<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Barom Kagyu</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-kagyn/barom-kagyu/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Fri, 17 Apr 2026 16:09:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Tự do và Thong dong &#8211; Một bài ca Kim Cương tự phát</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tu-do-va-thong-dong-mot-bai-ca-kim-cuong-tu-phat/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tu-do-va-thong-dong-mot-bai-ca-kim-cuong-tu-phat/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 31 Mar 2022 07:03:25 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Barom Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Barom]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=10987</guid>
		<description><![CDATA[Hạnh phúc không thể được tìm thấy qua cố gắng và ý chí lớn lao, mà đã sẵn hiện tiền, trong sự buông xả trống trải và để mặc. Chớ có ráng sức, không có cái gì để làm hay không làm. Cái gì chốc lát khởi lên trong thân tâm không có chút quan trọng thực sự nào, không&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tu-do-va-thong-dong-mot-bai-ca-kim-cuong-tu-phat/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Hạnh phúc không thể được tìm thấy<br />
qua cố gắng và ý chí lớn lao,<br />
mà đã sẵn hiện tiền, trong sự buông xả trống trải và để mặc.</p>
<p>Chớ có ráng sức,<br />
không có cái gì để làm hay không làm.<br />
Cái gì chốc lát khởi lên trong thân tâm<br />
không có chút quan trọng thực sự nào,<br />
không có chút thực tại nào.<br />
Tại sao đồng hóa với, và trở nên bám chấp vào nó,<br />
đặt phán xét lên nó và lên chính chúng ta?</p>
<p>Tốt hơn là đơn giản<br />
để cho toàn bộ trò chơi xảy ra riêng phần nó,<br />
khởi lên và lặng xuống như những cơn sóng –<br />
không biến đổi hay mó tay vào bất cứ cái gì –<br />
và nhận thấy mọi sự tan biến và lại xuất hiện<br />
như thế nào, trở đi trở lại như huyễn thuật,<br />
thời gian không có lúc chấm dứt.</p>
<p>Chỉ sự tìm kiếm hạnh phúc của chúng ta<br />
ngăn cản chúng ta thấy nó.<br />
Nó giống như một cầu vồng sống động bạn theo đuổi<br />
mà không bao giờ nắm bắt được,<br />
hay như một con chó rượt theo cái đuôi của mình.</p>
<p>Dù an lạc không hiện hữu<br />
như một sự vật và nơi chốn hiện thực,<br />
nó luôn luôn hiện tiền<br />
và đi cùng bạn mỗi một phút giây.<br />
Chớ tin vào thực tại<br />
của những kinh nghiệm tốt xấu,<br />
chúng như khí hậu phù du của ngày hôm nay,<br />
như những cầu vồng trong bầu trời.</p>
<p>Muốn nắm bắt cái không thể nắm bắt,<br />
bạn tự làm kiệt sức mình vô ích.<br />
Ngay khi bạn mở trống và buông xả nắm tay siết chặt của<br />
sự bám nắm này,<br />
không gian vô biên là ở đấy – rỗng rang, mời mọc và<br />
thoải mái tiện nghi.</p>
<p>Hãy dùng lấy cái trống rộng này, cái tự do và thoải mái<br />
tự nhiên này.<br />
Chớ tìm cái gì khác hơn nữa.<br />
Chớ đi vào rừng rậm um tùm<br />
tìm kiếm con voi Giác ngộ vĩ đại,<br />
nó vốn đã an nhiên trong nhà<br />
ở trước lò sưởi của bạn.<br />
Không có gì để làm hay không làm,<br />
không có gì để động sức,<br />
không có gì để muốn,<br />
và không có gì thiếu sót, trệch sai –</p>
<p>Emaho! Kỳ diệu!<br />
Mọi sự xảy ra tự chúng.</p>
<p><strong>Lama Gendun Rinpoche</strong></p>
<p><em>Lama Gendun Rinpoche là một lama Kagyu trưởng, trụ trì và vị thầy ẩn tu của Tu Viện Dakpo Kagyu Ling ở Dordogne, Pháp, nơi bài thơ này được dịch ra từ tiếng Tây Tạng.</em></p>
<p><em>Việt dịch: Nguyễn An Cư</em></p>
<p><em>Trích Tác phẩm: Đại Toàn Thiện Tự Nhiên - Thiền Tây Tạng và những Bài Ca Kim Cương, n</em><em>hà xuất bản Thiện Tri Thức, 1999.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tu-do-va-thong-dong-mot-bai-ca-kim-cuong-tu-phat/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Truyền thừa Barway Dorje và truyền thừa Barom Kagyu &#8211; Phần 1</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/truyen-thua-barway-dorje-va-truyen-thua-barom-kagyu-phan-1/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/truyen-thua-barway-dorje-va-truyen-thua-barom-kagyu-phan-1/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 27 Oct 2021 20:18:23 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Barom Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Barom]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=10407</guid>
		<description><![CDATA[Tôi được yêu cầu nói về truyền thừa và các kho tàng của Terchen Barway Dorje và về truyền thống kho tàng [Terma] nói chung và tôi đã chấp thuận làm vậy. Tôi đã cho phép lưu hành một chút thông tin dưới dạng in ấn về Terchen Barway Dorje, nhưng tôi chưa bao giờ nói một lời về tiền&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/truyen-thua-barway-dorje-va-truyen-thua-barom-kagyu-phan-1/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôi được yêu cầu nói về truyền thừa và các kho tàng của </span><b>Terchen Barway Dorje</b><span style="font-weight: 400;"> và về truyền thống kho tàng [Terma] nói chung và tôi đã chấp thuận làm vậy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôi đã cho phép lưu hành một chút thông tin dưới dạng in ấn về Terchen Barway Dorje, nhưng tôi chưa bao giờ nói một lời về tiền thân của tôi một cách công khai. Điều đó không phải là bởi tôi không biết về cuộc đời của Terchen Barway Dorje hay về những giáo lý của Ngài, hay tôi không hiểu ý nghĩa chân thật của chúng hoặc bản tính của các pháp. Vì sự kính trọng và lòng sùng mộ với Bổn Sư của tôi, Đức Gyalwang Karmapa thứ Mười sáu, mà trong tất cả giảng dạy và du hành của bản thân tôi đều chỉ muốn phụng sự hoạt động và giáo lý của Ngài. Vì thế, tôi đã cực kỳ cẩn trọng để từ bỏ bất kỳ điều gì mà theo bất kỳ kiểu suy diễn nào đó, có thể được xem là sự tự đề cao hay tự thúc đẩy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không phải là tôi không biết về Terchen Barway Dorje. Tôi đã sinh ra ở Tây Tạng, một đất nước ngập tràn Giáo Pháp; tôi được công nhận từ khi còn rất nhỏ là một Hóa thân. Như bất kỳ Hóa thân nào khác, tôi được cho là đã sinh ra với các phẩm tính đặc biệt - đây là điều gì đó mà tôi nhận ra trong truyền thống của chúng tôi. Có hai kiểu phẩm tính mà người ta có thể có: Có những phẩm tính đến từ rèn luyện trong một đời nhất định nào đó và có những phẩm tính là kết quả của các đời trước. Bất kỳ Hóa thân nào cũng được cho là sinh ra với sự nhận ra nội tại về bản tính của vạn pháp. Và thực sự, chúng ta thấy rằng chư đạo sư vĩ đại, chẳng hạn Đức Gyalwang Karmapa và những vị khác, từ khoảnh khắc chào đời, đã có sự chứng ngộ trọn vẹn và chư vị chỉ trải qua điệu bộ rèn luyện để đáp ứng nhu cầu của chúng sinh khác. Dẫu sao, thậm chí nếu tôi thiếu các phẩm tính của một Hóa thân chân chính, tôi cũng đã nghiên cứu về cuộc đời và những giáo lý của tiền thân của mình và vì thế, tôi sẽ kể cho các bạn đôi điều về Ngài và các giáo lý của Ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phật Pháp đã được giới thiệu đến Tây Tạng bởi ba vị vua Pháp vĩ đại và đặc biệt, chính trong thời trị vì của vị thứ hai trong ba vị này - Vua Trisong Detsen - mà những giáo lý đã được gieo trồng vững chắc ở vùng đất Tây Tạng. Đặc biệt trong thời trị vì của Vua Trisong Detsen mà những giáo lý Kim Cương thừa đã được đem đến Tây Tạng đầy đủ và quán đỉnh (hay Abhisheka) ở mức độ trọn vẹn nhất được ban lần đầu tiên. Dưới sự tài trợ và theo thỉnh cầu của Vua Trisong Detsen, đức vua và hai mươi tư người Tây Tạng khác đã thọ nhận quán đỉnh đặc biệt từ Guru Rinpoche (tức Đạo Sư Liên Hoa Sinh), điều được gọi là Quán Đỉnh Tám Phần. Tám Phần liên quan đến tám đàn tràng (Mandala), điều có thể được thực hành tách biệt nhưng cũng có thể được thực hành kết hợp thành một đại đàn tràng với 725 vị Tôn, bao gồm cả một đàn tràng thứ chín.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hai mươi lăm đệ tử nổi tiếng [trước đó] không phải đều là đệ tử của Guru Rinpoche; họ là những đệ tử căn bản của điều được gọi là tập hội đầu tiên hay lần đầu tiên mà Guru Rinpoche tập hợp các đệ tử lại cùng nhau ở Tây Tạng và dạy họ Kim Cương thừa</span><span style="font-weight: 400;">[2]</span><span style="font-weight: 400;">. Hai mươi lăm vị thọ nhận quán đỉnh hôm đó trong Động Chimphu, bước vào đàn tràng đó và khi mỗi vị tung bông hoa vàng vào đàn tràng, bông hoa rơi vào một trong chín khu vực (hay cõi giới) của đàn tràng. Điều đó khiến Guru Rinpoche trao cho mỗi người họ một phần đặc biệt tương ứng với khu vực của đàn tràng mà bông hoa của họ rơi vào. Và cũng chính phần đặc biệt đó là điều mà họ đã theo đuổi trong thực hành. Vì thế, một số đã thực hành Văn Thù Yamantaka, số khác Mã Đầu (Hayagriva), số khác Yangdak Heruka, một số Cam Lồ Phẩm Tính, số khác Phổ Ba Kim Cương và v.v. và điều này đều dựa trên duyên khởi cát tường của nơi mà bông hoa của họ rơi xuống. Một trong hai mươi lăm đệ tử này là tể tướng của Vua Trisong Detsen, người là một cư sĩ được biết đến là Dorje Tritsun. Ngày nay, Ngài được biết đến nhiều hơn với Pháp danh Sangye Yeshe. Bởi đến từ tộc Nup, Ngài được gọi là Đại Nup Sangye Yeshe hay Nupchen Sangye Yeshe. Bông hoa của Ngài rơi vào phần phía Nam của đàn tràng và vì thế, Ngài được trao phần (hay thực hành) về Văn Thù Yamantaka. Nhờ thực hành đó, Ngài đã đạt giác ngộ viên mãn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài Nupchen Sangye Yeshe là đời đầu tiên, rất nổi tiếng của tôi ở Tây Tạng. Chúng ta biết điều này từ nhiều nguồn khác nhau; một trong số chúng là Lời Cầu Khẩn Đến Các Đời Tuần Tự do Terchen Barway Dorje biên soạn</span><span style="font-weight: 400;">[3]</span><span style="font-weight: 400;"> theo thỉnh cầu của Garchen Rinpoche đời trước. Garchen Rinpoche đời trước là một đệ tử sùng kính và cũng là một trong những vị kế thừa Giáo Pháp căn bản của Terchen Barway Dorje. Lần nọ, Ngài yêu cầu Terchen Barway Dorje biên soạn một lời cầu khẩn hay lời cầu nguyện, điều bao gồm ít nhất là một sự chọn lọc tốt đẹp về các đời trước của Terchen. Và như thế, chúng ta có lời cầu nguyện này. Có cả bản Tạng ngữ và Anh ngữ và đầu tiên trong các đời ở Tây Tạng được nhắc đến trong đó là Nupchen Sangye Yeshe. Có các tiểu sử mở rộng về Ngài Nupchen Sangye Yeshe, bao gồm một tự truyện, điều ít nhất đã từng tồn tại và hy vọng vẫn còn tồn tại. Và có những bản tiểu sử của các đời tuần tự khác. Tối nay, chúng ta không có thời gian để đi qua tất cả các đời này một cách chi tiết. Hy vọng chúng sẽ được phổ biến và các bạn có thể đọc nếu muốn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Điều cơ bản được biết đến một cách phổ biến về Nupchen Sangye Yeshe là Ngài đã sống rất lâu dưới thời trị vì của Langdarma, vị vua là cháu nội của Vua Trisong Detsen, kẻ đã cố gắng phá hủy Phật Pháp ở Tây Tạng. Chính Nupchen Sangye Yeshe là người đã ngăn không cho sự phá hủy đó diễn ra trên quy mô lớn. Lúc ấy, Nupchen Sangye Yeshe đang sống như là người đứng đầu của một cộng đồng Tantrika (hành giả cư sĩ Mật thừa) lớn. Thực sự, Ngài được trao danh hiệu người đứng đầu của hàng nghìn Tantrika cầm dao Kila. Ngài Nupchen đang sống công khai theo cách này, điều trái với mệnh lệnh của nhà vua rằng tất cả Phật giáo đều phải bị đàn áp. Vì thế, Ngài bị triệu đến gặp Langdarma.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Langdarma nói với Ngài, “Ngươi là ai?”. Và Ngài Nupchen Sangye Yeshe nói, “Ta là một Tantrika Phật tử”. Langdarma hỏi, “Vậy ngươi có sức mạnh gì?”. Vì thế, Ngài Nupchen Sangye Yeshe duỗi ngón trỏ của bàn tay phải và tạo ra, theo một số, một con bọ cạp và theo một số khác là chín con bọ cạp sắt, mỗi con lại có chín đầu và mười tám càng. Mỗi con bọ cạp này lớn bằng một con Yak trung bình và chúng bắn ra khắp phòng. Nhà vua bị dọa và bảo, “Được, Ta sẽ thả ông”. Ngài Nupchen Sangye Yeshe lại nói, “Đấy chưa phải tất cả”. Và sau đó, Ngài phóng tia sét từ ngón tay, thứ trùm khắp cung điện, và v.v. Như thế, nhà vua nói, “Ta cũng sẽ để yên cho truyền thừa của ông”. Lúc này, Ngài Nupchen mới hài lòng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có câu nói rằng lúc bắt đầu, giáo lý được giữ gìn bởi Nyang và lúc giữa, chúng được bảo vệ bởi Nup. Điều này liên quan đến sự thật rằng Ngài Nupchen Sangye Yeshe là một vị thầy có đủ sức mạnh khiến nhà vua khiếp sợ và phải để yên cho cộng đồng hành giả. Bởi điều đó, chúng ta có những giáo lý truyền miệng của các Mật điển cổ xưa cho đến ngày nay. Tuy nhiên, Ngài Nupchen không phải là vị ám sát Langdarma; Lhalung Palgyi Dorje đã làm vậy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nhiều người các bạn từng nghe nói về các nhánh của truyền thống Kagyu, điều đôi khi được nhắc đến là bốn truyền thừa lớn và tám [truyền thừa] nhỏ. Ý nghĩa của điều đó là có bốn nhánh (hay phần) chính và tám nhánh phụ. Tất cả đều đến từ truyền thừa của Đức Gampopa; bốn trong số các đệ tử của Ngài đã thành lập điều mà chúng ta gọi là bốn phần chính trong truyền thừa Kagyu của Đức Gampopa. Đầu tiên trong đó là truyền thừa của Dakpo Gompa, Tu viện của Đức Gampopa, điều được kế thừa bởi cháu trai của Đức Gampopa - Ongom Tsultrim Nyingpo. Truyền thừa đó được gọi là (1) Tsalpa Kagyu</span><span style="font-weight: 400;">[4]</span><span style="font-weight: 400;">. Truyền thừa khác được thành lập bởi Barom Darma Wangchuk, thị giả của Đức Gampopa. Truyền thừa được gọi theo vị này - (2) Barom Kagyu. Một đệ tử khác của Đức Gampopa là Dusum Khyenpa - vị Gyalwang Karmapa thứ Nhất và truyền thừa của Ngài được gọi là (3) Karma Kagyu. Một đệ tử khác nữa là Đức Phagmo Drupa</span><span style="font-weight: 400;">[5]</span><span style="font-weight: 400;">; truyền thừa của Ngài được gọi chung là (4) Phagmo Dru hay Phagdru Kagyu và đây là cội nguồn của tám nhánh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tám truyền thừa nhỏ hơn (hay tám nhánh phụ) đều là các nhánh của Phagdru Kagyu. Đi lướt qua, chúng gồm: Lingre hay (1) Drukpa Kagyu, (2) Drikung Kagyu, (3) Taklung Kagyu, (4) Marak Kagyu</span><span style="font-weight: 400;">[6]</span><span style="font-weight: 400;">, (5) Shugsep Kagyu, (6) Yelpa Kagyu, (7) Trophu Kagyu và (8) Yangpa Kagyu</span><span style="font-weight: 400;">[7]</span><span style="font-weight: 400;">. Yangpa Kagyu về cơ bản chỉ tồn tại trên danh nghĩa. Shugsep Kagyu vẫn tồn tại và chủ yếu như một Ni viện với các vị Ni. Drukpa Kagyu và Drikung Kagyu thì rất phổ biến.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cách mà tôi hòa vào tất cả điều này là Ngài Barom Darma Wangchuk, thị giả của Đức Gampopa và cũng là vị sáng lập Barom Kagyu, là vị tiếp theo nổi tiếng trong các đời ở Tây Tạng của tôi. Là thị giả của Tổ Gampopa, Ngài rất thân cận Tổ. Ngài đã cứu mạng Tổ bốn lần. Và Tổ Gampopa từng nói về Ngài rằng trong tất cả đệ tử, Ngài là vị thân thiết với Tổ nhất. Ngài trở thành vị sáng lập Barom Kagyu và cuối cùng, đã tái sinh thành Pháp chủ Sonam Zangpo, vị đã sống ở Tu viện Kyodrak, miền Đông Tây Tạng. Tu viện Kyodrak được thành lập bởi Langray Drakpa Gyaltsen và là một Tu viện quan trọng với truyền thừa Kagyu nói chung. Ngài Sonam Zangpo và vị phối ngẫu – Atroma Zangmo đã sống trong một hang động phía trên Tu viện Kyodrak, nơi mà ngày nay chỉ có thể đến bằng ròng rọc và dây thừng. Khi ấy, vào thời của Ngài Sonam Zangpo, hang động chỉ có thể đến bằng cách bay; Ngài Sonam Zangpo, Atroma Zangmo và mười ba đệ tử của họ có thể bay.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cho đến thời của Pháp chủ Sonam Zangpo, những giáo lý bí mật của Barom Kagyu vẫn trọn vẹn. Ngài đã ban chúng cho vị phối ngẫu Atroma Zangmo và cho những vị khác. Sau khi Ngài Sonam Zangpo qua đời, Barom Kagyu trở nên suy giảm, ít phổ biến hơn. Trong cuộc đời của Ngài Sonam Zangpo, một bức tượng được làm về Ngài và Ngài nói, “Trông giống Ta”. Vua của Menyak, một thí chủ và đệ tử của Ngài, đã giữ bức tượng như là đối tượng thờ cúng căn bản và sự hỗ trợ cho niềm tin. Một lần, sau khi Ngài Sonam Zangpo qua đời, vua của Menyak đang dâng cúng dường lên bức tượng và bức tượng đã nói với ông ấy, đưa ra một tiên đoán, “Mười ba thế hệ kể từ nay, vị tái sinh của Ta sẽ xuất hiện với danh hiệu Sư Tử. Ngài sẽ phục hồi những giáo lý bí mật về Sáu Pháp Của Naropa của Barom Kagyu. Khi ấy, con sẽ tái sinh làm đệ tử chính yếu của Ngài”. Đúng theo tiên đoán đó, mười ba thế hệ hay mười ba đời sau đó, Choje Sonam Zangpo</span><span style="font-weight: 400;">[8]</span><span style="font-weight: 400;"> đã tái sinh thành vị phát lộ kho tàng Barway Dorje, người mà tên riêng là Chokyi Senge tức Pháp Sư Tử. Ngài đã thọ nhận các giáo lý bí mật và giáo lý trước kia bị mất của Barom Kagyu từ một Không Hành Nữ [trí tuệ] gọi là Du Già Nữ Hư Không [Yeshe Khandro Namkhai Namjor], vị mang hình tướng của Không Hành Nữ Atroma Zangmo. Những giáo lý mà Ngài Barway Dorje thọ nhận từ Du Già Nữ Hư Không là giáo lý mà Choje Sonam Zangpo giao phó cho vị phối ngẫu, Không Hành Nữ Atroma Zangmo, sau khi Bà đạt giác ngộ, và Bà đã trao lại chúng cho Terchen Barway Dorje trong một linh kiến hoặc một chuỗi các linh kiến.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cùng với các giáo lý còn lại trong truyền thừa dài của Barom Kagyu, những giáo lý này tạo thành các quyển giáo lý hư huyễn của Ngài Barway Dorje. Chúng bao gồm giáo lý Đại Thủ Ấn Barom Kagyu, Sáu Pháp Của Naropa, các bài tập về thân cho chúng, và tất cả những giáo lý khác từ cả truyền thừa dài và ngắn của Barom. Các chi tiết về tất cả điều này có thể được tìm thấy trong tiểu sử riêng của những đạo sư tôi vừa nhắc đến, những đời khác nhau của chư vị và ở một mức độ nào đó, trong Tiểu Sử Bên Trong Của Terchen Barway Dorje, điều vốn đã được dịch sang Anh ngữ. Vị tái sinh của vua Menyak, người được tiên đoán trở thành vị kế thừa các giáo lý Barom Kagyu, là thành tựu giả của Tu viện Kyodrak, Ngài Kagyu Tashi, người đã biên tập các tự truyện, bài ca và giáo lý được tuyển tập của Ngài Barway Dorje.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôi được đặc biệt yêu cầu nói về các kho tàng của Ngài Barway Dorje. Chúng bao gồm chín quyển, điều chứa đựng trong chúng tinh túy của giáo lý về chín đàn tràng của tám phần. Tôi sẽ đi qua chúng một cách tóm lược, để bạn có thể hiểu mối liên hệ giữa điểm khởi đầu của truyền thống kho tàng, khi mà Guru Rinpoche ban đại quán đỉnh về tám phần cho hai mươi lăm đệ tử và đỉnh điểm của nó trong các phát lộ của Ngài Barway Dorje và những vị khác. Lần lượt là</span><span style="font-weight: 400;">[9]</span><span style="font-weight: 400;">:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">- Đầu tiên trong chín phần là phần về Đạo Sư Trì Minh được tìm thấy trong quyển đầu tiên trong các kho tàng của Ngài Barway Dorje. Nó bao gồm các nghi quỹ bên ngoài, bên trong, bí mật và cực mật về Đạo Sư Trì Minh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">- Phần thứ hai là về Văn Thù Yamantaka và điều này tạo thành quyển thứ hai trong các kho tàng của Terchen Barway Dorje. Nó bao gồm các thực hành về cả hình tướng trắng và vàng cam của Văn Thù an bình và thực hành các hình tướng khác nhau của Yamantaka.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> - Phần thứ ba là về Khẩu Liên Hoa, điều bao gồm cả hình tướng an bình và phẫn nộ. Có hai hình tướng an bình của Khẩu Liên Hoa: Phật Vô Lượng Thọ và Quán Thế Âm. Hai giáo lý này được tìm thấy trong quyển thứ ba của các kho tàng của Ngài Barway Dorje, điều bao gồm nghi quỹ bên ngoài, bên trong, bí mật và cực mật về trường thọ và pho nghi quỹ mở rộng về Đại Bi (Quan Âm). Khía cạnh thứ hai của phần về Khẩu Liên Hoa là hình tướng phẫn nộ, tức Mã Đầu Minh Vương. Điều này chủ yếu được tìm thấy trong nửa đầu quyển thứ tư trong các kho tàng của Ngài Barway Dorje, điều bao gồm nghi quỹ Mã Đầu-Kila phẫn nộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">- Phần thứ tư là về Tâm Hoàn Hảo và được tìm thấy trong quyển thứ năm trong các kho tàng của Ngài Barway Dorje, điều bao gồm pho giáo lý về Tinh Túy Vi Tế Của Kim Cương Tát Đỏa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">- Phần thứ năm là Cam Lồ Phẩm Tính, điều bao gồm các vị Bổn tôn An Bình và Phẫn Nộ của cõi giới thênh thang. Chúng được tìm thấy trong quyển thứ năm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">- Phần thứ sáu là về hoạt động của Phổ Ba Kim Cương. Chúng tạo thành phần lớn của quyển thứ sáu trong các kho tàng của Ngài Barway Dorje và gồm hai pho: Túi Cổ Của Yeshe Tsogyal (điều là giáo lý cuối cùng được Guru Rinpoche ban cho Yeshe Tsogyal trước khi rời Tây Tạng) và Đại Kila Luân-Niết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">- Phần thứ bảy được gọi là Khuyến Khích Matrika (Matrika là những vị Bổn tôn nữ thuộc một kiểu nhất định). Phần này được tìm thấy khắp các quyển thứ bảy, tám và chín trong kho tàng của Ngài Barway Dorje. Tất cả các quyển này đều liên quan đến những hình tướng khác nhau của Kim Cương Du Già Nữ (Vajrayogini), về cơ bản là Khechari Trắng Đại Lạc và những vị khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">- Phần thứ tám được gọi là Chân Ngôn Phẫn Nộ, pho về Rishi Lokapala an bình và phẫn nộ, một hình tướng của Kim Cương Thủ. Điều này được tìm thấy trong nửa sau của quyển thứ tư.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">- Phần thứ chín được gọi là Lễ Tán Thế Tục. Đây có thể là một tên gọi gây nhầm lẫn nhưng nó nghĩa là đàn tràng bao gồm các tinh linh thế tục ở vành đai. Phần này được tìm thấy ở cuối quyển đầu tiên và đó là một hình tướng Guru Rinpoche phẫn nộ, được gọi là Dorje Drolo với các tinh linh thế tục khác nhau vây quanh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có hơn mười bốn đời giữa Ngài Nupchen Sangye Yeshe và đời hiện tại của tôi; tất cả chư vị có những danh hiệu khác nhau cho đến Terchen Barway Dorje. Từ thời của Ngài, danh hiệu Barway Dorje vẫn duy trì như vậy; vì thế, Terchen Barway Dorje được xem là vị Barway Dorje thứ Nhất; sau đó có vị thứ Hai và thứ Ba. Nếu nhìn vào Lời Cầu Khẩn Đến Các Đời Tuần Tự, bạn sẽ thấy rằng có khoảng mười bốn vị cả thảy, lên đỉnh điểm với Bardor Rinpoche thứ Nhất, thứ Hai và thứ Ba. Vị đã tiên đoán Ngài Barway Dorje sẽ phát lộ các kho tàng là Đức Gyalwang Karmapa thứ Mười bốn - Thekchok Dorje, một trong những đạo sư của Ngài. Và tôi nghĩ thế là đủ cho tối nay.</span></p>
