<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Kinh sách Kagyu</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-kagyn/lich-su-chung-truyen-thua-kagyu/kinh-sach-kagyu/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Fri, 17 Apr 2026 16:09:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Khai thị của Đức Akong Tulku Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/khai-thi-cua-duc-akong-tulku-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/khai-thi-cua-duc-akong-tulku-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 18 Oct 2015 13:23:32 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Luận giảng]]></category>
		<category><![CDATA[Thư Viện]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Kagyu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6249</guid>
		<description><![CDATA[Chủ Đề: Cái gương  Sanh tử luân hồi là khuynh hướng tìm thấy những lỗi lầm nơi người khác. Naropa Người ta lầm địa chỉ khi tìm hạnh phúc bên ngoài mình, người ta đã thấy điều đó. Người ta có đi du lịch đến đầu kia của thế giới và nhân lên nhiều lần những kinh nghiệm cho đến vô&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/khai-thi-cua-duc-akong-tulku-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>Chủ Đề: Cái gương </strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong><em>Sanh tử luân hồi là khuynh hướng tìm thấy </em><em>những lỗi lầm nơi người khác.</em></strong><br />
<strong><em>Naropa</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Người ta lầm địa chỉ khi tìm hạnh phúc bên ngoài mình, người ta đã thấy điều đó. Người ta có đi du lịch đến đầu kia của thế giới và nhân lên nhiều lần những kinh nghiệm cho đến vô tận cũng vô ích, người ta vẫn sẽ luôn luôn thấy những sự vật qua cùng một đôi mắt, vì người ta tri giác thế giới theo cái mà người ta nghĩ và cảm nhận. Mỗi người có cách diễn dịch riêng của nó về thế giới trong đó nó đang sống.</p>
<p style="text-align: justify;">Mọi cố gắng sửa đổi thế giới cho phù hợp với những tham muốn và hy vọng của chúng ta đều đưa đến thất bại. Nếu trời mưa, người ta không thể làm gì và không phải vì người ta muốn thấy mặt trời mà trời nắng. Tuy nhiên, có một điều mà người ta có quyền thay đổi : sự khó chịu mà cơn mưa gây ra cho chúng ta. Điều này không muốn nói rằng người ta phải tự tạo mọi mảnh của một nhân cách mới khác – con người mà người ta có là đã quá đủ. Một cách thực tiễn, điều này nghĩa là người ta cần một tấm gương để giúp người ta thấy đích xác người ta ở đâu, và phát giác cho người ta thấy những khía cạnh của nhân cách mình mà trên đó người ta cần làm việc.</p>
<p style="text-align: justify;">Con người có một khuynh hướng rõ ràng là sưu tầm những cái mặt nạ ; mỗi người thực sự có một mặt nạ cho mỗi hoàn cảnh. Nếu người ta không biết người ta có cái đầu gì, thì thực ra bởi vì người ta không bao giờ thực sự quan sát nó một cách chăm chú. Chắc hẳn người ta thiếu sự thụt lui để thấy nó rõ ràng. Rồi người ta nhìn cái đầu của những người khác, và khi thấy một cái đầu đẹp, người ta mong cái đầu mình giống được như nó.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy nhiên, có đôi khi mặt nạ rơi tuột đi, hay người ta đã quên mang nó, và trong khoảnh khắc ngắn ngủi, người ta lập tức tự thấy mình nguyên dạng. Nói chung, sự chấn động khiến người ta không chịu đựng nổi. Người ta vội vã che dấu điều người ta đã thấy và làm lại rất mau một mặt nạ mới. Người ta có thói quen luôn luôn muốn sửa chữa lại thực tại để làm lại nó theo ý thích đến độ người ta không đảm đương cái thực sự người ta là. Trong thời gian đó, khuôn mặt thật của chúng ta đang hư thối dưới những mặt nạ, thiếu ánh sáng và không khí, và cũng bởi vì người ta không bao giờ nghĩ đến việc lau rửa nó.</p>
<p style="text-align: justify;">Người ta có thể đến chỗ cho những người khác một hình ảnh đẹp về mình, trong khi cái người ta dấu sau những mặt nạ cần một sự giảm xuống nghiêm túc. Vậy là người ta chông chênh khi cho hình tướng bên ngoài đặc quyền so với thực tại, bởi vì chính cái người ta thực sự có nơi mình mới quyết định phẩm chất những kinh nghiệm và dòng sống của chúng ta. Khi nào người ta còn che dấu sự thối nát dưới một sự điểm trang hấp dẫn, người ta chẳng có ích lợi gì nhiều cho chính mình hay cho những người khác, dù người ta duy trì thành công một sự giả bộ toàn vẹn.</p>
<p style="text-align: justify;">Chính là sau cái mặt nạ mà người ta phải đuổi cái ta ra khỏi sào huyệt để học nhận biết nó. Tất cả chúng ta đều có nhãn hiệu một “cái tôi”, tuy nhiên thật hiếm người biết họ thực sự là gì. Chỉ cần người ta cho một cái gì nhỏ nhặt, dư thừa – như một đồ chơi trẻ con vặt vãnh hay một mẩu bánh mì – để tự xưng là một lương tâm tốt hay tự cho là một nhà từ thiện vĩ đại, và người ta không thể quên cử chỉ đó. Bấy giờ người ta biểu lộ chứng quên lẫn sâu xa đối với những cơn ích kỷ hay với những trận giận dữ. Và như vậy người ta tự xây dựng một hình ảnh sai lầm về mình để tự củng cố, tự an tâm. Tất cả ý tưởng người ta tự tạo về mình đặt nền trên một sự lừa đảo còn khó phá hơn khi chính người ta là tác giả. Bởi thế tại sao người ta cần một tấm gương soi.</p>
<p style="text-align: justify;">Đây là lời nói về vấn đề này của một trong những vị thầy tâm linh vĩ đại của Tây Tạng, Jamgon Lodro Thaye : “Khi tôi nhìn một số người thực hành Phật giáo, họ hoàn toàn có vẻ tốt đẹp, nhìn theo bên ngoài : họ nói hay, ăn mặc đúng, họ biết ngồi như một vị Phật. Nhưng khi tôi quan sát khuôn mặt bên trong của họ, họ có vẻ của những con rắn độc. Chỉ cần họ chạm phải chút khó khăn hay chút chướng ngại nhỏ nhặt thì tính khí đích thực của họ lộ ra ngay. Như con rắn có vẻ trơn láng và mềm mại trong khi luôn luôn sẵn sàng mổ, những người đó sẵn sàng gây gổ đổ lỗi cho bất kỳ ai làm chướng ngại họ.”</p>
<p style="text-align: justify;">Không phải tự thân con rắn là xấu, nhưng sự sợ hãi, thù hận và vô minh đã quy định nó phải giết mỗi khi nó cảm thấy bị đe dọa. Chúng ta cũng hơi giống như vậy : cái xấu người ta có thể thấy nơi mình là sản phẩm của vô minh – sự nhận biết sai lầm về bản tánh thật sự của những sự vật. Vậy thì người ta có thể, và người ta phải, chuyển hóa vô minh này thành trí huệ, bằng cách nhìn vào trong, xoay tâm thức về trên chính nó. Điều này sẽ tự động tác động lên những tương quan lành mạnh hơn, phong phú hơn với thế giới bao quanh chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Điều trên có nghĩa quan trọng là tỏ ra điều độ và lương tri đối với cái mà người ta sắp khám trong gương. Để cho những lỗi lầm, khuyết điểm được che dấu thì chẳng lợi ích gì, cũng không hiệu quả và có hại khi chỉ thấy những mặt tốt của mình. Nếu người ta quá đặt nặng những thói xấu, những lệch lạc của mình, người ta sẽ chìm trong thất vọng và chán nản tất cả. Người ta phải có thể tự xem mình trong cái gương một cách khách quan, không kết án điều mình thấy trong đó, và không muốn đập bể gương thành muôn mảnh. Ngược lại, vô ích khi không biết đến những khuyết điểm hay đè nén chúng, điều chỉ làm chúng mạnh thêm khi luôn luôn đặt mình dưới sức ép, sẵn sàng bùng nổ trước một cơ hội nhỏ.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/p1533780796-3.jpg"><img class="  wp-image-6251 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/p1533780796-3-207x300.jpg" alt="p1533780796-3" width="329" height="477" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Vũ khí nguyên tử là một chuyện làm cho nhiều người trong chúng ta tức giận, tuy nhiên người ta không biết rằng tâm thức chúng ta thường trực là chỗ ở của một loại phản ứng nguyên tử. Mỗi ngày, cái “ta” sản xuất ra hàng triệu tấn kiêu ngạo, ghen ghét, giận dữ, tham muốn và thù hận, chúng gieo rắc kinh hoàng và căng thẳng ở mọi phương vị và gây nên những tổn hại khủng khiếp nơi ta và nơi những người khác. Rõ ràng không phải chôn vùi những vũ khí nguyên tử xuống đất hay tự bằng lòng với ước mong chúng biến mất mà người ta làm cho chúng thành vô hại. Nếu người ta muốn hóa giải những sức mạnh tàn phá chứa trong mình, phải tỏ ra khôn khéo và thiện xảo để tháo gỡ và triệt hạ chúng. Người ta phải kêu gọi hiểu biết và tình thương, cộng với khá kiên nhẫn và không bám luyến. Không quên một chút thư giãn và khôi hài…</p>
<p style="text-align: justify;">Điều người ta sắp khám phá khi nhìn “tấm gương” sẽ rất ích lợi cho chúng ta để thành tựu con đường tâm linh, nhưng quan trọng nhất là cái trí huệ rất mới mẻ này không nằm trong chữ nghĩa chết khô. Phải đem nó vào kinh nghiệm của mình và nuôi dưỡng thường trực nó trong cuộc sống hàng ngày. Nếu người ta không áp dụng vào cuộc sống trí huệ và lòng bi vừa thức giấc trong mình, người ta sẽ chỉ có thêm một mặt nạ khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Một kỹ thuật chỉ có giá trị nếu người ta có thể áp dụng nó vào một tình huống thực tiễn. Dù bạn có một hiểu biết lý thuyết hoàn hảo về cơ khí, bạn cũng sẽ không thể sửa chiếc xe của bạn nổ máy trở lại trước khi chính bạn bước vào thực hành bằng cách thọc tay vào dầu mỡ. Những kỹ thuật làm chủ tâm thức chẳng giúp gì bạn nếu chúng vẫn còn nguyên là những lý thuyết trừu tượng ; chúng chỉ có giá trị nếu chúng hiện thân trong thực tế hàng ngày và nuôi dưỡng thực tế đó. Chẳng hạn có ăn nhập gì khi trải qua một giờ thiền định về sự ghen tuông để cố thoát khỏi nó, rồi tức thì sau thời thiền, người ta lại nổ bùng một cơn ghen tuông với vợ hay chồng chỉ vì một cái cớ nhỏ nhặt.</p>
<p style="text-align: justify;">Người ta có thể trải qua một đời thu thập sưu tầm những giáo huấn đủ mọi loại với những thiện ý tốt đẹp nhất cho thế giới : chúng chẳng giúp gì nhiều khi người ta không áp dụng chúng vào hoàn cảnh cụ thể. Sự giáo dục và khả năng trí thức của chúng ta có thể có một ích lợi nào đó để chúng ta hiểu cái gì xảy đến với chúng ta trong đời sống hàng ngày và giúp chúng ta quản lý nó. Nhưng vô cùng quan trọng hơn là có một tâm thức mở rộng, sẵn sàng chấp nhận cái gì tự xuất hiện và đối mặt với nó. Tiến bộ tâm linh không phải là một vấn đề trình độ trí thức hay và văn hóa : ở Tây Tạng không thiếu những người rất đơn giản, họ không biết đọc không biết viết, đã đạt đến một trạng thái thức tỉnh hoàn toàn của tâm thức.</p>
<p style="text-align: justify;">Mỗi người đều mang nơi bản thân mình tiềm năng của sự thức tỉnh tâm linh. Nếu người ta thêm vào đó sự phong phú lớn lao những kinh nghiệm mà chúng ta đều có, người ta có tất cả nguyên liệu cần thiết cho sự phát triển tâm linh, miễn là người ta khai thác nó. Bởi vì người ta không dùng nó, thì cũng như nó không có gì cả ở nơi người ta. Một người giàu có không biết cách dùng tiền sẽ có nhiều vấn đề khó khăn hơn một người đạm bạc biết rút phần tốt nhất có thể từ mỗi đồng xu. Một ví dụ khác : hãy tưởng tượng rằng bạn muốn nổ máy chiếc xe hơi của bạn. Nó không nhạy : bình ắc quy hết điện. Bạn có hàng trăm bình ắc quy để thay đổi trong ga-ra, nhưng bạn cũng quên sạc chúng. Tất cả tiềm năng năng lượng mà bạn có là vô ích, vì không được dùng, và bạn chẳng thể chạy đi. Từ đó là sự quan trọng phải nghiêm mật và lợi dụng cái người ta đã vốn có.</p>
<p style="text-align: justify;">Trở lại tấm gương của chúng ta, không chỉ đơn giản ngắm hình ảnh mình trong đó, mà còn phải chuyển sang hành động. Không phải chỉ nhận ra mình đang ghen tuông, giận dữ, rồi thôi. Phải thể hiện sự kiên trì và sáng suốt để học nhận diện, rồi hóa giải, trung hòa những chất độc bên trong của mình và những trạng thái tâm lý phát sanh từ chúng, những trạng thái tâm lý đã tạo cho chúng ta một thế giới quá đỗi khó khăn để sống. Nếu chúng ta không thể kiểm soát thế giới bên ngoài, ít ra tất cả chúng ta đều có thể đánh bại những kẻ xúi giục ra những rối rắm khổ nạn này là giận dữ, kiêu căng, tham muốn, thù hận và ghen tỵ. Càng tiến theo chiều hướng này, người ta càng cảm thấy biến mất cái cảm tưởng xung đột thường trực với những sự vật và những con người mà người ta đã có trước kia, và những vấn đề và những khổ đau của chúng ta càng giảm đi bấy nhiêu. Khi người ta chấm dứt tự đánh lộn với chính mình, người ta không còn chiến đấu với phần còn lại của thế giới. Nếu người ta biết tự chấp nhận mình như mình đang là, người ta có thể chấp nhận phần còn lại của thế giới và những người đang chia xẻ thế giới với chúng ta. Không còn nữa sự hao tán thất thoát năng lượng trong những xung đột bên trong hay bên ngoài ; mọi điều người ta làm, ở mọi cấp độ, đều hòa nhập vào hành trình tâm linh, và đem lại lợi lạc cho những người khác đồng thời cho chính mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước khi đến đó, tốt hơn là tránh rơi vào một quá độ của sự tự soi xét mình bằng cách tự phân cực mình thái quá trên chính mình và trên những vấn đề cá nhân. Để giữ sự chừng mực, cần không mất quan điểm vị tha của động lực ban đầu : nhớ rằng người ta tiến hành công việc này trên chính mình là để tìm ra khá đủ những nguồn lực nơi mình để có thể giúp đỡ những người khác. Một thái độ như thế sẽ cho chúng ta một điểm quy chiếu khách quan và tránh cho chúng ta khỏi quá tự trầm ngâm về chính mình. Người ta sẽ mang lại một cái nhìn tỏ rõ hơn về những sự vật khi thấy chúng như chính chúng là, và người ta sẽ tri giác tốt hơn cái gì không ổn trong đời họ. Người ta sẽ học thay đổi cái có thể thay đổi và chấp nhận cái không thể tránh.</p>
