<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Truyền thừa Neydo</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-khac/truyen-thua-neydo/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Fri, 17 Apr 2026 16:09:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Những Lỗi Lầm Của Sinh Tử</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/nhung-loi-lam-cua-sinh-tu/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/nhung-loi-lam-cua-sinh-tu/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 17 Oct 2015 02:35:17 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Karma Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Karma]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Neydo]]></category>
		<category><![CDATA[Luân hồi thống khổ]]></category>
		<category><![CDATA[Tâm xả ly Luân hồi]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Neydo]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6217</guid>
		<description><![CDATA[By Karma Khenchen Rinpoche Được đặt căn bản trên những hành động tích cực, tiêu cực và trung tính mà chúng sinh đã thực hiện, họ được tái sinh trong một trong sáu cõi sinh tử (chu kỳ đau khổ mà chúng sinh sống trong đó.) Chúng ta sẽ bắt đầu với ba trạng thái hiện hữu thuận lợi hơn.&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/nhung-loi-lam-cua-sinh-tu/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><b>By Karma Khenchen Rinpoche</b></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/tea-22.jpg"><img class="alignnone  wp-image-6219" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/tea-22-215x300.jpg" alt="tea-22" width="322" height="449" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Được đặt căn bản trên những hành động tích cực, tiêu cực và trung tính mà chúng sinh đã thực hiện, họ được tái sinh trong một trong sáu cõi sinh tử (chu kỳ đau khổ mà chúng sinh sống trong đó.)</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta sẽ bắt đầu với ba trạng thái hiện hữu thuận lợi hơn. Trong Cõi Người, những cá nhân đau khổ bởi Bốn Dòng Sông Lớn: Sự Sinh, Lão, Bệnh và Tử. Trong Cõi Trời, chúng sinh đau khổ vì bị mất vẻ duyên dáng. Năm ngày trước khi chết, khuôn mặt một vị trời (thiên) hay thiên nữ bắt đầu xuống sắc. Họ bắt đầu có mùi hôi và những tràng hoa của họ héo úa. Họ có những thị kiến về các cõi thấp mà họ sẽ tái sinh. Họ trở nên tuyệt vọng và buồn bã bởi họ đã sống ở Cõi Trời quá lâu. Vì thế, bị xao lãng bởi sự hỉ lạc và an bình của định trong nhiều kiếp, họ không bao giờ chịu dành thời gian để thực hành Pháp. Trong Cõi A tu la (Bán Thần), những chúng sinh đau khổ vì sự tranh đấu và không hòa hợp, được khơi dậy bởi một thái độ ganh tị.</p>
<p style="text-align: justify;">Kế tiếp là ba trạng thái hiện hữu ít thuận lợi, là nơi chúng sinh phải chịu đau khổ thường xuyên hơn. Trong Cõi Súc sinh, những thú vật đau khổ vị sợ hãi. Chúng ăn nuốt lẫn nhau, hay trở thành nô lệ và bị ăn thịt. Ta có thể nhìn thấy nỗi khổ trong cõi này hết sức sống động. Trong Cõi Ngạ Quỷ, sự đói khát khiến chúng sinh đau khổ. Mặc dù có thể nhìn thấy thức ăn nhưng họ không ăn được. Nếu họ nuốt một ít đồ ăn, nó sẽ đốt cháy cổ họng và làm bao tử họ thường xuyên trống rỗng. Trong Cõi của những chúng sinh Địa ngục, cái nóng và lạnh hành hạ chúng sinh. Họ phải chịu đau khổ trong một trong tám địa ngục lạnh (chẳng hạn những vết phồng rộp vỡ ra hay răng đánh lập cập) hoặc tám địa ngục nóng. Cũng có những Cõi Địa ngục không thường xuyên và Địa ngục lân cận. Chúng ta có thể nhìn thấy một số Địa ngục đó, chẳng hạn những con vật kỳ lạ nhỏ bé sống dưới những tảng đá hay những côn trùng sống rất lâu dưới mặt đất. Trong những địa ngục không thường xuyên này, chúng sinh chết và bị tái sinh liên tục trong cõi đó trong một thời gian rất dài.</p>
<p style="text-align: justify;">Không duy nhất một chúng sinh nào thoát khỏi đau khổ, dù đó là đau khổ trong tinh thần hay thể xác. Để thấu hiểu nỗi khổ của những cõi thấp, ta phải nhận dạng sự đau khổ hiện diện quanh ta. Như một người chăn nuôi gia súc, hãy nghĩ tưởng chắc hẳn trâu bò phải đau đớn biết bao khi bị giết để lấy thịt. Như một người thợ săn, hãy suy niệm một con vật cảm nhận ra sao khi bị săn đuổi và cuối cùng bị bắn chết.</p>
<p style="text-align: justify;">Hãy nhận lãnh những kinh nghiệm liên quan mà ta có và chuyển hóa chúng hướng về việc thấu suốt sinh tử. Ví dụ nếu bạn cảm thấy lạnh khi đứng ngoài trời trong mùa đông mà không có áo choàng thì hãy tưởng tượng rằng chúng sinh trong những cõi địa ngục lạnh còn phải chịu giá lạnh tới đâu. Nếu một tia lửa làm phỏng ngón tay bạn, hãy nghĩ tưởng rằng trong những địa ngục nóng, chúng sinh còn đau đớn hơn thế nhiều. Nếu bạn cảm thấy đau khổ khi bị đói khát trong ba ngày, hãy tưởng tượng rằng là một ngạ quỷ thì còn tệ hại hơn biết bao.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự sống trong sinh tử luân hồi gồm có Ba Loại Đau khổ: (1) Nỗi khổ tràn ngập dòng tâm thức và hiện hữu trong mọi sự sống có điều kiện, (2) Khổ khổ và (3) Nỗi khổ gây nên bởi sự biến đổi, do hối tiếc khi ta mất đi những hoàn cảnh tốt đẹp và những sự vật.</p>
<p style="text-align: justify;">Là một con người, tâm ta không nên cứng rắn, thiếu mềm dẻo, nhẫn tâm và lạnh lẽo. Chúng ta nên suy niệm về nỗi khổ của những người khác, nhờ đó tâm ta sẽ trở nên mềm mại và dịu dàng.</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Pháp thoại được giảng vào tháng Năm, 2001</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Nguyên tác: “The Four Foundations: Thoughts which Turn the Mind Towards the Dharma” by Ven. Karma Khenchen Rinpoche</i><br />
<i>http://www.simhas.org/teaching19.html</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Bản dịch Việt ngữ của Liên Hoa</i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/nhung-loi-lam-cua-sinh-tu/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nuôi Dưỡng Bồ Đề Tâm</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/nuoi-duong-bo-de-tam/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/nuoi-duong-bo-de-tam/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 24 Sep 2015 18:14:56 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kinh sách Neydo]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Neydo]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5909</guid>