<p><b>Bardor Tulku Rinpoche</b></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Việt ngữ: Pema Jyana - [Từ một bài giảng mà Bardor Tulku Rinpoche ban ở Arizona vào tháng 1/2010. Lama Yeshe Gyamtso chuyển dịch Anh ngữ; Liz Summers chép lại và Basia Coulter biên tập.]</span></i></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Nguồn Anh ngữ: </span></i><a href="https://www.kunzang.org/treasure-lineage/barway-dorje-barom-kagyu/"><i><span style="font-weight: 400;">https://www.kunzang.org/treasure-lineage/barway-dorje-barom-kagyu/</span></i></a><i><span style="font-weight: 400;">.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"><em>[1]</em></span><em><span style="font-weight: 400;"> Về Bardor Tulku Rinpoche, tham khảo </span><a href="https://thuvienhoasen.org/a35810/tieu-su-van-tat-bardor-tulku-rinpoche-thu-ba-1949-2021-"><span style="font-weight: 400;">https://thuvienhoasen.org/a35810/tieu-su-van-tat-bardor-tulku-rinpoche-thu-ba-1949-2021-</span></a><span style="font-weight: 400;">.</span></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><span style="font-weight: 400;">[2]</span><span style="font-weight: 400;"> Có ba tập hội như vậy – chú thích của dịch giả Anh ngữ.</span></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><span style="font-weight: 400;">[3]</span><span style="font-weight: 400;"> Terchen nghĩa là vị phát lộ kho tàng vĩ đại – chú thích của người biên tập bản Anh ngữ.</span></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><span style="font-weight: 400;">[4]</span><span style="font-weight: 400;"> Truyền thừa được đặt tên theo Tsalpa Tsondru Drakpa, một đệ tử của Ngài Ongom Tsultrim Nyingpo – chú thích của người biên tập bản Anh ngữ.</span></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><span style="font-weight: 400;">[5]</span><span style="font-weight: 400;"> Về Ngài Phakmo Drupa, tham khảo </span><a href="https://thuvienhoasen.org/p38a36724/tieu-su-van-tat-duc-phakmodrupa-dorje-gyalpo-1110-1170-"><span style="font-weight: 400;">https://thuvienhoasen.org/p38a36724/tieu-su-van-tat-duc-phakmodrupa-dorje-gyalpo-1110-1170-</span></a><span style="font-weight: 400;">.</span></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><span style="font-weight: 400;">[6]</span><span style="font-weight: 400;"> Cũng được biết đến là Martsang Kagyu – chú thích của người biên tập bản Anh ngữ.</span></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><span style="font-weight: 400;">[7]</span><span style="font-weight: 400;"> Cũng được biết đến là Yangzang Kagyu – chú thích của người biên tập bản Anh ngữ.</span></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><span style="font-weight: 400;">[8]</span><span style="font-weight: 400;"> Choje nghĩa là Pháp chủ – chú thích của người biên tập bản Anh ngữ.</span></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><span style="font-weight: 400;">[9]</span><span style="font-weight: 400;"> Mặc dù được gọi là tám phần, chúng thực sự liên quan đến chín đàn tràng – chú thích của dịch giả Anh ngữ.</span></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/truyen-thua-barway-dorje-va-truyen-thua-barom-kagyu-phan-1/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Trưởng dưỡng tín tâm</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/truong-duong-tin-tam/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/truong-duong-tin-tam/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 20 Apr 2021 15:31:43 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Barom Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Barom]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=10050</guid>
		<description><![CDATA[Đạo sư vô song, Phật Thế Tôn; Giáo Pháp linh thiêng, thù thắng và chẳng dối lừa; Ruộng tích lũy, Tăng đoàn cao quý – Tam Bảo vô song, xin ban cát tường, con cầu nguyện! Tràng núi vàng, chư đạo sư gốc và truyền thừa, Khi chúng con nhất tâm cầu nguyện Ngài với niềm tin trọn vẹn, Với lòng bi mẫn, xin gia trì để chúng con hiện thực hóa Pháp tính Và trở thành những vị dẫn dắt kiên quyết cho vô số chúng sinh! Đã&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/truong-duong-tin-tam/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo sư vô song</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật Thế Tôn</span>;</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">linh thiêng</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thù thắng</span> và chẳng dối lừa;</p>
<p style="text-align: justify;">Ruộng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span> cao quý –</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tam Bảo</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô song</span>, xin ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cát tường</span>, con cầu nguyện!</p>
<p style="text-align: justify;">Tràng núi vàng, chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> gốc và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span>,</p>
<p style="text-align: justify;">Khi chúng con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhất tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cầu nguyện</span> Ngài với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọn vẹn</span>,</p>
<p style="text-align: justify;">Với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng bi mẫn</span>, xin <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> để chúng con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện thực</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa Pháp</span> tính</p>
<p style="text-align: justify;">Và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> những vị dẫn dắt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiên quyết</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> chúng sinh!</p>
<p style="text-align: justify;">Đã bắt đầu bằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tràng hoa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tán thán</span> như vậy, giờ đây, tôi sẽ chuyển sang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủ đề</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thảo luận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> – những nguồn gốc của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trước tiên</span>, bạn hữu vĩ đại nhất của mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hữu tình</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>, đấng dẫn dắt thứ tư của Kiếp này, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thế Tôn</span> Phật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên mãn</span>, đã sinh ra trong khu rừng ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Lâm Tỳ Ni</span>, Nepal. Sự đản sinh của Ngài xảy ra với những dấu hiệu và điềm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt diệu</span>. Sau đấy, ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span>, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiển bày</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật quả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên mãn</span> tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương</span> Tòa ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Đề Đạo Tràng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển Pháp luân</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô lượng</span>, điều hiện nay được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết tập</span> và phân loại thành <b><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tam Tạng</span></b> (<i>Tripitaka</i>) và <b>Bốn Phần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Điển</span></b>.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đấy, tại Vikramasila và Nalanda <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vinh quang</span> cùng nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> vĩ đại khác, những lời nguyên vẹn này từ Bậc Thầy của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giữ gìn</span> bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span>, nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán chiếu</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọn vẹn</span>, điều đưa chư vị đến những cấp độ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học thuật</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> cao. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vô số</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> thượng thặng như vậy đã dấn thân theo cách này – trong số chư vị có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại học giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô cùng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> Tilopa Sherab Zangpo; học trò của Ngài – Naro Jnanasiddhi, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lỗi lạc</span> nhất trong năm trăm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span>; vị kế nhiệm của Ngài – dịch giả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span>, Marpa Chokyi Lodro; <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thù thắng</span> Mila Shepa Dorje (Milarepa); và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp chủ</span> Gampopa, vị được tiên đoán bởi những Đấng Chiến Thắng.</p>
<p style="text-align: justify;">Kế đó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> điều được biết đến là Bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Truyền Thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> Lớn và Tám Nhỏ. Trong số đó, Barom Kagyu đến từ Tổ Barom Darma Wangchuk<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn1">[1]</a>; Kamtsang Kagyu đến từ Tổ Karmapa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Dusum Khyenpa</span><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn2">[2]</a>; Phakdru Kagyu đến từ Tổ Phakdu Dorje Gyalpo<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn3">[3]</a>; và Tổ Shangtsalpa Tsondru Drakpa trao cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span>] Tsalpa Kagyu. Đây là Bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Truyền Thừa</span> Lớn. Từ đó lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> Tám Nhỏ hay Tám <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Truyền Thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thù Thắng</span>: Drikung, Taklung, Tropu, Lingje (Drukpa), Marpa, Yelpa, Yabsang và Shuksep Kagyu.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Truyền thừa</span> Barom Kagyu, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát khởi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ Pháp</span> chủ Barom Darma Wangchuk, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọn vẹn</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn hảo</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> cấp độ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> cao trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một đời</span>. Các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> như vậy là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh túy</span> đích thực của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tam Tạng</span> và Bốn Phần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Điển</span>. Chúng chứa đựng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương tiện</span> (Sáu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Du Già</span> Của Naropa) và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> (Mahamudra, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại Thủ Ấn</span>), cũng như các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> cho Bốn Phần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Điển</span>, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> nhĩ truyền, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> cốt tủy, hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> và nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> khác. Tất cả đã được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giữ gìn</span> bởi Tishri Repa Karpo, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> xuất sắc nhất của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp chủ</span> và sau đó được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lần lượt</span> truyền trao bởi Lume Dorje từ Tsangsar và các thành viên khác trong tộc Tsangsar, cả Tantrika (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span> Mật thừa) và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> Orgyen Chopel. Theo cách này, các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Barom Kagyu đã và vẫn được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gián đoạn</span>, kể từ lúc bắt đầu.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đấy, Lama Orgyen Chopel từ Tsangsar lấy Konchok Paldron, con gái cao quý của Đại Terton Chokgyur Dechen Lingpa<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn4">[4]</a>, làm vị phối ngẫu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span>. Cùng nhau, họ có bốn người con trai; người con trai thứ hai là Tulku Chime Dorje. Con trai của vị này là chúa tể phổ quát <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vinh quang</span> – Tulku Urgyen Rinpoche, Bổn Sư của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Tulku Urgyen Rinpoche</b> nắm giữ tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> Barom Kagyu được nhắc đến phía trên. Ngài cũng thọ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span>, hướng dẫn và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> truyền miệng cho các kho tàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hóa thân</span> Khai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Tạng</span> Terton Chokgyur Lingpa vĩ đại. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trong suốt</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span>, Tulku Urgyen Rinpoche dành hơn hai mươi mốt năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm yếu</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại Thủ Ấn</span> và Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span> trong sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> nghiêm ngặt và Ngài cũng hoằng dương những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> này bằng cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên tục</span> ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chín muồi</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Tulku Urgyen Rinpoche, Đấng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quy Y</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thù thắng</span> và cũng là Bổn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sư tôn</span> quý của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>, sinh vào năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Thân</span> của chu kỳ 60 năm thứ 14, năm được biết đến là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phẫn Nộ</span> (tức năm 1920 theo Dương lịch). Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chào đời</span> ở Nangchen, một tỉnh của Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, giữa các dấu hiệu và điềm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt diệu</span>. Đức Karmapa thứ 15 – Khakhyab Dorje<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn5">[5]</a> đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công nhận</span> Ngài là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> thứ ba của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Lakyab ở Nangchen, với nền tảng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa hiện</span> là cả Tổ Nubchen Sangye Yeshe<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn6">[6]</a> và Terton Guru Chowang<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn7">[7]</a>. Ngài đã chủ động <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một lần</span> nữa vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi lạc</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>. Đức Karmapa đã tấn phong và trao cho Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu</span> <b><i>Karma Urgyen Tsewang Chokdrub Palbar</i></b> “Huy Hoàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Rực Rỡ</span> Của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thành Tựu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thù Thắng</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sinh Lực</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hoạt Động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giác Ngộ</span> Của Đức Urgyen”.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngay từ rất sớm, Rinpoche đã cho thấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản thân</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa hiện</span> của một bậc vĩ đại; bởi thậm chí khi còn là một đứa bé, Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm thấy</span> sự xả ly và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tỉnh ngộ</span> mãnh liệt. Trái tim Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> thấm đẫm tình <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">yêu thương</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng bi mẫn</span>, với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi lớn thêm một chút, Ngài xuất sắc trong các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> về đọc, viết và những lĩnh vực <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiến thức</span> khác. Ngài đã thọ nhận nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> truyền miệng, cũng như vô vàn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời khuyên</span>, từ chính cha Ngài, các bác/chú và nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> tôn quý khác. Từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời trẻ</span>, Ngài có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mong ước</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thành</span> về việc sống trên núi non trong các ẩn thất cô tịch.</p>
<p style="text-align: justify;">Cha của Rinpoche, Đức Tsangsar Chime Dorje, là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Namgon Tupten Namdak Ling ở Tsangsar. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sở hữu</span> vô vàn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span>, Ngài đã dành hầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hết thời</span> gian trên núi non, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> trong sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> cô tịch nghiêm ngặt. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kinh nghiệm</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span>, sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng suốt</span> và các dấu hiệu về sự làm chủ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> của Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rành rành</span> trước tất cả. Mẹ của Rinpoche, bà Yu Gatuk, có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiền hòa</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> lớn lao với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tam Bảo</span>. Bà luôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thận trọng</span> trong việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giữ gìn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhân quả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiệp báo</span>, tử tế và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị tha</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mọi người</span> và là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> nghiêm túc. Bà luôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh tấn</span> dâng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bố thí</span> hào phóng.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thường hay</span> hỏi Rinpoche về ông nội Chime Dorje. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đáp lại</span>, Ngài thường nói rằng: “Ồ, Ta cũng không biết nhiều lắm. Ngài là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> trực tiếp, đấy là chuyện <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chắc chắn</span> và Ngài có sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng suốt</span>, nhưng nói những điều như vậy chỉ chất chồng lời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tán thán</span> lên cha. Nếu con thích, Ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vẫn có</span> thể kể cho con một hay hai câu chuyện”.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">câu chuyện</span> như thế, Đức Chime Dorje đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> nghiêm ngặt tại ẩn thất trên núi Dechen Ling, cùng với cha tôi và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> khác. Một trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của Ngài, một vị Ni, nhận được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thông báo</span> rằng cha bà ấy vừa qua đời rất bất ngờ và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân thể</span> ông cụ đang được đưa đến nghĩa địa. Òa khóc nức nở, bà ấy than: “Xin hãy thưa với Rinpoche chuyện đã xảy ra! Hãy thỉnh Ngài làm Phowa (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển di</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần thức</span>) từ đây! Hãy thỉnh Ngài dẫn dắt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần thức</span> của cha tôi qua <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> trung gian!”.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi lời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> được truyền đến, Đức Chime Dorje nói: “Con ơi, con ơi! Thật đáng thương! Được chứ, tất nhiên rồi! Hãy sắp xếp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bàn thờ</span> và Ta sẽ tiến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành sự</span> dẫn dắt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần thức</span> cho ông ấy”. Ngài đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sử dụng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi thức</span> Khorwa Dongtruk (Vét Cạn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Luân Hồi</span>) và sau đấy, khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi thức</span> dẫn dắt đến chỗ mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần thức</span> của người đã khuất được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">triệu thỉnh</span>, Ngài lắc đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi ngờ</span>. Ngài thử lại lần thứ hai và sau đấy bảo các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thị giả</span> thu dọn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bàn thờ</span>. Tulku Urgyen Rinpoche hỏi: “Tại sao vậy? Chuyện gì đã xảy ra ạ?”.</p>
