để làm hay không làm,<br />
không có gì để động sức,<br />
không có gì để muốn,<br />
và không có gì thiếu sót, trệch sai –</p>
<p>Emaho! Kỳ diệu!<br />
Mọi sự xảy ra tự chúng.</p>
<p><strong>Lama Gendun Rinpoche</strong></p>
<p><em>Lama Gendun Rinpoche là một lama Kagyu trưởng, trụ trì và vị thầy ẩn tu của Tu Viện Dakpo Kagyu Ling ở Dordogne, Pháp, nơi bài thơ này được dịch ra từ tiếng Tây Tạng.</em></p>
<p><em>Việt dịch: Nguyễn An Cư</em></p>
<p><em>Trích Tác phẩm: Đại Toàn Thiện Tự Nhiên - Thiền Tây Tạng và những Bài Ca Kim Cương, n</em><em>hà xuất bản Thiện Tri Thức, 1999.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tu-do-va-thong-dong-mot-bai-ca-kim-cuong-tu-phat/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Trưởng dưỡng tín tâm</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/truong-duong-tin-tam/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/truong-duong-tin-tam/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 20 Apr 2021 15:31:43 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Barom Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Barom]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=10050</guid>
		<description><![CDATA[Đạo sư vô song, Phật Thế Tôn; Giáo Pháp linh thiêng, thù thắng và chẳng dối lừa; Ruộng tích lũy, Tăng đoàn cao quý – Tam Bảo vô song, xin ban cát tường, con cầu nguyện! Tràng núi vàng, chư đạo sư gốc và truyền thừa, Khi chúng con nhất tâm cầu nguyện Ngài với niềm tin trọn vẹn, Với lòng bi mẫn, xin gia trì để chúng con hiện thực hóa Pháp tính Và trở thành những vị dẫn dắt kiên quyết cho vô số chúng sinh! Đã&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/truong-duong-tin-tam/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo sư vô song</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật Thế Tôn</span>;</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">linh thiêng</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thù thắng</span> và chẳng dối lừa;</p>
<p style="text-align: justify;">Ruộng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span> cao quý –</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tam Bảo</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô song</span>, xin ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cát tường</span>, con cầu nguyện!</p>
<p style="text-align: justify;">Tràng núi vàng, chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> gốc và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span>,</p>
<p style="text-align: justify;">Khi chúng con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhất tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cầu nguyện</span> Ngài với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọn vẹn</span>,</p>
<p style="text-align: justify;">Với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng bi mẫn</span>, xin <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> để chúng con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện thực</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa Pháp</span> tính</p>
<p style="text-align: justify;">Và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> những vị dẫn dắt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiên quyết</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> chúng sinh!</p>
<p style="text-align: justify;">Đã bắt đầu bằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tràng hoa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tán thán</span> như vậy, giờ đây, tôi sẽ chuyển sang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủ đề</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thảo luận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> – những nguồn gốc của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trước tiên</span>, bạn hữu vĩ đại nhất của mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hữu tình</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>, đấng dẫn dắt thứ tư của Kiếp này, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thế Tôn</span> Phật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên mãn</span>, đã sinh ra trong khu rừng ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Lâm Tỳ Ni</span>, Nepal. Sự đản sinh của Ngài xảy ra với những dấu hiệu và điềm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt diệu</span>. Sau đấy, ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span>, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiển bày</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật quả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên mãn</span> tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương</span> Tòa ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Đề Đạo Tràng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển Pháp luân</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô lượng</span>, điều hiện nay được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết tập</span> và phân loại thành <b><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tam Tạng</span></b> (<i>Tripitaka</i>) và <b>Bốn Phần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Điển</span></b>.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đấy, tại Vikramasila và Nalanda <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vinh quang</span> cùng nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> vĩ đại khác, những lời nguyên vẹn này từ Bậc Thầy của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giữ gìn</span> bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span>, nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán chiếu</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọn vẹn</span>, điều đưa chư vị đến những cấp độ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học thuật</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> cao. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vô số</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> thượng thặng như vậy đã dấn thân theo cách này – trong số chư vị có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại học giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô cùng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> Tilopa Sherab Zangpo; học trò của Ngài – Naro Jnanasiddhi, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lỗi lạc</span> nhất trong năm trăm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span>; vị kế nhiệm của Ngài – dịch giả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span>, Marpa Chokyi Lodro; <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thù thắng</span> Mila Shepa Dorje (Milarepa); và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp chủ</span> Gampopa, vị được tiên đoán bởi những Đấng Chiến Thắng.</p>
<p style="text-align: justify;">Kế đó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> điều được biết đến là Bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Truyền Thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> Lớn và Tám Nhỏ. Trong số đó, Barom Kagyu đến từ Tổ Barom Darma Wangchuk<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn1">[1]</a>; Kamtsang Kagyu đến từ Tổ Karmapa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Dusum Khyenpa</span><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn2">[2]</a>; Phakdru Kagyu đến từ Tổ Phakdu Dorje Gyalpo<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn3">[3]</a>; và Tổ Shangtsalpa Tsondru Drakpa trao cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span>] Tsalpa Kagyu. Đây là Bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Truyền Thừa</span> Lớn. Từ đó lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> Tám Nhỏ hay Tám <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Truyền Thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thù Thắng</span>: Drikung, Taklung, Tropu, Lingje (Drukpa), Marpa, Yelpa, Yabsang và Shuksep Kagyu.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Truyền thừa</span> Barom Kagyu, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát khởi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ Pháp</span> chủ Barom Darma Wangchuk, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọn vẹn</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn hảo</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> cấp độ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> cao trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một đời</span>. Các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> như vậy là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh túy</span> đích thực của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tam Tạng</span> và Bốn Phần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Điển</span>. Chúng chứa đựng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương tiện</span> (Sáu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Du Già</span> Của Naropa) và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> (Mahamudra, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại Thủ Ấn</span>), cũng như các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> cho Bốn Phần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Điển</span>, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> nhĩ truyền, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> cốt tủy, hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> và nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> khác. Tất cả đã được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giữ gìn</span> bởi Tishri Repa Karpo, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> xuất sắc nhất của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp chủ</span> và sau đó được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lần lượt</span> truyền trao bởi Lume Dorje từ Tsangsar và các thành viên khác trong tộc Tsangsar, cả Tantrika (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span> Mật thừa) và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> Orgyen Chopel. Theo cách này, các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Barom Kagyu đã và vẫn được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gián đoạn</span>, kể từ lúc bắt đầu.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đấy, Lama Orgyen Chopel từ Tsangsar lấy Konchok Paldron, con gái cao quý của Đại Terton Chokgyur Dechen Lingpa<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn4">[4]</a>, làm vị phối ngẫu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span>. Cùng nhau, họ có bốn người con trai; người con trai thứ hai là Tulku Chime Dorje. Con trai của vị này là chúa tể phổ quát <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vinh quang</span> – Tulku Urgyen Rinpoche, Bổn Sư của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Tulku Urgyen Rinpoche</b> nắm giữ tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> Barom Kagyu được nhắc đến phía trên. Ngài cũng thọ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span>, hướng dẫn và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> truyền miệng cho các kho tàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hóa thân</span> Khai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Tạng</span> Terton Chokgyur Lingpa vĩ đại. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trong suốt</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span>, Tulku Urgyen Rinpoche dành hơn hai mươi mốt năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm yếu</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại Thủ Ấn</span> và Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span> trong sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> nghiêm ngặt và Ngài cũng hoằng dương những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> này bằng cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên tục</span> ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chín muồi</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Tulku Urgyen Rinpoche, Đấng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quy Y</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thù thắng</span> và cũng là Bổn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sư tôn</span> quý của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>, sinh vào năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Thân</span> của chu kỳ 60 năm thứ 14, năm được biết đến là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phẫn Nộ</span> (tức năm 1920 theo Dương lịch). Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chào đời</span> ở Nangchen, một tỉnh của Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, giữa các dấu hiệu và điềm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt diệu</span>. Đức Karmapa thứ 15 – Khakhyab Dorje<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn5">[5]</a> đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công nhận</span> Ngài là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> thứ ba của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Lakyab ở Nangchen, với nền tảng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa hiện</span> là cả Tổ Nubchen Sangye Yeshe<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn6">[6]</a> và Terton Guru Chowang<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn7">[7]</a>. Ngài đã chủ động <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một lần</span> nữa vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi lạc</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>. Đức Karmapa đã tấn phong và trao cho Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu</span> <b><i>Karma Urgyen Tsewang Chokdrub Palbar</i></b> “Huy Hoàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Rực Rỡ</span> Của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thành Tựu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thù Thắng</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sinh Lực</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hoạt Động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giác Ngộ</span> Của Đức Urgyen”.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngay từ rất sớm, Rinpoche đã cho thấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản thân</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa hiện</span> của một bậc vĩ đại; bởi thậm chí khi còn là một đứa bé, Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm thấy</span> sự xả ly và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tỉnh ngộ</span> mãnh liệt. Trái tim Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> thấm đẫm tình <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">yêu thương</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng bi mẫn</span>, với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi lớn thêm một chút, Ngài xuất sắc trong các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> về đọc, viết và những lĩnh vực <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiến thức</span> khác. Ngài đã thọ nhận nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> truyền miệng, cũng như vô vàn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời khuyên</span>, từ chính cha Ngài, các bác/chú và nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> tôn quý khác. Từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời trẻ</span>, Ngài có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mong ước</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thành</span> về việc sống trên núi non trong các ẩn thất cô tịch.</p>
