<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Chokling Tersar</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-khac/chokling-tersar/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Fri, 17 Apr 2026 16:09:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Bốn Pháp Của Gampopa</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/bon-phap-cua-gampopa/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/bon-phap-cua-gampopa/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 04 Oct 2015 03:17:29 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Chokling Tersar]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Chokling]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6070</guid>
		<description><![CDATA[By Tulku Urgyen Rinpoche Gampopa Trước khi thọ nhận giáo lý, hãy cùng khởi lên động cơ của bồ đề tâm cao quý. Hãy mong ước rằng: “Con sẽ nghiên cứu Pháp và thực hành đúng đắn để thiết lập tất cả những bà mẹ của con, hữu tình chúng sinh nhiều như hư không, trong trạng thái giải thoát&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/bon-phap-cua-gampopa/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>By Tulku Urgyen Rinpoche</strong><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/tải-xuống7.jpg"><br />
<img class="  wp-image-6073 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/tải-xuống7-213x300.jpg" alt="tải xuống" width="376" height="530" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Gampopa</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Trước khi thọ nhận giáo lý, hãy cùng khởi lên động cơ của bồ đề tâm cao quý. Hãy mong ước rằng: “Con sẽ nghiên cứu Pháp và thực hành đúng đắn để thiết lập tất cả những bà mẹ của con, hữu tình chúng sinh nhiều như hư không, trong trạng thái giải thoát và giác ngộ tối thắng.”</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi muốn giới thiệu một giáo lý gọi là “<b><i>Bốn Pháp của Gampopa</i></b>,” tương tự như bốn chỉ dẫn của ngài Longchen Rabjam. Đầu tiên trong đó là cách thức chuyển tâm về thực hành Pháp. Bao trọn trong đó là bốn niệm chuyển tâm. Pháp thứ hai là cách thức đảm bảo rằng thực hành Pháp trở thành con đường. Điều này bao gồm những giáo lý về thực hành dự bị bốn lần một trăm nghìn. Trong Pháp thứ ba, cách thức để xua tan vô minh trên con đường, có những giáo lý về giai đoạn phát triển, trì tụng và giai đoạn hoàn thiện. Và trong Pháp thứ tư, có những giáo lý về cách thức đạt được sự xác quyết, chứng ngộ trạng thái tự nhiên bằng ba tri kiến vĩ đại. Người ta nói rằng nền tảng là Đại thủ ấn, con đường là Trung Đạo và kết quả là Đại toàn thiện. Bốn Pháp của Gampopa chứa đựng trọn vẹn con đường để mỗi cá nhân đạt đến giác ngộ hoàn hảo trong thân này và đời này.</p>
<p style="text-align: justify;">Tất cả chúng ta ở đây đã có được điều vô cùng khó khăn mới đạt được – thân người quý giá với tám tự do và mười thuận duyên. Đó là thứ gì đó chỉ xảy ra trong một trong một trăm niên kỷ. Hiện tại nó xảy đến với chúng ta, chính thời điểm này. Khi chúng ta còn sống trong thân người này, nó dường như thật dễ dàng để sinh ra làm người. Dường như chẳng cần nỗ lực gì. Tuy nhiên, thành thật mà nói, thân người là cực kỳ khó đạt được và đòi hỏi một lượng công đức lớn lao từ nhiều đời quá khứ. Chính bởi nghiệp tốt lành trong quá khứ kết hợp với những khát nguyện thanh tịnh mà hiện tại chúng ta có được thân người quý giá.</p>
<p style="text-align: justify;">Hoàn cảnh hiện tại của chúng ta giống như việc tìm thấy một viên ngọc quý. Đừng lãng phí nó. Thời gian đang cạn dần; chúng ta đều phải chết. Nguyên nhân của việc không thể đạt được trạng thái hoàn hảo về vật chất trong đời này là bởi không gì tồn tại mãi. Mọi thứ là vô thường; mọi người đều chết. Nếu lúc chết là kết thúc hoàn toàn, giống như nước khô hay lửa bị dập tắt, nó sẽ ổn – cái chết sẽ chẳng có kết quả gì. Không may là, điều này không xảy ra. Những kết quả của nghiệp theo chúng ta sau khi chết như hình với bóng. Luật nhân quả khiến chúng ta phải trải qua những kết quả của việc ta đã làm. Những nơi mà chúng ta trải qua sự chín muồi của nghiệp được gọi là sáu cõi luân hồi. Tình thế này đã tiếp diễn từ vô thủy và chúng ta vẫn chưa được giải phóng.</p>
<p style="text-align: justify;">Hãy quán chiếu về ý nghĩa của bốn chủ đề tôi vừa đề cập: khó khăn của việc có được thân người quý giá, sự thật rằng không gì tồn tại mãi, rằng chúng ta đều phải chết, và mọi người đều bị chi phối bởi kết quả của những hành động nghiệp, chẳng có nơi nào trong luân hồi có hạnh phúc mãi mãi. Chúng được gọi là bốn niệm chuyển tâm. Việc thấu triệt chúng là vô cùng quan trọng, bởi vì chúng không phải điều hư cấu hay ảo tưởng. Chúng là sự thật; chúng giải thích những hoàn cảnh và điều kiện mà chúng ta sống trong luân hồi.</p>
<p style="text-align: justify;">Không phải là không thể hiểu được rằng chúng ta phải chết, cũng như những chi tiết về điều tiếp theo. Chúng ta đều đứng thành hàng vì điều đó, chờ đợi nó xảy ra. Chúng ta cần đối mặt với những sự thật này theo một cách thức thực tế. Trước khi bắt đầu thực hành chánh Pháp, điều quan trọng là cần hiểu chúng thực sự. Đó là điểm đầu tiên trong <b>Bốn Pháp của Gampopa</b>: cách thức hướng tâm về với Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">Thứ hai, cách thức đảm bảo thực hành Pháp trở thành con đường, bao gồm các thực hành sơ khởi bốn lần một trăm nghìn. Thông qua bốn niệm chuyển tâm, chúng ta phát triển mong muốn giải phóng khỏi luân hồi và đạt được trạng thái giác ngộ cao quý, không chỉ cho bản thân, mà còn cho tất thảy chúng sinh. Chúng ta đã sẵn sàng quy y Tam Bảo. Phật là trạng thái toàn tri giác ngộ hoàn toàn và hoàn hảo. Pháp là con đường dẫn tới trạng thái đó, tức là các giáo lý. Tăng là tất thảy chư đạo sư, những bậc nắm giữ, xiển dương và hoằng bá giáo lý từ thời Đức Phật cho đến bậc thầy từ ái của chúng ta, những người mà chúng ta đã kết nối. Quy y Tam Bảo với niềm tin và xác quyết trọn vẹn đảm bảo rằng chúng ta có cơ hội trở thành những bậc giác ngộ. Quy y và tìm kiếm chỉ dẫn từ Tam Bảo là điều mở ra con đường dẫn tới giác ngộ. Đó là phần đầu tiên trong các thực hành sơ khởi.</p>
<p style="text-align: justify;">Tiếp theo điều này là phát bồ đề tâm. Không có bồ đề tâm, chúng ta không thể bước đi trên con đường Đại thừa. Hiểu biết rằng mọi hữu tình chúng sinh khác thực sự là cha mẹ chúng ta trong các đời quá khứ đã cung cấp nền tảng quan trọng cho những tiến bộ. Từng con côn trùng nhỏ bé mà chúng ta gặp, không ngoại lệ, đều là cha mẹ chúng ta – không chỉ một lần, mà rất nhiều lần. Và tất cả đều đang bước sai đường. Họ muốn hạnh phúc, nhưng không biết cách thức đạt được. Phát triển bồ đề tâm nghĩa là tạo ra lòng quyết tâm dũng mãnh nhất này: “Con sẽ dẫn dắt mọi hữu tình chúng sinh đến trạng thái giác ngộ!” Giới Bồ Tát này là điều tạo ra sự khác biệt giữa một hành giả Tiểu thừa và Đại thừa. Thọ nhận giới này được gọi là phát bồ đề tâm. Quy y và phát bồ đề tâm là tinh túy của con đường.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi thực hành một nghi quỹ, chúng ta có thể thực hành ba thừa – Tiểu thừa, Đại thừa và Kim Cương thừa – một cách đồng thời. Bất cứ khi nào bạn thực hành một bổn tôn đặc biệt, bạn luôn bắt đầu với quy y và bồ đề tâm, những yếu tố của Tiểu thừa và Đại thừa. Không có cách nào khác. Bổn tôn, trì tụng thần chú và quán tưởng, là thực hành Kim Cương thừa. Như thế, không thể thực hành Kim Cương thừa mà không là hành giả Tiểu thừa và Đại thừa. Ba thừa được thực hành trên cùng một tấm nệm.</p>
<p style="text-align: justify;">Các thực hành của cả ba thừa đều nằm trọn trong thực hành sơ khởi. Thực hành đầu tiên là Quy y và Phát bồ đề tâm. Sau đó là Quán tưởng và trì tụng Kim Cương Tát Đỏa, thực hành Kim Cương thừa thực sự. Thực hành Kim Cương Tát Đỏa bao gồm bốn sức mạnh chữa lành, đầu tiên là sức mạnh của sự hỗ trợ - quán tưởng Phật Kim Cương Tát Đỏa. Thứ hai là sức mạnh của phương pháp đối trị được áp dụng, trì tụng thần chú trăm âm của Đức Kim Cương Tát Đỏa và quán tưởng trận mưa và sự tịnh hóa bằng cam lồ. Thứ ba là sức mạnh của sự ăn năn về các ác hạnh trong quá khứ. Thứ tư là sức mạnh của lòng quyết tâm, hứa nguyện không bao giờ tái phạm. Đức Phật dạy rằng thực hành trì tụng thần chú Kim Cương Tát Đỏa trong khi nhớ về bốn sức mạnh chữa lành này giúp tịnh hóa mọi ác nghiệp, thậm chí dù nó có lớn như núi Tu Di.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi trì tụng thần chú Kim Cương Tát Đỏa sẽ đến phần Cúng dường mạn-đà-la, điều đảm bảo rằng chúng ta sẽ không tạo ra chướng ngại trên con đường thực hành. Trong đó, chúng ta sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi bằng việc tích tập những thứ chúng ta có thể mang theo – sự tích lũy công đức và trí tuệ. Có ba cấp độ cúng dường mạn-đà-la: mạn-đà-la bên ngoài, cúng dường vũ trụ bên ngoài; mạn đà la bên trong, cúng dường các chúng sinh bên trong; và cuối cùng mạn đà la bí mật, cúng dường sự như thị tuyệt đối, tương ứng với ba thân. Kết hợp cùng nhau, ba cấp độ này được gọi là “tích tập công đức và trí tuệ.”</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó là Đạo sư Du già, phần thứ tư trong các pháp tu sơ khởi. Đạo sư Du già thường được nói là thâm sâu hơn cả thực hành chính yếu, bởi trong đó, chúng ta nhận được sự gia trì từ một truyền thừa không gián đoạn các đạo sư. Sự gia trì này đến từ Pháp thân Phật Phổ Hiền đến bậc thầy gốc của chúng ta. Nó giống như ống nước nối nhà bạn và trạm cấp nước, thứ cho phép nước chảy ra khi bạn mở vòi. Dòng truyền thừa không gián đoạn của các đạo sư giác ngộ kết nối với bạn nhờ những vị thầy của bạn giống như ống nước đó. Nhờ đó, chúng ta có thể nhận được sự gia trì của Phật, Pháp và Tăng, của ba thân trong thực hành của chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi thực sự dấn thân vào các thực hành sơ khởi, chúng ta có thể xua tan chướng ngại trên con đường tâm linh và tạo ra nhiều thuận duyên để nhanh chóng chứng ngộ kết quả tối thắng. Đó chính xác là ý nghĩa của Pháp thứ hai trong <i>Bốn Pháp của Gampopa</i>: cách thức đảm bảo thực hành của Pháp trở thành con đường.</p>
