<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Đạo sư Dujom Tesar</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-khac/dujom-tesar/dao-su-dujom-tesar/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Fri, 17 Apr 2026 16:09:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Tiểu sử Đức Yeshe Sangpo Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/7934/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/7934/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 19 Sep 2017 08:07:32 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Dujom Tesar]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Dujom Tesar]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7934</guid>
		<description><![CDATA[Cách đây hơn 2500 năm, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã đạt giác ngộ dưới gốc cây Bồ Đề tại Bồ Đề Đạo Tràng, Ấn Độ. Ngài đã giảng dạy vô lượng giáo lý để giải thoát tất cả chúng sinh khỏi sự thống khổ luân hồi. Đức Phật đã tiên tri về hóa thân tiếp theo của Ngài&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/7934/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Cách đây hơn 2500 năm, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã đạt giác ngộ dưới gốc cây Bồ Đề tại Bồ Đề Đạo Tràng, Ấn Độ. Ngài đã giảng dạy vô lượng giáo lý để giải thoát tất cả chúng sinh khỏi sự thống khổ luân hồi. Đức Phật đã tiên tri về hóa thân tiếp theo của Ngài là Đức Liên Hoa Sinh (Guru Rinpoche) và sẽ chuyển Pháp Luân của Giáo pháp Kim Cương Thừa và mở đầu một kỷ nguyên mới của những hoạt động truyền bá Giáo Pháp vô song.</p>
<p style="text-align: justify;">Nyingmapa, còn gọi là Cựu Phái Dịch Thuật, là trường phái đầu tiên trong bốn trường phái chính của Phật giáo Tây Tạng. Được thiết lập sau khi Guru Rinpoche được mời đến Tây Tạng, Nyingmapa là khởi nguồn của Phật giáo Tây Tạng và trì giữ tất cả các giáo lý quý báu của Đức Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Tinh túy của giáo lý Đức Phật là Bồ Đề Tâm – tâm niệm vị tha mà mỗi lời nói, mỗi hành động đều vì lợi lạc của chúng sinh. Bồ Đề Tâm, tiêu chuẩn đạo đức được tôn kính và công nhận rộng rãi ngày nay, là nội dung cốt tủy của giáo lý Đại thừa và Kim Cương Thừa. Kim Cương Thừa được biết đến vì sự hiếm quý và đạt kết quả dựa vào thiện xảo như là phương thức thành tựu Bồ Đề Tâm. Trong số các giáo lý Kim Cương Thừa, giáo lý Đại Toàn Mãn (Dzogchen) là giáo lý siêu việt nhất trong Chín thừa và phần tinh yếu của giáo lý Đức Phật, trực chỉ vào bản tâm của chúng sinh, vì thế bất cứ ai học giáo lý siêu việt này sẽ được giải thoát khỏi luân hồi và đạt giác ngộ. Vị Thầy tâm linh của chúng ta, Đức Yeshe Sangpo Rinpoche là bậc trì giữ giáo lý tối cao này.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Yeshe Sangpo Rinpoche là một trong những bậc Đạo sư Kim Cương Thừa thành tựu và được tôn kính nhất, nổi danh vì sự am hiểu và thực hành giáo lý Dzogchen. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Phật giáo ở Tây Tạng và hiển lộ thiên hướng mộ đạo khi ở độ tuổi còn rất nhỏ. Năm lên 4 tuổi, Ngài bắt đầu học Kinh và tiếng Tạng. Năm lên 7 tuổi, Ngài thọ giới và nghiên cứu, tu học dưới sự chỉ dạy của Đức Kyangchak Rinpoche, một trong những bậc Đạo sư Đại Viên Mãn thành tựu nhất. Ngài đã học các chứng đạo ca và ngữ pháp tiếng Tạng, chuyên tâm vào việc nghiên cứu triết học và các giáo lý Kim Cương thừa tối cao. Trước năm 13 tuổi, Ngài đã hoàn tất Pháp Tu Ngondro (Pháp Tu Sơ Khởi với 500.000 thực hành) và các thực hành của Ba Gốc (Lama, Yidam, Khandro). Như vậy, Ngài đã thực hành những pháp tu quan trọng nhất về thực hành Kim Cương Thừa ở độ tuổi còn nhỏ, Ngài đã hiển lộ một trí tuệ phi thường với tài năng thiên bẩm, và tạo tiền đề cho việc trở thành bậc Đạo sư Đại Viên Mãn chứng ngộ. Ngài đã theo học và phụng sự Đức Kyangchak Rinpoche khoảng hơn một thập kỷ, đạt được tâm yếu và các giáo lý, và kế thừa tất cả các kho tàng giáo lý Đại Toàn Mãn.</p>
<p style="text-align: justify;">Về sau, theo đúng đời tiên tri của Đạo sư Ngài, Ngài đã nghiên cứu tu học tiếp về giáo Pháp tại Học viện Phật giáo được sáng lập bởi Đức Dudjom Rinpoche, bậc kế nhiệm của Guru Rinpoche và bậc hộ trì truyền thừa và bậc đứng đầu siêu phàm của dòng Nyingmapa. Ngài đã thọ nhận khẩu truyền và các quán đảnh của dòng kama (truyền thống khẩu truyền) và của các giáo lý Terma được phát lộ bởi chính Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche và bậc tiền nhiệm. Ngài tốt nghiệp với danh hiệu cao nhất và vượt trội so với tất cả các cử nhân trước đây trong học viện và được Đức Dudjom Rinpoche khen ngợi và trao bằng danh dự.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi tốt nghiệp, để đáp lại lòng tốt và sự chỉ dạy của Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche, Ngài đã phụng sự với tư cách là một Khenpo của học viện trong 2 năm. Trong suốt giai đoạn này, Ngài đã thọ nhận các giáo lý từ các bậc Đạo sư Kim Cương thành tựu và lừng danh, gồm có Đức Pháp Vương Dilgo Khyentse Rinpoche, Đức Pháp Vương Dodrupchen Rinpoche, Đức Pháp Vương Nyoshul Rinpoche, Đức Pháp Vương Jadral Rinpoche và Đức Pháp Vương Thinley Norbu Rinpoche. Ngài đã hoàn thiện tất cả những giáo lý này và đạt được sự tỉnh giác tuyệt vời. Về sau, với sự khích lệ của Đức Pháp Vương Dungse Thinley Norbu Rinpoche, Ngài đã đảm nhiệm trọng trách vĩ đại truyền bá Giáo Pháp vì lợi lạc của tất thảy chúng sinh. Ngài đã thành lập Samye Memorial Buddhist Vihara với sứ mệnh trợ dưỡng Tăng đoàn, tiếp tục kế thừa Phật giáo, hoàn thành các lời tiên tri của Đạo sư, và truyền bá các giáo lý của Guru Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Các hoạt động truyền bá giáo Pháp của Ngài, một sự hiển bày rõ ràng về ước nguyện và khả năng vô biên của Ngài, giống như những tia sáng mặt trời tỏa rạng trên trái đất và tôn vinh cõi Tịnh độ của tất cả Phật tử". Ngoài Samye Memorial Vihara, Ngài đã thành lập Tu viện Samye Memorial, Samye Memorial Buddhist Nunnery Vihara, và hai Trung tâm nhập thất Samye O Sel Ling ở Nepal và Tôn Tượng Guru Rinpoche ở Ấn Độ, ước tính cao 195 feet. Các cơ sở lớn đã trở thành Tịnh Độ và nuôi dưỡng tinh thần cho các môn đệ của Rinpoche từ khắp nơi trên thế giới. Cho đến nay, nhiều giáo viên có trình độ học vấn từ Vihara ở Nepal đã được mời giảng dạy Giáo pháp trên khắp thế giới và do đó mang lại lợi lạc cho vô lượng chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Tầm quan trọng của một Dòng truyền thừa thanh tịnh đối với Phật Pháp giống như tầm quan trọng của trái tim trong cơ thể con người, là một sự rõ ràng không phải nghĩ bàn. Dòng truyền thừa Đại Toàn Mãn của Rinpoche được trao truyền từ Đức Pháp Vương Nyoshul Khenpo Rinpoche, khởi thủy từ Đức Phật Phổ Hiền (vị Phật nguyên thủy). Trong Dòng truyền thừa Pháp không gián đoạn này, mỗi vị Đạo sư truyền thừa là một hành giả chứng ngộ và thành tựu Thân Cầu Vồng Pháp thân. Sau thời gian theo học và phụng sự vị Thầy gốc, Đức Pháp Vương Nyoshul Khenpo Rinpoche gần 30 năm, Ngài đã thỉnh cầu giáo huấn Đại Toàn Mãn, lão luyện những phương tiện thiện xảo đắc Phật quả trong chỉ một đời và trở thành bậc Hộ trì giáo lý truyền thừa cao thâm và một trong những bậc Đạo sư Kim cương thừa được tôn kính nhất thuộc truyền thống Phật giáo Tây Tạng. Mặc dù là bậc kế vị truyền thừa siêu việt nhưng Ngài vẫn vô cùng khiêm cung. Ngài từng nói rằng: “Ta chỉ là một vị Tăng