<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Đạo sư Ningthik</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-khac/longchen-ningthik/dao-su-ningthik/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Fri, 17 Apr 2026 16:09:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Tiểu sử vắn tắt Đức Pema Kunzang Rangdrol (1916 &#8211; 1984)</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/longchen-ningthik-nyingma/tieu-su-van-tat-duc-pema-kunzang-rangdrol-1916-1984/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/longchen-ningthik-nyingma/tieu-su-van-tat-duc-pema-kunzang-rangdrol-1916-1984/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 30 Jun 2021 08:04:45 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Longchen Ningthik]]></category>
		<category><![CDATA[Longchen Ningthik Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Ningthik]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=10208</guid>
		<description><![CDATA[Kharlek Tulku Pema Kunzang Rangdrol tôn quý sinh năm Hỏa Thìn của chu kỳ lịch thứ mười lăm trong gia đình Gartsang ở nơi được gọi là Kamtok Geda thuộc Hạt Jomda trong thung lũng Drichu hoàng kim bên bờ dòng sông êm đềm chảy. Khoảng bốn hay năm tuổi, Ngài được công nhận là vị Tulku của Kharlek Khenpo Pema và được thỉnh mời về ẩn thất tại Kharlek. Với&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/longchen-ningthik-nyingma/tieu-su-van-tat-duc-pema-kunzang-rangdrol-1916-1984/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><b>Kharlek Tulku Pema Kunzang Rangdrol</b> tôn quý sinh năm Hỏa Thìn của chu kỳ lịch thứ mười lăm trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span> Gartsang ở nơi được gọi là Kamtok Geda thuộc Hạt Jomda trong thung lũng Drichu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàng kim</span> bên bờ dòng sông <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">êm đềm</span> chảy. Khoảng bốn hay năm tuổi, Ngài được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công nhận</span> là vị Tulku của Kharlek Khenpo Pema và được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh mời</span> về ẩn thất tại Kharlek. Với Langshing Lama Pema là thầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo thọ</span>, Ngài học đọc và viết, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> y học và chiêm tinh. Sau đấy, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong khoảng</span> mười một năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp theo</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du hành</span> đến Dzogchen Sri Simha, Tsering Jong, động <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Yamantaka và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nơi khác</span>. Ngài cũng viếng thăm ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> – Dorje Drak, Mindroling và Palri, cũng như Kathok, Palyul, Shechen, Palpung, Dzongsar, Muksang và những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nơi khác</span>. Ngài ngồi dưới chân <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> Minling Chung Rinpoche Ngawang Chodrak, Dzongsar Khyentse Rinpoche Jamyang Chokyi Lodro<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftn2">[2]</a>, Dzogchen Khenpo Abu Lhagang<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftn3">[3]</a>, Shechen Kongtrul Pema Drime Lekpe Lodro, Kathok Khenpo Lekshe Jorden, Khenpo Nuden, Dzogchen Khenpo Yonten Gonpo và Pema Tsewang. Như thế, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> tất cả bản văn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> của Kinh, Mật và các ngành khoa học và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô cùng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Bên cạnh đó, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích cực</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm kiếm</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> và trao truyền và như vậy, thọ nhận những trao truyền còn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tồn tại</span> cho Lời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đức Phật</span> (<b>Kangyur</b>) <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quý báu</span> và Các Bộ Luận Được Dịch (<b>Tengyur</b>), cũng như Nyingma Kama, Kho Tàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phát Lộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quý Báu</span> (Rinchen Terdzod), Kho Tàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chỉ Dẫn</span> Từ Tám Cỗ Xe <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Truyền Thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thực Hành</span> (Damngak Dzod) và các tuyển tập trước tác của chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span>, chẳng hạn, quan trọng hơn cả là cha và con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn tri</span><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftn4">[4]</a>, Đức Rongzom, cha và con Minling<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftn5">[5]</a>, Đức Dalai Lama thứ năm, Jonang Taranatha<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftn6">[6]</a>, Đức Khyentse và Kongtrul, Ju Mipham<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftn7">[7]</a> và Patrul Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftn8">[8]</a>. Thực sự, không có trao truyền còn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tồn tại</span> nào mà Ngài không thọ nhận. Bởi ghi chép về những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> mà Ngài thọ nhận (<i>gsan yig</i>) là một quyển lớn khoảng bốn trăm trang, về sau, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sở hữu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và trao truyền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dồi dào</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô song</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Trên tất thảy, Ngài theo chân Đức Adzom Gyalse Gyurme Dorje<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftn9">[9]</a> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị đạo</span> sư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phi phàm</span> của Ngài và thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chín muồi</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> từ vị này, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> Mười Bảy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Điển</span> Dzogchen và Bốn Phần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tâm Yếu</span> (Nyingtik Yabshi), điều sau đấy được Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">áp dụng</span> vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác tính</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> (Rigpa), <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt đến đỉnh</span> cao của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mở rộng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> của Ngài không chút <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành kiến</span>. Ngài đã ban các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> về những tuyển tập như Kho Tàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chỉ Dẫn</span> (Damngak Dzod) cho chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> vĩ đại như Minling Khenchen, Chung Rinpoche và Dordrak Rigdzin Chenmo.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài cũng giúp đỡ tài trợ mái vàng trên chùa chính tại [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span>] Mindrolling và in ấn các bản văn như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luận giải</span> đại mật của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Sư</span> về Yangdak, tuyển tập <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">huyễn hóa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vi tế</span> (<i>sgyu ‘phrul phra mo</i>), <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luận giải</span> của Ngài Nub về Tập <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hội Ý</span> Định Kinh (Dupa Do<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftn10">[10]</a>) và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luận giải</span> thêm được biết đến là Ánh Bình Minh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Rực Rỡ</span> (<i>gzi ldan ‘char kha’i ‘od snang</i>)<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftn11">[11]</a>, cũng như các tuyển tập trước tác của anh em Mindrolling và Đức Rongzom.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuối cùng</span> được các học trò <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngôn ngữ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> ở Derge, Tỉnh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tứ Xuyên</span> [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span>], mời đến Dzogchen Sri Simha, nơi Ngài được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bổ nhiệm</span> là một vị thầy cho tất cả học trò. Ngài đã ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cam lồ</span> bất tận về điều sâu sắc và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao la</span>, khi Ngài giảng dạy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lịch sử</span> và v.v... theo cách thức <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đáp ứng</span> nhu cầu của những vị mà Ngài dẫn dắt.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cuối cùng</span>, năm sáu mươi chín tuổi<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftn12">[12]</a>, năm Mộc Tý của chu kỳ lịch thứ mười sáu, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span> tại Karma Lhateng.</p>
<p style="text-align: justify;">Các trước tác được tuyển tập của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị đạo</span> sư này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luận giải</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phổ Hiền Hạnh Nguyện</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luận giải</span> về Bài Ca <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tự Nhiên</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Thành</span> Và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sám Hối</span>, một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lịch sử</span> bất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bộ phái</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiểu sử</span> của Đức Gyalse Gyurme Dorje.</p>
<p><strong><b>Alak Zenkar Rinpoche</b></strong> <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a33793/3/tieu-su-alak-zenkar-rinpoche.">[1]</a></p>
