<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Shangpa Kagyu</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-kagyn/shangpa/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Fri, 17 Apr 2026 16:09:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Con tàu giải thoát chúng sinh</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/shangpa/con-tau-giai-thoat-chung-sinh/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/shangpa/con-tau-giai-thoat-chung-sinh/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 17 May 2022 06:38:40 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kinh sách Shangpa]]></category>
		<category><![CDATA[Shangpa Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Shangpa]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11158</guid>
		<description><![CDATA[Ôi Đức Vajradhara(1) và hai dakini hiện thân sự nhận thức nguyên sơ, Khyungpo Naljor,(2) các Đạo sư gốc và Đạo sư dòng truyền thừa, Ôi Samvara, Hevajra, Guhyasamaya, và Mahamaya, Ôi các dakini của năm bộ, Đấng Bảo hộ Hành động - Nhanh chóng và Remati, Bốn thị giả vâng lời và tập hội như đại dương những vị&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/shangpa/con-tau-giai-thoat-chung-sinh/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Ôi Đức Vajradhara(1) và hai dakini hiện thân sự nhận thức nguyên sơ,<br />
Khyungpo Naljor,(2) các Đạo sư gốc và Đạo sư dòng truyền thừa,<br />
Ôi Samvara, Hevajra, Guhyasamaya, và Mahamaya,<br />
Ôi các dakini của năm bộ, Đấng Bảo hộ Hành động - Nhanh chóng và Remati,<br />
Bốn thị giả vâng lời và tập hội như đại dương những vị bảo hộ kết buộc lời thệ nguyện,<br />
Mọi suối nguồn của sự quy y, Tam Bảo và Tam Căn,(3)<br />
Con khẩn cầu, xin nghĩ tưởng tới con từ phạm vi của sự vô hình.</p>
<p>Nhờ năng lực của chân lý trong sự gia hộ và lòng bi mẫn của ngài<br />
Và nhờ năng lực của mọi đức hạnh mà con tích tập trong ba thời,<br />
Con khẩn cầu, xin nhanh chóng đáp ứng mọi ước nguyện con biểu lộ<br />
Trong đời này và mọi cuộc đời sắp tới của con.</p>
<p>Sự sinh ra cao quý, tự do và thuận lợi này thật khó có được.<br />
Cầu mong con không lãng phí mà sử dụng nó một cách có ý nghĩa.<br />
Trong việc quán chiếu về những điều phù du, không bền vững, và biến đổi,<br />
Nguyện con không màng đến sự nhàn nhã và cắt đứt những mối bận tâm.</p>
<p>Bằng cách đi đến chỗ nhận thức sâu sắc những kết quả của thiện hạnh và ác hạnh, bất kể tầm quan trọng của chúng,<br />
Nguyện con có thể duy trì những hoạt động của nhân và quả.<br />
Bằng cách thấu hiểu nỗi khổ trong ba cõi sinh tử,<br />
Nguyện con phát triển sự xả ly để lìa bỏ phạm vi sinh tử luân hồi,</p>
<p>Trong đời này, trong những đời sau, và trong bardo,(4) trong mọi lúc,<br />
Nguyện con và những người khác tìm ra nơi trú ẩn trong việc quy y Tam Bảo và Tam Căn.<br />
Nguyện lòng từ và bi phát khởi tận đáy lòng con<br />
Đối với tất cả sáu loài chúng sinh, những cha mẹ của con, bao la như bầu trời vô hạn.</p>
<p>Ở một chốn không người trong núi non, nơi có đủ mọi điều kiện thuận lợi<br />
Nguyện con nhất tâm thực hành và đạt được chóp đỉnh của kinh nghiệm và chứng ngộ.<br />
Nguyện các Lạt ma linh thánh phú tặng những năng lực viên mãn<br />
Xin đoái tưởng tới con trong mọi cuộc đời sắp tới.</p>
<p>Nguyện trong tim con phát khởi lòng tôn kính và sùng mộ không giả tạo<br />
Đối với Lạt ma gốc (Bổn sư), thân tướng thực sự của Đức Phật.<br />
Mạn đà la của các Bổn Tôn xuất hiện tự nhiên và luôn luôn hiện diện;<br />
Khi hiểu rằng con là mạn đà la này, nguyện con củng cố hình tướng chói lọi của nó.<br />
Chỉ bằng cách thực hiện các thực hành nghi lễ của các Lạt ma, Bổn Tôn, dakini và vị bảo hộ,<br />
Nguyện con diện kiến các ngài thật rõ ràng.</p>
<p>Với hỉ lạc và hơi ấm không thể cưỡng nổi hừng hực trong thân con<br />
Nguyện thiền định về lạc không được củng cố trong tâm con.<br />
Nhờ thấu hiểu rằng mọi hiện tượng như những giấc mộng và mê hoặc<br />
Nguyện sự mê lầm và bám chấp vào các ý niệm về thực tại hoàn toàn bị tiêu diệt.<br />
Vào ban đêm nguyện con nhận ra rõ ràng trạng thái mộng mà không cần nỗ lực<br />
Và thực hành sự tinh lọc, tăng trưởng, hóa hiện, chuyển hóa, và chính xác trong việc tri giác các đối tượng đặc biệt.</p>
<p>Trong bóng tối sâu dày của vô minh, ngu si và giấc ngủ<br />
Nguyện con nhận ra và trì giữ các trạng thái sâu xa và chói sáng của sự quang minh tuyệt đối,<br />
Nguyện con thông suốt những loại khác nhau của sự chuyển di,<br />
Pháp Thân, Lạt ma, Bổn Tôn, ánh sáng Pháp giới, cõi trời, và những thứ khác.<br />
Nhờ sự xuất hiện tự nhiên của mỗi một trong ba thân và bằng việc thực hành không trệch hướng<br />
Nguyện ba thân được thể nhập trong trạng thái hiện hữu trung gian.</p>
<p>Bốn lỗi lầm lắng dịu một cách tự nhiên, bốn thân hiện diện đầy đủ:<br />
Trong đời này nguyện con trực tiếp thấu suốt mahamudra (Đại Ấn), bản tánh của sự hiện hữu.<br />
Nhờ sự tôn kính và sùng mộ Lạt ma của con, nhờ hiểu rõ các hình tướng và âm thanh là các Bổn Tôn và thần chú,<br />
Và nhờ hiểu rằng các hình tướng và trạng thái tâm thì giống như những mê hoặc và giấc mộng,<br />
Nguyện con đưa mọi kinh nghiệm vào con đường tâm linh.</p>
<p>Nhờ các nữ hoàng tôn quý nhảy múa trong cõi lạc không<br />
Nguyện con thông suốt con đường phát triển và thành tựu và du hành tới cõi linh thiêng của các ngài.<br />
Thân xác tự nó không có sự sống, tâm thức thấu rõ sự bất sinh bất tử:<br />
Nguyện con trực tiếp thấu hiểu sự bất tử và kết quả không sai lạc.</p>
<p>Nguyện con nhìn thấy rõ ràng thân tướng cao quý của Lạt ma và vị bảo hộ là một<br />
Và đạt được thành tựu siêu việt và thành tựu bốn loại hoạt động.</p>
<p>Bằng phương tiện của các năng lực làm an định và gia hộ ngang bằng chư Phật,<br />
Nguyện con xua tan mọi bệnh tật và thống khổ của chúng sinh.<br />
Nguyện cuộc đời, công đức, năng lực, ảnh hưởng, kinh nghiệm, và sự hiểu biết trực tiếp của con<br />
Dâng trào như những con sông trong mùa mưa lũ.<br />
Để con là sự hỗ trợ tối hảo cho Giáo lý và chúng sinh<br />
Nguyện năng lực của con trải rộng khắp ba cõi và ba thế giới.<br />
Để có thể tiêu diệt những kẻ thù phát triển khắp mười lĩnh vực<br />
Nguyện sức mạnh và năng lực của con trong các thần chú phẫn nộ hừng hực như lửa đỏ.</p>
<p>Nguyện con và chúng sinh hoàn toàn tịnh hóa mọi hành vi bất thiện<br />
Mà chúng con đã mắc phạm, dù là sự bất thiện trong bản chất hay bởi việc thọ giới.</p>
<p>Nguyện con có thể làm cho nhiều chúng sinh được hạnh phúc<br />
Bằng cách hiến tặng họ của cải, Giáo Pháp, và sự an toàn.<br />
Nguyện con luôn luôn có thể duy trì các kỷ luật đức hạnh<br />
Của các giới nguyện giải thoát cá nhân (Biệt giải thoát) và sự thọ giới Bồ Tát và những hứa nguyện Kim Cương thừa.<br />
Ngay cả vì lợi lạc của một chúng sinh duy nhất, nguyện con nhẫn nại kham chịu<br />
Việc bằm nát thân con thành mười triệu mảnh trong vô số kiếp.<br />
Trong việc thực hành con đường siêu việt dẫn tới tự do cho tất cả chúng sinh<br />
Nguyện con cũng có sự kiên trì nồng nhiệt như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.<br />
Nguyện con củng cố sự tĩnh lặng, nội quán và thiền định vững chắc<br />
Trong Pháp Thân, hiện thể thuần tịnh của tâm, sự quang minh tuyệt đối không giới hạn.<br />
Nguyện con có một trí tuệ viên mãn như Đức Văn Thù<br />
Về mọi hiện tượng trong sinh tử và niết bàn.</p>
<p>Nguyện con viên mãn mọi Giáo Pháp mà con thực hành,<br />
Dù đó là Kinh điển hay Mật điển của Tân Phái hay Cựu Phái.<br />
Nguyện con có một thân tướng hảo hạng, ngôn ngữ du dương, một cuộc đời vinh quang,<br />
Năng lực và của cải, một trái tim từ ái, và cuốn hút tất cả những ai nhìn thấy con.</p>
<p>Nguyện con trở thành sáu viên bảo ngọc của thế giới và như tám người đánh xe<br />
Cho Giáo lý của Đấng Chiến Thắng và đặc biệt là dòng truyền thừa Shangpa.</p>
<p>Vào lúc chết, nguyện không có nỗi thống khổ,<br />
Với những cầu vồng và xá lợi xuất hiện, nguyện con là một người dẫn dắt chúng sinh.<br />
Ngay khi con lìa bỏ cuộc đời, nguyện con được sinh ra<br />
Trong Cõi Cực lạc trước sự hiện diện của Khyungpo và con cái ngài.<br />
Ngay khi con sinh ra ở đó, nguyện con thành tựu quả vị thứ mười (thập địa)<br />
