<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Longchen Ningthik</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-khac/longchen-ningthik/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Fri, 17 Apr 2026 16:09:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Tiểu sử vắn tắt Đức Pema Kunzang Rangdrol (1916 &#8211; 1984)</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/longchen-ningthik-nyingma/tieu-su-van-tat-duc-pema-kunzang-rangdrol-1916-1984/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/longchen-ningthik-nyingma/tieu-su-van-tat-duc-pema-kunzang-rangdrol-1916-1984/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 30 Jun 2021 08:04:45 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Longchen Ningthik]]></category>
		<category><![CDATA[Longchen Ningthik Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Ningthik]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=10208</guid>
		<description><![CDATA[Kharlek Tulku Pema Kunzang Rangdrol tôn quý sinh năm Hỏa Thìn của chu kỳ lịch thứ mười lăm trong gia đình Gartsang ở nơi được gọi là Kamtok Geda thuộc Hạt Jomda trong thung lũng Drichu hoàng kim bên bờ dòng sông êm đềm chảy. Khoảng bốn hay năm tuổi, Ngài được công nhận là vị Tulku của Kharlek Khenpo Pema và được thỉnh mời về ẩn thất tại Kharlek. Với&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/longchen-ningthik-nyingma/tieu-su-van-tat-duc-pema-kunzang-rangdrol-1916-1984/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><b>Kharlek Tulku Pema Kunzang Rangdrol</b> tôn quý sinh năm Hỏa Thìn của chu kỳ lịch thứ mười lăm trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span> Gartsang ở nơi được gọi là Kamtok Geda thuộc Hạt Jomda trong thung lũng Drichu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàng kim</span> bên bờ dòng sông <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">êm đềm</span> chảy. Khoảng bốn hay năm tuổi, Ngài được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công nhận</span> là vị Tulku của Kharlek Khenpo Pema và được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh mời</span> về ẩn thất tại Kharlek. Với Langshing Lama Pema là thầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo thọ</span>, Ngài học đọc và viết, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> y học và chiêm tinh. Sau đấy, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong khoảng</span> mười một năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp theo</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du hành</span> đến Dzogchen Sri Simha, Tsering Jong, động <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Yamantaka và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nơi khác</span>. Ngài cũng viếng thăm ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> – Dorje Drak, Mindroling và Palri, cũng như Kathok, Palyul, Shechen, Palpung, Dzongsar, Muksang và những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nơi khác</span>. Ngài ngồi dưới chân <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> Minling Chung Rinpoche Ngawang Chodrak, Dzongsar Khyentse Rinpoche Jamyang Chokyi Lodro<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftn2">[2]</a>, Dzogchen Khenpo Abu Lhagang<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftn3">[3]</a>, Shechen Kongtrul Pema Drime Lekpe Lodro, Kathok Khenpo Lekshe Jorden, Khenpo Nuden, Dzogchen Khenpo Yonten Gonpo và Pema Tsewang. Như thế, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> tất cả bản văn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> của Kinh, Mật và các ngành khoa học và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô cùng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Bên cạnh đó, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích cực</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm kiếm</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> và trao truyền và như vậy, thọ nhận những trao truyền còn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tồn tại</span> cho Lời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đức Phật</span> (<b>Kangyur</b>) <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quý báu</span> và Các Bộ Luận Được Dịch (<b>Tengyur</b>), cũng như Nyingma Kama, Kho Tàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phát Lộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quý Báu</span> (Rinchen Terdzod), Kho Tàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chỉ Dẫn</span> Từ Tám Cỗ Xe <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Truyền Thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thực Hành</span> (Damngak Dzod) và các tuyển tập trước tác của chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span>, chẳng hạn, quan trọng hơn cả là cha và con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn tri</span><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftn4">[4]</a>, Đức Rongzom, cha và con Minling<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftn5">[5]</a>, Đức Dalai Lama thứ năm, Jonang Taranatha<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftn6">[6]</a>, Đức Khyentse và Kongtrul, Ju Mipham<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftn7">[7]</a> và Patrul Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftn8">[8]</a>. Thực sự, không có trao truyền còn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tồn tại</span> nào mà Ngài không thọ nhận. Bởi ghi chép về những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> mà Ngài thọ nhận (<i>gsan yig</i>) là một quyển lớn khoảng bốn trăm trang, về sau, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sở hữu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và trao truyền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dồi dào</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô song</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Trên tất thảy, Ngài theo chân Đức Adzom Gyalse Gyurme Dorje<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftn9">[9]</a> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị đạo</span> sư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phi phàm</span> của Ngài và thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chín muồi</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> từ vị này, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> Mười Bảy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Điển</span> Dzogchen và Bốn Phần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tâm Yếu</span> (Nyingtik Yabshi), điều sau đấy được Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">áp dụng</span> vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác tính</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> (Rigpa), <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt đến đỉnh</span> cao của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mở rộng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> của Ngài không chút <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành kiến</span>. Ngài đã ban các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> về những tuyển tập như Kho Tàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chỉ Dẫn</span> (Damngak Dzod) cho chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> vĩ đại như Minling Khenchen, Chung Rinpoche và Dordrak Rigdzin Chenmo.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài cũng giúp đỡ tài trợ mái vàng trên chùa chính tại [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span>] Mindrolling và in ấn các bản văn như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luận giải</span> đại mật của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Sư</span> về Yangdak, tuyển tập <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">huyễn hóa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vi tế</span> (<i>sgyu ‘phrul phra mo</i>), <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luận giải</span> của Ngài Nub về Tập <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hội Ý</span> Định Kinh (Dupa Do<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftn10">[10]</a>) và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luận giải</span> thêm được biết đến là Ánh Bình Minh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Rực Rỡ</span> (<i>gzi ldan ‘char kha’i ‘od snang</i>)<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftn11">[11]</a>, cũng như các tuyển tập trước tác của anh em Mindrolling và Đức Rongzom.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuối cùng</span> được các học trò <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngôn ngữ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> ở Derge, Tỉnh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tứ Xuyên</span> [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span>], mời đến Dzogchen Sri Simha, nơi Ngài được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bổ nhiệm</span> là một vị thầy cho tất cả học trò. Ngài đã ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cam lồ</span> bất tận về điều sâu sắc và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao la</span>, khi Ngài giảng dạy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lịch sử</span> và v.v... theo cách thức <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đáp ứng</span> nhu cầu của những vị mà Ngài dẫn dắt.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cuối cùng</span>, năm sáu mươi chín tuổi<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftn12">[12]</a>, năm Mộc Tý của chu kỳ lịch thứ mười sáu, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span> tại Karma Lhateng.</p>
<p style="text-align: justify;">Các trước tác được tuyển tập của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị đạo</span> sư này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luận giải</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phổ Hiền Hạnh Nguyện</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luận giải</span> về Bài Ca <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tự Nhiên</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Thành</span> Và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sám Hối</span>, một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lịch sử</span> bất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bộ phái</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiểu sử</span> của Đức Gyalse Gyurme Dorje.</p>
<p><strong><b>Alak Zenkar Rinpoche</b></strong> <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a33793/3/tieu-su-alak-zenkar-rinpoche.">[1]</a></p>
<p><em>Tupten Nyima soạn với lòng sùng mộ.</em></p>
<p><i></i><em><i>Anh dịch: Adam Pearcey </i></em></p>
<p><em><i>Việt dịch: Pema Jyana </i></em></p>
<p><em><i>Nguồn: <a href="https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/alak-zenkar/brief-pema-kunzang-rangdrol-biography">Brief Biography of Pema Kunzang Rangdrol (1916–1984)</a></i></em></p>
<hr />
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftnref1">[1]</a> Về Alak Zenkar Rinpoche, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a33793/3/tieu-su-alak-zenkar-rinpoche">https://thuvienhoasen.org/p38a33793/3/tieu-su-alak-zenkar-rinpoche</a>.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftnref2">[2]</a> Về Đức Jamyang Khyentse Chokyi Lodro, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a34025/3/huyen-hoa-du-hi">https://thuvienhoasen.org/p38a34025/3/huyen-hoa-du-hi</a>.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftnref3">[3]</a> Về Dzogchen Khenpo Abu Lhagang, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a34840/2/tieu-su-dzogchen-khenchen-abu-lhagang-1879-1955-">https://thuvienhoasen.org/p38a34840/2/tieu-su-dzogchen-khenchen-abu-lhagang-1879-1955-</a>.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftnref4">[4]</a> Tức <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn giả</span> Longchen Rabjam và Jigme Lingpa.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftnref5">[5]</a> Tức Đức Minling Terchen Gyurme Dorje và em trai Lochen Dharmashri.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftnref6">[6]</a> Về Đức Taranatha, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/a34929/tieu-su-van-tat-ton-gia-taranatha">https://thuvienhoasen.org/a34929/tieu-su-van-tat-ton-gia-taranatha</a>.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftnref7">[7]</a> Về Đức Ju Mipham, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/a32261/tieu-su-duc-mipham-jamyang-namgyal-gyatso-1846-1912-">https://thuvienhoasen.org/a32261/tieu-su-duc-mipham-jamyang-namgyal-gyatso-1846-1912-</a>.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftnref8">[8]</a> Về Patrul Rinpoche, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/a26125/tieu-su-van-tat-dai-su-dza-patrul-rinpoche-1808-1887-">https://thuvienhoasen.org/a26125/tieu-su-van-tat-dai-su-dza-patrul-rinpoche-1808-1887-</a>.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftnref9">[9]</a> Về Đức Adzom Gyalse, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/a35696/tieu-su-van-tat-duc-gyalse-gyurme-dorje-1895-">https://thuvienhoasen.org/a35696/tieu-su-van-tat-duc-gyalse-gyurme-dorje-1895-</a>.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftnref10">[10]</a> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Luận giải</span> được gọi là Áo Giáp Chống Tăm Tối (mun pa’i go cha).</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftnref11">[11]</a> Do Khenpo Nuden soạn.</em></p>
</div>
<div>
<p style="text-align: justify;"><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/AZR.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20%C4%90%E1%BB%A8C%20PEMA%20KUNZANG%20RANGDROL.docx#_ftnref12">[12]</a> Theo cách tính của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>; sáu mươi tám theo những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> tính tuổi khác.</em></p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/longchen-ningthik-nyingma/tieu-su-van-tat-duc-pema-kunzang-rangdrol-1916-1984/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Trận mưa và những sự ban phước</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tsik-dun-ladrup-tran-mua-va-nhung-su-ban-phuoc/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tsik-dun-ladrup-tran-mua-va-nhung-su-ban-phuoc/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 17 Oct 2019 01:08:05 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Ningthik]]></category>
		<category><![CDATA[Longchen Ningthik]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=9540</guid>
		<description><![CDATA[Khi Guru Rinpoche ở Viện Lam ngọc tại Samye, Namkhai Nyingpo, Trisong Detsen và Landro Lotsa cầu thỉnh một sadhana nhấn mạnh tới thực hành Guru Yoga dẫn tới sự thiền định về Đại Viên mãn. Sau đó Guru Rinpoche tự biến hoá thành Hayagriva, ban nhập môn mạn đà la Sangwa Nyingtig, “Tâm Yếu Bí mật”. Sau đó, một&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tsik-dun-ladrup-tran-mua-va-nhung-su-ban-phuoc/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi Guru Rinpoche ở Viện Lam ngọc tại Samye, Namkhai Nyingpo, Trisong Detsen và Landro Lotsa cầu thỉnh một sadhana nhấn mạnh tới thực hành Guru Yoga dẫn tới sự thiền định về Đại Viên mãn. Sau đó Guru Rinpoche tự biến hoá thành Hayagriva, ban nhập môn mạn đà la Sangwa Nyingtig, “Tâm Yếu Bí mật”. Sau đó, một lần nữa, Guru Rinpoche hiển lộ trong thân tướng của Tám Phương diện Chính yếu bản lễ nhập môn tuyệt đối.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Về sau này, theo những chỉ dạy và tiên tri của Guru Rinpoche, Namkhai Nyingpo và Yeshe Tsogyel diễn đạt những giáo lý này thành terma.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi Longchen Yeshe Dorje, Kangyur Rinpoche, lên bảy tuổi, Vị Bảo vệ Terma, vị nữ bảo vệ kho tàng, đã trao cho ngài một hộp nhỏ khảm ngọc chứa Terma Sangwa Nyingtig. Khi ngài mười một tuổi, sau khi thiền định trong một hang động, ngài có một linh kiến và đi tới Cõi Phật Sangdopelri (Núi Huy Hoàng Màu Đồng Đỏ), ở đó một lần nữa ngài thọ nhận từ Guru Rinpoche toàn bộ giáo lý Sangwa Nyingtig.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau này, khi ngài khoảng ba mươi tuổi, Kangyur Rinpoche đi tới hồ Tso Pema ở Ấn Độ và sống ba tuần trong một hang động. Mỗi ngày ngài nhìn thấy Guru Rinpoche trên mặt hồ, trên một hoa sen, được một nhóm Dakini vây quanh, và Guru Rinpoche lại nhắc nhở ngài về giáo lý Sangwa Nyingtig. Vào lúc này một ni cô, người có lòng tin lớn lao nơi ngài, có một biểu hiện trong giấc mơ bảo cô thỉnh cầu một sadhana của Guru Rinpoche trong thân tướng Guru Dewachenpo, Đạo sư Cực Lạc. Theo thỉnh cầu đã được thực hiện với lòng sùng mộ to lớn này, Kangyur Rinpoche đã chuyển sadhana này thành bản văn, nó tạo thành một phần của Sangwa Nyingtig.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Lời Cầu nguyện Dòng Truyền thừa</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Emaho Kada mishi choku ontaye</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Emaho. Trước Pháp Thân vĩnh cửu, thuần tịnh nguyên thuỷ, Vô Lượng Quang,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Solwa depso chi nang parché sol</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Con khẩn cầu, xin xua tan những chướng ngại ngoài và trong.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Chinkyi lopshik maha guru jé</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vị Thầy và Đạo Sư vĩ đại, xin ban phước cho con, </span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Chotun ngodrup gekmé drup dzé sol</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cầu mong con đạt được những thành tựu siêu việt và thông thường không chút chướng ngại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Longcho dzok ku pakcho nyingjé ter</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trước Báo Thân, Kho tàng Bi mẫn siêu phàm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Solwa depso chi nang parché sol</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Con khẩn cầu, xin xua tan những chướng ngại ngoài và trong.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Chinkyi lopshik maha guru jé</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vị Thầy và Đạo Sư vĩ đại, xin ban phước cho con, </span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Chotun ngodrup gekmé drup dzé sol</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cầu mong con đạt được những thành tựu siêu việt và thông thường mà không chướng ngại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Kangdul trulku pema sambawar</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trước Hóa Thân Liên Hoa Sanh, bậc làm lợi lạc tùy theo nhu cầu,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Solwa depso chi nang parché sol</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Con khẩn cầu, xin xua tan những chướng ngại ngoài và trong.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Chinkyi lopshik maha guru jé</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vị Thầy và Đạo Sư vĩ đại, xin ban phước cho con, </span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Chotun ngodrup gekmé drup dzé sol</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cầu mong con đạt được những thành tựu siêu việt và thông thường mà không chướng ngại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Tuksé jé bang trinchen lama jé</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trước những trưởng tử tâm yếu, đức vua cùng các thần dân, và Vị Thầy và Đạo Sư độ lượng</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Solwa depso chi nang parché sol</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Con khẩn cầu, xin xua tan những chướng ngại ngoài và trong.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Chinkyi lopshik maha guru jé</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vị Thầy và Đạo Sư vĩ đại, xin ban phước cho con, </span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Chotun ngodrup gekmé drup dzé sol</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cầu mong con đạt được những thành tựu siêu việt và thông thường mà không chướng ngại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Détar solwa tappé chinlap kyi</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nhờ lời cầu nguyện này, cầu mong con được ban phước</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Rindzin namshi gompang déla dro</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Để dễ dàng vượt qua bốn cấp bậc Vidyadhara (Trì Minh Vương);</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Kada domé gongpa ngon gyur né</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau khi chứng ngộ tâm trí tuệ nguyên sơ, sự thuần tịnh nguyên thuỷ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Tayé dro kun trulpé drenpar shok</b></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Cầu mong con hiển lộ để dẫn dắt toàn thể vô lượng chúng sinh.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Bởi Wakendra Dharma Tara liên tục thỉnh cầu một bài cầu nguyện dòng truyền Sadhana Đạo Sư Bảy Dòng, và bây giờ Punya Ratna và những thiền giả vĩ đại khác cần có nó để thực hành, nên Vajra Jnana soạn bài nguyện này tại Nojin Kangkyi Rawa.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Shubam. </span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Sadhana</b></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Nam mô Guru Padma Karaye</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Đạo Sư vĩ đại Pema Dewachenpo (Liên Hoa Cực Lạc) là hiện thân của Ba Gốc; nơi Ngài tích tụ ân phước của ba điều mật nhiệm của tất cả chư Phật khắp mười phương và mọi thời. Để thực hành sadhana của Ngài, hãy thiết lập một hình ảnh thiêng liêng của Đạo Sư hay bất kỳ hình vẽ hay pho tượng thích hợp nào khác. Trước mặt hình tượng đó hãy sắp xếp những món mà bạn sẽ cần tới – amrita, rakta và torma, những vật cúng dường ngoài, trong và bí mật, những vật cúng dường tsok, và v.v...</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Bây giờ hãy tụng sadhana trong khi thiền định về ý nghĩa của nó.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Quy y:</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Namo Lama déshek dupé ku</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nam mô Đạo Sư, hiện thân của tất cả các Đấng Thiện Thệ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Konchock sum kyi rangshin la</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bản tính của Tam Bảo,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Da tang dro druk semchen nam</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nơi Ngài con và tất cả chúng sinh trong sáu cõi</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Go sum kupé kyap su chi</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Quy y với lòng sùng mộ phát xuất từ ba cửa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Nuôi dưỡng Bồ Đề Tâm:</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ho Semkye drowa kun ton tu</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ôi. Vì lợi ích của chúng sinh, con phát triển tâm giác ngộ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Lama sangyé drup né ni</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Để thành tựu Đạo sư giác ngộ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Kang la kang dul trinlé kyi</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và bằng hoạt động giác ngộ làm lợi lạc phù hợp với nhu cầu,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Dro ton chépar semkyé to</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Con thành tựu tâm giác ngộ để hoàn thành điều tốt lành của chúng sinh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Sau khi đọc những câu này ba lần, hãy tiếp tục:</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ah Nangsi doné kada dang</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ah. Mọi sự hiện hữu là vẻ chói lọi của sự thuần tịnh nguyên sơ từ vô thuỷ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Rang nang yéshé takpé shing</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những tri giác của riêng ta là một cõi Phật trí tuệ thuần tịnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Kacho omin trongkyer u</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nơi trung tâm của thành phố tuyệt vời, cõi “Vô Thượng”,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Rangrik dorjé neljorma</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Giác tính của riêng ta an trụ như Vajra Yogini.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Marsel pema raké dang</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sắc Bà đỏ chói lọi, màu của một viên hồng ngọc,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Shel chik chanyi tri to dzin</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với một mặt và hai bàn tay, cầm một lưỡi dao cong và chén sọ người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Shabnyi kyang kum kar tap kyi</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một chân duỗi, chân kia gập lại, trong tư thế nhảy múa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Pényi pamroi teng tu gying</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bà đứng uy nghiêm trên một hoa sen, mặt trời và tử thi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Shi chak kar kyi nyamgyé gek</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Say đắm trong một trăm động tác nhảy múa, an bình và đồng thời đầy nhục cảm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Tartang rinchen rupé gyen</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được tô điểm bằng lụa là, châu báu và những vật trang sức bằng xương,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Trumor tap den katwanga</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với katwanga phương tiện thiện xảo trong khuỷu tay.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Jazer tiklé trukpé long</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong sự trải rộng lờ mờ của các vòng tròn và những tia sáng cầu vồng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Seltong yé dzok chenpor sel</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bà được quán tưởng rõ ràng và trống không, hoàn toàn viên mãn từ vô thuỷ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Chiwo pema nyi dé teng</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trên đỉnh đầu Bà – hay trong không gian trước mặt – trên một tòa sen, mặt trời và mặt trăng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Gyel kun chipel dupé zuk</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong hiện thân vinh quang của tất cả các Đấng Chiến Thắng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Maha guru dewaché</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đạo Sư vĩ đại Dewache,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Karmar dang den shi shing dzum</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sắc trắng, hơi nhuốm đỏ, mỉm cười an bình,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Tekgui ché dzok ur penshwa</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mặc tất cả những chiếc y của chín thừa, đầu đội mũ Học giả.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Chanyi nyamshak dékyong ki</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong hai bàn tay, duy trì sự Đại Lạc trong ấn Buông Xả,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Dutsi toshel éwam tson</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài cầm một tách sọ người chứa đầy cam lồ, biểu tượng của Eh Wam (Như Thị).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Kulé ozer tro du yi</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nhờ sự phóng ra và thâu rút lại những tia sáng từ thân Ngài</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Gyel kun shingkam ramjam tang</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tất cả các Đấng Chiến Thắng và vô vàn cõi Phật,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Tsasum chokyong tro du gyé</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ba Gốc và những Hộ Pháp được hóa hiện, tụ hội và tái hiện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Né sum dru sum ozer kyi</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ba chữ trong ba vị trí của Ngài phát ra những tia sáng:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ramjam shingkam gyamtso tang</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ đại dương của vô vàn cõi Phật</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngayap takpé shingkam né</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và từ Cõi Tịnh độ Ngayab (Núi Huy Hoàng Màu Đồng Đỏ)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Séché gyelwé tukjé tsel</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự phô diễn của lòng bi mẫn của chư Phật và Bồ Tát,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Gurui sang sum chakgyar sé</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những biểu tượng của ba điều mật nhiệm của Đạo Sư được đánh thức;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Char tar pabné nyimé tim</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trút xuống như mưa, chúng tan hoà bất khả phân vào hành giả.