<p><em>Tupten Nyima soạn với lòng sùng mộ.</em></p>
<p><i></i><em><i>Anh dịch: Adam Pearcey </i></em></p>
<p><em><i>Việt dịch: Pema Jyana </i></em></p>
<p><em><i>Nguồn: <a href="https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/alak-zenkar/brief-pema-kunzang-rangdrol-biography">Brief Biography of Pema Kunzang Rangdrol (1916–1984)</a></i></em></p>
<hr />
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftnref1">[1]</a> Về Alak Zenkar Rinpoche, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a33793/3/tieu-su-alak-zenkar-rinpoche">https://thuvienhoasen.org/p38a33793/3/tieu-su-alak-zenkar-rinpoche</a>.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftnref2">[2]</a> Về Đức Jamyang Khyentse Chokyi Lodro, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a34025/3/huyen-hoa-du-hi">https://thuvienhoasen.org/p38a34025/3/huyen-hoa-du-hi</a>.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftnref3">[3]</a> Về Dzogchen Khenpo Abu Lhagang, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a34840/2/tieu-su-dzogchen-khenchen-abu-lhagang-1879-1955-">https://thuvienhoasen.org/p38a34840/2/tieu-su-dzogchen-khenchen-abu-lhagang-1879-1955-</a>.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftnref4">[4]</a> Tức <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn giả</span> Longchen Rabjam và Jigme Lingpa.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftnref5">[5]</a> Tức Đức Minling Terchen Gyurme Dorje và em trai Lochen Dharmashri.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftnref6">[6]</a> Về Đức Taranatha, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/a34929/tieu-su-van-tat-ton-gia-taranatha">https://thuvienhoasen.org/a34929/tieu-su-van-tat-ton-gia-taranatha</a>.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftnref7">[7]</a> Về Đức Ju Mipham, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/a32261/tieu-su-duc-mipham-jamyang-namgyal-gyatso-1846-1912-">https://thuvienhoasen.org/a32261/tieu-su-duc-mipham-jamyang-namgyal-gyatso-1846-1912-</a>.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftnref8">[8]</a> Về Patrul Rinpoche, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/a26125/tieu-su-van-tat-dai-su-dza-patrul-rinpoche-1808-1887-">https://thuvienhoasen.org/a26125/tieu-su-van-tat-dai-su-dza-patrul-rinpoche-1808-1887-</a>.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftnref9">[9]</a> Về Đức Adzom Gyalse, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/a35696/tieu-su-van-tat-duc-gyalse-gyurme-dorje-1895-">https://thuvienhoasen.org/a35696/tieu-su-van-tat-duc-gyalse-gyurme-dorje-1895-</a>.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftnref10">[10]</a> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Luận giải</span> được gọi là Áo Giáp Chống Tăm Tối (mun pa’i go cha).</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftnref11">[11]</a> Do Khenpo Nuden soạn.</em></p>
</div>
<div>
<p style="text-align: justify;"><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftnref12">[12]</a> Theo cách tính của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>; sáu mươi tám theo những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> tính tuổi khác.</em></p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/longchen-ningthik-nyingma/tieu-su-van-tat-duc-pema-kunzang-rangdrol-1916-1984/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đức Orgyen Kusum Lingpa một Kho tàng của Thời đại chúng ta</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/duc-orgyen-kusum-lingpa-mot-kho-tang-cua-thoi-dai-chung-ta/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/duc-orgyen-kusum-lingpa-mot-kho-tang-cua-thoi-dai-chung-ta/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 02 Oct 2015 19:32:13 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Khai Mật Tạng]]></category>
		<category><![CDATA[Longchen Ningthik]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Terma & Terton]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thống khác]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Ningthik]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6065</guid>
		<description><![CDATA[Khuôn mặt chó bun của Ngài có thể liên tục thay đổi sự biểu lộ từ phẫn nộ sang bi mẫn chói ngời và qua vẻ hân hoan như trẻ con một cách nhanh chóng; Ngài tự gọi mình là một “Lạt ma hành khất” và một “trưởng tử của Vajrapani” (Kim Cương Thủ.) Những mâu thuẫn hiển nhiên này&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/duc-orgyen-kusum-lingpa-mot-kho-tang-cua-thoi-dai-chung-ta/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/HH-Kusum-Lingpa-18.jpg"><img class="  wp-image-6068 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/HH-Kusum-Lingpa-18-239x300.jpg" alt="HH Kusum Lingpa (18)" width="392" height="492" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Khuôn mặt chó bun của Ngài có thể liên tục thay đổi sự biểu lộ từ phẫn nộ sang bi mẫn chói ngời và qua vẻ hân hoan như trẻ con một cách nhanh chóng; Ngài tự gọi mình là một “Lạt ma hành khất” và một “trưởng tử của Vajrapani” (Kim Cương Thủ.) Những mâu thuẫn hiển nhiên này chỉ là những khía cạnh của một sự phô diễn trí tuệ được liên tục biểu hiện tuỳ theo nhu cầu của các đệ tử bởi một trong những Lạt ma vĩ đại nhất còn sống của Tây Tạng, H.H. Orgyen Kusum Lingpa.</p>
<p style="text-align: justify;">Đứng trước sự hiện diện của His Holiness là xúc chạm vào khuôn mặt của xứ Tây Tạng cổ xưa, huyền bí trong năng lực nguyên tuyền của nó. Ở nơi Ngài ta không chỉ kinh nghiệm toàn bộ sức nặng của một truyền thống không đứt đoạn, mà còn cả một sự bao la của cái thấy xoá sạch phòng tuyến ngăn chia giữa những gì thường được gọi là thầàn thoại, và thực tại; cả hai đơn thuần được diễn tả ở những mức độ khác nhau trong phạm vi của ý thức.</p>
<p style="text-align: justify;">Với sự tự hào kim cương của một bậc đã chứng ngộ thực hành Pháp qua vô số cuộc đời, His Holiness thuật lại một cách thực tế sự tiếp nối của những Hoá Thân phi thường của Ngài: “Vào thời của Gesar xứ Ling (vị anh hùng trong sử thi Tây Tạng), tôi là một trong ba mươi chiến sĩ chủ lực của ngài; tôi mạnh tới độ có thể nhặt một con voi với một bàn tay và vì thế là một trong số ít người không bị tử thương trong những cuộc chiến tranh được tiến hành giữa xứ Hor và Jang. Tên tôi là Jamtrul Yulai Topgyir bởi tôi mặc áo giáp bằng ngọc lam rắn chắc. Tôi cũng là thành tựu giả Ấn Độ Trilwupa và Lhalung Palgyi Dorje, người đã giết Vua Langdarma (kẻ huỷ diệt Phật Giáo, bị giết bởi một mũi tên vào năm 842). Trong đời Machig Lapdron (nữ hành giả nổi tiếng và là người sáng lập trường phái Chod), tôi là một trong những đệ tử chính của Bà, có tên là Shang Murthi Nyongpa Rangzin, hay Kẻ Cuồng điên Bí mật-tự-Bản chất xứ Shang.”</p>
<p style="text-align: justify;">Trong đời này His Holiness sinh năm 1933 tại Achak Drayu trên ngọn núi linh thiêng Amnyi Machen Nyendop, nó được gọi là ngọn Kailash (Ngân Sơn) ở miền Đông Tây Tạng. Sự ra đời của Ngài được tiên tri trong Kinh điển bởi Dodrup Chen đệ nhất, Jigme Trinley Oser, bởi terton Nyima Dragpa; và bởi Dzogchen Rinpoche thứ năm, ngài Migyur Namkhai Dorje. Một ngagpa thế hệ-thứ tư, His Holiness là con trai của bậc lão thông Kim Cương thừa Washi Lama Lhundrup Gyatso và yogini Padma Lhamso. Thân phụ Ngài mất khi Ngài lên ba tuổi, vào lúc đó His Holiness nhận những giới nguyện quy y và lễ cắt tóc từ Ban Thiền Lạt ma thứ chín, Thubten Chokyi Nyima.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài tự mô tả mình trong thời niên thiếu là “rất nghịch ngợm, xấu xa như đám trẻ sinh động!” Tuy nhiên, Ngài tiến bộ trong việc học tập với một số vị Thầy linh thánh, kể cả Ngài Ahkon Khenchen Losang Dorje, một geshe rabjampa đã hoàn thành việc nghiên cứu hơn một trăm Kinh điển quan trọng nhất, và His Holiness đã là đệ tử chính của vị này trong hơn bốn mươi năm; hai Hoá Thân của Dodrup Chen Rinpoche thứ tư, Thubten Trinley Palzangpo và Rigzin Jalu Dorje; Gyaltrul Wangpo, Khenchen Lobsang Namtak là người đã ban cho Ngài sự truyền dạy Dzogchen Nyingthik, và Ngài đã sống nhiều năm với vị Thầy này; và Palyul Chogtrul Rinpoche mà từ vị này Ngài nhận lãnh các trao truyền Namcho và Tatna Lingpa. Thêm vào đó, từ năm mười ba tuổi, His Holiness bắt đầu nhận lãnh, trong những khoảng thời gian đều đặn, các linh kiến của Guru Padmasambhava và Vajrayogini. Cả hai vị này tiếp tục truyền dạy các giáo huấn và tiên tri cho Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Thân mẫu Ngài mất khi Ngài mười sáu tuổi, (…) và Ngài vui thích khi thuật lại “Khi tôi gặp những gia trưởng keo kiệt, tôi cố tình hát những bài ca kim cương du dương và não nuột làm họ khóc lóc, suy sụp, vì thế họ kết thúc bằng việc liên tục cho tôi những món ăn ngon nhất của họ!” Ngài cũng kể lại những ngày Ngài là một chodpa (hành giả thực hành pháp Chod), nếu những người bạn hành giả của Ngài nghe phong thanh về thời gian và địa điểm thực hành Chod của một yogi, họ sẽ luôn luôn chơi sỏ anh ta. “Những yogi này lập tức có những phản ứng sai lầm,” Ngài lưu ý. “Thật là vui nhộn.” His Holiness không dừng lại ở những trò đùa nghịch như thế: một lần, khi một nhà sư khác đang thực hiện pháp Chod, với sự hóm hỉnh của mình, cậu bé Kusum Lingpa làm kinh hoàng vị yogi tương lai bằng cách thọc bàn tay qua một cái lỗ trong căn lều và giật tóc ông ta!</p>
<p style="text-align: justify;">Vào khoảng thời gian này, His Holiness đi hành hương Lhasa và Samye, ở đó Ngài có các linh kiến về tất cả những đời quá khứ và tương lai của mình. Chính lúc đó Ngài nhận ra rằng trong tương lai Ngài sẽ tái sinh là Sangpa, trưởng tử của vị Nhiếp Chính thứ hai mươi lăm của Shambhala. Lòng dũng cảm hiếm có của Ngài sẽ giúp cho Ngài chiến thắng trong một đánh bom kéo dài bảy ngày do con người trên trái đất này ném xuống các cư dân của Shambhala. Ngài cũng thọ nhận một tiên tri là trong hơn một trăm đời Ngài sẽ khám phá một ngàn cuốn sách được liên kết với những kho tàng ẩn dấu ở năm phương hướng.</p>
<p style="text-align: justify;">Không lâu sau đó, His Holiness bắt đầu khám phá những kho tàng tài bảo, các thực hành có khả năng ban tặng sự thịnh vượng trong những thời đại suy hoại. Sau này, năm ba mươi hai tuổi, Ngài khám phá một kho tàng thân của Đức Phật Vairocana (Tỳ Lô Giá Na) mà hiện nay Ngài đang ban tặng nó cho các đệ tử ở Tây phương, đó là thực hành Jambhala Orgyen. Với sự xác quyết của một bậc đã chứng ngộ sự thực hành, His Holiness nói rằng sự khám phá terma (kho tàng tâm linh được chôn dấu) này lập tức đảo ngược vận mệnh của Ngài, đem lại sự sung túc bất thường, và có thể thực hiện tương tự đối với bất kỳ ai tuân thủ nó một cách tinh tấn. Từ lúc đó, Ngài nổi tiếng là một trong những terton (bậc khám phá terma) còn sống, đã khám phá ba loại terma: những terma được nhận lãnh trực tiếp từ tâm; những terma “điên” có thể hiển lộ trong vị yogi như cách hành xử không theo quy ước; và terma bí mật chỉ có thể khám phá bởi một bậc là sở hữu chủ của tất cả mười tám bộ (gia đình) terma.</p>