bình thường” Giống như một mẩu gỗ bình thường giữa rừng cây đàn hương, ta chỉ là nhờ thấm nhuần sự vĩ đại của các Ngài, mà phát ra mùi thơm nhẹ.” Sự minh chứng tuyệt đối về sự giản dị và lòng khiêm cung của Ngài là lòng tri ân bất biến đối với các vị Thầy truyền thừa trong khi luôn tỉnh thức về bản thân khi thực hành và chứng ngộ giáo Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">Với hơn 60 năm trải qua những kinh nghiệm thực hành giáo Pháp, Đức Yeshe Sangpo Rinpoche là một học giả uyên bác và một hành giả Dzogchen chứng ngộ với sự thành tựu và kiến thức vô cùng cao thâm. Những giáo lý của Ngài tràn đầy trí tuệ nhưng rất dễ hiểu. Ngài giải thích giáo Pháp thâm sâu một cách thiện xảo (đặc biệt các giáo lý Kim Cương Thừa) bằng ngôn ngữ hết sức bình thường, nhờ đó mà làm lợi lạc vô lượng chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Dzogchen, Đại Toàn Thiện, là giáo lý cao thâm trong Chín Thừa, Chín thừa gồm Thanh Văn Thừa (Sravakayana), Độc Giác Thừa (Pratyekabuddhayana), Bồ Tát Thừa (Boddhisattvayana); Ba thừa ngoại gồm: Kriya Tantra, Upa Tantra, Yoga Tantra; Ba thừa nội gồm: Mahayoga, Anuyoga, và Atiyoga. Sự thậm diệu và quý giá siêu việt không bút nào tả nổi chính là tinh túy của giáo lý Đức Phật, cung cấp các phương tiện đạt Phật quả chỉ trong một đời. Năm 2001, Ngài cùng vị phối ngẫu, Khandro Pema Chodron đã xuất bản phiên bản tiếng Trung Quốc kiệt tác được viết bởi Đức Pháp Vương Nyoshul Khenpo Rinpoche: Blue Gem (Tạm dịch: Viên Ngọc Màu Xanh) – Lịch sử của Dòng truyền thừa Dzogchen. Việc xuất bản kiệt tác này là nhằm tới tất cả người Trung Quốc thiểu số, lần đầu tiên, một bản lịch sử hoàn hảo của Dòng truyền thừa Đại Toàn Thiện, gieo những hạt giống giải thoát tối thượng thông qua Dòng truyền thừa siêu việt này. Trong tương lai gần, Ngài cùng vị phối ngẫu sẽ xuất bản phiên bản tiếng Trung kiệt tác của Đức Pháp Vương Dungse Thinley Norbu Rinpoche, The Ruby Rosary That Is Joyfully Accepted by Vidyadharas and Dakinis as the Ornament of a Necklace (Tạm dịch ý: Chuỗi tràng hạt hồng ngọc được hoan hỷ chấp nhận là chuỗi báu đeo cổ bởi bậc Trì Minh Vương và Chư Dakini). Đức Yeshe Sangpo Rinpoche là một tác giả sung mãn với một lượng tác phẩm khổng lồ về các giáo lý Đức Phật. Những tác phẩm này sẽ sớm được ấn tống bằng cả tiếng Trung và tiếng Anh.</p>
<p style="text-align: justify;">Suốt những thập kỷ qua, những dấu chân trên chặng đường hoằng dương chánh Pháp của Rinpoche đã in hằn tại Nepal, Ấn Độ, Đài Loan, Mỹ, Đức, Canada, Úc, Nhật, Ý, Hongkong, Malaisia, Singapore và Indonesia. Ngài thường xuyên giảng dạy giáo Pháp ở Đài Loan, Nepal, Mỹ, Malaysia, Singapore và Ấn Độ. Mặc dù danh tiếng của Ngài được biết đến rộng rãi nhưng Ngài vẫn sống một cuộc đời giản dị. Tuy nhiên, sự khiêm cung đó cũng không thể che giấu được sự uyên bác của một bậc Thầy giảng dạy, một nhà triết học và một bậc Đạo sư chứng ngộ toát ra từ con người Ngài. Đây chính là vị Thầy Tâm Linh của chúng ta – Đức Yeshe Sangpo Rinpoche!</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Nhóm Viet Rigpa Lotsawas</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Hiệu đính: Giác Nhiên</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: http://samye.org.tw/Rinpoche/Rinpoche.asp?sref=Rinpoche&amp;lang=E</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với Đức Yeshe Sangpo Rinpoche đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này Ngài sớm quang lâm đến Việt nam.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/7934/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nữ Đạo sư Sangyum Rigzin Wangmo – Hiện thân của Đức Tara Trắng và Dakini Yeshe Tsogyal</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/nu-dao-su-sangyum-rigzin-wangmo-hien-than-cua-duc-tara-trang-va-dakini-yeshe-tsogyal/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/nu-dao-su-sangyum-rigzin-wangmo-hien-than-cua-duc-tara-trang-va-dakini-yeshe-tsogyal/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 31 May 2016 02:48:02 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Dujom Tesar]]></category>
		<category><![CDATA[Dujom Tesar Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Dujom Tesar]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6827</guid>
		<description><![CDATA[Bức thư từ Đức Dungse Shenphen Dawa Norbu Rinpoche con trai của Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche và Đức Sangyum Rigzin Wangmo. Đức Sangyum Rigzin Wangmo Thân mẫu tôi, Nữ Đạo Sư Sangyum Rigzin Wangmo, đã chứng đạt Pháp thân vào lúc 5:55 chiều ngày 27 tháng 8 năm 2014 tại trung tâm Yeshe Nyingpo thuộc thành phố New York .&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/nu-dao-su-sangyum-rigzin-wangmo-hien-than-cua-duc-tara-trang-va-dakini-yeshe-tsogyal/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong>Bức thư từ Đức Dungse Shenphen Dawa Norbu Rinpoche con trai của Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche và Đức Sangyum Rigzin Wangmo.</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/sangyum.jpg"><img class="  wp-image-6829 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/sangyum-236x300.jpg" alt="sangyum" width="305" height="388" /></a></p>
<p style="text-align: center;">Đức Sangyum Rigzin Wangmo</p>
<p style="text-align: justify;">Thân mẫu tôi, Nữ Đạo Sư Sangyum Rigzin Wangmo, đã chứng đạt Pháp thân vào lúc 5:55 chiều ngày 27 tháng 8 năm 2014 tại trung tâm Yeshe Nyingpo thuộc thành phố New York . Lập tức ngay sau đó, Ngài đã đi vào trạng thái Thuk-dam (an trụ trong trạng thái thiền định để làm lợi lạc tất thảy chúng sinh).</p>
<p style="text-align: justify;">Thân mẫu tôi được công nhận là Hóa thân của Đức Tara Trắng và Dakini Yeshe Tsogyal. Ngài chính là vị phối ngẫu được tiên tri của Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche. Năm lên 8 tuổi, thân mẫu đã thọ nhận những lời tiên tri thiêng liêng từ các Dakini. Vào chính thời điểm đó, dù ở độ tuổi còn nhỏ nhưng bà đã thọ nhận các giáo huấn Dakini từ  Đức Bà Yeshe Tsogyal và đem chúng vào thực hành.</p>
<p style="text-align: justify;">Cuộc gặp gỡ của hai người được sắp đặt bởi vị Hộ pháp Shenpa, vị hộ trì Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche. Hộ pháp Shenpa  xuất hiện với lời tiên tri bà trở thành phối ngẫu tâm linh của Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche, và sau đó Hộ pháp Shenpa đồng thời xuất hiện trước Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche ngụ ý về cuộc gặp gỡ sẽ diễn ra và từ đó Bà đã trở thành phối ngẫu tâm linh của Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche tại Tây Tạng khi vẫn đang độ tuổi thanh xuân.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/ShenpenDudjom.jpg"><img class="  wp-image-6830 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/ShenpenDudjom-300x220.jpg" alt="ShenpenDudjom" width="521" height="382" /></a></p>
<p style="text-align: center;">Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche  và Đức Dungse Shenphen Dawa Norbu Rinpoche</p>
<p style="text-align: justify;">Một điều kỳ diệu và quan trọng đầy thú vị đó là, bà là một hiện thân của Đức Tara và là người phối ngẫu của Đức Dudjom Lingpa, tiền thân của Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche. Tại kiếp đó, bà đã về cõi Phật một ngày khi Đức Dudjom Lingpa trở về, bà đã ra đi không để lại dấu vết.</p>
