<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Đạo sư Nyingma</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-nyingema/dao-su-nyingma/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Fri, 17 Apr 2026 16:09:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Cam kết trì giữ đạo đức kiên định của Chatral Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/cam-ket-tri-giu-dao-duc-kien-dinh-cua-chatral-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/cam-ket-tri-giu-dao-duc-kien-dinh-cua-chatral-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 01 Sep 2022 03:38:02 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kathok Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Kathok]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11557</guid>
		<description><![CDATA[Chatral Rinpoche nổi danh trong cộng đồng Tây Tạng bởi giới luật tâm linh vô song của ngài, đặc biệt là khi xảy ra việc ngài tự chế không ăn thịt. Ăn thịt là một phương diện kiên cố của văn hóa Tây Tạng và rất ít người có thể kiêng thịt lâu dài. Đức Đạt Lai Lạt Ma trở&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/cam-ket-tri-giu-dao-duc-kien-dinh-cua-chatral-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Chatral Rinpoche nổi danh trong cộng đồng Tây Tạng bởi giới luật tâm linh vô song của ngài, đặc biệt là khi xảy ra việc ngài tự chế không ăn thịt. Ăn thịt là một phương diện kiên cố của văn hóa Tây Tạng và rất ít người có thể kiêng thịt lâu dài. Đức Đạt Lai Lạt Ma trở thành người ăn chay vào năm 1966, nhưng khi Ngài mắc bệnh viêm gan B, các bác sĩ Tây Tạng chữa bệnh cho Ngài đã nài nỉ Ngài ăn thịt trở lại, và cho tới ngày hôm nay Ngài vẫn tiếp tục dùng thịt với mức độ vừa phải. Một ít Đạo sư đương thời – chẳng hạn như Kangyur Rinpoche – cũng nổi tiếng là những người ăn chay nghiêm túc nhưng đó chỉ là ngoại lệ.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi tôi ở Đại Học Wisconsin – trong Chương trình Nepal năm 2000, tôi nghiên cứu về cách người Tây Tạng suy nghĩ về sự hội tụ có tính chất văn hóa của Phật Giáo và việc ăn thịt, và Chatral Rinpoche là một trong những người chính yếu tôi đã phỏng vấn. Đây là một vài trích dẫn từ cuộc phỏng vấn đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Tại sao ngài ngừng ăn thịt? Ngài bao nhiêu tuổi khi lập quyết định này?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Trong nhiều bản văn của Phật Giáo Nguyên thủy và Đại thừa có nói rằng ta không nên ăn thịt. Cũng tương tự như thế, một bản văn Kim Cương thừa nói rằng ta không nên hưởng thụ thịt và rượu. Vì thế tôi đang đi theo những giáo huấn của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Là một người tu hành, tôi không dùng thịt hay rượu và đồng thời tôi cố gắng bảo những người khác tránh dùng những món này. Đây là lý do của tôi – tôi đang nỗ lực để thúc đẩy người khác. Khi tới Bodhgaya tôi 47 tuổi và trước tất cả chư Phật và Bồ Tát tôi đã lập một lời nguyện từ bỏ thịt và rượu.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Vì sao ngài nghĩ rằng thói quen ăn chay là một phương diện quan trọng của việc thực hành Pháp?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Nếu bạn dùng thịt, điều đó đi nghịch lại những giới nguyện bạn đã thọ khi tìm kiếm sự nương tựa nơi Phật, Pháp và Tăng đoàn. Bởi khi bạn ăn thịt bạn cướp đi mạng sống của một chúng sinh. Vì thế tôi từ bỏ việc này.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Một vài người tuyên bố rằng ta có thể cứu giúp các thú vật mà ta ăn bằng cách cầu nguyện cho chúng, và như thế ăn thịt là một hành động từ bi. Là một trong các yogi và Lạt ma thành tựu nhất, ngài nghĩ sao về sự khẳng định này?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Với những năng lực siêu nhiên có được nhờ một vài thiền định, quả là có một vài vị chứng ngộ có thể làm các thú vật đã chết sống lại và giúp chúng đạt được một tái sinh hay giác ngộ cao hơn bằng cách tiêu thụ một ít thịt của chúng. Nhưng điều này không được thực hiện để làm phương tiện sinh sống mà chỉ vì mục đích cứu giúp thú vật đó. Cá nhân tôi không có năng lực đó và vì thế tôi không bao giờ ăn thịt. Dùng thịt trong thực đơn hàng ngày thì khác xa việc ăn thịt để giải thoát một chúng sinh bằng những năng lực siêu nhiên. Tôi chỉ là một hành giả bình thường thực sự không có những phẩm tính này. Vì thế, nếu tôi ăn thịt thì cũng chẳng khác gì bạn hay bất kỳ cư sĩ nào khác ăn thịt. Tôi sẽ phạm tội và mắc phải nghiệp xấu. Tôi không giả vờ như thể mình có những năng lực đặc biệt và ăn thịt, tôi chỉ tránh dùng thịt.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Ngài có biết các Lạt ma khác là người ăn chay?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Tôi biết nhiều Lạt ma xứ Tây Tạng. Đó là những người ăn chay thuộc phái Nyingma, Sakya và Geluk ở Tây Tạng. Tuy vậy, so với số Lạt ma ăn thịt thì những Lạt ma ăn chay rất ít. Hiện nay tôi 88 tuổi (vào năm 2000) và trải qua kinh nghiệm của tôi, tôi đã gặp nhiều Lạt ma ở Kham, Amdo – mọi miền của Tây Tạng – là những người không ăn thịt. Có những Lạt ma ăn thịt và có những Lạt ma không ăn. Tại tu viện của tôi ở Tây Tạng cũng có những Lạt ma ăn thịt và những Lạt ma ăn chay.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Nhiều hành giả Phật Giáo ở Hoa Kỳ ăn thịt bởi các Lạt ma Tây Tạng của họ ăn thịt. Ngài nghĩ thế nào về điều này?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Nhiều đại thành tựu giả ở Ấn Độ đã uống một lượng rượu khổng lồ và phát triển những năng lực thần thông. Một trong những đại thành tựu giả này là ngài Virupa đã uống rượu suốt ngày, treo mặt trời trên không trung và ngăn không cho nó lặn.(1) Naropa, Tilopa... là những Đạo sư vĩ đại. Nếu bạn có thể đạt được những năng lực siêu nhiên, bạn không cần phải theo khuôn mẫu của những người bình thường và bạn có thể uống rượu và ăn thịt. Những vị có các năng lực siêu nhiên vẫn có thể ban những giáo lý vĩ đại và làm lợi lạc tất cả chúng sinh. Vì thế, nếu những vị Thầy ở Mỹ thuộc cấp độ đó, bạn hãy yêu cầu tất cả những bằng hữu của bạn cùng tham gia việc uống rượu và ăn thịt với họ. Việc này hoàn toàn phụ thuộc vào cấp độ chứng ngộ ta đã thành tựu. Một Lạt ma hưởng thụ thịt và rượu vẫn có thể đưa dẫn người khác trên con đường đúng đắn, với điều kiện là họ đã phát triển những năng lực siêu nhiên.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Ngài thấy các Phật tử Tây Tạng ở hải ngoại đang thực hiện một nỗ lực chân thành nhằm giảm bớt việc tiêu thụ thịt của họ và trở thành người ăn chay, hay việc ăn thịt đã trở thành một phương diện kiên cố của văn hóa Tây Tạng?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Ở Tây Tạng chỉ có thịt và tsampa(2), không có lương thực chính yếu khác. Tây Tạng ở trên cao và khí hậu như ở một lãnh nguyên (tundra). Ở đó không có nhiều rau trái. Sau khi tới miền Nam Á, bạn thực sự không phải theo tục lệ dùng thịt và tsampa của Tây Tạng. Có nhiều loại trái cây và rau, những món phụ đầy bổ dưỡng – tất cả là những thực phẩm tốt lành. Mọi sự đều sẵn sàng. Vì thế thực sự không cần nói về những tục lệ của Tây Tạng như một sự bào chữa cho việc ăn thịt. Theo kinh nghiệm của tôi thì không ăn thịt có nhiều lợi lạc. Tôi đã 88 tuổi và từ khi ngừng ăn thịt, tôi không mắc chứng bệnh trầm trọng nào. Khi ngủ, tôi ngủ ngon lành. Khi thức dậy, tôi có thể bước đi tức thì. Khi đọc Kinh điển, mắt tôi có thể nhìn thấy thật rõ ràng. Tôi có thính giác rất tốt và có thể nghe thật chăm chú. Đây là những phẩm tính mà tôi đã kinh nghiệm từ việc kiêng thịt. Tôi không mắc bệnh hay chết khi ngừng ăn thịt; tôi không gặp những hậu quả xấu. Tôi có thể du hành bằng xe hơi, máy bay hay xe lửa mà không nôn mửa hay chóng mặt và tôi chẳng bao giờ nhức đầu. Tôi là một con người được hình thành bằng thịt và máu giống như bất kỳ ai khác và là bằng chứng cho thấy việc từ bỏ thịt không làm ta bệnh tật giống như nhiều người Tây Tạng dường như nghĩ như thế. Tôi đang nói với anh bằng kinh nghiệm riêng của tôi; chỉ có những điều tốt lành đến với tôi từ việc từ bỏ thịt.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Nhiều người Tây Tạng đã trích dẫn một đoạn Kinh nói rằng nếu ta không nghe, không thấy hay không nghi ngờ về món thịt được đặc biệt dành cho ta, thì món thịt ấy có thể dùng được. Ngài trả lời ra sao về điều này?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Nếu con vật bị giết mà ta không nhìn thấy thì điều đó giống như ăn cắp một thứ gì đó mà không bị bắt. Nếu bạn sử dụng lý cứ này thì việc ăn cắp đó cũng được coi là đáng tán thưởng. Bạn có thể nói điều gì nhơ bẩn mà không bị người khác nghe thấy – như thể bạn cần có chứng cớ để xét đoán điều đó có phải là một tội lỗi hay không. Những điều họ nói là không đúng. Sát sinh, trộm cắp và những hành vi tiêu cực khác chẳng bao giờ có thể thoát khỏi hậu quả. Cho dù những người khác không nhìn thấy nhưng các Bổn tôn, chư Phật và Bồ Tát nhìn thấy bạn đang làm những điều đó. Có một câu tục ngữ Tây Tạng nói rằng cho dù bạn không bị bắt gặp đang phạm một tội lỗi, nhưng chư thiên bắt quả tang bạn trong mọi lúc. Không thể làm bất kỳ điều gì không bị nhìn thấy – bạn luôn luôn bị các Bổn tôn quan sát. Các ngài nhìn thấy và hiểu những gì bạn làm – các ngài biết rằng bạn đã trợ giúp cho việc giết chết một con vật bằng cách mua thịt. Đây là câu trả lời của tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Một vài tu sĩ nói với con rằng bởi các côn trùng bị giết trong quá trình sản xuất gạo và những loại rau trái khác cho nên thực sự không có gì khác biệt trong việc dùng những thực phẩm này và ăn thịt. Ngài nghĩ thế nào về điều này?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Điều này có nghĩa là bạn không ăn bất kỳ thứ gì và sẽ chết đói. Nếu bạn nói rằng bạn đi trong một tháng mà không giết côn trùng khi dùng thực phẩm thì bạn sẽ chết. Nếu bạn chết, đời người quý báu này bị uổng phí. Vì thế nếu bạn để thân thể bạn bị hủy hoại thì điều đó có nghĩa là bạn đang tự tử, bạn đang tự giết mình. Khi nhìn thấy côn trùng trong gạo, bạn có thể thường xuyên lấy ra và thả chúng. Bạn không nhất thiết phải giết hại chúng sinh để ăn. Nhưng khi ta bước đi ta dẫm nát nhiều côn trùng dưới bàn chân. Ta có thể không nhìn thấy hay nhận ra chúng, hẳn là ta đang giết hại chúng. Không tỉnh giác không có nghĩa là ta không tạo ra bất kỳ tội lỗi nào, bởi xét cho cùng thì nhân và quả luôn luôn có ở đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau cuộc phỏng vấn, Rinpoche nói với tôi: “Hôm nay bạn tới hỏi tôi những điều này và tôi đã trả lời chúng. Điều này thật tốt. Tôi rất sung sướng. Bạn đã ghi lại cuộc trò chuyện của tôi, vì thế bạn nên thuật lại cho mọi người. Chúng ta đang ở tại hang động của Guru Rinpoche. Ở nơi đây, chúng ta đang trao đổi những câu hỏi và trả lời. Cho những người khác nghe những điều này thì thật tốt. Khi bạn thực hiện cuốn sách của bạn, hãy đưa buổi phỏng vấn của tôi vào phần đầu. Cảm ơn bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Tu viện của Rinpoche ở Yangleshod có treo hai tấm biển trên đó ghi những điều liên quan tới việc ăn thịt. Tấm biển thứ nhất viết bằng tiếng Tây Tạng, Nepal và Anh ngữ và là một trong những vật đầu tiên bạn nhìn thấy khi tới gần tu viện.</p>
<p style="text-align: justify;">Tấm biển có kích thước bốn mét vuông ghi:</p>
<p style="text-align: justify;">TUYỆT ĐỐI NGĂN CẤM DÙNG THỊT, ĐỒ UỐNG CÓ CHẤT CỒN VÀ THUỐC LÁ CŨNG NHƯ ĐÁNH BÀI HAY CỜ BẠC TRONG TU VIỆN PHẬT GIÁO NÀY.</p>
<p style="text-align: justify;">Một trong những giới luật chính yếu trong Phật Giáo là kiềm chế không dùng các chất gây say, cùng với việc cố gắng không sát sinh, trộm cắp, nói dối và tà dâm. Có ít Phật tử Tây Tạng ở ngoài truyền thống tu viện trì giữ nghiêm túc giới luật này và những hành giả Nyingma được coi là có uống rượu. Rinpoche không tha thứ cho điều này trong những đệ tử của ngài. Có một việc xảy ra cách đây vài năm khi các đệ tử của một Lạt ma quá cố tới xin Rinpoche ban phước. Các đệ tử này đặt một tấm hình của Lạt ma quá cố này trong phòng của Rinpoche. Khi Rinpoche nhìn thấy tấm hình, ngài nói: “Người này là một kẻ nghiện rượu và đã gãy bể các giới luật của ông ta, đừng để tấm hình này trong phòng tôi, hãy cất nó đi!” Khi vị thị giả lấy tấm hình ra khỏi khung gỗ thì bên dưới có một tấm hình khác. Rinpoche hỏi người trong hình là ai và được cho biết đó là con trai của vị Lạt ma quá cố và cũng là một người nghiện rượu nặng. Rinpoche tuyên bố: “Cha nào con nấy. Hãy lấy cả hai tấm hình của họ ra!”</p>
<p style="text-align: justify;">Đối với việc hút thuốc, Rinpoche nói:</p>
<p style="text-align: justify;">“Khuyết điểm chính yếu của việc hút thuốc là nó sẽ đóng kín lỗ mở Brahma (Phạm Thiên) trên đỉnh đầu ta. Vì thế vào lúc chết, ta sẽ rất khó thực hành phowa(3) khi nỗ lực làm tâm thức ta xuất ra từ đó, tự giải thoát khỏi luân hồi sinh tử hay đi tới ba cõi giới cao. Vì lợi lạc của bản thân và những người khác, các hành giả Giáo Pháp hoàn toàn không nên hút thuốc!”</p>
<p style="text-align: justify;">Tấm biển thứ hai được treo bên ngoài khu vực thờ phụng chính và viết bằng chữ Tây Tạng và Anh ngữ: “Trong khi dùng thịt của một con vật để làm béo tốt thân thể ta, làm sao ta có thể thực hành lòng bi mẫn chân chính? Vì sức khỏe của bạn, vì môi trường và vì các thú vật, hãy ngừng lại tập quán dơ bẩn này”. Tấm áp phích lớn này được đặt trong một khung bảo vệ được thực hiện bởi một nhóm bảo vệ quyền lợi của thú vật tại tu viện Dzogchen ở miền Nam Ấn Độ và nó cho ta thấy Rinpoche hết sức coi trọng giới đức này.</p>
<p style="text-align: justify;">Một bạn thân của gia đình Chatral Rinpoche là Pema, con gái của vị Thầy Nyingma vĩ đại Tarthang Tulku Rinpoche. Trong cuộc phỏng vấn do tôi thực hiện vào năm 2000, bà đã cho tôi một vài hiểu biết sâu sắc về tầm quan trọng của việc ăn chay trong thực hành lòng bi mẫn của Chatral Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Bà nói: “Việc ăn thịt rất dữ dội trên hệ thống rađa tâm linh của Chatral. Rinpoche có nối kết rất khăng khít với các thú vật. Ngài yêu thương thú vật. Ngài thích xem phim ảnh trên máy truyền hình về đời sống hoang dã. Lòng đại bi đã khiến ngài ngưng ăn thịt. Ngài cống hiến tất cả tiền bạc của ngài để cứu 70 xe vận tải đầy cá ở Calcutta. Đó là hoạt động hàng năm quan trọng nhất của ngài. Ngài cầu nguyện cho từng xô cá đổ xuống biển, cố gắng đưa chúng tới những cảnh giới cao hơn. Trong Pháp, không chỉ là vấn đề không làm điều gì – chẳng hạn như ăn thịt – mà còn là bảo vệ đời sống một cách tích cực.</p>
<p style="text-align: justify;">Rinpoche đã sống điều đó. Ngài được nối kết như thế trên một bình diện rộng lớn với chúng sinh và nỗi khổ của họ. Rinpoche bị lôi tới những nơi tăm tối, tội lỗi, đầy sát khí – tới những khu vực tế lễ thú vật của tín đồ Ấn giáo. Có lần ngài đưa cô con gái Saraswati của ngài và tôi tới nơi đó. Cảnh vật bên ngoài rất đẹp với hoa và nghệ thuật điêu khắc. Ngài mua một ít chim trong một cái lồng và thả chúng trên đỉnh mái nhà. Sau đó chúng tôi đi tới nơi hiến tế dê. Thoạt đầu tôi nhắm mắt lại, nhưng sau đó tôi nhìn thấy những con dê ngây thơ bị giết và máu tung tóe khắp nơi. Tôi chết khiếp. Rinpoche bước trên máu dê thật điềm đạm như thể ngài đang thiền hành. Ngài không bối rối chút nào bởi điều đó. Tôi cho rằng ngài đang cố dạy chúng tôi bài học về sự vô úy và nhẫn nại khi đối diện với đau khổ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Zach Larson</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Thanh Liên</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguyên tác: Chatral Rinpoche’s Steadfast Commitment to Ethics</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn Anh ngữ: <a href="http://www.shabkar.org/download/pdf/Steadfast_Commitment_to_Ethics.pdf">Chatral Rinpoche’s Steadfast Commitment to Ethics</a></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn Việt ngữ: <a href="https://thuvienhoasen.org/a5182/cam-ket-tri-giu-dao-duc-kien-dinh-cua-chatral-rinpoche">Cam kết trì giữ đạo đức kiên định của Chatral Rinpoche</a></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>(1). Một buổi tối Đạo sư vĩ đại Virupa đang uống rượu ở một quán rượu và người phục vụ ở quầy rượu bảo ngài rằng cho tới khi mặt trời lặn ngài có thể uống bao nhiêu cũng được mà không phải trả tiền. Vì ngài không mang nhiều tiền, ngài cắm purba (lưỡi dao nghi lễ) của ngài trên mặt đất nơi lằn ranh giữa bóng tối và ánh nắng mặt trời, khiến chúng đứng yên một chỗ và ngăn cản không cho mặt trời lặn.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>(2). Tsampa: bột mì làm bằng lúa mạch nướng hay các loại hạt khác. Một loại thực phẩm chính ở Tây Tạng.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>(3). Phowa là thực hành phóng xuất tâm thức ta qua kinh mạch trung ương của thân, phóng nó ra ngoài qua đỉnh đầu, được gọi là “cửa Phạm Thiên”. Khi ấy, tâm thức được hình dung như đi vào trái tim của Đức Phật A Di Đà. Theo cách này, vào lúc chết, ta có thể kiểm soát tốt hơn nữa bản tánh của hóa thân kế tiếp của ta.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/cam-ket-tri-giu-dao-duc-kien-dinh-cua-chatral-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử vắn tắt Khenchen Kunzang Palden Chodrak (1872 &#8211; 1943)</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-van-tat-khenchen-kunzang-palden-chodrak-1872-1943/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-van-tat-khenchen-kunzang-palden-chodrak-1872-1943/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 19 May 2021 01:15:29 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=10128</guid>
		<description><![CDATA[Một học trò khác của Patrul Rinpoche[2] là Khenchen Kunzang Palden Chodrak. Ngài sinh ra ở Dzachukha trong vùng phía Bắc của miền Đông Tây Tạng, trong gia đình họ hàng với Patrul Rinpoche. Cha mẹ Ngài nghèo và không có nguồn lực để thỉnh cầu giáo lý; Ngài Kunzang Palden trải qua vô vàn khó khăn khi còn trẻ. Ngài đã phụng sự Pháp chủ Patrul Rinpoche như là đạo sư phi phàm của gia đình Phật, làm hài lòng đạo&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-van-tat-khenchen-kunzang-palden-chodrak-1872-1943/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Một học trò khác của Patrul Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20KHENCHEN%20KUNZANG%20PALDEN%20CHODRAK%20(1872-1943).docx#_ftn2">[2]</a> là <b>Khenchen Kunzang Palden Chodrak</b>. Ngài sinh ra ở Dzachukha trong vùng phía Bắc của miền Đông <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">họ hàng</span> với Patrul Rinpoche. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cha mẹ</span> Ngài nghèo và không có nguồn lực để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>; Ngài Kunzang Palden <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trải qua</span> vô vàn khó khăn khi còn trẻ. Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phụng sự</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp chủ</span> Patrul Rinpoche như là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phi phàm</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span> Phật, làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hài lòng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> theo mọi cách. Bởi không có giày, Ngài Kunzang Palden luôn đi chân trần trong gió tuyết để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>. Máu rỉ ra từ những vết nứt trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng bàn chân</span>. Khi thấy vậy, Abu già đáng mến đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tán thán</span> Ngài và trao cho Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời khuyên</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô cùng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ ái</span>, bảo rằng: “Này Kunpal, hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dũng mãnh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">theo đuổi</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> của con và chẳng có điều gì xấu xảy ra với con”.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài Kunzang Palden chẳng có gì để mặc ngoài một chiếc áo khoác cũ, rách. Nhưng Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dũng cảm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span>, bất kể ngày đêm. Bởi không có dầu để đốt đèn vào ban đêm, Ngài thường ra ngoài ngồi dưới ánh trăng để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> học. Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trăng</span> xuống thấp và khuất sau ngọn đồi, Ngài thường trèo cao thêm để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> đọc các bản văn, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> trước bình minh thì đã lên đến đỉnh đồi. Một vài vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đồng hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> của Ngài thường trêu chọc, nói rằng: “Trên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế giới</span> này, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con người</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trời</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi lên</span> đỉnh vào ban ngày để chăn thú; chỉ có Kunpal và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trăng</span> lên đỉnh vào ban đêm để xem sách”.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày nọ, ai đó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> Abu già kính mến một đĩa Mandala làm từ kim loại chuông. Ngài Kunzang Palden thưa rằng: “Abu-tsang<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20KHENCHEN%20KUNZANG%20PALDEN%20CHODRAK%20(1872-1943).docx#_ftn3">[3]</a>, Ngài có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vui lòng</span> cho con đĩa Mandala này để con có thể bắt đầu năm trăm nghìn biến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sơ khởi</span> hay không?”. Abu Rinpoche già kính mến nghĩ trong thoáng chốc rồi đáp rằng: “Dĩ nhiên, Ta rất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vui lòng</span> được làm vậy. Người ta nói rằng trên đời này, chẳng gì là không thể, rằng thực sự mọi chuyện đều có thể. Con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> có thể dùng đĩa Mandala của Ta và một ngày nào đó, thay vì là kẻ với chiếc áo khoác cũ rách như con lúc này, con sẽ ngồi giữa hàng nghìn thành viên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span>, trì tụng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> bắt đầu bằng ‘Mặt đất được tịnh hóa bằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nước thơm</span> …’ À! Bảo trọng! Bảo trọng nhé và không nguy hại nào có thể xảy đến với con”.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong đời</span>, sau khi Ngài Kunzang Palden được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bổ nhiệm</span> để ngự trên ngai tòa của một Khenpo, Ngài đang truyền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát giới</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại chúng</span> tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Kathok. Khi tập hội tụng phần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> Mandala của Bảy Nhánh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cầu Khẩn</span>, Ngài nhớ điều mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> từng bảo Ngài. Ngài nói: “Điều đấy thực sự là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiên tri</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo sư</span> của tôi thực sự là một vị Phật có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự tại</span> thấy rõ ba thời! Thậm chí nếu tôi chất đầy vàng trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tam thiên đại thiên thế giới</span>, tôi cũng chẳng thể đền đáp phần nhỏ nhất trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng từ</span> ái bi mẫn của Abu già <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đáng kính</span> dành cho tôi”. