<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Đạo sư Kagyu</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-kagyn/lich-su-chung-truyen-thua-kagyu/dao-su-kagyu/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Sun, 07 Jun 2026 19:37:36 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Hành giả vĩ đại nhất của Tây Tạng có thể dạy ta điều gì về cuộc đời</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/hanh-gia-vi-dai-nhat-cua-tay-tang-co-the-day-ta-dieu-gi-ve-cuoc-doi/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/hanh-gia-vi-dai-nhat-cua-tay-tang-co-the-day-ta-dieu-gi-ve-cuoc-doi/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 18 Aug 2022 03:38:10 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Kagyu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11516</guid>
		<description><![CDATA[Tên ngài là Milarepa và ngài là một kẻ sát nhân. Thủa đầu đời của vị hành giả vĩ đại người Tây Tạng này đã bị tổn thương bởi sự bạo lực, thù hằn và sân hận. Nhưng mỗi khi nhắc đến tên ngài, đôi mắt của mọi người Tây Tạng sẽ ướt đẫm những giọt lệ sùng mộ và&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/hanh-gia-vi-dai-nhat-cua-tay-tang-co-the-day-ta-dieu-gi-ve-cuoc-doi/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Tên ngài là Milarepa và ngài là một kẻ sát nhân. Thủa đầu đời của vị hành giả vĩ đại người Tây Tạng này đã bị tổn thương bởi sự bạo lực, thù hằn và sân hận. Nhưng mỗi khi nhắc đến tên ngài, đôi mắt của mọi người Tây Tạng sẽ ướt đẫm những giọt lệ sùng mộ và hỷ lạc. Cuộc đời của Milarepa là một câu chuyện về sự chuyển hóa. Đây là một người đã nhận ra những lỗi lầm, sai sót của mình và đã xoay chuyển cuộc đời mình. Đây là một người đã trở thành một yogi (hành giả) vĩ đại nhất mà thế giới từng nhìn thấy.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Milarepa là ai?</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kẻ sát nhân</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Milarepa sinh năm 1052 trong một gia đình giàu có ở xứ tuyết Tây Tạng. Cha ngài mất khi ngài còn nhỏ và bởi không có người cai quản điền trang, chú thím ngài đã chiếm đoạt toàn bộ di sản của ngài. Tràn ngập sự giận dữ và căm thù, chàng thanh niên Milarepa đi học huyền thuật và nhanh chóng trở về để giết hại những kẻ hãm hại gia đình mình. Trong thực tế, người ta nói rằng với sự căm thù, Milarepa sân hận tới nỗi đã giết chết 35 người trong ngôi làng của chú ngài trong đêm phục hận.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Gặp gỡ Đạo sư</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Không lâu sau những sự kiện khủng khiếp đó, cuộc đời của Milarepa bắt đầu vỡ tan thành từng mảnh. Ngài đã đi tới một chốn vô cùng tăm tối và ngài nhận thức thật sâu xa rằng cuộc đời ngài hóa ra hoàn toàn lầm lạc. Ngài xấu hổ về con người mình và những gì ngài đã làm cho gia đình ngài. Ngài nhận thức được lỗi lầm trầm trọng ngài đã phạm.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế ngài bắt đầu làm những điều tốt lành. Trong quá trình chuộc lại lỗi lầm, Milarepa gặp Đạo sư Marpa, vị Thầy đã mang toàn bộ Phật pháp từ Ấn Độ về Tây Tạng. Để đưa về Tây Tạng những giáo lý này, Marpa đã phải chịu đựng những gian khổ lớn lao và người ta nói rằng không có Marpa thì Phật giáo sẽ không tồn tại ở xứ tuyết.</p>
<p style="text-align: justify;">Giây phút Milarepa nhìn thấy Marpa lần đầu tiên thật là kỳ diệu. Truyền thuyết kể lại rằng Marpa ở ngoài đồng, bên một con đường, ngài uống một ly rượu và Milarepa đi ngang qua mặt ngài. Thoạt đầu khi Milarepa vừa nhìn thấy Marpa, toàn thể thế giới tĩnh lặng và lông tóc sau cổ ngài dựng đứng lên. Milarepa không biết người đàn ông đó là ai nhưng bởi mối nối kết mạnh mẽ từ những đời quá khứ, người ta nói rằng chỉ nhìn thấy Marpa là Milarepa đã kinh nghiệm một trạng thái thiền định sâu xa.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Marpa buộc Milarepa phải chịu những gian khổ lớn lao</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Milarepa đã tu học với nhiều Đạo sư Phật giáo nhưng dường như không vị Thầy nào có thể giúp đỡ được ngài. Trong trái tim của ngài, ngài biết ngài phải tu học với Marpa. Vì thế ngài quay trở lại để hỏi Marpa và khẩn cầu vị Thầy này giúp đỡ nhưng Marpa chỉ quở mắng và đuổi ngài đi. Mỗi lần Milarepa thỉnh cầu giáo lý thì Marpa chỉ giận dữ, đánh đập và tống cố ngài ra ngoài. Mặc dù vậy, cuối cùng Marpa nhượng bộ và đi tới một thỏa thuận với Milarepa:</p>
