<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Đạo sư Ripa</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-khac/ripa/dao-su-ripa/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Fri, 17 Apr 2026 16:09:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Nữ Đạo sư tôn quý Khandro Sangyum Chime Drolkar</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/ripa/dao-su-ripa/nu-dao-su-ton-quy-khandro-sangyum-chime-drolkar/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/ripa/dao-su-ripa/nu-dao-su-ton-quy-khandro-sangyum-chime-drolkar/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 26 Aug 2017 13:14:10 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Đạo sư Ripa]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7715</guid>
		<description><![CDATA[Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche và Khandro Sangyum Chime Drolkar Nữ Đạo sư Tôn Quý Khandro Sangyum Chime Drolkar sinh trưởng trong một gia đình cao quý ở Bhutan. Khandro Sangyum Chime Drolkar là phối ngẫu tâm linh của Khai Mật Tạng trứ danh Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche. Nữ Đạo sư Tôn Quý Khandro Sangyum Chime Drolkar là một người&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/ripa/dao-su-ripa/nu-dao-su-ton-quy-khandro-sangyum-chime-drolkar/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche và Khandro Sangyum Chime Drolkar</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Nữ Đạo sư Tôn Quý Khandro Sangyum Chime Drolkar sinh trưởng trong một gia đình cao quý ở Bhutan. Khandro Sangyum Chime Drolkar là phối ngẫu tâm linh của Khai Mật Tạng trứ danh Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche. Nữ Đạo sư Tôn Quý Khandro Sangyum Chime Drolkar là một người phụ nữ đặc biệt khiêm cung, mạnh mẽ và tràn đầy lòng bi mẫn đối với tất cả chúng sinh, những người có cơ hội diện kiến bà đều cảm thấy năng lực từ bi vô cùng ấm áp lan tỏa trên nụ cười hiền từ và những cử chỉ dịu dàng của bà. Đức Pháp Vương Chatral Sangye Dorje Rinpoche từng nói với Đức Jigme Rinpoche rằng Ngài là “con trai của một người cha giống như hổ và của một người mẹ giống như báo.”</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/bang-ron-doc-3.jpg"><img class="  wp-image-7717 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/bang-ron-doc-3-221x300.jpg" alt="bang ron doc 3" width="432" height="586" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Nữ Đạo sư Tôn Quý Khandro Sangyum Chime Drolkar</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1968 tại Ấn Độ, Khandro Sangyum Chime Drolkar hạ sinh Đức Gyetrul Jigme Rinpoche. Ngài là hóa thân của Đức Gyeling Yonten Lhundrub Gyatso Rinpoche một hiện thân của Đại Tertön Pema Lingpa ở Bhutan. Đức Gyetrul Jigme Rinpoche còn là hóa thân Manjushrimitra (Jampel Shenyen) một trong tám Trì Minh Vương vĩ đại đến từ Ấn Độ và là Đạo sư của dòng Đại Viên Mãn (Dzogchen). Trong thời gian Guru Rinpoche ở Tây Tạng, Ngài là con gái của vua Trisong Detsen, công chúa Pema Sal.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Nepal_gyetrul_y_lama_lhunpo_800.jpg"><img class="  wp-image-7718 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Nepal_gyetrul_y_lama_lhunpo_800-300x200.jpg" alt="Nepal_gyetrul_y_lama_lhunpo_800" width="640" height="426" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong> Đức Gyetrul Jigme Rinpoche và Đức Dungse Lhuntrul Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Vào năm 1976, Khandro Sangyum Chime Drolkar hạ sinh Đức Dungse Lhuntrul Dechen Gyurme Rinpoche. Ngài là hóa thân của Đạo sư Jigme Tempay Gyeltsen, Tamdrin Lhunpo Chogtrul đời thứ ba, sự ra đời của Ngài đã được sự tiên tri từ trước bởi Guru Rinpoche. Tại tu viện Namdroling ở Mysore - Ấn Độ, giữa biển các đạo sư, các vị tulku và tu sĩ. Lễ tấn phong được chủ trì bởi Đức Pháp Vương Drupwang Penor Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Nữ Đạo sư Tôn Quý Khandro Sangyum Chime Drolkar đã hạ sinh bốn người con gái, trong đó ba người con gái lớn là Semo Sonam Peldzom; Semo Pema Dechen, và Semo Sonam Palmo là những ca sĩ, vũ công hoàn mỹ trong truyền thống Vua Gesar và giúp đỡ cho cha của họ là Khai Mật Tạng Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche trong các hoạt động ở Châu Á và phương Tây. Đặc biệt cô con gái út là Semo Dechen Choying Zangmo được Pháp Vương Penor Rinpoche xác nhận là một trong những tái sinh của Dakini vĩ đại Yeshe Tsogyal và lễ tấn phong được tổ chức ở Halifax vào tháng 8 năm 2008 và hiện Semo Dechen Choying Zangmo (Khandro Sakyong Wangmo) là phối ngẫu tâm linh của Đức Sakyong Mipham Rinpoche là một lãnh tụ tâm linh của tổ chức Phật giáo Shambala.</p>
<p style="text-align: justify;"><img class="  wp-image-7719 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Ripa-8-273x300.jpg" alt="Ripa-8" width="450" height="495" /></p>
<p style="text-align: center;"><strong> Semo Sonam Peldzom,  Semo Dechen Choying Zangmo và Semo Sonam Palmo</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Nữ Đạo sư Tôn Quý Khandro Sangyum Chime Drolkar đã thọ nhận sự truyền đọc Kho tàng giáo lý Kama và đặc biệt là Kho tàng Terma quý báu Rinchen Terdzo từ Trì Minh Vương Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche, và từ Khai Mật Tạng Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche, Khandro Sangyum Chime Drolkar cũng đã thọ nhận và thực hành suối nguồn giáo lý một cách không gián đoạn của thực hành kho tàng giáo lý Taksham của truyền thống Ripa Vinh Quang và các kho tàng Terma được khám phá bởi Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche như thực hành tâm yếu của Guru Rinpoche, Gesar, Phurba, Yeshe Tsogyal, Dorje Drolo, Dzogchen (Đại Toàn Thiện) v.v..</p>
<p style="text-align: justify;">Nữ Đạo sư Tôn Quý Khandro Sangyum Chime Drolkar với lòng bi mẫn và hạnh khiêm cung, bà đã làm lợi lạc cho vô số chúng sinh có nhân duyên với bà. Khandro Sangyum Chime Drolkar đã trợ giúp các hoạt động giác ngộ của Pháp Vương Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche tại Ấn Độ, Nepal, Bhutan, Nga, Mỹ, Switzerland v.v..</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Biên Tập: Liên Hoa Trì Pháp (Padma Tenzin)</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Đây không phải một bản tiểu sử về Khandro Sangyum Chime Drolkar, mà được biên tập từ nhiều nguồn thông tin và cộng với xúc cảm những lần có cơ hội diện kiến Khandro Sangyum Chime Drolkar. Đối với tôi, bà thực sự là hiện thân của Dakini vĩ đại Yeshe Tsogyal trong thân tướng con người. Vì lợi lạc chúng sinh tôi biên tập bản giới thiệu ngắn gọn này trong một ngày mà tâm thức tôi tràn ngập hình ảnh của bà tại nơi ẩn cư Thánh địa Yanglesho - Nepal, để kết duyên với những ai có nhân duyên với Khandro Sangyum Chime Drolkar. Có bất cứ công đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho sự trường thọ của Khandro Sangyum Chime Drolkar và những ai có duyên với Khandro Sangyum Chime Drolkar đều được bà dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong Khandro Sangyum Chime Drolkar sớm quang lâm đến Việt nam.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/ripa/dao-su-ripa/nu-dao-su-ton-quy-khandro-sangyum-chime-drolkar/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Đức Gyetrul Jigme Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/tieu-su-duc-gyetrul-jigme-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/tieu-su-duc-gyetrul-jigme-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 15 Sep 2015 13:05:21 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Ripa]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Ripa]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5428</guid>