<p style="text-align: justify;">Một vài người coi họ là hành giả của riêng Đại thừa hay Kim Cương thừa. Số khác nói họ chỉ theo Theravada, rằng họ không biết điều gì khác ngoài đó. Nhưng nói như vậy chỉ cho thấy sự thiếu hiểu biết. Ba thừa không hề tách biệt. Chúng ta có thể thực hành chúng đồng thời – thực sự, chúng ta cần phải như vậy để có một nền tảng vững chắc. Không thực sự thấu triệt bốn niệm chuyển tâm và quy y, chúng ta không có nền tảng thực sự để kết nối với các giáo lý Phật Đà. Giống như vậy, nếu bạn muốn uống trà, bạn cần một chỗ để cái cốc. Bạn cần cái bàn, giống như nền tảng của giáo lý Tiểu thừa hay Thanh Văn thừa. Bạn cũng cần cái cốc đựng trà, tức là thái độ Đại thừa. Và bạn cần trà – nếu không sẽ chẳng có gì để uống, và bạn cần phải uống. Giáo lý Kim Cương thừa giống như chất lỏng được đổ vào cốc.</p>
<p style="text-align: justify;">Giống như vậy, để giác ngộ, trước tiên chúng ta cần kết nối với Tam Bảo. Quy y liên quan đến việc giao phó bản thân; điều đó chứa đựng giáo lý Tiểu thừa. Sau đó, mục đích của việc đơn độc giác ngộ trong khi tất thảy những bà mẹ của chúng ta trôi lăn trong luân hồi là gì? Điều đó thật đáng xấu hổ. Người ta nói rằng quan điểm Tiểu thừa thì nhỏ bé như vũng nước, trong khi Đại thừa thì rộng lớn như đại dương. Mọi người cần giác ngộ - không phải chỉ riêng chúng ta. Thứ ba, không có giáo lý thâm sâu của Kim Cương thừa bao gồm bổn tôn, thần chú và định, chẳng có cách nào để chứng ta đạt tới giác ngộ hoàn toàn trong chính đời này và thân này. Vì thế, chúng ta cần cả ba thừa: Tiểu thừa, Đại thừa và Kim Cương thừa. Thật vô ích khi tự coi bản thân là một hành giả cao cấp, kẻ chẳng cần những giáo lý “thấp hơn.” Thái độ như vậy sẽ là phi thực tế.</p>
<p style="text-align: justify;">Đảm bảo rằng thực hành Pháp trở thành con đường nghĩa là tịnh hóa những che chướng và ác hạnh, điều tạo ra chướng ngại và ngăn cản con đường dẫn tới giác ngộ hoàn toàn. Có một nguyên nhân chính để thực hành các pháp tu sơ khởi, mặc dù vài người có thể nghĩ rằng chúng là không cần thiết. Nhờ thực hành sơ khởi, chúng ta thực sự có thể xua tan chướng ngại và khiến thực hành Pháp trở thành con đường giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi đã xua tan chướng cản và tích tập công đức và trí tuệ, chúng ta bước sang Pháp thứ ba của Gampopa: cách thức để con đường xua tan vô minh. Vô minh ở đây được hiểu là thứ che lấp bản tính thiên bẩm của chúng ta và ngăn cản giác ngộ. Mọi người đều có Phật tính, mọi hữu tình chúng sinh không sót một ai. Không may là, chúng ta không biết tài sản đó. Chúng ta rơi vào vô minh và trôi lăn trong luân hồi. Hãy tưởng tượng khi một viên ngọc như ý rơi xuống bùn và bị che lấp bởi đất bẩn. Trước tiên, viên ngọc cần được nhận ra. Sau đó nó cần được làm sạch. Khi điều này xảy ra, nó có thể được sử dụng. Chúng ta đều là những viên ngọc như ý, nhưng không biết về điều đó, và như thế không thể sử dụng chúng. Chúng ta cần lau sạch chất bẩn bao trùm trạng thái cơ bản của bản thân, tức viên ngọc như ý. Cách thức để làm điều này là thực hành Kim Cương thừa.</p>
<p style="text-align: justify;">Cách thức tốt nhất và thâm sâu nhất để làm vậy là nhờ ba nguyên tắc của thực hành Kim Cương thừa: bổn tôn, thần chú và định. Bằng việc tu tập trong giai đoạn phát triển bao gồm bổn tôn, thần chú và định, chúng ta hiện thực hóa điều mà chúng ta đã là. Để thực hành giai đoạn phát triển một cách đúng đắn, chúng ta cần buông bỏ tri kiến thế tục vật chất, tầm thường. Đừng trì tụng những lời cầu nguyện bổn tôn khi nghĩ rằng, “Tôi đang ở thế giới này, trong ngôi nhà bình thường, trong thân bình thường của tôi.” Trước tiên chúng ta cần tan hòa mọi thứ vào hư không rộng lớn, sau đó quán tưởng cung điện linh thánh, ngai tòa của bổn tôn và mọi chi tiết khác. Nhờ việc tu tập về bổn tôn, thần chú và định này, chúng ta có thể khiến con đường xua tan vô minh.</p>
<p style="text-align: justify;">Hãy nhớ rằng, trong thực hành giai đoạn phát triển, chúng ta không quán tưởng rằng chúng ta là thứ gì đó mà chúng ta không phải là. Mọi người đều sở hữu tinh túy giác ngộ, điều được ban tặng với ba kim cương, ba khía cạnh giác ngộ. Cách thức để nhận ra điều đó một cách trọn vẹn là nhờ bổn tôn, thần chú và định. Thực hành phát triển là đơn giản biết bản chất của mọi thứ như nó là. Tu tập như vậy giống như biết viên ngọc là viên ngọc như ý, điều mà nó thực sự là. Nó không phải là việc chúng ta tưởng tượng một viên đá bình thường trở thành một viên ngọc. Viên đá không bao giờ sở hữu giá trị hay phẩm chất của viên ngọc, dù chúng ta quán tưởng thế nào. Thực hành giai đoạn phát triển vô cùng thâm sâu.</p>
<p style="text-align: justify;">Bây giờ hãy xem xét Pháp thứ tư của Gampopa, để vô minh tỏa sáng như trí tuệ. Mặc dù điều sắp được nói ở đây nghe rất cao xa, tôi không tự tạo ra điều gì. Tôi không có khả năng tạo ra giáo lý của riêng mình hay sáng tạo con đường mới vẻ, thâm sâu, không gì hết! Thậm chí nếu tôi có thể, cũng vô ích khi làm vậy, bởi người ta sẽ không thích thú. Thay vào đó, tôi lặp lại những lời dạy của Đức Phật và các đạo sư vĩ đại trong quá khứ.</p>
<p style="text-align: justify;">Mọi hữu tình chúng sinh, không một ngoại lệ nào, đều có Phật tính, từ Pháp thân Phật đến con côn trùng bé nhất. Không có sự khác biệt nào giữa phẩm chất hay kích cỡ của tinh túy giác ngộ giữa từng cá nhân. Tuy nhiên, chư Phật và những Bồ Tát giác ngộ hoàn toàn đã cắt bỏ tâm nhị nguyên từ đầu. Đó là cách mà các ngài khác với hữu tình chúng sinh. Sự hiển bày của tâm chư Phật và Bồ Tát mang hình tướng những hoạt động từ ái. Hoạt động này, nhờ những hóa thân và tái sinh, xuất hiện trong mọi cõi luân hồi để giảng dạy chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Mặt khác, hữu tình chúng sinh rơi vào tầm ảnh hưởng của suy nghĩ nhị nguyên. Sự chú ý của một người bình thường sẽ trượt theo sự chuyển động của tâm. Đột nhiên, có sự hỗn độn trong việc tin tưởng về ngã và tha, chủ thể và đối tượng, và điều này cứ tiếp diễn không ngừng. Đó là luân hồi. Phật và Bồ Tát đã thành công trong việc đi tới miền đất giác ngộ. Nhưng chúng ta, hữu tình chúng sinh trở nên hoang dại, và đang trong trạng thái không thành công, không thỏa mãn. Chúng ta vẫn trong đại dương luân hồi; chúng ta chưa thể nhô lên khỏi mặt nước. Chúng ta trôi lăn trong trạng thái vô minh không ngừng. Cùng lúc đó, chúng ta không mất đi Phật tính. Phật tính không bao giờ tách rời khỏi tâm dù chỉ một giây. Mặc dù chúng ta không tách rời khỏi nó, chúng ta không biết nó, và vì thế, trôi lăn trong luân hồi.</p>
<p style="text-align: justify;">Bây giờ là lúc để giải phóng bản thân khỏi luân hồi. Nếu chúng ta không làm vậy trong đời này, nó sẽ không tự diễn ra. Chúng ta phải chăm lo cho bản thân. Ngay bây giờ, chúng ta có khả năng thọ nhận giáo lý và thực hành Pháp. Điều này không đúng sao? Chẳng phải sẽ tốt hơn nếu không tiếp tục hành xử như con vật, chỉ tập trung vào ăn ngủ và để thời gian trôi qua? Tại sao không nắm lấy tương lai của mình?</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta có thể nhận ra bản tính bởi chúng ta đã trải nghiệm lòng từ ái vĩ đại của một bậc giác ngộ hoàn toàn đã hiển bày trên cõi giới này. Đức Phật không chỉ xuất hiện, ngài đã thuyết giảng những chỉ dẫn quý giá về cách thức chứng ngộ Phật tính. Và những giáo lý về cách thức nhận ra tinh túy giác ngộ này vẫn được trao truyền nhờ dòng truyền thừa không gián đoạn các đạo sư vĩ đại.</p>
<p style="text-align: justify;">“Vô minh tỏa sáng như trí tuệ” nghĩa là nhận ra rằng Phật tính tràn khắp mọi hữu tình chúng sinh. Chúng ta không mất nó; nó không bao giờ tách rời khỏi tâm chúng ta dù chỉ một giây. Phật tính này luôn hiện hữu, và thứ duy nhất che lấp nó là ý nghĩ của chúng ta. Không gì khác che lấp nó. Tinh túy bị che lấp bởi sự hiển bày. Điều này giống như mặt trời chiếu sáng rạng ngời trên bầu trời quang. Thứ duy nhất che lấp mặt trời là những đám mây. Và những đám mây tự chúng được tạo thành nhờ sự hiển bày của mặt trời – ánh sáng và hơi ấm. Chúng không đến từ một nơi nào khác. Sức nóng từ mặt trời khiến nước bốc hơi và tạo thành những đám mây che lấp mặt trời. Giống như vậy, sự hiển bày những chú ý của chúng ta mang hình tướng là ý nghĩ vô minh che lấp chúng ta. Nói cách khác, chúng ta đang che lấp Phật tính của mình, và bây giờ là lúc để xua tan vô minh này.</p>