		<description><![CDATA[By Chagme Rinpoche Nếu bạn hỏi ta tham dự vào việc lắng nghe, suy niệm và thiền định về giáo lý như thế nào thì câu trả lời là ta cần làm những điều đó không chỉ vì lợi ích của ta, nhưng bởi lợi lạc của tất cả chúng sinh. Như vậy bạn phát triển Bồ Đề tâm ra&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/nuoi-duong-bo-de-tam/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>By Chagme Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/BVqVcYSCYAEOibR1.jpg"><img class="  wp-image-5911 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/BVqVcYSCYAEOibR1-200x300.jpg" alt="BVqVcYSCYAEOibR" width="347" height="521" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Nếu bạn hỏi ta tham dự vào việc lắng nghe, suy niệm và thiền định về giáo lý như thế nào thì câu trả lời là ta cần làm những điều đó không chỉ vì lợi ích của ta, nhưng bởi lợi lạc của tất cả chúng sinh. Như vậy bạn phát triển Bồ Đề tâm ra sao? Trước hết bạn thiền định về lòng từ ái, và sau đó là lòng bi mẫn. Làm thế nào bạn biết là mình có Bồ Đề tâm hay không? Người không phân biệt giữa bạn và thù, người ấy có Bồ Đề tâm. Điều này rất khó khăn đối với người mới bắt đầu, bạn nghĩ thế phải không? Vậy tại sao khó khăn? Từ vô thủy chúng ta đã bám chấp vào ý niệm sai lầm của cái tôi và đã lang thang suốt trong sinh tử.</p>
<p style="text-align: justify;">Rốt cuộc vào lúc này, cho dù bạn thiền định về Bồ Đề tâm nhưng nó không dễ dàng phát khởi. Vậy ta làm thế nào để có thể phát triển Bồ Đề tâm? Nó giống như việc nuôi con. Bạn bắt đầu bằng cách cho chúng thức ăn mềm, dễ tiêu. Khi lần đầu tiên ngài Xá Lợi Phất phát triển Bồ Đề tâm, một người đàn ông đã hỏi xin nhãn cầu (mắt) của ngài. Xá Lợi Phất trao nó cho ông ta và người đàn ông để nó trên mặt đất rồi đạp lên. Khi Xá Lợi Phất hỏi lý do tại sao thì ông ta nói khi đạp lên một nhãn cầu, nó tạo nên một âm thanh thật hay. Vì thế thay vì phát triển Bồ Đề tâm Xá Lợi Phất đã quyết định đi theo con đường Thanh Văn. Jigten Sumgon nói rằng khi bạn thực hành tonglen bạn không nên lập tức nhảy vào phòng tuyến cuối cùng. Khi thực hành tonglen ta nhận vào mình bệnh tật, đau khổ, và sự bất hạnh của những người khác và hiến tặng họ hạnh phúc của ta. Tonglen là như thế. Nếu chúng ta thực hành tận đáy lòng mình thì sẽ xảy ra việc ta có thể nhận bệnh tật của những người khác vào mình. Nếu điều này xảy ra và bạn đã đi quá nhanh, bạn có thể hối tiếc việc thực hành, nó sẽ bị uổng phí. Khi ấy mọi lợi ích của việc thực hành của bạn sẽ mất đi.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế khi nào là lúc thích hợp để bắt đầu thực hành tonglen? Nếu bạn biết tâm bạn sẽ không xao động cho dù kinh nghiệm tiêu cực nào xuất hiện thì bạn nên thực hành tonglen. Những người mới bắt đầu nên thực hành tonglen như thế nào? Họ có thể nhìn thấy nỗi khổ của những người khác, có lòng bi mẫn và sự cảm thông đối với họ và cầu nguyện cho họ. Những lời cầu nguyện này có thể có rất nhiều năng lực. Chỉ ngồi xuống và nói rằng bạn đang thực hành tonglen thì không đủ. Nó đòi hỏi một tâm thức kiên cố để có đủ năng lực hoàn thành thực hành này. Nếu bạn khao khát mang lại lợi ích cho người khác thì những lời cầu nguyện của bạn sẽ thành công. Nhưng nếu bạn thiếu sự nhất tâm thì những lời cầu nguyện ấy không có lợi lạc.</p>
<p style="text-align: justify;">Như vậy chúng ta phát triển Bồ Đề tâm ra sao? Tôi đã giảng điều này trước đây vì thế nó đã trở nên quen thuộc. Đức Phật đã dạy rằng bạn có thể bắt đầu thực hành sự rộng lượng (bố thí) bằng cách chuyển vật nào đó từ bàn tay này sang bàn tay kia. Bạn có thể bắt đầu bằng cách biếu tặng những vật không có giá trị lớn, như cho đi những rau trái úa vàng. Nếu bạn đi từng bước một thì sự bố thí của bạn sẽ càng lúc càng phát triển. Jigten Sumgon nói rằng trước khi bạn củng cố tâm bạn thì bạn không thể nào hiến tặng thân thể bạn. Một vài truyền thống nói bạn nên bắt đầu với pháp tonglen và cho đi càng nhiều càng tốt trong khả năng của bạn. Nhưng nếu bạn thực hành con đường từng bước một thì bạn sẽ thấy rằng bạn không thể bắt đầu với tonglen hay hiến tặng thân thể bạn. Nếu chúng ta tham dự vào việc bố thí từng bước một bằng cách cho đi những rau trái úa vàng thì ta sẽ đạt tới chỗ có thể hiến tặng thân thể ta. Vào lúc đó bạn sẽ không tham luyến thân thể hơn những rau trái úa vàng. Nếu bạn đạt tới chỗ này thì bạn có thể dấn mình vào việc bố thí thân thể.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi bạn tham dự vào những thực hành này tâm bạn trở nên trong sáng và bạn đạt tới chỗ không có đau khổ. Vào lúc này việc chặt đứt chân tay sẽ không làm bạn đau khổ. Một tu sĩ hiến tặng thân thể mình trong khi thực hành. Trời Đế Thích hỏi ông có hối tiếc điều gì không. Tu sĩ trả lời: “Không, bởi tôi không tham luyến. Và nhờ năng lực của sự thiền định của tôi, tôi có thể thay thế chân tay tôi bằng những lời cầu nguyện.” Có một lần Jigten Sumgon mắc bệnh cùi rất nặng. Ngài nói rằng ngài không quan tâm tới cái chết nhưng chết vì một bệnh tật kinh hãi như thế làm ngài buồn bã. Sau đó ngài thiền định về lòng bi mẫn và nhận ra rằng bệnh tật của riêng ngài thì thật nhỏ bé nếu so sánh với những đau khổ của tất cả chúng sinh. Ngài bắt đầu thiền định vào buổi sáng khi những thú vật được đưa tới cánh đồng cỏ. Vào buổi tối khi đàn thú trở về thì ngài đã thành tựu một lòng bi mẫn không thể bị lay chuyển đối với tất cả chúng sinh và được chữa lành bệnh. Đó là điều được nói tới trong tiểu sử bí mật của ngài. Trong tiểu sử thông thường của ngài có nói rằng ngài được chữa khỏi bệnh trong ba ngày, bởi ngài nghĩ rằng mọi người sẽ không tin ngài nếu ngài nói ngài lành bệnh trong một ngày. Khi ta bắt đầu thiền định về lòng bi mẫn, trước hết ta nên phát triển lòng bi mẫn đối với bà mẹ của ta trong đời này. Tôi đã giảng cách nhớ lại thiện tâm của bà mẹ của ta trong những bài giảng trước đây.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào lúc bắt đầu ta cần có giáo huấn của Lạt Ma của chúng ta, cần đọc Kinh điển và lắng nghe giáo lý. Nhưng chỉ nghiên cứu thì không đủ. Những gì chúng ta học cần được cất giữ trong tâm ta. Nếu bạn thiền định về việc bà mẹ của bạn quý báu ra sao thì bạn sẽ cảm nhận được điều đó từ tận đáy lòng bạn. Nếu bạn không thực hành thì giả sử có ai xuất hiện và phê bình mẹ bạn, bạn có thể bị lung lay bởi ý kiến đó. Đó là bởi tâm bạn không kiên cố. Bạn cần thiền định từng bước một, bắt đầu với những thành viên trong gia đình bạn. Vậy chúng ta đang nỗ lực để đạt tới cái gì? Để tới một thời điểm khi ta không thể phân biệt được ai là kẻ thù và ai là bằng hữu của ta. Vào lúc đó có thể nói rằng bạn thực sự có Bồ Đề tâm.