		<description><![CDATA[     Đức Nhiếp Chính Vương Gyetrul Jigme Rinpoche sinh tại Ấn Độ vào lúc rạng sáng ngày 15 tháng 10 năm 1968, ngày thứ mười của tháng thứ sáu năm Khỉ Đất, đúng vào ngày sinh của Guru Rinpoche. Ngài là con của bậc Terchen trứ danh hay bậc Đại Khai Mật Tạng, Đức Pháp Vương Terchen Namkha Drimed&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/tieu-su-duc-gyetrul-jigme-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;">
<p style="text-align: justify;">     Đức Nhiếp Chính Vương Gyetrul Jigme Rinpoche sinh tại Ấn Độ vào lúc rạng sáng ngày 15 tháng 10 năm 1968, ngày thứ mười của tháng thứ sáu năm Khỉ Đất, đúng vào ngày sinh của Guru Rinpoche. Ngài là con của bậc Terchen trứ danh hay bậc Đại Khai Mật Tạng, Đức Pháp Vương Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche, Bậc thủ ngôi Pháp tòa thứ năm dòng truyền Ripa. Mẹ Ngài là Khandro Chime Dolkar, cũng xuất thân từ một gia đình cao quý có nguồn gốc Bhutan. Đức Pháp Vương Chatral Sangye Dorje Rinpoche từng nói với Đức Nhiếp Chính Vương Jigme Rinpoche rằng Ngài là “con trai của một người cha giống như hổ và của một người mẹ giống như báo.” Gia đình của Đức Nhiếp Chính Vương Jigme Rinpoche còn gồm cả Đức Dungsey Tenzin Nyima Rinpoche, Semo Sonam Peldzom, Semo Pema Dechen, Semo Sonam Palmo, Đức Dungsey Lhuntrul Dechen Gyurme và Khandro Tseyang Pelmo.</p>
<p style="text-align: justify;">     Đức Nhiếp Chính Vương Gyetrul Jigme Rinpoche là bậc trì giữ hai dòng truyền tâm linh, bao gồm dòng truyền Ripa và dòng Dungjud hay dòng cha truyền con nối, mà Ngài sinh ra từ trong đó và sẽ nắm giữ dưới cương vị là người thừa kế tương lai, đồng thời Ngài cũng là trưởng dòng truyền thừa Pema Lingpa của tu viện Gyeling Orgyan Mindrolling trong miền đất ẩn mật Pemako, mà Ngài mang theo từ đời trước, như một vị tái sinh (tulku).</p>
<p style="text-align: justify;">    Đức Nhiếp Chính Vương Gyetrul Jigme Rinpoche được công nhận vào năm ba tuổi bởi Đức Pháp Vương Kyabje Dudjom Rinpoche, khi ấy là vị lãnh đạo tối cao của dòng Nyingma, công nhận Ngài như là một hóa thân tái sinh của Đức Gyeling Yonten Lhundrub Gyatso Rinpoche một hiện thân của Đại Tertön Pema Lingpa ở Bhutan là một trong năm Tertön vua (năm Đại Khai Mật Tạng quan trọng đã khám các giáo lý ẩn mật), và là trưởng tu viện Gyeling Orgyan Mindrolling trong vùng đất ẩn mật Pemako – Bhutan. Ngài được đăng quang vào lúc 5 tuổi tại tu viện Rigon Thubten Mindrolling ở Orissa – Ấn Độ. Khi lên ngôi, Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche ban cho Ngài pháp danh: Gyetrul Jigme Lodoe Thaye Norbu Rinpoche. Các tiền thân của Ngài gồm Manjushrimitra (Jampel Shenyen) một trong tám Trì Minh Vương vĩ đại đến từ Ấn Độ và là Đạo sư của dòng Đại Viên Mãn (Dzogchen). Trong thời gian Guru Rinpoche ở Tây Tạng, Ngài là con gái của vua Trisong Detsen, công chúa Pema Sal.</p>
<p style="text-align: justify;">     Vào tuổi thứ tám, bởi hiểu rằng cần có những sự chuyển đổi, Đức Nhiếp Chính Vương Gyetrul Jigme Rinpoche đi học sáu năm tại một trường học hiện đại ở Darjeeling – Ấn Độ, bên ngoài tu viện, để Ngài có thể học tiếng Anh và giao tiếp với thế giới bên ngoài. Trong sáu năm này, Ngài sống cuộc sống của một cậu bé bình thường. Đức Nhiếp Chính Vương Gyetrul Jigme Rinpoche coi đây là thời gian quý báu nhất trong cuộc đời Ngài, bởi Ngài có thể tận hưởng một cuộc sống bình thường, chơi với những đứa trẻ khác, có những mối quan hệ bình thường và sống theo cách của một người bình thường, điều mà Ngài coi là mang lại cho Ngài những bài học quý báu. Tuy nhiên, ngay khi Ngài đang tận hưởng cuộc sống bình thường thì nhận được thư đề nghị trở lại tu viện, và quay trở lại với các khóa học truyền thống. Vào tuổi mười bảy, Đức Jigme Rinpoche tham dự Học viện nghiên cứu cao cấp Nyingma – Ngagyur Dojo Ling tại Bouddanath, Nepal, được thành lập bởi Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche, và vào năm 1993, Ngài nhận danh hiệu tiến sỹ tại Viện nghiên cứu Kinh điển và Mật điển Phật giáo, nơi Ngài nghiên cứu cùng bậc Thầy uyên bác Khetsun Sangpo Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">    Những bậc đạo sư tâm linh đầu tiên và chủ yếu của Đức Nhiếp Chính Vương Gyetrul Jigme Rinpoche là Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche, trong đời này, và người cha – bậc đạo sư gốc của Ngài là Đức Pháp Vương Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche. Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche cũng là đạo sư gốc của Đức Jigme Rinpoche trong đời trước. Từ những bậc đạo sư này, Ngài thọ nhận tất cả những trao truyền chính của dòng Nyingma, Bộ kho tàng Taksham, đặc biệt bao gồm cả sự thực hành Tamdrin và Lama Norbu, và những trao truyền cấp Trì Minh Vương không gãy bể của dòng Ripa, bao gồm các đại nghi quỹ: Tukdrub Lama Norbu hay Thực hành tâm của Lama Norbu, Bổn Tôn Gongdu Drubchen (Tập hợp những ý định của mọi Bổn Tôn), Tâm yếu của Kim Cang Tát Đỏa (Dorsem Nyingthing), và Vajrakilaya (Phổ ba kim cang), cũng như toàn bộ pho kho tàng Tâm của Vua Gesar. Các vị Đạo sư khác của Ngài gồm: Đức Pháp Vương Dilgo Khyentse Rinpoche, Đức Pháp Vương Kalu Rinpoche và Đức Pháp Vương Khatog Moksa Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">      Bên cạnh đó, Đức Nhiếp Chính Vương Gyetrul Jigme Rinpoche là chít của bậc thành tựu giả trứ danh Đại Thành Tựu Giả Drubwang Shakya Shri, được công nhận là thành tựu giả vĩ đại nhất vào thời đó. Ngài từng học và thọ nhận trao truyền từ các bậc thầy thuộc truyền thống Drukpa Kagyu, đặc biệt là những bậc từ dòng truyền của Đại Thành Tựu Giả Drubwang Shakya Shri như Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa Rinpoche đời thứ 12 và Nhiếp Chính Vương Kyabje Thuksay Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">      Bên cạnh việc hoàn thành vai trò của một đạo sư tâm linh, vào tháng 9 năm 1993 tại Orissa – Ấn Độ, Đức Nhiếp Chính Vương Gyetrul Jigme Rinpoche bắt đầu thực hiện vai trò của người theo chủ nghĩa nhân đạo như một Phật tử có cam kết về mặt xã hội – một tên gọi mà Ngài rất vui khi được biết đến, và việc này đã trở thành một trọng tâm trong công