<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Truyền thừa Kagyu</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-kagyn/lich-su-chung-truyen-thua-kagyu/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Sun, 07 Jun 2026 19:24:15 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Hành giả vĩ đại nhất của Tây Tạng có thể dạy ta điều gì về cuộc đời</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/hanh-gia-vi-dai-nhat-cua-tay-tang-co-the-day-ta-dieu-gi-ve-cuoc-doi/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/hanh-gia-vi-dai-nhat-cua-tay-tang-co-the-day-ta-dieu-gi-ve-cuoc-doi/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 18 Aug 2022 03:38:10 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Kagyu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11516</guid>
		<description><![CDATA[Tên ngài là Milarepa và ngài là một kẻ sát nhân. Thủa đầu đời của vị hành giả vĩ đại người Tây Tạng này đã bị tổn thương bởi sự bạo lực, thù hằn và sân hận. Nhưng mỗi khi nhắc đến tên ngài, đôi mắt của mọi người Tây Tạng sẽ ướt đẫm những giọt lệ sùng mộ và&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/hanh-gia-vi-dai-nhat-cua-tay-tang-co-the-day-ta-dieu-gi-ve-cuoc-doi/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Tên ngài là Milarepa và ngài là một kẻ sát nhân. Thủa đầu đời của vị hành giả vĩ đại người Tây Tạng này đã bị tổn thương bởi sự bạo lực, thù hằn và sân hận. Nhưng mỗi khi nhắc đến tên ngài, đôi mắt của mọi người Tây Tạng sẽ ướt đẫm những giọt lệ sùng mộ và hỷ lạc. Cuộc đời của Milarepa là một câu chuyện về sự chuyển hóa. Đây là một người đã nhận ra những lỗi lầm, sai sót của mình và đã xoay chuyển cuộc đời mình. Đây là một người đã trở thành một yogi (hành giả) vĩ đại nhất mà thế giới từng nhìn thấy.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Milarepa là ai?</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kẻ sát nhân</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Milarepa sinh năm 1052 trong một gia đình giàu có ở xứ tuyết Tây Tạng. Cha ngài mất khi ngài còn nhỏ và bởi không có người cai quản điền trang, chú thím ngài đã chiếm đoạt toàn bộ di sản của ngài. Tràn ngập sự giận dữ và căm thù, chàng thanh niên Milarepa đi học huyền thuật và nhanh chóng trở về để giết hại những kẻ hãm hại gia đình mình. Trong thực tế, người ta nói rằng với sự căm thù, Milarepa sân hận tới nỗi đã giết chết 35 người trong ngôi làng của chú ngài trong đêm phục hận.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Gặp gỡ Đạo sư</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Không lâu sau những sự kiện khủng khiếp đó, cuộc đời của Milarepa bắt đầu vỡ tan thành từng mảnh. Ngài đã đi tới một chốn vô cùng tăm tối và ngài nhận thức thật sâu xa rằng cuộc đời ngài hóa ra hoàn toàn lầm lạc. Ngài xấu hổ về con người mình và những gì ngài đã làm cho gia đình ngài. Ngài nhận thức được lỗi lầm trầm trọng ngài đã phạm.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế ngài bắt đầu làm những điều tốt lành. Trong quá trình chuộc lại lỗi lầm, Milarepa gặp Đạo sư Marpa, vị Thầy đã mang toàn bộ Phật pháp từ Ấn Độ về Tây Tạng. Để đưa về Tây Tạng những giáo lý này, Marpa đã phải chịu đựng những gian khổ lớn lao và người ta nói rằng không có Marpa thì Phật giáo sẽ không tồn tại ở xứ tuyết.</p>
<p style="text-align: justify;">Giây phút Milarepa nhìn thấy Marpa lần đầu tiên thật là kỳ diệu. Truyền thuyết kể lại rằng Marpa ở ngoài đồng, bên một con đường, ngài uống một ly rượu và Milarepa đi ngang qua mặt ngài. Thoạt đầu khi Milarepa vừa nhìn thấy Marpa, toàn thể thế giới tĩnh lặng và lông tóc sau cổ ngài dựng đứng lên. Milarepa không biết người đàn ông đó là ai nhưng bởi mối nối kết mạnh mẽ từ những đời quá khứ, người ta nói rằng chỉ nhìn thấy Marpa là Milarepa đã kinh nghiệm một trạng thái thiền định sâu xa.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Marpa buộc Milarepa phải chịu những gian khổ lớn lao</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Milarepa đã tu học với nhiều Đạo sư Phật giáo nhưng dường như không vị Thầy nào có thể giúp đỡ được ngài. Trong trái tim của ngài, ngài biết ngài phải tu học với Marpa. Vì thế ngài quay trở lại để hỏi Marpa và khẩn cầu vị Thầy này giúp đỡ nhưng Marpa chỉ quở mắng và đuổi ngài đi. Mỗi lần Milarepa thỉnh cầu giáo lý thì Marpa chỉ giận dữ, đánh đập và tống cố ngài ra ngoài. Mặc dù vậy, cuối cùng Marpa nhượng bộ và đi tới một thỏa thuận với Milarepa:</p>
<p style="text-align: justify;">“Hãy xây cho ta một ngọn tháp lớn và ta sẽ dạy Pháp cho ngươi”, Marpa nói.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế Milarepa bắt đầu làm việc. Ngài thâu thập những viên đá, các tảng đá và gỗ từ khắp mọi nơi. Sau nhiều tuần làm việc kiệt lực, Milarepa trở về gặp Marpa và nói với vị Thầy rằng ngọn tháp đã hoàn tất. Marpa tới kiểm tra công việc và khi nhìn thấy ngọn tháp, Marpa bắt đầu chửi mắng Milarepa, nói rằng Milarepa đã làm sai hoàn toàn và phải bắt đầu lại!</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Sự việc này diễn ra chín lần nữa</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Ngọn tháp cuối cùng mà Milarepa xây dựng cao chín tầng và phải mất nhiều tháng để hoàn tất. Xin nhớ rằng việc này xảy ra trước khi có xe hơi, cần trục và máy trộn xi măng. Công việc này làm Milarepa bị thương và người ta nói rằng lưng ngài đầy những vết thương lở loét và giờ đây ngài thành một người gù lưng bởi phải vác những tảng đá. Nhưng ngài đã thực hiện điều Marpa yêu cầu và sự hiến dâng của ngài đối với Thầy Marpa không bao giờ lay chuyển. Ngài vô cùng khao khát giáo lý.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi ngọn tháp sau cùng được xây dựng xong, Milarepa ngần ngại trở về nhà của Marpa, nơi vị Thầy đang ban các giáo lý cao cấp cho vài hành giả khác. Milarepa phủ phục dưới chân Thầy và cầu xin giáo lý. Nhưng cũng như thường lệ, Marpa bảo Milarepa hãy ra khỏi nơi đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Hoàn toàn tuyệt vọng, Milarepa quyết định tự vẫn. Trong quá khứ, ngài đã giết chết 35 người và không có giáo lý của Đức Phật, ngài cảm thấy không thể làm những điều đúng đắn và không có cách nào để mang lại lợi ích cho những người đã chết đó. Vì thế ngài treo một sợi thừng trên cây và tròng dây quanh cổ. Ngài hít một hơi thật sâu và dốc hết nghị lực, và ngay khi ngài sắp bước vào cái chết thì Marpa tới gần và nói giờ đây Milarepa đã sẵn sàng được nhận những giáo lý tối thượng của Phật giáo. Thầy Marpa đã chấp nhận ngài là đệ tử.</p>
<p style="text-align: justify;">Người ta nói rằng Marpa bắt Milarepa phải chịu những gian khổ này để giúp Milarepa tịnh hóa ác nghiệp và khiến ngài trở thành một bình chứa (pháp khí) thích hợp đối với các giáo lý. Không có những gian khổ này, tâm thức của Milarepa sẽ không được chuẩn bị và ngài sẽ tu tập không tiến bộ do bởi những ác hạnh trầm trọng của ngài trong quá khứ. Nhờ trí tuệ, Marpa biết rằng những công việc khổ nhọc sẽ làm lợi lạc cho Milarepa và giúp cho tân hành giả này tiến bộ nhanh chóng trên con đường.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Tu học với Marpa và thiền định trong các hang động</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó Milarepa nhận lĩnh tất cả những giáo lý của Marpa. Một đêm trong một giáo lý tuyệt mật, Marpa có một giấc mơ. Trong giấc mơ một vị Phật nữ tuyệt đẹp nói với ngài rằng Milarepa sẽ trở thành vị hộ trì dòng truyền thừa của ngài và vì thế hãy nỗ lực giảng dạy cho Milarepa. Do đó Marpa đã dạy cho Milarepa mọi sự mà ngài đã học ở Ấn Độ, giống như người ta rót nước từ chiếc bình này sang chiếc bình khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Milarepa đã được giảng dạy đầy đủ, ngài từ giã mọi người và lên đường tới nơi hoang dã. Ngài nguyện sống đơn độc trong những hang động cho tới khi thành tựu giác ngộ và ngài không bao giờ vi phạm lời nguyện này. Đôi khi Milarepa bít lối vào hang để ngài không thể ra khỏi và thiền định ở đó hàng nhiều năm. Thực phẩm và nước uống được đưa vào cho ngài qua một khe nứt giữa các viên gạch.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giác ngộ trong một đời</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Các giáo lý Phật giáo nói rằng người ta có thể đạt được giác ngộ trong một đời nhưng điều đó vô cùng hiếm có. Hầu hết hành giả Phật giáo phải mất rất nhiều cuộc đời để tích lũy trí tuệ và công đức. Nhưng Milarepa đã làm được điều đó. Ngài nổi danh là người duy nhất trong lịch sử Tây Tạng thành tựu sự toàn giác trong một thân người, ngay trong một đời người. Và đó là lý do vì sao ngài là hành giả vĩ đại nhất trong mọi hành giả.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Milarepa có thể dạy chúng ta điều gì trong cuộc đời</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Milarepa nổi danh là một thi sĩ vĩ đại. Ngài thường lang thang quanh những miền quê, hát những bài ca và viết những bài thơ cho người dân địa phương. Tôi muốn chia sẻ với quý vị một vài bài thơ, giáo lý và trích dẫn nổi tiếng nhất của Milarepa với hy vọng rằng điều đó có thể mang lại lợi lạc cho một người nào đó.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>1. Hãy khiêm tốn</strong></p>
<p style="text-align: justify;">“Hãy ngồi ở chỗ thấp nhất, và các con sẽ đạt được vị trí cao nhất”. – Milarepa</p>
<p style="text-align: justify;">Milarepa nổi danh là rất khiêm tốn. Ngài không mặc gì ngoài một vài quần áo rách dơ bẩn và không bao giờ ngồi trên một Pháp tòa hay ghế cao. Ngài không có tu viện lộng lẫy, thay vào đó ngài chọn cách sống trong những hang động và núi non.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhiều bài ca của ngài nói về sự khiêm tốn. Milarepa thường nói về đức tính khiêm tốn giúp ta phát triển lòng bi mẫn và lòng yêu thương, trong khi sự kiêu ngạo khiến chúng ta cảm thấy mình tốt hơn và quan trọng hơn tất cả những người khác. Ngài thường quở trách những người dân địa phương kiêu ngạo, nói rằng sự cao ngạo là nguyên nhân của đau khổ bởi nó quá sức quy ngã. Và khi quý vị kiêu ngạo và tự cao, các sự việc không theo ý muốn của quý vị, quý vị sẽ đau khổ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>2. Tỉnh giác về cái chết</strong></p>
<p style="text-align: justify;">“Cuộc đời thật ngắn ngủi, và thời gian của cái chết thì bất định; vì thế hãy chuyên tâm thiền định. Hãy tránh những hành vi sai trái và tích tập công đức trong khả năng tốt nhất của các con, dù phải trả giá bằng cuộc đời mình. Tóm lại, hãy hành động để các con không có lý do gì phải xấu hổ về bản thân mình; và hãy tuân thủ chặt chẽ quy tắc này”. – Milarepa</p>
<p style="text-align: justify;">Một trong những chủ đề chính yếu trong các bài thơ và bài hát của Milarepa là cái chết. Dường như việc ngài là một kẻ sát nhân trong quá khứ đã lưu lại dấu vết trong tâm thức ngài và ngài luôn luôn tỉnh giác về việc cái chết có thể đến bất kỳ lúc nào. Nhưng Milarepa đã sử dụng sự hiểu biết đó như một nguồn cảm hứng chứ không phải một lý do để tuyệt vọng. Thay vì lo lắng về cái chết, ngài đối mặt với những sợ hãi của ngài và sử dụng cái chết của ngài như động lực chính yếu để tu hành miên mật.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi thường cố khuyến khích các độc giả của tôi thực hành tương tự. Chúng ta không biết khi nào chúng ta chết nhưng ta biết rằng cái chết là một điều chắc chắn. Vì thế ta nên sử dụng cơ hội quý báu này để thành tựu các mục tiêu của ta và làm một vài điều tốt đẹp nào đó. Đó là những gì Milarepa đã làm. Ngài đã sử dụng phần lớn thời gian của ngài bằng cách liên tục tỉnh giác rằng thời gian có thể cạn kiệt.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>3. Tỉnh giác về sự vô thường</strong></p>
<p style="text-align: justify;">“Mọi theo đuổi thế gian chỉ có một kết thúc chắc chắn phải xảy ra và không thể tránh khỏi, đó là sự đau khổ. Mọi thâu đạt kết thúc trong tan tác; mọi tạo lập kết thúc trong hủy diệt; mọi gặp gỡ kết thúc trong chia ly; mọi sự sinh ra kết thúc trong cái chết”. – Milarepa</p>
<p style="text-align: justify;">Một điều mà tôi mong ước cha mẹ tôi sử dụng thêm thời gian để dạy dỗ tôi là chân lý của sự vô thường. Hiểu rõ lẽ vô thường là một điều vô cùng hữu ích nhưng đáng buồn thay, đó lại là một điều mà hầu hết mọi người không bao giờ thực sự thấu hiểu.</p>
<p style="text-align: justify;">Milarepa thường nói với mọi người rằng đừng quá dính mắc vào các sự việc bởi chúng sẽ không tồn tại lâu dài. Những mối quan hệ, của cải, công việc, nhà cửa, xứ sở v.v..., tất cả sẽ biến mất như một cầu vồng. Sẽ chẳng có gì tồn tại mãi mãi. Và nhờ thấu hiểu và tôn trọng chân lý này ta sẽ có thể vui hưởng cuộc đời nhiều hơn nữa. Những mối quan hệ của ta với thế giới trở nên hiện thực và lành mạnh hơn. Ta sẽ không mê mải bám chấp vào các sự việc khi ngăn cản chúng đừng chấm dứt. Khi thấu hiểu lẽ vô thường ta có thể nhận thức sâu sắc hơn về các sự việc khi chúng hiện hữu ở đây.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>4. Đừng bị lừa gạt bởi những phóng dật thế gian.</strong></p>
<p style="text-align: justify;">“Những công việc của thế gian sẽ tiếp diễn không bao giờ ngừng nghỉ. Đừng trì hoãn thực hành thiền định”. – Milarepa</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi thích trích dẫn này. Trong thực tế, tôi dùng câu trích dẫn này làm nền màn hình máy tính của tôi. Tôi đọc nó khi cần nhắc nhở mình rằng có những điều khác đáng làm hơn là chỉ ăn, ngủ và làm việc.</p>
<p style="text-align: justify;">Tất cả chúng ta đều có thể đồng cảm với châm ngôn này, cho dù chúng ta không là những hành giả. Những công việc của thế gian sẽ tiếp diễn không bao giờ ngừng dứt. Sẽ luôn luôn có một người nào đó hay điều nào đó ngăn trở những hy vọng hay giấc mơ của quý vị. Có thể đó là công việc, tiền bạc hay một vài chướng ngại khác nhưng ngay khi quý vị vượt qua nó, một chướng ngại mới sẽ xuất hiện.</p>