<p style="text-align: justify;">Với sự gặp gỡ tâm linh của Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche và Đức Sangyum Rigzin Wangmo, một cậu con trai và ba cô con gái đã ra đời. Người con gái lớn Dekyong Yeshe Wangmo, đã chứng đạt Pháp thân ở độ tuổi còn rất trẻ. Đức Pháp Vương đã công nhận cô là Hóa thân của Đức Bà Yeshe Tsogyal. Nhưng không may chúng tôi không có đủ công đức để cô ở lại lâu hơn. Đức Pháp Vương đã soạn lời cầu nguyện Dzang Dok Palri (Cõi Huy Hoàng Màu Đồng Đỏ của Đức Liên Hoa Sanh). Thực sự thì Đức Pháp Vương dành cho cô một tình yêu sâu đậm. Ngài đã vô cùng buồn bã khi cô không lưu lại thế gian này lâu hơn. Người con gái thứ hai Chimey Wangmo và con gái út Tsering Penzom cũng là hiện thân của các Dakini.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi, con trai của họ ,Shenphen Dawa Norbu Rinpoche, đã được tiên tri sẽ thác sinh vào hai Ngài. Tôi đã được công nhận là Tái sinh của Hoàng tử Jamphen Norbu, Terton Taksham , Đức Gyalsay Nangwa Thaye, và Tulku Pema Yeshe.</p>
<p style="text-align: justify;">Phối ngẫu của tôi, Sonam Chhoskit, cũng được tiên tri và lựa chọn bởi Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche. Từ cuộc gặp gỡ tâm linh này, chúng tôi đã có hai con gái là Dechen Yangzom và Tseyang Drolkar. Cuộc cuộc gặp gỡ tâm linh trước đây của tôi với công nương Ashi Pema, tôi là cha của hai cậu con trai: Nhiếp chính Kathok Situ Rinpoche và Nhiếp chính Tulku Namgyal Rinpoche là Hóa thân đời trước của Tulku Namgyal Rinpoche là Tulku sangay Rinpoche, người chính là vị Thầy gốc của Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche, mà từ chính Đức Pháp Vương đã thọ nhận sư trao truyền Phổ Ba Kim Cương. Nhiếp Chính Vương Kathok Situ Rinpoche đã được công nhận bởi Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche và sau đó bởi Đức Pháp Vương Chatral Rinpoche và Đức Pháp Vương Penor Rinpoche, người cũng có liên hệ với cha tôi. Tóm lại, tất cả các thành viên trong gia đình tôi đã cùng nhau tái sinh trong một Mandala cát tường.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/0d779c5c63ce9c798a8c2992714439b0_715__2.jpg"><img class="  wp-image-6831 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/0d779c5c63ce9c798a8c2992714439b0_715__2-300x199.jpg" alt="0d779c5c63ce9c798a8c2992714439b0_715__2" width="525" height="348" /></a></p>
<p style="text-align: center;">Đức Kathok Situ Rinpoche và Đức Dudjom Yangsi Rinpoche</p>
<p style="text-align: justify;">Thân mẫu của tôi, Đức Sangyum Rigzin Wangmo, là hiện thân của Dakini trí tuệ, không chỉ giúp thân phụ tôi tăng trưởng tuổi thọ mà còn khích lệ sự phát triển tốt lành về những biểu hiện trí tuệ của Ngài. Tôi nhớ cha tôi nói rằng ánh mặt trời hạnh phúc đã tỏa rạng trong ông khi lần đầu gặp mẹ tôi. Tôi đã tin tưởng rằng bà không chỉ chăm sóc cho Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche mà còn không ngừng khích lệ Ngài làm nhiều điều lợi lạc cho chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Như rất nhiều người trong số các bạn biết rằng, thân mẫu tôi gần như đã dành cả cuộc đời mình để nhập thất nghiêm mật. Bà đảm nhiệm vai trò tiên phong trong quá trình công nhận các hóa thân của nhiều vị Lama. Những giấc mơ của bà đều nhìn thấu thế giới vô hình và là đều là lời tiên đoán. Trước bất cứ thảm họa nào xảy ra với gia đình và những người xung quanh, bà đều nhìn thấy trước và đưa ra những phương pháp ứng phó kịp thời</p>
<p style="text-align: justify;">Hiện tại, Bà đang ở trong Thuk-dam, như chúng ta biết, theo truyền thống về một vị chứng ngộ cao cấp đạt Pháp thân. Lợi lạc của việc thiền định sâu chính là biểu hiện của hành nguyện Bồ tát, tẩy trừ đi tất cả hiểm nguy, thiên tai,đau khổ như chiến tranh, bệnh tật, nạn đói và động đất. Cũng như từ trạng thái thiền, họ trao sức mạnh cho chúng ta thông qua thực hành và làm cho việc tịnh hóa của chúng ta đến mức tối đa.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng tôi đã thực sự may mắn vì Bà thọ đến 89 tuổi. Nhìn chung theo truyền thống, người ta biết rằng khi một vị Terton từ giã thân người ra đi thì vị phối ngẫu Dakini của Ngài sẽ theo cùng. Bà đã có nhiều linh kiến và tình huống mà các Dakini mời Bà rời khỏi cơ thể của mình để đến với các cõi Phật của họ, nhưng Bà từ chối, nói rằng bà vẫn muốn được ở bên các con. Một lần nữa tôi cảm ơn Bà vì đã ở lại bên chúng tôi lâu. Tôi không có bất cứ nghi ngờ nào về việc Bà có đầy đủ năng lực để rời khỏi cơ thể mình bất cứ khi nào Bà muốn.</p>
<p style="text-align: justify;">Bây giờ lời cầu nguyện mãnh liệt của tôi là Bà sẽ nhanh chóng tái sinh trở lại và chúng ta lại sẽ lần nữa có may mắn ở trong sự hiện diện của Bà. Cầu nguyện cho sự tái sinh của Bà thoát khỏi mọi chướng ngại và cầu nguyện rằng bà sớm trở lại ban phước lành cho chúng ta. Tôi cũng muốn cảm ơn tất cả các môn đồ, bạn bè , và những người hảo tâm đã chia với chúng tôi. Chúng tôi hoan hỉ vì sự giác ngộ của Đức Sangyum Rigzin Wangmo và cầu nguyện rằng hiện thân trí tuệ của Đức Sangyum Rigzin Wangmo nhanh chóng trở lại để tiếp tục ban rãivà hướng dẫn giáo Pháp cho chúng ta trên con đường Đạo.</p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"><a style="color: #000000;" href="http://www.tersar.org/about-sangyum-rikzin-wangmo/">http://www.tersar.org/about-sangyum-rikzin-wangmo/</a></span></p>
<p style="text-align: justify;">Việt ngữ: Tara Devi (Nhóm Viet Rigpa Lotsawas)</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính: Giác Nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Trong đời này chúng con đã có cơ hội diện kiến </em><em>Đức Dudjom Yangsi Rinpoche, nhưng từ những dòng cam lồ về đại dương Giáo Pháp của Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche tiền thân đã để lại cho chúng con nhiều cảm xúc và sự chuyển hóa. Chúng con hoàn thành bản dịch chia sẻ của Đức Dungse Shenphen Dawa Norbu Rinpoche  về mẹ Ngài, Đức Sangyum Rigzin Wangmo </em><em>trong ngày Dakini (25/4/1016 Lịch Tạng). Chúng con cầu mong nhờ chút công đức nhỏ nhoi này những hóa thân trí tuệ của Đức </em><em>Sangyum Rigzin Wangmo sẽ hiện diện tại Việt nam và cầu mong cho giáo lý Dudjom Tersar sẽ nở rộ khắp Việt nam quê hương chúng con. </em></p>
<p style="text-align: justify;"><em> </em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/nu-dao-su-sangyum-rigzin-wangmo-hien-than-cua-duc-tara-trang-va-dakini-yeshe-tsogyal/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Đức Khenpo Tsewang Dongyal Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-khenpo-tsewang-dongyal-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-khenpo-tsewang-dongyal-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 17 Dec 2015 13:25:11 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Dujom Tesar]]></category>
		<category><![CDATA[Dujom Tesar Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Dujom Tesar]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6509</guid>