<p style="text-align: justify;">Không dễ chịu lắm khi sống trước mặt một tấm gương, nhưng trò chơi xứng đáng bỏ công để giúp chúng ta hiểu những khó khăn của chúng ta và giúp giải quyết chúng. Bình thường, người ta có khuynh hướng phê phán những người khác và muốn thay đổi họ nhiều hơn. Thế nên người ta có thể hơi hoảng sợ khi lần đầu tiên nhìn thấy những quan hệ của mình và thế giới bằng cách mới mẻ này : thay vì chờ đợi những sự việc thay đổi từ bên ngoài, người ta nắm chính mình trong tay. Ban đầu, chắc chắn người ta hơi sợ vì cái không biết, cái xa lạ, điều đó rất bình thường, nhưng việc đó cũng không phải khó khăn như nó có vẻ thế : chỉ cần chấp nhận tìm hiểu chính mình, làm bạn với chính mình, như một người nuôi thú giỏi trước tiên phải có được sự tin cậy của con cọp trước khi có thể dạy dỗ nó. Một khi người ta biết thiết lập những quan hệ thật sự với chính mình, người ta có lẽ sẽ thấy rằng người ta có không nhiều những vấn đề hơn người ta tưởng, và những vấn đề thực sự còn lại có thể tự giải quyết khá dễ dàng.</p>
<p style="text-align: justify;">Điều đó mở ra những viễn tưởng đáng để khổ công đầu tư vào công việc làm trên chính mình này. Khi học điều phục tâm thức mình, người ta có khả năng giải quyết những vấn đề riêng tư. Có một cái gì thay thế cho sự khó nhọc này không ? Có chứ, nếu người ta thích ở lại hơn mãi mãi trong tình trạng xung đột chiến đấu thường trực với thế giới, bằng cách cứ tiếp tục đổ những cái gì không thông suốt lên lưng những người khác hay những hoàn cảnh. Nếu quả thật người ta chọn biện pháp này, phải tiên liệu sự nhiễm độc với hàng triệu cá nhân khác… Thật là một chương trình vĩ đại ! Thế thì dạy dỗ thuần hóa tâm thức của chính mình sẽ trở thành một cách giải quyết duy nhất đơn giản mà hấp dẫn vô song…</p>
<p style="text-align: justify;"><b><b><b> Việt ngữ: Nguyễn An Cư</b></b></b></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/khai-thi-cua-duc-akong-tulku-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Milarepa Và Đức Đạt Lai Lạt Ma Của Một Ẩn Sĩ</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/milarepa-va-duc-dat-lai-lat-ma-cua-mot-an-si/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/milarepa-va-duc-dat-lai-lat-ma-cua-mot-an-si/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 15 Oct 2015 18:54:05 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức mới]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Kagyu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6200</guid>
		<description><![CDATA[Để tạ ơn Tất cả chúng sinh là cha mẹ của tôi, Tôi thực hành tâm linh ở nơi này. Nơi chốn này như một hang ổ của những dã thú hung dữ; Trước cảnh tượng này, những người khác sẽ bị kích động đến độ phẫn nộ. Thực phẩm của tôi thì giống như thức ăn của những con&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/tin-tuc/milarepa-va-duc-dat-lai-lat-ma-cua-mot-an-si/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;">Để tạ ơn<br />
Tất cả chúng sinh<br />
là cha mẹ của tôi,<br />
Tôi thực hành tâm linh<br />
ở nơi này.<br />
Nơi chốn này như một hang ổ<br />
của những dã thú hung dữ;<br />
Trước cảnh tượng này,<br />
những người khác sẽ bị kích động<br />
đến độ phẫn nộ.<br />
Thực phẩm của tôi thì giống như thức ăn<br />
của những con heo và chó;<br />
Trước cảnh tượng này,<br />
những người khác sẽ phải<br />
xúc động đến độ nôn mửa.<br />
Thân thể tôi như một bộ xương;<br />
Trước cảnh tượng này một kẻ thù hung dữ<br />
sẽ phải khóc than.<br />
Cách cư xử của tôi dường như<br />
cách cư xử của một kẻ điên,<br />
Và em gái tôi đỏ mặt<br />
vì xấu hổ.<br />
Nhưng sự tỉnh giác của tôi<br />
thực sự là vị Phật;<br />
Trước cảnh tượng này<br />
Đấng Chiến Thắng hoan hỉ.<br />
Mặc dù những khúc xương của tôi<br />
chọc thủng thịt da<br />
trên sàn đá lạnh lẽo này,<br />
tôi đã rất kiên trì.<br />
Thân tôi, cả trong lẫn ngoài,<br />
đã trở thành như rau tầm ma,<br />
nó sẽ chẳng bao giờ mất đi<br />
vẻ xanh xao nhợt nhạt của nó.<br />
Trong hang động cô tịch<br />
nơi hoang dã,<br />
Ẩn sĩ rất quen thuộc<br />
với cảnh cô đơn.<br />
Nhưng trái tim chung thủy của tôi<br />
chẳng bao giờ ngăn cách<br />
Với Đức Phật-Lạt Ma<br />
của Ba Thời.</p>
<p>Trích từ “The Life of Milrepa”<br />
Translated by Lobsang P. Lhalungpa.</p>
<p style="text-align: left;"> Có lần có người hỏi Đức Đạt Lai Lạt Ma:</p>
<p>“Thưa Ngài, đâu là phương cách nhanh chóng nhất, dễ dàng nhất để chứng ngộ sự vô ngã?”</p>
<p>Đức Đạt Lai Lạt Ma đã trả lời với cảm xúc hết sức mạnh mẽ:</p>
<p>“Mặc dù tôi không thể khẳng định là đã đạt được một vài chứng ngộ cao cấp, nhưng ngay cả sự chứng ngộ nhỏ bé mà tôi có được về sự thấu suốt tánh vô ngã cũng là kết quả của một sự nỗ lực trong hơn 30 năm.”</p>
<p>Và sau đó Ngài cúi đầu và khóc.</p>
<p>“Khi Milarepa ban những giáo huấn cuối cùng cho một trong những đệ tử xuất sắc nhất của ngài là Gampopa, ngài đã chỉ cho ông ta những vết chai cứng trên mông đít ngài, kết quả của việc tọa thiền liên tục.”</p>
<p>‘Hãy nhìn đây!’ Milarepa nói với Gampopa. ‘Đây là những gì ta đã phải nhẫn chịu. Đây là dấu vết của sự thực hành của ta và đây là cách mà con phải nhớ rằng việc chứng ngộ Pháp đòi hỏi sự nỗ lực và hứa nguyện nhất tâm.’</p>
<p>Đức Đạt Lai Lạt Ma nhấn mạnh:</p>
<p>“Vì thế đừng nghĩ tới phương cách dễ dàng nhất, xuất sắc nhất hay tầm thường nhất! Hãy suy nghĩ nhiều hơn nữa, nỗ lực nhiều hơn nữa trong nhiều kiếp – đó là điều quan trọng! Mặc dù tôi hoàn toàn quả quyết rằng tôi không thể đạt được mức độ chứng ngộ – thậm chí bằng một phần trăm hay một phần ngàn của những gì Milarepa đã thành tựu – một điều không còn phải nghi ngờ gì nữa. Tôi sẽ dứt khoát thi đua với gương mẫu của Milarepa và nỗ lực đi theo dấu chân ngài!”</p>
<p>Trích trong tạp chí Mandala tháng 3 năm 2001<br />
Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/milarepa-va-duc-dat-lai-lat-ma-cua-mot-an-si/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Suy Niệm Về Vô Thường</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/suy-niem-ve-vo-thuong/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/suy-niem-ve-vo-thuong/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 14 Oct 2015 18:27:10 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Tâm xả ly Luân hồi]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Vô thường và cái Chết]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6183</guid>
		<description><![CDATA[By Shangpa Rinpoche Ta nên suy niệm về những gì sẽ xảy ra trong cái chết. Đôi khi ta hỏi người nào đó: “Anh có sợ chết không?” và nhiều người sẽ nói là không. Nếu người ấy là một đại hành giả thì câu trả lời này có thể là chân thật. Lòng kính ngưỡng Đạo sư là điều&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/suy-niem-ve-vo-thuong/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>By Shangpa Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ta nên suy niệm về những gì sẽ xảy ra trong cái chết. Đôi khi ta hỏi người nào đó: “Anh có sợ chết không?” và nhiều người sẽ nói là không. Nếu người ấy là một đại hành giả thì câu trả lời này có thể là chân thật.</b></p>
<p style="text-align: justify;">Lòng kính ngưỡng Đạo sư là điều tối quan trọng cho việc thực hành của chúng ta bởi nó chiến thắng sự kiêu ngạo và bản ngã của ta, là những điều ta luôn luôn có. Sự từ bỏ (xả ly) là điều quan trọng thứ hai. Ta cần có cả hai điều này để có thể đi theo tiến trình đúng đắn dẫn đến giác ngộ. Nhiều Đạo sư đã nói rằng các thực hành chuẩn bị có thể còn sâu xa hơn thực hành Giáo Pháp thực sự. Nếu ta không phát triển thái độ từ bỏ đúng đắn nhờ suy niệm về những pháp chuẩn bị, việc thực hành (tu tập) của ta sẽ không có kết quả. Cho dù ta biết rằng thân người rất khó đạt được và nó vô cùng quý báu và hữu ích đối với ta, ta không thể tránh được sự thật là nó vô thường. Có sinh là có tử, nhưng không ai biết được khi nào cái chết đến. Shantideva đã nói: “Không ai biết được ngày mai hay cái Chết, cái nào đến trước. Ngày mai có thể không đến, nhưng cái chết chắc chắn sẽ đến.” Vì thế ta không nên nỗ lực cho ngày mai mà hãy thực hiện sự chuẩn bị đúng đắn cho cái chết. Để làm điều này ta cần phải suy niệm về cách tránh khỏi đau khổ trong cái chết, là điều rất thực và không thể thoát khỏi. Mặc dù ta cảm thấy buồn bã hay không thoải mái khi nghĩ về cái chết, ta cần đối mặt với sự thật này là một ngày kia tất cả chúng ta sẽ chết và hãy cố gắng chiến thắng những khổ đau mà cái chết mang lại. Ta cần tích cực suy niệm và tự chuẩn bị cho cái chết. Các Đạo sư Kadampa đã đưa ra năm câu ngắn về việc suy niệm về lẽ vô thường. Trước tiên, ta phải suy niệm rằng mọi sự sẽ không tồn tại như nó là mà sẽ biến đổi trong từng giây phút. Không chỉ bản thân ta mà ngay cả các hiện tượng lớn của thế giới cũng vô thường. A tỳ đạt ma (Luận Tạng) nói rằng sự hình thành của vũ trụ mất hàng triệu triệu năm và hầu như vũ trụ có thể được duy trì trong khoảng thời gian tương tự. Kế đó là sự hủy diệt của vũ trụ, cho đến cõi sắc (sắc giới) sẽ chắc chắn xuất hiện mặc dù phải mất một thời gian dài để hoàn toàn bị hủy diệt. Ta cũng nên quán chiếu về việc thời gian trôi qua. Năm ngoái đã là quá khứ và năm nay, ngày lại ngày, tuần nọ nối tiếp tuần kia, năm tháng trôi qua, mọi sự dời đổi và tiến tới. Mọi chúng sinh trong thế giới, ngay cả những Đạo sư vĩ đại cũng đều vô thường. Ta phải nhìn chính mình và xem mình đã thay đổi ra sao, từ một đứa trẻ thành một thiếu niên rồi trở thành một người trưởng thành. Ta không biết ta sẽ còn sống bao lâu, nhưng ta đang tiến đến cái chết trong từng giây phút. Ta nên suy niệm và tự hỏi: “Từ lúc này trở đi ta nên làm gì?”</p>
<p style="text-align: justify;">Kế đó, ta phải suy niệm về việc những người khác phải chết. Dù già hay trẻ, giàu hay nghèo, khỏe mạnh hay đau yếu, nhiều người mà ta biết đã chết. Qua tin tức hay những người ta biết, ta cũng nghe nói về vô số người nữa đã chết. Cho dù ta không nói về cái chết, ta đã nhìn thấy nhiều dời đổi trong các số phận, những người có địa vị cao và quan trọng đã mất đi ân phước, người có địa vị thấp đã tiến lên những vị trí quan trọng, người nghèo trở thành triệu phú, người giàu trở thành nghèo. Mọi sự đang thường xuyên thay đổi và không mãi mãi như cũ. Ta nên nhận ra rằng ta vẫn còn một ít thời gian trước khi chết và nên tận dụng nó tối đa bằng cách thực hành Pháp thật tinh tấn. Đây là kết quả của sự suy niệm của chúng ta về điều thứ hai.</p>
<p style="text-align: justify;">Thứ ba, ta phải suy niệm về những nguyên nhân của cái chết. Có rất ít nguyên nhân để sống nhưng có nhiều nguyên nhân cho cái chết. Các thảm họa tự nhiên chẳng hạn như trượt đất, lụt lội, động đất, sóng thần có thể gây nên cái chết. Mặc dù không thường xảy ra ở Singapore, Nepal, nhiều người đã chết vì bị sét đánh. Con người đã tạo nên những thảm họa như các cuộc chiến tranh cũng có thể gây nên cái chết. Từ tin tức, ta nghe nói về nhiều việc rắc rối như thế và thậm chí tận mắt chứng kiến một vài sự việc đó. Ta không biết được mình sẽ chết theo cách nào hay khi nào cái chết xảy ra.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy nhiên sự kiện ta sẽ chết là điều chắc chắn. Một vài Kinh Bồ Tát đề cập rằng người ta cũng có thể chết vì bị ngộ độc thực phẩm, vì bội thực, ăn không tiêu, không đi cầu được, vì không tuân theo lời chỉ dẫn của các bác sĩ và y tá hay vì bị những thế lực xấu tấn công. Không cẩn trọng, ta thực hiện những hoạt động gian khổ hay làm những việc thái quá và làm tổn hại thân thể mình. Bởi có nhiều nguyên nhân của cái chết, ta phải tuân theo luật nhân quả và cẩn thận chăm sóc thân người quý báu của ta, nhờ đó duy trì cuộc đời mình càng lâu càng tốt. Với thời gian có được từ việc sống trong điều kiện sức khỏe tốt lành, ta nên thực hành một cách tinh tấn.</p>
<p style="text-align: justify;">Milarepa là một Đạo sư trong dòng truyền thừa của chúng ta và cũng là hành giả vĩ đại nhất của Tây Tạng. Sau khi ngài đã trải qua những khó khăn và rất nhiều đau khổ trước khi nhận được tất cả giáo lý của Đạo sư Marpa, ngài được phép trở về quê nhà. Marpa nói rằng khi trở về quê hương, Milarepa sẽ nhìn thấy một khuôn mẫu đích thực của sự vô thường và điều này sẽ lợi lạc cho ngài. Khi Milarepa trở về nhà, ngài nhìn thấy ngôi nhà của ngài đã sụp đổ và bộ xương của mẹ ngài nằm phơi trên mặt đất, những sợi giây buộc Kinh sách Pháp bị chuột gặm nát và cỏ mọc xuyên qua những pho sách. Ngài ở trọn đêm trong ngôi nhà và ở đó, ngài nhận thức sâu xa về lẽ vô thường và hiểu rằng thật là khủng khiếp nếu ngài không hoàn toàn tận dụng được thời gian cho việc thực hành. Vào lúc đó ngài lập đại nguyện là phải đạt được giải thoát và thực hành Giáo pháp bằng cách thiền định trong các hang động. Hiểu biết về vô thường thì không khó, nhưng để hoàn toàn xác tín và được thôi thúc bằng sự suy niệm về lẽ vô thường thì vô cùng khó khăn. Nếu chúng ta không xác tín, ta sẽ tiếp tục sống một cuộc đời tầm thường và không hết sức tinh tấn trong việc thực hành. Nếu ta xác tín, ta sẽ thực hiện nỗ lực lớn lao nhất để đạt được giác ngộ. Vì thế, thật là lợi lạc nếu ta sử dụng một ít thời gian mỗi ngày để suy niệm về lẽ vô thường và xác tín về tầm quan trọng của việc thực hành và nhờ đó tiến triển nhanh chóng để đạt được giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;" align="left">Milarepa nhặt xương của mẹ ngài và lập đại nguyện đạt được giác ngộ</p>