<p style="text-align: justify;">“Hãy xây cho ta một ngọn tháp lớn và ta sẽ dạy Pháp cho ngươi”, Marpa nói.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế Milarepa bắt đầu làm việc. Ngài thâu thập những viên đá, các tảng đá và gỗ từ khắp mọi nơi. Sau nhiều tuần làm việc kiệt lực, Milarepa trở về gặp Marpa và nói với vị Thầy rằng ngọn tháp đã hoàn tất. Marpa tới kiểm tra công việc và khi nhìn thấy ngọn tháp, Marpa bắt đầu chửi mắng Milarepa, nói rằng Milarepa đã làm sai hoàn toàn và phải bắt đầu lại!</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Sự việc này diễn ra chín lần nữa</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Ngọn tháp cuối cùng mà Milarepa xây dựng cao chín tầng và phải mất nhiều tháng để hoàn tất. Xin nhớ rằng việc này xảy ra trước khi có xe hơi, cần trục và máy trộn xi măng. Công việc này làm Milarepa bị thương và người ta nói rằng lưng ngài đầy những vết thương lở loét và giờ đây ngài thành một người gù lưng bởi phải vác những tảng đá. Nhưng ngài đã thực hiện điều Marpa yêu cầu và sự hiến dâng của ngài đối với Thầy Marpa không bao giờ lay chuyển. Ngài vô cùng khao khát giáo lý.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi ngọn tháp sau cùng được xây dựng xong, Milarepa ngần ngại trở về nhà của Marpa, nơi vị Thầy đang ban các giáo lý cao cấp cho vài hành giả khác. Milarepa phủ phục dưới chân Thầy và cầu xin giáo lý. Nhưng cũng như thường lệ, Marpa bảo Milarepa hãy ra khỏi nơi đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Hoàn toàn tuyệt vọng, Milarepa quyết định tự vẫn. Trong quá khứ, ngài đã giết chết 35 người và không có giáo lý của Đức Phật, ngài cảm thấy không thể làm những điều đúng đắn và không có cách nào để mang lại lợi ích cho những người đã chết đó. Vì thế ngài treo một sợi thừng trên cây và tròng dây quanh cổ. Ngài hít một hơi thật sâu và dốc hết nghị lực, và ngay khi ngài sắp bước vào cái chết thì Marpa tới gần và nói giờ đây Milarepa đã sẵn sàng được nhận những giáo lý tối thượng của Phật giáo. Thầy Marpa đã chấp nhận ngài là đệ tử.</p>
<p style="text-align: justify;">Người ta nói rằng Marpa bắt Milarepa phải chịu những gian khổ này để giúp Milarepa tịnh hóa ác nghiệp và khiến ngài trở thành một bình chứa (pháp khí) thích hợp đối với các giáo lý. Không có những gian khổ này, tâm thức của Milarepa sẽ không được chuẩn bị và ngài sẽ tu tập không tiến bộ do bởi những ác hạnh trầm trọng của ngài trong quá khứ. Nhờ trí tuệ, Marpa biết rằng những công việc khổ nhọc sẽ làm lợi lạc cho Milarepa và giúp cho tân hành giả này tiến bộ nhanh chóng trên con đường.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Tu học với Marpa và thiền định trong các hang động</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó Milarepa nhận lĩnh tất cả những giáo lý của Marpa. Một đêm trong một giáo lý tuyệt mật, Marpa có một giấc mơ. Trong giấc mơ một vị Phật nữ tuyệt đẹp nói với ngài rằng Milarepa sẽ trở thành vị hộ trì dòng truyền thừa của ngài và vì thế hãy nỗ lực giảng dạy cho Milarepa. Do đó Marpa đã dạy cho Milarepa mọi sự mà ngài đã học ở Ấn Độ, giống như người ta rót nước từ chiếc bình này sang chiếc bình khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Milarepa đã được giảng dạy đầy đủ, ngài từ giã mọi người và lên đường tới nơi hoang dã. Ngài nguyện sống đơn độc trong những hang động cho tới khi thành tựu giác ngộ và ngài không bao giờ vi phạm lời nguyện này. Đôi khi Milarepa bít lối vào hang để ngài không thể ra khỏi và thiền định ở đó hàng nhiều năm. Thực phẩm và nước uống được đưa vào cho ngài qua một khe nứt giữa các viên gạch.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giác ngộ trong một đời</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Các giáo lý Phật giáo nói rằng người ta có thể đạt được giác ngộ trong một đời nhưng điều đó vô cùng hiếm có. Hầu hết hành giả Phật giáo phải mất rất nhiều cuộc đời để tích lũy trí tuệ và công đức. Nhưng Milarepa đã làm được điều đó. Ngài nổi danh là người duy nhất trong lịch sử Tây Tạng thành tựu sự toàn giác trong một thân người, ngay trong một đời người. Và đó là lý do vì sao ngài là hành giả vĩ đại nhất trong mọi hành giả.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Milarepa có thể dạy chúng ta điều gì trong cuộc đời</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Milarepa nổi danh là một thi sĩ vĩ đại. Ngài thường lang thang quanh những miền quê, hát những bài ca và viết những bài thơ cho người dân địa phương. Tôi muốn chia sẻ với quý vị một vài bài thơ, giáo lý và trích dẫn nổi tiếng nhất của Milarepa với hy vọng rằng điều đó có thể mang lại lợi lạc cho một người nào đó.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>1. Hãy khiêm tốn</strong></p>