<p style="text-align: justify;">Milarepa bảo chúng ta đừng lãng phí thời gian mà phải thuận thảo với nó. Sẽ luôn luôn có những phóng dật và vấn đề, nhưng dù thế nào đi nữa thì chúng ta cần phải tiến tới. Điều này vô cùng quan trọng.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Sống và chết không hối tiếc.</strong></p>
<p style="text-align: justify;">“Tôn giáo của tôi không phải là đạo Phật. Tôn giáo của tôi là sống và chết không hối tiếc”. – Milarepa.</p>
<p style="text-align: justify;">Đây luôn luôn là trích dẫn mà tôi yêu thích. Không chỉ riêng của Milarepa mà của mọi người, ở mọi nơi. Tôi đọc nó và cảm thấy hứng khởi trong việc làm một người tốt hơn và làm mọi sự tôi có thể khiến cho đời tôi ích lợi hơn và xứng đáng hơn. Tôi yêu quý trích dẫn đó bởi nó đánh mạnh vào cốt lõi của vấn đề và cho ta thấy việc đứng ở ngưỡng cửa của cái chết và hối tiếc về những điều mà ta từng làm (hay không làm!) trong tuổi thanh xuân thì khủng khiếp biết bao.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Những Bài Ca của Milarepa</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Nếu quý vị thích thú trong việc nghiên cứu thêm nữa về đại hành giả này thì tôi hết sức khuyến khích quý vị đọc quyển sách nổi tiếng tên là Một Trăm ngàn Bài Ca của Milarepa. Đây luôn luôn là quyển sách tôi thích đọc nhất. Đó là một tuyển tập tuyệt vời gồm tất cả những bài thơ, bài hát và giáo lý của Milarepa.</p>
<p style="text-align: justify;">Đó là một tác phẩm vô cùng súc tích. Đôi khi ngài hát về những điều như thể diễn ra sống động trong một hang động và quý vị cảm thấy như thể thực sự ở đó, ngay bên cạnh ngài. Những lúc khác ngài hát về lòng bi mẫn bùng cháy trong lòng ngài giống như một ngọn lửa và quý vị cảm nhận về điều gì đó như thể kinh nghiệm về lòng thương yêu đích thực.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung đó là một quyển sách thật đáng đọc. Quyển sách này từng hiện diện trong mọi gia đình ở Tây Tạng trong hàng trăm năm. Nó được đọc cho trẻ em khi chúng còn thơ ấu và sau đó được các tu sĩ nghiên cứu trong các tu viện.</p>
<p style="text-align: justify;">Quý vị khó tìm được một người Tây Tạng nào không thể đọc thuộc lòng ít nhất một bài thơ của Milarepa.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kết luận</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Bài viết này sẽ không thể lưu hành mãi mãi. Tiểu sử của Milarepa có thể dạy chúng ta rất nhiều về việc chúng ta là ai và chúng ta có thể trở thành cái gì. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là nó cho chúng ta thấy rằng tất cả chúng ta đều có năng lực để chuyển hóa cuộc đời và hoàn cảnh của riêng mình. Chúng ta là chủ nhân số phận của chính mình.</p>
<p><em>Nguyên tác: What Tibet’s Greatest Ever Yogi Can Teach Us About Living Life</em></p>
<p><em>Việt dịch: Thanh Liên</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn Anh ngữ: </em><a href="https://thedailymind.com/what-tibets-greatest-ever-yogi-can-teach-us-about-living-life/"><i><span style="font-weight: 400;">What Tibet’s Greatest Ever Yogi Can Teach Us About Living Life</span></i></a></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn Việt ngữ: <a href="https://thuvienhoasen.org/p39a6144/3/hanh-gia-vi-dai-nhat-cua-tay-tang-co-the-day-ta-dieu-gi-ve-cuoc-doi">Hành giả vĩ đại nhất của Tây Tạng có thể dạy ta điều gì về cuộc đời</a></em></p>
<p style="text-align: justify;"><img src="chrome-extension://bpggmmljdiliancllaapiggllnkbjocb/logo/48.png" alt="" /></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/hanh-gia-vi-dai-nhat-cua-tay-tang-co-the-day-ta-dieu-gi-ve-cuoc-doi/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Điều kỳ diệu của sự lễ lạy</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/lich-su-chung-truyen-thua-kagyu/dieu-ky-dieu-cua-su-le-lay/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/lich-su-chung-truyen-thua-kagyu/dieu-ky-dieu-cua-su-le-lay/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 14 Apr 2022 16:48:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Tài liệu tham khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tịnh hóa nghiệp chướng]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Kagyu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11044</guid>
		<description><![CDATA[I. Tại sao chúng ta lễ lạy? 1. Sự tịnh hóa tính kiêu mạn Trước tiên, chúng ta nên biết tại sao ta lễ lạy. Ta không lễ lạy để được người khác yêu quý. Ta không lễ lạy vì Đức Phật. Những ý niệm như thế hoàn toàn sai lầm. Đức Phật không phải là một thần linh của&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/lich-su-chung-truyen-thua-kagyu/dieu-ky-dieu-cua-su-le-lay/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong>I. Tại sao chúng ta lễ lạy?</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>1. Sự tịnh hóa tính kiêu mạn</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Trước tiên, chúng ta nên biết tại sao ta lễ lạy. Ta không lễ lạy để được người khác yêu quý. Ta không lễ lạy vì Đức Phật. Những ý niệm như thế hoàn toàn sai lầm. Đức Phật không phải là một thần linh của thế giới này. Chúng ta lễ lạy để tịnh hóa mọi tình huống trong quá khứ khi ta không kính trọng người khác, bận tâm với những thỏa mãn riêng tư và bản thân ta làm nhiều hành vi bất thiện.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự lễ lạy giúp cho ta nhận thức rằng có điều gì đó còn có ý nghĩa hơn bản thân ta. Theo phương cách này chúng ta tịnh hóa tính kiêu mạn mà ta từng tích tập trong vô lượng kiếp khi suy nghĩ: “Ta đúng”, “Ta tốt hơn những người khác”, hay “Ta là người quan trọng nhất”. Trải qua vô lượng kiếp chúng ta đã phát triển sự kiêu mạn là nguyên nhân của những hành động của ta và đã tích tập nghiệp là một nguồn mạch của những khổ đau và những vấn đề của ta. Mục đích của sự lễ lạy là để tịnh hóa nghiệp này và chuyển hóa tâm ta. Sự lễ lạy giúp ta nương tựa vào điều gì đó có ý nghĩa hơn sự kiêu mạn và chấp ngã của ta. Theo cách này, nhờ sự tràn trề lòng xác tín và sùng mộ, chúng ta thoát khỏi mọi sự ta từng tích tập do tính kiêu mạn.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>2. Sự tịnh hóa thân, ngữ, và tâm</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Khi chúng ta lễ lạy ta tác động lên bình diện thân, ngữ, và tâm. Kết quả của việc thực hiện những lễ lạy là một sự tịnh hóa hết sức mạnh mẽ và triệt để. Sự thực hành này làm tan biến mọi điều bất tịnh, bất luận chúng thuộc loại nào, bởi chúng hoàn toàn được tích tập qua thân, khẩu, và tâm của chúng ta. Sự lễ lạy tịnh hóa tất cả ba bình diện. Qua phương diện vật lý (thân) của việc lễ lạy chúng ta tịnh hóa thân thể ta. Ta cúng dường thân ta cho Tam Bảo và tất cả chúng sinh, ước mong tất cả những nguyện ước của họ được hoàn thành. Nhờ việc lập lại thần chú quy y và ý nghĩa chúng ta gán cho nó, chúng ta tịnh hóa ngữ của ta. Nhờ sự xác tín nơi Tam Bảo ta phát triển thái độ giác ngộ và lòng sùng mộ. Bởi chúng ta tỉnh giác về những phẩm tính toàn hảo của sự quy y (nương tựa) và cúng dường mọi sự cho nó, những ngăn che trong tâm ta biến mất. Khi thân, ngữ, và tâm ta được tịnh hóa ta nhận thức rằng điều mà lúc đầu ta cho là thân ta thì thực sự là một hiển lộ của sự Giác ngộ, là lòng bi mẫn tích cực. Điều mà lúc đầu ta nghĩ là ngữ của ta thì thực sự là sự biểu lộ của sự Giác ngộ trên bình diện của sự hỷ lạc; tâm ta là bình diện chân lý của sự Giác ngộ. Chúng ta có thể nhận ra thực tại giác ngộ của thân, ngữ, và tâm ta - sự tràn đầy chân lý trí tuệ của chúng mà lúc ban đầu ta không ý thức được. Chúng ta nhận thức rằng thực hành này có thể dẫn dắt ta tới mục tiêu của ta là sự Giác ngộ, bởi ba bình diện biểu lộ trạng thái của một vị Phật xuất hiện tức thì sau khi ba bình diện của sự hiện hữu của ta – thân, ngữ, và tâm – được tịnh hóa. Chúng ta không phải kiếm tìm sự Giác ngộ ở nơi nào khác. Chúng ta không phải săn đuổi bất kỳ sự chứng ngộ viên mãn nào. Ba bình diện của sự Giác ngộ là những phẩm tính bẩm sinh chân thực của thân, ngữ, và tâm của chính ta. Trước đây ta đã không nhận ra điều đó. Sự lễ lạy giúp chúng ta khám phá ra nó.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>3. Những lợi ích vật lý của việc lễ lạy</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Việc lễ lạy ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự quân bình và hài hòa trong thân thể ta. Những sự tắc nghẽn trong các kinh mạch năng lực của thân thể từ từ tan biến. Điều này giúp cho ta tránh được các bệnh tật, sự thiếu hụt năng lực, và những vấn đề khác. Tâm ta trở nên trong trẻo hơn, khả năng hiểu biết của ta tăng trưởng.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>II. Trạng thái của tâm trong khi lễ lạy</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta nên lễ lạy với sự tràn trề lòng xác tín, hoan hỉ và động lực để làm lợi lạc cho người khác.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>1. Sự xác tín</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta nên có sự xác tín nơi những phẩm tính toàn hảo của Tam Bảo và tin chắc rằng sự ban phước của Tam Bảo có thể giải trừ những ngăn che của tâm ta. Sự ban phước có thể xuất hiện và sự tịnh hóa có hiệu quả khi lòng xác tín của ta nơi thân, ngữ, và tâm gặp gỡ những phẩm tính chuyển hóa của thân giác ngộ, ngữ giác ngộ và tâm giác ngộ – những nguồn mạch của sự quy y. Nếu chúng ta không có sự xác tín và không thể mở lòng ra đối với Tam Bảo thì những sự lễ lạy sẽ chỉ là một trò phô diễn.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>2. Động lực làm lợi lạc người khác</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Khi chúng ta lễ lạy ta nên thấu hiểu rằng những thiện hạnh là suối nguồn hạnh phúc của tất cả chúng sinh. Lễ lạy là một điển hình tốt đẹp của sự thật này. Khi ta thực hành với thân, ngữ và tâm ta, ta cúng dường năng lực của ta cho người khác khi ước muốn nó mang lại cho họ hạnh phúc. Ta nên hoan hỉ về sự thật này và thực hành lễ lạy với sự hỷ lạc.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>III. Thực hành đúng đắn</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>1. Quán tưởng cây Quy y</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Ta quán tưởng toàn thể cây quy y trong không gian trước mặt chúng ta. Trước tiên ta quán tưởng Đức Dorje Chang (Kim Cương Trì) – vị Lạt Ma tượng trưng cho mọi suối nguồn của sự quy y. Ta quán tưởng Lạt Ma là trung tâm của cây quy y. Ta nên hoàn toàn tỉnh giác rằng Dorje Chang là vị Thầy của ta và Ngài là tâm của Lạt Ma của ta. Ta nghĩ tưởng về Dorje Chang để quả quyết rằng sự hiển lộ của bản tính của tâm không bị ô nhiễm bởi những tư tưởng quen thuộc của ta. Để giúp ta duy trì cái thấy thanh tịnh, cái thấy của trí tuệ, chúng ta quán tưởng thân tướng thanh tịnh toàn hảo này. Cùng lúc đó ta duy trì sự tỉnh giác rằng Dorje Chang là tâm của Lạt Ma của ta. Mọi sự xuất hiện trong không gian trước mặt ta thì giống như một cầu vồng hay một sự phản chiếu của một tấm gương; nó không phải là một sự vật. Nếu ta gặp khó khăn trong việc quán tưởng toàn thể cây quy y thì ta nên có sự xác tín rằng tất cả các đối tượng quy y thực sự ở trước mặt ta cho dù ta không thể lưu giữ các đối tượng ấy trong tâm ta.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>2. Sự tỉnh giác về bản thân ta và những người khác</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta không đơn độc trong khi thực hành. Ta được vây quanh bởi toàn thể chúng sinh đầy khắp toàn thể vũ trụ. Ta quán tưởng cha ta ở bên phải và mẹ ta ở bên trái ta. Khi ta đứng giữa cha mẹ ta trong đời này ta nhận thức rằng mỗi một và mọi chúng sinh không loại trừ ai từng là cha mẹ của ta trong đời trước nào đó. Điều này giúp ta nhớ lại thiện tâm của tất cả cha mẹ của ta, tất cả chúng sinh, là những người đã giúp đỡ ta suốt trong vô lượng kiếp.</p>
<p style="text-align: justify;">Ta quán tưởng những người ta coi là những kẻ thù của ta ở trước mặt ta, giữa cây quy y và chúng ta. Ta nghĩ về những người gây ra cho ta những vấn đề và làm trở ngại việc thực hiện những chương trình của ta. Tất cả những người này rất quan trọng bởi họ giúp ta phát triển những phẩm tính như sự nhẫn nhục và lòng bi mẫn. Chúng ta thường muốn tránh những người như thế. Ta cố giữ một khoảng cách với họ. Ta không muốn nghĩ về họ. Việc đặt họ ở trước mặt ta giúp cho ta không quên họ. Việc đối xử với những kẻ thù theo cách như thế bảo vệ cho ta không bất kính đối với họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta tập trung sự chú tâm vào cây quy y. Ta tin tưởng rằng sự quy y có thể giải thoát tất cả chúng sinh khỏi nỗi đau khổ của sinh tử và có thể che chở ta khỏi bị phiền não mà nỗi khổ này gây ra. Trong một tâm thức như thế, được vây quanh bởi tất cả chúng sinh, chúng ta bắt đầu lập lại thần chú quy y. Mọi sự quanh ta bắt đầu rung động. Ta kinh nghiệm ánh sáng mạnh mẽ phát ra từ cây quy y. Ánh sáng chiếu sáng chúng ta do bởi lòng sùng mộ của riêng ta. Điều này làm tâm thức chúng ta rộng mở hơn nữa. Sau đó ta bắt đầu lễ lạy. Chúng ta là những Đạo sư của buổi lễ và hướng dẫn toàn bộ sự thực hành. Việc lễ lạy của ta lập tức gây cảm hứng khiến tất cả chúng sinh bắt đầu thực hành tương tự. Ta nghe tất cả chúng sinh lập lại thần chú và thực hành lễ lạy. Những sự rung động này đầy ngập toàn thể vũ trụ.</p>