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chắp tay</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cầu nguyện</span> và rớt nước mắt.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài luôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phụng sự</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> với lòng sùng mộ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phi phàm</span>, thấy thầy là Phật thực sự. Điều này làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hài lòng</span> Abu già <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đáng kính</span>, vị trao cho Ngài Kunzang Palden những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> phổ quát của Kinh và Mật, cũng như các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> về <i>Nhập <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát Hạnh</span></i>, <i><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tinh Túy</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bí Mật</span></i> và nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luận giải</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> cốt tủy của cách tiếp cận Dzogchen tịnh quang (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> các pho chưa từng được viết lại, chẳng hạn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> truyền miệng về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Nyingtik <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span> của Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span>). Ngài Kunzang Palden không xem đây là những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ ngữ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đơn thuần</span> mà đưa chúng vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>; <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> khởi lên trong Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán chiếu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mở rộng</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học hỏi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">các chủ</span> đề như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Đạo</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bát Nhã</span>, Luật và Luận với Đức Jamyang Khyentse Wangpo<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20KHENCHEN%20KUNZANG%20PALDEN%20CHODRAK%20(1872-1943).docx#_ftn4">[4]</a>, Dodrup [Rinpoche] Tenpai Nyima<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20KHENCHEN%20KUNZANG%20PALDEN%20CHODRAK%20(1872-1943).docx#_ftn5">[5]</a>, Jamgon Mipham Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20KHENCHEN%20KUNZANG%20PALDEN%20CHODRAK%20(1872-1943).docx#_ftn6">[6]</a>, Onpo Tenga (vị cũng được biết đến là Orgyen Tenzin Norbu), Drubwang Dzogchen Rinpoche Thubten Chokyi Dorje và nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> khác. Ngài đã dấn thân <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span>, tập trung vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh túy</span> đích thực, sống tại các ẩn thất cô tịch như Gegong và Changma, nơi mà Abu già <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đáng kính</span> từng sống. Ngài ngập tràn sự xả ly và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ đề tâm</span>. Ngài cực kỳ tử tế với những vị khiêm nhường và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghèo khó</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cốt lõi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> của Ngài là lòng sùng mộ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thành</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn hảo</span>, bởi Ngài chẳng bao giờ rời khỏi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> là một vị Phật thực sự.</p>
<p style="text-align: justify;">Bất cứ khi nào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giảng Pháp</span>, Ngài Kunzang Palden thường giảng nhiều về động cơ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ đề tâm</span> và về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thái độ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đúng đắn</span>; Ngài luôn tụng những lời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cầu nguyện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mở rộng</span> trước và sau khi giảng dạy. Ngài thường nói: “Tôi đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> các bản văn với Abu già <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đáng kính</span> và tôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát nguyện</span> trước Ngài rằng khi cơ hội giảng dạy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span>, tôi sẽ thậm chí dạy cho một cột trụ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nếu không</span> ai có mặt để nghe”. Ngài đã dành cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span> để giảng dạy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ít nhất</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một lần</span>, nhưng thường là hàng chục lần, mỗi ngày không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gián đoạn</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mong ước</span> của Jamgon Mipham Rinpoche và theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời mời</span> của Đức Situ Chokyi Gyatso – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> vĩ đại của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Kathok, Ngài Kunzang Palden đến trụ xứ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kim cương</span> Kathok. Ngài được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bổ nhiệm</span> là viện trưởng đầu tiên của [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật học viện</span>] Shedrup Norbu Lhunpo mới <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành lập</span> – một Shedra xuất sắc để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> các bộ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mong ước</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thành</span> của Kathok Situ Rinpoche là Ngài Kunzang Palden khởi xướng chuỗi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> được biết đến là “trăm cội nguồn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> của Kathok”, tuyển tập hơn trăm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luận giải</span> về các bản văn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">căn bản</span> mà chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biên soạn</span>; sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> về chúng cần khoảng năm năm. Ngài Kunzang Palden lưu lại Shedra này trong ba năm; theo cách này, Ngài hỗ trợ và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phụng sự</span> như là cột trụ của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>. Sau đấy, trong những vị đã đến trụ xứ này có Khenchen Ngawang Palzang – một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa hiện</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vô Cấu</span> Hữu, Khenchen Gyaltsen Ozer, Khenchen Chodrup từ Lak – vị cũng được biết đến là Jampal Chokyi Lodro và nhiều vị khác trong tràng vàng của các vị viện trưởng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuần tự</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Kathok, những vị mà nhờ sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span>, giảng dạy và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span>, đã khiến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> này lan tỏa khắp mọi phương. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> của Ngài Kunzang Palden <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mở rộng</span> như chính bầu trời trong việc Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đảm bảo</span> rằng các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> truyền miệng (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa trên</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luận giải</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tóm tắt</span> của những cội nguồn kinh văn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">căn bản</span>) của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp chủ</span> Patrul Rinpoche, Jamgon Mipham, Gyalse Shenphen Thaye và nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> khác, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị định</span> rõ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị trí</span> của trường phái <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cựu Dịch</span>, sẽ lan tỏa đến bất cứ nơi nào mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Kathok phát triển.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đấy, Ngài Kunzang Palden <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở về</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quê nhà</span> Dzachukha, nơi Ngài chăm sóc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> học trò từ khắp vùng Dza. Các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác phẩm</span> của Ngài, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luận giải</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mở rộng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt vời</span> về Nhập <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát Hạnh</span> (được sắp xếp theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> cốt tủy từ Abu già <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đáng kính</span>) và tuyển tập lớn những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">câu chuyện</span> từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Luật Tạng</span>, vẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phổ biến</span> với các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế hệ</span> sau Ngài. Ngài Kunzang Palden <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giữ gìn</span> bất cứ điều gì Ngài giảng dạy trong các đường lối của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> cốt tủy về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ đề tâm</span> và Ngài tập trung vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> truyền miệng của Abu già <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đáng kính</span> và Mipham Rinpoche, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên hệ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> với các điểm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">then chốt</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> bên trong. Ngài đã trụ thế dài lâu, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi lạc</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong các học trò thân cận của Ngài có Khen Jamdor từ Troshul, Botrul Dongak Tenpai Nyima<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20KHENCHEN%20KUNZANG%20PALDEN%20CHODRAK%20(1872-1943).docx#_ftn7">[7]</a>, Batar Thubga (vị cũng được biết đến là Thubten Chophel<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20KHENCHEN%20KUNZANG%20PALDEN%20CHODRAK%20(1872-1943).docx#_ftn8">[8]</a>), Dodrup [Rinpoche] Jigme Trinle Palbar<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20KHENCHEN%20KUNZANG%20PALDEN%20CHODRAK%20(1872-1943).docx#_ftn9">[9]</a>, Chagdud Choktrul<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20KHENCHEN%20KUNZANG%20PALDEN%20CHODRAK%20(1872-1943).docx#_ftn10">[10]</a> và nhiều vị khác. Như thế, Ngài Kunzang Palden đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phụng sự</span> lớn lao cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Nyingma.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Nyoshul Khenpo Jamyang Dorje</strong>[1]
<p><em>Anh dịch: Richard Barron (Lama Chokyi Nyima) </em></p>
<p><em>Việt dịch: Pema Jyana</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Trích: Nyoshul Khenpo Jamyang Dorje, <b>A Marvelous Garland of Rare Gems – Biographies of Masters of Awareness in the Dzogchen Lineage</b> [tạm dịch: Tràng Ngọc Báu Hiếm Có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tuyệt Diệu</span> – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiểu Sử</span> Chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giác Tính</span> Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Truyền Thừa</span> Dzogchen], Padma Publishing.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Nguồn: </i><a href="https://thuvienhoasen.org/a35960/tieu-su-van-tat-khenchen-kunzang-palden-chodrak-1872-1943-"><em><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiểu Sử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vắn Tắt</span> Khenchen Kunzang Palden Chodrak (1872-1943)</em></a></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">[1] Về Nyoshul Khen Rinpoche, tham khảo: <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a35078/tieu-su-van-tat-nyoshul-khenpo-jamyang-dorje"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiểu Sử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vắn Tắt</span> Nyoshul Khenpo Jamyang Dorje</a>  </span></i></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">[2]</span></i><i><span style="font-weight: 400;"> Về Patrul Rinpoche, tham khảo: <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a26125/4/tieu-su-van-tat-dai-su-dza-patrul-rinpoche-1808-1887-"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiểu sử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vắn tắt</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại sư</span> Dza Patrul Rinpoche (1808 – 1887)</a></span></i></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">[3]</span></i><i><span style="font-weight: 400;"> Trong phương ngữ của Golok và Dza, hậu tố “Tsang” (thành viên gia đình, mối liên hệ) thường được thêm vào tên hay danh hiệu của ai đó để thể hiện sự quý mến.</span></i></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">[4]</span></i><i><span style="font-weight: 400;"> Về Đức Jamyang Khyentse Wangpo, tham khảo: </span></i><a href="https://thuvienhoasen.org/p38a34299/2/tieu-su-van-tat-ton-gia-jamyang-khyentse-wangpo-1820-1892-"><em><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiểu Sử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vắn Tắt</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn Giả</span> Jamyang Khyentse Wangpo (1820-1892)</em></a></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">[5]</span></i><i><span style="font-weight: 400;"> Về Dodrupchen Rinpoche Tenpai Nyima, tham khảo: </span></i><a href="https://thuvienhoasen.org/p38a35305/tieu-su-van-tat-duc-dodrupchen-thu-ba-jigme-tenpai-nyima-1865-1926-"><span style="font-size: 12pt;"><em><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiểu Sử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vắn Tắt</span> Đức Dodrupchen Thứ Ba – Jigme Tenpai Nyima (1865-1926)</em></span></a></p>
<p><i> </i><i><span style="font-weight: 400;">[6]</span></i><i><span style="font-weight: 400;"> Về Mipham Rinpoche, tham khảo: </span></i><a href="https://thuvienhoasen.org/p38a32261/3/tieu-su-duc-mipham-jamyang-namgyal-gyatso-1846-1912-"><em><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiểu Sử</span> Đức Mipham Jamyang Namgyal Gyatso (1846-1912)</em></a></p>
<p><span style="font-size: 12pt;"><em><span style="font-weight: 400;"><i>[7]</i><i><span style="font-weight: 400;"> Về Botrul Tulku, tham khảo</span></i>:</span></em></span> <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a35611/tieu-su-ngan-gon-cua-bopa-tulku-dongak-tenpe-nyima"><em><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiểu Sử</span> Ngắn Gọn Của Bopa Tulku Dongak Tenpe Nyima</em></a></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">[8]</span></i><i><span style="font-weight: 400;"> Về Ngài Thubten Chophel, tham khảo: <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a35745/tieu-su-van-tat-duc-changma-khenchen-thubten-chophel-1886-1956-"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiểu Sử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vắn Tắt</span> Đức Changma Khenchen Thubten Chophel (1886–1956)</a></span></i></p>
<p><i></i><i><span style="font-weight: 400;">[9]</span></i><i><span style="font-weight: 400;"> Về Dodrupchen Rinpoche Jigme Trinle Palbar, tham khảo: <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a34113/2/tieu-su-van-tat-duc-dodrupchen-thu-tu-jigme-trinle-palbar"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiểu Sử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vắn Tắt</span> Đức Dodrupchen Thứ Tư – Jigme Trinle Palbar</a>  </span></i></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">[10]</span></i><i><span style="font-weight: 400;"> Tức vị tái sinh Chagdud thứ mười lăm. Vị thứ mười sáu là Padma Gargyi Wangchuk (1930-2002).</span></i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-van-tat-khenchen-kunzang-palden-chodrak-1872-1943/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đức Kyabje Namkhai Nyingpo Rinpoche đời thứ 7</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-kyabje-namkhai-nyingpo-rinpoche-7th/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-kyabje-namkhai-nyingpo-rinpoche-7th/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 15 Feb 2017 14:17:02 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7266</guid>
		<description><![CDATA[Đức Kyabje Namkhai Nyingpo Rinpoche đời thứ 7 sinh năm 1966 tại thung lũng linh thiêng Tongzhang Thrichu Geonpa thuộc miền Đông Bhutan. Thân phụ của Ngài là Yab Tshering Gyaltshen và thân mẫu của Ngài là Yum Sherabmo. Ngài được sinh ra cùng với nhiều dấu hiệu kiết tường và diệu kỳ. Dòng nước uống nhà Ngài chuyển sang&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-kyabje-namkhai-nyingpo-rinpoche-7th/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Đức Kyabje Namkhai Nyingpo Rinpoche đời thứ 7 sinh năm 1966 tại thung lũng linh thiêng Tongzhang Thrichu Geonpa thuộc miền Đông Bhutan. Thân phụ của Ngài là Yab Tshering Gyaltshen và thân mẫu của Ngài là Yum Sherabmo. Ngài được sinh ra cùng với nhiều dấu hiệu kiết tường và diệu kỳ. Dòng nước uống nhà Ngài chuyển sang màu sữa, cầu vồng tuyệt đẹp xuất hiện trên bầu trời và  “Kharchhu”, “Kharchhu” là những tiếng đầu tiên Ngài thốt ra, chính là tên Tu viện của Ngài ở Tây Tạng. Ngài cũng nhớ danh hiệu của những thị giả trước đây và những sự việc có liên quan sâu sắc đã xảy ra đời trước.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/13343073_1087524921319453_3012951619871104224_n.jpg"><img class="  wp-image-7268 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/13343073_1087524921319453_3012951619871104224_n-221x300.jpg" alt="13343073_1087524921319453_3012951619871104224_n" width="386" height="524" /></a></p>
<p>Cậu bé đã được Đức Pháp Vương Gyalwa Karmapa 16 công nhận là Đức Namkhai Nyingpo đời thứ 7, Ngài đã tiên đoán rõ ràng về sự tái sinh này khi mô tả danh hiệu cha mẹ và những chi tiết khác như thế. Tuy nhiên, để có sự công nhận sâu hơn, các đệ tử đã kiểm tra cậu bé theo phương thức truyền thống. Cậu bé được cho xem các chuỗi tràng hạt, hộp đựng xá lợi, chuông, chày kim cương … của Đức Namkhai Nyingpo Rinpoche đời trước. Trước sự chứng kiến của các đệ tử lâu năm của đấng tiền nhiệm và một vị đại diện của Chính phủ Hoàng gia Bhutan, cậu bé chỉ lựa chọn những thứ đồ thuộc về đấng tiền nhiệm mà không hề có chút nhầm lẫn và vì thế đã được tôn xưng là vị hóa thân chính thức.</p>
<p>Cho nên vào năm 1972, năm lên 6 tuổi, Ngài đã lên tiếp quản vị trí của bậc tiền nhiệm tại Pema Shedrup Chholing hay Tu viện Kharchu thứ hai tại Bumthang. Việc học tập chính thức của Đức Kyabje Namkhai Nyingpo Rinpoche bắt đầu vào năm 1970 và ngay tức khắc Ngài có được kĩ năng đọc viết cơ bản. Ngài có khả năng đọc, viết và nhớ các bài cầu nguyện tinh yếu một cách dễ dàng.</p>
<p>Năm lên tám tuổi, Đức Kyabje Namkhai Nyingpo Rinpoche đã thọ Quy y và hai lần nhận Quán đảnh Trường thọ từ Đức Pháp Vương Gyalwa Karmapa 16. Vào cùng năm, Nhiếp Chính Vương đã thọ nhận Quán đảnh Kalachakra, các giáo lý Nhập Bồ Tát Hạnh và nhiều giáo lý khác từ Đức Dalai Lama 14.</p>
<p>Theo đúng những lời chỉ dẫn của Đức Pháp Vương Dilgo Khyentse Dorji Chang, Nhiếp Chính Vương đã nghiên cứu trọn vẹn 13 bản văn lớn và các luận giảng từ Đức Khen Rinpoche Kunga Wanghcuk. Ngài cũng đã thọ nhận các giáo lý bLapTue, toàn bộ 3 phần của pháp tu thiền của Kamala Shila, Bimalai Rigmi Ba-dang Chigcharwa; Dakpo Thargyen và Drubthab Kintue. Nhờ đó, Ngài đã trở thành một trong những Đạo sư kinh điển vĩ đại nhất trong thời đại của chúng ta.</p>
<p>Đức Kyabje Namkhai Nyingpo Rinpoche tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu về triết học Phật giáo cùng nhiều chư Đạo sư và theo truyền thống bất bộ phái Ngài đã thọ nhận các giáo lý và trao truyền từ bốn trường phái chính của Phật giáo Tây Tạng. Ngài đã trao truyền giáo lý đặc biệt Kho Tàng Phương Bắc (Jangter) tới nhiều vị Lama và các Rinpoche.</p>
<p>Đức Kyabje Namkhai Nyingpo Rinpoche dành sự tập trung chủ yếu vào việc chăm sóc, đào tạo tăng ni tại các Tu viện của Ngài ở Bhutan, đồng thời vào việc nghiên cứu tu học và thực hành Giáo Pháp. Ngài đã ban truyền rất nhiều giáo lý, quán đảnh và khẩu truyền tại Tu viện  của Ngài và các địa điểm khác ở Bhutan và Ấn Độ.</p>
<p><em>Nguồn: https://namkhainyingpo.wordpress.com/2016/06/09/the-seventh-namkhai-nyingpo/</em></p>
<p>Việt ngữ: Tara Devi (Nhóm Viet Rigpa Lotsawas)</p>
<p>Hiệu đính: Giác Nhiên</p>
<p><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với Đức Kyabje Namkhai Nyingpo Rinpoche  đời thứ 7 đều được Ngài dẫn dắt liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này cầu mong Ngài sớm quang lâm đến Việt Nam.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với Đức Kyabje Namkhai Nyingpo Rinpoche 7<sup>th</sup> đều được Ngài dẫn dắt liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này cầu mong Ngài sớm quang lâm đến Việt nam.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-kyabje-namkhai-nyingpo-rinpoche-7th/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Cuộc đời Đạo sư Kunkhyen Longchen Rabjam (Longchenpa)</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/cuoc-doi-dao-su-kunkhyen-longchen-rabjam-longchenpa/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/cuoc-doi-dao-su-kunkhyen-longchen-rabjam-longchenpa/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 12 Feb 2017 15:02:04 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7244</guid>