<p style="text-align: justify;">Cha Ngài đáp: “Ta chưa từng nghe nói đến việc tiến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành nghi</span> thức dẫn dắt này trước khi người đó thực sự qua đời!”.</p>
<p style="text-align: justify;">“Nhưng Rinpoche, họ nói rằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân thể</span> vốn đang được đưa đến nghĩa địa”.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng Đức Chime Dorje <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quả quyết</span>: “Nếu Ta thậm chí còn chẳng biết <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần thức</span> đã đi đâu, làm sao Ta có thể thấy được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mục đích</span> của việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cử hành</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi thức</span> dẫn dắt như vậy”.</p>
<p style="text-align: justify;">Vị Ni đang đợi tin về việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi thức</span> đã diễn ra như thế nào và khi Tulku Urgyen Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bước ra</span> ngoài, bà ấy hỏi Ngài: “Rinpoche đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn tất</span> rồi chứ?”. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành thật</span> kể cho bà ấy điều đã xảy ra và bà ấy bật cười và rời đi mà cứ cười. Mặt khác, Ngài thì bị bỏ lại cực kỳ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bối rối</span>. Dẫu vậy, sau đấy, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tin tức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> là khi mà họ đang đưa xác của cha bà ấy đến nghĩa địa, ông ấy hít thật sâu và sống <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở lại</span>; vì thế, ông ấy thực sự thì chưa chết.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào dịp khác, tôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghe được</span> từ Dabzang Rinpoche rằng Đức Chime Dorje đã để lại dấu tay trên đá. Khi tôi hỏi cha tôi về chuyện đó, Tulku Urgyen Rinpoche nói: “Đúng, đúng là vậy!”. Sáng nọ, Đức Chime Dorje đi ra ngoài để tắm rửa và đang đứng trên mặt đá bên ngoài ẩn thất. Khi Ngài nhìn quanh, từ sâu thẳm bên trong, Ngài thấy cách mà tất cả những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình tướng</span> mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> thấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không thật</span>. Sau đấy, Ngài nghĩ: “Ta băn khoăn sẽ ra sao nếu Ta chạm tay vào đá đấy” và khi Ngài vươn tay để chạm vào, các ngón tay của Ngài dường như trượt thẳng, chìm vào trong đá. Dẫu vậy, khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trôi qua</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mọi người</span> thấy dấu tay và bắt đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đỉnh lễ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span>, Ngài không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hài lòng</span> chút nào và bảo: “Ồ, chuyện ấy chẳng tốt, chẳng tốt chút nào”.</p>
<p style="text-align: justify;">Cha tôi thường nói: “Điều chủ yếu cần biết về Đức Chime Dorje là Ngài là ai đó thực sự bền bỉ trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>. Ngài là một kho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> và hướng dẫn và Ngài đã truyền lại tất cả các báu vật này cho những vị khác mà không có bất kỳ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phân biệt</span> hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành kiến</span> nào. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vậy thì</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mục đích</span> của việc Ta nói về tất cả những chuyện này là gì chứ?”.</p>
<p style="text-align: justify;">Các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> khác, chẳng hạn Adeu Rinpoche và Dabzang Rinpoche, đều nhớ rằng Đức Chime Dorje có tài hùng biện lớn lao và rằng khi Ngài ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> cho <b>Kangyur</b> và <b>Tengyur</b> hay khi ban các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> khác, giọng Ngài thật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dễ chịu</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rõ ràng</span> và du dương và tràn ngập ân phước <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> đến mức chỉ giọng Ngài thôi cũng có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển hóa</span> tâm người nghe.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Đức Chime Dorje xả bỏ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân thể</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span>, trái đất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rung động</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xá lợi</span> quý <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> từ tro cốt của Ngài. Tulku Urgyen Rinpoche xem Đức Chime Dorje là một trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ ái</span> nhất, thọ nhận từ vị này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> trao truyền Kangyur và Tengyur, cùng với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> khác về Nyingma Kama, Terma và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Cùng với Đức Karmapa thứ 16 – Rangjung Rigpe Dorje vĩ đại, cha tôi – Tulku Urgyen Rinpoche đã thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> <i>Kho Tàng Terma <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quý Báu</span></i> (Rinchen Terdzod)<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn8">[8]</a> từ Đức Karse Kongtrul Palden Khyentse Ozer, cũng như các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mở rộng</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại Thủ Ấn</span> và Sáu Pháp. Dưới sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dìu dắt</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> Kyungtrul Kargyam, Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> các ngành khoa học <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phổ thông</span>, <i>Nhập <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát Hạnh</span></i>, <i>Ba [Bộ] <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giới Luật</span></i> và nhiều bộ luận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> khác, chẳng hạn <i><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Căn Bản</span> Kệ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Đạo</span></i>, <i>Nhập <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Đạo</span></i> và <i>Bốn Trăm Đoạn Kệ Về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Đạo</span></i>. Rinpoche cũng thọ nhận từ Đức Kyungtrul Kargyam nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> về <i>Các Nguyên Tắc Bên Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sâu Xa</span></i>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> Hevajra, <i><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vô Thượng</span> Tục Luận</i> (Uttaratantra Sastra), <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> Guhyargarbha, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trích Yếu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Điển</span> Nyingma, Mười Bảy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span> và nhiều bản văn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài đã thọ nhận nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> từ Đức Shechen Kongtrul<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn9">[9]</a>, Dzongsar Khyentse Chokyi Lodro<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn10">[10]</a> và từ chú ruột – Sang-ngak Rinpoche. Ngài dành nhiều tháng bên Poda Khen Rinpoche, thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> về Dòng Nhĩ Truyền Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span>. Và Ngài thọ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> khác từ tập hội chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ bà nội Konchok Paldron của Ngài, con gái của Đại Terton Chokgyur Lingpa và chính là mẹ của Đức Chime Dorje, Ngài thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chi tiết</span> về các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> [giai đoạn] phát triển và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span>, như chúng đã được trao truyền bởi chính Terton. Rinpoche cũng học từ Bà nghệ thuật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> về vũ điệu, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> Mandala và các giai điệu, làm Torma và trang trí cũng như cách chơi và thổi các nhạc cụ, tất cả đều theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> của Terton.</p>
<p style="text-align: justify;">Chính bác của Ngài, Tsangsar Lama Samten Gyatso, là vị đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới thiệu</span> cho Tulku Urgyen Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thật</span> của tâm, nhờ đó, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> Bổn Sư của Ngài, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> mà Rinpoche có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> đến mức Ngài thấy vị này là Phật thực sự. Ngài thường rớt nước mắt khi chỉ nhắc đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu</span> của vị này. Khi được hỏi về vị thầy tôn quý này, Rinpoche thường bảo rằng: “Bác và cũng là thầy của Ta, Đức Samten Gyatso không chỉ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span>, kỷ luật và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ ái</span> mà sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> của Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao la</span> như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hư không</span>. Ta nghĩ thật hiếm khi tìm được ai đó như Ngài về việc chỉ ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> tâm".</p>
<p style="text-align: justify;">Nhiều học trò <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vân tập</span> về từ khắp nơi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xa gần</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> từ Đức Samten Gyatso và Ngài thường chỉ nói rằng: ‘Vị thầy này hay vị thầy kia <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> hơn Ta rất nhiều; <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tốt hơn</span> là đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> từ Ngài’. Và Ngài thường gửi họ đi. Ngài không thích có nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xung quanh</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi được hỏi tại sao Ngài không thích có nhiều học trò <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xung quanh</span>, Ngài nói: ‘Có học trò là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trách nhiệm</span> lớn lao. Để thực sự làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi lạc</span> họ, con cần khiến họ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> tâm và điều đấy thì cực kỳ khó. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tốt hơn</span> là để họ đi gặp một vài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> thực sự đủ phẩm tính – những Lama <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> và thành tựu’.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tuy nhiên</span>, luôn luôn có một số học trò <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhất tâm</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> với Bác Tôn Quý và họ không nghe theo khi Ngài bảo họ đi. Với họ, Ngài chỉ ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> tâm, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sử dụng</span> mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương tiện</span> và không ai trong số họ không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span> nó”. Tulku Urgyen Rinpoche xem đây là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">di sản</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phi phàm</span> nhất của Đức Samten Gyatso.</p>
<p style="text-align: justify;">Cha tôi đã theo chân nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt vời</span>. Trong số chư vị, Ngài xem Đức Karmapa thứ 16 – Rangjung Rigpe Dorje không phải là người phàm mà là Phật thực sự. Bởi thế, Tulku Urgyen Rinpoche thọ nhận nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> từ vị này và khi chính Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> Đức Karmapa các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span>, Ngài làm thế với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> lớn lao. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> lớn lao như vậy với những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> vĩ đại khác, chẳng hạn Kyabje Dudjom Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn11">[11]</a>, Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn12">[12]</a>, Neten Chokling Rinpoche và Poda Khen Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn13">[13]</a>. Tất cả chư vị đều vừa là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> vừa là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của nhau, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> và thọ nhận nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span>. Xuyên suốt, chư vị đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thệ nguyện</span> Samaya <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> nhất và sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hòa thuận</span> sâu sắc.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> và Tulku <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vân tập</span> lại cho các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự kiện</span> này, Tulku Urgyen Rinpoche thường khiêm nhường ngồi phía sau tập hội, nhìn nhận những vị khác với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và lòng sùng mộ lớn lao, dẫu cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tế</span> là chẳng có ai trong số chư vị không thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và trao truyền trực tiếp từ Ngài!</p>
<p style="text-align: justify;">Trong hơn hai mươi mốt năm, một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhất tâm</span>, Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du già</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> của hai giai đoạn ở Kham, Tsurphu, Sikkim và Nepal, tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ni viện</span> Nagi Gompa và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nơi khác</span>. Ngài ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vui thích</span> ban các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> trực chỉ. Nhưng trong tất cả những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn cảnh</span> này, Ngài luôn luôn khiêm cung.</p>
<p style="text-align: justify;">Tulku Urgyen Rinpoche bày tỏ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tình thương</span> lớn lao cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mọi người</span> Ngài gặp, không chỉ những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mà cả</span> người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bình thường</span> nam và nữ; Ngài đối xử với tất cả bằng sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kính trọng</span>. Ngài không thích ban “gia trì bằng tay” – phong tục <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> người khác bằng cách đặt tay lên đầu họ – mà thích cụng đầu với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mọi người</span> hơn. Trong mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn cảnh</span>, Ngài luôn khiêm nhường, giữ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> với tất cả.</p>
<div style="text-align: justify;"></div>
<p style="text-align: justify;">Lặp đi lặp lại nhiều lần, Ngài ban các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> cho tập hội đông đảo chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> và Tulku, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cộng đồng</span>, luôn luôn không chút <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành kiến</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bộ phái</span>. Ngài làm điều này vì hầu hết chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> và Tulku Kagyu quan trọng, chẳng hạn bốn Nhiếp Chính Kagyu và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương tự</span>, vì chư vị trì giữ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> Nyingma <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span>. Ngài đã dạy mọi kiểu người từ các bối cảnh khác nhau – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span>, Tulku, Khenpo, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span> từ các trường phái và nhánh khác nhau. Ngài cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du hành</span> ra nước ngoài, khắp Đông và Tây, để ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> ở đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi còn ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, Rinpoche đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phục hồi</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> lại chùa Lakyab Jangchup Nordzin Choling ở Tsangsar, cùng với những hỗ trợ và vật phẩm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> bên trong, và các tòa nhà cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span> ở đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> ngôi chùa mới tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ni viện</span> Nagi Gompa (Nang Kyi Tongsel Ling) ở Nepal, đích thân Rinpoche giúp việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đặc biệt</span>, Ngài khéo léo làm ba bức tượng chính trong chùa bằng tay, cũng như nghìn bức tượng Guru Rinpoche và những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bàn thờ</span> để lưu giữ.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span> mua đất bên cạnh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span> Jarung Kashor (Boudha)<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn14">[14]</a> và bắt đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> KaNying Shedrub Ling, Rinpoche cũng giúp đỡ việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> ở đó và luôn có mặt. Ngài thường đích thân đi mua những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vật liệu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> và bất cứ khi nào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đề xuất</span> gọi một chiếc taxi, Ngài thường hỏi giá và sau đấy, khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span> nói hết 5 <i>rupee</i>, Ngài nói: “Tốt hơn thì dành tiền ấy để mua đồ, hãy đi xe buýt”. Sau đấy, Gyaltsen Dorje hay Sangye Yeshe sẽ đi cùng Ngài trên xe buýt.</p>