<p style="text-align: justify;">Cha của Rinpoche, Đức Tsangsar Chime Dorje, là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Namgon Tupten Namdak Ling ở Tsangsar. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sở hữu</span> vô vàn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span>, Ngài đã dành hầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hết thời</span> gian trên núi non, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> trong sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> cô tịch nghiêm ngặt. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kinh nghiệm</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span>, sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng suốt</span> và các dấu hiệu về sự làm chủ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> của Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rành rành</span> trước tất cả. Mẹ của Rinpoche, bà Yu Gatuk, có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiền hòa</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> lớn lao với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tam Bảo</span>. Bà luôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thận trọng</span> trong việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giữ gìn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhân quả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiệp báo</span>, tử tế và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị tha</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mọi người</span> và là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> nghiêm túc. Bà luôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh tấn</span> dâng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bố thí</span> hào phóng.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thường hay</span> hỏi Rinpoche về ông nội Chime Dorje. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đáp lại</span>, Ngài thường nói rằng: “Ồ, Ta cũng không biết nhiều lắm. Ngài là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> trực tiếp, đấy là chuyện <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chắc chắn</span> và Ngài có sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng suốt</span>, nhưng nói những điều như vậy chỉ chất chồng lời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tán thán</span> lên cha. Nếu con thích, Ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vẫn có</span> thể kể cho con một hay hai câu chuyện”.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">câu chuyện</span> như thế, Đức Chime Dorje đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> nghiêm ngặt tại ẩn thất trên núi Dechen Ling, cùng với cha tôi và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> khác. Một trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của Ngài, một vị Ni, nhận được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thông báo</span> rằng cha bà ấy vừa qua đời rất bất ngờ và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân thể</span> ông cụ đang được đưa đến nghĩa địa. Òa khóc nức nở, bà ấy than: “Xin hãy thưa với Rinpoche chuyện đã xảy ra! Hãy thỉnh Ngài làm Phowa (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển di</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần thức</span>) từ đây! Hãy thỉnh Ngài dẫn dắt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần thức</span> của cha tôi qua <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> trung gian!”.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi lời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> được truyền đến, Đức Chime Dorje nói: “Con ơi, con ơi! Thật đáng thương! Được chứ, tất nhiên rồi! Hãy sắp xếp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bàn thờ</span> và Ta sẽ tiến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành sự</span> dẫn dắt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần thức</span> cho ông ấy”. Ngài đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sử dụng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi thức</span> Khorwa Dongtruk (Vét Cạn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Luân Hồi</span>) và sau đấy, khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi thức</span> dẫn dắt đến chỗ mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần thức</span> của người đã khuất được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">triệu thỉnh</span>, Ngài lắc đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi ngờ</span>. Ngài thử lại lần thứ hai và sau đấy bảo các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thị giả</span> thu dọn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bàn thờ</span>. Tulku Urgyen Rinpoche hỏi: “Tại sao vậy? Chuyện gì đã xảy ra ạ?”.</p>
<p style="text-align: justify;">Cha Ngài đáp: “Ta chưa từng nghe nói đến việc tiến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành nghi</span> thức dẫn dắt này trước khi người đó thực sự qua đời!”.</p>
<p style="text-align: justify;">“Nhưng Rinpoche, họ nói rằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân thể</span> vốn đang được đưa đến nghĩa địa”.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng Đức Chime Dorje <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quả quyết</span>: “Nếu Ta thậm chí còn chẳng biết <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần thức</span> đã đi đâu, làm sao Ta có thể thấy được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mục đích</span> của việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cử hành</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi thức</span> dẫn dắt như vậy”.</p>
<p style="text-align: justify;">Vị Ni đang đợi tin về việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi thức</span> đã diễn ra như thế nào và khi Tulku Urgyen Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bước ra</span> ngoài, bà ấy hỏi Ngài: “Rinpoche đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn tất</span> rồi chứ?”. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành thật</span> kể cho bà ấy điều đã xảy ra và bà ấy bật cười và rời đi mà cứ cười. Mặt khác, Ngài thì bị bỏ lại cực kỳ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bối rối</span>. Dẫu vậy, sau đấy, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tin tức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> là khi mà họ đang đưa xác của cha bà ấy đến nghĩa địa, ông ấy hít thật sâu và sống <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở lại</span>; vì thế, ông ấy thực sự thì chưa chết.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào dịp khác, tôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghe được</span> từ Dabzang Rinpoche rằng Đức Chime Dorje đã để lại dấu tay trên đá. Khi tôi hỏi cha tôi về chuyện đó, Tulku Urgyen Rinpoche nói: “Đúng, đúng là vậy!”. Sáng nọ, Đức Chime Dorje đi ra ngoài để tắm rửa và đang đứng trên mặt đá bên ngoài ẩn thất. Khi Ngài nhìn quanh, từ sâu thẳm bên trong, Ngài thấy cách mà tất cả những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình tướng</span> mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> thấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không thật</span>. Sau đấy, Ngài nghĩ: “Ta băn khoăn sẽ ra sao nếu Ta chạm tay vào đá đấy” và khi Ngài vươn tay để chạm vào, các ngón tay của Ngài dường như trượt thẳng, chìm vào trong đá. Dẫu vậy, khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trôi qua</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mọi người</span> thấy dấu tay và bắt đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đỉnh lễ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span>, Ngài không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hài lòng</span> chút nào và bảo: “Ồ, chuyện ấy chẳng tốt, chẳng tốt chút nào”.</p>
<p style="text-align: justify;">Cha tôi thường nói: “Điều chủ yếu cần biết về Đức Chime Dorje là Ngài là ai đó thực sự bền bỉ trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>. Ngài là một kho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> và hướng dẫn và Ngài đã truyền lại tất cả các báu vật này cho những vị khác mà không có bất kỳ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phân biệt</span> hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành kiến</span> nào. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vậy thì</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mục đích</span> của việc Ta nói về tất cả những chuyện này là gì chứ?”.</p>
<p style="text-align: justify;">Các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> khác, chẳng hạn Adeu Rinpoche và Dabzang Rinpoche, đều nhớ rằng Đức Chime Dorje có tài hùng biện lớn lao và rằng khi Ngài ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> cho <b>Kangyur</b> và <b>Tengyur</b> hay khi ban các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> khác, giọng Ngài thật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dễ chịu</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rõ ràng</span> và du dương và tràn ngập ân phước <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> đến mức chỉ giọng Ngài thôi cũng có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển hóa</span> tâm người nghe.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Đức Chime Dorje xả bỏ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân thể</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span>, trái đất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rung động</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xá lợi</span> quý <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> từ tro cốt của Ngài. Tulku Urgyen Rinpoche xem Đức Chime Dorje là một trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ ái</span> nhất, thọ nhận từ vị này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> trao truyền Kangyur và Tengyur, cùng với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> khác về Nyingma Kama, Terma và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Cùng với Đức Karmapa thứ 16 – Rangjung Rigpe Dorje vĩ đại, cha tôi – Tulku Urgyen Rinpoche đã thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> <i>Kho Tàng Terma <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quý Báu</span></i> (Rinchen Terdzod)<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn8">[8]</a> từ Đức Karse Kongtrul Palden Khyentse Ozer, cũng như các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mở rộng</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại Thủ Ấn</span> và Sáu Pháp. Dưới sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dìu dắt</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> Kyungtrul Kargyam, Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> các ngành khoa học <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phổ thông</span>, <i>Nhập <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát Hạnh</span></i>, <i>Ba [Bộ] <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giới Luật</span></i> và nhiều bộ luận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> khác, chẳng hạn <i><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Căn Bản</span> Kệ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Đạo</span></i>, <i>Nhập <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Đạo</span></i> và <i>Bốn Trăm Đoạn Kệ Về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Đạo</span></i>. Rinpoche cũng thọ nhận từ Đức Kyungtrul Kargyam nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> về <i>Các Nguyên Tắc Bên Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sâu Xa</span></i>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> Hevajra, <i><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vô Thượng</span> Tục Luận</i> (Uttaratantra Sastra), <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> Guhyargarbha, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trích Yếu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Điển</span> Nyingma, Mười Bảy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span> và nhiều bản văn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài đã thọ nhận nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> từ Đức Shechen Kongtrul<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn9">[9]</a>, Dzongsar Khyentse Chokyi Lodro<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn10">[10]</a> và từ chú ruột – Sang-ngak Rinpoche. Ngài dành nhiều tháng bên Poda Khen Rinpoche, thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> về Dòng Nhĩ Truyền Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span>. Và Ngài thọ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> khác từ tập hội chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ bà nội Konchok Paldron của Ngài, con gái của Đại Terton Chokgyur Lingpa và chính là mẹ của Đức Chime Dorje, Ngài thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chi tiết</span> về các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> [giai đoạn] phát triển và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span>, như chúng đã được trao truyền bởi chính Terton. Rinpoche cũng học từ Bà nghệ thuật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> về vũ điệu, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> Mandala và các giai điệu, làm Torma và trang trí cũng như cách chơi và thổi các nhạc cụ, tất cả đều theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> của Terton.</p>
<p style="text-align: justify;">Chính bác của Ngài, Tsangsar Lama Samten Gyatso, là vị đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới thiệu</span> cho Tulku Urgyen Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thật</span> của tâm, nhờ đó, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> Bổn Sư của Ngài, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> mà Rinpoche có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> đến mức Ngài thấy vị này là Phật thực sự. Ngài thường rớt nước mắt khi chỉ nhắc đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu</span> của vị này. Khi được hỏi về vị thầy tôn quý này, Rinpoche thường bảo rằng: “Bác và cũng là thầy của Ta, Đức Samten Gyatso không chỉ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span>, kỷ luật và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ ái</span> mà sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> của Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao la</span> như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hư không</span>. Ta nghĩ thật hiếm khi tìm được ai đó như Ngài về việc chỉ ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> tâm".</p>
<p style="text-align: justify;">Nhiều học trò <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vân tập</span> về từ khắp nơi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xa gần</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> từ Đức Samten Gyatso và Ngài thường chỉ nói rằng: ‘Vị thầy này hay vị thầy kia <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> hơn Ta rất nhiều; <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tốt hơn</span> là đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> từ Ngài’. Và Ngài thường gửi họ đi. Ngài không thích có nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xung quanh</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi được hỏi tại sao Ngài không thích có nhiều học trò <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xung quanh</span>, Ngài nói: ‘Có học trò là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trách nhiệm</span> lớn lao. Để thực sự làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi lạc</span> họ, con cần khiến họ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> tâm và điều đấy thì cực kỳ khó. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tốt hơn</span> là để họ đi gặp một vài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> thực sự đủ phẩm tính – những Lama <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> và thành tựu’.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tuy nhiên</span>, luôn luôn có một số học trò <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhất tâm</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> với Bác Tôn Quý và họ không nghe theo khi Ngài bảo họ đi. Với họ, Ngài chỉ ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> tâm, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sử dụng</span> mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương tiện</span> và không ai trong số họ không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span> nó”. Tulku Urgyen Rinpoche xem đây là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">di sản</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phi phàm</span> nhất của Đức Samten Gyatso.</p>
<p style="text-align: justify;">Cha tôi đã theo chân nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt vời</span>. Trong số chư vị, Ngài xem Đức Karmapa thứ 16 – Rangjung Rigpe Dorje không phải là người phàm mà là Phật thực sự. Bởi thế, Tulku Urgyen Rinpoche thọ nhận nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> từ vị này và khi chính Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> Đức Karmapa các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span>, Ngài làm thế với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> lớn lao. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> lớn lao như vậy với những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> vĩ đại khác, chẳng hạn Kyabje Dudjom Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn11">[11]</a>, Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn12">[12]</a>, Neten Chokling Rinpoche và Poda Khen Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn13">[13]</a>. Tất cả chư vị đều vừa là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> vừa là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của nhau, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> và thọ nhận nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span>. Xuyên suốt, chư vị đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thệ nguyện</span> Samaya <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> nhất và sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hòa thuận</span> sâu sắc.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> và Tulku <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vân tập</span> lại cho các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự kiện</span> này, Tulku Urgyen Rinpoche thường khiêm nhường ngồi phía sau tập hội, nhìn nhận những vị khác với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và lòng sùng mộ lớn lao, dẫu cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tế</span> là chẳng có ai trong số chư vị không thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và trao truyền trực tiếp từ Ngài!</p>
<p style="text-align: justify;">Trong hơn hai mươi mốt năm, một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhất tâm</span>, Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du già</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> của hai giai đoạn ở Kham, Tsurphu, Sikkim và Nepal, tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ni viện</span> Nagi Gompa và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nơi khác</span>. Ngài ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vui thích</span> ban các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> trực chỉ. Nhưng trong tất cả những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn cảnh</span> này, Ngài luôn luôn khiêm cung.</p>
