<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Terma &amp; Terton</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-khac/terma-terton/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Fri, 17 Apr 2026 16:09:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Bài Khẩn Nguyện Bảy Dòng một Terma của Đức Liên Hoa Sanh</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/bai-khan-nguyen-bay-dong-mot-terma-cua-duc-lien-hoa-sanh/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/bai-khan-nguyen-bay-dong-mot-terma-cua-duc-lien-hoa-sanh/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 03 Dec 2015 16:25:03 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kho tàng (Terma)]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Terma & Terton]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6468</guid>
		<description><![CDATA[Sự Thành tựu Sâu xa của Lạt ma được rút ra từ terma [1] của Lạt ma Sang Du [của Guru Chho Wang] Kính lễ các Bổn Tôn! Ôi những đệ tử may mắn cao quý trong tương lai: nếu các con tìm kiếm sự nương tựa nơi ta, Orgyen,[2] hãy đi tới một nơi hẻo lánh và nghĩ tưởng&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/bai-khan-nguyen-bay-dong-mot-terma-cua-duc-lien-hoa-sanh/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;">Sự Thành tựu Sâu xa của Lạt ma được rút ra từ terma [1]
của Lạt ma Sang Du [của Guru Chho Wang]
<p style="text-align: justify;">Kính lễ các Bổn Tôn! Ôi những đệ tử may mắn cao quý trong tương lai: nếu các con tìm kiếm sự nương tựa nơi ta, Orgyen,[2] hãy đi tới một nơi hẻo lánh và nghĩ tưởng về sự mỏi nhọc của vô thường và nỗi buồn của sinh tử. Điều này rất quan trọng. Hãy hoàn toàn giao phó các con cho ta – thân thể, trái tim, tinh thần. Hãy coi mọi nguồn mạch của sự hy vọng và nương tựa thì nằm ở trong ta, Orgyen, và hãy tin rằng ta hoàn toàn thấu hiểu những niềm vui, nỗi buồn, và hy vọng của các con. Đừng van nài ta bằng những vật cúng dường và tán thán. Hãy đặt sang một bên những sự tích tập. Thay vào đó, với thân, khẩu, và ý sùng mộ, hãy cầu nguyện với Bài Khẩn nguyện Bảy Dòng này:</p>
<p style="text-align: center;"><b>HUNG OR GYEN YUL GYI NUP JYANG TSHAM</b><br />
Hung Nơi biên giới phía bắc xứ Orgyen,<br />
<b>PEMA GE SAR DONG PO LA</b><br />
Trong nhụy của một đóa hoa sen,<br />
<b>YA TSHEN CHHOK GI NGO DRUB NYEY</b><br />
Ngài đã đạt được thành tựu kỳ diệu, tuyệt hảo nhất.<br />
<b>PEMA JYUNG NAY ZHEY SU DRAK</b><br />
Lừng danh là Đức Liên Hoa Sanh,<br />
<b>KHOR DU KHAN DRO MANG PO KOR</b><br />
Ngài được vây quanh bởi một đoàn tuỳ tùng rộng lớn gồm các dakini.<br />
<b>KHYE KYI JEY SU DAK DRUB KYI</b><br />
Khi con thực hành, đi theo dấu chân Ngài,<br />
<b>JYIN GYIY LOB CHHYIR SHEK SU SOL</b><br />
Con cầu nguyện Ngài quang lâm ban rải những ân phước.<br />
<b>GURU PEMA SIDDHI HUNG</b></p>
<p style="text-align: justify;">Hãy tiếp tục cầu nguyện cho tới khi lòng khao khát mãnh liệt khiến các con rơi lệ. Nếu các con trở nên tràn ngập niềm tin, hãy hít một hơi thở sâu và an trụ trong tỉnh giác, đôi mắt nhận biết rõ ràng, rộng mở và không xao lãng. Cần gì phải nói rằng ta sẽ che chở cho những đệ tử đã cầu nguyện như thế? Họ sẽ trở thành những đứa con của các Đấng Chiến Thắng trong ba thời. Tâm họ sẽ đạt được sự quán đảnh siêu việt của giác tánh tự sinh. Sự thiền định của họ sẽ trở nên mãnh liệt và kiên cố, và giác tánh nguyên sơ sẽ triển nở. Họ sẽ thuần thục nhờ những sự ban phước siêu việt tự-sinh và có thể làm vơi đi nỗi đau khổ của người khác. Khi họ thay đổi, những nhận thức mà những người khác có về họ cũng đồng thời thay đổi. Vì thế họ sẽ thành tựu Phật sự và hoàn thiện mọi phẩm tính tâm linh. Trong sự bao la vĩ đại của Pháp Thân, cầu mong những con trai tâm yếu và những con gái thân thiết của ta gặp được phương pháp làm thuần thục và giải thoát siêu việt này. Đặc biệt, bởi Bài Khẩn nguyện Bảy Dòng này mang lại những sự ban phước sâu xa nhất của ta, ta khuyên các con bí mật trì giữ kho tàng tâm được tái khám phá này. Cầu mong nó gặp được Chokyi Wangchuk thông tuệ và bi mẫn.</p>
<p style="text-align: justify;">(Trích VAJRAYANA FOUNDATION DAILY PRACTICE)<br />
Bản dich Việt ngữ: Thanh Liên</p>
<p style="text-align: justify;">[1]Kho tàng giáo lý được Đức Liên Hoa Sanh chôn dấu và sẽ được khám phá vào những thời điểm thích hợp để làm lợi lạc chúng sinh trong tương lai.<br />
[2]Đức Padmasambhava (Liên Hoa Sanh).</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/bai-khan-nguyen-bay-dong-mot-terma-cua-duc-lien-hoa-sanh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đức Tulku Thondup Rinpoche khai trị về Terma trong Truyền thống Nyingma</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/duc-tulku-thondup-rinpoche-khai-tri-ve-terma-trong-truyen-thong-nyingma/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/duc-tulku-thondup-rinpoche-khai-tri-ve-terma-trong-truyen-thong-nyingma/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 03 Dec 2015 16:01:57 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kho tàng (Terma)]]></category>
		<category><![CDATA[Terma & Terton]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6461</guid>
		<description><![CDATA[(Hình ảnh một Terma - Kho Tàng của bậc Giác ngộ) Ảnh Đức Guru Rinpoche và 108 Terton  Bài báo này đã được xuất bản trong Nhật báo Tây Tạng, Dharamsala, Ấn Độ, mùa Đông năm 1990. [1] Đồng cốt Người có thiện tâm, thậm chí nếu vào thời không có Phật, sẽ nhận được Giáo Pháp từ giữa bầu&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/duc-tulku-thondup-rinpoche-khai-tri-ve-terma-trong-truyen-thong-nyingma/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;" align="center">(Hình ảnh một Terma - Kho Tàng của bậc Giác ngộ)</p>
<p style="text-align: center;" align="center">
<p style="text-align: center;" align="center"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/2015/12/42782799_1932326093489910_6051084543211864064_n.jpg"><img class="aligncenter wp-image-10091 size-full" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/2015/12/42782799_1932326093489910_6051084543211864064_n.jpg" alt="42782799_1932326093489910_6051084543211864064_n" width="935" height="960" /></a></p>
<p style="text-align: center;" align="center"><strong>Ảnh Đức Guru Rinpoche và 108 Terton </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Bài báo này đã được xuất bản trong Nhật báo Tây Tạng, Dharamsala, Ấn Độ, mùa Đông năm 1990. [1] Đồng cốt</i></p>
<p style="text-align: justify;">Người có thiện tâm, thậm chí nếu vào thời không có Phật, sẽ nhận được Giáo Pháp từ giữa bầu trời, tường vách, và cây cối. Với những vị Bồ Tát này, tâm họ thanh tịnh, thì giáo lý và các chỉ dạy sẽ xuất hiện chỉ bằng mong ước trong tâm họ.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>ĐỨC PHẬT</b></p>