		<description><![CDATA[Đức Khenpo Tsewang Dongyal Rinpoche sinh ra tại vùng Dhoshul, thuộc tỉnh Kham miền Đông Tây Tạng vào ngày mùng 10 năm 1950. Vào ngày hè năm đó, trong túp lều nhỏ của gia đình, mẹ Ngài đã hạ sinh Ngài mà không hề cảm thấy đau đớn. Ngày hôm sau, khi di chuyển chiếc giường nơi đã hạ sinh&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-khenpo-tsewang-dongyal-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Đức Khenpo Tsewang Dongyal Rinpoche sinh ra tại vùng Dhoshul, thuộc tỉnh Kham miền Đông Tây Tạng vào ngày mùng 10 năm 1950. Vào ngày hè năm đó, trong túp lều nhỏ của gia đình, mẹ Ngài đã hạ sinh Ngài mà không hề cảm thấy đau đớn. Ngày hôm sau, khi di chuyển chiếc giường nơi đã hạ sinh Ngài, mẹ Ngài, bà Pema Lhadze tìm thấy một bông hoa tươi đẹp, tỏa hương thơm ngát. Bà đã hái bông hoa và đặt lên bàn thờ cúng dường Đức Chenrezig.</p>
<p style="text-align: justify;">Chẳng bao lâu sau khi Ngài được hạ sinh, ba vị Lama cao cấp từ Tu viện Jadchag đã đến nhà và công nhận Ngài là Hóa thân của Đức Khenpo Sherab Khyentse. Đức Khenpo Sherab Khyentse là một vị Lama cao cấp và là Tu viện trưởng Tu viện Gochen, là một vị học giả tôn kính và một hành giả đã dành phần lớn cuộc đời mình nhập thất miên mật.</p>
<p style="text-align: justify;">Vị Thầy dạy Pháp đầu tiên của Đức Khenpo Tsewang Dongyal Rinpoche chính là cha Ngài, Lama Chimed Namgyal Rinpoche. Năm lên 5 tuổi Ngài bắt đầu đi học và đã đến tu học tại Tu viện Gochen. Việc tu học của Ngài đã bị gián đoạn bởi sự xâm lược của Trung Hoa và việc gia đình Ngài trốn sang Ấn Độ. Tại Ấn Độ, cha và anh trai Ngài tiếp tục việc giáo dưỡng Ngài cho đến khi Ngài đến tu học tại Tu viện Nyingmapa thuộc miền Bắc Ấn Độ đến tận năm 1967.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó, Ngài đã đến tu học tại Học viện Nghiên cứu Tây Tạng, đây là một cơ sở của Đại học Sanskrit tại Varanasi. Tại đây, năm 1975 Ngài đã nhận bằng Thạc sĩ. Ngài cũng tham gia tu học tại Đại học Nyingmapa ở Tây Bengal. Tại đây, năm 1977 Ngài đã nhận bằng BA và MA.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/11230553_1440790016235664_1158584227_n.jpg"><img class="  wp-image-6510 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/11230553_1440790016235664_1158584227_n-300x300.jpg" alt="11230553_1440790016235664_1158584227_n" width="453" height="453" /></a></p>
<p style="text-align: center;">Đức Dudjom Rinpoche &amp; Đức Khenpo Tsewang Rinpoche</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1978, Đức Khenpo Tsewang Dongyal Rinpoche được Đức Dudjom Rinpoche tấn phong là Tu viện trưởng của Học viện Nyingmapa ở Boudhanath, Nepal. Sau này, Ngài trở thành Tu viện trưởng của Khoa nghiên cứu giáo pháp và đã giảng dạy thơ ca, ngữ pháp, triết học và tâm lý học. Năm 1981, Đức Dudjom Rinpoche đã ấn định Ngài là Tu viện trưởng của Trung tâm Dorje Nyingpo tại Paris, Pháp. Năm 1982, Ngài được yêu cầu làm việc cùng với Đức Dudjom Rinpoche tại Trung tâm Yeshe Nyingpo ở New York - Mỹ. Suốt thập kỉ 80, cho đến khi thị tịch của Đức Dudjom Rinpoche vào năm 1987, Đức Khenpo Tsewang Dongyal Rinpoche vẫn tiếp tục kết hợp chặt chẽ cùng với Đức Dudjom Rinpoche và thường đồng hành cùng Ngài với tư cách là biên dịch và thị giả.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1988, Đức Khenpo Tsewang Dongyal Rinpoche và anh trai Ngài đã sáng lập Trung tâm Phật Pháp Padmasambhava. Kể từ đó, Ngài đã trở thành vị hướng dẫn tâm linh tại các Trung tâm Padmasambhava khác nhau trên khắp thế giới. Ngài luôn duy trì kế hoạch giảng dạy và việc di chuyển cùng với anh trai Ngài là Đức Khenchen Palden Sherab Rinpoche.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Venerable-Khenpo-Tsewang-Dongyal-Rinpoche-and-Venerable-Khenchen-Palden-Sherab-Rinpoche.jpg"><img class="  wp-image-6511 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Venerable-Khenpo-Tsewang-Dongyal-Rinpoche-and-Venerable-Khenchen-Palden-Sherab-Rinpoche-300x216.jpg" alt="Venerable Khenpo Tsewang Dongyal Rinpoche and Venerable Khenchen Palden Sherab Rinpoche" width="580" height="417" /></a>              Đức Khenpo Tsewang Rinpoche &amp; Đức Khenchen Palden Sherab Rinpoche</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Khenpo Tsewang Rinpoche đã viết hai cuốn kệ về cuộc đời của Guru Rinpoche, gồm có Praise to the Lotus Born: A Verse Garland of Waves of Devotion - một cuốn hết sức độc đáo về lịch sử văn hóa và tôn giáo của Tây tạng với nhan đề The Six Sublime Pillars of the Nyingma School, nêu chi tiết về căn bản giáo Pháp ở Tây Tạng từ thế kỉ 6 đến thế kỉ 9. Hiện tại, đây là cuốn sách duy nhất chuyển tải các hoạt động giáo Pháp với mức độ thâm sâu của giai đoạn lịch sử bấy giờ.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Khenpo Tsewang Rinpoche cùng với anh trai Ngài là Đức Khenchen Palden Sherab Rinpoche đã viết rất nhiều sách về Phật Pháp bằng tiếng Anh, gồm có Ceaseless Echoes of the Great Silence: A Commentary on the Heart Sutra; Prajnaparamita: The Six Perfections; Door to Inconceivable Wisdom and Compassion; Lion’s Gaze: A Commentary on the Tsig Sum Nedek; và  Opening Our Primordial Nature, tất cả đều sẵn trực tuyến tại Chiso.</p>
<p style="text-align: justify;">http://www.padmasambhava.org/teach/longkhenpo.html</p>
<p style="text-align: justify;">Việt ngữ: Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính: Giác nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với</em> <em>Đ</em><em>ức </em><em>Khenpo Tsewang Rinpoche</em><em> đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này Ngài sớm quang lâm đến Việt nam</em></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-khenpo-tsewang-dongyal-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử ngắn Đức Kyabje Dudjom Yangsi Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-duc-kyabje-dudjom-yangsi-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-duc-kyabje-dudjom-yangsi-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 04 Sep 2015 03:32:24 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Dujom Tesar]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Dujom Tesar]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3920</guid>
		<description><![CDATA[ Trước khi Kyabje Dudjom Rinpoche thị tịch, Ngài nói rằng: “Ta sẽ đi Trung quốc, và ta sẽ tái sinh trong gia đình của ta.” Quả nhiên như thế, việc tiên tri về sự tái sinh của Ngài hoàn toàn xảy ra như dự dịnh. Tenzin Yeshe Dorje - Kyabje Dudjom Yangsi Rinpoche - sinh ngày 22 tháng 7 năm&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-duc-kyabje-dudjom-yangsi-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"> Trước khi Kyabje Dudjom Rinpoche thị tịch, Ngài nói rằng: “Ta sẽ đi Trung quốc, và ta sẽ tái sinh trong gia đình của ta.” Quả nhiên như thế, việc tiên tri về sự tái sinh của Ngài hoàn toàn xảy ra như dự dịnh. Tenzin Yeshe Dorje - Kyabje Dudjom Yangsi Rinpoche - sinh ngày 22 tháng 7 năm Hỏa Ngọ thuộc Chu kỳ Rabjung thứ 17 (nhằm ngày 9 tháng 10 năm 1990) tại Kyegudo (hạt Yuesue thuộc Tỉnh Thanh Hải, Trung Quốc) trong gia đình của chính con trai của Kyabje Dudjom Rinpoche là Dola Tulku Jigmed Chokyi Nyima Rinpoche, và vợ của ông là Pema Khandro. Khi thân mẫu của Yangsi Rinpoche mang thai ba tháng, một hôm bà nhìn thấy một cầu vồng xuất hiện trên ngôi nhà của họ và bà biết đó là một dấu hiệu tốt lành. Từ lúc ấy, nhiều cầu vồng xuất hiện với họ, và thậm chí một vài cầu vồng còn xuất hiện trong phòng.</p>