<p style="text-align: justify;">“Hãy ngồi ở chỗ thấp nhất, và các con sẽ đạt được vị trí cao nhất”. – Milarepa</p>
<p style="text-align: justify;">Milarepa nổi danh là rất khiêm tốn. Ngài không mặc gì ngoài một vài quần áo rách dơ bẩn và không bao giờ ngồi trên một Pháp tòa hay ghế cao. Ngài không có tu viện lộng lẫy, thay vào đó ngài chọn cách sống trong những hang động và núi non.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhiều bài ca của ngài nói về sự khiêm tốn. Milarepa thường nói về đức tính khiêm tốn giúp ta phát triển lòng bi mẫn và lòng yêu thương, trong khi sự kiêu ngạo khiến chúng ta cảm thấy mình tốt hơn và quan trọng hơn tất cả những người khác. Ngài thường quở trách những người dân địa phương kiêu ngạo, nói rằng sự cao ngạo là nguyên nhân của đau khổ bởi nó quá sức quy ngã. Và khi quý vị kiêu ngạo và tự cao, các sự việc không theo ý muốn của quý vị, quý vị sẽ đau khổ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>2. Tỉnh giác về cái chết</strong></p>
<p style="text-align: justify;">“Cuộc đời thật ngắn ngủi, và thời gian của cái chết thì bất định; vì thế hãy chuyên tâm thiền định. Hãy tránh những hành vi sai trái và tích tập công đức trong khả năng tốt nhất của các con, dù phải trả giá bằng cuộc đời mình. Tóm lại, hãy hành động để các con không có lý do gì phải xấu hổ về bản thân mình; và hãy tuân thủ chặt chẽ quy tắc này”. – Milarepa</p>
<p style="text-align: justify;">Một trong những chủ đề chính yếu trong các bài thơ và bài hát của Milarepa là cái chết. Dường như việc ngài là một kẻ sát nhân trong quá khứ đã lưu lại dấu vết trong tâm thức ngài và ngài luôn luôn tỉnh giác về việc cái chết có thể đến bất kỳ lúc nào. Nhưng Milarepa đã sử dụng sự hiểu biết đó như một nguồn cảm hứng chứ không phải một lý do để tuyệt vọng. Thay vì lo lắng về cái chết, ngài đối mặt với những sợ hãi của ngài và sử dụng cái chết của ngài như động lực chính yếu để tu hành miên mật.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi thường cố khuyến khích các độc giả của tôi thực hành tương tự. Chúng ta không biết khi nào chúng ta chết nhưng ta biết rằng cái chết là một điều chắc chắn. Vì thế ta nên sử dụng cơ hội quý báu này để thành tựu các mục tiêu của ta và làm một vài điều tốt đẹp nào đó. Đó là những gì Milarepa đã làm. Ngài đã sử dụng phần lớn thời gian của ngài bằng cách liên tục tỉnh giác rằng thời gian có thể cạn kiệt.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>3. Tỉnh giác về sự vô thường</strong></p>
<p style="text-align: justify;">“Mọi theo đuổi thế gian chỉ có một kết thúc chắc chắn phải xảy ra và không thể tránh khỏi, đó là sự đau khổ. Mọi thâu đạt kết thúc trong tan tác; mọi tạo lập kết thúc trong hủy diệt; mọi gặp gỡ kết thúc trong chia ly; mọi sự sinh ra kết thúc trong cái chết”. – Milarepa</p>
<p style="text-align: justify;">Một điều mà tôi mong ước cha mẹ tôi sử dụng thêm thời gian để dạy dỗ tôi là chân lý của sự vô thường. Hiểu rõ lẽ vô thường là một điều vô cùng hữu ích nhưng đáng buồn thay, đó lại là một điều mà hầu hết mọi người không bao giờ thực sự thấu hiểu.</p>
<p style="text-align: justify;">Milarepa thường nói với mọi người rằng đừng quá dính mắc vào các sự việc bởi chúng sẽ không tồn tại lâu dài. Những mối quan hệ, của cải, công việc, nhà cửa, xứ sở v.v..., tất cả sẽ biến mất như một cầu vồng. Sẽ chẳng có gì tồn tại mãi mãi. Và nhờ thấu hiểu và tôn trọng chân lý này ta sẽ có thể vui hưởng cuộc đời nhiều hơn nữa. Những mối quan hệ của ta với thế giới trở nên hiện thực và lành mạnh hơn. Ta sẽ không mê mải bám chấp vào các sự việc khi ngăn cản chúng đừng chấm dứt. Khi thấu hiểu lẽ vô thường ta có thể nhận thức sâu sắc hơn về các sự việc khi chúng hiện hữu ở đây.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>4. Đừng bị lừa gạt bởi những phóng dật thế gian.</strong></p>
<p style="text-align: justify;">“Những công việc của thế gian sẽ tiếp diễn không bao giờ ngừng nghỉ. Đừng trì hoãn thực hành thiền định”. – Milarepa</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi thích trích dẫn này. Trong thực tế, tôi dùng câu trích dẫn này làm nền màn hình máy tính của tôi. Tôi đọc nó khi cần nhắc nhở mình rằng có những điều khác đáng làm hơn là chỉ ăn, ngủ và làm việc.</p>
<p style="text-align: justify;">Tất cả chúng ta đều có thể đồng cảm với châm ngôn này, cho dù chúng ta không là những hành giả. Những công việc của thế gian sẽ tiếp diễn không bao giờ ngừng dứt. Sẽ luôn luôn có một người nào đó hay điều nào đó ngăn trở những hy vọng hay giấc mơ của quý vị. Có thể đó là công việc, tiền bạc hay một vài chướng ngại khác nhưng ngay khi quý vị vượt qua nó, một chướng ngại mới sẽ xuất hiện.</p>
