<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Đạo sư Chokling Tersar</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-khac/chokling-tersar/dao-su-chokling-tersar/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Sat, 25 Apr 2026 03:57:22 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Tiểu sử ngắn của Đức Phakchok Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-ngan-cua-duc-phakchok-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-ngan-cua-duc-phakchok-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 05 Sep 2015 15:33:31 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Taklung Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Chokling Tersar]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Taklung]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=4223</guid>
		<description><![CDATA[Trong 4 trường phái Kagyu chính và 8 trường phái Kagyu nhỏ, Pháp chủ phi phàm Đức Taklungpa Tashi Pal, vang danh khắp 3 cõi luân hồi (Tam giới), đã thiết lập truyền thống Taklung Kagyu trong thế giới này. Nhiều thế kỉ sau, Đức Liên Hoa Sanh đã tiên tri trong một terma rằng: “ Khi Dharmatala trưởng dưỡng&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-ngan-cua-duc-phakchok-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Trong 4 trường phái Kagyu chính và 8 trường phái Kagyu nhỏ, Pháp chủ phi phàm Đức Taklungpa Tashi Pal, vang danh khắp 3 cõi luân hồi (Tam giới), đã thiết lập truyền thống Taklung Kagyu trong thế giới này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Nhiều thế kỉ sau, Đức Liên Hoa Sanh đã tiên tri trong một terma rằng: “ Khi Dharmatala trưởng dưỡng các giáo lý của Đức Phật, một tu sĩ tên là Taklungpa sẽ xuất hiện”. Đúng như lời tiên tri này, Taklungpa Tashi Pal đã thành lập 2 tu viện chính yếu và trong đó Tu viện Riwoche ở Dokham do vị hộ trì Kim cương Phakchok của Taklung Martang đứng đầu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Hóa thân của Đức Phakchok Rinpoche bao gồm Pháp chủ Mật thừa (Lord of Secrets Dharmevajra); Đệ tử thân cận nhất của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, A La Hán Anan; Đệ tử trực tiếp của Đức Liên Hoa Sinh, Lhalung Palgyi Dorje; Đại thành tựu giả, (Rechung) Dorje Drakpa và nhiều những vị khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Hóa thân Phakchok đầu tiên là vị hộ trì thứ 13 tại Tu viện Riwoche vinh quang. Sinh trưởng trong dòng họ Taklung Gazi vào năm 1688, về sau Ngài được thọ giới xuất gia bởi Đức Taksham Nuden Dorje và đã tu học cùng với các bậc Đạo sư thành tựu và uyên thâm, trở thành một Đại thành tựu giả, một Đại học giả lừng lẫy. Sau khi được tấn phong tại Yang-gon, các hoạt động của Đức Phakchok Rinpoche đời thứ nhất được lan truyền mạnh mẽ, theo cả hai hình thức tâm linh và thế tục và Đức Kalsang Gyatso, Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 7 đã ban ân phước đặc biệt cho Ngài. Hơn nữa Hoàng đế Yutrig đã ban ấn tín (Credential) bằng vàng và trao vị trí Nomihan cùng với ấn, kiệu và lọng cho Ngài. Sau khi hoàn thành lợi ích to lớn trong việc giảng dạy giáo Pháp và làm lợi lạc chúng sanh qua việc làm chủ quyền năng kỳ diệu và sự thấu suốt, Ngài đã nhập Niết bàn. Mỗi Hóa thân ở đời kế tiếp của Ngài lại hiển lộ những phẩm tính đặc biệt và đem lại lợi ích lớn lao cho chúng sinh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Hóa thân Phakchok đời thứ 6, Ngawang Jigmey Drakpa Tubten Namgyal, là vị hộ trì thứ 22 của Riwoche. Sinh trưởng trong dòng họ Sedor Bongkar, Ngài  sau đó đã được tấn phong tại  Tu viện Yang-Gon. Với sự hướng dẫn từ Đức Jedrung Trinley Jampey Jungney  và từ nhiều bậc thầy tâm linh khác, Ngài đã hoàn thành nghiên cứu chung về các con đường được phân loại của Kinh điển và Mật điển. Đặc biệt, Ngài đã nhận được các bản kinh và giáo lý cho các quán đảnh làm chín muồi dòng tâm thức và các giáo huấn giải thoát của truyền thống Taklung vô song. Ngài đã trải qua một thời gian dài nhập thất ẩn tu và trở thành viên ngọc sáng chói nhất trong số tất cả các bậc thầy uyên thâm và thành tựu. Ngài cũng chính là sự thị hiện thiêng liêng của Thân, Khẩu, Ý (của chư Phật ba thời). Năm 1952, Ngài đã mời Đức Tenzin Drakpa của Katok, còn được gọi là Pema Rangdrol, một bậc Đạo sư uyên thâm sở hữu những phẩm tính ngay thẳng, bộc trực và cao quý, đến thiết lập một Shedra mới cho truyền thống Taklung và Drukpa Kagyu. Do sự tàn phá kinh khủng của quân đội xâm lược, Ngài đã viên tịch ở Chamdo năm 1979.