<p style="text-align: justify;">Tulku Urgyen Rinpoche bày tỏ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tình thương</span> lớn lao cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mọi người</span> Ngài gặp, không chỉ những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mà cả</span> người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bình thường</span> nam và nữ; Ngài đối xử với tất cả bằng sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kính trọng</span>. Ngài không thích ban “gia trì bằng tay” – phong tục <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> người khác bằng cách đặt tay lên đầu họ – mà thích cụng đầu với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mọi người</span> hơn. Trong mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn cảnh</span>, Ngài luôn khiêm nhường, giữ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> với tất cả.</p>
<div style="text-align: justify;"></div>
<p style="text-align: justify;">Lặp đi lặp lại nhiều lần, Ngài ban các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> cho tập hội đông đảo chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> và Tulku, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cộng đồng</span>, luôn luôn không chút <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành kiến</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bộ phái</span>. Ngài làm điều này vì hầu hết chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> và Tulku Kagyu quan trọng, chẳng hạn bốn Nhiếp Chính Kagyu và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương tự</span>, vì chư vị trì giữ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> Nyingma <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span>. Ngài đã dạy mọi kiểu người từ các bối cảnh khác nhau – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span>, Tulku, Khenpo, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span> từ các trường phái và nhánh khác nhau. Ngài cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du hành</span> ra nước ngoài, khắp Đông và Tây, để ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> ở đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi còn ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, Rinpoche đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phục hồi</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> lại chùa Lakyab Jangchup Nordzin Choling ở Tsangsar, cùng với những hỗ trợ và vật phẩm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> bên trong, và các tòa nhà cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span> ở đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> ngôi chùa mới tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ni viện</span> Nagi Gompa (Nang Kyi Tongsel Ling) ở Nepal, đích thân Rinpoche giúp việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đặc biệt</span>, Ngài khéo léo làm ba bức tượng chính trong chùa bằng tay, cũng như nghìn bức tượng Guru Rinpoche và những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bàn thờ</span> để lưu giữ.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span> mua đất bên cạnh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span> Jarung Kashor (Boudha)<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn14">[14]</a> và bắt đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> KaNying Shedrub Ling, Rinpoche cũng giúp đỡ việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> ở đó và luôn có mặt. Ngài thường đích thân đi mua những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vật liệu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> và bất cứ khi nào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đề xuất</span> gọi một chiếc taxi, Ngài thường hỏi giá và sau đấy, khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span> nói hết 5 <i>rupee</i>, Ngài nói: “Tốt hơn thì dành tiền ấy để mua đồ, hãy đi xe buýt”. Sau đấy, Gyaltsen Dorje hay Sangye Yeshe sẽ đi cùng Ngài trên xe buýt.</p>
<p style="text-align: justify;">Mẹ tôi nấu trà và đồ ăn cho tất cả công nhân. Bà cũng giúp việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> và thậm chí còn bán <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">san hô</span>, Dzi và những trang sức <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quý báu</span> khác để giúp tài trợ cho việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span>. Thế nhưng, Bà chẳng bao giờ bỏ các thời khóa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> sáng và tối và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong suốt</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span>, Bà đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thành</span> mười ba bộ Ngondro (năm lần một trăm nghìn các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sơ khởi</span>). Bà cũng dành nhiều năm để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span>. Bà đóng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vai trò</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> trong việc giám sát <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span>, được hỗ trợ bởi em trai tôi, Chokling Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cuối cùng</span>, ngôi chùa và những hỗ trợ bên trong đã hội tụ và khi công việc về cơ bản đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn tất</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> được khánh thành bởi Vua của Nepal. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng tôi</span> đã cung thỉnh Đức Karmapa thứ 16 <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối thắng</span>, bốn Nhiếp Chính Kagyu cũng như nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> và Tulku khác từ mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> cùng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham dự</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">buổi lễ</span> thánh hóa ngôi chùa. Sau đấy, tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span>, trong hai tháng, Đức Karmapa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vinh quang</span> đã ban <i>Kho Tàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Chú</span> Kagyu</i> (Kagyu Ngagdzod), cùng với vô vàn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> khác. Ngài cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cử hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> vương miện <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">linh thiêng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> nhờ nhìn ngắm.</p>
<p style="text-align: justify;">Kể từ đó, gần như hằng năm, một trong những chúa tể của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cựu Dịch</span> đều viếng thăm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> và ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span>: những Lama như Kyabje Dudjom Rinpoche, Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche và Kyabje Shadeu Trulshik Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn15">[15]</a> đều đến và ban các pho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> khác nhau, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>] từ Kama và Terma.</p>
<p style="text-align: justify;">Những vị vĩ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại từ</span> mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> – trong số chư vị có Sakya Trizin Rinpoche thứ 41, Kyabje Minling Trichen Rinpoche, Kyabje Drubwang Pema Norbu (Penor) Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn16">[16]</a>, Drikung Kyabgon Rinpoche, Chogye Trichen Rinpoche và Kyabje Chatral Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn17">[17]</a> – đều đến và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> bằng sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện</span> và ban các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Giống như vậy, đích thân Đấng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quy Y</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> – Tulku Urgyen Rinpoche đã ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và trao truyền cho bốn Nhiếp Chính Kagyu và hàng nghìn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span>, Khenpo, Tulku, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span> từ mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> đến gặp Ngài. Với các học trò thân cận, Ngài ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> truyền miệng nhiều lần. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đặc biệt</span>, Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> như <i>Ba Phần Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span></i> (Dzogchen Desum<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn18">[18]</a>) từ kho tàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> của Tổ Chokling lên những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> vĩ đại như Đức Karmapa thứ 16, Kyabje Dudjom Rinpoche, Nangchen Adeu Rinpoche, Dabzang Rinpoche, Tarthang Rinpoche và Tenga Rinpoche. Mối <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên hệ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> lẫn nhau giữa tất cả những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> này thật mạnh mẽ và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> mới ở Boudha, KaNying Shedrub Ling, Rinpoche đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành lập</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rường cột</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>. Nói ngắn gọn, Đức Karmapa thứ 16 đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bi</span> truyền tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới Sa Di</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tỳ Kheo</span> cho những vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> mới. Kể từ ấy, không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gián đoạn</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chư Tăng</span> KaNying Shedrub Ling vẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> nền tảng của một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span>: <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> tịnh hóa và chữa lành <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thường xuyên</span> (Sojong hay Bồ tát), <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an cư kiết hạ</span> (Yarne) và lễ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết thúc</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an cư</span> (Gakye – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tự Tứ</span>). Kể từ đó, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span> vẫn luôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cử hành</span> các lễ Puja nhóm sáng và tối <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hằng ngày</span>, những Puja tỉ mỉ vào ngày Mười và Hai mươi lăm (cùng những ngày <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> khác) và nhiều Drubchen <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thường niên</span> khác nhau, tất cả không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gián đoạn</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Như đạo</span> sư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thế Thân</span> (Vasubhandu) vĩ đại từng nói: “Trước tiên con cần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đúng đắn</span> và sau đấy, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán chiếu</span> rồi dấn thân thiền định”. Nói ngắn gọn, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuân theo</span> lời dạy này. Kết quả là, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> phát triển theo từng năm. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> hiện đang có một trường tiểu học, một trường trung học, một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span>, một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> cho các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nghiên Cứu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật Giáo</span> Cao Hơn (Shedra – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật học viện</span>) và một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> (tại Động Asura). Tại tất cả những nơi này, sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span>, thành thạo và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành thiền định</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chư Tăng</span> ngày càng sâu sắc và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mở rộng</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Rinpoche cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> mới – Ngedon Osel Ling ở Swayambhu và Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> Pema Osel Ling tại Động Asura, địa điểm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">linh thiêng</span> của Guru Rinpoche. Ở đó, Ngài và mẹ tôi đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> một ngôi chùa và những sự hỗ trợ bên trong, cũng như các phòng và cơ sở khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Bên cạnh tất cả những công việc tại trú xứ, Tulku Urgyen Rinpoche cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du hành</span> rộng khắp ở Sikkim, Bhutan và Nepal, ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> và chủ trì nhiều [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp hội</span>] <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chân ngôn</span> nhóm về Mani và Vajra Guru.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tuy nhiên</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm yếu</span> đích thực trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiểu sử</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị đạo</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sư tôn</span> quý này là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự thật</span> rằng hầu hết các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của Ngài đã phát triển sự xả ly và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tỉnh ngộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thành</span>, tình <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">yêu thương</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng bi mẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thật</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân chính</span>. Họ có lòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quyết tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thành</span> về việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thù thắng</span> nói chung và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> của tâm và nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương tiện</span> này, nhiều vị trong số họ đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điều phục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nội tâm</span>. Tôi xem đây là phần quan trọng nhất trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">di sản</span> của cha tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong những năm về sau, Rinpoche sống ở Nagi Gompa, nơi Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhất tâm</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đơn giản</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp tính</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> cố hữu. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cuối cùng</span>, vào năm bảy mươi sáu tuổi, ngày Mười ba tháng Hai năm 1996 ([tức ngày Hai mươi tư tháng Mười hai] năm Mộc Hợi [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Âm lịch</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>]), <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm trí</span> tuệ của Ngài tan hòa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở lại</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hư không</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">căn bản</span>. Lúc Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span>, trái đất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rung động</span>, bầu trời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quang đãng</span> và tất cả bụi đều lắng dịu. Khi thánh thân Ngài được đưa từ Nagi Gompa đến KaNying Shedrub Ling tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span> Jarung Kashor (Boudha), hàng nghìn người, cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span>, đã xếp hàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dọc đường</span>, rớt nước mắt, cầm khăn Khata và hoa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> trên tay với những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm xúc</span> đau buồn, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và lòng sùng mộ chẳng gì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sánh bằng</span> trong tim.</p>