<p style="text-align: justify;">Milarepa bảo chúng ta đừng lãng phí thời gian mà phải thuận thảo với nó. Sẽ luôn luôn có những phóng dật và vấn đề, nhưng dù thế nào đi nữa thì chúng ta cần phải tiến tới. Điều này vô cùng quan trọng.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Sống và chết không hối tiếc.</strong></p>
<p style="text-align: justify;">“Tôn giáo của tôi không phải là đạo Phật. Tôn giáo của tôi là sống và chết không hối tiếc”. – Milarepa.</p>
<p style="text-align: justify;">Đây luôn luôn là trích dẫn mà tôi yêu thích. Không chỉ riêng của Milarepa mà của mọi người, ở mọi nơi. Tôi đọc nó và cảm thấy hứng khởi trong việc làm một người tốt hơn và làm mọi sự tôi có thể khiến cho đời tôi ích lợi hơn và xứng đáng hơn. Tôi yêu quý trích dẫn đó bởi nó đánh mạnh vào cốt lõi của vấn đề và cho ta thấy việc đứng ở ngưỡng cửa của cái chết và hối tiếc về những điều mà ta từng làm (hay không làm!) trong tuổi thanh xuân thì khủng khiếp biết bao.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Những Bài Ca của Milarepa</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Nếu quý vị thích thú trong việc nghiên cứu thêm nữa về đại hành giả này thì tôi hết sức khuyến khích quý vị đọc quyển sách nổi tiếng tên là Một Trăm ngàn Bài Ca của Milarepa. Đây luôn luôn là quyển sách tôi thích đọc nhất. Đó là một tuyển tập tuyệt vời gồm tất cả những bài thơ, bài hát và giáo lý của Milarepa.</p>
<p style="text-align: justify;">Đó là một tác phẩm vô cùng súc tích. Đôi khi ngài hát về những điều như thể diễn ra sống động trong một hang động và quý vị cảm thấy như thể thực sự ở đó, ngay bên cạnh ngài. Những lúc khác ngài hát về lòng bi mẫn bùng cháy trong lòng ngài giống như một ngọn lửa và quý vị cảm nhận về điều gì đó như thể kinh nghiệm về lòng thương yêu đích thực.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung đó là một quyển sách thật đáng đọc. Quyển sách này từng hiện diện trong mọi gia đình ở Tây Tạng trong hàng trăm năm. Nó được đọc cho trẻ em khi chúng còn thơ ấu và sau đó được các tu sĩ nghiên cứu trong các tu viện.</p>
<p style="text-align: justify;">Quý vị khó tìm được một người Tây Tạng nào không thể đọc thuộc lòng ít nhất một bài thơ của Milarepa.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kết luận</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Bài viết này sẽ không thể lưu hành mãi mãi. Tiểu sử của Milarepa có thể dạy chúng ta rất nhiều về việc chúng ta là ai và chúng ta có thể trở thành cái gì. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là nó cho chúng ta thấy rằng tất cả chúng ta đều có năng lực để chuyển hóa cuộc đời và hoàn cảnh của riêng mình. Chúng ta là chủ nhân số phận của chính mình.</p>
<p><em>Nguyên tác: What Tibet’s Greatest Ever Yogi Can Teach Us About Living Life</em></p>
<p><em>Việt dịch: Thanh Liên</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn Anh ngữ: </em><a href="https://thedailymind.com/what-tibets-greatest-ever-yogi-can-teach-us-about-living-life/"><i><span style="font-weight: 400;">What Tibet’s Greatest Ever Yogi Can Teach Us About Living Life</span></i></a></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn Việt ngữ: <a href="https://thuvienhoasen.org/p39a6144/3/hanh-gia-vi-dai-nhat-cua-tay-tang-co-the-day-ta-dieu-gi-ve-cuoc-doi">Hành giả vĩ đại nhất của Tây Tạng có thể dạy ta điều gì về cuộc đời</a></em></p>
<p style="text-align: justify;"><img src="chrome-extension://bpggmmljdiliancllaapiggllnkbjocb/logo/48.png" alt="" /></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/hanh-gia-vi-dai-nhat-cua-tay-tang-co-the-day-ta-dieu-gi-ve-cuoc-doi/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử và Lịch hoằng Pháp Đức Ayang Rinpoche tháng 10 năm 2015</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/lich-hoang-phap-duc-ngai-ayang-rinpoche-thang-10-nam-2015/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/lich-hoang-phap-duc-ngai-ayang-rinpoche-thang-10-nam-2015/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 04 Oct 2015 08:14:25 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức mới]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Kagyu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6087</guid>