<p style="text-align: justify;">Việc duy trì một thị kiến như thế thay vì chỉ tập trung vào bản thân ta mở rộng hoạt động của ta. Ở một mặt nó mang lại cho ta sức mạnh, ở mặt khác nó cho ta động lực để thực hành. Tất cả chúng sinh cùng lễ lạy với chúng ta mang lại cho ta sự khích lệ. Khi kinh nghiệm lượng năng lực khổng lồ từ tất cả chúng sinh đang lễ lạy, chúng ta cảm thấy tin tưởng và sùng mộ Tam Bảo hơn nữa. Cảm giác “cưỡi ngựa cùng đám đông” giúp chúng ta nhanh chóng hoàn thành việc lễ lạy và trải nghiệm hạnh phúc lớn lao trong thời gian thực hành.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>3. Ý nghĩa tượng trưng của mỗi yếu tố trong hành vi lễ lạy</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Để mang lại cho việc thực hành của ta một tầm kích tối thượng chúng ta nên chú ý tới ý nghĩa tượng trưng của một lễ lạy. Khi đôi bàn tay chắp lại của ta chạm vào trán, ta khẩn cầu các đối tượng quy y ban phước của thân các ngài. Đồng thời ta quán tưởng rằng sự ban phước của thân giác ngộ của các ngài chiếu tỏa vào ta, xuyên qua thân ta và làm tan biến những che chướng của nó. Sau đó đôi bàn tay chắp lại của ta chạm vào cổ họng. Chúng ta khẩn cầu sự ban phước của ngữ. Đồng thời ta nghĩ tưởng rằng sự ban phước của ngữ giác ngộ của các ngài phát ra từ những đối tượng quy y và tịnh hóa mọi che chướng mà ta từng tích tập qua ngữ của ta. Trong phương cách như thế ta thoát khỏi những che chướng này. Khi đôi bàn tay ta chạm vào tim ta khẩn cầu các đối tượng quy y ban phước của tâm giác ngộ của các ngài. Nó giúp ta thoát khỏi mọi ngăn che và những tà kiến trong tâm ta. Ta tin tưởng rằng mọi ước muốn xấu xa ta chất đầy tâm thức ta từ vô thủy hoàn toàn được tịnh hóa. Ta nên nghĩ rằng ta đang nhận sự ban phước trọn vẹn của thân, ngữ, và tâm giác ngộ từ Tam Bảo. Nhờ năng lực của sự ban phước này, mọi ngăn che, nghiệp xấu, và những khuynh hướng tiêu cực trong thân, ngữ, và tâm ta được tịnh hóa. Chúng ta hoàn toàn thanh tịnh và bất khả phân với thân, ngữ, và tâm của Lạt Ma và Tam Bảo.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi năm điểm (hai đầu gối, hai bàn tay, và trán) của thân ta chạm mặt đất ta nên nhận thức rằng năm cảm xúc phiền não – tham, sân, si, kiêu ngạo và ganh tị – ra khỏi thân ta và biến mất trong trái đất. Theo phương cách như thế chúng ta kinh nghiệm sự tịnh hóa trọn vẹn.</p>
<p style="text-align: justify;">Hai phương diện của sự lễ lạy, việc làm tan biến những độc chất của tâm và nhận sự ban phước của Tam Bảo, tạo nên sự chuyển hóa tham, sân, si, kiêu ngạo và ganh tị thành năm trí tuệ tương ứng. Ta nên xác tín rằng sự chuyển hóa thực sự xảy ra, tin rằng ta có khả năng bẩm sinh, tự nhiên để phát triển những trí tuệ này.</p>
<p style="text-align: justify;">Phương diện tượng trưng này của sự lễ lạy sẽ chỉ làm việc nếu ta có sự xác tín. Sự xác tín của ta có thể mang lại cho ta sự tịnh hóa vĩ đại này. Việc thực hành mà không có sự xác tín thì giống như bài tập thể dục nhịp điệu.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>4. Sự quan trọng của lòng sùng mộ</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Càng lễ lạy thì lòng sùng mộ của ta sẽ càng tăng trưởng. Cuối cùng ta sẽ đạt tới chỗ không còn nghĩ rằng thân, ngữ, và tâm ta khác biệt với thân, ngữ, và tâm của Tam Bảo. Những sự lễ lạy mang lại một kết quả kỳ diệu; chúng là suối nguồn của một sự ban phước hết sức mạnh mẽ và một sự tịnh hóa lớn lao. Ta không nên nghĩ rằng việc lễ lạy chỉ bao gồm một hoạt động của thân thể ta. Sự ban phước và tịnh hóa xuất hiện chủ yếu là bởi lòng sùng mộ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>5. Sự tăng trưởng sức mạnh của việc thực hành</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Ta thực hành với một tâm thức mở trống. Ta không nên nghĩ rằng ta là người duy nhất lễ lạy. Tất cả chúng sinh đang thực hành lễ lạy cùng chúng ta. Ta không phải giới hạn tư tưởng khi chỉ nghĩ tới bản thân ta. Ta không nên tự khẳng định bằng cách nghĩ: “Tôi đang lễ lạy”. Nếu nghĩ như thế ta tích tập tiềm năng tốt lành tương ứng với hành động đang lễ lạy. Nếu ta nghĩ rằng tất cả chúng sinh đang thực hành lễ lạy cùng ta, tiềm năng tốt lành mà ta tích tập sẽ còn to lớn hơn nữa. Khi đang thực hành lễ lạy ta nên nghĩ rằng một trăm hóa thân của ta đang lễ lạy cùng với ta. Nếu ta có thể quán tưởng thì thực hành của ta sẽ mạnh mẽ hơn. Ta không nên tính thêm các lễ lạy nếu ta quán tưởng có thêm chúng sinh đang lễ lạy cùng ta. Đây chỉ là một trong những phương pháp đặc biệt của Kim Cương thừa trợ giúp thực hành của ta được mạnh mẽ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>6. Sự nối kết lễ lạy với việc làm an định tâm</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sau một lát thân thể ta sẽ mỏi mệt. Đây là giây phút ích lợi để thực hành an định tâm. Khi thân và tâm mệt mỏi, sự tham luyến tăng trưởng. Nếu ta ngừng lễ lạy một lát thì tâm ta tự nó sẽ an tĩnh một cách tự nhiên mà không cần phải dụng công. Sau một lát thân và tâm ta lại cảm thấy muốn nghỉ ngơi, tâm ta trở nên xao động. Đây là dấu hiệu bắt đầu lại việc lễ lạy. Khi chúng ta luân phiên thay đổi sự lễ lạy và an định tâm thì ta có thể thực hành không ngừng nghỉ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>IV. Tiếp cận nỗi khổ đau</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Đôi khi ta có thể kinh nghiệm những khó khăn trong việc thực hành lễ lạy. Sự đau đớn và mệt nhọc sẽ xuất hiện trên đường đi của ta. Luôn luôn có một vài mối quan tâm: đau đớn ở đầu gối, khuỷu tay, lưng dưới, mọi nơi. Không có lý do gì phải nhụt chí bởi điều đó hay mất sự xác tín ở việc thực hành. Ta cũng không nên làm mạnh mẽ thêm cảm xúc bằng cách tự nói: “Tôi đau đớn quá, tôi cảm thấy rất yếu”. Nếu làm thế chúng ta hoàn toàn tự làm ngăn trở mình. Ta mất đi khả năng hành động. Khi sự đau đớn được cho phép “có quyền”, nó có thể trở thành một chướng ngại thực sự trên con đường thực hành xa rộng hơn nữa của ta. Ta nên sử dụng mọi kinh nghiệm khó chịu, dù là thuộc tinh thần hay thể xác, như một phương tiện để giác ngộ. Những kinh nghiệm như thế nên khích lệ chúng ta hướng tới nỗ lực to lớn hơn trên con đường của ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Mọi sự ta kinh nghiệm phụ thuộc vào trạng thái tâm của ta. Nếu ta muốn kinh nghiệm những sự việc một cách khác biệt thì ta phải thay đổi trạng thái tâm. Nếu ta sắp xếp để chuyển hóa một cách hiệu quả nỗi đau khổ của ta thành một kinh nghiệm tích cực và lợi lạc thì nỗi khổ sẽ hoàn toàn biến mất không để lại dấu vết nào. Điều này sẽ cho ta thêm hạnh phúc và hỷ lạc.</p>
<p style="text-align: justify;">Việc lễ lạy là một phương cách tích tập tiềm năng thực sự tốt lành. Đó là một phương pháp dễ dàng và hiệu quả để tịnh hóa những hành vi tiêu cực của chúng ta trong quá khứ. Ngược lại, nếu vì đau đớn và mệt nhọc mà chúng ta tiếp tục lễ lạy trong sự chán nản thì sự tịnh hóa đích thực không xảy ra.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>V. Những kỹ thuật để làm việc với những kinh nghiệm khó chịu</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>1. Sự giảm bớt nghiệp</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta không nên nghĩ rằng đau khổ là một điều hết sức trầm trọng. Ta nên nhớ rằng đau khổ chỉ là nghiệp, nó vô thường như mọi sự khác. Đau khổ có lúc chấm dứt. Khi nghiệp của ta chín muồi ta nên an trụ thư thái và chú ý tới dòng chảy tự nhiên này của những sự việc. Nếu chúng ta sắp xếp để làm đầy thực hành của ta với sự hiểu biết về lẽ vô thường của nghiệp thì tự nó sẽ tan biến. Nghiệp không phải là cái gì chúng ta phải chấp nhận hay từ bỏ. Nó giống như việc ta bắt buộc phải thanh toán hóa đơn là điều tự động xuất hiện. Khi ta đã trang trải những món nợ của ta, nghiệp tự nó biến mất và không có gì phải từ bỏ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>2. Sự tịnh hóa nghiệp bằng sự khó chịu thể xác</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sự thực hành Pháp tiệt trừ những ngăn che và ô nhiễm là kết quả của những hành vi trước đây của ta. Ta nên nhận thức sự khó chịu thể xác mà ta kinh nghiệm trong khi thực hành là kết quả của lòng bi mẫn của Tam Bảo. Nỗi đau khổ nhỏ bé tương đối này giải tan nghiệp tương lai khiến nó không chín muồi. Vì lý do này ta nên kinh nghiệm nỗi đau khổ này với sự hỷ lạc và xác tín. Những kinh nghiệm khó chịu như thế cho thấy sự thực hành đang vận hành. Việc sử dụng những phương pháp tịnh hóa có thể dẫn tới nhiều kinh nghiệm khó chịu trên bình diện thân, ngữ và tâm. Đồng thời ta đang thoát khỏi những khó khăn và ngăn che trong tâm thức ta. Khi ta kinh nghiệm sự tịnh hóa như một kết quả của việc thực hành của ta, sự xác tín của ta nơi Tam Bảo tăng trưởng. Ta cảm thấy một sự biết ơn sâu xa bởi những điều bực bội nhỏ bé tương đối này giúp giải thoát ta khỏi những điều kiện mà nếu để chúng chín muồi thì nỗi đau khổ còn to lớn hơn thế.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>3. Ý thức về sự chấp ngã nhờ đau khổ</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Ta nên coi mỗi đau khổ là một pháp đối trị cho sự chấp ngã. Việc kinh nghiệm nỗi khổ của riêng ta tự nó là một bằng chứng của thái độ quy ngã của ta đối với mọi hiện tượng. Đồng thời, những tình huống như thế (nơi ta kinh nghiệm đau khổ) mang lại cho ta khả năng thoát khỏi sự chấp ngã. Nếu ta không có ảo tưởng bản ngã thì ta có thể kinh nghiệm không đau khổ (không trải nghiệm đau khổ). Ta cũng nên thấu suốt nguyên nhân nỗi khổ của ta: ta kinh nghiệm nó do bởi những hành vi trước đây của ta là kết quả của sự chấp ngã. Bởi quá chú trọng vào bản thân, ta gieo trồng nhiều chủng tử nghiệp mà giờ đây chín muồi thành sự đau khổ. Ta có thể coi đau khổ như một giáo lý chỉ rõ cho ta kết quả của những hành vi là hậu quả của việc chú trọng vào bản thân. Từ vô thủy sự chấp ngã này đã là nguyên nhân khiến chúng ta bị vướng kẹt trong vòng luân hồi sinh tử.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>4. Quan sát bản ngã của ta</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Bản ngã muốn được thỏa mãn trong mọi lúc. Chừng nào mà mọi sự tốt đẹp thì bản ngã của ta hài lòng và cố gắng duy trì trạng thái này. “Bản ngã” của ta bám dính vào sự hài lòng này và tâm ta bị đau khổ với sự ham muốn – tham độc. Khi những hoàn cảnh tốt đẹp ra đi, bản ngã vẫn bám dính vào chúng bởi nó muốn được hài lòng và càng có thêm sự tham luyến và ham muốn xuất hiện trong tâm ta. Nếu xảy ra những tình huống khó chịu thì bản ngã phản ứng bằng sự giận dữ và thù ghét. Nó cố gắng né tránh những tình huống khó chịu ấy và thay thế chúng bằng những kinh nghiệm dễ chịu. Theo cách này tâm ta phiền muộn và không vui. Chúng ta có thể nhận ra tác động liên tiếp của bản ngã trong mọi tình huống. Nó không ngừng phân loại những kinh nghiệm là dễ chịu hay khó chịu. Nếu chúng ta tuân theo bản ngã thì ta tích tập nghiệp mà không sớm thì muộn sẽ chín muồi như những loại đau khổ khác nhau.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>5. Những kinh nghiệm khó chịu như một sự kiểm tra tính kiên trì của ta</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Ta nên nhớ tới hứa nguyện của ta là sử dụng thân, ngữ, và tâm ta để làm lợi lạc người khác. Khi biết rằng ta làm việc vì sự lợi lạc của tất cả chúng sinh ta nên giữ gìn hứa nguyện ấy, điều phục những khó khăn nội tại của ta, và tiếp tục việc thực hành.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Lama Gendyn Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Anh dịch: Peter Piasecki và Susan Bixby (từ tạp chí Ba Lan Diamentowa Droga (Con đường Kim Cương))</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Liên Hoa</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguyên tác: Lama Gendyn Rinpoche on PROSTRATIONS</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/lich-su-chung-truyen-thua-kagyu/dieu-ky-dieu-cua-su-le-lay/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Khai thị của Đức Akong Tulku Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/khai-thi-cua-duc-akong-tulku-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/khai-thi-cua-duc-akong-tulku-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 18 Oct 2015 13:23:32 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Luận giảng]]></category>
		<category><![CDATA[Thư Viện]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Kagyu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6249</guid>
		<description><![CDATA[Chủ Đề: Cái gương  Sanh tử luân hồi là khuynh hướng tìm thấy những lỗi lầm nơi người khác. Naropa Người ta lầm địa chỉ khi tìm hạnh phúc bên ngoài mình, người ta đã thấy điều đó. Người ta có đi du lịch đến đầu kia của thế giới và nhân lên nhiều lần những kinh nghiệm cho đến vô&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/khai-thi-cua-duc-akong-tulku-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>Chủ Đề: Cái gương </strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong><em>Sanh tử luân hồi là khuynh hướng tìm thấy </em><em>những lỗi lầm nơi người khác.</em></strong><br />
<strong><em>Naropa</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Người ta lầm địa chỉ khi tìm hạnh phúc bên ngoài mình, người ta đã thấy điều đó. Người ta có đi du lịch đến đầu kia của thế giới và nhân lên nhiều lần những kinh nghiệm cho đến vô tận cũng vô ích, người ta vẫn sẽ luôn luôn thấy những sự vật qua cùng một đôi mắt, vì người ta tri giác thế giới theo cái mà người ta nghĩ và cảm nhận. Mỗi người có cách diễn dịch riêng của nó về thế giới trong đó nó đang sống.</p>
<p style="text-align: justify;">Mọi cố gắng sửa đổi thế giới cho phù hợp với những tham muốn và hy vọng của chúng ta đều đưa đến thất bại. Nếu trời mưa, người ta không thể làm gì và không phải vì người ta muốn thấy mặt trời mà trời nắng. Tuy nhiên, có một điều mà người ta có quyền thay đổi : sự khó chịu mà cơn mưa gây ra cho chúng ta. Điều này không muốn nói rằng người ta phải tự tạo mọi mảnh của một nhân cách mới khác – con người mà người ta có là đã quá đủ. Một cách thực tiễn, điều này nghĩa là người ta cần một tấm gương để giúp người ta thấy đích xác người ta ở đâu, và phát giác cho người ta thấy những khía cạnh của nhân cách mình mà trên đó người ta cần làm việc.</p>
<p style="text-align: justify;">Con người có một khuynh hướng rõ ràng là sưu tầm những cái mặt nạ ; mỗi người thực sự có một mặt nạ cho mỗi hoàn cảnh. Nếu người ta không biết người ta có cái đầu gì, thì thực ra bởi vì người ta không bao giờ thực sự quan sát nó một cách chăm chú. Chắc hẳn người ta thiếu sự thụt lui để thấy nó rõ ràng. Rồi người ta nhìn cái đầu của những người khác, và khi thấy một cái đầu đẹp, người ta mong cái đầu mình giống được như nó.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy nhiên, có đôi khi mặt nạ rơi tuột đi, hay người ta đã quên mang nó, và trong khoảnh khắc ngắn ngủi, người ta lập tức tự thấy mình nguyên dạng. Nói chung, sự chấn động khiến người ta không chịu đựng nổi. Người ta vội vã che dấu điều người ta đã thấy và làm lại rất mau một mặt nạ mới. Người ta có thói quen luôn luôn muốn sửa chữa lại thực tại để làm lại nó theo ý thích đến độ người ta không đảm đương cái thực sự người ta là. Trong thời gian đó, khuôn mặt thật của chúng ta đang hư thối dưới những mặt nạ, thiếu ánh sáng và không khí, và cũng bởi vì người ta không bao giờ nghĩ đến việc lau rửa nó.</p>