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Hung Omin ramjam takpé shing</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hung. Từ cõi “Vô Thượng” và vô vàn cõi tịnh độ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngayab zangdo pelri né</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và từ Núi Huy Hoàng Màu Đồng Đỏ Ngayab,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Rindzin maha guru jé</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ôi Đức Trì Minh Vương, Vị Thầy và Đạo Sư Vĩ đại,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Déwa chenpo ying né sheng</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cực Lạc, xuất hiện từ Pháp Giới tuyệt đối.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Chi nang dungel kun shi shing</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Xin làm an dịu mọi đau khổ ngoài và trong,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Cho tun ngodrup kun tsol wé</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và ban tặng mọi thành tựu siêu việt và thông thường.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Guru tsokor trul tsok ché</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đức Đạo Sư, với đoàn tuỳ tùng và tập hội các Hóa Thân,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Né dir chendren shek su sol</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bởi con thỉnh cầu Ngài quang lâm nơi này, xin hãy tới!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>O Ah Hung Vajra Guru Padma Sambhava Sarwa Siddhi Phala Hung</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Vajra Samaya Dza</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Tishthalen</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Atipuho Pratitsha Ho</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Om Vajra Argham Padam Pushpe Dupe Aloke Gandhe Nivende Shapta</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Rupa Shapta Gandhe Rasa Sparsha Pratitsha Svaha</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Maha Pentsa Amrita Rakta Balingta</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Maha Sukkha Sarva Jnana Dharmadhatu Atman Kohan</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Hri Macho kada cho kyi ku</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hri. Pháp Thân, sự thuần tịnh nguyên thuỷ không bị tạo tác,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Mangak rang dang longcho dzok</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Báo Thân, tự chói lọi và không bị chướng ngại,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Mingyur tukjé trulpé ku</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hóa Thân, lòng bi mẫn bất biến – </span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Kusum déwa chenpor to</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Con tán thán Cực Lạc, Ba Thân.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Kế tiếp, với một thái độ hoàn toàn tin tưởng, hãy cầu nguyện bằng một giọng khát khao và nhất tâm vào những điểm cốt yếu của sự quán tưởng:</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Hung Orgyen yul kyi nub chang tsam</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hung. Sinh ở miền tây bắc xứ Uddiyana</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Pema késa dongpo la</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nơi nhuỵ của một cọng hoa sen,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Yamtsen chok ki ngodrup nyé</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Kỳ diệu thay, Ngài đã đạt được những thành tựu siêu việt</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Pema jungné shé su tra</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài lừng danh là Đức Liên Hoa Sanh,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Kor du khandro mangpo kor</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được đoàn tuỳ tùng nhiều dakini vây quanh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Kyé kyi jésu da drup kyi</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Noi gương Ngài, con sẽ hoàn thiện bản thân – </span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Chin kyi lob chir shek su sol</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Con khẩn cầu Ngài hãy tới ban những ân phước.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Guru Padma Siddhi Hung</b></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Hãy tích tập thật nhiều lời cầu nguyện này. Nếu hành giả thực hiện được một trăm ngàn lần thì chắc chắn người ấy sẽ đạt được thành tựu đầy hứa hẹn.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Vào cuối thời khoá hãy đọc bài nguyện tụng thông thường:</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Om Ah Hung Vajra Padma Thothrengtsal Vajra Samaya Dza Siddhi Phala Hung Ah</b></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Sau đó tụng thần chú: </span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Om Ah Hung Vajra Guru Padma Siddhi Hung</b></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Về những lợi ích và phẩm tính của việc trì tụng này, ta được cho biết rằng:</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">“Như sự thành tựu, nếu hành giả trì tụng thần chú một triệu lần, hành giả sẽ được sinh vào cõi của các Trì Minh Vương”; và: “nếu tụng 700.000 lần ngay hành giả sẽ gặp Đức Pema Jungne trong đời này”; cũng có nói: “thần chú này là cốt tủy của mười hai nhánh Phật Pháp. Công đức của việc biên chép, tụng đọc, trì giữ, và giảng dạy cùng truyền bá nó sẽ xua tan những sợ hãi, đau khổ và chướng ngại trong đời này; và trong đời sau hành giả sẽ chuyển di tới Núi Huy Hoàng, cùng với tập hội các Trì Minh Vương. Samaya”.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">“Bởi lẽ đó, tôi yêu cầu quý vị, hãy thực hành tinh tấn!”</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Tsasum lhatsok chendren shek</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những Bổn Tôn của ba gốc, đáp lại lời kêu cầu của con, xin hãy đến!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Chinang sangcho gyeshe la</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Xin vui thích những vật cúng dường trong, ngoài và bí mật này, </span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Kusung thugyon trinle’i to</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Con tán thán Thân, Khẩu, Ý, những Phẩm tính và Hoạt động của các ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Tamkong choktun ngodrup sol</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Xin chỉnh sửa samaya của con và ban cho những thành tựu siêu việt và thông thường.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Maha pentsa amrita rakta balingta kahi</b></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Tuy vậy trong thực hành hàng ngày hành giả có thể bắt đầu từ đây bằng việc nhận bốn quán đảnh (xem phía dưới).</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Vào những ngày tốt lành, nếu hành giả ước muốn thực hiện cúng dường tsok, thì cùng những sự cúng dường nội, hành giả nên rải lượng phẩm vật samaya phương tiện và trí tuệ được tích tập: </span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ram Yam Kham Om Ah Hung</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Chino jikten torshong tu</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trên đĩa torma, bình chứa bên ngoài, Vũ trụ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Sichu yong drup tsok dzé sham</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được sắp xếp những nội dung, Sự Hiện hữu, những phẩm vật hoàn hảo của lễ cúng dường tsok.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Nyidzin rétok kun sel té</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mọi sự bám chấp nhị nguyên, hy vọng và sợ hãi bị xua tan</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Kada yéshé dutsir gyur</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và nó trở thành chất cam lồ trí tuệ thuần tịnh tự nguyên thuỷ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Tamtsik namdak gyé cho di</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự cúng dường hỉ lạc samaya thuần tịnh viên mãn này</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Tsasum kundu pema jung</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được dâng lên Đức Pema Jungne, sự hợp nhất của Ba Gốc,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ramjam kyilkor lha la bul</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và dâng lên các Bổn Tôn của những mạn đà la vô tận.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Chotun ngodrup tsel tu sol</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Con khẩn cầu Ngài ban những thành tựu siêu việt và thông thường.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Guru Deva Dakini Sarva Ganacakra Puja Khahi</b></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Tiếp đến là sự Cúng dường.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Kế đó là sự hoàn thành samaya:</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Hri Gyel kun chizuk pema jung</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hri Pema Jungne, hiện thân của tất cả các Đấng Chiến Thắng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Guru déwa chenpoi tsok</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đạo Sư Cực Lạc và quyến thuộc của Ngài,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Chi nang sangwé chotrin kyi</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với đám mây cúng dường ngoài, trong và bí mật này,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Tukdam chokyi ying su kang</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Samaya Tâm được hoàn thành trong Pháp Giới Tuyệt đối.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Lap sum nyé tung tra rak nam</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mọi lỗi lầm và sa sút liên quan tới Ba Tu tập, dù to lớn hay vi tế,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Kada chonyi long tu shak</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Con sám hối trong phạm vi của thực tại tuyệt đối thuần tịnh tự nguyên thuỷ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Drip drel chotun ngo drup tsol</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thoát khỏi những che chướng, xin ban cho con những thành tựu siêu việt và thông thường.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Wong shi da gyu chin kyi lop</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Xin ban phước cho dòng tâm thức của con với bốn quán đảnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Sarva Samaya Shuddhe Ah </b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Bài Nguyện Cúng dường Tsok Ngắn gọn </b><b>cho Sadhana Đạo Sư Bảy Dòng</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ram Yam Kham Om Ah Hung</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Tsasum kundu lamé lha tsok shek</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những Bổn Tôn của mạn đà la của Đạo Sư, hiện thân cho Ba Gốc, xin đến đây.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Chinang sangwé tsok bul nyamchak shak</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Con thực hiện những lễ cúng dường tsok ngoài, trong và bí mật, và sám hối mọi sự vi phạm samaya.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Nyi dzin ying drol kayi pambap shé</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cầu mong sự bám chấp nhị nguyên được giải thoát trong Pháp Giới Tuyệt đối. Xin chấp nhận phần của quý vị theo nghi lễ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cho tang tunmong dogui ngodrup tsol</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Xin ban những thành tựu siêu việt và thông thường đáp ứng điều mong ước của chúng con.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Om Vajrasattva Ah</b></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Theo thỉnh cầu của Dakini Champa Chokyi, vị trì giữ giáo lý bí mật, Mangala Shri Bhuti, một đệ tử của Đạo sư, đã biên soạn bài nguyện này khi ngài đang thực hiện một trăm ngàn lễ cúng dường tsok của Ranjung Pema’i Nyingtik.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Cầu mong nó trở thành âm nhạc để làm vui lòng Ba Gốc.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Bài Nguyện Cúng dường Tsok Ngắn gọn của </b><b>dòng Longchen Nyingtik</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ram Yam Kham Om Ah Hung</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Tsok dzé doyon yeshé rolpa’i gyen</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những thành phần đáng ao ước của ganachakra là những vật trang sức của sự phô diễn trí tuệ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Tsok jé tsok dak rigzin la ma dang</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Pháp Vương và các Đạo sư của tập hội, những bậc trì giữ giác tánh, </span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Den sum kyilkhor ne yul nyershi’i dak</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Các mạn đà la của Ba Ngai Tòa, các Đạo sư của hai mươi bốn thánh địa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Pawo kandro tamchen chokyong nam</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Các Daka, Dakini, và những Hộ Pháp kết chặt lời thệ nguyện,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Dir shek longcho tsok kyi cho pa bul</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Xin hãy tới! Con kính dâng quý ngài những vật cúng dường tráng lệ này,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Galtrul nong dang tamtsik nyamchak shak</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và sám hối mọi sự vi phạm, lỗi lầm và khiếm khuyết, cùng những việc làm hư hỏng samaya của con.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Chi nang barché cho kyi yingsu drol</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Xin giải thoát mọi chướng ngại bên trong và bên ngoài trong Pháp Giới tuyệt đối.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Lhak tor shela trinlé druppar dzo</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Xin chấp nhận torma còn lại và thực hiện hoạt động của quý ngài. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Guru dewa dakini ganachakra puja utsitta balingta kahi</b></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Hãy cúng dường phần đầu của tsok theo cách này, sau đó dâng lên và chấp nhận phần giữa với những điệu bộ và vui hưởng nó như thực hành bên trong của việc thiêu đốt và trút đổ.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Sau khi thâu thập phần còn lại:</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Hring Pem Nangsi kada trodrel dang</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hring Pem. Bản tính của mọi sự hiện hữu thì thuần tịnh tự nguyên thuỷ, thoát khỏi sự hoạt động.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Tap la rolpé tso tang kor</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chúa Công và đoàn tuỳ tùng của ngài, những vị hỉ lạc trong phương tiện thiện xảo,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Madun singshi lha tsok nam</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tất cả các ngài, tập hội các Bổn Tôn của Bảy Bà Mẹ và Bốn Chị Em,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Lhaktor di shé trinlé drup</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Xin chấp nhận torma còn dư này và thực hiện những hoạt động siêu việt của các ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Utsita Bhakka Khahi</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Sự Cúng dường Chetho (Nhắc lại Lời Hứa nguyện):</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Hung Jyo Pomé kada du kyi tsé</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hung Bhyo. Từ thời điểm của sự thuần tịnh nguyên sơ bất biến</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Rangrik domé rang dang kyi</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Các ngài, tập hội bao la những vị thị giả là sự tự-chói lọi của sự tự-tỉnh giác nguyên thuỷ</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Kor tsok gyamtsoi tatsik lé</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi đã thực hiện những hứa nguyện của các ngài:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Drup chir torma bul kyi shé</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Xin chấp nhận sự cúng dường torma này để thực hiện những hoạt động của các ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Samaya Rakyentu</b></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Torma cho các Tenma:</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Jyo Ngon tsé pemé chen nga ru</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bhyo. Vào thời xa xưa, trước sự hiện diện của Đức Pema (Liên Hoa Sanh), </span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Shel shé po yul ten kyong té</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Các ngài đã hứa bảo vệ Giáo lý của Tây Tạng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Shel chui chotor di shé la</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Xin chấp nhận sự cúng dường nước rửa này</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Tatsik shintu trinlé drup</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và thực hiện những hoạt động siêu việt phù hợp với hứa nguyện của các ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Samaya Ho</b></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Kế tiếp, để nhận lĩnh quán đảnh, trước hết hãy cầu nguyện với lòng khao khát mãnh liệt:</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Kyé kyé jetsun lama</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ôi Vị Thầy nhân từ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Nyikdu drowé kyap chik</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nơi nương tựa duy nhất của chúng sinh trong những thời đại suy hoại này,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Da sok tarpé lamken</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người dẫn dắt của chúng con trên con đường giải thoát,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Trinchen lama kyen no</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vị Thầy tốt lành, ngài thấu suốt mọi sự! </span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Lập đi lập lại lời cầu nguyện này, sau đó: </span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Guru kandroi tsok ché kyi</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ôi Đạo Sư, cùng với tập hội các dakini,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Dacha mopé pu nam la</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đối với tất cả chúng con, những đứa con sùng mộ</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Lu la ku yi chin kyi lop</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Xin ban cho thân chúng con Thân của ngài</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Nga la sung kyi chin kyi lop</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Xin ban cho ngữ của chúng con Ngữ của ngài</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Yi la tuk kyi chin kyi lop</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Xin ban cho tâm của con Tâm của ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Wong shi kur la chin kyi lop</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Xin ban cho chúng con sự ban tặng Bốn Quán đảnh,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Gyu shi takpar chin kyi lop</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Xin ban phước để chúng con có thể tịnh hóa bốn dòng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Lam shi jongwar chin kyi lop</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Xin ban phước để chúng con có thể thành tựu trong Bốn Con Đường.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ku shi tobpar dzé tu sol</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nhờ lời cầu nguyện này cầu mong chúng con đạt được Bốn Thân (Kaya).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Om Ah Hung Vajra Guru Padma Dewa Dakini</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Kaya Siddhi Om</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Waka Siddhi Ah</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Chitta Siddhi Hung</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Sarwa Siddhi Hri</b></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Theo cách này hãy nhận Bốn Quán đảnh.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Tsasum lha tsok orgyen lama tim</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tập hội những Bổn Tôn của Ba Gốc tan hoà vào Đạo Sư xứ Uddiyana,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Orgyen lama o shu rang tang dré</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài tan thành ánh sáng và hòa lẫn vào bản thân hành giả.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Rangrik macho sel tong ngang tu shak</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Giác tính của hành giả an trụ trong trạng thái không tạo tác của sự quang minh và tinh Không,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Lodé jomé choku déwa ché</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cực Lạc, Pháp Thân không thể nghĩ bàn, không thể diễn tả.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Bây giờ, hãy an trụ trong trạng thái không tạo tác.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Nang trak tok tsok rang nang takpé shing</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những hình tướng, âm thanh và tư tưởng là lĩnh vực của sự thuần tịnh tự hiển lộ</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Kusum lamé rang dang emaho</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đây là sự tự chói sáng của ba Thân của Đạo Sư – kỳ diệu thay!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Theo cách này, hãy tiếp tục trên Con Đường.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Sau đó hồi hướng công đức và ước nguyện:</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Géwa di yi nyur tu dak</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nhờ công đức của việc tu tập này</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Orgyen lama drup gyur né</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cầu mong con nhanh chóng thành tựu Đạo Sư xứ Uddiyana,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Drowa chik kyang malupa</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cầu mong tất cả chúng sinh không loại trừ ai</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Kyé kyi gongpang nyur top shok</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nhanh chóng đạt được cấp độ của Ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Hri Gyusum lamé chinlap ka ying kyil</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hri. Những sự ban phước của các Đạo sư của ba dòng truyền thừa đầy ngập bầu trời, trùm khắp không gian,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Yidam kandro chonyi rang dang sé</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những Yidam (Bổn Tôn) và Dakini đánh thức sự tự chói sáng của thực tại tuyệt đối,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Cho kyong sungmé chi chol lé drup té</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những vị Bảo Trợ và Hộ Pháp thực hiện niềm tin của họ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Tsé chik dzok sangyépé tashi shok</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cầu mong tất cả được tốt lành để thành tựu Phật Quả viên mãn ngay trong đời này!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Khi tụng bài nguyện này, từ bầu trời trút xuống một trận mưa hoa.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Nghĩ rằng lời khẩn cầu của Tỳ khưu ni Bhadra, một ni cô xứ Kunu, là một dấu hiệu tốt lành, Longchen Yeshe Dorje, một hành giả xứ Dokham, đã viết bài nguyện này thành văn bản. Nhờ sự tu tập này cầu mong ánh sáng của đức hạnh và điều tuyệt hảo tràn ngập tới tận cùng thế giới.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;">Shubhamastu Sarva Jatakam</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Kangyur Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Thanh Liên</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <a href="https://www.bing.com/ck/a?!&amp;&amp;p=7e417ad9c44f6a06JmltdHM9MTY4NzQ3ODQwMCZpZ3VpZD0xNjcxY2NhZC0zOWRjLTZmM2EtMmQyMS1kYzBkMzhiYTZlNWImaW5zaWQ9NTIxOQ&amp;ptn=3&amp;hsh=3&amp;fclid=1671ccad-39dc-6f3a-2d21-dc0d38ba6e5b&amp;psq=Tr%e1%ba%adn+m%c6%b0a+v%c3%a0+nh%e1%bb%afng+s%e1%bb%b1+ban+ph%c6%b0%e1%bb%9bc&amp;u=a1aHR0cHM6Ly90aHV2aWVuaG9hc2VuLm9yZy9hODU1MS90cmFuLW11YS12YS1uaHVuZy1zdS1iYW4tcGh1b2M&amp;ntb=1">Trận mưa và những sự ban phước</a></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tsik-dun-ladrup-tran-mua-va-nhung-su-ban-phuoc/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tương duyên</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tuong-duyen/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tuong-duyen/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 22 Jun 2018 10:15:52 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kinh sách Ningthik]]></category>
		<category><![CDATA[Longchen Ningthik]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=8714</guid>
		<description><![CDATA[Từ đỉnh ngọn kiếm thanh xuân thống lĩnh của bất nhị Bùng lên ngọn lửa thiêu tan mọi vọng tưởng nhị nguyên. Nguyện cầu Đức Văn Thù, Bổn tôn đoạn diệt mọi hạnh phúc, khổ đau nhị nguyên đối đãi, Luôn an trụ bất phân ly trong đóa sen nơi trái tim của bạn. Tôi không có những trải nghiệm&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tuong-duyen/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><em>Từ đỉnh ngọn kiếm thanh xuân thống lĩnh của bất nhị<br />
Bùng lên ngọn lửa thiêu tan mọi vọng tưởng nhị nguyên.<br />
Nguyện cầu Đức Văn Thù, Bổn tôn đoạn diệt mọi hạnh phúc, khổ đau nhị nguyên đối đãi,<br />
Luôn an trụ bất phân ly trong đóa sen nơi trái tim của bạn.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Tôi không có những trải nghiệm hoặc phẩm chất gì đặc biệt xét về các cấp độ và các địa (bồ tát). Tuy nhiên, từ khi còn ít tuổi tôi đã thể hiện một khát vọng và thiên hướng mãnh liệt đặc biệt đối với Giáo pháp và có một cơ duyên tuyệt diệu tiếp xúc với Giáo pháp. Ngoài ra, tôi đã được thừa nhận là tulku và vì vậy mà từ nhỏ tôi đã có một tước hiệu khiến mọi người chú ý và có lòng tin nơi tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi đã có dịp kết bạn với một số người Việt sống ở trong và ngoài nước Việt Nam. Họ quý mến tôi và rất tốt với tôi vì thế mà tôi muốn tới Việt Nam để gặp những người bạn đó. Vừa qua, tôi đã có dịp tới Việt Nam và đi một chuyến du lịch cùng với các bạn. Tôi đã thực sự cảm động một cách sâu sắc khi thấy các bạn đã không nề hà khó khăn, trở ngại, không tiếc thời gian và tiền của để đóng góp công sức cho chuyến đi thành công.</p>
<p style="text-align: justify;">Đó là một dịp để tôi làm quen với một số người mới và biết thêm về những người mình đã quen biết. Và bây giờ, nhờ thành tâm, nhờ đối thoại cởi mở mà chúng ta đã biết và hiểu nhau như những đạo hữu và như những người bạn đồng hành. Câu chuyện về chuyến hành trình tới một đất nước giống như một chuỗi những hạt vàng trong một tràng hạt, và chiêm nghiệm những trải nghiệm đó cũng giống như nhìn vào một tấm gương bằng pha lê. Mỗi chặng của cuộc hành trình đều có một thứ gì đó để ta học hỏi; ta có thêm được những cảm nhận mới, cách nhìn mới về đạo lộ phải đi, và có thêm được lòng tin vào sự cần thiết phải có một trí tuệ rộng mở.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi tin rằng trong chuyến hành trình xuyên đất nước vừa qua tất cả mọi người đều học được một điều gì đó mới mẻ và mở rộng tầm hiểu biết của mình. Không những thế, chúng ta còn có dịp nhìn sâu hơn vào tâm thức mình để xem lòng tin của mình mạnh mẽ tới đâu, tâm của mình vững vàng tới đâu, và trái tim mình trong sáng tới mức nào.</p>
