<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Đạo sư Karma</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-kagyn/karma-kagyu/dao-su-karma/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Fri, 17 Apr 2026 16:09:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Tiểu sử vắn tắt Bardor Tulku Rinpoche thứ ba (1949 &#8211; 2021)</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/karma-kagyu/tieu-su-van-tat-bardor-tulku-rinpoche-thu-ba-1949-2021/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/karma-kagyu/tieu-su-van-tat-bardor-tulku-rinpoche-thu-ba-1949-2021/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 20 Apr 2021 14:54:37 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Karma Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Karma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=10045</guid>
		<description><![CDATA[Bardor Tulku Rinpoche sinh năm 1949 ở Kham, miền Đông Tây Tạng. Từ rất nhỏ, Ngài đã được Đức Gyalwang Karmapa thứ 16 công nhận là hóa hiện thứ ba của Terchen Barway Dorje[1]. Là một đứa bé cùng với gia đình và vị giáo thọ, Ngài duy trì lối sống du mục. Rinpoche lên sáu khi Ngài rời miền Đông Tây Tạng cùng với ông bà trong hành trình đưa Ngài trước tiên đến Lhasa, sau đó Tsurphu&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/karma-kagyu/tieu-su-van-tat-bardor-tulku-rinpoche-thu-ba-1949-2021/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Bardor Tulku Rinpoche sinh năm 1949 ở Kham, miền Đông <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>. Từ rất nhỏ, Ngài đã được Đức Gyalwang Karmapa thứ 16 <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công nhận</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa hiện</span> thứ ba của Terchen Barway Dorje<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20BARDOR%20TULKU%20RINPOCHE%20TH%E1%BB%A8%20BA.docx#_ftn1">[1]</a>.</p>
<p style="text-align: justify;">Là một đứa bé cùng với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span> và vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo thọ</span>, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lối sống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du mục</span>. Rinpoche lên sáu khi Ngài rời miền Đông <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> cùng với ông bà trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành trình</span> đưa Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trước tiên</span> đến Lhasa, sau đó Tsurphu và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuối cùng</span> đến Drikung, nơi Rinpoche lưu lại trong hai năm tại nhà của ông bà Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi ông bà của Rinpoche qua đời, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cha mẹ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">anh chị</span> em Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đoàn tụ</span> với Ngài ở Drikung. Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tình hình</span> chính trị và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xã hội</span> ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> trở nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tồi tệ</span> hơn bởi sự xâm chiếm của Cộng sản <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span>, Rinpoche và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span> – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban đầu</span> là một đoàn mười ba người – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khởi hành</span> đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span>, vượt Himalaya cùng với nhiều người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> khác, những vị cũng đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chạy trốn</span> khỏi cuộc chiến.</p>
<p style="text-align: justify;">Họ đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du hành</span> qua Kongpo đến Pema Ku. Ở Pema Ku, tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biên giới</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span>, bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành trình</span> gian khổ, tất cả thành viên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span> của Rinpoche đều qua đời. Khi cha của Rinpoche – thành viên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuối cùng</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span> – qua đời, Rinpoche rời Pema Ku và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> hướng về Assam cùng những người tị nạn khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Tại thị trấn được biết đến là Bomdila, nơi mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biên giới</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, Bhutan và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gặp nhau</span>, một cuộc tấn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công bằng</span> bom đã khiến đoàn người phân tán. Rinpoche và một người bạn trẻ tuổi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> cuộc tấn công và đi về phía Tây, dọc theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biên giới</span> của Bhutan và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span>, đến Siliguri và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuối cùng</span> là đến Darjeeling. Khi họ đến Darjeeling, Đức Karmapa thứ 16 được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thông báo</span> rằng Rinpoche đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an toàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vô cùng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoan hỷ</span> trước tin <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tốt lành</span> này, Đức Karmapa đã sắp xếp để Rinpoche được cung nghênh về Sikkim và để người bạn của Rinpoche được chăm sóc.</p>
<p style="text-align: justify;">Bardor Tulku Rinpoche được tấn phong là một Tulku tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Rumtek ở tuổi thanh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiếu niên</span>. Cũng chính tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Rumtek, dưới sự dạy dỗ của Đức Karmapa thứ 16, sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rèn luyện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính thức</span> của Rinpoche đã diễn ra.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thành</span> nhiều năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>, Bardor Tulku Rinpoche đi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thị giả</span> Đức Karmapa thứ 16 trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành trình</span> [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoằng Pháp</span>] <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế giới</span> vào các năm 1974 và 1976. Năm 1977, Đức Karmapa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">yêu cầu</span> Rinpoche ở lại Woodstock, New York, tại Karma Triyana Dharmachakra (KTD). Trong hai năm đầu tiên tại KTD, Rinpoche đã làm việc cùng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mọi người</span> để cải tạo và chuẩn bị ngôi nhà và chuẩn bị cho chuyến viếng thăm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuối cùng</span> của Đức Karmapa thứ 16 đến phương Tây.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong chuyến viếng thăm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuối cùng</span> vào năm 1980, Đức Karmapa đã chỉ dạy rằng trụ xứ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> của Ngài tại Bắc Mỹ cần được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> tại KTD và Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cử hành</span> lễ thánh hóa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính thức</span>. Sau lễ động thổ vào tháng Năm năm 1982, Bardor Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điều hành</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> và trực tiếp làm việc mỗi ngày để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span>. Khi việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> chính điện về cơ bản hoàn mãn vào đầu những năm 1990, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đảm nhận</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trách nhiệm</span> là vị thầy tại KTD và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> nhánh Karma Thegsum Choling (KTC). Bardor Rinpoche đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phục vụ</span> KTD và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> nhánh KTC trong hơn ba mươi năm.</p>
<p style="text-align: justify;">Rinpoche sống cùng với vị phối ngẫu của Ngài – Sonam Chotso Lama trong ngôi nhà của họ ở phía bên kia <i>Magic Meadow</i> cùng với ba con gái – Karma, Chime và Rigdzin. Khi không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham gia</span> vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật sự</span>, Ngài tận hưởng việc chơi trò chơi bàn cờ, đi bộ tại hồ chứa, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết bạn</span> với những con sóc chuột <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản địa</span> và cho chúng ăn. Ngài cũng thích chơi đùa với hai cháu gái nhỏ – Uggi và Baby T. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoan nghênh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mọi người</span>, bất kể họ có phải <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật tử</span> hay không và luôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan tâm</span> đến sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an lành</span> của họ. Ngài yêu mến vùng Woodstock với những ngọn núi và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm thấy</span> nơi đây thật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">linh thiêng</span>. Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du hành</span> khắp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế giới</span> để giảng dạy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trưởng dưỡng</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành trì</span> của các học trò <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào cuối những năm 1970, Đức Karmapa thứ 16 gửi cho Bardor Tulku Rinpoche bức thư ngắn riêng sau đây.</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Bardor Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân mến</span>,</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Lời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cầu nguyện</span> rằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> của con có thể lan tỏa khắp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nam Thiệm Bộ Châu</span> luôn ở trong tâm Ta, cả ngày lẫn đêm.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Đừng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rụt rè</span> về điều này; hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sốt sắng</span>.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cầu nguyện</span> rằng Ta sớm gặp con.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Karmapa</i></p>
<p style="text-align: justify;">Bardor Tulku Rinpoche vẫn giữ bức thư ngắn được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trân trọng</span> này nhưng Ngài không chắc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính xác</span> của nó là gì.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1999, Bardor Rinpoche có những giấc mơ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô cùng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sống động</span> về Đức Karmapa thứ 16 và trong lúc thức, Ngài cảm nhận mạnh mẽ sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện</span> của Đức Karmapa đến mức Ngài có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thấy</span> mùi của Đức Karmapa. Giấc mơ về Đức Karmapa thứ 16 đã giúp Bardor Tulku Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quyết định</span> rằng đã đến lúc bắt đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền bá</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> của Terchen Barway Dorje (vị Bardor Rinpoche thứ nhất) ở phương Tây.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 2000, với sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> từ Đức Karmapa thứ 17 và Ngài Tai Situ Rinpoche thứ 12, Bardor Tulku Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành lập</span> Tổ Chức Raktrul [Raktrul Foundation] để giúp tái <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Raktrul ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cung cấp</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương tiện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo dục</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chư Tăng</span>, Ni và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cộng đồng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span>. Năm 2003, Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành lập</span> Kunzang Palchen Ling (KPL), một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật Giáo Tây Tạng</span> ở Red Hook, New York. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Dựa trên</span> các nguyên tắc bất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bộ phái</span>, KPL <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cung cấp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> từ mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo Tây Tạng</span> và đóng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vai trò</span> là là một căn cứ để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giữ gìn</span> và đưa những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Terma của Terchen Barway Dorje đến phương Tây.</p>