việc của cuộc đời Ngài. Sinh ra tại Ấn Độ, Đức Nhiếp Chính Vương Gyetrul Jigme Rinpoche kinh nghiệm trực tiếp về hoàn cảnh khốn khổ của những người Tây Tạng tị nạn cũng như cư dân bản địa trong việc tìm kiếm nguồn nước sạch cho sinh hoạt. Điều này đã thúc đẩy Ngài thành lập dự án Nước sạch, nhờ đó Ngài nhận được sự ủng hộ lớn từ phía người dân và lời khen ngợi từ Đức Dalai Lama 14 và Chính phủ Tây Tạng tị nạn. Bởi đã từng thực hiện năm dự án nước trong cộng đồng tị nạn ở Orissa – Ấn Độ, và dự án thứ sáu tại một ngôi làng ở Ấn Độ, đồng thời, nhờ từng chứng kiến lợi ích to lớn mà điều này mang lại, Ngài trở nên hào hứng giúp đỡ những người khác, để giảm bớt những khổ đau của họ, và biết rằng mọi điều này đòi hỏi một chút kế hoạch, lòng quảng đại, sức lao động và sự giáo dục. Chứng kiến các cộng đồng hòa hợp và chứng kiến sự dễ dàng trong việc tạo ra điều khác biệt là sự đền đáp lớn lao [đối với Rinpoche] và đã trở thành một phần chính trong công việc của Ngài trong đời này. Các dự án khác mà Ngài chỉ đạo bao gồm việc thiết lập chương trình phòng ngừa và trị bệnh sốt rét, cũng như chỉ đạo các chương trình giúp đỡ trẻ em mồ côi, học sinh, các tu sĩ và người già.</p>
<p style="text-align: justify;">     Đức Nhiếp Chính Vương Gyetrul Jigme Rinpoche từng trải qua những thời kỳ nhập thất từ ba tháng cho tới 1 năm. Giáo lý căn bản của Ngài bao gồm những thực hành về các Bổn Tôn: Yeshe Tsogyal, Guru Rinpoche, Phật Dược Sư, và Đức Quan Âm (Chenrezig), cũng như các Bổn Tôn của kho tàng giáo lý Taksham của truyền thống Ripa, đặc biệt gồm bộ Kho tàng mới về giáo lý của Vua Gesar một kho tàng tâm của Đức Pháp Vương Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche khám phá trong đời này. Bên cạnh đó, Ngài cũng có những mối liên kết gần gũi với những Bổn Tôn Văn Thù và Vua Gesar. Đức Nhiếp Chính Vương Gyetrul Jigme Rinpoche đến phương Tây lần đầu tiên vào năm 1996, ban giáo lý đầu tiên tại Châu Âu. Từ đó, Ngài thiết lập hệ thống các trung tâm Padma Ling một hệ thống các tổ chức Phật Pháp tại Thụy Sỹ, Pháp, Bỉ, Tây Ban Nha, Đức, Anh và Luxembourg cũng như một trung tâm ở Nhật Bản.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Nhiếp Chính Vương Gyetrul Jigme Rinpoche được biết đến bởi khả năng thành thạo Anh ngữ và phong cách giảng dạy thực tế mà sống động, trực tiếp, mềm mại và hài hước. Cách nhìn sáng tỏ và tươi mới của Ngài nhanh chóng hóa giải những nhận thức sai lầm thuộc về nhận thức cá nhân về Phật Pháp, về văn hóa Phương Đông và Phương Tây, về đời sống cổ xưa và đời sống hiện đại, và về sự thất bại cá nhân. Cách thức truyền tải Giáo lý của Đức Nhiếp Chính Vương Gyetrul Jigme Rinpoche tập trung vào những chủ đề mang tính mở, và một sự nhận thức thông suốt về cuộc sống trong tính tức thời của nó mà không trang trí bằng những diễn giải hay đánh giá.</p>
<p style="text-align: justify;">     Đức Nhiếp Chính Vương Gyetrul Jigme Rinpoche đi lại giữa Phương Đông và Phương Tây. Ở phương Đông, Ngài giám sát sự tiếp nối và công việc của truyền thống thiêng liêng, bao gồm việc đứng đầu và chăm sóc các tu viện truyền thống Ripa ở cả Nepal và Ấn Độ, cùng với cộng đồng tu viện đang ngày càng phát triển, cũng như việc chăm sóc cộng đồng Tây Tạng nơi tị nạn. Ở Phương Tây, Ngài tiếp tục ban giáo lý thông qua Tổ chức Ripa Ladrang và Padma Ling, cũng như đang tích cực xây dựng cộng đồng và nền tảng của nó.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: http://www.ripaladrang.org/index.php/teachers/gyetrul-jigme</em></p>
<p style="text-align: justify;">Việt ngữ: Yangzhen Tso</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính: Padma Tenzin (Liên Hoa Trì Pháp)</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót trong quá trình chuyển dịch từ Anh ngữ sang Việt ngữ là thuộc người dịch và người hiệu đính, Con thành tâm xin sám hối trước Chư Tổ, Đạo Sư. Nếu tích tập được công đức nhỏ nào thì xin hồi hướng cho sự trường thọ của Đức Nhiếp Chính Vương Gyetrul Jigme Rinpoche và kho tàng giáo lý Terma thâm diệu của truyền thừa Ripa Vinh Quang, trải rộng khắp Việt nam và làm lợi lạc cho hết thảy hữu tình chúng sinh.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/tieu-su-duc-gyetrul-jigme-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Khai Mật Tạng Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/tieu-su-khai-mat-tang-namkha-drimed-rabjam-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/tieu-su-khai-mat-tang-namkha-drimed-rabjam-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 15 Sep 2015 12:44:10 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Ripa]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Ripa]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5420</guid>
		<description><![CDATA[Đức Pháp Vương Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche là vị lãnh đạo tối cao của dòng Nyingma thuộc Phật giáo Kim Cương thừa và là một Terchen (* là Đại Khai Mật Tạng, vị khám phá kho tàng giáo lý) đang còn sống. Dòng Ripa bắt nguồn từ vị lãnh đạo tối cao Ripa Pema Deje Rolpa Vinh quang, người&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/tieu-su-khai-mat-tang-namkha-drimed-rabjam-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Đức Pháp Vương Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche là vị lãnh đạo tối cao của dòng Nyingma thuộc Phật giáo Kim Cương thừa và là một Terchen (* là Đại Khai Mật Tạng, vị khám phá kho tàng giáo lý) đang còn sống. Dòng Ripa bắt nguồn từ vị lãnh đạo tối cao Ripa Pema Deje Rolpa Vinh quang, người lãnh đạo của gia đình và những dòng Giáo pháp của Tu viện Rigon Tashi Choeling.</p>
<p style="text-align: justify;">Các thực hành của dòng Ripa được đặt nền trên chu trình giáo lý được cất dấu (Terma) rộng lớn của Taksham Samten Lingpa, chúng cũng bao gồm tường thuật đầy đủ nhất về cuộc đời của Yeshe Tsogyal (Chú thích: các giáo lý Taksham xuất hiện trước thời của Pema Deje Rolpa và là một Giáo khóa Nyingma bắt nguồn từ Yeshe Tsogyal và vị phối ngẫu lúc ban đầu của bà là Āchāraya Sale). Terchen Rinpoche cũng là vị khám phá toàn bộ giáo khóa về cuộc đời của Gesar xứ Ling, vị vua chiến sĩ giác ngộ của Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Là một Đạo sư hóa thân siêu phàm được xếp vào hàng các Đạo sư cao cấp nhất của giác tánh, Đức Pháp Vương Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche liên tục ban truyền những quán đảnh làm thuần thục, những giáo lý giải thoát và lời chỉ dạy tâm linh cho vô số chúng sinh được dẫn dắt theo những cách này.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Pháp Vương Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche đã nỗ lực liên tục để làm cho Phật Pháp phát triển qua những Chương trình Giáo pháp tràn đầy bi mẫn dành cho cộng đồng người Tây Tạng tị nạn cũng như cho việc xây dựng các tu viện Ripa ở Ấn Độ, Tây Tạng và Nepal. Những nỗ lực không ngừng nghỉ của ngài để thực hiện các hoạt động giác ngộ bằng cách thế nào đó sẽ dẫn dắt chúng sinh, theo đó bảo đảm một trận mưa lợi lạc và hạnh phúc, ngắn hạn và dài hạn, sẽ đổ xuống những cõi giới rộng lớn, an lập chúng sinh trong trạng thái giải thoát.<br />