<p style="text-align: justify;">Các Puja tang lễ và lễ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trà tỳ</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ân cần</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham dự</span> bởi một tập hội vĩ đại của hàng trăm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span>, Tulku, Khenpo và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span>. Kyabje Chatral Rinpoche đã ở đó và Kyabje Chogye Trichen Rinpoche, Dilgo Khyentse Yangsi Rinpoche và Dudjom Yangsi Rinpoche, Shechen Rabjam Rinpoche, Dzongsar Khyentse Rinpoche, Dzigar Kongtrul Rinpoche, Sangye Nyenpa Rinpoche, Beru Khyentse Rinpoche, Tarthang Rinpoche, Thrangu Rinpoche, Tenga Rinpoche, Tarik Rinpoche, Neten Chokling Rinpoche, Dodzong Rinpoche, Sogyal Rinpoche, Chogyal Rinpoche, Orgyen Tobgyal Rinpoche, Khyentse Yeshe Rinpoche, Yongdzin Rinpoche, Gyatrul Rinpoche, Sachu Rinpoche, Zangzang Rinpoche, Ripa Jigme Rinpoche, Tulku Jigme Rinpoche, Trakar Rinpoche, Kushok Tsechu Rinpoche, Dungse Shenphen Dawa Rinpoche, Khenpo Tsultrim Gyatso Rinpoche, Khenpo Pema Sherab Rinpoche và Khenpo Namdrol Rinpoche cùng nhiều vị khác cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham dự</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Các đại sứ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, quan chức Nepal, đại sứ nước ngoài và hàng nghìn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span>, tất cả đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng kiến</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thành</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lịch thiệp</span>, cũng đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham dự</span> cùng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span>. Sau lễ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trà tỳ</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> sọ của Rinpoche vẫn nguyên vẹn; tim, lưỡi và mắt Ngài hòa vào nhau và tro cốt Ngài chứa đầy các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xá lợi</span> nhiều màu, để lại cho các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sùng kính</span> vô vàn sự hỗ trợ cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> của họ. Hiện nay, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xá lợi</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vẫn có</span> thể được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chiêm bái</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><i><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiểu sử</span> này, được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự tại</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyên thuyết</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trưởng dưỡng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span>, đã được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> nhiều lần bởi chư Khenpo, Tulku, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương</span> và những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> cao niên của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> – KaNying Shedrub Ling cũng như bởi các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> tại Nagi Gompa, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> Động Asura và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> khác của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>. Vào nhiều dịp, họ đã trao cho tôi các Mandala và Khata, với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> rằng tôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biên soạn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiểu sử</span> của cha tôn quý. Do đó, theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quả quyết</span> của chư vị, tôi, ông lão tên Tulku Chokyi Nyima, con trai trưởng của cha – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span>, đã viết lại điều này vào ngày 10 tháng 9 năm Thổ Tý, năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> 2135 (tức năm 2008 Dương lịch). Nguyện tốt lành!</i></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Tulku Chokyi Nyima</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Anh dịch: Lhasey Lotsawa</em> <em>(Maitri Yarnell &amp; Laura Dainty dịch; Libby Hogg <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiệu đính</span>)</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Pema Jyana</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn Anh ngữ: </em><a href="https://lhaseylotsawa.org/library/to-nourish-faith-eng"><em><u><i>To Nourish Faith</i></u></em></a></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref1">[1]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Barom Darma Wangchuk (1127 - 1199) – một trong bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> của Tổ Gampopa và là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng lập</span> nhánh Barom Kagyu của Dakpo Kagyu. Ngài cũng là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng lập</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Barom ở phía Bắc Lato.</em></p>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref2">[2]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Dusum Khyenpa</span> (1110 - 1193), Đức Karmapa thứ nhất, sinh ở Kham. Là một trong bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> của Tổ Gampopa, Ngài là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng lập</span> phái Karma Kagyu và ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> chính của phái này: Kampo Nenang Gon vào năm 1164, Karma Gon vào năm 1184 và Tsurphu Gon vào năm 1189.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref3">[3]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Phagmodrupa Dorje Gyalpo (1110 - 1170) – một trong ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> xuất sắc nhất của Tổ Gampopa và là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> quan trọng của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Kagyu. Trước khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh ngộ</span> Tổ Gampopa, Ngài cũng đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> với Tổ Sachen Kunga Nyingpo – vị mà Ngài thân cận mười hai năm, thọ nhận các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Lamdre, Tổ Padampa Sangye và Tổ Chapa Chokyi Senge. Sau khi Tổ Gampopa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span>, Phagmodrupa rời miền Trung <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> và đến sống ở Phagmo Dru, Kham, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành lập</span> trường phái Pagdru Kagyu, điều sau này chia thành tám nhanh nhỏ, mỗi nhánh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lần lượt</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành lập</span> bởi tám <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> chính của Ngài. Ngài cũng là anh trai của Đức Kathok Dampa Deshek, vị Tổ của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Kathok.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref4">[4]</a> Về Terton Chokgyur Dechen Lingpa, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo:</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/a30774/cuoc-doi-duc-chokgyur-lingpa"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cuộc Đời</span> Đức Chokgyur Lingpa</a></em></p>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref5">[5]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Khakhyab Dorje, vị Karmapa thứ Mười lăm (1870/1 - 1921/2) là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của cả Đức Jamyang Khyentse Wangpo và Jamgon Kongtrul [Lodro Thaye]. Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> cả Terma đất và tâm. Hai con trai của Ngài là Karse Kongtrul và Shamarpa thứ Mười một. Một trong những vị phối ngẫu của Ngài là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Không Hành Nữ</span> vĩ đại của Tsurphu – Khandro Ugyen Tsomo.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref6">[6]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Nubchen Sangye Yeshe – một trong hai mươi lăm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của Guru Rinpoche. Ngài được cho là đã sống 110 năm hoặc hơn. Ngài đã đem <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Anuyoga đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> và chuyển dịch nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span>. Ngài cũng là học trò của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vô Cấu</span> Hữu và nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> vĩ đại khác.</em></p>
<p><em>Người ta kể lại rằng chính nhờ những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sức mạnh</span> diệu kỳ của Ngài mà vua Langdarma đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tha cho</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span> Mật thừa trong lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khủng bố</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">môn đồ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo</span> ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref7">[7]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Guru Chokyi Wangchuk, tức Guru Chowang (1212 - 1270) – vị thứ hai trong năm Khai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Tạng</span> Vương và là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa hiện</span> về khẩu của Vua Trisong Deutsen. Trong các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> của Ngài có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Lama Sangdu.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref8">[8]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Rinchen Terdzod – Kho Tàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Lý</span> Ẩn Giấu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quý Báu</span> là một trong Năm Kho Tàng Vĩ Đại của Tổ Jamgon Kongtrul. Đây là một tuyển tập từ tất cả các Terma được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> thời của Ngài, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> cả các kho tàng của Tổ Chokgyur Lingpa. Lo sợ rằng những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> này sẽ bị mất, Ngài bắt đầu việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết tập</span> vào năm 1855 với sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> của Tổ Jamyang Khyentse Wangpo và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thành</span> vào năm 1889. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đơn giản</span> thọ nhận các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> Rinchen Terdzod cũng cần từ 4 đến 6 tháng.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref9">[9]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Shechen Kongtrul Pema Drime Lekpe Lodro (1901-khoảng 1960) – vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> của Tổ Jamgon Kongtrul Lodro Thaye <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư ngụ</span> tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Shechen. Ngài được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công nhận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa trên</span> một linh kiến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giấc mộng</span> mà trong đó, Shechen Rabjam Rinpoche thứ năm thấy bản văn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bát Nhã Ba La Mật</span> 8000 Đoạn Kệ bay từ Tsadra Rinchen Drak đến phía Đông của Derge. Ngài cũng được ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu</span> Gyurme Kunzang Shenphen Thaye Lodro Drime bởi Đức Shechen Gyaltsap [thứ tư – Gyurme Pema Namgyal]. Ngài có lẽ đã qua đời trong nhà tù <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span>. Ngài là một trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> chính của Chogyam Trungpa Rinpoche và Khenpo Tsondru. Ngài đã ban các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Dzogchen cho Lama Sherap Dorje Rinpoche và Lama Tharchin Rinpoche.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref10">[10]</a> Về Đức Jamyang Khyentse Chokyi Lodro, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo: </span></em><a href="https://thuvienhoasen.org/p38a34025/2/huyen-hoa-du-hi"><em><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Huyễn hóa</span> du hí một tự truyện của jamyang khyentse chokyi lodro</em></a></p>
<p><a href="#_ftnref11"><em><i>[11]</i></em></a><em><i> Về Kyabje Dudjom Rinpoche, tham khảo: </i></em><a href="https://thuvienhoasen.org/p38a35008/tieu-su-van-tat-dudjom-rinpoche-jigdral-yeshe-dorje-1904-1987-"><em><i>Tiểu Sử Vắn Tắt Dudjom Rinpoche Jigdral Yeshe Dorje (1904-1987)</i></em></a></p>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref12">[12]</a> Về Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo:</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a32138/2/tieu-su-dilgo-khyentse-rinpoche-1910-1991-"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiểu Sử</span> Dilgo Khyentse Rinpoche (1910-1991)</a></em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref13">[13]</a> Tức Polu Khenpo Dorje. Theo <b>Rigpawiki</b>, Polu Khenpo Dorje hay Thupten Kunga Gyaltsen (khoảng 1896 - 1970) là một trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> của Khenpo Ngawang Palzang. Ngài được xem là một trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> Dzogchen <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> nhất trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời kỳ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gần đây</span>. Ngài đôi khi được nhắc đến là Bomta Khenpo theo [tên của] những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thí chủ</span> của Ngài – Bomta Tsang.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref14">[14]</a> Về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span> Jarung Kashor, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo: <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a29266/3/giai-thoat-nho-lang-nghe">Giải Thoát Nhờ Lắng Nghe</a></span></em></p>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref15">[15]</a> Về Trulshik Rinpoche, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo:</span> </em><a href="https://thuvienhoasen.org/p38a34500/2/tieu-su-van-tat-duc-zhadeu-trulshik-chenpo-ngawang-chokyi-lodro-1924-2011-"><em><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiểu Sử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vắn Tắt</span> Đức Zhadeu Trulshik Chenpo Ngawang Chokyi Lodro (1924 - 2011</em>)</a></p>
</div>
<div style="text-align: justify;"></div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref16">[16]</a> Về Penor Rinpoche, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo: </span></em><a href="https://thuvienhoasen.org/p38a33611/2/tieu-su-kyabje-pema-norbu-rinpoche-1932-2009-"><em><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiểu Sử</span> Kyabje Pema Norbu Rinpoche (1932 – 2009)</em></a></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref17">[17]</a> Về Chatral Rinpoche, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo:</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a30967/3/chatral-rinpoche-cuoc-doi-cua-mot-huyen-thoai">Chatral Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cuộc Đời</span> Của Một Huyền Thoại</a></em></p>
</div>
<div>
<p style="text-align: justify;"><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref18">[18]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Ba Bộ Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span> (Dzogchen Desum) là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> (Terma) của Tổ Chokgyur Dechen Lingpa và Tổ Jamyang Khyentse Wangpo. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo lý</span> này được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> vào năm 1857 ở Mesho Dzomnang như một Terma đất từ Động <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Liên Hoa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pha Lê</span>, một hang động <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">linh thiêng</span> của Guru Rinpoche. Tulku Urgyen Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">miêu tả</span> đây là kho tàng xuất sắc nhất của Tổ Chokgyur Lingpa, bởi nó là Terma <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy nhất</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> cả ba bộ của Dzogchen.</em></p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/truong-duong-tin-tam/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Một miêu tả ngắn gọn về các hoạt động trí tuệ của Bổn sư &#8211; Chúa tể phổ quát Tulku Urgyen Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/mot-mieu-ta-ngan-gon-ve-cac-hoat-dong-tri-tue-cua-bon-su-chua-te-pho-quat-tulku-urgyen-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/mot-mieu-ta-ngan-gon-ve-cac-hoat-dong-tri-tue-cua-bon-su-chua-te-pho-quat-tulku-urgyen-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 02 Apr 2021 15:59:07 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Barom Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Barom]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=10021</guid>
		<description><![CDATA[Đạo sư vô song, Phật Thế Tôn; Giáo Pháp linh thiêng, thù thắng và chẳng dối lừa; Ruộng tích lũy, Tăng đoàn cao quý – Tam Bảo vô song, xin ban cát tường, con cầu nguyện! Tràng núi vàng, chư đạo sư gốc và truyền thừa, Khi chúng con nhất tâm cầu nguyện Ngài với niềm tin trọn vẹn, Với lòng bi mẫn, xin gia trì để chúng con hiện thực hóa Pháp tính Và trở thành những vị dẫn dắt kiên quyết cho vô số chúng sinh! Đã&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/mot-mieu-ta-ngan-gon-ve-cac-hoat-dong-tri-tue-cua-bon-su-chua-te-pho-quat-tulku-urgyen-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo sư vô song</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật Thế Tôn</span>;</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">linh thiêng</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thù thắng</span> và chẳng dối lừa;</p>