<p style="text-align: justify;">Trong số lớn các truyền thống tâm linh của thế gian, có nhiều trường hợp phát hiện giáo lý và đồ vật qua năng lực thần bí. Tương tự, trong nhiều truyền thống và dòng truyền Phật giáo khác nhau ở Ấn Độ cũng như Tây Tạng, rất nhiều khám phá giáo lý và pháp khí đã xảy ra.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong phái Nyingma của Phật giáo Tây Tạng, truyền thống chôn dấu, phát hiện giáo lý và pháp khí tôn giáo đánh giá qua năng lực thần bí của các bậc đã giác ngộ là rất phổ biến. Truyền thống phát hiện thần bí này được biết ở Tây Tạng là Ter (gTer, “Kho tàng”), Terma (gTer Ma, “Kho tàng của Bậc giác ngộ”), hoặc Tercho (gTer Ch’os, “Kho tàng Giáo Pháp” hay “Kho tàng Giáo lý”).</p>
<p style="text-align: justify;">Ter không thuộc về phạm trù phát hiện qua năng lực siêu linh (rTsa Khams) hoặc qua các sinh linh của thế giới tâm linh (Mi Ma Yin). Những phát hiện siêu linh xảy ra qua năng lực của tâm, một loại năng khiếu nhưng do nhận thức dựa trên khái niệm. Hơn nữa, phần lớn tinh linh có năng lực vật lý và kiến thức hơn nhân loại bình thường, nhưng trí tuệ tâm linh và công đức thật sự của họ có giới hạn. Sự phát hiện Terma xảy ra từ bản tánh toàn giác của tâm qua năng lực trí tuệ tự-hiện của chính tánh giác ngộ, trái lại các phát hiện khác là qua khái niệm nhị nguyên và hành động siêu nhiên.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong Phật giáo Mahayana phổ thông và đặc biệt là trong tantra, thật tánh của pháp giới được thấy như an bình tối thượng, rỗng không, rộng mở, trạng thái giác ngộ hay tỉnh thức, cực lạc, nhất như, thoát khỏi khái niệm nhị nguyên, và trí tuệ của cái biết toàn khắp cùng lúc, và điều đó được biết như trạng thái của bản tánh toàn giác hay Đức Phật. Những người Đại thừa bao gồm các hành giả mật tông, tin rằng thật tánh của tâm chúng sanh thì thanh tịnh như Đức Phật, nhưng tâm đó bị che ám bởi quan điểm, cảm xúc, và thói quen sai lạc. Chúng ta bị sao lãng bởi những hiện tượng nhị nguyên và vì thế bị kẹt trong sự hỗn loạn bất tận của thế gian phàm tục. Hevajratantra nói:</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng sanh là vị Phật trong thật tánh họ<br />
Nhưng tánh họ bị che ám bởi những nhiễm ô ngẫu nhiên.<br />
Khi nhiễm ô được tẩy sạch, bản thân họ là vị Phật thật sự.44</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu bạn đạt giải thoát khỏi tâm bám chấp vào hiện tượng vô ngã như có ngã và siêu vượt nhận thức nhị nguyên qua rèn luyện tâm linh, thì toàn bộ vũ trụ trước bạn hòa nhập vào sự nhất như của đại an bình. Và đó là sự đạt được Phật quả, bản tánh tuyệt đối. Nếu bạn đạt được Phật quả, thì mọi hoạt động đều trở thành hành động Phật xuất hiện tự nhiên. Mọi sự xuất hiện và được thấy qua trí tuệ Phật toàn giác như chúng là, cũng như không phân biệt, giới hạn, và nhị nguyên. Bạn thấy tất cả qua trí tuệ thấu suốt toàn khắp của Phật tánh, không qua tâm nhị nguyên dựa trên khái niệm.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo các tantra của đạo Phật, để đem một người bình thường đến sự nhận biết của bản tánh giác ngộ, thì điều rất quan trọng là người đó phải nhận được trao truyền của năng lực hay ban phước của sự nhận biết (rTog Pa’i Byin rLabs) từ một vị thầy đã giác ngộ. Sau đó, một dòng trao truyền như vậy đi qua nhiều giai đoạn và thời gian khác nhau như sự nối kết với sự nhận biết, bản tánh thực sự tỉnh giác, và như phương tiện truyền bá giáo lý.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi đang viết chủ đề này dựa căn bản trên sự giải thích của tuyền thống Ter của Dodrupchen Rinpoche đệ tam, Ngài Jigme Tenpa’i Nyima (1865 – 1926).</p>
<p style="text-align: justify;">Suối nguồn chính của truyền thống Terma của trường phái Nyingma là Đức Guru Padmasambhava. Ngài là một trong các vị tổ và vị thánh vĩ đại nhất của lịch sử đạo Phật. Trong thế kỷ thứ tám, với lời mời của Vua Thrisong Detsen của Tây Tạng, Ngài từ Ấn Độ đến Tây Tạng và đáp ứng ba sứ mệnh chính. Thứ nhất, qua sự phô diễn của quyền năng tâm linh, Ngài an định những thế lực phi nhân và con người đang cản trở việc đặt nền tảng Giáo Pháp ở Tây Tạng. Thứ hai, Ngài đem Phật giáo nói chung và nhất là trao truyền giáo lý và năng lực ban phước tantra của Ngài cho nhiều đệ tử người Tây Tạng và những người đi theo họ. Thứ ba, qua năng lực giác ngộ Ngài đã chôn dấu nhiều giáo lý và trao truyền khác nhau cũng như các pháp khí tôn giáo, như Ter cho lợi ích của những người đi theo trong tương lai.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong lúc trao truyền những giáo lý mật tông cho các đệ tử đã giác ngộ của Ngài ở Tây Tạng, Guru Padmasambhava đã chôn dấu (sBas) nhiều giáo lý với ban phước của dòng tâm thức giác ngộ Ngài trong bản tánh của tánh giác nội tại (Rig Pa) của tâm các đệ tử qua năng lực “tâm truyền tâm” (gTad rGya); nhờ đó vị tổ và đệ tử hợp nhất như một trong giáo lý và sự nhận biết. Ở đây, vị tổ đã chôn dấu giáo lý và ban phước, sự thành tựu mật truyền, như Ter trong tánh thanh tịnh của tâm các đệ tử qua năng lực giác ngộ của Ngài, và Ngài đã lập nguyện rằng Ter sẽ được phát hiện vì lợi ích của chúng sanh khi thời điểm thích hợp xảy đến. Nhờ năng lực của phương pháp này, được gọi là tâm truyền tâm (trao truyền ủy thác bằng tâm), những phát hiện thực tế của giáo lý sẽ xảy ra. Trao truyền ủy thác qua tâm là tâm yếu của truyền thống Ter của Đức Padmasambhava.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó, trong những thế kỷ tiếp theo, khi thời điểm để lợi ích chúng sanh với một giáo lý đặc biệt xảy đến, các tái sanh của những đệ tử đã giác ngộ của Đức Padmasambhava phát hiện những giáo lý này vì đã được vị tổ trao truyền và cất dấu trong họ trong những kiếp trước, qua năng lực nguyện giác ngộ của vị thầy và đệ tử và thiện nghiệp của chúng sanh. Có hàng ngàn hình ảnh, chữ viết biểu tượng, đầy đủ các bản văn, dược liệu, và những pháp khí nghi lễ được Đức Padmasambhava chôn dấu và được phát hiện như những vật liệu Ter (gTer rDzas); nhưng Ter chủ yếu là giáo lý và sự ban phước trao truyền qua tâm các đệ tử.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>TRAO TRUYỀN TER</b></p>
<p style="text-align: justify;">Sự trao truyền Ter được chuyển qua sáu loại hay sáu giai đoạn của dòng truyền (brGyud Pa Drug). Về sáu dòng truyền, có ba dòng là đồng nhất với dòng trao truyền mật tông phổ biến trong kinh điển Nyingma. Chúng là dòng trao truyền từ “tâm giác ngộ đến tâm giác ngộ của chư Phật” (rGyas Ba dGongs brGyud), dòng trao truyền chỉ thông qua “các chỉ dạy thuộc về các bậc trì minh” (Rig ‘Dzin brDa brGyud), và dòng trao truyền của “sự trao truyền miệng thuộc về những chúng sanh bình thường” (Gang Zag sNyan brGyud).</p>