<p style="text-align: justify;">Kể từ đó, Bardor Tulku Rinpoche đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điều hành</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> của Kunzang Palchen Ling và dẫn dắt các Nhóm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu Học</span> Palchen trên khắp đất nước, cũng như giám sát việc chuyển dịch các bản văn Terma của Terchen Barway Dorje. Năm 2020, Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thành</span> việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> Kunzang Palchen Ling, nơi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giữ gìn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> của Ngài và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cung cấp</span> nền tảng cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cộng đồng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> của Ngài. Nhờ tầm nhìn và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> của Rinpoche, KPL <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> hình mẫu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt vời</span> về một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> ở Hoa Kỳ. Đây cũng là địa điểm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt vời</span>, nơi lưu giữ nhiều bức tượng chư Phật và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát</span> mà Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nỗ lực</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mệt mỏi</span> để thu thập. Ngài đã sống <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span> làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi lạc</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phụng sự</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật Pháp</span><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20BARDOR%20TULKU%20RINPOCHE%20TH%E1%BB%A8%20BA.docx#_ftn2">[2]</a>. Đông đảo học trò <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sùng kính</span> của Ngài đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mong mỏi</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> nhanh chóng của Ngài, lễ tấn phong và sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kunzang Palchen Ling </strong></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Việt ngữ: Pema Jyana</span></i></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Nguồn Anh ngữ: </span></i><a href="https://www.kunzang.org/biography/"><i><span style="font-weight: 400;">Biography of the 3rd Bardor Rinpoche</span></i></a></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Nguồn Việt ngữ: </span></i><a href="https://thuvienhoasen.org/p38a35810/tieu-su-van-tat-bardor-tulku-rinpoche-thu-ba-1949-2021-"><i><span style="font-weight: 400;">Tiểu Sử Vắn Tắt Bardor Tulku Rinpoche Thứ Ba (1949 - 2021)</span></i></a></p>
<div>
<hr />
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20BARDOR%20TULKU%20RINPOCHE%20TH%E1%BB%A8%20BA.docx#_ftnref1">[1]</a> Terchen Barway Dorje (1836 - 1920), một học trò <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân thiết</span> của Đức Chokgyur Lingpa. Trụ xứ gốc của Ngài là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Surmang thuộc Karma Kagyu. Ngài có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> Terma và cũng có tầm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảnh hưởng</span> trong việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giữ gìn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> của trường phái Barom Kagyu. Terchen Barway Dorje là anh trai của Bà Dege, vị phối ngẫu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> của Đức Chokgyur Lingpa. Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phụng sự</span> Đức Chokgyur Lingpa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> khi vị này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span>.</em></p>
</div>
<div>
<p style="text-align: justify;"><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20BARDOR%20TULKU%20RINPOCHE%20TH%E1%BB%A8%20BA.docx#_ftnref2">[2]</a> Bardor Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span> vào thứ Năm ngày 01/4/2021 lúc 4h38 chiều giờ EDT [tức 3h38 sáng thứ Sáu ngày 02/04/2021 giờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Việt Nam</span>].</em></p>
</div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/karma-kagyu/tieu-su-van-tat-bardor-tulku-rinpoche-thu-ba-1949-2021/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Đức Yongey Mingyur Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-yongey-mingyur-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-yongey-mingyur-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 15 Feb 2017 14:25:10 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Karma Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Karma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7270</guid>
		<description><![CDATA[Đức Yongyey Mingyur Rinpoche sinh năm 1975 tại một ngôi làng nhỏ thuộc rặng Himalaya gần biên giới Nepal và Tây Tạng, là con trai của bậc Đạo sư đáng kính Tulku Urgyen Rinpoche, Đức Mingyur Rinpoche đã sớm hướng đến một cuộc sống tĩnh lặng ngay khi còn nhỏ và thường trốn đến thiền tập ở các hang động&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-yongey-mingyur-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đức Yongyey Mingyur Rinpoche sinh năm 1975 tại một ngôi làng nhỏ thuộc rặng Himalaya gần biên giới Nepal và Tây Tạng, là con trai của bậc Đạo sư đáng kính Tulku Urgyen Rinpoche, Đức Mingyur Rinpoche đã sớm hướng đến một cuộc sống tĩnh lặng ngay khi còn nhỏ và thường trốn đến thiền tập ở các hang động xung quanh ngôi làng. Tuy nhiên, trong những năm tháng tuổi thơ đầu đời, Đức Mingyur Rinpoche đã phải chịu đựng những cơn hoảng loạn suy nhược khiến Ngài mất đi khả năng tương tác với mọi người hay sự vui thú với cảnh vật xung quanh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm lên 9 tuổi, Đức Mingyur Rinpoche đã rời đến Nagi Gonpa, một nơi ẩn tu nhỏ thuộc ngoại ô thung lũng Kathmandu để học thiền với cha Ngài. Trong khoảng gần 3 năm, Đức Tulku Urgyen đã hướng dẫn Ngài tu tập giáo lý Đại Thủ Ấn và Đại Viên Mãn thâm diệu, những giáo lý được xem là bí mật và chỉ được giảng dạy cho những hành giả cao cấp. Suốt thời gian này, cha Ngài đã truyền dạy một cách ngắn gọn cho cậu con trai nhỏ tuổi và sau đó gửi Ngài đi thiền tập cho đến khi Ngài đạt được những kinh nghiệm trực tiếp của giáo lý.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm 11 tuổi, Đức Mingyur Rinpoche đã được thỉnh cầu tới ở tại Tu viện Sherab Ling thuộc miền Bắc Ấn Độ, trụ sở của Đức Tai Situ Rinpoche và một trong những tu viện quan trọng nhất của truyền thống Kagyu. Trong lúc đó, Ngài đã tu học các giáo lý mà Đại dịch giả Marpa đã mang đến Tây Tạng, cũng như các nghi quỹ của truyền thừa Karma Kagyu, cùng với vị Thầy hướng dẫn nhập thất của Tu viện, Đức Lama Tsultrim. Ngài đã được Đức Tai Situ tấn phong là vị Hóa thân thứ 7 của Đức Yongey Mingyur Rinpoche năm lên 12 tuổi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Đức Yongey Mingyur Rinpoche</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Khóa nhập thất 3 năm</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi Đức Mingyur Rinpoche 13 tuổi, Ngài đã thỉnh cầu cha Ngài là Đức Tulku Urgyen Rinpoche và Đức Tai Situ Rinpoche cho phép tham gia khóa nhập thất truyền thống 3 năm, bắt đầu thực hiện tại Tu viện Sherab Ling. Một người còn quá nhỏ tuổi mà có một lời thỉnh cầu như vậy quả là một điều lạ thường nhưng cả hai vị đều đồng ý và chẳng bao lâu Đức Mingyur Rinpoche bắt đầu việc nhập thất dưới sự hướng dẫn của Đức Saljey Rinpoche, một thiền sư có học vấn uyên bác và kinh nghiệm thâm sâu đã dành toàn bộ nửa sau cuộc đời để nhập thất nghiêm mật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong suốt 3 năm tiếp theo, Đức Mingyur Rinpoche đã thực hành pháp các pháp tu Sơ khởi và Giai đoạn Phát triển dành cho những hành giả cao cấp bằng việc sử dụng sự quán tưởng và những âm thanh linh thiêng để chuyển đổi quá trình nhận thức thông thường và cuối cùng là Giai đoạn Hoàn thiện, bao gồm làm việc với năng lượng vi tế của cơ thể và Thiền Đại Thủ Ấn, một phương cách thực hành cho phép hành giả trải nghiệm trực tiếp bản tánh của tâm. Sự tinh tấn siêu việt mà Đức Mingyur Rinpoche đã minh chứng trong suốt kỳ nhập thất đã dẫn đến kết quả Ngài đạt được cấp độ phi thường trong việc làm chủ tâm trí và cảm xúc. Tại thời điểm này, khi lần đầu tiên Ngài khám phá ra cách mà thiền có thể được sử dụng để đối trị, chuyển hóa với những vấn đề cảm xúc đầy thách thức, Ngài đã hoàn toàn vượt qua được cơn hoảng loạn suy nhược tinh thần đã khiến Ngài gặp nhiều khó khăn khi còn nhỏ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi Đức Yongey Mingyur Rinpoche hoàn thành kỳ nhập thất 3 năm thì vị Thầy kính yêu của Ngài Đức Saljey Rinpoche cũng viên tịch, vị trí quản lý của Ngài tại Tu viện Sherab Ling bị bỏ trống. Để thay thế vị trí của Ngài, Đức Tai Situ Rinpoche đã bổ nhiệm Đức Mingyur trở thành vị Thầy hướng dẫn các khóa nhập thất tiếp theo của Tu viện, trao trách nhiệm cho Ngài hướng dẫn giúp đỡ tăng ni, trong đó có những hành giả lâu năm về những vướng mắc trong kỳ nhập thất 3 năm. Đức Mingyur Rinpoche khi đó mới 17 tuổi là một trong những vị Lama trẻ tuổi nhất từng giữ vị trí này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Coi sóc Tu viện Sherab Ling</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đức Mingyur Rinpoche tiếp tục thọ nhận các trao truyền quan trọng từ cha Ngài và Đức Khenchen Thrangu Rinpoche, một vị Lama quan trọng thuộc truyền thống Kagyu. Năm lên 19 tuổi, Ngài đã đăng ký vào Trường Dzongsar, tại đây, dưới sự kèm sát của Đức Khenpo Kunga Wangchul lừng danh, Ngài đã học các chủ đề chính yếu của truyền thống Phật học, bao gồm triết học Con đường Trung Đạo và logic Phật giáo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm hai mươi tuổi, Ngài được Đức Tai Situ Rinpoche giao phó làm Tu viện trưởng Tu viện Sherab Ling. Trong vai trò mới, Ngài đã có công trong việc thiết lập một học viện mới tại Tu viện này. Tại đây Ngài làm trợ giảng trong thời gian thực hiện nhiệm vụ của mình, làm vị thầy hướng dẫn nhập thất cho kỳ nhập thất ba năm ba tháng. Trong suốt giai đoạn này, kéo dài cho đến khi Ngài hai mươi lăm tuổi, Đức Mingyur Rinpoche thường lưu lại thực hiện khóa nhập thất ngắn từ 1 đến 3 tháng trong khi tiếp tục giám sát các hoạt động của Tu viện Sherab Ling. Khi Ngài hai mươi ba tuổi, Ngài đã thọ nhận sự tấn phong từ Đức Tai Situ Rinpoche.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Những trao truyền quan trọng</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong giai đoạn này, Đức Mingyur Rinpoche đã thọ nhận trao truyền Dzogchen quan trọng từ Đức Nyoshul Khen Rinpoche vĩ đại, một bậc Thầy lừng danh của truyền thống Nyingma. Tổng cộng một trăm ngày, kéo dài trong nhiều năm. Đạo sư vĩ đại này đã trao truyền “dòng khẩu truyền" của Tâm Yếu của Đại Viên Mãn. Những giáo huấn về cắt đứt (trekcho) và vượt qua (tögal) của dòng truyền thừa Dzogchen là cực kỳ bí mật và chỉ có thể được truyền cho một người vào một thời điểm. Giống như Ngài đã nghiên cứu tu học với cha mình trước đây, Đức Mingyur Rinpoche đã thọ nhận được chỉ dẫn tu thiền đầy đủ và chỉ quay trở lại để thọ nhận thêm giáo lý một khi Ngài đã trực tiếp kinh nghiệm được những gì được dạy trước đó. Đây là cách thức giáo lý quý hiếm được gọi là "hướng dẫn theo kinh nghiệm".</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong những năm sau đó, ngoài các chủ đề quan trọng khác, Đức Mingyur Rinpoche tiếp tục học năm môn truyền thống của truyền thống Phật giáo (Trung Đạo, Bát nhã, Vi Diệu Pháp, Lượng, và Luật). Ngài cũng tiếp tục tinh luyện sự tỉnh giác thiền định thông qua tu tập hàng ngày và nhập thất ẩn cư định kỳ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cho đến ngày nay, Đức Mingyur Rinpoche tiếp tục việc nghiên cứu và thiền định của mình. Gần đây hơn, Ngài thọ nhận những trao truyền Dzogchen quan trọng từ Đức Kyabje Trulshik Rinpoche, bao gồm cả các giáo lý được kiết tập theo truyền thống Nyingma (Nyingma Kama) và Tâm Yếu Bốn Tập (Nyingtik Yabshi). Ngài cũng tham gia trao truyền Kho tàng Giáo lý quý báu của Đức Jamgon Kongtrul (Rinchen Terdzö) và Kho tàng chỉ dẫn (Damngak dzo), diễn ra tại Tu viện Sherab Ling.