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Tháng 5 năm 1981, Hóa thân thứ 7 của Đức Phakchok Rinpoche được sinh ra với những dấu hiệu kỳ diệu. Hóa thân Phakchok đời thứ 7 là cháu trai đầu lòng của Đức Kyabje Tulku Urgyen Rinpoche. Cha của Ngài, Đức Tsikey Chokling Rinpoche, là Hóa thân đời thứ 4 của Đức Terchen Chokgyur Lingpa, và mẹ của Ngài, Bà Dechen Paldron, xuất thân từ gia đình Gatsal Tashi Delek của Gyangtse, một gia đình dòng dõi từ  Đức Zurchung Sherab Drakpa lừng lẫy. Trong số sáu bộ tộc gốc Tây Tạng, tổ tiên đằng nội của Đức Phakchok Rinpoche là Nangchen Tsangsar của dòng Khepaga, là những vị hộ trì chính của dòng truyền thừa Kagyu Barom.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Khi còn nhỏ, Đức Phakchok Rinpoche đã được công nhận bởi các nhiếp chính Kagyu là Hóa thân thứ 7 trong chuỗi hóa thân của Riwoche Phakchok. Thọ giới từ  Đức Dalai Lama thứ 14, Tenzin Gyatso,  Ngài  chính thức được ban Pháp danh là Tenzin Jigmey Drakpa. Do trí tuệ vượt trội và phẩm tính thừa hưởng từ những tu tập  đời trước, khi còn nhỏ, Đức Phakchok Rinpoche đã dễ dàng thấu hiểu cả đọc và viết và có được sự hiểu biết mà không cần nỗ lực về các chủ đề kiến ​​thức chỉ đơn giản là bằng cách nghe những gì được nói.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Phakchok Rinpoche đã thọ nhận hàng ngàn quán đảnh làm chín muồi dòng tâm thức và các giáo huấn giải thoát từ những bậc Đạo sư của các trường phái Sarma và Nyingma như Đức Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche, Kyabje Tulku Urgyen Rinpoche, Kyabje Chogye Trichen Rinpoche, Kyabje Tsetrul Rinpoche, Kyabje Trulshik Rinpoche, Nyoshul Khen Rinpoche, Tsikey Chokling Rinpoche và những vị khác. Từ Đức Kyabje Taklung Shabdrung Rinpoche, Ngài đã thọ nhận toàn bộ quán đảnh và trao  truyền đọc của Taklung Kagyu và toàn bộ quán đảnh và trao truyền cho các tác phẩm và giáo lý terma của Đức Jedrung Rinpoche.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Hiện nay, Đức Phakchok Rinpoche có số lượng các đệ tử ngày càng tăng lên, cư trú ở cả Nepal và nhiều nơi khác trên khắp thế giới. Nhiều năm, Gần như Ngài du hành liên tục để mang lại mang giáo lý tâm yếu của Phật pháp, trao truyền đọc và quán đảnh cho những người theo Ngài ở châu Âu, Bắc Mỹ, Mexico và Đông Nam Á. Để biết thêm thông tin về cuộc đời Ngài, những Hóa thân trước đây, các dự án hiện tại và vân vân, vui lòng truy cập trang web của Ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"><em>Đây là một phiên bản đã được chỉnh sửa về cuốn tiểu sử của Đức Phakchok Rinpoche, được soạn bởi Hiệp hội Riwoche . Điều này đã được chuyển dịch bởi Erik Pema Kunsang tại Tu viện Ka-Nying Shedrub Ling vào tháng 2 năm 2000 và sửa đổi bởi S. Lhamo.  Để có bản văn đầy đủ của "Lịch sử của những hóa thân Phakchok", vui lòng truy cập: </em><a style="color: #000000;" href="http://www.phakchokrinpoche.org"><em>www.phakchokrinpoche.org</em></a></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"><em>http://www.shedrub.org/teacherpage.php?tid=4</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Việt dịch : Nhóm Rigpa Lotsawas</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Hiệu đính : Giác nhiên</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với </em><em>Đức Phakchok Rinpoche đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này Ngài sớm quang lâm đến Việt nam.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"> </span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-ngan-cua-duc-phakchok-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử ngắn của Đức Tulku Urgyen Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-cua-duc-tulku-urgyen-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-cua-duc-tulku-urgyen-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 04 Sep 2015 07:01:45 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Chokling Tersar]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Chokling Tersar]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3999</guid>
		<description><![CDATA[Đức Tulku Urgyen Rinpoche sinh tại miền Đông Tây Tạng vào ngày 10 tháng 4 theo Tạng lịch năm 1920. Ngài được xác nhận bởi Đức Pháp Vương Gyalwang Karmapa đời thứ 15 là Hóa thân của Đức Chöwang Tulku và Nubchen Sangye Yeshe, đệ tử tâm truyền của Đức Liên Hoa Sanh. Đạo sư Chowang đời thứ nhất (1212-70&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-cua-duc-tulku-urgyen-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Đức Tulku Urgyen Rinpoche sinh tại miền Đông Tây Tạng vào ngày 10 tháng 4 theo Tạng lịch năm 1920. Ngài được xác nhận bởi Đức Pháp Vương Gyalwang Karmapa đời thứ 15 là Hóa thân của Đức Chöwang Tulku và Nubchen Sangye Yeshe, đệ tử tâm truyền của Đức Liên Hoa Sanh. Đạo sư Chowang đời thứ nhất (1212-70 AD) là một trong Năm Khai Mật Tạng Vương, vị khai phá các bản văn bí mật được cất giấu bởi Đạo sư Liên Hoa Sinh vì lợi ích của các thế hệ sau.</p>