		<description><![CDATA[Trong những đạo sư Dzogpa Chenpo (Đại Toàn Thiện) từ thời Guru Padmasambhava và Vimalamitra (thế kỷ thứ 9), Kun-khyen Longchen Rabjam (1308-1363) là người lỗi lạc nhất, thiền giả, triết gia và tác giả vĩ đại nhất. Ngài sinh trong một làng tên là Todtrong, trong thung lũng Tra miền Yoru – một trong hai miền vùng trung Tây&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/cuoc-doi-dao-su-kunkhyen-longchen-rabjam-longchenpa/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong những đạo sư Dzogpa Chenpo (Đại Toàn Thiện) từ thời Guru Padmasambhava và Vimalamitra (thế kỷ thứ 9), Kun-khyen Longchen Rabjam (1308-1363) là người lỗi lạc nhất, thiền giả, triết gia và tác giả vĩ đại nhất. Ngài sinh trong một làng tên là Todtrong, trong thung lũng Tra miền Yoru – một trong hai miền vùng trung Tây Tạng, Yoru và Wuru – vào ngày mười tháng mười một năm con Khỉ Thổ. Cha ngài, đạo sư Tensung là con một nhà hiền triết Nyingma tên là Lhasung thuộc bộ tộc Rog. Lhasung sống đến một trăm lẻ năm tuổi, là cháu đời thứ hai mươi lăm của Gyalwa Chog-yang, một trong hai mươi lăm đệ tử chánh của Guru Padmasambhava. Mẹ của Longchen Rabjam là Sodnamgyen của bộ tộc Drom.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những điều mầu nhiệm đi theo với sự sanh ra của ngài. Khi ngài ở trong thai, mẹ ngài mộng thấy hai mặt trời trên đầu một con sư tử khổng lồ chiếu sáng toàn thế giới và tan vào bà. Lúc ngài được sinh ra nữ hộ pháp Namtru Remati xuất hiện trước mẹ ngài trong hình thức một người đàn bà đen hoa một cây gươm. Ôm đứa bé trong tay, nữ hộ pháp nói : “Ta sẽ bảo vệ nó.” Bà giao lại cho mẹ ngài ẵm và biến mất. Một ngày nọ khi mẹ ngài đang làm việc ngoài đồng, một cơn mưa đá rơi xuống và bà chạy về nhà, quên đứa bé đang ở ngoài đồng. Khi nhớ ra, bà đi tìm nó, nhưng đứa bé đã biến mất. Bà bắt đầu kêu khóc và người đàn bà đen lại xuất hiện, với đứa bé trong tay và giao nó lại cho bà mẹ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Theo nhiều lời tiên tri, một trong những đời trước của Longchen Rabjam là Công Chúa Premasal, con của Vua Thrisong Deutsen (790-858). Khi công chúa chết, Guru Padmasambhava đã giao phó cho công chúa sự trao truyền Nyingthig, những giáo lý Tinh Túy Sâu Xa Nhất của Dzogchen.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong số những cuộc đời của Công Chúa Premasal, sự tái sanh trực tiếp trước Longchen Rabjam là Pema Ledreltsal (1291?-1319?), người khám phá những giáo lý Nyingthig. Chúng được Guru Padmasambhava giao phó cho Công Chúa Premasal như là một Terma (Kho tàng Pháp được khám phá) và sau được biết với tên là Khadro Nyingthig.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ thuở nhỏ ngài đã có những phẩm tính cao cả của một Bồ tát, như là niềm tin, lòng bi và trí thông minh phi thường. Khi lên năm, ngài hoàn thiện những thiện xảo về đọc và viết. Khi bảy tuổi, cha ngài ban cho ngài những quán đảnh, giáo huấn và tu hành những nghi thức và thiền định của các tantra và Terma của Nyingma, như là Kagyed Desheg Dupa. Ngài cũng được dạy y học và chiêm tinh học. Khi lên tám tuổi, mẹ ngài mất.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài nhớ cả hai bản văn “Tám Ngàn” và “Hai Mươi (hay hai mươi lăm) Ngàn Bài Kệ Bát Nhã Ba La Mật” sau khi đã đọc chúng một trăm lần. Khi mười một tuổi, cha ngài mất. Năm mười hai tuổi ngài xuất gia tại chùa Samye với Khenpo Samdrup Rinchen và Lobpon Lha Kunga, và được ban pháp danh Tshulthrim Lodro. Ngài thông thạo Vinaya (Luật) và dạy chúng vào năm mười bốn tuổi. Năm mười sáu tuổi ngài nhận nhiều giáo lý của Tantra Mới (phái Tân dịch) từ Trashi Rinchen và những vị khác. Từ mười chín tuổi ngài nghiên cứu theo lối học giả những bản văn gồm bảy luận về luận lý học của Dharmakirti, năm bản văn của Maitrinatha/Asangha, và nhiều bản văn Trung Quán và Bát Nhã ở đại học tu viện Sangphu Neuthog trong sáu năm với nhiều đại giáo sư trong đó có Lobpon Tsengongpa, vị nắm giữ chức trụ trì đời thứ mười lăm, và Latrenpa Chopal Gyaltshen, vị nắm giữ chức trụ trì đời thứ mười sáu của phái Lingtod và Lingmed.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sangphu được xây dựng năm 1073 bởi Ngog Legpa’i Sherab, một trong ba đệ tử chính của Atisha. Nó là trung tâm của Ngog Loden Sherab (1059-1109), dịch giả nổi tiếng của thời kỳ “Hoằng Pháp Về Sau.” Trong hàng thế kỷ nó là một trong những cơ sở học viện quan trọng nhất ở Tây Tạng, nhưng thời gian gần đây những sự nghiên cứu nhờ đó nó được nổi tiếng đã bị gián đoạn trừ ở trại mùa hè của những học giả, và những học trò phái Gelug. Khi Khyentse Wangpo (1820-1892) thăm Sangphu vào khoảng 1840, ngài thấy nó đã trở thành một cái làng của người đời với vài đồ vật có giá trị tôn giáo. Sangphu và Samye là hai cơ sở tu viện, thêm nơi ẩn cư của Đạo Sư Kumazaraja, là những nơi Long-chen Rabjam chủ yếu nhận được sự giáo dục và tu hành của mình. Với dịch giả Panglo Lodro Tenpa (1276-?), ngài học tiếng Sanskrit, thơ ca, luận văn, kịch, năm kinh chính và Abhidharma. Ngài có những thị kiến thanh tịnh về nhiều hóa thần bổn tôn, như Manjusri, Sarasvati, Vajravarahi, và Tara, như một kết quả của sự thiền định về những Sadhana của các vị. Ngài chu du một vòng học hỏi hàn lâm ở nhiều cơ sở nghiên cứu khác nhau, và vì mức độ học vấn của ngài, ngài trở nên nổi tiếng với những danh hiệu danh dự, Samye Lungmangpa (Vị từ chùa Samye, Người Làm Cho Nhiều Kinh Điển Được Tôn Cao) và Longchen Rabjam (Cái Sâu Thẳm và Vô Biên), hay Tiến sĩ về Siêu Hình học Sâu Thẳm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài lang thang nhiều nơi và học với nhiều học giả nổi tiếng. Ngài nhận những giáo lý của những Kinh, Mayajala và Cittavarga, và ba phần chính của những tantra Cổ từ đạo sư Zhonu Dondrub của (tu viện ?) Danphag, Nyonthingmawa Sangye Trag-od và những vị khác. Từ khoảng hai mươi đạo sư, gồm Sangye Tragpa của Nyothing, Zhonu Gyalpo, Zhonu Dorje, Karmapa Ranchung Dorje (1284-1334), Sonam Gyaltshen (1312-1375) phái Sakya và những vị khác, ngài nhận tất cả những giáo lý và trao truyền của những tantra cả cổ và tân của nhiều dòng đang được dạy ở Tây Tạng vào thời bấy giờ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài cảm thấy không thích tính tình thô lỗ và ghen tỵ của một số nhà sư từ tỉnh Kham ở Sangphu, học viện chính của ngài, và bỏ đi. Trong tháng thứ năm của tám tháng nhập thất trong tối ở một hang ở Gyama’i Chogla, ngài có một thị kiến vào lúc bình minh. Ngài đang đứng trên bờ cát của một con sông, từ đó ngài có thể thấy vài ngọn đồi. Ngài nghe tiếng hát đi cùng với âm nhạc. Nhìn về hướng có âm thanh, ngài thấy một phụ nữ mười sáu tuổi mặc đồ thêu kim tuyến, trang sức bằng vàng và ngọc lam và mang một mạng vàng che mặt. Bà cỡi một con ngựa có yên da và chuông. Ngài cầm lấy phần chót của áo bà và cầu xin : “Ôi, Đức Bà Cao Quý (tức là Tara), xin từ bi chấp nhận con.” Bà đặt vương miện bằng ngọc quý lên đầu ngài và nói : “Từ giờ trở đi, ta sẽ luôn luôn cho con những ban phước và những thần lực.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào lúc đó thân tâm ngài chìm trong một trạng thái thiền lạc phúc, sáng tỏ và thoát khỏi những ý niệm. “Tôi đã không tỉnh dậy trong một thời gian lâu !” như ngài nói. Dù ngài thức dậy vào bình minh, ngài đã ở trong cùng trạng thái ấy trong suốt ba ngày (theo bản TTD 9b/1 : một tháng). Nó thiết lập nhân duyên cho sự gặp gỡ của ngài với những giáo lý Nyingthig. Sau cuộc nhập thất ngài ban quán đảnh Vairocana cho khoảng ba mươi người đàn ông và đàn bà. Có thể đó là sự truyền pháp đầu tiên của ngài. Sau đó ngài đi đến tu viện Samye.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm hai mươi bảy tuổi, như những thần bổn tôn của ngài đã tiên tri, ngài đi gặp Rigdzin Kumaradza (1266-1343), vị giữ sự truyền thừa vĩ đại của Nyingthig tổng quát, và đặc biệt những giáo lý Nyingthig được truyền ở Tây Tạng bởi Vimalamitra, có tên là Sangwa Nyingthig hay Vima Nyingthig.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đạo sư sống ở Yartod Kyam với các đệ tử trong một trại có khoảng bảy mươi chỗ ở. Đạo sư vui vẻ tiếp đãi Longchen Rabjam và gợi ý cho ngài với lời tiên tri rằng ngài sẽ trở thành người giữ dòng truyền Nyingthig. Đạo sư nói : “Hồi đêm ta mộng thấy một con chim kỳ diệu, một con chim thiêng, với một đàn một ngàn chim. Chúng đến và đem những bản văn của ta đi khắp mọi hướng. Đó là một dấu hiệu rằng con sẽ trở thành một người giữ sự truyền thừa những giáo lý của ta. Ta sẽ cho con những giáo lý trọn vẹn.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam rất vui mừng bởi sự tiếp đón và những lời của đạo sư. Nhưng ngài không có tài sản vật chất nào để đóng góp vào cho cộng đồng, mà đây là một đòi hỏi để được cho ở. Ngài buồn bã, nghĩ rằng, “Ta sẽ là người độc nhất phải từ bỏ Lama bởi vì không có một sự đóng góp theo pháp. Ta phải rời bỏ thung lũng này trong đêm trước lúc mặt trời lên, vì sẽ nhục nhã khi bỏ đi lúc ban ngày trước mắt mọi người.” Đạo sư đọc tư tưởng của Longchen Rabjam bằng tha tâm thông.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lúc gần sáng khi Longchen Rabjam thức dậy, có hai người đến từ đạo sư, nói rằng, “Bậc Pháp Vương muốn ông đến gặp ngài.” Đạo sư ban trà cho ngài và nói với những người trông nom cộng đồng : “Ta trả sự đóng góp theo pháp đối với cộng đồng nhân danh Geshe Samyepa (Longchen Rabjam). Ông ta sẽ là người tốt nhất trong tất cả các đệ tử của ta.” Trong năm đó, ngài nhận những quán đảnh truyền pháp và giáo huấn của giáo lý Nyingthig của dòng Vimalamitra. Năm sau, thêm vào những truyền pháp và giáo huấn khác, ngài nhận những trao truyền tất cả những tantra và những giáo huấn khác của ba phạm trù Dzogpa Chenpo (Đại Toàn Thiện).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi học với Rigdzin Kumaradza, Longchen Rabjam sống trong những hoàn cảnh nghèo khổ khắc nghiệt. Trong mùa đông cực kỳ lạnh lẽo, ngài chỉ có một cái bao rách dùng như nệm và mền. Trong hai tháng ngài sống bằng ba lít bột và hai mươi mốt viên thuốc Ngulchu cỡ bằng hạt đậu. Để chiến đấu chống lại tham luyến, Lama dạy phải dời trại từ vùng đất không người này sang vùng khác. Trong chỉ một mùa xuân, họ dời trại chín lần, và điều ấy gây khó nhọc lớn lao cho Longchen Rabjam. Khi ngài vừa ở yên, thì đến lúc phải dời trại. Chính trong những hoàn cảnh như vậy mà ngài đã nhận toàn bộ giáo lý sâu thẳm nhất của Nyingthig từ đạo sư, như nước đổ từ một bình chứa vào một cái khác. Và bằng cách thực hành ngày đêm, ngài đã thực hiện sự chứng ngộ như nhau với thầy mình. Ngài được trao quyền là người nối pháp của đạo sư và là người giữ dòng truyền thừa cho những đệ tử tương lai.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như ngài hứa với vị Lama của mình, ngài thực hành những giáo lý của đạo sư trong nhiều chỗ thiêng liêng khác nhau trong bảy năm nhập thất ở Chimphu của Samye. Ngài thấy những thị kiến thanh tịnh về những biểu lộ An bình và Hung nộ của Guru Padmasambhava, Vajrasattva, Tara và những Hóa Thần Bổn Tôn Gốc. Những hộ pháp nguyện phụng sự ngài và đáp ứng những mong muốn của ngài. Với những hóa thần bổn tôn của Tám Đại Mạn Đà La, ngài có thể giao tiếp như giữa người với người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thỉnh thoảng ngài thăm viếng Rigdzin Kumaradza và nhận những soi sáng về những giáo lý và về sự tu hành của ngài. Ngài làm hài lòng thầy mình bằng những đồ cúng dường là sự thực hành Pháp ; những chứng ngộ về cái thấy tiến bộ trong thiền định, và trí huệ biết tất cả những chủ đề có thể biết. Ngài cũng cúng dường mọi tài sản vật chất của ngài bảy lần. Ngài tự tả những chứng đắc của ngài trong Lịch sử của Lama Yangtig :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không còn nữa sự tham luyến sanh tử trong tôi. Tôi đã giải thoát khỏi chuỗi những hy vọng và lo sợ. Tôi luôn luôn ở trong cái thấy và sự tham thiền Đại Toàn Thiện Tuyệt đối.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi ngài cầu nguyện và cúng dường cho tượng Chowo ở Lhasa, ngài thấy một ánh sáng vọt ra từ trán của bức tượng và tan vào trong trán ngài. Việc đó khiến cho ngài nhớ lại những đời trước của ngài là một học giả ở núi Linh Thứu ở Ấn Độ và cũng ở xứ Li, và hiểu biết kinh điển của ngài từ những thời đó thức dậy. Nó làm rộng thêm cái học của ngài hơn nữa. Năm ba mươi mốt tuổi, ngài ban những quán đảnh và giáo huấn Nyingthig cho một số đệ tử lần đầu tiên ở Nyiphu Shugseb.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bấy giờ đệ tử Thiền giả Odzer Gocha cúng dường ngài những bản văn của Khadro Nyingthig mà ông tìm ra sau một cuộc tìm kiếm rất vất vả. Cùng lúc đó, nữ hộ pháp Shenpa Sog-drubna cũng đưa cho ngài một bản in của bản văn đó, nó có ý nghĩa quan trọng. Khadro Nyingthig là những giáo lý Nyingthig được truyền ở Tây Tạng bởi Guru Padmasambhava cho Lhacham Pemasal (thế kỷ 9) và rồi được cất dấu như một Terma và được khám phá từ một ngọn núi ở thung lũng Danglung Thramo bởi Pema Ledreltsal, tái sanh mới vừa đời trước của Longchen Rabjam.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm sau, ba mươi hai tuổi, ngài ban cho tám đệ tử may mắn những quán đảnh truyền pháp và giáo lý giữa những biểu lộ, thị kiến và kinh nghiệm kỳ diệu ở Chimphu Rimochen. Nữ hộ pháp Ekadzati cho những tiên tri qua một đệ tử nữ. Vừa nhảy múa, Longchen Rabjam hát bài ca kim cương :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hỡi những thiền giả, hoan hỷ và hạnh phúc biết bao!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đêm nay, trong cõi Phật không gì sánh,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong chính thân thể mỗi người, cung điện của những thần Bình an và Hung nộ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mạn đà la của chư Phật, tánh sáng tỏ và tánh không,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">đã khai triển.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phật không ở bên ngoài mà hiện hữu ở bên trong….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đấy là nhờ lòng tốt của Lama.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lama không ở ngoài mà trụ ở bên trong,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lama của sự thanh tịnh bổn nguyên và hiện diện tự nhiên</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trụ trong trạng thái của sáng tỏ và tánh không,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">thoát khỏi mọi nắm bắt….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hỡi những người tham thiền ! Tâm các vị có trụ một mình ?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ có giữ những tư tưởng của các người trong chính các người, mà hãy để cho chúng đi bất cứ nơi đâu theo ý chúng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vì tâm là tánh không, dù nó đi hay ở,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bất cứ cái gì khởi lên là trò chơi của trí huệ….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Do biết tiến trình của năm ánh sáng bên trong,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những ánh sáng bên ngoài của mặt trời mặt trăng khởi lên liên tục,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Do kết thúc những tư tưởng bên trong ngay tại gốc của chúng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những hoàn cảnh tốt xấu bên ngoài khởi lên như đại lạc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Do tăng cường những hạt tinh túy bên trong,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những đám mây Dakini bên ngoài luôn luôn nhóm tụ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Do giải thoát những nút thắt bên trong của những kinh mạch ánh sáng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những nút thắt bên ngoài của người nắm bắt và cái được nắm bắt được giải thoát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôi đi đến trạng thái của sáng tỏ và đại lạc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hỡi các anh chị em kim cương, đây là hạnh phúc và hoan hỷ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong những thị kiến Guru Padmasambhava ban cho sự trao truyền Khadro Nyingthig. Ngài ban cho Longchen Rabjam pháp danh Trimed Odzer và Yeshe Tshogyal ban cho pháp danh Dorje Zijid.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Chugpotrag, gần D’oi Choten của Zurkhardo, sau khi cử hành một lễ cúng Tshog, ngài khai thị những giáo lý Khadro Nyingthig. Đêm đó, ngài kinh nghiệm trạng thái thiền sáng tỏ an trụ trong trạng thái thanh tịnh bổn nguyên, Pháp thân, biểu lộ năng lực của Pháp thân là Báo thân, và phóng sự sáng tỏ của nó ra bên ngoài, tức là Hóa thân, bấy giờ ngài khám phá ra và ghi lại Khadro Yangtig như là Kho Tàng Pháp từ Tâm (dGongs-gTer), những bản văn bí truyền phụ vào Khadro Nyingthig.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi đang viết Khadro Yangtig, ngài có những thị kiến về Guru Padmasambhava, Yeshe Tshogyal và Yudronma. Đặc biệt, Yeshe Tshogyal, phối ngẫu của Guru Padmasambhava đã hiện diện trong bảy ngày, ban cho những nhập môn và sự trao truyền ủy thác từ tâm (gTad-zGya) về những dấu hiệu, ý nghĩa và những thí dụ của Khadro Nyingthjg. Dù ngài khám phá hạt giống của bản văn này ở Chimphu, ngài thực sự ghi lại nó ở Kangri Thodkar, và như thế lời kết từ nói rằng ngài viết nó ở Kangri Thodkar. Dù ngài là hiện thân của Pema Ledreltsal, người khám phá Khadro Nyingthig và ngài cũng nhận những trao truyền từ Guru Pamasambhava và Yeshe Tshogyal ngay trong đời này, ngài đã nhận sự trao truyền từ Sho’i Gyaltse Legpa (1290-1366), đệ tử trực tiếp của Pema Ledreltsal, để đặt một gương mẫu cho những người theo học đời sau về sự quan trọng của việc nhận những trao truyền thích đáng. Có những Kho Tàng Pháp từ Đất dành cho ngài khám phá nhưng ngài từ chối, nói rằng, “Tôi đang mở cánh cửa Kho Tàng Pháp của sự sáng tỏ bên trong, không cần Kho Tàng Pháp từ những vết nứt của núi đá.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi ngài đến Ogyen Dzong Odzer Trinkyi Kyedmo’i Tshal ở Kangri Thodkar (Thành Oddiyana trong Động Mây Sáng Chói tại Núi Đỉnh Tuyết Phủ), và chỗ ẩn tu này trở thành nơi ở chính của ngài. Ở đây ngài khám phá và tạo hầu hết những Terma và tác phẩm nổi tiếng của ngài, gồm khoảng hai trăm bảy mươi luận văn. Nhưng không may, nhiều tác phẩm của ngài đã mất. Longchen Rabjam tả Kangri Thodkar bằng những lời sau đây :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nó nằm ở đông bắc chùa Trashi Gephel của Onkyangdo. Có vẻ quả núi này được trang hoàng bằng một cái bờm tuyết và trắng như màu trăng vào thời trước. Nhưng với thời gian, đỉnh của nó bây giờ trang hoàng với đá và khuôn mặt nó phủ cỏ thuốc và những khe nước sạch. Hương thơm dịu dàng của hoa và cỏ thuốc tỏa ra. Trên phía nam núi, giữa một rừng cây là Ogyen Dzong (Thành Oddyana), hang động của những hiền nhân đã được Guru Padma ban phước, vươn ra như cổ một con công.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Theo yêu cầu của thiền giả Odzer Gocha, ngài viết lại năm mươi lăm luận văn của Khadro Yangtig, những bản văn bổ sung cho Khadro Nyingthig, như những Kho Tàng Pháp từ Tâm. Khi những bản văn được viết lại, bầu trời thường trực đầy những ánh sáng cầu vồng, và những phô bày huyền thật kỳ diệu của những Dakini có thể được mọi người hiện diện nhìn thấy. Longchen Rabjam thấy Vimalamitra trong những thị kiến thanh tịnh và nhận những ban phước, trao truyền và tiên tri. Do Vimalamitra cảm ứng, ngài viết Lama Yangtig trong ba mươi lăm luận văn, như là một bản văn hỗ trợ cho Vima Nyingthig. Ngài cũng viết Zabmo Yangtig, một bình giảng về cả hai Nyingthig. Những đức Phật, bổn tôn, vị thầy và những hộ pháp, cũng như các hóa thần bổn tôn An bình và Hung nộ, những Bổn tôn của Tám Đại Mạn Đà La, Guru Padmasambhava và Vimalamitra xuất hiện đều đặn trước ngài, ban cho những ban phước, và truyền cảm hứng cho ngài viết những bản văn rất mật truyền này. Trong nhiều lúc, những đệ tử của ngài thấy những hộ pháp trong phòng ngài. Ekajati, Vajrasadhu và Rahula thường sửa soạn giấy và mực cho ngài viết.</span></p>
<ol style="text-align: justify;">
<li><b> Dzodchen Dun, Bảy Đại Kho Tàng :</b></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Yidzhin Rinpoche’i Dzod, hai mươi hai chương, và tự bình giảng, Pema Karpo, với những luận văn kết hợp. Một tổng quan về toàn bộ giáo lý Đại thừa Phật giáo, soi sáng những đường lối nghiên cứu, phân tích và tu hành trong Đại thừa và Kim Cương thừa.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Mengag Rinpoche’i Dzod. Một luận văn dùng những bộ khác nhau của sáu bộ phận cấu thành để tổng lược những kinh và tantra Phật giáo, đặc biệt tinh túy của con đường và quả của Đại Toàn Thiện trong tính toàn thể của chúng trong hình thức những giáo huấn đạo đức, triết học và thiền định.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Choying Rinpoche’i Dzod, mười ba chương với tự bình giảng, Lungki Terdzod. Một giải thích những giáo lý sâu xa và rộng lớn về nền tảng, con đường và quả của ba phạm trù chính của Đại Toàn Thiện, gọi là Semde, Longde và Mengagde, đặc biệt là Longde.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Trubtha Dzod trong tám chương. Một giải thích nhiều quan điểm triết học của mọi thừa kinh và tantra Phật giáo.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Thegchog Dzod trong hai mươi lăm chương. Bình giảng ý nghĩa về Mười Bảy Tantra và Một Trăm Mười Chín Luận Văn Giáo Huấn của Mengagde. Nó trình bày một dải rộng giáo lý Phật giáo từ sự biểu lộ của vị thầy tuyệt đối, Ba Thân, đến sự hoàn thành quả cuối cùng tự nhiên thành tựu của thực hành con đường Đại Toàn Thiện, bao gồm Thodgal (Tiếp Cận Trực Tiếp). Có nói bản văn này được viết để đáp ứng cho những nguyện vọng của Rigdzin Kumaradza vào lúc chết của ngài.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Tshigton Dzod trong mười một chương. Một tổng lược của Thegchod Dzod giải thích những điểm quan yếu của thực hành. Nó bắt đầu với một diễn tả cái nền tảng và kết thúc với quả, trạng thái giải thoát tối hậu.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Nelug Dzod trong năm chương với tự bình giảng. Nó giải thích nghĩa tối hậu của tất cả ba phần của Đại Toàn Thiện.</span></li>
<li><b> Ngalso Korsum, Ba Chu Trình về Thư Giãn</b><span style="font-weight: 400;">. Ngalso Korsum gồm bản văn gốc, ba tổng lược, gọi là “vòng hoa”, ba tự bình giảng, gọi là “cỗ xe”, và ba “bình giảng ý nghĩa” hay Những giáo huấn về Thực hành, toàn bộ mười lăm luận văn :</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Semnyid Ngalso, bản văn gốc trong mười ba chương, tổng lược của nó, Kunda’i Thengwa (đã mất) ; một tự bình giảng về bản văn gốc, Ngeton Shingta Chenmo, một tổng lược của tự bình giảng, Pema Karpo’i Threngwa, và giáo huấn về thực hành, Changchub Lamzang. Semnyid Ngalso giải thích mọi giai đoạn của con đường, sự bắt đầu, chặng giữa và kết thúc của những giáo lý kinh và tantra.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Gyuma Ngalso, bản văn gốc trong tám chương ; tổng lược của nó, Mandara’i Phrengwa ; tự bình giảng, Shingta Zangpo ; và giáo huấn về thực hành, Yidzhin Norbu. Bản văn này là một giáo huấn về đoạn dứt những trói buộc với những hiện hữu hiện tượng bằng những giáo lý về tám thí dụ như huyễn.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Samten Ngalso, bản văn gốc trong ba chương ; tổng lược của nó, Pundarik’i Threngwa, tự bình giảng của nó, Shingta Namdag ; và giáo huấn về thực hành, Nyingpo Chuddu. Bản văn là một giáo huấn về con đường sâu xa của nhập định, trí huệ tự nhiên tự hữu. có hai bản văn phụ thêm, một tổng lược của Ngalso Korsum có tựa đề Legshed Gyalso và một bản mục lục tên là Pema Tongden. Ba tự bình giảng về Ngalso Korsum cũng được biết với tên là Shinga Namsum, Ba Cỗ Xe.</span></li>