<p style="text-align: justify;">Thứ tư, ta nên suy niệm về những gì sẽ xảy ra trong cái chết. Đôi khi ta hỏi người nào đó: “Anh có sợ chết không?” và nhiều người sẽ nói là không. Nếu người ấy là một đại hành giả thì câu trả lời này có thể là chân thật. Đối với họ, cái chết là sự giải thoát. Đối với những người bình thường, có thể là họ không suy nghĩ sâu xa và do bởi bản ngã, họ chỉ trả lời một cách hờ hững, để phô trương rằng họ không phải là người nhát gan. Ai là người thực sự muốn chết? Mọi người đều thực sự muốn sống càng lâu càng tốt. Chết là điều vô cùng khủng khiếp và kinh hoàng nhưng là điều cuối cùng rồi sẽ phải xảy ra. Trong khi chết, thân thể vật lý và tâm thức tách lìa nhau. Chỉ có những hoàn cảnh bi thảm hay tổn thương to lớn mới dẫn đến điều này. Đặc biệt là đối với những người đã tích tập ác nghiệp, do sự biểu lộ của ác nghiệp, tâm thức của họ bị mê mờ và họ nhìn thấy các chúng sinh địa ngục và họ trở nên vô cùng bối rối.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Rinpoche ở Nepal, ngài nghe nói rằng một người hàng thịt - sống bằng nghề giết trâu – bị lâm bệnh. Khi người hàng thịt sắp chết, ông ta vô cùng sợ hãi khi nhìn thấy những con trâu có những chiếc sừng sắc nhọn lao vào tấn công mình và ông cầu xin những người xung quanh cứu giúp kẻo ông bị những con trâu giết chết. Các biểu lộ của nghiệp đã bắt đầu thậm chí trước khi cái chết xảy ra. Đối với các đại hành giả thì cũng thế, vào lúc chết, họ sẽ nhìn thấy chư Phật và Dakini đón chào họ và tâm thức sẽ an trụ trong sự an bình vĩ đại. Một Lạt ma già ở Nepal vừa mất mới đây. Trước khi mất, ngài nói với những người đứng quanh ngài rằng ngài nhìn thấy Đức Quán Thế Âm Đỏ (Hồng Quan Âm) và Karmapa đến đón chào ngài. Ngài là người duy nhất ở đó có thể nhìn thấy điều này. Vì thế đây là khác biệt to lớn vào lúc chết giữa những người từng tích tập nhiều ác nghiệp và những người tích tập các công đức vĩ đại.</p>
<p style="text-align: justify;">Giây phút thực sự của cái chết thì vô cùng quan trọng. Cho dù một người đã từng tích tập nhiều công đức trong đời, vào lúc chết, nếu họ bị mê mờ bởi sự sinh khởi của sân hận hay những cảm xúc tiêu cực khác, điều này sẽ ảnh hưởng đến tái sinh kế tiếp của họ và họ có thể bị sinh trong các cõi thấp. Nếu một hành giả có thể nhập tâm các giáo lý và đã thực hành thật tốt đẹp thì vào lúc chết, họ có thể duy trì được sự an bình và thanh thản trong tâm thức và điều này sẽ là cánh cửa dẫn đến giải thoát. Vì thế ta nên suy niệm về sự khác biệt giữa những hành giả xuất sắc và hành giả tầm thường và nỗ lực để có được một kinh nghiệm tốt lành trong cái chết bằng cách thực hành tinh tấn ngay lúc này.</p>
<p style="text-align: justify;">Thứ năm, ta nên suy niệm về những gì xảy ra sau cái chết. Như ta biết, sau khi chết, ngay cả một Đại Đế cũng không thể mang theo mình một mảnh y phục duy nhất hay thậm chí những người phục vụ tầm thường nhất. Ông ta phải bỏ lại mọi của cải của mình. Thân thể ông trở thành một xác chết với chỉ một mảnh y phục để khâm liệm tử thi. Sẽ chẳng ai nghĩ rằng xác chết là huy hoàng hay kỳ diệu. Sau ít ngày, tử thi sẽ thối rữa và nặng mùi, chẳng ai ước ao nó. Tâm thức tách lìa khỏi thân xác. Tâm thức không làm chủ được nó, nó bị các nghiệp lực sai sử. Nó giống như một chiếc lông chim nhỏ trong không trung bị xô đẩy bởi bất kỳ cơn gió mạnh nào. Cũng giống như thế, tâm thức kinh nghiệm giai đoạn bardo. Ta không biết được đích đến cuối cùng của mình. Không có bất kỳ sự hướng dẫn nào. Tâm thức lang thang, tìm kiếm sự cứu giúp nhưng không tìm được. Các nghiệp lực tích cực và tiêu cực sẽ điều khiển chúng ta. Mọi tội lỗi ta từng tích tập mà không thể giải trừ được đã để lại những dấu vết sâu xa trong ý thức của ta. Nếu ta không từng tích tập các công đức, ta không thể vay mượn hay tích tập công đức mới vào giai đoạn này. Vì thế điều này thật là khủng khiếp.</p>
<p style="text-align: justify;">Đối với một hành giả xuất sắc, mỗi giây phút trong bardo là một khoảnh khắc dẫn tới giải thoát. Tuy nhiên, đối với những người không tích tập công đức, họ sẽ bị dẫn tới việc tái sinh trong các cõi thấp. Giờ đây, nếu chúng ta không bắt đầu tích tập công đức thì không ai có thể chỉ đường hay dẫn dắt ta sau cái chết. Vì thế ngay lúc này, khi còn có thể nỗ lực để tích tập công đức vĩ đại, ta nên làm điều đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau hết, ta bắt đầu cảm thấy rằng mình không có nhiều thời gian và phải bắt đầu thực hành và học Giáo Pháp. Pháp cần được áp dụng và ta nên làm cho Pháp không tách lìa với bản thân ta. Mọi điều ta học từ Pháp, ta nên áp dụng một cách phù hợp, mọi kinh nghiệm được giảng dạy trong Pháp, ta nên trải nghiệm cho chính mình, mọi chứng ngộ có thể có được từ Pháp, ta nên chứng ngộ cho bản thân ta. Bạn có thể học rất nhiều về Pháp, nhưng tất cả chỉ là tri thức. Nếu bạn không cố gắng áp dụng và nhập tâm nó, bạn sẽ chỉ là một chúng sinh tầm thường không có bất kỳ thành tựu hay tích tập nào. Ta phải làm cho Pháp và bản thân ta trở thành bất nhị. Ta đã dùng hết một nửa cuộc đời mình, có lẽ thỉnh thoảng thực hiện được các thiện hạnh nhưng rất thường tích tập nghiệp vô cùng xấu xa. Ta đã lãng phí rất nhiều thời gian và không còn nhiều thời giờ để thực hành. Vì thế ta không nên bị xao lãng bởi việc theo đuổi thanh danh, của cải, lạc thú và những thành tựu thế tục khác như thế, là những điều sẽ chẳng mang lại lợi lạc cho ta trong cái chết hay sau cái chết. Thay vì làm việc để đáp ứng cho bản ngã, ta nên toàn tâm tập trung vào con đường thực hành với thân, ngữ và tâm ta. Đây là kết luận cuối cùng ta phải đạt tới sau sự suy niệm. Nếu ta nhìn thấy người nào đó dại dột kiếm tìm niềm vui cho bản thân, ta nên phát khởi lòng thương xót và bi mẫn lớn lao đối với họ bởi họ đang lãng phí thời giờ quý báu của mình. Khi đó, ta nên khát khao tận dụng tối đa thời giờ của ta trong thế gian này để thực hành và nhắm đến việc thoát khỏi sự tái sinh trong ba cõi thấp. Cho dù ta không thể giải thoát trong đời này, ít nhất ta nên ước nguyện thực hành Pháp đời này sang đời khác cho đến khi đạt được giải thoát.</p>
<p style="text-align: justify;">Có nhiều Đạo sư Kadampa rất vĩ đại và suy niệm trong mọi lúc về lẽ vô thường. Một Đạo sư như thế đang thiền định trong một hang động, ở đó có một bụi gai mọc ở bên ngoài lối vào. Mỗi ngày khi ngài đi qua bụi gai để ra ngoài lấy nước, áo quần của ngài bị vướng gai và ngài nghĩ: “Bụi gai này thật là phiền phức, ta nên chặt nó đi.” Tuy nhiên một lát sau ngài quán chiếu rằng có thể ngài sẽ chẳng sống lâu để trở vào hang động tu tập và ngài gạt bỏ tư tưởng đó. Khi ngài mang nước về, quần áo ngài lại bị vướng gai và ngài nghĩ đến việc đốn bỏ bụi gai. Tuy thế, ngay lập tức ngài suy niệm rằng có thể ngài chẳng sống lâu để ra khỏi hang một lần nữa và ngài lại gạt bỏ ý tưởng đốn bỏ bụi gai. Điều này tiếp diễn trong nhiều năm cho đến khi ngài giác ngộ và ra khỏi hang động để giảng dạy cho những người khác. Chúng ta nên tuân theo gương mẫu của ngài. Đừng thỉnh thoảng nhớ tưởng về lẽ vô thường mà nên nghĩ tưởng về vô thường trong mọi lúc.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo phong tục của Tây Tạng, là một điềm gở khi lật úp một cái tách (chén) bởi điều đó biểu thị cho cái chết. Tuy nhiên, mỗi đêm trước khi đi ngủ, các Đạo sư Kadampa đã cố ý úp cái tách của mình xuống để nếu các ngài chết trong khi ngủ, sẽ không cần nhờ người nào khác lật úp cái tách. Nếu chúng ta suy niệm về cái chết trong từng giây phút, ta sẽ không làm bất kỳ điều gì xấu xa. Vì thế, quán chiếu về sự vô thường vô cùng cần thiết. Nó là một chiếc roi thúc đẩy ta tu tập và là một vị Thầy bảo ta rằng ta nên làm việc nhiều hơn nữa cho việc thực hành của ta. Vì thế ta nên nỗ lực trong việc thực hành nhờ quán chiếu về lẽ vô thường.</p>
<p style="text-align: justify;">Đặc biệt là khi ta thực hành bốn nền tảng, ta nên sử dụng ít nhất mười lăm phút mỗi ngày để quán chiếu về bốn nền tảng thông thường này, đó là thân người quý báu với tám sự nhàn nhã và mười thành tựu (mười thuận lợi), năm điều từ bản thân ta và năm điều từ những người khác; sự vô thường; nhân quả cũng như những đau khổ của luân hồi sinh tử. Trong một khóa nhập thất, một hành giả phải dùng trọn bảy ngày cho sự suy niệm như thế.</p>
<p style="text-align: justify;">Với thời gian ngắn ngủi chúng ta có được trong cuộc đời mình, ta phải phát triển động lực: “Tôi phải đạt được các thành tựu tâm linh.” Vì thế ta không nên hờ hững trong việc tu tập và nên hết sức tập trung và cẩn trọng trong việc thực hành các suy niệm và những giai đoạn khác trong việc tu tập. Nhân và quả thì luôn luôn hiện diện với chúng ta. Bằng cách thường xuyên suy niệm về nhân quả, ta sẽ có thể ngăn ngừa mình không làm các hành động tiêu cực và tích tập ác nghiệp. Ta phải hết sức kiên cố trong việc thực hành. Ta nghe Pháp để làm điều gì đó xảy ra trong cuộc đời chúng ta chứ không phải chỉ để cho vui. Ít nhất ta phải dùng mười lăm phút mỗi ngày để nghĩ về điều này và từ từ chúng ta sẽ bắt đầu chuyển hóa. Khi đó tiến trình từ bỏ (xả ly) sẽ bắt đầu. Từ bỏ không có nghĩa là khoác lên người chiếc áo tu sĩ và rời bỏ gia đình, điều đó chỉ là việc thay đổi y phục. Từ bỏ phải đến từ bên trong.</p>
<p style="text-align: justify;">Giáo lý này là một sự nhắc nhở cho tất cả những người đang thực hành các nền tảng và là một động lực đầy phấn khởi cho những ai đang bắt đầu tu tập. Tất cả chúng ta đều rất mới mẻ đối với việc thực hành và ngay cả những hành giả cao cấp cũng cần phải thường xuyên quán chiếu về bốn nền tảng thông thường. Vì thế điều quan trọng là chúng ta cần phải noi gương các ngài.</p>
<address>Nguyên tác: <b>“Contemplation on Impermanence</b>” by Shangpa Rinpoche</address>
<address>http://www.shangpa.org/teachings/ContemplationOnImpermanence.pdf</address>
<address>Thanh Liên dịch sang Việt ngữ</address>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/suy-niem-ve-vo-thuong/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đối mặt</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/doi-mat/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/doi-mat/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 04 Oct 2015 04:05:37 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Kagyu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6082</guid>
		<description><![CDATA[By Akong Tulku Rinpoche Chớ vui thích khóc than cho số phận mình ! Bảy Điểm Tu Tâm của Atisha Giữa khoảnh khắc người ta gặp đạo lần đầu tiên và giờ phút tâm thức thức tỉnh hoàn toàn trong sự trọn vẹn những phẩm chất tự nhiên của nó, cuộc du hành có thể lâu dài và gian khổ.&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/doi-mat/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><b>By Akong Tulku Rinpoche</b></p>
<p style="text-align: center;"><strong><em>Chớ vui thích khóc than cho số phận mình !</em><br />
<em>Bảy Điểm Tu Tâm của Atisha</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Giữa khoảnh khắc người ta gặp đạo lần đầu tiên và giờ phút tâm thức thức tỉnh hoàn toàn trong sự trọn vẹn những phẩm chất tự nhiên của nó, cuộc du hành có thể lâu dài và gian khổ. Nếu người ta trù tính một cách nghiêm túc để ra đi, phải suy nghĩ đến sự tổ chức thực tiễn của cuộc du hành của mình. Chẳng hạn, chỉ nói: “Tôi muốn đi từ Việt Nam sang Ấn Độ” thì không đủ để đến đó. Phải chọn một phương tiện chuyên chở – xe hơi, xe lửa hay máy bay và khó nhọc tổ chức hành trình. Nếu người ta không cố gắng một chút cần thiết khi khởi hành, người ta không bao giờ đi đến đâu cả, và người ta sẽ cứ giam hãm trong nhà mình – và thất vọng.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi muốn đi đâu, phải xác định điểm khởi hành của mình, phương tiện di chuyển và hành trình của mình, rồi phải ra đi. Điều đó cũng đúng với sự du hành tâm linh: mục đích của nó là đưa ta đến chỗ sống một cuộc đời hoan hỷ hơn và bừng nở hơn, đồng thời hữu ích hơn cho những người khác, và điểm khởi hành là cái đời sống bình thường hàng ngày của chúng ta. Cái hàng ngày đầy dẫy những sự kiện đủ mọi loại tạo thành nguyên liệu cho công việc tâm linh, bởi vì chính qua sự đa dạng của những kinh nghiệm mà người ta có thể học và tiến hóa. Đời sống hàng ngày là một mỏ những bài học của trí huệ ban cho những ai muốn học chúng, bất kể trình độ giáo dục hay văn hóa.</p>