Và sau đó đạt được giác ngộ siêu việt viên mãn.</p>
<p>Không ngơi nghỉ trong các trạng thái tận diệt của sự hiện hữu hay an bình,<br />
Nguyện con làm lợi ích tất cả chúng sinh như các Đấng Chiến Thắng và con cái của các ngài.<br />
Nguyện tất cả những ai có mối quan hệ với con<br />
Qua việc nhìn thấy, lắng nghe, hồi tưởng, xúc chạm, qua thực phẩm hay Giáo Pháp<br />
Được sinh trong hàng đệ tử đầu tiên được điều phục của con.<br />
Nguyện con đổ xuống một trận mưa giáo lý Đại thừa<br />
Và con đường trực tiếp của Kim Cương thừa trên tất cả những ai được điều phục.<br />
Cuối cùng, nguyện một mình con an lập<br />
Mỗi một và mọi chúng sinh trong Phật quả.<br />
Chừng nào con và những người khác chưa đạt được Phật quả<br />
Nguyện chúng con không gặp các chướng ngại về Giáo Pháp dù chỉ trong chốc lát.</p>
<p>Nguyện tất cả sáu loài chúng sinh nhận được<br />
Mọi hạnh phúc và đức hạnh mà con có.<br />
Trên nền tảng của hạnh phúc và đức hạnh đã có được như thế<br />
Nguyện họ luôn luôn hạnh phúc và hỉ lạc.<br />
Nguyện mọi hành vi bất thiện, che chướng và đau khổ mà chúng sinh có<br />
Được thẩm thấu trong con; nguyện con kinh nghiệm khổ đau.<br />
Bởi con kinh nghiệm khổ đau đó, nguyện tất cả chúng sinh<br />
Không bao giờ gặp khổ đau, điều bất thiện hay sự che chướng.</p>
<p>Nhờ cảm hứng và gia hộ của Tam Bảo và Tam Căn,<br />
Nhờ sức mạnh và năng lực của các dakini, các vị bảo trợ và Hộ Pháp,<br />
Nhờ năng lực của điều bất biến và chân thực tối thượng<br />
Nguyện mọi ước nguyện mà con đã biểu lộ được đáp ứng nhanh chóng.</p>
<p>Con hồi hướng những hạt giống đức hạnh của sự hình thành các ước nguyện như thế<br />
Cho tất cả những bà mẹ của con như không gian vô hạn.<br />
Nguyện tất cả chúng con thoát khỏi đau khổ, đạt được hạnh phúc siêu phàm,<br />
Và đồng thành tựu Phật quả.</p>
<p>Lời cầu nguyện này được biên soạn vào năm Thổ Thìn (1928) bởi Karma Rangjung Kunchab (Kalu Rinpoche), người giữ vị trí cuối cùng trong dòng truyền thừa của Truyền thống Shangpa Vinh quang.</p>
<p style="text-align: justify;">Cầu mong lời nguyện này mang lại lợi ích to lớn cho chúng sinh.</p>
<p>MANGALAM</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Kalu Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Anh dịch: Kenneth I. McLeod </em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Thanh Liên</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguyên tác: The Chariot for Travelling the Path to Freedom – The Life Story of Kalu Rinpoche</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>(1) Vajradhara (Kim Cương Trì): hiển lộ của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong Kim Cương thừa. Ngài có sắc xanh dương và cầm một chày và chuông bắt chéo trên trái tim, tượng trưng cho sự hợp nhất của phương tiện thiện xảo và trí tuệ. Trong các truyền thống Kagyu và Shangpa Kagyu, đệ tử đồng nhất Lạt ma của họ với hiển lộ này của tâm giác ngộ.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>(2) Khyungpo Naljor: Đạo sư và học giả Tây Tạng thế kỷ mười một, người thiết lập truyền thống Shangpa Kagyu trên nền tảng các giáo lý ngài đã nhận từ Niguma, Sukhasiddhi và những vị Thầy khác ở Ấn Độ.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>(3) Tam Căn: Ba Cội gốc, đó là Guru (Đạo sư), cội gốc của các sự gia hộ; Yidam (Bổn Tôn), cội gốc của sự thành tựu; và Dakini, cội gốc của hoạt động giác ngộ.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>(4) Bardo: Theo “Giải thoát nhờ sự Lắng nghe Trong Trạng thái Trung gian” do Đức Liên Hoa Sanh biên soạn, có sáu bardo (trạng thái trung gian): bardo lúc chết, bardo kinh nghiệm thực tại, bardo tái sinh, bardo cuộc đời (hay bardo tâm thức bình thường khi thức), bardo thiền định và bardo giấc mộng.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/shangpa/con-tau-giai-thoat-chung-sinh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Đức Bokar Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-bokar-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-bokar-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 26 Sep 2015 13:29:23 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Shangpa Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Shangpa]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5945</guid>
		<description><![CDATA[Đức Bokar Rinpoche Đức Bokar Rinpoche sinh trưởng trong một gia đình du mục ở Tây Tạng. Năm lên 4 tuổi, Ngài được  Đức Pháp Vương Gyalwa Karmapa đời thứ 16 công nhận là Hóa thân của Đức Bokar Rinpoche đời trước.  Đức Bokar Rinpoche rời Tây Tạng năm hai mươi tuổi và cũng tại thời điểm đó Ngài đã&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-bokar-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/images-2.jpg"><img class="  wp-image-5947 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/images-2.jpg" alt="images (2)" width="311" height="435" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Đức Bokar Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Đức Bokar Rinpoche sinh trưởng trong một gia đình du mục ở Tây Tạng. Năm lên 4 tuổi, Ngài được  Đức Pháp Vương Gyalwa Karmapa đời thứ 16 công nhận là Hóa thân của Đức Bokar Rinpoche đời trước.  Đức Bokar Rinpoche rời Tây Tạng năm hai mươi tuổi và cũng tại thời điểm đó Ngài đã gặp vị thiền sư vĩ đại Kalu Rinpoche. Bắt đầu năm 1967, dưới sự hướng dẫn và chỉ đạo của Đức Kalu Rinpoche, Đức Bokar Rinpoche đã nhập thất ba năm, thực hành Sáu pháp Du già (Yoga) của Niguma. Sau đó, Ngài lại tiếp tục thực  hiện khóa nhập thất 3 năm nữa về Sáu pháp Du già (Yoga) của Naropa. Đức Bokar Rinpoche trở thành người đứng đầu các trung tâm nhập thất tại Sonada và sau đó Đức Pháp Vương bổ nhiệm Ngài làm người đứng đầu cơ sở nhập thất mới tại Rumtek. Do sở hữu những phẩm tính vượt trội và sự tỉnh giác sâu sắc, Đức Bokar Rinpoche được coi là người thừa kế tâm linh của Đức Kalu Rinpoche và vị hộ trì của Dòng truyền thừa Shangpa Kagyu.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/kalu-and-bokar-rinpoche.jpg"><img class="  wp-image-5948 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/kalu-and-bokar-rinpoche-210x300.jpg" alt="kalu-and-bokar-rinpoche" width="330" height="471" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Đức Kalu Rinpoche Đức </strong><strong>Bokar Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Tháng sáu năm 1996, Đức Bokar Rinpoche đã thiết lập và cung cấp khóa tu về toàn bộ các giai đoạn thiền định trong truyền thống Đại Thủ Ấn (Mahamudra) của dòng Karma Kagyu tại Hoa Kỳ. Theo những kinh nghiệm của Ngài đối với các môn đồ phương Tây, Đức Bokar Rinpoche đã thiết lập một khóa tu và chương trình kèm theo về thực hành thiền định để đáp ứng nhu cầu của các cư sĩ  Phật giáo chân thành. Khóa tu này vẫn cho phép các cư sĩ phương Tây liên quan đến gia đình và cộng đồng trong suốt thời khóa thực hành Phật Pháp bằng cách cam kết mỗi ngày thực hành một tiếng hoặc nhiều hơn đối với việc tu tập thực hành chính thức. Rinpoche nói: "Ngay từ đầu, cách tiếp cận của chúng tôi tại các buổi trao đổi Phật Pháp  là nhấn mạnh việc không từ bỏ công việc, gia đình … mà là để tích hợp thực hành hàng ngày vào lối sống của từng cá nhân”.  Thông qua chương trình này, hàng trăm môn đồ trên toàn thế giới đã thọ nhận các hướng dẫn Pháp bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Tạng và Trung Quốc trong các cuộc hội thảo hàng năm ở Ấn Độ, Pháp và Bắc Mỹ.</p>
<p style="text-align: justify;"><img class="  wp-image-5950 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/XW_01519-200x300.jpg" alt="XW_01519" width="298" height="447" /></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Sự tái sinh trở lại </strong><strong>Bokar Yangsi Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Đức Bokar Rinpoche đã thành lập một trung tâm nhập thất tại Mirik, Ấn Độ và sau đó là một tu viện, do sự thúc đẩy của các cộng đồng địa phương. Cả hai vẫn đang tiếp tục phát triển: Tu viện, hiện nay đang được mở rộng đáng kể và hệ thống phòng nhập thất ba năm thứ hai vừa mới được hoàn thành. Nổi danh với việc nhấn mạnh vào tầm quan trọng của các khóa nhập thất kéo dài, Đức Bokar Rinpoche cũng được biết đến là bậc trì giữ Dòng truyền thừa Kalachakra mà Ngài đã thọ nhận từ Đức Kalu Rinpoche cùng toàn bộ trao truyền Shangpa Kagyu.</p>