<p style="text-align: justify;"> Sau khi Yangsi Rinpoche được sinh ra, nhiều đại Lạt ma của những truyền  thống khác nhau tới thăm Ngài. Một vài vị nói rằng Ngài phải là một tulku của dòng Sakya, trong khi những vị khác nói rằng Ngài có thể là một tulku của Gelugpa. Lần đầu tiên, Yangsi Rinpoche được vị Terton vĩ đại và Dakini trí tuệ Tare Khandro (Tare Lhamo), con gái của terton vĩ đại Aphang Terton ở Golok, xác nhận là tulku (Hóa Thân) của Kyabje Dudjom Rinpoche. Tiên tri xuất hiện với nữ Terton này trong những bài thơ viết bằng chữ Dakini mà bà đã dịch sang chữ Tây Tạng. Sau đó một Lạt ma Nyingma khác tên là Ngaden Tulku viết một bài mô tả những sự kiện đã xảy ra.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó, Dzongsar Jamyang Khyentse Rinpoche III tới thăm Yangsi Rinpoche ở Kyegudo và ban cho Ngài nhiều lễ nhập môn quan trọng. Dzongsar Rinpoche cũng ban cho Ngài danh hiệu “Pema Osel”, có nghĩa là Liên Hoa Quang (Ánh sáng Hoa Sen}. Trong lễ nhập môn và sau đó, người ta nhìn thấy ba lớp cầu vồng trên mái nhà của song thân Ngài, và chúng được coi là một dấu hiệu hết sức tốt lành.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó, một tulku từ Tu viện của Dola Rinpoche mang lá thư của Tare Khandro tới cho Kyabje Chadral Sangye Dorje Rinpoche ở Pharping, Nepal. Vị Thầy này cũng xác nhận Yangsi Rinpoche là tulku của Kyabje Dudjom Rinpoche. Yangsi Rinpoche được Kyabje Chadral Rinpoche ban tặng thêm danh hiệu "Sangye Pema Shaypa Drodul Rigdzin Thinley Drupaydey" qua một bài cầu nguyện trường thọ. Sau đó, Kyabje Chadral Rinpoche viết thêm một lá thư để tham khảo ý kiến của Kyabje Dungsay Thinley Norbu Rinpoche ở New York, và vị Thầy này cũng có ý kiến giống như Kyabje Chadral Rinpoche. Kyabje Dungsay Thinley Norbu Rinpoche cũng tới Chengdu (Thành Đô), Sichuan (Tứ Xuyên) để gặp Yangsi Rinpoche vào năm 1993.</p>
<p style="text-align: justify;">Kể từ đó, nhiều đại Lạt ma đã xác nhận Yangsi Rinpoche là tulku của Kyabje Dudjom Rinpoche, kể cả H.H. Minling Trichen Rinpoche, H.H. Penor Rinpoche (vị Lãnh Đạo hiện thời của Phái Nyingma), H.H. Sakya Trizin Rinpoche, Shechen Rabjam Rinpoche và Kathok Situ Rinpoche, trong số những Lạt ma cao cấp khác của Phật Giáo Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Một sự kiện tốt lành nhất đã xảy ra vào ngày 25 tháng Mười Một năm 1994 tại Kathmandu, Nepal. Chính vào ngày Lha Bab Duchen (ngày Đức Phật Thích Ca Mâu Ni từ thiên giới trở về sau khi ban giáo lý cho thân mẫu của Ngài), Yangsi Rinpoche, tulku của Kyabje Dudjom Rinpoche II đã được đăng quang. Một hội chúng 12.000 người đã tham dự buổi lễ tại Godavari, thánh địa của Vajrayogini. Chính Kyabje Chadral Rinpoche đã chủ tọa buổi lễ đăng quang kéo dài tám giờ, cùng với H.H. Penor Rinpoche, Dzongsar Jamyang Khyentse Rinpoche, Shechen Rabjam Rinpoche, Kathok Situ Rinpoche và nhiều Lạt ma Nyingma hiện tại khác. Kyabje Dudjom Yangsi Rinpoche ngồi yên lặng như một pho tượng suốt buổi lễ. Kyabje Chadral Rinpoche nói với Dola Rinpoche, thân phụ của Yangsi Rinpoche rằng thật là kinh ngạc và thậm chí thật phi thường khi một đứa trẻ 4 tuổi lại có thể ngồi như thế trong khi chính Chadral Rinpoche thì không thể làm được. Thực vậy, bất kỳ ai nhìn thấy Yangsi Rinpoche cũng sẽ không thể không tin rằng Ngài là một hiện thân linh thánh, tự thân sự hiện diện của Ngài đã có một năng lực để giải thoát chúng sinh. Chính vị tiền nhiệm của Ngài là Dudjom Lingpa đã tiên tri rằng “chỉ nhờ nhìn thấy, nhận biết, xúc chạm, và kinh nghiệm với Ngài mà hàng tỉ người sẽ được giải thoát, và họ sẽ được tái sinh vào Vương quốc Shambhala.” (2)</p>
<p style="text-align: justify;">Các Đạo sư của Yangsi Rinpoche gồm có Bhakha Tulku, Urgyen Chemchok Rinpoche và Khenpo Nyima Dorje ở Tu viện Kathok. Ngài cũng được nhận nhiều lễ nhập môn và giáo lý quan trọng từ những Đạo sư vĩ đại như Kathok Moktsa, Gonjo Tulku Urgyen Chemchok, Dungsay Thinley Norbu Rinpoche, Dzongsar Jamyang Khysentse Rinpoche, và từ Chadral Rinpoche, Lạt ma gốc (Bổn Sư) của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.vairotsana.org/history/dudjomrinpoche.htm"><em>http://www.vairotsana.org/history/dudjomrinpoche.htm</em></a><em><br />
<em>Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên </em></em></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Chú thích: </em></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>(1) Kublai Khan (Kubla Khan 1216-1294): vị sáng lập triều đại Mông Cổ và là người chinh phục Trung Hoa; cháu của Thành Cát Tu Hãn. </em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>(2) Theo truyền thống của Phật Giáo Tây Tạng, khái niệm Shambhala có ba ý nghĩa. Theo ý nghĩa bên ngoài của nó, Shambhala là một vị trí địa lý, một địa điểm tràn đầy nguồn mạch cảm hứng tâm linh, nơi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng dạy Tantra (Mật điển) Kalachakra (Tantra Bánh Xe Thời gian). Theo ý nghĩa nội tại, Shambhala là Pháp hay Luân xa Tim, nằm ở vị trí trái tim của tất cả chúng sinh. Nó là biểu tượng của tâm, làm viên mãn bộ ba gồm thân, ngữ và tâm. Theo ý nghĩa bí mật của nó, Shambhala là Tathagatagarbha (Như Lai tạng, Phật Tánh), là cốt tủy của mọi sự. Nó siêu vượt sự hiện hữu và không-hiện hữu, và là nền tảng của sinh tử và Níêt bàn. Theo Tantra Kalachakra, trong Thời đại Tối ám này, Lala-Desum (Ba Chúa tể của chủ nghĩa Duy Vật, cụ thể là Chúa tể của Thân, Chúa tể của Ngữ và Chúa tể của Tâm) sẽ bành trướng năng lực và sự cám dỗ của họ, nô lệ hóa tâm thức con người bằng chủ nghĩa duy vật tâm lý và tâm linh. Cuối cùng, khi Shambhala được thừa nhận, nói cách khác, khi chúng sinh bắt đầu thấu hiểu chính mình và khi Phật Tánh chói ngời, Vua của Shambhala là Rigden Dorje Nonpo sẽ tiến hành cuộc chiến tranh chống lại và điều phục Lala-Desum, khiến cho những kế hoạch của Ba Chúa tể của Chủ nghĩa Duy Vật trở nên không còn thích hợp và những giáo lý của Tantra Kalachakra sẽ được chứng ngộ.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em> </em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-duc-kyabje-dudjom-yangsi-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Bậc trì giữ truyền thống Dujom Tersar</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/dujom-tesar/bac-tri-giu-truyen-thong-dujom-tersar/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/dujom-tesar/bac-tri-giu-truyen-thong-dujom-tersar/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 04 Sep 2015 03:13:32 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Dujom Tesar]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Dujom]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Dujom Tesar]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3914</guid>