<p style="text-align: justify;">Bài học đầu tiên chắc chắn cốt ở quên đi những thói quen xấu của chúng ta. Người ta có khuynh hướng lẩn tránh hay bỏ lơ những vấn đề đặt ra cho chúng ta trong môi trường xã hội, nghề nghiệp hay gia đình, như thể người ta thử che dấu sự không thỏa mãn và khổ đau mà người ta cảm thấy nơi mình. Nếu người ta muốn thành thật với chính mình, người ta sẽ bắt buộc nhận ra rằng trong một nghĩa nào đó người ta vẫn còn tập đánh vần trong việc quản lý những khó khăn của cuộc sống hàng ngày. Có lẽ người ta thích thực hành những kỹ thuật thiền định ngoại lai trong hy vọng ngày nào có thể khinh thân hay bay lên, trong khi chắc hẳn ích lợi hơn nếu trước tiên học đứng vững trên đôi chân của mình. Một số người tự đánh giá đã nhiều tiến hóa, nghĩ rằng họ chẳng cần gì một lời giáo huấn, khuyên bảo, trong khi một cách vô thức họ tái sản xuất không ngừng cùng những bản in như nhau trong cuộc sống và luôn luôn tự tạo cùng những khó khăn. Thế nên ở đây chúng ta nhắm đến mục tiêu chính yếu là học chấp nhận và điều hành những tình huống thông thường của cuộc đời hàng ngày. Người ta không thể chờ đợi những tiến bộ thật sự trước khi biết rằng người ta cần một sự tập sự như vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Đã hiểu sự cần thiết của một con đường, còn phải lên đường. Trong một thế giới lý tưởng, có lẽ có thể ăn ở một cách tiện nghi, một điếu xì gà trong tay, một ly rượu vang trong tay kia, bao quanh bởi những cô nàng lộng lẫy hay những tình nhân nồng nhiệt, và thanh thản chờ đợi tâm thức tỉnh dậy một mình. Thực tại không phải cũng mộng mơ như vậy: người ta chẳng đến đâu cả nếu không có một cố gắng tối thiểu. Không có giấc mộng nào, không có ám ảnh hoang đường nào có thể che chở cho chúng ta khỏi những khổ đau đang chờ đợi chúng ta nếu chúng ta không học đối mặt với cái hàng ngày bằng cách bình định tâm thức chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Vậy người ta cần xét xem những phương tiện để thực hiện cuộc hành trình tâm linh. Việc đầu tiên là thuần hóa tâm thức mình để có một căn cứ vững chắc từ đó người ta có thể tiến bộ. Đó là căn bản. Thiếu một căn cứ như vậy, người ta sẽ không thể lợi dụng đầy đủ cơ hội hãn hữu cho sự phát triển mà cuộc đời làm đàn ông hay đàn bà mang lại. Điều phục tâm thức là một ưu tiên tuyệt đối: đối với chính mình, bởi vì đó là cách duy nhất để học điều hành một cách tích cực tất cả những gì cuộc đời mang lại cho chúng ta, bằng cách dùng mọi chất liệu của cuộc hiện sinh để làm sanh trưởng trong chính mình trí huệ và lòng bi. Nhưng cũng đối với những người khác, bởi vì một trong những mục tiêu chính của sự nuôi dạy tâm thức là thu hoạch lòng bi, cái cho chúng ta có thể giúp đỡ người khác, không phân biệt chúng sanh nào.</p>
<p style="text-align: justify;">Một khi căn cứ này đã được lập, người ta sẽ có thể tiến hóa một cách xây dựng nhưng tiệm tiến, vì người ta không thể đốt giai đoạn. Dù người ta có thành công trong nghề nghiệp hay trong xã hội, phải chấp nhận rằng người ta chưa thật tiến hóa trên bình diện làm chủ tâm thức – những xúc động, những tư tưởng, những tình cảm của mình. Nếu người ta cần chế ngự tâm thức mình, đó là bởi vì bao giờ người ta còn sợ mất cái người ta có – tiền bạc, đồ vật, người thân, chưa nói đến chính cuộc đời mình – thì người ta còn khổ đau. Phải bắt đầu bằng sự bắt đầu.</p>
<p style="text-align: justify;">Hãy tưởng tượng bạn tìm ra một cục kim cương nguyên sơ; nếu bạn biết mài giũa đẽo gọt, bạn có thể phát giác tất cả vẻ đẹp của nó và làm thành một đồ trang sức huy hoàng. Nhưng nếu bạn không làm chủ một cách khéo léo những kỹ thuật đẽo gọt, bạn sẽ làm hỏng hay làm vỡ nó, nó sẽ trở nên vô dụng và không giá trị. Những thực tập và những kỹ thuật thiền định được đề nghị ở đây là những công cụ cho phép làm việc với viên kim cương nguyên sơ là tâm thức; nếu người ta biết thao tác những dụng cụ đó khéo léo và cẩn trọng, người ta sẽ gọt giũa và đánh bóng nó để làm hiển lộ tất cả sự rực rỡ và thuần khiết của nó.</p>
<p style="text-align: justify;">Có lẽ không phải là một viễn cảnh đặc biệt vui thích hay đầy khích lệ khi mỗi ngày đối diện với những người bao quanh bạn và những hoàn cảnh của cuộc đời thường nhật. Người ta thích nghe nói rằng người ta chẳng phải làm gì và mọi sự sẽ tự dàn xếp, ổn định, như trong những phim của Hollywood. Người ta có thể luôn luôn mơ mộng, nhưng chuyện đó chẳng tới đâu, người ta biết thế. Một ngày nào cũng phải bắt đầu nhìn thấy những sự vật như chúng là, và phải chấp nhận chúng như vậy, nghĩa là rất tầm thường, đối với đa số người. Đời sống hàng ngày được tạo thành bằng vô số sự việc rất bình thường: mỗi ngày chưng cất một ít liều bất hạnh hay hạnh phúc nhỏ hay lớn. Đôi khi người ta cảm thấy cả hai cùng lúc: sự vật có thể vừa chua chát vừa ngọt ngào. Không phải mùi vị của những sự việc là quan trọng, mà chính sự kiện chúng xảy đến: đó là chất liệu thô sơ, nguyên phác của sự sống, cái mà người ta đối mặt.</p>
<p style="text-align: justify;">Nghịch lý thay, chỉ có những hoàn cảnh khó nhọc mới đặt vấn đề với chúng ta. Người ta có thể cảm thấy lo âu ngay cả khi mọi sự tiến hành tốt đẹp, bởi vì người ta sợ nó thay đổi. Người ta phải có thể hiểu và điều hành, xử lý mọi cái xảy đến, dù tốt hay xấu. Đôi khi người ta sẽ bắt buộc uốn mình theo những hoàn cảnh, trong khi những lúc khác có lẽ cần làm cái gì đó để cải thiện chúng. Nhưng cách nào thì chính chúng ta nắm những sự việc trong tay, không có ai làm điều đó thay chỗ chúng ta, dù đôi khi người ta nhờ được sự nâng đỡ và những khuyến khích của người khác. Rốt cuộc, người ta là người độc nhất có thể làm cái gì đó cho chính cuộc đời mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Một số người tỏ ra thành thạo trong nghệ thuật lẩn tránh những khó khăn, và mỗi người chúng ta có kỹ thuật ưa thích của mình: thay đổi công việc hay địa chỉ, có một người tình, đổi vợ, lao đến y sĩ, ăn mải miết những thẻ sô-cô-la hay để thì giờ gọi điện thoại cho bạn bè. Người ta cũng có thể tự ám ảnh hơn, dính chặt với truyền hình, dùng ma túy, ăn không biết no hay say sưa. Chẳng có cái gì hiệu quả; người ta đến mức không thể ngủ hay suy nghĩ; bỏ ăn bỏ uống và cảm thấy bất hạnh như đã bị bệnh nặng. Thậm chí người ta có thể định tự vẫn, điều cũng tiêu cực như giết người khác. Khi xem những bất hạnh nhỏ là quá trầm trọng, người ta có thể tự tạo ra những buồn phiền thực sự và trở nên càng bất lực hơn trong việc giải quyết chúng.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi tránh khéo hay trốn thoát những khó khăn, người ta tự tạo một sự xao lãng, khuây nguôi nhất thời, nhưng người ta không thể thanh toán chúng. Khi người ta bằng lòng chỉ làm điều mình thích và tránh mọi cái mình không thích, thì trái lại người ta càng có thêm những vấn đề rắc rối. Không nói đến những tổn hại tâm sinh lý mà việc đó gây ra, và sự thống trị càng lớn của những thói quen xấu người ta đã mang lấy và sau đó sẽ rất khó phá. Khi thả mình cho sự yếu đuối, người ta còn yếu đuối thêm và người ta giảm bớt những cơ may thoát khỏi những khổ đau.</p>
<p style="text-align: justify;">Cần có một sự thụt lui nào đó trong liên hệ với những sự việc của cuộc đời, và tránh những sự thái quá của khắc khổ và dễ dãi. Nếu người ta quá chặt chẽ và nghiêm trọng, người ta có khuynh hướng luôn luôn bi kịch hóa. Người ta mất đi bình dưỡng khí khôi hài. Ngược lại, nếu quá khinh suất và luôn luôn xem nhẹ, người ta sẽ sống trong một thế giới ảo tưởng. Cách nào đi nữa, người ta cũng sẽ bị cắt đứt khỏi những sự thật hàng ngày và không ý thức đến những tình cảm khởi lên trong chúng ta, như khi người ta ở dưới đế chế của một xúc tình mãnh liệt – giận dữ hay ghen tuông –, hay người ta bị ám ảnh bởi quá khứ hay tương lai. Vậy người ta không thể làm việc một cách ích lợi trên chính bản thân mình nếu người ta mất cái nhìn thấy thực tại hiện tiền của những sự vật, thế giới trong đó người ta đang sống.</p>
<p style="text-align: justify;">Cho đến bây giờ, người ta cứ lo toan tìm phương tiện để trốn tránh những vấn đề. Để hàng phục tâm thức, phải giáo dục lại và làm điều ngược lại: giáp mặt trực tiếp cái khó chịu hay nhọc nhằn với chúng ta, và làm điều đó một cách hiệu quả. Điều đó sẽ không thiếu lợi lạc với chúng ta, ít nhất vì chúng ta không phải điên đầu để sáng chế những phương tiện để tự trốn thoát mình ! Có lẽ người ta thậm chí sẽ ngạc nhiên nhận ra rằng cái làm cho chúng ta sợ đến thế, hay cái xáo trộn chúng ta đến thế, rốt cùng không quá khủng khiếp, một khi người ta quyết định nắm lấy sừng con bò tót. Ý tưởng mà chúng ta có đối với những sự vật và những con người thường tệ hơn thực tế của chúng…</p>
<p style="text-align: justify;">Một khi người ta sẵn sàng chấp nhận những sự việc y như chúng là, tất cả mọi sự được chuyển hóa, thậm chí cả những khó khăn hơn trong cuộc đời. Bên ngoài, chẳng có gì thay đổi; tuy nhiên, tất cả đều khác, vì người ta đã tự mình thay đổi thái độ. Khi người ta chấp nhận nhìn tình huống như nó là, người ta tự biết làm sao để đáp ứng với nó: chính những hoàn cảnh cung cấp cho chúng ta sự chỉ dẫn khi chúng ta không nhọc mệt làm méo mó chúng bởi những thiên kiến tiên định của chúng ta. Trái lại, khi người ta làm con đà điểu vùi đầu trong cát và không nhìn những sự việc thẳng mặt, luôn luôn trì hỗn chúng, tình huống chắc chắn chỉ tệ hơn. Người ta phải học định giá những sự việc đúng theo giá trị của chúng. Những sự việc có khó nhọc, dễ chịu hay hoàn toàn tầm thường, điều quan trọng là nhận biết mỗi tình huống thật sự là gì. Không làm méo mó và làm rắc rối nó bởi hệ thống lọc ngoắt nghéo của những phản ứng trí thức hay tình cảm của chúng ta. Ngay khi những xúc tình trộn lẫn vào, tất cả tri giác về tình huống của chúng ta lập tức méo mó. Thực tại mất dấu đằng sau sự diễn dịch về những sự kiện của chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Phải tiếc mà nhận ra rằng, sống trong nền văn minh hiện thời của chúng ta, chúng ta được trang bị quá kém để chấp nhận những sự việc như chúng là. Trong khi đó một tâm thức lành mạnh thì sống trong một thế giới lành mạnh, một tâm thức an bình thì cảm nhận thế giới an bình. Những bài thực tập ở phần hai là để làm cho tâm thức lành mạnh, đẹp đẽ, bình an và hạnh phúc thay vì một tâm thức bệnh hoạn để chịu đựng một thế giới bệnh hoạn, đìu hiu, hỗn loạn và khổ đau.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Akong Tulku Rinpoche </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt ngữ: Nguyễn An Cư</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/doi-mat/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lời Khuyên khẩn cấp</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/loi-khuyen-khan-cap/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/loi-khuyen-khan-cap/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 24 Sep 2015 18:00:20 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Kagyu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5904</guid>
		<description><![CDATA[by Lama Lodu Rinpoche Giáo lý sau đây được ban ra để trả lời một câu hỏi gồm hai phần được nêu lên trong chuyến viếng thăm của Lạt ma Lodu tại Taos, New Mexico Hỏi: Làm thế nào những người không có vị Thầy tâm linh có thể sống trong thế giới và thực hành tâm linh một cách&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/loi-khuyen-khan-cap/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>by Lama Lodu Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/f5e6940e75e5cb47e939af1eb9301b72.jpg"><img class="alignnone  wp-image-5906" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/f5e6940e75e5cb47e939af1eb9301b72-210x300.jpg" alt="f5e6940e75e5cb47e939af1eb9301b72" width="287" height="410" /></a></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Giáo lý sau đây được ban ra để trả lời một câu hỏi gồm hai phần được nêu lên trong chuyến viếng thăm của Lạt ma Lodu tại Taos, New Mexico</i></p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Hỏi: Làm thế nào những người không có vị Thầy tâm linh có thể sống trong thế giới và thực hành tâm linh một cách thiện xảo, và làm cách nào những người đã có một con đường có thể sống và làm việc trong một thế giới nơi những người khác không chia sẻ con đường đó?</i></b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Đáp:</b> Những người không có vị dẫn đạo tâm linh và được thúc đẩy bởi một khao khát mãnh liệt có thể tự mình thực hành cho tới khi tìm thấy một vị dẫn đạo tâm linh tốt lành. Những ai có ý hướng làm những điều thiện lành thì sớm hay muộn cũng sẽ gặp một vị Thầy đầy đủ phẩm tính.</p>
<p style="text-align: justify;">Với động lực để làm những điều lợi lạc và đi theo con đường tâm linh, nhờ thiện tâm và lòng bi mẫn, thân, ngữ và tâm ta có thể được sử dụng để phát triển thái độ chân chánh và các hành động đúng đắn (chánh hạnh). Ta cũng nên được thúc đẩy để phát triển ước muốn kiên định, mong ước tất cả chúng sinh đều kinh nghiệm hạnh phúc và thoát khỏi đau khổ. Kết quả là thân, ngữ và tâm ta sẽ trở thành sự hiển lộ của lòng bi mẫn. Đây là một thực hành tâm linh chuẩn bị căn bản mà ta có thể tự tu học không có sự trợ giúp của một vị dẫn đạo tâm linh.</p>
<p style="text-align: justify;">Là Phật tử, chúng ta tin rằng ta không nên làm điều gì gây tổn hại cho người khác. Vì thế bạn nên luôn luôn tự mình làm một gương mẫu. Nếu có ai nói với bạn trong một cách thế tích cực, bạn kinh nghiệm hạnh phúc; vì thế, bạn nên nói với những người khác bằng một cách thức tương tự để họ cũng có thể có kinh nghiệm (hạnh phúc) đó. Khi bạn gặp một người giao tiếp với bạn không bằng ngôn từ, với động lực hoàn toàn từ ái và năng lực tâm linh tràn đầy bi mẫn, bạn cảm thấy sảng khoái, an lạc hơn. Tới lượt bạn, bạn nên nuôi dưỡng thiện tâm và lòng bi mẫn tương tự càng nhiều càng tốt, và sau đó hãy đem thái độ của thân, ngữ và tâm đó tới tất cả những người bạn gặp.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế đây là lời khuyên của tôi cho những người không có một vị dẫn đạo tâm linh: Bạn không nhất thiết phải ngồi xuống, thiền định đúng bài bản và thực hành quán tưởng. Việc biểu lộ thiện tâm từ ái và lòng bi mẫn có thể được thực hiện ở bất kỳ nơi đâu. Bạn luôn luôn có cơ hội để ứng dụng thiện tâm và lòng bi mẫn đối với người khác và để sử dụng thân, ngữ và tâm bạn trong chánh hạnh. Thái độ này rất mạnh mẽ và là thực hành tâm linh chuẩn bị toàn hảo. Sớm hay muộn, nhờ sức mạnh của động lực tích cực của bạn, bạn sẽ gặp vị dẫn đạo tâm linh đúng đắn, và cánh cửa sẽ mở ra con đường tâm linh.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong trường hợp thứ hai, bạn đã có thực hành tâm linh, và bạn bị xao lãng bởi những mối bận tâm thế tục. Điều quan trọng là bạn phải đi theo thiện tri thức, vị Thầy và không đi đó đi đây. Hãy lưu lại với một vị dẫn đạo tâm linh, là người mà bạn thực sự cảm thấy là chân chính, và đừng cố thay đổi các vị Thầy cho tới khi bạn có được sự thấu suốt chân thật trong tâm.</p>