<p style="text-align: justify;">Người ta có thể đến chỗ cho những người khác một hình ảnh đẹp về mình, trong khi cái người ta dấu sau những mặt nạ cần một sự giảm xuống nghiêm túc. Vậy là người ta chông chênh khi cho hình tướng bên ngoài đặc quyền so với thực tại, bởi vì chính cái người ta thực sự có nơi mình mới quyết định phẩm chất những kinh nghiệm và dòng sống của chúng ta. Khi nào người ta còn che dấu sự thối nát dưới một sự điểm trang hấp dẫn, người ta chẳng có ích lợi gì nhiều cho chính mình hay cho những người khác, dù người ta duy trì thành công một sự giả bộ toàn vẹn.</p>
<p style="text-align: justify;">Chính là sau cái mặt nạ mà người ta phải đuổi cái ta ra khỏi sào huyệt để học nhận biết nó. Tất cả chúng ta đều có nhãn hiệu một “cái tôi”, tuy nhiên thật hiếm người biết họ thực sự là gì. Chỉ cần người ta cho một cái gì nhỏ nhặt, dư thừa – như một đồ chơi trẻ con vặt vãnh hay một mẩu bánh mì – để tự xưng là một lương tâm tốt hay tự cho là một nhà từ thiện vĩ đại, và người ta không thể quên cử chỉ đó. Bấy giờ người ta biểu lộ chứng quên lẫn sâu xa đối với những cơn ích kỷ hay với những trận giận dữ. Và như vậy người ta tự xây dựng một hình ảnh sai lầm về mình để tự củng cố, tự an tâm. Tất cả ý tưởng người ta tự tạo về mình đặt nền trên một sự lừa đảo còn khó phá hơn khi chính người ta là tác giả. Bởi thế tại sao người ta cần một tấm gương soi.</p>
<p style="text-align: justify;">Đây là lời nói về vấn đề này của một trong những vị thầy tâm linh vĩ đại của Tây Tạng, Jamgon Lodro Thaye : “Khi tôi nhìn một số người thực hành Phật giáo, họ hoàn toàn có vẻ tốt đẹp, nhìn theo bên ngoài : họ nói hay, ăn mặc đúng, họ biết ngồi như một vị Phật. Nhưng khi tôi quan sát khuôn mặt bên trong của họ, họ có vẻ của những con rắn độc. Chỉ cần họ chạm phải chút khó khăn hay chút chướng ngại nhỏ nhặt thì tính khí đích thực của họ lộ ra ngay. Như con rắn có vẻ trơn láng và mềm mại trong khi luôn luôn sẵn sàng mổ, những người đó sẵn sàng gây gổ đổ lỗi cho bất kỳ ai làm chướng ngại họ.”</p>
<p style="text-align: justify;">Không phải tự thân con rắn là xấu, nhưng sự sợ hãi, thù hận và vô minh đã quy định nó phải giết mỗi khi nó cảm thấy bị đe dọa. Chúng ta cũng hơi giống như vậy : cái xấu người ta có thể thấy nơi mình là sản phẩm của vô minh – sự nhận biết sai lầm về bản tánh thật sự của những sự vật. Vậy thì người ta có thể, và người ta phải, chuyển hóa vô minh này thành trí huệ, bằng cách nhìn vào trong, xoay tâm thức về trên chính nó. Điều này sẽ tự động tác động lên những tương quan lành mạnh hơn, phong phú hơn với thế giới bao quanh chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Điều trên có nghĩa quan trọng là tỏ ra điều độ và lương tri đối với cái mà người ta sắp khám trong gương. Để cho những lỗi lầm, khuyết điểm được che dấu thì chẳng lợi ích gì, cũng không hiệu quả và có hại khi chỉ thấy những mặt tốt của mình. Nếu người ta quá đặt nặng những thói xấu, những lệch lạc của mình, người ta sẽ chìm trong thất vọng và chán nản tất cả. Người ta phải có thể tự xem mình trong cái gương một cách khách quan, không kết án điều mình thấy trong đó, và không muốn đập bể gương thành muôn mảnh. Ngược lại, vô ích khi không biết đến những khuyết điểm hay đè nén chúng, điều chỉ làm chúng mạnh thêm khi luôn luôn đặt mình dưới sức ép, sẵn sàng bùng nổ trước một cơ hội nhỏ.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/p1533780796-3.jpg"><img class="  wp-image-6251 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/p1533780796-3-207x300.jpg" alt="p1533780796-3" width="329" height="477" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Vũ khí nguyên tử là một chuyện làm cho nhiều người trong chúng ta tức giận, tuy nhiên người ta không biết rằng tâm thức chúng ta thường trực là chỗ ở của một loại phản ứng nguyên tử. Mỗi ngày, cái “ta” sản xuất ra hàng triệu tấn kiêu ngạo, ghen ghét, giận dữ, tham muốn và thù hận, chúng gieo rắc kinh hoàng và căng thẳng ở mọi phương vị và gây nên những tổn hại khủng khiếp nơi ta và nơi những người khác. Rõ ràng không phải chôn vùi những vũ khí nguyên tử xuống đất hay tự bằng lòng với ước mong chúng biến mất mà người ta làm cho chúng thành vô hại. Nếu người ta muốn hóa giải những sức mạnh tàn phá chứa trong mình, phải tỏ ra khôn khéo và thiện xảo để tháo gỡ và triệt hạ chúng. Người ta phải kêu gọi hiểu biết và tình thương, cộng với khá kiên nhẫn và không bám luyến. Không quên một chút thư giãn và khôi hài…</p>
<p style="text-align: justify;">Điều người ta sắp khám phá khi nhìn “tấm gương” sẽ rất ích lợi cho chúng ta để thành tựu con đường tâm linh, nhưng quan trọng nhất là cái trí huệ rất mới mẻ này không nằm trong chữ nghĩa chết khô. Phải đem nó vào kinh nghiệm của mình và nuôi dưỡng thường trực nó trong cuộc sống hàng ngày. Nếu người ta không áp dụng vào cuộc sống trí huệ và lòng bi vừa thức giấc trong mình, người ta sẽ chỉ có thêm một mặt nạ khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Một kỹ thuật chỉ có giá trị nếu người ta có thể áp dụng nó vào một tình huống thực tiễn. Dù bạn có một hiểu biết lý thuyết hoàn hảo về cơ khí, bạn cũng sẽ không thể sửa chiếc xe của bạn nổ máy trở lại trước khi chính bạn bước vào thực hành bằng cách thọc tay vào dầu mỡ. Những kỹ thuật làm chủ tâm thức chẳng giúp gì bạn nếu chúng vẫn còn nguyên là những lý thuyết trừu tượng ; chúng chỉ có giá trị nếu chúng hiện thân trong thực tế hàng ngày và nuôi dưỡng thực tế đó. Chẳng hạn có ăn nhập gì khi trải qua một giờ thiền định về sự ghen tuông để cố thoát khỏi nó, rồi tức thì sau thời thiền, người ta lại nổ bùng một cơn ghen tuông với vợ hay chồng chỉ vì một cái cớ nhỏ nhặt.</p>
<p style="text-align: justify;">Người ta có thể trải qua một đời thu thập sưu tầm những giáo huấn đủ mọi loại với những thiện ý tốt đẹp nhất cho thế giới : chúng chẳng giúp gì nhiều khi người ta không áp dụng chúng vào hoàn cảnh cụ thể. Sự giáo dục và khả năng trí thức của chúng ta có thể có một ích lợi nào đó để chúng ta hiểu cái gì xảy đến với chúng ta trong đời sống hàng ngày và giúp chúng ta quản lý nó. Nhưng vô cùng quan trọng hơn là có một tâm thức mở rộng, sẵn sàng chấp nhận cái gì tự xuất hiện và đối mặt với nó. Tiến bộ tâm linh không phải là một vấn đề trình độ trí thức hay và văn hóa : ở Tây Tạng không thiếu những người rất đơn giản, họ không biết đọc không biết viết, đã đạt đến một trạng thái thức tỉnh hoàn toàn của tâm thức.</p>
<p style="text-align: justify;">Mỗi người đều mang nơi bản thân mình tiềm năng của sự thức tỉnh tâm linh. Nếu người ta thêm vào đó sự phong phú lớn lao những kinh nghiệm mà chúng ta đều có, người ta có tất cả nguyên liệu cần thiết cho sự phát triển tâm linh, miễn là người ta khai thác nó. Bởi vì người ta không dùng nó, thì cũng như nó không có gì cả ở nơi người ta. Một người giàu có không biết cách dùng tiền sẽ có nhiều vấn đề khó khăn hơn một người đạm bạc biết rút phần tốt nhất có thể từ mỗi đồng xu. Một ví dụ khác : hãy tưởng tượng rằng bạn muốn nổ máy chiếc xe hơi của bạn. Nó không nhạy : bình ắc quy hết điện. Bạn có hàng trăm bình ắc quy để thay đổi trong ga-ra, nhưng bạn cũng quên sạc chúng. Tất cả tiềm năng năng lượng mà bạn có là vô ích, vì không được dùng, và bạn chẳng thể chạy đi. Từ đó là sự quan trọng phải nghiêm mật và lợi dụng cái người ta đã vốn có.</p>
<p style="text-align: justify;">Trở lại tấm gương của chúng ta, không chỉ đơn giản ngắm hình ảnh mình trong đó, mà còn phải chuyển sang hành động. Không phải chỉ nhận ra mình đang ghen tuông, giận dữ, rồi thôi. Phải thể hiện sự kiên trì và sáng suốt để học nhận diện, rồi hóa giải, trung hòa những chất độc bên trong của mình và những trạng thái tâm lý phát sanh từ chúng, những trạng thái tâm lý đã tạo cho chúng ta một thế giới quá đỗi khó khăn để sống. Nếu chúng ta không thể kiểm soát thế giới bên ngoài, ít ra tất cả chúng ta đều có thể đánh bại những kẻ xúi giục ra những rối rắm khổ nạn này là giận dữ, kiêu căng, tham muốn, thù hận và ghen tỵ. Càng tiến theo chiều hướng này, người ta càng cảm thấy biến mất cái cảm tưởng xung đột thường trực với những sự vật và những con người mà người ta đã có trước kia, và những vấn đề và những khổ đau của chúng ta càng giảm đi bấy nhiêu. Khi người ta chấm dứt tự đánh lộn với chính mình, người ta không còn chiến đấu với phần còn lại của thế giới. Nếu người ta biết tự chấp nhận mình như mình đang là, người ta có thể chấp nhận phần còn lại của thế giới và những người đang chia xẻ thế giới với chúng ta. Không còn nữa sự hao tán thất thoát năng lượng trong những xung đột bên trong hay bên ngoài ; mọi điều người ta làm, ở mọi cấp độ, đều hòa nhập vào hành trình tâm linh, và đem lại lợi lạc cho những người khác đồng thời cho chính mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước khi đến đó, tốt hơn là tránh rơi vào một quá độ của sự tự soi xét mình bằng cách tự phân cực mình thái quá trên chính mình và trên những vấn đề cá nhân. Để giữ sự chừng mực, cần không mất quan điểm vị tha của động lực ban đầu : nhớ rằng người ta tiến hành công việc này trên chính mình là để tìm ra khá đủ những nguồn lực nơi mình để có thể giúp đỡ những người khác. Một thái độ như thế sẽ cho chúng ta một điểm quy chiếu khách quan và tránh cho chúng ta khỏi quá tự trầm ngâm về chính mình. Người ta sẽ mang lại một cái nhìn tỏ rõ hơn về những sự vật khi thấy chúng như chính chúng là, và người ta sẽ tri giác tốt hơn cái gì không ổn trong đời họ. Người ta sẽ học thay đổi cái có thể thay đổi và chấp nhận cái không thể tránh.</p>
<p style="text-align: justify;">Không dễ chịu lắm khi sống trước mặt một tấm gương, nhưng trò chơi xứng đáng bỏ công để giúp chúng ta hiểu những khó khăn của chúng ta và giúp giải quyết chúng. Bình thường, người ta có khuynh hướng phê phán những người khác và muốn thay đổi họ nhiều hơn. Thế nên người ta có thể hơi hoảng sợ khi lần đầu tiên nhìn thấy những quan hệ của mình và thế giới bằng cách mới mẻ này : thay vì chờ đợi những sự việc thay đổi từ bên ngoài, người ta nắm chính mình trong tay. Ban đầu, chắc chắn người ta hơi sợ vì cái không biết, cái xa lạ, điều đó rất bình thường, nhưng việc đó cũng không phải khó khăn như nó có vẻ thế : chỉ cần chấp nhận tìm hiểu chính mình, làm bạn với chính mình, như một người nuôi thú giỏi trước tiên phải có được sự tin cậy của con cọp trước khi có thể dạy dỗ nó. Một khi người ta biết thiết lập những quan hệ thật sự với chính mình, người ta có lẽ sẽ thấy rằng người ta có không nhiều những vấn đề hơn người ta tưởng, và những vấn đề thực sự còn lại có thể tự giải quyết khá dễ dàng.</p>
<p style="text-align: justify;">Điều đó mở ra những viễn tưởng đáng để khổ công đầu tư vào công việc làm trên chính mình này. Khi học điều phục tâm thức mình, người ta có khả năng giải quyết những vấn đề riêng tư. Có một cái gì thay thế cho sự khó nhọc này không ? Có chứ, nếu người ta thích ở lại hơn mãi mãi trong tình trạng xung đột chiến đấu thường trực với thế giới, bằng cách cứ tiếp tục đổ những cái gì không thông suốt lên lưng những người khác hay những hoàn cảnh. Nếu quả thật người ta chọn biện pháp này, phải tiên liệu sự nhiễm độc với hàng triệu cá nhân khác… Thật là một chương trình vĩ đại ! Thế thì dạy dỗ thuần hóa tâm thức của chính mình sẽ trở thành một cách giải quyết duy nhất đơn giản mà hấp dẫn vô song…</p>
<p style="text-align: justify;"><b><b><b> Việt ngữ: Nguyễn An Cư</b></b></b></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/khai-thi-cua-duc-akong-tulku-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Milarepa Và Đức Đạt Lai Lạt Ma Của Một Ẩn Sĩ</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/milarepa-va-duc-dat-lai-lat-ma-cua-mot-an-si/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/milarepa-va-duc-dat-lai-lat-ma-cua-mot-an-si/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 15 Oct 2015 18:54:05 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức mới]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Kagyu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6200</guid>
		<description><![CDATA[Để tạ ơn Tất cả chúng sinh là cha mẹ của tôi, Tôi thực hành tâm linh ở nơi này. Nơi chốn này như một hang ổ của những dã thú hung dữ; Trước cảnh tượng này, những người khác sẽ bị kích động đến độ phẫn nộ. Thực phẩm của tôi thì giống như thức ăn của những con&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/tin-tuc/milarepa-va-duc-dat-lai-lat-ma-cua-mot-an-si/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;">Để tạ ơn<br />
Tất cả chúng sinh<br />
là cha mẹ của tôi,<br />
Tôi thực hành tâm linh<br />
ở nơi này.<br />
Nơi chốn này như một hang ổ<br />
của những dã thú hung dữ;<br />
Trước cảnh tượng này,<br />
những người khác sẽ bị kích động<br />
đến độ phẫn nộ.<br />
Thực phẩm của tôi thì giống như thức ăn<br />
của những con heo và chó;<br />
Trước cảnh tượng này,<br />
những người khác sẽ phải<br />
xúc động đến độ nôn mửa.<br />
Thân thể tôi như một bộ xương;<br />
Trước cảnh tượng này một kẻ thù hung dữ<br />
sẽ phải khóc than.<br />
Cách cư xử của tôi dường như<br />
cách cư xử của một kẻ điên,<br />
Và em gái tôi đỏ mặt<br />
vì xấu hổ.<br />
Nhưng sự tỉnh giác của tôi<br />
thực sự là vị Phật;<br />
Trước cảnh tượng này<br />
Đấng Chiến Thắng hoan hỉ.<br />
Mặc dù những khúc xương của tôi<br />
chọc thủng thịt da<br />
trên sàn đá lạnh lẽo này,<br />
tôi đã rất kiên trì.<br />
Thân tôi, cả trong lẫn ngoài,<br />
đã trở thành như rau tầm ma,<br />
nó sẽ chẳng bao giờ mất đi<br />
vẻ xanh xao nhợt nhạt của nó.<br />
Trong hang động cô tịch<br />
nơi hoang dã,<br />
Ẩn sĩ rất quen thuộc<br />