<p style="text-align: justify;">Ba dòng truyền kế tiếp là độc nhất của trao truyền Ter, và sự phát hiện Ter được hoàn thành dựa trên ba dòng truyền này. Cái đầu tiên là “sự trao truyền của nguyện quán đảnh” (sMon Lam dBang bsKur) hay tâm truyền tâm, nhờ đó qua năng lực giác ngộ tập trung, Guru Padmasambhava trao truyền và cất dấu những thành tựu mật tông và và giáo lý trong phạm vi tánh giác nội tại, bản tánh giác ngộ của tâm các đệ tử. Đây là khía cạnh chính của sự trao truyền. Thứ hai là “trao truyền qua sự cho phép tiên đoán” (Lung bsTan bKa’ Babs), trong đó vị tổ gợi cảm hứng và ban những tiên tri cho đệ tử liên quan đến việc sau này họ sẽ trở thành một Terton. Điều này không chỉ là một tiên đoán về tương lai, mà hơn thế, bằng năng lực giác ngộ, Ngài làm sự việc tiên đoán đó xảy ra. Thứ ba là “sự giao phó đến các Dakini” (mKha’ ‘Gro gTag rGya), trong đó vị tổ giao phó Ter, Terton (gTer sTon, người phát hiện Ter), những vị thầy, và những người đi theo của truyền thống cho sự bảo vệ của các Dakini, và Hộ Pháp. Trong trường hợp của một Ter Đất, vị tổ giao phó những đồ vật, như các tráp nhỏ chứa những cuộn giấy màu vàng với các chữ viết biểu tượng cho Dakini và Hộ Pháp giữ rồi trao chúng cho vị Terton khi thời điểm đến. Do đó, mỗi giáo lý Ter đều được truyền qua sáu loại trao truyền.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>HAI PHẠM TRÙ CHÍNH CỦA TER</b></p>
<p style="text-align: justify;">Trong lúc Ter có thể chia thành mười tám phạm trù, v.v... có hai phạm trù chính của Ter đặt căn bản trên cách phát hiện chúng. Chúng là Ter Đất (Sa gTer) và Ter Tâm (dGongs gTer). Sự phát hiện Ter Đất liên quan đến các vật liệu thuộc đất như các chữ viết biểu tượng (brDa Yig) viết trên một cuộn giấy được biết là cuộn giấy màu vàng (Shog Ser) v.v... Đó là để giúp đỡ phát hiện sự cất dấu hoặc đánh thức ký ức về nơi cất giữ Ter trong tánh giác ngộ của tâm vị Terton. Tuy nhiên, người ta thường quan niệm Ter Tâm được trao truyền qua tâm, mà Ter Đất là những gì mà các vị Terton phát hiệu từ các vật chất thuộc đất như tảng đá, ao hồ, v.v... Trong thực tế, chữ viết biểu tượng chỉ trở thành chìa khóa, không phải giáo lý Ter thật sự cũng không phải sự trao truyền thành tựu, điều đó chỉ xảy ra từ tâm vị Terton.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>TER ĐẤT</b></p>
<p style="text-align: justify;">Có những cách chôn dấu Ter khác nhau, nhưng chủ yếu liên quan đến ba giai đoạn. Trước tiên, Guru Padmasambhava trao truyền giáo lý mật tông và thành tựu của Ngài cho các đệ tử và cất dấu chúng trong bản tánh tuyệt đối của tâm đệ tử. Tâm bình thường thì thay đổi vì những khái niệm và cảm xúc, nhưng thật tánh thì bất biến và giáo lý được bảo tồn nguyên vẹn trong chính chúng. Đó là nơi xảy ra chôn dấu thực tế của Ter. Ngài Drodrupchen viết:</p>
<p style="text-align: justify;">Nơi tối thượng, kho tàng thiêng liêng ở đó trí tuệ ban phước của ngữ vajra được bảo tồn không suy hoại qua năng lực trao truyền ủy thác-tâm tạo ra bởi Guru Rinpoche (Padmasambhava), là lãnh vực của bản tánh bất biến của tâm vị Terton.46</p>
<p style="text-align: justify;">Thứ hai, với phối ngẫu Yeshe Tsogyal, Guru Padmasambhava đặt giáo lý thành biểu tượng hay chữ mật mã trong nhiều ngôn ngữ khác nhau, phần lớn được gọi là ngôn ngữ Dakini và viết trên giấy cuộn màu vàng hay trên những đồ vật khác nhau như hình ảnh và pháp khí nghi lễ. Vì năng lực nguyện trao truyền của Guru Padmasambhava, chữ viết biểu tượng sẽ có năng lực đánh thức sự trao truyền khi vị Terton đọc nó. Sau đó, vị Terton đặt những cuộn giấy màu vàng trong tráp (gTer sGom) và chôn dấu tráp trong nơi cất dấu Ter (gTer gNas), như trong tảng đá, núi, hồ, đền, hình tượng, và bầu trời qua năng lực thần bí của họ, và nó trở thành vô hình cho đến thời điểm được phát hiện.</p>
<p style="text-align: justify;">Thứ ba, Guru Padmasambhava truyền cảm hứng cho đệ tử là các Terton và ban ân phước tiên tri liên quan đến việc khi nào và ai sẽ trở thành một Terton. Đây không phải chỉ là một tiên đoán tương lai, mà là một ban phước làm cho việc tiên đoán được xảy ra vì năng lực chân lý của lời vị tổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Người ta được biết rằng sẽ có một trăm vị Terton chính và một ngàn vị Terton phụ. Khởi đầu với Ngài Sangye Lama (thế kỷ mười một), một số lớn Terton xuất hiện ở Tây Tạng, và hàng bộ giáo lý và vô số pháp khí tôn giáo được phát hiện như Ter. Ngay cả đến ngày nay, từ lúc bắt đầu những năm 1980, những phát hiện về Ter đã tiếp nối ở Tây Tạng. Những terton là những vị tái sanh của các đệ tử Ngài Padmasambhava, và từ Ngài họ tiếp nhận sự trao truyền ủy thác-tâm của giáo lý và đã đạt được những thành tựu cao. Với sự ngoại lệ của một vài vị Terton, phần lớn họ đều là các hành giả mật tông sống tại nhà và gia đình. Họ chuyển hóa cuộc sống hàng ngày của họ thành sự rèn luyện của việc hợp nhất cực lạc và tánh Không, không phân biệt và truyền bá những giáo lý họ đã phát hiện.</p>
<p style="text-align: justify;">Một số vị đại Terton là Nyang Nyima Odzer (1124 – 1192), Guru Chowang (1212 -1270), Orgyen Lingpa (1323 - ?), Rigdzin Godem (1337 – 1408), Sangye Lingpa (1340 – 1396), Dorje Lingpa (1346 -1405), Ratna Lingpa (1403 – 1478), Pema Lingpa (1450 - ?), Rigdzin Jatson Nyingpo (1585 – 1656), Mingling Terdag Lingpa (1646 – 1714), Rigdzin Jigme Lingpa (1729 – 1798), và Khyentse Wangpo (1820 – 1892).</p>
<p style="text-align: justify;">Phần lớn các vị Terton, trước khi phát hiện bất kỳ Ter nào, dường như là người bình thường. Họ không cần thiết xuất hiện như những học giả, hoặc Tulku. Tuy nhiên, tùy theo những thành tựu tâm linh bên trong họ và sự trao truyền đã nhận từ những kiếp trước, họ đột nhiên bắt đầu phát hiện một cách thần bí các Ter vào thời điểm thích hợp, không cần bất cứ sự rèn luyện hiển nhiên nào. Vào lúc ban đầu, những người hoài nghi thường đưa ra nghi ngờ về sự phát hiện này từ người không ngờ như vậy. Trong một vài trường hợp, sự trực tiếp và trung thực tự nhiên của một Terton có thể xuất hiện trái với thông lệ hoặc ngay cả bất lịch sự với người chấp giữ nguyên tắc bảo thủ. Nhưng dần dần, nếu là người thực sự phát hiện Ter họ sẽ được sự công nhận của những người có quyền năng tâm linh cao hơn và sự kính trọng của những người mà họ làm lợi ích. Đây là điều quan trọng để hiểu bối cảnh văn hóa này, mặt khác, một vị đại Terton có thể bị nhầm lẫn là một người lừa bịp. Ví dụ, đó là điều không may mà một tác giả người phương Tây gần đây đã gièm pha một vị đại Terton của truyền thống Nyingma bằng việc trích dẫn phê bình về Terton bởi một số người hiện nay nói xấu Ngài không đủ phẩm tính và miêu tả về biểu hiện khiêm tốn và tự tín trong việc nhận biết của Ngài là mâu thuẫn, ngay cả dù đó là những đặc tính của các tác phẩm về nhiều vị thánh của Phật giáo.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đây là một định nghĩa về tiến trình chung của việc phát hiện Ter Đất; tuy nhiên, chắc chắn không là định nghĩa duy nhất bởi vì những Ter đã được phát hiện bằng nhiều cách. Trước tiên, vị Terton tiếp nhận hướng dẫn tiên tri (Kha Byang) một cách trực tiếp trong kiến thanh tịnh hoặc trong sự chỉ dạy từ Guru Padmasambhava, Dakini, hay Bổn tôn. Sau đó họ thực hiện những thực hành chuẩn bị của Ter (gTer sGrub), thiền định, hay nghi thức được chỉ dạy trong tiên tri hướng dẫn.