<p style="text-align: justify;"><img class="  wp-image-5949 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/2015.01.21-300x181.jpg" alt="2015.01.21" width="571" height="344" /></p>
<p style="text-align: center;"> <strong>Đức </strong><strong>Bokar Yangsi Rinpoche và Đạo sư Truyền thừa Karma Kagyu</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Đức Bokar Rinpoche viên tịch vào sáng ngày 17 tháng 8 năm 2004. Trong buổi tang lễ của Ngài có sự hiện diện của: Nhiếp Chính Vương Gyaltsap Rinpoche và các tu sĩ từ tu viện của Ngài, các tu sĩ từ  tu viện của Đức Pháp Vương Karmapa 16 tại Rumtek, Nhiếp Chính Vương Jamgon Kontrul Rinpoche, Đức Kalu Yangsi Rinpoche và Đức Drupon Rinpoche , người đã hộ tống Đức Karmapa ra khỏi Tây Tạng và nhiều vị Lạt ma khác. Rất nhiều Phật tử từ khắp nơi trên thế giới đã đến viếng Ngài. Sự hiện diện của Đức Bokar Rinpoche trong kiếp sống này đã được tất cả cả đệ tử châu Á và phương Tây mãi khắc ghi trong lòng.</p>
<p style="text-align: justify;"> http://www.kagyu.org/kagyulineage/teachers/tea13.php</p>
<p style="text-align: justify;">Việt  ngữ: Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính : Giác nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với </em><em>Đức </em><em>Bokar Yangsi Rinpoche</em>  <em>đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này Ngài sớm quang lâm đến Việt nam</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-bokar-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Cuộc đời phi thường của Kalu Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/cuoc-doi-phi-thuong-cua-kalu-rinpoche-2/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/cuoc-doi-phi-thuong-cua-kalu-rinpoche-2/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 17 Sep 2015 14:37:24 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Shangpa Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Shangpa]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5624</guid>
		<description><![CDATA[Đức Dilgo Rinpoche và Đức Kalu Rinpoche  Đức Kalu Rinpoche         Đức Dalai Lama 14 và Đức Kalu Rinpoche  Ebook: Cuoc Doi Phi Thuong Cua Kalu Rinpoche_TL_2008 &#160; &#160;]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Kalu_sc004e6eb0_1.jpg"><img class="  wp-image-5627 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Kalu_sc004e6eb0_1-300x283.jpg" alt="Kalu_sc004e6eb0_1" width="445" height="420" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Đức Dilgo Rinpoche và Đức Kalu Rinpoche </strong></p>
<p><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/images15.jpg"><img class="  wp-image-5636 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/images15.jpg" alt="images" width="356" height="503" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Đức Kalu Rinpoche </strong></p>
<p><img class="  wp-image-5628 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/KaluDaliLama-300x206.jpg" alt="KaluDaliLama" width="527" height="362" /></p>
<p style="text-align: center;"><strong>        Đức Dalai Lama 14 và Đức Kalu Rinpoche </strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Ebook: <a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Cuoc-Doi-Phi-Thuong-Cua-Kalu-Rinpoche_TL_2008.pdf">Cuoc Doi Phi Thuong Cua Kalu Rinpoche_TL_2008</a></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/cuoc-doi-phi-thuong-cua-kalu-rinpoche-2/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lời khuyên Kalu Rinpoche dành cho các đệ tử</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/loi-khuyen-kalu-rinpoche-danh-cho-cac-de-tu/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/loi-khuyen-kalu-rinpoche-danh-cho-cac-de-tu/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 17 Sep 2015 04:40:41 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Shangpa]]></category>
		<category><![CDATA[Shangpa Kagyu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5540</guid>
		<description><![CDATA[Đức Bokar Rinpoche và Bậc Thầy Kalu Rinpoche  Đối với những người biết tôi và cuộc đời của tôi, ước muốn đi theo con đường dẫn đến giải thoát của Lạt ma (Đạo sư) của họ, tôi xin nói ít lời này. Bởi tất cả chúng ta là những môn đồ của Đức Phật nhân từ, trong những hành động,&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/loi-khuyen-kalu-rinpoche-danh-cho-cac-de-tu/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/images14.jpg"><img class="alignnone  wp-image-5541" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/images14-300x162.jpg" alt="images" width="471" height="254" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Đức Bokar Rinpoche và Bậc Thầy Kalu Rinpoche </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Đối với những người biết tôi và cuộc đời của tôi, ước muốn đi theo con đường dẫn đến giải thoát của Lạt ma (Đạo sư) của họ, tôi xin nói ít lời này.</p>
<p style="text-align: justify;">Bởi tất cả chúng ta là những môn đồ của Đức Phật nhân từ, trong những hành động, lời nói và tư tưởng của ta, bằng hết sức mình, ta nên tự chế không làm mọi hành động phi đạo đức và bất thiện, và ta nên làm những thiện hạnh càng nhiều càng tốt. Tất cả chúng sinh trong sáu loài đều là những cha mẹ tốt lành của ta và trong những quãng thời gian dài dằng dặc đã trải nghiệm đủ loại đau khổ và thất vọng trong luân hồi sinh tử. Đối với những chúng sinh ấy ta nên nuôi dưỡng lòng từ bi và Bồ đề tâm cao quý. Ta nên liên tục thiền định về việc cho và nhận (1) và nhiệt thành trì tụng những bài khẩn cầu ước nguyện xa rộng để làm viên mãn sự chứng ngộ mọi khía cạnh của Phật quả, để tạo lập và tinh lọc những phạm vi của sự giác ngộ, và để thuần thục chúng sinh về mặt tâm linh. Với sự thấu hiểu rằng Lạt ma tốt lành và linh thánh của ta là hoạt động của Tam Bảo và Tam Căn (2), ta nên cầu nguyện ngài một cách mãnh liệt, hình dung rằng Lạt ma an trụ trên đầu hay trong trái tim ta, và khi ta chấm dứt cầu nguyện, hãy thực hành việc hòa nhập tâm ta với tâm ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Ta nên coi Đức Avalokiteshvara (Chenrazi – Quán Thế Âm) là Bổn Tôn của ta. Đức Phật đã giảng dạy thực hành này trong nhiều Kinh điển và tantra (Mật điển). Nó từng là thực hành của nhiều Đạo sư uyên bác và thành tựu của Ấn Độ và Tây Tạng. Thực hành này dễ dàng nhưng vô cùng lợi lạc. Ta nên liên tục trì tụng thần chú Sáu-Âm (Lục Tự Đại Minh), tụng đọc nó với tâm thức rỗng rang, trong trẻo, không ngừng tỉnh giác, thoát khỏi sự quy chiếu, bám chấp và xao lãng.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"> Tự bản chất, mọi hiện tượng, hình tướng của sự mê lầm xuất hiện quanh ta thì không có thực tại độc lập. Trong phạm vi của cách thức chúng được tri giác, chúng bao gồm những kinh nghiệm khác nhau về hạnh phúc và đau khổ. Tự bản chất chúng thật vô thường. Những hình tướng biến đổi, lộn xộn này tạo nên nền tảng từ đó đủ loại đau khổ trong sinh tử phát triển. Từ sự hiểu biết rằng cuối cùng, tất cả những hiện tượng đó giống như những hình tướng xuất hiện trong một giấc mơ hay trong sự mê hoặc, sự bám chấp và dính mắc của ta vào những ý niệm cố định về thực tại sẽ giảm bớt.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung, mục đích của mọi truyền thống tâm linh, Phật giáo hay truyền thống khác, có hai nhánh: một cách tức thì, nhằm mang lại nơi nương tựa để tránh các cõi thấp và an lập chúng sinh trên con đường đưa tới các cõi giới cao; và cuối cùng, mang lại nơi nương tựa thoát khỏi mọi khổ đau của sinh tử và an lập chúng sinh trên con đường đưa tới tự do. Bởi tất cả những truyền thống này đến từ hoạt động giác ngộ của Đức Phật hiển lộ trong những cách thế phù hợp với tính chất của những cá nhân được dẫn dắt, ta nên có niềm tin nơi tất cả những truyền thống đó.</p>