Đức Pháp Vương Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche, Bậc nắm giữ Pháp tòa thứ năm của truyền thừa Ripa. Vị hộ trì thứ năm và hiện tại của dòng truyền thừa trong gia đình Ripa là Terchen Namkha Drimed Rinpoche, một Đạo sư của các terma tâm sâu xa. Trong Tiên tri Troma được ban cho Terchen Traktung Dujum Lingpa (Dudjom Rinpoche Đệ Nhất) có viết:</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Hiện thân của Taksham Dorje Vinh quang</em><br />
<em>Có tên là Rab, một hành giả Mật thừa</em><br />
<em>Cũng sẽ nhận lãnh và khám phá các giáo lý Terma sâu xa</em><br />
<em>Của tinh túy bí mật</em>.</p>
<p style="text-align: justify;">Giống như đã được giải thích rõ ràng trong tiên tri kim cương có thể tin cậy được, Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche sinh ngày mồng 10 tháng 12 năm 1939 (Thổ Mẹo) thuộc Rabjam (chu kỳ 60 năm) thứ 16 với những dấu hiệu kỳ diệu. Thân phụ của ngài là Ripa Jigme Tsewang Chogdrup và thân mẫu là Mayum Palden Tsomo. Mẹ ngài là cháu gái của Drubwang Shakya Shri. Ngài Dungsey Phakchok Dorje, nam tử và vị kế thừa tâm linh của Drubwang Shakya Shri đã thừa nhận Terchen Rinpoche là tái sinh của Yongey Mingyur Dorje và ban cho Terchen Rinpoche quán đảnh trường thọ Candali và danh hiệu Namkha Drimed Rabjam. Năm mười ba tuổi ngài có một linh kiến trực tiếp về Guru Rinpoche, và Guru Rinpoche đã ban cho Terchen Rinpoche quán đảnh phô diễn giác tánh và danh hiệu bí mật là Dorje Ziji Tsal. Theo cách đó, ngài được gia lực như nhiếp chính của Guru Rinpoche và sau đó Terchen Rinpoche đã khám phá các kho tàng tâm của sự phô diễn giác tánh. Terchen Rinpoche thường xuyên có các linh kiến về Gesar xứ Ling và, là hóa thân của Gyatsa Shalkar, anh của Gesar, ngài đã nhớ lại thật rõ ràng đời trước của ngài. Khi phụng sự nhiều Đạo sư vĩ đại, trong đó có thân thụ của ngài, vị yogi của Đại Viên Mãn tịnh quang, Jigme Choejung Lingpa, Taksham tulku thứ sáu Karma Sangngak Tenzin Dorje, Baha Lama Tashi v.v.., Terchen Rinpoche đã thực hành giáo khóa Taksham nói chung và đặc biệt là các thực hành rộng lớn của Lama Norbu (Guru Sadhana), bắt đầu từ các bài tập du già về kinh mạch và khí cho tới các thực hành chính yếu về Trekcho và Togal, qua đó Terchen Rinpoche đã làm toàn thiện Bốn Thị kiến.</p>
<p style="text-align: justify;">Kyabje Chatral Sangye Dorje Rinpoche đã tặng đóa hoa tán thán sau đây:</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Cái thấy (kiến) của ngài như bầu trời (Namkha),</em><br />
<em>Vượt lên giới hạn của các ngôn từ và biểu lộ.</em><br />
<em>Thiền định (thiền) của ngài là trạng thái bất nhiễm (Drimey) của Rigpa…</em><br />
<em>Công hạnh (hành) của ngài được giải thoát tự nhiên</em><br />
<em>Khỏi nhiều (Rabjam) tư tưởng mê lầm</em><br />
<em>Kết quả đã đạt được thật chắc chắn trong đời này,</em><br />
<em>Kỳ diệu thay!</em></p>
<p style="text-align: justify;">Ngoài ra, từ các Đạo sư vĩ đại như Kyabje Dudjom Rinpoche và Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche, Terchen Rinpoche đã nhận những quán đảnh, cùng với giáo huấn và sự truyền đọc Kama và Terma, đặc biệt là Kho tàng Terma Quý báu. Tương tự như vậy, Terchen Rinpoche đã nhận Toàn bộ Rinchen Terdzo từ Trì Minh Vương Chögyam Trungpa Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Tương lai của Tây Tạng đã được tiên tri thật rõ ràng, vì thế cùng với đoàn tùy tùng và sự hộ tống của các vị Hộ Pháp, Terchen Rinpoche đã vượt thoát an toàn qua xứ Pemako ẩn mật và cuối cùng an trụ tại Khu Định cư Tây Tạng Phuntsok Ling ở Orissa. Vào lúc này truyền thống Giáo pháp sâu xa của đại Tertön Taksham Nuden Dorje vô cùng suy yếu, Terchen Rinpoche đã khoác áo giáp mạnh mẽ của Bồ đề tâm vô song, và cùng với anh ngài là Đức Drubwang Adzin Rinpoche, Terchen Rinpoche đã thành lập một Tu viện vào những năm 1970 để mang lại lợi lạc cho Tăng đoàn và khôi phục di sản tâm linh phong phú của người Tây Tạng tại hải ngoại. Tu viện mới đã được Đức Dalai Lama 14 làm lễ khánh thành và được đặt tên là Rigon Thubten Mindroling. Hai trăm tu sĩ hiện đang cư trú ở đó, ngoài ra cũng có vài trăm hành giả cư sĩ trong các cộng đồng Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong các khu định cư Tây Tạng, chủ yếu là ở Orissa, tại Động Martika ở Nepal, ở các nước Tây phương v.v.., Terchen Rinpoche đã tham dự các nghi lễ quét sạch chướng ngại và tai ương như bệnh tật, nạn đói và chiến tranh, cũng như các thiên tai do bốn yếu tố (tứ đại) gây ra như bão lụt và hạn hán. Terchen Rinpoche đã chế ngự các vị trời địa phương, loài rồng và những vị thần bảo vệ ở những nơi này và qua việc tham dự các nghi lễ làm an bình xua tan những ác hại, ngài đã mang lại niềm vui và sự an bình cho các cư dân ở những nơi đó.<br />
Đối với các Terma tâm của Terchen Rinpoche, Đức Liên Hoa Sanh đã nói trong Câu chuyện Chiếc Chìa khóa Bí mật:</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Trong thời đại suy đồi hỗn loạn đó</em><br />
<em>Vì lợi lạc của các thế hệ tương lai, ta, Guru Liên Hoa Sanh, sẽ ban truyền</em><br />
<em>Những thực hành sadhana phù hợp với thời đại</em><br />
<em>Để làm an dịu, tăng ích, hấp dẫn và hủy diệt,</em><br />
<em>Đặc biệt là các nghi lễ phẫn nộ để ngăn ngừa các đạo quân ở biên giới,</em><br />
<em>Theo truyền thống của Gesar, bậc anh hùng điều phục các thế lực xấu ác.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Phù hợp với những lời kim cương xác thực của Guru Rinpoche, khi những hoàn cảnh thuận lợi cùng hội tụ, trong xứ sở ẩn mật Pemako, ở Orissa, ở Darjeeling, và tại Paro Taksang, Terchen Rinpoche đã thọ nhận và khám phá các kho tàng tâm, bao gồm các giáo lý từ giáo khóa có tên là Kho tàng Quý báu của Ba Bộ. Ngài đã thọ nhận các kho tàng liên quan tới toàn bộ các phương diện của Gesar, của Ba Gốc và của sự thành tựu Bốn Hoạt động được kết hợp với nhau, cũng như Phurba, Yeshe Tsogyal, Dorje Drolo, thực hành tâm yếu của Guru, Dzogchen (Đại Viên mãn) và v.v.. Terchen Rinpoche đã thọ nhận những kho tàng Giáo pháp sâu xa này vào thời điểm thích hợp để quét sạch sự suy thoái của Giáo pháp và chúng sinh, và cho tới thời điểm này, Terchen Rinpoche đã khám phá tám pho sách Terma kiết tường.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngoài ra, Đức Kyabje Dudjom Jigdral Yeshe Dorje, vị nhiếp chính của Guru Liên Hoa Sanh, đã viết trong lời cuối của bài cầu nguyện trường thọ mà ngài biên soạn cho Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche:<br />
“Cầu mong vị khám phá kho tàng, người đã khám phá Giáo pháp xác thực và sâu xa của giáo khóa Kho tàng Tâm yếu của Ba Bộ, được trường thọ!”</p>