<p style="text-align: justify;">Có câu nói rằng nếu ta không có đức tin vững chắc vào Giáo pháp của Đức Phật thì không thể nhận được ân phước và gia trì, gia hộ. Cũng giống như vậy, trong cuộc sống thường ngày, khi một người không có được một trái tim trong sáng thì không thể kiếm được những người bạn tốt để có thể tin cậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo truyền thống văn hóa Tây Tạng người đã chia sẻ với mình một chặng đường được xem là một người bạn quý. Cũng như vậy, các bạn đã trở thành những người bạn đường quan trọng của tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu hình dung thế giới này của chúng ta như một bức tranh rất chi tiết, tuyệt đẹp và sống động thì mức độ chúng ta cảm nhận được vẻ đẹp và chất nghệ thuật của bức tranh tới đâu phụ thuộc vào khả năng và căn tính của mỗi người. Trên thực tế, tất cả những gì ta cảm nhận là tốt hay xấu trong thế giới này thật ra là muôn vàn hình tướng hóa hiện khác nhau sinh từ mảnh đất nhân duyên của riêng mỗi cá nhân. Vì vậy, nếu bạn đưa ra một quyết định nào đó mà chỉ dựa thuần túy vào cảm nhận của cá nhân mình, vào nhân duyên của riêng cá nhân mình thì sẽ rất khó nhận ra được bản tánh tương duyên mà tất cả mọi sinh tồn đều chia sẻ. Vì vậy, chúng ta phải nương tựa vào nhau, tôn trọng lẫn nhau, kiên nhẫn với nhau, tốt bụng với nhau, nói chuyện với nhau bằng cả con tim, cảm thấy thoải mái cùng nhau, cảm thấy yên vui bên nhau v.v... Điều này sẽ làm cho những gì quý giá, những gì được định hướng đúng đắn, những gì tốt đẹp và chói ngời phẩm chất trí tuệ trong cuộc đời của mỗi cá nhân bừng nở, và bạn sẽ trân quý những cách cảm nhận (cuộc đời) của người khác. Và bạn sẽ gieo trồng những hạt giống của hạnh phúc và thiện lành.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi nào tôi viết tôi cũng hay viết dài, khi nào tôi nói, tôi cũng hay nói lâu, vì vậy xin được dừng lời ở đây, trước khi các bạn bắt đầu cảm thấy nhàm chán.</p>
<p style="text-align: justify;">Với tất cả lòng kính trọng sự tận tụy, tận tâm, tận lực của các bạn; với lời cầu nguyện cho thành tựu mọi ước nguyện của các bạn, và với lời cầu nguyện cho các bạn có được hạnh phúc trọn vẹn, phước lành, thọ mạng dài lâu và sức khỏe.</p>
<p style="text-align: justify;">Những lời này được dâng tặng với lòng kính trọng bởi (ký tên) Hungkar Dorje, kẻ lữ hành của xứ tuyết, trong lâu đài của những vầng mây cam lồ trắng ở trong tim của một đóa sen xanh trên bầu trời (lơ lửng) phía trên đầu mảnh đất miền tây nước Mỹ.</p>
<p><em>Ngày 16.11.2009 - trên một chuyến bay từ hạt Orange tới Houston, Texas, Hoa Kỳ. (thư Ngài Hungkar Dorje Rinpoche gửi những người tham gia chuyến hành trình xuyên việt với Ngài tháng 10.2009).</em></p>
<p><strong>Hungkar Dorje Rinpoche </strong></p>
<p><em>Nguồn: <a href="https://www.google.com/url?sa=t&amp;rct=j&amp;q=&amp;esrc=s&amp;source=web&amp;cd=&amp;cad=rja&amp;uact=8&amp;ved=2ahUKEwjPoLOe1vqDAxXtm68BHYOsCaQQFnoECAkQAQ&amp;url=https%3A%2F%2Flienhoaquang.com%2Fthu-vien_TUONG-DUYEN_mmkcsqmt_web_tuequang.html&amp;usg=AOvVaw1Q53hmA-OvQsm0pHI-D1HT&amp;opi=89978449">Tương Duyên</a></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tuong-duyen/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lời Khai Thị Tâm Yếu Từ Đức Orgyen Kusum Lingpa</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/longchen-ningthik/kinh-sach-ningthik/loi-khuyen-tam-yeu-tu-vi-thay-bon-su-orgyen-kusum-lingpa/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/longchen-ningthik/kinh-sach-ningthik/loi-khuyen-tam-yeu-tu-vi-thay-bon-su-orgyen-kusum-lingpa/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 08 Apr 2017 13:53:01 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kinh sách Ningthik]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7487</guid>
		<description><![CDATA[Nếu các con có niềm tin và luôn ghi nhớ cầu nguyện đến Thầy, Thầy có thể đến với con như một tia chớp sáng và giúp con thoát khỏi tình cảnh trong bardo. Nhân duyên của Ngài với thế giới này đã cạn kiệt và lời hứa hẹn năm xưa khi Ngài lên 23 tuổi cũng đã đến, cuối&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/longchen-ningthik/kinh-sach-ningthik/loi-khuyen-tam-yeu-tu-vi-thay-bon-su-orgyen-kusum-lingpa/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><em>Nếu các con có niềm tin và luôn ghi nhớ cầu nguyện đến Thầy, Thầy có thể đến với con như một tia chớp sáng và giúp con thoát khỏi tình cảnh trong bardo. </em></p>
<p style="text-align: justify;">Nhân duyên của Ngài với thế giới này đã cạn kiệt và lời hứa hẹn năm xưa khi Ngài lên 23 tuổi cũng đã đến, cuối cùng His Holiness Ogyen Kusum Lingpa đã từ giã thế giới này vào ngày thứ hai của tháng Tây Tạng đầu tiên của năm 2009 khi Ngài vừa đúng 76 tuôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Nguyện cho những lời Khuyên Tâm Yếu của Ngài Orgyen Kusum Lingpa mãi luôn ngự trị trong tâm thức của những người hữu duyên nơi trần gian tạm bợ nầy!</p>
<p>རྒྱལ་དབང་པདྨའི་རིང་ལུགས་རྫོགས་པ་ཆེ༔</p>
<p>GYAL WANG PADMA’I RING LUG DZOG PA CHE</p>
<p>Kusum Lingpa, is the holder of the treasure of profound terma teachings</p>
<p>Kusum Lingpa, Ngài là vị chưởng quản kho tàng mật điển thâm diệu</p>
<p>ཟབ་གཏེར་གདམས་པའི་མཛོད་འཛིན་སྐུ་གསུམ་གླིང་</p>
<p>ZAB TER DAM PA’I DZOD DZIN KU SUM LING</p>
<p>the great perfect tradition of Padma, Lord of Buddhas,</p>
<p>Đại Viên Mãn của truyền thống Liên Hoa, là Chủ của các chư Phật</p>
<p>གང་གི་ཐྲུགས་དམ་པདྨའི་སྙིང་ཐིག་ཆོས༔</p>
<p>GANG GI THUG DAM PADMA’I NYING THIG CHO</p>
<p>May his central practice, the Pema Nyingtik Dharma,</p>
<p>Nguyện cho những thực hành tâm huyết của dòng Liên Hoa Bộ Tâm Yếu của Ngài</p>
<p>ཕྱོགས་བཅུ་ཐྲ་གྲུ་ཀུན་ཏུ་ཁྱ་གྱུར་ཅིག༔</p>
<p>CHOG CHU T'RA DRU KUN TU KHYAB GYUR CHIG</p>
<p>Spread through the vastness of the ten directions.</p>
<p>được lan truyền bao la khắp mười phương.</p>
<p><strong>Vô Thường </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Bởi mọi người đều phải chết, Thầy sẽ nói với con một cách rõ ràng và chính xác điều các con phải làm vào lúc chết. Hãy lắng nghe cẩn thận điều này. Sau khi cái chết xảy ra, thần thức vẫn duy trì trong thân, tức tử thi, trong ít nhất hai hay ba ngày. Sau ba ngày này, thần thức bắt đầu rời khỏi thân trong hình tướng một đứa trẻ tám tuổi trần truồng. Nó thấy thân thể của nó và hoàn cảnh mà nó vừa rời bỏ. Thậm chí nếu người đó mù, điếc hay câm khi còn sống, lúc này, mọi cơ quan đều trở nên hoàn hảo. Người quá cố có thể thấy các thành viên trong gia đình và bạn bè nhưng các thành viên trong gia đình và bạn bè thì không thể thấy người đó. Họ không thể thấy thần thức trong trạng thái bardo này.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào thời điểm này trong bardo, ở bên phải của thân tâm thức, sẽ xuất hiện một người đàn ông màu trắng với cái túi đá trắng trên vai. Những viên đá này biểu tượng cho các đức hạnh mà người quá cố đã tích lũy từ thời vô thủy đến nay. Ở bên trái xuất hiện một ma vương đồng-sinh khởi, màu đen, với một túi đá trên lưng, biểu tượng cho những ác hạnh mà người đó đã tích lũy. Hai người đàn ông này, trắng và đen, mang theo gánh nặng nghiệp lực hướng về tất thảy chúng sinh trong sáu cõi, những kẻ đã tích lũy vô số ác nghiệp, xuất hiện trước chúng sinh trong giai đoạn này của quá trình chết và cuối cùng sẽ đồng hành theo thân tâm thức trong bardo giống như người bảo hộ hay bảo vệ. Nếu người chết sắp tái sinh trong cõi địa ngục thì, Shinje, Tử thần sẽ đến và hộ tống người đó tới địa ngục. Hai tên cai ngục từ cõi địa ngục, một kẻ có đầu khỉ và kẻ kia có đầu trâu, và họ kéo cổ người chết và dẫn anh/cô ta xuống bảy tầng dưới đất, bên dưới các khối nước, đến thành trì vĩ đại của cõi địa ngục. Tử thần xuất hiện cầm chiếc gương phản chiếu địa điểm tái sinh tương lai của người đó. Điều này sẽ chỉ ra rõ ràng liệu họ sẽ tái sinh trong cõi trời, người hay cõi nào khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó, chúng sinh trong bardo sẽ trở về thăm gia đình, nơi họ đã sống, để xem liệu họ đã thực sự chết chưa. Khi chúng sinh trong bardo đó thấy rằng họ thực sự đã chết, họ sẽ yêu cầu các thành viên trong gia đình thực hành Pháp để hồi hướng cho họ. Nhưng, điều kẻ trong thân bardo này nói không thể được nghe thấy, và họ trải qua khổ đau tột cùng. Không ai muốn có những trải nghiệm này. Thậm chí các Lạt-ma và hành giả Pháp cũng không mong chờ điều này. Nhưng Thầy có thể đảm bảo với các con điều này sẽ xảy ra. Nếu điều đó không đúng thì mọi giáo lý mà Thầy đã, đang và sẽ chia sẻ với mọi người trong suốt đời Thầy sẽ là giả dối.</p>
<p style="text-align: justify;">Thân tâm thức trong bardo sau đó bắt đầu tìm kiếm một thân mới. Nó bị ám ảnh bởi sự cần thiết có một thân mới: thân người, thân súc vật hay chư thiên. Nó tìm kiếm một thân thể bởi nó không thể tiếp tục trong thức bardo. Nó giống như đang trong trạng thái mộng. Nó muốn thoát khỏi khổ đau ghê gớm đó. Trải nghiệm này giống như khi các con gào thét không kiểm soát và cảm thấy rất đau đớn Thức bardo cảm thấy điều này không ngừng khi nó điên cuồng tìm kiếm nơi tái sinh, có thể là bất kỳ nơi nào trong sáu cõi, tùy thuộc vào những tích lũy nghiệp. Sau bốn mươi chín ngày, thần thức trong bardo sẽ bước vào một trong sáu cõi. Nếu anh ta thực hành Pháp trong đời trước, thọ nhận các giáo lý về lợi lạc của thiện hạnh và lỗi lầm của ác hạnh, nhưng không thực sự tin tưởng những giáo lý này và không áp dụng chúng (hay làm ngược lại với giáo lý), anh ta chắc chắn sẽ tái sinh ở một trong mười tám cõi địa ngục và chịu nhiều khổ đau.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu các con thực hành Pháp và đặc biệt là giáo pháp Đại toàn thiện, thì các con không cần trải nghiệm bardo trở thành. Thay vào đó, các con sẽ trải nghiệm quang minh nền tảng, và trong trạng thái đó, ba cõi thấp hơn là không tồn tại. Không có Pháp nào tốt hơn Đại toàn thiện. Các con có muốn thiền định về điều đó không? Nếu muốn, các con cần phải thực hành con đường trekchod và togal, nền tảng của việc cắt bỏ để về với thanh tịnh nguyên sơ, tức trekchod và con đường vượt qua sự hiện diện tự nhiên, tức togal. Bằng cách cắt bỏ để về với thanh tịnh nguyên sơ, các con chứng ngộ bản chất của tính không. Các con nhận ra rằng mọi sứ giả của cái chết đều là sự hiển bày của nhận thần thức vô minh. Lúc đó, ngay lập tức nhờ sức mạnh của tri kiến và chứng ngộ Đại toàn thiện của con, mọi thứ xuất hiện như là mặt trời ngời sáng, và chẳng có bardo. Con đơn giản nhận ra rằng đó là sự hiển bày của bản tính nội tại của tâm. Nhờ sức mạnh của thực hành togal, sự chứng ngộ khối cầu bindu và sự tỉnh thức bên trong, biết cách thức trí tuệ nguyên sơ tự hiển bày như là các thân, hay đại diện của trí tuệ giác ngộ, các con có thể thấy các bổn tôn an bình và phẫn nộ là sự hiển bày của giác tính nguyên sơ nội tại tự sinh khởi. Ngay lập tức các con sẽ hòa nhập trong sự hợp nhất bất nhị với sự hiển bày đó và đi đến một cõi Tịnh Độ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Con cần phải thực hành Pháp tu nào?</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Đừng đến hỏi Thầy rằng, “Bây giờ, con cần phải thực hành Pháp tu nào? Con cần phải làm gì? Con thực hành sáu bardo ra sao? Xin hãy nói cho con biết điều cần làm. Bước tiếp theo con phải làm gì?” Thầy không muốn nghe điều đó, bởi Thầy đã nói với các con rất nhiều lần rằng Pháp duy nhất mà các con cần thực hành là Dzogchen, tức Đại toàn thiện. Nếu con thực hành Dzogchen và thành tựu, con sẽ không phải chịu đau khổ trong bardo. Con sẽ nhận ra rằng mọi hình tướng trong bardo đều huyễn ảo, và con sẽ được giải thoát trong bản tính nội tại của mình. Không ai, kể cả các Lạt-ma muốn trải qua những kinh nghiệm sợ hãi, đáng sợ, nhưng nếu con không thực hành và thành tựu Dzogchen, điều đó chắc chắn xảy ra. Patrul Rinpoche từng nói rằng, “Ba cõi thấp hơn là chốn đau khổ và nếu người ta tích lũy đủ nghiệp xấu để tái sinh ở đó, họ chắc chắn sẽ đến đó. Dewachen, cõi Cực Lạc là miền đất của hạnh phúc lớn lao, và nếu người ta tích lũy đủ thiện hạnh để trải nghiệm kết quả đó, họ chắc chắn sẽ tái sinh ở đó.”</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Trải nghiệm bardo vô cùng khó khăn</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Bởi chúng ta đều phải chết, từng người trong số chúng ta đều sẽ trải qua điều này và nó sẽ cực kỳ khó khăn. Rất rất khó khăn. Người quá cố trong bardo sẽ thực sự khóc than về việc họ hối hận ra sao, đặc biệt khi họ nhận ra họ sẽ phải tái sinh trong cõi thấp hơn. Và khi họ gào thét với những người mà họ nghĩ có thể giúp họ, các thành viên trong gia đinh và những người thân, không ai nghe thấy họ, và không ai đáp lại lời cầu cứu của họ. Điều đó thật vô ích.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Thực hành với Động cơ Thanh tịnh</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Có một câu chuyện kể về hai người hàng xóm ở Ấn Độ. Một người rất giàu có, cả đời làm thợ rèn. Ông ta có bảy người con trai. Hàng xóm của ông là một bà lão già giản dị với một cô con gái. Cả hai cùng qua đời vào một thời điểm, và khi họ lang thang trong bardo, người thợ rèn nói với bà lão rằng, “Con trai tôi có đủ tài sản để tiến hành các thiện hành bằng cách cúng dường các đối tượng quy y và bố thí cho người nghèo khó để hồi hướng cho tôi. Tôi tin chắc rằng nhờ các thiện hạnh đó, tôi sẽ tái sinh trong cõi người. Tôi hy vọng rằng nhờ sự hồi hướng công đức đó, bà cũng sẽ được lợi lạc.”</p>
<p style="text-align: justify;">Bà lão đáp rằng, “Tôi chỉ có một đứa con và nó là người ăn xin, chẳng có gì để dâng cúng. Tôi không mong đợi điều gì, bởi nó chẳng có gì.” Người thợ rèn nói, “Tại sao chúng ta không tới cõi người và xem mấy đứa con tôi đang làm gì?” Khi hai người tới, họ sửng sốt khi thấy bảy người con trai, chỉ vài tuần sau cái chết của cha, đã tổ chức những hôn lễ lớn. Họ dường như lãng quên người cha. Điều đó thật bất ngờ. Cô con gái của bà lão không có tài sản để cúng dường, nhưng cô có một trái tim tốt lành và rất đau buồn trước cái chết của bà mẹ.</p>
<p style="text-align: justify;">Bởi vậy cô gom vài viên đá, và đặt lên chúng những đống gạo nhỏ. Cô thu thập đá và rửa chúng và sắp đặt chúng như việc cúng dường các bát nước. Và sau đó, cô tìm thấy những viên đá tương tự, thứ cô đã rửa sạch và dâng chúng lên như đèn bơ với một chút dầu chất lượng kém. Cô trì tụng rất nhiều thần chú và khóc. Cô thốt lên, “Mẹ đang chịu nhiều đau khổ mà con thì chẳng có gì để cúng dường vì mẹ.” Mặc dù tài sản cô dâng cúng là rất nhỏ và kém phẩm chất, chúng được thực hiện với động cơ thanh tịnh và tình yêu thương bà mẹ. Điều này giúp đỡ rất nhiều và kết quả là, bà mẹ tái sinh trong cõi người. Bảy người con trai, khi chết, đã sinh vào cõi địa ngục. Câu chuyện này được tìm thấy trong Tam Tạng, những bộ giáo lý của Phật Thích Ca Mâu Ni. Điểm quan trọng là chúng ta cần nỗ lực thực hành với động cơ thanh tịnh.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Bây giờ là lúc để thực hành</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Cái chết chắc chắn sẽ đến và sau đó, thần thức sẽ lang thang. Nó lang thang tùy theo nghiệp của từng cá nhân. Bây giờ là lúc để thực hành. Thầy đã dạy giáo pháp cho các con như Thầy làm với con trai và gái của Thầy. Nếu các con không thực hành, điều đó chẳng ảnh hưởng gì đến Thầy, và nếu các con thực hành và trở thành một hành giả tinh tấn, điều đó cũng không ảnh hưởng tốt hay xấu đến Thầy. Trách nhiệm thuộc về các con.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đừng quên giáo pháp và Đừng quên Thầy!</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Thầy đã nói đôi điều về sáu thân trung ấm và Thầy muốn các con thực hành điều các con được dạy. Hãy tiếp tục với thực hành trekchod và togal của các con. Nếu các con thực hành, sẽ chẳng phải sợ hãi cái chết. Và hãy nhớ rằng, bổn tôn này không tốt hơn bổn tôn khác trong vấn đề thực sự giúp đỡ con trong bardo. Nếu con là một hành giả Troma, Đức Troma sẽ chỉ dẫn con vượt qua bardo.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu các con đã thực hành Bồ Tát Quán Thế Âm, Ngài sẽ chỉ dẫn con đến cõi Tịnh Độ. Dù con thực hành Pháp tu nào, điều quan trọng là con đặt niềm tin ở đâu. Đó phải là các Bậc Giác ngộ và các Ngài đến để chào đón và giúp đỡ con vào lúc đó. Chúng ta đã phát triển mối quan hệ giữa thầy và trò và Thầy đã ban cho các con rất nhiều những chỉ dẫn bởi vậy đừng quên giáo lý và đừng quên thầy. Thầy sẽ không bao giờ quên các con. Chúng ta sẽ mãi là những người bạn tâm linh trong đời này và các đời tiếp theo. Chúng ta có thể gặp nhau ở Tịnh Độ. Nếu Thầy là một vị đạo sư thanh tịnh, và các con có niềm tin và luôn ghi nhớ cầu nguyện đến Thầy, Thầy có thể đến với con như một tia chớp sáng và giúp con thoát khỏi tình cảnh trong bardo. Đây là sức mạnh mà chư Phật hay những vị Lạt-ma xuất sắc có thể sử dụng để giúp đỡ đệ tử.</p>
<p style="text-align: left;">Trích từ tác phẩm "Kho Tàng Giáo Huấn Siêu Việt" được giảng bới Đức Orgyen Kusum Lingpa tại Mỹ.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/longchen-ningthik/kinh-sach-ningthik/loi-khuyen-tam-yeu-tu-vi-thay-bon-su-orgyen-kusum-lingpa/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Bình giảng ngắn gọn về những chỉ dẫn dành cho bản thân của Patrul Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/binh-giang-ngan-gon-ve-nhung-chi-dan-danh-cho-ban-than-cua-patrul-rinpoche-2/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/binh-giang-ngan-gon-ve-nhung-chi-dan-danh-cho-ban-than-cua-patrul-rinpoche-2/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 10 Jan 2017 04:18:34 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Học Viện Larung Gar]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Ningthik]]></category>
		<category><![CDATA[Longchen Ningthik]]></category>
		<category><![CDATA[Tổ Chức]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7203</guid>
		<description><![CDATA[Khenpo Sodargye giảng Đức Patrul Rinpoche Về tựa đề của bản văn Tựa đề, Những Chỉ Dẫn Dành Cho Bản Thân, được hiểu theo nghĩa đen và thông báo cho người đọc rằng bản văn này là một bộ các chỉ dẫn mà Patrul Rinpoche vạch ra nhằm dẫn dắt thực hành tâm linh của chính ngài. Nhìn chung, những&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/binh-giang-ngan-gon-ve-nhung-chi-dan-danh-cho-ban-than-cua-patrul-rinpoche-2/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Khenpo Sodargye giảng</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"><img class="  wp-image-7204 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/patrul-224x300.jpg" alt="patrul" width="425" height="569" /></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Đức Patrul Rinpoche</span></p>
<ol style="text-align: justify;">
<li><b>Về tựa đề của bản văn</b></li>
</ol>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tựa đề, Những Chỉ Dẫn Dành Cho Bản Thân, được hiểu theo nghĩa đen và thông báo cho người đọc rằng bản văn này là một bộ các chỉ dẫn mà Patrul Rinpoche vạch ra nhằm dẫn dắt thực hành tâm linh của chính ngài. Nhìn chung, những người thế tục thường xem xét và cải thiện bản thân nhờ sự tự-phê bình và tự-kiểm tra; những hành giả tâm linh cũng cần phải như vậy. Các hành giả cũng cần nương theo những phương pháp này, nhưng họ thậm chí còn cần thiết tha làm vậy hơn những người mà mục đích của cuộc đời chỉ giới hạn trong thế gian này. Với một số người nhất định,Phật Pháp có vẻ đang được dùng để chỉ trích người khác, điều này không hề đúng. Làm sao chúng ta có thể dẫn dắt người khác nếu tâm thức của chính mình vẫn chưa được điều phục? Vì thế, chúng ta cần thường xuyên quán sát và kiểm tra thân, khẩu và ý bằng cách nương theo những chỉ dẫn của Patrul Rinpoche.</span></p>
<ol style="text-align: justify;" start="2">
<li><strong> Về tác giả của bản văn</strong></li>
</ol>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Patrul Rinpoche, tác giả cuốn </span><a href="http://thuvienhoasen.org/a6376/loi-vang-cua-thay-toi"><span style="font-weight: 400;">Lời Vàng Của Thầy Tôi</span></a><span style="font-weight: 400;">, là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm và Tôn giả Tịch Thiên. Tiểu sử của ngài cho thấy một hành trình tâm linh nhiều sắc màu. Sau đây là một trong những câu chuyện nổi tiếng nhất trong cuộc đời ngài:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lần nọ, Patrul Rinpoche đến Tu viện Dhomang ở hạt Drakgo thuộc Tây Tạng trong hình tướng một người ăn xin. Gặp gỡ nhiều bậc khổ tu sống ở đó khiến ngài rất hoan hỷ, vì thế ngài bày tỏ niềm vui bằng cách nói rằng, “Thật thú vị khi thấy rằng giáo lý kinh văn chân chính và giáo lý chứng ngộ vẫn tồn tại ở tu viện này!”. Đêm đến, Patrul Rinpoche gõ cửa phòng Lama Trultrim Dargye và yêu cầu được ngủ lại một đêm. Thông cảm với sự nghèo khổ, vị Lama cho phép ngài ở lại và tối đó, khi họ ngồi trò chuyện, đã hỏi rằng, “Ông có biết Patrul Rinpoche không?”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Tôi từng nghe nói về ngài,” Rinpoche đáp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vị Lama tiếp tục, “Tôi rất muốn gặp ngài. Niềm tin của tôi đã vững chắc hơn từ khi đọc những cuốn sách của ngài. Nhưng tôi chưa có duyên hạnh ngộ ngài, dù cho tôi đã viếng thăm tu viện của ngài ở Sershul hai lần. Ông đã đọc tác phẩm Lời Vàng Của Thầy Tôi Chưa?”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> “Tôi từng nghe nói, nhưng chưa đọc”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> “Ông cần phải đọc nó! Một cuốn sách tuyệt vời. Ông sẽ thực hành tốt như Patrul Rinpoche chỉ dạy trong cuốn sách”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;"> “Thật hữu ích nếu ông có thể giải thích về cuốn sách cho tôi”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Được chứ. Tôi nghĩ tôi có thể giải thích đôi điều dựa trên sự hiểu của mình”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như thế, Trultrim Dargye giải thích một phần của cuốn sách. Sáng hôm sau, Patrul Rinpoche dậy hơi muộn một chút. Khi ngài bước vào thiền đường, Trultrim Dargye Nghiêm nghị, “Là một tu sĩ, làm sao ông có thể dậy muộn như vậy? Ông đáng lẽ nên dậy sớm hơn chứ!”. Không lâu sau, vị Lama viếng thăm Patrul Rinpoche ở Dawu, biết rằng Rinpoche đang thuyết giảng ở đó. Khi Patrul Rinpoche thấy Trultrim Dargye ngồi trước mặt, lập tức đã bước xuống từ Pháp tòa một cách kính cẩn và nói, “Thầy tôi đã đến! Đây là một Lama vĩ đại!”. Chỉ khi ấy Trultrim Dargye mới nhận ra người ăn xin ấy là ai và cảm thấy khá bối rối, ông ấy khóc to.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Patrul Rinpoche thường làm lợi lạc hữu tình chúng sinh và truyền bá Giáo Pháp trong hình tướng một người ăn xin và du hành khắp các vùng của Tây Tạng như Golog và Yushu. Bất kể là về cuộc đời thế tục hay Giáo Pháp xuất thế, những giáo huấn của ngài có sức thuyết phục to lớn. Gần như mọi người ở Kham đều có thể chia sẻ một vài trong số những câu chuyện đầy cảm hứng này.</span></p>
<ol style="text-align: justify;" start="3">
<li><strong> Giải thích bản văn</strong></li>
</ol>
<p style="text-align: justify;"><strong>3.1 Ba điều mà người ta cần chú ý</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có ba điều cần chú ý tới:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chư đạo sư từ ái,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đức Phật bi mẫn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chính niệm và tỉnh thức của bản thân.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong từng khoảnh khắc, chúng ta cần chú ý đến ba điểm sau đây. Đầu tiên là, “chú ý đến chư đạo sư từ ái”. Là hành giả, chúng ta mang ơn bất cứ vị thầy nào ban cho chúng ta quán đỉnh, người phát lộ cho ta giáo lý của Kinh thừa và Mật thừa hoặc người giới thiệu cho chúng ta dù chỉ một đoạn kệ trong Phật Pháp. </span><a href="http://thuvienhoasen.org/a6376/loi-vang-cua-thay-toi"><span style="font-weight: 400;">Lời Vàng Của Thầy Tôi</span></a><span style="font-weight: 400;"> nói rằng “Lòng từ của vị thầy còn lớn lao hơn của Đức Phật”, bởi vì, nếu không có bậc thầy giải thích giáo lý của Đức Phật, chúng ta, những kẻ phàm phu, chẳng thể nào hiểu được trọn vẹn nghĩa đen của những lời dạy, chứ đừng nói đến ý nghĩa ẩn giấu và sâu xa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thứ hai là “hãy chú ý đến Đức Phật bi mẫn”. Đức Phật có lòng Từ và Bi vô biên dành cho mỗi một hữu tình chúng sinh. Kinh Thủ Lăng Nghiêm nói, “Trước vô số cõi Phật, con nay xin cúng dường tâm sâu xa này, để đền đáp lòng vị tha của Thế Tôn”. Giả sử Đức Phật không đến thế gian, làm sao chúng ta có cơ hội thoát khỏi biển khổ luân hồi? Tôi đề xuất rằng mỗi người cần thực hành Nghi Quỹ Thích Ca Mâu Ni Phật ít nhất mỗi ngày một lần, trì tụng Mật chú và hồng danh của Đức Phật. Nhờ làm vậy, niềm tin của chúng ta với ngài sẽ tăng trưởng đáng kể. Khi du hành, chúng ta cần luôn giữ bên mình một bức tượng Phật để đặt trên bàn thờ và dâng cúng. Điều quan trọng là chúng ta dâng cúng càng thường xuyên càng tốt. Công đức của việc cúng dường Đức Phật là không thể nghĩ bàn; ví dụ, Vua A Dục cúng dường cát lên Đức Phật khi còn là một cậu bé trong đời quá khứ và kết quả là cậu đã tái sinh làm một vị vua vĩ đại. Vì thế, là Phật tử, chúng ta cần giữ Đức Phật trong tâm một cách liên tục.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thứ ba, hãy chú ý đến chính niệm và tỉnh thức của bản thân. Duy trì chính niệm và tỉnh thức một cách chuẩn xác là nguyên tắc chính yếu cho mọi Phật tử. “Chính niệm” đòi hỏi chúng ta phải luôn hồi nhớ và thực hành Thiện Pháp. Chúng ta cần luôn tự nhắc nhở rằng chúng ta khác với những người thế tục, bởi thân thể của chúng ta cần được dùng để thực hành Phật Pháp, khẩu của chúng ta cần phải giảng dạy Phật Pháp và ý của chúng ta cần an trụ trong chính niệm và tỉnh thức, như thể chúng ta đang ngồi trên đỉnh núi, thay thế những ý nghĩ nhiễm ô trong tâm bằng tất cả những giáo lý Phật giáo Nguyên thủy [Theravada], Kinh thừa và Mật thừa của chư Phật ba đời. Sự tỉnh thức chuẩn xác đòi hỏi chúng ta phải thực sự biết về chính mình và kiểm tra xem liệu các hành động có đúng đắn, liệu khẩu có làm lợi lạc bản thân và tha nhân và các ý nghĩ có thiện lành hay không, hay tương tự. Không có chính niệm và tỉnh thức, không thể nào tích lũy công đức, giống như “nước trong chiếc bình thủng”, được miêu tả trong Nhập Bồ Tát Hạnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>3.2 Ba điều cần ghi nhớ với lòng biết ơn</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có ba điều cần ghi nhớ với lòng biết ơn:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chư đạo sư trao truyền giới luật,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Giáo Pháp chỉ ra con đường,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Giới luật và thệ nguyện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Các giới luật được đề cập đến trong “ghi nhớ với lòng biết ơn chư đạo sư đã trao truyền giới luật” liên quan đến giới luật của quy y, Biệt giải thoát giới, Bồ Tát giới và Mật thừa giới. Đừng bao giờ quên bất cứ vị thầy nào trao cho chúng ta các giới luật. Để đạt Phật quả, Prana (tuệ) cần được vun bồi, đó là nguyên nhân trực tiếp của giác ngộ. Mặt khác,trí tuệ đạt được nhờ Samadhi (định). Để có được định đúng đắn, giữ gìn nghiêm túc Sila(giới) là điều kiện tiên quyết. Nói ngắn gọn, giới luật thiết lập nền tảng và chư đạo sư trao truyền giới luật trao cho chúng ta gốc rễ của Phật quả. Như Kinh Di Giáo ghi lại, trước khi Đức Phật nhập Niết bàn, Tôn giả A-nan-đà, buồn bã thỉnh ngài: “Bạch Thế Tôn, ai sẽ là thầy của chúng con sau khi người nhập diệt?”. Đức Phật đáp rằng, “Hãy lấy giới luật làm thầy”. Bởi vậy, chúng ta cần giữ gìn giới luật và xem chúng là thầy (Đức Phật). Chữ Đạo sư, những vị trao cho chúng ta giới luật, đã dành cho ta lòng từ lớn đến mức chúng ta cần ghi nhớ ít nhất ba lần mỗi ngày.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Ghi nhớ với lòng biết ơn Giáo Pháp chỉ ra con đường” nghĩa là chúng ta cần khắc ghi những giáo lý của Đức Phật hay Pháp, thứ dẫn dắt chúng ta trên con đường chân chính dẫn đến giác ngộ. Đức Phật thuyết giảng tám vạn bốn nghìn pháp môn để giải thoát chúng sinh. Không có cam lồ pháp nhũ này, hữu tình vô minh sẽ tiếp tục lang thang trong luân hồi. Kinh điển và các bình giảng giống như vị đạo sư nhân từ, chẳng bao giờ nổi giận mà dẫn dắt chúng ta đến bến bờ giác ngộ một cách không mệt mỏi. Từng từ của Đức Phật đều vô giá và ý nghĩa của Pháp thì vô cùng sâu xa và chẳng thể nghĩ bàn.