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Phật Pháp và Khoa học</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngoài nền tảng rộng lớn của mình trong thiền và triết học Phật giáo, Đức Mingyur Rinpoche đã dành sự quan tâm cả đời cho tâm lý học, vật lý học và thần kinh học. Ngay từ khi còn nhỏ, Ngài đã bắt đầu một loạt các cuộc thảo luận không chính thức với nhà thần kinh học nổi tiếng Francisco Varela, người đã đến Nepal để học thiền với cha Ngài, Đức Tulku Urgyen Rinpoche. Nhiều năm sau đó, vào năm 2002, Đức Mingyur Rinpoche và một số các thiền sinh tu tập dài hạn khác đã được mời đến Phòng thí nghiệm Waisman về hình ảnh và ứng xử của não bộ tại Đại học Wisconsin theo yêu cầu của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Ở đó, Richard Davidson, Antoine Lutz, và các nhà khoa học khác nghiên cứu những ảnh hưởng của thiền định trên não của thiền sinh cao cấp. Các kết quả của nghiên cứu đột phá này đã được báo cáo trong nhiều ấn phẩm được đọc nhiều nhất trên thế giới, bao gồm cả </span><i><span style="font-weight: 400;">National Geographic and Time</span></i><span style="font-weight: 400;">. Những nghiên cứu tiếp theo được thực hiện tại Đại học Harvard, MIT, và các trung tâm nghiên cứu quan trọng khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đức Mingyur Rinpoche tiếp tục dồn hết tâm trí của mình với nghiên cứu này và góp phần tích cực vào các cuộc đối thoại sôi động giữa khoa học phương Tây và Phật giáo. Ngài là một nhà tư vấn cho Viện Tâm thức và Đời sống và tham gia với tư cách đối tượng nghiên cứu trong việc nghiên cứu liên tục tác dụng sinh lý và thần kinh của thiền định.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phong cách giảng dạy của Đức Mingyur Rinpoche ảnh hưởng sâu sắc bởi kiến thức khoa học. Ngài đặc biệt nổi tiếng với khả năng làm phong phú và dễ hiểu với những trình bày của Ngài về hiểu biết và thực hành cổ xưa của Phật giáo Tây Tạng với những phát hiện của khoa học hiện đại. Chính hy vọng rằng mối quan hệ đang phát triển giữa các lĩnh vực dường như khác nhau này sẽ mang lại kiến ​​thức quan trọng để giúp chúng ta nhận ra tiềm năng đầy đủ của con người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Các hoạt động</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngoài gánh vác trọng trách tại Tu viện Sherab Ling, Đức Mingyur Rinpoche còn là Tu viện trưởng của Tu viện Tergar Osel Ling tại Kathmandu, Nepal và Tu viện Tergar Rigzin Khachö Targyé Ling tại Bodhgaya, Ấn Độ. Ngài cũng thường xuyên giảng dạy tại châu Âu, Bắc Mĩ, Nam Mĩ và châu Á, tại đây Ngài cũng dẫn dắt một số lượng các Nhóm và Trung tâm Thiền Tergar</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đức Mingyur Rinpoche là một tác giả được thế giới tôn vinh. Cuốn sách đầu tiên của Ngài “Sống một đời vui” nằm trong danh sách những cuốn sách bán chạy nhất thế giới trên tờ New York Times và được dịch sang 20 thứ tiếng. Cuốn sách thứ hai, “Trí tuệ hoan hỷ” khám phá cảm xúc và các tình huống trong cuộc sống có thể được sử dụng như các tảng đá kê bước chân để khám phá niềm vui và tự do. Cuốn sách mới nhất của Đức Mingyur Rinpoche là một cuốn sách tranh dành cho trẻ con với nhan đề </span><i><span style="font-weight: 400;">Ziji: The Puppy that Learned to Meditate.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một trong những niềm đam mê lớn nhất của Đức Mingyur Rinpoche là đem thực hành thiền tới mọi người ở tất cả các địa vị trong xã hội. Ngài đang làm việc cùng với những người chuyên nghiệp từ các ngành nghề khác nhau để làm cho sống một đời vui nhập thất thích nghi trong nhiều bối cảnh khác nhau, bao gồm bệnh viện, trường học, nhà tù và đào tạo lãnh đạo. Như là một phần của sự nỗ lực này, Ngài đang phát triển các chương trình để đào tạo các trợ giáo và các cố vấn viên để giảng dạy thực hành thiền trong các bối cảnh khác nhau.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đầu tháng 6, năm 2011, Đức Mingyur Rinpoche đã rời khỏi tu viện của Ngài ở Bodhgaya, Ấn Độ để bắt đầu một giai đoạn nhập thất ẩn cư kéo dài. Vào tháng 11 năm 2015, Đức Mingyur Rinpoche đã xuất hiện trở lại sau 4 năm nhập thất ẩn cư. Hiện tại, Ngài đang giảng dạy các đệ tử thuộc tu viện và các phật tử phương Tây trên khắp thế giới.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Nguồn: http://tergar.org/meditation/why-meditate/</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Việt ngữ: Sonam Lhamo (Nhóm Viet Rigpa Lotsawas)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hiệu đính: Giác nhiên</span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với  Đức Yongey Mingyur Rinpoche đều được Ngài dẫn dắt liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này cầu mong Ngài sớm quang lâm đến Việt nam.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-yongey-mingyur-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nhân duyên giữa Đức Karmapa và Quan Vũ</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/7228/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/7228/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 11 Feb 2017 07:02:28 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Karma Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Karma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Karma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7228</guid>
		<description><![CDATA[  Thần hộ pháp Sangharama, còn được biết đến với tên gọi Quan Vũ hay Quan Công, là một vị thần của Trung Quốc và cũng là một trong những vị hộ pháp của Tu viện Tsurphu của Đức Karmapa ở Tây Tạng. Sự kết nối giữa Sangharama và dòng truyền thừa Karmapa bắt đầu khi Đức Karmapa thứ 5,&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/7228/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p id="yui_3_16_0_ym19_1_1486795454852_1933" style="text-align: justify;"> <img class="wp-image-1509 aligncenter" src="/wp-content/uploads/16508277_342993496094290_208848679507507576_n-200x300.jpg" alt="16508277_342993496094290_208848679507507576_n" width="328" height="492" /></p>
<div>
<div id="yiv8599579148ygrp-mlmsg">
<div id="yiv8599579148ygrp-msg" style="text-align: justify;"></div>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thần hộ pháp Sangharama, còn được biết đến với tên gọi Quan Vũ hay Quan Công, là một vị thần của Trung Quốc và cũng là một trong những vị hộ pháp của Tu viện Tsurphu của Đức Karmapa ở Tây Tạng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự kết nối giữa Sangharama và dòng truyền thừa Karmapa bắt đầu khi Đức Karmapa thứ 5, Deshin Shekpa, đi vân du sang Trung Quốc theo lời mời của hoàng đế Chu Lệ nhà Minh. Trong chuyến đi này, Đức Karmapa đã ban nhiều quán đảnh và giáo pháp, và hoàng đế đã trở thành một đệ tử thuần thành của Đức Karmapa. Những hoạt động này đã được chứng kiến bởi Sangharama (Quan Vũ), vị thần địa phương sống trên một ngọn núi Sangharama đã quyết định đi theo Ngài Deshin Shekpa về tu viện Tsurphu ở Tây Tạng. Khi họ trở về Tsurphu, Sangharama cần một nơi để ở, vì vậy Đức Karmapa đã ban cho ông một ngọn núi ở phía sau tu viện Tsurphu. Ngọn núi này được biết đến với tên gọi "Ngọn núi của vị thần Trung Quốc", và Sangharama trở thành một trong những vị hộ pháp của tu viện Tsurphu.</span></p>
<p class="yiv8599579148_1mf yiv8599579148_1mj" style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/16708340_1547400128610976_7267074471475832681_n.jpg"><img class="  wp-image-7241 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/16708340_1547400128610976_7267074471475832681_n-166x300.jpg" alt="16708340_1547400128610976_7267074471475832681_n" width="313" height="566" /></a></p>
<div id="yiv8599579148ygrp-msg">
<div id="yiv8599579148ygrp-text" style="text-align: justify;">
<p><span style="font-weight: 400;">Một thời gian sau, Đức Karmapa đã bắt đầu truyền thống ban truyền thực hành Hộ pháp Sangharama vào ngày thứ 2 của lễ Losar hoàng năm. Bởi vì Sangharama là một vị Hộ Pháp thế tục, nghi lễ sẽ không được thực hiện bên trong chánh điện mà thay vào đó sẽ được thực hiện hàng năm ở sân bên ngoài chánh điện ở tu viện Tsurphu.</span></p>
</div>
<p class="yiv8599579148_1mf yiv8599579148_1mj" style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/16681870_1547401008610888_6549314902326519879_n.jpg"><img class="  wp-image-7242 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/16681870_1547401008610888_6549314902326519879_n-209x300.jpg" alt="16681870_1547401008610888_6549314902326519879_n" width="320" height="459" /></a></p>
<div id="yiv8599579148ygrp-text">
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đức Karmapa và đoàn tùy tùng của Ngài, chẳng hạn như các đệ tử thân cận và vị đầu bếp, sẽ thực hiện nghi lễ. Bởi Sangharama đến từ Trung Quốc nên nhiều thành phần của buổi lễ, như là hương nhang, trà, bàn ghế và pháo hoa cũng theo truyền thống của Trung Quốc. Khi Đức Karmapa thứ 16, Rangjung Rigpe Dorje, chạy trốn khỏi Tây Tạng vào năm 1959, thì bản văn về thực hành Sangharama bị thất lạc và tính liên tục của nghi lễ thực hành đã bị gián đoạn. Để duy trì thực hành này, Đức Karmapa 17 đã soạn ra một nghi lễ mới về Sangharama và đó chính là nghi lễ được tiến hành ngày hôm nay (11/2/2016).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Nguồn:http://kagyuoffice.org/ritual-for-the-protector-sangharama/</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">(*) Quan Vũ là một vị tướng thời Tam Quốc, sau khi chết tái sinh làm một vị trời ở địa phương. Ông đã xin quy y Tam bảo và thọ Ngũ giới với thiền sư Trí Khải (thế kỷ thứ 6) và được ngài chấp thuận. Từ đó Quan Vũ trở thành một vị thần hộ pháp cho Phật giáo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=462796880548493&amp;id=422307997930715</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">(*) Đến thời nhà Minh, Đức karmapa thứ 5 Deshin Shekpa đã sang hoằng pháp ở Trung Quốc và thực hiện vô số phép thần thông kỳ diệu lạ lùng để nhiếp phục Hoàng đế Trung Quốc.</span></p>
</div>
</div>
</div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/7228/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Các đời Hóa thân của Đức Jamgon Kongtrul</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/cac-doi-hoa-than-cua-duc-jamgon-kongtrul/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/cac-doi-hoa-than-cua-duc-jamgon-kongtrul/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 15 Sep 2016 08:33:07 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Karma Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Karma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7010</guid>
		<description><![CDATA[Jamgon Kongtrul Lodro Thaye thứ nhất (1813-1899): Sinh ở vùng Đông Thượng Tây Tạng. Ngày ngài sinh ra đời có rất nhiều điều kì diệu báo hiệu rằng ngài là hoá sinh của một bậc giác ngộ lớn. Ngài được coi là hoá thân của Lopon Vairotsana. Lopon Vairotsana là một trong các đệ tử của Guru Rinpoche, một học&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/cac-doi-hoa-than-cua-duc-jamgon-kongtrul/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong>Jamgon Kongtrul Lodro Thaye thứ nhất (1813-1899): </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">S</span>inh ở vùng Đông Thượng Tây Tạng. Ngày ngài sinh ra đời có rất nhiều điều kì diệu báo hiệu rằng ngài là hoá sinh của một bậc giác ngộ lớn. Ngài được coi là hoá thân của Lopon Vairotsana. Lopon Vairotsana là một trong các đệ tử của Guru Rinpoche, một học giả và dịch giả giác ngộ. Một trong những dấu hiệu của sự thành tựu giác ngộ của ngài là khi ngài qua đời, thân của ngài biến thành cầu vồng, ngài là một trong những hành giả đầu tiên của Tây Tạng đạt thân cầu vồng. Đức Phật thọ ký về sự ra đời của Jamgon Lodro Thaye trong kinh Larkauatara. Jamgon Kongtul Lodro Thaye còn là hoá thân của hành giả trong thời của Đức Phật Shakyamuni. Tái sinh của Ngài sẽ bắt đầu ở Tây Tạng. Mỗi tái sinh đều là những học giả uyên bác và là bậc giác ngộ. Ngài đã đóng góp tích cực để Phật giáo Tây Tạng được truyền đi rộng khắp.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Jamgon1.jpg"><img class="  wp-image-7011 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Jamgon1-195x300.jpg" alt="jamgon1" width="286" height="440" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Trong thời gian tu tập, ngài chứng tỏ mình là một học giả nhiệt tâm và thành thạo các giáo huấn Kim Cang Thừa. Ngài sau đó đi hành hương khắp Tây Tạng để truyền giảng giáo pháp và nhận sự truyền pháp từ tất cả các bậc thầy giác ngộ của bốn truyền thừa chính ở Tây Tạng. Tuy vậy, ngài chú trọng và tập trung nhiều ở truyền thừa gốc của ngài là Dòng Kagyu.</p>