<p style="text-align: justify;">Mẹ tôi nấu trà và đồ ăn cho tất cả công nhân. Bà cũng giúp việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> và thậm chí còn bán <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">san hô</span>, Dzi và những trang sức <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quý báu</span> khác để giúp tài trợ cho việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span>. Thế nhưng, Bà chẳng bao giờ bỏ các thời khóa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> sáng và tối và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong suốt</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span>, Bà đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thành</span> mười ba bộ Ngondro (năm lần một trăm nghìn các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sơ khởi</span>). Bà cũng dành nhiều năm để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span>. Bà đóng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vai trò</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> trong việc giám sát <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span>, được hỗ trợ bởi em trai tôi, Chokling Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cuối cùng</span>, ngôi chùa và những hỗ trợ bên trong đã hội tụ và khi công việc về cơ bản đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn tất</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> được khánh thành bởi Vua của Nepal. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng tôi</span> đã cung thỉnh Đức Karmapa thứ 16 <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối thắng</span>, bốn Nhiếp Chính Kagyu cũng như nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> và Tulku khác từ mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> cùng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham dự</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">buổi lễ</span> thánh hóa ngôi chùa. Sau đấy, tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span>, trong hai tháng, Đức Karmapa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vinh quang</span> đã ban <i>Kho Tàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Chú</span> Kagyu</i> (Kagyu Ngagdzod), cùng với vô vàn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> khác. Ngài cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cử hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> vương miện <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">linh thiêng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> nhờ nhìn ngắm.</p>
<p style="text-align: justify;">Kể từ đó, gần như hằng năm, một trong những chúa tể của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cựu Dịch</span> đều viếng thăm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> và ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span>: những Lama như Kyabje Dudjom Rinpoche, Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche và Kyabje Shadeu Trulshik Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn15">[15]</a> đều đến và ban các pho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> khác nhau, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>] từ Kama và Terma.</p>
<p style="text-align: justify;">Những vị vĩ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại từ</span> mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> – trong số chư vị có Sakya Trizin Rinpoche thứ 41, Kyabje Minling Trichen Rinpoche, Kyabje Drubwang Pema Norbu (Penor) Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn16">[16]</a>, Drikung Kyabgon Rinpoche, Chogye Trichen Rinpoche và Kyabje Chatral Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn17">[17]</a> – đều đến và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> bằng sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện</span> và ban các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Giống như vậy, đích thân Đấng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quy Y</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> – Tulku Urgyen Rinpoche đã ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và trao truyền cho bốn Nhiếp Chính Kagyu và hàng nghìn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span>, Khenpo, Tulku, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span> từ mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> đến gặp Ngài. Với các học trò thân cận, Ngài ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> truyền miệng nhiều lần. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đặc biệt</span>, Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> như <i>Ba Phần Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span></i> (Dzogchen Desum<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn18">[18]</a>) từ kho tàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> của Tổ Chokling lên những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> vĩ đại như Đức Karmapa thứ 16, Kyabje Dudjom Rinpoche, Nangchen Adeu Rinpoche, Dabzang Rinpoche, Tarthang Rinpoche và Tenga Rinpoche. Mối <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên hệ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> lẫn nhau giữa tất cả những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> này thật mạnh mẽ và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> mới ở Boudha, KaNying Shedrub Ling, Rinpoche đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành lập</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rường cột</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>. Nói ngắn gọn, Đức Karmapa thứ 16 đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bi</span> truyền tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới Sa Di</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tỳ Kheo</span> cho những vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> mới. Kể từ ấy, không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gián đoạn</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chư Tăng</span> KaNying Shedrub Ling vẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> nền tảng của một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span>: <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> tịnh hóa và chữa lành <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thường xuyên</span> (Sojong hay Bồ tát), <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an cư kiết hạ</span> (Yarne) và lễ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết thúc</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an cư</span> (Gakye – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tự Tứ</span>). Kể từ đó, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span> vẫn luôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cử hành</span> các lễ Puja nhóm sáng và tối <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hằng ngày</span>, những Puja tỉ mỉ vào ngày Mười và Hai mươi lăm (cùng những ngày <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> khác) và nhiều Drubchen <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thường niên</span> khác nhau, tất cả không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gián đoạn</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Như đạo</span> sư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thế Thân</span> (Vasubhandu) vĩ đại từng nói: “Trước tiên con cần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đúng đắn</span> và sau đấy, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán chiếu</span> rồi dấn thân thiền định”. Nói ngắn gọn, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuân theo</span> lời dạy này. Kết quả là, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> phát triển theo từng năm. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> hiện đang có một trường tiểu học, một trường trung học, một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span>, một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> cho các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nghiên Cứu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật Giáo</span> Cao Hơn (Shedra – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật học viện</span>) và một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> (tại Động Asura). Tại tất cả những nơi này, sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span>, thành thạo và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành thiền định</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chư Tăng</span> ngày càng sâu sắc và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mở rộng</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Rinpoche cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> mới – Ngedon Osel Ling ở Swayambhu và Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> Pema Osel Ling tại Động Asura, địa điểm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">linh thiêng</span> của Guru Rinpoche. Ở đó, Ngài và mẹ tôi đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> một ngôi chùa và những sự hỗ trợ bên trong, cũng như các phòng và cơ sở khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Bên cạnh tất cả những công việc tại trú xứ, Tulku Urgyen Rinpoche cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du hành</span> rộng khắp ở Sikkim, Bhutan và Nepal, ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> và chủ trì nhiều [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp hội</span>] <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chân ngôn</span> nhóm về Mani và Vajra Guru.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tuy nhiên</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm yếu</span> đích thực trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiểu sử</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị đạo</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sư tôn</span> quý này là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự thật</span> rằng hầu hết các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của Ngài đã phát triển sự xả ly và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tỉnh ngộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thành</span>, tình <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">yêu thương</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng bi mẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thật</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân chính</span>. Họ có lòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quyết tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thành</span> về việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thù thắng</span> nói chung và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> của tâm và nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương tiện</span> này, nhiều vị trong số họ đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điều phục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nội tâm</span>. Tôi xem đây là phần quan trọng nhất trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">di sản</span> của cha tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong những năm về sau, Rinpoche sống ở Nagi Gompa, nơi Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhất tâm</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đơn giản</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp tính</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> cố hữu. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cuối cùng</span>, vào năm bảy mươi sáu tuổi, ngày Mười ba tháng Hai năm 1996 ([tức ngày Hai mươi tư tháng Mười hai] năm Mộc Hợi [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Âm lịch</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>]), <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm trí</span> tuệ của Ngài tan hòa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở lại</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hư không</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">căn bản</span>. Lúc Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span>, trái đất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rung động</span>, bầu trời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quang đãng</span> và tất cả bụi đều lắng dịu. Khi thánh thân Ngài được đưa từ Nagi Gompa đến KaNying Shedrub Ling tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span> Jarung Kashor (Boudha), hàng nghìn người, cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span>, đã xếp hàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dọc đường</span>, rớt nước mắt, cầm khăn Khata và hoa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> trên tay với những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm xúc</span> đau buồn, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và lòng sùng mộ chẳng gì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sánh bằng</span> trong tim.</p>
<p style="text-align: justify;">Các Puja tang lễ và lễ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trà tỳ</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ân cần</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham dự</span> bởi một tập hội vĩ đại của hàng trăm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span>, Tulku, Khenpo và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span>. Kyabje Chatral Rinpoche đã ở đó và Kyabje Chogye Trichen Rinpoche, Dilgo Khyentse Yangsi Rinpoche và Dudjom Yangsi Rinpoche, Shechen Rabjam Rinpoche, Dzongsar Khyentse Rinpoche, Dzigar Kongtrul Rinpoche, Sangye Nyenpa Rinpoche, Beru Khyentse Rinpoche, Tarthang Rinpoche, Thrangu Rinpoche, Tenga Rinpoche, Tarik Rinpoche, Neten Chokling Rinpoche, Dodzong Rinpoche, Sogyal Rinpoche, Chogyal Rinpoche, Orgyen Tobgyal Rinpoche, Khyentse Yeshe Rinpoche, Yongdzin Rinpoche, Gyatrul Rinpoche, Sachu Rinpoche, Zangzang Rinpoche, Ripa Jigme Rinpoche, Tulku Jigme Rinpoche, Trakar Rinpoche, Kushok Tsechu Rinpoche, Dungse Shenphen Dawa Rinpoche, Khenpo Tsultrim Gyatso Rinpoche, Khenpo Pema Sherab Rinpoche và Khenpo Namdrol Rinpoche cùng nhiều vị khác cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham dự</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Các đại sứ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, quan chức Nepal, đại sứ nước ngoài và hàng nghìn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span>, tất cả đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng kiến</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thành</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lịch thiệp</span>, cũng đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham dự</span> cùng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span>. Sau lễ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trà tỳ</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> sọ của Rinpoche vẫn nguyên vẹn; tim, lưỡi và mắt Ngài hòa vào nhau và tro cốt Ngài chứa đầy các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xá lợi</span> nhiều màu, để lại cho các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sùng kính</span> vô vàn sự hỗ trợ cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> của họ. Hiện nay, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xá lợi</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vẫn có</span> thể được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chiêm bái</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><i><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiểu sử</span> này, được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự tại</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyên thuyết</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trưởng dưỡng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span>, đã được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> nhiều lần bởi chư Khenpo, Tulku, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương</span> và những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> cao niên của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> – KaNying Shedrub Ling cũng như bởi các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> tại Nagi Gompa, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> Động Asura và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> khác của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>. Vào nhiều dịp, họ đã trao cho tôi các Mandala và Khata, với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> rằng tôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biên soạn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiểu sử</span> của cha tôn quý. Do đó, theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quả quyết</span> của chư vị, tôi, ông lão tên Tulku Chokyi Nyima, con trai trưởng của cha – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span>, đã viết lại điều này vào ngày 10 tháng 9 năm Thổ Tý, năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> 2135 (tức năm 2008 Dương lịch). Nguyện tốt lành!</i></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Tulku Chokyi Nyima</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Anh dịch: Lhasey Lotsawa</em> <em>(Maitri Yarnell &amp; Laura Dainty dịch; Libby Hogg <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiệu đính</span>)</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Pema Jyana</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn Anh ngữ: </em><a href="https://lhaseylotsawa.org/library/to-nourish-faith-eng"><em><u><i>To Nourish Faith</i></u></em></a></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref1">[1]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Barom Darma Wangchuk (1127 - 1199) – một trong bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> của Tổ Gampopa và là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng lập</span> nhánh Barom Kagyu của Dakpo Kagyu. Ngài cũng là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng lập</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Barom ở phía Bắc Lato.</em></p>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref2">[2]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Dusum Khyenpa</span> (1110 - 1193), Đức Karmapa thứ nhất, sinh ở Kham. Là một trong bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> của Tổ Gampopa, Ngài là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng lập</span> phái Karma Kagyu và ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> chính của phái này: Kampo Nenang Gon vào năm 1164, Karma Gon vào năm 1184 và Tsurphu Gon vào năm 1189.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref3">[3]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Phagmodrupa Dorje Gyalpo (1110 - 1170) – một trong ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> xuất sắc nhất của Tổ Gampopa và là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> quan trọng của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Kagyu. Trước khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh ngộ</span> Tổ Gampopa, Ngài cũng đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> với Tổ Sachen Kunga Nyingpo – vị mà Ngài thân cận mười hai năm, thọ nhận các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Lamdre, Tổ Padampa Sangye và Tổ Chapa Chokyi Senge. Sau khi Tổ Gampopa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span>, Phagmodrupa rời miền Trung <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> và đến sống ở Phagmo Dru, Kham, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành lập</span> trường phái Pagdru Kagyu, điều sau này chia thành tám nhanh nhỏ, mỗi nhánh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lần lượt</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành lập</span> bởi tám <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> chính của Ngài. Ngài cũng là anh trai của Đức Kathok Dampa Deshek, vị Tổ của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Kathok.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref4">[4]</a> Về Terton Chokgyur Dechen Lingpa, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo:</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/a30774/cuoc-doi-duc-chokgyur-lingpa"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cuộc Đời</span> Đức Chokgyur Lingpa</a></em></p>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref5">[5]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Khakhyab Dorje, vị Karmapa thứ Mười lăm (1870/1 - 1921/2) là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của cả Đức Jamyang Khyentse Wangpo và Jamgon Kongtrul [Lodro Thaye]. Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> cả Terma đất và tâm. Hai con trai của Ngài là Karse Kongtrul và Shamarpa thứ Mười một. Một trong những vị phối ngẫu của Ngài là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Không Hành Nữ</span> vĩ đại của Tsurphu – Khandro Ugyen Tsomo.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref6">[6]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Nubchen Sangye Yeshe – một trong hai mươi lăm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của Guru Rinpoche. Ngài được cho là đã sống 110 năm hoặc hơn. Ngài đã đem <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Anuyoga đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> và chuyển dịch nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span>. Ngài cũng là học trò của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vô Cấu</span> Hữu và nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> vĩ đại khác.</em></p>