<p style="text-align: justify;">Giữ vững lập trường không trộn lẫn Pháp với những vấn đề thế tục, His Holiness trải qua hơn hai mươi ba năm bị giam giữ trong một trại giam của Trung Quốc ở Tây Tạng, Ngài thích nhấn mạnh tới những sự ban phước của Đức Padmasambhava và Vajrayogini mà nhờ đó Ngài cảm thấy Ngài có thể tới Tây phương và ban những giáo lý. “Những Lạt ma khác ở Tây Tạng vĩ đại hơn tôi nhiều,” Ngài nói, “nhưng tôi là một người thăm viếng Châu Mỹ và là một thành phần của những sự việc ở đây.” Mặc dù hiện nay Ngài có trọng trách đối với năm tu viện ở Tây Tạng, tu viện chính nằm ở Golok trong miền đông Tây Tạng, His Holiness bắt đầu nhận những lời mời vào năm 1994 để giảng dạy tại các trung tâm Giáo Pháp Châu Mỹ của các ngài Chagdud, Gyaltrul, và Trungpa Rinpoche, và tại Kunzang Palyul Choling, được điều hành bởi nữ tulku người Mỹ Ahkon Norbu Lhamo. Trong chuyến trở lại Hoa Kỳ vào mùa xuân năm nay, Ngài cũng thành lập một trung tâm nhỏ ở Crestone, Colorado và một trung tâm ở Los Angeles mà Ngài hướng dẫn cùng với trưởng nam của Ngài là Tulku Hungkar Dorje, là vị từng được công nhận là tái sinh của Do Khyentse Yeshe Dorje, mà His Holines sẽ là một Lạt ma vĩ đại hơn ông ta. His Holiness đã đích thân bổ nhiệm đệ tử của Ngài là Kelly Lynch làm giám đốc trung tâm. Trong thời gian thăm viếng Châu Mỹ, His Holiness đã giảng dạy trên ba ngàn người và đã ban các giới nguyện quy y cho hơn năm trăm người.</p>
<p style="text-align: justify;">Lối giảng dạy của His Holiness thiên nhiều về trực giác. Ngài có thể ban những nhập môn chính thức hay thuật lại những câu chuyện của Tây Tạng xa xưa. Sau một buổi tối vui nhộn bất ngờ, Ngài kết luận: “Khi tôi còn trẻ, tôi có nhiều cuộc gặp gỡ ngồ ngộ với những người được gọi là hành giả Pháp thuần tịnh và những trò đùa nghịch được rút ra từ họ, vì thế thỉnh thoảng khi tôi đang giảng dạy, những câu chuyện này xuất hiện trong tâm tôi. Tôi thích kể những câu chuyện này bởi tôi thích cười. Ngày mai chúng ta sẽ cố gắng có thêm những bài giảng, nhưng nếu những câu chuyện này lại xuất hiện thì tôi không thể kiểm soát được mình!”</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng Ngài có thể dễ dàng biểu lộ một cách thế phẫn nộ, đưa ra lời khuyên dạy nghiêm khắc cho những hành giả đang rơi vào sự tự mãn. Khi Ngài có một ước muốn mạnh mẽ, Ngài sẽ trở lại vấn đề một cách liên tục và sinh động tới nỗi ta dễ tin rằng Ngài là một Hoá Thân của Đức Vajrapani (Kim Cương Thủ); một trường năng lực tỏa ra từ Ngài khiến ta có thể sờ mó được. Tại một trung tâm Giáo Pháp, Ngài đã khiển trách tăng đoàn trong ba buổi tối liên tiếp về mọi sự hình thành giờ giấc mà họ đang giữ (“Quý vị nên thức dậy và bắt đầu thực hành vào lúc 4 giờ sáng; ngủ tới 8 giờ sáng và thức khuya thì không tốt”) đối với toàn bộ hiệu quả của tổ chức. Đó là một trong những trách nhiệm của Ngài, Ngài khám phá, tẩy trừ những chướng ngại, đặc biệt là tại những trung tâm Giáo Pháp. Nhưng vào lúc kết thúc, Ngài thình lình cười rạng rỡ và nói: “Tôi nghĩ tôi đã quá khó khăn với quý vị; bây giờ tôi sẽ kể cho quý vị nghe một vài chuyện vui!”</p>
<p style="text-align: justify;">Quả thực là vẻ chói sáng của His Holiness là điều được cảm nhận một cách mạnh mẽ, ngay cả giữa sự biểu lộ phẫn nộ được kiểm soát của Ngài. (Thực thú vị là từ ngữ Tây Tạng để chỉ sự phẫn nộ, dragpo, bao hàm sức mạnh hơn là sự giận dữ.) Nhìn vào mặt Ngài khi ta được Ngài ban phước, ta hiểu được ý nghĩa của thuật ngữ lòng bi mẫn không-bị cụ thể hóa. His Holiness không chỉ ban tặng lòng từ; Ngài trở thành lòng từ ái, và mặc dù hành giả có thể nhận lãnh sự trừng phạt nghiêm khắc khi cần thiết, nhưng họ sẽ không bao giờ bị bỏ rơi.</p>
<p style="text-align: justify;">His Holiness cũng có thể khiêm tốn, bình phàm, và sắc sảo thật tâm lý. Mới đây, lời khuyên dạy tâm huyết của Ngài cho các đệ tử là: “Các Lạt ma vĩ đại là những vị nghĩ về bản thân mình một cách khiêm tốn và không tự đặt mình trong một địa vị đặc biệt, nhưng hạ mình hoà nhập với mọi người, và thậm chí còn thấp thỏi hơn mọi người, như một Lạt ma hành khất. Nếu quý vị sống như một Lạt ma hành khất, quý vị thực sự ở một vị trí làm lợi lạc chúng sinh.” Một vấn đề khác: “Là bất tịnh nếu không nhận ra chân tánh của tâm. Đó là lý do tại sao những gì ở trong tâm quý vị thì bất tịnh như những thứ xuất hiện trong nhà vệ sinh! Nếu ngay cả người bạn tốt nhất của ta có thể thấy được những gì trong tâm ta, thì thật là bối rối. Và nếu mọi người có thể thấy được những gì trong tâm ta, chúng ta sẽ ở trong một trạng thái giằng xé liên tục!” Ngài cũng ban lời dạy về những thực hành cho người chết và về thái độ đúng đắn đối với những của cải như một chuẩn bị cho cái chết của bản thân ta. “Ở Mỹ, khi người nào chết, điều quan trọng nhất là loại y phục nào quý vị sẽ mặc cho tử thi để làm dễ chịu những ai nhìn thấy nó. Tôi có thể quả quyết với quý vị là điều này có hại cho tâm thức bardo bởi nó không giải thoát tâm thức khỏi sự bám luyến. Là những hành giả Phật Giáo, hãy làm điều đức hạnh như trì tụng thần chú Mani (Lục Tự Đại Minh) hay thực hiện những Bổn Tôn an bình và phẫn nộ trong các vị thần trong bardo. Khi quý vị ở trong bardo, điều tôi nói sẽ trở nên chân thực trong tâm quý vị và khi ấy quý vị sẽ hiểu rõ là người ta có thiện tâm đối với người thân của họ vào lúc chết hay không. Đối với tâm thức bardo thì điều tốt đẹp là không để lại sau lưng quá nhiều của cải bởi điều đó gây nên sự bám luyến. Giờ đây hãy sử dụng tài sản của quý vị vào những mục đích đức hạnh. Đừng tích luỹ quá nhiều hay có những dự án to lớn cho tương lai. Đây không phải là con đường của Dzogchen (Đại Viên Mãn). Quý vị nên có một tâm thức được hướng tới hiện tại hơn nữa.”</p>
<p style="text-align: justify;">His Holiness thật rộng lượng tràn đầy tâm linh và cảm xúc, Ngài ban phước cho tất cả, từng người một, bất kể những khoá giảng kết thúc muộn tới đâu hay Ngài mệt nhọc ra sao. Nói chung, Ngài ban tặng gấp đôi so với giáo lý xuất hiện trên lịch giảng dạy chính thức. Và nhìn ngắm Ngài trong những giờ Ngài “nhàn rỗi” là một sự nhắc nhở về nỗ lực không ngừng nghỉ mà những bậc thực hành các giới nguyện Bồ Tát đã làm. Khi Ngài không tích cực giảng dạy hay ban những chỉ dạy tâm linh, Ngài lần chuỗi hột và trì tụng các thần chú, hoặc tìm kiếm người nào đó để làm lợi lạc. Trong khi chờ đợi tại một phi trường ở bờ biển miền đông, Ngài nhìn lướt qua đám đông, đôi mắt ngài dừng lại nơi một phụ nữ ngồi đối diện với Ngài. Bởi Ngài không nói tiếng Anh, Ngài bắt đầu ra hiệu để thu hút sự chú ý của bà ta, thấu hiểu rằng ngay cả sự tiếp xúc thoáng qua cũng có thể gieo trồng một chủng tử sẽ nở rộ trong những đời sau.</p>
<p style="text-align: justify;">His Holiness là một sức thuyết phục của chân tánh, một kho tàng sống của những truyền thống tâm linh cao quý nhất của Tây Tạng, một terton và siddha (thành tựu giả) vĩ đại, không nên bỏ lỡ Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><i>Nguyên tác: A Treasure for Our Time, by Victoria Huckenpahler</i><br />
<i>Bản dịch Việt ngữ của Liên Hoa</i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/duc-orgyen-kusum-lingpa-mot-kho-tang-cua-thoi-dai-chung-ta/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử ngắn Kyabje Do Drupchen Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-kyabje-do-drupchen-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-kyabje-do-drupchen-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 06 Sep 2015 07:41:24 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Longchen Ningthik]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Ningthik]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=4350</guid>
		<description><![CDATA[Thánh địa Do là nơi thành tựu giả Jigmed Thrinlay Odzer an trú và giải thoát chúng sinh với lòng từ bi vô hạn. Drupchen tiếng Tây tạng là đại thành tựu giả (bậc thầy vĩ đại chứng ngộ). Do đó, hai pháp danh được đặt cùng nhau và Ngài có hồng danh tôn quý: Do Drupchen. Theo lịch sử&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-kyabje-do-drupchen-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Thánh địa Do là nơi thành tựu giả Jigmed Thrinlay Odzer an trú và giải thoát chúng sinh với lòng từ bi vô hạn. Drupchen tiếng Tây tạng là đại thành tựu giả (bậc thầy vĩ đại chứng ngộ). Do đó, hai pháp danh được đặt cùng nhau và Ngài có hồng danh tôn quý: Do Drupchen.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo lịch sử của dòng phái cho đến ngày nay, hóa thân đời thứ IV của Do Drupchen đản sinh ở Gulok rất gần với trụ xứ chính của Ngài. Giống như những hóa thân khác của Do Drupchen, Ngài trực tiếp đến từ núi Màu Đồng và trở lại đó ngay sau khi viên tịch cho tới sự chuyển thế hóa thân tiếp theo. Điều này ngầm chỉ rằng, ngay sau khi đăng ngôi ở tuổi lên ba, Ngài tán tụng bài Bảy Lời Cầu Nguyện và những bài cầu nguyện khác một cách tự nhiên khi đang vui cười nhân ái và đáng yêu nhất làm xúc động tất cả những người chứng kiến sự kiện này.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi lên bốn tuổi, Ngài được những người thị giả và giáo thọ cúng dường bánh kẹo và nhẹ nhàng thỉnh cầu Ngài cho biết Ngài từ đâu đến, Ngài đã đáp lại rằng: “ Ta đến từ cung điện Mandala của Guru Yab – Yum”. Ngài đã miêu tả những bậc cầu vồng thị giả và dáng vẻ của họ, rồi thừa nhận rằng số lượng và đặc tính của họ rất dễ nhầm lẫn bởi vì "có rất nhiều đấng hóa thân cầu vồng thị giả"</p>