<p style="text-align: justify;">Tu viện chính của Đức Tulku Urgyen Rinpoche là Lachab Gompa ở Nangchen, miền Đông  Tây Tạng. Tại đây, Ngài nghiên cứu và thực hành giáo lý của cả hai trường phái Phật Giáo Tây Tạng Kagyu và Nyingma. Trong các trường phái Kagyu lớn, dòng dõi của Ngài là những vị hộ trì chính của Dòng truyền thừa Barom Kagyu.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong truyền thống Nyingma, Đức Tulku Urgyen nắm giữ toàn bộ giáo lý của ba bậc Thầy tâm linh vĩ đại thế kỷ 19 là Đức Terchen Chokgyur Lingpa, Jamyang Khyentse Wangpo và Kongtrul Lodro Thaye. Ngài sở hữu một trao truyền đặc biệt gần gũi dành cho các Kho tàng mới đã được tái khám phá bởi cụ của Ngài, Đức Terchen Chokgyur Lingpa. Đây là tuyển tập các  giáo lý, quán đảnh, trao truyền đọc và giáo huấn khẩu truyền bởi Đức Liên Hoa Sinh. Rinpoche đã trao truyền truyền thống quý báu này cho các nhiếp chính của dòng truyền thừa Karma Kagyu cũng như  nhiều vị tulku, tu sĩ và cư sĩ khác của học viện.</p>
<p style="text-align: justify;">Tại sao Tulku Urgyen Rinpoche có mối quan hệ sâu sắc với Dòng truyền thừa của các vị Karmapa?  Đức Gyalwang Karmapa thứ 14 là một trong những vị thọ giáo chính các terma của Chokgyur Lingpa, nhận các quán đảnh từ chính vị terton này . Một thế hệ sau này, cháu của Chokgyur Lingpa, Đức Tulku Samten Gyatso,  vị Thầy gốc của Đức Tulku Urgyen Rinpoche, đã ban trao truyền giống như vậy tới Đức Gyalwang Karmapa thứ 15, Khakyab Dorje. Cuối cùng, Đức Tulku Urgyen Rinpoche đã vinh dự ban trao truyền chính của Chokling Tersar  tới  Đức Rangjung Dorje Rigpey, Gyalwang Karmapa đời thứ 16. Hơn nữa, Đức Tulku Urgyen cảm thấy may mắn khi có thể ban các trao truyền cho Dzogchen Desum quan trọng, "Ba phần của Đại Toàn Thiện," tới cả Đức Pháp Vương Karmapa và Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche,và các tulku, tu sĩ của Kagyu và Nyingma cùng các cư sĩ khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Tulku Urgyen Rinpoche đã thiết lập sáu tu viện và các trung tâm nhập thất ở Nepal, quan trọng nhất là một tu viện lớn ở Boudhanath, gần Đại  Bảo Tháp Jarung Khashor, và liền kề với hang động Asura nơi Đức Liên Hoa Sinh đã thành tựu cấp độ Trì Minh Vương Đại Thủ Ấn (Mahamudra Vidyadhara).</p>
<p style="text-align: justify;">Trong 33 năm, Đức Tulku Urgyen ngụ tại Nagi Gompa Hermitage, cao trên sườn phía nam của ngọn Shivapuri nhìn ra Thung lũng Kathmandu. Ở đó, Ngài đã ẩn tu trong hơn hai thập kỷ và hoàn thành các khóa nhập thất 3 năm theo truyền thống bốn lần. Dưới sự hướng dẫn của Ngài, hơn 300 tăng ni đã nghiên cứu và thực hành Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1980, Đức Tulku Urgyen Rinpoche và con trai cả của Ngài, Đức Tulku Chokyi Nyima Rinpoche đã du hành khắp châu Âu, Mỹ và Đông Nam Á  ban giáo lý Đại Viên Mãn và Đại Thủ Ấn cũng như các quán đảnh đến các cư sĩ cuồng nhiệt. Kể từ  đó, hàng năm gia đình của vị Lạt ma cao cấp này đã cùng nhau tham sự Hội thảo Fall tại điện thờ chính của Tu viện Ka-Nying Shedrub Ling về giáo lý Phật giáo tinh yếu, kết hợp với Kiến, Thiền, Hành của Đại Viên Mãn, Đại Thủ Ấn và Trung đạo.</p>
<p style="text-align: justify;">Các giáo lý Đại Viên Mãn và Đại Thủ Ấn, trong khi rất sâu rộng và thâm diệu, lại có thể được cô đọng thành thành các câu đơn giản áp dụng được ngay cho tình trạng tâm thức hiện tại của chúng ta. Đức Tulku Urgyen Rinpoche, được xem như là một Đạo sư Dzogchen  siêu phàm, nổi danh vì đã thực hiện thiền định chuyên sâu và với phong cách ngắn gọn, dễ hiểu và hài hước mà ông truyền đạt về bản chất của 84.000  pháp môn. Ít quan tâm đến loại hình kiến thức mang tính hệ thống hoặc với các bước lô-gic của triết học, Đức Tulku Urgyen trực tiếp chạm vào trạng thái tâm của người lắng nghe. Phương pháp giảng dạy của Ngài bao gồm "Giáo huấn thông qua kinh nghiệm của bản thân.”  Như vậy, chỉ với một vài từ, giáo lý của Ngài  đã trực tiếp chỉ ra bản chất của tâm thức, hiển lộ sự đơn giản tự nhiên của sự tỉnh thức và tạo điều kiện cho các học viên có thể thực sự chạm vào Trái Tim Trí Tuệ của Đức Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Các ấn phẩm của Đức Tulku Urgyen Rinpoche bằng tiếng Anh, bao gồm:  <em>Vang vọng lời Phật dạy, Như Nó là 1 &amp; 2,  Vẽ cầu vồng và Lời nói Kim cương</em>. Hồi ký và các câu chuyện về cuộc sống của Ngài được kể lại bởi Rinpoche, trong ấn phẩm gần đây Blazing Spendor. Sách được xuất bản bởi Rangjung Yeshe Publications</p>
<p style="text-align: justify;">Chẳng bao lâu trước bình minh ngày 13 tháng hai 1996, Đức Tulku Urgyen Rinpoche đã nhập Niết bàn và rời bỏ thế giới này. Suốt ngày hôm đó, bầu trời phía trên phòng nhập thất của Ngài  xanh biếc, trong suốt như pha lê, không một gợn mây.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>http://www.shedrub.org/teacherpage.php?tid=1</em></p>