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/he-chatral-rinpoche-he-chagme-rinpoche.jpg"><img class="  wp-image-5912 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/he-chatral-rinpoche-he-chagme-rinpoche-300x213.jpg" alt="he chatral rinpoche , he chagme rinpoche" width="593" height="421" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>        Đạo sư lừng danh Chatral Sangye Rinpoche và Đức Chagme Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Từ tiểu sử của Jigten Sumgon chúng ta có thể thấy được năng lực của Bồ Đề tâm. Nó là cội gốc của 84.000 Pháp môn. Nếu bạn không có Bồ Đề tâm, cho dù bạn thực hành điều gì thì bạn cũng không thể giác ngộ. Năng lực của Bồ Đề tâm thật vĩ đại. Không gian không thể bị cạn kiệt, nhưng năng lực của thần chú thì còn vĩ đại hơn thế. Sức mạnh đứng sau thần chú là Bồ Đề tâm. Có một câu chuyện về một pháp sư có năng lực vĩ đại bằng cách sử dụng thần chú và trở nên thật giàu có và nổi tiếng. Những vị pháp sư có thể dùng năng lực của các thần chú để gây tổn hại cho những người khác. Có một lần ông ta bao quanh một torma ba vòng xích và bằng năng lực của việc trì tụng thần chú, ông làm đứt tung sợi dây xích. Nhưng bởi vị pháp sư này không có Bồ Đề tâm nên ông bị tái sinh làm một con cá lớn trong một cái hồ. Tất cả đệ tử của ông bị sinh làm những con cá nhỏ ăn thịt con cá lớn. Vì sao xảy ra điều này? Nếu bạn chỉ phán đoán từ quan điểm thực hành các sadhana thì ông ta đã thực hành Pháp, nhưng ông không có Bồ Đề tâm, vì thế ông ta rớt xuống con đường lầm lạc. Tất cả những yoga và tantra đều có những năng lực vĩ đại, nhưng nếu bạn không có Bồ Đề tâm thì nó giống như những thực hành của một truyền thống phi-Phật Giáo. Nếu bạn không có thời gian để ngồi xuống và thiền định về Bồ Đề tâm, bạn có thể thực hành nó trong đời sống hàng ngày của bạn. Nếu bạn làm việc với ước muốn giúp đỡ những người khác, bạn có thể phát triển Bồ Đề tâm theo cách này.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta không thành tựu Phật Quả là bởi ta bám chấp vào một cái “tôi.” Cách đối trị siêu việt cho điều này là Bồ Đề tâm. Bằng cách thực hành Bồ Đề tâm, sự bám chấp của ta càng lúc càng bớt đi. Sự đau khổ xuất phát từ việc bám chấp vào một cái ngã. Nhờ thực hành Bồ Đề tâm sự chấp ngã này giảm bớt. Nguồn mạch của hạnh phúc là Bồ Đề tâm. Khi chúng ta có sự may mắn và tiện nghi, ta nghĩ rằng ta hạnh phúc. Nhưng đây không phải là hạnh phúc bởi những hoàn cảnh của ta có thể thay đổi. Nhưng nếu ta có Bồ Đề tâm thì hạnh phúc của ta sẽ tồn tại từ đời này sang đời khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Bây giờ chúng ta sẽ có những câu hỏi.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Chúng con có thể tu hành tâm thức ra sao để tâm không bị ảnh hưởng bởi những nỗi khổ và những vấn đề của thân xác?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Thân thể chúng ta là kết quả của những hành động trước đây của ta và tâm ta phụ thuộc vào chúng. Tư tưởng “tôi mệt” do tâm tạo ra. Khi ta già đi, ta mắc bệnh và ta nghĩ “Tôi đau yếu,” điều này làm những đau khổ của ta tăng trưởng. Bởi ta bám chấp vào những kinh nghiệm, ta phóng đại những nỗi khổ của ta. Nếu một hành giả không bị tác động bởi những tư tưởng này thì họ sẽ không đau khổ. Một tu sĩ trong tu viện của tôi mất vào năm 88 tuổi, nhưng khỏe mạnh cho tới lúc mất. Hai tháng trước đó ông nói: “Hôm nay là một ngày lành.” Ông dùng bữa và qua đời. Những hành giả cao cấp này không bị rơi vào sự thống trị của thân thể họ. Khi tôi đang nhập thất ở Ấn Độ thì một ni cô mất. Chúng tôi đưa cô vào bệnh viện và cô rất an định và nói: “Nếu chết thì chết.” Cô giải tán mọi người, ngồi thẳng lên và thị tịch. Nếu chúng ta có một thực hành mãnh liệt ta sẽ không quên nó khi chết và nhờ đó ta làm chủ được những đời sau của ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Trong tonglen nếu có ai nhận lãnh bệnh ung thư của người khác thì họ có cảm nhận sự đau đớn của bệnh ung thư đó không?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Khi thích hợp để thực hành tonglen, bạn sẽ nhận đau khổ của những người khác. Nhưng nếu bạn đã phát triển Bồ Đề tâm, tâm bạn sẽ có sự tự do, tự chủ và bạn sẽ kiên trì trước nỗi khổ đau. Bạn có thể bị đau khổ và bệnh tật dữ dội xuất phát từ thực hành này. Ví dụ như khi Milarepa bị đầu độc, người làm điều đó yêu cầu được nhận nỗi đau đớn của ngài. Milarepa nói: “Ông không thể chịu đựng nổi điều đó. Tôi sẽ chỉ cho ông một phần của nó.” Chỉ sau vài phút ông ta xin ngài thu hồi sự đau đớn ấy. Ông ta sám hối và ăn năn về hành động của mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Thầy thuốc Tây Tạng có sử dụng tonglen?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Tôi đoán là một số vị có sử dụng. Jigten Sumgon đã dạy rằng đó là một cơ hội đúng đắn cho thực hành này.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Sự đau đớn có thể xuất hiện với một bác sĩ chỉ bởi lòng bi mẫn của họ đối với bệnh nhân?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Nếu bạn không thiền định về tonglen, bạn sẽ không nhận nỗi khổ của người khác một cách tự nhiên. Nếu điều này xảy ra khác đi, nó là kết quả của nghiệp của bạn. Nhưng bạn có thể thực hiện những sự cầu nguyện và nguyện ước khi bạn bị bệnh và bao gồm cả chúng sinh khác trong lời cầu nguyện của bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Có hai loại thiền định: thiền định phân tích (vipashyana, quán) và thiền định an tĩnh (shamatha, chỉ.) Với thiền định phân tích chúng ta xem xét quan điểm Trung Đạo, nhìn những đối tượng và xem xét bản tánh của chúng. Đây là một phương pháp để chứng ngộ tánh Không. Thiền định an tĩnh được phân chia thành thiền định có sự hỗ trợ và thiền định không có sự hỗ trợ. Khi ta thiền định có sự hỗ trợ, ta có thể sử dụng bất kỳ điều gì thích hợp với ta, như một cây gậy hay một hòn đá. Hoặc ta có thể dùng một tượng Phật và tập trung vào sợi lông giữa cặp lông mày của Ngài. Sau đó ta kiểm tra xem sự chú tâm của ta có đi trệch khỏi điểm này không. Trước tiên tâm bạn sẽ lang thang, nhưng nó không thành vấn đề. Đây là bởi ta đang nhận ra rằng tâm ta không yên tĩnh. Điều tương tự như thế cũng xuất hiện trong đời sống hàng ngày của ta nhưng ta không ý thức về nó. Như thế nếu tiếp tục thực hành tâm ta sẽ có thể an trụ trên đối tượng thiền định. Khi bạn có thể làm điều này, bạn nên thực hành thiền định không có sự hỗ trợ. Khi tâm bạn có thể thiền định mà không có ý niệm, mọi loại kinh nghiệm hỉ lạc sẽ xuất hiện trong thân bạn. Một vài người nói rằng điều này rất kỳ diệu và ước muốn an trụ trong đó. Một số người có thể an trụ trong trạng thái hỉ lạc này bao lâu theo ý muốn của họ. Nhưng đây không phải là mục đích của việc thiền định, và bạn không nên bám chấp vào điều đó. Nếu bạn không dính mắc vào sự hỉ lạc, bạn sẽ có kinh nghiệm về sự trong sáng của tâm. Sau đó bạn sẽ có những kinh nghiệm về sự vô niệm, ở đó bạn thấy toàn bộ sinh tử là tánh Không.</p>
<p style="text-align: justify;">Thuật ngữ chỉ sự thiền định trong tiếng Tây Tạng có nghĩa là thâu hoạch những kinh nghiệm. Nói mọi sự trống không thì không đủ. Sự thực hành đòi hỏi phải nhận ra nó. Một số người bị lạc trong cái thấy đức hạnh và ác hạnh đều không hiện hữu. Bởi cái thấy này họ thâu nhận rất nhiều ác hạnh. Vì thế bây giờ chúng ta sẽ thực hành shamatha trong năm phút. Nếu thân bạn khỏe mạnh thì tốt nhất là ngồi trong tư thế bảy điểm. Nhưng vấn đề là đừng bị dính mắc trong tư thế, nó có thể hoàn toàn thư thản. Nó giống như việc cắt đứt sợi dây cột một bó cỏ. Bó cỏ nằm yên khi rơi xuống. Hãy để thân và tâm bạn tự nhiên và thư dãn.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước đây chúng ta đã nói về lòng từ ái và bi mẫn. Có một mối liên kết giữa lòng từ ái và bi mẫn với thiền định shamatha không?</p>