<p style="text-align: justify;">Jamgon Kongtrul Lodroo Thaye là nhà biên soạn sách, ngài đã biên soạn các pháp tu của các bậc thầy nổi tiếng khác. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ngài là “Năm kho báu” bao gồm các bài luận dễ hiểu và giá trị, tác phẩm giúp người đọc hiểu biết hơn về lịch sử Phật Giáo Tây Tạng. Ngài giữ gìn và bảo vệ những giáo lý vô giá theo đúng như những hướng dẫn gốc khi pháp được trao truyền, trách nhiệm này đã khiến ngài trở thành bậc thầy bất bộ phái vĩ đại nhất trong Phật Giáo Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Jamgon Kongtrol Lodro Thaye trở thành một trong những người nắm giữ truyền thừa của dòng Karma Kagyu, và là thầy gốc của Đức Karmapa thứ 15, Khakhyab Dorje. Trong chuyến viếng thăm tới Tsandra Rinche ở Palpung, Khakhyab Dorje và Jamgon Kongtrul Lodro Thaye có cảm giác đây là sẽ là lần gặp gỡ cuối cùng, trước khi Khakyab Dorje rời Tsandra Rinche, ngài đã tụng nhiều bài nguyện cầu trường thọ tới Jamgon Kongtrul Lodro Thaye. Đức Karmapa cũng thỉnh cầu ngài sẽ tái sinh trong gia đình của Karmapa và lời thỉnh cầu này được chấp thuận. Năm 87 tuổi, Jamgon Kungtrul  thâm nhập pháp thân hào quang vào ngày 27 tháng 11 năm heo đất (tháng 1 năm 1899)</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Jamgon Kongtrul Rinpoche thứ 2 ( Palden Khuyentse Oser) </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sinh ra là con trai của Karmapa thứ 15 Khakhyab Dorje trong vườn Samdrub Choling ở Dowolung Tsurphu. Ngài là bậc thầy của kinh điển và mật chú, đặc biệt là giáo lý “5 Kho Báu”, “Con Đường Giải Thoát”, nhấn mạnh đến Đại Thủ Ấn bởi vì giáo lý Đại Thủ Ấn giải thích rất rõ giáo pháp dòng Kamtsang Kagyu. Khuyentse ozer đạt được sự giác ngộ của dòng truyền thừa và trở thành người nắm giữ truyền thừa Kamtsang Kagyu và là đạo sư gốc của Đức Karmapa thứ 16. Ngài nhiều lần truyền quán đảnh và khẩu truyền của truyền thừa cổ mật và hiện đại như là Rinchen Ter Dzo và ngài cũng cho xây dựng lại trung tâm nhập thất ở Tsandra Rinchen Drak ( nằm ở tu viện Palpung, và chăm lo mọi nhu cầu của trung tâm nhập thất).</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/040_2nd-Jamgon_jam-mgon-mkhyen-brtse-od-zer.jpg"><img class="  wp-image-7012 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/040_2nd-Jamgon_jam-mgon-mkhyen-brtse-od-zer-200x300.jpg" alt="040_2nd-jamgon_jam-mgon-mkhyen-brtse-od-zer" width="342" height="513" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Trong những ngày cuối cùng khi Jamgon Kongtrul thứ hai trở nên bệnh yếu, ngài nói với học trò và cũng là Omze Kanjam, ngài sẽ tái sinh ở miền trung Tây Tạng. Sau khi truyền đạt như vậy, học trò của ngài trở nên vô cùng lo lắng và muốn biết thêm về tái sinh của ngài. Jamgon Kongtrul trả lời họ và truyền đạt thêm rằng ngài hoàn toàn tin tưởng Đức Karmapa sẽ thực hiện những điều cần thiết để tìm thấy tái sinh của ngài. Năm 1953, Trước khi Jamgon Kongtrul viên tịch, ngài tưởng nhớ đến đạo sư gốc của ngài, Đức Karmapa thứ 15, ngài gọi tên thầy và chậm rãi với một nụ cười ngài qua đời.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài ngưng thị hiện vào ngày 10 tháng 5 1952, khi ấy ngài đã thành tựu vô vàn những phật sự nhằm lợi lạc giáo pháp và chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Jamgon Kongtrul thứ 3(Lodro Chokyi Senge) (1954-1992)</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Như lời tiên tri của Jamgon Kongtrul Palden Khuyetnse Oser, Jamgon Kongtrul Lodro Chokyi Senge sinh ra ở miền trung Tây Tạng năm 1954, Karmapa thứ 16 nhận ra ngài và truyền một bức thư công nhận. Đức Dalai Lama và Karmapa thứ 16 Rạngung Rigpe Dorje đã cùng tìm ra ngài và tấn phong ngài là Jamgon Kongtrul thứ 3</p>
<p style="text-align: justify;">Khi ngài được 6 tuổi ngài nhận lễ tấn phong do Karmapa thứ 16 cử hành ở tu viện Rumteck ở Sikkim. Như các đời trước, Ngài nghiên cứu kinh sách và nhận quán đảnh, khẩu truyền và hướng dẫn thực hành. Ngài trở thành trưởng tử của Karmapa thứ 16. Ngài giữ cái thấy trong sáng rằng Karmapa 16 là một vị Phật, bất cứ điều gì Karmapa nói ngài cũng thấy đó là xác thực, Bất cứ điều gì Karmapa làm ngài cũng nhìn thấy đó là việc tốt lành. Tâm của hai người đã hoà làm một.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/3rd-Jamgon-Kongtrul-Rinpoche.jpg"><img class="  wp-image-7013 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/3rd-Jamgon-Kongtrul-Rinpoche-205x300.jpg" alt="3rd-jamgon-kongtrul-rinpoche" width="321" height="470" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Khoảng 3000 học trò từ Ấn Độ, Nepal, Bhutan, Sikkim, Tây Tang, Phương Tây và Phương Đông trên khắp thế giới đã nhận giới sadi và giới xuất gia từ Jamgon Kongtrul. Ngài đã thành lập các tu viện với những vị tu sĩ mặc áo vàng và buông bỏ thế tục, ngài trở thành người trì giữ và truyền trao Giới luật Vinaya.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1992, Khi ngài 39 tuổi, do những trở ngại trong cuộc đời của ngài, cũng là một trở ngại to lớn của giáo pháp, và do phước đức yếu kém của chúng sinh, tâm của ngài hoà vào pháp thân. Nhưng khi Bồ Tát thành tựu Bồ Đề Tâm, và khi họ không còn che chướng bởi nghiệp, họ được cho là có khả năng tái sinh trở lại theo ý nguyện. Jamgon Kongtrul chắc chắn là đã thành tựu giáo pháp của Đức Phật và đặc biệt giáo pháp của truyền thừa Karma Kagyu.</p>
<p style="text-align: justify;">Jamgon Kongtrul thứ 3 là một hành giả, đạo sư, người hướng dẫn và một con người mẫu mực. Những gì ngài làm cho giáo pháp và chúng sinh được trải rộng khắp Châu Âu và Châu Á. Lòng sùng mộ của ngài tới đạo sư gốc là Karmapa 16 là toàn hảo và là một hình mẫu cho sự gắn kết giữa thầy và trò.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Jamgon Kongtrul đời thứ 4 (Migyur Drakpa Senge) </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sinh ra vào ngày 17 tháng 12 năm 1995 tại Kathmandu, là con trai của Beru Khuyentse Rinpoche. Vào ngày ngài ra đời, Ngài Choye Trichen Rinpoche quá cố nói trước rất nhiều lạt ma và lạt ma tái sinh: “như đã được tiên đoán” “ngày hôm nay Jamgon Rinpoche sẽ đến (xuất hiện)”</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1996, Khi Karmapa Trinley Thaye Dorje 17, hành hương tới Bodhgaya, Khi ngài gặp Jamgon Rinpoche trẻ truổi lần đầu tiên, Yangsi Rinpoche dù còn quá nhỏ nhưng ngài có thể liên tục nhặt những hạt gạo và tung lên trời tượng trưng cho việc cúng dường mandala tới Karmapa. Ngay lập tức Karmapa tuyên bố: “Đây đích thực là tái sinh của Jamgon rồi” Sau đó ngài viết lá thư công nhận và đặt tên cho cậu bé là Karma Migyur Drakpa Senge Trinley Kunkhyab Palsangpo.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1998, Khi Đức Dalai Lama tới thăm Bodhgaya, Yangsi Rinpoche có buổi gặp gỡ riêng với ngài, Khi mọi người trình bức thư công nhận tái sinh, Đức Dalai Lama thứ 14 đã cử hành buổi lễ xuống tóc cho Jamgon Yangsi thứ 4.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/4th-Jamgon-Kongtrul-Rinpoche.jpg"><img class="  wp-image-7014 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/4th-Jamgon-Kongtrul-Rinpoche-199x300.jpg" alt="4th-jamgon-kongtrul-rinpoche" width="374" height="564" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Năm 2000, Drubwang Pema Norbu (Penor Rinpoche) được mời tới tu viện ở Bodhaya, Ngài đã cử hành lễ tấn phong lớn và sâu sắc cho Jamgon Kongtrul Rinpoche, và một lần nữa ngài khẳng định Jamgon Yangsi là tái sinh của Jamgon Kongtrul Lodro Thaye vĩ đại.</p>
<p style="text-align: justify;">Kể từ khi năm tuổi, ngài bắt đầu học, ghi nhớ giáo lý và nghi lễ, thực hành theo truyền thừa Kagyu. Từ năm 14 tuổi, ngài tới ở trong viện tu học phật giáo nơi ngài nghiên cứu kinh sách và triết học phật giáo. Ngài nhận rất nhiều quán đảnh kim cương thừa, chủ yếu là từ dòng Karma Kagyu  và các pháp tu guru khác. Ngài cũng nhận các kĩ thuật rèn luyện, quán đảnh, khẩu truyền về Đại Thủ Ấn</p>
<p style="text-align: justify;">Gần đây, ngài đi khắp các nơi trên thế giới, giảng pháp và chia sẻ sự hiểu biết của ngài và truyền cảm hứng tới các học trò để thực tập pháp.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Thư Viện Karma Kagyu</strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/cac-doi-hoa-than-cua-duc-jamgon-kongtrul/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử của Đức Sang Sang Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-cua-duc-sang-sang-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-cua-duc-sang-sang-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 17 Dec 2015 13:37:10 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Karma Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Karma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6519</guid>
		<description><![CDATA[Đức Trulshik Rinpoche &#38; Đức Sang Sang Rinpoche Đức Sang Sang Rinpoche sinh năm 1959. Thân phụ của Ngài là Passang Gonpo, thân mẫu của Ngài Youdon. Khi ở độ tuổi còn rất nhỏ Ngài đã có những linh kiến về những kiếp trước, Ngài đã nhớ và mô tả lại rất rõ nét về kiếp trước của Ngài khi đang&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-cua-duc-sang-sang-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;">Đức Trulshik Rinpoche &amp; Đức Sang Sang Rinpoche</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Sang Sang Rinpoche sinh năm 1959. Thân phụ của Ngài là Passang Gonpo, thân mẫu của Ngài Youdon. Khi ở độ tuổi còn rất nhỏ Ngài đã có những linh kiến về những kiếp trước, Ngài đã nhớ và mô tả lại rất rõ nét về kiếp trước của Ngài khi đang trong tư thế thiền định và tụng chú.</p>
<p style="text-align: justify;"><img class="  wp-image-6522 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/384030_286511239570_1459972026_n-230x300.jpg" alt="384030_286511239570_1459972026_n" width="405" height="528" /></p>
<p style="text-align: center;">Đức Sang Sang Rinpoche</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi nhìn thấy những dấu hiệu kì lạ này, cha mẹ Ngài đã thông báo cho Nhiếp chính Vương Dhephuk Rinpoche. Sau khi kiểm chứng cẩn thận, Nhiếp Chính Vương đã thỉnh cầu đến Đức Pháp Vương Gyalwang Karmapa đời thứ 16 và Đức Trulshik Rinpoche. Bởi vậy Ngài đã được xác nhận ấn chứng không thể nhầm lẫn là Hóa thân của Lama Tenzin Choedhar, một hành giả mật thừa người đã đạt thành tựu về những thực hành tâm linh vô cùng vĩ đại và là đệ tử của Đức Trulsik Rinpoche đời trước và là Cha của Đức Trulsik Rinpoche đời hiện tại. Vào năm 1965, Đức Trulshik Rinpoche và Nhiếp Chính Vương Dhephuk Rinpoche đã tổ chức lễ tấn phong cho Ngài tại Singe Phuk, một thánh địa linh thiêng của Đức Liên Hoa Sinh ở Solukhumbhu, Nepal.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong vài năm, Ngài đã học các môn học cơ bản khác nhau như đọc và viết từ hai vị Thầy tôn kính là Ngawang Sangye ở Singe Phuk và Ngawang Tashi ở Phuk Mo Che. Vào thời điểm này, Ngài cũng thọ nhận các giáo lý khác nhau từ những thực hành nền tảng chung cho đến những giáo lý làm chín muồi và Giải thoát thâm diệu từ Đức Trulshik Rinpoche ở Phuk Mo Che và Nhiếp Chính Vương Dhephuk Rinpoche ở Chu Karmo tại Solukhumbhu.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào năm 1968, theo tâm nguyện và lời khuyên của Đức Trulshik Rinpoche, Nhiếp Chính Vương Dhephuk Rinpoche và Tulku Urgyen Rinpoche, Ngài đã du hành đến Tu viện Rumtek, trung tâm nghiên cứu Phật Pháp và vị trí của Đức Pháp Vương Gyalwang Karmapa đời thứ 16 Rangjung Rigpe Dorje. Tại đây, Ngài đã tu học cùng với bốn vị trưởng tử tâm và khoảng 30 vị Tulku và Lama, từ các môn học cơ bản và tổng quát tới các bộ luận Phật Pháp vĩ đại từ năm 1968 đến năm 1979.</p>
<p><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/P1010132.jpg"><img class=" wp-image-6520 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/P1010132-300x225.jpg" alt="OLYMPUS DIGITAL CAMERA" width="536" height="402" /></a></p>
<p style="text-align: center;">Đức Trulshik Rinpoche &amp; Đức Sang Sang Rinpoche</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài đã lần lượt học tất cả các nghi quỹ của Dòng truyền thừa thực hành này như: chơi các nhạc cụ tôn giáo, tụng kinh, nhảy múa và làm bánh Torma...vv. Ngài đã thọ các giới nguyện từ Đức Pháp Vương Karmapa đời thứ 16 như: Biệt giải thoát, Bồ Tát giới, Mật nguyện và rất nhiều các giáo huấn thâm diệu như quán đảnh làm chín muồi dòng tâm thức, luận giảng về trao truyền đọc của các giáo lý thâm diệu gồm có các kho tàng tâm linh vĩ đại của truyền thống Kagyu (Great Secret Treasure of Kagyu)</p>
<p style="text-align: justify;">Cuối cùng, sau khi thực hành theo những gì Ngài đã được nghe, Đức Pháp Vương đã gửi Ngài tới Solukhumbhu, Nepal vào năm 1980, đồng thời ban cho Ngài một bảng đánh giá và một bức thư giới thiệu với một lời khuyên thú vị vì lợi lạc của Phật Pháp và tất cả chúng sinh nói chung và nói riêng.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó, Ngài đã di chuyển tới Nepal để chuyển Bánh Xe Pháp, hoàn thành tâm nguyện lợi sinh. Ngài được bổ nhiệm quản lý Tu viện Choekar Lhundrup Choeling, được thiết lập bởi Nhiếp Chính Vương Dhephuk Rinpoche. Ngài đã ở đó một thời gian rất lâu và hoàn thành tâm nguyện của nhiều người ở đây thông qua việc giảng dạy giáo pháp và nhập thất. Ngài cũng thực hiện rất nhiều khóa nhập thất tại Tu viện Thupten Choeling của Đức Trulshik Rinpoche và giữ trọng trách của một Đạo sư Kim cương của Tu viện trong một thời gian dài. Ngài đã thọ nhận rất nhiều giáo lý toàn diện và thâm diệu của trường phái Nyingma từ Đức Trulshik Rinpoche và Nhiếp Chính Vương Dhephuk Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ Đức Dilgo Khyentse Rinpoche, Ngài đã thọ nhận các giáo huấn vi diệu như trao truyền đọc các bản văn giáo lý Đức Phật (Kagyur), quán đảnh và trao truyền đọc của Bộ sưu tập các phương pháp thực hành (Dubthab Kundue), Truyền thống Chokling Tersa mới, the Treasure of Pith Instruction, the Great Precious Treasure, the Treasury of Vast Teaching and the Six Volumes of Jatson Nyingpo …</p>