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi thời điểm đến, vị Terton đến nơi cất giấu, đi một mình hoặc với một số người đi theo đã tuyển chọn, như vị phối ngẫu, đệ tử tâm hoặc chỉ là người bàng quang. Nhiều sự phát hiện Ter xảy ra trong bí mật (gSang gTer) và nhiều khi công khai (Khrom gTer). Ở đó, trong lúc thực hiện nghi lễ bữa tiệc-cúng dường (Tshogs), sự phát hiện xảy ra trong nhiều cách. Ter có thể rơi xuống từ nơi cất dấu xuống tay của vị Terton tại phần chót của tia sáng cầu vồng hoặc vị Terton leo lên một tảng đá, mà thường thì quá dốc để leo lên, mở ra một cánh cửa trong tảng đá, và leo xuống với một tráp nhỏ; hoặc vị Terton biến mất rồi sau đó xuất hiện lại với Ter; hoặc Ngài sử dụng một dụng cụ như cái đục để đào tảng đá, và sau khi khó nhọc đào Ngài lấy ra Ter; hoặc vị Terton nhảy xuống một hồ và đem về Ter. Đôi khi vị Terton phát hiện Ter từ những hình ảnh, đền, điện, hay từ bầu trời. Đôi lúc vị Terton phát hiện Ter cất dấu ở nơi thật xa qua năng lực thiền quán của Ngài, không cần đi đến đó, vì các vị hộ pháp mang Ter lại cho Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong việc phát hiện Ter cũng có những hình tượng, đồ vật tôn giáo, dụng cụ hành lễ, nhưng cái quan trọng nhất là những chữ biểu tượng được viết trên giấy cuộn màu vàng. Phần lớn giấy cuộn được niêm phong trong những tráp được làm bằng vật liệu quý, đá, gỗ, v.v...</p>
<p style="text-align: justify;">Một lần nữa, bằng việc thực hành chuẩn bị nhiều hơn cho Ter, tráp đựng Ter tự nhiên mở ra, và trong đó vị Terton phát hiện cuộn giấy màu vàng. Được gọi là “cuộn giấy màu vàng” vì phần lớn có màu vàng hay vàng nhạt, nhưng trong thực tế chúng có thể có bất cứ màu sắc, độ dài, hay kiểu dáng nào. Trên những cuộn giấy màu vàng này, vị Terton tìm thấy những chữ biểu tượng trong bất kỳ chữ viết và ngôn ngữ khác nhau của con người hay phi nhân, như của Ấn Độ, Tây Tạng, và xứ sở Dakini.</p>
<p style="text-align: justify;">Những chữ viết biểu tượng đều trong nhiều đặc tính khác nhau, và được phạm trù hóa thành ba nhóm: “Chỉ để nhìn thấy” (sNang Tsam) là một hay nhiều âm tiết nhưng không cần thiết là một chữ. “Chỉ như một nền tảng” là một nhóm hay một ít nhóm từ, một câu hay vài câu liên quan đến giáo lý của bản văn, như đề cương tóm tắt của bản văn, một phần của bản văn, tiêu đề của bản văn, hoặc một dữ kiện nối kết đến sự cất dấu. Đôi lúc nó là một bài viết không liên quan đến chủ đề. “Bản văn đầy đủ (mThar Ch’ag)” là một phát hiện toàn bộ bản văn.</p>
<p style="text-align: justify;">Vị Terton nhìn thấy, thiền định, hay hợp nhất trí tuệ không che đậy, đó là sự tự-hiện từ bản tánh quang minh bẩm sinh của Ngài với những chữ viết biểu tượng và nhờ đó đánh thức năng lực trí tuệ ngữ vajra của Đức Padmasambhava được cất dấu trong Ngài. Ngài giải mã những chữ của những chữ viết biểu tượng (brDa bKrol) và phát hiện ý nghĩa, Ter, từ chúng. Sự phát hiện Ter là sự xuất hiện của kho tàng Giáo Pháp của lãnh vực tối thượng (Tạng, Ch’os dByings, Phạn, dharmadhatu) như năng lực của giác tánh nội tại (Rig rTsal) hoặc sự xuất hiện của năng lực tánh giác nội tại như giáo lý.47 Nếu bạn không có sự nhận biết của giác tánh nội tại Dzogpa Chenpo, tỏa khắp trong lãnh vực tối thượng (pháp giới), bạn không thể phát hiện một Ter nào của Đức Guru Padmasambhava, được xuất phát từ sự trao truyền ủy thác-tâm (tâm truyền tâm).</p>
<p style="text-align: justify;">Do vậy những chữ viết biểu tượng trở thành chìa khóa để đánh thức ký ức về giáo lý và sự thành tựu từ sự rộng mở của bản tánh nội tại trong tâm vị Terton. Tiếp theo, sau khi thực hiện nhiều thực hành chuẩn bị cho Ter, khi vị Terton thấy những dấu hiệu của thời điểm thích hợp, Ngài sao chép lại giáo lý. Sau đó trao truyền giáo lý cho những người đi theo và giao phó chúng cho vị lĩnh hội chính về Ter, được gọi là bậc trì thủ giáo lý (Ch’os bDag). Những vị trì giữ giáo lý thường là người cũng đã tiếp nhận trao truyền giáo lý từ Guru Padmasambhava và nhận trách nhiệm truyền bá giáo lý.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>TER TÂM</b></p>
<p style="text-align: justify;">Những phương pháp cất dấu, trao truyền, và phát hiện cũng tương tự như Ter Đất, ngoại trừ việc chúng không dựa vào bất cứ nguồn nào thuộc đất ở bên ngoài, như những cuộn giấy màu vàng là chìa khóa để phát hiện. Trong nhiều trường hợp của Ter Tâm, việc nhìn thấy hay nghe những chữ biểu tượng hoặc âm thanh trong cái thấy là nguyên nhân cho sự phát hiện Ter, nhưng thường thì sự phát hiện không dựa vào bất cứ nguồn nào bên ngoài, và không liên quan đến những đối tượng thuộc đất như phương tiện để phát hiện Ter. Một vị Terton Tâm phát hiện Ter bằng sự đánh thức trao truyền ủy thác-tâm một cách tự phát từ sự rộng mở của giác tánh nội tại tâm Ngài, khi hoàn cảnh chín muồi và thời điểm đã đến.</p>
<p style="text-align: justify;">Đây là ba phạm trù của sự phát hiện giáo lý được biết là Kiến Thanh Tịnh (Dag sNang). Giáo lý của Kiến Thanh Tịnh không phải là Terma. Chúng chỉ là những giáo lý được chư Phật, Bổn tôn, và vị thầy ban trong cái thấy. Về sự phát hiện này, người phát hiện không cần thiết là một người có nhận biết cao và đây không phải là tâm truyền tâm. Tuy nhiên, có những trường hợp trong đó giáo lý Ter được phát hiện hoặc đã định rõ như giáo lý của kiến thanh tịnh, trong trường hợp này đây thực sự là giáo lý Ter.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong tài liệu của Nyingma có hàng ngàn bộ Ter được hàng trăm vị Terton phát hiện, khởi đầu trong thế kỷ mười một và tiếp tục đến ngày nay. Phần lớn các bản văn liên quan đến những sadhana (nghi quỹ), nghi thức hành lễ, bài nguyện, và nhiều sự thực hiện mật truyền khác nhau (Las). Có một số lớn bản văn về triết học, thiền định, và kết quả của những thực hành chung của đạo Phật và nhất là của truyền thống mật tông. Ngoài ra, có rất nhiều bản văn về y học, thiên văn học, lịch sử, và tiểu sử.</p>
<p style="text-align: justify;">Thật ngạc nhiên khi nhận ra phạm vi và tác động của kho tàng tâm linh được Đức Guru Padmasambhava ban để cải thiện giá trị của cuộc sống tinh thần, xã hội, và văn hóa người Tây Tạng và kết quả không ngưng nghỉ của truyền thống trong tiến trình của một thiên niên kỷ. Và thật là sửng sốt khi thấy rằng ngay cả nhiều người Tây Tạng vẫn chỉ có ít nhận thức về ý nghĩa của truyền thống này. Theo lịch sử Tây Tạng. Phật giáo không bao giờ có thể được xây dựng mà không có sự ban phước của Đức Guru Padmasambhava. Ở Tây Tạng, khó có một ngọn núi, ao hồ, hoặc thung lũng quan trọng nào mà không được cá nhân Ngài ban phước bằng việc tham quan, thiền định, phô diễn phép màu, và chôn dấu các Ter trong những nơi đó. Thậm chí biểu hiện nhiều dấu vết thân thể, nhiều hình ảnh xuất hiện tự nhiên, hoặc các hang động thiền định vẫn còn nhìn thấy. Truyền thống Ter bao gồm phần lớn một số chứng cứ tác động của dấu vết to lớn lúc rời Tây Tạng vì lợi ích của thế gian qua các hoạt động giác ngộ của Guru Padmasambhava. Vào lúc khởi hành từ Tây Tạng, Ngài diễn tả lòng từ và hứa với người Tây Tạng trong những lời sau đây:</p>