<p style="text-align: justify;" align="left">Đặc biệt là toàn bộ Giáo Pháp đi đến xứ tuyết Tây Tạng – giáo lý của các phái Sakya, Gelug, Kagyu, và Nyingma – đã được Đức Phật giảng dạy trong các Kinh điển và Mật điển. Giáo Pháp đó viên mãn và không chút sai sót. Trong những truyền thống này, dòng truyền thừa của những Đạo sư thành tựu không bị đứt đoạn. Năng lực và những gia hộ của các dòng này không suy giảm và tiếp tục được trao truyền. Giáo huấn của các dòng truyền thừa này về chân lý tối thượng không bỏ quên những điểm trọng yếu. Quan điểm triết học của chúng về bản tánh của thực tại cung cấp một nền tảng đúng đắn cho việc thực hành. Những phương pháp thiền định của các dòng này nhằm giải thoát ta khỏi sự mê lầm tạo thành một con đường chắc chắn. Chất cam lồ giáo huấn tâm linh của chúng đã không mất đi sự hiệu nghiệm. Hiện thân của nhiều Đạo sư với sự uyên bác và thành tựu, những đại Bồ Tát đã đạt được những mức độ khác nhau của sự chứng ngộ tâm linh, đã xuất hiện trong mỗi truyền thống này. Cũng đã có vô số bậc như Đức Jetsun Milarepa vĩ đại đã thực hiện những khả năng biểu thị mức tiến bộ của sự thành tựu. Mỗi tuyển tập giáo huấn tâm linh của các ngài chỉ bao gồm những giáo lý sâu xa có thể đưa mỗi cá nhân đến Phật quả.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế, ta nên tránh sự cuồng tín, thù địch, hay hoài nghi về những truyền thống này và tu tập bản thân để có lòng sùng kính, tôn trọng và một cái nhìn linh thánh đối với tất cả các truyền thống đó. Ta nên thực hành truyền thống mà ta cảm thấy cuốn hút nhất do bởi những mối quan hệ ta đã tạo ra trong những đời quá khứ. Dù theo truyền thống nào, điều quan trọng nhất là phải đưa thực hành của ta đến chỗ viên mãn.</p>
<p style="text-align: justify;">Tóm lại, để noi theo cuộc đời đi tới giải thoát của Lạt ma, ta nên luôn luôn nuôi dưỡng một số phẩm tính. Đó là thái độ từ bỏ phát sinh từ một sự hiểu biết rằng sinh tử là đau khổ; niềm tin sáng suốt, có ý hướng, và xác tín nơi Tam Bảo. Ta cần có lòng sùng mộ và tôn kính đối với Lạt ma của ta như một vị Phật toàn giác. Đối với tất cả chúng sinh, ta cần có lòng bi mẫn phát sinh từ sự hiểu biết rằng tất cả họ đều là cha mẹ của ta. Ta cần có một cách sống trong đó hai sự tích tập (công đức và trí tuệ) cùng tăng trưởng. Trong giai đoạn phát triển, các hình tướng và âm thanh được kinh nghiệm như những Bổn Tôn và thần chú; trong giai đoạn thành tựu, sự tỉnh giác tự nhiên được duy trì không có sự tạo tác. Ta cần có những thiện hạnh để chấm dứt những dục vọng vô độ và việc coi mình là quan trọng; cách hành xử tránh điều độc hại như thuốc độc; niềm tin tránh sự dính mắc có tính chất bộ phái và thái độ thù địch; và sau hết an lập những người mà ta có nối kết trên con đường dẫn tới tự do. Nếu chúng ta trung thành với tất cả những điều này và noi theo cuộc đời giải thoát của Lạt ma, sự hiện hữu làm người quý báu với đầy đủ tự do và thuận lợi mà ta đã có sẽ trở nên ý nghĩa, các ý hướng của các Đạo sư của ta được hoàn thành, thiện tâm của cha mẹ ta được đền đáp, và những lợi lạc cho người khác và bản thân ta sẽ được thực hiện đầy đủ.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Chú thích:</b></p>
<p style="text-align: justify;">(1) <b>Cho và nhận</b>: một thiền định Đại thừa được dựa trên nguyên lý hoán đổi những lợi lạc và hạnh phúc của riêng ta để nhận lấy đau khổ và bất hạnh của người khác. Sự thiền định sử dụng hơi thở như một biểu tượng cho sự hoán đổi.</p>
<p style="text-align: justify;">(2) <b>Tam Căn</b>: Ba Cội gốc, đó là Guru (Đạo sư), cội gốc của các sự gia hộ; Yidam (Bổn Tôn), cội gốc của sự thành tựu; và Dakini, cội gốc của hoạt động giác ngộ.</p>
<address><b>Nguyên tác:</b> <b>“The Chariot for Travelling the Path to Freedom – The Life Story of Kalu Rinpoche”</b></address>
<address>Kenneth I. McLeod dịch từ Tạng ngữ sang Anh ngữ và chú giải.</address>
<address>Thanh Liên dịch sang Việt ngữ</address>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/loi-khuyen-kalu-rinpoche-danh-cho-cac-de-tu/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Kalu Yangsi Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-kalu-yangsi-rinpoche-2/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-kalu-yangsi-rinpoche-2/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 15 Sep 2015 09:32:17 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Shangpa Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Shangpa]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5337</guid>
		<description><![CDATA[Vào ngày 17, tháng 9 năm 1990 tại Ấn Độ, với những dấu hiệu vô cùng tốt lành, bà Drolkar vị phối ngẫu của Đức Lama Gyaltsen đã hạ sinh một vị Tulku, chính là hóa thân của Đức Kalu Rinpoche. Lama Gyaltsen, cháu trai cũng là thị giả của của Đức Kalu Rinpoche đã phụng sự Ngài từ thời&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-kalu-yangsi-rinpoche-2/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Vào ngày 17, tháng 9 năm 1990 tại Ấn Độ, với những dấu hiệu vô cùng tốt lành, bà Drolkar vị phối ngẫu của Đức Lama Gyaltsen đã hạ sinh một vị Tulku, chính là hóa thân của Đức Kalu Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Lama Gyaltsen, cháu trai cũng là thị giả của của Đức Kalu Rinpoche đã phụng sự Ngài từ thời niên thiếu. Đức Chatral Rinpoche thuộc trường phái Cổ Mật (Nyingma) là người đầu tiên phát hiện ra khả năng của Kalu Yangsi Rinpoche và tin rằng Ngài chính là hóa thân của Đức Kalu Rinpoche đời trước.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày 25 tháng 3 năm 1992, sau khi giảng giải rằng đã nhận được những dấu hiệu rõ ràng từ Đức Kalu Rinpoche, Đức Chamgon Tai Situ Rinpoche đã chính thức ấn chứng sự hóa thân chuyển thế của Đức Kalu. Đức Situ Rinpoche đã gửi một bức thư về việc ấn chứng cho Lama Gyaltsen tới Đức Đạt Lai Lạt ma đời thứ 14 và ngay lập tức Ngài đã xác nhận sự hóa thân của Kalu Yangsi Rinpoche. Rất nhiều người nhìn thấy cầu vồng trên Tu viện của Đức Kalu Rinpoche tại Sonada, Ấn Độ vào thời điểm Kalu Yangsi Rinpoche tái sinh và cho biết rằng những chiếc cầu vồng giống hệt đã xuất hiện trên Tu viện sau khi Đức Kalu Rinpoche đời trước viên tịch.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Kalu Rinpoche đã chọn tái sinh trong gia đình kiếp trước của Ngài chính là Tu viện Samdrup Tarjayling. Như Đức Bokar Rinpoche đã nói đây là một dấu hiệu tự do hoàn toàn về tâm thức của Ngài và phản ánh đức tính giản dị và ngay thẳng mà các học trò của Ngài luôn khắc ghi. Vì lòng tốt và sự đại bi của mình, Ngài tái sinh vì chính những nguyện cầu của các đệ tử.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày 28 tháng 2 năm 1993, Đức Kalu Yangsi Rinpoche được tấn phong tại Samdrup Tarjayling. Đức Chamgon Tai Situ Rinpoche và Đức Goshir Gyaltsap Rinpoche chủ trì nghi lễ, với sự trợ giúp của Đức Bokar Rinpoche, trưởng tử tâm linh của Kalu Rinpoche. Đức Situ Rinpoche đã thực hiện nghi lễ cắt tóc và ban pháp danh Karma Ngedön Tenpay Gyaltsen cho vị Tulku trẻ - nghĩa là Victory Banner of the Teachings of the True Meaning<em>.</em> Về sau, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã đến thăm Tu viện và ban phước cho Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Nghi lễ cúng dường được thực hiện nhân danh Đức Kalu Yangsi Rinpoche cùng Lama, học trò của Đức Kalu Rinpoche và các trung tâm Pháp trên toàn thế giới. Lama Norlha Rinpoche đã nhận các phẩm vật cúng dường từ các trung tâm New York của Đức Kalu Rinpoche, cùng với lời cầu nguyện sức khỏe và trường thọ cho Đức Kalu Yangsi Rinpoche vì nguyện vọng và sự Phát triển của giáo Pháp thông qua những hành động đưa đến giác ngộ của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Tháng 6 năm 1995, Đức Kalu Yangsi Rinpoche đã đáp chuyến thăm đầu tiên tới Bắc Mỹ, đồng hành cùng Đức Bokar Rinpoche. Trong suốt thời gian ở Tu viện Kagyu Thubten Chöling, Đức Kalu Yangsi Rinpoche đã tham gia các trao truyền quán đảnh do Đức Bokar Rinpoche ban truyền cũng như việc trì tụng hành ngày. Khi Đức Kalu Yangsi Rinpoche và Bokar Rinpoche đến thăm khu vực Bảo Tháp, họ đã liên tiếp biểu diễn các vũ điệu kim cương huyền diệu Tây Tạng, nói là có sức mạnh để điều phục các thế lực xấu ác.</p>
<p style="text-align: justify;">Với sự chú tâm vào thiền, trì chú, thư pháp và các nhạc khí truyền thống ở độ tuổi còn nhỏ như vậy đã hé lộ sự đam mê sâu sắc đối với việc thực hành Pháp của Ngài. Mặc dù đang còn nhỏ nhưng ở Ngài đã hiển lộ những phẩm tính tinh túy của một vị Bồ Tát. Hiện tại, Đức Kalu Yangsi Rinpoche đang tu học dưới sự hướng dẫn của Đức Bokar Rinpoche.</p>