<li><b> Rangtrol Korsum, Ba Chu Trình cho Giải Thoát Tự Nhiên.</b><span style="font-weight: 400;"> Chúng là những “bình giảng ý nghĩa” về những giáo huấn phần Semde của Đại Toàn Thiện.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Semnyid Rantrol, Tâm Giải Thoát Tự Nhiên trong ba chương và một bình giảng ý nghĩa hay giáo huấn về thực hành có tựa đề Lamrim Nyingpo (Những bản dịch của hai bản văn này gồm trong sách này).</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Chonyid Rangtrol trong ba chương, và một giáo huấn về thực hành có tựa đề Rinchen Nyingpo.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Nyamnyid Rangtrol trong ba chương, và một giáo huấn về thực hành có tựa đề Yidzhin Nyingpo.</span></li>
<li><b> Yangtig Namsum, Ba Tinh Túy Bên Trong.</b><span style="font-weight: 400;"> Nó chứa đựng những điểm quan yếu của những giáo lý bí truyền Mengagde, cái cao nhất của ba phần của Đại Toàn Thiện. Trong những bản văn này nhấn mạnh đặc biệt vào tu hành Thodgal.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Lama Yangtig hay Yangzab Yidzhin Norbu gồm ba mươi lăm luận văn. Nó cô đọng và giải thích chủ đề bao la của Bốn Bộ Giáo Lý Bí Truyền của Vima Nyingthig và Một Trăm Mười Chín Luận Văn của Giáo Huấn của Mengagde của Đại Toàn Thiện. Bốn Bộ Giáo Lý Bí Truyền là Seryig Chen, Yuyig Chen, Dungyig Chen và Zang-yig Chen với Phrayig Chen.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Khadro Yangtig gồm năm mươi lăm luận văn. Trong đời trước của Longchen Rabjam như là Pema Ledreltsal, ngài có thẩm quyền về những bản văn của Khadro Ningthig. Trong đời này ngài nhận những trao truyền và chứng ngộ những giáo lý Khadro Nyingthig, và viết những bản văn tựa đề Khadro Yangtig về Khadro Nyingthig.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Zabmo Yangtig là bình giảng chi tiết và sâu xa nhất về cả hai Vima Nyingthig và Khadro Nyingthig.</span></li>
<li><b> Munsel Korsum, Ba Chu Trình về Xua Tan Bóng Tối.</b><span style="font-weight: 400;"> Ba bản văn này là những bình giảng về Guhyamayajala-tantra theo những quan điểm của Nyingthig.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Chidon Yidkyi Munsel,</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Dudon Marig Munsel,</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Drelwa Chogchu Munsel.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài đã đạt sự Toàn Thiện của Tánh Giác Bổn Nhiên qua con đường bí mật của Tiếp Cận Trực Tiếp (Thod-rGal), trạng thái toàn thiện tự nhiên của tánh sáng tỏ của Đại Toàn Thiện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm bốn mươi hai tuổi, hợp đúng với một số tiên tri được Vimalamitra ban cho trong một thị kiến thanh tịnh, ngài trùng tu chùa Zha Pema Wangchen ở Drada trong vùng Wuru. Ngôi chùa này được xây vào thế kỷ thứ chín bởi Nyang Tingdzin Zangpo theo lệnh của vua Thrisong Deutsen để bảo vệ khỏi những cuộc xâm lăng của “những ngoại đạo” nước ngoài. Ngài cũng nhận ra chùa này như ngôi chùa đã được tiên tri trong Langri Lungten trong Kajur, “sự hiện diện thiêng liêng của xứ Zhva.” Ngài khám phá đủ vàng để chứa đầy một Gutse (một bình chứa dành cho nghi lễ) ở Samye, và với nó ngài có tiền để trùng tu. Mỗi ngày một cậu bé với bông đeo tai lam ngọc giúp nhóm xây dựng, nhưng đến bữa ăn thì không thấy. Nhóm người làm nghi ngờ và để ý trông chừng nó. Khi họ ngừng công việc họ thấy nó biến mất vào bức tường và họ nói lại với ngài. Ngài bảo đó là Vajrasadhu đến giúp họ. Khi họ đào, nhiều ma quỷ và lực lượng xấu thoát lên mặt đất và bay xung quanh với một cơn mưa đất đá. Mọi người chạy thục mạng. Với năng lực thiền định, ngài nhảy múa với những cử chỉ hung nộ, thốt lên những thần chú bằng tiếng Sanskrit. Ngài tập trung chúng trở lại và chôn chúng trước cặp mắt những người hiện diện. Lúc đó nhiều người thấy ngài trong hình tướng Guru Padmasambhava Hung Nộ. Một lần khi những người làm không thể dựng đứng hai trụ đá, ngài rung động áo dài và thốt lên những lời-của-sự thật (tạ ơn), và tức khắc họ có thể dựng chúng. Vào ngày lễ hoàn thành, nhiều người thấy ngài hiện thành nhiều hình tướng như Phổ Hiền, và nhiều Phật và Bồ tát xuất hiện trên trời và mưa xuống những hoa ban phước. Phật Maitreya (Di Lạc), chỉ vào ngài, cho lời tiên tri : “Sau hai đời nữa, con sẽ thành Phật có danh hiệu là Rirab Marme’i Gyalt-shen trong cõi Phật có tên là Pema Tsegpa.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam là một ẩn sĩ, và ngài từ chối có tổ chức hành chánh. Nhưng bởi vì sự uyên bác và bản chất hiền thánh của ngài, hàng ngàn tín đồ gồm những học giả, thiền giả, và người thường liên tục tụ tập chung quanh ngài. Những học giả vĩ đại nhất và những quan chức chính quyền cao nhất của thời đó được ngài gây cảm hứng. Do sự quan tâm thuần túy tâm linh của họ, họ kính trọng ngài không bao giờ bởi vì cơ cấu hành chánh hay vì uy tín xã hội, chính trị nào.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Gompa Kunrig xứ Drigung trở thành đệ tử của ngài và Longchen Rabjam, hoàn thành một lời tiên tri của Guru Padma-sambhava, đã kéo ông ra khỏi con đường chiến tranh. Trong tiên tri của Guru Padmasambhava có nói :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong nơi có tên là Dri</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một đứa con của quỷ gọi là Kunga sẽ đến.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trên thân nó sẽ được đánh dấu bằng một cây kiếm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau khi chết nó sẽ xuống địa ngục.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tuy nhiên, nếu một lưu xuất của Văn Thù từ phương nam (Tây Tạng)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có thể hàng phục nó,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nó sẽ thoát khỏi tái sanh vào địa ngục.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Kunrig tự xem mình là đối tượng của lời tiên tri vì ông có dấu tích một cây kiếm trên lưng và đang hoạch định chiến tranh ở tỉnh Wu và Tsang của Tây Tạng. Ông chỉ định một Lama tên là Palchigpa đi tìm xuất thân của Văn Thù. Vào thời đó ở miền Trung Tây Tạng không có ai bác học hơn Longchen Rabjam. Thế nên, sau khi tìm kiếm, vị Lama tin rằng Longchen Rabjam là thân lưu xuất của Văn Thù. Kunrig nhận nhiều giáo lý từ ngài, và đã cúng dường ngài một tu viện tên là Trog Ogyen. Drikung Kunrig là đối thủ thế lực nhất với Tai Situ của Phagtru, vị cai trị Tây Tạng, nên Longchen Rabjam đã thực sự ngăn chặn một cuộc chiến tranh nghiêm trọng ở Tây Tạng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Tidro ngài làm những lễ cúng Tshog một thời gian dài. Ngài kéo lên ngọn cờ chiến thắng trên một ngọn núi không ai có thể tới, và tâm hồn nhiều người đã thức tỉnh với Pháp. Trên đường đến Lhasa, ngài bị bao quanh bởi một lực lượng những người thù địch từ Yarlung, họ định giết ngài vì nghĩ rằng ngài là thầy của Drigung Kunrig. Nhưng do năng lực giác ngộ, ngài trở nên vô hình với họ. Ở Jokhang trước Jowo, ngài có nhiều thị kiến về chư Phật và nhận những ban phước. Khi đến Shugseb, qua sự biết trước của mình, ngài biết chiến tranh sẽ xảy ra năm Hợi Thổ (1359). Thế nên ngài đến Mon (Bhutan). Ngài ban cho những giáo lý ở Bumthang và Ngalong, nhờ đó thắp lên ánh sáng của Pháp ở đó, và ngài đặt những hạn chế về săn bắn và đánh cá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Bumthang ngài xây một tu viện ẩn cư, đặt tên cho nó là Tharpaling, Đất Giải Thoát, bởi vì có khoảng một trăm ngàn người tụ họp để nghe ngài dạy Pháp, mong muốn được giải thoát. Ngài được mời đến Lhotrag. Ở Layag Lhalung và Manthang, ngài ban những giáo lý Nyingthig cho khoảng một ngàn đệ tử chủ yếu là những nhà sư. Ngài được Lama Dampa Sodnam Gyalt-shen phái Sakya và Tragzang của Nyephu tôn kính vì những trả lời uyên bác cho những câu hỏi của họ, xóa tan những nghi nan về nhiều điểm quan yếu trong những quan điểm triết học và tu hành thiền định. Tai Situ Changchub Gyaltshen của Phagtru người trở thành cai trị của Tây Tạng năm 1349, ban đầu ghét Longchen Rabjam vì ngài là thầy của Drigung Kunrig, kẻ thù chủ yếu của ông. Về sau, khi ông nhận ra sự vĩ đại của cái học và bản chất Bồ tát của ngài, ông đã đặt bàn chân sen của Longchen Rabjam lên đỉnh đầu mình như một viên ngọc quý. Theo yêu cầu của Tai Situ, ngài ban cho ông và khoảng hai ngàn tín đồ những giáo lý Tinh Túy Tối Thâm (Yang-gSang Bla-Med). Nhiều lãnh tụ thời đó như Dorje Gyaltshen của Yardrog và Situ Sakya Zangpo của Wurtod, trở thành tín đồ của ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Lhasa ngài đã được tiếp rước bởi một đám rước gồm nhiều vị sư. Từ một cái ngai đặt giữa Lhasa và Ramoche, ngài ban giới nguyện Bồ đề tâm và những giáo lý khác cho đám đông. Ngài đã thuần hóa nhiều học giả kiêu căng bằng lý luận khúc chiết và đưa họ vào niềm tin chân thật vào Pháp. Nhờ vậy ngài được biết một cách công khai như là Kunkhyen Choje, Bậc Toàn Giác của Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Nyephu Shugseb ngài ban những giáo lý Đại Toàn Thiện cho một chúng hội hơn một ngàn tín đồ. Trong những vùng đồi đá gần tu viện Trog Ogyen, ngài ban những quán đảnh và giáo lý Tánh Sáng Tỏ của Tinh Túy Kim Cương cho khoảng ba ngàn người gồm bốn mươi vị thầy. Vào lúc chấm dứt những giáo lý họ làm một lễ Tiệc Cúng Dường (Tshog) và ngài nói với họ :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lễ Tiệc Cúng Dường này là cái cuối cùng chúng ta cử hành chung với nhau. Các ông cần từ bỏ những hành động thế gian và nắm lấy tinh túy tối hậu (của đời sống) bằng con đường sâu xa của tu hành Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi ngài đến chùa Zha, và vào lúc thuyết pháp cho quần chúng, những sự kỳ diệu xảy ra như có một cơn mưa hoa rơi xuống từ bầu trời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào năm năm mươi sáu tuổi, trong năm Con Thỏ Thủy của Rabjung thứ sáu (1363) giữa buổi ban pháp, ngài nói Gyalse Zodpa đem giấy, mực đến. Trong sự buồn rầu cùng độ của những đệ tử, ngài viết di chúc tâm linh của mình, có tên là Trima Medpa’i Od, Tánh Sáng Rỡ Vô Nhiễm. Đây là vài dòng từ di chúc ấy :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chừng nào chúng ta biết bản tánh của sanh tử,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thì những sở hữu thế gian không có tự tánh ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên giờ đây ta sắp bỏ thân vô thường</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">huyễn hóa này và</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ta sẽ nói cho các con cái gì độc nhất là tốt đẹp cho các con. Hãy nghe ta….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hôm nay, ta được cảm hứng bởi</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khuôn Mặt của bậc Pema bi mẫn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự vui sướng của ta với cái chết thì lớn hơn rất nhiều</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự vui sướng của những thương gia làm ra tài sản khi</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">đi biển,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Của những vua chư thiên khi tuyên bố thắng trận ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và của những bậc thánh đã hoàn thành nhập định.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và khi thời đã đến, những người du hành đi trên</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">con đường của họ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bây giờ Pema Ledreltsal sẽ không ở lại đây lâu nữa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mà sẽ đến ở trong trạng thái an toàn, phúc lạc và bất tử….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bây giờ chúng ta sẽ không có sự liên kết nào thêm trong đời này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ta là một người ăn xin sắp chết như nó muốn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ cảm thấy buồn mà hãy luôn luôn cầu nguyện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi ngài đến rừng ở Chimphu bằng con đường Gyama và Samye. Ngài nói : “(Năng lực tâm linh của) Chimphu tương đương với nghĩa địa Sitavan ở Ấn Độ. Chết ở nơi này tốt hơn một sự tái sanh ở những nơi khác. Ta sắp bỏ thân thể cũ rách của ta ở đây.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi ngài hiện tướng bệnh tật của thân. Nhưng ngài vẫn giữ việc thuyết pháp cho đám đông người tụ họp ở đó để nhận Pháp. Khi những đệ tử xin ngài nghỉ ngơi, ngài bảo : “Ta muốn hoàn thành việc thuyết pháp.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào ngày mười sáu tháng thứ mười hai của năm đó, ngài cử hành những cúng dường tỉ mỉ cho những Daka và Dakini. Bấy giờ ngài cho thời pháp công khai cuối cùng, nói rằng : “Các con cần hiến mình chỉ cho sự thực hành Pháp. Không có tinh túy nào trong những hiện tượng hợp tạo. Đặc biệt các con cần nhấn mạnh những thực hành Thregchod và Thodgal. Nếu các con gặp những khó khăn trong việc hiểu những thực hành, hãy đọc Yangtig Yidzhin Norbu ; nó giống như một viên ngọc như ý. Các con sẽ đạt đến niết bàn trong trạng thái Tan Biến mọi Hiện Tượng vào Bản Tánh Tối Hậu.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào ngày mười tám, ngài nói với vài đệ tử : “Hãy sắp xếp một lễ cúng dường và rồi tất cả các con hãy ra khỏi phòng.” Khi các đệ tử biểu lộ mong muốn được ở lại cạnh ngài, ngài nói : “Nào, ta sắp bỏ thân cũ rách huyễn hóa này. Chớ gây tiếng động, mà hãy ở yên trong thiền định.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi tâm thức ngài hòa tan vào trạng thái bổn nguyên và bỏ lại thân thể ngồi trong tư thế Pháp thân. Những người hiện diện chứng kiến mặt đất rung kên và những âm thanh ầm ầm, mà kinh điển diễn tả như những dấu hiệu của những chứng đắc cao. Họ để thân thể ngài trong hai mươi lăm ngày. Trong khoảng thời gian ấy những ánh sáng cầu vồng thường vòng qua bầu trời. Dầu trong tháng mười hai và tháng giêng, tháng lạnh nhất ở Tây Tạng, trái đất trở nên ấm, băng chảy và hoa hồng nở. Vào thời gian thiêu, trái đất rung ba lần và một tiếng trầm nghe được bảy lần. Những cái còn lại không thiêu cháy được là trái tim, lưỡi và mắt của ngài. Năm loại gDung và nhiều Ringsel có được từ xương là một dấu chỉ sự chứng đắc năm thân và năm trí huệ của Phật quả. Có nói rằng những Ringsel lớn tăng thành hàng trăm hàng ngàn. Một trong những hiện thân chính yếu của Long-chen Rabjam là đại Terton Pema Lingpa (1450-?) sinh tại Bhutan.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam là một trong những học giả và người kiệt xuất nhất và vĩ đại nhất của Tây Tạng. Nhưng hạnh kiểm hàng ngày của ngài thì giản dị, ‘rất người’ và tỉ mỉ. Ngài là tái sanh của những bậc chứng ngộ, tuy nhiên ngài bày tỏ cuộc sống của một cá nhân tầm thường sùng mộ những hoạt động nghiên cứu, tu hành và kỷ luật để hoàn thành mục đích của sự biểu lộ của ngài, đó là làm một tấm gương cho một người tu hành và một vị thầy của Pháp. Đây là một số trong nhiều đoạn gây cảm hứng và thích thú từ tiểu sử của ngài :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mọi thứ gì được cúng dường cho ngài từ niềm tin sẽ chỉ được dùng để phụng sự Pháp và không bao giờ cho chính ngài hay một mục tiêu thế gian nào khác. Ngài không cho phép bất kỳ vật gì đã hiến cho Pháp lại chuyển sai qua mục tiêu khác. Ngài không bao giờ bày tỏ sự tôn kính cho một người thường, dù vĩ đại hay quyền thế bao nhiêu, và nói : “Tôn kính phải được dành cho Tam Bảo mà không phải cho một người không đức hạnh.” Ngài không bao giờ cho một chỗ ngồi hay tôn trọng người kiêu căng vì thế lực hay giàu có. Khi phân phát những đồ cúng dường cho các nhà sư, ngài bắt đầu từ hàng chót, nói rằng “Chúng ta cần cẩn thận không bỏ sót người ở cuối, người ở hàng đầu dầu sao cũng có những đồ cúng dường.” Theo kinh điển, nếu một người bình thường nhận và chấp nhận sự tôn kính từ một người tâm linh cao cấp, nhiều công đức của người ấy bị thiêu cháy vì việc đó. Dù những đồ cúng dường cho ngài có lớn lao đến đâu, ngài nói những lời cầu nguyện hồi hướng mà không bao giờ biểu lộ sự biết ơn, và ngài nói, “Những thí chủ nên có cơ hội để tạo công đức.” Thế nên những thí chủ sẽ nhận được công đức thay vì những biểu lộ biết ơn vì những đồ cúng dường của họ. Vì ngài xa lìa những hy vọng và lo sợ của thành tựu thế gian, ngài sống đời mình trong những chốn ẩn cư và từ chối thiết lập hay sống trong bất kỳ chỗ ở nào, nói rằng, “Nếu tôi cố gắng, tôi có thể xây dựng một tu viện, nhưng làm thế chỉ tạo ra những phóng dật. Thế nên tốt hơn là tập trung vào việc điều ngự tâm thức (của người).”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài tuân thủ những lễ cúng của hai ngày thứ mười (của trăng tròn và khuyết, tức là ngày 10 và 25 âm lịch) và ngày mồng 8 mỗi tháng. Ngài từ ái bao la với người nghèo và kém may mắn, và ngài thường rất thích thú thức ăn do người nghèo cúng dường, dầu cho đó có thể có phẩm chất khủng khiếp, và rồi ngài nói một số lời cầu nguyện cho họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Điều này đưa người ta đến một nhận xét rất thú vị từ quan điểm xã hội, một người bình thường có thể nghĩ rằng Longchen Rabjam từ ái bao la với người nghèo, nỗ lực của ngài phải là đem mọi sự vật ngài có cho người nghèo. Trong nhiều trường hợp ngài hẳn phải làm như thế. Nhưng trong các tiểu sử không có đề cập nào về một đường lối xử thế như vậy cả. Bất luận thế nào, có một quan điểm tâm linh đàng sau sự việc ấy. Hầu hết sự vật mà ngài có thể có, ngài không bao giờ giữ mà chuyển cho những mục tiêu tôn giáo, đó đều là những “tặng phẩm của lòng tin” do các tín đồ, và chúng được hướng đến những mục tiêu tôn giáo. Một vật phẩm của lòng tin phải được tiêu dùng cho một mục tiêu tôn giáo, cho sự phục vụ Phật, Pháp, hay Tăng, và không cho những mục tiêu thế gian hay cho sự hưởng thụ của người thế tục. Nếu một vật phẩm của lòng tin được người thế tục hưởng thụ thay vì được dùng cho những mục tiêu tôn giáo, người thế tục sẽ tạo ra nghiệp mất công đức, điều đó sẽ tạo ra khó khăn trong tương lai. Từ quan điểm của Pháp, bằng cách nhận những đồ cúng dường của người nghèo khổ, ngài cho họ một cơ hội để tạo những công đức, đó là nguyên nhân cho hạnh phúc tương lai. Thế nên ngài thật sự ban ân cho người nghèo bằng cách cung cấp chính mình như một phương tiện cho họ để làm ra công đức, mặc dù ngài có thể có những bữa ăn tốt trong những gia đình giàu có nhất. Đó là lý do tại sao những người viết tiểu sử đặc biệt nói về việc ngài thọ hưởng thực phẩm của người nghèo để nêu lên lòng tốt của ngài với họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong Lịch sử của Lama Yangtig Longchen Rabjam khuyên những người theo ngài bằng những lời giản dị :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Các người theo ta trong tương lai ! Hãy bỏ lại những hoạt động thế gian của cuộc đời này. Hãy bắt đầu những chuẩn bị cho những đời tới. Hãy nương dựa vào một vị thầy đức hạnh toàn hảo. Hãy nhận lãnh những giáo huấn về tinh túy của tánh sáng tỏ. Hãy thực hành những giáo lý bí mật của Nying-thig trong vắng vẻ. (Hãy đạt đến quả của) sự siêu vượt khỏi (những khác biệt của) sanh tử và niết bàn ngay trong đời này. Nếu các người nhận được lời tiên tri nào, hãy hiến mình cho sự phụng sự những người khác hết mức của mình. Hãy truyền bá những giáo lý trong khi nhẫn chịu sự vô ơn và khó nhọc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một trong những tính cách nổi bật nhất trong những lời chỉ dạy của Longchen Rabjam là sự nhấn mạnh của ngài vào sự hòa điệu với tự nhiên : sự bao la và vẻ đẹp an bình của tự nhiên bên ngoài là chỗ nương tựa và sự bao la và tỉnh giác an bình của bản tánh giác ngộ bên trong là mục tiêu. Bằng cách nhìn thấy sự an bình không nhiễu loạn, sự sáng tỏ không nhiễm ô và sự đơn giản không rối rắm của tự nhiên bên ngoài như nó vốn là và bằng cách nương dựa vào chúng, người ta có được cảm hứng để sự chứng ngộ trạng thái tự nhiên bên trong hiện bày. Ngài cảm kích, hân thưởng bản tánh của những hiện tượng bên ngoài và thấy những đức hạnh của chúng. Ngài nhấn mạnh rằng đối với một người mới học, những hiện tượng tích cực bên ngoài là một căn cứ quan trọng để phát sanh tiến bộ thiền định.</span></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><b>Các công trình chính yếu của Đạo sư Longchenpa</b></p>
<ol style="text-align: justify;">
<li><b> Dzodchen Dun, Bảy Đại Kho Tàng :</b></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Yidzhin Rinpoche’i Dzod, hai mươi hai chương, và tự bình giảng, Pema Karpo, với những luận văn kết hợp. Một tổng quan về toàn bộ giáo lý Đại thừa Phật giáo, soi sáng những đường lối nghiên cứu, phân tích và tu hành trong Đại thừa và Kim Cương thừa.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Mengag Rinpoche’i Dzod. Một luận văn dùng những bộ khác nhau của sáu bộ phận cấu thành để tổng lược những kinh và tantra Phật giáo, đặc biệt tinh túy của con đường và quả của Đại Toàn Thiện trong tính toàn thể của chúng trong hình thức những giáo huấn đạo đức, triết học và thiền định.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Choying Rinpoche’i Dzod, mười ba chương với tự bình giảng, Lungki Terdzod. Một giải thích những giáo lý sâu xa và rộng lớn về nền tảng, con đường và quả của ba phạm trù chính của Đại Toàn Thiện, gọi là Semde, Longde và Mengagde, đặc biệt là Longde.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Trubtha Dzod trong tám chương. Một giải thích nhiều quan điểm triết học của mọi thừa kinh và tantra Phật giáo.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Thegchog Dzod trong hai mươi lăm chương. Bình giảng ý nghĩa về Mười Bảy Tantra và Một Trăm Mười Chín Luận Văn Giáo Huấn của Mengagde. Nó trình bày một dải rộng giáo lý Phật giáo từ sự biểu lộ của vị thầy tuyệt đối, Ba Thân, đến sự hoàn thành quả cuối cùng tự nhiên thành tựu của thực hành con đường Đại Toàn Thiện, bao gồm Thodgal (Tiếp Cận Trực Tiếp). Có nói bản văn này được viết để đáp ứng cho những nguyện vọng của Rigdzin Kumaradza vào lúc chết của ngài.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Tshigton Dzod trong mười một chương. Một tổng lược của Thegchod Dzod giải thích những điểm quan yếu của thực hành. Nó bắt đầu với một diễn tả cái nền tảng và kết thúc với quả, trạng thái giải thoát tối hậu.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Nelug Dzod trong năm chương với tự bình giảng. Nó giải thích nghĩa tối hậu của tất cả ba phần của Đại Toàn Thiện.</span></li>
<li><b> Ngalso Korsum, Ba Chu Trình về Thư Giãn</b><span style="font-weight: 400;">. Ngalso Korsum gồm bản văn gốc, ba tổng lược, gọi là “vòng hoa”, ba tự bình giảng, gọi là “cỗ xe”, và ba “bình giảng ý nghĩa” hay Những giáo huấn về Thực hành, toàn bộ mười lăm luận văn :</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Semnyid Ngalso, bản văn gốc trong mười ba chương, tổng lược của nó, Kunda’i Thengwa (đã mất) ; một tự bình giảng về bản văn gốc, Ngeton Shingta Chenmo, một tổng lược của tự bình giảng, Pema Karpo’i Threngwa, và giáo huấn về thực hành, Changchub Lamzang. Semnyid Ngalso giải thích mọi giai đoạn của con đường, sự bắt đầu, chặng giữa và kết thúc của những giáo lý kinh và tantra.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Gyuma Ngalso, bản văn gốc trong tám chương ; tổng lược của nó, Mandara’i Phrengwa ; tự bình giảng, Shingta Zangpo ; và giáo huấn về thực hành, Yidzhin Norbu. Bản văn này là một giáo huấn về đoạn dứt những trói buộc với những hiện hữu hiện tượng bằng những giáo lý về tám thí dụ như huyễn.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Samten Ngalso, bản văn gốc trong ba chương ; tổng lược của nó, Pundarik’i Threngwa, tự bình giảng của nó, Shingta Namdag ; và giáo huấn về thực hành, Nyingpo Chuddu. Bản văn là một giáo huấn về con đường sâu xa của nhập định, trí huệ tự nhiên tự hữu. có hai bản văn phụ thêm, một tổng lược của Ngalso Korsum có tựa đề Legshed Gyalso và một bản mục lục tên là Pema Tongden. Ba tự bình giảng về Ngalso Korsum cũng được biết với tên là Shinga Namsum, Ba Cỗ Xe.</span></li>