Đức Phật nói rằng ngài sẽ giải thoát chúng sinh dưới hình tướng của các bản văn trong thời đại suy đồi. Vì thế, Giáo Pháp, thứ chứa đựng công đức của sự tiêu trừ vô minh,cảm xúc phiền não và khổ đau, cần luôn luôn được gìn giữ trong tâm. Chúng ta cần sử dụng sức mạnh siêu việt của Đức Phật nhờ khắc ghi Giáo Pháp cho tới khi đạt được giải thoát và an bình rốt ráo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Luôn luôn “ghi nhớ với lòng biết ơn giới luật và thệ nguyện”. “Giới luật và thệ nguyện” ở đây nghĩa là những quy tắc và giới luật, bao gồm mọi giới luật trong giáo lý Nguyên thủy,Kinh thừa và Mật thừa. Chúng là điều kiện tiên quyết để đạt được Phật quả, điều mà Bồ Tát Long Thọ ủng hộ. Hành giả Phật giáo có thể nương tựa vào các giới luật để kiểm soát thân thể và tâm trí, nhờ đó tạo ra thuận duyên cho việc hành trì. Từ quan điểm của việc làm lợi lạc tha nhân, những người không thể giữ gìn giới luật sẽ chẳng có sức mạnh để khiến người khác tin tưởng Tam Bảo; những người không tránh nói lời không thích hợp sẽ không có sức mạnh thuyết phục người khác tin tưởng Giáo Pháp và những người không thể bảo vệ tâm thức khỏi những ý niệm không thích hợp có thiên hướng làm phiền người khác. Vì thế, luôn luôn quán sát các giới luật là thực hành tự lợi và lợi tha.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>3.3 Ba điều cần đặt vào</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có ba điều cần đặt vào:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tâm đặt vào trong thân,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thân đặt vào chỗ ngồi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và sự thư thái đặt vào trong tâm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đây là ba chỉ dẫn trọng yếu vô cùng quan trọng. Tâm thức của chúng ta cần đặt trong thân thể, trong khi thân thể cần đặt ở chỗ ngồi. “Tâm đặt vào trong thân” là lời nhắc nhở cần tập trung vào hành trì, thay vì để tâm trí lang thang.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Thân đặt vào chỗ ngồi” nghĩa là chúng ta ở trong nhà, thay vì đi đây đó. Vài Lama trong Học viện của chúng ta luôn ở trong lều, nghiên cứu và thiền định nếu không tham dự các buổi giảng, và thậm chí vài vị còn chưa từng đặt chân ra khỏi thung lũng nơi Học viện của chúng ta tọa lạc. Tôi chắc chắn rằng những vị này ắt hẳn phải là hành giả tốt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Sự thư thái đặt trong tâm” đòi hỏi chúng ta thư thái và tiến hành việc tu tập một cách quận bình, thay vì đi về những thái cực. Thư thái là một trạng thái, thoát khỏi bất cứ kiểu ý nghĩ quan niệm và bám chấp nào. Với tâm thư thái, người ta có thể mong chờ được thành công trong thực hành Pháp; nếu không, thật khó để thành công trong hành trình xuất thế gian.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>3.4 Ba điều cần liên tục lãng quên</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có ba điều cần liên tục lãng quên:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bạn bè, những người khơi dậy ao ước và ham muốn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Kẻ thù, những kẻ khởi dậy sân hận và thù ghét,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hôn trầm, thứ che lấp tâm thức.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Điều mà chúng ta cần liên tục lãng quên phát lộ một cách khéo léo cách thức tham, sân và si ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày. Nói về “bạn bè, những người khơi dậy ao ước và ham muốn”, chúng ta phải thừa nhận rằng, mong mỏi những mối quan hệ (yêu đương), chúng sinh bình phàm, chìm trong Dục giới, tốn vô số thời gian theo đuổi của cải vật chất, danh tiếng và nhiều thứ khác để đáp ứng mong ước của những người thân thương. Vì thế, chúng ta cần quên những người bạn như vậy càng nhanh càng tốt. Bất cứ bám víu thế gian nào cũng đều cho thấy một ý muốn giải thoát yếu kém. Ba Mươi Bảy Pháp Hành Bồ Tát Đạo nói rằng: “Thực hành của tất cả chư Bồ Tát là buông bỏ bám víu. Khi gặp phải những thứ mà người ta cho là dễ chịu hay hấp dẫn, họ cần thấy chúng như cầu vồng trên bầu trời mùa hạ: hình tướng đẹp đẽ nhưng thực sự không tồn tại”. Đời người cũng vô thường: nếu chúng ta bám víu vào người khác, điều đó phá hỏng hạnh xả ly trong tâm, tạo ra chướng ngại cho sự vun bồi trí tuệ. Sau đấy, giải thoát có thể chẳng bao giờ đạt được. Vài hành giả vĩ đại trong quá khứ từng gặp phải cùng một chướng ngại, nhưng các vị đều vượt qua nó. Một nhận thức chân chính về xả ly chắc chắn sẽ được tạo ra nếu chúng ta quán chiếu nhiều lần về khổ đau của luân hồi; sự quán chiếu như vậy cũng là phương pháp đối trị cho bám víu. Khi hoan hỷ an trú trong Giáo Pháp,chúng ta sẽ tự nhiên vượt qua được lòng tham và sự bám víu. Bởi vậy, chúng ta, những hành giả, cần lựa chọn cách tiếp cận phù hợp nhất với căn cơ của bản thân và tránh xa bất cứ người bạn nào khơi dậy lòng tham, để chúng ta tận dụng tối đa đời người quý giá, thay vì chìm trong những ý niệm mê mờ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Kẻ thù, những kẻ khởi dậy sân hận và thù ghét” cần được lãng quên càng nhanh càng tốt. Kinh Hoa Nghiêm nói rằng “Một ý niệm sân hận cũng đem lại hàng triệu chướng ngại”. Tương tự, Bồ Tát Tịch Thiên dạy trong Nhập Bồ Tát Hạnh, “Tại sao trước đây con đã phạm những hành động này, thứ khiến người khác bây giờ làm hại con? Bởi mọi thứ đều liên quan đến hành động của con, tại sao con lại ác ý với bất kỳ ai trong những kẻ thù này?”. Thậm chí về mặt thế gian, chúng ta thường nghe rằng, “Một người lịch thiệp không tức giận với người khác”. Điều này nhấn mạnh thêm giáo lý rằng mọi thứ đều vì sự sinh khởi của nghiệp, thứ nói rằng thật vô nghĩa khi hận thù người khác. Từ quan điểm khác, hận thù có thể phá hủy mọi công đức được tích tập nhờ các thiện hạnh, và thậm chí ở một mức độ thế tục hơn, sân hận có thể làm chúng ta hổ thẹn. Vì thế, là hành giả, chúng ta cần thực hành hạnh nhẫn nhục và quên đi tất cả kẻ thù.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Về “hôn trầm, thứ che lấp tâm thức”, chư đạo sư, chẳng hạn Đức Longchenpa, đã chỉ dẫn chúng ta rằng ngủ quá nhiều tạo ra nhiều kết quả bất lợi, ví dụ khiến vô minh tăng trưởng, nó cũng là nguyên nhân của nhiều bệnh tật, trí tuệ suy giảm và khiến đời người quý giá bị lãng phí. Một thành ngữ cổ nói rằng, “càng ngủ nhiều, càng lười”. Thực sự, giấc ngủ cần được kiểm soát. Nhờ duy trì một lịch trình đều đặn, chúng ta có thể tạo ra sự cân bằng giữa công việc và nghỉ ngơi. Thí dụ, các hành giả thường tham gia những buổi giảng Pháp ở Học viện của chúng tôi, buộc họ phải giảm giấc ngủ. Họ cũng tăng trưởng công đức nhờ nghiên cứu, quán chiếu và thực hành Pháp. Vì vậy, đây là phương tiện thiện xảo để tiêu trừ giấc ngủ vô minh. Giống như Bồ Tát Tịch Thiên từng dạy, “Nương tựa con thuyền thân người để giải phóng bản thân khỏi dòng sông đau khổ! Bởi thật khó để tìm lại được con thuyền này, này kẻ ngu dốt, chẳng có thời gian để ngủ đâu!”. Tựu chung lại, cần phải nhấn mạnh rằng tham, sân và si là ba kẻ thù chính yếu của hành giả Phật giáo và là gốc rễ của luân hồi, bởi thế, chúng ta cần thoát khỏi chúng càng nhanh càng tốt. Đẩy lùi được những phiền não này là tiêu chuẩn thường được dùng để kiểm tra mức độ tu tập của bản thân. Nếu chúng ta muốn biết việc hành trì đang diễn tiến thế nào, chẳng cần phải hỏi người khác. Hãy kiểm tra xem chúng ta đã thoát khỏi ba điều này chưa và chúng ta sẽ có được câu trả lời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>3.5 Ba điều cần phải cẩn trọng</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có ba điều cần phải cẩn trọng:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nói năng trước đám đông,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hành xử nơi cô tịch,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Quán sát tâm thức.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ba điều cần phải cẩn trọng dạy rằng các hành động và ý định của thân, khẩu và ý đều phải hòa hợp với Pháp để tạo ra những thuận duyên cho việc hành trì. Cẩn trọng trong việc “nói năng trước đám đông” nghĩa là chúng ta phải cẩn thận trong lời nói trước đông người và từ bỏ việc nói năng vô nghĩa. Nếu không, chúng ta có thể tạo ra rắc rối cho bản thân. Trước khi nói năng giữa chốn đông người, hãy kiểm tra xem điều chúng ta sắp nói có lợi lạc cho hữu tình chúng sinh và liệu những từ ngữ có đem lại lợi lạc tạm thời hay lâu dài không. Bất cứ lời vô nghĩa hay những cuộc nói chuyện vô bổ không đem lại lợi lạc cho tha nhân đều cần phải tránh. Nếu không, điều mà chúng ta làm lại là điều không nên được làm và chúng ta không thể rút lại điều đã nói. Trong Kho Tàng Bảo Châu Cách Ngôn[1], Tổ Sakya Pandita nói, “Kẻ ngu dốt đang làm hài lòng [người khác] khi anh ta chẳng nói gì”. Bởi chưa giác ngộ, khi chúng ta sân hận, bất cứ từ ngữ nào chúng ta nói ra cũng có thể làm tổn thương người khác. Mặt khác, những lời hứa khi chúng ta đang vui vẻ có thể bị phá vỡ. Ở đây, mọi lúc, chúng ta cần cẩn trọng trước khi nói.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy cẩn trọng trong hành vi khi ở nơi cô tịch. Ở một mình, chúng ta không nên làm gì khác ngoài việc quan sát các hành vi của bản thân để không phạm phải bất cứ giới nguyện gốc và nhánh nào. Lần nọ, có một Lama chuẩn bị lấy trộm chút trà trong nhà của một thí chủ khi không có ai xung quanh. Ngay khi ông ấy sắp lấy trà, bất ngờ ông ấy biết rằng, là một tu sĩ, đây là điều không nên làm. Ông ta bắt đầu la toáng lên, “Nhanh đến bắt tên trộm này trước khi hắn trốn mất!”. Khi vị thí chủ chạy đến, Lama nói, “Nhìn tay tôi này, chúng sắp lấy trà của ông!”. Mặc dù gần như phạm phải hành động ô nhục này, ông ấy là người đáng để học hỏi bởi đã nhận ra và sau đó là sửa chữa hành động sai lầm ngay lập tức. Tương tự, chúng ta cần luôn luôn theo dõi và kiểm tra các hành vi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy cẩn trọng trong việc “quán sát tâm thức”. Một trong những điểm khác biệt giữa chư Bồ Tát và những chúng sinh bình phàm là Bồ Tát luôn quán sát các ý niệm trong khi chúng sinh thì không. Một hành giả cần phải quán sát tâm thức. “Điều phục tâm thức, đó là lời khai thị chân thành của Ta”, Đức Longchenpa đã nói vậy trong Ba Mươi Lời Khai Thị Chân Thành. Chúng ta cần kiểm tra các ý nghĩ, thoát khỏi những ý niệm gây hại trong khi khuyến khích những ý niệm tốt lành. Chỉ dẫn này quan trọng đến mức chúng ta cần ghi nhớ nó như phương châm của mình và sử dụng nó để điều chỉnh bản thân.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>3.6 Ba điều cần che giấu</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có ba điều cần che giấu:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Công đức của bản thân,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lỗi lầm của người khác,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Kế hoạch cho tương lai.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy che giấu “công đức của bản thân”. Theo các giới luật của Phật giáo, Phật tử không nên khoe khoang về công đức của họ, chẳng hạn đã nghiêm trì giới luật, đạt được trí tuệ,thiền định hay tương tự, dù cho những công đức này có đáng được bao nhiêu lời tán thán. Nói về công đức của mình phần lớn đều vì kiêu mạn, một trong năm độc và có thể khiến người khác phát triển sự hiểu lầm thay vì niềm tin. Công đức chân chính sẽ suy giảm, bởi nói nó với người khác, trước khi chúng ta đạt đến cấp độ Bồ Tát bất thối chuyển. Vì vậy, người khôn không bao giờ nói về công đức của họ. Tuy nhiên, trong thời đại suy đồi hiện nay, người ta thường khoe khoang rằng họ đã giác ngộ viên mãn, có được các năng lực siêu phàm hay họ là những Tulku tái sinh, để thỏa mãn những ham muốn của bản thân. Đức Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche nói rằng, có vài hành giả vĩ đại, người thỉnh thoảng đề cập đến công đức của chư vị, chẳng hạn mức độ chứng ngộ, để chấp nhận đệ tử hay phá hủy các tà kiến của một học trò. Dù vậy, người thông minh luôn quán sát các lỗi lầm của họ. Kho Tàng Bảo Châu Cách Ngôn của Tổ Sakya Pandita nói, “một người xuất sắc quán chiếu về những lỗi lầm của anh ta; kẻ xấu xa chỉ tìm kiếm lỗi lầm của người khác; con công xem xét thân thể của nó, con dơi gieo rắc điềm xấu cho người khác”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy che giấu “lỗi lầm của người khác”. Là người phàm, chúng ta có nhiều ý niệm ô nhiễm trong tâm thức. Phần lớn thời gian, chúng ta không nhận ra lỗi lầm của mình nhưng lại dễ dàng tìm thấy lỗi lầm của người khác. Người Tây Tạng thường nói, “Người ta thấy một con rận bé xíu trên người khác, nhưng chẳng thấy cả con Yak trên mình”. Đó là một chỉ dẫn về thực hành không tốt. Nhiều vị thầy nói rằng, chư Phật nhìn chúng sinh là Phật và chư Bồ Tát nhìn chúng sinh là Bồ Tát, tương tự, kẻ phàm phu nhìn chúng sinh đều là phàm phu. Học viện chúng ta có một vị Khenpo, bất cứ khi nào thấy ai khác làm gì không đúng, ngài luôn nói, “Đừng phán xét, đừng phán xét. Có vài ý nghĩa ẩn giấu mà chúng ta không biết đằng sau những hành động này. Việc của chúng ta không phải là thấy lỗi lầm của người khác”. Thực sự, đôi khi chúng ta không biết rõ về nhau, chúng ta cũng không hiểu đầy đủ về mọi thứ mà họ làm. Hơn thế nữa, thảo luận về lỗi lầm của người khác đặc biệt bị cấm trong giới Tỳ kheo và Bồ Tát giới, như Ba Mươi Bảy Pháp Hành Bồ Tát Đạo giải thích, “Bởi ảnh hưởng của những cảm xúc phiền não, nếu con chỉ ra lỗi lầm của một vị Bồ Tát khác, con đang bị suy giảm, vì thế, đừng nhắc đến những lỗi lầm của các hành giả đã bước vào Đại thừa. Đây là thực hành của chư Bồ Tát”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chúng ta không nên hành xử như những người trên thế gian này, nhiệt tình tán dương bản thân nhưng lại xem thường người khác. Trái lại, nhiều đạo sư vĩ đại làm những công việc thấp kém nhất và hành trì với địa vị rất thấp, trước khi bắt đầu nhận học trò. Những Chúng sinh bình phàm thường gặp khó khăn trong việc nói xem liệu người khác đã đạt được chứng ngộ hay công đức từ dáng vẻ bên ngoài. Tuy nhiên, khoe khoang về công đức của bản thân sẽ chẳng khiến người khác kính trọng bạn. Cần phải nói rằng, có thể người mà bạn đang đánh giá là hóa hiện của một vị Phật hay Bồ Tát, bởi nhiều vị đang giúp đỡ chúng sinh bằng cách hóa hiện thành những người phụ nữ thấp kém, gái điếm hay thợ săn. Vì thế, chúng ta cần phát triển và duy trì nhận thức thanh tịnh không tạp nhiễm (ý nghĩ không thiên kiến). Thành ngữ nói rằng: “Tìm kiếm lỗi lầm của người khác là một lỗi lầm”. Tóm lại, vì bản thân và tha nhân, chúng ta chắc chắn cần che giấu lỗi lầm của người khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy che giấu những “kế hoạch cho tương lai”. Chúng ta cần giữ bí mật những kế hoạch. Thậm chí các ý tưởng tình cờ, như xây dựng tu viện, nhận học trò hay giảng Pháp, cũng cần được giữ kín trước khi chúng trở thành hiện thực. Người Hoa thường nói, “Thiên cơ bất khả lộ”. Nói chung, phát lộ một kế hoạch trước có thể tạo ra những chướng ngại không mong đợi. Là một hành giả, lên kế hoạch cho việc hành trì là chấp nhận được; tuy nhiên, thật vô nghĩa khi lên kế hoạch chi tiết cho tương lai bởi chẳng gì có thể theo kịp sự vô thường. Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche chưa bao giờ tiết lộ những ý định trước khi ngài chắc chắn về kết quả. Về điểm này, chúng ta cần học theo chư đạo sư vĩ đại và che giấu các kế hoạch cho tương lai.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>3.7 Ba điều không nên ủng hộ</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có ba điều không nên ủng hộ:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ý niệm xả ly thoáng qua,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hành vi không trung thực và chân thành,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những thiện hạnh của bản thân.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đoạn này giải thích ba thứ không nên được lan truyền. Đầu tiên là ý niệm xả ly, thứ chợt đến trong dòng tâm thức. Không có sự quyết tâm xả ly chân chính dựa trên tri kiến đúng đắn, tâm xả ly chẳng là gì khác ngoài một ý nghĩ thoáng qua của những chúng sinh bình phàm. Đặc biệt, nhận thức về sự xả ly tạo ra từ việc gặp phải những chướng ngại và khó khăn chỉ là một trạng thái đầy dao động của tâm. Vài người có thể trải qua một phản ứng cảm xúc bất ngờ và không thể kiểm soát khi gặp một vị đạo sư lần đầu, nước mắt và mong muốn từ bỏ cuộc đời thế tục. Tuy nhiên, sau vài ngày, họ cảm thấy hơi hối tiếc. Đó là cách mà tâm quan niệm vận hành. Thành tựu giả vĩ đại, Gendun Chophel, từng kiểm tra xem liệu ngài đã phát triển tâm xả ly hay chưa bằng cách cầu nguyện đến các vị thần Hindu. Ngài ngạc nhiên khi thấy chỉ sau vài khoảnh khắc, nước mắt bắt đầu chảy.Dựa trên kinh nghiệm này, Đức Gendun Chophel kết luận rằng tâm thức của kẻ phàm phu rất dễ bị ảnh hưởng. Một đạo sư Tây Tạng từng nói rằng tâm xả ly thoáng qua giống như giọt sương sớm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có hai cách để giải thích về việc không nên ủng hộ “hành vi không trung thực và chân thành”. Đầu tiên, chúng ta cần thành thật với mọi người và không giống những người sống bằng cách lừa dối người khác và người có thể khoe khoang và tự hào về những hành vi lừa dối như vậy. Thứ hai, giả sử rằng dù chúng ta thực sự chân thành, chúng ta sám hối những sai sót vô tình với người khác. Điều này có thể gây ra sự rối loạn và để lại ấn tượng sai lầm rằng sự chính trực của chúng ta cần được xem xét. Chúng ta nên làm tốt hơn để tránh những hoàn cảnh như vậy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người ta không nên tuyên bố về những thiện hạnh của bản thân. Công đức có được nhờ tụng Kinh và trì chú, thực hành tại nơi cô tịch, không nên được chú ý. Nếu không, công đức có thể bị phá hủy. Tựu chung lại, có bốn hành vi phá hủy công đức: đầu tiên là khoe khoang, thứ hai là hồi hướng với những ý muốn xấu, thứ ba là không hồi hướng và thứ tư là hối tiếc về điều đã làm. Tuy nhiên, cần phải nói rằng vài đạo sư có thể nói về công đức của ngài để khuyến khích đệ tử thực hành tinh tấn hơn, đó là một trong những phương tiện thiện xảo mà vài Bồ Tát làm để dẫn dắt chúng sinh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>3.8 Ba nơi không nên đến</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có ba nơi không nên đến:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nơi mà xung đột và tranh đấu xảy ra,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nơi mà đám đông tụ tập,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những nơi giải trí.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hành giả Phật giáo cần ở trong môi trường thích hợp, thay vì những nơi ngăn cản thực hành của họ hay nơi phá hỏng công đức. Nói ngắn gọn, có ba nơi cần tránh: những nơi mà xung đột và tranh đấu xảy ra, nơi mà đám đông tụ tập và những nơi giải trí.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Đừng đến những nơi mà xung đột và tranh đấu xảy ra”. Là một hành giả sơ cơ, chúng ta chưa có đủ công đức để làm lợi lạc tha nhân. Chúng ta không những không đủ khả năng giải quyết các xung đột mà còn có thể bị ảnh hưởng hay bị kích động bởi chúng. Chẳng có lợi lạc gì từ điều này. Vì thế, chúng ta cần tránh xa những nơi như vậy và cầu nguyện Tam Bảo gia hộ cho những người liên quan để có thể giải quyết các vấn đề. Bên cạnh đó, chúng ta cần tránh những người có hiểu lầm hay tà kiến với chúng ta để tránh những rắc rối không cần thiết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Đừng đến những nơi mà đám đông tụ tập”. Đám đông ở đây liên quan đến những người thế tục, họ chẳng có tri kiến đúng đắn và nơi được nhắc đến ở đây thường là các thành phố lớn, không phải nơi mà các bạn hữu đồng tu cùng thực hành. Một hành giả cần phát triển tri kiến đúng đắn nhờ thực hành Pháp trong môi trường thích hợp và củng cố thêm sự hiểu đó tại những nơi hẻo lánh, nơi họ có thể thực hành cho phù hợp. Những thuận lợi của nơi cô tịch được miêu tả trong nhiều Kinh điển, chẳng hạn Kinh Nguyệt Đăng và Từ Thị Sở Vấn Kinh. Có sáu lỗi lầm mà Bồ Tát Long Thọ đã miêu tả trong Thư Gửi Bạn. Trong đó, những địa điểm mà người ta tụ tập là nơi ồn ào hay nơi mọi người đánh bạc. Vì thế, chúng ta không nên đến bất cứ nơi nào phát triển nhiều về vật chất, ví dụ, các thành phố có thể khơi dậy sự tham, sân hay si trong tâm thức. Bởi lẽ đó, ngoại trừ mục đích làm lợi lạc hữu tình chúng sinh và hoằng dương Giáo Pháp, chúng ta nên tránh đến những địa điểm mà nhiều người tụ tập.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Đừng đến những nơi giải trí”. Một địa điểm giải trí là nơi mà những hoạt động nhiễm được cung cấp và người ta tụ tập chơi mạt chược hay chơi cờ, xem phim hay nhảy múa và các trò chơi hay hoạt động giải trí khác. Những nơi đó không những có thể làm tham, sân và si phát triển và còn có thể làm trí tuệ suy giảm. Vì lý do này, những kẻ khôn ngoan tránh mọi nơi như vậy. Rất lâu trước kia, khi Đức Milarepa đang mang theo những tài sản của mình, một bình gốm và một túi tầm ma, dọc đường chiếc bình bị vỡ. Vài cô gái đang trên đường đến Pháp hội thấy ngài và thì thầm với nhau: “Trong Pháp hội,chúng ta cần phát nguyện rằng, trong tất cả các đời tương lai, chúng ta không bao giờ đau khổ như người nghèo khó này”. Cùng lúc, Đức Milarepa cũng phát nguyện rằng, “Nguyện cầu con không bao giờ trở nên ngu dốt như những cô gái này, kẻ không có tri kiến đúng đắn và sự hiểu chuẩn xác”. Hữu tình chúng sinh ngu dốt, không có tri kiến đúng đắn hay sự hiểu thích hợp, hài lòng trong những trò giải trí đầy vô nghĩa. Thay vào đó, hành giả cần quán sát thiên hướng của bản thân một cách cẩn thận và từ bỏ những thói quen cố hữu được phát triển qua nhiều đời nhiều kiếp. Những chỉ dẫn này dường như dễ dàng để làm theo, nhưng thực sự nói thì dễ hơn làm, vì thế chúng ta cần thực hành tinh tấn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>3.9 Ba kiểu hành vi cần tránh</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có ba kiểu hành vi cần tránh:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Giảng Pháp cho những bình chứa không thích hợp,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nói về kinh nghiệm của bản thân khi không được hỏi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thốt ra những từ trái ngược với chân lý.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong Chương Về Khẩu trong Chỉ Dẫn Về Những Chuẩn Mực Của Người Đứng Đầu, Đấng Toàn Tri Mipham Rinpoche giải thích rằng khẩu của chúng ta cần thay đổi tùy theo thời điểm, hoàn cảnh và đối phương; nếu không, thật vô nghĩa khi nói thứ gì đó không nên nói, hay giữ im lặng khi cần phải nói. Mọi thứ không xảy đến như được mong chờ.Thông điệp ở đây giải thích rõ ràng rằng hành giả cần giữ lời nói một cách thích hợp. Trong đoạn này, Patrul Rinpoche nói rằng chúng ta không nên nói ba điều:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Tránh giảng Pháp cho những bình chứa không thích hợp”. Điều này nghĩa là chúng ta không nên thuyết Pháp cho những người không có niềm tin. Với niềm tin, bất cứ từ ngữ hay câu nói nào của chư đạo sư cũng có thể được thấu triệt bởi tâm thức của kẻ thọ nhận, như muối tan vào nước. Giáo lý như phương thuốc chữa lành mọi phiền não và bạn tặng công đức thông thường và siêu việt. Hơn thế, nếu một học trò có niềm tin mạnh mẽ với bậc thầy và Giáo Pháp, thậm chí dù thực hành Pháp khá đơn giản, người học trò sẽ chứng ngộ được ý nghĩa sâu xa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Niềm tin là nền tảng của con đường và là mẹ của mọi thiện hạnh”. Với niềm tin, người ta có thể đạt được phước báu của hạnh nhẫn nhục, tinh tấn cũng như lắng nghe và quán chiếu Giáo Pháp. Niềm tin là cội nguồn của mọi thành tựu trong Năm Con Đường và Mười Giai Đoạn; tất cả được miêu tả rõ ràng trong Tịnh Độ Ngũ Kinh và Giáo Huấn Về Tịnh Độ. Trái lại, sẽ có những kết quả tiêu cực nếu giảng dạy Giáo Pháp Đại thừa và Kim Cương thừa cho một người không có niềm tin với Đại thừa hay Kim Cương thừa, bởi điều này có thể khiến người đó phát triển tri kiến sai lầm. Những ví dụ có thể được tìm thấy trong Kinh Hoa Nghiêm và các học trò liên quan đến điều này được đề cập rõ ràng trong Bồ Tát giới. Đại Trí Độ Luận (Maha-prajnaparamita-sastra) nhấn mạnh rằng, “chính nhờ niềm tin người ta mới có thể bước vào đại dương Giáo Pháp của Đức Phật”. Kinh Bạch Liên Hoa nói, “Kẻ không có niềm tin giống như hạt giống bị thiêu cháy”. Dù vị thầy tốt thế nào hay Giáo Pháp mà Ngài giảng dạy cao cấp ra sao, nếu một đệ tử không có tín tâm giống như người bệnh từ chối dùng thuốc – thứ có thể chữa khỏi bệnh, chẳng ích gì khi giúp đỡ họ. Nguyên tắc này được quán chiếu trong Bách Nghiệp, rằng trước khi giảng Pháp cho hữu tình chúng sinh, Đức Phật và chư A La Hán luôn quán sát xem liệu mọi điều kiện có hội đủ và rằng những chúng sinh sẽ thọ nhận giáo lý này có niềm tin hay không.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Tránh nói về kinh nghiệm của bản thân khi không được hỏi”. Đừng giới thiệu bản thân trừ khi được hỏi. Điều này là để tránh việc khoe khoang về mình. Là hành giả Kim Cương thừa, chúng ta đặc biệt không nên khoe về việc bao nhiêu quán đỉnh mà chúng ta đã thọ nhận, tri kiến chúng ta nắm giữ sâu xa đến nhường nào hay bao nhiêu vị đạo sư mà chúng ta đã gặp. Làm vậy rõ ràng vi phạm các giới luật Mật thừa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Tránh thốt ra những từ trái ngược với chân lý”. Chúng ta cần luôn luôn nói sự thật, không cường điệu hay giảm bớt. Chúng ta cần tự hỏi bản thân những câu hỏi này trước khi nói: “Liệu câu nói này có lừa dối bậc thầy hay hữu tình chúng sinh? Nó có phù hợp với chân lý?”. Một khi chúng ta đã nói dối, bất cứ ai thông minh cũng sẽ mất niềm tin; thậm chí tệ hơn, dù chúng ta có khả năng giảng giải tinh túy của Tam Tạng và mười hai phần của Kinh điển, sẽ thật khó để có lại được niềm tin, chứ đừng nói là giải thoát mọi hữu tình chúng sinh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nói chung, chúng ta cần học cách sử dụng lời nói một cách khéo léo để giới thiệu Phật Pháp cho những người mới. Bên cạnh việc nói với đúng người, nói về những điều đúng vào đúng thời điểm và nói chân lý, chúng ta cần biết cách “thích ứng và làm lợi lạc mọi chúng sinh,” điều được giảng giải chi tiết trong Kinh Hoa Nghiêm. Ví dụ, chúng ta có thể bắt đầu buổi giảng bằng cách nói về sở thích của một người, sau đó dẫn dắt anh ta đến việc nhận ra được khổ đau của luân hồi và chân lý của nhân quả, bằng cách sử dụng các ví dụ từ những việc mà anh ta quen thuộc. Như thế, người này có thể dễ dàng phát khởi tín tâm với Phật Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ba giáo lý này của Patrul Rinpoche là những chỉ dẫn trọng yếu sâu xa. Nếu chúng ta có thể ghi nhớ và thực hành theo, chúng sẽ đem lại lợi lạc lớn lao cho cả bản thân và người khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>3.10 Ba điều không nên làm</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có ba điều không nên làm:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đánh mất sự điềm tĩnh trước bạn bè,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phá vỡ lời hứa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hành xử không nhất quán.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đoạn này tập trung vào tính cách của chúng ta và đưa ra những chỉ dẫn rõ ràng về điều mà ta không nên làm trong đời. Chúng ta “không nên đánh mất sự điềm tĩnh trước bạn bè”. Bạn bè ở đây bao gồm họ hàng, người quen và Pháp hữu. Trước mặt họ, chúng ta cần bình tĩnh và quân bình, không quá hạnh phúc, buồn bã hay tức giận. Với tất cả những người ở đây, chúng ta chắc chắn đã tạo ra kết nối nghiệp tốt lành trong nhiều đờm quá khứ để có thể cùng nhau học Pháp trong đời này. Bởi chúng ta đã phát nguyện cùng nhau trưởng dưỡng Bồ đề tâm và tái sinh về Cực Lạc, chúng ta sẽ là Pháp hữu thân thiết trong các đời tương lai. Biết được điều đó, chúng ta hoan hỷ gìn giữ kết nối Pháp trong cuộc đời ngắn ngủi này. Nếu chúng ta hay thay đổi, thật khó để hòa hợp với các bạn hữu kim cương. Là hành giả, chúng ta cần duy trì sự bình tĩnh, không giống như người thường. Kho Tàng Bảo Châu Cách Ngôn nói, “Kẻ không hài lòng với lời tán dương hay bất mãn bởi lời trách mắng. An trú trong những phẩm tính tốt lành của bản thân là dấu hiệu của một bậc thiện lành”. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng niềm vui và sự tức giận của chư đạo sư chỉ là những sự hiển bày nhằm dẫn dắt học trò. Hơn thế, chúng ta cần khoan dung và thông cảm với những người không thể kiểm soát cảm xúc bởi các điều kiện vật lý của họ, đặc biệt những người mắc phải bệnh tim, bởi họ thường khó kiểm soát tính khí.