		<description><![CDATA[Đức Kyabje Dudjom Rinpoche (1904-1987) Cây truyền thừa Dujom Tersar  Đức Kyabje Dudjom Rinpoche (1904-1987) là một vị thánh và Vidyadhara (Trì Minh Vương) vĩ đại của Phái Nyingma (Cổ Phái) của Phật Giáo Tây Tạng, và được cộng đồng Tây Tạng coi là vị đại diện trực tiếp của Guru Rinpoche, vị Phật thứ hai của thời đại chúng ta.&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/dujom-tesar/bac-tri-giu-truyen-thong-dujom-tersar/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>Đức Kyabje Dudjom Rinpoche (1904-1987)</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Truyền-thừa-Dujom-Tesar1.jpg"><img class="  wp-image-5664 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Truyền-thừa-Dujom-Tesar1-215x300.jpg" alt="Truyền thừa Dujom Tesar" width="446" height="622" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Cây truyền thừa Dujom Tersar </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Đức Kyabje Dudjom Rinpoche (1904-1987) là một vị thánh và Vidyadhara (Trì Minh Vương) vĩ đại của Phái Nyingma (Cổ Phái) của Phật Giáo Tây Tạng, và được cộng đồng Tây Tạng coi là vị đại diện trực tiếp của Guru Rinpoche, vị Phật thứ hai của thời đại chúng ta. Như vậy, theo “Vòng Hoa Những Viên Ngọc Pha lê: Lời Cầu nguyện những Hóa Thân Thần kỳ của Đức Kyabje Dudjom Rinpoche” thì trên thực tế, Kyabje Rinpoche là vị thứ mười tám trong một loạt các Hóa Thân bao gồm những Đạo sư Phật Giáo vĩ đại nhất của Ấn Độ và Tây Tạng. Đức Dudjom Rinpoche đã dâng hiến nhiều đời để thực hiện Phật sự.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào thời xa xưa, trong thời đại của Đức Phật Pranidhanaraja (Đức Phật Nguyện Vương), Rinpoche là yogin (hành giả) Nuden Dorje Chang, bậc đã thệ nguyện sẽ xuất hiện là vị Phật thứ Một Ngàn và là Đức Phật "Mopa Od Thaye" cuối cùng của Hiền kiếp này. Sau đó, Ngài đã hiển lộ là Shariputra (Xá Lợi Phất) ở Ấn Độ, đại đệ tử nổi tiếng về trí tuệ bậc nhất của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Sau đó Ngài tái sinh là Bà La môn Saraha, vị đứng đầu trong 84 Đại Thành tựu giả của Ấn Độ, là Đạo sư của Nagarjuna (Long Thọ) và là người truyền bá các giáo lý bí mật trong thế giới này. Hóa Thân thứ tư là Trina Dzin (Krishnadhara trong Phạn ngữ), thượng thư tâm linh của Vua Indrabhuti xứ Oddiyana, người đầu tiên nhìn thấy sự đản sinh của Guru Rinpoche trong một hoa sen. Hóa Thân kế tiếp của Ngài là Humkara, một trong Tám Trì Minh Vương ở Ấn Độ.</p>
<p style="text-align: justify;">Hóa Thân thứ sáu của Ngài là đại dịch giả Drogben Lotsawa ở Tây Tạng, một trong hai mươi lăm đệ tử của Guru Rinpoche. Sau đó Ngài tái sinh là Mriti Jnana (Smrtijnanakirti trong Phạn ngữ), học giả Ấn Độ đã du hành tới Tây Tạng và cuộc đời của vị này trùng hợp với thời kỳ chuyển tiếp từ Cổ dịch (Nyingma) sang Tân dịch (Sama). Hóa Thân thứ tám của Ngài là Rongzom Pandita Chokyi Zangpo, người đầu tiên biên soạn những luận thuyết chính yếu trong truyền thống Nyingma. Sau đó Ngài tái sinh là Dampa Deshek (1122-1192), vị sáng lập Tu viện Kathok ở tỉnh Kham. Hóa Thân thứ Mười của Ngài là Palden Lingje Repa, một trong những vị tổ của Phái Drukpa Kagyu. Sau đó Ngài tái sinh là Chogyal Pakpa (1235-1280), vị lãnh đạo truyền thống Sakya cai trị Tây Tạng trong thời của Kublai Khan (1). Hóa Thân thứ mười hai của Ngài là Drum Khar Nagpa, một yogin nổi tiếng xứ Kham. Tái sinh kế tiếp là Hepa Chojung, một đại thành tựu giả ở miền đông Tây Tạng. Hóa Thân thứ mười bốn là Traktung Dudul Dorje (1615-1672), một Terton (vị khám phá các Kho tàng Giáo lý) lừng danh ở Puwo miền đông nam Tây Tạng. Sau đó Ngài tái sinh là Gyalse Sonam Detsen, người đóng vai trò quan trọng trong sự phục sinh của Tu viện Kathok ở tỉnh Kham.</p>
<p style="text-align: justify;">Hóa Thân tương lai của  Kyabje Dudjom Rinpoche là Rigden Dorje Nonpo, Vua của Vương quốc Shambhala.</p>
<p style="text-align: justify;">Hóa Thân thứ mười sáu của Ngài là yogin vĩ đại Dudal Rolpa Tsal, Đạo sư của Jigmed Lingpa (1730-1798). Kế đó Ngài tái sinh là Garwang Dudjom Pawo (Dudjom Lingpa, 1835-1904), một Terton nổi tiếng ở tỉnh Kham, thường thị hiện vẻ phẫn nộ. Hóa Thân thứ mười tám của Đức Kyabje Dudjom Rinpoche là Jigdral Yeshe Dorje (1904-1987), bậc được coi là một yogin, học giả, và thiền sư kiệt xuất của thời hiện đại. Yangsi Rinpoche (tái sinh của Dudjom Rinpoche) hiện tại là Hóa Thân thứ mười chín, được gọi là Pema Osel, hay đơn giản là Kyabje Dudjom Rinpoche Thứ Ba.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong những thời đại tương lai, Kyabje Dudjom Rinpoche sẽ tái sinh là Rigden Dorje Nonpo, Vua xứ Shambhala (vương quốc của Kalachakra), là vương quốc sẽ hiển lộ trong thế giới này khi đúng thời. Vào cuối của Hiền Kiếp này, Kyabje Dudjom Rinpoche sẽ hiển lộ là vị Phật cuối cùng trong Một Ngàn vị Phật, được gọi là Đức Phật Mopa Od Thaye.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong tiên tri của Urgyen Dechen Lingpa có nói rằng: “Trong tương lai ở Tây Tạng, ở miền đông của Núi Chín Ngọn, trong cõi Phật linh thánh của Đức Vajravarahi tự sinh, sẽ xuất hiện một Hóa Thân của Drogben, thuộc dòng dõi vương giả và có tên là Jnana. Những hoạt động lợi lạc của vị này phù hợp với Kim Cương thừa, mặc dù Ngài hành xử khác biệt, phi thường, như một đứa trẻ với sự thông tuệ lạ lùng. Ngài sẽ khám phá terma mới hay bảo tồn terma cũ. Bất kỳ ai có những mối liên hệ với Ngài sẽ được đưa dẫn tới Cõi Ngayab Ling (Zangdok Palri – Núi Huy Hoàng Màu-Đồng Đỏ).” Và thực vậy, Dudjom Rinpoche (Jigdral Yeshe Dorje) thuộc dòng dõi vương giả được truy nguyên từ Nyatri Tsenpo, vị vua đầu tiên của Tây Tạng, và từ Puwoo Kanam Dhepa, vua xứ Powo.</p>
<p style="text-align: justify;">Dudjom Rinpoche được xác nhận là Hóa Thân của Dudjom Lingpa, một vị khám phá nổi tiếng nhiều giáo lý hay “kho tàng” ẩn dấu (Terma), đặc biệt là những Terma có liên quan tới thực hành Vajrakilaya. Dudjom Lingpa có ý định viếng thăm miền nam Tây Tạng để khám phá thánh địa Pemakod, nhưng không thể thực hiện được. Ngài đã tiên đoán rằng người kế vị ngài sẽ sinh ra ở đó và khám phá thánh địa này.</p>
<p style="text-align: justify;"> Vào buổi sáng ngày 10 tháng Sáu năm Thủy Thìn (1904), Đức Dudjom Rinpoche được sinh ra với nhiều dấu hiệu thật đáng kinh ngạc. Hóa Thân trước đó của Ngài là Dudjom Lingpa đã nói với các đệ tử: “Bây giờ trong thời đại suy hoại này, hãy đi tới miền đất ẩn mật Pemakod. Bất kỳ ai nương tựa nơi ta, hãy đi theo hướng đó! Trước khi những người trẻ như các ngươi tới nơi thì ta, một lão già, đã có mặt ở đó.” Điều này đã xảy ra đúng như tiên đoán. Khi họ nhận ra tái sinh của Ngài thì Ngài đã được ba tuổi. Bởi Ngài là một hiện thân trực tiếp của Dudjom Lingpa, Ngài có thể nhớ lại những đời trước của mình thật rõ ràng.</p>
<p style="text-align: justify;"> Gia đình Ngài có dòng dõi cao quý, thân phụ của ngài là Kathok Tulku Norbu Tenzing thuộc dòng Kathok, một tulku nổi tiếng của miền Pemakod, và thân mẫu của Ngài là Namgyal Drolma thuộc dòng dõi của Terton Ratna Lingpa.</p>
<p style="text-align: justify;">Các đệ tử hộ trì terma của Dudjom Lingpa như Phuktrul Gyurme Ngedon Wangpo và Lạt ma Thubten Chonjor ở Pemakod đã xác nhận và tôn phong Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Việc tu hành và nghiên cứu mãnh liệt của Rinpoche </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Dudjom Rinpoche đã tu học với những Lạt ma kiệt xuất nhất trong thời đại của Ngài, bắt đầu việc tu học với Khenpo Aten ở Pemakod. Dudjom Rinpoche được dạy đọc, viết và năm khoa học thông thường (ngũ minh). Bất kỳ Ngài học điều gì, chỉ cần một biểu thị đơn thuần là Ngài đã thấu suốt. Trí tuệ tỉnh giác của Ngài chói ngời như một ngọn lửa. Ngài nghiên cứu nhiều bản văn và luận giảng, như Dom Sum (Ba Giới Luật), Chod Juk v.v.. Lạt ma Konrab nói rằng khi mới năm tuổi, Ngài đã bắt đầu khám phá Terma. Năm lên tám, Ngài bắt đầu nghiên cứu "Bodhicaryavatara" (Bồ Tát Hạnh) của Santideva với Đạo sư Urygen Chogyur Gyatso, một đệ tử riêng của Patrul Rinpoche vĩ đại (1808-1887).</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài tu học trong 16 năm với Phuktrul Gyurme Ngedon Wangpo, một bậc hộ trì các giáo lý của Đức Dudjom tiền nhiệm, và có những chứng ngộ vĩ đại về các giáo lý Dzogpachenpo (Đại Viên Mãn). Ngài nhận từ Jamyang Khyentse Chokyi Lodro những giáo lý Kim Cương thừa (Gyud, Lung, và Men-Ngag) của "Sangwa Nyingthig". Ngài cũng nhận “những giáo lý được khám phá lại” của Đức Dudjom tiền nhiệm và các giáo lý Dzogchen (Đại Viên Mãn) từ Jedrung Thinley Jampai Jungne (Dudjom Namkhai Dorje) xứ Riwoche. Ngedon Wangpo nói với Ngài: “Terdzod tượng trưng hoạt động của Khyentse và Kongtrul. Tôi đã ban giáo lý này năm lần và Ngài sẽ ban nó mười lần. Những giáo lý sâu xa của các bậc tôn quý đã được dâng cúng như một mạn đà la trong tay những bậc ‘Hộ trì Tài bảo.’ Bây giờ, như tôi đã tuân lệnh Thầy tôi, Ngài cũng thế, xin hãy sử dụng kinh nghiệm của mình để làm lợi lạc chúng sinh.”</p>