<p style="text-align: justify;">Nguyên tác : Đức Chokyi Nyima Rinpoche và Erik Pema Kunsang.</p>
<p style="text-align: justify;">Việt ngữ : Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính : Giác nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với </em><em>Đức Tulku Urgyen Rinpoche</em> <em>đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này tái sinh của Ngài</em><em>, Tulku Urgyen Yangsi Rinpoche</em><em> sớm quang lâm đến Việt nam.</em></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-cua-duc-tulku-urgyen-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử của Đức Tulku Chökyi Nyima Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-cua-duc-tulku-chokyi-nyima-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-cua-duc-tulku-chokyi-nyima-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 04 Sep 2015 06:27:47 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Chokling Tersar]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Chokling Tersar]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3990</guid>
		<description><![CDATA[Tulku Chökyi Nyima Rinpoche sinh trưởng trong dòng họ Tsangsar vào tháng 7 Âm lịch năm 1951. Ngài  là trưởng tử của Tulku Urgyen Rinpoche  mà dòng họ Ngài đã trì giữ dòng truyền thừa Barom Kagyu (ngày nay rất hiếm) qua nhiều thế hệ. Lúc 18 tháng tuổi, Chökyi Nyima – Mặt trời Pháp – được công nhận là&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-cua-duc-tulku-chokyi-nyima-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Tulku Chökyi Nyima Rinpoche sinh trưởng trong dòng họ Tsangsar vào tháng 7 Âm lịch năm 1951. Ngài  là trưởng tử của Tulku Urgyen Rinpoche  mà dòng họ Ngài đã trì giữ dòng truyền thừa Barom Kagyu (ngày nay rất hiếm) qua nhiều thế hệ.</p>
<p style="text-align: justify;">Lúc 18 tháng tuổi, Chökyi Nyima – Mặt trời Pháp – được công nhận là Hóa thân thứ 7 của vị Lama dòng Drikung Kagyu, Đức Gar Drubchen, Đại thành tựu giả xứ Tây Tạng và Hóa thân của nhà triết học Phật giáo lừng danh thế kỉ 2, Long Thọ (Nagarjuna). Chẳng bao lâu sau, Ngài được tấn phong tại Tu viện của vị tiền nhiệm, Tu viện Drong Gon Tubten Dargye Ling ở Nakchukha, miền Trung Tây Tạng, cũng chính là nơi Ngài trở thành bậc Thầy giảng dạy giáo Pháp cho 300 tu sĩ.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1959, Chökyi Nyima và em trai Tsikey Chokling Rinpoche đã đăng kí tham gia học tại trường học dành cho các vị Lama trẻ tuổi tại Dalhousie, Ấn Độ. Năm 13 tuổi, Ngài đã vào Rumtek, vị trí của trường phái Kagyu và dành 11 năm nghiên cứu các truyền thống Karma Kagyu, Drikung Kagyu và Nyingma dưới sự chỉ dạy của các vị Đạo sư lỗi lạc như Đức Pháp Vương Gyalwang Karmapa, Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche và Kyabje Tulku Urgyen Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Miệt mài nghiên cứu các bộ luận giáo lý cổ xưa  như  Vasubhandu's Abhidharma Kosha, Di Lặc Ngũ Luận (Five Texts of Maitreya), Dharmakirti's Pramanavartika, Nhập Bồ Tát Hạnh của Ngài Tịch Thiên (Shantideva's Bodhicarya Avatara) và  Chandrakirti's Madhyamaka Avatara, Tulku Chökyi Nyima đã nhận được bằng Khenpo ngay khi còn rất trẻ.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1974, Nyima Rinpoche đã rời bỏ Rumtek, trở thành thị giả riêng cho Đức Rangjung Rigpey Dorje, vị Karmapa đời thứ 16 và đã gặp cha mẹ và em trai Ngài, Tsikey Chokling Rinpoche tại Boudhanath, vùng ngoại ô Kathmandu, Nepal. Tại đây, dưới chỉ thị của vị Karmapa đời thứ 16, dòng họ của những vị Lama cao cấp này đã thiết lập Tu viện Ka-Nying Shedrub Ling, nằm ở phía Bắc của Đại Bảo Tháp Jarung Khashor. Sau khi hoàn thành vào năm 1976, Rinpoche đã được các vị Karmapa  chỉ dẫn và trở thành Tu viện trưởng ở tuổi 25. Đức Pháp Vương cũng đã khuyên Tulku Chökyi Nyima dành nỗ lực chỉ dạy cho các hành giả phương Tây. Để thực hiện lời chỉ thị này, Rinpoche đã mài rũa kỹ năng tiếng Anh của mình và bắt đầu có những bài giảng cuối tuần cho cộng đồng người phương Tây đang phát triển ở Nepal và những du khách quan tâm. Chuỗi bài giảng miễn phí, được biết đến là “Đàm thoại sáng thứ 7” (Saturday Morning Talks), vẫn tiếp tục cho đến ngày nay.