<p style="text-align: justify;">Nyima đã trả lời: “Nếu bạn không nuôi dưỡng Bồ Đề tâm thì khi bạn cố gắng thiền định tâm bạn sẽ ngập đầy những cảm xúc tiêu cực.” Pete đã nói rằng: “Khi bạn thực hành shamatha tâm bạn rộng mở và bạn bi mẫn một cách tự nhiên.” Michael nói rằng: “Khi bạn thấy tánh Không và nhận ra rằng những người khác không thấy và đau khổ vì điều đó, tâm bạn tự nhiên phát triển lòng bi mẫn đối với họ.”</p>
<p style="text-align: justify;">Như thế tất cả các bạn có một vài kinh nghiệm thiền định. Giống như các bạn đã đề cập, có hai loại Bồ Đề tâm, là Bồ Đề tâm tương đối và tuyệt đối. Tánh Không là Bồ Đề tâm tuyệt đối. Điều quan trọng nhất là vị Lạt Ma có lòng bi mẫn đối với tất cả chúng sinh. Khi đã chứng ngộ tánh Không, Lạt ma cảm thấy lòng bi mẫn đối với chúng sinh không chứng ngộ nó. Lòng bi mẫn và tánh Không thì bất khả phân. Nếu ta nghĩ rằng ta không phải lo lắng về hành động (hạnh) sau khi chứng ngộ tánh Không, thì điều đó không đúng. Nếu bạn muốn xác định một người có chứng ngộ tánh Không hay không, hãy xem họ nói về nhân và quả ra sao. Nếu họ đã chứng ngộ tánh Không, họ nói về điều đó rất thận trọng. Jigten Sumgon đã nói rằng nếu bạn tham gia vào ác hạnh, thì ngay cả một Bồ Tát thập địa cũng sẽ phải chịu nhân quả. Vấn đề chính là nhận ra sự hợp nhất của tánh Không và lòng bi mẫn.</p>
<p style="text-align: justify;">Những gì bạn đã nói thì tốt đẹp. Nó tốt đẹp đối với việc nghiên cứu Pháp, nhưng sau đó bạn phải đặt tâm bạn trong sự quân bình thiền định. Pháp rất quý báu. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói về việc nghe một câu kệ thì quý báu ra sao. Trong một đời trước Đức Phật đã cúng dường thân Ngài như một ngọn đèn để được nghe một câu kệ duy nhất. Trong tiểu sử của Tilopa và Milarepa có nói về việc các ngài coi Pháp quý báu ra sao. Nó quý báu bởi nếu ta thực hành thì ta cũng thành công như thế. Tilopa nói: “Giáo lý của ta chỉ quý báu nếu con thực hành nó.” Khi bạn thấu hiểu sự hợp nhất của tánh Không và lòng bi mẫn thì nếu có ai hỏi mua nó, họ sẽ không thể mua được cho dù trả bao nhiêu chăng nữa. Nhưng với sự thực hành bạn có thể tạo ra nó cho bản thân bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Tất cả chúng ta đều nói ta muốn hạnh phúc. Nếu có người phát khởi Bồ Đề tâm, họ sẽ giúp đỡ chúng sinh dù trong tình huống nào và những người khác sẽ hài lòng về họ. Nếu có ai nghèo khổ nhưng có lòng từ ái và bi mẫn, họ sẽ không có những vấn đề tinh thần bất kể hoàn cảnh nào. Nếu bạn có lòng từ ái và bi mẫn thì nếu bạn gặp một kẻ thù bạn sẽ thích thú vì có cơ hội thực hành Bồ Đề tâm.</p>
<p style="text-align: justify;">Như thế chúng ta đã có được thân người quý báu này với những sự tự do và phú bẩm của nó và đã gặp và có một cơ hội để thực hành Pháp. Việc đạt được thân người này là một kết quả của sự tích tập công đức và trí tuệ trong nhiều đời. Khi chúng ta nói về tantra, là giáo lý mang lại sự Giác ngộ trong một đời người, nếu không làm việc cực nhọc trong nhiều đời trước thì chúng ta không gặp được tantra hay nếu chúng ta có gặp thì ta cũng không có niềm tin và lòng sùng mộ đối với nó. Vì thế chúng ta đã trải qua nhiều đời tích tập công đức và trí tuệ. Có thể chúng ta được sinh ra vào thời này để truyền bá Giáo Pháp tại Mỹ. Trước khi có Phật Giáo ở Tây Tạng, nhiều vị đã tái sinh ở Tây Tạng để Phật Giáo có thể phát triển ở đó. Cùng cách thế đó, trong những đời trước của ta, hẳn chúng ta đã từng lập những ước nguyện và phát triển nghiệp khiến ta có thể gặp nhau ở đây. Nếu các bạn lấy tôi làm một ví dụ thì tôi rời Tây Tạng bởi có một nạn đói sau khi người Trung Quốc tới đó. Vào thập niên 1980 tôi cảm thấy Giáo Pháp quý báu nên tôi đi Ấn Độ để thực hành. Điều đó rất nguy hiểm nhưng tôi đã thành công, nhờ đó tôi có thể thực hành. Khi rời Tây Tạng tôi không có kế hoạch đi Mỹ, tôi hoàn toàn bị nghiệp mang đi.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Ngài có thể giảng về những sự cúng dường torma cho những tinh linh địa phương?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Có nhiều loại sự vật chúng ta cúng dường cho những tinh linh này. Đó là những sự cúng dường khói, những sự cúng dường torma đặc biệt, những sự cúng dường sur (thịt) trắng và đỏ. Sự cúng dường sur đỏ chỉ được thực hiện bởi các Lạt Ma cao cấp. Có những sự cúng dường serkyim.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Ngài muốn nói gì khi nói chúng ta nên có niềm tin ở Pháp?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Có những loại niềm tin khác nhau. Đó là niềm tin trong sáng, niềm tin mong mỏi hay khát khao, và niềm tin xác quyết. Niềm tin quan trọng nhất là niềm tin xác quyết. Trước hết chúng ta phải phân tích xem Pháp nó có ích lợi hay không. Nó giống như việc bạn kiểm tra vàng khi đi mua vàng. Sau khi kiểm tra bạn có sự xác tín rằng nó là vàng. Cùng cách thế đó, sau khi khảo sát bạn quyết định là Pháp thật ích lợi. Đây là niềm tin xác quyết.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Ngài có thể giảng làm thế nào chúng con có thể mang sự thực hành theo mình vào công việc?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Nói chung thì lý do chính khiến chúng ta làm việc là tiền bạc. Nhưng khi ta đi tới sở làm, ta nên cố gắng hoàn thành mục đích của ông chủ của ta và ta nên làm điều này một cách chân thành không giả dối. Một vài ông chủ tốt lành và một số thì không. Cho dù ông chủ của bạn không tốt nhưng nếu bạn duy trì thiện tâm này thì bạn sẽ chuyển hóa được ông ta. Chúng ta không nên phê bình những người khác, đó là điều chỉ mang lại những đau khổ, mà hãy hành động khiến ta có thể chuyển hóa thái độ của họ. Nếu có ai làm hại bạn, bạn nên thực hành nhẫn nhục ba lần. Khoảng 90% những trường hợp đó người khác sẽ bị ấn tượng. Nhưng số còn lại thì họ sẽ không thay đổi thái độ. Sau lần thứ ba, hãy lên tiếng. Một vài người bị tràn ngập bởi những cảm xúc phiền não và không thể sửa đổi.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Người ta nói suốt ngày: “Tôi thích cái này..,” điều đó chỉ làm tăng thêm tánh ích kỷ (chấp ngã) của riêng ta. Ngài xử sự ra sao với việc này?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Chúng ta cần có lòng bi mẫn. Bạn hiểu vấn đề chấp ngã, nhưng họ thì không. Hãy cố gắng nhẫn nhục ba lần. Nếu ta không nhẫn nhục thì sự tiêu cực của người khác còn tác hại hơn nữa trong chúng ta và ngược lại.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi ta thực hành Pháp, ta cần lập đi lập lại nhiều lần. Cuối cùng thì tâm bạn sẽ trở nên vững chắc. Chúng ta phải làm cho quen thuộc với tâm. Nếu ta không làm thế thì những cảm xúc phiền não sẽ nhập thất cùng chúng ta. Nếu thực hành ta sẽ gặp Bổn Tôn của ta trong ẩn thất. Nếu những niệm tưởng và phiền não của ta mạnh mẽ thì trong ẩn thất những tư tưởng của ta sẽ chỉ trở nên mạnh mẽ hơn. Trong ẩn thất ta sẽ nhìn thấy những người chúng ta không thích và họ sẽ trò chuyện với ta, mặc dù đây chỉ là một phóng chiếu của tâm. Tôi có biết một thiền giả có thể sống trong ẩn thất mà không cần tới thực phẩm. Nhưng bởi ông sân hận người Trung Quốc nên việc thực hành Pháp của ông không vững chắc và ông mắc bệnh. Ông nói hiện nay các gián điệp Trung Quốc ở khắp mọi nơi, họ vào nhà chúng ta vào ban đêm khi ta ngủ. Vấn đề chính là không kẻ thù nào có thể làm hại ta trong từng giây phút bởi họ có cuộc đời của họ. Nhưng những cảm xúc phiền não của ta làm hại ta trong mọi lúc, ngay cả trong những giấc mộng khi chúng ta ngủ./.</p>