<p style="text-align: justify;">Ruộng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span> cao quý –</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tam Bảo</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô song</span>, xin ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cát tường</span>, con cầu nguyện!</p>
<p style="text-align: justify;">Tràng núi vàng, chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> gốc và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span>,</p>
<p style="text-align: justify;">Khi chúng con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhất tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cầu nguyện</span> Ngài với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọn vẹn</span>,</p>
<p style="text-align: justify;">Với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng bi mẫn</span>, xin <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> để chúng con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện thực</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa Pháp</span> tính</p>
<p style="text-align: justify;">Và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> những vị dẫn dắt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiên quyết</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> chúng sinh!</p>
<p style="text-align: justify;">Đã bắt đầu bằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tràng hoa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tán thán</span> như vậy, giờ đây, tôi sẽ chuyển sang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủ đề</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thảo luận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> – những nguồn gốc của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trước tiên</span>, bạn hữu vĩ đại nhất của mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hữu tình</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>, đấng dẫn dắt thứ tư của Kiếp này, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thế Tôn</span> Phật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên mãn</span>, đã sinh ra trong khu rừng ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Lâm Tỳ Ni</span>, Nepal. Sự đản sinh của Ngài xảy ra với những dấu hiệu và điềm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt diệu</span>. Sau đấy, ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span>, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiển bày</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật quả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên mãn</span> tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương</span> Tòa ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Đề Đạo Tràng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển Pháp luân</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô lượng</span>, điều hiện nay được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết tập</span> và phân loại thành <b><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tam Tạng</span></b> (<i>Tripitaka</i>) và <b>Bốn Phần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Điển</span></b>.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đấy, tại Vikramasila và Nalanda <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vinh quang</span> cùng nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> vĩ đại khác, những lời nguyên vẹn này từ Bậc Thầy của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giữ gìn</span> bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span>, nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán chiếu</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọn vẹn</span>, điều đưa chư vị đến những cấp độ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học thuật</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> cao. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vô số</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> thượng thặng như vậy đã dấn thân theo cách này – trong số chư vị có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại học giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô cùng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> Tilopa Sherab Zangpo; học trò của Ngài – Naro Jnanasiddhi, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lỗi lạc</span> nhất trong năm trăm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span>; vị kế nhiệm của Ngài – dịch giả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span>, Marpa Chokyi Lodro; <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thù thắng</span> Mila Shepa Dorje (Milarepa); và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp chủ</span> Gampopa, vị được tiên đoán bởi những Đấng Chiến Thắng.</p>
<p style="text-align: justify;">Kế đó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> điều được biết đến là Bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Truyền Thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> Lớn và Tám Nhỏ. Trong số đó, Barom Kagyu đến từ Tổ Barom Darma Wangchuk<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn1">[1]</a>; Kamtsang Kagyu đến từ Tổ Karmapa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Dusum Khyenpa</span><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn2">[2]</a>; Phakdru Kagyu đến từ Tổ Phakdu Dorje Gyalpo<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn3">[3]</a>; và Tổ Shangtsalpa Tsondru Drakpa trao cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span>] Tsalpa Kagyu. Đây là Bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Truyền Thừa</span> Lớn. Từ đó lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> Tám Nhỏ hay Tám <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Truyền Thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thù Thắng</span>: Drikung, Taklung, Tropu, Lingje (Drukpa), Marpa, Yelpa, Yabsang và Shuksep Kagyu.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Truyền thừa</span> Barom Kagyu, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát khởi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ Pháp</span> chủ Barom Darma Wangchuk, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọn vẹn</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn hảo</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> cấp độ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> cao trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một đời</span>. Các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> như vậy là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh túy</span> đích thực của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tam Tạng</span> và Bốn Phần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Điển</span>. Chúng chứa đựng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương tiện</span> (Sáu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Du Già</span> Của Naropa) và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> (Mahamudra, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại Thủ Ấn</span>), cũng như các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> cho Bốn Phần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Điển</span>, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> nhĩ truyền, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> cốt tủy, hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> và nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> khác. Tất cả đã được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giữ gìn</span> bởi Tishri Repa Karpo, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> xuất sắc nhất của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp chủ</span> và sau đó được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lần lượt</span> truyền trao bởi Lume Dorje từ Tsangsar và các thành viên khác trong tộc Tsangsar, cả Tantrika (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span> Mật thừa) và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> Orgyen Chopel. Theo cách này, các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Barom Kagyu đã và vẫn được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gián đoạn</span>, kể từ lúc bắt đầu.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đấy, Lama Orgyen Chopel từ Tsangsar lấy Konchok Paldron, con gái cao quý của Đại Terton Chokgyur Dechen Lingpa<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn4">[4]</a>, làm vị phối ngẫu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span>. Cùng nhau, họ có bốn người con trai; người con trai thứ hai là Tulku Chime Dorje. Con trai của vị này là chúa tể phổ quát <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vinh quang</span> – Tulku Urgyen Rinpoche, Bổn Sư của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Tulku Urgyen Rinpoche</b> nắm giữ tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> Barom Kagyu được nhắc đến phía trên. Ngài cũng thọ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span>, hướng dẫn và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> truyền miệng cho các kho tàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hóa thân</span> Khai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Tạng</span> Terton Chokgyur Lingpa vĩ đại. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trong suốt</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span>, Tulku Urgyen Rinpoche dành hơn hai mươi mốt năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm yếu</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại Thủ Ấn</span> và Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span> trong sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> nghiêm ngặt và Ngài cũng hoằng dương những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> này bằng cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên tục</span> ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chín muồi</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Tulku Urgyen Rinpoche, Đấng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quy Y</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thù thắng</span> và cũng là Bổn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sư tôn</span> quý của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>, sinh vào năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Thân</span> của chu kỳ 60 năm thứ 14, năm được biết đến là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phẫn Nộ</span> (tức năm 1920 theo Dương lịch). Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chào đời</span> ở Nangchen, một tỉnh của Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, giữa các dấu hiệu và điềm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt diệu</span>. Đức Karmapa thứ 15 – Khakhyab Dorje<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn5">[5]</a> đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công nhận</span> Ngài là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> thứ ba của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Lakyab ở Nangchen, với nền tảng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa hiện</span> là cả Tổ Nubchen Sangye Yeshe<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn6">[6]</a> và Terton Guru Chowang<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn7">[7]</a>. Ngài đã chủ động <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một lần</span> nữa vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi lạc</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>. Đức Karmapa đã tấn phong và trao cho Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu</span> <b><i>Karma Urgyen Tsewang Chokdrub Palbar</i></b> “Huy Hoàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Rực Rỡ</span> Của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thành Tựu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thù Thắng</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sinh Lực</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hoạt Động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giác Ngộ</span> Của Đức Urgyen”.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngay từ rất sớm, Rinpoche đã cho thấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản thân</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa hiện</span> của một bậc vĩ đại; bởi thậm chí khi còn là một đứa bé, Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm thấy</span> sự xả ly và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tỉnh ngộ</span> mãnh liệt. Trái tim Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> thấm đẫm tình <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">yêu thương</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng bi mẫn</span>, với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi lớn thêm một chút, Ngài xuất sắc trong các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> về đọc, viết và những lĩnh vực <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiến thức</span> khác. Ngài đã thọ nhận nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> truyền miệng, cũng như vô vàn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời khuyên</span>, từ chính cha Ngài, các bác/chú và nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> tôn quý khác. Từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời trẻ</span>, Ngài có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mong ước</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thành</span> về việc sống trên núi non trong các ẩn thất cô tịch.</p>
<p style="text-align: justify;">Cha của Rinpoche, Đức Tsangsar Chime Dorje, là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Namgon Tupten Namdak Ling ở Tsangsar. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sở hữu</span> vô vàn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span>, Ngài đã dành hầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hết thời</span> gian trên núi non, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> trong sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> cô tịch nghiêm ngặt. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kinh nghiệm</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span>, sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng suốt</span> và các dấu hiệu về sự làm chủ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> của Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rành rành</span> trước tất cả. Mẹ của Rinpoche, bà Yu Gatuk, có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiền hòa</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> lớn lao với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tam Bảo</span>. Bà luôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thận trọng</span> trong việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giữ gìn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhân quả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiệp báo</span>, tử tế và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị tha</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mọi người</span> và là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> nghiêm túc. Bà luôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh tấn</span> dâng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bố thí</span> hào phóng.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thường hay</span> hỏi Rinpoche về ông nội Chime Dorje. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đáp lại</span>, Ngài thường nói rằng: “Ồ, Ta cũng không biết nhiều lắm. Ngài là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> trực tiếp, đấy là chuyện <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chắc chắn</span> và Ngài có sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng suốt</span>, nhưng nói những điều như vậy chỉ chất chồng lời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tán thán</span> lên cha. Nếu con thích, Ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vẫn có</span> thể kể cho con một hay hai câu chuyện”.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">câu chuyện</span> như thế, Đức Chime Dorje đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> nghiêm ngặt tại ẩn thất trên núi Dechen Ling, cùng với cha tôi và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> khác. Một trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của Ngài, một vị Ni, nhận được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thông báo</span> rằng cha bà ấy vừa qua đời rất bất ngờ và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân thể</span> ông cụ đang được đưa đến nghĩa địa. Òa khóc nức nở, bà ấy than: “Xin hãy thưa với Rinpoche chuyện đã xảy ra! Hãy thỉnh Ngài làm Phowa (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển di</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần thức</span>) từ đây! Hãy thỉnh Ngài dẫn dắt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần thức</span> của cha tôi qua <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> trung gian!”</p>