<p style="text-align: justify;">Từ Đức Dudjom Rinpoche đời trước, Ngài đã thọ nhận toàn bộ các quán đảnh và trao truyền đọc của Giáo lý Kho báu của Đức Dudjom Rinpoche đời trước và đời sau và từ Tulku Urgyen Rinpoche, Ngài đã thọ nhận các giáo huấn toàn diện như Một trăm Quán đảnh thực hành Pháp Chod. Ngài cũng thọ nhận các giáo lý thâm diệu từ nhiều vị Đạo sư tâm linh cao cấp như Đức Đạt Lai Lạt ma thứ 14 và Đức Pháp Vương Sakya Trizin.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo tâm nguyện của Đức Pháp Vương Shamar Rinpoche và Đức Jamgon Kontrul Rinpoche, sau khi  nhận nhiều lời mời từ Chủ tịch hiệp hội Phật giáo Đông Nam Á, Lama Gelek và những bậc tôn kính khác, vào năm 1986 Đức Sang Sang Rinpoche đã đến các trung tâm Pháp khác nhau ở châu Á gồm có Đài Loan và Hồng Kông nơi đại diện của Tu viện Rumtek. Theo đó, Ngài đã di chuyển đến nhiều quốc gia và thực hiện các hoạt động tâm linh sâu rộng.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ năm 1990, sau khi Nhiếp Chính Vương Dhephuk Rinpoche viên tịch, Ngài đã đảm đương trách nhiệm quản lý Tu viện Choekar Lhundrup Choeling và Pangpo Che Choekhor Yangtse ở Solukhumbhu. Từ năm 1995, Ngài đã đại diện cho Đức Trulshik Rinpoche trong nhiều dịp để chịu trách nhiệm tổ chức lễ hội long trọng Mani Rildrup (Lễ hội dành cho việc làm thuốc Pháp trì chú Mani) được tổ chức tại Tu viện Rong Chiwang Jangchup Choeling tại Lower Solukhumbhu. Ngài vẫn tiếp tục dẫn dắt tổ chức lễ hội này cho đến ngày nay.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài cũng đã du hành đến nhiều quốc gia khác nhau như Đài Loan, Hồng Kông, Malaysia, Indonesia, Singapore, Nga và Mỹ... để giảng dạy và Hoằng dương Phật Pháp và văn hóa Phật giáo đến mọi người.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ năm 1994, nghĩ đến giáo Pháp và lợi lạc của chúng sinh, Ngài đã hoàn thành toàn bộ việc xây dựng Tu viện mới Lhundrup Choeling gần Buddhanilkanta, Narayanthan - Nepal khi nhận được sự hỗ trợ tài chính của những người mộ Đạo trong và ngoài nước. Năm 2000, Nhiếp Chính Vương Kunzig Shamar Rinpoche và Đức Trulshik Rinpoche đã được mời tới lễ tấn phong vị tái sinh của Đức Dhephuk Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/534462_219894608118556_301902800_n.jpg"><img class="  wp-image-6521 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/534462_219894608118556_301902800_n-225x300.jpg" alt="534462_219894608118556_301902800_n" width="384" height="512" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Qua việc tổ chức nghi lễ trọng đại này, Ngài đồng thời có thể thiết lập một Tu viện dành cho tu sĩ và làm phát triển suối nguồn giáo lý và thực hành tu tập Phật Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 2003, Đức Trulshik Rinpoche đã vui vẻ chấp nhận lời mời của Ngài để ban toàn bộ quán đảnh và trao truyền đọc của văn bản gốc Kho tàng Tâm linh vĩ đại, ví dụ như Methods of Practice, the Good Vase of Granting Wish and the Treasure teaching of the former and later Dudjom ... Vì nỗ lực của Ngài, các vị Rinpoche tái sinh như Đức Dilgo Khyentse Rinpoche, Đức Dudjom Rinpoche và Đức Dhephuk Rinpoche cùng hàng nghìn các vị Tulku, Lama, Khenpo, hàng ngàn tăng ni và hơn mười nghìn cư sĩ đã có cơ hội quý giá để thọ nhận các giáo lý thâm diệu dẫn họ đến con đường giải thoát.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài liên tục hoằng truyền các giáo lý Phật Pháp ở khắp nơi, Đức Sang Sang Rinpoche là một Bậc hộ trì giáo lý và không biết mệt mỏi để lợi lạc đến tất cả chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>http://chiwongmonastery.com/component/option,com_easygallery/Itemid,60/act,photos/cid,129/</em></p>
<p style="text-align: justify;">Việt ngữ: Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính: Giác nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với</em><em> </em><em>Đức Sang Sang Rinpoche</em> <em>đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này Ngài sớm quang lâm đến Việt nam</em></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-cua-duc-sang-sang-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Đức Karmapa Rangjung Dorje đời thứ 3</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-karmapa-rangjung-dorje-doi-thu-3/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-karmapa-rangjung-dorje-doi-thu-3/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 07 Nov 2015 06:25:05 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Karma Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Karma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6337</guid>
		<description><![CDATA[Karmapa Rangjung Dorje  (1284-1339) Ngày 8 tháng 1 năm con Khỉ Mộc (1284), hóa thân Karmapa đời thứ ba, Rangjung Dorje, sanh ra ở vùng Tingri miền tây Tây Tạng. Truyền rằng khi sanh ra, mặt trăng bắt đầu lên và đứa bé ngồi dậy, nói : “Trăng đã lên.” Đứa bé tỏ ra khôn sớm một cách lạ thường.&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-karmapa-rangjung-dorje-doi-thu-3/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/407-rangjung-dorje.jpg"><img class="wp-image-6338 size-large aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/407-rangjung-dorje-735x1024.jpg" alt="407 rangjung dorje" width="604" height="841" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><b>Karmapa Rangjung Dorje </b><br />
(1284-1339)</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày 8 tháng 1 năm con Khỉ Mộc (1284), hóa thân Karmapa đời thứ ba, Rangjung Dorje, sanh ra ở vùng Tingri miền tây Tây Tạng. Truyền rằng khi sanh ra, mặt trăng bắt đầu lên và đứa bé ngồi dậy, nói : “Trăng đã lên.”</p>
<p style="text-align: justify;">Đứa bé tỏ ra khôn sớm một cách lạ thường. Một hôm, lên ba tuổi, khi chơi với bạn, nó đòi các bạn làm cho một cái ngai. Xong, em ngồi lên ngai, đội lên đầu một cái mũ đen và tuyên bố mình là Lạt ma Karmapa.</p>
<p style="text-align: justify;">Những tin tức về đứa bé đáng chú ý này liền vang xa, đến tai Lạt ma Urgyenpa. Vị Lạt ma phái Drukpa Kagyu này yêu cầu Rangjung Dorje mới năm tuổi đến gặp ngài. Những phẩm chất tâm linh của em khiến Urgyenpa nghĩ rằng đây chính là hóa thân của Karmapa. Để làm sống lại mối liên kết giữa hai người, Lạt ma Urgyenpa làm lễ nhập pháp Cakra-samvara và Hevajra cho Rangjung Dorje.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự giáo dục và tu hành của vị Karmapa mới bắt đầu từ năm lên bảy, khi ngài được Lạt ma Kunden Sherab cho thọ giới Sadi. Sau đó, ngài được chính thức lên ngôi như là Karmapa ở Tsurphu. Ở đây, ngài tiếp tục tu hành trong mười một năm, nghiên cứu toàn bộ giáo lý của phái Kagyu và Nyingma từ Lạt ma Nyenre Gendrun Bum và Lạt ma Namtshowa. Vị trước xem Rangjung Dorje như là hậu thân của Saraha, vị đại thánh Mật thừa Ấn Độ. Ngài hoàn thành thời kỳ học tập gắt gao này bằng một cuộc ẩn tu thiền định trong vùng phụ cận của Jomo Gangkar “Bà hoàng của tuyết trắng,” mà bây giờ được gọi là ngọn Everest.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm mười tám tuổi, Rangjung Dorje du hành đến đại tu viện Kadampa ở Sangphu, nơi đây, ngài thọ đại giới từ vị trụ trì là Sakya Zhonnu. Ngài ở lại đây một thời gian, học về triết học, luận lý và giới luật. Sự nghiên cứu này gồm Luật tạng, sự chuyển hóa tư tưởng (TT : blo-sbyong), Năm luận của Di Lặc,(1) triết lý Trung Quán, A tỳ đạt ma(2) và kinh Đại Bát Nhã và những luận.</p>
<p style="text-align: justify;">Karmapa đời thứ ba là một sinh viên tạp thực. Dầu còn giữ sự hiểu biết từ các đời trước, ngài cũng tìm hiểu mọi khía cạnh của học vấn đương đại và truyền thống. Ngài nhận sự học vấn từ các học giả thâm sâu thời mình. Một ví dụ cho điều này : một số học vấn ngài nhận được từ Lạt ma Kunga Dondrup đáng chú ý như :</p>
<p style="text-align: justify;">Kalacakra Tantra : nguyên bản và chú giải<br />
Guhyasamaja Tantra<br />
Cakrasamvara : nguyên bản và chú giải<br />
Yamantaka(3)<br />
Vajramala<br />
Hevajra Tantra và chú giải<br />
Samputika(4)<br />
Lời dạy về Guhyagarbha<br />
“Các thần hòa bình và thần hung nộ”(5)<br />
Lời dạy Shi Jaypa của Dampa Sangjay<br />
Lời dạy về Chod của Machig Labdron<br />
Lời dạy Đạo và Quả của phái Sakyapa<br />
Yoga Sadanga về Kalacakra(6)<br />
Văn bản Kanjur và Tanjur(7)<br />
Sự khảo cứu so sánh về triết học Ấn Độ.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi nhận được sự truyền thọ về Kalacakra, ngài có một kinh-nghiệm-thấy là toàn thể vũ trụ như được chứa đựng trong thân thể mình. Cảm hứng bởi điều này, ngài làm một bài văn đầy ấn tượng về thiên văn học.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi thời gian học với Lạt ma Kunga Dondrup đã xong, ngài đi vào một cuộc thiền định mãnh liệt ở lâu đài Garuda, trung tâm ẩn cư gần Tsurphu. Trong thời nhập thất, ngài mơ thấy những lời dạy của triết gia Long Thọ được gởi đến cho ngài do vị thầy quá cố là Urgyenpa.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự nghiên cứu của ngài mở rộng ra đến lãnh vực y học. Từ Lạt ma Bare, ngài nhận được sự giáo dục y học Sowa Rikpa. Sau đó, ngài ở một thời gian với vị trụ trì thông thái Tsultim Rinchen, nhận được nhiều lời dạy, trong đó có :</p>
<p style="text-align: justify;">Guhyasamaja Tantra<br />
Triết lý Trung Quán<br />
Mahamaya (Đại huyễn) Tantra<br />
Lời dạy về Hevajra, từ dòng của Ngok Chodor và Meton Tsonpo(8)<br />
Yamantaka Tantra<br />
Cakrasamvara Tantra.</p>
<p style="text-align: justify;">Về sau, Rangjung Dorje học với Rigdzin Kumararaja, vị giải nghĩa quan trọng nhất về giáo lý yếu tánh (TT : snying-thig) của truyền thống Nyingma. Những giáo huấn này được truyền vào Tây Tạng trong thế kỷ thứ tám bởi pháp sư Vimalamitra, hiển lộ kinh nghiệm trực tiếp về Phật tánh thông qua trí huệ không ô nhiễm. Chúng có một ảnh hưởng lâu dài đối với ngài. Trong thiền định, ngài có một linh kiến thấy Vimalamitra đi vào nơi trán. Hiệu quả của giáo pháp này khiến cho ngài nhập chung trộn lẫn hai giáo pháp Đại Ấn của Kagyupa và Đại Toàn Thiện của Nyingma vào một dòng.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự sâu và rộng trong học vấn của ngài có một tầm mức phù hợp với ý niệm của châu Âu về “con người của thời Phục Hưng” và với quan niệm của Tây Tạng là sự hoạt động của vị Rime (không biên giới) hậu thời. Thâu thập hầu hết giáo lý Phật giáo, các sự thọ pháp và các văn bản đã được truyền vào Tây Tạng, ngài đã truyền thông cái nhìn chứng ngộ của mình trong nhiều văn bản quan trọng. Một trong những tác phẩm hiện còn, đỉnh cao của phái Kagyu là cuốn Nội Nghĩa Thậm Thâm (TT : zab-mo-snang-don), một chú giải vô giá về bản chất của Tantra.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi đã hoàn thành sự nghiên cứu, Rangjung Dorje bắt đầu đi xuyên qua phía nam Tây Tạng, truyền dạy và ban phát các lễ truyền thọ. Ngài dừng lại ở vùng Kongpo trong ba năm. Nhiều người đã nồng nhiệt nghiên cứu giáo pháp nhờ vào sự có mặt gây hứng khởi cũng như danh tiếng là một Pháp sư của ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Danh tiếng ngài lan xa đến nỗi vua Mông Cổ là Togh Temur mời ngài sang thăm. Ngài nhận lời và đi Trung Quốc, nhưng trên đường đoàn phải dừng lại vì thời tiết quá xấu. Mùa Xuân năm sau đoàn lại đi Trung Quốc. Trên đường đi vài điềm triệu xảy ra chỉ cho ngài biết là vua đã băng hà. Trước khi tiếp tục đi, Karmapa đã làm lễ cầu siêu cho nhà vua. Cuối cùng đoàn đến triều đình Tai-ya Tu vào ngày 18 tháng 10 năm con Khỉ Thủy (1332). Ở đấy mới biết quả thật vua Togh Temur đã băng hà vào ngày có những điềm triệu. Tuy nhiên, triều đình và hoàng gia vẫn chào đón ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Karmapa khuyên người em của vua quá cố là Toghon Temur hãy đợi sáu tháng rồi lên ngôi và tiên đoán rằng Toghon Temur sẽ là một quân vương vĩ đại. Ngày 15 tháng 1 năm con Chim Thủy vua lên ngôi trong một buổi lễ lớn do ngài chủ lễ.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm con Chó Mộc, Karmapa hành trình về Tây Tạng để cung cấp cho vua như một quà tặng ít cam lồ trường sanh (tse chu) được Padmasambhava để gần Samye. Trên đường đi, ngài xây dựng nhiều chùa thuộc phái Kagyu. Chùa quan trọng đặc biệt là chùa ở Ngũ Đài Sơn, ngọn núi của đức Văn Thù ở Trung Hoa.</p>
<p style="text-align: justify;">Trên đường về Tây Tạng, ngài tiếp tục giáo hóa và giải quyết những vấn đề chính trị. Rồi Karmapa lại nhận được lời mời của Toghon Temur trở lại thăm Trung Hoa. Thế nên, vào năm con Chuột Hỏa, Karmapa lên đường qua Trung Hoa một lần nữa. Suốt trên hành trình dài dẵng, ngài tiếp tục dạy pháp. Khi ngài đến, nhà vua chào đón ngài rất mừng rỡ, và nhận thuốc tse chu, thuốc này khiến ông là người sống lâu nhất trong các hoàng đế Mông Cổ. Ở lại đây, ngài lập ra một chùa mới thuộc phái Kagyu. Ngài cũng chấm dứt những thiên tai có thể làm hại mùa màng trong thời gian này.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày 14 tháng 6 năm con Thỏ Thổ (1339), ngài nói với vua về linh cảm cái chết sắp đến của mình. Ngài đi vào cung thờ Cakrasamvara, ở đó ngài thiền định về Heruka và ra đi trong khi đại định. Hôm sau, như lời chỉ dạy cuối cùng cho vua và hoàng hậu, ngài xuất hiện khuôn mặt mình trong mặt trăng rằm.</p>
<p style="text-align: center;">Ảnh hưởng ngài đối với Kim Cương thừa Phật giáo là không thể tính hết. Như các luận văn vô giá, lời dạy ngài trải dài trong nhiều đệ tử thành tựu. Ngài đã dạy cho nhà học giả phái Sakya nổi tiếng là Yagde Pandita(9) cũng như vị guru sâu xa nhất của phái Nyingma là Longchen Rabjampa. Các đệ tử khác là Shamar Rinpoche, Drakpa Senge và Toghon Temur.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-karmapa-rangjung-dorje-doi-thu-3/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Đức Karmapa Karma Pakshi đời thứ 2</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-karmapa-karma-pakshi-doi-thu-2/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-karmapa-karma-pakshi-doi-thu-2/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 07 Nov 2015 06:19:52 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Karma Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Karma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6333</guid>
		<description><![CDATA[Karmapa Karma Pakshi  (1206-1283) Vị Karmapa thứ hai, KARMA PAKSHI, sanh năm 1206 trong một gia đình có nguồn gốc từ vị vua pháp Trisong Detsun của thế kỷ thứ tám. Cha mẹ ngài, là những hành giả rất mộ đạo, đặt tên ngài là Chodzin. Chodzin là một đứa bé khôn sớm, năm lên sáu đã biết đọc và&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-karmapa-karma-pakshi-doi-thu-2/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;">