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Đừng phá vỡ lời hứa”. Chúng ta cần nỗ lực hết sức để hoàn thành những lời hứa với tha nhân, dù gặp phải bao nhiêu rắc rối hay những nghịch cảnh. Như Bồ Tát Long Thọ Từng nói, “Kẻ trí không bao giờ thất hứa dù phải trả giá bằng tính mạng”. Những lời dạy của những bậc trí tuệ giống như chữ được khắc lên đá, trụ mãi bất chấp gió mưa. Điều này không phải kẻ trí hứa hẹn một cách vội vàng, mà các vị sẽ xem xét và quán chiếu về từ ngữ nhiều lần. Nếu lời hứa được đưa ra sau khi đã xem xét, họ sẽ không bao giờ phá vỡ. Những bậc thánh trong quá khứ đã hành xử như vậy và nó cũng cung cấp cho chúng ta một tiêu chuẩn giúp xác định xem một người có đáng tin cậy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Đừng hành xử không nhất quán”. Điều này nghĩa là hành động của chúng ta cần phải kiên định. Các hành giả không nên hành xử tốt đẹp trước mặt người khác nhưng lại phạm nhiều bất thiện hạnh trong bí mật như nhiều kẻ phàm phu xảo quyệt thường làm.Chúng ta nên chân thật, biết rõ rằng bản thân sẽ gánh chịu kết quả của các hành động, dù cho người khác có phát hiện ra hay không. Chừng nào chúng ta còn nỗ lực nhất quán, thời gian sẽ chứng minh rằng chúng ta đáng tin và người khác chẳng sớm thì muộn cũng sẽ công nhận. Vì vậy, hãy thành thật với chư đạo sư, các Pháp hữu và môi hữu tình chúng sinh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong tương lai, các vị thầy Phật giáo cần chú ý tới ba khía cạnh này. Xiển dương Giáo Pháp đòi hỏi nhiều điều kiện, chẳng hạn công đức và trí tuệ. Chỉ đạt được một cấp độ chứng ngộ nhất định thì chưa đủ. Hơn thế, vị thầy cần thật thà, bởi chỉ khi người ta thấy Ngài đáng tin cậy và chân chính, họ mới có thể tin tưởng Giáo Pháp mà Ngài giảng. Tất cả chư đạo sư truyền thừa đều đồng ý rằng tính cách tốt là điều kiện tiên quyết để giảng Pháp; điều này được giải thích trong Kho Tàng Bảo Châu Cách Ngôn, Lời Dạy Về Hành Vi Thế Gian Và Xuất Thế cũng như giáo huấn của Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche.Chúng ta cần đọc các chỉ dẫn này và nương tựa chúng để điều chỉnh bản thân và thay đổi tính cách.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu chúng ta nỗ lực hết mình để trung thành với những chỉ dẫn kể trên, tất cả sẽ trở thành hành giả đầy đủ phẩm tính, và kết quả là Tăng đoàn sẽ an bình. Tôi thành tâm mong rằng những vị có phước báu và công đức sẽ tiếp tục tăng trưởng công đức và những vị thiếu công đức sẽ tích lũy nhờ tuân theo các chỉ dẫn này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>3.11 Ba điều không được làm</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có ba điều không được làm:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trở nên tự phụ và kiêu mạn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nói sau lưng người khác,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Coi thường bất cứ hữu tình chúng sinh nào.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có ba điều mà hành giả không được làm. Đầu tiên là chúng ta không được trở nên tự phụ và kiêu mạn. Nếu chúng ta tin rằng bản thân tốt hơn người khác, chúng ta sẽ lờ đi công đức của họ và những thiếu sót của mình, và vì thế, thật khó để thọ nhận ân phước gia trì từ chư đạo sư truyền thừa. Chúng ta có thể luôn luôn tìm thấy công đức của sự giản dị trong các giáo lý và hành động vĩ đại của chư đạo sư lỗi lạc. Trái lại, chúng ta luôn tìm thấy niềm kiêu hãnh sai lầm trong bản thân. Ví dụ, đôi khi, chúng ta nghĩ, “Những chỉ dẫn này rất dễ dàng”, “Tôi đã nghiên cứu giáo lý đó nhiều lần” và “Tôi dứt khoát làm điều này tốt hơn người khác”. Nhưng chúng ta không bao giờ cố gắng tuân theo các chỉ dẫn này. Một thành tựu giả vĩ đại ở Ấn Độ cổ đã nghiên cứu Đại Thừa Ngũ Kinh 37 lần và Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche đã học Ba Mươi Bảy Pháp Hành Bồ Tát Đạo hơn 100 lần trong đời. Bởi những bậc đạo sư thành tựu như vậy luôn khiêm cung và thành tâm mong muốn học hỏi Phật Pháp, làm sao chúng ta có thể kiêu mạn?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Nguyện cho con trở thành đầy tớ, mềm như vải cốt-tông?” – Bồ Tát Tịch Thiên đã nói vậy. Kho Tàng Bảo Châu Cách Ngôn dạy rằng, “bậc vĩ đại chẳng có nhu cầu kiêu mạn, kiêu mạn của kẻ thấp kém thật vô nghĩa. Viên ngọc thật sẽ chẳng cần giới thiệu, nhưng ngọc giả không ai muốn dù có được tán dương nhiều”. Vì vậy, đừng kiêu mạn! Hãy nhớ, dòng suối công đức không bao giờ ở trên đỉnh núi kiêu ngạo!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thứ hai là chúng ta không được nói sau lưng người khác; điều này cũng bị cấm bởi giới luật. Không giống Đức Phật, chúng ta đều là hành giả với những lỗi lầm và sai sót. Nếu Chúng ta chỉ ra lỗi lầm của người khác một cách trực tiếp, những vị có trí tuệ sẽ trân trọng. Tuy nhiên, thảo luận sai sót của người khác sau lưng họ, chúng ta cần nhớ rằng khi lời nói được lan truyền từ người này sang người khác, chúng có thể bị bóp méo hay hiểu sai bởi những ý định hay cách nói khác nhau. Điều này có thể khiến người khác rời xa chúng ta. Nó có thể bởi nghiệp của mọi người ngày nay, nhưng nhiều người nói những lời dịu dàng nhưng lại nuôi dưỡng ý niệm xấu xa. Chúng ta có thể làm tốt hơn để tránh những kiểu người này. Là hành giả, chúng ta đơn giản nói ra những sự thật; chẳng cần tâng bốc người khác, bởi tâng bốc không giúp đỡ cho sự hành trì. Ngài Đạo Tuyên(Dao-Xuan) nói, “Luôn theo dõi tâm thức và hành vi và bỏ việc nói lỗi người khác”. Trong Thời gian rảnh rỗi, hãy quán chiếu về lẽ vô thường của cuộc đời và khổ đau của luân hồi.Chúng ta có thể quán sát những ý nghĩ, nhìn chúng khởi lên, xem chúng biến mất và theo đuổi chúng cho tới khi chúng kết thúc. Chúng ta có thể tiến hành các thiện hạnh khác, chẳng hạn trì tụng Mật chú hay Kinh điển và cần tránh nói xấu người khác hay lan truyền những tin tức về hành động sai lầm của họ, như thể họ đều là người xấu. Điều này không làm lợi lạc tha nhân cũng như chính chúng ta.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thứ ba là chúng ta không nên coi thường bất kỳ hữu tình chúng sinh nào. Không nên xem thường hay coi nhẹ hữu tình chúng sinh, dù nhỏ như con kiến. Mọi hữu tình chúng sinh đều bình đẳng bởi chúng ta đều có Phật tính. Bồ Tát Thường Bất Khinh, như trong Kinh Pháp Hoa, lễ lạy hữu tình chúng sinh mỗi ngày. Khi vài người đánh Ngài, thậm chí khi Ngài đang bỏ chạy, Ngài nói, “Ta chẳng dám khinh các ông, bởi các ông đều có Phật tính!”. Mặt khác, “Mọi hữu tình chúng sinh đều là cha mẹ của ta” như Đức Longchen Rabjampa nói trong Các Pháp Tu Sơ Khởi. Chúng ta cần phát khởi lòng bi mẫn dành cho cha mẹ trong luân hồi và thực hành tinh tấn để giải thoát họ khỏi đại dương luân hồi. Nhờ đó, lòng kiêu ngạo và kiêu mạn sai lầm sẽ được đẩy lùi. Đức Milarepa từng hỏi trong Đạo ca của Ngài: “Sẽ thế nào nếu một tu viện xuất hiện hoành tráng, dù không ai ở đó biết rằng mọi hữu tình chúng sinh đều là cha mẹ?”. Khi ở trong một tu viện hẻo lánh, nếu tu sĩ, hành xử như kẻ du côn, lăng mạ người khác và chộp lấy của cải của họ, mục đích của việc từ bỏ thế gian để trở thành tu sĩ là gì?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>3.12 Ba điều không nên làm</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có ba điều không nên làm:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cho tiền người giàu</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tin tưởng kẻ xảo trá,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tiết lộ bí mật cho bất kỳ ai.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Đừng cho tiền người giàu” nghĩa là chúng ta không nên trao tặng hay cho người giàu có vay mượn của cải, bởi làm vậy chẳng nghĩa lý gì với họ, họ vốn đã khá sung túc rồi. Như Đức Milarepa nhận xét, trong lúc thực hành khổ hạnh trên núi non, “Nếu chúng ta cúng dường những vị đang tu khổ hạnh ở đó, chắc chắn đó là một sự giúp đỡ đúng lúc, chẳng hạn cúng dường chất đốt trong mùa đông lạnh lẽo. Công đức có được là không thể nghĩ bàn”. Một lượng tiền nhỏ có thể chẳng quan trọng với người giàu. Nếu bạn cho người giàu mượn tiền, anh ta có thể quên và chẳng bao giờ trả, trong khi bạn phải chịu tổn thất. Bởi thế, chúng ta không nên cho tiền người giàu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Đừng tin tưởng kẻ xảo trá” nghĩa là chúng ta không nên phát triển tín tâm với những hành giả không chân thật và xảo quyệt; nếu không, chúng ta có thể bị lừa. Ngày nay có vô số người gian trá trong cõi Nam Thiệm Bộ Châu, nơi chúng ta đang sống. Milarepa từng cất lên Đạo Ca cho những cô gái: “Chúng sinh Nam Thiệm Bộ Châu thích kẻ gian trá hơn là người thông tuệ; hành giả Pháp trong thời suy đồi thích kẻ xấu hơn người tốt; các cô gái không thích hành giả Yogi như Ta mà thích những chàng trai đẹp bình phàm”.Chúng ta nhận ra rằng vài người gian dối ban những giáo lý sai lầm cho người khác,tuyên bố họ giác ngộ. Chúng ta cần xem xét một cách cẩn thận trước khi thọ nhận giáo lý.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Đừng tiết lộ bí mật cho bất kỳ ai” đòi hỏi chúng ta phải giữ các bí mật. Các giáo lý về Mật thừa trong Diệu Huyễn Võng (Guhyagarbha Mayajala) giải thích rất chi tiết về bí mật nào có thể được chia sẻ với chư đạo sư và bí mật nào có thể được chia sẻ với huynh đệ kim cương. Những bí mật này, chẳng hạn trạng thái chứng ngộ và các giới luật giữa những huynh đệ kim cương, cần được giữ bí mật hoàn toàn, nếu không Mật giới sẽ bị bẻ gãy. Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche từng nói: “Về các vấn đề quan trọng, chẳng hạn Bổn tôn của tôi, tôi không bao giờ nói chúng cho bất kỳ ai, kể cả những người thân thiết nhất”. Rất hiếm người có thể giữ bí mật, những điều không nên được phát lộ. Nếu bị lộ ra, mọi người đều sẽ biết và nó trở thành “bí mật mà ai cũng biết”. Tổ Sakya Pandita chỉ ra rằng, “Những bậc thượng căn không che giấu một cách không cần thiết, mà giữ các bí mật trọng yếu, dù cho phải trả giá bằng mạng sống”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>3.13 Ba điều không cần quan sát</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có ba điều không cần quan sát:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thân thể của mỹ nữ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hành vi của bạn bè,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Công đức của bản thân.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hành giả Phật giáo cần quan sát hành động và tâm thức của bản thân với sự tỉnh thức và cảnh giác. Nhưng có ba điều mà chúng ta không nên quan sát:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Đừng quan sát thân thể của mỹ nữ”. Quy tắc này áp dụng cho nam giới; với nữ giới thì cần chuyển thành “đừng quan sát thân thể của mỹ nam”. Bị ảnh hưởng bởi những thói quen, phàm phu thường chỉ nhìn vào hình tướng, chẳng hạn đôi mắt, miệng, dáng, quần áo của một cô gái hấp dẫn ra sao hay một người đàn ông đẹp trai thế nào. Kết quả là, mọi kiểu tưởng tượng bắt đầu hình thành trong tâm cho tới khi chúng sống động và rõ ràng hơn cả chư Bổn tôn mà họ quán tưởng. Sau đấy, họ tìm cơ hội bày tỏ tình yêu mến, điều sẽ tạo ra nghịch duyên cho sự hành trì và phá hỏng sự trong trắng của bản thân. Tất cả hữu tình chúng sinh trong Dục giới đều sinh ra với Dục. Đàn ông ham muốn phụ nữ và ngược lại. Đạo sư vĩ đại Gendun Chophel tuyên bố rằng, thực sự phần lớn đàn ông và phụ nữ đều ham muốn người khác giới dù họ thường không bày tỏ. Thành ngữ Trung Hoa có câu, “Anh hùng khó qua ải mỹ nhân”. Nhiều vị vua đánh mất vương quốc bởi phụ nữ và vài hành giả Phật giáo cũng đánh mất cơ hội đạt giác ngộ bởi ham muốn. Làm sao chúng ta có thể diệt trừ tận gốc luân hồi? Cách thức đối trị lại ham muốn nhục dục là không nhìn vào nhau với lòng tham và ham muốn. Tổ Longchenpa từng đề cập hơn mười lần rằng, với hành giả nam, không nên nhìn hay tiếp cận phụ nữ, bởi họ có thể là “lời nguyền” với hành giả nam. Một hành giả cần chỉnh sửa bất cứ bất thiện hạnh nào,giữ gìn sự trong sạch để giải thoát bản thân và tha nhân khỏi luân hồi và phát triển sự xác quyết mạnh mẽ về hạnh xả ly. Với tâm xả ly mãnh liệt, chúng ta có thể thoát khỏi bám víu với những hiện tượng tạm thời, cấu nhiễm. Dù người bình phàm không thể không có ham muốn, chúng ta cần quán sát tâm thức với sự tỉnh thức và chính niệm, để bất cứ ý niệm ham muốn nào cũng được phát hiện và tiêu trừ ngay. Bên cạnh đó, nếu chúng ta kiểm tra thân người nhờ “quán thân bất tịnh” (Paṭikkūlamanasikāra), chúng ta sẽ nhận ra rằng, dù người phụ nữ có đẹp thế nào, thân thể cũng đầy sự bất tịnh. Thân thể chẳng phải chứa đầy phân và nước tiểu? Một thân thể như vậy vẫn đáng ao ước? Được gia trì bởi bậc thầy và Tam Bảo, phần lớn tu sĩ của chúng ta đều đang làm tốt về điều này. Một mặt, chư vị không trang điểm hay mặc quần áo đẹp, điều giúp đẩy lùi những điều kiện của tham; mặt khác, chư vị nghiên cứu và thực hành Pháp mỗi ngày, dù vài yêu thích về cảm xúc có thể xuất hiện, chư vị có thể xóa tan những điều kiện bất lợi nhờ những phương pháp hay phương tiện thiện xảo khác nhau đã được chỉ dạy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tiếp theo, “đừng quan sát hành vi của bạn bè” dạy chúng ta không nên quan sát (hay tìm lỗi trong) hành vi của bạn bè, họ hàng và Pháp hữu. Mọi người thường đánh giá người khác dựa trên logic thế gian, điều có thể tạo ra nhiều cảm xúc tiêu cực trong họ và ảnh hưởng đến nhận thức thanh tịnh (về vạn pháp). Làm vậy rất bất lợi cho thực hành luyện tâm và có thể gây ra sự quấy rầy với những người thân thiết. Tệ hơn, một số có thể phát triển tà kiến với chư đạo sư, nếu họ dành quá nhiều thời gian thân cận, không có khả năng hiểu những từ ngữ hay hành vi của chư vị. “Nếu con có vài phẩm tính xuất sắc nhưng quá chú tâm tới chúng, con sẽ chán” như Kho Tàng Bảo Châu Cách Ngôn miêu tả. Thay vì tìm kiếm lỗi lầm trong hành vi của một người bạn, chúng ta cần nương theo giáo lý trong Lời Vàng Của Thầy Tôi, bằng cách xem ngôi nhà là Cung Điện Vô Lượng,Pháp hữu là chư Bồ Tát và bằng cách quán sát tâm thức để duy trì nhận thức thanh tịnh. Giống như Đức Milarepa từng nói, “Nếu tình yêu thương thanh tịnh và sự kính trọng không là một phần cố hữu trong tâm thức, xây một Bảo tháp thì được lợi gì?”. Tất thảy giáo lý Phật Đà đều hướng về việc rèn luyện và điều phục tâm thức. Nếu người ta chỉ quán sát tâm họ, thay vì tâm thức người khác, nhiều cảm xúc phiền não sẽ tự nhiên suy giảm và tâm thức chẳng sớm thì muộn sẽ được điều phục.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Đừng quan sát công đức của bản thân” là điều thứ ba trong phần này. Trong khi chúng ta cần quan sát lỗi lầm của bản thân để tiến bộ hơn, nếu luôn tập trung vào và kiêu căng và công đức và những thành tựu của mình, công đức dễ dàng bị phá hủy. Hành vi này cũng ngăn cản chúng ta học hỏi từ người khác, vì thế chúng ta không thể có được công đức còn thiếu. Những đạo sư lỗi lạc trong quá khứ đều rất giản dị và chẳng đoái hoài tới thiện hạnh và công đức của bản thân; thay vào đó, chư vị tiến hành tu tập, tự tại và âm thầm. Tương tự, chúng ta có thể thấy nhiều hành giả đang nghiên cứu và thực hành Pháp thầm lặng và giản dị trong Học viện của chúng ta; có thể điều đó là nhờ ân phước gia trì của chư đạo sư truyền thừa. Mặc dù những hành giả này có nhiều phẩm tính tốt lành và công đức, chư vị không bao giờ phô bày. Đó là những hành giả đáng để noi theo và kính trọng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>3.14 Ba điều cần tuân thủ</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có ba điều cần tuân thủ:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Các buổi nói chuyện với bạn bè,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Quần áo với phong tục địa phương,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tâm thức với Giáo Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đoạn này nói về điều mà ba cửa – thân, khẩu và ý – cần tuân thủ. Đầu tiên, các buổi nói chuyện của chúng ta cần tuân theo bạn bè. Bởi bạn bè và họ hàng có tính cách khác nhau, để làm họ hạnh phúc, lời nói cần liên tục điều chỉnh. Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche cũng dạy trong Đạo Ca Chiến Thắng rằng, “lời nói và hành vi của chúng ta cần thích hợp và đem lại lợi lạc cho bạn bè”. Đây là chỉ dẫn trọng yếu tối thắng, có thể được áp dụng khi giảng Pháp và làm lợi lạc hữu tình chúng sinh. Điều này đặc biệt quan trọng khi chúng ta tiếp xúc với những người thế tục hay với những người mới biết đến Phật giáo, ban đầu chúng ta cần điều chỉnh bản thân hòa hợp với ý kiến của họ, khiến họ sẵn lòng chấp nhận và tin điều ta nói và sau đấy họ sẽ có đủ khả năng lĩnh hội công đức và thiện hạnh của chư đạo sư vĩ đại, chư Phật và Bồ Tát mà chúng ta sẽ nói sau. Tuy nhiên, thích ứng cho phù hợp với người khác không có nghĩa là để họ làm bất cứ điều gì họ thích, không có nguyên tắc nào. Bậc thông tuệ làm chủ hoàn toàn cách thức hòa hợp với hữu tình chúng sinh về lời nói và điều này giải thích tại sao chỉ một chỉ dẫn được ban bởi Ngài có thể làm lợi lạc chúng ta rất nhiều trong suốt cuộc đời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tiếp theo là “quần áo với phong tục địa phương”, tức là chúng ta cần theo các quy tắc bản địa về trang phục. Với hành giả cư sĩ, họ cần ăn mặc thích hợp, không hở hang; với tu sĩ, họ cần mặc y áo một cách đúng đắn. Về y áo tu sĩ, có những yêu cầu đặc biệt trong giới luật, bao gồm kích thước và màu sắc. Tu sĩ không nên mặc quần áo của người thường, chẳng hạn đồ màu trắng hay chất vải sặc sỡ. Nếu một vị Tăng hay Ni khao khát những thứ này, vị ấy phải cầu nguyện đến bậc thầy và Tam Bảo để tránh những nghịch duyên cho việc hành trì. Ở Học viện của chúng ta, cộng đồng tu sĩ gốc Hán phải học cách mặc y Tây Tạng cho đúng, bởi bất cứ thất bại nào trong việc đắp y có thể khiến vẻ ngoài rất bất thường và thiếu phẩm giá. Tu sĩ luôn phải đắp y tu sĩ và không được mặc đồ thường! Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche không bao giờ rời bỏ y tu sĩ của Ngài, dù tính mạng gặp nguy hiểm trong thời Cách Mạng Văn Hóa. Kinh Địa Tạng Thập Luân nói rằng chỉ nhờ đắp y tu sĩ, người ta có thể tránh được ma quỷ; thậm chí nếu một tu sĩ phá giới, người thường không được phép nói về những lỗi lầm của vị đó, chừng nào vị ấy vẫn đắp y. Vì thế, trang phục cần phải thích hợp và vừa vặn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thứ ba là “tâm thức với Giáo Pháp”. Thực hành của một hành giả phụ thuộc chủ yếu vào mức độ tâm thức được rèn luyện. Nếu không hành xử theo Pháp, họ không thể được xem là hành giả chân chính. Giáo lý của Đức Phật có thể được cô đọng thành “từ bỏ ác hạnh, làm các thiện hạnh và tịnh hóa tâm thức”. Nguyên tắc chính yếu của thực hành là điều phục tâm mình. Với một tâm thức được rèn luyện tốt, chúng ta tự nhiên có thể phát triển Bồ đề tâm chân chính, không giả tạo. Với Bồ đề tâm đó, chúng ta sẽ không làm hại dù là nhỏ nhất bất cứ hữu tình chúng sinh nào mà sẽ thực hành bốn phương pháp chiến thắng người khác, sáu Ba-la-mật (những sự hoàn hảo) và tự nhiên tránh xa tám mối bận tâm thế tục, nhất tâm với giáo lý của Đức Thế Tôn. Điều này nhấn mạnh sự khác biệt căn bản giữa tu sĩ và cư sĩ. Ngày nay, có rất ít hành giả rèn luyện tâm thức theo đúng Giáo Pháp, chứ đừng nói đến những người có thể thấu triệt Giáo Pháp. Nhưng chúng ta may mắn làm sao khi gặp được một vị đạo sư vĩ đại như Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche và được dạy dỗ trong truyền thống vinh quang của việc nghiên cứu và thực hành Pháp mỗi ngày. Vì thế, chúng ta cần nỗ lực để giữ tâm hòa hợp với Giáo Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>3.15 Ba điều không nên nghe theo</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có ba điều mà người ta nên lờ đi:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những lời tán dương từ người khác,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lời nói của một người không kiên định,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lời khuyên của kẻ ngu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chúng ta, những hành giả, cần nghe theo Giáo Pháp thay vì những từ ngữ vô nghĩa đối nghịch với tri kiến đúng đắn. Ba chủ đề sau đây là những thứ mà chúng ta nên lờ đi:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Hãy lờ đi những lời tán dương từ người khác” gợi ý rằng chúng ta nên thờ ơ những lời tán thán của người khác bởi chúng có thể dễ dàng làm khởi lên kiêu mạn và khiến ta trở thành nạn nhân của tám mối bận tâm thế tục. Một hành giả không nên bám víu vào bất cứ lời khen ngợi nào về công đức của anh ta, mà cần “xem những lời tán dương như tiếng vang” như Đức Atisha từng đề cập. Chúng ta phải rõ ràng về việc liệu mình có công đức như vậy hay không, nếu không thì chúng ta không thể hưởng công trạng cho điều đó; tuy nhiên, kể cả khi là đúng, cũng không cần thiết phải chấp nhận lời khen ngợi. Những lời ngợi khen khác với sự tùy hỷ. Tùy hỷ công đức của người khác sẽ giúp chúng ta có được công đức giống như vậy (Pattanumodhamai). Không như những người thế tục, hành giả không nên cảm thấy tự mãn khi nhận lời khen. Chúng ta cần biết về bản thân, bất kể lời nói của người khác có dễ chịu hay không – như Kho Tàng Bảo Châu Cách Ngôn nói, “kẻ không hài lòng với lời tán dương hay bất mãn bởi lời trách mắng. An trú trong những phẩm tính tốt lành của bản thân là dấu hiệu của một bậc thiện lành”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Hãy lờ đi lời nói của một người không kiên định”. Một người không kiên định thì không chắc chắn và thường đổi ý. Thành ngữ có câu, “về quần áo, đồ mới là tốt nhất; về bạn bè, bạn cũ là tốt nhất”. Người với tính cách thẳng thắn thường đáng tin cậy, thành thật về lời nói và thận trọng khi kết bạn mới. Giống như vậy, những hành giả tận tụy thường có mối quan hệ với một nhóm Pháp hữu và đối xử với mọi người và mọi sự rất điềm tĩnh, không như người khác, hành xử như ong, bay lượn đây đó, chạy theo các quán đỉnh và đạo sư khác nhau. Những người này không ổn định, giống như cỏ mọc trên tường sẽ đổ theo chiều gió. Họ sẽ gặp khó khăn trong việc đạt các thành tựu trong thực hành Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Hãy lờ đi lời khuyên của kẻ ngu”. Kẻ ngu ở đây là những người chưa có trí tuệ từ nghiên cứu và thực hành Pháp; họ không có tri kiến đúng đắn và không tin tưởng vào luật nhân quả. Những người này dễ dàng bị ảnh hưởng bởi tám mối bận tâm thế tục và nhầm lẫn Pháp xuất thế gian vô cấu nhiễm là chất độc. Ví dụ, nhiều người thế tục cố gắng thuyết phục tu sĩ từ bỏ đời sống xuất gia để nỗ lực vì “một cuộc đời ý nghĩa” và có được địa vị xã hội. Không có tri kiến đúng đắn vững chắc, chúng ta có thể sẵn lòng nghe theo lời nói của những người này. Nếu điều này xảy ra, chúng ta sẽ phá hỏng những mong chờ về sự giác ngộ và chẳng có gì khác ngoài khổ đau bất tận. Vì thế, chúng ta cần nương tựa vào chỉ dẫn của chư đạo sư vĩ đại để rèn luyện tâm thức và vun bồi trí tuệ thực tiễn để phân biệt đúng – sai.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>3.16 Ba điều không nên tìm kiếm</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có ba điều mà người ta không nên tìm kiếm:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Của cải của người giàu,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Địa vị đáng kính trọng</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trang phục lộng lẫy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hành giả rất khác với những người thế gian và thậm chí quan điểm về cuộc đời của họ còn khác hơn nữa. Hành giả tìm kiếm công đức tích lũy từ ba sự rèn luyện, tức: hài lòng với rất ít ham muốn, giữ gìn giới luật thanh tịnh và vun bồi trí tuệ rốt ráo. Trong khi đó, người đời mong mỏi những nguyên nhân thật sự của luân hồi, sự trói buộc mà tu sĩ cố gắng phá vỡ – của cải, tình dục, danh tiếng, thức ăn và ngủ nghỉ (ngũ dục). Vài vị đạo sư trong truyền thống Sakyapa nói rằng những kẻ mong cầu thế giới bình phàm không thể được xem là hành giả. Hành giả cần từ bỏ những ham muốn thế gian – như thế, không tìm kiếm ba kiểu ham muốn điển hình. Đầu tiên là “không tìm kiếm của cải của người giàu”. Thậm chí nếu một người giàu có như vị vua tài bảo, tiền bạc của anh ta hoàn toàn vô nghĩa nếu không được dùng để cúng dường mà chỉ để ăn no và mặc đẹp. Mọi tài sản đều bị bỏ lại đằng sau khi họ chết; không một xu nào có thể được đem theo, và nó cũng chẳng có giá trị gì trong đời tương lai của người đã chết. Tuy nhiên, bởi những thói quen tập khí, phần lớn mọi người đều chìm trong những ham muốn và khát khao khi nhìn thấy sự giàu có. Kết quả là, họ có thể cúng dường rộng lớn hay cầu nguyện đến Hoàng Tài Bảo Thiên, thay vì Phật A Di Đà hay Bồ Tát Quan Âm, bằng cách nói rằng, “bậc thầy, chư Phật và Bồ Tát, xin hãy gia hộ cho con vận may, để con có thể dâng cúng Tăng đoàn”. Điều này là không cần thiết. Tăng đoàn sẽ tự nhiên được cúng dường với công đức của chư vị, miễn là chư vị thực hành đúng đắn. Người ta không phải là hành giả chân chính nếu họ không thực hành mà lại mong cầu của cải. Patrul Rinpoche nói rõ rằng một hành giả, trở nên giàu hơn, đang không thực hành tốt. Chừng nào mà hành giả vẫn có nơi ở và đồ ăn và có thể nghiên cứu và thực hành Pháp, thế là đủ. Bồ Tát Long Thọ nói: “Hạnh phúc tối thắng là hài lòng với ít ham muốn”. Một chương trong Kinh Di Giáo nói về công đức của việc hài lòng với ít ham muốn và những lỗi lầm của việc tìm kiếm sự thịnh vượng. Vì thế, những hành giả không nên trở thành thương nhân trá hình. Nếu chúng ta hành xử như những người chỉ cầu nguyện đến Đức Phật với hy vọng nhận được của cải, điều này làm lãng phí đời người quý giá. Thân người này cần được dùng để đạt được những điều quan trọng nhất trong đời, để hoàn thành bảy sự giàu có cao quý và để không bị vấy bẩn bởi của cải thế gian.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thứ hai, “không tìm kiếm địa vị đáng kính trọng”. Thông thường, một người bình thường sẽ tìm cách để có được địa vị xã hội cao. Khi địa vị của họ suy giảm, họ chẳng thể ngủ được. Chúng ta, những hành giả tu sĩ, không nên mong cầu bất cứ địa vị xã hội nào. Patrul Rinpoche nói trong Lời Vàng Của Thầy Tôi rằng: con có thể cao quý như Ngọc Hoàng, giàu có như Long Vương, đẹp đẽ như chư thiên; dù cho những điều này là đúng, mọi thứ đều vô thường, vì thế, con cần nỗ lực để thực hành Thánh Pháp. Thực sự, địa vị xã hội không tạo ra thực hành tốt đẹp. Nhiều thành tựu giả đã đạt giác ngộ nhờ thực hành tinh tấn và thầm lặng. Vì thế, dù là một tu sĩ hay cư sĩ cũng đều không cần tìm kiếm địa vị xã hội cao. Nếu người ta không có tâm thức về việc làm lợi lạc tha nhân, địa vị cao hơn sẽ chỉ tạo ra thêm ác nghiệp và cũng gây hại đến dòng tâm thức.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thứ ba, “không tìm kiếm trang phục lộng lẫy”. Nếu một hành giả ăn mặc với rất nhiều sự quan tâm, anh hay cô ta có thể gặp khó khăn trong việc thành tựu bất cứ thực hành nào. Ở Tây Tạng, phần lớn các đạo sư ăn mặc đơn giản, ngoại trừ vài trường hợp, những vị buộc phải ăn mặc đẹp để làm lợi lạc chúng sinh. Nhiều tu sĩ và đạo sư lỗi lạc của truyền thống Kadampa luôn mặc đồ của kẻ ăn xin. Ở Trung Hoa, Pháp Sư Ấn Quang, vị Tổ thứ 13 của Tịnh Độ Tông, đi một đôi giày trong 5 năm và mặc một bộ y trong hơn 10 năm. Điều quan trọng hơn nhiều là tịnh hóa tâm thức để nó trở nên thanh tịnh như một bông sen nhờ nghiên cứu, quán chiếu và thực hành Pháp hơn là mặc quần áo sặc sỡ, thoải mái hay đắt tiền. Trong Kinh Di Giáo, Đức Phật nói một cách ẩn dụ, giải thích rằng tâm thức dịu dàng và kiên nhẫn là y áo. Tóm lại, thực hành Thánh Pháp liên quan đến việc tô điểm tâm thức chứ không phải vẻ bề ngoài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>3.17 Ba điều không nên nói xấu</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có ba điều không nên nói xấu:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những vị đáng kính trọng và hỗ trợ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những món đồ nhỏ lẻ của người khác,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chư đạo sư từ ái.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có hai cách giải thích về “nói xấu”. Đầu tiên là đưa ra những tuyên bố sai lầm và gây hại ở cấp độ của sự thật tương đối; thứ hai là làm cho bản tính trống rỗng của vạn pháp có thực chất. Kinh Niết Bàn nói: “Này thiện nam tử! Nếu một người nói rằng, ‘Mọi chúng sinh dứt khoát sở hữu, hay không sở hữu, Phật tính’, người như vậy đang nói xấu Phật, Pháp và Tăng”[2]. Nhưng chúng ta cần rõ ràng rằng giáo huấn này chỉ đến từ chân lý tương đối.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Không nên nói xấu những vị đáng kính trọng và hỗ trợ” nghĩa là chúng ta không nên nói xấu chư đạo sư Phật giáo, những bậc đáng nhận được sự kính trọng của mọi người.Chúng ta không đủ khả năng để hiểu trọn vẹn ý nghĩa ẩn giấu của hành động và từ ngữ của các vị đạo sư vĩ đại, vì thế, chúng ta không nên nói xấu chư vị. Hơn thế nữa, bởi chư đạo sư thường được bảo vệ bởi nhiều người và Bổn tôn, nói xấu sẽ chỉ tạo ra những điều kiện bất lợi cho chúng ta. Ví dụ, có một vị đạo sư nổi tiếng ở Tây Tạng nói xấu Rinpoche của chúng ta khi ông ấy chỉ trích vài hành vi của Rinpoche. Sau đấy, ông ta bắt đầu gặp phải nhiều nghịch cảnh và cuối cùng, ông ấy trở thành bình thường như người đời. Từ quan điểm của nhân quả, nói xấu (Phật, Pháp và Tăng) cũng không được phép. Chagme Rinpoche nói rằng quả báo từ việc nói xấu Bồ Tát còn ghê gớm hơn cả giết hại tất cả hữu tình chúng sinh trong tam giới. Nó chắc chắn không được tính là nói xấu nếu chúng ta cố gắng xua tan những điều không chắc chắn và hoài nghi liên quan đến tri kiến đặc biệt nhờ áp dụng một vài trong số những bản văn và lý luận; tuy nhiên, sẽ là nói xấu nếu chúng ta phản bác người khác vì sự đố kỵ, lòng tham hay bất cứ cảm xúc tiêu cực nào khác. Vì thế, chúng ta cần duy trì sự tỉnh thức và cẩn thận về lời nói.