<p style="text-align: justify;">Hiện nay, chúng ta có đủ phước báu để có những giáo lý tuyệt vời, điều chỉ cho chúng ta cách thức nhận ra bản tính và đạt được giải thoát. Nếu chúng ta lựa chọn sẽ duy trì bị che lấp bởi hành động và cảm xúc, chúng ta sẽ không biết điều gì sẽ xảy ra tiếp sau. Chúng ta sống ngày này qua ngày khác. Nếu mai chúng ta chết, hôm nay chúng ta cũng không biết. Chúng ta thực sự ngu ngốc như lũ vật. Từ một quan điểm khác, thậm chí chúng ta còn ngốc hơn, bởi vì chúng ta có thể nhận giáo lý về cách thức thực hành; thực sự, chúng đã có thể đã làm vậy. Nếu chúng ta không áp dụng chúng, chúng ta còn ngu hơn nhiều so với một con vật. Động vật không thể làm được gì; chúng ở trong thân tướng không thể thọ nhận giáo lý. Nhưng không may là, chúng ta, những con người, kẻ đã được giới thiệu con đường tâm linh, có thể lãng phí cơ hội quý giá này. Điều đó sẽ thật đáng buồn!</p>
<p style="text-align: justify;">Nhờ lòng từ bi của Tam Bảo, bây giờ chúng ta có phước báu để thọ nhận giáo lý, nhờ đó có thể để vô minh chói ngời như trí tuệ. Vô minh ở đây nghĩa là tin rằng mọi thứ là cái mà nó không phải là. Vô minh giống như nhầm lẫn. Làm sao chúng ta có thể chuyến hóa vô minh thành trí tuệ? Đầu tiên, chúng ta cần hiểu vô minh là gì. Vô minh là việc nhầm lẫn điều nó không phải với điều nó là. Nó ngược lại với việc biết điều nó là như nó là. Ở Tây Tạng có một loại thuốc gọi là <i>datura</i>, thứ mà khi bạn uống, sẽ khiến người khác xuất hiện như thể họ có năm mười cái đầu hay ba mươi tay. Chúng ta biết rằng điều này là không thể trên thế giới này; đây là ví dụ về vô minh.</p>
<p style="text-align: justify;">Phật tính có ba phẩm tính của Thân, Khẩu và Ý giác ngộ. Phẩm tính bất biến, giống như sự mở rộng của hư không được gọi là thân kim cương. Phẩm tính không ngừng gọi là khẩu kim cương. Phẩm tính không sai lầm, khả năng nhìn nhận mà không cần ý nghĩ, được gọi là ý kim cương. Ba điều này – thân, khẩu và ý kim cương – luôn hiện hữu như là bản chất của mọi hữu tình chúng sinh. Tất cả những gì chúng ta cần làm là nhận ra điều này. Mặc dù chúng ta có ba kim cương, chúng ta không biết điều đó, và tiếp tục trôi lăn trong luân hồi. Vô minh thông thường che lấp ba kim cương thiên bẩm của chúng ta. Thân vật lý với thịt và máu che lấp thân kim cương. Những từ ngữ và âm thanh chúng ta phát ra, thứ bị gián đoạn và được tạo ra gián đoạn, che lấp phẩm tính không ngừng của khẩu kim cương. Và những ý nghĩ đến và đi của chúng ta, không ngừng khởi lên và ngừng lại từ lúc này qua lúc khác, ngày qua ngày, đời này sang đời khác, chính xác là thứ che lấp khẩm tính không sai lầm của ý kim cương. Điều cần thiết bây giờ là nhận ra bản tính của bản thân, thay vì vô minh như vậy.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Tulku Urgyen Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Trích: <b>Như nó là</b> (tập 1), Tulku Urgyen Rinpoche.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Pema Jyana.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: https://thuvienhoasen.org/a16215/bon-phap-cua-gampopa</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/bon-phap-cua-gampopa/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ba Kim Cương</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/5894/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/5894/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 24 Sep 2015 17:33:54 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Chokling Tersar]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Chokling]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5894</guid>
		<description><![CDATA[By Tulku Urgyen Rinpoche Bây giờ tôi muốn giải thích về ba lời khuyên của ngài Atisha, gọi là Ba Kim Cương. Trong rất rất lâu, chúng ta trôi lăn trong luân hồi từ đời này sang đời khác. Chúng ta đã chết và tái sinh và lại chết, điều này gần như vô tân. Cứ như thể chúng ta&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/5894/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/578531_10150725866258446_1753134210_n.jpg"><img class="alignnone  wp-image-5896" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/578531_10150725866258446_1753134210_n-225x300.jpg" alt="578531_10150725866258446_1753134210_n" width="336" height="448" /></a></p>
<p style="text-align: center;">By Tulku Urgyen Rinpoche</p>
<p style="text-align: justify;">Bây giờ tôi muốn giải thích về ba lời khuyên của ngài Atisha, gọi là <b><i>Ba Kim Cương</i></b>. Trong rất rất lâu, chúng ta trôi lăn trong luân hồi từ đời này sang đời khác. Chúng ta đã chết và tái sinh và lại chết, điều này gần như vô tân. Cứ như thể chúng ta đang đi xuyên qua một đại dương rộng lớn. Đức Phật dạy rằng, “Luân hồi giống như một đại dương khổ đau bất tận.” Hãy chú ý rằng ngài không nói nó là đại dương của hạnh phúc: luân hồi luôn được gọi là “bể khổ”, chưa bao giờ là “bể hạnh phúc.”</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu chúng ta nhận ra sự thật này và tin tưởng vào nó, nếu chúng ta thực sự mong muốn thoát khỏi khổ đau này, ai có thể giải thoát cho chúng ta? Không phải là người cai trị đất nước chúng ta đang sinh sống, không phải cha hay mẹ chúng ta, cũng không phải bạn bè, đầy tớ, sự nổi tiếng hay tài sản của chúng ta – không điều gì trong những thứ này có thể giải thoát chúng ta khỏi luân hồi ảo mộng. Chỉ có những cố gắng về tâm linh mà chúng ta thực hiện mới có thể làm vậy. Khi chúng ta hiểu điều này, chúng ta không nên để bản thân bị ngăn cản hay do dự khỏi con đường đó. Bởi vậy lời khuyên đầu tiên của ngài Atisha là “Hãy đặt trước bạn chày kim cương không thể rung chuyển của sự quyết tâm.”</p>
<p style="text-align: justify;">Hãy đặt trước bạn chày kim cương của sự quyết tâm có nghĩa là: đừng để bất cứ ai – dù họ là ai, thậm chí vị thầy tâm linh của bạn – làm bạn nhụt chí trong việc thực hành Pháp. Một vị đạo sư chân chính, muốn bạn được giải thoát, sẽ không bao giờ nói, “Đừng theo đuổi Pháp.” Bởi vậy, bước đầu tiên trong việc theo đuổi con đường tâm linh là hình thành một thái độ không thể rung động, “Tôi sẽ không để người hay việc gì cản ngăn trên con đường hành Pháp.” Nếu thầy bạn nói rằng, “Đừng theo đuổi thiên hướng tâm linh của con,” bạn có lẽ đã sai lầm trong việc chọn đạo sư.</p>
<p style="text-align: justify;">Tương tự, đừng để bất kỳ ai mua chuộc hay đe dọa bạn không tham gia vào vấn đề tâm linh. Ai đó có thể nói rằng, “Tôi sẽ tặng bạn một nửa tài sản trên thế giới này nếu bạn hứa không thực hành Pháp nữa. Chỉ cần từ bỏ tâm linh, và tôi sẽ đưa tiền cho bạn.” Chúng ta không nên để kiểu dụ dỗ này lôi kéo mình. Mặt khác, ai đó có thể đe dọa bạn, chĩa súng vào ngực bạn và nói, “Tôi sẽ bắn anh trừ phi anh hứa sẽ từ bỏ những nỗ lực về tôn giáo!” Bằng miêng của mình, dĩ nhiên, bạn sẽ nói, “Vâng, tôi sẽ từ bỏ nó,” nhưng thực sự bên trong, từ tận trái tim, bạn chắc chắn không nên đồng ý như vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Có một sự áp dụng ít gây ấn tượng hơn và thực tế hơn nhiều của điểm này, đó là lý do mà tôi nêu ra. Chúng ta thường nghe rằng, “vẻ bề ngoài rất hấp dẫn và tâm không kiên định.” Vẻ bề ngoài quyến rũ nghĩa là khi chúng ta thấy một vẻ đẹp, nghe thấy một âm thanh dễ chịu, ngửi thấy một mùi hương ngọt ngào, ăn những món ngon, và cảm thấy những vật dễ chịu chạm vào cơ thể, tâm chúng ta ngay lập tức bị cuốn hút. Những đối tượng dễ chịu này thu hút và tóm lấy sự chú ý của chúng ta. Mặt khác, khi chúng ta gặp phải điều gì đó không dễ chịu – một hình dạng xấu xí, một âm thanh khó chịu, mùi hương ghê tởm, vị khó chịu hay những kết cấu thô ráp – chúng ta cảm thấy ghê tởm, và thậm chí là thù ghét. Tâm nhị nguyên là sự bất ổn định cơ bản trong khía cạnh này. Kiểu chú ý này dễ dàng bị thu hút nhưng cũng dễ dàng tắt ngấm là sự bất ổn định vốn có. Khi trạng thái bất ổn định, không kiên định của tâm này gặp phải những hiện tượng hấp dẫn, nó sẽ bị cuốn đi ngay. Để tránh việc này, chúng ta cần một sự phân tích chắc chắn không dao động. Đây là điểm đầu tiên trong ba điểm: mà Đức Atisha bảo chúng ta hãy quyết định chắc chắn, “hãy đặt trước bạn chày kim cương của sự quyết tâm.”</p>
<p style="text-align: justify;">Điều thứ hai trong ba Kim Cương là, “Hãy đặt sau bạn chày kim cương của sự tự tin.” Khi chúng ta bắt đầu thực hành Pháp, ta sẽ cảm thấy mong muốn lớn lao được giải thoát. Chúng ta muốn từ bỏ sự dính líu đến luân hồi thông qua con đường tâm linh. Tuy nhiên, có một câu ngạn ngữ trong tiếng Tây Tạng là, “Một thiền gia mới từ bỏ vàng, trong khi các thiền gia lâu năm lại thu thập các đế giày mòn của mình.” Nói cách khác, ban đầu chúng ta có cảm giác rằng chẳng có vấn đề gì trên đời cả; chúng ta có thể dễ dàng từ bỏ tất cả, và nghĩ rằng, “Tôi không còn bám chấp vào bất cứ thứ gì!” Sau đó một cách chậm rãi, sau hai hay ba năm chúng ta bắt đầu cảm thấy chán ngán và mệt mỏi. Thậm chí những chiếc đế giày cũ cũng mang trên mình một tầm quan trọng mới. Có thể chúng ta nghĩ rằng, “Những cái này có thể cắt ra và dùng làm dây buộc bò <i>yak</i> lại.” Chúng ta bắt đầu nắm lấy một số thứ, lên đủ loại kế hoạch sử dụng chúng sau này.</p>