<li><b> Rangtrol Korsum, Ba Chu Trình cho Giải Thoát Tự Nhiên.</b><span style="font-weight: 400;"> Chúng là những “bình giảng ý nghĩa” về những giáo huấn phần Semde của Đại Toàn Thiện.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Semnyid Rantrol, Tâm Giải Thoát Tự Nhiên trong ba chương và một bình giảng ý nghĩa hay giáo huấn về thực hành có tựa đề Lamrim Nyingpo (Những bản dịch của hai bản văn này gồm trong sách này).</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Chonyid Rangtrol trong ba chương, và một giáo huấn về thực hành có tựa đề Rinchen Nyingpo.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Nyamnyid Rangtrol trong ba chương, và một giáo huấn về thực hành có tựa đề Yidzhin Nyingpo.</span></li>
<li><b> Yangtig Namsum, Ba Tinh Túy Bên Trong.</b><span style="font-weight: 400;"> Nó chứa đựng những điểm quan yếu của những giáo lý bí truyền Mengagde, cái cao nhất của ba phần của Đại Toàn Thiện. Trong những bản văn này nhấn mạnh đặc biệt vào tu hành Thodgal.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Lama Yangtig hay Yangzab Yidzhin Norbu gồm ba mươi lăm luận văn. Nó cô đọng và giải thích chủ đề bao la của Bốn Bộ Giáo Lý Bí Truyền của Vima Nyingthig và Một Trăm Mười Chín Luận Văn của Giáo Huấn của Mengagde của Đại Toàn Thiện. Bốn Bộ Giáo Lý Bí Truyền là Seryig Chen, Yuyig Chen, Dungyig Chen và Zang-yig Chen với Phrayig Chen.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Khadro Yangtig gồm năm mươi lăm luận văn. Trong đời trước của Longchen Rabjam như là Pema Ledreltsal, ngài có thẩm quyền về những bản văn của Khadro Ningthig. Trong đời này ngài nhận những trao truyền và chứng ngộ những giáo lý Khadro Nyingthig, và viết những bản văn tựa đề Khadro Yangtig về Khadro Nyingthig.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Zabmo Yangtig là bình giảng chi tiết và sâu xa nhất về cả hai Vima Nyingthig và Khadro Nyingthig.</span></li>
<li><b> Munsel Korsum, Ba Chu Trình về Xua Tan Bóng Tối.</b><span style="font-weight: 400;"> Ba bản văn này là những bình giảng về Guhyamayajala-tantra theo những quan điểm của Nyingthig.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Chidon Yidkyi Munsel,</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Dudon Marig Munsel,</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Drelwa Chogchu Munsel.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài đã đạt sự Toàn Thiện của Tánh Giác Bổn Nhiên qua con đường bí mật của Tiếp Cận Trực Tiếp (Thod-rGal), trạng thái toàn thiện tự nhiên của tánh sáng tỏ của Đại Toàn Thiện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm bốn mươi hai tuổi, hợp đúng với một số tiên tri được Vimalamitra ban cho trong một thị kiến thanh tịnh, ngài trùng tu chùa Zha Pema Wangchen ở Drada trong vùng Wuru. Ngôi chùa này được xây vào thế kỷ thứ chín bởi Nyang Tingdzin Zangpo theo lệnh của vua Thrisong Deutsen để bảo vệ khỏi những cuộc xâm lăng của “những ngoại đạo” nước ngoài. Ngài cũng nhận ra chùa này như ngôi chùa đã được tiên tri trong Langri Lungten trong Kajur, “sự hiện diện thiêng liêng của xứ Zhva.” Ngài khám phá đủ vàng để chứa đầy một Gutse (một bình chứa dành cho nghi lễ) ở Samye, và với nó ngài có tiền để trùng tu. Mỗi ngày một cậu bé với bông đeo tai lam ngọc giúp nhóm xây dựng, nhưng đến bữa ăn thì không thấy. Nhóm người làm nghi ngờ và để ý trông chừng nó. Khi họ ngừng công việc họ thấy nó biến mất vào bức tường và họ nói lại với ngài. Ngài bảo đó là Vajrasadhu đến giúp họ. Khi họ đào, nhiều ma quỷ và lực lượng xấu thoát lên mặt đất và bay xung quanh với một cơn mưa đất đá. Mọi người chạy thục mạng. Với năng lực thiền định, ngài nhảy múa với những cử chỉ hung nộ, thốt lên những thần chú bằng tiếng Sanskrit. Ngài tập trung chúng trở lại và chôn chúng trước cặp mắt những người hiện diện. Lúc đó nhiều người thấy ngài trong hình tướng Guru Padmasambhava Hung Nộ. Một lần khi những người làm không thể dựng đứng hai trụ đá, ngài rung động áo dài và thốt lên những lời-của-sự thật (tạ ơn), và tức khắc họ có thể dựng chúng. Vào ngày lễ hoàn thành, nhiều người thấy ngài hiện thành nhiều hình tướng như Phổ Hiền, và nhiều Phật và Bồ tát xuất hiện trên trời và mưa xuống những hoa ban phước. Phật Maitreya (Di Lạc), chỉ vào ngài, cho lời tiên tri : “Sau hai đời nữa, con sẽ thành Phật có danh hiệu là Rirab Marme’i Gyalt-shen trong cõi Phật có tên là Pema Tsegpa.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam là một ẩn sĩ, và ngài từ chối có tổ chức hành chánh. Nhưng bởi vì sự uyên bác và bản chất hiền thánh của ngài, hàng ngàn tín đồ gồm những học giả, thiền giả, và người thường liên tục tụ tập chung quanh ngài. Những học giả vĩ đại nhất và những quan chức chính quyền cao nhất của thời đó được ngài gây cảm hứng. Do sự quan tâm thuần túy tâm linh của họ, họ kính trọng ngài không bao giờ bởi vì cơ cấu hành chánh hay vì uy tín xã hội, chính trị nào.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Gompa Kunrig xứ Drigung trở thành đệ tử của ngài và Longchen Rabjam, hoàn thành một lời tiên tri của Guru Padma-sambhava, đã kéo ông ra khỏi con đường chiến tranh. Trong tiên tri của Guru Padmasambhava có nói :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong nơi có tên là Dri</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một đứa con của quỷ gọi là Kunga sẽ đến.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trên thân nó sẽ được đánh dấu bằng một cây kiếm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau khi chết nó sẽ xuống địa ngục.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tuy nhiên, nếu một lưu xuất của Văn Thù từ phương nam (Tây Tạng)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có thể hàng phục nó,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nó sẽ thoát khỏi tái sanh vào địa ngục.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Kunrig tự xem mình là đối tượng của lời tiên tri vì ông có dấu tích một cây kiếm trên lưng và đang hoạch định chiến tranh ở tỉnh Wu và Tsang của Tây Tạng. Ông chỉ định một Lama tên là Palchigpa đi tìm xuất thân của Văn Thù. Vào thời đó ở miền Trung Tây Tạng không có ai bác học hơn Longchen Rabjam. Thế nên, sau khi tìm kiếm, vị Lama tin rằng Longchen Rabjam là thân lưu xuất của Văn Thù. Kunrig nhận nhiều giáo lý từ ngài, và đã cúng dường ngài một tu viện tên là Trog Ogyen. Drikung Kunrig là đối thủ thế lực nhất với Tai Situ của Phagtru, vị cai trị Tây Tạng, nên Longchen Rabjam đã thực sự ngăn chặn một cuộc chiến tranh nghiêm trọng ở Tây Tạng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Tidro ngài làm những lễ cúng Tshog một thời gian dài. Ngài kéo lên ngọn cờ chiến thắng trên một ngọn núi không ai có thể tới, và tâm hồn nhiều người đã thức tỉnh với Pháp. Trên đường đến Lhasa, ngài bị bao quanh bởi một lực lượng những người thù địch từ Yarlung, họ định giết ngài vì nghĩ rằng ngài là thầy của Drigung Kunrig. Nhưng do năng lực giác ngộ, ngài trở nên vô hình với họ. Ở Jokhang trước Jowo, ngài có nhiều thị kiến về chư Phật và nhận những ban phước. Khi đến Shugseb, qua sự biết trước của mình, ngài biết chiến tranh sẽ xảy ra năm Hợi Thổ (1359). Thế nên ngài đến Mon (Bhutan). Ngài ban cho những giáo lý ở Bumthang và Ngalong, nhờ đó thắp lên ánh sáng của Pháp ở đó, và ngài đặt những hạn chế về săn bắn và đánh cá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Bumthang ngài xây một tu viện ẩn cư, đặt tên cho nó là Tharpaling, Đất Giải Thoát, bởi vì có khoảng một trăm ngàn người tụ họp để nghe ngài dạy Pháp, mong muốn được giải thoát. Ngài được mời đến Lhotrag. Ở Layag Lhalung và Manthang, ngài ban những giáo lý Nyingthig cho khoảng một ngàn đệ tử chủ yếu là những nhà sư. Ngài được Lama Dampa Sodnam Gyalt-shen phái Sakya và Tragzang của Nyephu tôn kính vì những trả lời uyên bác cho những câu hỏi của họ, xóa tan những nghi nan về nhiều điểm quan yếu trong những quan điểm triết học và tu hành thiền định. Tai Situ Changchub Gyaltshen của Phagtru người trở thành cai trị của Tây Tạng năm 1349, ban đầu ghét Longchen Rabjam vì ngài là thầy của Drigung Kunrig, kẻ thù chủ yếu của ông. Về sau, khi ông nhận ra sự vĩ đại của cái học và bản chất Bồ tát của ngài, ông đã đặt bàn chân sen của Longchen Rabjam lên đỉnh đầu mình như một viên ngọc quý. Theo yêu cầu của Tai Situ, ngài ban cho ông và khoảng hai ngàn tín đồ những giáo lý Tinh Túy Tối Thâm (Yang-gSang Bla-Med). Nhiều lãnh tụ thời đó như Dorje Gyaltshen của Yardrog và Situ Sakya Zangpo của Wurtod, trở thành tín đồ của ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Lhasa ngài đã được tiếp rước bởi một đám rước gồm nhiều vị sư. Từ một cái ngai đặt giữa Lhasa và Ramoche, ngài ban giới nguyện Bồ đề tâm và những giáo lý khác cho đám đông. Ngài đã thuần hóa nhiều học giả kiêu căng bằng lý luận khúc chiết và đưa họ vào niềm tin chân thật vào Pháp. Nhờ vậy ngài được biết một cách công khai như là Kunkhyen Choje, Bậc Toàn Giác của Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Nyephu Shugseb ngài ban những giáo lý Đại Toàn Thiện cho một chúng hội hơn một ngàn tín đồ. Trong những vùng đồi đá gần tu viện Trog Ogyen, ngài ban những quán đảnh và giáo lý Tánh Sáng Tỏ của Tinh Túy Kim Cương cho khoảng ba ngàn người gồm bốn mươi vị thầy. Vào lúc chấm dứt những giáo lý họ làm một lễ Tiệc Cúng Dường (Tshog) và ngài nói với họ :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lễ Tiệc Cúng Dường này là cái cuối cùng chúng ta cử hành chung với nhau. Các ông cần từ bỏ những hành động thế gian và nắm lấy tinh túy tối hậu (của đời sống) bằng con đường sâu xa của tu hành Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi ngài đến chùa Zha, và vào lúc thuyết pháp cho quần chúng, những sự kỳ diệu xảy ra như có một cơn mưa hoa rơi xuống từ bầu trời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào năm năm mươi sáu tuổi, trong năm Con Thỏ Thủy của Rabjung thứ sáu (1363) giữa buổi ban pháp, ngài nói Gyalse Zodpa đem giấy, mực đến. Trong sự buồn rầu cùng độ của những đệ tử, ngài viết di chúc tâm linh của mình, có tên là Trima Medpa’i Od, Tánh Sáng Rỡ Vô Nhiễm. Đây là vài dòng từ di chúc ấy :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chừng nào chúng ta biết bản tánh của sanh tử,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thì những sở hữu thế gian không có tự tánh ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên giờ đây ta sắp bỏ thân vô thường</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">huyễn hóa này và</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ta sẽ nói cho các con cái gì độc nhất là tốt đẹp cho các con. Hãy nghe ta….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hôm nay, ta được cảm hứng bởi</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khuôn Mặt của bậc Pema bi mẫn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự vui sướng của ta với cái chết thì lớn hơn rất nhiều</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự vui sướng của những thương gia làm ra tài sản khi</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">đi biển,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Của những vua chư thiên khi tuyên bố thắng trận ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và của những bậc thánh đã hoàn thành nhập định.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và khi thời đã đến, những người du hành đi trên</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">con đường của họ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bây giờ Pema Ledreltsal sẽ không ở lại đây lâu nữa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mà sẽ đến ở trong trạng thái an toàn, phúc lạc và bất tử….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bây giờ chúng ta sẽ không có sự liên kết nào thêm trong đời này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ta là một người ăn xin sắp chết như nó muốn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ cảm thấy buồn mà hãy luôn luôn cầu nguyện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi ngài đến rừng ở Chimphu bằng con đường Gyama và Samye. Ngài nói : “(Năng lực tâm linh của) Chimphu tương đương với nghĩa địa Sitavan ở Ấn Độ. Chết ở nơi này tốt hơn một sự tái sanh ở những nơi khác. Ta sắp bỏ thân thể cũ rách của ta ở đây.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi ngài hiện tướng bệnh tật của thân. Nhưng ngài vẫn giữ việc thuyết pháp cho đám đông người tụ họp ở đó để nhận Pháp. Khi những đệ tử xin ngài nghỉ ngơi, ngài bảo : “Ta muốn hoàn thành việc thuyết pháp.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào ngày mười sáu tháng thứ mười hai của năm đó, ngài cử hành những cúng dường tỉ mỉ cho những Daka và Dakini. Bấy giờ ngài cho thời pháp công khai cuối cùng, nói rằng : “Các con cần hiến mình chỉ cho sự thực hành Pháp. Không có tinh túy nào trong những hiện tượng hợp tạo. Đặc biệt các con cần nhấn mạnh những thực hành Thregchod và Thodgal. Nếu các con gặp những khó khăn trong việc hiểu những thực hành, hãy đọc Yangtig Yidzhin Norbu; nó giống như một viên ngọc như ý. Các con sẽ đạt đến niết bàn trong trạng thái Tan Biến mọi Hiện Tượng vào Bản Tánh Tối Hậu.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào ngày mười tám, ngài nói với vài đệ tử: “Hãy sắp xếp một lễ cúng dường và rồi tất cả các con hãy ra khỏi phòng.” Khi các đệ tử biểu lộ mong muốn được ở lại cạnh ngài, ngài nói : “Nào, ta sắp bỏ thân cũ rách huyễn hóa này. Chớ gây tiếng động, mà hãy ở yên trong thiền định.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi tâm thức ngài hòa tan vào trạng thái bổn nguyên và bỏ lại thân thể ngồi trong tư thế Pháp thân. Những người hiện diện chứng kiến mặt đất rung kên và những âm thanh ầm ầm, mà kinh điển diễn tả như những dấu hiệu của những chứng đắc cao. Họ để thân thể ngài trong hai mươi lăm ngày. Trong khoảng thời gian ấy những ánh sáng cầu vồng thường vòng qua bầu trời. Dầu trong tháng mười hai và tháng giêng, tháng lạnh nhất ở Tây Tạng, trái đất trở nên ấm, băng chảy và hoa hồng nở. Vào thời gian thiêu, trái đất rung ba lần và một tiếng trầm nghe được bảy lần. Những cái còn lại không thiêu cháy được là trái tim, lưỡi và mắt của ngài. Năm loại gDung và nhiều Ringsel có được từ xương là một dấu chỉ sự chứng đắc năm thân và năm trí huệ của Phật quả. Có nói rằng những Ringsel lớn tăng thành hàng trăm hàng ngàn. Một trong những hiện thân chính yếu của Long-chen Rabjam là đại Terton Pema Lingpa (1450-?) sinh tại Bhutan.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam là một trong những học giả và người kiệt xuất nhất và vĩ đại nhất của Tây Tạng. Nhưng hạnh kiểm hàng ngày của ngài thì giản dị, ‘rất người’ và tỉ mỉ. Ngài là tái sanh của những bậc chứng ngộ, tuy nhiên ngài bày tỏ cuộc sống của một cá nhân tầm thường sùng mộ những hoạt động nghiên cứu, tu hành và kỷ luật để hoàn thành mục đích của sự biểu lộ của ngài, đó là làm một tấm gương cho một người tu hành và một vị thầy của Pháp. Đây là một số trong nhiều đoạn gây cảm hứng và thích thú từ tiểu sử của ngài :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mọi thứ gì được cúng dường cho ngài từ niềm tin sẽ chỉ được dùng để phụng sự Pháp và không bao giờ cho chính ngài hay một mục tiêu thế gian nào khác. Ngài không cho phép bất kỳ vật gì đã hiến cho Pháp lại chuyển sai qua mục tiêu khác. Ngài không bao giờ bày tỏ sự tôn kính cho một người thường, dù vĩ đại hay quyền thế bao nhiêu, và nói : “Tôn kính phải được dành cho Tam Bảo mà không phải cho một người không đức hạnh.” Ngài không bao giờ cho một chỗ ngồi hay tôn trọng người kiêu căng vì thế lực hay giàu có. Khi phân phát những đồ cúng dường cho các nhà sư, ngài bắt đầu từ hàng chót, nói rằng “Chúng ta cần cẩn thận không bỏ sót người ở cuối, người ở hàng đầu dầu sao cũng có những đồ cúng dường.” Theo kinh điển, nếu một người bình thường nhận và chấp nhận sự tôn kính từ một người tâm linh cao cấp, nhiều công đức của người ấy bị thiêu cháy vì việc đó. Dù những đồ cúng dường cho ngài có lớn lao đến đâu, ngài nói những lời cầu nguyện hồi hướng mà không bao giờ biểu lộ sự biết ơn, và ngài nói, “Những thí chủ nên có cơ hội để tạo công đức.” Thế nên những thí chủ sẽ nhận được công đức thay vì những biểu lộ biết ơn vì những đồ cúng dường của họ. Vì ngài xa lìa những hy vọng và lo sợ của thành tựu thế gian, ngài sống đời mình trong những chốn ẩn cư và từ chối thiết lập hay sống trong bất kỳ chỗ ở nào, nói rằng, “Nếu tôi cố gắng, tôi có thể xây dựng một tu viện, nhưng làm thế chỉ tạo ra những phóng dật. Thế nên tốt hơn là tập trung vào việc điều ngự tâm thức (của người).”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài tuân thủ những lễ cúng của hai ngày thứ mười (của trăng tròn và khuyết, tức là ngày 10 và 25 âm lịch) và ngày mồng 8 mỗi tháng. Ngài từ ái bao la với người nghèo và kém may mắn, và ngài thường rất thích thú thức ăn do người nghèo cúng dường, dầu cho đó có thể có phẩm chất khủng khiếp, và rồi ngài nói một số lời cầu nguyện cho họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Điều này đưa người ta đến một nhận xét rất thú vị từ quan điểm xã hội, một người bình thường có thể nghĩ rằng Longchen Rabjam từ ái bao la với người nghèo, nỗ lực của ngài phải là đem mọi sự vật ngài có cho người nghèo. Trong nhiều trường hợp ngài hẳn phải làm như thế. Nhưng trong các tiểu sử không có đề cập nào về một đường lối xử thế như vậy cả. Bất luận thế nào, có một quan điểm tâm linh đằng sau sự việc ấy. Hầu hết sự vật mà ngài có thể có, ngài không bao giờ giữ mà chuyển cho những mục tiêu tôn giáo, đó đều là những “tặng phẩm của lòng tin” do các tín đồ, và chúng được hướng đến những mục tiêu tôn giáo. Một vật phẩm của lòng tin phải được tiêu dùng cho một mục tiêu tôn giáo, cho sự phục vụ Phật, Pháp, hay Tăng, và không cho những mục tiêu thế gian hay cho sự hưởng thụ của người thế tục. Nếu một vật phẩm của lòng tin được người thế tục hưởng thụ thay vì được dùng cho những mục tiêu tôn giáo, người thế tục sẽ tạo ra nghiệp mất công đức, điều đó sẽ tạo ra khó khăn trong tương lai. Từ quan điểm của Pháp, bằng cách nhận những đồ cúng dường của người nghèo khổ, ngài cho họ một cơ hội để tạo những công đức, đó là nguyên nhân cho hạnh phúc tương lai. Thế nên ngài thật sự ban ân cho người nghèo bằng cách cung cấp chính mình như một phương tiện cho họ để làm ra công đức, mặc dù ngài có thể có những bữa ăn tốt trong những gia đình giàu có nhất. Đó là lý do tại sao những người viết tiểu sử đặc biệt nói về việc ngài thọ hưởng thực phẩm của người nghèo để nêu lên lòng tốt của ngài với họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong Lịch sử của Lama Yangtig Longchen Rabjam khuyên những người theo ngài bằng những lời giản dị :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Các người theo ta trong tương lai! Hãy bỏ lại những hoạt động thế gian của cuộc đời này. Hãy bắt đầu những chuẩn bị cho những đời tới. Hãy nương dựa vào một vị thầy đức hạnh toàn hảo. Hãy nhận lãnh những giáo huấn về tinh túy của tánh sáng tỏ. Hãy thực hành những giáo lý bí mật của Nying-thig trong vắng vẻ. (Hãy đạt đến quả của) sự siêu vượt khỏi (những khác biệt của) sanh tử và niết bàn ngay trong đời này. Nếu các người nhận được lời tiên tri nào, hãy hiến mình cho sự phụng sự những người khác hết mức của mình. Hãy truyền bá những giáo lý trong khi nhẫn chịu sự vô ơn và khó nhọc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một trong những tính cách nổi bật nhất trong những lời chỉ dạy của Longchen Rabjam là sự nhấn mạnh của ngài vào sự hòa điệu với tự nhiên : sự bao la và vẻ đẹp an bình của tự nhiên bên ngoài là chỗ nương tựa và sự bao la và tỉnh giác an bình của bản tánh giác ngộ bên trong là mục tiêu. Bằng cách nhìn thấy sự an bình không nhiễu loạn, sự sáng tỏ không nhiễm ô và sự đơn giản không rối rắm của tự nhiên bên ngoài như nó vốn là và bằng cách nương dựa vào chúng, người ta có được cảm hứng để sự chứng ngộ trạng thái tự nhiên bên trong hiện bày. Ngài cảm kích, hân thưởng bản tánh của những hiện tượng bên ngoài và thấy những đức hạnh của chúng. Ngài nhấn mạnh rằng đối với một người mới học, những hiện tượng tích cực bên ngoài là một căn cứ quan trọng để phát sanh tiến bộ thiền định.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Một số trích dẫn từ các tác phẩm của Ngài Longchenpa</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những trích dẫn sau từ những tác phẩm của ngài nói lên những quan điểm của ngài về tự nhiên bên ngoài và bên trong.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những hang động và những cánh đồng yêu thích trong rừng bình an</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trang hoàng với ngàn hoa khiêu vũ và những dòng suối âm vang</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những nơi đó, chúng ta có thể ngắm nhìn không lay động tâm thức mệt mỏi của chúng ta,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và ở lại đó để hoàn thành những mục đích của đời sống quý giá làm người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nơi đó, không gặp chúng sanh hoang dã nào,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đã làm bình lặng những phiền não nhiễm ô và hoàn thành bảy phẩm tính cao cả,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào lúc xả bỏ thân thể này,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mong rằng chúng ta đạt được đức vua của tâm thức, trạng thái bổn nguyên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tự nhiên bên ngoài lợi lạc cho sự tu hành tâm linh bên trong :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trên đỉnh đồi, trong rừng, trên một hòn đảo</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thích thú và hài hòa suốt bốn mùa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy tham thiền nhất tâm không xao lãng</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Về tánh sáng tỏ thoát khỏi mọi tạo tác ý niệm….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vì bên ngoài và bên trong là tương thuộc,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người ta cần sống trong một nơi chốn vui thích, đơn côi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những đỉnh núi, vì chúng mở rộng và làm trong sáng tâm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là những nơi rất tốt để xua tan hôn trầm và tốt lành cho sự tu hành giai đoạn phát sanh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những núi tuyết, vì chúng làm sạch sẽ tâm và làm trong sáng tham thiền,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là những nơi tốt cho tu hành quán chiếu, và sẽ có ít che chướng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những rừng cây, vì chúng làm ổn định tâm và khai triển sự an trụ của tham thiền,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là những chỗ tốt cho tu hành an định và tăng trưởng phúc lạc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những núi đá, vì chúng làm sanh khởi cảm giác hối lỗi và vô thường,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáng trong và uy lực, là những chỗ tốt để hoàn thành sự hợp nhất của quán chiếu và an định.