<p style="text-align: justify;">Trong thời niên thiếu, Dudjom Rinpoche đã tu học tại những Đại học tu viện vĩ đại ở miền Trung Tây Tạng, như Mindroling, Dorje Drak và Tarje Tingpoling, cũng như những tu viện ở miền Đông Tây Tạng, như Kathok và Dzogchen. Chính tại Mindroling Ngài đã quay trở lại để hoàn thiện sự thấu suốt truyền thống Nyingma của Ngài. Như thế từ Đạo sư Kim Cương của Mindroling là Dorzim Namdrol Gyatso, Ngài đã nghiên cứu các nghi lễ, mạn đà la, những bài ca, vũ điệu và âm nhạc của Terdak Lingpa, cùng với nhiều giáo lý khác. Ngài cũng nhận từ nhiều vị Thầy vĩ đại khác tất cả những giáo lý của Phái Nyingma.</p>
<p style="text-align: justify;"> Từ Togden Tenpa, Ngài nhận quán đảnh (wang) và sự truyền dạy (lung) của "Dzogchen Nyingtig Yabshi", là dòng của Khenpo vĩ đại Nyoshul Lungtok Tenpai Nyima. Từ Jedrung Rinpoche xứ Riwoche, Ngài nhận sự truyền dạy “Kangyur”, "Dam Ngag Dzod", mười bảy tantra "Sangchen Ngepai", "Nyingthig Yabshi", và v.v.., cũng như tất cả các giáo lý của Dzogpachenpo (Đại Viên Mãn). Ngài nhận đầy đủ những giáo lý này và được coi là trưởng tử tâm yếu của vị Thầy của Ngài. Từ Tulku Kunzang Thekchog Tenpai Gyaltsan, Ngài cũng nhận nhiều giáo lý sâu xa và quan trọng. Từ Ngagtsun Gendun Gyatso, Rinpoche nhận tất cả những giáo lý của Pema Lingpa, "Dzod Dun" (Bảy Kho tàng của Longchenpa, 1308-1363), trong số nhiều giáo lý khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Hơn nữa, từ Khenpo Jamde vĩ đại, Pande Odzer (đệ tử của Mipham Rinpoche, 1848-1912), Rinpoche đã nhận "Nyingma Kama", các quán đảnh "Kagyed", "Lama Gongdu" của Sangye Lingpa và "Sangwa Nyingpo" theo truyền thống Zur; cũng như giáo khóa "Osel Sangwa Nyingthig". Ngài cũng nhận nhiều luận giảng tantra như những luận giảng vĩ đại của  chính Mipham, "Nyingthig Yabshi", và v.v.. Rinpoche coi Khenpo Jamde như Lạt ma thứ hai tốt lành nhất của Ngài và thọ nhiều giới nguyện Pratimoksha (Biệt giải thoát), Bồ Tát và Kim Cương thừa từ vị Thầy này. Ngài cũng nhận những giáo lý từ các bậc vĩ đại là đệ tử của Khenpo vĩ đại Nyoshul Lungtok Tenpai Nyima: Khenpo Ngawang Palzang, Chadral Sangye Dorje, Lama Urgyen Rigdzin, Kathok Chagtsa Tulku, Pulung Sangye Tulku, Khenpo Ngawang Palzang, Chadral Sangye Dorje, Lama Urgyen Rigdzin, Kathok Chagtsa Tulku, Pulung Sangye Tulku, và Gyurme Phendei Ozer, trong số những vị Thầy khác. Ngài nhận những giáo lý từ các Đạo sư này và cũng ban giáo lý cho các ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Dudjom Rinpoche nói rằng khi còn rất trẻ, Ngài luôn luôn có những linh kiến khác nhau, và duyên nghiệp khám phá những kho tàng sâu xa đã thức giấc nơi Ngài. Năm 13 tuổi, Ngài gặp Guru Rinpoche (Yab-Yum) trong thân tướng con người, và sau khi nhận di sản kế thừa của một vị Thầy phi-nhân tự sinh, các Dakini trí tuệ đã ban tặng Ngài những tờ giấy màu vàng và Ngài đã ghi lại những giáo lý kho tàng tâm này.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Những Chứng ngộ vĩ đại của Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Dudjom Rinpoche thực hành rất nghiêm nhặt. Ngài đi tới một nơi bí mật được gọi là Kenpa Jong (hay Phuntsok Gatsel), và đã thành tựu Dorje Phurba (Vajrakilaya) của "Dudjom Namchag Pudri". Tại Buddha Tse Phuk, Rinpoche thực hành Tse-Drup và Tse-chang của Ngài đã sôi lên. Ngài đã nhận thêm những dấu hiệu tốt lành khi thực hành gongter (kho tàng tâm) của Dudul Drollo. Khi ở Paro Tak-Tshang (Hang Cọp), Dudjom Rinpoche đã khám phá lại "Pudri Rekpung", "Tsokye Thugthig" và  "Khandro Thugthig" mà Ngài đã ghi chép những phần chính yếu. Tóm lại, trong khi thực hành ở tất cả những thánh địa quan trọng này, Rinpoche luôn luôn kinh nghiệm những dấu hiệu thành tựu.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Những Tác phẩm của Rinpoche </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Dudjom Rinpoche nổi tiếng khắp thế giới là một tác giả và học giả sáng tác rất nhiều. Các tác phẩm của Ngài lừng danh vì sự hiểu biết có tính chất bách khoa, đề cập tới mọi ngành truyền thống của việc nghiên cứu Phật Giáo, bao gồm thi ca, lịch sử, y học, chiêm tinh và triết học. Là tác giả của những bài thơ tràn trề cảm hứng về cái đẹp làm rung động lòng người, Ngài có thiên tài đặc biệt khi diễn tả ý nghĩa và sự chứng ngộ Dzogchen với vẻ trong sáng như pha lê.</p>
<p style="text-align: justify;">“Tuyển Tập” (Sungbum) của Ngài gồm có hai mươi lăm quyển, không bao gồm đầy đủ những tác phẩm của Ngài. Trong số các tác phẩm được đọc nhiều nhất của Ngài có “Những Nền tảng của Phật Pháp” và “Lịch sử của Phái Nyingma” là những quyển sách Ngài đã biên soạn ngay sau khi tới Ấn Độ. Những tác phẩm này hiện đã được Gyurme Dorje và Matthew Kapstein dịch sang Anh ngữ và được Wisdom Publications xuất bản, trong khi đó vị đại diện tâm linh người Trung quốc của Ngài  là Lạt ma Sonam Chokyi Gyaltsan (Guru Lau Yui-che) với sự trợ giúp của Ming-chu Tulku cũng đã dịch sang tiếng Trung quốc và được Secret Vehicle Publications xuất bản tại Hồng Kông và Đài Loan.</p>
<p style="text-align: justify;"> Phần quan trọng và chính yếu khác trong công trình của Ngài là việc hiệu đính, sửa chữa và biên tập nhiều bản văn cũ và mới, bao gồm năm mươi tám quyển là toàn bộ Những Giáo lý Kinh điển của Phái Nyingma (“Nyingma Kama”), một đề án mà Ngài bắt đầu năm 74 tuổi, giống như Jamgong Kongtrul đã tuyển tập các giáo lý Terma. Tủ sách riêng của Ngài gồm tuyển tập to lớn nhất những bản thảo và các pho sách quý báu ở bên ngoài Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Việc Truyền bá Giáo lý của Rinpoche  </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Dudjom Rinpoche là người duy nhất nhận lãnh sự truyền dạy của tất cả những giáo lý hiện hành của truyền thống Nyingma vô cùng phong phú. Đặc biệt Ngài nổi tiếng là một Terton (vị khám phá kho tàng) vĩ đại. Hiện nay, các Terma của Ngài được giảng dạy và thực hành rộng rãi và Ngài cũng là người trình bày quan trọng giáo lý Dzogchen. Thực vậy, Ngài được coi là hiện thân sống động và là vị đại diện của Guru Rinpoche. Là một Đạo sư của các Đạo sư, Ngài được các Lạt ma lãnh đạo Phật Giáo Tây Tạng thừa nhận là có năng lực và sự ban phước vĩ đại nhất trong việc truyền đạt bản tánh của tâm, và các Lạt ma này đã gởi đệ tử của mình tới Ngài khi chuẩn bị cho sự trực chỉ tâm này. Dudjom Rinpoche là bậc Thầy của hầu hết các Lạt ma xuất chúng còn sống hiện nay.</p>