<p style="text-align: justify;">Nguyên tác: “Cultivating Bodhicitta”<br />
by Chagme Rinpoche</p>
<p style="text-align: justify;">http://buddhism.inbaltimore.org/bodhicitta.html</p>
<p style="text-align: justify;">Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/nuoi-duong-bo-de-tam/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử ngắn Đức Karma Khenchen Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-duc-karma-khenchen-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-duc-karma-khenchen-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 06 Sep 2015 02:56:03 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Neydo]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Neydo]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=4275</guid>
		<description><![CDATA[Đức Shantarakshita Đức Vimalamitra Đức Karma Khenchen là Hóa thân của Đức Shantarakshita (Tu viện trưởng vĩ đại ở Tây tạng), người đã đem ngọn đèn Pháp đầu tiên tới Tây Tạng. Ngài cũng chính là Hóa thân của Vimalamitra. Pháp vương Karmapa đời thứ 5 đã tiên tri rằng: “Tại đây, Bậc trì giữ Giáo pháp tối cao của Đức Phật&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-duc-karma-khenchen-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000;"><strong>Đức Shantarakshita</strong></span></p>
<p style="text-align: center;">
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000;"><strong>Đức Vimalamitra</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Đức Karma Khenchen là Hóa thân của Đức Shantarakshita (Tu viện trưởng vĩ đại ở Tây tạng), người đã đem ngọn đèn Pháp đầu tiên tới Tây Tạng. Ngài cũng chính là Hóa thân của Vimalamitra. Pháp vương Karmapa đời thứ 5 đã tiên tri rằng: “Tại đây, Bậc trì giữ Giáo pháp tối cao của Đức Phật , Hóa thân vĩ đại sẽ khoác áo choàng. Tất cả mọi người mà được tiếp xúc với Ngài sẽ nhận được ân phước gia trì. Và khi qua đời, Ngài sẽ tan ra và hòa vào Đức Vimalamitra”.</span></p>
<p><span style="color: #000000;"><a style="color: #000000;" href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/tải-xuống-1.jpg"><img class="  wp-image-5926 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/tải-xuống-1.jpg" alt="tải xuống (1)" width="368" height="516" /></a></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000;"><strong>Đức Karma Khenchen Rinpoche</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">  Đức Đạo sư Liên Hoa Sanh cũng đã tiên tri  (Trong Kho tàng giáo lý Terma của Đức Terchen Chogyur Lingpa). “Vào thời điểm mà tuổi thọ con người chỉ còn 30 tuổi, hay thời điểm mà những giáo lý của Đức Phật bị suy đồi, nền tảng bản chất rõ ràng của hệ thống giáo lý Đức Phật, Hóa thân trực tiếp của Ngài Shantarakshita sẽ xuất hiện, đặc biệt là giữa ngọn núi đen Domed. Vị đại thành tựu giả này xuất hiện như một tia chớp trên bầu trời. Đức Khenchen Rinchen Dhargye đầu tiên là một trong những đệ tử gốc của Đức Terchen Chogyur Lingpa, người nắm giữ những giáo lý siêu việt. Ngài trở thành tu sĩ tại Karma Gon (Vị trí Karmapa đời thứ 2). Ngài tin tưởng vào sự thông suốt của Đạo sư Jamyang Khyentse Wangpo, các học giả vĩ đại và các bậc thiền sư. Ngài đã lắng nghe  rất nhiều các giáo lý từ những truyền thống Cựu dịch và Tân dịch mà có thể đem tới sự chín muồi và giải thoát cho những người nghe những giáo lý này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"><em><a style="color: #000000;" href="http://www.neydo.org/?key=1&amp;pos=3&amp;act=pagesbiograph">http://www.neydo.org/?key=1&amp;pos=3&amp;act=pagesbiograph</a></em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Việt dịch : Nhóm Rigpa Lotsawas</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Hiệu đính : Giác nhiên</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với </em><em>Đức </em><em>Karma Khenchen</em> <em>Rinpoche</em> <em>đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này Ngài sớm quang lâm đến Việt nam</em></span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-duc-karma-khenchen-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử ngắn Đức Kyabje Neydo Sangtrul Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-duc-kyabje-neydo-sangtrul-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-duc-kyabje-neydo-sangtrul-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 06 Sep 2015 01:41:24 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Neydo]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Neydo]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=4267</guid>
		<description><![CDATA[Đức Neydo Sangtrul Rinpoche chính là Hóa thân của Thành tựu giả Shavaripa - Ấn Độ Người tiên phong của truyền thống Neydo vinh quang và huy hoàng, Đức Karma Chagme, một học giả vĩ đại - một bậc Đạo sư chứng ngộ, Ngài chính là kết hợp tinh túy của trí tuệ, lòng bi mẫn và sức mạnh của 3 Thân&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-duc-kyabje-neydo-sangtrul-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>Đức Neydo Sangtrul Rinpoche chính là Hóa thân của Thành tựu giả Shavaripa - Ấn Độ</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Người tiên phong của truyền thống Neydo vinh quang và huy hoàng, Đức Karma Chagme, một học giả vĩ đại - một bậc Đạo sư chứng ngộ, Ngài chính là kết hợp tinh túy của trí tuệ, lòng bi mẫn và sức mạnh của 3 Thân Phật (kaya): Pháp thân, Báo thân, Ứng thân (Dharmakaya, Sambhogakaya and Nirmanakaya) đồng thời  là một hành giả của cả hai dòng truyền thừa Kagyu và Nyingma. Ngài đã dương cao ngọn cờ giáo pháp khắp 3 cõi giới và có rất nhiều trưởng tử vĩ đại như  Đức Palyul Kunzang Sherab, vị hộ trì của Dòng truyền thừa Nyingma hay Đức Goche Ogyen Tharchin, vị hộ trì của Dòng truyền thừa Kagyu và rất nhiều các vị Hóa thân tôn quý khác đã theo học và trì giữ Dòng truyền thừa của Ngài.</p>
<p><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/06406290012517129081.jpg"><img class="  wp-image-5923 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/06406290012517129081.jpg" alt="0640629001251712908" width="349" height="465" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Đức Kyabje Neydo Sangtrul Rinpoche đời thứ 1</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Trong số các môn đồ của mình, Đức Karma Chagme đã chỉ định Đức Sangtrul Rinpoche đời thứ nhất và Đức Sangphu Pema Kunga, trưởng tử tâm siêu việt của Ngài là vị kế thừa tâm linh về 3 bí mật của thân, khẩu, ý và cũng là vị hộ trì Dòng Neydo vinh quang và uy lực, với những thông tin đáng tin cậy Ngài chính là Hóa thân của Thành tựu giả Shavaripa và Guru Drakpo. “ Đạo sư Phẫn nộ Liên Hoa Sinh” Hóa thân của Đức Sangtrul Rinpoche đã trì giữ và truyền bá các giáo lý của dòng Neydo.</p>