<p style="text-align: justify;">Đặt sau bạn chày kim cương của sự tự tin cũng liên quan đến sự gây ấn tượng mà chúng ta tự làm với bản thân và người khác. Ví dụ, khi người ta biết rằng một cá nhân đang tiến các bước trên con đường tâm linh, một trách nhiệm cũng luôn đi kèm. Nếu sau đó người đó quay trở lại và từ bỏ nó, hành động đó sẽ phá hủy nhận thức thanh tịnh trong người khác và thậm chí có thể làm lụi bại Pháp vì họ. Vì vậy, tốt hơn là nên bắt đầu một cách chậm rãi và tiến bộ dần dần trên con đường thay vì bắt đầu một cách thông minh và sau đó trở nên chán nản và vô cảm.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta nên như một con nai rừng bị rơi vào bẫy. Khi nó cố gắng kéo mạnh chân nó [khỏi cái bẫy] nó sẽ dần dần lao đến một nơi không người cư trú. Tốt nhất là chúng ta nên tạo ra thái độ này. Sau đó, trong thân này và trong đời này, chúng ta có thể từ bỏ mọi bám chấp vào quê hương và các mối liên hệ cá nhân. Sống ở một vùng xa lạ, chúng ta như một đứa con của những ngọn núi. Theo cách này, cả bản thân chúng ta và nhiều người khác sẽ được lợi lạc. Những người khác sẽ thấy rằng giáo lý thực sự chính xác, và sẽ có được sự tự tin rằng thực hành có thể từ bỏ luân hồi trong chính cuộc đời này và đạt được một vài sự chứng ngộ. Bởi vậy, điều quan trọng là quyết định ngay từ đầu, đặt chày kim cương của sự tự tin đằng sau bản thân chúng ta. Sau đó ta sẽ không thấy hối tiếc cho bất cứ việc gì chúng ta làm.</p>
<p style="text-align: justify;">Kim Cương thứ ba là “Hãy đồng hành cùng với chày kim cương của trí tuệ thanh tịnh”. Ở đây, sự thanh tịnh của trí tuệ liên quan đến sự thanh tịnh của tâm tỉnh giác nguyên sơ. Đây là Phật tánh của chúng ta, bản chất giác ngộ, cũng được gọi là <i>rangjung yeshe</i>, tâm tỉnh thức tự tồn tại. Đầu tiên chúng ta nên nhận ra điều này, dứt khoát về nó và chắc chắn về khả năng của chúng ta có thể giải thoát khỏi mọi trạng thái suy nghĩ. Sau khi đã nhận ra, chúng ta rèn luyện trong sức mạnh của sự nhận ra đó, cho đến khi cuối cùng chúng ta đạt được sự ổn định. Quyết định làm như vậy chính là chày kim cương thứ ba – “Hãy đồng hành với chày kim cương của trí tuệ thanh tịnh.” “Chày kim cương của trí tuệ thanh tịnh” là tâm tỉnh thức tự tồn tại, luôn có sẵn trong chúng ta bởi vì đó là bản chất của chúng ta. Để hình thành sự quyết tâm, “Tôi sẽ nhận ra bản tánh của tôi như nó vẫn là!” là chày kim cương cuối cùng trong Ba Kim Cương.</p>
<p style="text-align: justify;">Cũng có một chuỗi các câu nói của ngài Atisha được gọi là “Bốn Mục tiêu”. Đầu tiên là “Hướng tâm của bạn về với Pháp.” Điều này nghĩa là mục đích cuối cùng của bạn phải hướng đến cái mà thực sự và ý nghĩa thay vì là những bám chấp tầm thường. Khi chúng ta hướng mục tiêu về với Pháp, chúng ta có thể giải thoát và giác ngộ; nhưng nếu chúng ta hướng về những thành tựu tầm thường, chẳng có cách nào trên đời để ta có thể giải thoát hay giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài Atisha cũng nói rằng, “Hãy hướng Pháp của bạn về với cách sống đơn giản,” không phải là tài sản giàu có. Sẽ dễ dàng hơn để theo đuổi giáo Pháp nếu chúng ta chỉ là một hành giả. Nếu ta tích lũy rất nhiều tài sản trước khi bắt đầu thực hành Pháp, chúng ta sẽ cảm thấy cần duy trì một mức sống ổn định. Sẽ cần rất nhiều nỗ lực để tăng tài sản, để bảo vệ chúng, và chắc chắn rằng chúng không hết. Điều này kéo theo rất nhiều lo lắng và vướng bận; bởi vậy, tốt nhất là hướng sự thực hành của bạn đến một cuộc sống đơn giản.</p>
<p style="text-align: justify;">Mục tiêu thứ ba là “Hướng đến cuộc sống đơn giản trong suốt cuộc đời,” không phải chỉ trong một thời gian ngắn. Đừng nghĩ rằng, “Tốt thôi, tôi sẽ thực hành Pháp như một hành giả đơn giản trong một lúc và sau đó sẽ thành tựu lớn lao, trở nên giàu có và quan trọng.” Đừng bao giờ nghĩ theo hướng này. Thay vào đó, hãy hướng về việc duy trì là một hành giả đơn giản trong suốt cuộc đời, cho đến tận khi chết.</p>
<p style="text-align: justify;">Cuối cùng ngài Atisha cũng dạy, “Hãy hướng cái chết của bạn đến một sự cô độc.” Điều này có nghĩa là hãy quyết định chết một mình và không hề có bạn trong một khu nhập thất hẻo lánh hay một vùng hoang vắng, mà không bị vây quanh bởi các thị giả và bạn đồng hành. Đây là “Bốn Mục tiêu.”</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài Atisha cũng bảo chúng ta cần “ngồi ở một cái ghế thấp”, tức là giữ hạnh khiêm cung. Đừng nỗ lực để cao lớn và quan trọng. Hãy chỉ mặc quần áo đơn giản, không phải quần áo đắt tiền; hãy mặc bất cứ thứ gì mà bạn có được. Hơn thế nữa, ngài nói rằng, “Hãy làm cho thức ăn, quần áo và danh tiếng thất bại.” Ví dụ, khi một cuộc tranh luận kết thúc, một bên thắng trong khi bên khác thua. Nói cách khác, đừng để tâm bạn bận tâm với thức ăn, quần áo, danh tiếng và sự quan trọng.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài Atisha cũng dạy rằng, “Hãy là thầy của chính mình.” Hãy là người hướng đạo của chính mình. Đừng duy trì trong trạng thái mà ở đó bạn luôn nhận lệnh từ người khác. Hãy sống theo cách mà bạn dựa vào chính bản thân mình. Nếu bạn có thể làm như vậy, bạn có khả năng là một hành giả thanh tịnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức đạo sư vĩ đại, ngài Atisha cũng sống theo những nguyên tắc này, và đạt được những thành tựu lớn lao. Chúng ta nên cố gắng hết sức để áp dụng các lời khuyên của ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi bạn quyết định thực hành Pháp, hãy theo nó đến cuối cùng. Nếu không, như ngài Patrul Rinpoche đã từng nói, “Khi còn trẻ, chúng ta bị kiểm soát bởi người khác và chẳng thể thực hành.” Thông thường, cho đến khi người ta 17, hay 18, họ phải nghe lời cha mẹ hay ngập đầu trong trường học hay ở nhà; họ không thể đi khỏi và thực hành. Patrul Rinpoche tiếp tục nói rằng, “Khi trưởng thành, chúng ta theo đuổi sự thoải mái và không thể thực hành. Khi chúng ta già, chúng ta mất đi khả năng và không thể thực hành. Chao ôi! Chúng ta phải làm gì bây giờ?”</p>
<p style="text-align: justify;">Bởi vậy, nếu muốn thực hành, chúng ta cần quyết định cách thức để làm như vậy. Tốt nhất là chúng ta có thể là những hành giả hoàn hảo, thanh tịnh và chí thành. Nếu không, ít nhất cũng cần thể hiện một nữa trong số những điều kể trên, hay ít nhất là suy nghĩ đến từng phần của lời khuyên này và sống với nó.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Phật đối xử với mọi hữu tình chúng sinh như thể là với cha mẹ hay con cái của ngài. Khi ngài nói và đưa ra các lời khuyên, ngài cũng làm vậy một cách chân thành như cha hay mẹ, trên giường bệnh với cái chết đang đến gần, nói những lời cuối cùng với con trai hay con gái. Với sự nhận thức này, mọi giáo lý của đức Phật là những lời nói đến từ trái tim, như là lời khuyên cuối cùng của cha mẹ sắp chết.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi chúng ta áp dụng các giáo lý của đức Phật, chúng ta tiến hành theo ba bước hay giai đoạn. Đầu tiên, chúng ta nghiên cứu giáo lý, học chúng một cách kĩ lưỡng. Sau đó, chúng ta quán chiếu về chúng, cố gắng hiểu một cách rõ ràng. Thứ ba, chúng ta rèn luyện trong chúng, mang mọi điều đã học vào thực hành. Nên có một vài sự ảnh hưởng từ điều này. Nghiên cứu giáo lý Phật Đà nghĩa là chúng ta học về các hành động thiện và ác. Chúng ta hiểu các sự lựa chọn của mình. Chúng ta hiểu rằng mọi thứ đều tạo ra bởi các hành động nghiệp và các cảm xúc gây phiền hà của chính chúng ta, và chúng ta phát hiện ra cách để tịnh hóa và tiêu trừ chúng. Bằng cách nghiên cứu điều này, quán chiếu về nó và cuối cùng áp dụng nó, sẽ có một vài kết quả. Người ta nói rằng kết quả của việc nghiên cứu và quán chiếu là việc người ta sẽ trở nên tốt bụng và kỷ luật hơn. Kết quả của việc thiền định là các cảm xúc gây phiền hà như là thù ghét, gắn bó và ngu dốt sẽ dần dần giảm bớt. Đây là dấu hiệu chân thực của việc thực hành thiền định.</p>
<address>Trích: Bức tranh Cầu vồng, Tulku Urgyen Rinpoche.</address>
<address>Việt dịch: Nhóm Thuận Duyên.</address>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/5894/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử ngắn của Đức Phakchok Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-ngan-cua-duc-phakchok-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-ngan-cua-duc-phakchok-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 05 Sep 2015 15:33:31 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Taklung Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Chokling Tersar]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Taklung]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=4223</guid>