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những bờ sông, vì chúng đã làm ngắn lại những tư tưởng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phát sanh sự khai triển của sự vượt khỏi sanh tử nhanh chóng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những nghĩa địa, vì chúng uy lực và khiến những chứng đắc đến nhanh,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là những chỗ tốt để tu hành cả hai giai đoạn phát triển và thành tựu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự lựa chọn những nơi chốn thiền định tùy thuộc vào sức mạnh và nhu cầu của cá nhân thiền giả :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những nơi chốn như thành thị, chợ phiên, nhà trống, cây đơn độc,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nơi người và loài chẳng phải người hay lui tới,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Làm phóng dật những người mới học và thành chướng ngại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nhưng đó là chỗ dựa tối cao cho thiền giả rất an ổn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vẻ đẹp và bình an của cô đơn làm phát sanh cảm hứng, niềm vui và sự an định trong tâm thức và đời sống. Longchen Rabjam truyền đạt những đức hạnh của cô đơn khi diễn tả sự an định của rừng trong Kể Lại Niềm Vui Trong Rừng :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong một khu rừng, tự nhiên có ít phóng dật và</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">tiêu khiển,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người ta xa khỏi mọi khổ đau của hiểm nguy và</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">bạo lực.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Niềm vui lớn hơn rất nhiều sự hoan hỷ của những thành thị cõi trời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy hưởng thụ thiên nhiên tĩnh lặng của rừng hôm nay.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hỡi tâm thức, hãy nghe những đức hạnh của rừng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những cây quý, vật cúng dường xứng đáng cho chư Phật,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trĩu đầy trái cây lớn dần rực rỡ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hoa nở và lá cây phát ra mùi hương dịu dàng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hương thơm đầy khắp không khí.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những dòng suối trên núi âm vang điệu nhạc mê hồn của trống.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự mát lạnh của mặt trăng xúc chạm mọi sự. Khoảng giữa cây cối</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phủ lấy áo mây dày.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bầu trời trang hoàng bằng muôn vàn tinh tú.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những đàn thiên nga bay quanh những hồ thơm ngát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chim và nai qua lại giữa an bình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những cây như ý, hoa sen và hoa loa kèn màu xanh</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đầy những con ong mật vo ve.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cây cối chuyển động theo những điệu múa nhịp nhàng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những cánh tay của dây leo thõng xuống</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Gởi lời chào mừng đến những kẻ viếng thăm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những ao trong mát phủ đầy hoa sen</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rạng rỡ như những khuôn mặt tươi cười.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những thảm cỏ xanh như bầu trời giáng hạ trên mặt đất</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những hang động yêu kiều với những chuỗi cây hoa</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như tinh tú mọc trong bầu trời trong sáng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như chư thiên chơi đùa trong một vườn hoa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những con cu gáy phát tiếng ngọt ngào, làm say bằng niềm vui.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Gió mùa thổi như ban phát ngàn hoa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những đám mây âm vang tiếng sấm vui tươi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những trận mưa rào tuyệt vời đi đến làm mát lạnh hơi nóng</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thức ăn từ rễ, lá và trái</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không nhiễm độc bởi những hành vi bất thiện và được cung cấp suốt bốn mùa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong rừng những xúc cảm tiêu tan tự nhiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không có ai nói những lời bất hòa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vì xa khỏi những phóng dật do tiêu khiển từ phố thị,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong rừng sâu sự thanh bình của nhập định lớn lên tự nhiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đời sống trong rừng phù hợp với thánh pháp và thuần hóa tâm thức</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và hoàn thành hạnh phúc của thanh bình tối hậu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đối với người mới học, quan trọng là thấy những đức hạnh nằm trong cái đẹp của những nơi chốn cô tịch như rừng núi để gây hứng khởi cho tâm thức với sự cô đơn. Nếu người ta không khai triển một thói quen thấy những mặt bình thường mà tích cực của cô đơn, như vẻ đẹp của nó, người ta có thể không bao giờ dám bỏ những tiêu khiển của trần thế. Mục tiêu thấy vẻ đẹp của thiên nhiên không phải là tạo ra một tương quan xúc cảm với nó. Longchen Rabjam giải thích cách thấy và diễn dịch những cảnh bình thường như một minh họa của Pháp và cảm hứng cho Pháp :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong vườn hoa đẹp trên bờ sông</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những con ong-mật-Như-Lai ngồi trên những đóa hoa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Làm đẹp trọn vẹn khu vườn và phát ra âm thanh trống Pháp,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và toàn thể khu vườn hiển lộ như đang tôn kính nghe Pháp….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bình an và giàu có với sự trang sức bằng những tràng hoa đức hạnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được làm đẹp bởi những vinh quang của khổ hạnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự giàu sang không thể có ngay cả ở cõi trời Phạm Thiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cây cối trĩu quả và lá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những vườn cây cung cấp những lạc thú khác nhau trong bốn mùa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những dòng sông phát ra âm nhạc dịu dàng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những khu rừng được trang hoàng bằng những nhà khổ hạnh tham thiền.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ âm thanh cây cối tiếp xúc với gió,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chim chóc, ong và nai</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nghe thánh pháp làm bình yên trong tiếng nói Phạm Thiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những quang cảnh này làm nở đóa hoa ngàn cánh của niềm tin.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như thể mọi nghiệp tốt được hoàn thành trong quá khứ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và những ban phước của lòng từ ái của những thánh nhân</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đã thâm nhập vào những sinh thể của đất này,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và đại dương sanh tử đang dứt tận.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam giải thích như thế nào, sau khi đi vào sự cô đơn an bình của rừng, tiến bộ trên con đường thiền định :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau khi vào rừng, hãy ở trong một cái hang dưới chân một ngọn đồi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Dưới một gốc cây trong một đồng cỏ với cây thuốc và hoa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hay trong một lều tranh hay lợp bằng lá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với nước uống, thức ăn và trái cây,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một lối sống giản dị duy trì thân xác</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và hiến mình ngày đêm cho Pháp đức hạnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong khu rừng, bằng thí dụ là những lá chết</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thấu hiểu rằng thân thể, tuổi trẻ và những giác quan</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Dần dần thay đổi và không có tự tánh nào,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và mọi loại thịnh vượng chắc chắn phải suy tàn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bằng thí dụ những lá lìa cây</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đi đến chỗ thấu hiểu rằng bạn, thù cũng như thân mình,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đang tụ hội, đều thuận theo sự tan rã</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và phải trói buộc vào chia lìa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bằng thí dụ là những ao sen trống không</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thấu hiểu rằng những đối tượng khác nhau của tham muốn giàu sang</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tất yếu phải đổi thay, rằng không có tinh túy thật sự nào trong chúng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và cái gì được tích tập cái đó sẽ tiêu vong.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bằng thí dụ là sự thay đổi của ngày, tháng và bốn mùa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thấu hiểu rằng thân thể như hoa nở mùa xuân</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phải chịu biến đổi khi thời gian trôi chảy, sự trẻ trung của nó phai dần,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và thần chết sẽ đến là chắc chắn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bằng thí dụ là trái cây rơi rụng</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thấu hiểu rằng tất cả, trẻ, lớn hay già,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phải lệ thuộc vào cái chết, rằng thời gian chết thì không thể định,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và tất yếu cái gì có sanh cái đó có chết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bằng thí dụ là sự sanh khởi của những phản chiếu trong ao</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thấu hiểu rằng những hiện tượng khác nhau xuất hiện như không có (hiện hữu) chân thật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chúng như những bóng huyễn, một ảo ảnh, một mặt trăng trong nước,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và nhất định trống không, vô tự tánh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đã thấu hiểu những hiện tượng theo cách ấy,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trên một chỗ rộng rãi hãy ngồi thẳng và thoải mái.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với thái độ làm lợi lạc cho chúng sanh, hãy thiền định về tâm của giác ngộ (Bồ đề tâm).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không theo những tư tưởng của quá khứ và không đem đến những tư tưởng tương lai,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và giải phóng hiện tại khỏi sự suy nghĩ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy tham thiền trong một trạng thái không dao động, không có những phóng chiếu và thu hồi….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">An trụ trong tự do, sáng tỏ, trực nhận và sống động,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">(Sự hợp nhất của) tánh không và sáng tỏ, thoát khỏi mọi nắm bắt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đây là sự thấu hiểu của chư Phật ba đời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngoài việc tham thiền tự nhiên với sự thong dong</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong nghĩa bổn nhiên vốn sẵn, bản tánh bổn nhiên của tâm như nó là,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy không nghĩ điều gì cả, giải phóng tất cả tư tưởng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tự do khỏi những tư tưởng, phân tích và những ý niệm hóa</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là cái nhìn thấy (thị kiến) của chư Phật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên, làm bình lặng khu rừng tư tưởng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy trông xem cái an bình tối hậu, bản tánh bổn nhiên của tâm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào lúc kết thúc (thời thiền) Hãy hồi hướng những công đức bằng phương tiện gọi là “thanh tịnh thoát khỏi ba phương diện.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hầu hết những tác giả Tây Tạng biểu lộ sự khiêm hạ của các ngài trong những tác phẩm, như tự diễn tả mình là ngu dốt và thất học mặc dầu các vị là những đại học giả ; hoang dã và mê mờ mặc dù các vị là những người chứng ngộ, và là những thành viên vô nghĩa và thấp thỏi của cộng đồng mặc dù là những bậc được kính trọng nhất. Đó cũng là một cách để huấn luyện mình không phát sanh kiêu hãnh và tự phụ trong tương quan đời sống và khiêm hạ, rất “người”, và bình đẳng với tất cả và cũng để dạy những người khác sự khiêm hạ. Nhưng Longchen Rabjam như vài học giả chứng ngộ vĩ đại khác, để lộ đời sống chân thật của mình và công bố tiếng gầm không sợ hãi và không giới hạn của sự học và cái thấy thấu suốt của mình để gây cảm hứng và làm phát sanh sự xác tín vào những giáo lý trong tâm thức những người theo đạo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cho đến giữa thế kỷ này, trong các tác phẩm, hầu hết những đại học giả của Tây Tạng đã dựa vào kinh điển và những lời dạy của những thánh nhân đã chứng ngộ chân lý như nó là, hay vào chính chứng ngộ của các ngài về chân lý như nó là. Ngày nay nhiều học giả hiện đại viết ra những nhận định và phê phán về kinh, luận mà không có một manh mối y cứ nào, dù là về mặt trí thức, về thật nghĩa là gì.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam viết vì ngài đã học từ những đạo sư chứng ngộ của mình và từ những kinh điển chính thống và vì ngài đã tự mình chứng ngộ trực tiếp qua sự tu hành mãnh liệt trên con đường ngài đã được giới thiệu vào. Ngài không trình bày điều gì chỉ nương dựa vào quan điểm trí thức của mình. Chính Longchen Rabjam viết :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vì tu hành từ đời này sang đời khác,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và đã được đưa vào con đường này bởi những vị thầy thiêng liêng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôi đã chứng ngộ nghĩa của tinh túy thậm thâm</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và đã thành tựu những thừa tối thượng như đại dương.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bởi thế, trong trí huệ bao la như bầu trời,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ những đám mây lớn của sự học và phân tích với tia chớp của những lợi lạc và hạnh phúc,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Kèm với sấm của những chứng ngộ và tham thiền,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cơn mưa lớn này của giáo lý rải xuống.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bởi vì sự bao la của cái học và phân tích trí thức,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôi đã hấp thụ nghĩa của tất cả mọi thừa</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và đã học trong con đường tuyệt hảo này của tánh Kim cương.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên tôi đã viết bình giảng này về cảnh giới sâu thẳm và bao la tối hậu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong Shingta Chenpo ngài viết :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Padma(sambhava) vinh quang, sanh từ đại dương của đại bi và trí huệ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người theo ngài, phú bẩm với ngàn Tia Sáng Vô Nhiễm (Longchen Rabjam),</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là mặt trời của chúng sanh, xua tan bóng tối của tâm thức và</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">An trụ trong cõi giới bổn nguyên không che ám.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong Gyuma Ngalso ngài viết :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bậc Chiến Thắng nói rằng tất cả mọi hiện tượng thuộc về tính cách hai cái huyễn (nhiễm ô và thanh tịnh).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vì mục tiêu chứng ngộ điều này,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bằng cách cô đọng tinh túy của mọi kinh và tantra,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôi sẽ giải thích cái tôi đã chứng ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong Semnyid Rantrol ngài viết :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những hiện hữu hiện tượng là vô sanh và bình đẳng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong đó những tri giác (nhận thức và tâm) vốn nguyên giải thoát</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phổ biến khắp như nhau không nắm bắt ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Về sự thống trị kỳ diệu này, Tâm Tự Nhiên Giải Thoát</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy nghe khi tôi nói với các bạn cái tôi chứng ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đôi khi mục đích viết là để cho chính sự học của người viết. Cách tốt nhất trong ba cách học là viết. Hai cách kia là nghe (nghiên cứu) những giáo lý và thảo luận hay tranh luận. Thế nên mục đích chính của việc biết là xua tan bóng tối, vô minh của chính mình và của người khác. Longchen Rabjam giải thích tại sao ngài đã viết Semnyid Rangtrol :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Giáo lý này, tinh túy của mặt trời,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được tỏa sáng bởi sự khởi lên của những Tia Sáng</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vô Nhiễm (Longchen Rabjam)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngày nay chúng ta đang ở trong thời đại chiến đấu, bao phủ bởi bóng tối của những tà kiến ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Để xua tan chúng, tôi viết bản văn này của nghĩa</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">rốt ráo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam kết luận bình giảng Nelug Dzod rằng :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ bầu trời bao la của những chủ đề có thể biết được,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với trí huệ, ngàn Tia Sáng của Mặt Trời (Longchen Rabjam),</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cô đọng tinh túy cốt lõi những tantra, kinh điển và giáo huấn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tạo nên (sự chỉ dạy này) ở vùng núi Kangri Thodkar.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam, khác với nhiều tác giả Phật giáo khác, thì rất trực tiếp và thành thật trong việc chỉ ra những quan điểm sai lầm của những người khác, như một tục ngữ Tây Tạng nói : “Chỉ ra những lỗi lầm của các đệ tử một cách trực tiếp là tính chất của một vị thầy.” Nó không phải từ ghét giận hay khắc nghiệt mà bởi vì tâm thương xót và bản tánh khiêm tốn, thành thật và cởi mở của ngài, Trong Choying Dzod, ngài viết :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bây giờ, những con voi khoe khoang họ là người theo Ati,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tuyên bố rằng đám tư tưởng chập chờn là tâm giác ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ôi ! những kẻ ngu này đã rơi vào hầm tối,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Họ xa lìa nghĩa của Đại Toàn Thiện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu các người không biết (những khác biệt giữa) năng lực của những sanh khởi và năng lực của tánh giác ngộ bổn nhiên,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Làm sao các người có thể hiểu tinh túy của tâm giác ngộ ?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như Phật đã nói trong kinh, Longchen Rabjam cũng giải thích rằng ngài chỉ có thể dạy Pháp, con đường đạt đến giác ngộ nếu người ta đi theo nó. Ngài sẽ không có năng lực đem đến giác ngộ cho những tâm thức của chúng sanh chỉ bằng cách sống giữa con người, thế nên ngài mong ước sống trong cô đơn hoang vắng và bằng thực hành đạt đến địa vị Phật và phụng sự chúng sanh hiệu quả hơn :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Để cho chúng sanh, tôi ở đây,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cho vài giáo lý từ lòng bi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nhưng tôi không có thần lực để đem sự chứng ngộ tánh Như cho họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên tôi sống một mình trong rừng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong một khu rừng nhiều nước sạch, đầy trái cây, hoa và lá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bao quanh với hàng rào tre và cây nho,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với những chỗ ở mát mẻ, thích thú, hấp dẫn bằng tre,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mong rằng tâm tôi đạt đến an định.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nơi đây, không có người cũng không ma quỷ thấy tôi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sống bằng nước sạch và chỉ bằng những dưỡng chất khổ hạnh,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và bằng thiền định về những ý nghĩa của những giáo huấn cam lồ của Lama tôi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mong rằng tôi bỏ đi thân thể sống này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào lúc đó, bằng cách chứng ngộ cái sáng tỏ vào lúc chết,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Giải thoát cái sáng tỏ của trạng thái trung ấm vào trạng thái bổn nguyên,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và trở nên không thể tách lìa với những thân và những trí huệ bổn nguyên,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nguyện tôi thành tựu những lợi lạc hai phần một cách tự nhiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Do đọc những tác phẩm ấm áp thích thú và thấu nhập của ngài, người ta có thể cảm thấy sự xúc chạm của tâm bi mẫn của ngài. Những dòng sau là một số diễn tả thường xuyên những cảm giác tự phát và tự nhiên trong hình thức những mong ước trong những luận văn học giả của ngài :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bất kỳ ai đối với tôi</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phát sanh giận dữ hay niềm tin, hay bất kỳ ai làm thương tổn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ca ngợi hay theo tôi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nguyện tôi dẫn dắt tất cả họ nhanh chóng đến giác ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài kết thúc Shingta Chenpo với những ước nguyện sau :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nguyện hạnh phúc của tôi được tất cả chúng sanh kinh nghiệm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nguyện những khổ đau của chúng sanh được chuyển di qua tôi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cho đến khi nào sanh tử trống rỗng</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nguyện tôi vẫn dẫn dắt chúng sanh (đến hạnh phúc và giác ngộ).