		<description><![CDATA[Được sự chấp thuận của Ban Tôn Giáo Chính Phủ và của chư tôn đức thường trực BTS GHPGVN tỉnh Tiền Giang . Nhận lời mời của ĐĐ . Thích Tịnh Huệ; trú trì chùa Liên Trì; tỉnh Tiền Giang, Ngài Ayang Ripocher và phái đoàn sẽ có chuyến hoằng pháp tại chùa Liên Trì (ấp Đông Thạnh; xã Thái&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/tin-tuc/lich-hoang-phap-duc-ngai-ayang-rinpoche-thang-10-nam-2015/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Được sự chấp thuận của Ban Tôn Giáo Chính Phủ và của chư tôn đức thường trực BTS GHPGVN tỉnh Tiền Giang . Nhận lời mời của ĐĐ . Thích Tịnh Huệ; trú trì chùa Liên Trì; tỉnh Tiền Giang, Ngài Ayang Ripocher và phái đoàn sẽ có chuyến hoằng pháp tại chùa Liên Trì (ấp Đông Thạnh; xã Thái An Đông huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang) từ ngày 9 đến ngày 27/10/2015 .</p>
<p style="text-align: justify;">Theo tin từ Phật tử Như Hồng ( BTT ) cho biết : Xuyên suốt thời gian hoằng pháp tại chùa Liên Trì, Ngài Ayang Ripocher và phái đoàn sẽ có nhiều thời pháp thoại và hướng dẫn đạo tràng, tăng ni và phật tử tu học pháp môn “ Chuyển di thần thức về cỏi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà” . Ngoài ra, ngài Ayang Ripocher còn tham dự buổi phóng sanh cầu nguyện quốc thái dân an, thế giới an bình, vạn dân an cư lạc nghiệp và khánh thành cây cầu tình thương tại tỉnh tiền giang do ngài Ayang Ripocher và phật tử tài trợ . Ban tổ chức sẽ cung đón Ngài  Ayang Ripocher và phái đoàn tại cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất Tp Hồ chí minh vào sáng ngày 9/10/2015 .</p>
<p>http://www.nigioingaynay.com/Tin-tuc/4939/Tien-giang-ngai-ayang-ripocher-hoang-phap-tai-chua-lien-tri.html</p>
<p style="text-align: center;"><strong>Tiểu sử Đức Ayang Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Ayang-RInpoche-Vajrasattva-2.jpeg"><img class="alignnone  wp-image-6093" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Ayang-RInpoche-Vajrasattva-2-200x300.jpeg" alt="Ayang-RInpoche-Vajrasattva-2" width="342" height="513" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Đức Ayang Rinpoche sanh trong một gia đình du mục ở miền Đông Tây Tạng. Phái đoàn các Trưởng Lão Lạt Ma , kể cả Gyalwang Karmapa Rangjung Rigpe Dorje thứ 16 và Yongzin Jabra Rinpoche đã kết luận rằng Ngài là hiện thân trí tuệ của Khai Mật Tạng Pháp Vương Rigzin Choegyal Dorje. Có lẽ không một Lạt Ma Tây Tạng nào lại được đồng nhất tên tuổi của mình với sự truyền thừa của pháp môn Phowa đến Phương Tây như Trưởng Lão Đại Sư Ayang Rinpoche. Ayang Rinpoche là Lạt Ma của dòng Drikung Kagyu, người nắm giữ cả hai dòng Nyingma và Drikung. Ngài tiếp tục một giòng truyền thừa không gián đoạn của các Lạt Ma thuộc dòng Drikung Phowa từ Guru Dorje Chang – Kim Cang Trì cho đến hiện kiếp. Ngài đã nhập thất miên mật để hành trì pháp môn Phowa và đã được khắp nơi công nhận như là một bậc Thầy của pháp môn Phowa. Ngài là Lạt Ma đầu tiên thuộc dòng Drikung rời khỏi Tây Tạng. Mặc dù được tìm ra bởi một phái đoàn Trưởng Lão Lạt Ma rằng Ngài là hiện thân của Khai Mật Tạng Pháp Vương Rigzin Choegyal Dorje, Ayang Rinpoche vẫn muốn tìm ra thêm những hoạt động của Ngài trong tiền kiếp. May mắn thay, Khai Mật Tạng Pháp Vương Choegyal Dorje đã viết tiểu sử của ông ta trong suốt cuộc đời, và Ayang Rinpoche đã có được một bản sao của quyển sách này mà qua đó Ngài bắt đầu nghiên cứu về cuộc đời và hoạt động của hiện thân trước của Ngài. Trong tiểu sử nầy, Choegyal Dorje (tức kiếp trước của Ayang Rinpoche) có đề cập đến Ngài là đệ tử của Đức Phật Thích Ca cách đây 2,500 năm. Công hạnh của ngài đã được ghi nhận trong Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim. Vào lúc đó Ngài đã là một vị Bồ Tát. Vị Bồ Tát đó tiếng Tây Tạng tên là Zippi Dok, tiếng Phạn là Ruchiraketu – Diệu Tràng. Dựa theo Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim, Bồ Tát Diệu Tràng lúc đó ở đỉnh núi Linh Thứu cùng với chúng hội và Ngài đã thỉnh vấn về lý do thọ mạng ngắn ngủi của Đức Phật Thích Ca. Ngài cũng đã kể lại cho Đức Phật Thích Ca về giấc mơ chiếc trống vàng của Ngài. Khi Ngài gõ trống, tiếng trống là âm thanh của sự sám hối tột bực và tịnh hóa ác nghiệp của quá khứ. Chúng ta có thể chuyển tải Kinh tối thượng xuống từ nơi sau đây: http://www.fpmt.org/teachers/teachings/sutras/golden-light-sutra/download.html</p>