		<description><![CDATA[Trong 4 trường phái Kagyu chính và 8 trường phái Kagyu nhỏ, Pháp chủ phi phàm Đức Taklungpa Tashi Pal, vang danh khắp 3 cõi luân hồi (Tam giới), đã thiết lập truyền thống Taklung Kagyu trong thế giới này. Nhiều thế kỉ sau, Đức Liên Hoa Sanh đã tiên tri trong một terma rằng: “ Khi Dharmatala trưởng dưỡng&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-ngan-cua-duc-phakchok-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Trong 4 trường phái Kagyu chính và 8 trường phái Kagyu nhỏ, Pháp chủ phi phàm Đức Taklungpa Tashi Pal, vang danh khắp 3 cõi luân hồi (Tam giới), đã thiết lập truyền thống Taklung Kagyu trong thế giới này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Nhiều thế kỉ sau, Đức Liên Hoa Sanh đã tiên tri trong một terma rằng: “ Khi Dharmatala trưởng dưỡng các giáo lý của Đức Phật, một tu sĩ tên là Taklungpa sẽ xuất hiện”. Đúng như lời tiên tri này, Taklungpa Tashi Pal đã thành lập 2 tu viện chính yếu và trong đó Tu viện Riwoche ở Dokham do vị hộ trì Kim cương Phakchok của Taklung Martang đứng đầu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Hóa thân của Đức Phakchok Rinpoche bao gồm Pháp chủ Mật thừa (Lord of Secrets Dharmevajra); Đệ tử thân cận nhất của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, A La Hán Anan; Đệ tử trực tiếp của Đức Liên Hoa Sinh, Lhalung Palgyi Dorje; Đại thành tựu giả, (Rechung) Dorje Drakpa và nhiều những vị khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Hóa thân Phakchok đầu tiên là vị hộ trì thứ 13 tại Tu viện Riwoche vinh quang. Sinh trưởng trong dòng họ Taklung Gazi vào năm 1688, về sau Ngài được thọ giới xuất gia bởi Đức Taksham Nuden Dorje và đã tu học cùng với các bậc Đạo sư thành tựu và uyên thâm, trở thành một Đại thành tựu giả, một Đại học giả lừng lẫy. Sau khi được tấn phong tại Yang-gon, các hoạt động của Đức Phakchok Rinpoche đời thứ nhất được lan truyền mạnh mẽ, theo cả hai hình thức tâm linh và thế tục và Đức Kalsang Gyatso, Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 7 đã ban ân phước đặc biệt cho Ngài. Hơn nữa Hoàng đế Yutrig đã ban ấn tín (Credential) bằng vàng và trao vị trí Nomihan cùng với ấn, kiệu và lọng cho Ngài. Sau khi hoàn thành lợi ích to lớn trong việc giảng dạy giáo Pháp và làm lợi lạc chúng sanh qua việc làm chủ quyền năng kỳ diệu và sự thấu suốt, Ngài đã nhập Niết bàn. Mỗi Hóa thân ở đời kế tiếp của Ngài lại hiển lộ những phẩm tính đặc biệt và đem lại lợi ích lớn lao cho chúng sinh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Hóa thân Phakchok đời thứ 6, Ngawang Jigmey Drakpa Tubten Namgyal, là vị hộ trì thứ 22 của Riwoche. Sinh trưởng trong dòng họ Sedor Bongkar, Ngài  sau đó đã được tấn phong tại  Tu viện Yang-Gon. Với sự hướng dẫn từ Đức Jedrung Trinley Jampey Jungney  và từ nhiều bậc thầy tâm linh khác, Ngài đã hoàn thành nghiên cứu chung về các con đường được phân loại của Kinh điển và Mật điển. Đặc biệt, Ngài đã nhận được các bản kinh và giáo lý cho các quán đảnh làm chín muồi dòng tâm thức và các giáo huấn giải thoát của truyền thống Taklung vô song. Ngài đã trải qua một thời gian dài nhập thất ẩn tu và trở thành viên ngọc sáng chói nhất trong số tất cả các bậc thầy uyên thâm và thành tựu. Ngài cũng chính là sự thị hiện thiêng liêng của Thân, Khẩu, Ý (của chư Phật ba thời). Năm 1952, Ngài đã mời Đức Tenzin Drakpa của Katok, còn được gọi là Pema Rangdrol, một bậc Đạo sư uyên thâm sở hữu những phẩm tính ngay thẳng, bộc trực và cao quý, đến thiết lập một Shedra mới cho truyền thống Taklung và Drukpa Kagyu. Do sự tàn phá kinh khủng của quân đội xâm lược, Ngài đã viên tịch ở Chamdo năm 1979.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Tháng 5 năm 1981, Hóa thân thứ 7 của Đức Phakchok Rinpoche được sinh ra với những dấu hiệu kỳ diệu. Hóa thân Phakchok đời thứ 7 là cháu trai đầu lòng của Đức Kyabje Tulku Urgyen Rinpoche. Cha của Ngài, Đức Tsikey Chokling Rinpoche, là Hóa thân đời thứ 4 của Đức Terchen Chokgyur Lingpa, và mẹ của Ngài, Bà Dechen Paldron, xuất thân từ gia đình Gatsal Tashi Delek của Gyangtse, một gia đình dòng dõi từ  Đức Zurchung Sherab Drakpa lừng lẫy. Trong số sáu bộ tộc gốc Tây Tạng, tổ tiên đằng nội của Đức Phakchok Rinpoche là Nangchen Tsangsar của dòng Khepaga, là những vị hộ trì chính của dòng truyền thừa Kagyu Barom.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Khi còn nhỏ, Đức Phakchok Rinpoche đã được công nhận bởi các nhiếp chính Kagyu là Hóa thân thứ 7 trong chuỗi hóa thân của Riwoche Phakchok. Thọ giới từ  Đức Dalai Lama thứ 14, Tenzin Gyatso,  Ngài  chính thức được ban Pháp danh là Tenzin Jigmey Drakpa. Do trí tuệ vượt trội và phẩm tính thừa hưởng từ những tu tập  đời trước, khi còn nhỏ, Đức Phakchok Rinpoche đã dễ dàng thấu hiểu cả đọc và viết và có được sự hiểu biết mà không cần nỗ lực về các chủ đề kiến ​​thức chỉ đơn giản là bằng cách nghe những gì được nói.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Phakchok Rinpoche đã thọ nhận hàng ngàn quán đảnh làm chín muồi dòng tâm thức và các giáo huấn giải thoát từ những bậc Đạo sư của các trường phái Sarma và Nyingma như Đức Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche, Kyabje Tulku Urgyen Rinpoche, Kyabje Chogye Trichen Rinpoche, Kyabje Tsetrul Rinpoche, Kyabje Trulshik Rinpoche, Nyoshul Khen Rinpoche, Tsikey Chokling Rinpoche và những vị khác. Từ Đức Kyabje Taklung Shabdrung Rinpoche, Ngài đã thọ nhận toàn bộ quán đảnh và trao  truyền đọc của Taklung Kagyu và toàn bộ quán đảnh và trao truyền cho các tác phẩm và giáo lý terma của Đức Jedrung Rinpoche.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Hiện nay, Đức Phakchok Rinpoche có số lượng các đệ tử ngày càng tăng lên, cư trú ở cả Nepal và nhiều nơi khác trên khắp thế giới. Nhiều năm, Gần như Ngài du hành liên tục để mang lại mang giáo lý tâm yếu của Phật pháp, trao truyền đọc và quán đảnh cho những người theo Ngài ở châu Âu, Bắc Mỹ, Mexico và Đông Nam Á. Để biết thêm thông tin về cuộc đời Ngài, những Hóa thân trước đây, các dự án hiện tại và vân vân, vui lòng truy cập trang web của Ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"><em>Đây là một phiên bản đã được chỉnh sửa về cuốn tiểu sử của Đức Phakchok Rinpoche, được soạn bởi Hiệp hội Riwoche . Điều này đã được chuyển dịch bởi Erik Pema Kunsang tại Tu viện Ka-Nying Shedrub Ling vào tháng 2 năm 2000 và sửa đổi bởi S. Lhamo.  Để có bản văn đầy đủ của "Lịch sử của những hóa thân Phakchok", vui lòng truy cập: </em><a style="color: #000000;" href="http://www.phakchokrinpoche.org"><em>www.phakchokrinpoche.org</em></a></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"><em>http://www.shedrub.org/teacherpage.php?tid=4</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Việt dịch : Nhóm Rigpa Lotsawas</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Hiệu đính : Giác nhiên</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với </em><em>Đức Phakchok Rinpoche đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này Ngài sớm quang lâm đến Việt nam.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"> </span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-ngan-cua-duc-phakchok-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử ngắn của Đức Tulku Urgyen Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-cua-duc-tulku-urgyen-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-cua-duc-tulku-urgyen-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 04 Sep 2015 07:01:45 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Chokling Tersar]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Chokling Tersar]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3999</guid>
		<description><![CDATA[Đức Tulku Urgyen Rinpoche sinh tại miền Đông Tây Tạng vào ngày 10 tháng 4 theo Tạng lịch năm 1920. Ngài được xác nhận bởi Đức Pháp Vương Gyalwang Karmapa đời thứ 15 là Hóa thân của Đức Chöwang Tulku và Nubchen Sangye Yeshe, đệ tử tâm truyền của Đức Liên Hoa Sanh. Đạo sư Chowang đời thứ nhất (1212-70&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-cua-duc-tulku-urgyen-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Đức Tulku Urgyen Rinpoche sinh tại miền Đông Tây Tạng vào ngày 10 tháng 4 theo Tạng lịch năm 1920. Ngài được xác nhận bởi Đức Pháp Vương Gyalwang Karmapa đời thứ 15 là Hóa thân của Đức Chöwang Tulku và Nubchen Sangye Yeshe, đệ tử tâm truyền của Đức Liên Hoa Sanh. Đạo sư Chowang đời thứ nhất (1212-70 AD) là một trong Năm Khai Mật Tạng Vương, vị khai phá các bản văn bí mật được cất giấu bởi Đạo sư Liên Hoa Sinh vì lợi ích của các thế hệ sau.</p>
<p style="text-align: justify;">Tu viện chính của Đức Tulku Urgyen Rinpoche là Lachab Gompa ở Nangchen, miền Đông  Tây Tạng. Tại đây, Ngài nghiên cứu và thực hành giáo lý của cả hai trường phái Phật Giáo Tây Tạng Kagyu và Nyingma. Trong các trường phái Kagyu lớn, dòng dõi của Ngài là những vị hộ trì chính của Dòng truyền thừa Barom Kagyu.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong truyền thống Nyingma, Đức Tulku Urgyen nắm giữ toàn bộ giáo lý của ba bậc Thầy tâm linh vĩ đại thế kỷ 19 là Đức Terchen Chokgyur Lingpa, Jamyang Khyentse Wangpo và Kongtrul Lodro Thaye. Ngài sở hữu một trao truyền đặc biệt gần gũi dành cho các Kho tàng mới đã được tái khám phá bởi cụ của Ngài, Đức Terchen Chokgyur Lingpa. Đây là tuyển tập các  giáo lý, quán đảnh, trao truyền đọc và giáo huấn khẩu truyền bởi Đức Liên Hoa Sinh. Rinpoche đã trao truyền truyền thống quý báu này cho các nhiếp chính của dòng truyền thừa Karma Kagyu cũng như  nhiều vị tulku, tu sĩ và cư sĩ khác của học viện.</p>