<p style="text-align: justify;">Khi các ngươi đối mặt thời điểm xấu của thời đại đen tối,<br />
Mỗi ngày và đêm Ta sẽ đến Tây Tạng.<br />
Ta sẽ cưỡi trên những tia sáng mặt trời đến với các ngươi,<br />
Và vào mỗi ngày thứ mười của trăng tròn<br />
Ta sẽ đến với các ngươi trong thân người.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Tulku Thondup Rinpoche </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt Ngữ: Tuệ Pháp</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/duc-tulku-thondup-rinpoche-khai-tri-ve-terma-trong-truyen-thong-nyingma/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đức Orgyen Kusum Lingpa một Kho tàng của Thời đại chúng ta</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/duc-orgyen-kusum-lingpa-mot-kho-tang-cua-thoi-dai-chung-ta/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/duc-orgyen-kusum-lingpa-mot-kho-tang-cua-thoi-dai-chung-ta/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 02 Oct 2015 19:32:13 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Khai Mật Tạng]]></category>
		<category><![CDATA[Longchen Ningthik]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Terma & Terton]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thống khác]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Ningthik]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6065</guid>
		<description><![CDATA[Khuôn mặt chó bun của Ngài có thể liên tục thay đổi sự biểu lộ từ phẫn nộ sang bi mẫn chói ngời và qua vẻ hân hoan như trẻ con một cách nhanh chóng; Ngài tự gọi mình là một “Lạt ma hành khất” và một “trưởng tử của Vajrapani” (Kim Cương Thủ.) Những mâu thuẫn hiển nhiên này&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/duc-orgyen-kusum-lingpa-mot-kho-tang-cua-thoi-dai-chung-ta/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/HH-Kusum-Lingpa-18.jpg"><img class="  wp-image-6068 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/HH-Kusum-Lingpa-18-239x300.jpg" alt="HH Kusum Lingpa (18)" width="392" height="492" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Khuôn mặt chó bun của Ngài có thể liên tục thay đổi sự biểu lộ từ phẫn nộ sang bi mẫn chói ngời và qua vẻ hân hoan như trẻ con một cách nhanh chóng; Ngài tự gọi mình là một “Lạt ma hành khất” và một “trưởng tử của Vajrapani” (Kim Cương Thủ.) Những mâu thuẫn hiển nhiên này chỉ là những khía cạnh của một sự phô diễn trí tuệ được liên tục biểu hiện tuỳ theo nhu cầu của các đệ tử bởi một trong những Lạt ma vĩ đại nhất còn sống của Tây Tạng, H.H. Orgyen Kusum Lingpa.</p>
<p style="text-align: justify;">Đứng trước sự hiện diện của His Holiness là xúc chạm vào khuôn mặt của xứ Tây Tạng cổ xưa, huyền bí trong năng lực nguyên tuyền của nó. Ở nơi Ngài ta không chỉ kinh nghiệm toàn bộ sức nặng của một truyền thống không đứt đoạn, mà còn cả một sự bao la của cái thấy xoá sạch phòng tuyến ngăn chia giữa những gì thường được gọi là thầàn thoại, và thực tại; cả hai đơn thuần được diễn tả ở những mức độ khác nhau trong phạm vi của ý thức.</p>
<p style="text-align: justify;">Với sự tự hào kim cương của một bậc đã chứng ngộ thực hành Pháp qua vô số cuộc đời, His Holiness thuật lại một cách thực tế sự tiếp nối của những Hoá Thân phi thường của Ngài: “Vào thời của Gesar xứ Ling (vị anh hùng trong sử thi Tây Tạng), tôi là một trong ba mươi chiến sĩ chủ lực của ngài; tôi mạnh tới độ có thể nhặt một con voi với một bàn tay và vì thế là một trong số ít người không bị tử thương trong những cuộc chiến tranh được tiến hành giữa xứ Hor và Jang. Tên tôi là Jamtrul Yulai Topgyir bởi tôi mặc áo giáp bằng ngọc lam rắn chắc. Tôi cũng là thành tựu giả Ấn Độ Trilwupa và Lhalung Palgyi Dorje, người đã giết Vua Langdarma (kẻ huỷ diệt Phật Giáo, bị giết bởi một mũi tên vào năm 842). Trong đời Machig Lapdron (nữ hành giả nổi tiếng và là người sáng lập trường phái Chod), tôi là một trong những đệ tử chính của Bà, có tên là Shang Murthi Nyongpa Rangzin, hay Kẻ Cuồng điên Bí mật-tự-Bản chất xứ Shang.”</p>
<p style="text-align: justify;">Trong đời này His Holiness sinh năm 1933 tại Achak Drayu trên ngọn núi linh thiêng Amnyi Machen Nyendop, nó được gọi là ngọn Kailash (Ngân Sơn) ở miền Đông Tây Tạng. Sự ra đời của Ngài được tiên tri trong Kinh điển bởi Dodrup Chen đệ nhất, Jigme Trinley Oser, bởi terton Nyima Dragpa; và bởi Dzogchen Rinpoche thứ năm, ngài Migyur Namkhai Dorje. Một ngagpa thế hệ-thứ tư, His Holiness là con trai của bậc lão thông Kim Cương thừa Washi Lama Lhundrup Gyatso và yogini Padma Lhamso. Thân phụ Ngài mất khi Ngài lên ba tuổi, vào lúc đó His Holiness nhận những giới nguyện quy y và lễ cắt tóc từ Ban Thiền Lạt ma thứ chín, Thubten Chokyi Nyima.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài tự mô tả mình trong thời niên thiếu là “rất nghịch ngợm, xấu xa như đám trẻ sinh động!” Tuy nhiên, Ngài tiến bộ trong việc học tập với một số vị Thầy linh thánh, kể cả Ngài Ahkon Khenchen Losang Dorje, một geshe rabjampa đã hoàn thành việc nghiên cứu hơn một trăm Kinh điển quan trọng nhất, và His Holiness đã là đệ tử chính của vị này trong hơn bốn mươi năm; hai Hoá Thân của Dodrup Chen Rinpoche thứ tư, Thubten Trinley Palzangpo và Rigzin Jalu Dorje; Gyaltrul Wangpo, Khenchen Lobsang Namtak là người đã ban cho Ngài sự truyền dạy Dzogchen Nyingthik, và Ngài đã sống nhiều năm với vị Thầy này; và Palyul Chogtrul Rinpoche mà từ vị này Ngài nhận lãnh các trao truyền Namcho và Tatna Lingpa. Thêm vào đó, từ năm mười ba tuổi, His Holiness bắt đầu nhận lãnh, trong những khoảng thời gian đều đặn, các linh kiến của Guru Padmasambhava và Vajrayogini. Cả hai vị này tiếp tục truyền dạy các giáo huấn và tiên tri cho Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Thân mẫu Ngài mất khi Ngài mười sáu tuổi, (…) và Ngài vui thích khi thuật lại “Khi tôi gặp những gia trưởng keo kiệt, tôi cố tình hát những bài ca kim cương du dương và não nuột làm họ khóc lóc, suy sụp, vì thế họ kết thúc bằng việc liên tục cho tôi những món ăn ngon nhất của họ!” Ngài cũng kể lại những ngày Ngài là một chodpa (hành giả thực hành pháp Chod), nếu những người bạn hành giả của Ngài nghe phong thanh về thời gian và địa điểm thực hành Chod của một yogi, họ sẽ luôn luôn chơi sỏ anh ta. “Những yogi này lập tức có những phản ứng sai lầm,” Ngài lưu ý. “Thật là vui nhộn.” His Holiness không dừng lại ở những trò đùa nghịch như thế: một lần, khi một nhà sư khác đang thực hiện pháp Chod, với sự hóm hỉnh của mình, cậu bé Kusum Lingpa làm kinh hoàng vị yogi tương lai bằng cách thọc bàn tay qua một cái lỗ trong căn lều và giật tóc ông ta!</p>
<p style="text-align: justify;">Vào khoảng thời gian này, His Holiness đi hành hương Lhasa và Samye, ở đó Ngài có các linh kiến về tất cả những đời quá khứ và tương lai của mình. Chính lúc đó Ngài nhận ra rằng trong tương lai Ngài sẽ tái sinh là Sangpa, trưởng tử của vị Nhiếp Chính thứ hai mươi lăm của Shambhala. Lòng dũng cảm hiếm có của Ngài sẽ giúp cho Ngài chiến thắng trong một đánh bom kéo dài bảy ngày do con người trên trái đất này ném xuống các cư dân của Shambhala. Ngài cũng thọ nhận một tiên tri là trong hơn một trăm đời Ngài sẽ khám phá một ngàn cuốn sách được liên kết với những kho tàng ẩn dấu ở năm phương hướng.</p>