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chúng ta không nên nói xấu về những món đồ nhỏ lẻ của người khác. Hành giả không cần phải đi mua sắm hay bình phẩm về hàng hóa, dù chúng là giả hay thật, đắt hay rẻ, ngoại trừ việc mua những nhu yếu phẩm hàng ngày. Bình luận tiêu cực về hàng hóa có thể khiến người bán gặp tổn thất sau khi thỏa thuận khó khăn với người mua, điều thật bất hạnh với người bán nghèo khó. Các hành giả nên nhắc nhở bản thân rằng họ cần làm lợi lạc mọi hữu tình chúng sinh. Những chúng sinh đau khổ bị ép buộc (bởi nghiệp) phải kiếm sống. Những người bán hàng trong các cửa tiệm hay chợ giống như tù nhân, phải ở cửa hàng suốt ngày; một số thậm chí chẳng có ghế để ngồi. Những người này rất phấn khích khi khách hàng đến và mọi điều họ có thể nghĩ là bán hàng. Nhưng một thỏa thuận có thể dễ dàng bị phá nếu ai đó đưa ra nhận xét không tốt về sản phẩm. Chúng ta chỉ nên quan tâm tới công việc của bản thân, bởi việc của chúng ta không phải là bình luận hay nói xấu về hàng hóa của người khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Không nên nói xấu chư đạo sư từ ái”. Không ai trong tam giới tử tế với chúng ta hơn những vị thầy. Nói xấu bậc thầy không chỉ khiến chúng ta đánh mất ân phước gia trì của chư đạo sư truyền thừa mà còn dẫn chúng ta đến những khổ đau bất tận trong các đọa xứ. Vì thế, chúng ta không bao giờ được phép nói xấu các vị thầy mà cần chăm lo cho chư vị như cách mà ta làm với đôi mắt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>3.18 Ba kiểu người không nên tán dương</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có ba kiểu người không nên tán dương:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những vị bị chỉ trích bởi tất cả,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những kẻ ngu dốt tự phụ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Con trẻ với tâm trí đơn giản.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thông thường, chúng ta cần tán thán công đức của chư Phật, Bồ Tát và những tu sĩ và đạo sư lỗi lạc. Mipham Rinpoche từng tuyên bố rằng, tán thán chư Phật, Bồ Tát và những tu sĩ và đạo sư lỗi lạc có thể làm hoàn thiện công đức. Nhưng có vài kiểu người không nên được tán dương.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chúng ta không nên tán dương những người mà mọi người đều chống lại. Nếu chúng ta làm thế, chúng ta có thể tự đưa mình vào những rắc rối không mong đợi. Các giới luật và chỉ dẫn của vài vị đạo sư miêu tả rõ rằng, chúng ta không được đề cao bậc thầy của mình bằng những từ ngữ giả tạo, vậy làm sao có thể tán dương kẻ bị chỉ trích bởi tất cả?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chúng ta không nên tán dương người ngạo mạn hay ngu dốt. Người ta có thể tỏ vẻ giễu cợt nếu họ tán dương một người đã tuyên bố là giác ngộ nhưng thậm chí không thể giải thích ý nghĩa bên trong của quy y hay các giáo huấn đơn giản khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chúng ta không nên tán dương con trẻ với tâm trí đơn giản. Tán dương con trẻ quá mức có thể thổi phồng cái ngã của chúng, khiến chúng nghịch ngợm hơn và khó dạy dỗ. Mipham Rinpoche tin rằng trẻ con dưới 16 tuổi cần được đối xử với kỷ luật chặt chẽ và yêu cầu nghiêm khắc (giống như chúng ta đối xử với kẻ thù). Thành ngữ cổ nói rằng, một bậc thầy nghiêm khắc sẽ tạo ra học trò xuất sắc. Không có kỷ luật nghiêm khắc, đứa trẻ có thể trở thành một người trưởng thành thiếu giáo dục, ngu dốt và chẳng cómục đích sống.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>3.19 Ba kiểu người không nên tán dương hay nói xấu</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có ba kiểu người không nên tán dương hay nói xấu:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Họ hàng của mình,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Các bậc thầy vô danh,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bất kỳ ai.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Đừng tán dương hay nói xấu họ hàng của mình”. Tán dương họ hàng có thể khiến mọi người ấn tượng rằng chúng ta đang giả tạo; trong khi nói xấu họ hàng lại khiến người ta tin rằng chúng ta cũng chẳng tốt đẹp gì, bởi được nuôi dạy trong cùng môi trường đó. Thực sự, mọi người đều được sinh ra với những thói quen khác nhau. Vài người có thể sử dụng lời tán dương quá mức trong khi số khác dường như thích nói xấu người khác. Nếu chúng ta có những thói quen xấu này, hãy nỗ lực để thoát khỏi chúng trong khi tiếp tục nói sự thật và tránh sự tán dương và xem nhẹ vô lý.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Đừng tán dương hay nói xấu các vị thầy vô danh”. Thật bất cẩn khi tán dương một vị đạo sư vô danh. Tán dương bất cứ bậc thầy nào ngay lần đầu tiên gặp gỡ là vô trách nhiệm; điều này là bởi chúng ta thậm chí chẳng biết vị đạo sư ấy sở hữu công đức (thế gian hoặc xuất thế gian) nào. Tương tự, nói xấu chư đạo sư mà chúng ta không biết công đức, kỹ năng giảng dạy hay chứng ngộ, đơn giản cho thấy chúng ta ngu dốt thế nào.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tựu chung lại, “đừng tán dương hay nói xấu bất kỳ ai nói chung”. Một mặt, không cần thiết phải đưa ra những lời khen ngợi vô nghĩa cho mọi người hay bất kỳ ai. Mặt khác,nói xấu bất kỳ ai cũng bị cấm bởi chúng ta không biết ai có thể giúp chúng ta tiến bộ trong thực hành. Thiếu sót của người khác có thể nhắc nhở chúng ta quán xét bản thân; khổ đau của người khác có thể khơi dậy tâm xả ly và lòng đại bi; sự bền bỉ của người khác có thể truyền cảm hứng để ta phát khởi tâm tinh tấn và niềm tin. Thực sự, tất cả mọi người trong cuộc đời của chúng ta đều có thể cho chúng ta cảm hứng lớn lao, vì thế không ai được phép bị nói xấu. Chỉ dẫn này vô cùng xuất sắc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>3.20 Quán sát bản thân là bắt buộc</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Các chỉ dẫn như vậy thì rất nhiều;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tựu chung lại, điều bắt buộc là</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Luôn quán sát bản thân,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đây là tinh túy của trí tuệ thế gian hay xuất thế gian.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Patrul Rinpoche kết luận rằng mặc dù có những chỉ dẫn tương tự trên thế giới này, tóm lại, điều quan trọng là quán sát bản thân; đây là tinh túy của cả thực hành thế gian và xuất thế gian. Người đời nhấn mạnh vào tự-kiểm điểm, tự-học hỏi và tự-kiểm tra, chữ đạo sư xuất thế cũng vậy. Là hành giả, chúng ta cần liên tục quán sát bản thân để có thể khắc phục được những cảm xúc phiền não và tránh sai lầm. Ngoài ra, đây là nguyên tắc căn bản để trở thành một người cao quý.</span></p>
<ol style="text-align: justify;" start="4">
<li><strong> Kết luận</strong></li>
</ol>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là một hành giả Yogi với trí tuệ thanh tịnh,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ta đề ra những chỉ dẫn đơn giản này để điều phục tâm mình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chúng chứa đựng ý nghĩa sâu xa và cần được thực hành.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Patrul Rinpoche, vị Yogi với trí tuệ thanh tịnh, đã đưa ra những chỉ dẫn đơn giản này nhằm điều phục tâm thức của ngài. Đó là các chỉ dẫn sâu xa và trọng yếu mà mỗi hành giả cần thực hành theo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chúng ta sẽ hành xử ra sao khi biết rằng thậm chí hành giả Yogi vĩ đại – Đức Patrul Rinpoche – cũng đã thực hành theo những chỉ dẫn này? Chúng chứa đựng ý nghĩa bên ngoài, bên trong và bí mật. Các giảng giải nói trên chỉ liên quan đến ý nghĩa bên ngoài của bản văn nhưng hành giả cần phải quán chiếu cả ý nghĩa bên trong và bí mật của những chỉ dẫn này khi hành trì.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Xin hồi hướng tất thảy công đức cho mọi hữu tình chúng sinh, nguyện họ thoát khổ, đoạt hạnh phúc và nhanh chóng giác ngộ!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bài giảng được chuyển dịch sang Anh ngữ vào ngày 20 tháng 2 năm 1999, hiệu đính lại vào ngày 30 tháng 3 năm 2006.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Khenpo Sodargye giảng</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em><span style="font-weight: 400;">Nguyên tác: A Brief Commentary on the Instructions to Oneself(http://www.khenposodargye.org/teachings/foundation/a-brief-commentary-on-the-instructions-to-oneself/).</span></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><span style="font-weight: 400;">Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ</span></em></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mọi sai sót là lỗi của người dịch. Xin thành tâm sám hối trước Tam Bảo, Tam Gốc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mọi công đức có được xin hồi hướng hết thảy hữu tình chúng sinh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">[1] Legs par bshad pa rin pa che'i gter (Treasury of Aphoristic Jewels).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">[2] Kinh Đại Bát Niết Bàn, Phẩm Ca Diếp Bồ Tát Thứ Hai Mươi Bốn, Tỳ kheo Thích Trí Tịnh dịch từ Hán sang Việt: “Nếu nói rằng tất cả chúng sanh quyết định có Phật tánh, hoặc nói quyết định không Phật tánh, đều gọi là hủy báng Phật, Pháp, Tăng.”.</span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/binh-giang-ngan-gon-ve-nhung-chi-dan-danh-cho-ban-than-cua-patrul-rinpoche-2/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Mở rộng Tâm với lòng Bi</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/mo-rong-tam-voi-long-bi/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/mo-rong-tam-voi-long-bi/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 18 Oct 2015 03:39:11 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Bồ Đề Tâm]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Ningthik]]></category>
		<category><![CDATA[Longchen Ningthik]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tương đối (Từ-Bi-Hỷ-xả)]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6232</guid>
		<description><![CDATA[Trong chương này tôi sẽ nói về lòng bi và sự thiền định về lòng bi. Nhưng trước khi đi vào lòng bi, tôi muốn nhắc đến đôi điều quan trọng, sẽ giúp chúng ta dễ dàng hiểu được lòng bi là gì, làm sao để phát triển lòng bi và lòng bi có thể lợi ích như thế nào.&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/mo-rong-tam-voi-long-bi/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Trong chương này tôi sẽ nói về lòng bi và sự thiền định về lòng bi. Nhưng trước khi đi vào lòng bi, tôi muốn nhắc đến đôi điều quan trọng, sẽ giúp chúng ta dễ dàng hiểu được lòng bi là gì, làm sao để phát triển lòng bi và lòng bi có thể lợi ích như thế nào.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong Phật giáo, tâm là trọng điểm chính – cội nguồn của mọi hạnh phúc và bất hạnh, và là chìa khóa dẫn đến giác ngộ. Lẽ dĩ nhiên sự nhấn mạnh về tâm này làm một số người nói: “Những Phật tử là vị kỷ; họ sống trong cô tịch và thiền định một mình chỉ để giữ gìn cẩn thận tâm họ và đạt được sự mãn nguyện cá nhân. Họ không ra ngoài và làm việc trong đường phố với người cần họ phục vụ,” v.v…</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy nhiên, như bạn biết, trong Phật giáo nói chung, và nhất là trong Phật giáo Đại Thừa, phần quan trọng nhất của thực hành là để phát triển điều chúng ta gọi là Bồ-đề tâm, tâm của sự giác ngộ. Đây là thái độ nhận lấy trách nhiệm giúp đỡ người khác, phục vụ người khác và áp dụng vào hành động không có bất cứ động cơ ích kỷ nào. Đó là điểm quan trọng nhất trong Phật giáo. Lẽ đương nhiên, việc một Phật tử thực sự theo đuổi một cuộc sống như thế hay không là vấn đề của riêng cá nhân họ. Nhưng những gì Phật giáo hay giáo lý đạo Phật dạy chúng ta là nên cống hiến toàn bộ cuộc sống, toàn bộ quan điểm, và mọi hành động của chúng ta chỉ để phục vụ người khác, để mở rộng thân, tâm mình đến người khác, đến toàn thể pháp giới. Khi mở rộng tâm mình đến người khác, chúng ta cũng mở rộng chính mình và phục vụ chính ta. Do vậy quan điểm nhận trách nhiệm phục vụ người khác đáp ứng hai mục đích.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta phục vụ người khác như thế nào? Mục tiêu là để phục vụ người khác, nhưng chúng ta bắt đầu ra sao? Chúng ta phải bắt đầu với chính mình. Nếu tôi có ý định phục vụ bạn, tôi phải bắt đầu với chính tôi, bằng cách cải thiện quan điểm và hành vi để tôi trở thành một người phục vụ tốt cho bạn. Nếu không, thậm chí ngay cả khi tôi cố phục vụ bạn, tôi sẽ không thể làm được như vậy một cách thích hợp. Trước tiên chúng ta phải cải thiện chính mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta có thể cải thiện tâm mình chỉ khi chúng ta có thể rèn luyện tự chủ tâm. Nếu tâm tôi tàn độc, bất cứ những gì tôi nói đều là lời lẽ của thô bạo và bất kỳ những gì tôi làm một cách trực tiếp hay gián tiếp đều sẽ làm hại người khác và cả chính tôi. Nhưng nếu có lòng bi, hiền lành và trí tuệ trong tâm trí và tấm lòng thì bất cứ những gì tôi nói sẽ là lời lẽ của tình thương, an bình, hoan hỷ, và bất kỳ những gì tôi làm đều sẽ phục vụ và lợi ích người khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Do vậy, để phục vụ người khác, chúng ta phải bắt đầu với chính mình, và để cải thiện chính mình, chúng ta nên bắt đầu với tâm thức, bằng cách rèn luyện nó và phát triển tâm Bồ-đề. Và đó là tinh hoa trong phương thức của đạo Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Câu hỏi kế tiếp là: “Tâm là gì?” Đối với tâm, có hai phương diện: tâm giác ngộ và tâm khái niệm.<br />
<b><br />
Tâm giác ngộ </b></p>
<p style="text-align: justify;">Tâm giác ngộ, hay Phật tánh, là thật tánh của mỗi người. Đạo Phật tin rằng tất cả chúng sanh, không chỉ nhân loại mà còn cả loài vật, bao gồm côn trùng nhỏ nhất, đều có tâm giác ngộ. Thật tánh của tâm là sự giác ngộ, và nó là an bình và trong sáng. Bản tánh an bình và trong sáng của tâm có thể hiểu được qua cuộc sống hằng ngày của chính chúng ta và qua trí tuệ đạo Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Có lẽ tất cả chúng ta đều có thể đồng ý rằng nếu tâm không bị quấy động bởi các sự kiện bên ngoài, các cảm xúc tranh giành, hoặc những khái niệm chấp cứng, thì nó trở nên an bình. Tâm chúng ta càng trở nên an bình thì nó càng trong sáng. Giống như nước sẽ trong trẻo và yên tĩnh nếu không bị ô nhiễm hay khuấy động; như bầu trời sẽ thanh khiết và trong sáng nếu không bị ô nhiễm và che phủ bởi mây; cũng vậy, khi tâm thức không bị khích động bởi cuộc sống lôi cuốn và cảm xúc náo loạn thì nó an bình. Càng trở nên an bình, tâm càng có trí tuệ và trong sáng.</p>
<p style="text-align: justify;">Những cảm xúc không chỉ làm nhiễu loạn sự an tĩnh của chúng ta, mà còn cả đến sự trong sáng của tâm. Đó chính là lý do vì sao chúng ta thường nghe những lời phàn nàn như: “Tôi giận quá không còn phân biệt được gì,” hoặc “Tôi bối rối quá chẳng thể hiểu được gì cả; không còn thấy được gì cả!” Khi cảm xúc hoặc tốc độ bận rộn của cuộc sống làm chúng ta choáng ngợp, đầu óc ta trở nên hoàn toàn mù quáng hay trống rỗng, không có nhiều trí tuệ hoặc khả năng.</p>
<p style="text-align: justify;">Trạng thái tự nhiên của tâm là yên tĩnh và trong sáng. Việc đem tâm trở về trạng thái này không chỉ là điều có thể làm được mà còn là quan trọng là để cải thiện cuộc sống chúng ta. Phật giáo thậm chí còn đi xa hơn thế nữa. Người Phật tử tin rằng bản tánh thật sự của tâm, tự tâm chân thực, là giác ngộ. Tâm giác ngộ là rộng mở, nhất như và toàn giác.</p>
<p style="text-align: justify;">Đối với tâm giác ngộ được rộng mở, khi tâm giác ngộ thấy sự vật, nó không khái niệm hóa trong khuynh hướng nhị nguyên. Nó thấy mọi sự như một trong tánh giác trí tuệ tự nhiên chính nó, giống như hình tướng phản chiếu trong một tấm gương. Nếu không sử dụng khái niệm nhị nguyên thì bạn hoàn toàn rộng mở đến toàn bộ pháp giới, giống như không gian hoàn toàn rộng mở, không có biên giới hay hạn chế. Tuy nhiên, chúng ta thường sử dụng khái niệm nhị nguyên. Khi thấy cái bàn, chúng ta nghĩ: “Đó là một cái bàn,” và chúng ta thấy nó ở đó như một đối tượng. Khi chúng ta nghĩ về cái bàn như một đối tượng, chúng ta định vị tâm mình là chủ thể, và do vậy tính nhị nguyên được thiết lập. Tính nhị nguyên được đi theo bởi tư duy phân biệt – “Đây là một cái bàn tốt, một cái bàn xấu, v.v…” – và từ đó chúng ta dựng nên một thế giới cứng ngắc của những bức tường và rào cản. Trái lại, tâm giác ngộ thấy sự vật trong một sự rộng mở hoàn toàn, không có bất cứ điều kiện nào.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu có sự rộng mở hoàn toàn thì không thể có bất cứ biên giới nào, vì không có sự phân chia chủ thể và đối tượng. Do vậy, dĩ nhiên mọi sự là một, không phân biệt. Nếu mọi sự là một, thì không thể có bất kỳ xung đột hay mâu thuẫn, vì xung đột và mâu thuẫn hiện hữu với điều kiện phải có hai hay nhiều quan điểm.</p>
<p style="text-align: justify;">Bây giờ bạn có thể suy nghĩ: “Điều đó có nghĩa tâm giác ngộ là một loại trạng thái ngủ say hay trống không, vì ngay cả nó không thể thấy các đối tượng.” Không. Trái lại, tâm giác ngộ là toàn giác. Tâm giác ngộ thấy mọi thứ. Không chỉ là mọi sự, mà mọi sự một cách tự nhiên. Đó là phẩm tánh của tâm Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Xét theo một nghĩa, tâm giác ngộ thật quá xa lạ với chúng ta đến nỗi khó có thể hình dung về nó. Tuy nhiên, ta có thể có một ý niệm sơ sài về nó qua những câu chuyện “các kinh nghiệm cận tử” mà tôi thường thích trích dẫn. Dĩ nhiên một số kinh nghiệm này có thể chỉ là những ảo giác hoặc do thuốc gây ra. Nhưng nhìn chung thì có một số điều kỳ lạ bộc lộ trong những kinh nghiệm đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngay cả người không cần nhận ra tâm giác ngộ cũng có một số kinh nghiệm bên trong hay tâm linh trong suốt tiến trình chết, trước khi bước sang đời sống mới. Theo những gì tôi đã đọc trong sách và nghe kể lại, nhiều người kinh nghiệm việc đi qua một đường hầm và gặp ánh sáng tại cuối đường. Ngay khi tiếp xúc với ánh sáng họ cảm thấy an bình và hỷ lạc kỳ lạ. Nhưng điều kỳ lạ nhất mà họ nói là sự an bình và hỷ lạc đó chính là ánh sáng, và ánh sáng chính là hỷ lạc và an bình. Những gì họ cảm thấy là ánh sáng, và họ hòa nhập không chia cách với ánh sáng ấy. Do vậy, những người này có một kinh nghiệm không thông qua cách của tâm nhị nguyên thông thường. Ánh sáng không chỉ là một công cụ đem đến cho họ sự an bình. Ánh sáng là an bình và họ cũng chính là ánh sáng, và như vậy, chủ thể, đối tượng, kinh nghiệm tất cả đều là một.</p>
<p style="text-align: justify;">Một người đàn ông khác kể chuyện sau khi chết một vài phút, ông ta thấy mọi sự đã xảy ra trong cuộc đời ông, từ khi sinh đến lúc chết. Ông không chỉ thấy từng sự kiện tiếp nối – mà thấy lập tức toàn bộ cuộc đời ông. Ông không thực sự thấy bằng mắt hoặc biết bằng tâm, mà chỉ nhận biết mọi thứ một cách sống động.</p>
<p style="text-align: justify;">Do vậy, tâm giác ngộ thật sự không quá xa lạ. Tất cả chúng ta đều có thể kinh nghiệm nó khi nhận ra chân lý, hoặc vào một số thời điểm chuyển đổi quan trọng trong đời sống. Nhưng nếu không phải là một thiền giả, bạn có thể bạn không nhận ra tâm giác ngộ trong khi kinh nghiệm nó và sẽ lại xao lãng bởi toàn bộ những cảm xúc và khái niệm của thế gian.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Tâm khái niệm </b></p>
<p style="text-align: justify;">Tâm khái niệm là những gì xảy ra khi tâm giác ngộ bị chướng ngại bởi những cảm xúc và khái niệm che phủ. Nó là diện mạo của tâm kinh nghiệm sự vật qua khái niệm nhị nguyên, bám chấp vào bản ngã, tư duy phân biệt, và kinh nghiệm đau khổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi một đối tượng xuất hiện trước chúng ta, ví dụ như cái bàn, chúng ta lập tức ghi nhận: “Đây là một cái bàn.” Làm như vậy, chúng ta quan niệm cái bàn là một đối tượng, và tâm ta tự động trở thành chủ thể, và do vậy tính nhị nguyên (gNyis ’Dzin) được thiết lập.</p>
<p style="text-align: justify;">Chính vào lúc suy nghĩ nhị nguyên bắt đầu, chúng ta “bám chấp vào bản ngã” (bDag ’Dzin), có nghĩa là chúng ta chấp vào đối tượng như một thực thể có thật. Trong Phật giáo, sự bám chấp tinh thần không chỉ là sự chấp ngã hoặc “cá nhân” (Gang Zag), cái tôi, là tôi, và của tôi, mà còn bám chấp vào “hiện tượng hiện hữu” (Tạng, Ch’os, Sanskrit: dharma – pháp), như cây cối, cái bàn, bạn bè, hoặc người nào đó.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Sự phân biệt </b></p>
<p style="text-align: justify;">Sự bám chấp tinh thần này kéo theo sau đó những tư duy phân biệt – những ý nghĩ rằng cái bàn này là tệ, xấu, v.v…</p>
<p style="text-align: justify;">Một khi chúng ta đã gán nhãn lên đối tượng theo cách này, tất cả mọi loại cảm xúc (Tạng: Nyon Mongs, Sanskrit: klesha – phiền não), như khao khát hay thù ghét… nảy sinh. Chúng ta nghĩ: “Tôi phải có cái bàn tuyệt đẹp này,” hoặc “Tôi ghét có cái bàn này, nó thật xấu xí.” Cảm xúc chính là những tư tưởng và cảm nhận bám luyến hay thèm khát sự vật mà ta đã ấn định như là đẹp và ghét bỏ những sự vật mà ta đã ấn định như là xấu. Cảm xúc làm phát triển và mạnh mẽ khái niệm nhị nguyên, chấp ngã, và suy nghĩ phân biệt của chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta càng quay tròn trong chu trình của tâm khái niệm, sự trở thành những khuôn mẫu suy nghĩ nhị nguyên càng mạnh hơn, trói chặt hơn sự chấp ngã, càng suy nghĩ phân biệt rộng khắp hơn, và càng choáng ngợp những cảm xúc. Kết quả là đau khổ và kích động, làm cuộc sống thế gian thăng trầm. Bánh xe của cuộc sống trần tục này sau đó tự nó chuyển động, xoay chuyển không gián đoạn. Và đây chính là vị trí mà chúng ta đang hiện hữu ngày nay. Tất cả người phàm tục chúng ta đều nằm trong vòng xoay của tâm khái niệm này với những suy nghĩ nhị nguyên, tâm phân biệt, cảm xúc tranh đua, đau khổ và khích động. Cuộc sống chúng ta là như vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong quyển Năng lực chữa lành của tâm sắp xuất bản của tôi có một câu chuyện minh họa điều này. Khi tôi còn bé, khoảng sáu hay bảy tuổi, chúng tôi đi chơi và ăn ngoài trời. Vì chúng tôi hầu như không ra khỏi tu viện bao giờ, nên lần ra ngoài này là một cơ hội rất hiếm có. Chúng tôi đi trong vài ngày đến những cánh đồng xanh tươi rộng rãi rất đẹp ở Tây Tạng. Ở giữa các ngọn núi cao, có một cánh đồng xanh trải rộng. Toàn bộ cánh đồng được che phủ bằng những bông hoa nhiều màu sắc. Tôi chạy quanh đây đó với đôi chân trần, tận hưởng sự tiếp xúc với cỏ xanh, cái thấy và không khí tốt lành.</p>
<p style="text-align: justify;">Đột nhiên một cơn đau nhói xuyên qua chân. Tôi ngã xuống đất và toàn thân co lại vì đau. Dường như toàn bộ thế gian đều trở thành sự đau đớn. Tôi không biết điều gì xảy ra. Cuối cùng một người lớn đến kiểm tra và mở rộng các ngón chân tôi, bắt được một con ong. Khi con ong bắt đầu chích, các ngón chân tôi co chặt lại. Chân tôi càng co chặt, con ong càng chích, và càng bị chích ngón chân tôi càng co chặt, cứ tiếp diễn mãi như thế. Nhưng ngay khi ngón chân tôi mở ra, con ong được tự do, sự đau đớn, ít nhất là cơn đau đang hành hạ tôi được giảm xuống.</p>
<p style="text-align: justify;">Tương tự như vậy, theo Phật giáo, chính sự bám chấp vào bản ngã, nghĩa là tâm thức bám chấp vào cái tôi, là tôi, của tôi, cái bàn, người khác, kẻ thù của tôi, v.v… như những thực thể có thật, là gốc rễ của đau khổ. Khi tâm ta càng bị chật hẹp hơn, ta càng cảm thấy đau khổ hay kích động gia tăng. Nhưng khi tâm ta được buông lỏng và dịu đi, thì ta càng trở nên an bình, yên tĩnh và trong sáng. Và vì thế, như đã nói trước đây, tâm là chìa khóa, là điều quan trọng nhất để cải thiện, chữa lành và giải thoát.</p>
<p style="text-align: justify;">Mọi hình tướng luôn xuất hiện trước chúng ta, dù ta là Phật hay phàm phu. Tuy nhiên, một vị Phật có thể thấy mọi sự cùng lúc không giới hạn, trong khi cái thấy của một người phàm phu bị giới hạn, méo mó và tâp trung vào một việc trong một lúc. Một vị Phật nhìn thấy với cái gọi là hai trí tuệ: trí tuệ nhìn thấy hình tướng đúng như thật tánh của chúng và trí tuệ nhìn thấy hình tướng như vẻ ngoài của chúng. Trái lại, nhận thức của người thường là giới hạn, cứng nhắc và lừa dối.</p>
<p style="text-align: justify;">Gốc rễ sự khác biệt giữa một vị Phật và chúng ta nằm trong cách chúng ta nhận thức sự vật – dù hình tướng, âm thanh, cảm nhận, hay ý niệm. Khi thấy bất cứ thứ gì chúng ta đều chấp vào nó như thể nó có một bản ngã, một thực thể thực sự hiện hữu. Do làm như vậy, chúng ta bắt đầu phân chia “cái tôi” như chủ thể và hình tướng “sự vật” như đối tượng. Điều này dẫn đến khái niệm tri thức phân biệt sự vật là tốt hay xấu. Điều này lần lượt làm phát triển cảm xúc phiền não nung nấu, ngọn lửa của cái được gọi là kinh nghiệm của đau khổ và kích động.</p>
<p style="text-align: justify;">Một vị Phật thấy mọi sự cùng lúc, hoàn toàn nhất như và rộng mở, không bám chấp vào tự thân của hiện tượng xuất hiện. Do vậy, không có sự phân biệt thành chủ thể và đối tượng, không có tâm phân biệt, không cảm xúc phiền não, và không kinh nghiệm đau khổ hay kích động.</p>
<p style="text-align: justify;">Điểm mà chúng ta rơi vào luân hồi hoặc được giải thoát vào trạng thái giác ngộ là khi chúng ta bám chấp hoặc không chấp vào hiện tượng xuất hiện như thể chúng có một bản ngã. Điểm này giống như công tắc điện mở hay đóng. Nó là nguồn gốc và nguyên nhân của mọi đau khổ. Như Đức Shantideva đã nói:</p>
<p style="text-align: justify;">Mọi sự quá khích, sợ hãi, và đau khổ</p>
<p style="text-align: justify;">Hiện hữu trong thế gian</p>
<p style="text-align: justify;">Đều xuất phát từ chấp ngã.</p>
<p style="text-align: justify;">Do vậy chúng ta sử dụng con quỷ đáng kinh sợ này làm gì?</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu không buông bỏ bản ngã,</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta sẽ không thể chấm dứt đau khổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Giống như nếu không buông lửa khỏi tay,</p>
<p style="text-align: justify;">Thì không thể tránh khỏi việc bị phỏng.</p>
<p style="text-align: justify;">Thế nên, mục tiêu chính của tu tập thiền định là nhận ra và hoàn thiện sự nhận biết Phật tánh, thoát khỏi những che chướng tri thức bắt nguồn từ việc chấp ngã và những che ám cảm xúc của tham, sân, và si. Sự nhận biết này sẽ chỉ đến qua các phương pháp làm giảm và tẩy sạch cảm xúc phiền não và khái niệm tri thức nhị nguyên qua tu hành thiền định và những công đức tu tập, chẳng hạn như của lòng bi.</p>
<p style="text-align: justify;">Mục tiêu tối hậu của thiền định là giải thoát khỏi chấp bám vào hình tướng, nhưng không phải ngăn chận chính bản thân hình tướng. Như vị tổ vĩ đại Tilopa của Ấn Độ thời xưa đã nói:</p>
<p style="text-align: justify;">Này con trai, hình tướng không phải là vấn đề, mà sự bám chấp vào nó mới là vấn đề.</p>
<p style="text-align: justify;">Này Naropa hãy cắt đứt sự chấp bám.</p>
<p style="text-align: justify;">Mục đích của thiền định không chỉ là giữ cho không có cảm xúc và niệm tưởng, mà là nhận ra thật tánh, Phật tâm; là hoàn toàn giải thoát khỏi chấp ngã và thành tựu hoàn toàn của an bình tối hậu, rộng mở, nhất như và toàn giác.</p>
<p style="text-align: justify;">Có lần, Saraha, một vị tổ vĩ đại nhất của Phật giáo Ấn Độ thời xưa đang theo đuổi rèn luyện mật tông với phối ngẫu của Ngài trong nơi cô tịch. Một ngày nọ, Ngài yêu cầu vị phối ngẫu làm món củ cải. Tuy nhiên khi vị phối ngẫu đến để dâng lên ngài, Ngài đã nhập định và trụ trong đó mười hai năm. Cuối cùng, khi xuất định Ngài lập tức hỏi vị phối ngẫu: “Món củ cải của ta đâu?”. Một lúc sau, Saraha nói với vị phối ngẫu rằng Ngài muốn đi vào núi để thiền định. Vị phối ngẫu từ chối dứt khoát: “Cô lập thân thể không phải là sự cô đơn thực sự. Sự cô đơn tối thượng là giải thoát khỏi (bám chấp) vào các đặc tính (hay những đối tượng hình ảnh) và các khái niệm tinh thần.” Bà nhận xét: “Mặc dù Ngài nhập định mười hai năm, Ngài vẫn không thể cắt đứt đặc tính vi tế của món củ cải khỏi tâm Ngài. Vậy đi vào núi có ích gì?” Nghe theo nhận xét minh bạch này, Saraha thiền định không chỉ về sự vắng bặt khái niệm, mà còn về sự nhận biết của chân lý tuyệt đối (gNyug Ma’i Don), và cả hai đều trở thành những vị tổ vĩ đại.<br />
<b><br />
Các giai đoạn tiến bộ</b></p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta cải thiện và chữa lành tâm khái niệm và cảm xúc của mình như thế nào? Nói chung, điều quan trọng là biết rằng có ba giai đoạn để qua đó ta thực hiện theo trí tuệ Phật giáo. Đó là những giai đoạn tiêu cực, tích cực và hoàn thiện.</p>