<p><em>Người ta kể lại rằng chính nhờ những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sức mạnh</span> diệu kỳ của Ngài mà vua Langdarma đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tha cho</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span> Mật thừa trong lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khủng bố</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">môn đồ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo</span> ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref7">[7]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Guru Chokyi Wangchuk, tức Guru Chowang (1212 - 1270) – vị thứ hai trong năm Khai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Tạng</span> Vương và là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa hiện</span> về khẩu của Vua Trisong Deutsen. Trong các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> của Ngài có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Lama Sangdu.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref8">[8]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Rinchen Terdzod – Kho Tàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Lý</span> Ẩn Giấu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quý Báu</span> là một trong Năm Kho Tàng Vĩ Đại của Tổ Jamgon Kongtrul. Đây là một tuyển tập từ tất cả các Terma được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> thời của Ngài, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> cả các kho tàng của Tổ Chokgyur Lingpa. Lo sợ rằng những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> này sẽ bị mất, Ngài bắt đầu việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết tập</span> vào năm 1855 với sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> của Tổ Jamyang Khyentse Wangpo và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thành</span> vào năm 1889. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đơn giản</span> thọ nhận các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> Rinchen Terdzod cũng cần từ 4 đến 6 tháng.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref9">[9]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Shechen Kongtrul Pema Drime Lekpe Lodro (1901-khoảng 1960) – vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> của Tổ Jamgon Kongtrul Lodro Thaye <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư ngụ</span> tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Shechen. Ngài được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công nhận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa trên</span> một linh kiến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giấc mộng</span> mà trong đó, Shechen Rabjam Rinpoche thứ năm thấy bản văn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bát Nhã Ba La Mật</span> 8000 Đoạn Kệ bay từ Tsadra Rinchen Drak đến phía Đông của Derge. Ngài cũng được ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu</span> Gyurme Kunzang Shenphen Thaye Lodro Drime bởi Đức Shechen Gyaltsap [thứ tư – Gyurme Pema Namgyal]. Ngài có lẽ đã qua đời trong nhà tù <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span>. Ngài là một trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> chính của Chogyam Trungpa Rinpoche và Khenpo Tsondru. Ngài đã ban các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Dzogchen cho Lama Sherap Dorje Rinpoche và Lama Tharchin Rinpoche.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref10">[10]</a> Về Đức Jamyang Khyentse Chokyi Lodro, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo: </span></em><a href="https://thuvienhoasen.org/p38a34025/2/huyen-hoa-du-hi"><em><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Huyễn hóa</span> du hí một tự truyện của jamyang khyentse chokyi lodro</em></a></p>
<p><a href="#_ftnref11"><em><i>[11]</i></em></a><em><i> Về Kyabje Dudjom Rinpoche, tham khảo: </i></em><a href="https://thuvienhoasen.org/p38a35008/tieu-su-van-tat-dudjom-rinpoche-jigdral-yeshe-dorje-1904-1987-"><em><i>Tiểu Sử Vắn Tắt Dudjom Rinpoche Jigdral Yeshe Dorje (1904-1987)</i></em></a></p>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref12">[12]</a> Về Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo:</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a32138/2/tieu-su-dilgo-khyentse-rinpoche-1910-1991-"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiểu Sử</span> Dilgo Khyentse Rinpoche (1910-1991)</a></em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref13">[13]</a> Tức Polu Khenpo Dorje. Theo <b>Rigpawiki</b>, Polu Khenpo Dorje hay Thupten Kunga Gyaltsen (khoảng 1896 - 1970) là một trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> của Khenpo Ngawang Palzang. Ngài được xem là một trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> Dzogchen <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> nhất trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời kỳ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gần đây</span>. Ngài đôi khi được nhắc đến là Bomta Khenpo theo [tên của] những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thí chủ</span> của Ngài – Bomta Tsang.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref14">[14]</a> Về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span> Jarung Kashor, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo: <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a29266/3/giai-thoat-nho-lang-nghe">Giải Thoát Nhờ Lắng Nghe</a></span></em></p>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref15">[15]</a> Về Trulshik Rinpoche, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo:</span> </em><a href="https://thuvienhoasen.org/p38a34500/2/tieu-su-van-tat-duc-zhadeu-trulshik-chenpo-ngawang-chokyi-lodro-1924-2011-"><em><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiểu Sử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vắn Tắt</span> Đức Zhadeu Trulshik Chenpo Ngawang Chokyi Lodro (1924 - 2011</em>)</a></p>
</div>
<div style="text-align: justify;"></div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref16">[16]</a> Về Penor Rinpoche, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo: </span></em><a href="https://thuvienhoasen.org/p38a33611/2/tieu-su-kyabje-pema-norbu-rinpoche-1932-2009-"><em><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiểu Sử</span> Kyabje Pema Norbu Rinpoche (1932 – 2009)</em></a></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref17">[17]</a> Về Chatral Rinpoche, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo:</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a30967/3/chatral-rinpoche-cuoc-doi-cua-mot-huyen-thoai">Chatral Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cuộc Đời</span> Của Một Huyền Thoại</a></em></p>
</div>
<div>
<p style="text-align: justify;"><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref18">[18]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Ba Bộ Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span> (Dzogchen Desum) là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> (Terma) của Tổ Chokgyur Dechen Lingpa và Tổ Jamyang Khyentse Wangpo. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo lý</span> này được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> vào năm 1857 ở Mesho Dzomnang như một Terma đất từ Động <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Liên Hoa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pha Lê</span>, một hang động <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">linh thiêng</span> của Guru Rinpoche. Tulku Urgyen Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">miêu tả</span> đây là kho tàng xuất sắc nhất của Tổ Chokgyur Lingpa, bởi nó là Terma <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy nhất</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> cả ba bộ của Dzogchen.</em></p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/truong-duong-tin-tam/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Một miêu tả ngắn gọn về các hoạt động trí tuệ của Bổn sư &#8211; Chúa tể phổ quát Tulku Urgyen Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/mot-mieu-ta-ngan-gon-ve-cac-hoat-dong-tri-tue-cua-bon-su-chua-te-pho-quat-tulku-urgyen-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/mot-mieu-ta-ngan-gon-ve-cac-hoat-dong-tri-tue-cua-bon-su-chua-te-pho-quat-tulku-urgyen-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 02 Apr 2021 15:59:07 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Barom Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Barom]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=10021</guid>
		<description><![CDATA[Đạo sư vô song, Phật Thế Tôn; Giáo Pháp linh thiêng, thù thắng và chẳng dối lừa; Ruộng tích lũy, Tăng đoàn cao quý – Tam Bảo vô song, xin ban cát tường, con cầu nguyện! Tràng núi vàng, chư đạo sư gốc và truyền thừa, Khi chúng con nhất tâm cầu nguyện Ngài với niềm tin trọn vẹn, Với lòng bi mẫn, xin gia trì để chúng con hiện thực hóa Pháp tính Và trở thành những vị dẫn dắt kiên quyết cho vô số chúng sinh! Đã&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/mot-mieu-ta-ngan-gon-ve-cac-hoat-dong-tri-tue-cua-bon-su-chua-te-pho-quat-tulku-urgyen-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo sư vô song</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật Thế Tôn</span>;</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">linh thiêng</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thù thắng</span> và chẳng dối lừa;</p>
<p style="text-align: justify;">Ruộng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span> cao quý –</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tam Bảo</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô song</span>, xin ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cát tường</span>, con cầu nguyện!</p>
<p style="text-align: justify;">Tràng núi vàng, chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> gốc và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span>,</p>
<p style="text-align: justify;">Khi chúng con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhất tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cầu nguyện</span> Ngài với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọn vẹn</span>,</p>
<p style="text-align: justify;">Với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng bi mẫn</span>, xin <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> để chúng con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện thực</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa Pháp</span> tính</p>
<p style="text-align: justify;">Và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> những vị dẫn dắt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiên quyết</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> chúng sinh!</p>
<p style="text-align: justify;">Đã bắt đầu bằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tràng hoa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tán thán</span> như vậy, giờ đây, tôi sẽ chuyển sang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủ đề</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thảo luận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> – những nguồn gốc của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trước tiên</span>, bạn hữu vĩ đại nhất của mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hữu tình</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>, đấng dẫn dắt thứ tư của Kiếp này, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thế Tôn</span> Phật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên mãn</span>, đã sinh ra trong khu rừng ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Lâm Tỳ Ni</span>, Nepal. Sự đản sinh của Ngài xảy ra với những dấu hiệu và điềm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt diệu</span>. Sau đấy, ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span>, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiển bày</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật quả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên mãn</span> tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương</span> Tòa ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Đề Đạo Tràng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển Pháp luân</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô lượng</span>, điều hiện nay được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết tập</span> và phân loại thành <b><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tam Tạng</span></b> (<i>Tripitaka</i>) và <b>Bốn Phần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Điển</span></b>.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đấy, tại Vikramasila và Nalanda <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vinh quang</span> cùng nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> vĩ đại khác, những lời nguyên vẹn này từ Bậc Thầy của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giữ gìn</span> bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span>, nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán chiếu</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọn vẹn</span>, điều đưa chư vị đến những cấp độ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học thuật</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> cao. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vô số</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> thượng thặng như vậy đã dấn thân theo cách này – trong số chư vị có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại học giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô cùng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> Tilopa Sherab Zangpo; học trò của Ngài – Naro Jnanasiddhi, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lỗi lạc</span> nhất trong năm trăm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span>; vị kế nhiệm của Ngài – dịch giả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span>, Marpa Chokyi Lodro; <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thù thắng</span> Mila Shepa Dorje (Milarepa); và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp chủ</span> Gampopa, vị được tiên đoán bởi những Đấng Chiến Thắng.</p>
<p style="text-align: justify;">Kế đó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> điều được biết đến là Bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Truyền Thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> Lớn và Tám Nhỏ. Trong số đó, Barom Kagyu đến từ Tổ Barom Darma Wangchuk<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn1">[1]</a>; Kamtsang Kagyu đến từ Tổ Karmapa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Dusum Khyenpa</span><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn2">[2]</a>; Phakdru Kagyu đến từ Tổ Phakdu Dorje Gyalpo<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn3">[3]</a>; và Tổ Shangtsalpa Tsondru Drakpa trao cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span>] Tsalpa Kagyu. Đây là Bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Truyền Thừa</span> Lớn. Từ đó lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> Tám Nhỏ hay Tám <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Truyền Thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thù Thắng</span>: Drikung, Taklung, Tropu, Lingje (Drukpa), Marpa, Yelpa, Yabsang và Shuksep Kagyu.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Truyền thừa</span> Barom Kagyu, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát khởi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ Pháp</span> chủ Barom Darma Wangchuk, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọn vẹn</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn hảo</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> cấp độ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> cao trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một đời</span>. Các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> như vậy là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh túy</span> đích thực của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tam Tạng</span> và Bốn Phần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Điển</span>. Chúng chứa đựng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương tiện</span> (Sáu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Du Già</span> Của Naropa) và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> (Mahamudra, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại Thủ Ấn</span>), cũng như các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> cho Bốn Phần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Điển</span>, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> nhĩ truyền, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> cốt tủy, hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> và nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> khác. Tất cả đã được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giữ gìn</span> bởi Tishri Repa Karpo, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> xuất sắc nhất của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp chủ</span> và sau đó được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lần lượt</span> truyền trao bởi Lume Dorje từ Tsangsar và các thành viên khác trong tộc Tsangsar, cả Tantrika (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span> Mật thừa) và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> Orgyen Chopel. Theo cách này, các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Barom Kagyu đã và vẫn được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gián đoạn</span>, kể từ lúc bắt đầu.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đấy, Lama Orgyen Chopel từ Tsangsar lấy Konchok Paldron, con gái cao quý của Đại Terton Chokgyur Dechen Lingpa<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn4">[4]</a>, làm vị phối ngẫu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span>. Cùng nhau, họ có bốn người con trai; người con trai thứ hai là Tulku Chime Dorje. Con trai của vị này là chúa tể phổ quát <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vinh quang</span> – Tulku Urgyen Rinpoche, Bổn Sư của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Tulku Urgyen Rinpoche</b> nắm giữ tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> Barom Kagyu được nhắc đến phía trên. Ngài cũng thọ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span>, hướng dẫn và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> truyền miệng cho các kho tàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hóa thân</span> Khai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Tạng</span> Terton Chokgyur Lingpa vĩ đại. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trong suốt</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span>, Tulku Urgyen Rinpoche dành hơn hai mươi mốt năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm yếu</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại Thủ Ấn</span> và Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span> trong sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> nghiêm ngặt và Ngài cũng hoằng dương những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> này bằng cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên tục</span> ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chín muồi</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Tulku Urgyen Rinpoche, Đấng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quy Y</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thù thắng</span> và cũng là Bổn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sư tôn</span> quý của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>, sinh vào năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Thân</span> của chu kỳ 60 năm thứ 14, năm được biết đến là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phẫn Nộ</span> (tức năm 1920 theo Dương lịch). Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chào đời</span> ở Nangchen, một tỉnh của Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, giữa các dấu hiệu và điềm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt diệu</span>. Đức Karmapa thứ 15 – Khakhyab Dorje<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn5">[5]</a> đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công nhận</span> Ngài là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> thứ ba của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Lakyab ở Nangchen, với nền tảng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa hiện</span> là cả Tổ Nubchen Sangye Yeshe<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn6">[6]</a> và Terton Guru Chowang<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn7">[7]</a>. Ngài đã chủ động <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một lần</span> nữa vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi lạc</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>. Đức Karmapa đã tấn phong và trao cho Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu</span> <b><i>Karma Urgyen Tsewang Chokdrub Palbar</i></b> “Huy Hoàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Rực Rỡ</span> Của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thành Tựu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thù Thắng</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sinh Lực</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hoạt Động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giác Ngộ</span> Của Đức Urgyen”.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngay từ rất sớm, Rinpoche đã cho thấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản thân</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa hiện</span> của một bậc vĩ đại; bởi thậm chí khi còn là một đứa bé, Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm thấy</span> sự xả ly và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tỉnh ngộ</span> mãnh liệt. Trái tim Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> thấm đẫm tình <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">yêu thương</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng bi mẫn</span>, với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi lớn thêm một chút, Ngài xuất sắc trong các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> về đọc, viết và những lĩnh vực <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiến thức</span> khác. Ngài đã thọ nhận nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> truyền miệng, cũng như vô vàn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời khuyên</span>, từ chính cha Ngài, các bác/chú và nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> tôn quý khác. Từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời trẻ</span>, Ngài có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mong ước</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thành</span> về việc sống trên núi non trong các ẩn thất cô tịch.</p>