<p><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/0156258001251956056.jpg"><img class="  wp-image-5924 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/0156258001251956056-201x300.jpg" alt="0156258001251956056" width="358" height="534" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Đức Kyabje Neydo Sangtrul Rinpoche đời thứ 6</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Khi Đức Karma Chagme Rinpoche hiện tại nói với vị Thầy gốc của mình - Vị Sangtrul đời thứ 5 - Đức Karma Sangye Tenzin Rinpoche rằng Ngài muốn tới Ấn Độ vì tình hình chính trị bất ổn tại Tây Tạng,  Đức Sangtrul Rinpoche đã đáp lại rằng do thể chất suy yếu vì tuổi già nhưng không có cách nào khác là Ngài vẫn sẽ đồng hành cùng Rinpoche tới Ấn Độ. Tuy nhiên, Ngài đã hứa đến gặp Rinpoche sau. Đức Karma Chagme Rinpoche sau khi đến Ấn Độ đã thường xuyên cầu nguyện tới vị Thầy của mình là được sinh ra làm con trai của Ngài. Theo kết quả như vậy, vào ngày 29 tháng 9 năm 1965, Hóa thân của Đức Sangtrul Rinpoche đời thứ 5 đã được sịnh ra tại Ấn Độ với nhiều dấu hiệu tuyệt vời. Dựa vào linh kiến và lời tiên tri của Đức Karma Chagme Rinpoche, cậu bé đã được ấn chứng là Hóa thân của Đức Sangtrul Rinpoche đời thứ 5. Cậu bé đã được thực hiện lễ rửa tội và cắt tóc theo nghi lễ. Cậu được ban Pháp danh là Karma Drubgyud Tenzin Dakpa (Đức Kyabje Neydo Sangtrul Rinpoche đời thứ 6)</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.neydo.org/?key=1&amp;pos=2&amp;act=pagesbiograph"><em>http://www.neydo.org/?key=1&amp;pos=2&amp;act=pagesbiograph</em></a></p>
<p style="text-align: justify;">Việt dịch : Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính : Giác nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với </em><em>Đức Kyabje Neydo</em> <em>Sangtrul Rinpoche</em> <em>đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này Ngài sớm quang lâm đến Việt nam</em></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-ngan-duc-kyabje-neydo-sangtrul-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Bậc trì giữ truyền thống Neydo &#8211; Đức Karma Chagme Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-bac-tri-giu-truyen-thong-neydo-duc-karma-chagme-rinpoche-doi-thu-7/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-bac-tri-giu-truyen-thong-neydo-duc-karma-chagme-rinpoche-doi-thu-7/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 06 Sep 2015 01:18:16 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Neydo]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Neydo]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=4257</guid>
		<description><![CDATA[ Tôn tượng A Di Đà tại Tụ viện truyền thống Neydo - Nepal  Đức Karma Chagme Rinpoche đời thứ 1 Giữa bầu trời bao la ngập tràn lòng bi mẫn của Đức Phật A Di Đà, Mặt trời mandala hiển lộ, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát thị hiện đầy uy lực, Ánh sáng trí tuệ của Đức Liên Hoa&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-bac-tri-giu-truyen-thong-neydo-duc-karma-chagme-rinpoche-doi-thu-7/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong> Tôn tượng A Di Đà tại Tụ viện truyền thống Neydo - Nepal </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/images-14.jpg"><img class="  wp-image-5917 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/images-14.jpg" alt="images (1)" width="401" height="549" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Đức Karma Chagme Rinpoche đời thứ 1</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Giữa bầu trời bao la ngập tràn lòng bi mẫn của Đức Phật A Di Đà, Mặt trời mandala hiển lộ, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát thị hiện đầy uy lực, Ánh sáng trí tuệ của Đức Liên Hoa Sinh chiếu rọi, xua tan hoàn toàn sự vô minh của tất cả hữu tình. Con xin đảnh lễ dưới chân Ngài, Đức Karma Chagme.</p>
<p style="text-align: justify;">Bổn Sư, Đấng chiến thắng, Vị Phật toàn hảo đã nói:“Trong tương lai, Giáo Pháp của ta sẽ ngày càng lan rộng về phía Bắc”. Theo lời tiên tri này, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát đã chuyển hóa Xứ Tuyết Tây Tạng và vô lượng chư Phật và Bồ Tát như sao trên trời liên tục tái sinh tại vùng đất này vì lợi lạc của Giáo Pháp và của tất cả chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong số các vị Bồ Tát này, có một vị đã được chính Đức Phật toàn hảo và Đạo Sư vĩ đại Liên Hoa Sinh xứ Orgyen tiên tri rằng Ngài sẽ tái sinh nhiều lần tại miền đất này. Vị dẫn dắt trời, người thoát vòng luân hồi sinh tử và Niết bàn, người nắm giữ toàn bộ các giáo lý cổ xưa, Nhiếp chính vương vĩ đại của Sidda Orgyen Pema, với danh tiếng phủ khắp địa cầu chính là Đức Karma Chagme Rinpoche. Dưới đây là lời giải thích ngắn gọn về việc làm thế nào Ngài được nhận dạng theo lời tiên tri của Đức Phật và làm thế nào để những câu chuyện về công hạnh và sự giác ngộ về các Hóa thân của Ngài được mở ra.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo đó, sự tiên tri này được nhắc đến nhiều lầm trong Kinh điển và Mật điển về sự xuất hiện của 13 Hóa thân, sự thị hiện của Ba thân (kaya): Pháp thân, Báo thân và Hóa thân (Dharmakaya, Sambhogakaya, Nirmanakaya) và chủng tự “Ah” sẽ hiện lên một cách tự nhiên trên đỉnh đầu Ngài. Một học giả thành tựu vĩ đại, một vị Bồ Tát, là sự thị hiện vinh quang chói ngời của Giáo Pháp đối với tất cả chúng sinh đang chìm ngập bởi khổ đau. Ngài sinh tại Char-Ngom thuộc Salmo Gang hạ, là một vùng thuộc tỉnh Kham vào năm 1608 với rất nhiều dấu hiệu tuyệt vời. Mẹ ngài là Cho Kyong Kyid và cha Ngài là Yogin Anu Pema Wangdak, thuộc dòng dõi Hóa thân từ Đức Văn Thù Sư Lợi (Manjushri), Vua Pháp Trisong Deutsen. Ngay từ khi còn nhỏ Ngài đã sở hữu những phẩm tính phi thường như lòng yêu thương, sự bi mẫn và tâm vị tha.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài đã nghiên cứu toàn bộ những giáo huấn liên quan đến những giáo lý nội và ngoại của dòng truyền thừa Rigdzin do cha Ngài trì giữ. Khi Ngài thọ nhận giáo lý về Kinh điển, Mật điển, Luận hay khoa học, Ngài không gặp bất cứ khó khăn nào, chỉ cần nhìn thoáng qua là Ngài có thể nhớ toàn bộ nội dung và ý nghĩa một cách hoàn hảo. Như một viên ngọc quý giữa những vì sao, Ngài tỏa sáng nhất trong số các học giả và thành tựu giả. Thông qua bậc chứng ngộ vĩ đại Garwang Choekyi Wangchuk, là vị Thầy chính của Ngài, Ngài đã thọ nhận lễ tôn phong, giáo huấn nhĩ truyền về Đại thủ Ấn và sáu pháp Du già theo cách mà nước từ một chiếc bình được đổ hết sang chiếc bình khác. Cũng như thế, Ngài đã thọ nhận rất nhiều giáo huấn, quán đảnh, và trao truyền của các cổ phái và tân phái  từ các bậc Đạo sư tâm linh khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Đầu tiên, Ngài ở Palri Tse một thời gian dài cho kì nhập thất nghiêm ngặt, thiền định về Đức Đại Bi (Quan Thế Âm Bồ Tát). Tại đó, Ngài đã có linh kiến về nhiều vị Bổn tôn. Đặc biệt, Ngài đã có những linh kiến tiên tri về Đức Arya siêu phàm, Giáo chủ của cõi giới này  trong thân tướng của con người, nhiếp chính vĩ đại của Đạo Sư Liên Hoa , Ngài Namchoe Mingyur Dorjee.