<p style="text-align: justify;">Khoảng bốn, năm tuổi, Drupchen Rinpoche đã đón nhận nhiều phương pháp thiền định và thực hành trực tiếp thông qua sự chuyển giao dòng tâm thức của Vajra Kilaya (Phổ Ba Kim Cương), Ngài giảng dạy giáo pháp trôi chảy đầy cảm hứng nhưng không may, những phần này không được kết tập, ghi chép lại đầy đủ. Tuy nhiên, thị giả và trụ trì chứng ngộ Cho Chok, đã ghi chép được một số giáo pháp và bổ xung vào một bộ luận tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dầu, nơi Ngài không cần bất kỳ sự tịnh hóa tâm hoặc tích lũy công đức nào, nhưng để chỉ rõ cho chúng sinh con đường chính đạo, Do Drupchen đã tiếp cận rất nhiều bậc thầy để đón nhận giáo pháp như Terton Ah Pang, Choying Rangdrol và rất nhiều bậc thầy vĩ đại khác. Ngài đã hoàn thành rất nhiều lần thực hành Ngondro, nhập thất nhiều năm và tự học tất cả các môn nghệ thuật phổ thông, khoa học, chạm khắc như là vẽ mandala, thư pháp, thuật chiêm tinh, thơ ca, kiến trúc và rất nhiều các kỹ năng khác ở tuổi mười lăm.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau giai đoạn này, Jigmed Thrinlay Palbar, Do Drupchen đời thứ IV đã giành trọn thời gian giảng pháp, quán đỉnh, ban gia trì cùng nhiều hoạt động hoằng dương khác vì lợi ích hết thảy chúng sinh. Năm 1957, Ngài để tâm đến lời tiên tri của Dakini về sự kiện chính trị sẽ diễn ra, và rời Tây Tạng đi theo con đường của riêng Ngài từ Ấn Độ đến Nepal qua Sikkim.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong thời kỳ tha hương xa xứ, Rinpoche không bao giờ lãng phí thời gian, Ngài giành từng giây phút để phụng sự chúng sinh bằng tấm gương từ bi, tiếp tục giảng pháp, quán đỉnh và gia trì cho hàng ngàn người mộ đạo và hành giả ở rất nhiều nơi.</p>
<p style="text-align: justify;">Cho tới nay, sự hiển diện của Ngài vẫn trường tồn: tĩnh lặng, tàm quý, mộc mạc, giản dị, khiêm tốn thế nhưng sự lợi tha của Ngài rất sâu rộng. Phần lớn thời gian Ngài an trú tại trụ xứ chính ở Sikkim. Tất cả chúng ta rất may mắn vì có một bậc thầy như thế hiển diện để chúng ta có thể tiếp cận. Tôi đã có cơ duyên hy hữu tuyệt vời để tìm cầu sự gia trì của Ngài về quán đỉnh, giáo lý Dzogchen Nyingthig, và tha thiết mong nguyện nhiều người khác sẽ có cơ hội như tôi để đón nhận sự hướng đạo của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Nguyện cầu Ngài phúc thọ diên trường!</p>
<p class="csscontent" style="text-align: justify;"><a href="http://www.drukpa.org/gurus/dodrupchen.html" target="_blank">Nguồn: Kyabje Do Drupchen - Guru, www.drukpa.org</a></p>
<p>http://www.drukpavietnam.org/index.php/phap-vuong-gyalwang-drukpa-xii/thuong-su/29-kyabje-do-drupchen</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-kyabje-do-drupchen-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử ngắn của Đức Orgyen Kusum Lingpa</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-cua-duc-orgyen-kusum-lingpa/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-cua-duc-orgyen-kusum-lingpa/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 06 Sep 2015 06:28:11 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Longchen Ningthik]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Ningthik]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=4315</guid>
		<description><![CDATA[Thân tướng kim cương của ngài là thân tướng chói lọi dữ dội của Kim Cương Hung nộ Vĩ đại [Kim Cương Thủ]. Vị hộ trì những bí mật kim cương, tiếng cười kim cương của ngài vang dội từ xa. Ngài là một vầng mây kim cương, thấm đẫm trạng thái không thể hủy diệt của tâm kim cương,&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-cua-duc-orgyen-kusum-lingpa/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Thân tướng kim cương của ngài là thân tướng chói lọi dữ dội của Kim Cương Hung nộ Vĩ đại [Kim Cương Thủ].</p>
<p style="text-align: justify;">Vị hộ trì những bí mật kim cương, tiếng cười kim cương của ngài vang dội từ xa.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài là một vầng mây kim cương, thấm đẫm trạng thái không thể hủy diệt của tâm kim cương,</p>
<div>
<p style="text-align: justify;">trị vì như vương miện của giác tánh bất biến vô tận của mọi đấng chiến thắng.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi xin nói về sự vĩ đại của vị Đạo sư các giáo lý này. Ngài đã xuất hiện như một phần của mạng lưới thần diệu của giác tánh vô tận, vật trang sức không mệt mỏi và phát triển liên tục của thân, ngữ và tâm giác ngộ của tất cả các đấng chiến thắng. Ngài là một chuyển luân thánh vương vĩ đại trong những vị có thành tựu tâm linh và không thể ly cách với Đức Liên Hoa Sanh, Đức Phật thứ hai. Đạo sư Orgyen Kusum Lingpa linh thánh và tôn quý của chúng ta, người cũng được gọi là Padma Tumdrak Duddul Dorje Rolpatsal, sở hữu lòng bi mẫn siêu việt và tuyệt đối của Đức Kim Cương Trì vương giả. Ở đây tôi chỉ có thể cung cấp một ít giọt từ đại dương bao la tiểu sử của ngài, chỉ để bảo đảm rằng chủ đề không được biết đến một cách đầy đủ.</p>
<p style="text-align: justify;">Có một đoạn tiên tri trong kho tàng ẩn dấu, hay terma, sự trao truyền của nhà khám phá vĩ đại các kho tàng ẩn dấu Nyima Drakpa, trong đó nói: “Ở miền bắc xứ Achakdru, trong một gia đình của những người thực hành Kim Cương thừa, ngày nay ngài sẽ là tái sinh của Lhalung Palgyi Dorje. Sinh vào năm được gọi là ‘canh giữ sự giàu có,’ ngài sẽ mang danh hiệu Oddiyana [tiếng Tây Tạng là Orgyen]. Ngài sẽ có năm nốt ruồi ở bụng. Vào năm Thìn Mộc, trong vùng Achak, ngài sẽ khám phá kho tàng ẩn dấu của một mạn đà la các Bổn Tôn, của chín bậc đi tới Cực Lạc, khiến hạnh phúc và an bình sẽ tăng trưởng trong xứ Tây Tạng và nỗi khổ của Achakdru ở miền bắc sẽ được xua tan.” Mingyur Namkhai Dorje, vị Dzogchen Rinpoche thứ năm, đã tiên tri: “Một hóa thân của Kim Cương Thủ sẽ xuất hiện vào năm được gọi là ‘canh giữ sự giàu có,’ là một bé trai tên là Tumdrak ở phương bắc, miền Achakdru. Sinh trong một gia đình của những người khám phá kho tàng ẩn mật của Kim Cương Thừa, ngài sẽ bừng nở như một bông huệ tây và sau đó tự giải phóng mình như một trận bão sấm. Ngài sẽ thiết lập một trung tâm thực hành giáo lý Kim Cương thừa của sự ẩn mật siêu việt trong thung lũng Ma và có những đoàn đệ tử anh hùng, cả cư sĩ lẫn tu sĩ, bảo đảm rằng giáo lý của Đấng Chiến Thắng nở rộ tới cực điểm. Ngài sẽ dẫn dắt tất cả những ai có nối kết với ngài tới Sukhavati, cõi Cực Lạc.” Từ vị Dodrup Rinpoche tiền nhiệm cũng có một tiên tri như sau: “Ở phía bắc của miền này, trong một vùng được các tinh linh dạ xoa canh giữ, thuộc tỉnh Golok, sẽ xuất hiện một vị không thể phân biệt được với đấng bảo hộ Padmakara (Liên Hoa Sanh), một vị mang tên của một người có năm chùm tóc, sẽ dấn mình vào các vui thích giác quan của thủ ấn. Ngài sẽ là bậc làm cho giáo lý nở rộ và chúng sinh trải nghiệm hạnh phúc và an lạc. Đoàn tùy tùng của ngài sẽ gồm cả những người theo phái ‘mũ đỏ’ và ‘mũ vàng.’ Ở một môi trường như-công viên, các gia hộ của Padma sẽ chuyển sang ngài. Tại những nơi ngài thực hành, các gia hộ của Ba Gốc sẽ tụ hội như những đám mây. Mọi nỗ lực khi lễ lạy, cúng dường, và đi nhiễu ở những nơi này sẽ cho thấy sự thành công." Vị khám phá các kho tàng ẩn dấu Apang Tertön đã tiên tri: “… vào thời điểm đó, một hiển lộ của Denma Tsemang sẽ xuất hiện ở Achakdru. Ngài sẽ may mắn quán triệt ba câu chuyện về giáo lý kho tàng ẩn dấu. Ngài sẽ sinh vào một năm tuất, trong gia đình các hành giả Kim Cương thừa, và tên là Oddiyana. Nếu ngài có thể khám phá một kho tàng ẩn dấu của Yamantaka Văn Thù, điều này bảo đảm rằng giáo lý của Đấng Chiến Thắng sẽ trở nên vô cùng vĩ đại. Tất cả những ai có nối kết với ngài sẽ được dẫn dắt tới cõi thuần tịnh Khechara, ‘sự vui thú của không gian.’” Một tiên tri khác được Choktsang Dotrul đưa ra: “Với sự tinh thông ba kho tàng ẩn dấu, một nhà khám phá khùng điên những kho tàng như thế sẽ xuất hiện ở Achakdru; ngài sẽ mang tên Oddiyana và được sinh vào một năm tuất. Tất cả những ai thiết lập một nối kết với ngài chắc chắn sẽ được dẫn dắt tới Padma Ö, cõi Nguyệt Quang (Ánh sáng Hoa Sen).” Cuối cùng, trong kho tàng tiên tri ẩn dấu của Üza Khandro, chúng ta đọc dòng sau đây: “Một hóa thân của tâm giác ngộ Padma trong miền Achakdru, một người con trai tên là Oddiyana Lakshmi, người cỡi con chó gỗ (mộc tuất), sẽ xuất hiện.”</p>
<p style="text-align: justify;">Phù hợp với những điều này và nhiều tiên tri khác trong các giáo lý kho tàng ẩn dấu, Orgyen Kusum Lingpa sinh trong một bộ tộc của dòng Apo Dong, một trong những dòng lớn nhất trong sáu bộ tộc ban đầu của Tây Tạng. Dòng dõi gia đình ngài được gọi là Walshul, được coi là nhánh tuyệt hảo nhất trong mười tám nhánh mà bộ tộc Dong được phân chia. Cha ngài là Chöngak Lhundrup Gönpo, một hiện thân của Padampa Sanggyay xứ Ấn Độ và là một hành giả xuất sắc mà sự ra đời của vị này đã được nhiều Đạo sư linh thánh tiên tri. Mẹ ngài là Padma Yutso. Con trai của hai vị sinh vào năm chó gỗ đực [19??], được hiểu một cách bóng bảy là ‘chất thể đích thực,’ năm thứ tám trong chu kỳ sáu mươi năm thứ mười sáu từ sự khởi đầu của niên lịch này ở Tây Tạng. Cậu bé sinh ra giữa nhiều dấu hiệu kỳ diệu trên Cao nguyên Magyi Metok (Hoa Ngôn ngữ), một vùng do vị thủ lãnh của Achakdru kiểm soát. Khi còn ở trong bụng mẹ, cậu có một cái nhìn trong trẻo về một cột mây trắng trải rộng thành một ngàn nhánh với một vị Phật trên đầu mỗi nhánh. Cậu bé nghe hàng ngàn vị Phật này tụng hát thần chú Vajra Guru và thân cậu ướt đẫm cảm giác hạnh phúc. Trong thời gian bảy ngày sau khi cậu bé sinh ra, mọi người trong gia đình đều nghe sự lặp lại tinh khôi của thần chú sáu-âm [Om Mani Padme Hum], thần chú vĩ đại nhất trong mọi thần chú.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm lên ba tuổi, đứa trẻ thọ nhận giới nguyện quy y và lễ xuống tóc từ Đức Ban Thiền Lạt ma thứ chín Chökyi Nyima vĩ đại và toàn trí. Vị này ban cho cậu bé danh hiệu Orgyen Puntsok Gönpo. Trong năm đó, cậu cũng nhận các gia hộ của Tsultrim Dargyay, vị tu sĩ xứ Tra, và Đạo sư này bảo cậu giữ danh hiệu mà Ban Thiền Lạt ma ban cho bởi ý nghĩa vĩ đại và kiết tường của nó. Năm lên tám tuổi, cậu bé bắt đầu việc học tập với người chú tên là Sönam Khedrup. Cậu lập tức có một thị kiến về việc kết hợp với một nhóm trước sự hiện diện của Đức Di Lặc, vị Phật sắp đến. Trong thị kiến này, vẻ lộng lẫy của các chiếc y trắng mà chúng ta mặc rạng rỡ hơn những chiếc y của nhiều tu sĩ tụ họp ở đó, và mọi người biểu lộ lòng tôn kính cậu. Trong một dịp khác, cậu bé có một linh kiến về một bảo tháp bằng vàng, sự chói lọi của nó ngập tràn vũ trụ, và bên trong nó cậu nhìn thấy Lozang Drakpa, Đức vĩ đại Tsongkhapa, như mẫu mực của Đấng bảo hộ Văn Thù, thân tướng của vị này chiếu rọi vẻ huy hoàng vô song. Từ thời điểm này trở đi, đứa trẻ hiểu biết các nghi lễ và những bản văn khác mà cậu đã đọc mà không phải nghiên cứu chúng. Trong vài trường hợp cậu đã trải nghiệm các linh kiến gặp gỡ Đức Milarepa tôn quý.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm mười ba tuổi, cậu nhận từ Lạt ma Sönam Khedrup thuộc bộ tộc Washul các thực hành chuẩn bị về Giọt Tâm yếu của thời khóa Longchenpa (Longchen Nyingtik), truyền thống Mindroling về Đức Kim Cương Tát Đỏa, giáo khóa liên quan đến các Bổn Tôn an bình và phẫn nộ mang tên Giải thoát Tự nhiên của Tất cả những người được Nối kết (Tretsay Rangdrol), và các giáo lý về sáu trạng thái bardo.</p>