<p style="text-align: justify;">Kinh này đã được dịch ra tiếng Anh, tiếng Tàu, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Nam Dương, tiếng Ý, tiếng Mông Cổ, tiếng Nepal, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Phạn, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Việt và tiếng Tây Tạng. Trong tiểu sử của Choegyal Dorje, Ngài có nhắc đến Ngài là một trong 25 đệ tử chính của Guru Liên Hoa Sanh tên là Langdro Lotsawa. Trong suốt cuộc đời, Ngài đã dịch Phật Pháp từ tiếng Phạn sang tiếng Tây Tạng. Trong một đời khác, Choegyal Dorje là đệ tử của Đức Milarepa tên là Repa Shiwa O, là một trong tám trưởng tử tâm huyết vĩ đại của Đức Milarepa. Miêu tả tóm tắt về lịch sử của Ngài có thể tìm thấy trong: http://www.dzogchenmonastery.org/repa_shiwa_o.html</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Ayang Rinpoche bảo rằng Ngài tự nhiên có lòng sùng tín đến Guru Liên Hoa Sanh và Đức Milarepa, và tin tưởng vào quyết định của vị Đạo Sư gốc của Ngài là His Holiness Karmapa đời thứ 16, nhưng làm thế nào Ngài có thể chắc chắn rằng Ngài chính là hóa thân của Khai Mật Tạng Pháp Vương Choegyal Dorje? Trong tiểu sử của Choegyal Dorje có hai đoạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Nửa đoạn viết bằng tiếng Tây Tạng, nhưng nửa đoạn kia thì lại viết bằng một ngôn ngữ khác. Sau khi đã nghiên cứu nhiều, Ayang Rinpoche đã có thể xác định rằng nửa câu của mỗi đoạn được viết bằng ngôn ngữ của Dakini – Thiên Nữ. Khai Mật Tạng Đại Pháp Vương Choegyal Dorje đã viết tiểu sử của ông trong suốt cuộc đời, lồng vào trong đó là hai câu mà dường như không có ý nghĩa gì trong văn bản tiểu sử của Ngài. Ayang Rinpoche đã tìm người có kiến thức về ngôn ngữ của Dakini- Thiên Nữ. Ngài nghe nói rằng Kamtrul Rinpoche người đang định cư tại Dharamsala có kiến thức về loại ngôn ngữ này. Vì thế Ayang Rinpoche đã đi đến Dharamsala để thỉnh cầu ý của Ngài. Khi Ayang Rinpoche gặp được Kamtrul Rinpoche thi Kamtrul Rinpoche đã khá lớn tuổi vào lúc đó và thị giác của ngài đã lệch lạc, tuy nhiên Ngài đã có thể đọc được hai câu và khẳng định rằng đó là tiếng Tây Tạng và ngôn ngữ của Dakini.</p>
<p style="text-align: justify;">Câu thứ nhất, nửa câu đầu bằng tiếng Tây Tạng: Tse Tsing Ma = Đời kế tiếp Nửa câu sau bằng ngôn ngữ của Dakini Ga Yu Ta Ji = Gayu là nơi sinh ra hoặc Gaba Ta = Ngựa Kamtrul Rinpoche nói với Ayang Rinpoche rằng nửa câu đầu rất rõ ràng Khai Mật Tạng Đại Pháp Vương Choegyal Dorje tiên đoán trước tái sanh kế tiếp của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Nửa câu sau nói về “gayu”, Ayang Rinpoche có nhắc rằng ngài sanh ra tại một nơi gọi là Gaba. Vì thế Kamtrul Rinpoche đã khẳng định rằng hoặc là có một cái gì hay một nơi chốn nào đó gần Gaba có âm thanh “ta”. Ayang Rinpoche đã nói rằng không có bất cứ cái gì với âm thanh “ta” chung quanh nơi đó, nhưng Ngài sanh vào năm con ngựa, mà tiếng Tây Tạng gọi là “ta”.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế, Kamtrul Rinpoche đã khẳng định câu thứ nhất nói rằng Choegyal Dorje sẽ tái sanh vào một nơi gọi là Gaba vào năm con ngựa. Câu thứ nhì Nửa phần đầu bằng tiếng Tây Tạng Lam Samo = Pháp môn vi diệu Phowa Nửa phần sau bằng ngôn ngữ của Dakini Powin Da din jing = Sự thành công lớn lao Ngay điểm này Kamtrul Rinpoche đã cho rằng dường như hai câu trên nói về Ayang Rinpoche. Tiên đoán sự ra đời và hoạt động pháp sau này của Ngài. Với hai câu được viết trong suốt cuộc đời của Khai Mật Tạng Pháp Vương Choegyal Dorje trong hai ngôn ngữ khác nhau, Ngài đã tiên đoán sự tái sanh kế tiếp và hoạt động tương lai của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế điều này khẳng định không chút nghi ngờ rằng Ayang Rinpoce chính là hiện thân của Choegyal Dorje. Xuyên qua tiểu sử của Ngài bắt đầu với đản sanh của Đức Phật Thích Ca và Phật pháp cách đây 2,500 năm với tên là Đại Bồ Tát Ruchiraketu - Diệu Tràng. Tuy nhiên vào thời ấy Ngài đã là một vị Bồ Tát, có nghĩa là Ngài đã bận rộn với các hoạt động Phật Pháp trong nhiều kiếp không thể tính xuể. Chúng ta thật là may mắn có thể tu học từ một vị Bồ Tát vĩ đại như Ayang Rinpoche và chúng ta nên trân quý từng câu mà Ngài đã dạy, và từng lúc mà chúng ta có thể hội ngộ với Ngài. Như Ngài vẫn thường nói “ Chúng ta phải cố gắng ….”</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Ph</i><i>ổ </i><i>T</i><i>ừ </i><i>- MaiThy d</i><i>ị</i><i>ch d</i><i>ự</i><i>a theo bài vi</i><i>ế</i><i>t c</i><i>ủ</i><i>a Lama Vincent.</i><br />
<i>T</i><i>ừ </i><i>Ph</i><i>ổ </i><i>L</i><i>ạ</i><i>c </i><i>– Tùng Vũ </i><i>&amp; Tâm B</i><i>ảo Đàn </i><i>hi</i><i>ệu đính.</i></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/lich-hoang-phap-duc-ngai-ayang-rinpoche-thang-10-nam-2015/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Đức Akong Tulku Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-akong-tulku-rinpoche-2/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-akong-tulku-rinpoche-2/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 01 Sep 2015 03:50:51 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Kagyu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3566</guid>