<p style="text-align: center;"><img class="aligncenter wp-image-9254 size-full" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Đức-Karma-Pakshi-karmapa-2.jpg" alt="Đức Karma Pakshi karmapa 2" width="867" height="1224" /></p>
<p style="text-align: center;"><b>Karmapa Karma Pakshi </b><br />
(1206-1283)</p>
<p style="text-align: justify;">Vị Karmapa thứ hai, KARMA PAKSHI, sanh năm 1206 trong một gia đình có nguồn gốc từ vị vua pháp Trisong Detsun của thế kỷ thứ tám. Cha mẹ ngài, là những hành giả rất mộ đạo, đặt tên ngài là Chodzin.</p>
<p style="text-align: justify;">Chodzin là một đứa bé khôn sớm, năm lên sáu đã biết đọc và viết hoàn hảo. Mười tuổi đã nắm được yếu nghĩa của Phật pháp. Cùng với năng lực trí tuệ, Chodzin còn có khả năng định tâm. Nhờ sự thiện xảo tự nhiên này, khi vị thầy thiền định của ngài là Pomdrakpa nhập môn cho ngài về bản chất của tự tâm, ngài liền có thể khai triển quán chiếu tự nhiên.</p>
<p style="text-align: justify;">Pomdrakpa là người đã nhận giáo pháp dòng Karma Kagyu từ Drogon Rechen, vị kế thế của Dusum Khyenpa. Khi lần đầu tiên ban cho Chodzin sự truyền thọ, ngài đã giải thích rằng trong một thị kiến, ngài thấy Dusum Khyenpa và các tổ sư khác của dòng phái bao quanh nơi ở của đứa học trò nhỏ của mình, nói lên sự quan trọng của đứa bé ấy. Trong một thị kiến khác, Dusum Khyenpa phát lộ cho Pomdrakpa rằng Chodzin quả thật là hậu thân của mình. Từ lúc ấy, Pomdrakpa xem Chodzin như là Karmapa thứ hai và đặt tên cho em là “Vị Thầy của Pháp.” Ngài còn làm lễ xuất gia cho Chodzin làm một sadi.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong mười một năm, Karma Pakshi học với Pomdrakpa, đặc biệt về Đại Ấn của Saraha và Gampopa. Với khả năng tự nhiên, ngài có thể thành tựu những lời dạy rất nhanh khi vừa mới được truyền dạy. Cuối thời kỳ này, Pomdrakpa nói với ngài rằng ngài đã phát triển trí huệ đầy đủ, nhưng ngài còn cần phải có những sự truyền thọ nối dòng, những kinh bản và lời dạy từ đức Thích Ca hay đức Vajradhara để có thể dạy cho người khác. Pomdrakpa trao cho Karma Pakshi trọn bộ các giáo huấn phái Kagyu, và như thế trở thành người cha tâm linh của ngài. Khi Karma Pakshi nhận được sự thọ pháp về Mahakala, ngài chứng nghiệm sự hiện diện thực sự của vị Hộ pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm hai mươi hai tuổi, ngài thọ giới Tỳ kheo với Lạt ma Jampa Bum, trụ trì tu viện Katok Nyingmapa, tu viện này được lập nên bởi Kadampa Desheg, học trò của Karmapa thứ nhất. Trong thời gian này, ngài chú tâm vào Yoga Nội Hỏa hợp cùng với Đại Ấn. Bằng cách này, ngài phát triển cả hai phương diện hữu tướng và vô tướng của hành trì Mật thừa.</p>
<p style="text-align: justify;">Lúc này là thời kỳ loạn lạc ở sứ Kham và Karma Pakshi theo nhu cầu của dân chúng đi vòng khắp xứ để đem lại thanh bình. Toàn vùng, với đồng, núi và thung lũng xuất hiện với ngài như cảnh quan chung quanh của cõi Cực Lạc, tuyên lưu giáo pháp. Điều này liên quan với cái thấy của ngài về Maha-sukha (Đại Lạc) Cakrasamvara bao quanh bởi các daka và dakini nhảy múa. Về sau, được gợi ý bởi đức Kim Cương Maha-kala mặc-áo-choàng-đen, vị thần sau đó trở thành vị hộ pháp chánh cho phái Karma Kagyu, Karma Pakshi đã xây một tu viện mới trong vùng Shazchok Pungri xứ Kham.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong một linh kiến khác, Karma Pakshi được một dakini chỉ dạy, nên phát triển sự tán ca tập thể Sáu chữ chân ngôn của Quán Thế Âm, hiện thân của tâm Đại Bi giác ngộ. Karma Pakshi và các tăng của ngài ca hát thần chú này mỗi khi đi du hành. Từ lúc ấy trở đi, sự tán ca tập thể Lục Tự Đại Minh chân ngôn trở thành một phần quan trọng trong sự hành trì tôn giáo đại chúng ở Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Karma Pakshi ở lại tu viện mới của ngài trong mười một năm, dấn thân vào sự thực hành thiền định một cách mãnh liệt. Danh tiếng về năng lực tâm linh của ngài vang xa đến xứ Jang và Trung Hoa. Nhờ điều phục được năng lực của bốn đại, Karma Pakshi làm yên bình ngoại cảnh. Điều này được xác nhận qua lời cam kết của sơn thần Dorje Paltseg luôn luôn hộ trì cho dòng Karma Kagyu.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó, Karma Pakshi viếng thăm tu viện Karme Gon đang ở trong tình trạng sụp đổ. Ngài xây dựng lại như cũ. Thế rồi, được gợi ý bởi Mahakali, Karma Pakshi du hành đến Tsurphu và tiếp tục công việc tái tạo. Sáu năm sau, ngài đến vùng Tsang ngang qua hồ Namtsho, nơi đây ngài có được một kho tàng để trả lại những món nợ đã vay trong suốt thời gian tái tạo tự viện.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1251, ngài được hoàng tử Kublai đang coi giữ vùng biên giới Hoa-Tạng mời viếng thăm. Ngài đi thăm triều đình Wu-tok và đến đấy vào năm 1254, sau khi được chào đón bởi một đạo binh ở Serta trên đường đi.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài ý thức rõ về sự quan trọng của cuộc viếng thăm này đối với tiền đồ của phái Kagyu và có nhiều linh kiến về điều này sau khi đến triều đình. Ngài được tôn vinh bởi Kublai Khan, ông này muốn ngài biểu lộ năng lực tâm linh cho các vị thầy của tôn giáo khác. Ngài chiều theo và chinh phục ông bằng một sự nhã nhặn đến nỗi mọi người đều nhận ra sự vĩ đại của ngài. Hoàng đế Khan này xin ngài ở lại luôn tại triều đình, nhưng ngài từ chối, vì thấy trước sự rối ren về quyền lợi ở triều đình.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào thời gian này, phần còn lại của Trung Hoa nằm dưới sự cai trị của Mongka Khan, con trai trưởng của Genghis Khan (Thành Cát Tư Hãn), người đã phế bỏ em họ mình là Godin. Mongka Khan khôn khéo kiểm soát em mình là Kublai. Lúc ấy phái Sakyapa đã lan rộng suốt Trung Hoa, nhờ vào sự truyền bá của Sakya Pandita (1182 -1251) và cháu là Phakpa (1235-1284).</p>
<p style="text-align: justify;">Được hướng dẫn bởi Quán Thế Âm và Mahakala, ngài quyết định du hành đến miền bắc Tây Tạng. Dù có sự tức giận của Kublai Khan vì đã từ chối ở lại, ngài đi đến vùng biên giới Hoa-Tạng. Khi ngài đến xứ sở bị rung chuyển bởi một cơn bão, mà Karma Pakshi nhận ra là sự biểu lộ của Kim Cương Mahakala mặc-áo-choàng-đen. Ngài cũng có một linh kiến về Vaisravana, vị thần của sự thịnh vượng, vị này yêu cầu ngài ở lại Minyak để lập một chùa mới.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1256, ngài đến Amdo tây bắc Tây Tạng, ở đây, nghe được rằng Mongka Khan đã truất phế em là Kublai và hiện là người cai trị tối cao của Mông Cổ và phần lớn Trung Hoa. Lúc ấy, Mongka Khan mời ngài trở lại Trung Hoa để giáo hóa. Lời mời được chấp nhận và Karma Pakshi trở lại Trung Hoa, đi xuyên qua vùng Minyak một lần nữa. Trong một linh kiến, ngài được đức Tara màu đỏ bảo nên đến triều đình Mongka Khan ở Liang Chou. Thời gian này, sự truyền bá sâu rộng giáo pháp của ngài được thấy rất rõ. Ở triều đình Mongka Khan, ngài đã làm dứt sự xáo động vừa ngoại cảnh vừa xã hội bằng hoạt động bi mẫn của mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài đến triều đình khi bắt đầu mùa đông. Vị Khan đánh dấu sự kiện này bằng lễ đại xá và ngài đã biểu lộ tâm Đại Bi tỏa sáng của Quán Thế Âm bằng cách ban phát nhiều lễ thọ pháp và dạy dỗ. Vị Khan trở thành một đệ tử nồng nhiệt và Karma Pakshi khám phá ra rằng thật ra ông ta đã từng tu học với vị Karmapa đầu tiên, Dusum Khyenpa, trong đời trước của ông và đã thực hiện được sự thành tựu Đại Ấn như chính Karma Pakshi.</p>
<p style="text-align: justify;">Để hiển lộ phương tiện thiện xảo rực rỡ về giáo pháp, ngài đã mời rất nhiều các đạo sĩ Lão giáo hay ganh tị đến từ Shen Shing, Tao Shi và Er Kao để tranh luận. Tuy nhiên, không ai bằng ngài và tất cả họ đều tiếp nhận lời dạy của ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở triều đình Alaka, ngài truyền pháp cho vị Khan và các đệ tử khác về sự thực hành Cakrasamvara. Mongka Khan thực hành sự chỉ giáo của ngài chính xác đến nỗi ông có thể quán tưởng vị yidam trong từng chi tiết hoàn hảo. Về sau, qua năng lực thiền định của ngài, một thị kiến về Saraha và tám mươi tư vị thánh Mật thừa khác xuất hiện trên bầu trời và tồn tại trong suốt ba ngày. Sức mạnh giáo huấn của ngài đã cắt đứt sự đam mê của vị Khan vào chính trị, giúp ông hiện thực được Đại Ấn.</p>
<p style="text-align: justify;">Ảnh hưởng của Karma Pakshi rải rộng khỏi cung đình và có hiệu lực sâu xa đến nền văn hóa Hoa-Mông. Ngài tiếp tục tiến trình bắt đầu bởi Sakya Pandita. Một ví dụ cho điều này là, ngài đã khuyên mọi Phật tử Mông Cổ không ăn thịt vào những ngày trăng. Tương tự, người không phải Phật tử cũng được khuyên giữ giới luật riêng của tôn giáo họ vào những ngày này. Thập Thiện đã được đức Thích Ca tuyên thuyết được ngài nhấn mạnh như là nền tảng đạo đức cá nhân và xã hội. Công việc của ngài cho sự lợi lạc của dân chúng thật là mãnh liệt. Ví dụ trong mười ba dịp khác nhau, các tù nhân được tha do sự yêu cầu của ngài. Dù uy tín cá nhân, ngài không tìm cách cho phái Karma Kagyu có ưu thế so với các truyền thống Phật giáo khác, mà yêu cầu vị Khan nâng đỡ tất cả.</p>
<p style="text-align: justify;">Tiếp đó, vị Khan mời vị thầy của mình đi một vòng vương quốc. Ở Karakorum, thủ đô Mông Cổ, ngài có một đối thoại thân mật với đại diện các tôn giáo khác. Phái đoàn đi đến biên giới Hoa-Mông và đến Minyak. Tới đây, cảm hứng bởi sự nhớ tưởng Dusum Khyenpa, ngài quyết định trở về Tây Tạng. Mongka Khan muốn mời Thầy mình theo mình đến Mãn Châu, nhưng ngài từ chối, chỉ ra tính vô thường của mọi tình huống. Vị Khan không dám giữ ngài lại, nhưng bảo đảm cho ngài qua mọi miền đất nước Mông Cổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy nhiên, vào năm con Cọp Kim, khi ngài trở về Tây Tạng, xáo trộn xảy ra ở Trung Hoa sau cái chết của Mongka Khan. Đầu tiên, Alapaga, con trai của vị Khan quá cố, thiết lập quyền bính mặc dù vài tộc trưởng Mông Cổ ủng hộ đối thủ là chú của ông, tức Kublai Khan. Kublai Khan nắm quyền rất nhanh sau đó, và Alapaga bị giết, người ta đồn đại rằng, do huyền thuật của một học trò của Lạt ma Zhang của phái Tsalpa Kagyu.</p>
<p style="text-align: justify;">Lúc này, Karma Pakshi hỗn lại chuyến trở về vì cuộc nội chiến, có một thị kiến cần phải dựng một tượng Phật khi về Tây Tạng. Tuy nhiên, ngài ý thức rõ ràng sự khó khăn cho dự định ấy. Con đường vượt qua các cản trở này được phát lộ cho ngài trong một giấc mơ, ngài thấy một con ngựa trắng cứu ngài thoát khỏi nguy hiểm. Ngài làm một bài tán ca trong đó ngài nói : “Con ngựa vô địch này cũng giống như một con chim thần. Ta là con người vô địch, như Cồ Đàm Tất Đạt Đa. Bởi thế, chúng ta sẽ vượt qua thời vận hiểm nghèo này.”</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài nghe tin rằng Kublai Khan, được triều thần xúi dục, đang thù oán ngài. Vị Khan này cảm thấy bị ngài xem thường, ngài đã ủng hộ cho đối thủ của mình và em mình là Mongka Khan, nên định ám sát ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Đám lính của vị Khan mới lên ngôi này bắt giữ ngài, làm nhục và hành hạ ngài bằng cách đốt, cho uống thuốc độc, ném xuống ghềnh đá, nhưng trước sự đối xử thô bạo này ngài biểu lộ tâm Đại Bi của Quán Thế Âm và sự tự do bản nhiên của một đại thành tựu giả. Sự chứng ngộ bản tính không sanh không diệt của tâm khiến các người bắt giữ không làm gì được ngài. Ngài lại biểu lộ lòng bi mẫn rộng lớn cho sự bất lực của họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Những biến cố này bắt buộc Kublai Khan phải xét lại thái độ của ông đối với ngài. Thay vì giết hại, ông cho ngài đi đày. Ông định làm hại sức khỏe của ngài bằng cách gởi ngài đến một vùng hẻo lánh gần biển ở đó chỉ có ít người có thể thọ giáo. Trong vài năm, ngài dùng thì giờ để viết luận và dần dần hồi phục. Kublai Khan trở nên khoan thứ và tạ lỗi, yêu cầu ngài ở lại với ông. Khi ngài trả lời ông ngài phải trở về Tây Tạng, vị Khan chấp thuận và nói : “Xin hãy nhớ đến tôi, cầu nguyện cho tôi và ban phước cho tôi. Ngài hoàn toàn tự do để ra đi và dạy Pháp bất cứ nơi đâu ngài muốn.”</p>
<p style="text-align: justify;">Karma Pakshi trở lại Tsurphu sau một cuộc hành trình dài và khởi công tạo tượng Phật. Tượng bằng đồng, được đặt tên là : “Bậc Đại Thánh, sự trang nghiêm cho thế giới,” cao năm mươi lăm feet và chứa xá lợi của Phật cùng các đệ tử. Khi hoàn thành, tượng bị nghiêng một bên. Thấy thế, ngài nhập định, nghiêng thân mình cùng một kiểu với bức tượng. Và khi thẳng người lại, tượng cũng đứng thẳng lại theo.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước khi tịch vào năm 1283, ngài truyền dòng cho đại đệ tử là Urgyenpa. Ngài báo cho Urgyenpa rằng lần tái thế tới của ngài sẽ ở miền tây Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Karma Pakshi vừa là một bậc thánh Mật thừa sâu xa vừa là một học giả. Năng lực những lời dạy của ngài đã gây cảm hứng cho rất nhiều người viễn du trên con đường tâm linh. Cùng với Urgyenpa, các đệ tử nổi tiếng của ngài là Maja Changchub Tsondru, Nyenre Gendun Bum và Mongka Khan.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-karmapa-karma-pakshi-doi-thu-2/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Đức Karmapa Dusum Khyenpa đời thứ 1</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-karmapa-dusum-khyenpa-doi-thu-1/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-karmapa-dusum-khyenpa-doi-thu-1/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 07 Nov 2015 06:12:20 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Karma Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Karma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6329</guid>