<p style="text-align: justify;">Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche đã viết:</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nhờ ý hướng giác ngộ của Heruka Pema Gyalpo (Guru Rinpoche),</em><br />
<em>Và nhờ năng lực ước nguyện của Dorje Ziji Tsal,</em><br />
<em>Mãnh sư vĩ đại (Gesar), của Kho tàng Quý báu của Ba Bộ,</em><br />
<em>Nguyện điều đó mang lại lợi lạc và hạnh phúc cho các giáo lý</em><br />
<em>Và chúng sinh trong thời đại suy đồi này</em>!</p>
<p style="text-align: justify;">Trong lời cuối của Lời Khẩn cầu Đại Tertön, Cỗ Xe Dẫn tới lòng Kính ngưỡng, Nyoshul Khen Rinpoche Jamyang Dorje đã viết:</p>
<p style="text-align: justify;"><em>“Nhân cơ hội may mắn được thọ nhận quán đảnh làm thuần thục và giáo huấn giải thoát của Giáo Pháp sâu xa Guru tinh túy, kho tàng tâm sâu xa được thọ nhận vào thời gian thích hợp của Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche, giáo khóa Kho tàng Tâm Quý báu của Ba Bộ, việc khẩn cầu với niềm tin và xác quyết vĩ đại sẽ làm an dịu mọi tai họa có thể xảy ra cho chúng sinh trong thời đại suy đồi hỗn loạn này và sẽ làm cho hoạt động của Giáo Pháp sâu xa phát triển đầy khắp không gian.”</em></p>
<p style="text-align: justify;">Như thế tất cả những Đạo sư thành tựu và những bậc vĩ đại này, sau khi nhận ra tính chất xác thực trong các giáo lý Terma sâu xa của ngài, đã tán thán Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche với ngôn từ đáng tin cậy.<br />
Đức Pháp Vương Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche đã khai mở cánh cửa Giáo pháp bao la và thâm sâu ở nhiều quốc gia. Sau khi thành lập Tổ chức Ripa Ladrang ở Hoa Kỳ và nghĩ rằng điều này sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc hơn nữa cho chúng sinh, Terchen Rinpoche đã đặt nền móng thị kiến của Ngài về Tu viện Rigon Tashi Choeling và trụ xứ cho Tăng đoàn tại Yanglesho (Pharping), Nepal. Trong truyền thống của các tu viện lớn với những nhánh nhỏ hơn, như đã xảy ra trước đây ở Tây Tạng, với thiện tâm vĩ đại, Terchen Rinpoche đã xây dựng tu viện này như phương tiện để bảo đảm cho sự liên tục của quán đảnh và giáo huấn của Giáo lý nói chung và đặc biệt là của truyền thống Ripa vinh quang.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong số nhiều phương tiện thiện xảo và khả năng để cứu giúp chúng sinh với lòng bi mẫn, Đức Pháp Vương Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche cũng nổi danh là một Đạo sư tiên tri. Trong khi hoạt động giác ngộ của Terchen Rinpoche cho Giáo pháp sâu xa đang phát triển, cuộc đời ngài vẫn được củng cố trong phạm vi bao la của bản tánh kim cương bảy điểm. (**)</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguyên tác: Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche</em><br />
<em>Nguồn:http://www.ripaladrang.org/index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=15&amp;Itemid=10</em></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Việt ngữ: Thanh Liên </strong><br />
<strong>Hiệu đính: Padma Tenzin</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Chú thích:<br />
(*) Tertön là Khai Mật Tạng và Terchen là Đại Khai Mật Tạng.<br />
(**) Theo Uttaratantra Shastra, bảy điểm kim cương là: Phật, Pháp, Tăng, Phật tánh, sự giác ngộ, các phẩm tính của Phật quả (các phẩm tính giác ngộ), và Phật sự (hoạt động giác ngộ).</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/tieu-su-khai-mat-tang-namkha-drimed-rabjam-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử ngắn Đức Dungse Lhuntrul Dechen Gyurme Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-duc-dungse-lhuntrul-dechen-gyurme-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-duc-dungse-lhuntrul-dechen-gyurme-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 05 Sep 2015 10:39:12 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Ripa]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Ripa]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=4126</guid>
		<description><![CDATA[    Theo đúng như tiên tri của Guru Rinpoche (Liên Hoa Sinh), Đức Nhiếp Chính Vương Dungse Lhuntrul Dechen Gyurme Rinpoche ra đời năm 1976, là con trai của Đức Pháp Vương Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche và mẹ Ngài là Khandro Chime Dolkar. Đức Nhiếp Chính Vương Dungse Lhuntrul Dechen Gyurme Rinpoche được công nhận là hóa thân&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-duc-dungse-lhuntrul-dechen-gyurme-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">    Theo đúng như tiên tri của Guru Rinpoche (Liên Hoa Sinh), Đức Nhiếp Chính Vương Dungse Lhuntrul Dechen Gyurme Rinpoche ra đời năm 1976, là con trai của Đức Pháp Vương Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche và mẹ Ngài là Khandro Chime Dolkar. Đức Nhiếp Chính Vương Dungse Lhuntrul Dechen Gyurme Rinpoche được công nhận là hóa thân tái sinh của Đức Jigme Tempay Gyeltsen, Tamdrin Lhunpo Chogtrul đời thứ ba.</p>
<p style="text-align: justify;">   Cùng với lễ công nhận, Đức Nhiếp Chính Vương Dungse Lhuntrul Dechen Gyurme Rinpoche được lên ngôi tại tu viện Namdroling ở Mysore – Ấn Độ, giữa biển các đạo sư, các vị tái sinh (tulku) và tu sĩ. Lễ công nhận và lên ngôi được chủ trì bởi Đức Pháp Vương Drupwang Penor Rinpoche, người đã ban cho Ngài Pháp danh Gyurme Thegchog Shedrub Tinpay Gyeltsen. Tại Tu viện Ngagyur Nyingma ở Mysore – Ấn Độ, Đức Nhiếp Chính Vương Dungse Lhuntrul Dechen Gyurme Rinpoche đã hoàn thành việc nghiên cứu và quán chiếu kinh điển, mật điển và các chủ đề về nghệ thuật tự do đại chúng, và hoàn tất chương trình học 9 năm toàn thời gian. Giống như cách thức của chiếc bình được rót đầy, từ Pháp Vương Dilgo Kyentse Rinpoche, Pháp Vương Penor Rinpoche và Đức Pháp Vương Kalu Rinpoche, Đức Nhiếp Chính Vương Dungse Lhuntrul Dechen Gyurme Rinpoche thọ nhận dòng suối các quán đảnh, trao truyền kinh điển, những giáo huấn, chủ yếu bao gồm Đại kho tàng phục điển quý báu (Rinchen Terdzo) và từ người cha của Ngài, Trì Minh Vương Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche, Ngài thọ nhận những bộ giáo lý Taksham và Kho tàng tâm của Vua Gesar.</p>
<p style="text-align: justify;">     Đức Nhiếp Chính Vương Dungse Lhuntrul Dechen Gyurme Rinpoche được biết đến rộng rãi bởi năng lực làm lợi lạc chúng sinh từ sự hiện diện tâm linh của Ngài trong những nghi lễ Thành tựu (Drupchen) được cử hành thường niên tại Tu viện Rigon Thubten Mindroling – Ấn Độ, năng lực làm lợi lạc từ sự chủ trì của Ngài trong các nghi lễ cầu an cho dân chúng v.v… đồng thời còn từ sự ban phước của Nhiếp Chính Vương cho những người ốm yếu. Đức Nhiếp Chính Vương Dungse Lhuntrul Dechen Gyurme Rinpoche hiện đang tiếp tục mở rộng tích cực các công hạnh của mình trong các lĩnh vực giảng dạy, thực hành và các bộ môn nghệ thuật nghi lễ.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguyên tác anh ngữ: Ripa Ladrang Foundation International</em></p>