<p style="text-align: justify;">Không lâu sau đó, His Holiness bắt đầu khám phá những kho tàng tài bảo, các thực hành có khả năng ban tặng sự thịnh vượng trong những thời đại suy hoại. Sau này, năm ba mươi hai tuổi, Ngài khám phá một kho tàng thân của Đức Phật Vairocana (Tỳ Lô Giá Na) mà hiện nay Ngài đang ban tặng nó cho các đệ tử ở Tây phương, đó là thực hành Jambhala Orgyen. Với sự xác quyết của một bậc đã chứng ngộ sự thực hành, His Holiness nói rằng sự khám phá terma (kho tàng tâm linh được chôn dấu) này lập tức đảo ngược vận mệnh của Ngài, đem lại sự sung túc bất thường, và có thể thực hiện tương tự đối với bất kỳ ai tuân thủ nó một cách tinh tấn. Từ lúc đó, Ngài nổi tiếng là một trong những terton (bậc khám phá terma) còn sống, đã khám phá ba loại terma: những terma được nhận lãnh trực tiếp từ tâm; những terma “điên” có thể hiển lộ trong vị yogi như cách hành xử không theo quy ước; và terma bí mật chỉ có thể khám phá bởi một bậc là sở hữu chủ của tất cả mười tám bộ (gia đình) terma.</p>
<p style="text-align: justify;">Giữ vững lập trường không trộn lẫn Pháp với những vấn đề thế tục, His Holiness trải qua hơn hai mươi ba năm bị giam giữ trong một trại giam của Trung Quốc ở Tây Tạng, Ngài thích nhấn mạnh tới những sự ban phước của Đức Padmasambhava và Vajrayogini mà nhờ đó Ngài cảm thấy Ngài có thể tới Tây phương và ban những giáo lý. “Những Lạt ma khác ở Tây Tạng vĩ đại hơn tôi nhiều,” Ngài nói, “nhưng tôi là một người thăm viếng Châu Mỹ và là một thành phần của những sự việc ở đây.” Mặc dù hiện nay Ngài có trọng trách đối với năm tu viện ở Tây Tạng, tu viện chính nằm ở Golok trong miền đông Tây Tạng, His Holiness bắt đầu nhận những lời mời vào năm 1994 để giảng dạy tại các trung tâm Giáo Pháp Châu Mỹ của các ngài Chagdud, Gyaltrul, và Trungpa Rinpoche, và tại Kunzang Palyul Choling, được điều hành bởi nữ tulku người Mỹ Ahkon Norbu Lhamo. Trong chuyến trở lại Hoa Kỳ vào mùa xuân năm nay, Ngài cũng thành lập một trung tâm nhỏ ở Crestone, Colorado và một trung tâm ở Los Angeles mà Ngài hướng dẫn cùng với trưởng nam của Ngài là Tulku Hungkar Dorje, là vị từng được công nhận là tái sinh của Do Khyentse Yeshe Dorje, mà His Holines sẽ là một Lạt ma vĩ đại hơn ông ta. His Holiness đã đích thân bổ nhiệm đệ tử của Ngài là Kelly Lynch làm giám đốc trung tâm. Trong thời gian thăm viếng Châu Mỹ, His Holiness đã giảng dạy trên ba ngàn người và đã ban các giới nguyện quy y cho hơn năm trăm người.</p>
<p style="text-align: justify;">Lối giảng dạy của His Holiness thiên nhiều về trực giác. Ngài có thể ban những nhập môn chính thức hay thuật lại những câu chuyện của Tây Tạng xa xưa. Sau một buổi tối vui nhộn bất ngờ, Ngài kết luận: “Khi tôi còn trẻ, tôi có nhiều cuộc gặp gỡ ngồ ngộ với những người được gọi là hành giả Pháp thuần tịnh và những trò đùa nghịch được rút ra từ họ, vì thế thỉnh thoảng khi tôi đang giảng dạy, những câu chuyện này xuất hiện trong tâm tôi. Tôi thích kể những câu chuyện này bởi tôi thích cười. Ngày mai chúng ta sẽ cố gắng có thêm những bài giảng, nhưng nếu những câu chuyện này lại xuất hiện thì tôi không thể kiểm soát được mình!”</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng Ngài có thể dễ dàng biểu lộ một cách thế phẫn nộ, đưa ra lời khuyên dạy nghiêm khắc cho những hành giả đang rơi vào sự tự mãn. Khi Ngài có một ước muốn mạnh mẽ, Ngài sẽ trở lại vấn đề một cách liên tục và sinh động tới nỗi ta dễ tin rằng Ngài là một Hoá Thân của Đức Vajrapani (Kim Cương Thủ); một trường năng lực tỏa ra từ Ngài khiến ta có thể sờ mó được. Tại một trung tâm Giáo Pháp, Ngài đã khiển trách tăng đoàn trong ba buổi tối liên tiếp về mọi sự hình thành giờ giấc mà họ đang giữ (“Quý vị nên thức dậy và bắt đầu thực hành vào lúc 4 giờ sáng; ngủ tới 8 giờ sáng và thức khuya thì không tốt”) đối với toàn bộ hiệu quả của tổ chức. Đó là một trong những trách nhiệm của Ngài, Ngài khám phá, tẩy trừ những chướng ngại, đặc biệt là tại những trung tâm Giáo Pháp. Nhưng vào lúc kết thúc, Ngài thình lình cười rạng rỡ và nói: “Tôi nghĩ tôi đã quá khó khăn với quý vị; bây giờ tôi sẽ kể cho quý vị nghe một vài chuyện vui!”</p>
<p style="text-align: justify;">Quả thực là vẻ chói sáng của His Holiness là điều được cảm nhận một cách mạnh mẽ, ngay cả giữa sự biểu lộ phẫn nộ được kiểm soát của Ngài. (Thực thú vị là từ ngữ Tây Tạng để chỉ sự phẫn nộ, dragpo, bao hàm sức mạnh hơn là sự giận dữ.) Nhìn vào mặt Ngài khi ta được Ngài ban phước, ta hiểu được ý nghĩa của thuật ngữ lòng bi mẫn không-bị cụ thể hóa. His Holiness không chỉ ban tặng lòng từ; Ngài trở thành lòng từ ái, và mặc dù hành giả có thể nhận lãnh sự trừng phạt nghiêm khắc khi cần thiết, nhưng họ sẽ không bao giờ bị bỏ rơi.</p>
<p style="text-align: justify;">His Holiness cũng có thể khiêm tốn, bình phàm, và sắc sảo thật tâm lý. Mới đây, lời khuyên dạy tâm huyết của Ngài cho các đệ tử là: “Các Lạt ma vĩ đại là những vị nghĩ về bản thân mình một cách khiêm tốn và không tự đặt mình trong một địa vị đặc biệt, nhưng hạ mình hoà nhập với mọi người, và thậm chí còn thấp thỏi hơn mọi người, như một Lạt ma hành khất. Nếu quý vị sống như một Lạt ma hành khất, quý vị thực sự ở một vị trí làm lợi lạc chúng sinh.” Một vấn đề khác: “Là bất tịnh nếu không nhận ra chân tánh của tâm. Đó là lý do tại sao những gì ở trong tâm quý vị thì bất tịnh như những thứ xuất hiện trong nhà vệ sinh! Nếu ngay cả người bạn tốt nhất của ta có thể thấy được những gì trong tâm ta, thì thật là bối rối. Và nếu mọi người có thể thấy được những gì trong tâm ta, chúng ta sẽ ở trong một trạng thái giằng xé liên tục!” Ngài cũng ban lời dạy về những thực hành cho người chết và về thái độ đúng đắn đối với những của cải như một chuẩn bị cho cái chết của bản thân ta. “Ở Mỹ, khi người nào chết, điều quan trọng nhất là loại y phục nào quý vị sẽ mặc cho tử thi để làm dễ chịu những ai nhìn thấy nó. Tôi có thể quả quyết với quý vị là điều này có hại cho tâm thức bardo bởi nó không giải thoát tâm thức khỏi sự bám luyến. Là những hành giả Phật Giáo, hãy làm điều đức hạnh như trì tụng thần chú Mani (Lục Tự Đại Minh) hay thực hiện những Bổn Tôn an bình và phẫn nộ trong các vị thần trong bardo. Khi quý vị ở trong bardo, điều tôi nói sẽ trở nên chân thực trong tâm quý vị và khi ấy quý vị sẽ hiểu rõ là người ta có thiện tâm đối với người thân của họ vào lúc chết hay không. Đối với tâm thức bardo thì điều tốt đẹp là không để lại sau lưng quá nhiều của cải bởi điều đó gây nên sự bám luyến. Giờ đây hãy sử dụng tài sản của quý vị vào những mục đích đức hạnh. Đừng tích luỹ quá nhiều hay có những dự án to lớn cho tương lai. Đây không phải là con đường của Dzogchen (Đại Viên Mãn). Quý vị nên có một tâm thức được hướng tới hiện tại hơn nữa.”</p>