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Giống như những đạo sư Phật giáo khác, Longchen Rabjam dùng tính chất khổ đau và vô thường của sanh tử như là khí cụ để khuyến tấn những đệ tử thực hành Pháp. Trong Terjung Rinpoche’i Logyu ngài viết :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cuộc đời vô thường như những đám mây mùa thu,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tuổi trẻ vô thường như hoa mùa xuân,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thân thể vô thường như tài sản mượn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Giàu có vô thường như sương trên cỏ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bạn bè thân thuộc vô thường như một người khách trong một cửa tiệm ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Dù họ có hội hợp, họ sẽ tan lìa như những người bạn đi du lịch ; và</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thần chết, như bóng của dãy núi phương Tây, sẽ không trì hỗn….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự sanh thì còn đáng sợ hơn sự chết,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bất cứ nơi nào người ta tái sanh trong sanh tử, không có chỗ nào là hạnh phúc,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đức Phật đã nói; nó giống như hầm lửa….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bằng cách học hỏi người ta sẽ không đạt giải thoát khỏi đau khổ :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trước hết, quyết định nhờ những học hỏi không sai lầm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Xua tan mọi nghi ngờ và giả tạo bằng suy tư.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và rồi thiền định về nó, người ta được giải thoát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên, đã học nghĩa không sai lầm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Quan trọng là thực hành nó một mình trong rừng….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cuộc đời này có tự do và những phú bẩm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không biết khi nào nó sẽ mục nát ; nó như một bình đất sét.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tri giác về ngày mai hay đời tới</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người ta sẽ ra sao đều không được biết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên xin hãy thực hành Pháp ngay ngày hôm nay.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những công việc của đời này sẽ không bao giờ chấm dứt cho đến khi chết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi các bạn dừng chúng lại, chính là bản tánh của chúng mà chúng được chấm dứt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Niềm tin vào Pháp thì khó phát triển,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên bất cứ khi nào các bạn nhớ đến Pháp,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">hãy thực hành nó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau đây là một số sáu thành tố do Longchen Rabjam ban cho trong Mengag Dzod để tóm lại và làm rõ những điểm đạo đức, triết học, tôn giáo và thiền định của Pháp. Những yếu tố quan trọng để đi vào Pháp:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu điều quan trọng để đi vào Pháp là</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tuân thủ kỷ luật tu hành, nền tảng của con đường,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Học hỏi nhiều chủ đề khác nhau mà không thiên chấp,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Làm bình lặng ba cửa và tự tâm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngừng dứt những hành vi bất thiện, và phát triển những hành vi thiện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có hổ thẹn, và phát triển lòng tin,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và có một vị thầy đức hạnh và những người bạn đức hạnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những điều ấy rất quan trọng cho người mới học.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những tính cách của cô đơn :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu yếu tố quan trọng để sống trong cô đơn là</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một nơi chốn đơn độc với những dấu hiệu tốt lành,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nơi những bậc quá khứ đã đặt chân đến,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở đó những người giữ nguyện tụ tập vì nó không dơ bẩn bởi ô nhiễm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nơi không có những phóng dật và tiêu khiển,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nơi những lương thực dễ có được,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và nơi không có nguy hiểm từ người hay loài không phải người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam nhấn mạnh rằng sự cô đọng của tất cả các thừa vào một cái là phương tiện đạt đến Phật tánh, và ngài bác bỏ quan điểm rằng chúng là những thân phần trái nghịch nhau của những giáo lý. Ngài kết luận Semnyid Ngalso với những lời sau :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bây giờ, những người bình thường mà tâm nhãn không thanh tịnh,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cho những con đường khác nhau của “dòng tương tục” (tantra) và của “hoàn thiện” (ba la mật)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là trái nghịch nhau. Họ không biết cách kết hợp chúng thành một.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bởi thế, họ có những con mắt thiên lệch.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở đây (trong bản văn này), những nghĩa sâu xa tối thượng của các thừa, thừa nhân và thừa quả,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôi đã cô đọng thành một, là phương tiện của sự tu hành.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Theo quan điểm của Longchen Rabjam, mọi đức hạnh của chín thừa được cô đọng trong tánh giác, tâm giác ngộ của Đại Toàn Thiện :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những kinh điển của Thanh Văn, Bích Chi Phật và Bồ tát</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đồng ý trong cái thấy xác định không có sự hiện hữu của cái ngã của người và cái ngã của pháp</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và trong sự tự do thoát khỏi những ý niệm hóa, như hư không.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong những kinh điển của yoga Ati bí mật tối thượng và vĩ đại,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong tự do như hư không thoát khỏi những phân biệt ta người,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trí huệ bổn nguyên tự-khởi, người ta an trụ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên tất cả nghĩa (của những thừa trước) được cô đọng trong tinh túy tối thượng này (tánh giác).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những loại (tantra ngoại) Kriya, Upa (yoga) và Yoga (tantra),</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đồng ý rằng nhờ phương tiện những mây cúng dường của tự mình, bổn tôn và những tham thiền</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người ta đạt được sự thành tựu tịnh hóa ba cửa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong tột đỉnh kim cương bí mật, vua của những giáo lý,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người ta chứng nghiệm những tri giác, âm thanh và tư tưởng là những bổn tôn từ trạng thái bổn nguyên</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và thành tựu sự tịnh hóa ba cửa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên sự chứng ngộ của (ba thừa) này được thành tựu trong tinh túy tối thượng này (tánh giác).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ba tantra nội Maha, Anu và Ati đồng ý :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế giới và chúng sanh, những hiện hữu hiện tượng, là những bổn tôn nam và nữ và cõi tịnh độ của các vị,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cõi giới tối hậu và trí huệ bổn nguyên hợp nhất viên mãn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và bản tánh tối hậu là trí huệ bổn nguyên bất biến và tự-khởi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong cái bí mật tối thượng nhất này (tánh giác), bởi vì tất cả vốn toàn thiện,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và ngoại trừ (những xuất hiện của) những lâu đài vô tạo tác trong cõi tịnh độ của pháp giới bổn nguyên lạc phúc,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chúng toàn khắp trong không có những chiều kích trong hay ngoài,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không có những đặc thù của nỗ lực, chấp nhận hay chối bỏ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tất cả là giải thoát trong pháp giới vô cùng của Pháp thân,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên tất cả những chứng ngộ của chín thừa đều được thành tựu trong tinh túy bí mật vĩ đại này (tánh giác).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam diễn tả sự chứng ngộ của Đại Toàn Thiện trong những lời giản dị, sống động mà sâu xa :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu người ta chứng ngộ sanh tử không có căn cứ, mối manh, đó là niết bàn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu người ta chứng ngộ niết bàn chỉ là giả danh, đó là cõi giới bổn nguyên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu bạn tự do khỏi những nỗ lực và vượt lìa tâm thức, đó là Pháp thân.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu bạn trong tham thiền không có tư tưởng, đó là siêu vượt khỏi những tư tưởng và diễn tả.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu không có những ý niệm và bám luyến, đó là trạng thái tự nhiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu bạn vượt khỏi tâm thức và những hiện tượng đều Không, đó là nghĩa tối hậu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu bạn tự do khỏi “là” và “không là”, đó là tự do khỏi những cực biên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu bạn cắt đoạn gốc rễ những lo sợ và nghi ngờ, đó là giác ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">(Giáo lý Đại Toàn Thiện) là tinh túy chân thực và tối hậu ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôi dạy nó cho những người phước đức mai sau.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bạn và những người theo đạo phước đức khác,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy bảo đảm sự chứng đắc vĩnh cửu trong trạng thái vô tướng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đoạn sau là một số trích dẫn từ những tác phẩm kệ của Longchen Rabjam để làm rõ cái thấy của ngài về đời người và những hiện tượng thế gian, và sự trình bày của ngài về cái thấy, thiền định và những kết quả của sự tu hành Đại thừa :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu phương diện người ta cần nương dựa cho đến chứng đắc rốt ráo :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy bỏ thân thuộc và nương dựa vào những thiện tri thức tuyệt hảo,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy bỏ những bạn bất thiện và nương dựa vào những vị thầy có học và khéo léo hộ trì,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy bỏ những đồng ý và nương dựa vào sự tương hợp tối hậu với Pháp,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy nhận sự học hỏi và tư duy và áp dụng chúng cho tâm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy bỏ những thành thị và ở trong núi non hoang vắng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và tìm kiếm những giáo lý và thực hành chúng với chuyên cần.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu người ta có thể theo như thế, người ta sẽ hoàn thành những chứng đắc nhanh chóng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Man-Ngag Rinpoche’i Dzod MD 7b/1 :</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đối với việc (làm bình lặng) sự nắm bắt cái ngã của những đối tượng, hãy nhìn vào sự thay đổi của chúng trong bốn mùa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đối với bám chấp vào sự thường còn của cuộc đời, hãy nhìn vào hạt sương trên cỏ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đối với vô minh về nhân và quả, hãy nhìn vào những hạt giống và trái của nó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đối với vô minh của tri giác và tâm thức, hãy nhìn vào những giấc mộng khi ngủ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đối với vô minh về một vị, hãy nhìn vào mật mía và những phản chiếu của nó,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và đối với vô minh về bất nhị, hãy nhìn vào nước và băng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những cảnh tượng này là những đối trị vĩ đại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 43a/3 </b><span style="font-weight: 400;">:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự từ bỏ sáu hành vi thiện và bất thiện trộn lẫn là :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ nương dựa vào một vị thầy không có tinh túy tâm linh mà lại khiến giận ghét và tham luyến tăng trưởng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ chấp nhận một đệ tử là một bình chứa không thích hợp (với Pháp) và nghĩ đến những lỗi lầm (của những người khác),</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ thực hành những đức hạnh (trên danh nghĩa) chúng (thật ra) là sự tích tập những hành vi không đức hạnh,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ ban bố từ thiện với mong mỏi được kính trọng và được đáp đền,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ làm những cúng dường để phục vụ cho thân thuộc và sự giàu có của mình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và chớ ban cho những giáo lý để lừa dối người ta mà kiếm lợi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Theo những khuyên bảo này, người ta sẽ tương ưng với Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 9a/5 :</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chứng đắc quả Phật dựa vào Sáu phương diện :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Dụng cụ tuyệt hảo cho tu hành Pháp nương dựa vào việc có một đời người quý báu,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">(Chứng đắc giải thoát) nương dựa vào sự tu hành vì không có tu hành người ta không đạt giải thoát,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành dựa vào hiểu biết trọn vẹn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hiểu biết nương dựa vào học hỏi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự hoàn thiện của học hỏi nương dựa vào suy nghĩ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và tất cả nương dựa vào việc có một đạo sư đạo hạnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 13a/4</b><span style="font-weight: 400;"> :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu nâng đỡ tuyệt hảo của thực hành Pháp :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôn kính Tam Bảo như đối tượng tôn thờ tối thượng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hy sinh những hoạt động của cuộc đời này như sự hy sinh tối thượng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có lòng tin, học và suy nghĩ như sự giàu có tối thượng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nhận biết tự tánh của Tâm như người bạn tối thượng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Buông bỏ bám chấp vào những tham muốn ích kỷ như thái độ tối thượng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và thấy Lama như Phật, đó là sự thành tựu tối thượng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu người ta hành động theo những đường lối này, người ta sẽ hoàn thành những mục tiêu hai phần.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 64b/4 </b><span style="font-weight: 400;">:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu đức hạnh quan trọng là :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lòng bi cho chúng sanh là quan trọng cho việc chứng ngộ vô ngã,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tin vào nhân quả là quan trọng cho sự thâm nhập tánh Không,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không lưu lại trong sanh tử là quan trọng cho sự an trụ trong an lạc,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không mong chờ những kết quả là quan trọng cho lòng từ thiện,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ bỏ khoe khoang là quan trọng cho sự tuân thủ kỷ luật tu hành,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và sự khiêm tốn trong nhu cầu là quan trọng cho việc sống cô đơn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu có sáu điều này người ta thành tựu việc tu hành Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 46a/1 :</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những cần thiết của sáu cái bình đẳng :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cần thiết cảm nhận rằng con của mình và kẻ thù là bình đẳng do biết rằng chúng sanh của sáu đường là những bà mẹ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cần thiết thấy sự bình đẳng giữa vàng và sỏi đá do chứng ngộ giàu có vật chất là huyễn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cần thiết thấy sự bình đẳng của những hành vi thiện và bất thiện vì không có nhân và quả trong thật tánh của chúng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cần thiết thấy tánh nhất như của thiền định và xuất định do chứng ngộ thật tánh của sáu thức.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cần thiết thấy tánh vô phân biệt do diệt trừ những phiền não bằng cách thấy chúng là những trí huệ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và cần thiết thấy sự bình đẳng của sanh tử và niết bàn vì bản tánh của chúng là bổn nhiên thanh tịnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thấy những bình đẳng này là đại yoga.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 48a/5 </b><span style="font-weight: 400;">:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành sáu hoàn thiện (sáu ba la mật) không tách lìa là :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không để cho lòng rộng lượng bị đánh cắp bởi kẻ thù keo kiệt,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không để cho những tên cướp, tà hạnh, phá hủy kỷ luật đạo đức,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không để cho lòng khoan dung bị đâm thủng bởi vũ khí của giận dữ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không để cho tinh tấn bị trói buộc bởi xiềng xích của giải đãi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không để cho tham thiền bị ô nhiễm bởi thuốc độc của những xao động,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và không để trí huệ bổn nguyên bị che ám bởi bóng tối của vô minh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 50a/4</b><span style="font-weight: 400;"> :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành sáu tính chất tuyệt hảo là :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ bỏ những hoạt động của thân mê lầm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ bỏ những diễn tả của ngữ vô nghĩa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ bỏ những phóng chiếu của những tư tưởng của tâm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ bỏ những bám luyến của tham hưởng thụ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ bỏ dấn thân vào những phóng dật và tiêu khiển,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và từ bỏ sự nịnh hót như một phương tiện để giữ gìn cho tâm những của người khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 59b/4</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu cách cô đọng sự tu hành các thừa là :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành tri giác thanh tịnh bằng cách nhận chân thế giới và chúng sanh là những tri giác như huyễn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành lòng bi bằng cách nhận chân sanh tử là thống khổ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành lòng từ bằng cách nhận chân chúng sanh sáu đường là những bà mẹ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành ba thệ nguyện bằng cách nhận chân nghiệp là nhân quả duyên sanh,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành những giai đoạn phát triển và thành tựu bằng cách đồng hóa bốn quán đảnh truyền pháp với ba cửa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và tu hành bản tánh tối hậu bằng cách nhận chân những hình tướng, âm thanh và tư tưởng là bản tánh tối hậu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu người ta hoàn thiện những tu hành này sẽ không có những che chướng và lỗi lầm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 33b/6</b><span style="font-weight: 400;"> :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu lời kim cương của Đại Toàn Thiện Dzogpa Chenpo :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đại Toàn Thiện của nền tảng là sự xác minh cái Tâm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đại Toàn Thiện của con đường là sự thâm nhập điểm cốt yếu cho giải thoát,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đại Toàn Thiện của quả là chứng đắc sự dừng dứt của những hy vọng và lo sợ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đại Toàn Thiện của những đối tượng là sự giải thoát của những tri giác không có nắm bắt,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đại Toàn Thiện của tâm là sự khởi sanh của những tư tưởng như là những hỗ trợ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và Đại Toàn Thiện của nghĩa là sự tan biến tự nhiên của những chuyển động.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bất cứ ai thực hiện được những điều này là vua của các thiền giả.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 74a/3</b><span style="font-weight: 400;"> :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu xác tín của chứng ngộ về cái nhìn thấy sâu xa là :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chứng ngộ những hiện tượng là trung đạo thoát khỏi những cực biên,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chứng ngộ những hiện tượng là tánh sáng tỏ vĩ đại, cái hợp nhất,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chứng ngộ những hiện tượng là tánh bình đẳng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">đại lạc,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chứng ngộ những hiện tượng là bất nhị, tinh túy</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">đơn nhất,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chứng ngộ những hiện tượng là sự thành tựu tự nhiên, tự do khỏi mọi thiên chấp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và chứng ngộ những hiện tượng là thanh tịnh bổn nguyên, tự nhiên bổn nguyên. Dù người ta hoàn thiện chúng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">(Trong thật tánh của chúng) không có người chứng ngộ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cũng như bản thân sự chứng ngộ không có ý tưởng gì về chứng ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên, maya yoga (yoga huyễn) này thoát khỏi mọi thí dụ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 74a/5</b><span style="font-weight: 400;"> :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đã chứng ngộ như thế, có sáu cách giải thoát :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những đối tượng bên ngoài, ngay lúc chúng xuất hiện,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được giải thoát ngay trong bản tánh của sự xuất hiện, như băng tan vào nước.