<p style="text-align: justify;">Lozang Dorje, học giả-tu viện trưởng của Akong, được tiên tri là dakini Yeshe Tsogyal hiển lộ trong thân tướng của một Đạo sư tâm linh bởi hai Đạo sư khác Là Chaktrul Rolpai Dorje (chính là một hiện thân của Ngenlam Gyalwa Chokyang) và Garlong Padma Duddul Wangchuk Lingpa (một hiện thân của Langdro). Chính từ Đạo sư vĩ đại Lozang Dorje này mà Đức Kusum Lingpa đã có ý định thọ nhận cấp độ thứ nhất của sự thọ giới tu viện, nhận các giới nguyện của một tu sĩ dự bị. Trong dịp đó ngài có một kinh nghiệm thiền định về việc gặp Đức Kim Cương Thủ (Vajrapani) trong một thân tướng bán-phẫn nộ. Vị này nói với ngài: “Việc con nhận các y màu vàng nghệ của giải thoát cá nhân không phải là điều tốt nhất cho con. Con là người nên giữ lối sống của một tantrika cư sĩ. Năm con hai mươi bảy tuổi, con sẽ thừa hưởng sự kế thừa—sự trao truyền tâm của Đức Kim Cương Thủ. Ô cửa dẫn tới các kho tàng ẩn dấu toàn mỹ sẽ bật mở: sadhana guru là thực hành của tâm giác ngộ của ba bộ Phật; các thực hành sadhana của các Bổn Tôn được chọn lựa của chín phạm vi giác tánh vô tận; giáo khóa Vajrapani vĩ đại được nối kết với Samyak Heruka; Bánh xe giáo khóa Lửa Đỏ của Văn Thù Yamantaka; giáo khóa về Hayagriva và Vajravarahi tên là Sự Hợp nhất Bình đẳng của Tất cả Chư Phật; ba giáo khóa thực hành sadhana tập trung vào các thiên nữ tôn kính Varahi, Krodhikali, và Simhamukha; các giáo khóa liên quan đến thực hành tài bảo, chẳng hạn như các giáo khóa của Orgyen Norlha. Nếu con có thể mở dấu niêm phong năm kho tàng như thế trên quy mô rộng lớn, điều này sẽ bảo đảm là các giáo lý của Đấng Chiến Thắng sẽ được phục hồi ở nơi chúng bị suy yếu, và như thế đem lại một đời sống mới.”</p>
<p style="text-align: justify;">Có lần, khi ngài đang nhìn bức tường của một điện thờ rộng lớn, ngài nhìn thấy ở đó Đạo sư vĩ đại Padmasambhava, “Đấng Làm Tràn ngập Vũ trụ bằng sự Lộng lẫy” (Nangsi Zilnön), vị Thầy này đặt chày kim cương của mình trên đầu ngài, và sau đó ngài đạt được xác tín lớn lao trong việc hiểu biết giáo lý Kinh điển và tantra (Mật điển).</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó, ngài nhận lãnh từ Akong Khenpo các giáo lý về các thực hành chuẩn bị của Truyền thống Giọt Tâm yếu, các Giai đoạn về Con Đường dẫn tới Giác ngộ, luận thuyết vĩ đại Nhập Bồ Tát Hạnh (Bodhicarya-vatara), luận giảng Ba Cấp độ của sự Thọ giới, các giai đoạn phát triển và thành tựu của thực hành Vajrakilaya, và Hayagriva đen “với mớ tóc sắt,” cũng như nhiều giáo lý của Jamyang Zhepa.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó, ngài sống ba năm tại tu viện Palyul Dartang. Trong thời gian này ngài học với Choktrul Jampal Gyeypai Dorje, vị này ban cho ngài giáo lý về tất cả các giáo khóa của Ratna Lingpa, các Giáo lý Không gian (Namchö), sự Hợp nhất Ý hướng Giác ngộ (Gongdü), Jatsön Nyingpo, Longsal Nyingpo, và những giáo lý khác, cũng như các giáo khóa như Giọt Tâm yếu và ba trao truyền chính yếu của Tám Mệnh lệnh (Kagyay). Từ Dongön Tulku Karma Jikme Chökyi Sengge, ngài thọ nhận các giáo huấn chín muồi về Đại Ấn và nhiều giáo lý về các trường phái Zhije và Chöd. Sau đó Jedro Önpo Lozang Namdak dạy ngài các giáo lý tổng quát về Giọt Tâm yếu của Chetsun (Chetsun Nyingtik) và Giọt Tâm yếu của các giáo khóa Longchenpa, và đặc biệt là trong một trao truyền một-sang-một, vị Thầy này ban cho ngài bản văn có tựa đề là Guru Giác tánh Vô tận (Yeshe Lama), giáo khóa Ý hướng Giác ngộ Không bị Chướng ngại (Gongpa Zangtal), và các giáo lý về cách tiếp cận “cắt đứt sự vững chắc” (trekchö) từ Giọt Tâm yếu Sâu xa của Vimalamitra (Bima Nyingtik) và Giọt Tâm yếu của Dakini (Khandro Nyingtik), cả hai giáo lý này từ các giáo khóa tên là Bốn Giáo lý Cao cấp về Giọt Tâm yếu (Nyingtik Yabzhi). Ngài cũng nghiên cứu nhiều giáo lý từ truyền thống Sakya về triết học Trung Đạo (Madhyamaka), văn học Sự Viên mãn của Trí tuệ (Prajnaparamita, Bát Nhã Ba La Mật), các siêu hình học trong Kho tàng các Giáo lý Cao cấp (Abhidharmakosha), giới luật và đạo đức tu viện, và luận lý học. Trong ba năm sống tại Palyul Dartang, ngài cũng nhận các giáo khóa về con đường phương tiện thiện xảo, các yoga về kinh mạch và năng lực vi tế, từ các kho tàng ẩn dấu được Sangyay Lingpa khám phá, và các giai đoạn phát triển và thành tựu từ Giáo lý Thiêng liêng của Giọt Tâm yếu của Hóa Thân (Damchö Tulkui Nyingtik) do Ratna Lingpa khám phá.</p>
<p style="text-align: justify;">Thêm vào đó, ngài đã học với Dodrup Rikdzin Jalü Dorje, thọ nhận vô số quán đảnh, các trao truyền kinh điển, và các giáo huấn, bao gồm Bốn Giáo lý Cao cấp về Giọt Tâm yếu; Hai Tiết mục; Tinh túy các Mật nhiệm (Guhyagarbha Tantra), các yoga về kinh mạch và năng lực vi tế đối với Giọt Tâm yếu theo các khẩu truyền của dòng Dodrup; các giáo khóa về các giai đoạn phát triển và thành tựu đối với các thực hành tập trung về Ba Gốc; các giáo khóa về tâm, sự phát triển, và truyền dạy trực tiếp trong Đại viên mãn là các kho tàng ẩn dấu do Jamyang Khyentsei Wangpo khám phá; các bản văn tuyển tập của Kongtrul Yöntan Gyatso; các giáo khóa về các giai đoạn phát triển và thành tựu đối với các thực hành và giáo khóa về Sáu Giáo lý của Naropa. Hài lòng với đệ tử, Đức Dodrup Rikdzin ban cho ngài danh hiệu Padma Tumdrak Duddul Dorje Rolpatsal và tỏ ra tán dương ngài khi tiên tri về tương lai của ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ Đức Dodrup Tupten Trinlay Palzangpo, ngài thọ nhận toàn bộ trao truyền về Kho tàng các Kho tàng Ẩn dấu Quý báu (Rinchen Terdzö), cũng như nhiều kho tàng ẩn dấu khác không tìm thấy trong tuyển tập này. Chakhung Terchen Kunzang Nyima ban cho ngài toàn bộ giáo khóa được gọi là Kho tàng Ẩn dấu Mới (Tersar), và từ các giáo lý kho tàng do chính mình khám phá, Wura Tertön Sangdak Duddul Dorje đã ban cho ngài thực hành sadhana tập trung vào Ba Gốc và đặc biệt là nhiều giáo huấn về Phạm trù Rộng lớn (Longde). Kusum Lingpa đã nghiên cứu Một Trăm Ngàn Tinh thông về Thần chú Mani (Mani Kabum), Nhập Bồ Tát Hạnh, Tóm tắt việc Tu tập (Shikshasamucchaya), và những giáo lý khác về Kinh điển và Mật điển với Mani Lama Padma Siddhi. Puru Lama Kunzang đã chỉ dạy sâu rộng cho ngài nhiều giáo lý sâu xa như bản văn Đại Viên mãn Ba Câu Kệ Đánh vào các Điểm Trọng yếu (Tsiksum Naydek). Từ một vị Thầy tên là Chamdo Gyara Tulku, ngài nhận các trao truyền “Năm Luận thuyết của Di Lặc” và các Mật điển như các tantra của Chakrasamvara, Guhyasamaja, và Vajrabhairava. Và từ Gojo Ratri Tertön, cũng được gọi là Tertön Jangchup Dorje, ngài nhận một trao truyền một-truyền-một gồm các quán đảnh, giáo lý, và các giáo huấn truyền dạy trực tiếp giáo khóa sâu xa về kho tàng mục đích giác ngộ ẩn giấu của vị Thầy đó, một giáo khóa tập trung vào Yamantaka Văn Thù và vị được gọi là Chiến thắng Mọi Ác ý (Dukpa Kunjom).</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó ngài du hành đến Lhasa, ở đó ngài sống khoảng ba năm tại một học viện thuộc Sera Tekchen Chöling. Trong khi ở đó ngài nghiên cứu năm pho sách lớn về các bản văn gốc và luận giảng với những vị Thầy như đại học giả và tu viện trưởng Khenchen Jamyang Choklay Namgyal; việc nghiên cứu của ngài bao gồm triết học Trung Đạo, văn học Trí tuệ Viên mãn, abhidharma (Luận tạng), quy tắc ứng xử và đạo lý, luận lý, và những chủ đề khác. Ngài cũng thọ nhận các quán đảnh và trao truyền Kinh điển trong nhiều khóa Mật điển, chẳng hạn như Phương diện Mật nhiệm Tuyệt đối của Hayagriva (Tamdrin Yangsang) và Chakrasamvara vinh quang. Trong các bài diễn thuyết mùa đông về các tác phẩm của Jamyang Zhepa, ngài học với các học giả trao truyền cho ngài Mười sáu Phạm vi (Tigle Chödruk) của phái Kadampa và nhiều giáo lý được gọi là giáo lý vàng đã được trao truyền trong xu thế của dòng Sakya. Ngài cũng có cơ hội học với Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười bốn Tenzin Gyatso, từ vị Thầy này ngài thọ nhận thiện tâm của nhiều giáo lý sâu xa, của các quán đảnh và trao truyền Kinh điển đối với những Bổn Tôn như hình tướng Jinasagara của Đức Quán Thế Âm và hình tướng Khechari của Đức Vajrayogini. Từ Minling Chung Rinpoche, ngài đã thọ nhận truyền thống Mindroling về Vajrasattva, và nhận từ Ngakchang Rinpoche của phái Sakya các quán đảnh, các trao truyền Kinh điển, và giáo lý về các giai đoạn phát triển và thành tựu đối với Khechari theo truyền thống Ghantapada.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><b>Kusum Lingpa, Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 và Hungkar Dorje Rinpoche</b></p>
<p style="text-align: justify;">Ngài cũng gặp Đức Ban Thiền Lạt ma thứ mười Chökyi Gyaltsen, nhờ thiện tâm của vị Thầy này, ngài đã nhận những giáo lý như Một trăm Bổn Tôn của Cõi trời Đâu suất (Gaden Lhagyama) và các trao truyền thân tướng sáu tay của Bổn Tôn bảo hộ Mahakala. Trong số các vị Thầy khác mà ngài may mắn được học tập có: Dzongsar Khyentse; Dilgo Khyentse; vị hộ trì ngai vàng của Tu viện Gaden; Karmapa thứ mười sáu Rigpai Dorje; Ahang Tertön; Tsangdrup Jampa Chödzin; Dongön Lama Mönlam Zangpo; Jonang Lama Rinchen Dargyay; Khenpo Sang-ngak xứ Lamkho; Sharö Lama Tsultrim Namgyal; Dungkar Ngedön Gyatso; Tulku Dorje Dradul; Katok Siti; Moktrul Jikdral Choklay Namgyal; Hóa Thân Dzogchen thứ sáu; Drupwang Padma Norbu [Đức Penor Rinpoche]; Tulku Do-ngak Nyima; Gyangwa Maday; Tsepche Tulku Rinchen Drakpa; Ma Rinpoche thuộc phái Taklung; Đức Adrak Lama Nangsel Namkha Gyaltsen; Patrul xứ Tso; và nhiều vị khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Tổng cộng, Đức Kusum Lingpa đã học với khoảng một trăm năm mươi Lạt ma của mọi truờng phái không phân biệt xu hướng, thọ nhận một đại dương giáo lý thực sự về Kinh điển và Mật điển là suối nguồn của mười dòng học giả và tám dòng hướng về sự thực hành trong Xứ Tuyết. Đặc biệt là ngài đã nhận các quán đảnh chín muồi, các giáo lý giải thoát, và những trao truyền Kinh điển hỗ trợ đối với tất cả giáo lý—những truyền dạy lịch sử (kama), các kho tàng ẩn dấu (terma), và các thị kiến thanh tịnh (dag-nang)—thuộc trường phái dịch thuật lúc ban đầu của Nyingma, chúng xuống tới chúng ta nhờ thiện tâm của học giả và tu viện trưởng Shantarakshita, Đạo sư Padmakara (Liên Hoa Sanh), và vị vua tâm linh Trisong Detsen, và đã được trao truyền từ miệng đến tai bởi một triệu Đạo sư học giả và thành tựu. Trong việc học tập và lắng nghe giáo lý, ngài không chỉ du hành tới bến bờ xa xăm của đại dương này; ngài cũng đưa sự thiền định và thực hành tâm linh của ngài tới mức độ tràn đầy, giải thoát dòng tâm thức của mình qua sự chứng ngộ và sau đó giải thoát dòng tâm thức của chúng sinh qua lòng bi mẫn, làm chủ những phẩm tính vô tận của ba bí mật là thân, ngữ và tâm.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ năm mười bảy tuổi cho tới nay, ngài đã viếng thăm Lhasa khoảng năm lần, và đã lập các chuyến hành hương để viếng thăm mọi tu viện chính và phụ và mọi thánh địa trong ba miền ở phía tây Tây Tạng và bốn khu của các tỉnh trung tâm Ü và Tsang. Tại những thánh địa này, ngài đã dấn mình vào rất nhiều thực hành tâm linh. Ở Trung quốc, hướng bắc của quê hương ngài, ngài đã viếng thăm Ngũ Đài Sơn, Bắc Kinh, Núi Voi Chồm, Thành phố Ngát Hương, và tất cả những thánh địa chính yếu, cũng như hơn mười trung tâm tu viện chính yếu. Tương tự, ngài đã tới nhiều trung tâm tu viện ở các tỉnh Kham và Amdo ở miền đông Tây Tạng—ba trung tâm Katok, Palyul, và Dzogchen, bốn trung tâm tu viện chính yếu ở các thảo nguyên phía bắc, và những nơi khác. Ở những nơi đó, ngài đã thực hiện những lễ lạy và kinh hành, tiến hành các thực hành tâm linh, và bảo đảm lợi lạc cho chúng sinh trên bình diện rộng lớn bởi sự khám phá các kho tàng ẩn dấu của ngài. Từ đỉnh cao nhất của Núi Kailash chạm đến bầu trời ở miền tây Tây Tạng, cho tới các cao độ thấp nhất nơi những con sông hùng vĩ đổ vào các đại dương vĩ đại, ngài đã chuyển Pháp luân đến một phạm vi rộng lớn, giảng dạy vô số người thuộc các chủng tộc, văn hóa và ngôn ngữ khác nhau và chăm sóc họ bằng những hoạt động giác ngộ của ngài, khiến cho tên ngài lừng danh khắp mười phương.</p>