<h3 style="text-align: justify;">Việt dịch : Nhóm Rigpa Lotsawas</h3>
<h3 style="text-align: justify;">Hiệu đính : Giác nhiên</h3>
<h3 style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với </em><em>Đức Kalu Yangsi Rinpoche</em> <em>đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này Ngài sớm quang lâm đến Việt nam.</em></h3>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-kalu-yangsi-rinpoche-2/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Truyền thống Shangpa Kagyu</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/truyen-thong-shangpa-kagyu/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/truyen-thong-shangpa-kagyu/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 15 Sep 2015 09:15:24 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Shangpa Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Shangpa]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5327</guid>
		<description><![CDATA[Đức Kalu Rinpoche Bậc trì giữ truyền thống Shangpa Kagyu &#160;  Shangpa Kagyu                   Đức Kalu Yangsi Rinpoche hiện đời                   ]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>Đức Kalu Rinpoche Bậc trì giữ truyền thống Shangpa Kagyu</strong></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Truyền-thừa-Shangpa-Kagyu.jpg"><br />
<img class="  wp-image-5328 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Truyền-thừa-Shangpa-Kagyu-220x300.jpg" alt="Truyền thừa Shangpa Kagyu" width="445" height="607" /></a></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: center;"><strong> Shangpa Kagyu</strong></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/kyabjeKaluRinpoche.jpg"><br />
<img class="alignnone  wp-image-5248" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Yangsi-Rinpoche-blessing-mala.preview-226x300.jpg" alt="Yangsi Rinpoche blessing mala.preview" width="374" height="497" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>                  Đức Kalu Yangsi Rinpoche hiện đời                   </strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/truyen-thong-shangpa-kagyu/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Luận giảng của Kalu Rinpoche về Bốn pháp của Gampopa</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/luan-giang-cua-kalu-rinpoche-ve-bon-phap-cua-gampopa/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/luan-giang-cua-kalu-rinpoche-ve-bon-phap-cua-gampopa/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 10 Sep 2015 17:20:37 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Shangpa]]></category>
		<category><![CDATA[Luận giảng]]></category>
		<category><![CDATA[Shangpa Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Thư Viện]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Kagyu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=4982</guid>
		<description><![CDATA[Dorje Chang Kalu Rinpoche Việc chúng ta được sinh ra làm người mang lại cho ta cơ hội và thuận lợi để thực hành Pháp và cho ta con đường dẫn tới truyền thống bao la và sâu xa của Phật Pháp. Trong những giáo lý đó, Bốn Pháp của Đức Gampopa mang lại một nghiên cứu súc tích về&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/luan-giang-cua-kalu-rinpoche-ve-bon-phap-cua-gampopa/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;">Dorje Chang Kalu Rinpoche</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Việc chúng ta được sinh ra làm người mang lại cho ta cơ hội và thuận lợi để thực hành Pháp và cho ta con đường dẫn tới truyền thống bao la và sâu xa của Phật Pháp. Trong những giáo lý đó, Bốn Pháp của Đức Gampopa mang lại một nghiên cứu súc tích về toàn bộ Con Đường, được phân chia thành bốn cấp độ.</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Pháp Thứ Nhất: Tâm Hướng về Pháp</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Pháp thứ nhất bao gồm một sự thấu suốt về hoàn cảnh của chúng ta trong luân hồi sinh tử và những số phận khác nhau trong luân hồi, sáu trạng thái tái sinh: ba trạng thái thấp – các cõi địa ngục, ngạ quỷ, và súc sinh; và ba trạng thái cao – các cõi người, a tu la, và cõi trời. Qua giáo lý này, chúng ta nghiên cứu kết quả của các thiện hạnh và ác hạnh có khuynh hướng dẫn tới những tái sinh khác nhau này, và những đau khổ mà chúng sinh trong những cõi này phải chịu đựng. Chúng ta đi tới chỗ hiểu rằng mặc dù một tiến trình nghiệp đặc biệt có thể dẫn từ những tái sinh cao xuống những tái sinh thấp hơn hay từ những tái sinh thấp lên cao hơn, nhưng tự thân luân hồi sinh tử không mang lại phương tiện để thoát khỏi, và nếu chúng ta nương tựa vào nó thì có thể ta không tiến bộ trên đường hướng tới Giác ngộ. Vào lúc bắt đầu của Con Đường, sự hiểu biết này về luân hồi sinh tử rất cần thiết để hướng tâm về Pháp, và để thực hiện điều này chúng ta suy niệm Bốn Chuẩn bị Thông thường.</p>
<p style="text-align: justify;">Chuẩn bị thứ nhất liên quan tới giá trị độc nhất vô nhị của đời người mà giờ đây ta đang kinh nghiệm. Nhờ sự gia hộ và uy lực của Tam Bảo trong những đời trước, ở một thời điểm nào đó, chúng ta đã phát triển một khuynh hướng đức hạnh dẫn đến việc được sinh ra làm người hiện tại của ta, với mọi cơ hội, thuận lợi và tự do để thực hành Pháp. Rất ít chúng sinh giữ gìn khuynh hướng đức hạnh này (bằng cách tránh những hành động, tư tưởng và lời nói tiêu cực và thực hành những điều tích cực), và rất ít chúng sinh thành tựu kết quả là được sinh ra làm người quý báu. Nếu chúng ta nghĩ về những vì sao trong bầu trời đêm như tượng trưng cho vô số chúng sinh trong sinh tử luân hồi, thì một vì sao vào ban ngày tượng trưng cho sự sinh ra làm người quý báu – đó là điều có thể được, nhưng rất ít khả năng xảy ra. Sinh ra làm người là một sự kiện vô cùng hy hữu.</p>
<p style="text-align: justify;">Chuẩn bị thứ hai trong Bốn Chuẩn bị liên quan tới sự vô thường. Giờ đây là lúc chúng ta có cơ hội quý báu được sinh làm người, chúng ta nên tận dụng cơ hội ấy và thực sự nhận thức toàn bộ khả năng của việc được làm người. Nhờ những nỗ lực của ta, điều này có thể thành tựu để hoàn toàn siêu vượt luân hồi và đạt được Phật quả. Thêm vào đó, chúng ta phải hiểu rằng cái chết và sự vô thường là một bộ phận của hiện hữu của ta, và việc sinh ra làm người của ta - mà ta đã có được với bao khó khăn - sẽ mất đi. Mọi sự chúng ta kinh nghiệm đều biến đổi trong từng giây phút và không bền vững. Giống như ngọn lửa của một cây nến bị một cơn gió mạnh thổi tắt, hiện hữu làm người của ta cũng bị tiêu tan bất kỳ lúc nào; như một bọt nước trên mặt nước, có thể bất thần vỡ tan; như giọt sương mai trên ngọn cỏ, nhanh chóng bốc hơi.</p>
<p style="text-align: justify;">Kế tiếp, để nhận thức toàn bộ khả năng của việc làm người, chúng ta phải khảo sát ý niệm nghiệp, tiến trình của nhân và quả, đặc biệt là mối liên hệ giữa những hành động của chúng ta và kết quả của chúng. Chúng ta cần hoàn toàn nhận ra mối liên hệ chắc chắn giữa những gì ta đang làm hiện nay và những gì ta sẽ kinh nghiệm sau này.</p>