với cảnh cô đơn.<br />
Nhưng trái tim chung thủy của tôi<br />
chẳng bao giờ ngăn cách<br />
Với Đức Phật-Lạt Ma<br />
của Ba Thời.</p>
<p>Trích từ “The Life of Milrepa”<br />
Translated by Lobsang P. Lhalungpa.</p>
<p style="text-align: left;"> Có lần có người hỏi Đức Đạt Lai Lạt Ma:</p>
<p>“Thưa Ngài, đâu là phương cách nhanh chóng nhất, dễ dàng nhất để chứng ngộ sự vô ngã?”</p>
<p>Đức Đạt Lai Lạt Ma đã trả lời với cảm xúc hết sức mạnh mẽ:</p>
<p>“Mặc dù tôi không thể khẳng định là đã đạt được một vài chứng ngộ cao cấp, nhưng ngay cả sự chứng ngộ nhỏ bé mà tôi có được về sự thấu suốt tánh vô ngã cũng là kết quả của một sự nỗ lực trong hơn 30 năm.”</p>
<p>Và sau đó Ngài cúi đầu và khóc.</p>
<p>“Khi Milarepa ban những giáo huấn cuối cùng cho một trong những đệ tử xuất sắc nhất của ngài là Gampopa, ngài đã chỉ cho ông ta những vết chai cứng trên mông đít ngài, kết quả của việc tọa thiền liên tục.”</p>
<p>‘Hãy nhìn đây!’ Milarepa nói với Gampopa. ‘Đây là những gì ta đã phải nhẫn chịu. Đây là dấu vết của sự thực hành của ta và đây là cách mà con phải nhớ rằng việc chứng ngộ Pháp đòi hỏi sự nỗ lực và hứa nguyện nhất tâm.’</p>
<p>Đức Đạt Lai Lạt Ma nhấn mạnh:</p>
<p>“Vì thế đừng nghĩ tới phương cách dễ dàng nhất, xuất sắc nhất hay tầm thường nhất! Hãy suy nghĩ nhiều hơn nữa, nỗ lực nhiều hơn nữa trong nhiều kiếp – đó là điều quan trọng! Mặc dù tôi hoàn toàn quả quyết rằng tôi không thể đạt được mức độ chứng ngộ – thậm chí bằng một phần trăm hay một phần ngàn của những gì Milarepa đã thành tựu – một điều không còn phải nghi ngờ gì nữa. Tôi sẽ dứt khoát thi đua với gương mẫu của Milarepa và nỗ lực đi theo dấu chân ngài!”</p>
<p>Trích trong tạp chí Mandala tháng 3 năm 2001<br />
Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/milarepa-va-duc-dat-lai-lat-ma-cua-mot-an-si/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Suy Niệm Về Vô Thường</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/suy-niem-ve-vo-thuong/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/suy-niem-ve-vo-thuong/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 14 Oct 2015 18:27:10 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Tâm xả ly Luân hồi]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Vô thường và cái Chết]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6183</guid>
		<description><![CDATA[By Shangpa Rinpoche Ta nên suy niệm về những gì sẽ xảy ra trong cái chết. Đôi khi ta hỏi người nào đó: “Anh có sợ chết không?” và nhiều người sẽ nói là không. Nếu người ấy là một đại hành giả thì câu trả lời này có thể là chân thật. Lòng kính ngưỡng Đạo sư là điều&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/suy-niem-ve-vo-thuong/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>By Shangpa Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ta nên suy niệm về những gì sẽ xảy ra trong cái chết. Đôi khi ta hỏi người nào đó: “Anh có sợ chết không?” và nhiều người sẽ nói là không. Nếu người ấy là một đại hành giả thì câu trả lời này có thể là chân thật.</b></p>
<p style="text-align: justify;">Lòng kính ngưỡng Đạo sư là điều tối quan trọng cho việc thực hành của chúng ta bởi nó chiến thắng sự kiêu ngạo và bản ngã của ta, là những điều ta luôn luôn có. Sự từ bỏ (xả ly) là điều quan trọng thứ hai. Ta cần có cả hai điều này để có thể đi theo tiến trình đúng đắn dẫn đến giác ngộ. Nhiều Đạo sư đã nói rằng các thực hành chuẩn bị có thể còn sâu xa hơn thực hành Giáo Pháp thực sự. Nếu ta không phát triển thái độ từ bỏ đúng đắn nhờ suy niệm về những pháp chuẩn bị, việc thực hành (tu tập) của ta sẽ không có kết quả. Cho dù ta biết rằng thân người rất khó đạt được và nó vô cùng quý báu và hữu ích đối với ta, ta không thể tránh được sự thật là nó vô thường. Có sinh là có tử, nhưng không ai biết được khi nào cái chết đến. Shantideva đã nói: “Không ai biết được ngày mai hay cái Chết, cái nào đến trước. Ngày mai có thể không đến, nhưng cái chết chắc chắn sẽ đến.” Vì thế ta không nên nỗ lực cho ngày mai mà hãy thực hiện sự chuẩn bị đúng đắn cho cái chết. Để làm điều này ta cần phải suy niệm về cách tránh khỏi đau khổ trong cái chết, là điều rất thực và không thể thoát khỏi. Mặc dù ta cảm thấy buồn bã hay không thoải mái khi nghĩ về cái chết, ta cần đối mặt với sự thật này là một ngày kia tất cả chúng ta sẽ chết và hãy cố gắng chiến thắng những khổ đau mà cái chết mang lại. Ta cần tích cực suy niệm và tự chuẩn bị cho cái chết. Các Đạo sư Kadampa đã đưa ra năm câu ngắn về việc suy niệm về lẽ vô thường. Trước tiên, ta phải suy niệm rằng mọi sự sẽ không tồn tại như nó là mà sẽ biến đổi trong từng giây phút. Không chỉ bản thân ta mà ngay cả các hiện tượng lớn của thế giới cũng vô thường. A tỳ đạt ma (Luận Tạng) nói rằng sự hình thành của vũ trụ mất hàng triệu triệu năm và hầu như vũ trụ có thể được duy trì trong khoảng thời gian tương tự. Kế đó là sự hủy diệt của vũ trụ, cho đến cõi sắc (sắc giới) sẽ chắc chắn xuất hiện mặc dù phải mất một thời gian dài để hoàn toàn bị hủy diệt. Ta cũng nên quán chiếu về việc thời gian trôi qua. Năm ngoái đã là quá khứ và năm nay, ngày lại ngày, tuần nọ nối tiếp tuần kia, năm tháng trôi qua, mọi sự dời đổi và tiến tới. Mọi chúng sinh trong thế giới, ngay cả những Đạo sư vĩ đại cũng đều vô thường. Ta phải nhìn chính mình và xem mình đã thay đổi ra sao, từ một đứa trẻ thành một thiếu niên rồi trở thành một người trưởng thành. Ta không biết ta sẽ còn sống bao lâu, nhưng ta đang tiến đến cái chết trong từng giây phút. Ta nên suy niệm và tự hỏi: “Từ lúc này trở đi ta nên làm gì?”</p>
<p style="text-align: justify;">Kế đó, ta phải suy niệm về việc những người khác phải chết. Dù già hay trẻ, giàu hay nghèo, khỏe mạnh hay đau yếu, nhiều người mà ta biết đã chết. Qua tin tức hay những người ta biết, ta cũng nghe nói về vô số người nữa đã chết. Cho dù ta không nói về cái chết, ta đã nhìn thấy nhiều dời đổi trong các số phận, những người có địa vị cao và quan trọng đã mất đi ân phước, người có địa vị thấp đã tiến lên những vị trí quan trọng, người nghèo trở thành triệu phú, người giàu trở thành nghèo. Mọi sự đang thường xuyên thay đổi và không mãi mãi như cũ. Ta nên nhận ra rằng ta vẫn còn một ít thời gian trước khi chết và nên tận dụng nó tối đa bằng cách thực hành Pháp thật tinh tấn. Đây là kết quả của sự suy niệm của chúng ta về điều thứ hai.</p>
<p style="text-align: justify;">Thứ ba, ta phải suy niệm về những nguyên nhân của cái chết. Có rất ít nguyên nhân để sống nhưng có nhiều nguyên nhân cho cái chết. Các thảm họa tự nhiên chẳng hạn như trượt đất, lụt lội, động đất, sóng thần có thể gây nên cái chết. Mặc dù không thường xảy ra ở Singapore, Nepal, nhiều người đã chết vì bị sét đánh. Con người đã tạo nên những thảm họa như các cuộc chiến tranh cũng có thể gây nên cái chết. Từ tin tức, ta nghe nói về nhiều việc rắc rối như thế và thậm chí tận mắt chứng kiến một vài sự việc đó. Ta không biết được mình sẽ chết theo cách nào hay khi nào cái chết xảy ra.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy nhiên sự kiện ta sẽ chết là điều chắc chắn. Một vài Kinh Bồ Tát đề cập rằng người ta cũng có thể chết vì bị ngộ độc thực phẩm, vì bội thực, ăn không tiêu, không đi cầu được, vì không tuân theo lời chỉ dẫn của các bác sĩ và y tá hay vì bị những thế lực xấu tấn công. Không cẩn trọng, ta thực hiện những hoạt động gian khổ hay làm những việc thái quá và làm tổn hại thân thể mình. Bởi có nhiều nguyên nhân của cái chết, ta phải tuân theo luật nhân quả và cẩn thận chăm sóc thân người quý báu của ta, nhờ đó duy trì cuộc đời mình càng lâu càng tốt. Với thời gian có được từ việc sống trong điều kiện sức khỏe tốt lành, ta nên thực hành một cách tinh tấn.</p>
<p style="text-align: justify;">Milarepa là một Đạo sư trong dòng truyền thừa của chúng ta và cũng là hành giả vĩ đại nhất của Tây Tạng. Sau khi ngài đã trải qua những khó khăn và rất nhiều đau khổ trước khi nhận được tất cả giáo lý của Đạo sư Marpa, ngài được phép trở về quê nhà. Marpa nói rằng khi trở về quê hương, Milarepa sẽ nhìn thấy một khuôn mẫu đích thực của sự vô thường và điều này sẽ lợi lạc cho ngài. Khi Milarepa trở về nhà, ngài nhìn thấy ngôi nhà của ngài đã sụp đổ và bộ xương của mẹ ngài nằm phơi trên mặt đất, những sợi giây buộc Kinh sách Pháp bị chuột gặm nát và cỏ mọc xuyên qua những pho sách. Ngài ở trọn đêm trong ngôi nhà và ở đó, ngài nhận thức sâu xa về lẽ vô thường và hiểu rằng thật là khủng khiếp nếu ngài không hoàn toàn tận dụng được thời gian cho việc thực hành. Vào lúc đó ngài lập đại nguyện là phải đạt được giải thoát và thực hành Giáo pháp bằng cách thiền định trong các hang động. Hiểu biết về vô thường thì không khó, nhưng để hoàn toàn xác tín và được thôi thúc bằng sự suy niệm về lẽ vô thường thì vô cùng khó khăn. Nếu chúng ta không xác tín, ta sẽ tiếp tục sống một cuộc đời tầm thường và không hết sức tinh tấn trong việc thực hành. Nếu ta xác tín, ta sẽ thực hiện nỗ lực lớn lao nhất để đạt được giác ngộ. Vì thế, thật là lợi lạc nếu ta sử dụng một ít thời gian mỗi ngày để suy niệm về lẽ vô thường và xác tín về tầm quan trọng của việc thực hành và nhờ đó tiến triển nhanh chóng để đạt được giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;" align="left">Milarepa nhặt xương của mẹ ngài và lập đại nguyện đạt được giác ngộ</p>
<p style="text-align: justify;">Thứ tư, ta nên suy niệm về những gì sẽ xảy ra trong cái chết. Đôi khi ta hỏi người nào đó: “Anh có sợ chết không?” và nhiều người sẽ nói là không. Nếu người ấy là một đại hành giả thì câu trả lời này có thể là chân thật. Đối với họ, cái chết là sự giải thoát. Đối với những người bình thường, có thể là họ không suy nghĩ sâu xa và do bởi bản ngã, họ chỉ trả lời một cách hờ hững, để phô trương rằng họ không phải là người nhát gan. Ai là người thực sự muốn chết? Mọi người đều thực sự muốn sống càng lâu càng tốt. Chết là điều vô cùng khủng khiếp và kinh hoàng nhưng là điều cuối cùng rồi sẽ phải xảy ra. Trong khi chết, thân thể vật lý và tâm thức tách lìa nhau. Chỉ có những hoàn cảnh bi thảm hay tổn thương to lớn mới dẫn đến điều này. Đặc biệt là đối với những người đã tích tập ác nghiệp, do sự biểu lộ của ác nghiệp, tâm thức của họ bị mê mờ và họ nhìn thấy các chúng sinh địa ngục và họ trở nên vô cùng bối rối.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Rinpoche ở Nepal, ngài nghe nói rằng một người hàng thịt - sống bằng nghề giết trâu – bị lâm bệnh. Khi người hàng thịt sắp chết, ông ta vô cùng sợ hãi khi nhìn thấy những con trâu có những chiếc sừng sắc nhọn lao vào tấn công mình và ông cầu xin những người xung quanh cứu giúp kẻo ông bị những con trâu giết chết. Các biểu lộ của nghiệp đã bắt đầu thậm chí trước khi cái chết xảy ra. Đối với các đại hành giả thì cũng thế, vào lúc chết, họ sẽ nhìn thấy chư Phật và Dakini đón chào họ và tâm thức sẽ an trụ trong sự an bình vĩ đại. Một Lạt ma già ở Nepal vừa mất mới đây. Trước khi mất, ngài nói với những người đứng quanh ngài rằng ngài nhìn thấy Đức Quán Thế Âm Đỏ (Hồng Quan Âm) và Karmapa đến đón chào ngài. Ngài là người duy nhất ở đó có thể nhìn thấy điều này. Vì thế đây là khác biệt to lớn vào lúc chết giữa những người từng tích tập nhiều ác nghiệp và những người tích tập các công đức vĩ đại.</p>
<p style="text-align: justify;">Giây phút thực sự của cái chết thì vô cùng quan trọng. Cho dù một người đã từng tích tập nhiều công đức trong đời, vào lúc chết, nếu họ bị mê mờ bởi sự sinh khởi của sân hận hay những cảm xúc tiêu cực khác, điều này sẽ ảnh hưởng đến tái sinh kế tiếp của họ và họ có thể bị sinh trong các cõi thấp. Nếu một hành giả có thể nhập tâm các giáo lý và đã thực hành thật tốt đẹp thì vào lúc chết, họ có thể duy trì được sự an bình và thanh thản trong tâm thức và điều này sẽ là cánh cửa dẫn đến giải thoát. Vì thế ta nên suy niệm về sự khác biệt giữa những hành giả xuất sắc và hành giả tầm thường và nỗ lực để có được một kinh nghiệm tốt lành trong cái chết bằng cách thực hành tinh tấn ngay lúc này.</p>
<p style="text-align: justify;">Thứ năm, ta nên suy niệm về những gì xảy ra sau cái chết. Như ta biết, sau khi chết, ngay cả một Đại Đế cũng không thể mang theo mình một mảnh y phục duy nhất hay thậm chí những người phục vụ tầm thường nhất. Ông ta phải bỏ lại mọi của cải của mình. Thân thể ông trở thành một xác chết với chỉ một mảnh y phục để khâm liệm tử thi. Sẽ chẳng ai nghĩ rằng xác chết là huy hoàng hay kỳ diệu. Sau ít ngày, tử thi sẽ thối rữa và nặng mùi, chẳng ai ước ao nó. Tâm thức tách lìa khỏi thân xác. Tâm thức không làm chủ được nó, nó bị các nghiệp lực sai sử. Nó giống như một chiếc lông chim nhỏ trong không trung bị xô đẩy bởi bất kỳ cơn gió mạnh nào. Cũng giống như thế, tâm thức kinh nghiệm giai đoạn bardo. Ta không biết được đích đến cuối cùng của mình. Không có bất kỳ sự hướng dẫn nào. Tâm thức lang thang, tìm kiếm sự cứu giúp nhưng không tìm được. Các nghiệp lực tích cực và tiêu cực sẽ điều khiển chúng ta. Mọi tội lỗi ta từng tích tập mà không thể giải trừ được đã để lại những dấu vết sâu xa trong ý thức của ta. Nếu ta không từng tích tập các công đức, ta không thể vay mượn hay tích tập công đức mới vào giai đoạn này. Vì thế điều này thật là khủng khiếp.</p>