<p style="text-align: justify;">His Holiness thật rộng lượng tràn đầy tâm linh và cảm xúc, Ngài ban phước cho tất cả, từng người một, bất kể những khoá giảng kết thúc muộn tới đâu hay Ngài mệt nhọc ra sao. Nói chung, Ngài ban tặng gấp đôi so với giáo lý xuất hiện trên lịch giảng dạy chính thức. Và nhìn ngắm Ngài trong những giờ Ngài “nhàn rỗi” là một sự nhắc nhở về nỗ lực không ngừng nghỉ mà những bậc thực hành các giới nguyện Bồ Tát đã làm. Khi Ngài không tích cực giảng dạy hay ban những chỉ dạy tâm linh, Ngài lần chuỗi hột và trì tụng các thần chú, hoặc tìm kiếm người nào đó để làm lợi lạc. Trong khi chờ đợi tại một phi trường ở bờ biển miền đông, Ngài nhìn lướt qua đám đông, đôi mắt ngài dừng lại nơi một phụ nữ ngồi đối diện với Ngài. Bởi Ngài không nói tiếng Anh, Ngài bắt đầu ra hiệu để thu hút sự chú ý của bà ta, thấu hiểu rằng ngay cả sự tiếp xúc thoáng qua cũng có thể gieo trồng một chủng tử sẽ nở rộ trong những đời sau.</p>
<p style="text-align: justify;">His Holiness là một sức thuyết phục của chân tánh, một kho tàng sống của những truyền thống tâm linh cao quý nhất của Tây Tạng, một terton và siddha (thành tựu giả) vĩ đại, không nên bỏ lỡ Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><i>Nguyên tác: A Treasure for Our Time, by Victoria Huckenpahler</i><br />
<i>Bản dịch Việt ngữ của Liên Hoa</i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/duc-orgyen-kusum-lingpa-mot-kho-tang-cua-thoi-dai-chung-ta/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Khai thị từ Đức Liên Hoa Sanh và Giáo huấn Dakini</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/terma-terton/kho-tang-terma/khai-thi-tu-duc-lien-hoa-sanh-va-giao-huan-dakini/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/terma-terton/kho-tang-terma/khai-thi-tu-duc-lien-hoa-sanh-va-giao-huan-dakini/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 23 Sep 2015 07:57:25 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kho tàng (Terma)]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5862</guid>
		<description><![CDATA[ By Đức Bà Yeshe Tsogyal Hai bộ Mật tạng quý báu "Những khai thị từ Đức Liên Hoa Sanh về con đường Đại Toàn Thiện" và "Giáo Huấn Dakini" được Đức Bà Yeshe Tsogyal ghi lại từ Đức Liên Hoa Sanh và được tái khám phá của các Khai Mật Tạng Vĩ Đại Nyang Ral Nyima Özer; Sangye Lingpa; Pema Ledrel&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/terma-terton/kho-tang-terma/khai-thi-tu-duc-lien-hoa-sanh-va-giao-huan-dakini/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong> By Đức Bà Yeshe Tsogyal</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #0000ff;"><em>Hai bộ Mật tạng quý báu "Những khai thị từ Đức Liên Hoa Sanh về con đường Đại Toàn Thiện" và "Giáo Huấn Dakini" được Đức Bà Yeshe Tsogyal ghi lại từ Đức Liên Hoa Sanh và được tái khám phá của các Khai Mật Tạng Vĩ Đại Nyang Ral Nyima Özer; Sangye Lingpa; Pema Ledrel Tsal; Rigdzin Gosdem và Chokgyur Lingpa và với lời giới thiệu của Đức Tulku Urgyen Rinpoche</em></span></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Guru-Rinpoche-1.jpg"><img class="alignnone  wp-image-5867" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Guru-Rinpoche-1-209x300.jpg" alt="Guru Rinpoche (1)" width="320" height="459" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><b><em><span style="color: #0000ff;">Hãy đi xuống với kiến, trong khi đi lên với hạnh,</span></em><br />
<em> <span style="color: #0000ff;"> thực hành hai điều này như một là điều cốt tủy nhất.</span></em><br />
Padmasambhava</b></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Pema-Ledrel-Tsal.jpg"><img class="alignnone  wp-image-5870" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Pema-Ledrel-Tsal-242x300.jpg" alt="Pema Ledrel Tsal" width="292" height="362" /></a> <a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/tải-xuống6.jpg"><img class="alignnone  wp-image-5871" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/tải-xuống6.jpg" alt="tải xuống" width="292" height="360" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #0000ff;"><b>Pema Ledrel Tsal                                    Chokgyur Lingpa</b></span></p>
<p style="text-align: center;"> <a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Nyangral.jpg"><img class="alignnone  wp-image-5868" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Nyangral-261x300.jpg" alt="Nyangral" width="304" height="349" /></a> <a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/sangye-lingpa-o.gif"><img class="alignnone  wp-image-5869" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/sangye-lingpa-o-259x300.gif" alt="sangye-lingpa-o" width="306" height="354" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong> <span style="color: #0000ff;">            Nyang Ral Nyima Özer                                         Sangye Lingpa    </span>                      </strong></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Tulku-Urgyen-Rinpoche.jpg"><img class="alignnone  wp-image-5866" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Tulku-Urgyen-Rinpoche-225x300.jpg" alt="Tulku Urgyen Rinpoche" width="338" height="451" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #0000ff;"><strong>Đức Tulku Urgyen Rinpoche</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;">Trong thời gian mà thế giới chúng ta đang sống, một ngàn vị Phật sẽ xuất hiện. Tương tự, mỗi vị Phật này sẽ có một ngàn Guru Rinpoche thực hiện những hoạt động của các Ngài. Trong thời hiện tại của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, một thân lưu xuất trong thân người như vậy là Đức Padmasambhava, Liên Hoa Sanh. Người ta nói rằng trong tiểu sử, Ngài tự nhiên sinh ra từ một hoa sen ở trong một hồ mà không có cha mẹ. Sinh ra với thân người một cách kỳ diệu như vậy, Ngài được phú cho đại thần lực có khả năng hàng phục không chỉ nhân loại mà còn những tinh linh và những loại phi nhân khác. Ngài sống trong một thời gian dài. Ngài ở Ấn Độ khoảng một ngàn năm và sau đó ở Tây Tạng năm mươi năm. Khi sắp rời Tây Tạng Ngài được hai mươi lăm đệ tử chính và nhà vua đưa tiễn. Tại biên giới Nepal Ngài được những dakini của bốn bộ hộ tống trên một con ngựa gọi là Mahabala. Con ngựa thần thoại này bay lên trời, để lại những đệ tử nhìn hình ảnh Ngài Guru Rinpoche nhỏ dần rồi biến mất ... mời các bạn đọc tiếp ...</p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #0000ff;"><strong>01. Giáo Huấn Dakini : </strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"><strong><em>- Ebook: <span style="text-decoration: underline;"><a style="color: #000000; text-decoration: underline;" href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/giaolydakini.pdf">giaolydakini</a></span></em></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"><strong>- mp3 : http://dieuphapam.net/dpa/giao-huan-dakini.3803/</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #0000ff;"><strong>02- Những khai thị từ Đức Liên Hoa Sanh về con đường Đại Toàn Thiện</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"><em><strong>- Ebook: <a style="color: #000000;" href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/loi-khai-thi-mieng-ve-dai-toan-thien-dao-su-lien-hoa-sinh.pdf">loi-khai-thi-mieng-ve-dai-toan-thien-dao-su-lien-hoa-sinh</a></strong></em></span></p>