		<description><![CDATA[Karmapa Dusum Khyenpa  (1110-1193)  DUSUM KHYENPA sanh nơi rặng núi tuyết Tray Shu ở Do Kham vào năm Con Cọp Kim (1110). Từ cha mẹ là những hành giả thành tựu, Dusum Khyenpa được học giáo pháp. Năm lên bảy, ngài có một linh kiến về Mahakali, phương diện năng lực nữ tính của dharmapala (hộ pháp), biểu lộ năng&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-karmapa-dusum-khyenpa-doi-thu-1/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;" align="center">
<p style="text-align: center;" align="center"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Karmapa-Dusum-Khyenpa.jpg"><img class="alignnone wp-image-9257 size-full" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Karmapa-Dusum-Khyenpa.jpg" alt="Karmapa Dusum Khyenpa" width="855" height="1260" /></a></p>
<p style="text-align: center;" align="center">
<p align="center"><b>Karmapa Dusum Khyenpa </b><br />
(1110-1193)</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"> DUSUM KHYENPA sanh nơi rặng núi tuyết Tray Shu ở Do Kham vào năm Con Cọp Kim (1110). Từ cha mẹ là những hành giả thành tựu, Dusum Khyenpa được học giáo pháp. Năm lên bảy, ngài có một linh kiến về Mahakali, phương diện năng lực nữ tính của dharmapala (hộ pháp), biểu lộ năng khiếu tâm linh tự nhiên của mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm năm sau, Dusum Khyenpa vào tăng chúng làm một người tập sự, nghiên cứu Đại thừa Duy thức học của Asanga (Vô Trước) từ Geshe Jamarwa Chapa Cho Kyi Senge. Thời gian này, ngài cũng học Trung Quán của Long Thọ và Nguyệt Xứng từ Lotsawa Patsap Nyima Drak. Ngài còn thọ pháp của dòng Kadampa từ Geshe Shawarapa.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm hai mươi tuổi, thọ giới Tỳ Kheo với sư trưởng Mal Duldzin. Sau đó ở với thầy học Luật tạng. Từ đại sư Ga Lot-sawa, Dusum Khyenpa thọ pháp Kalachakra và pháp môn “Đạo và Quả” từ bậc thánh Ấn Độ Virupa.(1)</p>
<p style="text-align: justify;">Năm ba mươi tuổi, Dusum Khyenpa du lịch đến Dak Lha Gampo để gặp Thầy là Gampopa, người chủ trì của phái Kagyupa. Khi gặp nhau, Gampopa dạy ngài về con đường tiệm giáo (lam-rim) của truyền thống Kadampa như là sự thực hành tiên khởi. Gampopa dạy ngài phải hành trì như chính Gampopa đã từng làm. Sau sự tu tập căn bản này, Gampopa truyền thụ cho ngài pháp Hevajra để tu tập. Suốt buổi lễ truyền thụ này, Dusum Khyenpa thấy Gampopa trở thành thân ánh sáng của Hevajra.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó ít lâu, ngài tu Chỉ trong chín tháng, nhập thất theo lời khuyên của Thầy. Suốt thời gian này, ngài không bao giờ mở hết bàn tay để khỏi bị khô vì thoát mồ hôi. Gampopa xem ngài như là đệ tử thiện căn nhất và dạy ngài phép Quán. Ngài tu Quán trong ba năm cho đến khi tâm như mặt trời hết mây che. Lúc ấy, Gampopa nói : “Con đã đoạn dứt mối ràng buộc với thế giới hiện tượng. Từ đây con không trở lại sanh tử nữa.” Gampopa dạy cho ngài khẩu truyền về Đại Ấn và Vajra-yogini. Gampopa bảo ngài thực hành các pháp này tại Kampo Gangra ở Kham, và tiên tri rằng ngài sẽ giác ngộ ở đấy.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước tiên, ngài đến Shau Tago, ở đây ngài dựng một thất nhỏ gọi là Drub Zhi Densa (bồ đoàn vuông) và tu Đại Ấn. Ngài đạt đến chỗ chứng ngộ rằng sanh tử và Niết Bàn là bất nhị. Một lời nói đến tai ngài rằng Thầy đã tịch, ngài bèn trở lại chùa Dak Lha Gampo, ở đó trong một linh kiến, ngài thấy Thầy trên bầu trời.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài nhớ lại lời dạy của Thầy phải thực hành tu tập ở vùng Kampo Gangra. Vị sơn thần Kampo Dorje Paltseg, hiện thân của năng lực tinh hoa của vùng ấy, đến mời ngài trong một linh kiến. Phagmo Drupa, một đệ tử khác của Gampopa, chính từ ngài phát sanh ra tám dòng nhỏ của phái Dakpo Kagyu, khuyên ngài đừng đi, nói rằng : “Nếu huynh đến xứ Kham, huynh sẽ phải ban phát nhiều truyền thọ. Điều này sẽ làm đời huynh ngắn lại.” Ngài trả lời : “Cám ơn huynh có lời khuyên, nhưng mặc dù tôi làm điều đó, tôi cũng sẽ sống đến tám mươi tư tuổi.”</p>
<p style="text-align: justify;">Năm mươi tuổi, ngài du hành đến Kampo Nenang ở đó ngài tức thời đạt đến giác ngộ qua sự thực hành Yoga Giấc Mộng. Ngài thành tựu sự nhất như căn bản giữa ngày và đêm, mộng và thức, thiền định và đời sống hàng ngày. Sự thành tựu này là bực thứ tư, bậc chót của Đại Ấn, được gọi là “vượt khỏi thiền định” (TT : bsgom-med).(2)</p>
<p style="text-align: justify;">Một cách tâm linh, giờ phút Giác Ngộ của ngài được biểu tượng trong một thị kiến một Vương miện Kim cương đen dệt bằng tóc của các dakini do các dakini hiến cúng. Vương miện này, một cách biểu trưng, luôn luôn hiện diện trên đầu của mọi hóa thân Karmapa biểu thị sự chứng ngộ bản tánh thực tại của các ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào lúc ấy, chín vị hóa thần trong mạn đà la của Hevajra và mười lăm vị hóa thần trong mạn đà la của Nairatmya, vị phối ngẫu trí huệ của Hevajra, cũng như nhiều hóa thần khác xuất hiện trong linh kiến của Dusum Khyenpa. Qua sự thành tựu Yoga Giấc Mộng(3) này, ngài “bay” đến Tích Lan, nơi ấy vị thánh mật thừa là Vajraghanta(4) truyền thọ cho ngài pháp Cakrasamvara và “bay” đến Đâu Suất, cõi trời của đức Phật tương lai Di Lặc, và được ngài Di Lặc dạy cho các phát nguyện của Bồ tát.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài ở lại Kampo Nenang mười tám năm, dựng một tu viện và một trung tâm ẩn cư. Danh tiếng về sự chứng ngộ của ngài lan xa, và ngài được biết như là “vị thấu rõ ba thời quá khứ hiện tại vị lai,” biểu thị sự siêu việt của ngài khỏi thời gian nhờ vào sự thông thấu tính vô sanh của tâm.</p>
<p style="text-align: justify;">Pháp sư người Kashmir, Sakyasri,(5) vị được mời đến Tây Tạng để lập một tăng đoàn mới, tuyên bố rằng Dusum Khyenpa là “người của Phật sự” hay Karmapa, đã được Phật Thích Ca tiên tri trong kinh Tam Muội Vương. Lạt ma Zhang, người lập nên phái Tsalpa Kagyu xác nhận điều này. Cả hai vị Thầy còn nói rằng Dusum Khyenpa hiện thân cho Tâm Từ Bi Tỉnh Giác (Quán Thế Âm) và sau thời của Phật Di Lặc, Lạt ma Karmapa sẽ sanh lại làm Phật Simha.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm bảy mươi tư tuổi, Karmapa Dusum Khyenpa du hành đến vùng Drelong xứ Kham, nơi đang xảy ra những tranh chấp lộn xộn. Ngài giải hòa những tranh chấp thù hằn và đem lại một thời yên bình. Ngài cũng làm việc tận lực để chữa bệnh, gồm nhiều bệnh đui mù và bại liệt. Năng lực chữa bệnh từ tâm Đại Bi của ngài rất hiệu lực. Ngài cũng xây dựng những tu viện ở Mar Kham và Karma Gon, nơi này ngài gặp Drogon Rechen, đệ tử chính và kế thừa dòng pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">Về cuối đời, ngài trở lại Dak Lha Gampo như đã được chỉ dạy bởi Gampopa. Ngài cúng dường cho các chùa, sửa sang lại các công trình xây dựng, và dạy cho chúng tăng ở đó. Sau đó, Karmapa xây dựng tu viện chính ở Tsurphu, nó còn nguyên là bổn tự của các Karmapa cho đến năm 1959. Vị trụ trì của chùa Bồ Đề Đạo Tràng ở Ấn đã gởi một cái tù và đến Tsurphu như một quà tặng, và sự tri ân về năng lực biểu hiện chánh pháp của ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi ở Tsurphu, ngài đã chấm dứt những cuộc tranh biện mà Lạt ma Zhang của phái Tsala Kagyu đã dấn thân vào. Lạt ma Zhang là một thành tựu giả vĩ đại và là người nắm quyền xứ Tsala, nhưng ngài lại có một tánh khí mãnh liệt mà chỉ có Karmapa mới làm cho dịu được.</p>
<p style="text-align: justify;">Một đêm khi đang thực hành Yoga Giấc Mộng, Dusum Khyenpa nhận được sự thực hành tâm linh về Vajrayogini bốn mặt mười hai tay từ bậc thánh mật thừa là Indrabhuti.(6) Sau đó, trong một linh kiến khác, ngài nhận được lời dạy từ Vajrayogini. Karmapa đem các giáo huấn này dạy cho các đệ tử, nhưng sau đó không lâu ngài mơ thấy năm cô gái mặc áo đỏ trang sức rực rỡ đến và nói : “Chớ đem những giáo huấn Kim Cương thừa bí mật này cho bất kỳ ai.” Vào ngày sau, ngài lại đem ra dạy và ngay đêm đó năm cô gái lại xuất hiện trong giấc mơ và nói : “Chúng tôi là các sứ giả của Công chúa Laks-minkara.(7) Chớ đem dạy những giáo lý bí mật Kim Cương Thừa cho bất kỳ ai.” Ba ngày sau, Karmapa dạy cho Lạt ma Khampa Kungba, đêm ấy trong giấc mơ các cô gái xuất hiện trên bầu trời, cỡi những đám mây trắng, nói rằng : “Chúng tôi đã nói ngài đừng dạy giáo lý bí mật Kim Cương thừa cho bất kỳ ai, nhưng ngài không nghe.”</p>
<p style="text-align: justify;">Ba tháng trước khi thị tịch, có xuất hiện một số lớn mống cầu vồng, đất rung nhẹ và tiếng rầm rầm mà người ta nói đó là tiếng trống của các Dakini. Năm tám mươi tư tuổi, vào ngày đầu của năm Con Bò Nước (1194), Dusum Khyenpa đặt tự viện Tsurphu, các kinh điển và thánh tích dưới sự trông coi của Drogon Rechen, vị đệ tử chính. Ngài còn giao cho vị này lá thơ trong đó nói trước những hoàn cảnh trong đó vị Karmapa sắp tới sẽ tái sanh. Ngài phân chia mọi vật dụng sở hữu cho các nhóm tăng chúng Kagyu.</p>
<p style="text-align: justify;">Buổi sáng ngày thứ ba của năm mới, Dusum Khyenpa dạy các đệ tử bài pháp cuối cùng. Thế rồi, trong tư thế ngồi, ngài nhìn chăm vào bầu trời và nhập định. Đến trưa thì ngài ra đi.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong lễ tang một tuần sau đó, nhiều người có những cái thấy đặc biệt ; một số thấy thân thể ngài trong đám khói bốc lên từ dàn hỏa táng, người khác thấy nhiều mặt trời trên không trung và các daka và dakini nhảy múa giữa chúng.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi lửa đã tắt rụi, trái tim của ngài, biểu thị tình thương của ngài, và cái lưỡi, biểu thị cho lời dạy dỗ của ngài, vẫn còn nguyên vẹn trong tro tàn. Các đệ tử còn khám phá ra nơi một số xương của ngài có xuất hiện các chữ chủng tử (bija) và một số thánh tích khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Tro xá lợi của Karmapa được cất giữ trong một cái tháp khuôn mẫu theo một cái tháp Dhanyakataka ở nam Ấn Độ, nơi đức Thích Ca đã giảng dạy giáo lý Kalacakra. Cái tháp này còn để ở tự viện Tsurphu.</p>
<p style="text-align: justify;">Dusum Khyenpa có nhiều đệ tử thành tựu, qua họ ảnh hưởng của ngài thấm sâu vào các truyền thống khác cũng như giáo phái Kamtshang Kagyu của ngài. Người kế thế là Drogon Rechen, sau đó vị này giao lại cho Pomdrakpa, vị này lại truyền lại cho Lạt ma Karmapa đời thứ hai. Bốn vị sáng lập của các dòng khác đã được ngài giáo hóa là Taglung Thangpa, người lập ra phái Taglung Kagyu ; Lingje Repa, vị hành giả Đại Ấn vĩ đại và là sơ tổ của phái Drukpa Kagyu ; Tsangpa Gyare, người thực sự sáng lập phái Drukpa Kagyu ; và Lạt ma Kadampa Desheg, người lập ra dòng Katok Nyingma. Lại có năm đệ tử đã phát triển được các năng lực đặc biệt. Đó là Dechung Sangjay trong lãnh vực hiểu biết từ xa, Dagden Batsa trong lãnh vực làm các phép thần biến, Tawa Kadampa trong lãnh vực các thần lực của Bồ tát, Drogon Rechen về ban phước cứu độ và Ge Chutsun trong lãnh vực các sự thành tựu sâu xa.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-karmapa-dusum-khyenpa-doi-thu-1/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đức Goshir Gyaltsar Rinpoche đời thứ 12</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/duc-goshir-gyaltsar-rinpoche-doi-thu-12/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/duc-goshir-gyaltsar-rinpoche-doi-thu-12/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 21 Sep 2015 16:30:01 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Karma Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Karma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5804</guid>
		<description><![CDATA[Đức Goshir Gyaltsar Rinpoche đời thứ 6 Đức Goshir Gyaltsab Rinpoche sinh ra ở Nyimo, miền Trung Tây Tạng gần Lhasa. Từ thế hệ này sang thế hệ khác, dòng họ của Ngài nổi danh là nơi sản sinh ra những hành giả cao cấp đạt thành tựu qua việc trì tụng thần chú và những thực hành Mật tông.&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/duc-goshir-gyaltsar-rinpoche-doi-thu-12/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/6th-Gyaltsabpa-e1355682802747.jpg"><img class="  wp-image-5807 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/6th-Gyaltsabpa-e1355682802747-238x300.jpg" alt="6th-Gyaltsabpa-e1355682802747" width="401" height="505" /></a><strong>Đức Goshir Gyaltsar Rinpoche đời thứ 6</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Đức Goshir Gyaltsab Rinpoche sinh ra ở Nyimo, miền Trung Tây Tạng gần Lhasa. Từ thế hệ này sang thế hệ khác, dòng họ của Ngài nổi danh là nơi sản sinh ra những hành giả cao cấp đạt thành tựu qua việc trì tụng thần chú và những thực hành Mật tông. Đức Goshir Gyaltsab Rinpoche là người thuộc dòng dõi như vậy và đã được xác nhận bởi Đức Pháp Vương Karmapa đời thứ 16 trước khi Ngài chào đời.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1959, Đức Goshir Gyaltsab Rinpoche du hành đến Sikkim - Ấn Độ cùng Đức Pháp Vương Karmapa 16. Ngài lưu lại một thời gian cùng với những người định cư của Đức Karmapa 16 tại Tu viện Karma Kagyu cũ, trước kia vốn được xây dựng tại Rumtek thời Đức Karmapa thứ 9. Đầu thập kỉ 60, Rinpoche đã thọ nhận nhiều nhập môn quan trọng từ Đức Pháp Vương Karmapa 16.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau những quán đảnh nhập môn, cha Ngài cảm thấy rằng Ngài nên được thụ hưởng một nền giáo dục hiện đại bằng tiếng Anh, vì thế đã đưa Ngài đến thị trấn Gangtok  ở Sikkim - Ấn Độ để tu học. Tuy nhiên, với tầm nhìn phi thường về những gì sẽ thực sự mang lại lợi lạc cho chúng sinh về sau, vị Rinpoche trẻ tuổi đã lựa chọn tu học Phật Pháp tại Tu viện của Đức Pháp Vương Karmapa 16 thay vì lưu lại ngôi trường ở thị trấn Gangtok. Một đêm nọ, chỉ ngay sau nửa đêm, Ngài rời nơi cư trú của mình ở Gangtok và một mình vượt mười dặm đường để tới Rumtek. Vào lúc bình minh, Ngài đến Tu viện Rumtek mới. Khi Ngài xuất hiện lần đầu tiên, tất cả các tu sĩ đều vô cùng kinh ngạc về sự can đảm của Ngài và đã chào đón Ngài với một niềm tôn kính tại điện thờ chính, với sự chào đón của Đức Pháp Vương Karmapa 16. Mặc dù có sự xung đột ý kiến ​​giữa cha Ngài và các tu sĩ về học vấn của Ngài khi ở lại Tu viện, nhưng  Đức Gyaltsab Rinpoche vẫn ở lại và bắt đầu nghiên cứu các giáo lý truyền thống Karma Kagyu, giáo lý Đại thừa và Kim Cương cùng với ba vị Rinpoche cao cấp khác.</p>