<p style="text-align: justify;">Với giai đoạn trước tiên, nếu chúng ta có nhiều khái niệm cứng rắn, nhị nguyên, kinh nghiệm các cảm xúc mãnh liệt, thường bị phiền muộn và đau khổ hành hạ, thì cuộc sống của chúng ta đang ở trong chu trình tiêu cực của cuộc sống trần tục. Vậy, giờ đây chúng ta nên làm gì? Chúng ta nên chuyển đổi từ giai đoạn tiêu cực của cuộc sống phàm tục đến một cuộc sống tâm linh tích cực, và sau đó từ giai đoạn tích cực đến giai đoạn hoàn thiện, sự nhận biết của tâm giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Giai đoạn của chúng ta ở đây bây giờ, dù có chấp nhận hay không, chủ yếu là tiêu cực. Ngoài ra, điều này có thể thúc đẩy một số người nói: “Đạo Phật là bi quan yếm thế.” Nhưng quan điểm này không bi quan. Nó là hiện thực. Nhiều người trong chúng ta thực sự cảm thấy đau khổ và buồn phiền. Và ngay cả khi chúng ta sống trong cuộc sống rất tốt và hạnh phúc, thì điều đó cũng không kéo dài. Cảm giác này thường biến mất sau vài ngày, và chúng ta không biết những gì sẽ xảy ra sau đó. Hôm nay có thể chúng ta khỏe mạnh, nhưng lại không biết về ngày mai. Ngày nay chúng ta còn sống, nhưng không thể kiểm soát được những gì xảy ra cho ta trong ngày mai. Ngày hôm nay có thể chúng ta giàu có, nhưng ngày mai có thể mất hết mọi thứ.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế, không có gì là chắc chắn; mọi sự đều thay đổi, đang được treo bằng một sợi dây mong manh. Tất cả mọi thứ đều thay đổi, đó là đặc tính vô thường; là tiêu cực, không đáng tin cậy, và không tích cực hay hoàn thiện. Do vậy chúng ta cần tiến đến một cuộc sống tích cực. Để rồi vào một lúc nào đó trong tương lai chúng ta có thể đi đến hoàn thiện.</p>
<p style="text-align: justify;">Bất cứ lúc nào chúng ta phát triển một khái niệm, quan điểm, nhận thức, hoặc cảm nhận – nếu khái niệm hay cảm xúc làm giảm đi sức mạnh và sự trói buộc của tính nhị nguyên, trói buộc của chấp ngã, cảm xúc và kinh nghiệm, thì đó là cái thấy tích cực và một kinh nghiệm tích cực. Các thực hành về bố thí, trì giới, thiền định về lòng bi, sùng kính, suy niệm, v.v… sẽ nâng cao trạng thái tích cực của tâm. Chúng ta cần sử dụng suy nghĩ, và cảm xúc tích cực để cải thiện cuộc sống mình và dần dần tiến đến sự hoàn thiện.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự nhận biết của tâm giác ngộ, Phật tánh, là hoàn toàn rộng mở, nhất như, và toàn giác, đó là sự viên mãn. Giai đoạn viên mãn (hoàn thiện) là vượt lên suy nghĩ và cảm nhận tích cực. Tuy nhiên, điều này không cần thiết là mục tiêu của hôm nay, mà là mục tiêu của tương lai. Bây giờ, chúng ta nên cố gắng đi từ giai đoạn tiêu cực đến giai đoạn tích cực.<br />
<b><br />
Lòng bi</b></p>
<p style="text-align: justify;">Đạo Phật đưa ra những pháp tu nào để giúp ta đi từ tiêu cực đến tích cực và sau đó đến hoàn thiện? Tất nhiên, vô số những thực hành thiền định của đạo Phật đều dành cho mục đích này. Nhưng hôm nay, chúng ta đang nói về lòng bi, do vậy lòng bi sẽ được chọn như phương tiện để xóa bỏ chu trình của tâm khái niệm.</p>
<p style="text-align: justify;">Lòng bi có ba khía cạnh. Điều này không cần thiết giải thích đúng nguyên văn, nhưng tôi sẽ cố gắng sắp xếp để chúng ta dễ hiểu.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước tiên là lòng bi tích cực, nó giới hạn, có cảm xúc và dựa trên khái niệm, nhưng là một tiếp cận tích cực.</p>
<p style="text-align: justify;">Thứ hai là lòng bi phổ quát, mặc dù vẫn còn dựa trên khái niệm nhưng rộng hơn lòng bi tích cực vì nó phổ quát. Đây là cách tiếp cận với lòng bi mạnh mẽ nhất có thể đưa ra bởi một tâm khái niệm.</p>
<p style="text-align: justify;">Cuối cùng là lòng bi của đức Phật, sự toàn khắp hay năng lực tỏa khắp (Thugs rJe Kun Khyab) của đức Phật. Đây là sự viên mãn của lòng bi.</p>
<p style="text-align: justify;">Để bắt đầu, chúng ta thiền định về lòng bi tích cực. Để phát triển lòng bi này, chúng ta suy nghĩ chú tâm hoàn toàn về người nào đó đang đau khổ, và liên tục nghĩ về cảm giác đau khổ. Chúng ta cảm nhận sự đau khổ của người đó bằng cách đặt chính mình vào vị trí của họ. Kết quả là một lòng bi vô điều kiện phát sinh tận đáy lòng ta, cùng với một cảm giác quyết tâm nhận trách nhiệm làm nhẹ bớt nỗi đau của người ấy, đem đến hạnh phúc và giác ngộ cho họ. Thái độ quan tâm và quyết định nên được áp dụng vào thực hành qua sáu pháp ba-la-mật (Tạng: Phar Phyin, Phạn: paramita) như sự rộng lượng và khoan dung.</p>
<p style="text-align: justify;">Lòng bi này là nhị nguyên, dựa trên khái niệm và được thúc đẩy bằng cảm xúc, nhưng nó là một thái độ tích cực và dẫn đến hành động tích cực, cố gắng làm những điều tốt nhất cho người khác trong khả năng của ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó điều gì xảy ra? Dĩ nhiên, tất cả các bạn đều đồng ý rằng quan tâm đến người khác là điều tuyệt vời. Nhưng còn hơn như vậy nữa, nó tạo ra nghiệp tốt, công đức, lợi ích cho người khác và cho chính chúng ta. Ngoài ra, khi đưa tay giúp người khác một cách tình cảm, chúng ta phá bỏ và tiêu diệt những rào cản tâm thức, những phòng ngự tình cảm, và sự phân biệt giữa tôi với bạn, giữa bạn bè tôi và kẻ thù tôi, điều này làm chia cắt giữa tôi với bạn, chúng ta với người khác, chủ thể với đối tượng.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở đây, chúng ta không bám chấp vào sự định danh như tôi, bạn bè tôi, v.v… Tâm thương yêu, quan tâm, hoàn toàn rộng mở của chúng ta với đầy đủ sức mạnh của cảm xúc tích cực, bùng phát mạnh mẽ và vươn tới những người đau khổ. Chúng ta tiếp cận những người đang đau khổ từ tận đáy lòng mình, và sau đó đến với tất cả không giới hạn. Ngoài việc phá bỏ lớp vỏ tâm thức và giúp đỡ không phân biệt, sức mạnh tình cảm dạt dào của lòng bi này cũng khuấy động và giải phóng mọi cảm xúc, khái niệm không thích hợp và nhiễm độc mà chúng ta đã tích lũy.</p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù loại lòng bi này là cảm xúc và dựa trên khái niệm, nhưng nó là tích cực. Và khi ta vẫn còn đầy những khái niệm và cảm xúc, ta nên dùng chúng với sự thuận lợi nhất của mình để đẩy chúng ta trên con đường tích cực. Nếu có thể phát triển lòng bi như vậy trong tâm thức, thì bất cứ việc gì chúng ta làm cũng đều sẽ trở thành một hoạt động của lòng bi và là một suối nguồn của hạnh phúc cho người khác và cho chính chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Lòng bi phổ quát là hoàn toàn mở rộng tâm ta với lòng bi đến toàn bộ pháp giới. Trong đó, chúng ta không cần thiết tập trung vào một người hay một vài người đang đau khổ, mà là đến tất cả – toàn bộ pháp giới. Trong thực tế, tất cả chúng sanh đều đau khổ trong chu trình luân chuyển chìm nổi của vô thường. Ngay cả khi chúng ta cảm thấy hạnh phúc và cuộc sống hoàn hảo, nhưng rồi điều đó sẽ thay đổi. Vì thế, chừng nào chúng ta còn ở trong chu trình thay đổi này, chúng ta vẫn còn trong vòng đau khổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy nhiên, chúng ta không phải thất vọng về điều này, vì ta có thể cải thiện tương lai mình bằng việc cải thiện tâm qua sự phát triển lòng bi. Như đã đề cập đến trong lòng bi tích cực, chúng ta nên liên tục suy nghĩ và cảm nhận nỗi đau khổ của toàn bộ pháp giới để phát triển một lòng bi mạnh mẽ giúp vươn tới tất cả và nhận trách nhiệm dẫn dắt tất cả đến hạnh phúc và giác ngộ, không giới hạn hay phân biệt.</p>
<p style="text-align: justify;">Về mặt tâm lý, tình cảm và sinh lý, sự tu tập này làm mở ra và trải rộng tâm và năng lượng của ta đến người khác và chính chúng ta, đến toàn thể pháp giới. Nó giúp chúng ta vượt lên lòng bi chật hẹp về gắn chặt với chính mình, gia đình, con cháu, hoặc một người cụ thể nào đó đang chịu sự đau buồn. Nếu chúng ta có thể mở rộng tâm hoàn toàn không có bất cứ biên giới, giới hạn, hay phân biệt nào đến pháp giới vô tận, thì đó là lòng bi và sự tu tập tâm linh tốt nhất trong phạm vi của tâm cảm xúc và khái niệm. Tâm thức, năng lượng và hành động chúng ta sẽ biểu thị lợi ích cho tất cả, bất chấp ai, dù là bạn bè hay kẻ thù, hoặc bề ngoài của họ đau khổ hay hạnh phúc.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự viên mãn hoàn toàn của lòng bi là lòng bi của đức Phật. Lòng bi của Phật là khía cạnh phổ quát hoặc năng lực tỏa khắp của Phật tánh. Nếu nhận ra và hoàn thiện tâm giác ngộ, chúng ta sẽ thành Phật, và năng lực tỏa khắp sẽ là lòng bi Phật của chính chúng ta. Vì thế, năng lực tỏa khắp của tâm thức giác ngộ và của đức Phật chính là đức từ bi.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng, xin nhắc lại, đây là mục đích cuối cùng, không phải mục tiêu trước mắt. Mục tiêu trước mắt của chúng ta là phát triển lòng bi tích cực, một lòng bi cảm xúc và dựa trên khái niệm, hướng đến những người đang đau khổ. Chúng ta cần bắt đầu với một người đang đau khổ, sau đó trải rộng ra đến nhiều người hơn và phát triển một thệ nguyện, một quyết tâm, từ tận đáy lòng: “Tôi nhận trách nhiệm giúp đỡ người này.” Sau đó chúng ta không chỉ dừng lại với những tư duy tích cực, mà còn áp dụng chúng với việc làm tích cực.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Thiền định về lòng bi</b></p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta có thể thiền định về lòng bi bằng việc nghĩ về chuyện của một người đang đau khổ – quán tưởng hình ảnh và cảm nhận nỗi đau. Điều này có thể theo sau bằng một thiền định về chính lòng bi và về ánh sáng chữa lành của Đức Phật Đại Bi, Đức Quán Thế Âm (Avalokiteshvara) để chữa lành đau khổ. Trước khi bắt đầu thiền định, có ba điểm quan trọng để giải thích.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước tiên là phát triển một lòng bi mạnh mẽ xuất phát từ tận đáy lòng mình hướng đến người đang đau khổ, khiến nước mắt chảy ra khỏi mắt ta, các chân lông trên thân dựng đứng, và nếu đang ngồi ta thấy cần phải đứng dậy, nếu đang đứng, ta cảm thấy cần phải ngồi. Suy nghĩ và cảm nhận nỗi đau khổ là chìa khóa quan trọng nhất để gợi lên lòng bi trong chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở đây, một số người có thể nghĩ: “Điều này quá nhạy cảm và đau khổ với tôi. Thậm chí tôi không thể hình dung một cảm giác như vậy.” Ngay lúc đầu tiên của thiền định, chúng ta có thể phát sinh cảm giác buồn nản. Nhưng lợi ích vĩ đại sẽ theo sau. Thiền định này thúc đẩy chúng ta nhận ra bản chất thực sự cấu thành cuộc sống này – sự đau khổ. Nó gợi cảm hứng để tự chúng ta thoát ra khỏi chu trình đau khổ và cứu người khác khỏi đau khổ. Như chúng ta đã đề cập trước đây, loại lòng bi cảm xúc và dựa trên khái niệm tích cực này mở rộng tâm thức đông cứng, chật hẹp của chúng ta bằng việc phá bỏ những giới hạn và hạn chế của tinh thần và cảm xúc ta. Nó phơi bày và giải phóng những thứ vô nghĩa mà chúng ta đã và đang bảo vệ trong chính mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Thứ hai là quán tưởng rõ ràng một người nào đó đang đau khổ và có những tư duy, cảm nhận mạnh mẽ về kinh nghiệm mà người đang đau khổ phải trải qua. Chúng ta đặt chính mình trong vị trí của người đó, cảm nhận nỗi đau đớn và sợ hãi. Sự quán tưởng một hình ảnh cụ thể và suy nghĩ về một thảm kịch thật sự với từng chi tiết sẽ đánh thức những cảm giác mạnh mẽ, chắc chắn, sống động và như thật của đau khổ và bản tánh đau khổ trong chúng ta. Và đó là chìa khóa để phát triển lòng bi.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở đây, một số người có thể cảm thấy: “Tại sao không để mặc người đang đau khổ này một mình?” Theo trí tuệ đạo Phật, nếu có người làm cho người khác phát sinh tư duy công đức hoặc thực hiện hành động đạo đức, thì người đó sẽ tạo được công đức. Ngoài ra, trong thiền định, không chỉ suy nghĩ về nỗi đau khổ của người này, mà chúng ta còn đem ân phước chữa lành từ Đức Phật Đại Bi và chia sẻ với người đó để chữa lành. Thế nên, chúng ta không chỉ sử dụng một người đang đau khổ như một phương tiện đạt được hạnh phúc và giác ngộ cho chính mình mà còn làm lợi ích cho người đó và người khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Thứ ba là quán tưởng Đức Phật Đại Bi để phát triển lòng tin và sùng kính Ngài, để cầu nguyện Ngài, và để đem ánh sáng ban phước của Ngài xoa dịu đau khổ của chính chúng ta, cũng như của những người khác và toàn thể pháp giới.</p>
<p style="text-align: justify;">Một số người có thể nghĩ rằng cầu nguyện đến Đức Phật Đại Bi là sự thờ phụng thần quyền hoặc dựa vào tha lực. Tuy nhiên, Phật giáo không tán thành sự thờ phụng thần quyền. Phật giáo tin rằng nguồn lực duy nhất của sự thành tựu tâm linh chân thật là chính tâm chúng ta. Chỉ chính tâm chúng ta là nguồn năng lực tối thượng, vì nó sở hữu tâm giác ngộ, đó là Phật. Song, những Phật tử thực sự có sử dụng các hình tượng, cùng với nhiều thứ khác, như những nguồn giáo lý tâm linh, cảm hứng và sự hỗ trợ. Điều này được gọi là phương tiện thiện xảo. Nếu chúng ta thấy điều gì đó là tích cực và sử dụng nó trong cách tích cực, thì kết quả tích cực sẽ nảy sinh. Khi một hình ảnh được sử dụng có một ý nghĩa tâm linh, nó có thể giúp ích chúng ta rất nhiều trong việc làm phát sinh những lợi ích tâm linh. Chúng ta tiếp nhận những lợi ích tối cao vì của chính tâm mình, thái độ tinh thần và cái thấy của chúng ta, không bởi hiện tượng bên ngoài.</p>
<p style="text-align: justify;">Chính Đức Phật nói rằng Ngài chỉ phô bày cho chúng ta con đường hướng đến Phật tánh, một con đường mà Ngài đã hoàn tất. Nhưng thực tế đi trên con đường đó hoàn toàn do con người, những cá nhân, Đức Phật đã nói:</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Ta đã chỉ cho các ngươi con đường giải thoát,</i></p>
<p style="text-align: justify;">Giờ đây việc đạt được giải thoát là do các ngươi.</p>
<h4 class=" wauto" style="text-align: justify;"><strong>Tulku Thondup Rinpoche </strong></h4>
<h4 class=" wauto" style="text-align: justify;"><em>Việt ngữ:  Tuệ Pháp</em></h4>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/mo-rong-tam-voi-long-bi/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nhận ra bản tánh của tâm</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/nhan-ra-ban-tanh-cua-tam/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/nhan-ra-ban-tanh-cua-tam/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 10 Oct 2015 17:08:51 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Ningthik]]></category>
		<category><![CDATA[Longchen Ningthik]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống]]></category>
		<category><![CDATA[Đại Toàn Thiện]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6134</guid>
		<description><![CDATA[ORGYEN KUSUM LINGPA Các giáo lý Dzogchen tiệt trừ ngay cả những che chướng vi tế nhất ngăn trở ta trong việc chứng ngộ Phật tánh. Đó là các che chướng thô, các che chướng vi tế và các khuynh hướng tập quán. Thêm vào đó, chúng ta có các che chướng xảy ra từ khi được thụ thai trong&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/nhan-ra-ban-tanh-cua-tam/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<h4 class=" wauto" style="text-align: center;">ORGYEN KUSUM LINGPA</h4>
<p style="text-align: justify;">Các giáo lý Dzogchen tiệt trừ ngay cả những che chướng vi tế nhất ngăn trở ta trong việc chứng ngộ Phật tánh. Đó là các che chướng thô, các che chướng vi tế và các khuynh hướng tập quán. Thêm vào đó, chúng ta có các che chướng xảy ra từ khi được thụ thai trong một tử cung. Giây phút tâm thức trung ấm được lôi kéo vào tử cung của bà mẹ nó, ở đó nó trú ngụ một thời gian nhất định, tâm thức trở nên hoàn toàn bị che chướng đến nỗi cho dù một cá nhân đã từng là một đại học giả trong đời trước, khi được sinh ra từ tử cung người ấy phải trải qua toàn bộ tiến trình học hỏi một lần nữa. Các bạn sẽ không nhớ lại kiến thức mà các bạn đã có trong quá khứ và thậm chí sẽ phải học lại vần abc. Cũng có sự che chướng xảy ra từ sự kết hợp tính dục, và cho tới khi ta có thể chuyển hóa các khuynh hướng tập quán thông thường nhờ sự thực hành thuộc giai đoạn phát triển, các che chướng này rất khó tẩy trừ.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong Dzogchen, chúng ta nương tựa vào cái thấy, thiền định, và hành động. Ba điều này phải được thành tựu trong đời này. Trong khi các bạn ở trên con đường, nhiều chướng ngại có thể xuất hiện, và các bạn phải học cách đưa chúng lên con đường đức hạnh và chuyển hóa chúng. Một chướng ngại ám chỉ bệnh tật và các loại quấy rầy khác nhau xảy ra, chẳng hạn như các tai nạn. Điều mà ta phải giải thoát là những niệm tưởng phiền não xuất hiện và khiến cho ta cảm thấy buồn hay vui hoặc bất kỳ điều gì khác. Khi bệnh tật xảy ra và các bạn có một niệm tưởng về sự khó chịu, các bạn phải giải thoát các niệm tưởng của mình khỏi chướng ngại đó. Chướng ngại sẽ nảy sinh, nhưng các niệm tưởng được giải thoát và đây là điều được nhắm tới bằng cách đưa các chướng ngại vào con đường. Để làm được như thế các bạn cần nhận ra các chướng ngại khi nó đang xuất hiện. Nhờ sự nhận ra này chướng ngại có thể được tự-giải thoát. Rất cần thiết phải vẫn tự do đối với việc mong cầu lẫn sự buồn phiền để tiến bộ theo con đường của thực hành Dzogchen.</p>
<p style="text-align: justify;">Như tôi, đã nói hôm qua, Ba Lời Đánh vào Điểm Trọng yếu tương ứng với tên của ba đạo sư vĩ đại. Cái thấy là Longchen Rabjam, “sự bao la vô hạn vĩ đại”. Thiền định là Khyentse Ozer, “các tia sáng của trí huệ và tình thương”. Hành động, hay sự hoạt động, là Gyalwe Nyugu, “con trai của các đấng Chiến Thắng”. Với cái thấy này về sự bao la vô hạn vĩ đại, thiền định về các tia sáng của trí huệ và tình thương, và hành động của tất cả các đấng Chiến Thắng, ta sẽ có năng lực trong đời này để tẩy trừ sự bám chấp và dính mắc nhị nguyên, gốc rễ của vô minh, và cội nguồn của việc bám chấp vào một bản ngã. Quả thật, ta không chỉ có thể tẩy trừ mà còn có thể tiêu diệt hoàn toàn độc tố này từ tận gốc rễ của nó. Không nhận ra được cái thấy thì việc tiệt trừ này sẽ không thể có được, và vì thế tiến trình này phải thật rõ ràng.</p>
<p style="text-align: justify;">Ta phải hiểu rõ bản tánh nền tảng của tánh Không, cũng chính là sự hiểu biết về bản tánh của tâm. Sự hiểu biết bản tánh nền tảng của tánh Không có hai phần: ta phải phát triển sự xác tín vào sự vô ngã của cái ta và sự vô ngã của mọi sự xuất hiện. Điều này có nghĩa là ta tiệt trừ tâm thức nhị nguyên của sự bám nắm vào một cái ta và sự dính mắc vào các sự xuất hiện. Khi đó, ta có thể nhận thức được rằng mọi sự xuất hiện thì không hiện hữu.</p>
<p style="text-align: justify;">Được bao gồm trong “mọi sự xuất hiện” là sáu tri giác: sự thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm và ý thức, chúng bao gồm căn bản của kinh nghiệm khách quan. Tất cả những tri giác này không hiện hữu từ quan điểm của bản tánh nền tảng của tánh Không. Và cực chủ thể của tri giác, có nghĩa là bản thân ta, thì không hiện hữu. Một khi hai trạng thái của sự vô ngã hay không hiện hữu này được nhận thức, ta ở trong một vị trí để được giới thiệu một cách đúng đắn vào cái thấy của Dzogchen. Đây là cái thấy về bản tánh bẩm sinh của ta như giác tánh nội tại, thoát khỏi sự tin tưởng rằng có một cái ta thực sự hiện hữu và có thực của các sự xuất hiện.</p>
<p style="text-align: justify;">Tiến trình của sự xác quyết điều này là trước tiên khám phá sự không hiện hữu của cái ta (bản ngã). Để thực hiện, ta phải mổ xẻ thân xác ta, ấy là nói vậy, trong một cố gắng định vị cái “ta” này, bản ngã này, quan niệm về cái ngã này, để xem nó hiện hữu trong đầu ta, trong tứ chi hay các bộ phận khác của cơ thể, hoặc ở trong ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), và theo đuổi sự nghiên cứu này cho tới khi ta đi tới kết luận rằng bản ngã thực sự không hiện hữu. Sau đó, ta bắt đầu nhận thức sâu xa thân xác như một nhà khách và tâm như một người khách trong căn nhà đó. Vào lúc chết, tâm và thân tách lìa, nhưng khi chúng ta còn sống thì chúng ở trong sự hợp nhất toàn hảo. Chính là trong lúc các bạn còn sống các bạn phải thấu suốt chân tánh của mối tương quan của chúng. Thân xác ở đây trong thế giới này. Nó là một sản phẩm của thế giới này, một sản phẩm của các yếu tố (các đại), và nó tan rã trở lại vào thế giới loài người này, ở đó nó tan hoại. Tâm thức đi sang đời sống kế tiếp, trạng thái trung ấm và được Yama, Thần Chết, mời đi tiếp. Thần Chết xuất hiện cùng các sứ giả của ông ta và đưa tâm thức tới trạng thái tái sinh kế tiếp. Cái thực sự dẫn dắt tâm thức là các tích tập thuộc nghiệp tích cực và tiêu cực của ta. Nếu ta có thiện nghiệp trỗi vượt thì ta sẽ được tái sinh trong các tầng cấp hiện hữu cao hơn, trong các cõi trời và cao xa hơn nữa. Nếu ta có các tích tập tiêu cực trỗi vượt thì ta sẽ tái sinh trong các cõi thấp. Với sự hiểu biết này, các bạn có thể hiểu rõ tầm quan trọng của việc học pháp Dzogchen.</p>
<p style="text-align: justify;">Có nhiều truyền thống Dzogchen khác nhau. Trong truyền thống của tôi, sự nhấn mạnh nằm ở việc có được sự xác quyết của cái thấy bằng cách nhận ra giác tánh nội tại. Một khi giác tánh nội tại được nhận ra, nó phải được duy trì bằng sự thiền định. Nhờ sức mạnh của thiền định, hành động của ta thiện lành một cách tự nhiên. Dĩ nhiên, ta còn phải thực hiện các thực hành như các sự lễ lạy, cúng dường mạn đà la, sáu ba la mật, và v.v… và ta vẫn còn phải quan tâm tới việc từ bỏ ác hạnh và tích tập thiện hạnh. Có những người nói rằng một khi hành động hay sự hoạt động đã được chứng ngộ thì không cần thiết phải thực sự làm bất cứ thực hành nào với thân thể của các bạn, và các bạn có thể thực hành sáu ba la mật với tâm các bạn. Nhưng khi chúng ta nói về hành động có tính chất giác ngộ thì điều này bao gồm cả hoạt động vật lý, nó phải được thực hiện với một tâm thức không bao giờ dao động khỏi sự tỉnh giác của cái thấy, nó là sự nhận ra bản tánh của các bạn như giác tánh nội tại. Như vậy, khi các vọng tưởng xuất hiện, chúng được tự giải thoát ngay khi xuất hiện. Đó là sự thiền định, bởi nhờ việc hộ trì nhận biết của các bạn về giác tánh nội tại mà các ý niệm xuất hiện và được tự-giải thoát một cách tự nhiên. Cái thấy của Dzogchen hủy diệt sự phóng tâm. Thiền định cho phép ta chịu đựng mọi khía cạnh của nghịch cảnh và hành động được giải thoát khỏi các giới hạn của sự mong cầu và phiền muộn. Kết quả là sự đạt được trạng thái Phật quả. Và bởi vì tất cả chúng ta phải đau khổ vì sự sinh, già, bệnh, và chết nên cực kỳ quan trọng là phải thọ nhận các sự ban phước của giáo lý Dzogchen, và khi thực hành Dzogchen rất cần thiết và lợi lạc nếu thực hiện các thiện hạnh với thân thể ta. Khi thực hành Dzogchen các bạn còn cần tận lực để học hỏi con đường Sutra (Kinh) và nhận thức bản tánh của tánh Không theo sự tiếp cận kinh điển, bởi lẽ bất kỳ điều gì được học hỏi từ các thừa khác sẽ nâng cao cái thấy Dzogchen của các bạn.<a href="http://thientrithuc.vn/wp-content/uploads/2015/01/OM.gif" rel="attachment wp-att-4167"><br />
</a><br />
Đây là một giáo lý dễ hiểu, có thể được ban cho những người bình thường, và không cần một thời gian dài để thành tựu hay đòi hỏi thật nhiều điều phức tạp. Nó được truyền dạy bởi ba dòng truyền thừa: dòng truyền dạy tâm-truyền-tâm, dòng truyền dạy nhờ các biểu tượng và dòng khẩu truyền. Về sự truyền dạy, tất cả các truyền thống Dzogchen được bao hàm trong hai phạm trù được gọi là trekchod và tošgal. Trekchod có nghĩa là “cắt đứt thấu đến tánh thanh tịnh nguyên thủy” và tošgal nghĩa là “vượt qua tới hiện diện tự nhiên”. Sự cắt đứt để đi đến tánh thanh tịnh nguyên thủy có nghĩa là chứng ngộ cái thấy. Sự vượt qua tới sự hiện diện tự nhiên có nghĩa là sự nhận ra bốn thị kiến của thực hành tošgal. Bốn thị kiến này là : gặp gỡ Pháp tánh (dharmata), kinh nghiệm mở rộng, rigpa đạt tới mức độ viên mãn của nó, và sự tiêu tan các hiện tượng trong chân tánh của chúng. Kết quả của sự tu tập này là thân cái-bình-trẻ-trung, là nơi ngơi nghỉ bất biến của đấng bảo hộ nguyên sơ, Đức Saman-tabhadra (Phổ Hiền).</p>
<p style="text-align: justify;">Truyền thống Dzogchen này là một pháp môn người ta thường nói là không thể truyền bá rộng rãi, nhưng ở Tây Tạng, tôi dạy Dzogchen trên một căn bản quy củ, đặc biệt cho những người lớn tuổi. Có khoảng sáu tới bảy trăm người lớn tuổi ở Golok đến học giáo lý Dzogchen với tôi. Những người Tây Tạng già này không thể nghe và nhìn rõ, nhưng họ là các hành giả hảo hạng. Và rồi có mọi thanh niên đến thọ nhận giáo lý Dzogchen, họ luôn luôn nói họ yêu thích được nghe Pháp và Pháp cực kỳ hấp dẫn đối với họ biết bao, nhưng một khi rời khỏi phòng của tôi họ không thực hành do bị phóng tâm bởi những thứ khác. Tôi biết rằng trong tương lai tôi sẽ bị chỉ trích bởi người ta sẽ nói rằng tôi đến Mỹ và giảng dạy rộng rãi pháp Dzogchen, và đây là điều tôi sẽ phải đối phó. Tuy nhiên, xin hãy hiểu rõ rằng tôi đến đây là vì lợi lạc của chúng sinh và tôi có một mục đích, một lý do để có mặt nơi đây, tôi dự định hoàn thành mục đích ấy và đó đúng là những gì tôi đang làm.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi có một vài lời khuyên cho các lama và các nhà sư có mặt ở đây hôm nay. Các lama và nhà sư cần có một chứng ngộ nào đó về Dzogchen, đặc biệt là nếu họ sắp nhận lãnh các sự cúng dường để làm các thực hành nhân danh người đã chết. Nếu họ không có bất kỳ chứng ngộ Dzogchen nào thì làm sao họ có thể dẫn dắt một tâm thức từ trạng thái bardo đi tới trạng thái cao hơn của sự giải thoát, hoặc thậm chí chỉ đơn giản trợ giúp người khác tẩy trừ các chướng ngại? Các chướng ngại phát sinh từ các ý niệm và vì thế nếu người nào đó không có bất kỳ chứng ngộ Dzogchen nào thì sẽ có thêm các ý niệm được tạo ra và vị lama hay nhà sư sẽ không có năng lực để loại trừ ý niệm mà trước hết chúng gây nên chướng ngại. Điều rất quan trọng là phải thực hành Dzogchen để thành tựu tất cả các thực hành này vì sự lợi lạc của những người khác và đó là lý do tại sao tôi đang ban tặng các giáo lý này ở đây. Ít nhất, ta cần có Bồ đề tâm. Điều tiên quyết quan trọng nhất đối với Dzogchen là Bồ đề tâm.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Orgyen Kusum Lingpa</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Liên Hoa</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Hiệu đính: Nguyễn Minh Tiến</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: Trích từ tác phẩm Kho tàng các giáo huấn siêu việt - Về tri giác của trí tuệ nguyên thủy </em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nhà xuất bản Tôn giáo</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/nhan-ra-ban-tanh-cua-tam/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Pháp khí trong Đạo Phật và sự hộ trợ nhận biết Tâm linh</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/phap-trong-dao-phat-va-su-ho-tro-nhan-biet-tam-linh/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/phap-trong-dao-phat-va-su-ho-tro-nhan-biet-tam-linh/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 10 Oct 2015 15:03:31 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Ningthik]]></category>
		<category><![CDATA[Longchen Ningthik]]></category>
		<category><![CDATA[Nghi lễ]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6125</guid>