<p style="text-align: justify;">Thái độ Bồ Tát thì rất quan trọng; không có nó, bạn không thể thực hành Kim Cương thừa và Đại thừa. Khi tâm bạn hoàn toàn được thúc đẩy bởi thái độ thuần tịnh này thì thân, ngữ và tâm bạn hướng về sự tích cực tốt lành một cách tự nhiên. Từ viễn cảnh Đại thừa và Kim Cương thừa, cho dù bạn không thể ngồi yên trên nệm thiền trước bàn thờ bởi bạn có con cái, việc làm, và vì bạn có đủ thứ xao lãng trong thế gian, bạn vẫn có thể thực hành. Bạn phải nhận được một lời khuyên chân chính từ vị Thầy của bạn và có niềm tin nơi ngài và Giáo Pháp. Khi đó hoạt động của bạn trong thế gian sẽ hiến tặng một cơ hội tương tự để đạt được Giác ngộ như bạn có được trên nệm thiền.</p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Hỏi: Xin ngài giải thích làm cách nào thực hiện được điều đó?</i></b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Đáp:</b> Để được hướng dẫn trong những tình huống như thế, chúng ta có thể hướng về Machig Labdron, một trong những Đạo sư Tây Tạng vĩ đại, người sáng lập thực hành Chod. Bà là một yogi và vị Thầy có thành tựu cực kỳ lớn lao. Mặc dù hầu hết giáo lý đạo Phật chỉ di chuyển từ Ấn Độ sang Tây Tạng, giáo lý của bà từ Tây Tạng trở ngược về Ấn Độ. Bà có một ít lời khuyên dạy vĩ đại về chủ đề này mà với tôi chúng dường như đầy đủ, phong phú và đơn giản. Bà nhắc nhở chúng ta rằng đời người chúng ta xen lẫn hạnh phúc và đau khổ. Trong chốc lát chúng ta thật hạnh phúc, nhưng hạnh phúc không kéo dài; chúng ta bám luyến vào hạnh phúc đó và thình lình nó trở thành đau khổ thật khó thoát ra. Đôi khi ta lại có hạnh phúc ngắn ngủi, nhưng điều này tạo thêm sự dính mắc và bám luyến, và như thế ta càng thêm đau khổ. Đây là kinh nghiệm của tất cả chúng sinh, nhưng loài người cảm nhận điều đó nhậy bén hơn.</p>
<p style="text-align: justify;">Machig Labdron dạy: Đừng lo lắng. Nếu bạn đau khổ, bạn có một cơ hội tuyệt vời để thực hành. Hãy nhớ: “Nếu tôi hạnh phúc, tôi ước muốn tất cả chúng sinh không loại trừ ai được hưởng hạnh phúc mà tôi được trải nghiệm thật dễ chịu này. Cầu mong mọi người đều kinh nghiệm hạnh phúc này giống như tôi đã kinh nghiệm.” Theo cách này hạnh phúc trở thành sự tịnh hóa, thực hành thực sự, và công đức được tích tập. Kế đó: “Nếu thân hay tâm tôi đau đớn, cầu mong cùng với nỗi khổ của tôi, tôi nhận lấy nỗi khổ của tất cả chúng sinh không loại trừ ai.” Vì thế nỗi khổ của chúng ta cũng trở nên hữu ích như pháp tịnh hóa và mang lại cho ta một cảm thức sâu xa về Bồ Tát hạnh. Sự tiếp cận này rất ích lợi cho những người không có thời gian để thực hành chính thức trong một thế giới tràn đầy trách nhiệm và những xao lãng.</p>
<p style="text-align: justify;">Một người có thể thực hành an tọa và tụng đếm các thần chú trong nhiều năm, và người khác có thể thực hành khi sống trong thế gian với kỹ thuật mà tôi vừa đề cập. Người thứ hai có thể đạt được giác ngộ sớm hơn bởi họ xử sự với đời sống hàng ngày như một thực hành tâm linh, chuyển hóa mọi hoàn cảnh thế gian thành các hiện tượng tâm linh. Người ngồi ở nhà suốt ngày có thể không thực hành đúng đắn; họ có thể mộng tưởng hão huyền, bị xao lãng và không thể thành tựu sự chứng ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta luôn luôn có những cơ hội để tỉnh thức. Khi chúng ta thực hiện các trách nhiệm của ta đối với gia đình, tình thương của ta đối với những người thân vẫn mạnh mẽ bất chấp các vấn đề. Nếu ta nghĩ tưởng rằng tất cả chúng sinh cũng bình đẳng với gia đình ta thì một ngày nào đó ta sẽ có thể phụng sự tất cả những chúng sinh ấy trong một cách thế tương tự. Ví dụ như tại chỗ làm việc của bạn, do bởi nghiệp, một người bất đồng ý kiến với bạn. Nhờ nhận trách nhiệm về chuyện bất hòa, bạn nhận vào mình nỗi khổ này, tịnh hóa nó, và nguyên nhân của nỗi khổ được giải trừ. Thay vì như thế, nếu bạn cứ tiếp tục đeo đuổi cuộc tranh luận, bạn sẽ tạo thêm đau đớn và khổ sở. Vì thế điều tối quan trọng là nhận vào mình nỗi khổ của chúng sinh. Khi bạn làm điều này, tính ích kỷ của bạn sẽ suy yếu đi và bạn sẽ trở nên vô ngã hơn.</p>
<p style="text-align: justify;">Như thế những người không có thời giờ thực hành nên ghi nhớ những lời dạy của Machig Labdron và cố gắng nghĩ về ý nghĩa tròn đầy và phong phú của giáo lý ấy khi bạn hoàn thành cuộc sống hàng ngày. Dứt khoát là bạn phải tỉnh giác, bạn phải tự nhắc nhở mình từ sáng cho tới tối về những nội quán sâu xa này, và bạn phải áp dụng ý nghĩa của chúng mỗi ngày. Cũng nhớ rằng bận rộn không phải là một lý do. Điều này đặc biệt đúng trong truyền thống Đại thừa. Ngay cả trong Kim Cương thừa, bạn nghĩ tưởng bản thân bạn như Bổn Tôn của sự nhập môn, bất kỳ âm thanh nào bạn nghe cũng đều là âm thanh của các thần chú, mọi chúng sinh là tập hội các Bổn Tôn. Và tuy thế mọi sự được nhìn và nghe thấy không có sự hiện hữu bẩm sinh. Đúng hơn, đó là sự hiển lộ của Pháp Thân, sự hiển lộ của tánh Không sâu thẳm. Nếu bạn có thể áp dụng tâm bạn theo cách này mỗi ngày thì việc bạn làm, việc bạn chăm sóc gia đình – tất cả những điều này trở thành thực hành của bạn, và bạn đang tiến bộ trong từng giây phút. Nhưng đôi khi các vấn đề của ta đến từ sự lười biếng, thiếu sự tin cậy và phó thác, niềm tin yếu ớt, và chần chừ do dự. Ta nghĩ rằng thực hành hàng ngày là điều tốt lành cần làm, nhưng không phải ngày hôm nay. Thình lình, một điều quan trọng tới gần và chúng ta ước muốn dấn mình kịch liệt vào thực hành; chỉ khi đó ta mới có được một quan điểm tâm linh. Thay vào đó, ta nên luôn luôn hiến dâng tất cả hạnh phúc cho người khác và sử dụng mọi đau khổ cá nhân để nhận lấy đau khổ của tất cả chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Hãy nhớ kỹ khi giữ quan điểm Kim Cương thừa: mọi hình tướng bất khả phân với hình tướng của các Bổn Tôn, mọi âm thanh bất khả phân với thần chú; nhưng mọi hình tướng và âm thanh không có hiện hữu bẩm sinh, là một sự biểu lộ của tánh Không. Đó là cách thức thực hành Kim Cương thừa.</p>
<p style="text-align: justify;">Lạt ma Lodu Rinpoche an trụ tại Kagyu Droden Kunchab, một trung tâm Giáo Pháp để thực hành Phật Giáo Đại thừa và Kim Cương thừa, có trụ sở ở 1892 Đường Fell (gần Clayton) San Francisco, CA 94117. Lạt ma trông nom việc dịch thuật nhiều bản văn thực hành (Sadhana) và đã biên soạn vài quyển sách: Giáo lý Bardo (có thể mua được nhờ Nhà Xuất bản Snow Lion), Tinh túy của Giác tri và Vô tri, Thành tựu Giác ngộ, Trì giữ Giới nguyện Bồ Tát, và Kính lễ Kalu Rinpoche (có thể tìm được ở Nhà Xuất bản KDK).</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Nguyên tác: “Instant Advice”</i><br />
<i>by Lama Lodu Rinpoche</i><br />
<i><a href="http://www.directcon.net/thubten/instant_advice.htm">http://www.directcon.net/thubten/instant_advice.htm</a></i><br />
<i>Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên</i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/loi-khuyen-khan-cap/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Con đường dẫn đến Phật quả</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/con-duong-dan-den-phat-qua/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/con-duong-dan-den-phat-qua/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 15 Sep 2015 08:02:47 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Luận giảng]]></category>
		<category><![CDATA[Thư Viện]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Kagyu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5304</guid>
		<description><![CDATA[Đức Ringu Tulku Tác phẩm "Pháp Bảo của sự giải thoát" một luận giảng của Đức Ringu Tulku từ tác phẩm của Đức Gampopa  Ebook: Con đường dẫn đến Phật quả]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>Đức Ringu Tulku</strong></p>
<p style="text-align: center;"><img class="  wp-image-5306 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/635481201386172078_khotrithuc.com_conduongdandenphatqua_ringu-tulku-186x300.jpg" alt="635481201386172078_khotrithuc.com_conduongdandenphatqua_ringu-tulku" width="268" height="432" /></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Tác phẩm "Pháp Bảo của sự giải thoát" một luận giảng của Đức Ringu Tulku từ tác phẩm của Đức Gampopa </strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong><em>Ebook: <a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Con-đường-dẫn-đến-Phật-quả.pdf">Con đường dẫn đến Phật quả</a></em></strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/con-duong-dan-den-phat-qua/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Pháp bảo của sự Giải thoát</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/phap-bao-cua-su-giai-thoat/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/phap-bao-cua-su-giai-thoat/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 15 Sep 2015 07:49:19 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Luận giảng]]></category>
		<category><![CDATA[Thư Viện]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5296</guid>
		<description><![CDATA[Je Gampopa Pháp bảo của sự Giải thoát là tác phẩm kiệt xuất về toàn bộ lộ trình tu tập của Đạo sư lừng danh Je Gampopa, với phần lời tựa của Đạo sư Sonam Rinpoche.  Ebook: Pháp Bảo của sự giải thoát]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/a_110.jpg"><strong>Je Gampopa</strong><img class="  wp-image-5298 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/a_110-300x231.jpg" alt="a_110" width="501" height="386" /></a></p>
<p><strong>Pháp bảo của sự Giải thoát là tác phẩm kiệt xuất về toàn bộ lộ trình tu tập của Đạo sư lừng danh Je Gampopa, với phần lời tựa của Đạo sư Sonam Rinpoche. </strong></p>
<p style="text-align: center;"><em><strong>Ebook: <a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Pháp-Bảo-của-sự-giải-thoát.pdf">Pháp Bảo của sự giải thoát</a></strong></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/phap-bao-cua-su-giai-thoat/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Khẩu Truyền Giáo Pháp Đại Thủ Ấn</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/khau-truyen-giao-phap-dai-thu-an/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/khau-truyen-giao-phap-dai-thu-an/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 11 Sep 2015 02:50:30 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Đại thủ ấn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5022</guid>
		<description><![CDATA[TỔ TILOPA, NGƯỜI SÁNG LẬP TÔNG PHÁI KAGYU, TRUYỀN CHO NHỊ TỔ NAROPA. Lời người dịch: Con xin kính lạy nhị vị Đại Sư Tổ, Cho con được phép dịch sang tiếng Việt, Để chia sẻ ơn phước đến muôn loài, Trong cõi khổ đau hình chữ S. (Đã có nhiều người dịch Mahamudra sang tiếng Việt nhưng đều từ những&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/khau-truyen-giao-phap-dai-thu-an/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;">TỔ TILOPA, NGƯỜI SÁNG LẬP TÔNG PHÁI KAGYU, TRUYỀN CHO NHỊ TỔ NAROPA.</p>
<p style="text-align: center;"><em>Lời người dịch: Con xin kính lạy nhị vị Đại Sư Tổ,</em><br />
<em>Cho con được phép dịch sang tiếng Việt,</em><br />
<em>Để chia sẻ ơn phước đến muôn loài,</em><br />
<em>Trong cõi khổ đau hình chữ S.</em><br />
<em>(Đã có nhiều người dịch Mahamudra sang tiếng Việt nhưng đều từ những ấn bản khác</em><br />
<em>nhau, bản dịch này theo ấn bản của tu viện Gyalwa Karmapa tại Rumtek, Sikkim,</em><br />
<em>Tây Tạng; trong bộ sưu tập về Mahamudra được gọi là Do ha mdzod brgyad ces bya</em><br />
<em>ba Phyag rgya chen po’i man ngag gsal bar ston pa’i gzhung. Bản dịch sang tiếng</em><br />
<em>Anh của Kunzang Tenzin năm 1977.)</em></p>
<p style="text-align: center;">ĐẠI THỦ ẤN</p>
<p style="text-align: center;">Chí tâm đảnh lễ 84 Đại Thành Tựu Giả!<br />
Chí tâm đảnh lễ Đại Thủ Ấn!<br />
Chí tâm đảnh lễ Kim Cang Thánh Nữ!</p>
<p style="text-align: center;">Đại Thủ Ấn không thể truyền dậy. Nhưng Naropa, con là kẻ thông minh xuất chúng,<br />
Con đã trải qua bao khổ hạnh,<br />
Với lòng khoan dung nhẫn nại trong đau khổ và hết lòng với Đạo sư,<br />
Hỡi con yêu dấu, hãy cất giữ mật truyền này vào tim con.</p>
<p style="text-align: center;">Có gì nâng đỡ không gian bao la không? Nó nương tựa vào đâu?<br />
Giống như không gian, Đại Thủ Ấn chẳng tựa vào đâu;<br />
Con hãy thảnh thơi và an định trong thanh tịnh,<br />
Hãy nới lỏng và buông bỏ mọi ràng buộc.</p>
<p style="text-align: center;">Khi nhìn chăm chú thấu suốt vào bầu trời trống rỗng, thì nhãn quan chấm dứt;<br />
[nhãn thức không còn; ]
Cũng như thế, khi tâm tự nhìn thấu tâm<br />
Thì chuỗi lan man và dòng ý niệm chấm dứt<br />
Lúc đó là đại ngộ. [Không gian là không gian, tâm là tâm.]
<p style="text-align: center;">Như sương mù buổi sáng biến mất trong khí mỏng,<br />
Chẳng đi đâu nhưng tan biến hết,<br />
Những làn sóng ý niệm, xuất hiện trong tâm, rồi tan biến,<br />
Đó là lúc con ngộ ra chân tính của tâm. [Lúc đó chính là tâm bản nhiên.]