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1980, cùng với trưởng tử của Ngài, Chökyi Nyima Rinpoche, Tulku Urgyen Rinpoche đã thực hiện chuyến đi vòng quanh thế giới, xuyên  Đông Nam Á, châu Âu, châu Mỹ để đem giáo lý Đức Phật tới Phật tử khắp mọi nơi. Erik Pema Kunsang đã đồng hành làm phiên dịch cho Ngài. Bất cứ nơi nào mà các vị Lama đến thăm, họ đều ban các quán đảnh và giáo lý Đại Ấn và Đại Viên Mãn cho đại chúng. Sau khi trở về Nepal, năm 1981, Đức Chökyi Nyima Rinpoche đã thiết lập Học viện Phật giáo Rangjung Yeshe, nơi thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo và hội nghị chuyên đề quốc tế thường niên về Phật giáo. Năm 1997, Học viện đã mở rộng thêm Cao đẳng Phật giáo quốc tế, hay “shedra”, cung cấp chương trình chuyên sâu về nghiên cứu Phật giáo cho học viên từ khắp nơi trên thế giới. Kể từ đó, Học viện đã thành lập Trung tâm nghiên cứu Phật giáo tại Đại học Kathmandu, một học viện có cấp bằng lấy học bổng hoặc  nghiên cứu học thuật. Sau từ 3-5 năm nghiên cứu, sinh viên trong nước và quốc tế đều có thể nhận bằng BA và MA về ngành Nghiên Cứu Phật Học.</p>
<p style="text-align: justify;">Cuối năm 1981, Rinpoche đã thiết lập Nhà xuất bản Rangjung Yeshe, qua hàng thập kỷ đã xuất bản rất nhiều sách hay. Trong số các ấn phẩm của mình, giáo lý sung mãn, luận giảng và những bài viết Chokyi Nyima Rinpoche có thể được tìm thấy trong:  Hợp nhất Đại Ấn và Đại Viên Mãn   ( Union of Mahamudra and Dzogchen), Song of Karmapa, Bardo Guidebook, Indisputable Truth, Present Fresh Wakefulness and Medicine and Compassion.</p>
<p style="text-align: justify;">Rinpoche có khả năng tiếng Anh rất tốt và đã hướng dẫn rất nhiều học viên phương Tây về thực hành thiền năm 1977. Khi kế hoạch bận rộn của Ngài cho phép, vài sáng mỗi tuần Rinpoche đã mở cửa phòng điện thờ  và gặp riêng một vài người. Hơn nữa, mỗi mùa thu, ông tiến hành một Hội thảo 10 ngày về giáo lý Phật giáo, từ cơ bản nhất đến các bí truyền. Vì lợi ích của các chuyên gia quốc tế, các hội thảo được diễn ra ở Tây Tạng và được dịch sang tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Trung Quốc và một số ngôn ngữ khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Qua hàng thập kỉ Chökyi Nyima Rinpoche đã sáng lập thành công các Trung tâm Phật Pháp Tây Tạng và bây giờ Ngài đang tiến hành thiết lập tại Myanmar, Đan Mạch, Mỹ, Úc, Nga, Anh quốc và Pháp. Các nhóm nghiên cứu tu học dưới sự hướng dẫn của Ngài ở các quốc gia khác như Isarel, Hà Lan, Mê-hi-cô và Bồ Đào Nha. Hàng năm, Rinpoche di chuyển rộng rãi khắp châu Âu, Nga, châu Á, và châu Mỹ hướng dẫn các học viên về nội dung và giới luật đối với một Phật tử. Trong chuyến đi của Ngài, Ngài là người giảng dạy tại nhiều trường Đại học và Cao đẳng uy tín trên khắp thế giới như Harvard và Oxford.</p>
<p>Năm 2006, Rinpoche đã tái thiết lập Nhóm Dịch Dharmachakra, gồm các dịch giả chuyên nghiệp để chuyển dịch và ấn tống các bộ luận Phật giáo cổ điển từ tiếng Tạng và tiếng Phạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Khoảng hơn 30 năm nay, Đức Chökyi Nyima Rinpoche đã giám sát các phúc lợi và giáo dục tâm linh của 500 tăng ni tại Tu viện Ka-Nying Shedrub Ling, Trung tâm Nhập thất Hang động Asura và Nagi Gompa Hermitage. Tâm nguyện của Ngài là tăng gấp đôi số lượng người thọ giới và bởi vậy các tu viện và các trung tâm nhập thất dưới sự quản lý của Ngài đang phát triển và mở rộng không ngừng.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong thời gian này, phần lớn cuộc đời mình Rinpoche dành cho những nhu cầu tâm linh và cộng đồng  hành giả  địa phương Tây Tạng và Nepal. Như liều thuốc hỗ trợ cho những hoạt động tinh thần của mình tại địa phương và cho sự tiến bộ của cộng đồng xung quanh của tu viện, Rinpoche đã thành lập các tổ chức từ thiện Shenpen, đáp ứng nhu cầu đặc biệt thực tế của những người có hoàn cảnh khó khăn, chẳng hạn như chăm sóc sức khỏe và giáo dục. Shenpen được quản lý bởi một nhóm học viên thân cận của Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>http://www.shedrub.org/teacherpage.php?tid=2</em></p>
<p style="text-align: justify;">Việt dịch : Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính : Giác nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với </em><em>Đức Chökyi Nyima Rinpoche</em> <em>đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này Ngài sớm quang lâm đến Việt nam.</em></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-cua-duc-tulku-chokyi-nyima-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử ngắn của Chokgyur Lingpa đời thứ 4, Đức Tsikey Chokling</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/chokling-tersar/tieu-su-ngan-cua-chokgyur-lingpa-doi-thu-4-duc-tsikey-chokling/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/chokling-tersar/tieu-su-ngan-cua-chokgyur-lingpa-doi-thu-4-duc-tsikey-chokling/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 04 Sep 2015 06:13:10 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Chokling Tersar]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thừa Chokling]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Chokling Tersar]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3978</guid>