		<description><![CDATA[By Tulku Thondup Rinpoche  Buổi nói chuyện về Nghệ Thuật Buổi Tối của Tây Tạng tại Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật Tinh Tế, Boston vào ngày 01 tháng 3 năm 1990.Tôi muốn nói một vài lời về ý nghĩa của nghệ thuật Phật giáo ở Tây Tạng. Như bạn đã biết, trong nghệ thuật Tây Tạng phần lớn những đồ&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/phap-trong-dao-phat-va-su-ho-tro-nhan-biet-tam-linh/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>By Tulku Thondup Rinpoche </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span id="yui_3_16_0_1_1444476784425_6394">Buổi nói chuyện về Nghệ Thuật Buổi Tối của Tây Tạng tại Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật Tinh Tế, Boston vào ngày 01 tháng 3 năm 1990.</span><br clear="none" /><br clear="none" /><span id="yui_3_16_0_1_1444476784425_6391">Tôi muốn nói một vài lời về ý nghĩa của nghệ thuật Phật giáo ở Tây Tạng. Như bạn đã biết, trong nghệ thuật Tây Tạng phần lớn những đồ tạo tác đều tượng trưng cho giáo lý Phật giáo. Người Tây Tạng xem chúng như những đối tượng của tôn kính, suối nguồn gợi cảm hứng và để tạo công đức, mà không như những vật liệu để trang trí trong nhà họ. Với người Tây Tạng, sự linh thiêng của pháp khí tôn giáo là thật thâm sâu, khi tôi còn thiếu niên, thầy tôi thường nói với chúng tôi, “Khi con khảo nghiệm hoặc nhìn vào một hình ảnh, không nên nghĩ hay nói rằng, ‘đây là một hình ảnh đẹp hay xấu,’ mà phải nghĩ hay nói, ‘nghệ sĩ thật khéo léo hay không khéo léo,’ nếu không, bạn đang sắp đặt một đối tượng thiêng liêng như thể nó là một đồ vật bình thường.” Sự tôn kính và sùng mộ của họ đến các biểu tượng tôn giáo không chỉ là một phản ứng văn hóa hay tri thức, mà là một cảm nhận sâu sắc và một diễn tả tự nhiên từ tấm lòng. </span><br clear="none" /><br clear="none" />Khi Phật giáo là trái tim của cuộc sống người Tây Tạng, phần lớn các pháp khí của dân Tây Tạng đều tượng trưng cho giáo lý đạo Phật. Đó là điều tại sao các đồ vật tôn giáo có một vai trò và vị trí vô song trong xã hội Tây Tạng. Do vậy, tôi muốn nói về cách Phật tử sùng đạo ở Tây Tạng sử dụng các đồ vật tôn giáo như những công cụ rèn luyện tâm linh và quan điểm triết học phía sau chúng là gì.. <br clear="none" /><br clear="none" />Trước hết, một cách triết học, điểm quan trọng nhất phải hiểu là những Phật tử Tây Tạng không phải là những người thờ phụng-thần tượng. Chúng ta không thờ cúng những pháp khí tôn giáo với mong đợi sẽ nhận được thành tựu từ một hình tượng bằng đồng, v.v... Mà chúng ta sử dụng chúng như một công cụ hay sự hỗ trợ để tạo ra một cảm hứng đến Giáo Pháp và phát sinh kinh nghiệm đạo đức, như sự sùng kính, an bình, lòng bi, thiền định, và trí tuệ. Nếu đối tượng tôn giáo trở thành một công cụ để phát triển tư duy đạo đức trong tâm chúng ta, thì pháp khí đó chuyển thành một hỗ trợ tâm linh rất hùng mạnh và có lợi cho cuộc sống ta. Tuy nhiên điều đó không do đồ vật mà vì nhận thức tích cực và cảm nhận sùng kính của chúng ta, gợi cảm hứng bằng cái thấy và sống với pháp khí tôn giáo. Do vậy chúng ta sử dụng pháp khí như một chìa khóa, mà suối nguồn ban phước chính yếu nằm trong tâm thức chúng ta. <br clear="none" /><br clear="none" /><span id="yui_3_16_0_1_1444476784425_7263">Thứ hai, liên quan đến chừng mực làm thế nào sử dụng những đồ vật như sự hỗ trợ tâm linh, chúng ta không thấy một pháp khí tôn giáo, như một tượng Phật, chỉ giống như một tác phẩm nghệ thuật. Chúng ta thấy hay thực hành cái thấy nó như một vị Phật sống để phát sinh cảm hứng, sùng kính, và nhận thức thanh tịnh trong chính ta. Chúng ta tỏ lòng tôn kính đến nó để phát sinh khiêm tốn, cúng dường đến nó để phát sinh rộng lượng, thiền định về nó để đem lại thanh bình và yên tĩnh, và chúng ta tiếp nhận ban phước từ nó như thể từ một vị Phật sống, để phát triển kinh nghiệm tâm linh chúng ta. Nhờ đó qua sự hỗ trợ của đồ vật ban phước, chúng ta hoàn thiện hai tích lũy: tích lũy công đức và tích lũy trí tuệ. </span><br clear="none" /><br clear="none" /><span id="yui_3_16_0_1_1444476784425_7260">Chúng ta thấy hình tượng của đức Phật như đức Phật thật sự có tất cả các phẩm tính Phật, như lòng bi cho tất cả chúng sanh, giống như người mẹ cho đứa con duy nhất trí tuệ biết tất cả những gì xảy ra và nhu cầu của chúng sanh xảy ra cùng lúc, cũng như chân lý tối hậu, và năng lực an định đau khổ của thế gian và đáp ứng mọi mong ước của chúng ta. <br clear="none" /></span><br clear="none" />Ngoài ra, mỗi chi tiết của pháp khí đều có ý nghĩa vô song của riêng nó. Mỗi chi tiết biểu tượng nhiều khía cạnh khác nhau của phẩm tính Phật và giảng dạy ý nghĩa của Giáo Pháp. Như một ví dụ, hãy xem xét một thangka của Avalokiteshvara, đức Phật của Lòng Bi, và tôi sẽ giải thích ý nghĩa của các chi tiết.<br clear="none" /><br clear="none" />Nước da trắng như pha lê của Ngài biểu thị Ngài thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi cảm xúc và tri thức bất tịnh. <br clear="none" />Ngài ngồi vững chãi trong tư thế hoa sen biểu thị Ngài an trụ trong bản tánh tối hậu bất biến. <br clear="none" />Vẻ ngoài tươi trẻ biểu thị Ngài vượt lên đau khổ của tuổi tác và suy hoại. <br clear="none" />Đôi mắt yêu thương giống như hươu không chớp của Ngài biểu thị Ngài đang luôn quan sát tất cả chúng sanh chưa từng ngưng nghỉ để đáp ứng nhu cầu của họ.<br clear="none" />Khuôn mặt thanh bình luôn mỉm cười biểu thị Ngài hưởng thụ thanh thản và hoan hỷ tối thượng mà sự đau khổ không biết. <br clear="none" /><br clear="none" />Năm lễ phục bằng lụa và tám trang sức châu ngọc của Sambhogakaya (Báo Thân) biểu thị Ngài trong thân tướng Sambhogakaya, thân vi tế của hai sắc thân Phật. <br clear="none" />Hai bàn tay chắp lại nơi ngực biểu thị Ngài đã hợp nhất hay viên mãn luân hồi và niết bàn như một trong bản tánh tối hậu. <br clear="none" />Viên ngọc như ý trong hai tay đầu tiên của Ngài biểu thị phương tiện thiện xảo của Ngài, đáp ứng mong ước của tất cả chúng sanh. <br clear="none" />Hoa sen trắng trong tay trái Ngài biểu thị trí tuệ của Ngài, vô nhiễm với bất cứ tri thức và cảm xúc nhiễm ô nào, ngay cả nếu hiện thân của Ngài xuất hiện trong nhiều cõi khác nhau, giống như một hoa sen thì thanh tịnh ngay cả dù nó tăng trưởng trong bùn. Cũng biểu tượng rằng Ngài thuộc về gia đình hoa sen (Liên Hoa Bộ) thuộc ngũ bộ Phật. <br clear="none" />Chuỗi pha lê trong tay phải Ngài biểu thị hoạt động Phật liên tục phục vụ chúng sanh như lần chuỗi không kết thúc. <br clear="none" /><br clear="none" />Nếu được rèn luyện trong cái thấy và tập trung trên biểu thị công đức của đồ vật tâm linh, bạn sẽ đi suốt các giai đoạn khác nhau của sự hiểu rõ giá trị tâm linh. Trước tiên, các kinh nghiệm tâm linh bất cứ những gì bạn đã có hay đang có, sẽ được kích thích chỉ bằng việc thấy hay sống trong sự hiện diện của đồ vật tâm linh. Sau đó, sẽ đến lúc không cần dựa vào biểu tượng tôn giáo, và mọi hình tướng của pháp giới sẽ trở thành suối nguồn của giáo lý, cảm hứng, sức mạnh, và kinh nghiệm tâm linh. <br clear="none" /><br clear="none" /><span id="yui_3_16_0_1_1444476784425_7289">Ở Tây Tạng, những pháp khí tôn giáo phong phú nhất được bảo tồn trong các điện thờ của tu viện, với sự cúng dường công phu và lễ hội, cầu nguyện liên tục. Ngoài ra, trong hầu hết làng mạc, bạn sẽ thấy một đền thờ đầy những hình ảnh và kinh điển, phục vụ như những đối tượng sùng kính và cầu nguyện cho dân địa phương. Kế đó, trong mỗi nhà, nếu có phương tiện, người ta dành riêng một phòng để làm điện thờ, đầy dẫy những biểu tượng tôn giáo. Và thậm chí trong nhà của những gia đình nghèo nhất, họ nỗ lực tối đa và mơ ước sẽ có một bàn thờ nhỏ với một số biểu tượng tôn giáo và tối thiểu cũng sắp xếp một số chén nước và đèn bơ như một cúng dường trước bàn thờ, như họ luyện tập tâm linh trong sự rộng lượng, sùng kính, và thiền định. <br clear="none" /></span><br clear="none" /><span id="yui_3_16_0_1_1444476784425_7291">Qua sự hỗ trợ của các đồ vật tinh thần, nếu kinh nghiệm tâm linh về an bình và giác ngộ sinh khởi trong chúng ta, thì bất cứ sống ở đâu, chung quanh chúng ta sẽ trở thành một đền thờ tâm linh đẹp đẽ và hạnh phúc.</span></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong>Tulku Thondup Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dich: Đại Nguyệt</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Biên soạn: Harold Talbort </em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: Trích từ tác phẩm Hành trình giác ngộ</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nhà xuất bản Tôn giáo</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/phap-trong-dao-phat-va-su-ho-tro-nhan-biet-tam-linh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đức Orgyen Kusum Lingpa một Kho tàng của Thời đại chúng ta</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/duc-orgyen-kusum-lingpa-mot-kho-tang-cua-thoi-dai-chung-ta/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/duc-orgyen-kusum-lingpa-mot-kho-tang-cua-thoi-dai-chung-ta/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 02 Oct 2015 19:32:13 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Khai Mật Tạng]]></category>
		<category><![CDATA[Longchen Ningthik]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Terma & Terton]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thống khác]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Ningthik]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6065</guid>
		<description><![CDATA[Khuôn mặt chó bun của Ngài có thể liên tục thay đổi sự biểu lộ từ phẫn nộ sang bi mẫn chói ngời và qua vẻ hân hoan như trẻ con một cách nhanh chóng; Ngài tự gọi mình là một “Lạt ma hành khất” và một “trưởng tử của Vajrapani” (Kim Cương Thủ.) Những mâu thuẫn hiển nhiên này&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/duc-orgyen-kusum-lingpa-mot-kho-tang-cua-thoi-dai-chung-ta/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/HH-Kusum-Lingpa-18.jpg"><img class="  wp-image-6068 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/HH-Kusum-Lingpa-18-239x300.jpg" alt="HH Kusum Lingpa (18)" width="392" height="492" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Khuôn mặt chó bun của Ngài có thể liên tục thay đổi sự biểu lộ từ phẫn nộ sang bi mẫn chói ngời và qua vẻ hân hoan như trẻ con một cách nhanh chóng; Ngài tự gọi mình là một “Lạt ma hành khất” và một “trưởng tử của Vajrapani” (Kim Cương Thủ.) Những mâu thuẫn hiển nhiên này chỉ là những khía cạnh của một sự phô diễn trí tuệ được liên tục biểu hiện tuỳ theo nhu cầu của các đệ tử bởi một trong những Lạt ma vĩ đại nhất còn sống của Tây Tạng, H.H. Orgyen Kusum Lingpa.</p>
<p style="text-align: justify;">Đứng trước sự hiện diện của His Holiness là xúc chạm vào khuôn mặt của xứ Tây Tạng cổ xưa, huyền bí trong năng lực nguyên tuyền của nó. Ở nơi Ngài ta không chỉ kinh nghiệm toàn bộ sức nặng của một truyền thống không đứt đoạn, mà còn cả một sự bao la của cái thấy xoá sạch phòng tuyến ngăn chia giữa những gì thường được gọi là thầàn thoại, và thực tại; cả hai đơn thuần được diễn tả ở những mức độ khác nhau trong phạm vi của ý thức.</p>
<p style="text-align: justify;">Với sự tự hào kim cương của một bậc đã chứng ngộ thực hành Pháp qua vô số cuộc đời, His Holiness thuật lại một cách thực tế sự tiếp nối của những Hoá Thân phi thường của Ngài: “Vào thời của Gesar xứ Ling (vị anh hùng trong sử thi Tây Tạng), tôi là một trong ba mươi chiến sĩ chủ lực của ngài; tôi mạnh tới độ có thể nhặt một con voi với một bàn tay và vì thế là một trong số ít người không bị tử thương trong những cuộc chiến tranh được tiến hành giữa xứ Hor và Jang. Tên tôi là Jamtrul Yulai Topgyir bởi tôi mặc áo giáp bằng ngọc lam rắn chắc. Tôi cũng là thành tựu giả Ấn Độ Trilwupa và Lhalung Palgyi Dorje, người đã giết Vua Langdarma (kẻ huỷ diệt Phật Giáo, bị giết bởi một mũi tên vào năm 842). Trong đời Machig Lapdron (nữ hành giả nổi tiếng và là người sáng lập trường phái Chod), tôi là một trong những đệ tử chính của Bà, có tên là Shang Murthi Nyongpa Rangzin, hay Kẻ Cuồng điên Bí mật-tự-Bản chất xứ Shang.”</p>
<p style="text-align: justify;">Trong đời này His Holiness sinh năm 1933 tại Achak Drayu trên ngọn núi linh thiêng Amnyi Machen Nyendop, nó được gọi là ngọn Kailash (Ngân Sơn) ở miền Đông Tây Tạng. Sự ra đời của Ngài được tiên tri trong Kinh điển bởi Dodrup Chen đệ nhất, Jigme Trinley Oser, bởi terton Nyima Dragpa; và bởi Dzogchen Rinpoche thứ năm, ngài Migyur Namkhai Dorje. Một ngagpa thế hệ-thứ tư, His Holiness là con trai của bậc lão thông Kim Cương thừa Washi Lama Lhundrup Gyatso và yogini Padma Lhamso. Thân phụ Ngài mất khi Ngài lên ba tuổi, vào lúc đó His Holiness nhận những giới nguyện quy y và lễ cắt tóc từ Ban Thiền Lạt ma thứ chín, Thubten Chokyi Nyima.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài tự mô tả mình trong thời niên thiếu là “rất nghịch ngợm, xấu xa như đám trẻ sinh động!” Tuy nhiên, Ngài tiến bộ trong việc học tập với một số vị Thầy linh thánh, kể cả Ngài Ahkon Khenchen Losang Dorje, một geshe rabjampa đã hoàn thành việc nghiên cứu hơn một trăm Kinh điển quan trọng nhất, và His Holiness đã là đệ tử chính của vị này trong hơn bốn mươi năm; hai Hoá Thân của Dodrup Chen Rinpoche thứ tư, Thubten Trinley Palzangpo và Rigzin Jalu Dorje; Gyaltrul Wangpo, Khenchen Lobsang Namtak là người đã ban cho Ngài sự truyền dạy Dzogchen Nyingthik, và Ngài đã sống nhiều năm với vị Thầy này; và Palyul Chogtrul Rinpoche mà từ vị này Ngài nhận lãnh các trao truyền Namcho và Tatna Lingpa. Thêm vào đó, từ năm mười ba tuổi, His Holiness bắt đầu nhận lãnh, trong những khoảng thời gian đều đặn, các linh kiến của Guru Padmasambhava và Vajrayogini. Cả hai vị này tiếp tục truyền dạy các giáo huấn và tiên tri cho Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Thân mẫu Ngài mất khi Ngài mười sáu tuổi, (…) và Ngài vui thích khi thuật lại “Khi tôi gặp những gia trưởng keo kiệt, tôi cố tình hát những bài ca kim cương du dương và não nuột làm họ khóc lóc, suy sụp, vì thế họ kết thúc bằng việc liên tục cho tôi những món ăn ngon nhất của họ!” Ngài cũng kể lại những ngày Ngài là một chodpa (hành giả thực hành pháp Chod), nếu những người bạn hành giả của Ngài nghe phong thanh về thời gian và địa điểm thực hành Chod của một yogi, họ sẽ luôn luôn chơi sỏ anh ta. “Những yogi này lập tức có những phản ứng sai lầm,” Ngài lưu ý. “Thật là vui nhộn.” His Holiness không dừng lại ở những trò đùa nghịch như thế: một lần, khi một nhà sư khác đang thực hiện pháp Chod, với sự hóm hỉnh của mình, cậu bé Kusum Lingpa làm kinh hoàng vị yogi tương lai bằng cách thọc bàn tay qua một cái lỗ trong căn lều và giật tóc ông ta!</p>
<p style="text-align: justify;">Vào khoảng thời gian này, His Holiness đi hành hương Lhasa và Samye, ở đó Ngài có các linh kiến về tất cả những đời quá khứ và tương lai của mình. Chính lúc đó Ngài nhận ra rằng trong tương lai Ngài sẽ tái sinh là Sangpa, trưởng tử của vị Nhiếp Chính thứ hai mươi lăm của Shambhala. Lòng dũng cảm hiếm có của Ngài sẽ giúp cho Ngài chiến thắng trong một đánh bom kéo dài bảy ngày do con người trên trái đất này ném xuống các cư dân của Shambhala. Ngài cũng thọ nhận một tiên tri là trong hơn một trăm đời Ngài sẽ khám phá một ngàn cuốn sách được liên kết với những kho tàng ẩn dấu ở năm phương hướng.</p>
<p style="text-align: justify;">Không lâu sau đó, His Holiness bắt đầu khám phá những kho tàng tài bảo, các thực hành có khả năng ban tặng sự thịnh vượng trong những thời đại suy hoại. Sau này, năm ba mươi hai tuổi, Ngài khám phá một kho tàng thân của Đức Phật Vairocana (Tỳ Lô Giá Na) mà hiện nay Ngài đang ban tặng nó cho các đệ tử ở Tây phương, đó là thực hành Jambhala Orgyen. Với sự xác quyết của một bậc đã chứng ngộ sự thực hành, His Holiness nói rằng sự khám phá terma (kho tàng tâm linh được chôn dấu) này lập tức đảo ngược vận mệnh của Ngài, đem lại sự sung túc bất thường, và có thể thực hiện tương tự đối với bất kỳ ai tuân thủ nó một cách tinh tấn. Từ lúc đó, Ngài nổi tiếng là một trong những terton (bậc khám phá terma) còn sống, đã khám phá ba loại terma: những terma được nhận lãnh trực tiếp từ tâm; những terma “điên” có thể hiển lộ trong vị yogi như cách hành xử không theo quy ước; và terma bí mật chỉ có thể khám phá bởi một bậc là sở hữu chủ của tất cả mười tám bộ (gia đình) terma.</p>
<p style="text-align: justify;">Giữ vững lập trường không trộn lẫn Pháp với những vấn đề thế tục, His Holiness trải qua hơn hai mươi ba năm bị giam giữ trong một trại giam của Trung Quốc ở Tây Tạng, Ngài thích nhấn mạnh tới những sự ban phước của Đức Padmasambhava và Vajrayogini mà nhờ đó Ngài cảm thấy Ngài có thể tới Tây phương và ban những giáo lý. “Những Lạt ma khác ở Tây Tạng vĩ đại hơn tôi nhiều,” Ngài nói, “nhưng tôi là một người thăm viếng Châu Mỹ và là một thành phần của những sự việc ở đây.” Mặc dù hiện nay Ngài có trọng trách đối với năm tu viện ở Tây Tạng, tu viện chính nằm ở Golok trong miền đông Tây Tạng, His Holiness bắt đầu nhận những lời mời vào năm 1994 để giảng dạy tại các trung tâm Giáo Pháp Châu Mỹ của các ngài Chagdud, Gyaltrul, và Trungpa Rinpoche, và tại Kunzang Palyul Choling, được điều hành bởi nữ tulku người Mỹ Ahkon Norbu Lhamo. Trong chuyến trở lại Hoa Kỳ vào mùa xuân năm nay, Ngài cũng thành lập một trung tâm nhỏ ở Crestone, Colorado và một trung tâm ở Los Angeles mà Ngài hướng dẫn cùng với trưởng nam của Ngài là Tulku Hungkar Dorje, là vị từng được công nhận là tái sinh của Do Khyentse Yeshe Dorje, mà His Holines sẽ là một Lạt ma vĩ đại hơn ông ta. His Holiness đã đích thân bổ nhiệm đệ tử của Ngài là Kelly Lynch làm giám đốc trung tâm. Trong thời gian thăm viếng Châu Mỹ, His Holiness đã giảng dạy trên ba ngàn người và đã ban các giới nguyện quy y cho hơn năm trăm người.</p>
<p style="text-align: justify;">Lối giảng dạy của His Holiness thiên nhiều về trực giác. Ngài có thể ban những nhập môn chính thức hay thuật lại những câu chuyện của Tây Tạng xa xưa. Sau một buổi tối vui nhộn bất ngờ, Ngài kết luận: “Khi tôi còn trẻ, tôi có nhiều cuộc gặp gỡ ngồ ngộ với những người được gọi là hành giả Pháp thuần tịnh và những trò đùa nghịch được rút ra từ họ, vì thế thỉnh thoảng khi tôi đang giảng dạy, những câu chuyện này xuất hiện trong tâm tôi. Tôi thích kể những câu chuyện này bởi tôi thích cười. Ngày mai chúng ta sẽ cố gắng có thêm những bài giảng, nhưng nếu những câu chuyện này lại xuất hiện thì tôi không thể kiểm soát được mình!”</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng Ngài có thể dễ dàng biểu lộ một cách thế phẫn nộ, đưa ra lời khuyên dạy nghiêm khắc cho những hành giả đang rơi vào sự tự mãn. Khi Ngài có một ước muốn mạnh mẽ, Ngài sẽ trở lại vấn đề một cách liên tục và sinh động tới nỗi ta dễ tin rằng Ngài là một Hoá Thân của Đức Vajrapani (Kim Cương Thủ); một trường năng lực tỏa ra từ Ngài khiến ta có thể sờ mó được. Tại một trung tâm Giáo Pháp, Ngài đã khiển trách tăng đoàn trong ba buổi tối liên tiếp về mọi sự hình thành giờ giấc mà họ đang giữ (“Quý vị nên thức dậy và bắt đầu thực hành vào lúc 4 giờ sáng; ngủ tới 8 giờ sáng và thức khuya thì không tốt”) đối với toàn bộ hiệu quả của tổ chức. Đó là một trong những trách nhiệm của Ngài, Ngài khám phá, tẩy trừ những chướng ngại, đặc biệt là tại những trung tâm Giáo Pháp. Nhưng vào lúc kết thúc, Ngài thình lình cười rạng rỡ và nói: “Tôi nghĩ tôi đã quá khó khăn với quý vị; bây giờ tôi sẽ kể cho quý vị nghe một vài chuyện vui!”</p>
<p style="text-align: justify;">Quả thực là vẻ chói sáng của His Holiness là điều được cảm nhận một cách mạnh mẽ, ngay cả giữa sự biểu lộ phẫn nộ được kiểm soát của Ngài. (Thực thú vị là từ ngữ Tây Tạng để chỉ sự phẫn nộ, dragpo, bao hàm sức mạnh hơn là sự giận dữ.) Nhìn vào mặt Ngài khi ta được Ngài ban phước, ta hiểu được ý nghĩa của thuật ngữ lòng bi mẫn không-bị cụ thể hóa. His Holiness không chỉ ban tặng lòng từ; Ngài trở thành lòng từ ái, và mặc dù hành giả có thể nhận lãnh sự trừng phạt nghiêm khắc khi cần thiết, nhưng họ sẽ không bao giờ bị bỏ rơi.</p>
<p style="text-align: justify;">His Holiness cũng có thể khiêm tốn, bình phàm, và sắc sảo thật tâm lý. Mới đây, lời khuyên dạy tâm huyết của Ngài cho các đệ tử là: “Các Lạt ma vĩ đại là những vị nghĩ về bản thân mình một cách khiêm tốn và không tự đặt mình trong một địa vị đặc biệt, nhưng hạ mình hoà nhập với mọi người, và thậm chí còn thấp thỏi hơn mọi người, như một Lạt ma hành khất. Nếu quý vị sống như một Lạt ma hành khất, quý vị thực sự ở một vị trí làm lợi lạc chúng sinh.” Một vấn đề khác: “Là bất tịnh nếu không nhận ra chân tánh của tâm. Đó là lý do tại sao những gì ở trong tâm quý vị thì bất tịnh như những thứ xuất hiện trong nhà vệ sinh! Nếu ngay cả người bạn tốt nhất của ta có thể thấy được những gì trong tâm ta, thì thật là bối rối. Và nếu mọi người có thể thấy được những gì trong tâm ta, chúng ta sẽ ở trong một trạng thái giằng xé liên tục!” Ngài cũng ban lời dạy về những thực hành cho người chết và về thái độ đúng đắn đối với những của cải như một chuẩn bị cho cái chết của bản thân ta. “Ở Mỹ, khi người nào chết, điều quan trọng nhất là loại y phục nào quý vị sẽ mặc cho tử thi để làm dễ chịu những ai nhìn thấy nó. Tôi có thể quả quyết với quý vị là điều này có hại cho tâm thức bardo bởi nó không giải thoát tâm thức khỏi sự bám luyến. Là những hành giả Phật Giáo, hãy làm điều đức hạnh như trì tụng thần chú Mani (Lục Tự Đại Minh) hay thực hiện những Bổn Tôn an bình và phẫn nộ trong các vị thần trong bardo. Khi quý vị ở trong bardo, điều tôi nói sẽ trở nên chân thực trong tâm quý vị và khi ấy quý vị sẽ hiểu rõ là người ta có thiện tâm đối với người thân của họ vào lúc chết hay không. Đối với tâm thức bardo thì điều tốt đẹp là không để lại sau lưng quá nhiều của cải bởi điều đó gây nên sự bám luyến. Giờ đây hãy sử dụng tài sản của quý vị vào những mục đích đức hạnh. Đừng tích luỹ quá nhiều hay có những dự án to lớn cho tương lai. Đây không phải là con đường của Dzogchen (Đại Viên Mãn). Quý vị nên có một tâm thức được hướng tới hiện tại hơn nữa.”</p>
<p style="text-align: justify;">His Holiness thật rộng lượng tràn đầy tâm linh và cảm xúc, Ngài ban phước cho tất cả, từng người một, bất kể những khoá giảng kết thúc muộn tới đâu hay Ngài mệt nhọc ra sao. Nói chung, Ngài ban tặng gấp đôi so với giáo lý xuất hiện trên lịch giảng dạy chính thức. Và nhìn ngắm Ngài trong những giờ Ngài “nhàn rỗi” là một sự nhắc nhở về nỗ lực không ngừng nghỉ mà những bậc thực hành các giới nguyện Bồ Tát đã làm. Khi Ngài không tích cực giảng dạy hay ban những chỉ dạy tâm linh, Ngài lần chuỗi hột và trì tụng các thần chú, hoặc tìm kiếm người nào đó để làm lợi lạc. Trong khi chờ đợi tại một phi trường ở bờ biển miền đông, Ngài nhìn lướt qua đám đông, đôi mắt ngài dừng lại nơi một phụ nữ ngồi đối diện với Ngài. Bởi Ngài không nói tiếng Anh, Ngài bắt đầu ra hiệu để thu hút sự chú ý của bà ta, thấu hiểu rằng ngay cả sự tiếp xúc thoáng qua cũng có thể gieo trồng một chủng tử sẽ nở rộ trong những đời sau.</p>
<p style="text-align: justify;">His Holiness là một sức thuyết phục của chân tánh, một kho tàng sống của những truyền thống tâm linh cao quý nhất của Tây Tạng, một terton và siddha (thành tựu giả) vĩ đại, không nên bỏ lỡ Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><i>Nguyên tác: A Treasure for Our Time, by Victoria Huckenpahler</i><br />
<i>Bản dịch Việt ngữ của Liên Hoa</i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/duc-orgyen-kusum-lingpa-mot-kho-tang-cua-thoi-dai-chung-ta/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lịch sử sơ lược truyền thống Longchen Ningthik Nyingma</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/longchen-ningthik/lich-su-so-luoc-truyen-thong-longchen-ningthik-nyingma/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/longchen-ningthik/lich-su-so-luoc-truyen-thong-longchen-ningthik-nyingma/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 15 Sep 2015 11:35:07 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Longchen Ningthik]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Ningthik]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5380</guid>
		<description><![CDATA[Tổ Longchenpa Cây truyền thừa Longchen Ningthik Nyingma Truyền thừa &#38; Hóa thân - Cổ Mật &#38; nhất mạch truyền thừa Kim Cương thừa có khởi nguồn từ Ấn Độ và xuất hiện trong thời kỳ đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Sau đó Mật tông được truyền sang Tây tạng và một số nước khác. Thời kỳ của vị&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/longchen-ningthik/lich-su-so-luoc-truyen-thong-longchen-ningthik-nyingma/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>Tổ Longchenpa</strong></p>
<p style="text-align: center;"><img class="  wp-image-5381 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Truyền-thừa-Longchen-Ningthik1-202x300.jpg" alt="Truyền thừa Longchen Ningthik" width="410" height="609" /></p>
<h3 class="r" style="text-align: center;"><strong>Cây truyền thừa Longchen Ningthik Nyingma</strong></h3>
<p style="text-align: justify;">Truyền thừa &amp; Hóa thân - Cổ Mật &amp; nhất mạch truyền thừa</p>
<p style="text-align: justify;">Kim Cương thừa có khởi nguồn từ Ấn Độ và xuất hiện trong thời kỳ đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Sau đó Mật tông được truyền sang Tây tạng và một số nước khác. Thời kỳ của vị Vua Trisong Deutsen, Tổ Liên Hoa Sanh cùng nhiều vị đại học giả của Ấn độ đã được mời tới Tây Tạng để dịch các kinh sách Phật giáo, trong đó có kinh sách của Kim Cương thừa. Từ đó xuất hiện dòng phái Nyingmapa (Cổ Mật ).</p>
<p style="text-align: justify;">Dòng truyền thừa Longchen Nyingthig được các bậc Tổ sư của phái Cổ Mật truyền dạy. Trong tất cả các vị Tổ của dòng Dzogchen Đại Viên mãn thì những vị vĩ đại nhất phải kể đến là Đức Guru Rinpoche, Vairochana, Longchenpa. Đây là những vị Thầy quan trọng nhất trong lịch sử của dòng Cổ Mật.</p>
<p style="text-align: justify;">Chữ “Longchen Nyingthig” được lấy từ tên của tổ Longchenpa ( Longchen Rambjam) . Ngài là một trong những vị đã đạt được chứng ngộ cao nhất của Dzogpa Chenpo, tức là đạt thân cầu vồng ngay trong cuộc đời này. Ngài là một đại học giả Phật giáo rất nổi tiếng và Ngài cũng nổi tiếng bởi trí tuệ siêu phàm. Ngài đã thông đạt được tất cả các giáo lý vĩ đại mà đưa Phật để lại. Tuy nhiên, tinh túy, tinh yếu của toàn bộ tri kiến của Ngài được Ngài gọi là “Dzogchen”. Và “Nyingthig” có nghĩa là tâm yếu/ tinh yếu/ giọt tinh, là tâm yếu của Longchenpa, của chân như.</p>
<p style="text-align: justify;">Lý do tại sao các bậc Thầy đều dạy rằng Dzogchen là thừa cao nhất, thừa tối thượng của Phật Giáo? Trong các truyền thống khác của Phật giáo, ví dụ như trong các dòng phái khác của Mật thừa, cũng có những pháp tu, những chứng ngộ rất cao. Tuy nhiên, hành giả ở những truyền thống khác không thể đạt được chứng ngộ cao tới mức mà hành giả Dzogchen có thể đạt được. Khi tu theo các truyền thống khác, hành giả có thể đạt tới thành tựu tối thượng chỉ sau khi chết. Tức là họ vẫn phải đợi tới khi chết, trong thân trung ấm, thì mới có thể đạt tới chứng ngộ tối cao. Nhưng một thành giả Dzogchen thì không phải đợi tới khi chết, tức là không phải đợi tới giai đoạn thân trung ấm. Họ có thể đạt thành tựu viên mãn ngay trong cuộc đời này. Tức là thân, khẩu, ý tan hoàn toàn thành ánh sáng và hành giả đạt thân cầu vồng. Khoảng chừng ba bốn trăm năm sau khi Longchenpa viên tịch, thì Tổ Jigme Lingpa (hóa thân của Longchenpa) ra đời.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Jigme Lingpa có nhiều linh kiến, trong đó ba lần Ngài có linh kiến về Tổ Longchenpa. Tổ Jigme Lingpa trong những lần đó đã trực tiếp nhận giáo huấn từ Tổ Longchenpa. Ngài cũng có những linh kiến về Vimalamitra – một trong những vị Sư tổ của dòng Dzogchen. Đức Vimalamitra đã đạt được chứng ngộ cao nhất của Dzogpa chenpo. Ngài đã đắc thân cầu vồng ngay trong chính cuộc đời. Tổ Jigme Lingpa đã nhận được nhiều giáo huần trao truyền từ Vimalamitra.</p>
<p style="text-align: justify;">Giáo lý Longchen Nyingthig là một phục điển được Tổ sư Jigme Lingpa khai mở, mục đích chính Tổ Jigme Lingpa viết ra Mật điển Longchen Nyingthig là để hành giả tu tập và đạt tới giác ngộ tối thượng Dzogpa chenpo.</p>
<p style="text-align: justify;">Các vị tổ của dòng truyền thừa Cổ Mật Longchen Nyingthig:<br />
Tổ thứ 1 : Jigme Lingpa (1729 - 1798)<br />
Tổ thứ 2 : Jigme Gyalwai Nyugu<br />
Tổ thứ 3 : Dodrupchen III<br />
Tổ thứ 4 : đức Dodrupchen IV, hiện còn sống và đang sống ở Sikkim.<br />
________________________________________<br />
Thầy Hungkar giải thích về mối quan hệ giữa dòng truyền thừa Longchen Nyingthig và cá nhân Thầy. Thầy cũng sẽ giải thích thêm việc dòng truyền thừa đã được trao truyền [nhất mạch không gián đoạn] tới Thầy như thế nào?</p>
<p style="text-align: justify;">Lama Sang (1934-2009) tức là thân phụ của ngài Hungkar - là một trong các vị Tổ của dòng truyền thừa. Vị Guru chính của Ngài là đức Dodrupchen IV, hiện còn sống và đang sống ở Sikkim. Ngoài ra, tất nhiên là Lama Sang còn theo học nhiều vị Thầy khác nữa của mình. Ngài có một vị Thầy ... Vị Thầy này cũng thuộc xứ Golog và đã viên tịch cách đây 40 năm. Ngài là một trong những vị Thầy chính yếu của Lama Sang. Ngài cũng là một vị Đạo sư của dòng Longchen Nyingthig.</p>
<p style="text-align: justify;">Vị thầy thứ hai này của Lama Sang không phải là người nổi tiếng, nhưng đó là một vị Thầy rất quan trọng. Ngài đã viết rất nhiều nghi quỹ, luận bình giảng cho các pháp tu của dòng Longchen Nyingthig. Ngài cũng là một học giả đặc biệt nổi tiếng là thông tuệ. Ngài là đệ tử của Tổ Dodrupchen III.</p>
<p style="text-align: justify;">Tổ Dodrupchen là một học giả lớn, có thể sánh ngang với Đức Mipham Rinpoche và Đức Tsongkhapa. Tổ Dodrupchen III đã nhận giáo lý Longchen Nyingthig trao truyền từ Tổ Jamyang Khyentse và Tổ Patrul Rinpoche. Bản thân Patrul Rinpoche và Jamyang Khyentse lại là đệ tử của Tổ Jigme Gyalwai Nyugu; và Jigme Gyalwai Nyugu lại là đệ tử chính yếu của Sư tổ Jigme Lingpa. Đó là cách mà dòng truyền thừa Longchen Nyingthig đã được trao truyền nhất mạch không gián đoạn tới Hungkar Rinpoché. Hungkar Dorjé Rinpoché đã thọ nhận giáo lý Longchen Nyingthig trực tiếp từ thân phụ là Lama Sang, từ Đức Dodrupchen IV, và từ các vị Đạo sư khác nữa của dòng Longchen Nyingthig.</p>
<p>Nguồn: <a href="http://l.facebook.com/l.php?u=http%3A%2F%2Fwww.hungkadorje.org%2F&amp;h=LAQH41Y8zAQE5LC-IwepyNHx3bxORnc9h82IgsiDPhV_Vqg&amp;enc=AZNxljm1q_wXJNaBoUuzwPQkVh18ibijt7LOcFs5FHMaRToZgw4aG6cYu125GXGX5844TLB1XIgN--tRLrp8_DMi7qyUQdLobIpD6zHLaEDY5Qy6oMZvy9bB1dKi8Qp8uIgwU9OftxARe9JmmU3FzO3DhgpiWRV8ee6cwgCQjhycF3nCzMv1Fn0HQnvDRHRSxcK-fOd5zAZhphicYZsff-63&amp;s=1" target="_blank" rel="nofollow">www.hungkadorje.org</a></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/longchen-ningthik/lich-su-so-luoc-truyen-thong-longchen-ningthik-nyingma/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