<p style="text-align: justify;">Đối với các biểu thị của sự thành tựu tâm linh của ngài, tôi đã ghi nhớ các linh kiến ngài đã có trước khi ra đời và khi học đọc và viết, vì thế không cần phải lập lại. Trong một dịp khác, khi mười bảy tuổi, ngài đang viếng thăm điện thờ huyền diệu Mingyur Lhundrup tại Samye, và ở đó ngài đã nhớ lại những đời trước, khi dòng tâm thức của ngài hóa thân là đại thành tựu giả Ấn Độ vĩ đại Ghantapada và ở Tây Tạng ngài là dakini Yeshe Tsogyal, Lanchen Palgyi Sengge, người sao chép bản thảo Dangma Tsemang, dịch giả, và những vị khác. Ngài đã có thể nhớ lại nhiều sự kiện từ những đời trước này, chẳng hạn như khi ngài được Guru Padmakara dẫn dắt, khi ngài mời nhiều học giả và thành tựu giả từ Phật giáo Ấn Độ, và khi [là Lhalung Palgyi Dorje] ngài đã ám sát vua Tây Tạng xấu ác Langdharma bằng cách bắn ông ta bằng một mũi tên. Chính khi ở Samye, ngài cũng có một linh kiến thiền định về một cung điện bằng lửa cháy rực trên bầu trời, trong đó vị Thầy Zhönnu Pawo Topden an trụ, ban cho ngài các gia hộ và quán đảnh; thêm vào đó, vị Thầy đưa ra điềm báo về việc giao phó các kho tàng ẩn dấu cho ngài. Ngài đã viết lại một bản ghi chép về tất cả những gì diễn ra trong kinh nghiệm này.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong một dịp khác khi ngài du hành đến Makhok, một nhân vật giống như sadhu Ấn Độ dường như chẳng xuất hiện ở nơi đâu và ban cho ngài một thần chú về Đức Kim Cương Thủ làm ngưng lại sương giá, mưa đá, và mưa. Một lần khác, ngài mơ thấy mười ba con rồng vàng vui mừng nhảy lên giữa một dải mây trắng; ngài leo lên chúng để tới một ngôi chùa Phật giáo khổng lồ có một ngọn tháp vàng tuyệt đẹp. Trong một giấc mơ khác ngài nhìn thấy dakini Yeshe Tsogyal, thân bà bị che khuất một nửa giữa một dải mây trắng, bà tịnh hóa ngài bằng một nghi lễ tắm gội. Ngài cũng mơ thấy kinh nghiệm khó chịu về mọi vị trời và quỷ ma của ba ngàn vũ trụ chia sẻ thịt ngài, và sau đó đại thành tựu giả Tangtong Gyalpo nắm tay ngài dẫn đi và ngài tới điện heruka trong cõi Oddiyana, ở đó một số lớn các bản văn được ban cho ngài. Ở rừng Doyi Aru gần tu viện Drupchen, ngài mơ được gặp Longchen Rabjam, thân tướng của vị này tràn ngập bầu trời, và từ bầu trời một trận mưa nhiều bản văn Phật giáo rơi xuống bàn tay ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Đạo sư linh thánh này thực hiện bốn loại hoạt động giác ngộ mà không bị trở ngại, bởi Ba Gốc và các vị bảo vệ ràng buộc-lời thề đi theo ngài như một cái bóng theo sau thân thể loại bỏ nó. Có nhiều tường thuật về cách ngài cung cấp sự bảo vệ và quy y cho những người hộ trì samaya, hay làm thế nào ngài trừng phạt những người vi phạm samaya, nhưng vào lúc này ngài không cho phép ghi lại những điều đó. Tuy nhiên, có những tường thuật rất nổi tiếng về việc ngài làm đổ mưa tại Lhundrup Teng trong miền Derge; về việc ngài nuôi một con rồng màu lam ngọc từ đất trong thung lũng Shingnak tại quê nhà của ngài; về việc ngài làm sống lại một ông lão ở Sendrong tên là Chimay Dorje, người đã chết vì bệnh hủi, chỉ bằng cách chạm tay ngài vào thi thể. Ngài cũng đã chữa lành mười người cùi và mười ngàn người bệnh bằng cách sử dụng thực hành Vajrapani từ việc khám phá kho tàng ẩn dấu của riêng ngài, đem lại kết quả mà mọi người đều có thể nhìn thấy. Trong việc cải tạo hợp tác xã của Trung quốc, ngài đã lo liệu cho các gia đình di dời thoát khỏi nguy hiểm. Những người thông minh có thể tìm hiểu bản chất các hoạt động của ngài, chúng được biểu thị bằng sự kiện là ngày nay tên ngài trở nên nổi tiếng khắp mọi nơi.</p>
<p style="text-align: justify;">Các giai đoạn hoạt động xuất sắc khác của ngài bao gồm những việc cúng dường pho tượng Đức Phật trong thánh đường chính ở Lhasa—hai khối vàng để làm mũ miện, hai ngàn bảy trăm yuan gấm thêu kim tuyến may áo choàng, và năm trăm tiêu chuẩn bơ để cúng dường đèn. Đối với pho tượng Phật tên là Mikyö Dorje, ngài cúng dường các áo choàng trị giá một ngàn yuan. Tại tu viện Drepung Drayang Ling, ngài đã đặt mua một pho tượng Guru Rinpoche lớn bằng đồng và vàng. Ngài đã cúng dường hai ngàn năm trăm yuan để hỗ trợ các dự án tại Tu viện Dodrak. Ngài đã cúng dường trà cho các cộng đồng tổng quát gồm các tu sĩ tại ba đại tu viện Sera, Gaden và Drepung, cũng như tại chính Lhasa. Tương tự, ngài đã bảo trợ các dự án và thiết lập những mối quan hệ tại tất cả các trung tâm tu viện chính yếu của tỉnh trung ương Ü và các tỉnh miền đông thuộc Amdo và Kham, cũng như tại Trung quốc.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi gặp Đức Ban Thiền Lạt Ma thứ mười, Kusum Lingpa cúng dường một chiếc khăn lụa trắng đẹp, sau đó là một lễ cúng dường mạn đà la rộng lớn. Đức Ban Thiền Rinpoche hài lòng và dành một thời gian dài để trò chuyện với ngài về các đề tài tâm linh, sau đó trao tặng Kusum Lingpa các chiếc y của vị Ban Thiền tiền nhiệm, cũng như hình ảnh của mình và một lá thư riêng; những món này vẫn được lưu giữ như những vật lưu niệm tại tu viện của Kusum Lingpa.</p>
<p style="text-align: justify;">Thực ra, trong hơn một trăm năm mươi năm, tu viện của của Đức Kusum Lingpa là một trại gồm những chiếc lều nỉ đen di chuyển từ nơi này sang nơi khác. Điều này có những lý do: các cư dân của vùng Golok Akyong này là những người du mục sống trong cộng đồng những chiếc lều như thế, và vì thế họ luôn luôn di chuyển. Theo lịch sử địa phương, cũng thường xuyên xảy ra sự đe dọa từ việc xâm lăng của các bộ tộc Mông Cổ, khiến người ta không thể thiết lập bất kỳ địa điểm cố định nào cho tu viện. Lối sống du mục này là do bởi nhiều hoàn cảnh như thế, cả ngoại tại lẫn nội tại. Giờ đây các điều kiện trong phần đất của thế giới này đã cải thiện, thịnh vượng vật chất đã phát triển, các giáo lý của Đấng Chiến Thắng đang nở rộ, và hạnh phúc cùng sự an bình của mọi người đang phát triển. Do bởi nhiều điều kiện như thế ở các mức độ ngoài, trong và bí mật, một nền tảng kiên cố hơn để xây dựng một tu viện đã tụ hội cùng một lúc, với sự cho phép của các nhà cầm quyền và hai tích tập công đức và giác tánh về phía người sùng mộ ước mong bảo trợ một công việc như thế. Dự án xây cất một địa điểm cố định cho tu viện này đã bắt đầu năm hổ lửa [199??]. Từ thời gian đó cho đến nay, chỉ khoảng năm năm rưỡi đã trôi qua, tuy thế nhờ tác dụng thần diệu của động lực của ngài, trong thời gian ngắn ngủi này trung tâm tu viện đã trỗi dậy như một lực lượng rất đáng ngạc nhiên và có quy mô rộng lớn trên mọi lãnh vực ngoài, trong, và bí mật. Rõ ràng đối với mọi người, sự thành tựu như thế chỉ có thể được thực hiện bởi các năng lực phi thường và kỳ diệu của chư Phật và Bồ Tát, không nhờ sức lực của những người bình thường. Tiến trình này được hỗ trợ bởi sự kiện là tất cả các Lạt ma và tulku—mọi người với bất kỳ địa vị quyền thế nào trong tu viện—mọi người đã làm việc cùng nhau như một, trong sự hòa hợp và không lãng phí một ngày. Thêm nữa, không ai được quyền “thoát khỏi gánh nặng” và không từng có lợi lạc riêng tư, tham ô, hay xuyên tạc trong việc tạo nên sự hỗ trợ cho dự án xây dựng. Đúng hơn, các phẩm tính vĩ đại của Lạt ma này đã hấp dẫn sự quan tâm của những người ủng hộ giống như những con ong kéo tới một bông hoa thơm ngát; những người đã có thể cúng dường những con ngựa và bò, trong khi những người khác không thể cúng dường kim và chỉ, bảo đảm rằng sự hỗ trợ cho nhiệm vụ tâm linh này đã tăng trưởng như một vầng trăng tròn dần. Những cư dân địa phương tin tưởng nơi ngài đã hiến dâng để mang lại sự hỗ trợ hiện tại, trong khi những người khác từ xa hơn, khắp ba tỉnh Amdo, Ling, và Kham, đã chứng minh là đáng tin cậy như cách các sự vật phát triển trong các tháng mùa hạ, khiến ngài không cần phải gắng gượng dựa trên một ít người có thể không kiên định và nịnh hót với những phô bày nông cạn về sự hỗ trợ. Ngài cũng vượt xa các cách thức mà ngày nay những cá nhân nào đó có địa vị cao trọng sử dụng mọi vật cúng dường rơi vào tay mình, dù từ người sống hay nhân danh người chết, và cất dấu những thứ này dưới những tấm nệm trong nhà, không dùng những món cúng dường này như dự định mà sử dụng chúng cho con cái hay các cháu trai ưa thích, hay bảo đảm rằng các bạn gái trẻ trung của họ có những món trang sức tuyệt đẹp. Trong một phương cách ít gặp, ta có thể có niềm tin rằng tất cả những món cúng dường lọt vào tay ngài được hoàn toàn sử dụng như một phương tiện vinh danh Tam Bảo hay mang lại hạnh phúc và lợi lạc cho chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong một nguồn cảm hứng tương tự, ngài khéo léo trong lý thuyết và khi áp dụng thực tiễn của truyền thống y học Phật giáo, và đã đặc biệt nỗ lực làm việc với những người khốn khổ bởi bệnh phong, ma nhập, và những chứng rối loạn tâm thần khác nhau. Ngài nổi danh về sự rộng lượng trong việc làm khuây khỏa nỗi đau đớn và lo âu đối với vô số bệnh nhân, không từng đòi hỏi tiền thù lao cho những việc phụng sự của mình. Ngài cũng hoàn toàn hiến mình cho sự chăm sóc dài hạn, cả vật chất lẫn tâm linh, của tất cả những người già nua và nghèo khó mà bản thân họ không có của cải và không được trông nom chăm sóc. Bằng chứng hiển nhiên là ngài hoàn thành vô số phương cách trong đó các Bồ Tát, những đứa con của các đấng chiến thắng, dấn mình vào những hoạt động giác ngộ. Hãy cho phép những người có đôi mắt tìm kiếm chính mình, và tôi cảm thấy chắc chắn là họ sẽ nhận ra rằng sự hiện diện của ngài trong những cảnh giới tâm linh và xã hội thì hoàn toàn không thiếu đức hạnh.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><b>Orgyen Kusum Lingpa tại Golok, 2007</b></p>