<p style="text-align: justify;">Khi lời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> được truyền đến, Đức Chime Dorje nói: “Con ơi, con ơi! Thật đáng thương! Được chứ, tất nhiên rồi! Hãy sắp xếp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bàn thờ</span> và Ta sẽ tiến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành sự</span> dẫn dắt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần thức</span> cho ông ấy”. Ngài đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sử dụng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi thức</span> Khorwa Dongtruk (Vét Cạn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Luân Hồi</span>) và sau đấy, khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi thức</span> dẫn dắt đến chỗ mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần thức</span> của người đã khuất được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">triệu thỉnh</span>, Ngài lắc đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi ngờ</span>. Ngài thử lại lần thứ hai và sau đấy bảo các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thị giả</span> thu dọn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bàn thờ</span>. Tulku Urgyen Rinpoche hỏi, “Tại sao vậy? Chuyện gì đã xảy ra ạ?”</p>
<p style="text-align: justify;">Cha Ngài đáp, “Ta chưa từng nghe nói đến việc tiến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành nghi</span> thức dẫn dắt này trước khi người đó thực sự qua đời!”</p>
<p style="text-align: justify;">“Nhưng Rinpoche, họ nói rằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân thể</span> vốn đang được đưa đến nghĩa địa”.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng Đức Chime Dorje <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quả quyết</span>: “Nếu Ta thậm chí còn chẳng biết <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần thức</span> đã đi đâu, làm sao Ta có thể thấy được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mục đích</span> của việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cử hành</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi thức</span> dẫn dắt như vậy”.</p>
<p style="text-align: justify;">Vị Ni đang đợi tin về việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi thức</span> đã diễn ra như thế nào và khi Tulku Urgyen Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bước ra</span> ngoài, bà ấy hỏi Ngài: “Rinpoche đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn tất</span> rồi chứ?” Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành thật</span> kể cho bà ấy điều đã xảy ra và bà ấy bật cười và rời đi mà cứ cười. Mặt khác, Ngài thì bị bỏ lại cực kỳ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bối rối</span>. Dẫu vậy, sau đấy, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tin tức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> là khi mà họ đang đưa xác của cha bà ấy đến nghĩa địa, ông ấy hít thật sâu và sống <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở lại</span>; vì thế, ông ấy thực sự thì chưa chết.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào dịp khác, tôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghe được</span> từ Dabzang Rinpoche rằng Đức Chime Dorje đã để lại dấu tay trên đá. Khi tôi hỏi cha tôi về chuyện đó, Tulku Urgyen Rinpoche nói: “Đúng, đúng là vậy!”. Sáng nọ, Đức Chime Dorje đi ra ngoài để tắm rửa và đang đứng trên mặt đá bên ngoài ẩn thất. Khi Ngài nhìn quanh, từ sâu thẳm bên trong, Ngài thấy cách mà tất cả những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình tướng</span> mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> thấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không thật</span>. Sau đấy, Ngài nghĩ: “Ta băn khoăn sẽ ra sao nếu Ta chạm tay vào đá đấy” và khi Ngài vươn tay để chạm vào, các ngón tay của Ngài dường như trượt thẳng, chìm vào trong đá. Dẫu vậy, khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trôi qua</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mọi người</span> thấy dấu tay và bắt đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đỉnh lễ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span>, Ngài không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hài lòng</span> chút nào và bảo: “Ồ, chuyện ấy chẳng tốt, chẳng tốt chút nào”.</p>
<p style="text-align: justify;">Cha tôi thường nói: “Điều chủ yếu cần biết về Đức Chime Dorje là Ngài là ai đó thực sự bền bỉ trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>. Ngài là một kho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> và hướng dẫn và Ngài đã truyền lại tất cả các báu vật này cho những vị khác mà không có bất kỳ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phân biệt</span> hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành kiến</span> nào. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vậy thì</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mục đích</span> của việc Ta nói về tất cả những chuyện này là gì chứ?”</p>
<p style="text-align: justify;">Các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> khác, chẳng hạn Adeu Rinpoche và Dabzang Rinpoche, đều nhớ rằng Đức Chime Dorje có tài hùng biện lớn lao và rằng khi Ngài ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> cho <b>Kangyur</b> và <b>Tengyur</b> hay khi ban các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> khác, giọng Ngài thật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dễ chịu</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rõ ràng</span> và du dương và tràn ngập ân phước <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> đến mức chỉ giọng Ngài thôi cũng có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển hóa</span> tâm người nghe.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Đức Chime Dorje xả bỏ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân thể</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span>, trái đất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rung động</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xá lợi</span> quý <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> từ tro cốt của Ngài. Tulku Urgyen Rinpoche xem Đức Chime Dorje là một trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ ái</span> nhất, thọ nhận từ vị này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> trao truyền Kangyur và Tengyur, cùng với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> khác về Nyingma Kama, Terma và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Cùng với Đức Karmapa thứ 16 – Rangjung Rigpe Dorje vĩ đại, cha tôi – Tulku Urgyen Rinpoche đã thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> <i>Kho Tàng Terma <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quý Báu</span></i> (Rinchen Terdzod)<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn8">[8]</a> từ Đức Karse Kongtrul Palden Khyentse Ozer, cũng như các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mở rộng</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại Thủ Ấn</span> và Sáu Pháp. Dưới sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dìu dắt</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> Kyungtrul Kargyam, Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> các ngành khoa học <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phổ thông</span>, <i>Nhập <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát Hạnh</span></i>, <i>Ba [Bộ] <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giới Luật</span></i> và nhiều bộ luận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> khác, chẳng hạn <i><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Căn Bản</span> Kệ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Đạo</span></i>, <i>Nhập <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Đạo</span></i> và <i>Bốn Trăm Đoạn Kệ Về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Đạo</span></i>. Rinpoche cũng thọ nhận từ Đức Kyungtrul Kargyam nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> về <i>Các Nguyên Tắc Bên Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sâu Xa</span></i>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> Hevajra, <i><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vô Thượng</span> Tục Luận</i> (Uttaratantra Sastra), <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> Guhyargarbha, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trích Yếu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Điển</span> Nyingma, Mười Bảy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span> và nhiều bản văn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài đã thọ nhận nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> từ Đức Shechen Kongtrul<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn9">[9]</a>, Dzongsar Khyentse Chokyi Lodro<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn10">[10]</a> và từ chú ruột – Sang-ngak Rinpoche. Ngài dành nhiều tháng bên Poda Khen Rinpoche, thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> về Dòng Nhĩ Truyền Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span>. Và Ngài thọ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> khác từ tập hội chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ bà nội Konchok Paldron của Ngài, con gái của Đại Terton Chokgyur Lingpa và chính là mẹ của Đức Chime Dorje, Ngài thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chi tiết</span> về các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> [giai đoạn] phát triển và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span>, như chúng đã được trao truyền bởi chính Terton. Rinpoche cũng học từ Bà nghệ thuật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> về vũ điệu, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> Mandala và các giai điệu, làm Torma và trang trí cũng như cách chơi và thổi các nhạc cụ, tất cả đều theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> của Terton.</p>
<p style="text-align: justify;">Chính bác của Ngài, Tsangsar Lama Samten Gyatso, là vị đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới thiệu</span> cho Tulku Urgyen Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thật</span> của tâm, nhờ đó, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> Bổn Sư của Ngài, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> mà Rinpoche có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> đến mức Ngài thấy vị này là Phật thực sự. Ngài thường rớt nước mắt khi chỉ nhắc đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu</span> của vị này. Khi được hỏi về vị thầy tôn quý này, Rinpoche thường bảo rằng: “Bác và cũng là thầy của Ta, Đức Samten Gyatso không chỉ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span>, kỷ luật và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ ái</span> mà sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> của Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao la</span> như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hư không</span>. Ta nghĩ thật hiếm khi tìm được ai đó như Ngài về việc chỉ ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> tâm.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhiều học trò <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vân tập</span> về từ khắp nơi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xa gần</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> từ Đức Samten Gyatso và Ngài thường chỉ nói rằng: ‘Vị thầy này hay vị thầy kia <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> hơn Ta rất nhiều; <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tốt hơn</span> là đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> từ Ngài’. Và Ngài thường gửi họ đi. Ngài không thích có nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xung quanh</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi được hỏi tại sao Ngài không thích có nhiều học trò <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xung quanh</span>, Ngài nói: ‘Có học trò là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trách nhiệm</span> lớn lao. Để thực sự làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi lạc</span> họ, con cần khiến họ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> tâm và điều đấy thì cực kỳ khó. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tốt hơn</span> là để họ đi gặp một vài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> thực sự đủ phẩm tính – những Lama <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> và thành tựu’.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tuy nhiên</span>, luôn luôn có một số học trò <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhất tâm</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> với Bác Tôn Quý và họ không nghe theo khi Ngài bảo họ đi. Với họ, Ngài chỉ ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> tâm, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sử dụng</span> mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương tiện</span> và không ai trong số họ không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span> nó”. Tulku Urgyen Rinpoche xem đây là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">di sản</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phi phàm</span> nhất của Đức Samten Gyatso.</p>
<p style="text-align: justify;">Cha tôi đã theo chân nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt vời</span>. Trong số chư vị, Ngài xem Đức Karmapa thứ 16 – Rangjung Rigpe Dorje không phải là người phàm mà là Phật thực sự. Bởi thế, Tulku Urgyen Rinpoche thọ nhận nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> từ vị này và khi chính Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> Đức Karmapa các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span>, Ngài làm thế với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> lớn lao. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> lớn lao như vậy với những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> vĩ đại khác, chẳng hạn Kyabje Dudjom Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn11">[11]</a>, Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn12">[12]</a>, Neten Chokling Rinpoche và Poda Khen Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn13">[13]</a>. Tất cả chư vị đều vừa là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> vừa là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của nhau, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> và thọ nhận nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span>. Xuyên suốt, chư vị đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thệ nguyện</span> Samaya <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> nhất và sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hòa thuận</span> sâu sắc.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> và Tulku <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vân tập</span> lại cho các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự kiện</span> này, Tulku Urgyen Rinpoche thường khiêm nhường ngồi phía sau tập hội, nhìn nhận những vị khác với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và lòng sùng mộ lớn lao, dẫu cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tế</span> là chẳng có ai trong số chư vị không thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và trao truyền trực tiếp từ Ngài!</p>
<p style="text-align: justify;">Trong hơn hai mươi mốt năm, một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhất tâm</span>, Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du già</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> của hai giai đoạn ở Kham, Tsurphu, Sikkim và Nepal, tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ni viện</span> Nagi Gompa và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nơi khác</span>. Ngài ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vui thích</span> ban các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> trực chỉ. Nhưng trong tất cả những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn cảnh</span> này, Ngài luôn luôn khiêm cung.</p>
<p style="text-align: justify;">Tulku Urgyen Rinpoche bày tỏ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tình thương</span> lớn lao cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mọi người</span> Ngài gặp, không chỉ những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mà cả</span> người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bình thường</span> nam và nữ; Ngài đối xử với tất cả bằng sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kính trọng</span>. Ngài không thích ban “gia trì bằng tay” – phong tục <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> người khác bằng cách đặt tay lên đầu họ – mà thích cụng đầu với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mọi người</span> hơn. Trong mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn cảnh</span>, Ngài luôn khiêm nhường, giữ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> với tất cả.</p>