<p style="text-align: justify;"><img class="  wp-image-5806 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Gyaltsab_R_01-203x300.jpg" alt="Gyaltsab_R_01" width="369" height="546" /></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Đức Goshir Gyaltsar Rinpoche đời thứ 12</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Tại Tu viện ở Rumtek ở Sikkim - Ấn Độ, Đức Goshir Gyaltsab Rinpoche và ba vị Rinpoche cao cấp đã nghiên cứu các nghi thức và nghi quỹ cơ bản và các bản văn dưới sự hướng dẫn của các vị thầy dạy riêng. Các Ngài cũng nghiên cứu giáo lý Đại thừa thông qua nghiên cứu các bình giảng của các vị học giả, những bậc Thầy lừng danh Tây Tạng thời kì đầu và những giáo lý của các Đạo sư Phật giáo Ấn Độ mà những bản văn của các Ngài đã được chuyển dịch sang tiếng Tây Tạng từ nhiều thế kỷ trước.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong  nhiều kiếp trước đây, cả bốn vị Rinpoche đều là những đạo sư  và  những vị hộ trì truyền thừa vĩ đại. Trong mỗi kiếp, mỗi vị là một tấm gương hoàn hảo về thực hành Phật Pháp lại tiếp tục được thiết lập không gián đoạn, bắt đầu từ tuổi thơ học đọc viết và trải qua toàn bộ quá trình nghiên cứu tu học cho đến thời trai trẻ nghiêm trì giới luật về sau trở thành những Bậc Thầy chứng ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Kể từ thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, chúng ta đều được dạy rằng mỗi người phải tự thắp đuốc lên mà đi và trở nên toàn thiện hơn. Đối với chúng ta - là những con người, sự thật là chúng ta đang phát triển cả thiện nghiệp và ác nghiệp thông qua kiến, hành, và tập khí. Quả từ các hành động của chúng ta được tạo trên cả hai phương diện vật chất và tinh thần có thể là tích cực hay tiêu cực. Miễn là chúng ta, những con người bình thường, phải học cách đối mặt và giải quyết hậu quả của những hành vi đó.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Gyaltsap-Rinpoche-jpg.jpg"><img class="  wp-image-5808 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Gyaltsap-Rinpoche-jpg-225x300.jpg" alt="Gyaltsap-Rinpoche-jpg" width="371" height="495" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Đức Goshir Gyaltsar Rinpoche đời thứ 12</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Những bậc Đạo sư vĩ đại như Đức Goshir Gyaltsab Rinpoche đã cho chúng ta thấy một tấm gương toàn hảo đối với loài người và đặc biệt là đối với những người có thể hiểu rằng mỗi chúng ta cần có trách nhiệm đối với bản thân mình cũng như  người khác, và rằng không ai khác chịu trách nhiệm cho cách sống của chúng ta, chúng ta chính là người tạo ra cho mình những kinh nghiệm hạnh phúc hay khổ đau. Chúng ta nên hiểu rằng sự khác biệt giữa một bậc chứng ngộ và một con người bình thường không phải là ở sự giàu có, danh hiệu hay địa vị mà là khả năng nhìn thấy thực tại của Tâm ngay tại khoảng khắc hiện tại.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: http://www.kagyu.org/kagyulineage/teachers/tea05.php</em></p>
<p style="text-align: justify;">Việt ngữ: Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính: Giác nhiên</p>
<p><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với Đức<em> Goshir </em><em>Gyaltsab Rinpoche</em></em><em> đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này Ngài sớm quang lâm đến Việt nam</em></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/duc-goshir-gyaltsar-rinpoche-doi-thu-12/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử ngắn Đức Kyabje Tenga Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/karma-kagyu/tieu-su-ngan-duc-kyabje-tenga-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/karma-kagyu/tieu-su-ngan-duc-kyabje-tenga-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 15 Sep 2015 13:21:05 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Karma Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Karma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5435</guid>
		<description><![CDATA[Câu chuyện về các vị [hóa thân] Tenga Tulku được bắt đầu từ vị Sangye Nyenpa Rinpoche đời thứ 7. Một trong những đệ tử của vị này là Lạt-ma Samten có công phu hành trì rất cao và cũng được tôn xưng là “Gönkhen Samten”, hàm ý rằng ngài là một bậc chuyên tu các pháp hộ trì (chữ&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/karma-kagyu/tieu-su-ngan-duc-kyabje-tenga-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/85.jpg"><img class="  wp-image-5438 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/85-222x300.jpg" alt="85" width="358" height="484" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Câu chuyện về các vị [hóa thân] Tenga Tulku được bắt đầu từ vị Sangye Nyenpa Rinpoche đời thứ 7. Một trong những đệ tử của vị này là Lạt-ma Samten có công phu hành trì rất cao và cũng được tôn xưng là “Gönkhen Samten”, hàm ý rằng ngài là một bậc chuyên tu các pháp hộ trì (chữ Gonpo có nghĩa là bảo vệ, hộ trì). Ngài đã dành phần lớn cuộc đời mình cho các giai đoạn ẩn tu, thiền định về vị Hộ thần (yidam) Karma Pakshi và về các vị hộ trì chính của dòng Kagyu.</p>
<p style="text-align: justify;"> Ngài hành trì chủ yếu về các vị Hộ thần Dorje Bernagchen và Shing Kyong. Năng lực gia trì của ngài mạnh mẽ đến mức có thể chữa lành tức khắc tất cả các loại bệnh tật và [vì thế] ngài đã nổi tiếng khắp trong vùng. Rất nhiều người đã tìm đến để được ngài ban lực gia trì.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào thời của vị Sangye Nyenpa đời thứ 8 là Tenzin Drupchok, Lạt-ma Samten đã lớn tuổi và đôi khi ngài thị hiện những sự khó chịu trong thân thể cũng như bệnh tật. Tuy nhiên, có một hôm ngài tỏ ra rất khỏe khoắn và an vui. Ngài nói với ngài Sangye Nyenpa rằng ngài cảm thấy rất hạnh phúc vì không bao lâu nữa ngài sẽ lìa bỏ cuộc đời này để đi đến một cảnh giới đẹp đẽ, tuyệt vời và an bình. Ngài đã trao cho ngài Sangye Nyenpa một số đồ vật, trong đó có một chiếc kèn làm bằng xương đùi (kangling) và dặn vị này phải giữ gìn cẩn thận cho đến khi ngài quay lại. Không lâu sau đó, ngài viên tịch.</p>
<p style="text-align: justify;">Mấy năm sau, ngài Tenzin Drupchok thực hiện một chuyến hành hương đến Lhasa và miền Trung Tây Tạng. Theo tập tục ở Tây Tạng vào thời đó, một vị Lạt-ma cao cấp không thể đi lướt qua từ nơi này đến nơi khác, mà phải chấp nhận những lời mời thỉnh đến thăm các tu viện và làng mạc trên đường đi của ngài để ban lễ quán đảnh, thuyết pháp và chú nguyện gia trì.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong một lần như thế, ngài Tenzin Drupchok nhận lời mời thỉnh của một quan chức địa phương tên là Drungpa. Ngài đã lưu lại nhà của Drungpa mấy hôm và gặp một cậu bé, là con trai nhỏ nhất trong gia đình. Cậu bé rất lanh lợi và biết hướng về Phật pháp. Ngài Tenzin Drupchok rất thích cậu bé.</p>
<p style="text-align: justify;">Một hôm, khi ngài Tenzin Drupchok đang chỉ có một mình, cậu bé bỗng đến gần và hỏi ngài có còn giữ chiếc kèn làm bằng xương đùi (kangling) trước đây của cậu ta hay không, vì cậu muốn được nhận lại nó ngay.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài Tenzin Drupchok rất ngạc nhiên và hết sức vui mừng khi nhận ra rằng cậu bé này nhất định phải là hóa thân của Lạt-ma Samten, vị thầy trước đây của ngài. Ngài đã nói chuyện với gia đình về việc này và họ sẵn sàng đồng ý sẽ cho cậu bé đi theo ngài sau một thời gian nữa, khi cậu đã lớn hơn.</p>
<p style="text-align: justify;">Mấy năm sau, trên đường trở về Kham, ngài đã ghé lại gặp gia đình này một lần nữa và đưa cậu bé cùng đi với ngài về tu viện Benchen.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi trở lại Benchen, cậu bé này được nhận lễ đăng quang [để chính thức được thừa nhận] là hóa thân của Lạt-ma Samten. Ngài Tenzin Drupchok đặt cho cậu bé tên gọi mới là Karma Tendzin Chögyal.</p>
<p style="text-align: justify;">Không bao lâu sau, ngài Tendzin Chögyal bắt đầu chương trình tu học theo truyền thống của tu viện và hành trì rất miên mật. Mấy năm sau đó, ngài Tenzin Drupchok cho rằng đã đến lúc để vị Lạt-ma hóa thân này tham dự một khóa ẩn tu ba năm theo truyền thống và khuyên ngài nên đến Tu viện Palpung tại Derge – trụ xứ của các vị Situ Rinpoche và ngài Jamgon Kongtrul Lodro Thaye, cũng được tôn xưng là Đại đạo sư Jamgon Kongtrul.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài Tendzin Chögyal đã đến đó và cuối cùng được nhận vào trung tâm ẩn tu Tsamdra Rinchen Drag, nằm cách Tu viện Palpung khoảng một vài dặm. Chính tại nơi đây, Đại đạo sư Jamgon Kongtrul đã sống phần lớn thời gian của đời ngài, tránh xa những sự phiền nhiễu của Tu viện Palpung đồ sộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài Tendzin Chögyal đã trải qua khóa ẩn tu [ba năm] với sự hướng dẫn của đích thân ngài Jamgon Kongtrul và đã đạt được thành tựu rất lớn. Khuynh hướng hành trì trước đây của ngài được khơi dậy, và ngài đã tham dự tiếp một khóa ẩn tu ba năm nữa. Ngài hành trì đầy đủ tất cả các pháp thực hành và sau khi hoàn tất khóa tu [thứ hai], ngài Jomgon Kongtrul tuyên bố [với ngài Tendzin Chögyal] rằng: “Bây giờ, ông và tôi đều có công phu hành trì như nhau.”</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó ngài Jomgon Kongtrul nói với ngài Tendzin Chögyal rằng ngài có dự tính thực hiện một chuyến hành hương đến miền trung Tây Tạng nên đề nghị ngài Tendzin Chögyal sẽ phụ trách trung tâm ẩn tu [Tsamdra Rinchen Drag] trong suốt thời gian ngài vắng mặt. Ngài Jamgon Kongtrul là một trong những vị Lạt-ma của ngài Tendzin Chögyal, nên ngài không thể từ chối và vì vậy mà từ đó ngài trở thành vị thầy Giáo thọ của trung tâm ẩn tu này.</p>
<p style="text-align: justify;">Mấy năm sau, ngài Jamgon Kongtrul trở lại Palpung và bảo ngài Tendzin Chögyal rằng đã đến lúc phải trở về Benchen. Vị Sangye Nyenpa Rinpoche đời thứ 8 vừa viên tịch và tu viện cần một vị Lạt-ma có khả năng để coi sóc công việc và quản trị về mặt hành chính. Ngài Tendzin Chögyal vào lúc này đã là một vị Lạt-ma có công phu hành trì rất cao và rất được tôn kính. Ngài trở về Benchen và dành phần lớn thời gian để giảng pháp và ban lễ quán đảnh cho những người đến thỉnh cầu. Ngài cũng đã dành trọn thời gian còn lại của đời mình để dạy dỗ vị hóa thân đời thứ 9 của Sangye Nyenpa Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Vị hóa thân đời thứ 3 của ngài Tenga Tulku sinh ra vào năm 1932 tại tỉnh Kham (thuộc miền Đông Tây Tạng). Theo yêu cầu của ngài Sangye Nyenpa Rinpoche đời thứ 9, ngài Situ Pema Wangchuk Gyalpo (tức là vị Situ đời thứ 11) đã tiên tri tên họ cha mẹ, ngày sinh và nơi sinh của vị Tenga Tulku này.</p>
<p style="text-align: justify;">[Nhờ vậy], vị Tenga Rinpoche hiện nay đã được tìm thấy năm ngài 7 tuổi và cũng từ đó ngài bắt đầu việc tu học. Năm 19 tuổi, ngài đã nhận pháp hiệu là Karma Tenzin Thrinle Pal Sangpo vào lúc thọ Cụ túc giới. Ngài được tiếp nhận một sự truyền dạy toàn diện về Phật pháp cũng như các pháp môn hành trì sâu xa tại những Tu viện Benchen và Palpung, do ngài Sangye Nyenpa Rinpoche đời thứ 9, ngài Gelek Drubpe Nyima, vị Situ trước đây và ngài Jamgon Rinpoche lần lượt chỉ dạy.</p>
<p>Ngài đã học qua tất cả các nghi thức Mật giáo và triết học với nhiều bậc thầy khác nhau. Ngài cũng được học về y dược cổ truyền Tây Tạng từ người chú của ngài. Ngài đã hoàn tất việc học của mình bằng một khóa ẩn tu ba năm.</p>
<p>Năm 1959, sau khi người Trung Hoa tràn đến, ngài rời khỏi Tây Tạng và sau thời gian một năm rưỡi tạm trú tại Kalimpong, ngài đến định cư tại Tu viện Rumtek (Sikkim), trụ xứ chính của Đức Karmapa đời thứ 16. Tại đây, ngài đã phụng sự Đức Karmapa trong suốt 17 năm và trong 9 năm gần đây ngài giữ vai trò là vị Dorje Lopön (Kim Cương Đạo sư). Năm 1974, ngài đã tháp tùng Đức Karmapa trong chuyến đi đầu tiên sang Hoa Kỳ và châu Âu.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ năm 1976, ngài Tenga Rinpoche đã lưu trú tại Swayambhu, Nepal, nơi ngài sáng lập Tu viện Benchen Phuntsok Dargyeling và một trung tâm ẩn tu tại Pharping.</p>
<p>Từ năm 1978, ngài đã có nhiều chuyến đi [hoằng pháp] khắp vùng châu Âu.</p>
<p>Ngài Tenga Rinpoche đáng tôn kính hiện nay là một trong số rất ít những bậc đạo sư [được tiếp nhận và] nắm giữ dòng truyền thừa Karma Kagyu không gián đoạn. Ngài là người sáng lập Hiệp hội Karma Kamtsang (Ba Lan), Karma Thegsum Ling tại Verona (Italy – Ý) và Lotus Trust cũng như Lotus Direkthilfe (Đức).</p>
<p><em>http://rongmotamhon.net/mainpage/doc-sach-Tieu-su-Dai-su-Tenga-Rinpoche-116-2679-online-2.html</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/karma-kagyu/tieu-su-ngan-duc-kyabje-tenga-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