		<description><![CDATA[ Giai đoạn một : Những năm tháng đầu đời ở Tây Tạng. Đức Akong Tulku Rinpoche sinh năm 1939, gần Riwoche ở Tỉnh Kham, miền Đông Tây Tạng, từ khi còn rất nhỏ Ngài đã được phát hiện là Hóa thân chuyển thế của Akong đời thứ nhất, Tu viện trưởng Tu viện Dolma Lhakang gần Chakdado, vùng Chamdo thuộc&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-akong-tulku-rinpoche-2/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"> <strong>Giai đoạn một : Những năm tháng đầu đời ở Tây Tạng.</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Đức Akong Tulku Rinpoche sinh năm 1939, gần Riwoche ở Tỉnh Kham, miền Đông Tây Tạng, từ khi còn rất nhỏ Ngài đã được phát hiện là Hóa thân chuyển thế của Akong đời thứ nhất, Tu viện trưởng Tu viện Dolma Lhakang gần Chakdado, vùng Chamdo thuộc tỉnh Kham.  Đội tìm kiếm đã tuân theo sự hướng dẫn chính xác của Đức Gyalwa Karmapa đời thứ 16, vị lãnh đạo tối cao của Dòng Karma Kagyu</p>
<p style="text-align: justify;">Khoảng năm lên bốn tuổi, Ngài  được đưa tới Dolma Lhakang để  thụ nhận sự giáo dục tâm linh chính thức, cần thiết cho Ngài để có thể tiếp tục công việc của mình như một Tu viện trưởng về sau. Dolma Lhakang là tu viện với hàng trăm tu sĩ cùng rất nhiều ni viện và những khóa tu nhỏ liên quan. Bên cạnh việc nghiên cứu tôn giáo, Vị Akong tái sinh cũng được đào tạo về y học Tây Tạng truyền thống.</p>
<p style="text-align: justify;"> Thời niên thiếu, Ngài đã di chuyển từ cộng đồng này tới cộng động khác, thực hiện các nghi lễ tôn giáo và chữa bệnh cho mọi người. Sau đó, Ngài tới Đại học tu viện Secchen, nới Ngài đã thọ nhận trao truyền của Dòng truyền thừa Kagyu về Giáo Pháp Đại Thủ Ấn tinh túy từ Đức Secchen Kongtrul Rinpoche. Với tư cách là trưởng Dòng truyền thừa Kagyu, Ngài đã thực hành tu tập tâm linh chuyên sâu dưới sự hướng dẫn của Đức Gyalwa Karmapa đời thứ 16, chính là người chứng nhận Ngài trở thành người giảng dạy y học Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Akong Tulku Rinpoche cũng nắm giữ nhiều Dòng truyền thừa của phái Cổ Mật. Trong suốt thời gian này, Ngài luôn nhận được sự sùng kính mạnh mẽ từ những người đến với Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giai đoạn hai: Rời khỏi Tây Tạng</strong></p>
<p style="text-align: justify;"> Việc tiếp quản Tây Tạng năm 1959 của người Trung Quốc đã khiến Ngài phải di chuyển đến Ấn Độ trong một chuyến đi gian khổ kéo dài 9 tháng. Ngài dẫn đầu một đoàn gồm những 300 người nhưng chỉ có 13 người tới Ấn Độ an toàn. Tại một điểm dừng, họ đói đến nỗi đã phải luộc da giày và túi để làm súp. Sau khi tạm nghỉ ở khu lều trại dành cho người tị nạn một thời gian, cùng với các vị Lama khác, Ngài được yêu cầu chăm sóc các vị tu sĩ trẻ ở tu viện thuộc Dalhousie, Tây Bắc - Ấn Độ.</p>
<p style="text-align: justify;"> Nhờ sự giúp đỡ của Bà Freda Bedi, sau này đã thành Chị Palmo, năm 1963 Ngài và Đức Trungpa Tulku, Tu viện trưởng Tu viện Surmang, đã đi thuyền tới nước Anh học tiếng Anh ở Oxford. Chỉ có Đức Trungpa Tulku nhận được học bổng còn Ngài Akong Rinpoche đã làm việc ở một bệnh viện nhỏ một vài năm để tự nuôi mình. Trungpa Rinpoche và Tulku Chime của Tu viện Benchen đã ở chung trong một căn hộ nhỏ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giai đoạn ba: Những ngày đầu ở Scotland</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Ngài đã dành 25 năm tiếp theo (1963 – 1988) giới thiệu đến người phương Tây  về Phật giáo và một vài nét văn hóa Tây Tạng. Điều này phục vụ một mũi tên và trúng hai đích : Làm cho thế giới vật chất phương Tây trở nên phong phú với một trong những nền văn minh độc đáo và tốt nhất châu Á.</p>
<p style="text-align: justify;">Bằng cách làm như thế, điều đó cũng đảm bảo duy trì sự phát triển liên tục của Dòng Truyền Thừa. Công việc này tập trung vào sự phát triển của Trung tâm Tây Tạng Kagyu Samye Ling, ở Scotland ; trung tâm Phật giáo Tây Tạng đầu tiên ở phía Tây, được đồng phát triển bởi Đức Akong Tulku Rinpoche và Chogyam Trungpa Rinpoche trong vài năm đầu tiên và sau đó tiếp tục bởi Đức Akong Tulku Rinpoche. Thu hút nhiều phật tử nhiều nơi đến thăm viếng, Ngài đã tạo ra một trung tâm hòa bình và tâm linh đầu tiên và tốt nhất, với dấu ấn mạnh mẽ về sự bi mẫn vị tha, mở lòng tới bất cứ ai có tín tâm.