<p style="text-align: justify;">Cha của Rinpoche, Đức Tsangsar Chime Dorje, là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Namgon Tupten Namdak Ling ở Tsangsar. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sở hữu</span> vô vàn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span>, Ngài đã dành hầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hết thời</span> gian trên núi non, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> trong sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> cô tịch nghiêm ngặt. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kinh nghiệm</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span>, sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng suốt</span> và các dấu hiệu về sự làm chủ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> của Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rành rành</span> trước tất cả. Mẹ của Rinpoche, bà Yu Gatuk, có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiền hòa</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> lớn lao với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tam Bảo</span>. Bà luôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thận trọng</span> trong việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giữ gìn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhân quả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiệp báo</span>, tử tế và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị tha</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mọi người</span> và là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> nghiêm túc. Bà luôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh tấn</span> dâng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bố thí</span> hào phóng.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thường hay</span> hỏi Rinpoche về ông nội Chime Dorje. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đáp lại</span>, Ngài thường nói rằng: “Ồ, Ta cũng không biết nhiều lắm. Ngài là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> trực tiếp, đấy là chuyện <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chắc chắn</span> và Ngài có sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng suốt</span>, nhưng nói những điều như vậy chỉ chất chồng lời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tán thán</span> lên cha. Nếu con thích, Ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vẫn có</span> thể kể cho con một hay hai câu chuyện”.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">câu chuyện</span> như thế, Đức Chime Dorje đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> nghiêm ngặt tại ẩn thất trên núi Dechen Ling, cùng với cha tôi và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> khác. Một trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của Ngài, một vị Ni, nhận được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thông báo</span> rằng cha bà ấy vừa qua đời rất bất ngờ và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân thể</span> ông cụ đang được đưa đến nghĩa địa. Òa khóc nức nở, bà ấy than: “Xin hãy thưa với Rinpoche chuyện đã xảy ra! Hãy thỉnh Ngài làm Phowa (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển di</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần thức</span>) từ đây! Hãy thỉnh Ngài dẫn dắt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần thức</span> của cha tôi qua <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> trung gian!”</p>
<p style="text-align: justify;">Khi lời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> được truyền đến, Đức Chime Dorje nói: “Con ơi, con ơi! Thật đáng thương! Được chứ, tất nhiên rồi! Hãy sắp xếp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bàn thờ</span> và Ta sẽ tiến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành sự</span> dẫn dắt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần thức</span> cho ông ấy”. Ngài đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sử dụng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi thức</span> Khorwa Dongtruk (Vét Cạn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Luân Hồi</span>) và sau đấy, khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi thức</span> dẫn dắt đến chỗ mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần thức</span> của người đã khuất được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">triệu thỉnh</span>, Ngài lắc đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi ngờ</span>. Ngài thử lại lần thứ hai và sau đấy bảo các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thị giả</span> thu dọn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bàn thờ</span>. Tulku Urgyen Rinpoche hỏi, “Tại sao vậy? Chuyện gì đã xảy ra ạ?”</p>
<p style="text-align: justify;">Cha Ngài đáp, “Ta chưa từng nghe nói đến việc tiến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành nghi</span> thức dẫn dắt này trước khi người đó thực sự qua đời!”</p>
<p style="text-align: justify;">“Nhưng Rinpoche, họ nói rằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân thể</span> vốn đang được đưa đến nghĩa địa”.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng Đức Chime Dorje <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quả quyết</span>: “Nếu Ta thậm chí còn chẳng biết <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần thức</span> đã đi đâu, làm sao Ta có thể thấy được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mục đích</span> của việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cử hành</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi thức</span> dẫn dắt như vậy”.</p>
<p style="text-align: justify;">Vị Ni đang đợi tin về việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi thức</span> đã diễn ra như thế nào và khi Tulku Urgyen Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bước ra</span> ngoài, bà ấy hỏi Ngài: “Rinpoche đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn tất</span> rồi chứ?” Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành thật</span> kể cho bà ấy điều đã xảy ra và bà ấy bật cười và rời đi mà cứ cười. Mặt khác, Ngài thì bị bỏ lại cực kỳ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bối rối</span>. Dẫu vậy, sau đấy, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tin tức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> là khi mà họ đang đưa xác của cha bà ấy đến nghĩa địa, ông ấy hít thật sâu và sống <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở lại</span>; vì thế, ông ấy thực sự thì chưa chết.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào dịp khác, tôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghe được</span> từ Dabzang Rinpoche rằng Đức Chime Dorje đã để lại dấu tay trên đá. Khi tôi hỏi cha tôi về chuyện đó, Tulku Urgyen Rinpoche nói: “Đúng, đúng là vậy!”. Sáng nọ, Đức Chime Dorje đi ra ngoài để tắm rửa và đang đứng trên mặt đá bên ngoài ẩn thất. Khi Ngài nhìn quanh, từ sâu thẳm bên trong, Ngài thấy cách mà tất cả những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình tướng</span> mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> thấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không thật</span>. Sau đấy, Ngài nghĩ: “Ta băn khoăn sẽ ra sao nếu Ta chạm tay vào đá đấy” và khi Ngài vươn tay để chạm vào, các ngón tay của Ngài dường như trượt thẳng, chìm vào trong đá. Dẫu vậy, khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trôi qua</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mọi người</span> thấy dấu tay và bắt đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đỉnh lễ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span>, Ngài không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hài lòng</span> chút nào và bảo: “Ồ, chuyện ấy chẳng tốt, chẳng tốt chút nào”.</p>
<p style="text-align: justify;">Cha tôi thường nói: “Điều chủ yếu cần biết về Đức Chime Dorje là Ngài là ai đó thực sự bền bỉ trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>. Ngài là một kho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> và hướng dẫn và Ngài đã truyền lại tất cả các báu vật này cho những vị khác mà không có bất kỳ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phân biệt</span> hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành kiến</span> nào. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vậy thì</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mục đích</span> của việc Ta nói về tất cả những chuyện này là gì chứ?”</p>
<p style="text-align: justify;">Các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> khác, chẳng hạn Adeu Rinpoche và Dabzang Rinpoche, đều nhớ rằng Đức Chime Dorje có tài hùng biện lớn lao và rằng khi Ngài ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> cho <b>Kangyur</b> và <b>Tengyur</b> hay khi ban các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> khác, giọng Ngài thật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dễ chịu</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rõ ràng</span> và du dương và tràn ngập ân phước <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> đến mức chỉ giọng Ngài thôi cũng có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển hóa</span> tâm người nghe.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Đức Chime Dorje xả bỏ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân thể</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span>, trái đất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rung động</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xá lợi</span> quý <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> từ tro cốt của Ngài. Tulku Urgyen Rinpoche xem Đức Chime Dorje là một trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ ái</span> nhất, thọ nhận từ vị này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> trao truyền Kangyur và Tengyur, cùng với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> khác về Nyingma Kama, Terma và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Cùng với Đức Karmapa thứ 16 – Rangjung Rigpe Dorje vĩ đại, cha tôi – Tulku Urgyen Rinpoche đã thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> <i>Kho Tàng Terma <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quý Báu</span></i> (Rinchen Terdzod)<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn8">[8]</a> từ Đức Karse Kongtrul Palden Khyentse Ozer, cũng như các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mở rộng</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại Thủ Ấn</span> và Sáu Pháp. Dưới sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dìu dắt</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> Kyungtrul Kargyam, Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> các ngành khoa học <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phổ thông</span>, <i>Nhập <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát Hạnh</span></i>, <i>Ba [Bộ] <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giới Luật</span></i> và nhiều bộ luận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> khác, chẳng hạn <i><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Căn Bản</span> Kệ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Đạo</span></i>, <i>Nhập <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Đạo</span></i> và <i>Bốn Trăm Đoạn Kệ Về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Đạo</span></i>. Rinpoche cũng thọ nhận từ Đức Kyungtrul Kargyam nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> về <i>Các Nguyên Tắc Bên Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sâu Xa</span></i>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> Hevajra, <i><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vô Thượng</span> Tục Luận</i> (Uttaratantra Sastra), <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> Guhyargarbha, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trích Yếu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Điển</span> Nyingma, Mười Bảy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span> và nhiều bản văn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài đã thọ nhận nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> từ Đức Shechen Kongtrul<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn9">[9]</a>, Dzongsar Khyentse Chokyi Lodro<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn10">[10]</a> và từ chú ruột – Sang-ngak Rinpoche. Ngài dành nhiều tháng bên Poda Khen Rinpoche, thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> về Dòng Nhĩ Truyền Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span>. Và Ngài thọ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> khác từ tập hội chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ bà nội Konchok Paldron của Ngài, con gái của Đại Terton Chokgyur Lingpa và chính là mẹ của Đức Chime Dorje, Ngài thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chi tiết</span> về các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> [giai đoạn] phát triển và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span>, như chúng đã được trao truyền bởi chính Terton. Rinpoche cũng học từ Bà nghệ thuật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> về vũ điệu, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> Mandala và các giai điệu, làm Torma và trang trí cũng như cách chơi và thổi các nhạc cụ, tất cả đều theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> của Terton.</p>
<p style="text-align: justify;">Chính bác của Ngài, Tsangsar Lama Samten Gyatso, là vị đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới thiệu</span> cho Tulku Urgyen Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thật</span> của tâm, nhờ đó, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> Bổn Sư của Ngài, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> mà Rinpoche có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> đến mức Ngài thấy vị này là Phật thực sự. Ngài thường rớt nước mắt khi chỉ nhắc đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu</span> của vị này. Khi được hỏi về vị thầy tôn quý này, Rinpoche thường bảo rằng: “Bác và cũng là thầy của Ta, Đức Samten Gyatso không chỉ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span>, kỷ luật và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ ái</span> mà sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> của Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao la</span> như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hư không</span>. Ta nghĩ thật hiếm khi tìm được ai đó như Ngài về việc chỉ ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> tâm.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhiều học trò <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vân tập</span> về từ khắp nơi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xa gần</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> từ Đức Samten Gyatso và Ngài thường chỉ nói rằng: ‘Vị thầy này hay vị thầy kia <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> hơn Ta rất nhiều; <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tốt hơn</span> là đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> từ Ngài’. Và Ngài thường gửi họ đi. Ngài không thích có nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xung quanh</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi được hỏi tại sao Ngài không thích có nhiều học trò <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xung quanh</span>, Ngài nói: ‘Có học trò là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trách nhiệm</span> lớn lao. Để thực sự làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi lạc</span> họ, con cần khiến họ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> tâm và điều đấy thì cực kỳ khó. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tốt hơn</span> là để họ đi gặp một vài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> thực sự đủ phẩm tính – những Lama <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> và thành tựu’.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tuy nhiên</span>, luôn luôn có một số học trò <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhất tâm</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> với Bác Tôn Quý và họ không nghe theo khi Ngài bảo họ đi. Với họ, Ngài chỉ ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> tâm, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sử dụng</span> mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương tiện</span> và không ai trong số họ không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span> nó”. Tulku Urgyen Rinpoche xem đây là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">di sản</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phi phàm</span> nhất của Đức Samten Gyatso.</p>
<p style="text-align: justify;">Cha tôi đã theo chân nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt vời</span>. Trong số chư vị, Ngài xem Đức Karmapa thứ 16 – Rangjung Rigpe Dorje không phải là người phàm mà là Phật thực sự. Bởi thế, Tulku Urgyen Rinpoche thọ nhận nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> từ vị này và khi chính Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> Đức Karmapa các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span>, Ngài làm thế với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> lớn lao. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> lớn lao như vậy với những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> vĩ đại khác, chẳng hạn Kyabje Dudjom Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn11">[11]</a>, Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn12">[12]</a>, Neten Chokling Rinpoche và Poda Khen Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn13">[13]</a>. Tất cả chư vị đều vừa là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> vừa là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của nhau, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> và thọ nhận nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span>. Xuyên suốt, chư vị đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thệ nguyện</span> Samaya <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> nhất và sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hòa thuận</span> sâu sắc.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> và Tulku <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vân tập</span> lại cho các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự kiện</span> này, Tulku Urgyen Rinpoche thường khiêm nhường ngồi phía sau tập hội, nhìn nhận những vị khác với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và lòng sùng mộ lớn lao, dẫu cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tế</span> là chẳng có ai trong số chư vị không thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và trao truyền trực tiếp từ Ngài!</p>
<p style="text-align: justify;">Trong hơn hai mươi mốt năm, một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhất tâm</span>, Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du già</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> của hai giai đoạn ở Kham, Tsurphu, Sikkim và Nepal, tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ni viện</span> Nagi Gompa và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nơi khác</span>. Ngài ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vui thích</span> ban các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> trực chỉ. Nhưng trong tất cả những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn cảnh</span> này, Ngài luôn luôn khiêm cung.</p>
<p style="text-align: justify;">Tulku Urgyen Rinpoche bày tỏ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tình thương</span> lớn lao cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mọi người</span> Ngài gặp, không chỉ những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mà cả</span> người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bình thường</span> nam và nữ; Ngài đối xử với tất cả bằng sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kính trọng</span>. Ngài không thích ban “gia trì bằng tay” – phong tục <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> người khác bằng cách đặt tay lên đầu họ – mà thích cụng đầu với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mọi người</span> hơn. Trong mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn cảnh</span>, Ngài luôn khiêm nhường, giữ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> với tất cả.</p>