<p style="text-align: justify;">Thêm vào đó, Đức Kusum Lingpa chịu trách nhiệm xây dựng và điều chỉnh mọi số lượng dinh thự dành cho việc giảng dạy tâm linh, thực hành, và các hoạt động liên quan. Những việc này bao gồm hội trường tụ họp lớn Tukpo Köpa (“Cõi Thuần tịnh của Hàng ngũ Dày đặc”); trung tâm nhập thất Kusum Podrang (“Cung điện Ba Thân”); con đường kinh hành chính yếu Ngöngai Temkay (“Cầu thang lên Cõi Hỉ lạc Hiển lộ”); bảo tháp Tongdrol Chenmo (“Đại Bảo tháp Mang lại Giải thoát khi Nhìn thấy”); trụ xứ của Lạt ma được gọi là Shambhala Podrang (”Cung điện Cõi Thuần tịnh Shambhala Podrang”); trung tâm y học Dragong Dupai Gatsal (“Khu rừng Tụ hội các Nhà Tiên tri”); trung tâm chăm sóc người hấp hối và thua thiệt tên là Pendai Norbui Kyeytsal (“Công viên Châu báu của sự Lợi lạc và Hạnh phúc”); và một trung tâm dành cho các nghiên cứu thế tục Riknay Podrang (“Cung điện Các Lãnh vực Hiểu biết”). Nhưng trên thực tế, việc liệt kê mọi dự án như thế cũng sẽ khiến cho bản báo cáo này trở nên quá dài dòng. Những người có thể ước muốn có được một ý thức lớn lao hơn về phạm vi công việc của ngài nên tham khảo tiểu luận riêng biệt của tôi về đề tài này. Điều này sẽ đủ mang lại cho ta một ý niệm về những hoạt động vĩ đại và giác ngộ của Đạo sư này.</p>
<p style="text-align: justify;">Bây giờ tôi xin đưa ra một cái nhìn khái quát về các giáo lý kho tàng ẩn dấu do Đức Kusum Lingpa khám phá. Trong phạm vi rộng lớn được gọi là Phạm trù Giáo lý từ Kho tàng Không gian (Namkha Dzökyi Chöday), một “kho tàng tâm” được khám phá qua mục đích giác ngộ ẩn dấu là những giáo khóa thực hành liên hệ với mức độ cao cấp nhất của thần chú, là cấp độ của anuttarayoga, hay sự hợp nhất vô song. Trong tác phẩm rộng lớn này, được dựa trên Tantra Tâm Giác ngộ: Giọt Tâm yếu của Padma, ta tìm thấy những giáo lý sau đây:</p>
<p style="text-align: justify;">(1)  một quyển sách lớn có tựa đề Những Khối Lửa Khải huyền, một thực hành tập trung vào ba phương diện phẫn nộ của Guru Rinpoche—Hayagriva, Vajrapani và Garuda</p>
<p style="text-align: justify;">(2) một quyển sách thực hành tập trung vào Vajrapani (Kim Cương Thủ), các giáo khóa theo thân tướng Atsarya và thân tướng Drangsong Tsoje của Bổn Tôn này</p>
<p style="text-align: justify;">(3) một quyển sách thực hành tập trung vào những Bổn Tôn như Khechari Vajrayogini, hình thức bảo hộ trắng của Chakrasamvara, các vị bảo hộ Citipati, khía cạnh hoạt động của Yamantaka, thiên nữ Tara, và v.v..</p>
<p style="text-align: justify;">(4) một quyển sách bao gồm một buổi lễ nhằm tôn vinh Đức Tsongkhapa, Giọt Tinh túy của Tâm Giác ngộ (một nghi lễ tập trung vào Di Lặc), Chuỗi Ánh sáng (một nghi lễ tập trung vào Đức Phật Thích Ca Mâu Ni), và Cây Như ý (một nghi lễ để quán tưởng tám Đại Bồ Tát)</p>
<p style="text-align: justify;">(5) một quyển sách bao gồm Con Sông Ngọc bích Tuôn chảy (một giáo khóa thực hành tập trung vào đức Phật Dược Sư), quán đảnh sinh lực và sự trao truyền mệnh lệnh tâm linh tập trung vào tám Như Lai, và một buổi lễ để sám hối các giới nguyện bị gãy bể</p>
<p style="text-align: justify;">(6) một quyển sách thực hành tài bảo tập trung vào Bổn Tôn tài bảo Orgyen Norlha</p>
<p style="text-align: justify;">(7) hai quyển sách thực hành về các Bổn Tôn của Tám Mệnh lệnh và giai đoạn phát triển để đạt được Chín Phạm vi của Giác tánh Vô tận</p>
<p style="text-align: justify;">(8) hai quyển sách tập trung vào Chakjya Zilnön, thân tướng mạnh mẽ áp đảo tượng trưng của Đức Văn Thù Yamantaka</p>
<p style="text-align: justify;">(9) năm quyển sách bao gồm khóa các giáo lý về Hayagriva và Vajravarahi mang tên Sự Hợp nhất Bình đẳng của Tất cả chư Phật và giáo khóa của Hayagriva vô cùng mạnh mẽ, Bổn Tôn ngữ giác ngộ của Padma</p>
<p style="text-align: justify;">(10) một quyển sách về một khóa giáo lý tập trung vào Đức Vajrakilaya</p>
<p style="text-align: justify;">(11) một quyển sách giáo lý tập trung vào tantra Chuỗi Ảo ảnh Thần diệu và thân tướng của Đức Quán Thế Âm được gọi là Amoghapasha</p>
<p style="text-align: justify;">(12) một quyển sách về một khóa giáo lý tập trung vào Đức Tara cao quý</p>
<p style="text-align: justify;">(13) một quyển sách về các thực hành để đạt Nút Vô tận (sadhana của tâm dành cho các vị hộ trì giác tánh nội tại) và giáo khóa thực hành tập trung vào thiên nữ đen Krodhi</p>
<p style="text-align: justify;">(14) một quyển sách về các sadhana Guru thứ yếu tập trung vào các nhân vật như Đức Milarepa, Tangtong Gyalpo, Pachik Dampa Sanggyay, Đạo sư Vajrapani (Kim Cương Thủ), Đạo sư Manjushri (Văn Thù), Đạo sư Avalokiteshvara (Quán Thế Âm), Đạo sư Maitreya (Di Lặc), và những vị khác</p>
<p style="text-align: justify;">(15) một quyển sách bao gồm một giáo khóa về các thực hành sadhana và các kỹ thuật làm trẻ trung tập trung vào Đức bảo hộ Di Lặc, một sadhana về sự thịnh vượng tập trung vào Đức Di Lặc, một sadhana Đạo sư tập trung vào Đức Tsongkhapa, và những thực hành khác</p>
<p style="text-align: justify;">(16) một quyển sách gồm các thực hành khẩn cầu hoạt động của các Bổn Tôn bảo hộ và các tinh linh địa phương, chẳng hạn như giáo khóa sadhana thực hành tập trung vào mười hai chị em tenma bảo vệ Tây Tạng</p>
<p style="text-align: justify;">(17) một quyển sách về các giáo lý như Tiên tri Các Tượng trưng Thần diệu Tiết lộ Ẩn dụ (tường thuật của Kusum Lingpa về linh kiến riêng của ngài về việc du hành đến Shambhala), các Trò chuyện Bí mật của các Dakini (một tường thuật của tám vị hộ trì vĩ đại của giác tánh nội tại ở Ấn Độ), và những quyển khác</p>
<p style="text-align: justify;">(18) một quyển sách về các bài ca của ngài, chẳng hạn như Bài Ca Không Giả tạo và Tự nhiên của Anh hùng (một bài ca về quan điểm của Đại viên mãn), một bài ca tán thán địa điểm nhập thất tên là “Cung điện của các vị Trời,” và v.v..</p>
<p style="text-align: justify;">(19) một quyển sách về lời khuyên dạy riêng tư, chẳng hạn như tác phẩm có tên khôi hài Giữ chặt Con Bọ Chét bằng Ngón tay Tôi, Giai điệu của Anh hùng (một bài ca tự nhiên để khuyến khích người tên là Kalzang Losel Zhönnu thực hành Phật Pháp) và những tác phẩm khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Thêm vào đó, có nhiều tác phẩm phụ và khóa giáo lý được sáng tác để đáp ứng các khẩn cầu đặc biệt của nhiều cá nhân, chẳng hạn như Giọt của các Dakini về Không gian Căn bản (một cẩm nang minh họa về việc làm các món cúng dường torma), các Giai điệu Kim Cương (một cẩm nang chú giải âm nhạc về các nghi lễ tập trung vào Ba Gốc) và có thể còn có những tác phẩm tương tự.</p>
<p style="text-align: justify;">Tổng cộng, tính đến nay có khoảng hai mươi lăm quyển sách trong tuyển tập của ngài. Vị đạo sư này đã luôn luôn ban tặng sự bảo đảm riêng của ngài rằng từ lúc ngài còn là một đứa trẻ được nuôi bằng bầu ngực của người mẹ cho tới hiện tại, ngài đã không ngừng có những linh kiến về Đức Mật nhiệm Kim Cương Thủ (Vajrapani) vinh quang. Dù chỉ một chốc lát, ngài không bao giờ xa lìa Đức Kim Cương Thủ, đấng dẫn dắt ngài, nói những lời tiên tri, ban các quán đảnh, khám phá các ý nghĩa giác ngộ, và trong những cách thế khác, dấn mình vào một tiến trình liên tục các hoạt động giác ngộ. Điều này có nghĩa là ngài thực sự là một vị hộ trì siêu việt kho tàng bí mật gồm ngữ giác ngộ của tất cả các đấng chiến thắng, và không thể liệt kê một cách chính xác các giáo lý tạo thành ngữ giác ngộ của ngài. Mặc dù thế, tôi đã cung cấp một tường trình gồm một ít giáo lý đã đến tay chúng ta như những người được điều phục bởi những giáo lý đó, và sẽ hoàn toàn thích đáng để thêm vào những giáo lý như thế khi đưa ra ánh sáng trong tương lai.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong số những đệ tử chính yếu của Đức Kusum Lingpa, sau đây là những vị vừa là Thầy vừa là đệ tử của ngài, hay những vị giữ gìn giáo lý hoặc ở một phương cách nào đó, là những vị lỗi lạc nhất trong các đệ tử của ngài: Akong Khenpo Lozang Dorje; Katok Moktsa Jikdral Choklay Namgyal; Lhapzo Lama Damchö; Choktrul Nyida; Katok Lama Lhunli; Dora Lama Lochö; Jonang Lama Lodrak; Tokgi Lama Padtse; Sanglung Tulku Kalzang Dorje; Wangdai Gyangtrul Döndrop Dorje; Dibar Chöjay Loyak Tulku; Choktrul Garwang Nyima; Khenpo Zhilii Tendzin Zangpo; Gyalsay Padma Tsewang; Mukyang Khenpo Lozang Tsultrim; Kirtii Geshay Takrang Könchok; Amo Lama Wangrap; Khangsar Dazer; Dzogchen Khenpo Tsering Nyima; Lama Paldrak; Dodrup Khenpo Ngaksher; Ragyai Lama Khyenrap Gyatso; Derge Pewar Tulku; Rekong Kyaplo; Tulku Godey; Barchung Sangdrak; Mukyang Tuden; Durbü Ngawang Rikdzin; Chung Opo; Katok Khenpo Padma Chöjor; Chyaktsa Tulku; và nhiều vị khác, đa số các ngài là những vị canh giữ các giáo khóa khám phá kho tàng ẩn dấu của Kusum Lingpa. Đối với những đệ tử có một nối kết tâm linh qua việc thỉnh cầu giáo lý, tôi đã nghe nói đến các tường thuật về nhiều ngàn Lạt ma và tu sĩ, và khoảng một trăm ba mươi ngàn nam nữ cư sĩ.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.blazingwisdom.org/learning/read/195-a-brief-biography-of-his-holiness-orgyen-kusum-lingpa">http://www.blazingwisdom.org/learning/read/195-a-brief-biography-of-his-holiness-orgyen-kusum-lingpa</a></p>
<p style="text-align: justify;">Nguyên tác: <b>“A Brief Biography of His Holiness Orgyen Kusum Lingpa”</b></p>
<p style="text-align: justify;">của Rikdzin Namnang Dorje</p>
<p style="text-align: justify;">Chökyi Nyima (Richard Barron) dịch sang Anh ngữ từ tiếng Tây Tạng</p>
<p style="text-align: justify;">Thanh Liên dịch sang Việt ngữ</p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-cua-duc-orgyen-kusum-lingpa/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Đức Hungkar Dorje Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-duc-hungkar-dorje-rinpcohe/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-duc-hungkar-dorje-rinpcohe/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 06 Sep 2015 03:57:25 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Longchen Ningthik]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Ningthik]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=4295</guid>