</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp lại nhu cầu tìm hiểu về các giáo lý đặc thù của Dòng truyền thừa Kagyu, Ngài đã mời các học giả uyên bác và các chuyên gia Thiền tới Scotland, nơi họ đã dạy các pháp tu Thiền chính và các văn bản triết học. Điều này được đặt ra vì sự phát triển của những giáo lý Dòng truyền thừa Kagyu ở phương Tây, khi vị lãnh đạo tối cao của Dòng truyền thừa Kagyu, Đức Gyalwa Karmapa đời thứ 16 tới thăm Samye Ling năm 1975 và 1977. Đức Karmapa đã ấn định Đức Akong Tulku Rinpoche là người đứng ra tổ chức chuyến đi tới châu Âu dài 6 tháng vào năm 1977 cho Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giai đoạn bốn: Phát triển Kagyu Samye Ling</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Dưới sự hướng dẫn của Đức Gyalwa Karmapa đời thứ 16, Đức Akong Tulku Rinpoche đã thiết lập một khóa tu thiền truyền thống 3 năm tại Samye Ling và thực hiện Dự án Samye, xây dựng một ngôi đến Phật giáo Tây Tạng truyền thống và một trường học tập với Thư viện và Viện Bảo tàng.</p>
<p style="text-align: justify;"> Giai đoạn 1 của Dự án Samye là việc xây dựng ngôi đền, do toàn bộ các thành viên của cộng đồng Samye Ling thực hiện, dưới sự lãnh đạo tích cực của Đức Akong Tulku Rinpoche, người ta thường nhìn thấy Ngài với một cái xẻng trên công trường xây dựng. Bên trong ngôi đền được thể hiện trang nghiêm bởi một đội họa sĩ, các nhà điêu khắc, chạm trổ và các thợ thủ công làm việc dưới sự hướng dẫn của Đức Sherapalden Beru. Sherapalden là một trong những họa sĩ kiệt xuất của phái Karma Kagyu.</p>
<p style="text-align: justify;"> Lễ khánh thành long trọng đền Samye diễn ra vào ngày mùng 8, tháng 8 năm 1988, cùng với một tấm bảng kỷ niệm được công bố bởi Đức Tai Situpa đời thứ 12 và Rt. Hon. David Steel MP. Các đại diện cấp cao về tôn giáo đã tham dự. Trong suốt giai đoạn phát triển Samye Ling, rất nhiều hoạt động và các trung chi nhánh được đưa vào thực thi. Các trung tâm Samye Dzong đã phát triển ở Bỉ, Tây Ban Nha, Ai-len, Nam Phi, Zimbabwe và Mỹ. Trên các phương diện khác, với sự quan tâm mà nhiều nhà trị liệu và bác sĩ đã cho thấy kỹ năng y học Phật giáo và trị liệu của Đức Akong Tulku Rinpoche đã dẫn đến sự phát triển của hệ thống trị liệu độc đáo, như phương pháp trị liệu Tara Rokpa rất phát triển hiện nay.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giai đoạn Năm: Giúp đỡ Tây Tạng</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Hoạt động chính của Đức Akong Tulku Rinpoche vào những năm 1990 là sự mở rộng các hoạt động nhân đạo, chủ yếu ở Tây Tạng và Nepal và ở cả châu Âu nơi Ngài đã cho xây vài bếp ăn nhỏ, cung cấp súp cho những người vô gia cư trong những thành phố chính. Với sức mạnh to lớn và sự siêng năng, Ngài đã mang đến hơn 100 dự án cải thiện sự sống cho mọi người, mỗi dự án đều có trường học, phòng khám, trường Cao đẳng Y, các chương trình tự viện hoặc các phương pháp để cứu môi sinh ở Tây Tạng. Các cơ sở vật chất này chủ yếu dành cho khu vực nông thôn ở miền Đông của cao nguyên Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Tại Nepal, làm việc chủ yếu thông qua phó chủ tịch Lea Wyler của Rokpa International, Đức Akong Tulku Rinpoche đã thiết lập một dự án quan trọng cung cấp thực phẩm cho những người đói kém trong suốt những tháng mùa đông. Dự án này được mở rộng để xây dựng thêm  nhà trẻ, phòng khám, các hội thảo tự viện dành cho phụ nữ...</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1994, Đức Akong Tulku Rinpoche là một trong những người chủ chốt phát hiện ra sự hóa thân của Đức Gyalwa Karmapa đời thứ 16 và Ngài đóng vai trò quan trọng trong việc đầu tiên tìm ra Đức Gyalwa Karmapa đời thứ 16. Sau đó, Ngài gửi Đức Đức Gyalwa Karmapa đời thứ 16 vào Tu viện Tolung. Ngài đã thực hiện chuyến viếng thăm hai Nhiếp chính là Đức Tai Situpa Rinpoche thứ 12 và Đức Gyatsabpa Rinpoche đời thứ 9. Ngài cùng với Đức Tai Situpa Rinpoche thứ 12 và Đức Gyatsabpa Rinpoche đời thứ 9 đã làm lễ tấn phong cho Đức Gyalwa Karmapa đời thứ 17, hay là Urgyen Drodul Tinley Dorje.</p>
<p style="text-align: justify;">Trọng trách công việc tăng lên của Ngài ở Tây Tạng đã dẫn Đức Akong Tulku Rinpoche yêu cầu anh trai mình, Tỳ kheo Lama Yeshe Losal  đảm nhiệm việc điều hành Kagyu Samye Ling ở Scotland. Lama Yeshe đã trở thành Tu viện trưởng mới và đã tạo ra môi trường công động tu tập trong và ngoài Tu viện.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn :  http://www.samye.org/arbio4.htm</em></p>
<p style="text-align: justify;">Việt ngữ : Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính : Giác nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với </em><em>Đức Akong Tulku Rinpoche</em> <em>đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này Ngài sớm quang lâm đến Việt nam</em></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-akong-tulku-rinpoche-2/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