<p style="text-align: justify;">Lặp đi lặp lại nhiều lần, Ngài ban các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> cho tập hội đông đảo chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> và Tulku, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cộng đồng</span>, luôn luôn không chút <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành kiến</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bộ phái</span>. Ngài làm điều này vì hầu hết chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> và Tulku Kagyu quan trọng, chẳng hạn bốn Nhiếp Chính Kagyu và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương tự</span>, vì chư vị trì giữ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> Nyingma <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span>. Ngài đã dạy mọi kiểu người từ các bối cảnh khác nhau – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span>, Tulku, Khenpo, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span> từ các trường phái và nhánh khác nhau. Ngài cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du hành</span> ra nước ngoài, khắp Đông và Tây, để ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> ở đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi còn ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, Rinpoche đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phục hồi</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> lại chùa Lakyab Jangchup Nordzin Choling ở Tsangsar, cùng với những hỗ trợ và vật phẩm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> bên trong, và các tòa nhà cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span> ở đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> ngôi chùa mới tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ni viện</span> Nagi Gompa (Nang Kyi Tongsel Ling) ở Nepal, đích thân Rinpoche giúp việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đặc biệt</span>, Ngài khéo léo làm ba bức tượng chính trong chùa bằng tay, cũng như nghìn bức tượng Guru Rinpoche và những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bàn thờ</span> để lưu giữ.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span> mua đất bên cạnh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span> Jarung Kashor (Boudha)<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn14">[14]</a> và bắt đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Ka-Nying Shedrub Ling, Rinpoche cũng giúp đỡ việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> ở đó và luôn có mặt. Ngài thường đích thân đi mua những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vật liệu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> và bất cứ khi nào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đề xuất</span> gọi một chiếc taxi, Ngài thường hỏi giá và sau đấy, khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span> nói hết 5 <i>rupee</i>, Ngài nói: “Tốt hơn thì dành tiền ấy để mua đồ, hãy đi xe buýt”. Sau đấy, Gyaltsen Dorje hay Sangye Yeshe sẽ đi cùng Ngài trên xe buýt.</p>
<p style="text-align: justify;">Mẹ tôi nấu trà và đồ ăn cho tất cả công nhân. Bà cũng giúp việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> và thậm chí còn bán <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">san hô</span>, Dzi và những trang sức <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quý báu</span> khác để giúp tài trợ cho việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span>. Thế nhưng, Bà chẳng bao giờ bỏ các thời khóa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> sáng và tối và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong suốt</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span>, Bà đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thành</span> mười ba bộ Ngondro (năm lần một trăm nghìn các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sơ khởi</span>). Bà cũng dành nhiều năm để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span>. Bà đóng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vai trò</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> trong việc giám sát <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span>, được hỗ trợ bởi em trai tôi, Chokling Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cuối cùng</span>, ngôi chùa và những hỗ trợ bên trong đã hội tụ và khi công việc về cơ bản đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn tất</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> được khánh thành bởi Vua của Nepal. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng tôi</span> đã cung thỉnh Đức Karmapa thứ 16 <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối thắng</span>, bốn Nhiếp Chính Kagyu cũng như nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> và Tulku khác từ mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> cùng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham dự</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">buổi lễ</span> thánh hóa ngôi chùa. Sau đấy, tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span>, trong hai tháng, Đức Karmapa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vinh quang</span> đã ban <i>Kho Tàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Chú</span> Kagyu</i> (Kagyu Ngagdzod), cùng với vô vàn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> khác. Ngài cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cử hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> vương miện <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">linh thiêng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> nhờ nhìn ngắm.</p>
<p style="text-align: justify;">Kể từ đó, gần như hằng năm, một trong những chúa tể của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cựu Dịch</span> đều viếng thăm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> và ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span>: những Lama như Kyabje Dudjom Rinpoche, Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche và Kyabje Shadeu Trulshik Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn15">[15]</a> đều đến và ban các pho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> khác nhau, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>] từ Kama và Terma.</p>
<p style="text-align: justify;">Những vị vĩ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại từ</span> mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> – trong số chư vị có Sakya Trizin Rinpoche thứ 41, Kyabje Minling Trichen Rinpoche, Kyabje Drubwang Pema Norbu (Penor) Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn16">[16]</a>, Drikung Kyabgon Rinpoche, Chogye Trichen Rinpoche và Kyabje Chatral Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn17">[17]</a> – đều đến và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> bằng sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện</span> và ban các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Giống như vậy, đích thân Đấng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quy Y</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> – Tulku Urgyen Rinpoche đã ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và trao truyền cho bốn Nhiếp Chính Kagyu và hàng nghìn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span>, Khenpo, Tulku, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span> từ mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> đến gặp Ngài. Với các học trò thân cận, Ngài ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> truyền miệng nhiều lần. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đặc biệt</span>, Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> như <i>Ba Phần Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span></i> (Dzogchen Desum<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn18">[18]</a>) từ kho tàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> của Tổ Chokling lên những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> vĩ đại như Đức Karmapa thứ 16, Kyabje Dudjom Rinpoche, Nangchen Adeu Rinpoche, Dabzang Rinpoche, Tarthang Rinpoche và Tenga Rinpoche. Mối <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên hệ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> lẫn nhau giữa tất cả những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> này thật mạnh mẽ và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> mới ở Boudha, KaNying Shedrub Ling, Rinpoche đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành lập</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rường cột</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>. Nói ngắn gọn, Đức Karmapa thứ 16 đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bi</span> truyền tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới Sa Di</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tỳ Kheo</span> cho những vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> mới. Kể từ ấy, không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gián đoạn</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chư Tăng</span> Ka-Nying Shedrub Ling vẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> nền tảng của một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span>: <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> tịnh hóa và chữa lành <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thường xuyên</span> (Sojong hay Bố tát), <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an cư kiết hạ</span> (Yarne) và lễ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết thúc</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an cư</span> (Gakye – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tự Tứ</span>). Kể từ đó, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span> vẫn luôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cử hành</span> các lễ Puja nhóm sáng và tối <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hằng ngày</span>, những Puja tỉ mỉ vào ngày Mười và Hai mươi lăm (cùng những ngày <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> khác) và nhiều Drubchen <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thường niên</span> khác nhau, tất cả không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gián đoạn</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Như đạo</span> sư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thế Thân</span> (Vasubhandu) vĩ đại từng nói: “Trước tiên con cần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đúng đắn</span> và sau đấy, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán chiếu</span> rồi dấn thân thiền định”. Nói ngắn gọn, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuân theo</span> lời dạy này. Kết quả là, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> phát triển theo từng năm. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> hiện đang có một trường tiểu học, một trường trung học, một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span>, một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> cho các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nghiên Cứu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật Giáo</span> Cao Hơn (Shedra – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật học viện</span>) và một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> (tại Động Asura). Tại tất cả những nơi này, sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span>, thành thạo và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành thiền định</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chư Tăng</span> ngày càng sâu sắc và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mở rộng</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Rinpoche cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> mới – Ngedon Osel Ling ở Swayambhu và Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> Pema Osel Ling tại Động Asura, địa điểm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">linh thiêng</span> của Guru Rinpoche. Ở đó, Ngài và mẹ tôi đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> một ngôi chùa và những sự hỗ trợ bên trong, cũng như các phòng và cơ sở khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Bên cạnh tất cả những công việc tại trú xứ, Tulku Urgyen Rinpoche cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du hành</span> rộng khắp ở Sikkim, Bhutan và Nepal, ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> và chủ trì nhiều [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp hội</span>] <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chân ngôn</span> nhóm về Mani và Vajra Guru.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tuy nhiên</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm yếu</span> đích thực trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiểu sử</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị đạo</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sư tôn</span> quý này là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự thật</span> rằng hầu hết các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của Ngài đã phát triển sự xả ly và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tỉnh ngộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thành</span>, tình <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">yêu thương</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng bi mẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thật</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân chính</span>. Họ có lòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quyết tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thành</span> về việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thù thắng</span> nói chung và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> của tâm và nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương tiện</span> này, nhiều vị trong số họ đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điều phục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nội tâm</span>. Tôi xem đây là phần quan trọng nhất trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">di sản</span> của cha tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong những năm về sau, Rinpoche sống ở Nagi Gompa, nơi Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhất tâm</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đơn giản</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp tính</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> cố hữu. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cuối cùng</span>, vào năm bảy mươi sáu tuổi, ngày Mười ba tháng Hai năm 1996 ([tức ngày Hai mươi tư tháng Mười hai] năm Mộc Hợi [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Âm lịch</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>]), <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm trí</span> tuệ của Ngài tan hòa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở lại</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hư không</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">căn bản</span>. Lúc Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span>, trái đất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rung động</span>, bầu trời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quang đãng</span> và tất cả bụi đều lắng dịu. Khi thánh thân Ngài được đưa từ Nagi Gompa đến KaNying Shedrub Ling tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span> Jarung Kashor (Boudha), hàng nghìn người, cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span>, đã xếp hàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dọc đường</span>, rớt nước mắt, cầm khăn Khata và hoa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> trên tay với những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm xúc</span> đau buồn, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và lòng sùng mộ chẳng gì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sánh bằng</span> trong tim.</p>
<p style="text-align: justify;">Các Puja tang lễ và lễ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trà tỳ</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ân cần</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham dự</span> bởi một tập hội vĩ đại của hàng trăm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span>, Tulku, Khenpo và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span>. Kyabje Chatral Rinpoche đã ở đó và Kyabje Chogye Trichen Rinpoche, Dilgo Khyentse Yangsi Rinpoche và Dudjom Yangsi Rinpoche, Shechen Rabjam Rinpoche, Dzongsar Khyentse Rinpoche, Dzigar Kongtrul Rinpoche, Sangye Nyenpa Rinpoche, Beru Khyentse Rinpoche, Tarthang Rinpoche, Thrangu Rinpoche, Tenga Rinpoche, Tarik Rinpoche, Neten Chokling Rinpoche, Dodzong Rinpoche, Sogyal Rinpoche, Chogyal Rinpoche, Orgyen Tobgyal Rinpoche, Khyentse Yeshe Rinpoche, Yongdzin Rinpoche, Gyatrul Rinpoche, Sachu Rinpoche, Zangzang Rinpoche, Ripa Jigme Rinpoche, Tulku Jigme Rinpoche, Trakar Rinpoche, Kushok Tsechu Rinpoche, Dungse Shenphen Dawa Rinpoche, Khenpo Tsultrim Gyatso Rinpoche, Khenpo Pema Sherab Rinpoche và Khenpo Namdrol Rinpoche cùng nhiều vị khác cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham dự</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Các đại sứ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, quan chức Nepal, đại sứ nước ngoài và hàng nghìn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span>, tất cả đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng kiến</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thành</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lịch thiệp</span>, cũng đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham dự</span> cùng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span>. Sau lễ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trà tỳ</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> sọ của Rinpoche vẫn nguyên vẹn; tim, lưỡi và mắt Ngài hòa vào nhau và tro cốt Ngài chứa đầy các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xá lợi</span> nhiều màu, để lại cho các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sùng kính</span> vô vàn sự hỗ trợ cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> của họ. Hiện nay, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xá lợi</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vẫn có</span> thể được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chiêm bái</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><i><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiểu sử</span> này, được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự tại</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyên thuyết</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trưởng dưỡng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span>, đã được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> nhiều lần bởi chư Khenpo, Tulku, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương</span> và những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> cao niên của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> – KaNying Shedrub Ling cũng như bởi các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> tại Nagi Gompa, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> Động Asura và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> khác của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>. Vào nhiều dịp, họ đã trao cho tôi các Mandala và Khata, với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> rằng tôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biên soạn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiểu sử</span> của cha tôn quý. Do đó, theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quả quyết</span> của chư vị, tôi, ông lão tên Tulku Chokyi Nyima, con trai trưởng của cha – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span>, đã viết lại điều này vào ngày 10 tháng 9 năm Thổ Tý, năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> 2135 (tức năm 2008 Dương lịch). Nguyện tốt lành!</i></p>