<p style="text-align: justify;">Đối với một hành giả xuất sắc, mỗi giây phút trong bardo là một khoảnh khắc dẫn tới giải thoát. Tuy nhiên, đối với những người không tích tập công đức, họ sẽ bị dẫn tới việc tái sinh trong các cõi thấp. Giờ đây, nếu chúng ta không bắt đầu tích tập công đức thì không ai có thể chỉ đường hay dẫn dắt ta sau cái chết. Vì thế ngay lúc này, khi còn có thể nỗ lực để tích tập công đức vĩ đại, ta nên làm điều đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau hết, ta bắt đầu cảm thấy rằng mình không có nhiều thời gian và phải bắt đầu thực hành và học Giáo Pháp. Pháp cần được áp dụng và ta nên làm cho Pháp không tách lìa với bản thân ta. Mọi điều ta học từ Pháp, ta nên áp dụng một cách phù hợp, mọi kinh nghiệm được giảng dạy trong Pháp, ta nên trải nghiệm cho chính mình, mọi chứng ngộ có thể có được từ Pháp, ta nên chứng ngộ cho bản thân ta. Bạn có thể học rất nhiều về Pháp, nhưng tất cả chỉ là tri thức. Nếu bạn không cố gắng áp dụng và nhập tâm nó, bạn sẽ chỉ là một chúng sinh tầm thường không có bất kỳ thành tựu hay tích tập nào. Ta phải làm cho Pháp và bản thân ta trở thành bất nhị. Ta đã dùng hết một nửa cuộc đời mình, có lẽ thỉnh thoảng thực hiện được các thiện hạnh nhưng rất thường tích tập nghiệp vô cùng xấu xa. Ta đã lãng phí rất nhiều thời gian và không còn nhiều thời giờ để thực hành. Vì thế ta không nên bị xao lãng bởi việc theo đuổi thanh danh, của cải, lạc thú và những thành tựu thế tục khác như thế, là những điều sẽ chẳng mang lại lợi lạc cho ta trong cái chết hay sau cái chết. Thay vì làm việc để đáp ứng cho bản ngã, ta nên toàn tâm tập trung vào con đường thực hành với thân, ngữ và tâm ta. Đây là kết luận cuối cùng ta phải đạt tới sau sự suy niệm. Nếu ta nhìn thấy người nào đó dại dột kiếm tìm niềm vui cho bản thân, ta nên phát khởi lòng thương xót và bi mẫn lớn lao đối với họ bởi họ đang lãng phí thời giờ quý báu của mình. Khi đó, ta nên khát khao tận dụng tối đa thời giờ của ta trong thế gian này để thực hành và nhắm đến việc thoát khỏi sự tái sinh trong ba cõi thấp. Cho dù ta không thể giải thoát trong đời này, ít nhất ta nên ước nguyện thực hành Pháp đời này sang đời khác cho đến khi đạt được giải thoát.</p>
<p style="text-align: justify;">Có nhiều Đạo sư Kadampa rất vĩ đại và suy niệm trong mọi lúc về lẽ vô thường. Một Đạo sư như thế đang thiền định trong một hang động, ở đó có một bụi gai mọc ở bên ngoài lối vào. Mỗi ngày khi ngài đi qua bụi gai để ra ngoài lấy nước, áo quần của ngài bị vướng gai và ngài nghĩ: “Bụi gai này thật là phiền phức, ta nên chặt nó đi.” Tuy nhiên một lát sau ngài quán chiếu rằng có thể ngài sẽ chẳng sống lâu để trở vào hang động tu tập và ngài gạt bỏ tư tưởng đó. Khi ngài mang nước về, quần áo ngài lại bị vướng gai và ngài nghĩ đến việc đốn bỏ bụi gai. Tuy thế, ngay lập tức ngài suy niệm rằng có thể ngài chẳng sống lâu để ra khỏi hang một lần nữa và ngài lại gạt bỏ ý tưởng đốn bỏ bụi gai. Điều này tiếp diễn trong nhiều năm cho đến khi ngài giác ngộ và ra khỏi hang động để giảng dạy cho những người khác. Chúng ta nên tuân theo gương mẫu của ngài. Đừng thỉnh thoảng nhớ tưởng về lẽ vô thường mà nên nghĩ tưởng về vô thường trong mọi lúc.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo phong tục của Tây Tạng, là một điềm gở khi lật úp một cái tách (chén) bởi điều đó biểu thị cho cái chết. Tuy nhiên, mỗi đêm trước khi đi ngủ, các Đạo sư Kadampa đã cố ý úp cái tách của mình xuống để nếu các ngài chết trong khi ngủ, sẽ không cần nhờ người nào khác lật úp cái tách. Nếu chúng ta suy niệm về cái chết trong từng giây phút, ta sẽ không làm bất kỳ điều gì xấu xa. Vì thế, quán chiếu về sự vô thường vô cùng cần thiết. Nó là một chiếc roi thúc đẩy ta tu tập và là một vị Thầy bảo ta rằng ta nên làm việc nhiều hơn nữa cho việc thực hành của ta. Vì thế ta nên nỗ lực trong việc thực hành nhờ quán chiếu về lẽ vô thường.</p>
<p style="text-align: justify;">Đặc biệt là khi ta thực hành bốn nền tảng, ta nên sử dụng ít nhất mười lăm phút mỗi ngày để quán chiếu về bốn nền tảng thông thường này, đó là thân người quý báu với tám sự nhàn nhã và mười thành tựu (mười thuận lợi), năm điều từ bản thân ta và năm điều từ những người khác; sự vô thường; nhân quả cũng như những đau khổ của luân hồi sinh tử. Trong một khóa nhập thất, một hành giả phải dùng trọn bảy ngày cho sự suy niệm như thế.</p>
<p style="text-align: justify;">Với thời gian ngắn ngủi chúng ta có được trong cuộc đời mình, ta phải phát triển động lực: “Tôi phải đạt được các thành tựu tâm linh.” Vì thế ta không nên hờ hững trong việc tu tập và nên hết sức tập trung và cẩn trọng trong việc thực hành các suy niệm và những giai đoạn khác trong việc tu tập. Nhân và quả thì luôn luôn hiện diện với chúng ta. Bằng cách thường xuyên suy niệm về nhân quả, ta sẽ có thể ngăn ngừa mình không làm các hành động tiêu cực và tích tập ác nghiệp. Ta phải hết sức kiên cố trong việc thực hành. Ta nghe Pháp để làm điều gì đó xảy ra trong cuộc đời chúng ta chứ không phải chỉ để cho vui. Ít nhất ta phải dùng mười lăm phút mỗi ngày để nghĩ về điều này và từ từ chúng ta sẽ bắt đầu chuyển hóa. Khi đó tiến trình từ bỏ (xả ly) sẽ bắt đầu. Từ bỏ không có nghĩa là khoác lên người chiếc áo tu sĩ và rời bỏ gia đình, điều đó chỉ là việc thay đổi y phục. Từ bỏ phải đến từ bên trong.</p>
<p style="text-align: justify;">Giáo lý này là một sự nhắc nhở cho tất cả những người đang thực hành các nền tảng và là một động lực đầy phấn khởi cho những ai đang bắt đầu tu tập. Tất cả chúng ta đều rất mới mẻ đối với việc thực hành và ngay cả những hành giả cao cấp cũng cần phải thường xuyên quán chiếu về bốn nền tảng thông thường. Vì thế điều quan trọng là chúng ta cần phải noi gương các ngài.</p>
<address>Nguyên tác: <b>“Contemplation on Impermanence</b>” by Shangpa Rinpoche</address>
<address>http://www.shangpa.org/teachings/ContemplationOnImpermanence.pdf</address>
<address>Thanh Liên dịch sang Việt ngữ</address>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/suy-niem-ve-vo-thuong/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử và Lịch hoằng Pháp Đức Ayang Rinpoche tháng 10 năm 2015</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/lich-hoang-phap-duc-ngai-ayang-rinpoche-thang-10-nam-2015/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/lich-hoang-phap-duc-ngai-ayang-rinpoche-thang-10-nam-2015/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 04 Oct 2015 08:14:25 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức mới]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Kagyu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6087</guid>
		<description><![CDATA[Được sự chấp thuận của Ban Tôn Giáo Chính Phủ và của chư tôn đức thường trực BTS GHPGVN tỉnh Tiền Giang . Nhận lời mời của ĐĐ . Thích Tịnh Huệ; trú trì chùa Liên Trì; tỉnh Tiền Giang, Ngài Ayang Ripocher và phái đoàn sẽ có chuyến hoằng pháp tại chùa Liên Trì (ấp Đông Thạnh; xã Thái&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/tin-tuc/lich-hoang-phap-duc-ngai-ayang-rinpoche-thang-10-nam-2015/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Được sự chấp thuận của Ban Tôn Giáo Chính Phủ và của chư tôn đức thường trực BTS GHPGVN tỉnh Tiền Giang . Nhận lời mời của ĐĐ . Thích Tịnh Huệ; trú trì chùa Liên Trì; tỉnh Tiền Giang, Ngài Ayang Ripocher và phái đoàn sẽ có chuyến hoằng pháp tại chùa Liên Trì (ấp Đông Thạnh; xã Thái An Đông huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang) từ ngày 9 đến ngày 27/10/2015 .</p>
<p style="text-align: justify;">Theo tin từ Phật tử Như Hồng ( BTT ) cho biết : Xuyên suốt thời gian hoằng pháp tại chùa Liên Trì, Ngài Ayang Ripocher và phái đoàn sẽ có nhiều thời pháp thoại và hướng dẫn đạo tràng, tăng ni và phật tử tu học pháp môn “ Chuyển di thần thức về cỏi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà” . Ngoài ra, ngài Ayang Ripocher còn tham dự buổi phóng sanh cầu nguyện quốc thái dân an, thế giới an bình, vạn dân an cư lạc nghiệp và khánh thành cây cầu tình thương tại tỉnh tiền giang do ngài Ayang Ripocher và phật tử tài trợ . Ban tổ chức sẽ cung đón Ngài  Ayang Ripocher và phái đoàn tại cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất Tp Hồ chí minh vào sáng ngày 9/10/2015 .</p>
<p>http://www.nigioingaynay.com/Tin-tuc/4939/Tien-giang-ngai-ayang-ripocher-hoang-phap-tai-chua-lien-tri.html</p>
<p style="text-align: center;"><strong>Tiểu sử Đức Ayang Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Ayang-RInpoche-Vajrasattva-2.jpeg"><img class="alignnone  wp-image-6093" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Ayang-RInpoche-Vajrasattva-2-200x300.jpeg" alt="Ayang-RInpoche-Vajrasattva-2" width="342" height="513" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Đức Ayang Rinpoche sanh trong một gia đình du mục ở miền Đông Tây Tạng. Phái đoàn các Trưởng Lão Lạt Ma , kể cả Gyalwang Karmapa Rangjung Rigpe Dorje thứ 16 và Yongzin Jabra Rinpoche đã kết luận rằng Ngài là hiện thân trí tuệ của Khai Mật Tạng Pháp Vương Rigzin Choegyal Dorje. Có lẽ không một Lạt Ma Tây Tạng nào lại được đồng nhất tên tuổi của mình với sự truyền thừa của pháp môn Phowa đến Phương Tây như Trưởng Lão Đại Sư Ayang Rinpoche. Ayang Rinpoche là Lạt Ma của dòng Drikung Kagyu, người nắm giữ cả hai dòng Nyingma và Drikung. Ngài tiếp tục một giòng truyền thừa không gián đoạn của các Lạt Ma thuộc dòng Drikung Phowa từ Guru Dorje Chang – Kim Cang Trì cho đến hiện kiếp. Ngài đã nhập thất miên mật để hành trì pháp môn Phowa và đã được khắp nơi công nhận như là một bậc Thầy của pháp môn Phowa. Ngài là Lạt Ma đầu tiên thuộc dòng Drikung rời khỏi Tây Tạng. Mặc dù được tìm ra bởi một phái đoàn Trưởng Lão Lạt Ma rằng Ngài là hiện thân của Khai Mật Tạng Pháp Vương Rigzin Choegyal Dorje, Ayang Rinpoche vẫn muốn tìm ra thêm những hoạt động của Ngài trong tiền kiếp. May mắn thay, Khai Mật Tạng Pháp Vương Choegyal Dorje đã viết tiểu sử của ông ta trong suốt cuộc đời, và Ayang Rinpoche đã có được một bản sao của quyển sách này mà qua đó Ngài bắt đầu nghiên cứu về cuộc đời và hoạt động của hiện thân trước của Ngài. Trong tiểu sử nầy, Choegyal Dorje (tức kiếp trước của Ayang Rinpoche) có đề cập đến Ngài là đệ tử của Đức Phật Thích Ca cách đây 2,500 năm. Công hạnh của ngài đã được ghi nhận trong Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim. Vào lúc đó Ngài đã là một vị Bồ Tát. Vị Bồ Tát đó tiếng Tây Tạng tên là Zippi Dok, tiếng Phạn là Ruchiraketu – Diệu Tràng. Dựa theo Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim, Bồ Tát Diệu Tràng lúc đó ở đỉnh núi Linh Thứu cùng với chúng hội và Ngài đã thỉnh vấn về lý do thọ mạng ngắn ngủi của Đức Phật Thích Ca. Ngài cũng đã kể lại cho Đức Phật Thích Ca về giấc mơ chiếc trống vàng của Ngài. Khi Ngài gõ trống, tiếng trống là âm thanh của sự sám hối tột bực và tịnh hóa ác nghiệp của quá khứ. Chúng ta có thể chuyển tải Kinh tối thượng xuống từ nơi sau đây: http://www.fpmt.org/teachers/teachings/sutras/golden-light-sutra/download.html</p>
<p style="text-align: justify;">Kinh này đã được dịch ra tiếng Anh, tiếng Tàu, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Nam Dương, tiếng Ý, tiếng Mông Cổ, tiếng Nepal, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Phạn, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Việt và tiếng Tây Tạng. Trong tiểu sử của Choegyal Dorje, Ngài có nhắc đến Ngài là một trong 25 đệ tử chính của Guru Liên Hoa Sanh tên là Langdro Lotsawa. Trong suốt cuộc đời, Ngài đã dịch Phật Pháp từ tiếng Phạn sang tiếng Tây Tạng. Trong một đời khác, Choegyal Dorje là đệ tử của Đức Milarepa tên là Repa Shiwa O, là một trong tám trưởng tử tâm huyết vĩ đại của Đức Milarepa. Miêu tả tóm tắt về lịch sử của Ngài có thể tìm thấy trong: http://www.dzogchenmonastery.org/repa_shiwa_o.html</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Ayang Rinpoche bảo rằng Ngài tự nhiên có lòng sùng tín đến Guru Liên Hoa Sanh và Đức Milarepa, và tin tưởng vào quyết định của vị Đạo Sư gốc của Ngài là His Holiness Karmapa đời thứ 16, nhưng làm thế nào Ngài có thể chắc chắn rằng Ngài chính là hóa thân của Khai Mật Tạng Pháp Vương Choegyal Dorje? Trong tiểu sử của Choegyal Dorje có hai đoạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Nửa đoạn viết bằng tiếng Tây Tạng, nhưng nửa đoạn kia thì lại viết bằng một ngôn ngữ khác. Sau khi đã nghiên cứu nhiều, Ayang Rinpoche đã có thể xác định rằng nửa câu của mỗi đoạn được viết bằng ngôn ngữ của Dakini – Thiên Nữ. Khai Mật Tạng Đại Pháp Vương Choegyal Dorje đã viết tiểu sử của ông trong suốt cuộc đời, lồng vào trong đó là hai câu mà dường như không có ý nghĩa gì trong văn bản tiểu sử của Ngài. Ayang Rinpoche đã tìm người có kiến thức về ngôn ngữ của Dakini- Thiên Nữ. Ngài nghe nói rằng Kamtrul Rinpoche người đang định cư tại Dharamsala có kiến thức về loại ngôn ngữ này. Vì thế Ayang Rinpoche đã đi đến Dharamsala để thỉnh cầu ý của Ngài. Khi Ayang Rinpoche gặp được Kamtrul Rinpoche thi Kamtrul Rinpoche đã khá lớn tuổi vào lúc đó và thị giác của ngài đã lệch lạc, tuy nhiên Ngài đã có thể đọc được hai câu và khẳng định rằng đó là tiếng Tây Tạng và ngôn ngữ của Dakini.</p>
<p style="text-align: justify;">Câu thứ nhất, nửa câu đầu bằng tiếng Tây Tạng: Tse Tsing Ma = Đời kế tiếp Nửa câu sau bằng ngôn ngữ của Dakini Ga Yu Ta Ji = Gayu là nơi sinh ra hoặc Gaba Ta = Ngựa Kamtrul Rinpoche nói với Ayang Rinpoche rằng nửa câu đầu rất rõ ràng Khai Mật Tạng Đại Pháp Vương Choegyal Dorje tiên đoán trước tái sanh kế tiếp của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Nửa câu sau nói về “gayu”, Ayang Rinpoche có nhắc rằng ngài sanh ra tại một nơi gọi là Gaba. Vì thế Kamtrul Rinpoche đã khẳng định rằng hoặc là có một cái gì hay một nơi chốn nào đó gần Gaba có âm thanh “ta”. Ayang Rinpoche đã nói rằng không có bất cứ cái gì với âm thanh “ta” chung quanh nơi đó, nhưng Ngài sanh vào năm con ngựa, mà tiếng Tây Tạng gọi là “ta”.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế, Kamtrul Rinpoche đã khẳng định câu thứ nhất nói rằng Choegyal Dorje sẽ tái sanh vào một nơi gọi là Gaba vào năm con ngựa. Câu thứ nhì Nửa phần đầu bằng tiếng Tây Tạng Lam Samo = Pháp môn vi diệu Phowa Nửa phần sau bằng ngôn ngữ của Dakini Powin Da din jing = Sự thành công lớn lao Ngay điểm này Kamtrul Rinpoche đã cho rằng dường như hai câu trên nói về Ayang Rinpoche. Tiên đoán sự ra đời và hoạt động pháp sau này của Ngài. Với hai câu được viết trong suốt cuộc đời của Khai Mật Tạng Pháp Vương Choegyal Dorje trong hai ngôn ngữ khác nhau, Ngài đã tiên đoán sự tái sanh kế tiếp và hoạt động tương lai của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế điều này khẳng định không chút nghi ngờ rằng Ayang Rinpoce chính là hiện thân của Choegyal Dorje. Xuyên qua tiểu sử của Ngài bắt đầu với đản sanh của Đức Phật Thích Ca và Phật pháp cách đây 2,500 năm với tên là Đại Bồ Tát Ruchiraketu - Diệu Tràng. Tuy nhiên vào thời ấy Ngài đã là một vị Bồ Tát, có nghĩa là Ngài đã bận rộn với các hoạt động Phật Pháp trong nhiều kiếp không thể tính xuể. Chúng ta thật là may mắn có thể tu học từ một vị Bồ Tát vĩ đại như Ayang Rinpoche và chúng ta nên trân quý từng câu mà Ngài đã dạy, và từng lúc mà chúng ta có thể hội ngộ với Ngài. Như Ngài vẫn thường nói “ Chúng ta phải cố gắng ….”</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Ph</i><i>ổ </i><i>T</i><i>ừ </i><i>- MaiThy d</i><i>ị</i><i>ch d</i><i>ự</i><i>a theo bài vi</i><i>ế</i><i>t c</i><i>ủ</i><i>a Lama Vincent.</i><br />