<p style="text-align: justify;">Tại sao Tulku Urgyen Rinpoche có mối quan hệ sâu sắc với Dòng truyền thừa của các vị Karmapa?  Đức Gyalwang Karmapa thứ 14 là một trong những vị thọ giáo chính các terma của Chokgyur Lingpa, nhận các quán đảnh từ chính vị terton này . Một thế hệ sau này, cháu của Chokgyur Lingpa, Đức Tulku Samten Gyatso,  vị Thầy gốc của Đức Tulku Urgyen Rinpoche, đã ban trao truyền giống như vậy tới Đức Gyalwang Karmapa thứ 15, Khakyab Dorje. Cuối cùng, Đức Tulku Urgyen Rinpoche đã vinh dự ban trao truyền chính của Chokling Tersar  tới  Đức Rangjung Dorje Rigpey, Gyalwang Karmapa đời thứ 16. Hơn nữa, Đức Tulku Urgyen cảm thấy may mắn khi có thể ban các trao truyền cho Dzogchen Desum quan trọng, "Ba phần của Đại Toàn Thiện," tới cả Đức Pháp Vương Karmapa và Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche,và các tulku, tu sĩ của Kagyu và Nyingma cùng các cư sĩ khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Tulku Urgyen Rinpoche đã thiết lập sáu tu viện và các trung tâm nhập thất ở Nepal, quan trọng nhất là một tu viện lớn ở Boudhanath, gần Đại  Bảo Tháp Jarung Khashor, và liền kề với hang động Asura nơi Đức Liên Hoa Sinh đã thành tựu cấp độ Trì Minh Vương Đại Thủ Ấn (Mahamudra Vidyadhara).</p>
<p style="text-align: justify;">Trong 33 năm, Đức Tulku Urgyen ngụ tại Nagi Gompa Hermitage, cao trên sườn phía nam của ngọn Shivapuri nhìn ra Thung lũng Kathmandu. Ở đó, Ngài đã ẩn tu trong hơn hai thập kỷ và hoàn thành các khóa nhập thất 3 năm theo truyền thống bốn lần. Dưới sự hướng dẫn của Ngài, hơn 300 tăng ni đã nghiên cứu và thực hành Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1980, Đức Tulku Urgyen Rinpoche và con trai cả của Ngài, Đức Tulku Chokyi Nyima Rinpoche đã du hành khắp châu Âu, Mỹ và Đông Nam Á  ban giáo lý Đại Viên Mãn và Đại Thủ Ấn cũng như các quán đảnh đến các cư sĩ cuồng nhiệt. Kể từ  đó, hàng năm gia đình của vị Lạt ma cao cấp này đã cùng nhau tham sự Hội thảo Fall tại điện thờ chính của Tu viện Ka-Nying Shedrub Ling về giáo lý Phật giáo tinh yếu, kết hợp với Kiến, Thiền, Hành của Đại Viên Mãn, Đại Thủ Ấn và Trung đạo.</p>
<p style="text-align: justify;">Các giáo lý Đại Viên Mãn và Đại Thủ Ấn, trong khi rất sâu rộng và thâm diệu, lại có thể được cô đọng thành thành các câu đơn giản áp dụng được ngay cho tình trạng tâm thức hiện tại của chúng ta. Đức Tulku Urgyen Rinpoche, được xem như là một Đạo sư Dzogchen  siêu phàm, nổi danh vì đã thực hiện thiền định chuyên sâu và với phong cách ngắn gọn, dễ hiểu và hài hước mà ông truyền đạt về bản chất của 84.000  pháp môn. Ít quan tâm đến loại hình kiến thức mang tính hệ thống hoặc với các bước lô-gic của triết học, Đức Tulku Urgyen trực tiếp chạm vào trạng thái tâm của người lắng nghe. Phương pháp giảng dạy của Ngài bao gồm "Giáo huấn thông qua kinh nghiệm của bản thân.”  Như vậy, chỉ với một vài từ, giáo lý của Ngài  đã trực tiếp chỉ ra bản chất của tâm thức, hiển lộ sự đơn giản tự nhiên của sự tỉnh thức và tạo điều kiện cho các học viên có thể thực sự chạm vào Trái Tim Trí Tuệ của Đức Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Các ấn phẩm của Đức Tulku Urgyen Rinpoche bằng tiếng Anh, bao gồm:  <em>Vang vọng lời Phật dạy, Như Nó là 1 &amp; 2,  Vẽ cầu vồng và Lời nói Kim cương</em>. Hồi ký và các câu chuyện về cuộc sống của Ngài được kể lại bởi Rinpoche, trong ấn phẩm gần đây Blazing Spendor. Sách được xuất bản bởi Rangjung Yeshe Publications</p>
<p style="text-align: justify;">Chẳng bao lâu trước bình minh ngày 13 tháng hai 1996, Đức Tulku Urgyen Rinpoche đã nhập Niết bàn và rời bỏ thế giới này. Suốt ngày hôm đó, bầu trời phía trên phòng nhập thất của Ngài  xanh biếc, trong suốt như pha lê, không một gợn mây.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>http://www.shedrub.org/teacherpage.php?tid=1</em></p>
<p style="text-align: justify;">Nguyên tác : Đức Chokyi Nyima Rinpoche và Erik Pema Kunsang.</p>
<p style="text-align: justify;">Việt ngữ : Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính : Giác nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với </em><em>Đức Tulku Urgyen Rinpoche</em> <em>đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này tái sinh của Ngài</em><em>, Tulku Urgyen Yangsi Rinpoche</em><em> sớm quang lâm đến Việt nam.</em></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-cua-duc-tulku-urgyen-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử của Đức Tulku Chökyi Nyima Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-cua-duc-tulku-chokyi-nyima-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-cua-duc-tulku-chokyi-nyima-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 04 Sep 2015 06:27:47 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Chokling Tersar]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Chokling Tersar]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3990</guid>
		<description><![CDATA[Tulku Chökyi Nyima Rinpoche sinh trưởng trong dòng họ Tsangsar vào tháng 7 Âm lịch năm 1951. Ngài  là trưởng tử của Tulku Urgyen Rinpoche  mà dòng họ Ngài đã trì giữ dòng truyền thừa Barom Kagyu (ngày nay rất hiếm) qua nhiều thế hệ. Lúc 18 tháng tuổi, Chökyi Nyima – Mặt trời Pháp – được công nhận là&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-cua-duc-tulku-chokyi-nyima-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Tulku Chökyi Nyima Rinpoche sinh trưởng trong dòng họ Tsangsar vào tháng 7 Âm lịch năm 1951. Ngài  là trưởng tử của Tulku Urgyen Rinpoche  mà dòng họ Ngài đã trì giữ dòng truyền thừa Barom Kagyu (ngày nay rất hiếm) qua nhiều thế hệ.</p>
<p style="text-align: justify;">Lúc 18 tháng tuổi, Chökyi Nyima – Mặt trời Pháp – được công nhận là Hóa thân thứ 7 của vị Lama dòng Drikung Kagyu, Đức Gar Drubchen, Đại thành tựu giả xứ Tây Tạng và Hóa thân của nhà triết học Phật giáo lừng danh thế kỉ 2, Long Thọ (Nagarjuna). Chẳng bao lâu sau, Ngài được tấn phong tại Tu viện của vị tiền nhiệm, Tu viện Drong Gon Tubten Dargye Ling ở Nakchukha, miền Trung Tây Tạng, cũng chính là nơi Ngài trở thành bậc Thầy giảng dạy giáo Pháp cho 300 tu sĩ.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1959, Chökyi Nyima và em trai Tsikey Chokling Rinpoche đã đăng kí tham gia học tại trường học dành cho các vị Lama trẻ tuổi tại Dalhousie, Ấn Độ. Năm 13 tuổi, Ngài đã vào Rumtek, vị trí của trường phái Kagyu và dành 11 năm nghiên cứu các truyền thống Karma Kagyu, Drikung Kagyu và Nyingma dưới sự chỉ dạy của các vị Đạo sư lỗi lạc như Đức Pháp Vương Gyalwang Karmapa, Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche và Kyabje Tulku Urgyen Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Miệt mài nghiên cứu các bộ luận giáo lý cổ xưa  như  Vasubhandu's Abhidharma Kosha, Di Lặc Ngũ Luận (Five Texts of Maitreya), Dharmakirti's Pramanavartika, Nhập Bồ Tát Hạnh của Ngài Tịch Thiên (Shantideva's Bodhicarya Avatara) và  Chandrakirti's Madhyamaka Avatara, Tulku Chökyi Nyima đã nhận được bằng Khenpo ngay khi còn rất trẻ.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1974, Nyima Rinpoche đã rời bỏ Rumtek, trở thành thị giả riêng cho Đức Rangjung Rigpey Dorje, vị Karmapa đời thứ 16 và đã gặp cha mẹ và em trai Ngài, Tsikey Chokling Rinpoche tại Boudhanath, vùng ngoại ô Kathmandu, Nepal. Tại đây, dưới chỉ thị của vị Karmapa đời thứ 16, dòng họ của những vị Lama cao cấp này đã thiết lập Tu viện Ka-Nying Shedrub Ling, nằm ở phía Bắc của Đại Bảo Tháp Jarung Khashor. Sau khi hoàn thành vào năm 1976, Rinpoche đã được các vị Karmapa  chỉ dẫn và trở thành Tu viện trưởng ở tuổi 25. Đức Pháp Vương cũng đã khuyên Tulku Chökyi Nyima dành nỗ lực chỉ dạy cho các hành giả phương Tây. Để thực hiện lời chỉ thị này, Rinpoche đã mài rũa kỹ năng tiếng Anh của mình và bắt đầu có những bài giảng cuối tuần cho cộng đồng người phương Tây đang phát triển ở Nepal và những du khách quan tâm. Chuỗi bài giảng miễn phí, được biết đến là “Đàm thoại sáng thứ 7” (Saturday Morning Talks), vẫn tiếp tục cho đến ngày nay.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1980, cùng với trưởng tử của Ngài, Chökyi Nyima Rinpoche, Tulku Urgyen Rinpoche đã thực hiện chuyến đi vòng quanh thế giới, xuyên  Đông Nam Á, châu Âu, châu Mỹ để đem giáo lý Đức Phật tới Phật tử khắp mọi nơi. Erik Pema Kunsang đã đồng hành làm phiên dịch cho Ngài. Bất cứ nơi nào mà các vị Lama đến thăm, họ đều ban các quán đảnh và giáo lý Đại Ấn và Đại Viên Mãn cho đại chúng. Sau khi trở về Nepal, năm 1981, Đức Chökyi Nyima Rinpoche đã thiết lập Học viện Phật giáo Rangjung Yeshe, nơi thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo và hội nghị chuyên đề quốc tế thường niên về Phật giáo. Năm 1997, Học viện đã mở rộng thêm Cao đẳng Phật giáo quốc tế, hay “shedra”, cung cấp chương trình chuyên sâu về nghiên cứu Phật giáo cho học viên từ khắp nơi trên thế giới. Kể từ đó, Học viện đã thành lập Trung tâm nghiên cứu Phật giáo tại Đại học Kathmandu, một học viện có cấp bằng lấy học bổng hoặc  nghiên cứu học thuật. Sau từ 3-5 năm nghiên cứu, sinh viên trong nước và quốc tế đều có thể nhận bằng BA và MA về ngành Nghiên Cứu Phật Học.</p>