<p style="text-align: justify;">Lặp đi lặp lại nhiều lần, Ngài ban các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> cho tập hội đông đảo chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> và Tulku, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cộng đồng</span>, luôn luôn không chút <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành kiến</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bộ phái</span>. Ngài làm điều này vì hầu hết chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> và Tulku Kagyu quan trọng, chẳng hạn bốn Nhiếp Chính Kagyu và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương tự</span>, vì chư vị trì giữ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> Nyingma <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span>. Ngài đã dạy mọi kiểu người từ các bối cảnh khác nhau – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span>, Tulku, Khenpo, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span> từ các trường phái và nhánh khác nhau. Ngài cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du hành</span> ra nước ngoài, khắp Đông và Tây, để ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> ở đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi còn ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, Rinpoche đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phục hồi</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> lại chùa Lakyab Jangchup Nordzin Choling ở Tsangsar, cùng với những hỗ trợ và vật phẩm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> bên trong, và các tòa nhà cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span> ở đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> ngôi chùa mới tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ni viện</span> Nagi Gompa (Nang Kyi Tongsel Ling) ở Nepal, đích thân Rinpoche giúp việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đặc biệt</span>, Ngài khéo léo làm ba bức tượng chính trong chùa bằng tay, cũng như nghìn bức tượng Guru Rinpoche và những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bàn thờ</span> để lưu giữ.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span> mua đất bên cạnh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span> Jarung Kashor (Boudha)<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn14">[14]</a> và bắt đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Ka-Nying Shedrub Ling, Rinpoche cũng giúp đỡ việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> ở đó và luôn có mặt. Ngài thường đích thân đi mua những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vật liệu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> và bất cứ khi nào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đề xuất</span> gọi một chiếc taxi, Ngài thường hỏi giá và sau đấy, khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span> nói hết 5 <i>rupee</i>, Ngài nói: “Tốt hơn thì dành tiền ấy để mua đồ, hãy đi xe buýt”. Sau đấy, Gyaltsen Dorje hay Sangye Yeshe sẽ đi cùng Ngài trên xe buýt.</p>
<p style="text-align: justify;">Mẹ tôi nấu trà và đồ ăn cho tất cả công nhân. Bà cũng giúp việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> và thậm chí còn bán <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">san hô</span>, Dzi và những trang sức <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quý báu</span> khác để giúp tài trợ cho việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span>. Thế nhưng, Bà chẳng bao giờ bỏ các thời khóa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> sáng và tối và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong suốt</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span>, Bà đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thành</span> mười ba bộ Ngondro (năm lần một trăm nghìn các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sơ khởi</span>). Bà cũng dành nhiều năm để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span>. Bà đóng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vai trò</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> trong việc giám sát <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span>, được hỗ trợ bởi em trai tôi, Chokling Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cuối cùng</span>, ngôi chùa và những hỗ trợ bên trong đã hội tụ và khi công việc về cơ bản đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn tất</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> được khánh thành bởi Vua của Nepal. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng tôi</span> đã cung thỉnh Đức Karmapa thứ 16 <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối thắng</span>, bốn Nhiếp Chính Kagyu cũng như nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> và Tulku khác từ mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> cùng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham dự</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">buổi lễ</span> thánh hóa ngôi chùa. Sau đấy, tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span>, trong hai tháng, Đức Karmapa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vinh quang</span> đã ban <i>Kho Tàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Chú</span> Kagyu</i> (Kagyu Ngagdzod), cùng với vô vàn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> khác. Ngài cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cử hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> vương miện <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">linh thiêng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> nhờ nhìn ngắm.</p>
<p style="text-align: justify;">Kể từ đó, gần như hằng năm, một trong những chúa tể của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cựu Dịch</span> đều viếng thăm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> và ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span>: những Lama như Kyabje Dudjom Rinpoche, Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche và Kyabje Shadeu Trulshik Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn15">[15]</a> đều đến và ban các pho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> khác nhau, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>] từ Kama và Terma.</p>
<p style="text-align: justify;">Những vị vĩ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại từ</span> mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> – trong số chư vị có Sakya Trizin Rinpoche thứ 41, Kyabje Minling Trichen Rinpoche, Kyabje Drubwang Pema Norbu (Penor) Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn16">[16]</a>, Drikung Kyabgon Rinpoche, Chogye Trichen Rinpoche và Kyabje Chatral Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn17">[17]</a> – đều đến và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> bằng sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện</span> và ban các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Giống như vậy, đích thân Đấng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quy Y</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> – Tulku Urgyen Rinpoche đã ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và trao truyền cho bốn Nhiếp Chính Kagyu và hàng nghìn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span>, Khenpo, Tulku, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span> từ mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> đến gặp Ngài. Với các học trò thân cận, Ngài ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> truyền miệng nhiều lần. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đặc biệt</span>, Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> như <i>Ba Phần Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span></i> (Dzogchen Desum<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftn18">[18]</a>) từ kho tàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> của Tổ Chokling lên những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> vĩ đại như Đức Karmapa thứ 16, Kyabje Dudjom Rinpoche, Nangchen Adeu Rinpoche, Dabzang Rinpoche, Tarthang Rinpoche và Tenga Rinpoche. Mối <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên hệ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> lẫn nhau giữa tất cả những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> này thật mạnh mẽ và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> mới ở Boudha, KaNying Shedrub Ling, Rinpoche đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành lập</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rường cột</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>. Nói ngắn gọn, Đức Karmapa thứ 16 đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bi</span> truyền tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới Sa Di</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tỳ Kheo</span> cho những vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> mới. Kể từ ấy, không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gián đoạn</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chư Tăng</span> Ka-Nying Shedrub Ling vẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> nền tảng của một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span>: <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> tịnh hóa và chữa lành <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thường xuyên</span> (Sojong hay Bố tát), <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an cư kiết hạ</span> (Yarne) và lễ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết thúc</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an cư</span> (Gakye – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tự Tứ</span>). Kể từ đó, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span> vẫn luôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cử hành</span> các lễ Puja nhóm sáng và tối <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hằng ngày</span>, những Puja tỉ mỉ vào ngày Mười và Hai mươi lăm (cùng những ngày <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> khác) và nhiều Drubchen <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thường niên</span> khác nhau, tất cả không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gián đoạn</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Như đạo</span> sư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thế Thân</span> (Vasubhandu) vĩ đại từng nói: “Trước tiên con cần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đúng đắn</span> và sau đấy, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán chiếu</span> rồi dấn thân thiền định”. Nói ngắn gọn, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuân theo</span> lời dạy này. Kết quả là, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> phát triển theo từng năm. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> hiện đang có một trường tiểu học, một trường trung học, một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span>, một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> cho các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nghiên Cứu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật Giáo</span> Cao Hơn (Shedra – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật học viện</span>) và một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> (tại Động Asura). Tại tất cả những nơi này, sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span>, thành thạo và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành thiền định</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chư Tăng</span> ngày càng sâu sắc và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mở rộng</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Rinpoche cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> mới – Ngedon Osel Ling ở Swayambhu và Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> Pema Osel Ling tại Động Asura, địa điểm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">linh thiêng</span> của Guru Rinpoche. Ở đó, Ngài và mẹ tôi đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> một ngôi chùa và những sự hỗ trợ bên trong, cũng như các phòng và cơ sở khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Bên cạnh tất cả những công việc tại trú xứ, Tulku Urgyen Rinpoche cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du hành</span> rộng khắp ở Sikkim, Bhutan và Nepal, ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> và chủ trì nhiều [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp hội</span>] <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chân ngôn</span> nhóm về Mani và Vajra Guru.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tuy nhiên</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm yếu</span> đích thực trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiểu sử</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị đạo</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sư tôn</span> quý này là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự thật</span> rằng hầu hết các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của Ngài đã phát triển sự xả ly và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tỉnh ngộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thành</span>, tình <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">yêu thương</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng bi mẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thật</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân chính</span>. Họ có lòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quyết tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thành</span> về việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thù thắng</span> nói chung và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> của tâm và nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương tiện</span> này, nhiều vị trong số họ đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điều phục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nội tâm</span>. Tôi xem đây là phần quan trọng nhất trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">di sản</span> của cha tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong những năm về sau, Rinpoche sống ở Nagi Gompa, nơi Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhất tâm</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đơn giản</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp tính</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> cố hữu. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cuối cùng</span>, vào năm bảy mươi sáu tuổi, ngày Mười ba tháng Hai năm 1996 ([tức ngày Hai mươi tư tháng Mười hai] năm Mộc Hợi [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Âm lịch</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>]), <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm trí</span> tuệ của Ngài tan hòa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở lại</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hư không</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">căn bản</span>. Lúc Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span>, trái đất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rung động</span>, bầu trời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quang đãng</span> và tất cả bụi đều lắng dịu. Khi thánh thân Ngài được đưa từ Nagi Gompa đến KaNying Shedrub Ling tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span> Jarung Kashor (Boudha), hàng nghìn người, cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span>, đã xếp hàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dọc đường</span>, rớt nước mắt, cầm khăn Khata và hoa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> trên tay với những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm xúc</span> đau buồn, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và lòng sùng mộ chẳng gì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sánh bằng</span> trong tim.</p>
<p style="text-align: justify;">Các Puja tang lễ và lễ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trà tỳ</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ân cần</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham dự</span> bởi một tập hội vĩ đại của hàng trăm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span>, Tulku, Khenpo và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span>. Kyabje Chatral Rinpoche đã ở đó và Kyabje Chogye Trichen Rinpoche, Dilgo Khyentse Yangsi Rinpoche và Dudjom Yangsi Rinpoche, Shechen Rabjam Rinpoche, Dzongsar Khyentse Rinpoche, Dzigar Kongtrul Rinpoche, Sangye Nyenpa Rinpoche, Beru Khyentse Rinpoche, Tarthang Rinpoche, Thrangu Rinpoche, Tenga Rinpoche, Tarik Rinpoche, Neten Chokling Rinpoche, Dodzong Rinpoche, Sogyal Rinpoche, Chogyal Rinpoche, Orgyen Tobgyal Rinpoche, Khyentse Yeshe Rinpoche, Yongdzin Rinpoche, Gyatrul Rinpoche, Sachu Rinpoche, Zangzang Rinpoche, Ripa Jigme Rinpoche, Tulku Jigme Rinpoche, Trakar Rinpoche, Kushok Tsechu Rinpoche, Dungse Shenphen Dawa Rinpoche, Khenpo Tsultrim Gyatso Rinpoche, Khenpo Pema Sherab Rinpoche và Khenpo Namdrol Rinpoche cùng nhiều vị khác cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham dự</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Các đại sứ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, quan chức Nepal, đại sứ nước ngoài và hàng nghìn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span>, tất cả đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng kiến</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thành</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lịch thiệp</span>, cũng đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham dự</span> cùng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span>. Sau lễ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trà tỳ</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> sọ của Rinpoche vẫn nguyên vẹn; tim, lưỡi và mắt Ngài hòa vào nhau và tro cốt Ngài chứa đầy các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xá lợi</span> nhiều màu, để lại cho các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sùng kính</span> vô vàn sự hỗ trợ cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> của họ. Hiện nay, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xá lợi</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vẫn có</span> thể được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chiêm bái</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><i><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiểu sử</span> này, được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự tại</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyên thuyết</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trưởng dưỡng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span>, đã được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> nhiều lần bởi chư Khenpo, Tulku, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương</span> và những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> cao niên của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> – KaNying Shedrub Ling cũng như bởi các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> tại Nagi Gompa, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> Động Asura và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> khác của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>. Vào nhiều dịp, họ đã trao cho tôi các Mandala và Khata, với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> rằng tôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biên soạn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiểu sử</span> của cha tôn quý. Do đó, theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quả quyết</span> của chư vị, tôi, ông lão tên Tulku Chokyi Nyima, con trai trưởng của cha – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span>, đã viết lại điều này vào ngày 10 tháng 9 năm Thổ Tý, năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> 2135 (tức năm 2008 Dương lịch). Nguyện tốt lành!</i></p>
<p style="text-align: left;"><b>Lhasey Lotsawa</b></p>
<p style="text-align: left;"><em>Anh dịch: Lhasey Lotsawa</em></p>
<p style="text-align: left;"><em>Việt dịch: Pema Jyana</em></p>
<p style="text-align: left;"><em>Nguồn Anh ngữ: </em><a href="https://lhaseylotsawa.org/library/to-nourish-faith-eng"><em><u><i>To Nourish Faith</i></u></em></a></p>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref1">[1]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Barom Darma Wangchuk (1127 - 1199) – một trong bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> của Tổ Gampopa và là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng lập</span> nhánh Barom Kagyu của Dakpo Kagyu. Ngài cũng là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng lập</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Barom ở phía Bắc Lato.</em></p>