		<description><![CDATA[Cách đây 2500 năm, Đức Phật đã xuất hiện trong thế giới này và ban truyền giáo Pháp với ba cấp độ giáo Tiểu thừa, Đại thừa và Kim Cương thừa. Kim Cương thừa, bao gồm những phương tiện thiện xảo vi diệu để đạt được giác ngộ nhanh chóng, chỉ dành riêng cho những người thọ giáo xứng đáng&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/chokling-tersar/tieu-su-ngan-cua-chokgyur-lingpa-doi-thu-4-duc-tsikey-chokling/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Cách đây 2500 năm, Đức Phật đã xuất hiện trong thế giới này và ban truyền giáo Pháp với ba cấp độ giáo Tiểu thừa, Đại thừa và Kim Cương thừa. Kim Cương thừa, bao gồm những phương tiện thiện xảo vi diệu để đạt được giác ngộ nhanh chóng, chỉ dành riêng cho những người thọ giáo xứng đáng trong khi các giáo lý khác được truyền bá rộng rãi.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi sắp nhập Niết bàn, Đức Phật đã tiên đoán về sự xuất hiện của Đức Liên Hoa Sinh, một bậc Đao sư tâm linh vĩ đại, người sẽ người nắm giữ và truyền bá các giáo lý Kim Cương thừa. Đức Liên Hoa Sinh, hay Guru Rinpoche, chính là Hóa thân của Đức Phật  và sinh ra một cách kỳ diệu từ một bông hoa sen trong nước ở xứ Uddiyana.</p>
<p style="text-align: justify;">Đúng như lời tiên tri của Đức Phật, Đức Liên Hoa Sinh truyền bá giáo lý Kim Cương thừa và nghi lễ Mật thừa trên khắp Ấn Độ, Nepal, Tây Tạng, Bhutan và nhiều nước khác. Thông qua các giáo lý đặc biệt của Kho tàng tâm được cất giấu (Terma), cũng như thông qua dòng truyền thừa không gián đoạn từ vị thầy sang đệ tử, di chỉ và giáo huấn của Guru Rinpoche về bản chất  cao tột nhất của Phật giáo vẫn còn tồn tại đến ngày nay.</p>
<p style="text-align: justify;">Terton, hay Khai Mật Tạng, là Hóa thân của một trong những đệ tử thân cận của Guru Rinpoche chính là sứ giả của Đức Liên Hoa Sinh. Các giáo lý Terma được cất giấu bởi Đức Liên Hoa Sinh trong lòng đất, trong hang động, trên bầu trời và trong tâm của những đệ tử thân cận đầu tiên của Ngài. Guru Rinpoche sau đó niêm phong các kho tàng này với lời cầu nguyện thiêng liêng và sẽ được khám phá bởi một Terton  vào những thời điểm cụ thể trong tương lai, vì lợi ích của các thế hệ tiếp theo.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Chokgyur Dechen Lingpa đời thứ nhất, người đã xuất hiện trong thế giới này vào năm 1829, chính là một terton tái sinh như vậy. Sinh ra ở Nangchen, miền Đông Tây Tạng, Ngài là hóa thân thứ 13 của con trai  Vua Trisong Deutsen , Dịch giả Lhasey , đã tái sinh 13 lần liên tiếp thành Terton. Những thế kỷ trước đó, Đức Liên Hoa Sinh đã  tiên tri  Pháp danh của Đức Chokgyur Lingpa, nơi sinh, chính là người thọ nhận chính yếu giáo lý đã được khám phá của Ngài và những ảnh hưởng tuyệt vời trong việc truyền dạy giáo Pháp của Ngài đối với nhân loại.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Chokgyur Lingpa đời thứ nhất là một người bạn rất thân của Đức Jamyang Khyentse Vĩ Đại. Ở tuổi 27, Ngài đã trình bày một <em>sater</em> của Tukdrub Barchey Kunsel tới Đức Jamyang Khyentse Wangpo người đã nói rằng chính bản thân đã nhận một bản văn gần như giống hệt dưới  hình thức của một <em>Gongter</em> (Kho tàng tâm). Hai terma được kết hợp thành Tukdrub Barchey Kunsel và Terma này dành chung cho cả hai vị Lama này.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó, Đức Chokgyur Dechen Lingpa đã khám phá nhiều terma được tập hợp vào Chokling Tersar – gồm hơn 40 tập  quán đảnh, ủy quyền bằng văn bản và giáo huấn khẩu truyền được cất giấu trước đây bởi Đức Liên Hoa Sinh. Những kho tàng terma đã có ảnh hưởng to lớn đối với Phật giáo Kim Cương thừa trong 150 năm tiếp theo và cho đến ngày nay, được thực hành rộng rãi trên toàn thế giới. Điều này là do cả hai vị Karmapa đời thứ 14 và 15 là những đệ tử chân truyền của Ngài. Hơn nữa, những người thọ giáo cao quý là những bậc thầy nổi tiếng đã truyền bá rộng rãi những giáo lý mà Đức Terchen Chokgyur Lingpa đã khám phá.</p>