<p style="text-align: justify;">Suy niệm thứ tư chuyển tâm về Pháp đề cập tới bản chất khiếm khuyết và đau khổ của luân hồi sinh tử. Không có một nhận thức sâu sắc về lẽ vô thường và cái chết sắp xảy đến của chính ta, rất có thể là ta sẽ bị xao lãng bởi những lạc thú của thế gian và đắm chìm trong xung đột cảm xúc và sự vô minh. Khi điều đó xảy ra, chúng ta bị kiệt sức bởi cuộc đời ta đang sống và không nhận ra được đâu thực sự là vấn đề. Trên thực tế, chúng ta không nhận ra được điều gì đang thực sự xảy ra trong đời ta mà cũng không tận dụng được hoàn cảnh của ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước khi ta hiểu được điều đó thì cuộc đời ta chấm dứt và cái chết đến. Nếu ta không có một nền tảng thực hành vững chắc, ta sẽ chết một cách bất lực trong sợ hãi và đau khổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhờ suy niệm về những chuẩn bị này – khả năng của một hiện hữu làm người quý báu, lẽ vô thường và sự chắc chắn của cái chết, tiến trình nghiệp của nhân và quả, những đau khổ và giới hạn của sinh tử - chúng ta chuyển tâm ta về Pháp, và nhờ đó hoàn thành Giáo lý thứ nhất trong Bốn Giáo lý, hay Pháp, của Đức Gampopa.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Pháp Thứ Hai: Pháp Trở thành Con Đường</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Một khi để hết tâm trí vào giáo lý, chúng ta đi tới Pháp thứ hai trong Bốn Pháp: các giáo lý của Pháp trở thành cách sống của ta, con đường của ta. Thái độ của ta đối với những gì cao trọng hơn ta – Tam Bảo – bắt đầu thay đổi, và ta cũng thay đổi thái độ đối với chúng sinh trong sinh tử ngang bằng ta hay thấp kém hơn ta. Thái độ thứ nhất được biểu lộ khi chúng ta Quy y Phật, Pháp và Tăng đoàn với niềm tin, lòng sùng mộ và sự tôn kính. Chúng ta nhận ra rằng trong Phật quả, chư Phật toàn trí hiện diện khắp nơi và có những khả năng vô tận. Chúng ta thấy rằng các giáo lý của Pháp xuất phát từ trạng thái giác ngộ này, là Con Đường mà mỗi chúng sinh có thể đi theo để đạt được Giác ngộ. Chúng ta nhận ra rằng Tăng đoàn, hay tập hội các hành giả chứng ngộ và truyền dạy các giáo lý, là những bạn đồng hành hay người dẫn dắt có thể chỉ cho ta Con Đường. Trong truyền thống Kim Cương thừa, ngoài Tam Bảo, chúng ta thêm vào Ba Gốc – Lạt ma, Bổn tôn, và Dakini – là những suối nguồn của sự Quy y.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Pháp trở thành Con Đường của ta, chúng ta phát triển thái độ thứ hai, là thái độ bi mẫn. Bằng cách suy niệm về những chúng sinh ở trong sinh tử với ta, chúng ta suy xét rằng không gian bao la vô tận, tràn ngập muôn phương, và cõi giới của chúng sinh cũng trải rộng như không gian. Ở một thời điểm nào đó trong quá khứ, mỗi một người trong vô số chúng sinh này đã từng là mẹ hay cha của ta. Trải qua vô số chu kỳ cuộc đời, chúng ta đã phát triển một sự nối kết về nghiệp vô cùng thân thiết với mỗi một chúng sinh đó. Khi lòng bi mẫn phát triển, chúng ta nhận thấy rằng mọi cuộc đời đều giống nhau, và mỗi một chúng sinh đều ước muốn hạnh phúc: trong mỗi hình thức của cuộc sống, một cuộc tìm kiếm căn bản truy tìm hạnh phúc luôn được tiếp diễn – nhưng bằng một cách thế mâu thuẫn và làm tiêu tan mục đích của cuộc tìm kiếm này. Một ít chúng sinh hiểu rằng hạnh phúc thực sự là kết quả của thiện hạnh. Nhiều chúng sinh đắm mình trong việc thực sự hủy diệt những cơ hội đạt được hạnh phúc của họ bằng những hành động và tư tưởng lầm lạc và có hại.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi nhận ra điều này, chúng ta phát triển lòng thương yêu và bi mẫn thực sự đối với chúng sinh. Lòng bi mẫn vô hạn này đối với mọi hình thức của cuộc sống là thái độ thứ hai cần phải có để làm cho giáo lý trở thành Con Đường. Bằng niềm tin và lòng bi mẫn, giáo lý đã hấp dẫn chúng ta trở thành toàn bộ lối sống.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Phát triển lòng Bi mẫn</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù chúng ta nhận ra được sự cần thiết phải làm việc không chỉ vì lợi ích của riêng ta mà còn vì hạnh phúc của tất cả chúng sinh, ta cần phải thành thật về những giới hạn của bản thân ta và nhận ra rằng chúng ta có ít năng lực hay khả năng để công cuộc giúp đỡ chúng sinh được giải thoát thực sự có hiệu quả. Để trở nên hữu hiệu trong việc giúp đỡ này, ta phải thành tựu Phật quả hay ít nhất, đạt được quả địa Bồ Tát nào đó. Ở những cấp độ cao cấp này chúng ta đạt được khả năng hiển lộ để dẫn dắt chúng sinh ra khỏi màn vô minh của họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Thái độ vị tha được gọi là Bồ đề tâm Tương đối; khát nguyện phát triển Bồ đề tâm này là nền tảng của thực hành Đại thừa và là Pháp khí cho mọi đức hạnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Một phương pháp để phát triển Bồ đề tâm được gọi là Tong len, có nghĩa đen là “cho và nhận.” Thái độ ở đây là: mỗi người trong chúng ta chỉ là một chúng sinh, trong khi chúng sinh trong vũ trụ thì vô số. Nếu như một chúng sinh có thể nhận lãnh mọi nỗi khổ của mọi chúng sinh trong vũ trụ và giải thoát mỗi một và mọi chúng sinh khỏi đau khổ thì đó không phải là một mục tiêu xứng đáng hay sao? Vì thế chúng ta kiên quyết nhận vào mình toàn bộ nỗi khổ này để cất đi nỗi khổ của tất cả chúng sinh, thậm chí nỗi khổ mới chớm hay tiềm tàng của họ, và mọi nguyên nhân của những nỗi khổ đó. Đồng thời chúng ta phát triển thái độ hiến tặng cho chúng sinh mọi đức hạnh, hạnh phúc, sức khỏe, của cải và khả năng để được trường thọ của ta. Mọi sự chúng ta vui hưởng, mọi điều cao quý hay xứng đáng, tích cực hay hạnh phúc trong hoàn cảnh của ta, ta hiến tặng một cách vô vị kỷ cho mỗi một chúng sinh. Vì thế pháp thiền định về điều này là tự nguyện nhận vào mình mọi khuynh hướng tiêu cực bám chấp vào những gì ta mong muốn cho bản thân và không để ý tới người khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta phát triển một sự cảm thông sâu xa với mọi sinh loài. Phương pháp cho và nhận là một phương cách hữu hiệu nhất để phát triển động lực của Bồ Tát.</p>
<p style="text-align: justify;">Cho tới nay, loại bi mẫn mà ta đã mô tả được gọi là “lòng bi mẫn có liên quan tới chúng sinh.” Tuy nhiên, một thái độ nhị nguyên vẫn còn vướng vất ở đây, bởi ta vẫn bị mắc kẹt bởi ba ý niệm (1) bản thân ta kinh nghiệm lòng bi mẫn, (2) chúng sinh là các đối tượng của lòng bi mẫn, và (3) hành vi thực sự của việc cảm thấy bi mẫn nhờ hiểu biết hay nhận thức về nỗi khổ của chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Khuôn khổ này chuẩn bị con đường của chúng ta trong Đại thừa. Một khi loại bi mẫn này được thiết lập, chúng ta đi tới một hiểu biết thứ hai: Sự nhận thức bắt đầu phát triển rằng bản ngã đang cảm nhận lòng bi mẫn, những đối tượng của lòng bi mẫn, và tự thân lòng bi mẫn, tất cả đều có một ý nghĩa huyễn hóa nào đó. Ta thấy rằng ba phương diện này thuộc vào một thực tại quy ước, không tuyệt đối. Tự thân chúng không là gì hết, mà chỉ là những ảo tưởng tạo nên hình tướng của một khuôn khổ nhị nguyên. Việc nhận thức những ảo tưởng này và bằng cách đó thấu hiểu tánh Không đích thực của mọi hiện tượng và kinh nghiệm là điều chúng ta gọi là “lòng bi mẫn liên quan tới mọi hiện tượng.” Đây là con đường chính yếu của thực hành Đại thừa.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ loại bi mẫn thứ hai này, loại bi mẫn thứ ba “lòng bi mẫn không-có sự liên quan” (không quy chiếu) phát triển. Ở đây chúng ta hoàn toàn vượt lên bất kỳ mối quan tâm nào liên quan tới chủ thể/đối tượng. Chính kinh nghiệm tối hậu dẫn tới Phật quả. Tất cả ba cấp độ bi mẫn này được nối kết, vì thế nếu chúng ta bắt đầu với cấp độ nền tảng bằng cách phát triển lòng từ và bi đối với mọi sinh loài thì chúng ta đặt được nền móng bảo đảm rằng con đường của chúng ta sẽ dẫn thẳng tới Giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Pháp Thứ Ba: Con Đường Xua tan Vô minh</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Pháp thứ ba của Đức Gampopa nói rằng bằng cách du hành trên Con Đường, vô minh của ta bị xua tan. Ở đây chủ đề chính yếu của giáo lý là kinh nghiệm về tánh Không – sự chứng ngộ bản tánh tối hậu của tâm. Trong thiền định chúng ta nhận ra rằng tâm ta và mọi kinh nghiệm mà nó phóng chiếu thì không có thực tự nền tảng: chúng hiện hữu một cách quy ước, nhưng không hiện hữu trong một ý nghĩa tuyệt đối. Sự Chứng ngộ tánh Không này được gọi là Bồ đề tâm Tuyệt đối.</p>