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngay khi vừa mới sinh, Ngài đã xuất hiện trước khi Đức Chagme Rinpoche nhập thất. Chagme Rinpoche với sự xúc động mãnh liệt đã làm lễ tắm gội và trở thành Thầy của Ngài. Ngài đã lắng nghe toàn bộ giáo huấn khẩu truyền thâm sâu Dzokchen và trở thành vị kế thừa Pháp chính yếu của Namchoe, kho tàng giáo lý thâm sâu và tinh túy nhất của mọi dòng phái. Sau đó, Ngài đã hiện thực hóa sự tỉnh giác tột cùng của pháp thực hành hợp nhất Đại Thủ Ấn (mahamudra) và maha-ati, trở thành người nắm giữ giáo lý của Tryền thống Cựu Dịch. Là thị hiện của sự toàn hảo, Ngài đã làm chủ tất cả các phẩm tính của thân, khẩu, ý giác ngộ như nhìn thấu thế giới vô hình và có nhiều quyền năng. Rất nhiều đệ tử của Ngài đã đạt thành tựu- đó là những đệ tử vô cùng may mắn đã được thọ nhận các quán đảnh và giáo huấn trực tiếp từ Ngài, cũng như những người  sùng mộ Ngài nhờ đọc những trước tác của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhiều thần linh và tinh linh xấu ác đã dâng mạng sống và nguyện phụng sự và làm theo chỉ dẫn của Ngài. Với quyền năng và khả năng kì diệu, Ngài chính là Đấng Thành Tựu vĩ đại không thể nghĩ bàn. Đặc biệt, phần lớn các học giả và thành tựu giả xem Chagme Rinpoche là bậc Thầy của họ. Thêm vào đó, Dòng truyền thừa Neydo, nổi danh khắp Xứ Tuyết được hồi sinh nhờ sự bi mẫn của bậc thành tựu vĩ đại này. Ngài có rất nhiều đệ tử nhưng tựu chung là Năm Trưởng Tử Tâm, chính là năm đệ tử tâm truyền của ngài. Hơn nữa, Ngài có vô số những Hóa thân vĩ đại không thể nghĩ bàn, chính là các vị hộ trì dòng truyền thừa, các vị học giả và  những bậc thực hành vĩ đại.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài đồng thời nắm giữ những giáo pháp gốc của Dòng truyền thừa Neydo thuộc truyền thống Kagyu và dòng Palyul và Dzokchen thuộc truyền thống Nyingma. Những giáo pháp này trở thành dòng truyền thừa hợp nhất tràn ngập khắp tỉnh Kham và Amdo. Tràng hạt quý báu của giáo pháp này không hề bị thu nhỏ mà thay vào đó, lại càng lan rộng như trái tim bi mẫn của Đức Phật đã lan tỏa đến khắp mọi nơi trên Trái Đất cho đến ngày nay. Mặc dù với sự hiểu biết thông thường của chúng ta, thân xác của các Ngài đã hòa tan vào Pháp tánh nhưng thực sự các vị Phật và Bồ Tất vẫn luôn cứu độ chúng sinh dù gián tiếp hay trực tiếp vì lợi lạc của tất cả hữu tình cho đến khi không còn vòng luân hồi sinh tử.</p>
<p style="text-align: justify;">Như Ngài Tịch Thiên đã từng nói:</p>
<p style="text-align: justify;">Bao giờ không gian còn</p>
<p style="text-align: justify;">Bao giờ chúng sinh con</p>
<p style="text-align: justify;">Nguyện con còn ở lại</p>
<p style="text-align: justify;">Xua tan nỗi thống khổ khỏi thế gian</p>
<p><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/BVqVcYSCYAEOibR1.jpg"><img class="  wp-image-5911 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/BVqVcYSCYAEOibR1-200x300.jpg" alt="BVqVcYSCYAEOibR" width="392" height="588" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Đức Karma Chagme Rinpoche đời thứ 7</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Theo đó, trong phạm vi của một bậc chứng ngộ, mặc dù Ngài đã thực hiện viên mãn những hạnh nguyện của Đức Phật Phổ Hiền nhưng Ngài vẫn tiếp tục hoằng dương Phật Pháp  vì lợi lạc của tất cả chúng sinh thông qua những trước tác của Ngài- đặc biệt là qua những bộ Pháp  mà Ngài đã có linh kiến và khám phá. Khi Ngài Chagme đang thiền định trong kì nhập thất nghiêm mật kéo dài mười hai năm, Orgyen Rinpoche đã cưỡi một con yêu quái đến gặp Ngài trong một linh kiến.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngay sau khi có linh kiến về di ảnh của Đức Orgyen Rinpoche, Chagme Rinpoche đã nhìn thấy bốn bài kệ kim cương. Dựa trên những bài  kệ này, Ngài đã soạn ra bộ giáo lý làm lợi lạc cho tất cả chúng sin, đó là Giáo huấn về Lòng Đại Bi gồm 18 chương cùng với luận giảng. Sau khi bộ giáo lý hoàn thành, Đức Quán Thế Âm đã xuất hiện trước Ngài và tiên tri rằng “Giáo Pháp này sẽ giúp 18 tỉ chúng sinh vãng sanh về Cõi  Tịnh Độ”. Hơn nữa, theo Richoe “Ngọn núi Pháp” Tsam bộ giáo huấn được chuyển thành các tác phẩm về pháp tiên tri và thiên văn học gồm tổng cộng 77 pho sách do một mình Ngài viết. Bất cứ tác phẩm nào Ngài viế ra đều nhờ tha lực của các vị Bổn tôn và nhờ vậy mà các giáo lý thấm đẫm ân phước, gia trì của các Ngài để mang lại lợi lạc cho tất cả hữu tình chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi làm lợi lạc cho giáo Pháp và chúng sinh và để cho các đệ tử của mình trưởng thành hơn, Ngài đã hòa tan vào pháp tánh ở tuổi 65 tuổi. Sau lễ hỏa tang, rất nhiều xá lợi và xương mang hình tướng của các vị Hộ phật được tìm thấy trong đống tro tàn. Trong hộp sọ của Ngài,  người ta thấy một bức thư tự nhiên xuất hiện một cách rõ ràng. Những dấu hiệu phi thường này  nằm ngoài phạm vi trải nghiệm thông thường của con người và đã được tất cả mọi người chúng kiến (đầy kinh ngạc).</p>
<p style="text-align: justify;">Đây là Mười ba bậc Hóa thân được tiên tri. Từ vị thứ 2 trở đi là thị hiện cho sự kế thừa không gián đoạn của chính các Hóa thân sau đây:</p>
<ol style="text-align: justify;">
<li>Trinley Wangjung</li>
<li>Trinley Tendzin</li>
<li>Tendzin Trinley</li>
<li>Sang Ngak Tendzin</li>
<li>Tsultrim Namgyal</li>
</ol>
<p style="text-align: justify;">Những bậc Hóa thân vĩ đại này đã đem lại vô số lợi lạc cho giáo Pháp và hữu tình chúng sinh và cuối cùng đã hòa tan vào Pháp tánh.</p>
<p style="text-align: justify;">Đặc biệt, khi mà Bảy Kho Tàng Tâm thâm diệu lần đầu được khai mở bởi Bậc Khám Phá Kho Tàng Tâm Linh vĩ đại Chokgyur Lingpa ở xứ Ogmin, nơi ở của các Karmapa, chính bản thân Ngài và Đức Gyalwang Karmapa Kachab Dorje vinh quang - đều có cùng linh kiến, tiên tri, ý định và được công nhận là Hóa thân thứ 5 của Đức Sang-ngak Tendzin, Đại Đạo sư Kim Cương về Mật điển. Chính bản thân Ngài, Bậc Khám Phá Kho Tàng Tâm đã tự ban cho mình một vài thứ trong kho tàng đó: Ngài đã lấy chiếc mũ tên là Pema Tong- drol. Bên trong chiếc mũ, Ngài tìm thấy nhiều phụ kiện và mời Đức Sang-ngak Tendzin đeo vào. Để giải thích cho việc này, Khai Mật Tạng vĩ đại (Bậc khai phá Kho Tàng Tâm Linh) và Đức Gyalwang Kachab Dorje vinh quang đã cùng phát nguyện trên chiếc mũ rằng: Bất cứ ai dù ở bất cứ nơi nào, dù là vĩ nhân hay quỷ dữ, khi tiếp xúc với chiếc mũ Pema Tong- Drol quý báu này sẽ nhận được giáo Pháp vi diệu không thể nghĩ bàn, mọi nghiệp chướng và những xúc cảm tiêu cực sẽ được tịnh hóa, và họ sẽ được tái sinh vào Cõi Tây Phương Tịnh Độ của Dewachen.</p>