<p style="text-align: left;"><b>Lhasey Lotsawa</b></p>
<p style="text-align: left;"><em>Anh dịch: Lhasey Lotsawa</em></p>
<p style="text-align: left;"><em>Việt dịch: Pema Jyana</em></p>
<p style="text-align: left;"><em>Nguồn Anh ngữ: </em><a href="https://lhaseylotsawa.org/library/to-nourish-faith-eng"><em><u><i>To Nourish Faith</i></u></em></a></p>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref1">[1]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Barom Darma Wangchuk (1127 - 1199) – một trong bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> của Tổ Gampopa và là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng lập</span> nhánh Barom Kagyu của Dakpo Kagyu. Ngài cũng là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng lập</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Barom ở phía Bắc Lato.</em></p>
<div>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref2">[2]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Dusum Khyenpa</span> (1110 - 1193), Đức Karmapa thứ nhất, sinh ở Kham. Là một trong bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> của Tổ Gampopa, Ngài là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng lập</span> phái Karma Kagyu và ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> chính của phái này: Kampo Nenang Gon vào năm 1164, Karma Gon vào năm 1184 và Tsurphu Gon vào năm 1189.</em></p>
</div>
<div>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref3">[3]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Phagmodrupa Dorje Gyalpo (1110 - 1170) – một trong ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> xuất sắc nhất của Tổ Gampopa và là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> quan trọng của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Kagyu. Trước khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh ngộ</span> Tổ Gampopa, Ngài cũng đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> với Tổ Sachen Kunga Nyingpo – vị mà Ngài thân cận mười hai năm, thọ nhận các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Lamdre, Tổ Padampa Sangye và Tổ Chapa Chokyi Senge. Sau khi Tổ Gampopa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span>, Phagmodrupa rời miền Trung <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> và đến sống ở Phagmo Dru, Kham, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành lập</span> trường phái Pagdru Kagyu, điều sau này chia thành tám nhanh nhỏ, mỗi nhánh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lần lượt</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành lập</span> bởi tám <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> chính của Ngài. Ngài cũng là anh trai của Đức Kathok Dampa Deshek, vị Tổ của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Kathok.</em></p>
</div>
<div>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref4">[4]</a> Về Terton Chokgyur Dechen Lingpa, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo:</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/a30774/cuoc-doi-duc-chokgyur-lingpa"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cuộc Đời</span> Đức Chokgyur Lingpa</a></em></p>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref5">[5]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Khakhyab Dorje, vị Karmapa thứ Mười lăm (1870/1 - 1921/2) là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của cả Đức Jamyang Khyentse Wangpo và Jamgon Kongtrul [Lodro Thaye]. Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> cả Terma đất và tâm. Hai con trai của Ngài là Karse Kongtrul và Shamarpa thứ Mười một. Một trong những vị phối ngẫu của Ngài là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Không Hành Nữ</span> vĩ đại của Tsurphu – Khandro Ugyen Tsomo.</em></p>
</div>
<div>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref6">[6]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Nubchen Sangye Yeshe – một trong hai mươi lăm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của Guru Rinpoche. Ngài được cho là đã sống 110 năm hoặc hơn. Ngài đã đem <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Anuyoga đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> và chuyển dịch nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span>. Ngài cũng là học trò của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vô Cấu</span> Hữu và nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> vĩ đại khác.</em></p>
<p><em>Người ta kể lại rằng chính nhờ những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sức mạnh</span> diệu kỳ của Ngài mà vua Langdarma đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tha cho</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span> Mật thừa trong lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khủng bố</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">môn đồ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo</span> ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>.</em></p>
</div>
<div>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref7">[7]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Guru Chokyi Wangchuk, tức Guru Chowang (1212 - 1270) – vị thứ hai trong năm Khai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Tạng</span> Vương và là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa hiện</span> về khẩu của Vua Trisong Deutsen. Trong các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> của Ngài có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Lama Sangdu.</em></p>
</div>
<div>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref8">[8]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Rinchen Terdzod – Kho Tàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Lý</span> Ẩn Giấu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quý Báu</span> là một trong Năm Kho Tàng Vĩ Đại của Tổ Jamgon Kongtrul. Đây là một tuyển tập từ tất cả các Terma được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> thời của Ngài, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> cả các kho tàng của Tổ Chokgyur Lingpa. Lo sợ rằng những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> này sẽ bị mất, Ngài bắt đầu việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết tập</span> vào năm 1855 với sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> của Tổ Jamyang Khyentse Wangpo và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thành</span> vào năm 1889. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đơn giản</span> thọ nhận các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> Rinchen Terdzod cũng cần từ 4 đến 6 tháng.</em></p>
</div>
<div>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref9">[9]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Shechen Kongtrul Pema Drime Lekpe Lodro (1901-khoảng 1960) – vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> của Tổ Jamgon Kongtrul Lodro Thaye <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư ngụ</span> tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Shechen. Ngài được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công nhận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa trên</span> một linh kiến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giấc mộng</span> mà trong đó, Shechen Rabjam Rinpoche thứ năm thấy bản văn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bát Nhã Ba La Mật</span> 8000 Đoạn Kệ bay từ Tsadra Rinchen Drak đến phía Đông của Derge. Ngài cũng được ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu</span> Gyurme Kunzang Shenphen Thaye Lodro Drime bởi Đức Shechen Gyaltsap [thứ tư – Gyurme Pema Namgyal]. Ngài có lẽ đã qua đời trong nhà tù <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span>. Ngài là một trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> chính của Chogyam Trungpa Rinpoche và Khenpo Tsondru. Ngài đã ban các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Dzogchen cho Lama Sherap Dorje Rinpoche và Lama Tharchin Rinpoche.</em></p>
</div>
<div>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref10">[10]</a> Về Đức Jamyang Khyentse Chokyi Lodro, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo: </span></em><a href="https://thuvienhoasen.org/p38a34025/2/huyen-hoa-du-hi"><em><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Huyễn hóa</span> du hí một tự truyện của jamyang khyentse chokyi lodro</em></a></p>
<p><a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/truong-duong-tin-tam/#_ftnref11"><em><i>[11]</i></em></a><em><i> Về Kyabje Dudjom Rinpoche, tham khảo: </i></em><a href="https://thuvienhoasen.org/p38a35008/tieu-su-van-tat-dudjom-rinpoche-jigdral-yeshe-dorje-1904-1987-"><em><i>Tiểu Sử Vắn Tắt Dudjom Rinpoche Jigdral Yeshe Dorje (1904-1987)</i></em></a></p>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref12">[12]</a> Về Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo:</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a32138/2/tieu-su-dilgo-khyentse-rinpoche-1910-1991-"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiểu Sử</span> Dilgo Khyentse Rinpoche (1910-1991)</a></em></p>
</div>
<div>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref13">[13]</a> Tức Polu Khenpo Dorje. Theo <b>Rigpawiki</b>, Polu Khenpo Dorje hay Thupten Kunga Gyaltsen (khoảng 1896 - 1970) là một trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> của Khenpo Ngawang Palzang. Ngài được xem là một trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> Dzogchen <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> nhất trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời kỳ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gần đây</span>. Ngài đôi khi được nhắc đến là Bomta Khenpo theo [tên của] những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thí chủ</span> của Ngài – Bomta Tsang.</em></p>
</div>
<div>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref14">[14]</a> Về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span> Jarung Kashor, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo: <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a29266/3/giai-thoat-nho-lang-nghe">Giải Thoát Nhờ Lắng Nghe</a></span></em></p>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref15">[15]</a> Về Trulshik Rinpoche, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo:</span> </em><a href="https://thuvienhoasen.org/p38a34500/2/tieu-su-van-tat-duc-zhadeu-trulshik-chenpo-ngawang-chokyi-lodro-1924-2011-"><em><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiểu Sử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vắn Tắt</span> Đức Zhadeu Trulshik Chenpo Ngawang Chokyi Lodro (1924 - 2011</em>)</a></p>
</div>
<div></div>
<div>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref16">[16]</a> Về Penor Rinpoche, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo: </span></em><a href="https://thuvienhoasen.org/p38a33611/2/tieu-su-kyabje-pema-norbu-rinpoche-1932-2009-"><em><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiểu Sử</span> Kyabje Pema Norbu Rinpoche (1932 – 2009)</em></a></p>
</div>
<div>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref17">[17]</a> Về Chatral Rinpoche, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo:</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a30967/3/chatral-rinpoche-cuoc-doi-cua-mot-huyen-thoai">Chatral Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cuộc Đời</span> Của Một Huyền Thoại</a></em></p>
</div>
<div>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref18">[18]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Ba Bộ Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span> (Dzogchen Desum) là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> (Terma) của Tổ Chokgyur Dechen Lingpa và Tổ Jamyang Khyentse Wangpo. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo lý</span> này được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> vào năm 1857 ở Mesho Dzomnang như một Terma đất từ Động <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Liên Hoa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pha Lê</span>, một hang động <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">linh thiêng</span> của Guru Rinpoche. Tulku Urgyen Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">miêu tả</span> đây là kho tàng xuất sắc nhất của Tổ Chokgyur Lingpa, bởi nó là Terma <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy nhất</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> cả ba bộ của Dzogchen.</em></p>
</div>
<div></div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/mot-mieu-ta-ngan-gon-ve-cac-hoat-dong-tri-tue-cua-bon-su-chua-te-pho-quat-tulku-urgyen-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử ngắn Sonam Tenzin Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-ngan-sonam-tenzin-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-ngan-sonam-tenzin-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 06 Sep 2015 17:21:56 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Barom Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Barom]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=4575</guid>
		<description><![CDATA[  Sinh ra trên vùng thánh địa do chính đức Liên Hoa Sanh tìm ra tại xứ Kham, miền Đông Tây Tạng, đứa bé trai tên Sonam được xác nhận là bậc  tái sinh của Rabsang Rinpoche, sư trưởng Tu Viện Chodrak thuộc dòng Barom Kagyu. Bậc thủ ngôi dòng Barom Kagyu, Chodrak Selgey Rinpoche đời thứ 9, đưa cậu&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-ngan-sonam-tenzin-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"> <a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/maxresdefault4.jpg"><img class="  wp-image-5356 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/maxresdefault4-200x300.jpg" alt="maxresdefault" width="290" height="435" /></a></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Sinh ra trên vùng thánh địa do chính đức Liên Hoa Sanh tìm ra tại xứ Kham, miền Đông Tây Tạng, đứa bé trai tên Sonam được xác nhận là bậc  tái sinh của Rabsang Rinpoche, sư trưởng Tu Viện Chodrak thuộc dòng Barom Kagyu. Bậc thủ ngôi dòng Barom Kagyu, Chodrak Selgey Rinpoche đời thứ 9, đưa cậu bé Sonam đăng ngôi, trao tặng pháp hiệu Karma Jampal Sonam Tenzin Palzangpo Rinpoche. Rinpoche còn được xác nhận là bậc tái sanh thứ tư của đức Vairotsana.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Rinpoche bắt đầu tu học vào năm lên tám dưới sự hướng dẫn của đại sư Saljey Rinpoche và Lama Yeshe Rabje Rinpoche. Ngài tu học theo cả hai  truyền thống Barom Kagyu và Karma Kagyu. Rinpoche trực tiếp thọ nhận nhiều pháp quán đảnh, nhiều lời khai thị và nhiều giáo pháp từ đức Karmapa đời thứ 17 Urgyen Trinley Dorje khi đức Karmapa đăng ngôi  tại Tsurphu Monastery.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Rinpoche hoàn tất ba năm bảy tháng nhập thất tại Tu Viện Pharping Drubdey Osel Choling Monastery, dưới sự hướng dẫn trực tiếp và chặt chẽ của Khabje Sangye Nyenpa Rinpoche and Tenga Rinpoche.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Rinpoche là người vô cùng khiêm cung. Ngài không thích nói về mình, cũng không muốn nhắc đến thiện hạnh ngài đã làm cho biết bao người, đặc biệt là cho cộng đồng người Việt. Ngài thường xuyên nhắc nhở “<em><b>chúng ta cứ hãy thiết tha vững tin nơi Phật, nhờ năng lực từ bi gia trì của đức Phật sẽ tự nhiên gặp được nhiều điều mầu nhiệm trong đời</b></em>.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Rinpoche không ngừng nỗ lực gây quĩ trùng tu Ni Viện Chodrak, không ngừng nâng đỡ tất cả chúng sinh.</span></p>
<p><span style="color: #000000;">Nguồn: <a style="color: #000000;" href="http://nalanda.batnha.org/daosulamas/tieusubiograp/3-sonam-tenzin-rinpoche">http://nalanda.batnha.org/daosulamas/tieusubiograp/3-sonam-tenzin-rinpoche</a></span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-ngan-sonam-tenzin-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