<i>T</i><i>ừ </i><i>Ph</i><i>ổ </i><i>L</i><i>ạ</i><i>c </i><i>– Tùng Vũ </i><i>&amp; Tâm B</i><i>ảo Đàn </i><i>hi</i><i>ệu đính.</i></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/lich-hoang-phap-duc-ngai-ayang-rinpoche-thang-10-nam-2015/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đối mặt</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/doi-mat/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/doi-mat/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 04 Oct 2015 04:05:37 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Kagyu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6082</guid>
		<description><![CDATA[By Akong Tulku Rinpoche Chớ vui thích khóc than cho số phận mình ! Bảy Điểm Tu Tâm của Atisha Giữa khoảnh khắc người ta gặp đạo lần đầu tiên và giờ phút tâm thức thức tỉnh hoàn toàn trong sự trọn vẹn những phẩm chất tự nhiên của nó, cuộc du hành có thể lâu dài và gian khổ.&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/doi-mat/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><b>By Akong Tulku Rinpoche</b></p>
<p style="text-align: center;"><strong><em>Chớ vui thích khóc than cho số phận mình !</em><br />
<em>Bảy Điểm Tu Tâm của Atisha</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Giữa khoảnh khắc người ta gặp đạo lần đầu tiên và giờ phút tâm thức thức tỉnh hoàn toàn trong sự trọn vẹn những phẩm chất tự nhiên của nó, cuộc du hành có thể lâu dài và gian khổ. Nếu người ta trù tính một cách nghiêm túc để ra đi, phải suy nghĩ đến sự tổ chức thực tiễn của cuộc du hành của mình. Chẳng hạn, chỉ nói: “Tôi muốn đi từ Việt Nam sang Ấn Độ” thì không đủ để đến đó. Phải chọn một phương tiện chuyên chở – xe hơi, xe lửa hay máy bay và khó nhọc tổ chức hành trình. Nếu người ta không cố gắng một chút cần thiết khi khởi hành, người ta không bao giờ đi đến đâu cả, và người ta sẽ cứ giam hãm trong nhà mình – và thất vọng.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi muốn đi đâu, phải xác định điểm khởi hành của mình, phương tiện di chuyển và hành trình của mình, rồi phải ra đi. Điều đó cũng đúng với sự du hành tâm linh: mục đích của nó là đưa ta đến chỗ sống một cuộc đời hoan hỷ hơn và bừng nở hơn, đồng thời hữu ích hơn cho những người khác, và điểm khởi hành là cái đời sống bình thường hàng ngày của chúng ta. Cái hàng ngày đầy dẫy những sự kiện đủ mọi loại tạo thành nguyên liệu cho công việc tâm linh, bởi vì chính qua sự đa dạng của những kinh nghiệm mà người ta có thể học và tiến hóa. Đời sống hàng ngày là một mỏ những bài học của trí huệ ban cho những ai muốn học chúng, bất kể trình độ giáo dục hay văn hóa.</p>
<p style="text-align: justify;">Bài học đầu tiên chắc chắn cốt ở quên đi những thói quen xấu của chúng ta. Người ta có khuynh hướng lẩn tránh hay bỏ lơ những vấn đề đặt ra cho chúng ta trong môi trường xã hội, nghề nghiệp hay gia đình, như thể người ta thử che dấu sự không thỏa mãn và khổ đau mà người ta cảm thấy nơi mình. Nếu người ta muốn thành thật với chính mình, người ta sẽ bắt buộc nhận ra rằng trong một nghĩa nào đó người ta vẫn còn tập đánh vần trong việc quản lý những khó khăn của cuộc sống hàng ngày. Có lẽ người ta thích thực hành những kỹ thuật thiền định ngoại lai trong hy vọng ngày nào có thể khinh thân hay bay lên, trong khi chắc hẳn ích lợi hơn nếu trước tiên học đứng vững trên đôi chân của mình. Một số người tự đánh giá đã nhiều tiến hóa, nghĩ rằng họ chẳng cần gì một lời giáo huấn, khuyên bảo, trong khi một cách vô thức họ tái sản xuất không ngừng cùng những bản in như nhau trong cuộc sống và luôn luôn tự tạo cùng những khó khăn. Thế nên ở đây chúng ta nhắm đến mục tiêu chính yếu là học chấp nhận và điều hành những tình huống thông thường của cuộc đời hàng ngày. Người ta không thể chờ đợi những tiến bộ thật sự trước khi biết rằng người ta cần một sự tập sự như vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Đã hiểu sự cần thiết của một con đường, còn phải lên đường. Trong một thế giới lý tưởng, có lẽ có thể ăn ở một cách tiện nghi, một điếu xì gà trong tay, một ly rượu vang trong tay kia, bao quanh bởi những cô nàng lộng lẫy hay những tình nhân nồng nhiệt, và thanh thản chờ đợi tâm thức tỉnh dậy một mình. Thực tại không phải cũng mộng mơ như vậy: người ta chẳng đến đâu cả nếu không có một cố gắng tối thiểu. Không có giấc mộng nào, không có ám ảnh hoang đường nào có thể che chở cho chúng ta khỏi những khổ đau đang chờ đợi chúng ta nếu chúng ta không học đối mặt với cái hàng ngày bằng cách bình định tâm thức chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Vậy người ta cần xét xem những phương tiện để thực hiện cuộc hành trình tâm linh. Việc đầu tiên là thuần hóa tâm thức mình để có một căn cứ vững chắc từ đó người ta có thể tiến bộ. Đó là căn bản. Thiếu một căn cứ như vậy, người ta sẽ không thể lợi dụng đầy đủ cơ hội hãn hữu cho sự phát triển mà cuộc đời làm đàn ông hay đàn bà mang lại. Điều phục tâm thức là một ưu tiên tuyệt đối: đối với chính mình, bởi vì đó là cách duy nhất để học điều hành một cách tích cực tất cả những gì cuộc đời mang lại cho chúng ta, bằng cách dùng mọi chất liệu của cuộc hiện sinh để làm sanh trưởng trong chính mình trí huệ và lòng bi. Nhưng cũng đối với những người khác, bởi vì một trong những mục tiêu chính của sự nuôi dạy tâm thức là thu hoạch lòng bi, cái cho chúng ta có thể giúp đỡ người khác, không phân biệt chúng sanh nào.</p>
<p style="text-align: justify;">Một khi căn cứ này đã được lập, người ta sẽ có thể tiến hóa một cách xây dựng nhưng tiệm tiến, vì người ta không thể đốt giai đoạn. Dù người ta có thành công trong nghề nghiệp hay trong xã hội, phải chấp nhận rằng người ta chưa thật tiến hóa trên bình diện làm chủ tâm thức – những xúc động, những tư tưởng, những tình cảm của mình. Nếu người ta cần chế ngự tâm thức mình, đó là bởi vì bao giờ người ta còn sợ mất cái người ta có – tiền bạc, đồ vật, người thân, chưa nói đến chính cuộc đời mình – thì người ta còn khổ đau. Phải bắt đầu bằng sự bắt đầu.</p>
<p style="text-align: justify;">Hãy tưởng tượng bạn tìm ra một cục kim cương nguyên sơ; nếu bạn biết mài giũa đẽo gọt, bạn có thể phát giác tất cả vẻ đẹp của nó và làm thành một đồ trang sức huy hoàng. Nhưng nếu bạn không làm chủ một cách khéo léo những kỹ thuật đẽo gọt, bạn sẽ làm hỏng hay làm vỡ nó, nó sẽ trở nên vô dụng và không giá trị. Những thực tập và những kỹ thuật thiền định được đề nghị ở đây là những công cụ cho phép làm việc với viên kim cương nguyên sơ là tâm thức; nếu người ta biết thao tác những dụng cụ đó khéo léo và cẩn trọng, người ta sẽ gọt giũa và đánh bóng nó để làm hiển lộ tất cả sự rực rỡ và thuần khiết của nó.</p>
<p style="text-align: justify;">Có lẽ không phải là một viễn cảnh đặc biệt vui thích hay đầy khích lệ khi mỗi ngày đối diện với những người bao quanh bạn và những hoàn cảnh của cuộc đời thường nhật. Người ta thích nghe nói rằng người ta chẳng phải làm gì và mọi sự sẽ tự dàn xếp, ổn định, như trong những phim của Hollywood. Người ta có thể luôn luôn mơ mộng, nhưng chuyện đó chẳng tới đâu, người ta biết thế. Một ngày nào cũng phải bắt đầu nhìn thấy những sự vật như chúng là, và phải chấp nhận chúng như vậy, nghĩa là rất tầm thường, đối với đa số người. Đời sống hàng ngày được tạo thành bằng vô số sự việc rất bình thường: mỗi ngày chưng cất một ít liều bất hạnh hay hạnh phúc nhỏ hay lớn. Đôi khi người ta cảm thấy cả hai cùng lúc: sự vật có thể vừa chua chát vừa ngọt ngào. Không phải mùi vị của những sự việc là quan trọng, mà chính sự kiện chúng xảy đến: đó là chất liệu thô sơ, nguyên phác của sự sống, cái mà người ta đối mặt.</p>
<p style="text-align: justify;">Nghịch lý thay, chỉ có những hoàn cảnh khó nhọc mới đặt vấn đề với chúng ta. Người ta có thể cảm thấy lo âu ngay cả khi mọi sự tiến hành tốt đẹp, bởi vì người ta sợ nó thay đổi. Người ta phải có thể hiểu và điều hành, xử lý mọi cái xảy đến, dù tốt hay xấu. Đôi khi người ta sẽ bắt buộc uốn mình theo những hoàn cảnh, trong khi những lúc khác có lẽ cần làm cái gì đó để cải thiện chúng. Nhưng cách nào thì chính chúng ta nắm những sự việc trong tay, không có ai làm điều đó thay chỗ chúng ta, dù đôi khi người ta nhờ được sự nâng đỡ và những khuyến khích của người khác. Rốt cuộc, người ta là người độc nhất có thể làm cái gì đó cho chính cuộc đời mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Một số người tỏ ra thành thạo trong nghệ thuật lẩn tránh những khó khăn, và mỗi người chúng ta có kỹ thuật ưa thích của mình: thay đổi công việc hay địa chỉ, có một người tình, đổi vợ, lao đến y sĩ, ăn mải miết những thẻ sô-cô-la hay để thì giờ gọi điện thoại cho bạn bè. Người ta cũng có thể tự ám ảnh hơn, dính chặt với truyền hình, dùng ma túy, ăn không biết no hay say sưa. Chẳng có cái gì hiệu quả; người ta đến mức không thể ngủ hay suy nghĩ; bỏ ăn bỏ uống và cảm thấy bất hạnh như đã bị bệnh nặng. Thậm chí người ta có thể định tự vẫn, điều cũng tiêu cực như giết người khác. Khi xem những bất hạnh nhỏ là quá trầm trọng, người ta có thể tự tạo ra những buồn phiền thực sự và trở nên càng bất lực hơn trong việc giải quyết chúng.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi tránh khéo hay trốn thoát những khó khăn, người ta tự tạo một sự xao lãng, khuây nguôi nhất thời, nhưng người ta không thể thanh toán chúng. Khi người ta bằng lòng chỉ làm điều mình thích và tránh mọi cái mình không thích, thì trái lại người ta càng có thêm những vấn đề rắc rối. Không nói đến những tổn hại tâm sinh lý mà việc đó gây ra, và sự thống trị càng lớn của những thói quen xấu người ta đã mang lấy và sau đó sẽ rất khó phá. Khi thả mình cho sự yếu đuối, người ta còn yếu đuối thêm và người ta giảm bớt những cơ may thoát khỏi những khổ đau.</p>
<p style="text-align: justify;">Cần có một sự thụt lui nào đó trong liên hệ với những sự việc của cuộc đời, và tránh những sự thái quá của khắc khổ và dễ dãi. Nếu người ta quá chặt chẽ và nghiêm trọng, người ta có khuynh hướng luôn luôn bi kịch hóa. Người ta mất đi bình dưỡng khí khôi hài. Ngược lại, nếu quá khinh suất và luôn luôn xem nhẹ, người ta sẽ sống trong một thế giới ảo tưởng. Cách nào đi nữa, người ta cũng sẽ bị cắt đứt khỏi những sự thật hàng ngày và không ý thức đến những tình cảm khởi lên trong chúng ta, như khi người ta ở dưới đế chế của một xúc tình mãnh liệt – giận dữ hay ghen tuông –, hay người ta bị ám ảnh bởi quá khứ hay tương lai. Vậy người ta không thể làm việc một cách ích lợi trên chính bản thân mình nếu người ta mất cái nhìn thấy thực tại hiện tiền của những sự vật, thế giới trong đó người ta đang sống.</p>
<p style="text-align: justify;">Cho đến bây giờ, người ta cứ lo toan tìm phương tiện để trốn tránh những vấn đề. Để hàng phục tâm thức, phải giáo dục lại và làm điều ngược lại: giáp mặt trực tiếp cái khó chịu hay nhọc nhằn với chúng ta, và làm điều đó một cách hiệu quả. Điều đó sẽ không thiếu lợi lạc với chúng ta, ít nhất vì chúng ta không phải điên đầu để sáng chế những phương tiện để tự trốn thoát mình ! Có lẽ người ta thậm chí sẽ ngạc nhiên nhận ra rằng cái làm cho chúng ta sợ đến thế, hay cái xáo trộn chúng ta đến thế, rốt cùng không quá khủng khiếp, một khi người ta quyết định nắm lấy sừng con bò tót. Ý tưởng mà chúng ta có đối với những sự vật và những con người thường tệ hơn thực tế của chúng…</p>
<p style="text-align: justify;">Một khi người ta sẵn sàng chấp nhận những sự việc y như chúng là, tất cả mọi sự được chuyển hóa, thậm chí cả những khó khăn hơn trong cuộc đời. Bên ngoài, chẳng có gì thay đổi; tuy nhiên, tất cả đều khác, vì người ta đã tự mình thay đổi thái độ. Khi người ta chấp nhận nhìn tình huống như nó là, người ta tự biết làm sao để đáp ứng với nó: chính những hoàn cảnh cung cấp cho chúng ta sự chỉ dẫn khi chúng ta không nhọc mệt làm méo mó chúng bởi những thiên kiến tiên định của chúng ta. Trái lại, khi người ta làm con đà điểu vùi đầu trong cát và không nhìn những sự việc thẳng mặt, luôn luôn trì hỗn chúng, tình huống chắc chắn chỉ tệ hơn. Người ta phải học định giá những sự việc đúng theo giá trị của chúng. Những sự việc có khó nhọc, dễ chịu hay hoàn toàn tầm thường, điều quan trọng là nhận biết mỗi tình huống thật sự là gì. Không làm méo mó và làm rắc rối nó bởi hệ thống lọc ngoắt nghéo của những phản ứng trí thức hay tình cảm của chúng ta. Ngay khi những xúc tình trộn lẫn vào, tất cả tri giác về tình huống của chúng ta lập tức méo mó. Thực tại mất dấu đằng sau sự diễn dịch về những sự kiện của chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Phải tiếc mà nhận ra rằng, sống trong nền văn minh hiện thời của chúng ta, chúng ta được trang bị quá kém để chấp nhận những sự việc như chúng là. Trong khi đó một tâm thức lành mạnh thì sống trong một thế giới lành mạnh, một tâm thức an bình thì cảm nhận thế giới an bình. Những bài thực tập ở phần hai là để làm cho tâm thức lành mạnh, đẹp đẽ, bình an và hạnh phúc thay vì một tâm thức bệnh hoạn để chịu đựng một thế giới bệnh hoạn, đìu hiu, hỗn loạn và khổ đau.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Akong Tulku Rinpoche </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt ngữ: Nguyễn An Cư</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/doi-mat/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lời Khuyên khẩn cấp</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/loi-khuyen-khan-cap/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/loi-khuyen-khan-cap/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 24 Sep 2015 18:00:20 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Kagyu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5904</guid>