<p style="text-align: justify;">Việt ngữ: Yangzhen Tso</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính: Padma Tenzin (Liên Hoa Trì Pháp)</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót trong quá trình chuyển dịch từ Anh ngữ sang Việt ngữ là thuộc người dịch và người hiệu đính, Con thành tâm xin sám hối trước Chư Tổ, Đạo Sư. Nếu tích tập được công đức nhỏ nào thì xin hồi hướng cho sự trường thọ của Đức Nhiếp Chính Vương Dungse Lhuntrul Dechen Gyurme Rinpoche và kho tàng giáo lý Terma thâm diệu của truyền thừa Ripa Vinh Quang, trải rộng khắp Việt nam và làm lợi lạc cho hết thảy hữu tình chúng sinh.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-duc-dungse-lhuntrul-dechen-gyurme-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử ngắn Đức Ripa Dungsey Tenzin Nyima</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-duc-ripa-dungsey-tenzin-nyima/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-duc-ripa-dungsey-tenzin-nyima/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 05 Sep 2015 10:22:04 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Ripa]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Ripa]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=4112</guid>
		<description><![CDATA[Đức Nhiếp Chính Vương Ripa Dungsey Tenzin Nyima Rinpoche sinh năm 1959, là con trai của Đức Pháp Vương Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche và Khandro Tsewang Drolma1 thuộc gia đình dòng họ Bonka – Tây Tạng. Từ bác của Ngài, Đức Pháp Vương Drubwang Adzin Rinpoche, và cha của Ngài, Trì Minh Vương Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche, Ngài&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-duc-ripa-dungsey-tenzin-nyima/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Đức Nhiếp Chính Vương Ripa Dungsey Tenzin Nyima Rinpoche sinh năm 1959, là con trai của Đức Pháp Vương Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche và Khandro Tsewang Drolma1 thuộc gia đình dòng họ Bonka – Tây Tạng.</p>
<p>Từ bác của Ngài, Đức Pháp Vương Drubwang Adzin Rinpoche, và cha của Ngài, Trì Minh Vương Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche, Ngài thọ nhận những quán đảnh, khẩu truyền và những giáo huấn của kho tàng giáo lý Taksham, Kho tàng Phục điển quý báu (Rinchen Terdzo) và nhiều kho tàng giáo lý quan trọng của truyền thống Ripa Vinh Quang.</p>
<p>Đức Nhiếp Chính Vương Ripa Dungsey Tenzin Nyima Rinpoche hiện phụng sự như trái tim tâm linh của tu viện Rigon Tashi Choeling ở Tây Tạng và các hành giả lân cận. Đức Nhiếp Chính Vương Ripa Dungsey Tenzin Nyima Rinpoche luôn duy trì sự thúc đẩy ba phạm vi hoạt động vì lợi lạc chúng sanh.</p>
<p><em>Nguyên tác anh ngữ: Ripa Ladrang Foundation International</em></p>
<p>Việt ngữ: Yangzhen Tso</p>
<p>Hiệu đính: Padma Tenzin (Liên Hoa Trì Pháp)</p>
<p>1 Khandro Tsewang Drolma là phối ngẫu Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche ở Tây tạng. Khandro Tsewang Drolma đã hạ sinh Đức Ripa Dungsey Tenzin Nyima Rinpoche vào năm 1959.</p>
<p><em>Mọi sai sót trong quá trình chuyển dịch từ Anh ngữ sang Việt ngữ là thuộc người dịch và người hiệu đính, Con thành tâm xin sám hối trước Chư Tổ, Đạo Sư. Nếu tích tập được công đức nhỏ nào thì xin hồi hướng cho sự trường thọ của Đức Nhiếp Chính Vương Ripa Dungsey Tenzin Nyima Rinpoche và kho tàng giáo lý Terma của truyền thừa Ripa Vinh Quang, trải rộng khắp Việt nam và làm lợi lạc cho hết thảy hữu tình chúng sinh.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-duc-ripa-dungsey-tenzin-nyima/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử các đời hóa thân của Terton Namkha Drimed Rabjam Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-cac-doi-hoa-than-cua-terton-namkha-drimed-rabjam-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-cac-doi-hoa-than-cua-terton-namkha-drimed-rabjam-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 05 Sep 2015 10:13:35 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Ripa]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Ripa]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=4092</guid>
		<description><![CDATA[Đức Nhiếp Chính Vương Namkha Drimed Rabjam Rinpoche sinh năm 1938 tại Tây Tạng. Từ thuở nhỏ, Ngài đã ứng xuất những bài thi ca về giáo lý tâm linh, tuôn trào ngẫu nhiên trong sự rộng mở bao la tuệ giác của Ngài. Những trò chơi thuở thơ ấu của Ngài hoàn toàn là những lần ban quán đảnh,&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-cac-doi-hoa-than-cua-terton-namkha-drimed-rabjam-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Đức Nhiếp Chính Vương Namkha Drimed Rabjam Rinpoche sinh năm 1938 tại Tây Tạng. Từ thuở nhỏ, Ngài đã ứng xuất những bài thi ca về giáo lý tâm linh, tuôn trào ngẫu nhiên trong sự rộng mở bao la tuệ giác của Ngài. Những trò chơi thuở thơ ấu của Ngài hoàn toàn là những lần ban quán đảnh, giải thích giáo lý, cử hành những vũ điệu kim cương thiêng liêng, và tương tự, bởi Ngài chỉ quan tâm đến các hoạt động tâm linh. Với những xu hướng thói quen được thiết lập từ các đời quá khứ ngày càng trở nên mạnh mẽ, Đức Namkha Drimed Rabjam Rinpoche bắt đầu hát các bài ca kim cương cả ngày lẫn đêm, và Ngài đã minh chứng qua nhiều công hạnh không thể nghĩ bàn của một Bậc Đạo sư tâm linh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Vào năm 7 tuổi, Ngài học đọc và viết mà không gặp chút khó khăn nào, Ngài bắt đầu nghiên cứu với cha của Ngài là bậc terton vĩ đại Chojung Lingpa. Các bậc Thầy khác của Ngài đều là những bậc Đạo sư chứng ngộ vĩ đại và chân thực và là những bậc trì giữ giáo lý của cả các dòng Cựu dịch và Tân dịch của Phật giáo Tây Tạng, những dòng phái đối với Ngài không một chút thiên lệch. Đặc biệt, Ngài đã nhận những giáo lý từ Đức Dalai Lama thứ 14; Pháp Vương Gyalwang Karmapa thứ 16; Pháp Vương Dudjom Drodul Lingpa và Pháp Vương Dilgo Khyentse Rinpoche. Từ tất cả những Bậc Đạo sư này, Ngài đã thọ nhận cam lồ Giáo pháp vô biên và mọi giáo huấn tâm linh từ các dòng phái Cựu dịch và Tân dịch, từ sự trao truyền không gián đoạn qua truyền thống kho tàng ẩn mật. Đặc biệt, Ngài đã thọ nhận những quán đảnh làm chín muồi những giải lý giải thoát và khẩu truyền qua tuyển tập có tựa đề là Rinchen Terdzo (Kho tàng những giáo lý ẩn mật), từ Đức Zurmang Trungpa Rinpoche. Hai bậc đạo sư tâm linh này đã phát triển một mối liên hệ gần gũi và tâm của các Ngài đã hòa làm một.