<p style="text-align: justify;">Ta có thể tìm thấy sự tương đồng giữa đại dương và tâm, là cái gì trống không tự bản chất, không có những đặc tính giới hạn hay thực tại tuyệt đối. Tuy nhiên, tâm trống không này có sự phóng chiếu của nó, là toàn bộ thế giới hiện tượng. Thân tướng (sắc), âm thanh, hương, vị, sự xúc chạm (xúc), và những tư tưởng sâu xa, tạo thành những gì chúng ta kinh nghiệm tương ứng với những con sóng trên mặt đại dương. Nhờ thiền định, một khi ta nhận ra rằng bản tánh của tâm thì trống không tự nền tảng, ta tự động thấu hiểu rằng những phóng chiếu của tâm cũng trống không tự nền tảng. Những phóng chiếu này giống như những con sóng xuất hiện từ đại dương và lặng chìm vào đại dương: chúng chưa từng xa lìa đại dương. Mặc dù chúng ta có thể có một sự hiểu biết nào đó rằng tâm trống không tự bản chất, có thể ta sẽ gặp khó khăn khi liên kết ý tưởng này với sự hiện hữu hiện tượng. Một ví dụ có thể ích lợi cho ta. Ngay lúc này đây chúng ta có một thân thể vật lý, và trong đời sống khi thức của ta, chúng ta hết sức bám luyến vào thân xác đó. Chúng ta coi nó như thật có, một thực thể tự-hiện hữu. Nhưng trong các giấc mộng, chúng ta sống trong một loại thân thể khác, và kinh nghiệm một trạng thái hiện hữu khác. Một hiện hữu hoàn toàn có tính chất hiện tượng được kết hợp với “thân mộng” này. Chúng ta nhìn, nghe, ngửi, xúc chạm, cảm xúc, suy nghĩ và truyền đạt – ta kinh nghiệm một thế giới trọn vẹn. Nhưng khi ta thức dậy thì rõ ràng là thế giới của giấc mộng không có thực tại tuyệt đối (không có sự xác thực tuyệt đối). Dứt khoát là nó không ở trong thế giới bên ngoài như chúng ta biết nó, cũng không ở trong phòng nơi ta ngủ, mà cũng chẳng ở trong thân thể ta; không thể tìm thấy nó ở bất kỳ nơi đâu. Khi giấc mộng trôi qua, sự ‘xác thực’ (thực tại) của nó biến mất một cách tự nhiên – nó chỉ là một phóng chiếu của tâm. Ta khá dễ dàng hiểu được điều này trong mối liên hệ với trạng thái mộng. Một điều ta cũng phải hiểu rõ là kinh nghiệm của ta trong trạng thái thức thì có cùng bản tánh nói chung và xảy ra qua một tiến trình tương tự.</p>
<p style="text-align: justify;">Những Đại thành tựu giả như Tilopa và Naropa ở Ấn Độ, hay Marpa và Milarepa ở Tây Tạng, có thể thực hiện những biến hóa kỳ diệu trong thế giới hiện tượng. Các ngài có thể làm như thế bởi các ngài đã chứng ngộ toàn bộ thế giới hiện tượng thì trống không tự bản chất và là một phóng chiếu của tâm. Nhờ chứng ngộ điều này các ngài đã hiển lộ những điều thần diệu và thực sự biến hóa được thế giới hiện tượng. Sự chuyển hóa như thế không thể xảy ra khi tâm thức chúng ta bám níu vào bất kỳ những gì ta kinh nghiệm như tuyệt đối có thật và không thể biến đổi được.</p>
<p style="text-align: justify;">Giai đoạn hiện tại của hiện hữu của ta chấm dứt trong cái chết, khi nghiệp hướng dẫn tiến trình của sự hiện hữu vật lý này bị cạn kiệt.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào lúc chết có một sự tách lìa rõ ràng và dứt khoát tâm thức ra khỏi thân thể vật lý, là cái đơn thuần bị vứt bỏ. Điều vẫn còn tiếp tục là tâm thức cá nhân, tâm của ta đi vào kinh nghiệm bardo. Trong trạng thái sau-cái chết đó, chúng ta kinh nghiệm loại thế giới hiện tượng khác. Mặc dù không có một nền tảng cơ thể vật lý, tâm thức có thể nhìn, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, suy nghĩ và nhận thức không khác gì cách nó đang làm hiện nay. Mặc dù không là gì ngoài một trạng thái tâm thức, tâm tiếp tục đi theo những tập quán của nó và hiển lộ theo những khuôn mẫu nhất định. Vì thế sự xác quyết theo thói quen của ta rằng kinh nghiệm thì thật có một cách tuyệt đối sẽ tiếp tục sau cái chết của thân xác, và những gì xảy ra ở đó thì giống như trong trạng thái mộng và tâm khi ta thức.</p>
<p style="text-align: justify;">Một câu chuyện về một tu sĩ ở Tây Tạng minh họa cho điều này. Gần nhà tôi ở Tây Tạng có tu viện Dzogchen thuộc phái Nyingma. Một tu sĩ của tu viện này quyết định không muốn ở đó nữa mà thích đi vào lãnh vực kinh doanh hơn. Ông ra đi và tới miền bắc của vùng đó, trở thành một thương gia với hy vọng tích lũy được nhiều của cải. Thậm chí ông trở nên khá thành công. Bởi mối quan hệ trước đó của ông ta với một tu viện nên ở một mức độ nào đó, ông cũng được coi là một giáo thọ, vì thế ông có một nhóm đệ tử cũng như thâu thập được của cải qua việc kinh doanh.</p>
<p style="text-align: justify;">Một hôm ông gặp một thầy phù thủy có thể thực hiện một quyền năng nào đó đối với con người. Người thương gia không nhận ra năng lực của người này, và thầy phù thủy ếm bùa chú khiến người thương gia trải nghiệm việc có những đứa con; ông ta có một điền trang rộng lớn và một gia đình để chăm sóc, và trải qua cả đời theo cách sống như thế rồi già đi với mái tóc bạc trắng và hàm răng lưa thưa. Sau đó ảo tưởng tan biến: ông ta trở lại như cũ, và như thể mới chỉ một hay hai ngày trôi qua. Trong thời gian đó thầy phù thủy đã lấy cắp mọi thứ của ông. Người thương gia tỉnh dậy và không còn lấy một xu. Ông ta chỉ còn ký ức về ảo tưởng lâu dài của mình về những hoạt động, sự xao lãng và kế hoạch của một đời người.</p>
<p style="text-align: justify;">Giống như ảo tưởng của người thương gia, những kinh nghiệm hàng ngày của riêng ta có tính chất huyễn hóa. Kinh điển Đại thừa có dạy rằng mọi sự như ánh trăng trên mặt nước: mọi sự ta kinh nghiệm chỉ có một thực tại (sự xác thực) quy ước và về mặt cơ bản thì không thật có.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta kinh nghiệm Pháp thứ ba của Đức Gampopa khi trước tiên, ta xác quyết rằng ta phải xua tan vô minh của ta bằng cách thấu hiểu và kinh nghiệm sự trống không (tánh Không) cốt tủy của tâm, và kế đó, khi tánh Không này khám phá ra bản tánh huyễn hóa của mọi hiện tượng; khi đó Con Đường xua tan vô minh.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Pháp Thứ Tư: Vô minh Xuất hiện như Giác tánh Nguyên sơ</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Pháp thứ tư của Đức Gampopa là sự chuyển hóa vô minh thành Giác tánh Nguyên sơ. Sự chuyển hóa nền tảng này được thực hiện trên cấp độ Anuttarayogatantra, cấp độ cao nhất trong bốn cấp độ của giáo lý Kim Cương thừa.</p>
<p style="text-align: justify;">Giải thích sự chuyển hóa này một cách lý thuyết thì không khó. Trong một trạng thái bình thường giác tánh bị ngăn che và mê lầm; nếu chúng ta nhận ra bản tánh của tâm, khi ấy ta kinh nghiệm Giác tánh Nguyên sơ. Tuy nhiên, trên một bình diện thực tiễn, điều này không tự động xảy ra: ta cần phải có một loại phương tiện thiện xảo nào đó. Để chuyển hóa sự lan man thành giác tánh giác ngộ, ta sử dụng rất nhiều kỹ thuật sẵn có trong Kim cương thừa, đặc biệt là các giai đoạn Phát triển và Thành tựu của thiền định.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong hoàn cảnh hiện tại của chúng ta là những chúng sinh không giác ngộ, ba năng lực thân, ngữ, và tâm của ta bị vô minh căn bản ngăn che. Để chuyển hóa vô minh đó thành giác tánh, ta phải trở nên tỉnh giác về thân, ngữ, và tâm, vì thế trong Kim Cương thừa chúng ta sử dụng chính những năng lực này của toàn bộ con người chúng ta để thực hiện một sự chuyển hóa trọn vẹn.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi quán sát thân thể vật lý của ta, có thể thấy ta bị dính mắc vào nó như cái gì thường hằng, thanh tịnh và thực có ra sao. Tuy nhiên thân thể vật lý này thì nhất thời, được kết hợp bởi vô số chất thể bất tịnh và hư thối. Nó có thực một cách quy ước, không tuyệt đối.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự bám chấp vào thân thể theo tập quán và bản năng của ta làm ngăn trở sự xuất hiện của Giác tánh Nguyên sơ. Ta phải đi tới chỗ nhận ra rằng thân thể này chỉ là cái gì đó xuất hiện và không có tự-tánh. Được dựa trên những phóng chiếu của tâm, thân thể tượng trưng cho tinh túy của phương diện thân (sắc tướng) của tâm thức. Cho tới khi ta nhận ra điều này, sự chuyển hóa vô minh thành Giác tánh Nguyên sơ sẽ không xảy ra một cách tự nhiên. Trong thực hành Mật thừa, thân thể được chuyển hóa nhờ một thiền định làm cho ta đồng nhất với một thân tướng thanh tịnh hay giác ngộ, chẳng hạn như Đức Chenrezi (Quán Thế Âm), Bồ Tát của lòng Bi mẫn. Ở đây ta để sang một bên sự bám chấp vào thân thể của riêng ta và thay vào đó đồng nhất hóa với một thân tướng thanh tịnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi thực hiện điều đó, điều cũng cần thiết là phải nhận thức rằng ở một cách thế nào đó Bổn tôn là sự xuất hiện thanh tịnh và không có chút thực chất nào. Trong thiền định chúng ta trở nên hoàn toàn đồng nhất với thân tướng này, là cái gì trống không, không vững chắc, không có tự-tánh hay thực tại tối hậu siêu vượt hình tướng thanh tịnh của nó. Kinh nghiệm này được gọi là “<em>Sự Hợp nhất của Hình tướng và tánh Không.”</em></p>