<p style="text-align: justify;">Cuối năm 1981, Rinpoche đã thiết lập Nhà xuất bản Rangjung Yeshe, qua hàng thập kỷ đã xuất bản rất nhiều sách hay. Trong số các ấn phẩm của mình, giáo lý sung mãn, luận giảng và những bài viết Chokyi Nyima Rinpoche có thể được tìm thấy trong:  Hợp nhất Đại Ấn và Đại Viên Mãn   ( Union of Mahamudra and Dzogchen), Song of Karmapa, Bardo Guidebook, Indisputable Truth, Present Fresh Wakefulness and Medicine and Compassion.</p>
<p style="text-align: justify;">Rinpoche có khả năng tiếng Anh rất tốt và đã hướng dẫn rất nhiều học viên phương Tây về thực hành thiền năm 1977. Khi kế hoạch bận rộn của Ngài cho phép, vài sáng mỗi tuần Rinpoche đã mở cửa phòng điện thờ  và gặp riêng một vài người. Hơn nữa, mỗi mùa thu, ông tiến hành một Hội thảo 10 ngày về giáo lý Phật giáo, từ cơ bản nhất đến các bí truyền. Vì lợi ích của các chuyên gia quốc tế, các hội thảo được diễn ra ở Tây Tạng và được dịch sang tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Trung Quốc và một số ngôn ngữ khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Qua hàng thập kỉ Chökyi Nyima Rinpoche đã sáng lập thành công các Trung tâm Phật Pháp Tây Tạng và bây giờ Ngài đang tiến hành thiết lập tại Myanmar, Đan Mạch, Mỹ, Úc, Nga, Anh quốc và Pháp. Các nhóm nghiên cứu tu học dưới sự hướng dẫn của Ngài ở các quốc gia khác như Isarel, Hà Lan, Mê-hi-cô và Bồ Đào Nha. Hàng năm, Rinpoche di chuyển rộng rãi khắp châu Âu, Nga, châu Á, và châu Mỹ hướng dẫn các học viên về nội dung và giới luật đối với một Phật tử. Trong chuyến đi của Ngài, Ngài là người giảng dạy tại nhiều trường Đại học và Cao đẳng uy tín trên khắp thế giới như Harvard và Oxford.</p>
<p>Năm 2006, Rinpoche đã tái thiết lập Nhóm Dịch Dharmachakra, gồm các dịch giả chuyên nghiệp để chuyển dịch và ấn tống các bộ luận Phật giáo cổ điển từ tiếng Tạng và tiếng Phạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Khoảng hơn 30 năm nay, Đức Chökyi Nyima Rinpoche đã giám sát các phúc lợi và giáo dục tâm linh của 500 tăng ni tại Tu viện Ka-Nying Shedrub Ling, Trung tâm Nhập thất Hang động Asura và Nagi Gompa Hermitage. Tâm nguyện của Ngài là tăng gấp đôi số lượng người thọ giới và bởi vậy các tu viện và các trung tâm nhập thất dưới sự quản lý của Ngài đang phát triển và mở rộng không ngừng.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong thời gian này, phần lớn cuộc đời mình Rinpoche dành cho những nhu cầu tâm linh và cộng đồng  hành giả  địa phương Tây Tạng và Nepal. Như liều thuốc hỗ trợ cho những hoạt động tinh thần của mình tại địa phương và cho sự tiến bộ của cộng đồng xung quanh của tu viện, Rinpoche đã thành lập các tổ chức từ thiện Shenpen, đáp ứng nhu cầu đặc biệt thực tế của những người có hoàn cảnh khó khăn, chẳng hạn như chăm sóc sức khỏe và giáo dục. Shenpen được quản lý bởi một nhóm học viên thân cận của Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>http://www.shedrub.org/teacherpage.php?tid=2</em></p>
<p style="text-align: justify;">Việt dịch : Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính : Giác nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với </em><em>Đức Chökyi Nyima Rinpoche</em> <em>đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này Ngài sớm quang lâm đến Việt nam.</em></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-cua-duc-tulku-chokyi-nyima-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử ngắn của Chokgyur Lingpa đời thứ 4, Đức Tsikey Chokling</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/chokling-tersar/tieu-su-ngan-cua-chokgyur-lingpa-doi-thu-4-duc-tsikey-chokling/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/chokling-tersar/tieu-su-ngan-cua-chokgyur-lingpa-doi-thu-4-duc-tsikey-chokling/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 04 Sep 2015 06:13:10 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Chokling Tersar]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thừa Chokling]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Chokling Tersar]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3978</guid>
		<description><![CDATA[Cách đây 2500 năm, Đức Phật đã xuất hiện trong thế giới này và ban truyền giáo Pháp với ba cấp độ giáo Tiểu thừa, Đại thừa và Kim Cương thừa. Kim Cương thừa, bao gồm những phương tiện thiện xảo vi diệu để đạt được giác ngộ nhanh chóng, chỉ dành riêng cho những người thọ giáo xứng đáng&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/chokling-tersar/tieu-su-ngan-cua-chokgyur-lingpa-doi-thu-4-duc-tsikey-chokling/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Cách đây 2500 năm, Đức Phật đã xuất hiện trong thế giới này và ban truyền giáo Pháp với ba cấp độ giáo Tiểu thừa, Đại thừa và Kim Cương thừa. Kim Cương thừa, bao gồm những phương tiện thiện xảo vi diệu để đạt được giác ngộ nhanh chóng, chỉ dành riêng cho những người thọ giáo xứng đáng trong khi các giáo lý khác được truyền bá rộng rãi.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi sắp nhập Niết bàn, Đức Phật đã tiên đoán về sự xuất hiện của Đức Liên Hoa Sinh, một bậc Đao sư tâm linh vĩ đại, người sẽ người nắm giữ và truyền bá các giáo lý Kim Cương thừa. Đức Liên Hoa Sinh, hay Guru Rinpoche, chính là Hóa thân của Đức Phật  và sinh ra một cách kỳ diệu từ một bông hoa sen trong nước ở xứ Uddiyana.</p>
<p style="text-align: justify;">Đúng như lời tiên tri của Đức Phật, Đức Liên Hoa Sinh truyền bá giáo lý Kim Cương thừa và nghi lễ Mật thừa trên khắp Ấn Độ, Nepal, Tây Tạng, Bhutan và nhiều nước khác. Thông qua các giáo lý đặc biệt của Kho tàng tâm được cất giấu (Terma), cũng như thông qua dòng truyền thừa không gián đoạn từ vị thầy sang đệ tử, di chỉ và giáo huấn của Guru Rinpoche về bản chất  cao tột nhất của Phật giáo vẫn còn tồn tại đến ngày nay.</p>
<p style="text-align: justify;">Terton, hay Khai Mật Tạng, là Hóa thân của một trong những đệ tử thân cận của Guru Rinpoche chính là sứ giả của Đức Liên Hoa Sinh. Các giáo lý Terma được cất giấu bởi Đức Liên Hoa Sinh trong lòng đất, trong hang động, trên bầu trời và trong tâm của những đệ tử thân cận đầu tiên của Ngài. Guru Rinpoche sau đó niêm phong các kho tàng này với lời cầu nguyện thiêng liêng và sẽ được khám phá bởi một Terton  vào những thời điểm cụ thể trong tương lai, vì lợi ích của các thế hệ tiếp theo.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Chokgyur Dechen Lingpa đời thứ nhất, người đã xuất hiện trong thế giới này vào năm 1829, chính là một terton tái sinh như vậy. Sinh ra ở Nangchen, miền Đông Tây Tạng, Ngài là hóa thân thứ 13 của con trai  Vua Trisong Deutsen , Dịch giả Lhasey , đã tái sinh 13 lần liên tiếp thành Terton. Những thế kỷ trước đó, Đức Liên Hoa Sinh đã  tiên tri  Pháp danh của Đức Chokgyur Lingpa, nơi sinh, chính là người thọ nhận chính yếu giáo lý đã được khám phá của Ngài và những ảnh hưởng tuyệt vời trong việc truyền dạy giáo Pháp của Ngài đối với nhân loại.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Chokgyur Lingpa đời thứ nhất là một người bạn rất thân của Đức Jamyang Khyentse Vĩ Đại. Ở tuổi 27, Ngài đã trình bày một <em>sater</em> của Tukdrub Barchey Kunsel tới Đức Jamyang Khyentse Wangpo người đã nói rằng chính bản thân đã nhận một bản văn gần như giống hệt dưới  hình thức của một <em>Gongter</em> (Kho tàng tâm). Hai terma được kết hợp thành Tukdrub Barchey Kunsel và Terma này dành chung cho cả hai vị Lama này.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó, Đức Chokgyur Dechen Lingpa đã khám phá nhiều terma được tập hợp vào Chokling Tersar – gồm hơn 40 tập  quán đảnh, ủy quyền bằng văn bản và giáo huấn khẩu truyền được cất giấu trước đây bởi Đức Liên Hoa Sinh. Những kho tàng terma đã có ảnh hưởng to lớn đối với Phật giáo Kim Cương thừa trong 150 năm tiếp theo và cho đến ngày nay, được thực hành rộng rãi trên toàn thế giới. Điều này là do cả hai vị Karmapa đời thứ 14 và 15 là những đệ tử chân truyền của Ngài. Hơn nữa, những người thọ giáo cao quý là những bậc thầy nổi tiếng đã truyền bá rộng rãi những giáo lý mà Đức Terchen Chokgyur Lingpa đã khám phá.</p>