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Vào tuổi lên tám, Đức Namkha Drimed Rabjam Rinpoche có vô số linh kiến thanh tịnh về Guru Rinpoche và đã trao truyền quán đảnh cho Ngài những giáo huấn tâm linh không thể nghĩ bàn, nhờ thọ nhận ân phước này, Ngài đã được thọ nhận từ đại dương những kho tàng giáo huấn Giác ngộ sâu xa. Bên cạnh đó, Ngài được ban phước bằng những linh kiến về Tám hóa thân của Guru Rinpoche, Hayagriva, Dorje Drolo, Mahottara Heruka, Avalokiteshvara, Dakini Yeshe Tsogyal, Dakini Mandarava, và những vị khác trong hàng ngũ những Bổn Tôn Hiền hòa và Phẫn nộ của Ba Gốc (Guru, Yidam, Dakini). Đặc biệt, Ngài từng có những thị kiến lặp lại nhiều lần về Tôn chủ Gesar, bậc Mãnh Sư vĩ đại và Viên Ngọc Như Ý được vây quanh bởi hàng ngũ quyến thuộc thành tựu tâm linh, và thọ nhận ân phước từ các Ngài. Trên nền tảng đó, Ngài biên soạn bộ Rigsum Norbui Gongdzo (Kho tàng giác ngộ của Ba gia đình Phật Bảo) được tán thán là giáo huấn tâm linh phù hợp với thời đại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Đức Nhiếp Chính Vương Namkha Drimed Rabjam Rinpoche, Ngài là một Bậc Đạo sư Hóa thân siêu phàm trong hàng ngũ những Bậc Đạo sư cao cấp nhất của giác tánh, Ngài liên tục trao truyền những quán đảnh làm chín muồi những giáo lý giải thoát và những lời giáo huấn tâm linh cho vô số chúng sinh cần được điều phục theo từng mức độ của họ. Ở Ấn Độ, Nepal, Bhutan, và gần đây tại các nước khác ở cả Đông và Tây bán cầu, trong đó có Hoa Kỳ, hoạt động Hoằng Pháp của Ngài là minh chứng cho những nỗ lực không mệt mỏi bằng cách thực hiện các hoạt động Giác ngộ làm lợi lạc cho chúng sinh. Từ đó, Ngài bảo đảm cơn mưa lợi lạc ngắn hạn và dài hạn trong một phạm vi rộng lớn các cõi giới, an lập chúng sinh trong trạng thái giải thoát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Ngài là một Nhiếp Chính Vương của Guru Rinpoche, và trong thế giới này, Ngài là một Terton, một Bậc Khai Mật Tạng những tàng Kinh, hóa thân của một trong số những học trò gần gũi của Guru Rinpoche, Ngài chính là Arya Sale, phối ngẫu của đệ tử hàng đầu của Guru Rinpoche, Đức Bà Yeshe Tsogyal.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Thuở trước, tại Ấn Độ, Ngài là Sariputra (Xá Lợi Phất), một trong hai học trò xuất sắc nhất của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Ngài cũng là Kukuraja, Bậc đã thọ nhận một trao truyền cá nhân về giáo lý mật điển về những bí mật tối thượng và giống như Bậc Thầy Mahahumkara, Ngài thành tựu Samyak, Bậc Bổn tôn của tâm giác ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Tại Tây Tạng, nơi miền đất Tuyết, dòng truyền tái sinh của Ngài gồm Đức Namkhai Nyingpo, vị tu sĩ của dòng Nub clan; bậc Thầy của Giác Tính Gyalwa Chokyang; và Rechung Dorje Drakpa (Rechungpa), tâm tử của thành tựu giả Milarepa, bậc đã thiết lập dòng truyền tu viện Kagyu. Tại vương quốc Lingtri Karmo ở miền Đông Tây Tạng, Ngài tái sinh làm Dongbumpai Gyatsa Zhalkar, bậc Chưởng Giáo (Chief Lord) trong vô số các quyến thuộc tâm linh thành tựu của vị vua chiến binh Lord Gesar. Ngài từng là anh của Vua Gesar. Ngài cũng từng là Gyalwa Gotsangpa, một bậc Thầy thành tựu của dòng Drukpa Kagyu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Đặc biệt, Đức Namkha Drimed Rabjam Rinpoche đã tái sinh thành Bậc toàn tri Longchenpa, thường được nhắc đến như là ‘Vua Pháp’, một bậc Thầy Đại Toàn Thiện nổi tiếng mà tác phẩm của Ngài còn được nghiên cứu cho đến ngày nay bởi các hành giả Đại Viên Mãn. Dưới vai trò là Đức Longchenpa, Ngài là người chèo lái vĩ đại của giáo lý về con đường tối thượng dẫn tới sự thấu suốt hoàn toàn. Đức Longchenpa được công nhận rộng rãi là nhà tư tưởng vĩ đại nhất và trí tuệ xuất sắc nhất của Truyền thống Cổ Mật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Trong số hơn một trăm Bậc Terton vĩ đại từng là hóa thân đệ tử thân cận của Guru Rinpoche, Ngài từng là Đức Tangtong Gyalpo. Trong số mười ba vị Terton vĩ đại từng phát lộ các kho tàng giáo lý ẩn mật Kim Cương thừa, Ngài từng là Đức Mingyur Dorje Drakpo Nudentsal; cũng là Đức Padma Gyepai Dorje, hóa thân Taksham siêu phàm đời thứ 4; đồng thời là Ripa, hóa thân của bậc Chủ nhân Đức Padma Deje Rolpa. Thời gian sau này, Ngài từng là Đức Do Khyentse Yeshe Dorje, một bậc chủ nhân hùng mạnh trong số các đạo sư thành tựu, và là Đức Padma Lingpa vĩ đại và cao quý, bậc từng là hóa thân kỳ diệu của vị Bồ Tát của lòng từ bi tối thắng. Bậc đạo sư vĩ đại xứ Orgyen, Guru Rinpoche bậc thấu suốt Ba thời, đã chứng thực rõ ràng trong tiên tri kim cương về những đời tái sinh thanh tịnh của Ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Trong thời đại suy đồi tâm linh này, Đức Nhiếp Chính Vương Namkha Drimed Rabjam Rinpoche đã tái sinh như một hiển thân của lòng từ bi tự nhiên và giác tánh phi thời gian, và vào một lần và cùng thời, Guru Dorje Drolo Tsal, Arya Sale, Gyalse Lhaje, và đặc biệt nhất, Bậc mãnh sư vĩ đại Lord Gesar, Norbu Dradul Tsal. Cha của Ngài là Jigme Tsewang Chokdrup Dulay Namgyal Palzangpo, một hiện thân của Guru Dorje Drolo và thế hệ thứ ba trong dòng những bậc Thầy Ripa. Mẹ của Ngài là Palden Tsomo là con của Ashi Drolkar, Ashi Drolkar con gái thứ hai của Bậc Đạo Sư tâm linh thành tựu Drubwang Shakyi Shri. Ngài được sinh ra trong những dấu hiệu kỳ diệu vào ngày thứ mười của tháng thứ mười hai, Gyal, trong năm Thỏ Đất.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Tu viện tại Ấn Độ của Đức Namkha Drimed Rabjam Rinpoche là Rigon Thupten Mindrolling, hiện Ngài cũng đang trong quá trình cải tạo tu viện tại miền Đông Tây Tạng, Rigon Tashi Choling, do bị người Trung Hoa phá hủy nặng nề. Trong thời kỳ cách mạng văn hóa tại Trung Quốc, năm 1959, Ngài dẫn đầu hàng ngàn người di cư sang Ấn Độ. Tại đó, Ngài an ngự tại xứ ẩn mật Orissa - Ấn Độ, xây dựng một tu viện và một trung tâm nhập thất.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Ngài nổi tiếng bởi những lời tiên tri Gesar xứ Ling. Cách thức tiên tri đặc biệt này được trao truyền bởi Vua Gesar, sử dụng những mũi tên để tiên đoán tương lai. Phương pháp này được biết đến như là phương pháp tiên tri chính xác bậc nhất trong Phật giáo Tây Tạng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Bản dịch Việt ngữ : Bảo Châu</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Hiệu đính : Giác nhiên </span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><span style="color: #000000;">Mọi sai sót trong quá trình chuyển dịch từ Anh ngữ sang Việt ngữ là thuộc người dịch và người hiệu đính, Con thành tâm xin sám hối trước Chư Tổ, Đạo Sư. Nếu tích tập được công đức nhỏ nào thì xin hồi hướng cho sự trường thọ của Khai Mật Tạng Nhiếp Chính Vương Namkha Drimed Rabjam Rinpoche và đầy nhân duyên đến Việt nam làm lợi lạc cho hết thảy hữu tình chúng sinh</span></em></p>
<p style="text-align: justify;">Nguồn : www.ripavietnam.org</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-cac-doi-hoa-than-cua-terton-namkha-drimed-rabjam-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Đức Drubwang Adzin Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-duc-drubwang-adzin-rimpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-duc-drubwang-adzin-rimpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 03 Sep 2015 18:22:11 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Ripa]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Ripa]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3891</guid>