<div>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref2">[2]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Dusum Khyenpa</span> (1110 - 1193), Đức Karmapa thứ nhất, sinh ở Kham. Là một trong bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> của Tổ Gampopa, Ngài là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng lập</span> phái Karma Kagyu và ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> chính của phái này: Kampo Nenang Gon vào năm 1164, Karma Gon vào năm 1184 và Tsurphu Gon vào năm 1189.</em></p>
</div>
<div>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref3">[3]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Phagmodrupa Dorje Gyalpo (1110 - 1170) – một trong ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> xuất sắc nhất của Tổ Gampopa và là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> quan trọng của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Kagyu. Trước khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh ngộ</span> Tổ Gampopa, Ngài cũng đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> với Tổ Sachen Kunga Nyingpo – vị mà Ngài thân cận mười hai năm, thọ nhận các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Lamdre, Tổ Padampa Sangye và Tổ Chapa Chokyi Senge. Sau khi Tổ Gampopa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span>, Phagmodrupa rời miền Trung <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> và đến sống ở Phagmo Dru, Kham, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành lập</span> trường phái Pagdru Kagyu, điều sau này chia thành tám nhanh nhỏ, mỗi nhánh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lần lượt</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành lập</span> bởi tám <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> chính của Ngài. Ngài cũng là anh trai của Đức Kathok Dampa Deshek, vị Tổ của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Kathok.</em></p>
</div>
<div>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref4">[4]</a> Về Terton Chokgyur Dechen Lingpa, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo:</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/a30774/cuoc-doi-duc-chokgyur-lingpa"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cuộc Đời</span> Đức Chokgyur Lingpa</a></em></p>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref5">[5]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Khakhyab Dorje, vị Karmapa thứ Mười lăm (1870/1 - 1921/2) là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của cả Đức Jamyang Khyentse Wangpo và Jamgon Kongtrul [Lodro Thaye]. Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> cả Terma đất và tâm. Hai con trai của Ngài là Karse Kongtrul và Shamarpa thứ Mười một. Một trong những vị phối ngẫu của Ngài là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Không Hành Nữ</span> vĩ đại của Tsurphu – Khandro Ugyen Tsomo.</em></p>
</div>
<div>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref6">[6]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Nubchen Sangye Yeshe – một trong hai mươi lăm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của Guru Rinpoche. Ngài được cho là đã sống 110 năm hoặc hơn. Ngài đã đem <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Anuyoga đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> và chuyển dịch nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span>. Ngài cũng là học trò của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vô Cấu</span> Hữu và nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> vĩ đại khác.</em></p>
<p><em>Người ta kể lại rằng chính nhờ những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sức mạnh</span> diệu kỳ của Ngài mà vua Langdarma đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tha cho</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span> Mật thừa trong lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khủng bố</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">môn đồ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo</span> ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>.</em></p>
</div>
<div>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref7">[7]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Guru Chokyi Wangchuk, tức Guru Chowang (1212 - 1270) – vị thứ hai trong năm Khai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Tạng</span> Vương và là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa hiện</span> về khẩu của Vua Trisong Deutsen. Trong các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> của Ngài có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Lama Sangdu.</em></p>
</div>
<div>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref8">[8]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Rinchen Terdzod – Kho Tàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Lý</span> Ẩn Giấu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quý Báu</span> là một trong Năm Kho Tàng Vĩ Đại của Tổ Jamgon Kongtrul. Đây là một tuyển tập từ tất cả các Terma được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> thời của Ngài, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> cả các kho tàng của Tổ Chokgyur Lingpa. Lo sợ rằng những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> này sẽ bị mất, Ngài bắt đầu việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết tập</span> vào năm 1855 với sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> của Tổ Jamyang Khyentse Wangpo và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thành</span> vào năm 1889. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đơn giản</span> thọ nhận các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> Rinchen Terdzod cũng cần từ 4 đến 6 tháng.</em></p>
</div>
<div>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref9">[9]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Shechen Kongtrul Pema Drime Lekpe Lodro (1901-khoảng 1960) – vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> của Tổ Jamgon Kongtrul Lodro Thaye <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư ngụ</span> tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Shechen. Ngài được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công nhận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa trên</span> một linh kiến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giấc mộng</span> mà trong đó, Shechen Rabjam Rinpoche thứ năm thấy bản văn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bát Nhã Ba La Mật</span> 8000 Đoạn Kệ bay từ Tsadra Rinchen Drak đến phía Đông của Derge. Ngài cũng được ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu</span> Gyurme Kunzang Shenphen Thaye Lodro Drime bởi Đức Shechen Gyaltsap [thứ tư – Gyurme Pema Namgyal]. Ngài có lẽ đã qua đời trong nhà tù <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span>. Ngài là một trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> chính của Chogyam Trungpa Rinpoche và Khenpo Tsondru. Ngài đã ban các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Dzogchen cho Lama Sherap Dorje Rinpoche và Lama Tharchin Rinpoche.</em></p>
</div>
<div>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref10">[10]</a> Về Đức Jamyang Khyentse Chokyi Lodro, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo: </span></em><a href="https://thuvienhoasen.org/p38a34025/2/huyen-hoa-du-hi"><em><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Huyễn hóa</span> du hí một tự truyện của jamyang khyentse chokyi lodro</em></a></p>
<p><a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/truong-duong-tin-tam/#_ftnref11"><em><i>[11]</i></em></a><em><i> Về Kyabje Dudjom Rinpoche, tham khảo: </i></em><a href="https://thuvienhoasen.org/p38a35008/tieu-su-van-tat-dudjom-rinpoche-jigdral-yeshe-dorje-1904-1987-"><em><i>Tiểu Sử Vắn Tắt Dudjom Rinpoche Jigdral Yeshe Dorje (1904-1987)</i></em></a></p>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref12">[12]</a> Về Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo:</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a32138/2/tieu-su-dilgo-khyentse-rinpoche-1910-1991-"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiểu Sử</span> Dilgo Khyentse Rinpoche (1910-1991)</a></em></p>
</div>
<div>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref13">[13]</a> Tức Polu Khenpo Dorje. Theo <b>Rigpawiki</b>, Polu Khenpo Dorje hay Thupten Kunga Gyaltsen (khoảng 1896 - 1970) là một trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> của Khenpo Ngawang Palzang. Ngài được xem là một trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> Dzogchen <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> nhất trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời kỳ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gần đây</span>. Ngài đôi khi được nhắc đến là Bomta Khenpo theo [tên của] những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thí chủ</span> của Ngài – Bomta Tsang.</em></p>
</div>
<div>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref14">[14]</a> Về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span> Jarung Kashor, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo: <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a29266/3/giai-thoat-nho-lang-nghe">Giải Thoát Nhờ Lắng Nghe</a></span></em></p>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref15">[15]</a> Về Trulshik Rinpoche, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo:</span> </em><a href="https://thuvienhoasen.org/p38a34500/2/tieu-su-van-tat-duc-zhadeu-trulshik-chenpo-ngawang-chokyi-lodro-1924-2011-"><em><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiểu Sử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vắn Tắt</span> Đức Zhadeu Trulshik Chenpo Ngawang Chokyi Lodro (1924 - 2011</em>)</a></p>
</div>
<div></div>
<div>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref16">[16]</a> Về Penor Rinpoche, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo: </span></em><a href="https://thuvienhoasen.org/p38a33611/2/tieu-su-kyabje-pema-norbu-rinpoche-1932-2009-"><em><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiểu Sử</span> Kyabje Pema Norbu Rinpoche (1932 – 2009)</em></a></p>
</div>
<div>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref17">[17]</a> Về Chatral Rinpoche, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo:</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a30967/3/chatral-rinpoche-cuoc-doi-cua-mot-huyen-thoai">Chatral Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cuộc Đời</span> Của Một Huyền Thoại</a></em></p>
</div>
<div>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/CNR.%20TR%C6%AF%E1%BB%9ENG%20D%C6%AF%E1%BB%A0NG%20T%C3%8DN%20T%C3%82M.docx#_ftnref18">[18]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Ba Bộ Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span> (Dzogchen Desum) là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> (Terma) của Tổ Chokgyur Dechen Lingpa và Tổ Jamyang Khyentse Wangpo. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo lý</span> này được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> vào năm 1857 ở Mesho Dzomnang như một Terma đất từ Động <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Liên Hoa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pha Lê</span>, một hang động <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">linh thiêng</span> của Guru Rinpoche. Tulku Urgyen Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">miêu tả</span> đây là kho tàng xuất sắc nhất của Tổ Chokgyur Lingpa, bởi nó là Terma <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy nhất</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> cả ba bộ của Dzogchen.</em></p>
</div>
<div></div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/mot-mieu-ta-ngan-gon-ve-cac-hoat-dong-tri-tue-cua-bon-su-chua-te-pho-quat-tulku-urgyen-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử ngắn Sonam Tenzin Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-ngan-sonam-tenzin-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-ngan-sonam-tenzin-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 06 Sep 2015 17:21:56 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Barom Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Barom]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=4575</guid>
		<description><![CDATA[  Sinh ra trên vùng thánh địa do chính đức Liên Hoa Sanh tìm ra tại xứ Kham, miền Đông Tây Tạng, đứa bé trai tên Sonam được xác nhận là bậc  tái sinh của Rabsang Rinpoche, sư trưởng Tu Viện Chodrak thuộc dòng Barom Kagyu. Bậc thủ ngôi dòng Barom Kagyu, Chodrak Selgey Rinpoche đời thứ 9, đưa cậu&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-ngan-sonam-tenzin-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"> <a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/maxresdefault4.jpg"><img class="  wp-image-5356 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/maxresdefault4-200x300.jpg" alt="maxresdefault" width="290" height="435" /></a></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Sinh ra trên vùng thánh địa do chính đức Liên Hoa Sanh tìm ra tại xứ Kham, miền Đông Tây Tạng, đứa bé trai tên Sonam được xác nhận là bậc  tái sinh của Rabsang Rinpoche, sư trưởng Tu Viện Chodrak thuộc dòng Barom Kagyu. Bậc thủ ngôi dòng Barom Kagyu, Chodrak Selgey Rinpoche đời thứ 9, đưa cậu bé Sonam đăng ngôi, trao tặng pháp hiệu Karma Jampal Sonam Tenzin Palzangpo Rinpoche. Rinpoche còn được xác nhận là bậc tái sanh thứ tư của đức Vairotsana.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Rinpoche bắt đầu tu học vào năm lên tám dưới sự hướng dẫn của đại sư Saljey Rinpoche và Lama Yeshe Rabje Rinpoche. Ngài tu học theo cả hai  truyền thống Barom Kagyu và Karma Kagyu. Rinpoche trực tiếp thọ nhận nhiều pháp quán đảnh, nhiều lời khai thị và nhiều giáo pháp từ đức Karmapa đời thứ 17 Urgyen Trinley Dorje khi đức Karmapa đăng ngôi  tại Tsurphu Monastery.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Rinpoche hoàn tất ba năm bảy tháng nhập thất tại Tu Viện Pharping Drubdey Osel Choling Monastery, dưới sự hướng dẫn trực tiếp và chặt chẽ của Khabje Sangye Nyenpa Rinpoche and Tenga Rinpoche.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Rinpoche là người vô cùng khiêm cung. Ngài không thích nói về mình, cũng không muốn nhắc đến thiện hạnh ngài đã làm cho biết bao người, đặc biệt là cho cộng đồng người Việt. Ngài thường xuyên nhắc nhở “<em><b>chúng ta cứ hãy thiết tha vững tin nơi Phật, nhờ năng lực từ bi gia trì của đức Phật sẽ tự nhiên gặp được nhiều điều mầu nhiệm trong đời</b></em>.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Rinpoche không ngừng nỗ lực gây quĩ trùng tu Ni Viện Chodrak, không ngừng nâng đỡ tất cả chúng sinh.</span></p>
<p><span style="color: #000000;">Nguồn: <a style="color: #000000;" href="http://nalanda.batnha.org/daosulamas/tieusubiograp/3-sonam-tenzin-rinpoche">http://nalanda.batnha.org/daosulamas/tieusubiograp/3-sonam-tenzin-rinpoche</a></span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-ngan-sonam-tenzin-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lịch sử sơ lược truyền thống Barom Kagyu</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/lich-su-so-luoc-truyen-thong-barom-kagyu/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/lich-su-so-luoc-truyen-thong-barom-kagyu/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 05 Sep 2015 13:03:36 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Barom Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Barom]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=4194</guid>
		<description><![CDATA[Tổ Barom Darma Wangchuk Cây truyền thừa Barom Kagyu Trọng tâm của lịch sử Dòng truyền thừa Barom Kagyu là sự thấu hiểu tầm quan trọng của  những nỗ lực mà Đức Sonam Tenzin Rinpoche tôn kính đã truyền giáo lý dòng phái này đến với người phương Tây. Dòng truyền thừa Kagyu được biết đến là dòng truyền thừa&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/lich-su-so-luoc-truyen-thong-barom-kagyu/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>Tổ Barom Darma Wangchuk</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Barom-Kagyu-Lineag1.jpg"><img class="  wp-image-5680 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Barom-Kagyu-Lineag1-214x300.jpg" alt="Barom Kagyu Lineag" width="324" height="455" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Cây truyền thừa Barom Kagyu</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Trọng tâm của lịch sử Dòng truyền thừa Barom Kagyu là sự thấu hiểu tầm quan trọng của  những nỗ lực mà Đức Sonam Tenzin Rinpoche tôn kính đã truyền giáo lý dòng phái này đến với người phương Tây. Dòng truyền thừa Kagyu được biết đến là dòng truyền thừa thực hành mà giáo pháp tâm yếu là khẩu truyền. Điều này được thể hiện trong ý nghĩa của từ Kagyu. Âm đầu tiên, “Ka”, liên quan đến các bản kinh  Phật và sự khẩu truyền các giáo lý của Đạo sư. Tiếp đến, âm “gyu” có nghĩa là dòng truyền thừa hay truyền thống. Khi kết hợp với nhau, những âm này tạo thành nghĩa là dòng Khẩu Truyền. Dòng truyền thừa Kagyu chính là phương tiện giúp những giáo lý Đức Phật được truyền lại từ đời này sang đời khác.</p>
<p style="text-align: center;">Từ Phật, có Pháp</p>
<p style="text-align: center;">Từ Pháp, có Tăng đoàn tỉnh giác</p>
<p style="text-align: center;">Từ Tăng đoàn, trí tuệ tự nhiên sẽ hiển lộ</p>
<p style="text-align: center;">Khi sự tỉnh giác cuối cùng hiển lộ</p>
<p style="text-align: center;">Giác ngộ tối thượng sẽ xuất hiện</p>
<p style="text-align: center;">Mọi khả năng sẽ được thành tựu</p>
<p style="text-align: center;">Điều tốt lành sẽ đến với mỗi chúng ta và mọi người</p>
<p style="text-align: justify;">Dòng truyền thừa Kagyu khởi nguồn từ Đạo Sư Vĩ Đại (Yogi) Tilopa, được sáng lập tại Bengal, Ấn Độ năm 988 sau Công nguyên.  Tilopa thọ nhận và tập trung vào những thực hành cá nhân;  những trao truyền  qua Pháp thân Phật Kim Cương Trì- trao truyền Mật điển Guhyasamaja của Đại thành tựu giả Nagarjuna, các học thuyết bardo và tịnh quang của Đại thành tựu giả Lawapa, các dòng heruka Chakrasamvara  từ Đại thành tựu giả Luipada, các dòng Đại ấn thủ của Đại thành tựu giả Shavari, và các học thuyết của Mật điển Hevajra được trao truyền qua Krishnacharya. Ngài đã thực hành tu thiền chuyên sâu trong nhiều năm và cuối cùng đã đạt được giác ngộ viên mãn.</p>
<p style="text-align: justify;">Những giáo lý truyền từ Tilopa tới Naropa được hệ thống lại thành Sáu phương pháp Du già Yogas của Naropa và  được xem là phương pháp thực hành tâm yếu của dòng Kagyu. Naropa, sinh ra trong một gia đình quý tộc vào năm 1016, Ngài rời bỏ đời sống thế tục khi tuổi đời còn rất trẻ và đã dâng hiến cả cuộc đời để nghiên cứu và thực hành {giáo Pháp}. Những cống hiến đầy đam mê và những khó khăn gian khổ mà Ngài phải trải qua trong quá trình hoàn thiện tâm linh  là một huyền thoại đối với  người Tây Tạng. Thời gian cuối đời, Ngài đã đào tạo rất nhiều đệ tử, nổi tiếng nhất trong số đó là dịch giả Marpa.</p>
<p style="text-align: justify;"> Marpa Chokyi Lodoe (1012-1099) đã ba lần tới Ấn Độ và 4 lần tới Nepal để tìm các giáo lý tôn giáo. Ngài đã đảnh lễ và tu học dưới sự hướng dẫn của 108 vị Thầy tâm linh và các bậc thành tựu, đặc biệt là Ngài Naropa và Maitrepa. Sau đó, Ngài trở về Tây Tạng để truyền bá giáo Pháp. Các dòng phái của giáo lý Mật điển mà Ngài thọ nhận từ Naropa đã được truyền lại cho đại đệ tử của mình là Milarepa (1040-1123), bậc thành tựu  được tôn vinh nhất  trong giới hành giả Mật điển Tây Tạng, cũng giống như Naropa Ngài đã đạt giác ngộ chỉ trong một đời.</p>
<p style="text-align: justify;">Thứ tự cây truyền thừa của dòng Kagyu: Ở chính giữa, trên Ngài Milarepa là Ngài Vajradhara, Marpa và 5 chị em Nữ thần Hộ mệnh. Về phía bên phải, trên Ngài Gampop là Ngài Naropa. Về phía bên trái,  trên Ngài Rechung là Ngài Tilopa.</p>
<p style="text-align: justify;">Những trao truyền từ Ngài Milarepa được tiếp nối bởi Ngài Gampopa, một nhà vật lý học tài năng, trước đó đã thọ nhận giáo lý từ Kadampa và sau đó là Đại thủ ấn và 6 phương pháp Yoga của Naropa từ Milarepa. Bậc thầy vĩ đại Gampopa (1040-1123), được biết đến là Dakpo Lhaje, đã thiết lập nền tảngcho dòng truyền thừa Kagyu bằng cách hợp nhất dòng Đại Thủ Ấn của Milarepa với dòng truyền thừa Kadampa. Dòng truyền thừa này được biết đến với tên gọi Dakpo Kagyu, dòng chính của truyền thống Kagyu.</p>
<p style="text-align: justify;">Các đệ tử lừng danh của Gampopa của Truyền thống Dakpo Kagyu đã thiết lập 04 trường phái chính. Dòng truyền thừa Barom Kagyu được sáng lập bởi Barom Dharma Wangchuk, là một trong 4 hành giả lừng danh này. Như vậy, truyền thống được tiếp dẫn thành công từ Tilopa tới Naropa, Marpa, Milarepa và Gampopa đến với phương Tây nhờ Ngài Barom Dharma Wangchuk và các La ma của Dòng truyền thừa Barom Kagyu.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>http://www.baromkagyu.org/pageBK1.html</em></p>
<p style="text-align: justify;">Việt dịch : Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính : Giác nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với </em><em>truyền thống </em><em>Barom Kagyu</em> <em>đều được lợi lạc và cầu mong nhờ công đức này </em><em>truyền thống </em><em>Barom Kagyu</em><em> sẽ nở rộ tại </em><em>Việt nam</em></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/lich-su-so-luoc-truyen-thong-barom-kagyu/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