<p style="text-align: justify;">Sinh năm 1953, Đức Lungtok Gyatso, con trai thứ hai của Tulku Urgyen Rinpoche, đã được xác nhận tại Tsurphu bởi Đức Pháp Vương Gyalwang Karmapa đời thứ 16 là Hóa thân thứ 4 của Đức Terchen Chokgyur Dechen Lingpa và được ban Pháp danh Gyurmey Dewey Dorje - chính thức được biết đến là Kela Chokling và Tsikey Chokling.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1959, Đức Chokling Rinpoche và anh trai của Ngài, Đức Chokyi Nyima Rinpoche theo học tại trường dành cho các Lạt ma trẻ tuổi ở Dalhousie, Ấn Độ. Năm 11 tuổi, Tsikey Chokling và anh trai của Ngài, Đức Chokyi Nyima Rinpoche, trở lại Sikkim và bước vào Tu viện Rumtek, vị trí của Karmapa đời thứ 16, đã cùng nhau bắt đầu  thụ nhận nền giáo dục cao cấp của Tu viện.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong khi ở Rumtek, Đức Tsikey Chokling Rinpoche đã hoàn thành giai đoạn học tập, nghiên cứu vất vả dưới sự hướng dẫn của nhiều bậc thầy Phật giáo xuất sắc, đứng đầu là Đức Pháp Vương. Dưới sự chỉ dạy của Đức Khenchen Rinpoche Thrangu, Ngài đã nghiên cứu triết học Phật giáo, . Dưới  sự hướng dẫn của Ven. Tenga Rinpoche, Ngài đã nắm vững các nghi quỹ Kim cương thừa và dưới sự hướng dẫn của Đức Kalu Rinpoche, Ngài đã hoàn thiện Sáu Giáo huấn của Naropa.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngoài ra, Đức Tsikey Chokling Rinpoche đã thọ nhận trao truyền chính yếu của dòng truyền thừa Nyingma từ Đức Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche và Đức Kyabje Dudjom Rinpoche. Từ cha mình, Tulku Urgyen Rinpoche,  Đức Tsikey Chokling Rinpoche đã thọ nhận nhiều lần trao truyền cho dòng truyền thừa của Chokling Tersar, hay Kho tàng mới, được khám phá bởi người tiền nhiệm của mình, Đức Chokgyur Lingpa đời thứ nhất.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1974, Đức Tsikey Chokling Rinpoche và Chokyi Nyima Rinpoche rời bỏ Rumtek và hành trình đường bộ đến Kathmandu, nơi họ đã gặp cha mẹ.  Các Ngài đã theo chỉ thị của  Karmapa thứ 16 và vượt qua khó khăn để xây dựng một trong những tu viện lớn nhất của Nepal, Ka-Nying Shedrub Ling, mà sau đó đã được khánh thành bởi Quốc vương Birendra Bir Bikram Shah và được Thánh hóa bởi Đức Karmapa thứ 16 vào năm 1976. Kể từ thời điểm đó, Tsikey Chokling Rinpoche đã ở tại Tu viện, nơi Ngài nắm giữ vị trí Đạo sư Kim Cương (Vajra Master), thực hiện các nghi quỹ Kim cương thừa phức tạp và uy lực vì lợi ích của cộng đồng tu viện và giáo dân.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Tsikey Chokling Rinpoche là một Terton và một hành giả cư sĩ  có một vị phối ngẫu và bốn người con. Con trai  lớn của Ngài  đã được xác nhận bởi Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 là Hóa thân Taklung Kagyu quan trọng trong khi con trai thứ của Ngài được xác nhận và tấn phong là Hóa thân  Đức Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche bởi thánh Trulshik Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì lợi lạc của chúng sinh, Đức Tsikey Chokling Rinpoche chính là vị nắm giữ bí truyền các terma của Đức Liên Hoa Sinh và đủ phẩm tính để truyền bá giáo Pháp cho chúng sinh khắp cõi giới này.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.shedrub.org/teacherpage.php?tid=3"><em>http://www.shedrub.org/teacherpage.php?tid=3</em></a></p>
<p style="text-align: justify;">Việt ngữ : Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính : Giác nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với </em><em>Đức Tsikey Chokling Rinpoche</em> <em>đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này Ngài sớm quang lâm đến Việt nam.</em></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/chokling-tersar/tieu-su-ngan-cua-chokgyur-lingpa-doi-thu-4-duc-tsikey-chokling/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tổ Chokgyur Dechen Lingpa</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/chokling-tersar/truyen-thua-chokling/lich-su-ngan-truyen-thong-ka-nying/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/chokling-tersar/truyen-thua-chokling/lich-su-ngan-truyen-thong-ka-nying/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 04 Sep 2015 04:58:04 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Khai Mật Tạng]]></category>
		<category><![CDATA[Terma & Terton]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thừa Chokling]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Chokling Tersar]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3969</guid>
		<description><![CDATA[ Tổ Chokgyur Dechen Lingpa Bậc nắm giữ kho tàng Terma Chokling Tersar Cách đây 2500 năm, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lần đầu tiên đã giảng dạy giáo lý con đường giác ngộ cho chúng sinh trong cõi giới này. Khi âm vang Giáo Pháp của Đức Phật lan truyền khắp muôn nơi, vị Thầy giác ngộ vô song&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/chokling-tersar/truyen-thua-chokling/lich-su-ngan-truyen-thong-ka-nying/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong> Tổ Chokgyur Dechen Lingpa Bậc nắm giữ kho tàng Terma Chokling Tersar</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Cách đây 2500 năm, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lần đầu tiên đã giảng dạy giáo lý con đường giác ngộ cho chúng sinh trong cõi giới này. Khi âm vang Giáo Pháp của Đức Phật lan truyền khắp muôn nơi, vị Thầy giác ngộ vô song này đã dành cả đời mình để truyền bá Phật Pháp khắp đất nước Ấn Độ. Hàng thế kỉ sau khi Đức Phật nhập niết bàn, các giáo lý của Ngài phát triển sâu rộng khắp Ấn Độ và lan truyền tới hầu hết các quốc gia châu Á. Những giáo lý của Ngài đã mang lại hạnh phúc, lợi lạc và giải thoát cho tất cả những ai thực hành chúng.</p>
<p style="text-align: justify;">Tại Tây Tạng, những lời dạy của Đức Phật luôn được giữ gìn với lòng sùng mộ mãnh liệt xuyên suốt lịch sử. Trong một thời gian ngắn, tất cả các dòng phái nghiên cứu và thực hành Phật giáo đều được đồng nhất và trì giữ một cách không gián đoạn từ thế hệ này sang thế hệ khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Đạo sư vĩ đại Ấn Độ thế kỉ thứ 8, Đức Liên Hoa Sanh, đã đến Tây tạng và chịu trách nhiệm hoằng truyền giáo lý Kim Cương Thừa khắp Tây Tạng, Ngài được biết đến là Guru Rinpoche, nghĩa là “ Đạo sư Tôn quý”.</p>
<p style="text-align: justify;">Toàn bộ giáo lý Phật giáo và các phương pháp thực hành như Đại Toàn Thiện (Dzogchen) chính là thị hiện từ giác tánh của Đạo sư Liên Hoa Sanh. Trong suốt thời gian ở Tây Tạng, Guru Rinpoche đã trao truyền những giáo lý thâm diệu tới các đệ tử thân cận nhất của Ngài. Ngài tin tưởng các đệ tử của mình và giao phó bảo vệ các giáo lý Dzogchen vì lợi lạc của thế hệ tương lai. Guru Rinpoche đã hướng dẫn các đệ tử đem giáo lý đến với chúng sinh trong không gian và thời gian thích hợp chỉ sau khi người thọ nhận chin muồi về mặt tâm thức, để đem lại lợi lạc cho chúng sinh mau chóng đạt giác ngộ từ sức mạnh vô tận của giáo lý Dzogchen.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhờ những hiển lộ phi thường của Đức Chokgyur Dechen Lingpa (1829-1870), tu viện Ka-Nying Shedrub Ling chính là nơi trực tiếp thọ nhận giáo lý Đại Toàn Thiện. Khai Mật Tạng vĩ đại của phái Nyingma là vị cuối cùng trong số 108 vị Khai mật tạng khám phá  Kho Tàng Tâm được cất giấu của Đức Liên Hoa Sanh. Dòng truyền thừa của Chokgyur Lingpa, được biết đến là Chokling Tersar đã trải qua ít nhất 15 thế kỉ. Các giáo lý hai dòng phái Kagyu và Nyingma của Phật giáo Tây Tạng được đem vào thực hành.</p>
<p style="text-align: justify;">Cách mà Tu viện Ka-Nying Shedrub Ling kết nối với phái Kagyu của Phật giáo Tây Tạng như thế nào? Tu viện được thiết lập dựa trên mối liên kết Pháp với Đức Pháp Vương Gyalwang Karmapa đời thứ 16. Người sáng lập tu viện, Đức Kyabje Tulku Urgyen Rinpoche chính là vị hộ trì chính của dòng Barom Kagyu. Hơn nữa, ba trong số sáu người con trai của Ngài Chökyi Nyima Rinpoche, Tsoknyi Rinpoche và Yongey Mingyur Rinpoche là những vị Lama đáng tôn kính lần lượt thuộc các dòng truyền thừa Drikung Kagyu, Drukpa Kagyu và Karma Kagyu. Hơn nữa, dòng họ của các Lama cao cấp chính là hậu duệ của Đức Terchen Chokgyur Dechen Lingpa. Bởi vậy, huyết thống của họ là thuộc phái Nyingma trong khi Hóa thân lại thuộc dòng Kagyu.</p>
<p style="text-align: justify;">Hơn nữa, con trai lớn của Đức Tsikey Chokling Rinpoche, Đức Phakchok Rinpoche chính là Bậc trì giữ phái Taklung Kagyu và con trai nhỏ, Khyentse Yangsi Rinpoche, là Hóa thân của một trong số các Vị Khai Mật Tạng Nyingma vĩ đại nhất của thế kỉ 20, Đức Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche, và đều các hậu duệ trực tiếp của Terchen Chokgyur Dechen Lingpa. Do đó, Ka chính là từ Kagyu và Nying chính là từ Nyingma – tạo thành tên Ka-Nying Shedrub Ling.</p>
<p style="text-align: justify;">Cách mà tu viện Ka-Nying Shedrub Ling đã trì giữ các dòng phái Nyingma và Kagyu như thế nào? Là một địa điểm  dành cho việc nghiên cứu và thực hành chuyên sâu các giáo lý và các pháp tu của cả hai dòng phái cũng như các bản Kinh và các pháp thực hành tu tập của Đức Phật khi chúng đã được trao truyền trong dòng truyền thừa không gián đoạn, với một truyền thống thực hành tâm linh hết sức thanh tịnh và Kinh điển, Mật điển được truyền giữ thông qua các hoạt động vì lợi lạc giáo Pháp của Đấng Giác Ngộ đều diễn ra sống động tại Tu viện Ka-Nying Shedrub Ling.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.shedrub.org/page.php?page=lineage"><em>http://www.shedrub.org/page.php?page=lineage</em></a></p>
<p style="text-align: justify;">Việt dịch : Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính : Giác nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với </em><em>truyền thống </em><em>Ka-Nying</em> <em>đều được lợi lạc và cầu mong nhờ công đức này </em><em>truyền thống </em><em>Ka-Nying</em> <em>sẽ nở rộ tại </em><em>Việt nam</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/chokling-tersar/truyen-thua-chokling/lich-su-ngan-truyen-thong-ka-nying/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