<p><span style="color: #000000;"><em><strong>- mp3: http://dieuphapam.net/dpa/nhung-khai-thi-tu-duc-lien-hoa-sanh-ve-con-duong-dai-toan-thien.3583/</strong></em></span></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/terma-terton/kho-tang-terma/khai-thi-tu-duc-lien-hoa-sanh-va-giao-huan-dakini/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tổ Chokgyur Dechen Lingpa</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/chokling-tersar/truyen-thua-chokling/lich-su-ngan-truyen-thong-ka-nying/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/chokling-tersar/truyen-thua-chokling/lich-su-ngan-truyen-thong-ka-nying/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 04 Sep 2015 04:58:04 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Khai Mật Tạng]]></category>
		<category><![CDATA[Terma & Terton]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thừa Chokling]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Chokling Tersar]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3969</guid>
		<description><![CDATA[ Tổ Chokgyur Dechen Lingpa Bậc nắm giữ kho tàng Terma Chokling Tersar Cách đây 2500 năm, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lần đầu tiên đã giảng dạy giáo lý con đường giác ngộ cho chúng sinh trong cõi giới này. Khi âm vang Giáo Pháp của Đức Phật lan truyền khắp muôn nơi, vị Thầy giác ngộ vô song&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/chokling-tersar/truyen-thua-chokling/lich-su-ngan-truyen-thong-ka-nying/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong> Tổ Chokgyur Dechen Lingpa Bậc nắm giữ kho tàng Terma Chokling Tersar</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Cách đây 2500 năm, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lần đầu tiên đã giảng dạy giáo lý con đường giác ngộ cho chúng sinh trong cõi giới này. Khi âm vang Giáo Pháp của Đức Phật lan truyền khắp muôn nơi, vị Thầy giác ngộ vô song này đã dành cả đời mình để truyền bá Phật Pháp khắp đất nước Ấn Độ. Hàng thế kỉ sau khi Đức Phật nhập niết bàn, các giáo lý của Ngài phát triển sâu rộng khắp Ấn Độ và lan truyền tới hầu hết các quốc gia châu Á. Những giáo lý của Ngài đã mang lại hạnh phúc, lợi lạc và giải thoát cho tất cả những ai thực hành chúng.</p>
<p style="text-align: justify;">Tại Tây Tạng, những lời dạy của Đức Phật luôn được giữ gìn với lòng sùng mộ mãnh liệt xuyên suốt lịch sử. Trong một thời gian ngắn, tất cả các dòng phái nghiên cứu và thực hành Phật giáo đều được đồng nhất và trì giữ một cách không gián đoạn từ thế hệ này sang thế hệ khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Đạo sư vĩ đại Ấn Độ thế kỉ thứ 8, Đức Liên Hoa Sanh, đã đến Tây tạng và chịu trách nhiệm hoằng truyền giáo lý Kim Cương Thừa khắp Tây Tạng, Ngài được biết đến là Guru Rinpoche, nghĩa là “ Đạo sư Tôn quý”.</p>
<p style="text-align: justify;">Toàn bộ giáo lý Phật giáo và các phương pháp thực hành như Đại Toàn Thiện (Dzogchen) chính là thị hiện từ giác tánh của Đạo sư Liên Hoa Sanh. Trong suốt thời gian ở Tây Tạng, Guru Rinpoche đã trao truyền những giáo lý thâm diệu tới các đệ tử thân cận nhất của Ngài. Ngài tin tưởng các đệ tử của mình và giao phó bảo vệ các giáo lý Dzogchen vì lợi lạc của thế hệ tương lai. Guru Rinpoche đã hướng dẫn các đệ tử đem giáo lý đến với chúng sinh trong không gian và thời gian thích hợp chỉ sau khi người thọ nhận chin muồi về mặt tâm thức, để đem lại lợi lạc cho chúng sinh mau chóng đạt giác ngộ từ sức mạnh vô tận của giáo lý Dzogchen.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhờ những hiển lộ phi thường của Đức Chokgyur Dechen Lingpa (1829-1870), tu viện Ka-Nying Shedrub Ling chính là nơi trực tiếp thọ nhận giáo lý Đại Toàn Thiện. Khai Mật Tạng vĩ đại của phái Nyingma là vị cuối cùng trong số 108 vị Khai mật tạng khám phá  Kho Tàng Tâm được cất giấu của Đức Liên Hoa Sanh. Dòng truyền thừa của Chokgyur Lingpa, được biết đến là Chokling Tersar đã trải qua ít nhất 15 thế kỉ. Các giáo lý hai dòng phái Kagyu và Nyingma của Phật giáo Tây Tạng được đem vào thực hành.</p>
<p style="text-align: justify;">Cách mà Tu viện Ka-Nying Shedrub Ling kết nối với phái Kagyu của Phật giáo Tây Tạng như thế nào? Tu viện được thiết lập dựa trên mối liên kết Pháp với Đức Pháp Vương Gyalwang Karmapa đời thứ 16. Người sáng lập tu viện, Đức Kyabje Tulku Urgyen Rinpoche chính là vị hộ trì chính của dòng Barom Kagyu. Hơn nữa, ba trong số sáu người con trai của Ngài Chökyi Nyima Rinpoche, Tsoknyi Rinpoche và Yongey Mingyur Rinpoche là những vị Lama đáng tôn kính lần lượt thuộc các dòng truyền thừa Drikung Kagyu, Drukpa Kagyu và Karma Kagyu. Hơn nữa, dòng họ của các Lama cao cấp chính là hậu duệ của Đức Terchen Chokgyur Dechen Lingpa. Bởi vậy, huyết thống của họ là thuộc phái Nyingma trong khi Hóa thân lại thuộc dòng Kagyu.</p>
<p style="text-align: justify;">Hơn nữa, con trai lớn của Đức Tsikey Chokling Rinpoche, Đức Phakchok Rinpoche chính là Bậc trì giữ phái Taklung Kagyu và con trai nhỏ, Khyentse Yangsi Rinpoche, là Hóa thân của một trong số các Vị Khai Mật Tạng Nyingma vĩ đại nhất của thế kỉ 20, Đức Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche, và đều các hậu duệ trực tiếp của Terchen Chokgyur Dechen Lingpa. Do đó, Ka chính là từ Kagyu và Nying chính là từ Nyingma – tạo thành tên Ka-Nying Shedrub Ling.</p>
<p style="text-align: justify;">Cách mà tu viện Ka-Nying Shedrub Ling đã trì giữ các dòng phái Nyingma và Kagyu như thế nào? Là một địa điểm  dành cho việc nghiên cứu và thực hành chuyên sâu các giáo lý và các pháp tu của cả hai dòng phái cũng như các bản Kinh và các pháp thực hành tu tập của Đức Phật khi chúng đã được trao truyền trong dòng truyền thừa không gián đoạn, với một truyền thống thực hành tâm linh hết sức thanh tịnh và Kinh điển, Mật điển được truyền giữ thông qua các hoạt động vì lợi lạc giáo Pháp của Đấng Giác Ngộ đều diễn ra sống động tại Tu viện Ka-Nying Shedrub Ling.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.shedrub.org/page.php?page=lineage"><em>http://www.shedrub.org/page.php?page=lineage</em></a></p>
<p style="text-align: justify;">Việt dịch : Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính : Giác nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với </em><em>truyền thống </em><em>Ka-Nying</em> <em>đều được lợi lạc và cầu mong nhờ công đức này </em><em>truyền thống </em><em>Ka-Nying</em> <em>sẽ nở rộ tại </em><em>Việt nam</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/chokling-tersar/truyen-thua-chokling/lich-su-ngan-truyen-thong-ka-nying/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