<p style="text-align: center;">Không gian thật chẳng có mầu chẳng có hình dạng<br />
Nên chẳng nhuốm đen hoặc trắng;<br />
Cũng như vậy, tâm bản nhiên không sắc không tướng<br />
Nên không thể là đen hay trắng.</p>
<p style="text-align: center;">Bóng tối vô tận chẳng có sức<br />
Làm đen tối tim sáng mặt trời;<br />
Cũng thế, những kiếp luân hồi vô tận chẳng có sức<br />
Che lấp nổi sự trong sáng của tâm bản nhiên.</p>
<p style="text-align: center;">Dù không gian được gọi là “trống không”,<br />
Nhưng thực ra làm sao diễn tả;<br />
Dù tâm bản nhiên được gọi là “trong sáng”,<br />
Nhưng đó chỉ là ngôn từ.</p>
<p style="text-align: center;">Tâm bản nhiên giống như không gian;<br />
Nó bao trùm và ôm trọn mọi vật trong ánh mặt trời.<br />
Hãy cứ yên lặng và thoải mái trong thanh thản hồn nhiên,<br />
Hãy lắng im để âm thanh dội vang vang dội,<br />
Hãy để tâm con yên tịnh và theo dõi sự tận cùng của muôn thế giới.</p>
<p style="text-align: center;">Thân xác thật ra trống rỗng như cây sậy,<br />
Và tâm, như không gian thanh khiết, hoàn toàn không tư tưởng:<br />
Hãy thảnh thơi trong thực tính mà chẳng buông bỏ hay kiểm soát-<br />
Tâm không đối tượng chính là Đại Thủ Ấn-<br />
Con hãy thực hành miên mật thích nghi [viên mãn], rồi con sẽ ngộ.</p>
<p style="text-align: center;">Sự trong sáng của Đại Thủ Ấn không thể hiển lộ<br />
Trong kinh sách hay những khảo luận siêu hình,<br />
Về Mật chú, Bát Nhã Ba La Mật hay Tam tạng kinh điển;<br />
Sự trong sáng đã bị che phủ bởi ý niệm và tư tưởng.</p>
<p style="text-align: center;">Vì đóng khung trong giáo lý cứng nhắc nên chân tính mật nguyện đã bị tổn hại,<br />
Nhưng khi chấm dứt hoạt động tâm trí thì mọi quan niệm cứng nhắc sẽ tan biến;<br />
Khi những làn sóng biển là sự yên tịnh sâu thẳm của chính nó,<br />
Khi tâm không còn lang thang trong vô định, vô tưởng,<br />
Thì chính mật nguyện kiên trì sẽ là ánh đèn soi sáng tâm đen tối.</p>
<p style="text-align: center;">Hãy dẹp bỏ tính thông minh tự mãn, từ bỏ những nguyên lý giáo điều,<br />
Thì chân tính của mọi truyền thống và kinh sách sẽ được hiển lộ.<br />
Khi hòa nhập trong Đại Thủ Ấn, là lúc con thoát khỏi ngục tù của luân hồi;<br />
Thênh thang trong Đại thủ Ấn, tội lỗi và tiêu cực tính sẽ tiêu tan;<br />
Khi là thầy của Đại Thủ Ấn, con sẽ là ánh sáng của Kinh điển.</p>
<p style="text-align: center;">Kẻ nào ngụp lặn trong vô minh là khinh thường Đại Thủ Ấn,<br />
Họ chẳng biết gì ngoài vùng vẫy trong biển luân hồi khổ đau.<br />
Hãy thương xót những ai đau khổ hằng khao khát!<br />
Luôn chán khổ và mong giải thoát, hãy trung thành với sư phụ,<br />
Khi ơn phước của Ngài chạm đến tim con thì tâm được giải phóng.</p>
<p style="text-align: center;">Con ơi! hãy lắng nghe với lòng an lạc!<br />
Dính mắc vào luân hồi là vô ích; đó là cội nguồn mọi khắc khoải lo âu.<br />
Vì say đắm trần gian là vô nghĩa, nên hãy kiếm tìm sự thật!</p>
<p style="text-align: center;">Vượt thoát khỏi tâm nhị nguyên là cái nhìn Tối thượng;<br />
Tâm tịch tĩnh lặng yên là Thiền Tối thượng;<br />
Tự nhiên như nhiên là pháp Hành Tối thượng;<br />
Rồi khi mọi hy vọng và sợ hãi không còn là Thành quả đã đạt.</p>
<p style="text-align: center;">Tâm trong trẻo tự nhiên ở bên kia bờ tâm ảnh:<br />
Hãy đi đường vô-đường để theo đường của chư Phật;<br />
Hãy nương theo vô-pháp để đạt đại ngộ.</p>
<p style="text-align: center;">Con ơi! Hãy lắng nghe với lòng thương cảm!<br />
Con hãy nhìn sâu vào những tình trạng khó hiểu buồn đau trong đời,<br />
Chẳng có gì tồn tại, chúng huyễn ảo như mơ,<br />
Những ảo tưởng vô nghĩa chỉ mang lại buồn nản và nhàm chán<br />
Con hãy quay đi và buông bỏ những đeo đuổi trần gian.</p>
<p style="text-align: center;">Hãy cắt bỏ những dính mắc vào quê hương và bè bạn<br />
Mà thiền định đơn độc trong rừng sâu núi thẳm;<br />
Hãy ở đó trong trạng thái vô-thiền<br />
Và vô-chứng-đắc thì con sẽ ngộ ra Đại Thủ Ấn.</p>
<p style="text-align: center;">Một cây trổ ra đầy cành và lá<br />
Nhưng khi rễ bị cắt thì chúng sẽ héo tàn;<br />
Cũng thế, khi gốc rễ của tâm bị cắt đứt,<br />
Thì cành lá của cây luân hồi sẽ rụi tàn.</p>
<p style="text-align: center;">Chỉ một ngọn đèn có thể xóa tan đen tối của hàng ngàn kiếp;<br />
Thì chỉ một ánh chớp của tâm trong sáng<br />
Cũng thanh tẩy được nghiệp chướng và vô minh.</p>
<p style="text-align: center;">Con ơi! Hãy lắng nghe trong an lạc!<br />
Sự thật bên kia bờ tâm thức không thể hấp thụ bởi tâm kiên cố;<br />
Ý nghĩa của vô-hành không thể hiểu được trong đam mê tạo tác;<br />
Để thông suốt ý nghĩa của vô-hành và bên kia bờ tâm tưởng,<br />
Con hãy cắt bỏ mọi gốc rễ của tâm và an định trong sự tỉnh thức rỗng rang.</p>
<p style="text-align: center;">Để dòng ô nhiễm của niệm tưởng được thanh tẩy;<br />
Con hãy tránh mọi vọng tưởng dù tích cực hay tiêu cực –<br />
Hãy để chúng xuất hiện như chúng là:<br />
Thế giới hiện tượng (mà) không thêm không bớt, chính là Đại Thủ Ấn.</p>
<p style="text-align: center;">Nền tảng vô sinh thường hằng làm tan rã những khát vọng và huyễn tưởng của con:<br />
Đừng tự cao hay tính toán mà hãy an định trong bản tính vô sinh<br />
Và hãy để những ý niệm của con và vũ trụ tan rã.</p>
<p style="text-align: center;">Tri kiến cao nhất sẽ mở ra các cửa;<br />
Thiền định tối thượng sẽ dẫn đến các điểm sâu vô tận;<br />
Pháp hành tối thượng là kiên trì mà không bị kiềm chế;<br />
Và sự thành tựu cao nhất là sự hiện hữu bình thường<br />
không có hy vọng hay sợ hãi.</p>
<p style="text-align: center;">Lúc đầu, nghiệp lực của con như giòng sông đổ vào thung lũng dốc;<br />
Rồi nhẹ nhàng lang thang như khúc giữa của sông Hằng;<br />
Và cuối cùng, như giòng sông trở thành một với đại dương,<br />
Nơi bất nhị, mẹ và con là một.</p>
<p style="text-align: center;">Nếu tâm con u tối không thể thực hành lời dạy bảo này,<br />
Hãy giữ hơi thở tự nhiên và tống ra nhựa sống của nhận thức,<br />
Hãy tập nhìn chăm chú – phương pháp tu luyện nhất tâm,<br />
Hãy kiên trì kỷ luật đến khi hoàn toàn an trú trong tỉnh thức.</p>
<p style="text-align: center;">Khi thực hành [dấu ấn hành động], thì tính giác của đại lạc và không tính sẽ<br />
thức dậy:<br />
Được hợp nhất trong ơn phước của tuệ giác và phương tiện,<br />
Sẽ từ từ chảy xuống, dừng lại rồi ngược về tâm bồ đề,<br />
Nối kết với cội nguồn, rồi lan tỏa khắp châu thân.<br />
Nếu con không còn tham ái và bám chấp thì tính giác sẽ khơi dậy.</p>
<p style="text-align: center;">Con sẽ trường thọ và trẻ mãi như mặt trăng tròn đầy,<br />
Luôn rạng rỡ và trong sáng, năng lực như sư tử,<br />
Con sẽ mau thành tựu sức mạnh trần gian và đại giác ngộ.</p>
<p style="text-align: center;">Nguyện cho lời chỉ day cốt tủy này về Đại Thủ Ấn<br />
Sẽ tồn tại mãi mãi trong tim những chúng sinh may mắn.</p>
<p>http://www.drikungdharmasurya.org/VIET/kim-cang-thua/dai-thu-an/#%20Continue%20reading-2449</p>
<p style="text-align: justify;">Vô Huệ Nguyên<br />
Việt dịch 6/2006<br />
www.vohuenguyen@yahoo.com</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/khau-truyen-giao-phap-dai-thu-an/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Luận giảng của Kalu Rinpoche về Bốn pháp của Gampopa</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/luan-giang-cua-kalu-rinpoche-ve-bon-phap-cua-gampopa/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/luan-giang-cua-kalu-rinpoche-ve-bon-phap-cua-gampopa/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 10 Sep 2015 17:20:37 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Shangpa]]></category>
		<category><![CDATA[Luận giảng]]></category>
		<category><![CDATA[Shangpa Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Thư Viện]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Kagyu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=4982</guid>
		<description><![CDATA[Dorje Chang Kalu Rinpoche Việc chúng ta được sinh ra làm người mang lại cho ta cơ hội và thuận lợi để thực hành Pháp và cho ta con đường dẫn tới truyền thống bao la và sâu xa của Phật Pháp. Trong những giáo lý đó, Bốn Pháp của Đức Gampopa mang lại một nghiên cứu súc tích về&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/luan-giang-cua-kalu-rinpoche-ve-bon-phap-cua-gampopa/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;">Dorje Chang Kalu Rinpoche</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Việc chúng ta được sinh ra làm người mang lại cho ta cơ hội và thuận lợi để thực hành Pháp và cho ta con đường dẫn tới truyền thống bao la và sâu xa của Phật Pháp. Trong những giáo lý đó, Bốn Pháp của Đức Gampopa mang lại một nghiên cứu súc tích về toàn bộ Con Đường, được phân chia thành bốn cấp độ.</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Pháp Thứ Nhất: Tâm Hướng về Pháp</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Pháp thứ nhất bao gồm một sự thấu suốt về hoàn cảnh của chúng ta trong luân hồi sinh tử và những số phận khác nhau trong luân hồi, sáu trạng thái tái sinh: ba trạng thái thấp – các cõi địa ngục, ngạ quỷ, và súc sinh; và ba trạng thái cao – các cõi người, a tu la, và cõi trời. Qua giáo lý này, chúng ta nghiên cứu kết quả của các thiện hạnh và ác hạnh có khuynh hướng dẫn tới những tái sinh khác nhau này, và những đau khổ mà chúng sinh trong những cõi này phải chịu đựng. Chúng ta đi tới chỗ hiểu rằng mặc dù một tiến trình nghiệp đặc biệt có thể dẫn từ những tái sinh cao xuống những tái sinh thấp hơn hay từ những tái sinh thấp lên cao hơn, nhưng tự thân luân hồi sinh tử không mang lại phương tiện để thoát khỏi, và nếu chúng ta nương tựa vào nó thì có thể ta không tiến bộ trên đường hướng tới Giác ngộ. Vào lúc bắt đầu của Con Đường, sự hiểu biết này về luân hồi sinh tử rất cần thiết để hướng tâm về Pháp, và để thực hiện điều này chúng ta suy niệm Bốn Chuẩn bị Thông thường.</p>
<p style="text-align: justify;">Chuẩn bị thứ nhất liên quan tới giá trị độc nhất vô nhị của đời người mà giờ đây ta đang kinh nghiệm. Nhờ sự gia hộ và uy lực của Tam Bảo trong những đời trước, ở một thời điểm nào đó, chúng ta đã phát triển một khuynh hướng đức hạnh dẫn đến việc được sinh ra làm người hiện tại của ta, với mọi cơ hội, thuận lợi và tự do để thực hành Pháp. Rất ít chúng sinh giữ gìn khuynh hướng đức hạnh này (bằng cách tránh những hành động, tư tưởng và lời nói tiêu cực và thực hành những điều tích cực), và rất ít chúng sinh thành tựu kết quả là được sinh ra làm người quý báu. Nếu chúng ta nghĩ về những vì sao trong bầu trời đêm như tượng trưng cho vô số chúng sinh trong sinh tử luân hồi, thì một vì sao vào ban ngày tượng trưng cho sự sinh ra làm người quý báu – đó là điều có thể được, nhưng rất ít khả năng xảy ra. Sinh ra làm người là một sự kiện vô cùng hy hữu.</p>
<p style="text-align: justify;">Chuẩn bị thứ hai trong Bốn Chuẩn bị liên quan tới sự vô thường. Giờ đây là lúc chúng ta có cơ hội quý báu được sinh làm người, chúng ta nên tận dụng cơ hội ấy và thực sự nhận thức toàn bộ khả năng của việc được làm người. Nhờ những nỗ lực của ta, điều này có thể thành tựu để hoàn toàn siêu vượt luân hồi và đạt được Phật quả. Thêm vào đó, chúng ta phải hiểu rằng cái chết và sự vô thường là một bộ phận của hiện hữu của ta, và việc sinh ra làm người của ta - mà ta đã có được với bao khó khăn - sẽ mất đi. Mọi sự chúng ta kinh nghiệm đều biến đổi trong từng giây phút và không bền vững. Giống như ngọn lửa của một cây nến bị một cơn gió mạnh thổi tắt, hiện hữu làm người của ta cũng bị tiêu tan bất kỳ lúc nào; như một bọt nước trên mặt nước, có thể bất thần vỡ tan; như giọt sương mai trên ngọn cỏ, nhanh chóng bốc hơi.</p>
<p style="text-align: justify;">Kế tiếp, để nhận thức toàn bộ khả năng của việc làm người, chúng ta phải khảo sát ý niệm nghiệp, tiến trình của nhân và quả, đặc biệt là mối liên hệ giữa những hành động của chúng ta và kết quả của chúng. Chúng ta cần hoàn toàn nhận ra mối liên hệ chắc chắn giữa những gì ta đang làm hiện nay và những gì ta sẽ kinh nghiệm sau này.</p>