		<description><![CDATA[by Lama Lodu Rinpoche Giáo lý sau đây được ban ra để trả lời một câu hỏi gồm hai phần được nêu lên trong chuyến viếng thăm của Lạt ma Lodu tại Taos, New Mexico Hỏi: Làm thế nào những người không có vị Thầy tâm linh có thể sống trong thế giới và thực hành tâm linh một cách&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/loi-khuyen-khan-cap/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>by Lama Lodu Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/f5e6940e75e5cb47e939af1eb9301b72.jpg"><img class="alignnone  wp-image-5906" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/f5e6940e75e5cb47e939af1eb9301b72-210x300.jpg" alt="f5e6940e75e5cb47e939af1eb9301b72" width="287" height="410" /></a></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Giáo lý sau đây được ban ra để trả lời một câu hỏi gồm hai phần được nêu lên trong chuyến viếng thăm của Lạt ma Lodu tại Taos, New Mexico</i></p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Hỏi: Làm thế nào những người không có vị Thầy tâm linh có thể sống trong thế giới và thực hành tâm linh một cách thiện xảo, và làm cách nào những người đã có một con đường có thể sống và làm việc trong một thế giới nơi những người khác không chia sẻ con đường đó?</i></b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Đáp:</b> Những người không có vị dẫn đạo tâm linh và được thúc đẩy bởi một khao khát mãnh liệt có thể tự mình thực hành cho tới khi tìm thấy một vị dẫn đạo tâm linh tốt lành. Những ai có ý hướng làm những điều thiện lành thì sớm hay muộn cũng sẽ gặp một vị Thầy đầy đủ phẩm tính.</p>
<p style="text-align: justify;">Với động lực để làm những điều lợi lạc và đi theo con đường tâm linh, nhờ thiện tâm và lòng bi mẫn, thân, ngữ và tâm ta có thể được sử dụng để phát triển thái độ chân chánh và các hành động đúng đắn (chánh hạnh). Ta cũng nên được thúc đẩy để phát triển ước muốn kiên định, mong ước tất cả chúng sinh đều kinh nghiệm hạnh phúc và thoát khỏi đau khổ. Kết quả là thân, ngữ và tâm ta sẽ trở thành sự hiển lộ của lòng bi mẫn. Đây là một thực hành tâm linh chuẩn bị căn bản mà ta có thể tự tu học không có sự trợ giúp của một vị dẫn đạo tâm linh.</p>
<p style="text-align: justify;">Là Phật tử, chúng ta tin rằng ta không nên làm điều gì gây tổn hại cho người khác. Vì thế bạn nên luôn luôn tự mình làm một gương mẫu. Nếu có ai nói với bạn trong một cách thế tích cực, bạn kinh nghiệm hạnh phúc; vì thế, bạn nên nói với những người khác bằng một cách thức tương tự để họ cũng có thể có kinh nghiệm (hạnh phúc) đó. Khi bạn gặp một người giao tiếp với bạn không bằng ngôn từ, với động lực hoàn toàn từ ái và năng lực tâm linh tràn đầy bi mẫn, bạn cảm thấy sảng khoái, an lạc hơn. Tới lượt bạn, bạn nên nuôi dưỡng thiện tâm và lòng bi mẫn tương tự càng nhiều càng tốt, và sau đó hãy đem thái độ của thân, ngữ và tâm đó tới tất cả những người bạn gặp.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế đây là lời khuyên của tôi cho những người không có một vị dẫn đạo tâm linh: Bạn không nhất thiết phải ngồi xuống, thiền định đúng bài bản và thực hành quán tưởng. Việc biểu lộ thiện tâm từ ái và lòng bi mẫn có thể được thực hiện ở bất kỳ nơi đâu. Bạn luôn luôn có cơ hội để ứng dụng thiện tâm và lòng bi mẫn đối với người khác và để sử dụng thân, ngữ và tâm bạn trong chánh hạnh. Thái độ này rất mạnh mẽ và là thực hành tâm linh chuẩn bị toàn hảo. Sớm hay muộn, nhờ sức mạnh của động lực tích cực của bạn, bạn sẽ gặp vị dẫn đạo tâm linh đúng đắn, và cánh cửa sẽ mở ra con đường tâm linh.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong trường hợp thứ hai, bạn đã có thực hành tâm linh, và bạn bị xao lãng bởi những mối bận tâm thế tục. Điều quan trọng là bạn phải đi theo thiện tri thức, vị Thầy và không đi đó đi đây. Hãy lưu lại với một vị dẫn đạo tâm linh, là người mà bạn thực sự cảm thấy là chân chính, và đừng cố thay đổi các vị Thầy cho tới khi bạn có được sự thấu suốt chân thật trong tâm.</p>
<p style="text-align: justify;">Thái độ Bồ Tát thì rất quan trọng; không có nó, bạn không thể thực hành Kim Cương thừa và Đại thừa. Khi tâm bạn hoàn toàn được thúc đẩy bởi thái độ thuần tịnh này thì thân, ngữ và tâm bạn hướng về sự tích cực tốt lành một cách tự nhiên. Từ viễn cảnh Đại thừa và Kim Cương thừa, cho dù bạn không thể ngồi yên trên nệm thiền trước bàn thờ bởi bạn có con cái, việc làm, và vì bạn có đủ thứ xao lãng trong thế gian, bạn vẫn có thể thực hành. Bạn phải nhận được một lời khuyên chân chính từ vị Thầy của bạn và có niềm tin nơi ngài và Giáo Pháp. Khi đó hoạt động của bạn trong thế gian sẽ hiến tặng một cơ hội tương tự để đạt được Giác ngộ như bạn có được trên nệm thiền.</p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Hỏi: Xin ngài giải thích làm cách nào thực hiện được điều đó?</i></b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Đáp:</b> Để được hướng dẫn trong những tình huống như thế, chúng ta có thể hướng về Machig Labdron, một trong những Đạo sư Tây Tạng vĩ đại, người sáng lập thực hành Chod. Bà là một yogi và vị Thầy có thành tựu cực kỳ lớn lao. Mặc dù hầu hết giáo lý đạo Phật chỉ di chuyển từ Ấn Độ sang Tây Tạng, giáo lý của bà từ Tây Tạng trở ngược về Ấn Độ. Bà có một ít lời khuyên dạy vĩ đại về chủ đề này mà với tôi chúng dường như đầy đủ, phong phú và đơn giản. Bà nhắc nhở chúng ta rằng đời người chúng ta xen lẫn hạnh phúc và đau khổ. Trong chốc lát chúng ta thật hạnh phúc, nhưng hạnh phúc không kéo dài; chúng ta bám luyến vào hạnh phúc đó và thình lình nó trở thành đau khổ thật khó thoát ra. Đôi khi ta lại có hạnh phúc ngắn ngủi, nhưng điều này tạo thêm sự dính mắc và bám luyến, và như thế ta càng thêm đau khổ. Đây là kinh nghiệm của tất cả chúng sinh, nhưng loài người cảm nhận điều đó nhậy bén hơn.</p>
<p style="text-align: justify;">Machig Labdron dạy: Đừng lo lắng. Nếu bạn đau khổ, bạn có một cơ hội tuyệt vời để thực hành. Hãy nhớ: “Nếu tôi hạnh phúc, tôi ước muốn tất cả chúng sinh không loại trừ ai được hưởng hạnh phúc mà tôi được trải nghiệm thật dễ chịu này. Cầu mong mọi người đều kinh nghiệm hạnh phúc này giống như tôi đã kinh nghiệm.” Theo cách này hạnh phúc trở thành sự tịnh hóa, thực hành thực sự, và công đức được tích tập. Kế đó: “Nếu thân hay tâm tôi đau đớn, cầu mong cùng với nỗi khổ của tôi, tôi nhận lấy nỗi khổ của tất cả chúng sinh không loại trừ ai.” Vì thế nỗi khổ của chúng ta cũng trở nên hữu ích như pháp tịnh hóa và mang lại cho ta một cảm thức sâu xa về Bồ Tát hạnh. Sự tiếp cận này rất ích lợi cho những người không có thời gian để thực hành chính thức trong một thế giới tràn đầy trách nhiệm và những xao lãng.</p>
<p style="text-align: justify;">Một người có thể thực hành an tọa và tụng đếm các thần chú trong nhiều năm, và người khác có thể thực hành khi sống trong thế gian với kỹ thuật mà tôi vừa đề cập. Người thứ hai có thể đạt được giác ngộ sớm hơn bởi họ xử sự với đời sống hàng ngày như một thực hành tâm linh, chuyển hóa mọi hoàn cảnh thế gian thành các hiện tượng tâm linh. Người ngồi ở nhà suốt ngày có thể không thực hành đúng đắn; họ có thể mộng tưởng hão huyền, bị xao lãng và không thể thành tựu sự chứng ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta luôn luôn có những cơ hội để tỉnh thức. Khi chúng ta thực hiện các trách nhiệm của ta đối với gia đình, tình thương của ta đối với những người thân vẫn mạnh mẽ bất chấp các vấn đề. Nếu ta nghĩ tưởng rằng tất cả chúng sinh cũng bình đẳng với gia đình ta thì một ngày nào đó ta sẽ có thể phụng sự tất cả những chúng sinh ấy trong một cách thế tương tự. Ví dụ như tại chỗ làm việc của bạn, do bởi nghiệp, một người bất đồng ý kiến với bạn. Nhờ nhận trách nhiệm về chuyện bất hòa, bạn nhận vào mình nỗi khổ này, tịnh hóa nó, và nguyên nhân của nỗi khổ được giải trừ. Thay vì như thế, nếu bạn cứ tiếp tục đeo đuổi cuộc tranh luận, bạn sẽ tạo thêm đau đớn và khổ sở. Vì thế điều tối quan trọng là nhận vào mình nỗi khổ của chúng sinh. Khi bạn làm điều này, tính ích kỷ của bạn sẽ suy yếu đi và bạn sẽ trở nên vô ngã hơn.</p>
<p style="text-align: justify;">Như thế những người không có thời giờ thực hành nên ghi nhớ những lời dạy của Machig Labdron và cố gắng nghĩ về ý nghĩa tròn đầy và phong phú của giáo lý ấy khi bạn hoàn thành cuộc sống hàng ngày. Dứt khoát là bạn phải tỉnh giác, bạn phải tự nhắc nhở mình từ sáng cho tới tối về những nội quán sâu xa này, và bạn phải áp dụng ý nghĩa của chúng mỗi ngày. Cũng nhớ rằng bận rộn không phải là một lý do. Điều này đặc biệt đúng trong truyền thống Đại thừa. Ngay cả trong Kim Cương thừa, bạn nghĩ tưởng bản thân bạn như Bổn Tôn của sự nhập môn, bất kỳ âm thanh nào bạn nghe cũng đều là âm thanh của các thần chú, mọi chúng sinh là tập hội các Bổn Tôn. Và tuy thế mọi sự được nhìn và nghe thấy không có sự hiện hữu bẩm sinh. Đúng hơn, đó là sự hiển lộ của Pháp Thân, sự hiển lộ của tánh Không sâu thẳm. Nếu bạn có thể áp dụng tâm bạn theo cách này mỗi ngày thì việc bạn làm, việc bạn chăm sóc gia đình – tất cả những điều này trở thành thực hành của bạn, và bạn đang tiến bộ trong từng giây phút. Nhưng đôi khi các vấn đề của ta đến từ sự lười biếng, thiếu sự tin cậy và phó thác, niềm tin yếu ớt, và chần chừ do dự. Ta nghĩ rằng thực hành hàng ngày là điều tốt lành cần làm, nhưng không phải ngày hôm nay. Thình lình, một điều quan trọng tới gần và chúng ta ước muốn dấn mình kịch liệt vào thực hành; chỉ khi đó ta mới có được một quan điểm tâm linh. Thay vào đó, ta nên luôn luôn hiến dâng tất cả hạnh phúc cho người khác và sử dụng mọi đau khổ cá nhân để nhận lấy đau khổ của tất cả chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Hãy nhớ kỹ khi giữ quan điểm Kim Cương thừa: mọi hình tướng bất khả phân với hình tướng của các Bổn Tôn, mọi âm thanh bất khả phân với thần chú; nhưng mọi hình tướng và âm thanh không có hiện hữu bẩm sinh, là một sự biểu lộ của tánh Không. Đó là cách thức thực hành Kim Cương thừa.</p>
<p style="text-align: justify;">Lạt ma Lodu Rinpoche an trụ tại Kagyu Droden Kunchab, một trung tâm Giáo Pháp để thực hành Phật Giáo Đại thừa và Kim Cương thừa, có trụ sở ở 1892 Đường Fell (gần Clayton) San Francisco, CA 94117. Lạt ma trông nom việc dịch thuật nhiều bản văn thực hành (Sadhana) và đã biên soạn vài quyển sách: Giáo lý Bardo (có thể mua được nhờ Nhà Xuất bản Snow Lion), Tinh túy của Giác tri và Vô tri, Thành tựu Giác ngộ, Trì giữ Giới nguyện Bồ Tát, và Kính lễ Kalu Rinpoche (có thể tìm được ở Nhà Xuất bản KDK).</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Nguyên tác: “Instant Advice”</i><br />
<i>by Lama Lodu Rinpoche</i><br />
<i><a href="http://www.directcon.net/thubten/instant_advice.htm">http://www.directcon.net/thubten/instant_advice.htm</a></i><br />
<i>Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên</i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/loi-khuyen-khan-cap/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Con đường dẫn đến Phật quả</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/con-duong-dan-den-phat-qua/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/con-duong-dan-den-phat-qua/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 15 Sep 2015 08:02:47 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Luận giảng]]></category>
		<category><![CDATA[Thư Viện]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Kagyu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5304</guid>
		<description><![CDATA[Đức Ringu Tulku Tác phẩm "Pháp Bảo của sự giải thoát" một luận giảng của Đức Ringu Tulku từ tác phẩm của Đức Gampopa  Ebook: Con đường dẫn đến Phật quả]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>Đức Ringu Tulku</strong></p>
<p style="text-align: center;"><img class="  wp-image-5306 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/635481201386172078_khotrithuc.com_conduongdandenphatqua_ringu-tulku-186x300.jpg" alt="635481201386172078_khotrithuc.com_conduongdandenphatqua_ringu-tulku" width="268" height="432" /></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Tác phẩm "Pháp Bảo của sự giải thoát" một luận giảng của Đức Ringu Tulku từ tác phẩm của Đức Gampopa </strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong><em>Ebook: <a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Con-đường-dẫn-đến-Phật-quả.pdf">Con đường dẫn đến Phật quả</a></em></strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/con-duong-dan-den-phat-qua/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Pháp bảo của sự Giải thoát</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/phap-bao-cua-su-giai-thoat/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/phap-bao-cua-su-giai-thoat/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 15 Sep 2015 07:49:19 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Luận giảng]]></category>
		<category><![CDATA[Thư Viện]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5296</guid>
		<description><![CDATA[Je Gampopa Pháp bảo của sự Giải thoát là tác phẩm kiệt xuất về toàn bộ lộ trình tu tập của Đạo sư lừng danh Je Gampopa, với phần lời tựa của Đạo sư Sonam Rinpoche.  Ebook: Pháp Bảo của sự giải thoát]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/a_110.jpg"><strong>Je Gampopa</strong><img class="  wp-image-5298 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/a_110-300x231.jpg" alt="a_110" width="501" height="386" /></a></p>
<p><strong>Pháp bảo của sự Giải thoát là tác phẩm kiệt xuất về toàn bộ lộ trình tu tập của Đạo sư lừng danh Je Gampopa, với phần lời tựa của Đạo sư Sonam Rinpoche. </strong></p>
<p style="text-align: center;"><em><strong>Ebook: <a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Pháp-Bảo-của-sự-giải-thoát.pdf">Pháp Bảo của sự giải thoát</a></strong></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/phap-bao-cua-su-giai-thoat/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