<p style="text-align: justify;">Sinh năm 1953, Đức Lungtok Gyatso, con trai thứ hai của Tulku Urgyen Rinpoche, đã được xác nhận tại Tsurphu bởi Đức Pháp Vương Gyalwang Karmapa đời thứ 16 là Hóa thân thứ 4 của Đức Terchen Chokgyur Dechen Lingpa và được ban Pháp danh Gyurmey Dewey Dorje - chính thức được biết đến là Kela Chokling và Tsikey Chokling.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1959, Đức Chokling Rinpoche và anh trai của Ngài, Đức Chokyi Nyima Rinpoche theo học tại trường dành cho các Lạt ma trẻ tuổi ở Dalhousie, Ấn Độ. Năm 11 tuổi, Tsikey Chokling và anh trai của Ngài, Đức Chokyi Nyima Rinpoche, trở lại Sikkim và bước vào Tu viện Rumtek, vị trí của Karmapa đời thứ 16, đã cùng nhau bắt đầu  thụ nhận nền giáo dục cao cấp của Tu viện.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong khi ở Rumtek, Đức Tsikey Chokling Rinpoche đã hoàn thành giai đoạn học tập, nghiên cứu vất vả dưới sự hướng dẫn của nhiều bậc thầy Phật giáo xuất sắc, đứng đầu là Đức Pháp Vương. Dưới sự chỉ dạy của Đức Khenchen Rinpoche Thrangu, Ngài đã nghiên cứu triết học Phật giáo, . Dưới  sự hướng dẫn của Ven. Tenga Rinpoche, Ngài đã nắm vững các nghi quỹ Kim cương thừa và dưới sự hướng dẫn của Đức Kalu Rinpoche, Ngài đã hoàn thiện Sáu Giáo huấn của Naropa.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngoài ra, Đức Tsikey Chokling Rinpoche đã thọ nhận trao truyền chính yếu của dòng truyền thừa Nyingma từ Đức Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche và Đức Kyabje Dudjom Rinpoche. Từ cha mình, Tulku Urgyen Rinpoche,  Đức Tsikey Chokling Rinpoche đã thọ nhận nhiều lần trao truyền cho dòng truyền thừa của Chokling Tersar, hay Kho tàng mới, được khám phá bởi người tiền nhiệm của mình, Đức Chokgyur Lingpa đời thứ nhất.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1974, Đức Tsikey Chokling Rinpoche và Chokyi Nyima Rinpoche rời bỏ Rumtek và hành trình đường bộ đến Kathmandu, nơi họ đã gặp cha mẹ.  Các Ngài đã theo chỉ thị của  Karmapa thứ 16 và vượt qua khó khăn để xây dựng một trong những tu viện lớn nhất của Nepal, Ka-Nying Shedrub Ling, mà sau đó đã được khánh thành bởi Quốc vương Birendra Bir Bikram Shah và được Thánh hóa bởi Đức Karmapa thứ 16 vào năm 1976. Kể từ thời điểm đó, Tsikey Chokling Rinpoche đã ở tại Tu viện, nơi Ngài nắm giữ vị trí Đạo sư Kim Cương (Vajra Master), thực hiện các nghi quỹ Kim cương thừa phức tạp và uy lực vì lợi ích của cộng đồng tu viện và giáo dân.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Tsikey Chokling Rinpoche là một Terton và một hành giả cư sĩ  có một vị phối ngẫu và bốn người con. Con trai  lớn của Ngài  đã được xác nhận bởi Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 là Hóa thân Taklung Kagyu quan trọng trong khi con trai thứ của Ngài được xác nhận và tấn phong là Hóa thân  Đức Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche bởi thánh Trulshik Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì lợi lạc của chúng sinh, Đức Tsikey Chokling Rinpoche chính là vị nắm giữ bí truyền các terma của Đức Liên Hoa Sinh và đủ phẩm tính để truyền bá giáo Pháp cho chúng sinh khắp cõi giới này.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.shedrub.org/teacherpage.php?tid=3"><em>http://www.shedrub.org/teacherpage.php?tid=3</em></a></p>
<p style="text-align: justify;">Việt ngữ : Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính : Giác nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với </em><em>Đức Tsikey Chokling Rinpoche</em> <em>đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này Ngài sớm quang lâm đến Việt nam.</em></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/chokling-tersar/tieu-su-ngan-cua-chokgyur-lingpa-doi-thu-4-duc-tsikey-chokling/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tổ Chokgyur Dechen Lingpa</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/chokling-tersar/truyen-thua-chokling/lich-su-ngan-truyen-thong-ka-nying/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/chokling-tersar/truyen-thua-chokling/lich-su-ngan-truyen-thong-ka-nying/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 04 Sep 2015 04:58:04 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Khai Mật Tạng]]></category>
		<category><![CDATA[Terma & Terton]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thừa Chokling]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Chokling Tersar]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3969</guid>
		<description><![CDATA[ Tổ Chokgyur Dechen Lingpa Bậc nắm giữ kho tàng Terma Chokling Tersar Cách đây 2500 năm, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lần đầu tiên đã giảng dạy giáo lý con đường giác ngộ cho chúng sinh trong cõi giới này. Khi âm vang Giáo Pháp của Đức Phật lan truyền khắp muôn nơi, vị Thầy giác ngộ vô song&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/chokling-tersar/truyen-thua-chokling/lich-su-ngan-truyen-thong-ka-nying/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong> Tổ Chokgyur Dechen Lingpa Bậc nắm giữ kho tàng Terma Chokling Tersar</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Cách đây 2500 năm, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lần đầu tiên đã giảng dạy giáo lý con đường giác ngộ cho chúng sinh trong cõi giới này. Khi âm vang Giáo Pháp của Đức Phật lan truyền khắp muôn nơi, vị Thầy giác ngộ vô song này đã dành cả đời mình để truyền bá Phật Pháp khắp đất nước Ấn Độ. Hàng thế kỉ sau khi Đức Phật nhập niết bàn, các giáo lý của Ngài phát triển sâu rộng khắp Ấn Độ và lan truyền tới hầu hết các quốc gia châu Á. Những giáo lý của Ngài đã mang lại hạnh phúc, lợi lạc và giải thoát cho tất cả những ai thực hành chúng.</p>