<p style="text-align: justify;">Suy niệm thứ tư chuyển tâm về Pháp đề cập tới bản chất khiếm khuyết và đau khổ của luân hồi sinh tử. Không có một nhận thức sâu sắc về lẽ vô thường và cái chết sắp xảy đến của chính ta, rất có thể là ta sẽ bị xao lãng bởi những lạc thú của thế gian và đắm chìm trong xung đột cảm xúc và sự vô minh. Khi điều đó xảy ra, chúng ta bị kiệt sức bởi cuộc đời ta đang sống và không nhận ra được đâu thực sự là vấn đề. Trên thực tế, chúng ta không nhận ra được điều gì đang thực sự xảy ra trong đời ta mà cũng không tận dụng được hoàn cảnh của ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước khi ta hiểu được điều đó thì cuộc đời ta chấm dứt và cái chết đến. Nếu ta không có một nền tảng thực hành vững chắc, ta sẽ chết một cách bất lực trong sợ hãi và đau khổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhờ suy niệm về những chuẩn bị này – khả năng của một hiện hữu làm người quý báu, lẽ vô thường và sự chắc chắn của cái chết, tiến trình nghiệp của nhân và quả, những đau khổ và giới hạn của sinh tử - chúng ta chuyển tâm ta về Pháp, và nhờ đó hoàn thành Giáo lý thứ nhất trong Bốn Giáo lý, hay Pháp, của Đức Gampopa.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Pháp Thứ Hai: Pháp Trở thành Con Đường</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Một khi để hết tâm trí vào giáo lý, chúng ta đi tới Pháp thứ hai trong Bốn Pháp: các giáo lý của Pháp trở thành cách sống của ta, con đường của ta. Thái độ của ta đối với những gì cao trọng hơn ta – Tam Bảo – bắt đầu thay đổi, và ta cũng thay đổi thái độ đối với chúng sinh trong sinh tử ngang bằng ta hay thấp kém hơn ta. Thái độ thứ nhất được biểu lộ khi chúng ta Quy y Phật, Pháp và Tăng đoàn với niềm tin, lòng sùng mộ và sự tôn kính. Chúng ta nhận ra rằng trong Phật quả, chư Phật toàn trí hiện diện khắp nơi và có những khả năng vô tận. Chúng ta thấy rằng các giáo lý của Pháp xuất phát từ trạng thái giác ngộ này, là Con Đường mà mỗi chúng sinh có thể đi theo để đạt được Giác ngộ. Chúng ta nhận ra rằng Tăng đoàn, hay tập hội các hành giả chứng ngộ và truyền dạy các giáo lý, là những bạn đồng hành hay người dẫn dắt có thể chỉ cho ta Con Đường. Trong truyền thống Kim Cương thừa, ngoài Tam Bảo, chúng ta thêm vào Ba Gốc – Lạt ma, Bổn tôn, và Dakini – là những suối nguồn của sự Quy y.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Pháp trở thành Con Đường của ta, chúng ta phát triển thái độ thứ hai, là thái độ bi mẫn. Bằng cách suy niệm về những chúng sinh ở trong sinh tử với ta, chúng ta suy xét rằng không gian bao la vô tận, tràn ngập muôn phương, và cõi giới của chúng sinh cũng trải rộng như không gian. Ở một thời điểm nào đó trong quá khứ, mỗi một người trong vô số chúng sinh này đã từng là mẹ hay cha của ta. Trải qua vô số chu kỳ cuộc đời, chúng ta đã phát triển một sự nối kết về nghiệp vô cùng thân thiết với mỗi một chúng sinh đó. Khi lòng bi mẫn phát triển, chúng ta nhận thấy rằng mọi cuộc đời đều giống nhau, và mỗi một chúng sinh đều ước muốn hạnh phúc: trong mỗi hình thức của cuộc sống, một cuộc tìm kiếm căn bản truy tìm hạnh phúc luôn được tiếp diễn – nhưng bằng một cách thế mâu thuẫn và làm tiêu tan mục đích của cuộc tìm kiếm này. Một ít chúng sinh hiểu rằng hạnh phúc thực sự là kết quả của thiện hạnh. Nhiều chúng sinh đắm mình trong việc thực sự hủy diệt những cơ hội đạt được hạnh phúc của họ bằng những hành động và tư tưởng lầm lạc và có hại.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi nhận ra điều này, chúng ta phát triển lòng thương yêu và bi mẫn thực sự đối với chúng sinh. Lòng bi mẫn vô hạn này đối với mọi hình thức của cuộc sống là thái độ thứ hai cần phải có để làm cho giáo lý trở thành Con Đường. Bằng niềm tin và lòng bi mẫn, giáo lý đã hấp dẫn chúng ta trở thành toàn bộ lối sống.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Phát triển lòng Bi mẫn</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù chúng ta nhận ra được sự cần thiết phải làm việc không chỉ vì lợi ích của riêng ta mà còn vì hạnh phúc của tất cả chúng sinh, ta cần phải thành thật về những giới hạn của bản thân ta và nhận ra rằng chúng ta có ít năng lực hay khả năng để công cuộc giúp đỡ chúng sinh được giải thoát thực sự có hiệu quả. Để trở nên hữu hiệu trong việc giúp đỡ này, ta phải thành tựu Phật quả hay ít nhất, đạt được quả địa Bồ Tát nào đó. Ở những cấp độ cao cấp này chúng ta đạt được khả năng hiển lộ để dẫn dắt chúng sinh ra khỏi màn vô minh của họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Thái độ vị tha được gọi là Bồ đề tâm Tương đối; khát nguyện phát triển Bồ đề tâm này là nền tảng của thực hành Đại thừa và là Pháp khí cho mọi đức hạnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Một phương pháp để phát triển Bồ đề tâm được gọi là Tong len, có nghĩa đen là “cho và nhận.” Thái độ ở đây là: mỗi người trong chúng ta chỉ là một chúng sinh, trong khi chúng sinh trong vũ trụ thì vô số. Nếu như một chúng sinh có thể nhận lãnh mọi nỗi khổ của mọi chúng sinh trong vũ trụ và giải thoát mỗi một và mọi chúng sinh khỏi đau khổ thì đó không phải là một mục tiêu xứng đáng hay sao? Vì thế chúng ta kiên quyết nhận vào mình toàn bộ nỗi khổ này để cất đi nỗi khổ của tất cả chúng sinh, thậm chí nỗi khổ mới chớm hay tiềm tàng của họ, và mọi nguyên nhân của những nỗi khổ đó. Đồng thời chúng ta phát triển thái độ hiến tặng cho chúng sinh mọi đức hạnh, hạnh phúc, sức khỏe, của cải và khả năng để được trường thọ của ta. Mọi sự chúng ta vui hưởng, mọi điều cao quý hay xứng đáng, tích cực hay hạnh phúc trong hoàn cảnh của ta, ta hiến tặng một cách vô vị kỷ cho mỗi một chúng sinh. Vì thế pháp thiền định về điều này là tự nguyện nhận vào mình mọi khuynh hướng tiêu cực bám chấp vào những gì ta mong muốn cho bản thân và không để ý tới người khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta phát triển một sự cảm thông sâu xa với mọi sinh loài. Phương pháp cho và nhận là một phương cách hữu hiệu nhất để phát triển động lực của Bồ Tát.</p>
<p style="text-align: justify;">Cho tới nay, loại bi mẫn mà ta đã mô tả được gọi là “lòng bi mẫn có liên quan tới chúng sinh.” Tuy nhiên, một thái độ nhị nguyên vẫn còn vướng vất ở đây, bởi ta vẫn bị mắc kẹt bởi ba ý niệm (1) bản thân ta kinh nghiệm lòng bi mẫn, (2) chúng sinh là các đối tượng của lòng bi mẫn, và (3) hành vi thực sự của việc cảm thấy bi mẫn nhờ hiểu biết hay nhận thức về nỗi khổ của chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Khuôn khổ này chuẩn bị con đường của chúng ta trong Đại thừa. Một khi loại bi mẫn này được thiết lập, chúng ta đi tới một hiểu biết thứ hai: Sự nhận thức bắt đầu phát triển rằng bản ngã đang cảm nhận lòng bi mẫn, những đối tượng của lòng bi mẫn, và tự thân lòng bi mẫn, tất cả đều có một ý nghĩa huyễn hóa nào đó. Ta thấy rằng ba phương diện này thuộc vào một thực tại quy ước, không tuyệt đối. Tự thân chúng không là gì hết, mà chỉ là những ảo tưởng tạo nên hình tướng của một khuôn khổ nhị nguyên. Việc nhận thức những ảo tưởng này và bằng cách đó thấu hiểu tánh Không đích thực của mọi hiện tượng và kinh nghiệm là điều chúng ta gọi là “lòng bi mẫn liên quan tới mọi hiện tượng.” Đây là con đường chính yếu của thực hành Đại thừa.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ loại bi mẫn thứ hai này, loại bi mẫn thứ ba “lòng bi mẫn không-có sự liên quan” (không quy chiếu) phát triển. Ở đây chúng ta hoàn toàn vượt lên bất kỳ mối quan tâm nào liên quan tới chủ thể/đối tượng. Chính kinh nghiệm tối hậu dẫn tới Phật quả. Tất cả ba cấp độ bi mẫn này được nối kết, vì thế nếu chúng ta bắt đầu với cấp độ nền tảng bằng cách phát triển lòng từ và bi đối với mọi sinh loài thì chúng ta đặt được nền móng bảo đảm rằng con đường của chúng ta sẽ dẫn thẳng tới Giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Pháp Thứ Ba: Con Đường Xua tan Vô minh</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Pháp thứ ba của Đức Gampopa nói rằng bằng cách du hành trên Con Đường, vô minh của ta bị xua tan. Ở đây chủ đề chính yếu của giáo lý là kinh nghiệm về tánh Không – sự chứng ngộ bản tánh tối hậu của tâm. Trong thiền định chúng ta nhận ra rằng tâm ta và mọi kinh nghiệm mà nó phóng chiếu thì không có thực tự nền tảng: chúng hiện hữu một cách quy ước, nhưng không hiện hữu trong một ý nghĩa tuyệt đối. Sự Chứng ngộ tánh Không này được gọi là Bồ đề tâm Tuyệt đối.</p>
<p style="text-align: justify;">Ta có thể tìm thấy sự tương đồng giữa đại dương và tâm, là cái gì trống không tự bản chất, không có những đặc tính giới hạn hay thực tại tuyệt đối. Tuy nhiên, tâm trống không này có sự phóng chiếu của nó, là toàn bộ thế giới hiện tượng. Thân tướng (sắc), âm thanh, hương, vị, sự xúc chạm (xúc), và những tư tưởng sâu xa, tạo thành những gì chúng ta kinh nghiệm tương ứng với những con sóng trên mặt đại dương. Nhờ thiền định, một khi ta nhận ra rằng bản tánh của tâm thì trống không tự nền tảng, ta tự động thấu hiểu rằng những phóng chiếu của tâm cũng trống không tự nền tảng. Những phóng chiếu này giống như những con sóng xuất hiện từ đại dương và lặng chìm vào đại dương: chúng chưa từng xa lìa đại dương. Mặc dù chúng ta có thể có một sự hiểu biết nào đó rằng tâm trống không tự bản chất, có thể ta sẽ gặp khó khăn khi liên kết ý tưởng này với sự hiện hữu hiện tượng. Một ví dụ có thể ích lợi cho ta. Ngay lúc này đây chúng ta có một thân thể vật lý, và trong đời sống khi thức của ta, chúng ta hết sức bám luyến vào thân xác đó. Chúng ta coi nó như thật có, một thực thể tự-hiện hữu. Nhưng trong các giấc mộng, chúng ta sống trong một loại thân thể khác, và kinh nghiệm một trạng thái hiện hữu khác. Một hiện hữu hoàn toàn có tính chất hiện tượng được kết hợp với “thân mộng” này. Chúng ta nhìn, nghe, ngửi, xúc chạm, cảm xúc, suy nghĩ và truyền đạt – ta kinh nghiệm một thế giới trọn vẹn. Nhưng khi ta thức dậy thì rõ ràng là thế giới của giấc mộng không có thực tại tuyệt đối (không có sự xác thực tuyệt đối). Dứt khoát là nó không ở trong thế giới bên ngoài như chúng ta biết nó, cũng không ở trong phòng nơi ta ngủ, mà cũng chẳng ở trong thân thể ta; không thể tìm thấy nó ở bất kỳ nơi đâu. Khi giấc mộng trôi qua, sự ‘xác thực’ (thực tại) của nó biến mất một cách tự nhiên – nó chỉ là một phóng chiếu của tâm. Ta khá dễ dàng hiểu được điều này trong mối liên hệ với trạng thái mộng. Một điều ta cũng phải hiểu rõ là kinh nghiệm của ta trong trạng thái thức thì có cùng bản tánh nói chung và xảy ra qua một tiến trình tương tự.</p>
<p style="text-align: justify;">Những Đại thành tựu giả như Tilopa và Naropa ở Ấn Độ, hay Marpa và Milarepa ở Tây Tạng, có thể thực hiện những biến hóa kỳ diệu trong thế giới hiện tượng. Các ngài có thể làm như thế bởi các ngài đã chứng ngộ toàn bộ thế giới hiện tượng thì trống không tự bản chất và là một phóng chiếu của tâm. Nhờ chứng ngộ điều này các ngài đã hiển lộ những điều thần diệu và thực sự biến hóa được thế giới hiện tượng. Sự chuyển hóa như thế không thể xảy ra khi tâm thức chúng ta bám níu vào bất kỳ những gì ta kinh nghiệm như tuyệt đối có thật và không thể biến đổi được.</p>
<p style="text-align: justify;">Giai đoạn hiện tại của hiện hữu của ta chấm dứt trong cái chết, khi nghiệp hướng dẫn tiến trình của sự hiện hữu vật lý này bị cạn kiệt.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào lúc chết có một sự tách lìa rõ ràng và dứt khoát tâm thức ra khỏi thân thể vật lý, là cái đơn thuần bị vứt bỏ. Điều vẫn còn tiếp tục là tâm thức cá nhân, tâm của ta đi vào kinh nghiệm bardo. Trong trạng thái sau-cái chết đó, chúng ta kinh nghiệm loại thế giới hiện tượng khác. Mặc dù không có một nền tảng cơ thể vật lý, tâm thức có thể nhìn, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, suy nghĩ và nhận thức không khác gì cách nó đang làm hiện nay. Mặc dù không là gì ngoài một trạng thái tâm thức, tâm tiếp tục đi theo những tập quán của nó và hiển lộ theo những khuôn mẫu nhất định. Vì thế sự xác quyết theo thói quen của ta rằng kinh nghiệm thì thật có một cách tuyệt đối sẽ tiếp tục sau cái chết của thân xác, và những gì xảy ra ở đó thì giống như trong trạng thái mộng và tâm khi ta thức.</p>
<p style="text-align: justify;">Một câu chuyện về một tu sĩ ở Tây Tạng minh họa cho điều này. Gần nhà tôi ở Tây Tạng có tu viện Dzogchen thuộc phái Nyingma. Một tu sĩ của tu viện này quyết định không muốn ở đó nữa mà thích đi vào lãnh vực kinh doanh hơn. Ông ra đi và tới miền bắc của vùng đó, trở thành một thương gia với hy vọng tích lũy được nhiều của cải. Thậm chí ông trở nên khá thành công. Bởi mối quan hệ trước đó của ông ta với một tu viện nên ở một mức độ nào đó, ông cũng được coi là một giáo thọ, vì thế ông có một nhóm đệ tử cũng như thâu thập được của cải qua việc kinh doanh.</p>
<p style="text-align: justify;">Một hôm ông gặp một thầy phù thủy có thể thực hiện một quyền năng nào đó đối với con người. Người thương gia không nhận ra năng lực của người này, và thầy phù thủy ếm bùa chú khiến người thương gia trải nghiệm việc có những đứa con; ông ta có một điền trang rộng lớn và một gia đình để chăm sóc, và trải qua cả đời theo cách sống như thế rồi già đi với mái tóc bạc trắng và hàm răng lưa thưa. Sau đó ảo tưởng tan biến: ông ta trở lại như cũ, và như thể mới chỉ một hay hai ngày trôi qua. Trong thời gian đó thầy phù thủy đã lấy cắp mọi thứ của ông. Người thương gia tỉnh dậy và không còn lấy một xu. Ông ta chỉ còn ký ức về ảo tưởng lâu dài của mình về những hoạt động, sự xao lãng và kế hoạch của một đời người.</p>
<p style="text-align: justify;">Giống như ảo tưởng của người thương gia, những kinh nghiệm hàng ngày của riêng ta có tính chất huyễn hóa. Kinh điển Đại thừa có dạy rằng mọi sự như ánh trăng trên mặt nước: mọi sự ta kinh nghiệm chỉ có một thực tại (sự xác thực) quy ước và về mặt cơ bản thì không thật có.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta kinh nghiệm Pháp thứ ba của Đức Gampopa khi trước tiên, ta xác quyết rằng ta phải xua tan vô minh của ta bằng cách thấu hiểu và kinh nghiệm sự trống không (tánh Không) cốt tủy của tâm, và kế đó, khi tánh Không này khám phá ra bản tánh huyễn hóa của mọi hiện tượng; khi đó Con Đường xua tan vô minh.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Pháp Thứ Tư: Vô minh Xuất hiện như Giác tánh Nguyên sơ</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Pháp thứ tư của Đức Gampopa là sự chuyển hóa vô minh thành Giác tánh Nguyên sơ. Sự chuyển hóa nền tảng này được thực hiện trên cấp độ Anuttarayogatantra, cấp độ cao nhất trong bốn cấp độ của giáo lý Kim Cương thừa.</p>