<p style="text-align: justify;">Một chuyển hóa như thế được đặt nền trên sự thấu hiểu rằng mọi kinh nghiệm của ta là một phóng chiếu chủ quan của tâm, và vì thế thái độ của ta đối với các sự vật thì dứt khoát. Nhờ thay đổi thái độ của ta, chúng ta thay đổi kinh nghiệm, và khi ta thiền định theo cách đã được mô tả, sự chuyển hóa có thể xảy ra. Điều này đặc biệt là chân thật khi ta tập trung vào một thân tướng giác ngộ chẳng hạn như Bồ Tát của lòng Bi mẫn. Tự thân hình ảnh của Đức Chenrezi là một biểu lộ thực sự của trạng thái bi mẫn giác ngộ. Nó không phải là một sự tạo tác. Thực sự có một đấng giác ngộ được gọi là Chenrezi, có thể ban ân phước và sự thành tựu. Để kinh nghiệm điều này, ta phải hội tụ những điều kiện nào đó. Nó cũng tương tự như việc chụp hình cho một người nào đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Ta cho phim vào máy hình, hướng máy vào người đó và chụp một tấm hình. Hình ảnh của người ấy được chiếu vào phim, và khi rửa ảnh thì ta có một tấm hình của người ấy. Điều tương tự xảy ra khi ta thiền định về một thân tướng giác ngộ. Có một biểu lộ “bên ngoài” được gọi là Chenrezi. Nhờ các nỗ lực của ta trong thiền định, ta đi tới chỗ đồng nhất với thân tướng thanh tịnh này, có niềm tin ở thân tướng đó, và chứng ngộ lòng bi mẫn nội tại và trạng thái của giác tánh mà Đức Chenrezi tượng trưng. Theo cách này chúng ta có thể trở thành một “bản sao” của Bổn tôn và nhận được sự gia hộ của Bồ Tát của lòng Bi mẫn. Đây là phương diện thứ nhất của sự chuyển hóa vô minh thành Giác tánh Nguyên sơ được đặt nền trên thiền định về thân thể ta như một thân tướng giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Phương diện thứ hai của sự chuyển hóa liên quan tới ngữ (lời nói) của ta. Mặc dù có thể dễ dàng cho rằng ta không thể nắm bắt được ngữ, cho rằng ngữ chỉ đơn giản xuất hiện và biến mất, nhưng chúng ta thực sự gắn liền với nó như cái gì thật có. Đó là bởi chúng ta trở nên dính mắc vào điều ta nói và nghe tới nỗi ngữ có năng lực như thế. Lời nói đơn thuần, là cái gì không có thực tại tối hậu (không tuyệt đối xác thực), lại có thể quyết định hạnh phúc và đau khổ của ta. Chúng ta tạo nên niềm vui và nỗi khổ bằng cách bám chấp nền tảng vào âm thanh và ngôn ngữ.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong bối cảnh Kim Cương thừa, chúng ta trì tụng và thiền định về thần chú, là âm thanh giác ngộ, ngữ của Bổn tôn, sự Hợp nhất của Âm thanh và tánh Không. Thần chú không có thực chất mà chỉ là sự hiển lộ của âm thanh thuần tịnh, được kinh nghiệm đồng thời với tánh Không của nó. Nhờ thần chú, chúng ta không còn bám chấp vào thực tại của ngữ và âm thanh ta gặp trong cuộc đời nữa mà kinh nghiệm nó như trống không tự bản chất. Khi đó sự vô minh của phương diện ngữ của ta được chuyển hóa thành giác tánh giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước hết, sự Hợp nhất Âm thanh và tánh Không chỉ đơn giản là một khái niệm tri thức của điều mà thiền định của chúng ta hướng tới. Nhờ sự áp dụng tiếp theo sau, nó trở thành kinh nghiệm thực sự của ta. Ở đây, như ở nơi khác trong thực hành, thái độ thì hết sức quan trọng, như câu chuyện này về một vị Thầy ở Tây Tạng minh họa. Vị Thầy có hai đệ tử, cả hai đã cam kết thực hiện một trăm triệu lần trì tụng thần chú OM MANI PADME HUNG của Đức Chenrezi. Trước sự hiện diện của vị Thầy, họ nguyện sẽ thực hiện cam kết, và ra đi để hoàn tất thực hành này.</p>
<p style="text-align: justify;">Một trong hai đệ tử hết sức tinh tấn, mặc dù có lẽ nhận thức của anh ta không sâu sắc lắm. Anh bắt đầu để hoàn tất thực hành càng nhanh càng tốt và liên tục trì tụng thần chú cả ngày lẫn đêm. Sau những nỗ lực lâu dài, trong ba năm anh đã hoàn tất một trăm triệu lần trì tụng. Người đệ tử kia cực kỳ thông minh, nhưng có lẽ không tinh tấn bằng, bởi chắc chắn là anh ta không lao vào thực hành với nhiệt tâm tương tự. Khi bạn của anh sắp sửa hoàn tất khóa nhập thất, người đệ tử thứ hai vẫn còn rất nhiều thần chú chưa trì tụng. Anh đi lên một đỉnh đồi, ngồi xuống và bắt đầu thiền định rằng tất cả chúng sinh đầy khắp vũ trụ được chuyển hóa thành Đức Chenrezi. Anh thiền định rằng âm thanh của thần chú không chỉ xuất phát từ miệng của mỗi một và mọi chúng sinh, mà mỗi vi trần trong thế giới đang rung động với âm thanh đó, và trong một ít ngày anh đã trì tụng thần chú trong trạng thái thiền định này.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi hai đệ tử đi tới gặp Lạt ma của họ để trình bày là họ đã hoàn tất thực hành, ngài nói: “Ồ, cả hai  con đã thực hành thật xuất sắc. Con rất tinh tấn, còn con thì rất thông tuệ. Cả hai con đã thành tựu một trăm triệu lần trì tụng thần chú.”</p>
<p style="text-align: justify;">Như thế nhờ chuyển hóa thái độ và phát triển sự hiểu biết của ta, thực hành trở nên hiệu quả nhiều hơn nữa.</p>
<p style="text-align: justify;">Thần chú Sáu-Âm của Đức Chenrezi, <strong><em>OM MANI PADME HUNG</em></strong>, là một biểu lộ của sự ban phước và năng lực giác ngộ của Đức Chenrezi. Sáu âm được kết hợp với những phương diện khác nhau của kinh nghiệm của chúng ta: sáu phiền não nền tảng trong tâm được chuyển hóa, sáu phương diện của Giác tánh Nguyên sơ được chứng ngộ. Sáu âm và sáu phương diện này thuộc về mạn đà la của sáu Bộ Phật khác nhau hiển lộ trong tâm giác ngộ. Thần chú của Đức Chenrezi có năng lực thực hiện những sự chuyển hóa trên tất cả những cấp độ này.</p>
<p style="text-align: justify;">Cách thức khác để giải thích thần chú này là âm OM là cốt tủy của thân giác ngộ; MANI PADME, bốn âm giữa, tượng trưng cho ngữ của sự Giác ngộ; và âm cuối cùng HUNG tượng trưng cho tâm của sự Giác ngộ. Thân, ngữ, và tâm của tất cả chư Phật và Bồ Tát thì sẵn có trong âm thanh của thần chú này. Nó tịnh hóa những chướng ngại của thân, ngữ, và tâm, và đưa tất cả chúng sinh tới trạng thái Chứng ngộ. Khi thần chú được kết hợp với niềm tin và những nỗ lực của riêng ta trong thiền định và việc trì tụng, năng lực chuyển hóa của thần chú xuất hiện và phát triển. Nó thực sự có thể tịnh hóa bản thân ta theo cách này.</p>
<p style="text-align: justify;">Phương diện tâm của các trung tâm thiền định Chenrezi ở trong vùng tim, nơi thần chú và chủng tự HRIH an vị. Ánh sáng được quán tưởng như xuất phát từ thần chú và chủng tự này và cúng dường tất cả chư Phật, tịnh hóa những che chướng của tất cả chúng sinh, và an lập họ trong sự Giác ngộ. Phương diện tâm cũng được nối kết với thiền định không hình tướng, chỉ đơn giản đặt tâm trong bản tánh trống không của riêng nó. Sau khi thực hành điều này một vài lần, một sự biến chuyển sẽ xảy ra: ta sẽ có kinh nghiệm rằng bất kỳ điều gì xuất hiện trong tâm, bất kỳ cảm xúc hay tư tưởng nào cũng đều xuất hiện từ tánh Không và tan hòa vào tánh Không. Trong khoảng thời gian đó chúng ta không ở đâu khác ngoài tánh Không. Trong trạng thái này, chúng ta kinh nghiệm tâm như sự Hợp nhất của Giác tánh và tánh Không. Đây là Mahamudra (Đại Ấn).</p>
<p style="text-align: justify;">Như vậy ba nhánh thiền định Chenrezi sử dụng các thiền định có liên quan tới thân, ngữ, và tâm. Vào cuối của một thời khóa thực hành, sự quán tưởng tan hòa vào một trạng thái không hình tướng, và chúng ta chỉ an trụ tâm một cách bình thản trong bản tánh của riêng nó. Vào lúc này, chúng ta có thể kinh nghiệm thân, ngữ, và tâm như xuất hiện từ tâm nền tảng, trống không. Chúng ta nhận ra tâm này là phương diện căn bản và thân và ngữ là những phóng chiếu thứ yếu được đặt nền trên tâm thức. Điều này tượng trưng cho sự tụ hội của mọi phương diện của kinh nghiệm của chúng ta vào tâm này, chúng ta đã chứng ngộ Pháp thứ tư của Đức Gampopa: vô minh xuất hiện như giác tánh nguyên sơ./.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>The Four Dharmas of Gampopa. The Dharma: That Illuminates All Beings Impartially Like the Light of the Sun and the Moon </em></strong><em>(SUNY Albany Press) by Kalu Rinpoche [Bốn Pháp của Gampopa. Giáo Pháp Soi sáng Mọi Chúng sinh Một cách Vô tư Như Ánh sáng Mặt Trời và Mặt Trăng (Nhà Xuất bản SUNY Albany)]  Nguyên tác : “T<strong>he Four Dharmas of Gampopa,</strong> with commentary by Dorje Chang Kalu Rinpoche” http://www.simhas.org/teaching9.html</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thu-vien-phat-hoc/luan-giang-cua-kalu-rinpoche-ve-bon-phap-cua-gampopa/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