		<description><![CDATA[Hungkar Dorje Rinpoche là một Đạo sư được xác nhận của dòng Nyingma và là Tu viện trưởng Tu viện Thubten Chokor Ling tại Golok, Tây Tạng. Rinpoche sinh năm 1970 trong một gia đình du cư gồm những yogin chứng ngộ vĩ đại ở Golok. Cả hai bên nội ngoại của gia đình ngài đều là những vị trì&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-duc-hungkar-dorje-rinpcohe/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Hungkar Dorje Rinpoche là một Đạo sư được xác nhận của dòng Nyingma và là Tu viện trưởng Tu viện Thubten Chokor Ling tại Golok, Tây Tạng. Rinpoche sinh năm 1970 trong một gia đình du cư gồm những yogin chứng ngộ vĩ đại ở Golok. Cả hai bên nội ngoại của gia đình ngài đều là những vị trì giữ dòng truyền thừa, những đại thành tựu giả và Đạo sư Phật Giáo vĩ đại được truy nguyên nhiều thế hệ từ thời đại của Guru Rinpoche ở Tây Tạng và Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở Ấn Độ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Trong đời này Hungkar Rinpoche sớm được những Đạo sư Phật Giáo như H.H. <a style="color: #000000;" href="http://tuyenphap.com/Tham-khao/Thanh-su-Orgyen-Kusum-Lingpa">Orgyen Kusum Lingpa</a>, H.H. <a style="color: #000000;" href="http://tuyenphap.com/Tham-khao/Thanh-su-Phap-vuong-Kyabje-Dodrupchen-IV">Dodrupchen Rinpoche</a>, H.H. Penor Rinpoche, và sau này, H.H. Dalai Lama xác nhận là Hóa Thân của Do Khyentse Yeshe Dorje và hiện thân về tâm của Jigme Lingpa. Những dòng Hóa Thân Khyentse (chẳng hạn như Beru Khyentse, Dzongsar Khyentse, Dilgo Khyentse, Khyentse Chokyi Lodro) từng là những bậc tiên phong trong việc phát triển và bảo tồn truyền thống Nyingma ở Tây Tạng  và những nơi khác trong vài trăm năm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Trong thời thơ ấu của ngài, khi cuộc đàn áp của Cộng Sản Trung Quốc ở vào giai đọan khốc liệt, không một ai được phép có một xâu chuỗi, nhắc tới danh hiệu của Đạt Lai Lạt Ma hay tổ chức những cuộc tụ họp Phật Giáo. Nhiều tu sĩ và Lạt ma bị tống giam, hành hạ và bị giết. Trong số những Đạo sư sống sót có thân phụ ngài, H.H. Orgyen Kusum Lingpa, người nổi danh là “Yogi Vĩ đại xứ Golok,” vị Terton Sống và Đạo sư Nyingma chứng ngộ, vị trì giữ dòng truyền thừa của Dzogchen Pema Nyingthig và Hóa Thân của nhiều đại thành tựu giả như Drilwupa xứ Ấn Độ, Drukpa Kunley và Nyima Drakpa xứ Tây Tạng và của Lalung Palgi, một trong 25 đệ tử tâm yếu của Guru Rinpoche… Orgyen Kusum Lingpa bị chính quyền Cộng Sản Trung Quốc tống giam trong nhiều năm để cản ngăn ngài truyền bá Giáo Pháp sau khi họ nghe những tiên tri nói rằng ngài là vị Terton Sống sẽ khám phá những kho tàng Giáo Pháp (terma) và đưa những giáo lý linh thánh trở lại cuộc đời ngay trong đời này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Trong khi thân phụ ngài bị tù đày, Rinpoche bị nhà cầm quyền Cộng Sản địa phương thường xuyên canh chừng để ngăn cản không cho ngài chú tâm vào việc nghiên cứu và thực hành Phật Giáo. Thật may mắn là những Đạo sư Phật Giáo cao cấp khác đã che chở ngài bằng cách giữ bí mật thân thế thiêng liêng của ngài, nhờ đó năm lên chín tuổi, ngài có thể tới Tu viện Palyul ở Golok và hoàn tất việc tu tập căn bản Phật Giáo, nó bao gồm trên mười năm nghiên cứu và thực hành Đại thừa và Kim Cương thừa như Ngondro, Tsalung và Dzogchen. Trong thời gian này, Tulku Hungkar có may mắn được học tập với nhiều vị Thầy gốc tôn kính ở Tây Tạng, kể cả Đạo sư vĩ đại Akong Khenpo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Trong mùa đông năm 1989, đáp lại tiếng gọi của hứa nguyện trong đời trước của ngài là một Đạo sư Phật Giáo không bộ phái, người truyền bá những giáo lý của mọi dòng truyền thừa, Hungkar Dorje đã trốn khỏi Golok và bí mật du hành xuyên qua Tây Tạng trong mùa đông, gặp nhiều gian khổ và suýt chết, trước khi cuối cùng tới Tu viện Drepung của dòng Gelugpa bên ngoài Lhasa. Ở đây, Rinpoche đã nghiên cứu trong hơn hai năm trong khi những tu sĩ bảo vệ và che dấu chỗ ở của ngài thoát khỏi sự theo dõi của Cộng Sản Trung Quốc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Năm 1991, với sự giúp đỡ của những Đạo sư Phật Giáo thâm niên, Rinpoche rời Lhasa trốn sang Ấn Độ. Một lần nữa, ngài đối mặt với nhiều gian khổ và thử thách khốc liệt khi vượt qua rặng Himalaya, nhưng những trở ngại này đã được khắc phục nhờ sự gia hộ của các Hộ Pháp. Nhiều câu chuyện kỳ diệu có thể được thuật lại từ cuộc hành trình của ngài là bằng chứng của năng lực của Tam Bảo và chư vị Hộ Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Rinpoche đã cư trú và thực hành trong ba năm tại thánh địa Varanasi (Ba La Nại), “Xứ của Ánh sáng Linh Thánh,” gần Sarnath, nơi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ban bài thuyết pháp đầu tiên sau khi Giác ngộ. Trong thời gian này, Rinpoche tiếp xúc mật thiết với H.H. Dalai Lama, Người sắp xếp cho ngài tới Dharamsala để tiếp tục việc tu hành cao cấp trong dòng Gelugpa. Năm năm sau, ngài tốt nghiệp thủ khoavới cấp bậc Geshe (Tiến sĩ Phật Học). Mọi phí tổn trong việc sinh hoạt và nghiên cứu của ngài được văn phòng của Đức Đạt Lai Lạt Ma bảo trợ dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đức Đạt Lai Lạt Ma.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Năm 1994, Rinpoche được chính thức đăng quang là Hóa Thân của Do Khyentse Yeshe Dorje và Jigme Lingpa. Lễ đăng quang được cử hành ở Bodhgaya (Bồ Đề Đạo Tràng) dưới sự bảo trợ của dòng Nyingma, H.H. Dalai Lama và những vị lãnh đạo cao cấp nhất của những dòng truyền thừa Phật Giáo khác. Bài kệ “Lời Cầu nguyện Trường thọ cho Hungkar Dorje Rinpoche”(*) được H.H. Dalai Lama biên soạn, biểu thị rõ ràng mối liên hệ của Hungkar Rinpoche với những đời trước, và tiên đoán những thành tựu trong tương lai của ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Sau khi tin tức của lễ đăng quang bay tới Trung Quốc, chính quyền địa phương Trung Quốc tại Golok đã gởi một bức thư nói rằng họ chấp nhận cho ngài trở về tu viện của ngài và hứa không kết tội về những lần trốn tránh trước đây. Theo khẩn cầu của những cư dân Golok và theo hứa nguyện về Pháp của ngài trong những đời trước, Rinpoche trở về Golok, ở đó một lần nữa ngài được đăng quang, và từ lúc đó ngài đã cư trú như  Tu viện trưởng của Tu viện Thubten Chokor Ling. Tu viện có hàng ngàn tu sĩ đang nghiên cứu và thực hành dưới sự hướng dẫn của Rinpoche, nhiều vị trong số đó là những hành giả thành tựu cao cấp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Nền tảng việc tu hành của Rinpoche trong những truyền thống Phật Giáo Tây Tạng khác nhau đã khiến ngài nổi danh là một Đạo sư Phật Giáo không bộ phái độc nhất vô nhị. Mọi người từ khắp nơi đổ tới để nhận những giáo lý từ ngài. Golok là một môi trường khắc nghiệt ở độ cao trên mười ngàn phút (khoảng ba ngàn mét) và dân chúng ở đó là những người du cư nghèo khổ. Nó bị núi non và một con sông rộng ngăn cách với những vùng đất thấp phát triển hơn. Thủa xưa, yếu tố này đã ngăn chặn những cuộc xâm lược của ngoại quốc, nhưng nó cũng cắt đứt mối quan hệ phát triển thương mại và kinh tế giữa Golok với thế giới bên ngoài. Rinpoche đã làm việc không mỏi mệt để phát triển và vay mượn những nguồn tài chính nhằm xây dựng một chiếc cầu kết nối Golok với những vùng thấp phát triển hơn. Cuối cùng, vào năm 1999, cây cầu đã được xây dựng. Suốt từ đó tới nay, điều kiện sinh sống của cư dân Golok đã được cải thiện rất nhiều.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Ước nguyện của Rinpoche nhằm mang lại những cơ hội tốt hơn cho các hành giả Pháp và những cư dân Golok cũng mang lại kết quả là đưa được nguồn điện vào Golok năm 2002. Rinpoche thường mỉm cười khi ngài nói về thời mà các thế hệ tu sĩ trước đây phải học tập trong bóng tối dưới ánh nến, và sau này thường kết thúc với những vấn đề về mắt. Giờ đây, với nguồn điện, các tu sĩ, hành giả và những học viên có thể có nhiều thì giờ hơn để nghiên cứu và thực hành mà không bị tổn hại thị lực của họ. Với sự hài hước đầy thiện tâm, ngài nói: “Bây giờ thì chẳng có lý do gì để lười biếng nữa!”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Rinpoche cũng đã không ngừng làm việc để hoàn thành và tiếp tục nhiều chương trình Pháp quan trọng như:</span></p>
<ul style="text-align: justify;">
<li><span style="color: #000000;">Hoàn thành Mạn đà la Guru Rinpoche và Chùa Samye ở Golok. </span><span style="color: #000000;"> • Trùng tu sự hư hại của Đại Tháp cho Hòa bình Thế giới tại Golok.  </span><span style="color: #000000;"> • Xây dựng một Tháp Milarepa tại Golok. </span><span style="color: #000000;"> • Thành lập một Học viện Giáo Pháp nơi các học viên sẽ tham dự chương trình tu hành Phật Giáo cao cấp trong chín năm. </span><span style="color: #000000;"> • Biên soạn và xuất bản nhiều sách văn học, nghệ thuật và giáo lý Phật Giáo. </span><span style="color: #000000;"> • Tổ chức, biên tập và dịch thuật những bản văn Giáo Pháp và những giáo lý linh thánh của Lamasang, Rinpoche và những Đạo sư dòng truyền thừa cao quý khác. </span><span style="color: #000000;"> • Tổ chức và hướng dẫn lễ puja Shambala hàng năm ở Tây Tạng từ năm 2004. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã thỉnh cầu và trực tiếp bảo trợ cho việc cầu nguyện và tổ chức lễ puja này. </span><span style="color: #000000;"> • Thành lập Tổ chức Gesar vào năm 2004, là tổ chức, trong số những họat động nhân đạo khác, đang thành lập một hệ thống trường học địa phương trong những miền Tây Tạng truyền thống của Golok để giúp bảo tồn ngôn ngữ, văn hóa và tôn giáo Tây Tạng. Tổ chức cũng sẽ bảo trợ những chương trình giúp đỡ những người già cả và tàn tật, là những người hiện không nhận được sự trợ giúp của chính phủ ở Tây Tạng. </span><span style="color: #000000;"> • Sưu tầm, tổ chức, dịch thuật và xuất bản những giáo lý Phật Giáo toàn thiện vì sự lợi lạc của những hành giả Phật Giáo trong thời đại này và những thế hệ tương lai. Đây là một dự án khổng lồ hiện đang được thực hiện với sự tham dự của hàng trăm tu sĩ và hàng ngàn người thuộc mọi tầng lớp xã hội.</span></li>
</ul>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Tất cả những dự án quan trọng, đầy ý nghĩa này được thực hiện với sự hồi hướng công đức cho sự lợi lạc của tất cả chúng sinh. Khi người ta nói về những thành tựu và những đời trước của ngài, Hungkar Rinpoche luôn luôn hết sức khiêm tốn và với một nụ cười dịu dàng trên khuôn mặt, ngài thường trả lời rằng: “Tôi chỉ là một tu sĩ của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni với rất nhiều điều phải học tập và hoàn thiện.” Mặc dù thế, nhiều người cảm thấy được ban phước chỉ nhờ gặp được Rinpoche, và kinh nghiệm sự giải thoát chân thực khỏi nỗi đau khổ và muộn phiền. Dưới sự dẫn dắt đầy nhiệt tâm của Rinpoche, nhiều người được rót đầy khả năng giác ngộ và hạnh phúc.</span></p>
<p><strong>Lama Sherab Dorje – Thanh Liên Việt dịch</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-duc-hungkar-dorje-rinpcohe/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