		<description><![CDATA[       Cố Đạo sư Drubwang Adzin Rimpoche là anh trai cả của Đức Nhiếp Chính Vương Namkha Drimed Rabjam Rinpoche.  Đức Drubwang Adzin Rinpoche, còn được biết đến bởi cái tên Kyabje Ritrul Rigdzin Chogyal, chính là đức Ripa Chogtrul đời thứ 4. Ngài sinh năm 1933, năm Gà-Nước, cùng với mớ tóc dài trên đỉnh đầu. Ngài&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-duc-drubwang-adzin-rimpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">       Cố Đạo sư Drubwang Adzin Rimpoche là anh trai cả của Đức Nhiếp Chính Vương Namkha Drimed Rabjam Rinpoche.  Đức Drubwang Adzin Rinpoche, còn được biết đến bởi cái tên Kyabje Ritrul Rigdzin Chogyal, chính là đức Ripa Chogtrul đời thứ 4. Ngài sinh năm 1933, năm Gà-Nước, cùng với mớ tóc dài trên đỉnh đầu. Ngài là con trai của Đức Ripa Dungdzin Jangchub Shenpen và bà Mayum Palden Tsomo. Đã được công nhận bởi Đức Dzongsar Kyentse Chokyi Lodro rằng Ngài là thân tái sinh của vị tulku của dòng Ripa đời thứ ba – Đức Pema Dondrub Gyaltsen, Ngài được ban Pháp danh Ritrual Rigdzin Chogyal.</p>
<p style="text-align: justify;">      Từ Đức Khewang Lama Tsethar là một tu sĩ thuộc dòng Dzogchen Khenpo Shenga, Ngài nghiên cứu nhiều bộ môn Phật học thông dụng như sự thực hành các vũ điệu nghi lễ, phương pháp đo lường biểu tượng học, và tụng ca nghi lễ thuộc truyền thống Ripa. Từ Ngài Karma Sangak Tendzin Dorje - dòng Ripa Jigme Tsewang Chokdrub và Taksham đời thứ 6, Ngài thọ nhận toàn thể các quán đảnh làm chín muồi, những giáo huấn giải thoát và cốt tủy của những dòng truyền thuộc truyền thống Ripa.</p>
<p style="text-align: justify;">   Hơn nữa, từ Đức Nyagrong Tertön Jigme Chojung Lingpa, Đức Pháp Vương Dudjom Jigtrel Yeshe Dorje, Đức Pháp Vương Dilgo Kyentse Rinpoche, Đức Shechen Kongtrul Pema Drime, Đức Dungsey Pakchok Dorje con và người kế thừa của Đức Drubwang Shakya Shri, Đức Apo Rinpoche Ngawang Yeshe Rangdrol, và những bậc thầy khác, Ngài thọ nhận mọi giáo lý làm chín muồi và giải thoát mà không thiên lệch về dòng phái giữa Cựu Dịch và Tân Dịch, như Kho Tàng Phục điển quý báu (Rinchen Terdzo), Tâm yếu Đại Quảng Trí (Longchen Nyingthig), tuyển Tập những Khẩu truyền của dòng Nyingma (Nyingma Kama), Bảy Kho tàng (Dzod Dun), những trước tác được kết tập bởi Đức Drubwang Shakya Shri, cùng với tất cả những luận giảng liên quan cho từng bộ giáo lý. Từ đó, trong nhiều năm, Ngài độc cư thực hành nhập thất trong nghiêm ngặt.</p>
<p style="text-align: justify;">     Khi thời thế bắt đầu thay đổi, cùng với em trai là Đức Namkha Drimed Rabjam Rinpoche, gia đình và một vài thị giả và các tu sĩ trong tu viện, Rigdzin Chogyal Rinpoche đi xuyên qua vùng đất Pemako và cuối cùng an cư tại Orrisa. Lúc ấy, cùng với Đức Namkha Rinpoche, Ngài hoàn thành vô số các dự án. Trong số nhiều hoạt động khác, Ngài cho in hàng loạt bản thảo duy nhất về Tập hợp Ý định của mọi Bổn Tôn (Yidam Gongdu) mượn được từ Kyabje Chatral Rinpoche tại Ấn Độ; Ngài trông nom việc xây dựng tu viện Rigon Thubtan Mindroling, và thành lập một cộng đồng tu sĩ được thọ giới tại đó. Như vậy, Ngài đóng vai trò như một người trì giữ và dẫn dắt để đảm bảo sự tương tục của giáo lý không bị suy hoại khi lưu vong.</p>
<p style="text-align: justify;">    Trong các kỳ nhập thất ăn chay và các kỳ trì tụng, những nghi lễ thành tựu lớn, và các nghi lễ vũ điệu của các Đạo sư, Đức Drubwang Adzin Rinpoche ban giáo huấn làm thế nào trau dồi đức hạnh trong đời này và các đời tương lai và những chỉ dạy thâm sâu về con đường cho tất cả giới tu sĩ và hành giả tại gia. Lực từ bi của Ngài thật bao la trong các nghi lễ và giáo huấn bổ trợ vì sự an lành của cả những người đã khuất và còn sống, cũng như cho những người suy nhược. Ngài đặc biệt quan tâm đến những người thuộc tầng lớp thấp, người già và người bệnh nan y bằng tình yêu thương lớn lao. Nhờ vậy, toàn thể dân chúng có một lòng sùng mộ và tôn kính chân thành tới Ngài. Từ đầu năm 1973 và trong vòng 3 năm, Ngài chấp thuận gánh vác trách nhiệm làm đại diện dòng Nyingma trong kỳ Đại Hội của dân chúng Tây Tạng lần thứ 5. Ngài không chỉ chia sẻ một mối liên hệ gần gũi và ấm áp với Đức Dalai Lama 14, mà Đức Dalai Lama 14 cũng coi Đức Drubwang Adzin Rinpoche như một hình ảnh cô đọng về Đạo sư Du-già Đại Viên Mãn và nhiều lần tán thán Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">    Các học trò của Đức Drubwang Adzin Rinpoche mời Ngài tới Ấn Độ, Bhutan, Thụy Sỹ và các nước khác, nhưng bên cạnh việc đáp ứng tạm thời lần lượt từng mong ước của họ, Ngài liên tục trụ trong trạng thái thiền định nhất điểm, như thể Ngài đang dành cả đời mình cho nhập thất vậy. Không bám luyến, hi vọng hay sợ hãi vì bất kỳ thứ gì, cùng với nhu cầu sống tối thiểu và trong trạng thái mở rộng của sự buông xả thảnh thơi, Ngài chứng ngộ ý nghĩa của sự tự sinh khởi vô phân biệt, Đại Toàn Thiện. Từ đó, Ngài sống như một hành giả vĩ đại đã thực sự buông bỏ.</p>
<p style="text-align: justify;">    Cuối cùng, vào ngày thứ sáu tháng sáu năm 1992, tức ngày thứ hai của tháng Saka trong năm Bò-Lửa lịch Tạng, cũng là ngày giỗ của Đức Jamgon Mipham Rinpoche, Đức Drubwang Adzin Rinpoche minh chứng cách thức mà tâm giác ngộ an trụ trong không gian mênh mang của thực tại. Ngài trụ trong tư thế thiền định thẳng trong ba ngày. Sau đó, dưới sự chủ trì bởi Đức Drubwang Chagme Rinpoche và Đức Namkha Drimed Rabjam Rinpoche, khi gia đình và các đệ tử đang cử hành lễ trà tỳ nhục thân quý báu của Ngài, vô số những dấu hiệu xuất hiện cho thấy Ngài đã giác ngộ hoàn hảo ở cấp độ nguyên thủy như cầu vồng xuất hiện ngay hướng trà tỳ của Ngài, sự xuất hiện những xá lợi năm màu, và vân vân… đều được tất cả mọi người tận mắt chứng kiến. Hiện giờ, tự đáy lòng, chúng tôi đang khẩn nguyện cầu mong một sự hiển bày hiện thân huyền diệu của Ngài sẽ lại nhanh chóng xuất hiện.</p>
<p style="text-align: justify;">   Khi chúng tôi chuyển dịch bản tiểu sử này sang tiếng việt, vì lòng bi mẫn đối với tất cả hữu tình chúng sinh, Đức Drubwang Adzin Yangsi Rinpoche đã quay trở lại với ba hóa thân : Một hóa thân về THÂN, hiện đang tu học tại tu viện Rigon Tashi Choeling - Nepal, Hóa thân về KHẨU đang tu học tại tu viện Rigon Thupten Mindrolling - Orissa, India và Hóa thân về Ý đang tu học tại tu viện Rigon Tashi Choeling - Tibet.</p>
<p style="text-align: justify;">www.ripavietnam.org</p>
<p style="text-align: justify;">Việt ngữ  : Bảo Châu</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính : Giác nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót trong quá trình chuyển dịch từ Anh ngữ sang Việt ngữ là thuộc người dịch và người hiệu đính, Con thành tâm xin sám hối trước Chư Tổ, Đạo Sư. Nếu tích tập được công đức nhỏ nào thì xin hồi hướng cho Giáo lý Kim Cang Thừa trải rộng khắp Việt nam và làm lợi lạc cho hết thảy hữu tình chúng sinh. </em></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-duc-drubwang-adzin-rimpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