<p style="text-align: justify;">Nơi nương tựa hiện tại và tương lai và là cũng là nguồn hi vọng cho chúng sinh sống trong thời đại của 5 suy đồi này chính là vị Thầy tâm linh, người hướng dẫn siêu việt không thể nghĩ bàn, Hóa thân của Đức Chenresig, Hóa thân thứ 7 của học giả-thành tựu giả Karma Chagme-Đức Karma Tendzin Triley Kunchab Pal Zangbo siêu việt. Ngài sinh năm 1926 trong một gia đình quyền quý ở Lhatok, tỉnh Kham, thuộc dòng dõi bộ trưởng cho Vua Lhatok. Thân phụ của Ngài là Yeshe Rabje và thân mẫu của Ngài là Troru Sonam Dronma. Ngay khi Ngài chào đời, đã có rất nhiều điềm kỳ diệu, tuyệt vời và khó có thể tưởng tượng diễn ra trước sự chứng kiến của rất nhiều người như là: Người giám hộ Shang Jongma đã để lại dấu tay trên giường của mẹ Ngài như là một dấu hiệu cho thấy ông  giám hộ Ngài  suốt cả ngày đêm.</p>
<p style="text-align: justify;">Đấng Chiến Thắng, Đức Karmapa thứ 16, Ngài Rikpay Dorje siêu phàm, khi đang ở Karma Gon, nơi ở đầu tiên của Dusum Kyenpa vinh quang, Ngài đã tiên đoán và nhận ra cậu bé phi thường này, mà người giám hộ hộ Shang Jongma đã đánh dấu cậu là Hóa thân vĩ đại của học giả thành tựu Karma Chagme. Theo lời tiên đoán của Ngài và những dấu hiệu diễn ra sau khi Ngài được sinh ra, Ngài đã ban cho cậu bé Pháp danh Karma Tendzin Trinley Kunchab Pal Zangbo. Sau đó, Ngài đã được tấn phong ở Tashi Choeling, tu viện chính của các Hóa thân của Đức Chagme Rinpoche. Đức Neydo Sangtrul đời thứ 5 được chỉ định là Thầy hướng dẫn cho Ngài, Ngài nghiên cứu về Kinh điển và Mật điển dưới sự chỉ dạy của Thầy mình. Thêm vào đó, Ngài cũng thọ nhận các trao truyền đọc và các quán đảnh từ những vị học giả tôn kính của tất cả các dòng phái. Đặc biệt, Ngài thọ nhận các trao truyền về toàn bộ giáo lý mang tên “ Sự hợp nhất của Đại Thủ Ấn và Maha-ati” (“The Union of Mahamudra and Maha-ati”), các giáo huấn chính yếu được trì giữ bởi những Hóa thân Chagme thuộc dòng truyền thừa này theo cách thức nước từ chiếc bình này rót trọn vẹn sang bình kia. Ngài đã thực hành các giáo lý như một Hành giả du già ẩn dật. Ngài có rất nhiều kinh nghiệm siêu việt như sự tuôn chảy không ngừng của một dòng sông, chẳng hạn như có linh kiến về các vị Bổn tôn (yidam), và luôn nhận được những dấu hiệu, điềm lành.</p>
<p style="text-align: justify;">Dưới đây là một vài câu chuyện về Rinpoche được cung cấp tình cờ: Vào một buổi sáng năm 1957, Ngài thức dậy lúc bình minh và đã nhìn thấy năm chàng trai với các túi đồ màu vàng khoác trên lưng đang tiến đến. Một trong số họ kéo một thứ gì đó ra khỏi cái túi và xin được cúng dường cho Rinpoce. Đó là một chiếc lá to mang dòng chữ rõ ràng như sau: Chúng tôi phải mời được năm vị Lama đến từ vùng hạ Amdo, và một trong số họ chính là Ngài, Đức Karma Chagme. Giờ là lúc để Ngài đi với chúng tôi tới Ấn Độ. Khó khăn, trở ngại do sự thay đổi về thời gian. Hãy gỡ bỏ những dính mắc của Ngài với quê hương và lên đường với chúng tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngay sau khi Ngài đọc xong thì chiếc lá lập tức biến mất. Từ thời điểm đó, Ngài đã nhìn thấy rất nhiều dấu hiệu, điềm báo và những lời tiên tri nhưng Ngài vẫn cảm thấy chưa tin tưởng hoàn toàn. Vài năm sau đó kể từ khi sự việc đầu tiên xảy ra, Đức Liên Hoa Sinh đã thị hiện trong thân tướng Phẫn nộ và nói: “Thời hạn để con rời khỏi đây đã sắp hết. Nếu trong vòng một tuần con có thể rời khỏi đây, con sẽ có cơ hội để trốn thoát những sẽ phải đối mặt với vô vàn khó khăn”. Vào ngày tiếp theo, Ngài đã bí mật bỏ trốn cùng với vài thị giả và đi suốt ngày đêm để tới Shota Lhosum. Ngài đã ở lại đây trong khoảng 3 tháng.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong thời gian còn ở đó, Ngài đã bị những kẻ chống đối bắt và trói lại. Tại thời điểm đó, một âm thanh lớn ầm ầm vang lên và Ngài đã bay lên trời trong khung cảnh với sự xuất hiện của nhiều điều kỳ lạ. Quân lính hét lên: “Ông ta không phải là người mà là một con Qủy!” và liên tiếp bắn lên bầu trời. Khi đó, Rinpoche trút bỏ quần áo và dây trói và Ngài không bị tổn hại gì cả. Sau đó, Ngài bay vút lên đỉnh một ngọn núi , và để lại dấu chân của mình trên một tảng đá. Địa điểm đó sau này đã trở thành một địa điểm hành hương nổi tiếng nơi mà những người tín tâm đến đảnh lễ, cúng dường và đi nhiễu. Trên đường tới Ấn Độ, Ngài đã hiển lộ nhiều phép lạ, không bị đánh bại bởi quỷ, thần hay con người và đã nhìn thấy những thánh địa như là cung điện Dorje Sempa.</p>
<p style="text-align: justify;">Dưới sự bảo trợ và lệnh cấm của chính phủ lưu vong Tây Tạng, Rinpoche đã sống tại trại tị nạn ở Orissa. Ngài đã sống ở đó trong nhiều năm và tái thiết lập tu viện của Ngài. Tại mọi thời điểm và trên mọi phương diện, Rinpoche vẫn tiếp tục nỗ lực để ánh sáng giáo Pháp được lan rộng và trao truyền một cách rõ ràng và tinh tế về. Do đó, Ngài đã ban thuốc, sự gia trì, lời khuyên, trợ giúp về mặt nghi quỹ, các quán đảnh và giáo huấn cho tất cả mọi người mà không hề có bất cứ sự phân biệt đẳng cấp- cho dù người đó có là người bình thường bị dày vò bởi bệnh tật, những người thuộc tầng lớp thượng lưu hay hạ lưu. Nói tóm lại, Ngài không phải là người bình thường: Ngài thực hiện những hoạt động giác ngộ và công hạnh của một vị Bồ Tát như chúng ta có thể thấy.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1984, Rinpoche lần đầu trở về tu viện nơi quê nhà của Ngài ở Neydo Tashi Choling. Ngài đã quay trở lại đó vào năm 1987 để giúp cải tạo lại tu viện. Với lòng bi ẫn, Ngài đã ban các trao truyền, thực hiện các lễ quán đảnh và ban dạy các giáo lý cho cả tu sĩ và cư sĩ. Ngài một lần nữa quay trở lại vào năm 1992 và theo lời thỉnh cầu của các đệ tử, Ngài đã đã ban các giáo huấn thâm sâu về kiến, thiền, hành từ những giáo lý Bồ đề tâm tới “Unification of Mahamudra and Maha-ati”. Mặc dù những suy nghĩ của Ngài đã vượt qua cả nhận thức hay tưởng tượng của một người bình thường, nhưng Ngài đã chọn sống như một hành giả ẩn dật ở Nepal- đất nước Phật giáo gần Bảo tháp Boudhanath .</p>
<p style="text-align: justify;"><em>http://www.neydo.org/?key=1&amp;pos=1&amp;act=pagesbiograph</em></p>
<p style="text-align: justify;">Việt ngữ : Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính : Giác nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với </em><em>Đức Pháp Vương Karma Chagme Rinpoche </em><em>đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này</em><em> các đời hóa thân của</em><em> Ngài sớm quang lâm đến Việt nam</em></p>
<p style="text-align: justify;">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-khac/tieu-su-bac-tri-giu-truyen-thong-neydo-duc-karma-chagme-rinpoche-doi-thu-7/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