<p style="text-align: justify;">Như Đạo sư của Ngài đã tiên đoán, Rinpoche đã ban "Rinchen Terdzod" ("Kho tàng các Terma Quý báu") mười lần, "Pedling Cho Kor" của Pema Lingpa ba lần, "Kangyur" và "Nyingma Gyudbum", Drupwang của "Kagyed", "Jatson Podruk", quán đảnh và sự truyền dạy viên mãn của "Nyingma Kama", cũng như những giáo lý phù hợp với truyền thống Terma ("Dudjom Tersar") của riêng Ngài, và vô số những giáo lý quan trọng khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Khu vực hoạt động chính yếu của Ngài là miền Trung Tây Tạng, ở đó ngài duy trì truyền thống Mindroling, và đặc biệt là tại Pema Choling và những trụ sở khác của Ngài trong các miền Kongpo và Powo miền nam Tây Tạng. Tại Pemakod, Rinpoche đã thiết lập nhiều tu viện  mới và hai học viện cho Gelong (các tu sĩ) và Ngagpa (yogi). Tại miền Kongpo, Ngài đã tái thiết Thadul Buchu Lhakhang và ở gần đó Ngài xây dựng lại tu viện Zangdok Palri. Ngài cũng xây mới trung tâm Kim Cương thừa Lama Ling. Dudjom Rinpoche nổi tiếng khắp Tây Tạng vì những thành tựu tâm linh chói ngời, những hoạt động Bồ Tát tràn đầy bi mẫn, cũng như bởi sự uyên bác vô song của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi rời khỏi Tây Tạng, Dudjom Rinpoche Dudjom Rinpoche định cư tại Kalimpong ở Ấn Độ năm 1958, và sau đó tại Kathmandu, Nepal năm 1975. Khi nền văn hóa Tây Tạng đang ở trong giai đoạn khó khăn, bằng những giáo lý và tác phẩm của Ngài, Rinpoche đã đóng một vai trò quan trọng trong việc phục hưng nền văn hóa ấy trong cộng đồng người tị nạn. Ngài đã thiết lập nhiều cộng động trọng yếu gồm những hành giả ở Ấn Độ và Nepal. Tại Tsopema (Rewalsar), Ngài đã thiết lập một trung tâm nhập thất; tại Darjeeling, Rinpoche đã thiết lập Tsechu Gompa; tại Orissa, Ngài thành lập Dudul Rabten Ling; và tại Kalimpong, Rinpoche đã sáng lập Tu viện Zangdok Palri. Gần Đại Bảo Tháp ở Boudhanath, Nepal, Rinpoche đã xây dựng Dudjom Gompa. Ngài cũng tích cực khuyến khích việc nghiên cứu truyền thống Nyingma tại Học Viện Tây Tạng dành cho Những Nghiên cứu Cao cấp ở Sarnath.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở những nơi khác trong thế giới, Dudjom Rinpoche cũng xúc tiến những Phật sự to lớn. Ngài đã thành lập nhiều trung tâm Giáo Pháp ở phương Tây, trong đó có Dorje Nyingpo và Orgyen Samye Choling ở Pháp, Yeshe Nyingpo và Orgyen Cho Dzong ở Hoa Kỳ. Trong hơn mười lăm năm cuối cùng của đời Ngài, Dudjom Rinpoche đã dâng hiến rất nhiều thời gian cho việc giảng dạy ở Tây phương, ở đó Ngài đã thành công trong việc củng cố truyền thống Nyingma. Trong chuyến du hành khắp thế giới lần đầu tiên của Ngài vào năm 1972, Dudjom Rinpoche đã viếng thăm trung tâm của vị đại diện tâm linh người Trung Hoa của Ngài là Lạt ma  Sonam Chokyi Gyaltsan ở Hồng Kông và cũng tới thăm Luân Đôn theo lời mời của Sogyal Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đời sống gia đình của Rinpoche </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Kyabje Dudjom Rinpoche đã thị hiện như một gia trưởng và kết hôn hai lần. Ngài lập gia đình lần đầu với Sangyum Kusho Tseten Yudron và có sáu người con, gồm hai gái và bốn trai. Trưởng nữ của Ngài là Dechen Yudron, hiện ở Lhasa, Tây Tạng và đang chăm sóc trụ sở Lama Ling của Kyabje Dudjom Rinpoche ở Kongpo. Trưởng nam của Ngài là Kyabje Dungsay Thinley Norbu Rinpoche. Cũng như cha, Thinley Norbu Rinpoche là một học giả và Đạo sư Nyingma vĩ đại và là thân phụ của Dzongsar Jamyang Khyentse Rinpoche III. Thinley Norbu Rinpoche là hiện thân của Kunkhyen Longchen Rabjam (Longchenpa 1308-1363), cũng là tái sinh của Terton Drimed Odser, trưởng nam của Dudjom Lingpa. Trong thời niên thiếu, Thinley Norbu Rinpoche đã tu học chín năm tại Tu viện Mindroling và ngoài thân phụ ra, ngài đã nhận nhiều giáo lý từ nhiều bậc Thánh vĩ đại khắp Tây Tạng. Hiện Thinley Norbu đang ở New York. Con trai thứ hai của Dudjom Rinpoche là Dola Tulku Jigmed Chokyi Nyima Rinpoche. Dòng phái chính yếu của vị tulku này là Sakya, và ông là thân phụ của Kyabje Dudjom Yangsi Rinpoche (tái sinh của Dudjom Rinpoche). Con gái thứ hai của Dudjom Rinpoche là Pema Yudron, sống gần Dola Rinpoche ở Qinghai (Thanh Hải). Con trai thứ ba của Ngài là Pende Norbu cũng là một tulku, hiện sống ở Nepal. Con trai thứ tư là Dorje Palzang, học tập ở Bắc Kinh vào cuối thập niên 1950 nhưng không may bị sát hại trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa.</p>
<p style="text-align: justify;">Kyabje Dudjom Rinpoche lập gia đình lần thứ hai với Sangyum Kusho Rikzin Wangme, và có ba người con, gồm một trai và hai gái. Trưởng nữ là Chimey Wangmo và thứ nữ là Tsering Penzom. Con trai của Ngài là Shenphen Dawa Norbu Rinpoche hiện đang truyền bá giáo lý của thân phụ tại Châu Âu và Hoa Kỳ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Rinpoche thị tịch</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Jamgon Kongtrul Lodro Thaye, bậc đã trải qua một cuộc đời bao gồm những hoạt động của một trăm Terton (vị khám phá kho tàng), đã nói rằng hoạt động Mopa Od Thaye (Hóa Thân tương lai của Dudjom Rinpoche, là vị Phật cuối cùng của Hiền Kiếp này) sẽ bao gồm hoạt động của một ngàn vị Phật. Nhờ năng lực Bồ đề tâm và những lời nguyện của riêng Ngài, bậc vĩ đại này sẽ có nhiều đệ tử và thực hiện mọi hoạt động của tất cả những đời trước của Ngài. Giống như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, mặc dù đã Giác ngộ, Đức Phật đã thị hiện hoạt động huyễn hóa của cái chết vì lợi lạc của chúng sinh, Đức Kyabje Dudjom Rinpoche cũng nhập Đại Niết bàn vào ngày 17 tháng Một năm 1987.</p>
<p style="text-align: justify;"><em> </em><a href="http://www.vairotsana.org/history/dudjomrinpoche.htm"><em>http://www.vairotsana.org/history/dudjomrinpoche.htm</em></a><em><br />
<em>Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên </em></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><br />
</em><strong><em>Chú thích: </em></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em><br />
(1) Kublai Khan (Kubla Khan 1216-1294): vị sáng lập triều đại Mông Cổ và là người chinh phục Trung Hoa; cháu của Thành Cát Tu Hãn. </em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>(2) Theo truyền thống của Phật Giáo Tây Tạng, khái niệm Shambhala có ba ý nghĩa. Theo ý nghĩa bên ngoài của nó, Shambhala là một vị trí địa lý, một địa điểm tràn đầy nguồn mạch cảm hứng tâm linh, nơi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng dạy Tantra (Mật điển) Kalachakra (Tantra Bánh Xe Thời gian). Theo ý nghĩa nội tại, Shambhala là Pháp hay Luân xa Tim, nằm ở vị trí trái tim của tất cả chúng sinh. Nó là biểu tượng của tâm, làm viên mãn bộ ba gồm thân, ngữ và tâm. Theo ý nghĩa bí mật của nó, Shambhala là Tathagatagarbha (Như Lai tạng, Phật Tánh), là cốt tủy của mọi sự. Nó siêu vượt sự hiện hữu và không-hiện hữu, và là nền tảng của sinh tử và Níêt bàn. Theo Tantra Kalachakra, trong Thời đại Tối ám này, Lala-Desum (Ba Chúa tể của chủ nghĩa Duy Vật, cụ thể là Chúa tể của Thân, Chúa tể của Ngữ và Chúa tể của Tâm) sẽ bành trướng năng lực và sự cám dỗ của họ, nô lệ hóa tâm thức con người bằng chủ nghĩa duy vật tâm lý và tâm linh. Cuối cùng, khi Shambhala được thừa nhận, nói cách khác, khi chúng sinh bắt đầu thấu hiểu chính mình và khi Phật Tánh chói ngời, Vua của Shambhala là Rigden Dorje Nonpo sẽ tiến hành cuộc chiến tranh chống lại và điều phục Lala-Desum, khiến cho những kế hoạch của Ba Chúa tể của Chủ nghĩa Duy Vật trở nên không còn thích hợp và những giáo lý của Tantra Kalachakra sẽ được chứng ngộ.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em> </em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/dujom-tesar/bac-tri-giu-truyen-thong-dujom-tersar/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