<p style="text-align: justify;">Tại Tây Tạng, những lời dạy của Đức Phật luôn được giữ gìn với lòng sùng mộ mãnh liệt xuyên suốt lịch sử. Trong một thời gian ngắn, tất cả các dòng phái nghiên cứu và thực hành Phật giáo đều được đồng nhất và trì giữ một cách không gián đoạn từ thế hệ này sang thế hệ khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Đạo sư vĩ đại Ấn Độ thế kỉ thứ 8, Đức Liên Hoa Sanh, đã đến Tây tạng và chịu trách nhiệm hoằng truyền giáo lý Kim Cương Thừa khắp Tây Tạng, Ngài được biết đến là Guru Rinpoche, nghĩa là “ Đạo sư Tôn quý”.</p>
<p style="text-align: justify;">Toàn bộ giáo lý Phật giáo và các phương pháp thực hành như Đại Toàn Thiện (Dzogchen) chính là thị hiện từ giác tánh của Đạo sư Liên Hoa Sanh. Trong suốt thời gian ở Tây Tạng, Guru Rinpoche đã trao truyền những giáo lý thâm diệu tới các đệ tử thân cận nhất của Ngài. Ngài tin tưởng các đệ tử của mình và giao phó bảo vệ các giáo lý Dzogchen vì lợi lạc của thế hệ tương lai. Guru Rinpoche đã hướng dẫn các đệ tử đem giáo lý đến với chúng sinh trong không gian và thời gian thích hợp chỉ sau khi người thọ nhận chin muồi về mặt tâm thức, để đem lại lợi lạc cho chúng sinh mau chóng đạt giác ngộ từ sức mạnh vô tận của giáo lý Dzogchen.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhờ những hiển lộ phi thường của Đức Chokgyur Dechen Lingpa (1829-1870), tu viện Ka-Nying Shedrub Ling chính là nơi trực tiếp thọ nhận giáo lý Đại Toàn Thiện. Khai Mật Tạng vĩ đại của phái Nyingma là vị cuối cùng trong số 108 vị Khai mật tạng khám phá  Kho Tàng Tâm được cất giấu của Đức Liên Hoa Sanh. Dòng truyền thừa của Chokgyur Lingpa, được biết đến là Chokling Tersar đã trải qua ít nhất 15 thế kỉ. Các giáo lý hai dòng phái Kagyu và Nyingma của Phật giáo Tây Tạng được đem vào thực hành.</p>
<p style="text-align: justify;">Cách mà Tu viện Ka-Nying Shedrub Ling kết nối với phái Kagyu của Phật giáo Tây Tạng như thế nào? Tu viện được thiết lập dựa trên mối liên kết Pháp với Đức Pháp Vương Gyalwang Karmapa đời thứ 16. Người sáng lập tu viện, Đức Kyabje Tulku Urgyen Rinpoche chính là vị hộ trì chính của dòng Barom Kagyu. Hơn nữa, ba trong số sáu người con trai của Ngài Chökyi Nyima Rinpoche, Tsoknyi Rinpoche và Yongey Mingyur Rinpoche là những vị Lama đáng tôn kính lần lượt thuộc các dòng truyền thừa Drikung Kagyu, Drukpa Kagyu và Karma Kagyu. Hơn nữa, dòng họ của các Lama cao cấp chính là hậu duệ của Đức Terchen Chokgyur Dechen Lingpa. Bởi vậy, huyết thống của họ là thuộc phái Nyingma trong khi Hóa thân lại thuộc dòng Kagyu.</p>
<p style="text-align: justify;">Hơn nữa, con trai lớn của Đức Tsikey Chokling Rinpoche, Đức Phakchok Rinpoche chính là Bậc trì giữ phái Taklung Kagyu và con trai nhỏ, Khyentse Yangsi Rinpoche, là Hóa thân của một trong số các Vị Khai Mật Tạng Nyingma vĩ đại nhất của thế kỉ 20, Đức Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche, và đều các hậu duệ trực tiếp của Terchen Chokgyur Dechen Lingpa. Do đó, Ka chính là từ Kagyu và Nying chính là từ Nyingma – tạo thành tên Ka-Nying Shedrub Ling.</p>
<p style="text-align: justify;">Cách mà tu viện Ka-Nying Shedrub Ling đã trì giữ các dòng phái Nyingma và Kagyu như thế nào? Là một địa điểm  dành cho việc nghiên cứu và thực hành chuyên sâu các giáo lý và các pháp tu của cả hai dòng phái cũng như các bản Kinh và các pháp thực hành tu tập của Đức Phật khi chúng đã được trao truyền trong dòng truyền thừa không gián đoạn, với một truyền thống thực hành tâm linh hết sức thanh tịnh và Kinh điển, Mật điển được truyền giữ thông qua các hoạt động vì lợi lạc giáo Pháp của Đấng Giác Ngộ đều diễn ra sống động tại Tu viện Ka-Nying Shedrub Ling.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.shedrub.org/page.php?page=lineage"><em>http://www.shedrub.org/page.php?page=lineage</em></a></p>
<p style="text-align: justify;">Việt dịch : Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính : Giác nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với </em><em>truyền thống </em><em>Ka-Nying</em> <em>đều được lợi lạc và cầu mong nhờ công đức này </em><em>truyền thống </em><em>Ka-Nying</em> <em>sẽ nở rộ tại </em><em>Việt nam</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/chokling-tersar/truyen-thua-chokling/lich-su-ngan-truyen-thong-ka-nying/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