<p style="text-align: justify;">Giải thích sự chuyển hóa này một cách lý thuyết thì không khó. Trong một trạng thái bình thường giác tánh bị ngăn che và mê lầm; nếu chúng ta nhận ra bản tánh của tâm, khi ấy ta kinh nghiệm Giác tánh Nguyên sơ. Tuy nhiên, trên một bình diện thực tiễn, điều này không tự động xảy ra: ta cần phải có một loại phương tiện thiện xảo nào đó. Để chuyển hóa sự lan man thành giác tánh giác ngộ, ta sử dụng rất nhiều kỹ thuật sẵn có trong Kim cương thừa, đặc biệt là các giai đoạn Phát triển và Thành tựu của thiền định.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong hoàn cảnh hiện tại của chúng ta là những chúng sinh không giác ngộ, ba năng lực thân, ngữ, và tâm của ta bị vô minh căn bản ngăn che. Để chuyển hóa vô minh đó thành giác tánh, ta phải trở nên tỉnh giác về thân, ngữ, và tâm, vì thế trong Kim Cương thừa chúng ta sử dụng chính những năng lực này của toàn bộ con người chúng ta để thực hiện một sự chuyển hóa trọn vẹn.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi quán sát thân thể vật lý của ta, có thể thấy ta bị dính mắc vào nó như cái gì thường hằng, thanh tịnh và thực có ra sao. Tuy nhiên thân thể vật lý này thì nhất thời, được kết hợp bởi vô số chất thể bất tịnh và hư thối. Nó có thực một cách quy ước, không tuyệt đối.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự bám chấp vào thân thể theo tập quán và bản năng của ta làm ngăn trở sự xuất hiện của Giác tánh Nguyên sơ. Ta phải đi tới chỗ nhận ra rằng thân thể này chỉ là cái gì đó xuất hiện và không có tự-tánh. Được dựa trên những phóng chiếu của tâm, thân thể tượng trưng cho tinh túy của phương diện thân (sắc tướng) của tâm thức. Cho tới khi ta nhận ra điều này, sự chuyển hóa vô minh thành Giác tánh Nguyên sơ sẽ không xảy ra một cách tự nhiên. Trong thực hành Mật thừa, thân thể được chuyển hóa nhờ một thiền định làm cho ta đồng nhất với một thân tướng thanh tịnh hay giác ngộ, chẳng hạn như Đức Chenrezi (Quán Thế Âm), Bồ Tát của lòng Bi mẫn. Ở đây ta để sang một bên sự bám chấp vào thân thể của riêng ta và thay vào đó đồng nhất hóa với một thân tướng thanh tịnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi thực hiện điều đó, điều cũng cần thiết là phải nhận thức rằng ở một cách thế nào đó Bổn tôn là sự xuất hiện thanh tịnh và không có chút thực chất nào. Trong thiền định chúng ta trở nên hoàn toàn đồng nhất với thân tướng này, là cái gì trống không, không vững chắc, không có tự-tánh hay thực tại tối hậu siêu vượt hình tướng thanh tịnh của nó. Kinh nghiệm này được gọi là “<em>Sự Hợp nhất của Hình tướng và tánh Không.”</em></p>
<p style="text-align: justify;">Một chuyển hóa như thế được đặt nền trên sự thấu hiểu rằng mọi kinh nghiệm của ta là một phóng chiếu chủ quan của tâm, và vì thế thái độ của ta đối với các sự vật thì dứt khoát. Nhờ thay đổi thái độ của ta, chúng ta thay đổi kinh nghiệm, và khi ta thiền định theo cách đã được mô tả, sự chuyển hóa có thể xảy ra. Điều này đặc biệt là chân thật khi ta tập trung vào một thân tướng giác ngộ chẳng hạn như Bồ Tát của lòng Bi mẫn. Tự thân hình ảnh của Đức Chenrezi là một biểu lộ thực sự của trạng thái bi mẫn giác ngộ. Nó không phải là một sự tạo tác. Thực sự có một đấng giác ngộ được gọi là Chenrezi, có thể ban ân phước và sự thành tựu. Để kinh nghiệm điều này, ta phải hội tụ những điều kiện nào đó. Nó cũng tương tự như việc chụp hình cho một người nào đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Ta cho phim vào máy hình, hướng máy vào người đó và chụp một tấm hình. Hình ảnh của người ấy được chiếu vào phim, và khi rửa ảnh thì ta có một tấm hình của người ấy. Điều tương tự xảy ra khi ta thiền định về một thân tướng giác ngộ. Có một biểu lộ “bên ngoài” được gọi là Chenrezi. Nhờ các nỗ lực của ta trong thiền định, ta đi tới chỗ đồng nhất với thân tướng thanh tịnh này, có niềm tin ở thân tướng đó, và chứng ngộ lòng bi mẫn nội tại và trạng thái của giác tánh mà Đức Chenrezi tượng trưng. Theo cách này chúng ta có thể trở thành một “bản sao” của Bổn tôn và nhận được sự gia hộ của Bồ Tát của lòng Bi mẫn. Đây là phương diện thứ nhất của sự chuyển hóa vô minh thành Giác tánh Nguyên sơ được đặt nền trên thiền định về thân thể ta như một thân tướng giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Phương diện thứ hai của sự chuyển hóa liên quan tới ngữ (lời nói) của ta. Mặc dù có thể dễ dàng cho rằng ta không thể nắm bắt được ngữ, cho rằng ngữ chỉ đơn giản xuất hiện và biến mất, nhưng chúng ta thực sự gắn liền với nó như cái gì thật có. Đó là bởi chúng ta trở nên dính mắc vào điều ta nói và nghe tới nỗi ngữ có năng lực như thế. Lời nói đơn thuần, là cái gì không có thực tại tối hậu (không tuyệt đối xác thực), lại có thể quyết định hạnh phúc và đau khổ của ta. Chúng ta tạo nên niềm vui và nỗi khổ bằng cách bám chấp nền tảng vào âm thanh và ngôn ngữ.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong bối cảnh Kim Cương thừa, chúng ta trì tụng và thiền định về thần chú, là âm thanh giác ngộ, ngữ của Bổn tôn, sự Hợp nhất của Âm thanh và tánh Không. Thần chú không có thực chất mà chỉ là sự hiển lộ của âm thanh thuần tịnh, được kinh nghiệm đồng thời với tánh Không của nó. Nhờ thần chú, chúng ta không còn bám chấp vào thực tại của ngữ và âm thanh ta gặp trong cuộc đời nữa mà kinh nghiệm nó như trống không tự bản chất. Khi đó sự vô minh của phương diện ngữ của ta được chuyển hóa thành giác tánh giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước hết, sự Hợp nhất Âm thanh và tánh Không chỉ đơn giản là một khái niệm tri thức của điều mà thiền định của chúng ta hướng tới. Nhờ sự áp dụng tiếp theo sau, nó trở thành kinh nghiệm thực sự của ta. Ở đây, như ở nơi khác trong thực hành, thái độ thì hết sức quan trọng, như câu chuyện này về một vị Thầy ở Tây Tạng minh họa. Vị Thầy có hai đệ tử, cả hai đã cam kết thực hiện một trăm triệu lần trì tụng thần chú OM MANI PADME HUNG của Đức Chenrezi. Trước sự hiện diện của vị Thầy, họ nguyện sẽ thực hiện cam kết, và ra đi để hoàn tất thực hành này.</p>
<p style="text-align: justify;">Một trong hai đệ tử hết sức tinh tấn, mặc dù có lẽ nhận thức của anh ta không sâu sắc lắm. Anh bắt đầu để hoàn tất thực hành càng nhanh càng tốt và liên tục trì tụng thần chú cả ngày lẫn đêm. Sau những nỗ lực lâu dài, trong ba năm anh đã hoàn tất một trăm triệu lần trì tụng. Người đệ tử kia cực kỳ thông minh, nhưng có lẽ không tinh tấn bằng, bởi chắc chắn là anh ta không lao vào thực hành với nhiệt tâm tương tự. Khi bạn của anh sắp sửa hoàn tất khóa nhập thất, người đệ tử thứ hai vẫn còn rất nhiều thần chú chưa trì tụng. Anh đi lên một đỉnh đồi, ngồi xuống và bắt đầu thiền định rằng tất cả chúng sinh đầy khắp vũ trụ được chuyển hóa thành Đức Chenrezi. Anh thiền định rằng âm thanh của thần chú không chỉ xuất phát từ miệng của mỗi một và mọi chúng sinh, mà mỗi vi trần trong thế giới đang rung động với âm thanh đó, và trong một ít ngày anh đã trì tụng thần chú trong trạng thái thiền định này.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi hai đệ tử đi tới gặp Lạt ma của họ để trình bày là họ đã hoàn tất thực hành, ngài nói: “Ồ, cả hai  con đã thực hành thật xuất sắc. Con rất tinh tấn, còn con thì rất thông tuệ. Cả hai con đã thành tựu một trăm triệu lần trì tụng thần chú.”</p>
<p style="text-align: justify;">Như thế nhờ chuyển hóa thái độ và phát triển sự hiểu biết của ta, thực hành trở nên hiệu quả nhiều hơn nữa.</p>
<p style="text-align: justify;">Thần chú Sáu-Âm của Đức Chenrezi, <strong><em>OM MANI PADME HUNG</em></strong>, là một biểu lộ của sự ban phước và năng lực giác ngộ của Đức Chenrezi. Sáu âm được kết hợp với những phương diện khác nhau của kinh nghiệm của chúng ta: sáu phiền não nền tảng trong tâm được chuyển hóa, sáu phương diện của Giác tánh Nguyên sơ được chứng ngộ. Sáu âm và sáu phương diện này thuộc về mạn đà la của sáu Bộ Phật khác nhau hiển lộ trong tâm giác ngộ. Thần chú của Đức Chenrezi có năng lực thực hiện những sự chuyển hóa trên tất cả những cấp độ này.</p>
<p style="text-align: justify;">Cách thức khác để giải thích thần chú này là âm OM là cốt tủy của thân giác ngộ; MANI PADME, bốn âm giữa, tượng trưng cho ngữ của sự Giác ngộ; và âm cuối cùng HUNG tượng trưng cho tâm của sự Giác ngộ. Thân, ngữ, và tâm của tất cả chư Phật và Bồ Tát thì sẵn có trong âm thanh của thần chú này. Nó tịnh hóa những chướng ngại của thân, ngữ, và tâm, và đưa tất cả chúng sinh tới trạng thái Chứng ngộ. Khi thần chú được kết hợp với niềm tin và những nỗ lực của riêng ta trong thiền định và việc trì tụng, năng lực chuyển hóa của thần chú xuất hiện và phát triển. Nó thực sự có thể tịnh hóa bản thân ta theo cách này.</p>
<p style="text-align: justify;">Phương diện tâm của các trung tâm thiền định Chenrezi ở trong vùng tim, nơi thần chú và chủng tự HRIH an vị. Ánh sáng được quán tưởng như xuất phát từ thần chú và chủng tự này và cúng dường tất cả chư Phật, tịnh hóa những che chướng của tất cả chúng sinh, và an lập họ trong sự Giác ngộ. Phương diện tâm cũng được nối kết với thiền định không hình tướng, chỉ đơn giản đặt tâm trong bản tánh trống không của riêng nó. Sau khi thực hành điều này một vài lần, một sự biến chuyển sẽ xảy ra: ta sẽ có kinh nghiệm rằng bất kỳ điều gì xuất hiện trong tâm, bất kỳ cảm xúc hay tư tưởng nào cũng đều xuất hiện từ tánh Không và tan hòa vào tánh Không. Trong khoảng thời gian đó chúng ta không ở đâu khác ngoài tánh Không. Trong trạng thái này, chúng ta kinh nghiệm tâm như sự Hợp nhất của Giác tánh và tánh Không. Đây là Mahamudra (Đại Ấn).</p>
<p style="text-align: justify;">Như vậy ba nhánh thiền định Chenrezi sử dụng các thiền định có liên quan tới thân, ngữ, và tâm. Vào cuối của một thời khóa thực hành, sự quán tưởng tan hòa vào một trạng thái không hình tướng, và chúng ta chỉ an trụ tâm một cách bình thản trong bản tánh của riêng nó. Vào lúc này, chúng ta có thể kinh nghiệm thân, ngữ, và tâm như xuất hiện từ tâm nền tảng, trống không. Chúng ta nhận ra tâm này là phương diện căn bản và thân và ngữ là những phóng chiếu thứ yếu được đặt nền trên tâm thức. Điều này tượng trưng cho sự tụ hội của mọi phương diện của kinh nghiệm của chúng ta vào tâm này, chúng ta đã chứng ngộ Pháp thứ tư của Đức Gampopa: vô minh xuất hiện như giác tánh nguyên sơ./.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>The Four Dharmas of Gampopa. The Dharma: That Illuminates All Beings Impartially Like the Light of the Sun and the Moon </em></strong><em>(SUNY Albany Press) by Kalu Rinpoche [Bốn Pháp của Gampopa. Giáo Pháp Soi sáng Mọi Chúng sinh Một cách Vô tư Như Ánh sáng Mặt Trời và Mặt Trăng (Nhà Xuất bản SUNY Albany)]  Nguyên tác : “T<strong>he Four Dharmas of Gampopa,</strong> with commentary by Dorje Chang Kalu Rinpoche” http://www.simhas.org/teaching9.html</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/luan-giang-cua-kalu-rinpoche-ve-bon-phap-cua-gampopa/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đi vào cửa Pháp</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/di-vao-cua-phap/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/di-vao-cua-phap/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 06 Sep 2015 18:46:13 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Kagyu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=4611</guid>
		<description><![CDATA[Đức Milarepa Dù khổ đau trong Đại dương Sinh tử Được thuyết giảng, và việc rời bỏ nó được thôi thúc Nhưng chẳng mấy ai thực sự bị thuyết phục Và quyết tâm từ bỏ Sinh tử. Dù biết rằng cuộc đời đó chỉ dẫn đến cái chết, Không mấy ai cảm thấy bất an hay nghĩ rằng nó sẽ&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/di-vao-cua-phap/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<h4 style="text-align: center;">Đức Milarepa</h4>
<h4 style="text-align: center;">Dù khổ đau trong Đại dương Sinh tử</h4>
<h4 style="text-align: center;">Được thuyết giảng, và việc rời bỏ nó được thôi thúc</h4>
<h4 style="text-align: center;">Nhưng chẳng mấy ai thực sự bị thuyết phục</h4>
<h4 style="text-align: center;">Và quyết tâm từ bỏ Sinh tử.</h4>
<h4 style="text-align: center;"></h4>
<h4 style="text-align: center;">Dù biết rằng cuộc đời đó chỉ dẫn đến cái chết,</h4>
<h4 style="text-align: center;">Không mấy ai cảm thấy bất an hay nghĩ rằng nó sẽ chấm dứt.</h4>
<h4 style="text-align: center;">Dù đời họ có những viễn cảnh tốt lành,</h4>
<h4 style="text-align: center;">Chẳng mấy ai có thể giữ gìn giới hạnh trong một ngày.</h4>
<h4 style="text-align: center;"></h4>
<h4 style="text-align: center;">Dù Hỉ Lạc của Giải thoát được giảng dạy,</h4>
<h4 style="text-align: center;">Và khổ đau của Sinh tử được nhấn mạnh</h4>
<h4 style="text-align: center;">Chẳng mấy ai có thể thực sự đi vào cửa Pháp.</h4>
<h4 style="text-align: center;"></h4>
<h4 style="text-align: center;">Dù những Giáo huấn Cốt tủy Sâu xa</h4>
<h4 style="text-align: center;">Của Dòng Nhĩ truyền được ban tặng không giới hạn</h4>
<h4 style="text-align: center;">Chẳng mấy ai dứt khoát thực hành chúng.</h4>
<h4 style="text-align: center;"></h4>
<h4 style="text-align: center;">Dù giáo lý Đại Ấn được truyền dạy</h4>
<h4 style="text-align: center;">Và biểu thị trực chỉ được sử dụng,</h4>
<h4 style="text-align: center;">Chẳng mấy ai thấu hiểu Cốt tủy của Tâm.</h4>
<h4 style="text-align: center;"></h4>
<h4 style="text-align: center;">Người ta có thể luôn luôn khao khát</h4>
<h4 style="text-align: center;">Cuộc đời ẩn sĩ và ước nguyện của Đạo sư</h4>
<h4 style="text-align: center;">Nhưng chẳng mấy ai có thể đưa chúng vào thực hành.</h4>
<h4 style="text-align: center;"></h4>
<h4 style="text-align: center;">Con đường thiện xảo, viên mãn của Naropa</h4>
<h4 style="text-align: center;">Có thể được biểu lộ, không hề che dấu</h4>
<h4 style="text-align: center;">Nhưng những người có thể thực sự theo đuổi nó</h4>
<h4 style="text-align: center;">Thì vô cùng ít ỏi, hỡi con yêu quý.</h4>
<h4 style="text-align: center;"></h4>
<h4 style="text-align: center;">Hãy đi theo bước chân ta</h4>
<h4 style="text-align: center;">Nếu con muốn làm điều gì xứng đáng</h4>
<h4 style="text-align: center;">Trong cuộc đời này.</h4>
<h4 style="text-align: center;">Nguyên tác <strong>“Entering The Dharma Gate”</strong> của Milarepa</h4>
<h4 style="text-align: center;"><a href="http://viewonbuddhism.org/resources/texts.html">http://viewonbuddhism.org/resources/texts.html</a></h4>
<p>Việt ngữ : Thanh liên</p>
<h4 style="text-align: center;"></h4>
<h4 style="text-align: center;"><strong> </strong></h4>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/di-vao-cua-phap/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