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự tri nhận bên trong, ngay lúc tri nhận,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được giải thoát ngay trong bản tánh của sự tri nhận, như bọt tan vào trong nước.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hai tư tưởng trung gian, ngay lúc chúng chuyển động</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được giải thoát ngay trong bản tánh của những chuyển động, như tia sấm chớp trong bầu trời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những âm thanh, những chỉ danh và tên, ngay lúc vang lên</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được giải thoát ngay trong bản thân sự gọi tên, như những âm thanh của một tiếng vang.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những lý thuyết nắm hiểu, ngay điểm xác nhận,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được giải thoát ngay bản thân những xác nhận, như những cầu vồng biến mất trong bầu trời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những kết quả của thành tựu, ngay lúc đạt được,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được giải thoát ngay trong bản tánh của những chứng đắc, như những ước muốn được đáp ứng tức khắc bởi viên ngọc như ý.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bản tánh thì vốn tự-giải thoát và những đối trị thì tự tan biến.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nó tự do khỏi những chỉ định và những đối tượng, và nó là sự thành tựu tự nhiên của chứng ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>TRL (gTer Byung Rinpoche’i Lo-rGyus) 52b/2 :</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy thấy trí huệ tự nhiên khởi, vua của những cái thấy (tri kiến),</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy thiền định về tánh sáng tỏ tự nhiên khởi, vua của những thiền định,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy tu hành những hiện hữu hiện tượng là huyễn, vua của những hành động.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy đạt được sự tan biến vào trong trạng thái bổn nguyên, vua của những kết quả.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người ta sẽ trở thành Samantabhadra (Phổ Hiền), trong trạng thái tự nhiên thành tựu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>YD 42a/6 </b><span style="font-weight: 400;">:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Quả hoàn thiện của thiền định là :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự chứng đắc những thân và những trí huệ bằng việc hoàn thiện những đoạn trừ và những chứng ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như mặt trời và mặt trăng không bị mây che phủ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi bản tánh tự do khỏi những che ám,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nó được gọi là giác ngộ, và rồi những đức hạnh hiện tiền tự nhiên xuất hiện,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và những sự xuất hiện của thân, các thức và những</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">tri giác,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những thói quen của ba cái che ám, sẽ được giải thoát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như một ngọn đèn trong một cái bình vỡ, một tượng thờ trong một đóa hoa nở ra,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những công đức hiện diện tự nhiên bày hiện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi những thói quen của ba cái che ám được giải thoát,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chúng xuất hiện là những cõi Phật, những trí huệ, và những thân Phật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong những tác phẩm của Longchen Rabjam, thỉnh thoảng ngài cũng có những trích dẫn sai xuất xứ bản văn. Đôi khi ngài đổi lời của một trích dẫn, nhưng không có lỗi lầm trong ý nghĩa. Theo học giả nổi tiếng Mipham Namgyal (1846-1887) Longchen Rabjam đã nhớ rất nhiều kinh điển. Ngài cũng sáng tác rất nhiều tác phẩm trong hoang vắng nơi không có những bản văn để quy chiếu. Thế nên khi trích dẫn ngài chỉ viết ra theo trí nhớ chứ không dựa vào bản văn có sẵn. Khi Mipham biên tập cuốn Pema Karpo và bình giảng của nó để in, ngài không sửa chúng, vì không có những khác biệt trong ý nghĩa, và ngài thấy những biến đổi ấy như là một dấu hiệu về sự vĩ đại của tác giả. Mipham nói trong cuốn Giải Thích Một Số Điểm Khó của Yidzhin Rinpoche’i Dzod :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có nhiều lỗi trong những tiêu đề của những bản văn gốc. Rõ ràng rằng Bậc Toàn Giác Vĩ Đại đã nhớ tất cả kinh, tantra và những bình giảng của chúng, và ngài được dân chúng biết đến như là “Bậc từ chùa Samye với Nhiều Kinh Điển.” Có nói rằng về sau, khi ngài tạo những tác phẩm trong cô đơn, không nhìn vào những bản văn mà chỉ trích chúng từ trí nhớ, điều đó là thật. Có những lỗi trong những tiêu đề trích dẫn và cũng có một số khác biệt trong những lời trích dẫn, nhưng không có sự khác biệt trong ý nghĩa với bản văn gốc. Chúng không phải là những lỗi do người thợ sắp chữ về sau. Bởi vì chúng thuộc về những tác phẩm gốc của ngài, tôi giữ nguyên chúng, bởi vì nếu chúng được duy trì không sửa lại chúng sẽ bảo tồn những ban phước vĩ đại của ngài. Trong những lỗi ấy, không có một sự khác biệt nhỏ nhất nào trong những điểm quan trọng của nghĩa. Nếu người ta có thể thấy điều này, bấy giờ những sự việc đó có khả năng phát sanh thán phục. Thế nên tốt hơn là không thay đổi chúng dù là ai trong mai sau.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>NHỮNG DANH HIỆU CỦA LONGCHEN RABJAM VÀ Ý NGHĨA CỦA CHÚNG</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam dùng nhiều tên khác nhau trong những kết từ của các tác phẩm để phân biệt những chủ đề của những bản văn :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Trong những tác phẩm chủ yếu về những chủ đề có thể giải thích được, những khoa học thế gian như thi ca, vần luật và khoa học ngôn ngữ, tên được dùng là “bởi Samylpa Tshul-thrim Lodro.” Trong những tác phẩm chung cho cả tantra ngoại và nội, tên là : “bởi Dorje Zijid.” Trong những tác phẩm chủ yếu về những chủ đề sâu xa giải thích qua những giai đoạn của các thừa, và về lời và nghĩa giải thích những phân chia của các thiền, tên được dùng là : “bởi Drimed Odzer.” Trong những tác phẩm dạy lĩnh vực của bản tánh bất khả tư nghì trong những chi tiết lớn lao nhất, tên được dùng là : “bởi Longchen Rabjam.” Trong những tác phẩm trong đó các thừa, những lý thuyết, tánh Như v.v…. được giải thích chi tiết, tên được dùng là : “bởi Kunkhyen Ngagi Wangpo.”</b></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong những đạo sư Dzogpa Chenpo (Đại Toàn Thiện) từ thời Guru Padmasambhava và Vimalamitra (thế kỷ thứ 9), Kun-khyen Longchen Rabjam (1308-1363) là người lỗi lạc nhất, thiền giả, triết gia và tác giả vĩ đại nhất. Ngài sinh trong một làng tên là Todtrong, trong thung lũng Tra miền Yoru – một trong hai miền vùng trung Tây Tạng, Yoru và Wuru – vào ngày mười tháng mười một năm con Khỉ Thổ. Cha ngài, đạo sư Tensung là con một nhà hiền triết Nyingma tên là Lhasung thuộc bộ tộc Rog. Lhasung sống đến một trăm lẻ năm tuổi, là cháu đời thứ hai mươi lăm của Gyalwa Chog-yang, một trong hai mươi lăm đệ tử chánh của Guru Padmasambhava. Mẹ của Longchen Rabjam là Sodnamgyen của bộ tộc Drom.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những điều mầu nhiệm đi theo với sự sanh ra của ngài. Khi ngài ở trong thai, mẹ ngài mộng thấy hai mặt trời trên đầu một con sư tử khổng lồ chiếu sáng toàn thế giới và tan vào bà. Lúc ngài được sinh ra nữ hộ pháp Namtru Remati xuất hiện trước mẹ ngài trong hình thức một người đàn bà đen hoa một cây gươm. Ôm đứa bé trong tay, nữ hộ pháp nói : “Ta sẽ bảo vệ nó.” Bà giao lại cho mẹ ngài ẵm và biến mất. Một ngày nọ khi mẹ ngài đang làm việc ngoài đồng, một cơn mưa đá rơi xuống và bà chạy về nhà, quên đứa bé đang ở ngoài đồng. Khi nhớ ra, bà đi tìm nó, nhưng đứa bé đã biến mất. Bà bắt đầu kêu khóc và người đàn bà đen lại xuất hiện, với đứa bé trong tay và giao nó lại cho bà mẹ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Theo nhiều lời tiên tri, một trong những đời trước của Longchen Rabjam là Công Chúa Premasal, con của Vua Trisong Deutsen (790-858). Khi công chúa chết, Guru Padmasambhava đã giao phó cho công chúa sự trao truyền Nyingthig, những giáo lý Tinh Túy Sâu Xa Nhất của Dzogchen.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong số những cuộc đời của Công Chúa Premasal, sự tái sanh trực tiếp trước Longchen Rabjam là Pema Ledreltsal (1291?-1319?), người khám phá những giáo lý Nyingthig. Chúng được Guru Padmasambhava giao phó cho Công Chúa Premasal như là một Terma (Kho tàng Pháp được khám phá) và sau được biết với tên là Khadro Nyingthig.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ thuở nhỏ ngài đã có những phẩm tính cao cả của một Bồ tát, như là niềm tin, lòng bi và trí thông minh phi thường. Khi lên năm, ngài hoàn thiện những thiện xảo về đọc và viết. Khi bảy tuổi, cha ngài ban cho ngài những quán đảnh, giáo huấn và tu hành những nghi thức và thiền định của các tantra và Terma của Nyingma, như là Kagyed Desheg Dupa. Ngài cũng được dạy y học và chiêm tinh học. Khi lên tám tuổi, mẹ ngài mất.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài nhớ cả hai bản văn “Tám Ngàn” và “Hai Mươi (hay hai mươi lăm) Ngàn Bài Kệ Bát Nhã Ba La Mật” sau khi đã đọc chúng một trăm lần. Khi mười một tuổi, cha ngài mất. Năm mười hai tuổi ngài xuất gia tại chùa Samye với Khenpo Samdrup Rinchen và Lobpon Lha Kunga, và được ban pháp danh Tshulthrim Lodro. Ngài thông thạo Vinaya (Luật) và dạy chúng vào năm mười bốn tuổi. Năm mười sáu tuổi ngài nhận nhiều giáo lý của Tantra Mới (phái Tân dịch) từ Trashi Rinchen và những vị khác. Từ mười chín tuổi ngài nghiên cứu theo lối học giả những bản văn gồm bảy luận về luận lý học của Dharmakirti, năm bản văn của Maitrinatha/Asangha, và nhiều bản văn Trung Quán và Bát Nhã ở đại học tu viện Sangphu Neuthog trong sáu năm với nhiều đại giáo sư trong đó có Lobpon Tsengongpa, vị nắm giữ chức trụ trì đời thứ mười lăm, và Latrenpa Chopal Gyaltshen, vị nắm giữ chức trụ trì đời thứ mười sáu của phái Lingtod và Lingmed.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sangphu được xây dựng năm 1073 bởi Ngog Legpa’i Sherab, một trong ba đệ tử chính của Atisha. Nó là trung tâm của Ngog Loden Sherab (1059-1109), dịch giả nổi tiếng của thời kỳ “Hoằng Pháp Về Sau.” Trong hàng thế kỷ nó là một trong những cơ sở học viện quan trọng nhất ở Tây Tạng, nhưng thời gian gần đây những sự nghiên cứu nhờ đó nó được nổi tiếng đã bị gián đoạn trừ ở trại mùa hè của những học giả, và những học trò phái Gelug. Khi Khyentse Wangpo (1820-1892) thăm Sangphu vào khoảng 1840, ngài thấy nó đã trở thành một cái làng của người đời với vài đồ vật có giá trị tôn giáo. Sangphu và Samye là hai cơ sở tu viện, thêm nơi ẩn cư của Đạo Sư Kumazaraja, là những nơi Long-chen Rabjam chủ yếu nhận được sự giáo dục và tu hành của mình. Với dịch giả Panglo Lodro Tenpa (1276-?), ngài học tiếng Sanskrit, thơ ca, luận văn, kịch, năm kinh chính và Abhidharma. Ngài có những thị kiến thanh tịnh về nhiều hóa thần bổn tôn, như Manjusri, Sarasvati, Vajravarahi, và Tara, như một kết quả của sự thiền định về những Sadhana của các vị. Ngài chu du một vòng học hỏi hàn lâm ở nhiều cơ sở nghiên cứu khác nhau, và vì mức độ học vấn của ngài, ngài trở nên nổi tiếng với những danh hiệu danh dự, Samye Lungmangpa (Vị từ chùa Samye, Người Làm Cho Nhiều Kinh Điển Được Tôn Cao) và Longchen Rabjam (Cái Sâu Thẳm và Vô Biên), hay Tiến sĩ về Siêu Hình học Sâu Thẳm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài lang thang nhiều nơi và học với nhiều học giả nổi tiếng. Ngài nhận những giáo lý của những Kinh, Mayajala và Cittavarga, và ba phần chính của những tantra Cổ từ đạo sư Zhonu Dondrub của (tu viện ?) Danphag, Nyonthingmawa Sangye Trag-od và những vị khác. Từ khoảng hai mươi đạo sư, gồm Sangye Tragpa của Nyothing, Zhonu Gyalpo, Zhonu Dorje, Karmapa Ranchung Dorje (1284-1334), Sonam Gyaltshen (1312-1375) phái Sakya và những vị khác, ngài nhận tất cả những giáo lý và trao truyền của những tantra cả cổ và tân của nhiều dòng đang được dạy ở Tây Tạng vào thời bấy giờ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài cảm thấy không thích tính tình thô lỗ và ghen tỵ của một số nhà sư từ tỉnh Kham ở Sangphu, học viện chính của ngài, và bỏ đi. Trong tháng thứ năm của tám tháng nhập thất trong tối ở một hang ở Gyama’i Chogla, ngài có một thị kiến vào lúc bình minh. Ngài đang đứng trên bờ cát của một con sông, từ đó ngài có thể thấy vài ngọn đồi. Ngài nghe tiếng hát đi cùng với âm nhạc. Nhìn về hướng có âm thanh, ngài thấy một phụ nữ mười sáu tuổi mặc đồ thêu kim tuyến, trang sức bằng vàng và ngọc lam và mang một mạng vàng che mặt. Bà cỡi một con ngựa có yên da và chuông. Ngài cầm lấy phần chót của áo bà và cầu xin : “Ôi, Đức Bà Cao Quý (tức là Tara), xin từ bi chấp nhận con.” Bà đặt vương miện bằng ngọc quý lên đầu ngài và nói : “Từ giờ trở đi, ta sẽ luôn luôn cho con những ban phước và những thần lực.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào lúc đó thân tâm ngài chìm trong một trạng thái thiền lạc phúc, sáng tỏ và thoát khỏi những ý niệm. “Tôi đã không tỉnh dậy trong một thời gian lâu !” như ngài nói. Dù ngài thức dậy vào bình minh, ngài đã ở trong cùng trạng thái ấy trong suốt ba ngày (theo bản TTD 9b/1 : một tháng). Nó thiết lập nhân duyên cho sự gặp gỡ của ngài với những giáo lý Nyingthig. Sau cuộc nhập thất ngài ban quán đảnh Vairocana cho khoảng ba mươi người đàn ông và đàn bà. Có thể đó là sự truyền pháp đầu tiên của ngài. Sau đó ngài đi đến tu viện Samye.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm hai mươi bảy tuổi, như những thần bổn tôn của ngài đã tiên tri, ngài đi gặp Rigdzin Kumaradza (1266-1343), vị giữ sự truyền thừa vĩ đại của Nyingthig tổng quát, và đặc biệt những giáo lý Nyingthig được truyền ở Tây Tạng bởi Vimalamitra, có tên là Sangwa Nyingthig hay Vima Nyingthig.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đạo sư sống ở Yartod Kyam với các đệ tử trong một trại có khoảng bảy mươi chỗ ở. Đạo sư vui vẻ tiếp đãi Longchen Rabjam và gợi ý cho ngài với lời tiên tri rằng ngài sẽ trở thành người giữ dòng truyền Nyingthig. Đạo sư nói : “Hồi đêm ta mộng thấy một con chim kỳ diệu, một con chim thiêng, với một đàn một ngàn chim. Chúng đến và đem những bản văn của ta đi khắp mọi hướng. Đó là một dấu hiệu rằng con sẽ trở thành một người giữ sự truyền thừa những giáo lý của ta. Ta sẽ cho con những giáo lý trọn vẹn.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam rất vui mừng bởi sự tiếp đón và những lời của đạo sư. Nhưng ngài không có tài sản vật chất nào để đóng góp vào cho cộng đồng, mà đây là một đòi hỏi để được cho ở. Ngài buồn bã, nghĩ rằng, “Ta sẽ là người độc nhất phải từ bỏ Lama bởi vì không có một sự đóng góp theo pháp. Ta phải rời bỏ thung lũng này trong đêm trước lúc mặt trời lên, vì sẽ nhục nhã khi bỏ đi lúc ban ngày trước mắt mọi người.” Đạo sư đọc tư tưởng của Longchen Rabjam bằng tha tâm thông.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lúc gần sáng khi Longchen Rabjam thức dậy, có hai người đến từ Đạo sư, nói rằng, “Bậc Pháp Vương muốn ông đến gặp ngài.” Đạo sư ban trà cho ngài và nói với những người trông nom cộng đồng : “Ta trả sự đóng góp theo pháp đối với cộng đồng nhân danh Geshe Samyepa (Longchen Rabjam). Ông ta sẽ là người tốt nhất trong tất cả các đệ tử của ta.” Trong năm đó, ngài nhận những quán đảnh truyền pháp và giáo huấn của giáo lý Nyingthig của dòng Vimalamitra. Năm sau, thêm vào những truyền pháp và giáo huấn khác, ngài nhận những trao truyền tất cả những tantra và những giáo huấn khác của ba phạm trù Dzogpa Chenpo (Đại Toàn Thiện).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi học với Rigdzin Kumaradza, Longchen Rabjam sống trong những hoàn cảnh nghèo khổ khắc nghiệt. Trong mùa đông cực kỳ lạnh lẽo, ngài chỉ có một cái bao rách dùng như nệm và mền. Trong hai tháng ngài sống bằng ba lít bột và hai mươi mốt viên thuốc Ngulchu cỡ bằng hạt đậu. Để chiến đấu chống lại tham luyến, Lama dạy phải dời trại từ vùng đất không người này sang vùng khác. Trong chỉ một mùa xuân, họ dời trại chín lần, và điều ấy gây khó nhọc lớn lao cho Longchen Rabjam. Khi ngài vừa ở yên, thì đến lúc phải dời trại. Chính trong những hoàn cảnh như vậy mà ngài đã nhận toàn bộ giáo lý sâu thẳm nhất của Nyingthig từ đạo sư, như nước đổ từ một bình chứa vào một cái khác. Và bằng cách thực hành ngày đêm, ngài đã thực hiện sự chứng ngộ như nhau với thầy mình. Ngài được trao quyền là người nối pháp của đạo sư và là người giữ dòng truyền thừa cho những đệ tử tương lai.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như ngài hứa với vị Lama của mình, ngài thực hành những giáo lý của đạo sư trong nhiều chỗ thiêng liêng khác nhau trong bảy năm nhập thất ở Chimphu của Samye. Ngài thấy những thị kiến thanh tịnh về những biểu lộ An bình và Hung nộ của Guru Padmasambhava, Vajrasattva, Tara và những Hóa Thần Bổn Tôn Gốc. Những Hộ pháp nguyện phụng sự ngài và đáp ứng những mong muốn của ngài. Với những hóa thần bổn tôn của Tám Đại Mạn Đà La, ngài có thể giao tiếp như giữa người với người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thỉnh thoảng ngài thăm viếng Rigdzin Kumaradza và nhận những soi sáng về những giáo lý và về sự tu hành của ngài. Ngài làm hài lòng Thầy mình bằng những đồ cúng dường là sự thực hành Pháp; những chứng ngộ về cái thấy tiến bộ trong thiền định, và trí huệ biết tất cả những chủ đề có thể biết. Ngài cũng cúng dường mọi tài sản vật chất của ngài bảy lần. Ngài tự tả những chứng đắc của ngài trong Lịch sử của Lama Yangtig :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không còn nữa sự tham luyến sanh tử trong tôi. Tôi đã giải thoát khỏi chuỗi những hy vọng và lo sợ. Tôi luôn luôn ở trong cái thấy và sự tham thiền Đại Toàn Thiện Tuyệt đối.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi ngài cầu nguyện và cúng dường cho tượng Chowo ở Lhasa, ngài thấy một ánh sáng vọt ra từ trán của bức tượng và tan vào trong trán ngài. Việc đó khiến cho ngài nhớ lại những đời trước của ngài là một học giả ở núi Linh Thứu ở Ấn Độ và cũng ở xứ Li, và hiểu biết kinh điển của ngài từ những thời đó thức dậy. Nó làm rộng thêm cái học của ngài hơn nữa. Năm ba mươi mốt tuổi, ngài ban những quán đảnh và giáo huấn Nyingthig cho một số đệ tử lần đầu tiên ở Nyiphu Shugseb.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bấy giờ đệ tử Thiền giả Odzer Gocha cúng dường ngài những bản văn của Khadro Nyingthig mà ông tìm ra sau một cuộc tìm kiếm rất vất vả. Cùng lúc đó, nữ hộ pháp Shenpa Sog-drubna cũng đưa cho ngài một bản in của bản văn đó, nó có ý nghĩa quan trọng. Khadro Nyingthig là những giáo lý Nyingthig được truyền ở Tây Tạng bởi Guru Padmasambhava cho Lhacham Pemasal (thế kỷ 9) và rồi được cất giấu như một Terma và được khám phá từ một ngọn núi ở thung lũng Danglung Thramo bởi Pema Ledreltsal, tái sanh mới vừa đời trước của Longchen Rabjam.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm sau, ba mươi hai tuổi, ngài ban cho tám đệ tử may mắn những quán đảnh truyền pháp và giáo lý giữa những biểu lộ, thị kiến và kinh nghiệm kỳ diệu ở Chimphu Rimochen. Nữ hộ pháp Ekadzati cho những tiên tri qua một đệ tử nữ. Vừa nhảy múa, Longchen Rabjam hát bài ca kim cương :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hỡi những thiền giả, hoan hỷ và hạnh phúc biết bao!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đêm nay, trong cõi Phật không gì sánh,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong chính thân thể mỗi người, cung điện của những thần Bình an và Hung nộ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mạn đà la của chư Phật, tánh sáng tỏ và tánh không, </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">đã khai triển.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phật không ở bên ngoài mà hiện hữu ở bên trong….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đấy là nhờ lòng tốt của Lama.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lama không ở ngoài mà trụ ở bên trong,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lama của sự thanh tịnh bổn nguyên và hiện diện tự nhiên</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trụ trong trạng thái của sáng tỏ và tánh không,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">thoát khỏi mọi nắm bắt….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hỡi những người tham thiền ! Tâm các vị có trụ một mình ?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ có giữ những tư tưởng của các người trong chính các người, mà hãy để cho chúng đi bất cứ nơi đâu theo ý chúng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vì tâm là tánh không, dù nó đi hay ở,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bất cứ cái gì khởi lên là trò chơi của trí huệ….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Do biết tiến trình của năm ánh sáng bên trong,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những ánh sáng bên ngoài của mặt trời mặt trăng khởi lên liên tục,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Do kết thúc những tư tưởng bên trong ngay tại gốc của chúng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những hoàn cảnh tốt xấu bên ngoài khởi lên như đại lạc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Do tăng cường những hạt tinh túy bên trong,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những đám mây Dakini bên ngoài luôn luôn nhóm tụ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Do giải thoát những nút thắt bên trong của những kinh mạch ánh sáng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những nút thắt bên ngoài của người nắm bắt và cái được nắm bắt được giải thoát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôi đi đến trạng thái của sáng tỏ và đại lạc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hỡi các anh chị em kim cương, đây là hạnh phúc và hoan hỷ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong những thị kiến Guru Padmasambhava ban cho sự trao truyền Khadro Nyingthig. Ngài ban cho Longchen Rabjam pháp danh Trimed Odzer và Yeshe Tshogyal ban cho pháp danh Dorje Zijid.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Chugpotrag, gần D’oi Choten của Zurkhardo, sau khi cử hành một lễ cúng Tshog, ngài khai thị những giáo lý Khadro Nyingthig. Đêm đó, ngài kinh nghiệm trạng thái thiền sáng tỏ an trụ trong trạng thái thanh tịnh bổn nguyên, Pháp thân, biểu lộ năng lực của Pháp thân là Báo thân, và phóng sự sáng tỏ của nó ra bên ngoài, tức là Hóa thân, bấy giờ ngài khám phá ra và ghi lại Khadro Yangtig như là Kho Tàng Pháp từ Tâm (dGongs-gTer), những bản văn bí truyền phụ vào Khadro Nyingthig.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi đang viết Khadro Yangtig, ngài có những thị kiến về Guru Padmasambhava, Yeshe Tshogyal và Yudronma. Đặc biệt, Yeshe Tshogyal, phối ngẫu của Guru Padmasambhava đã hiện diện trong bảy ngày, ban cho những nhập môn và sự trao truyền ủy thác từ tâm (gTad-zGya) về những dấu hiệu, ý nghĩa và những thí dụ của Khadro Nyingthjg. Dù ngài khám phá hạt giống của bản văn này ở Chimphu, ngài thực sự ghi lại nó ở Kangri Thodkar, và như thế lời kết từ nói rằng ngài viết nó ở Kangri Thodkar. Dù ngài là hiện thân của Pema Ledreltsal, người khám phá Khadro Nyingthig và ngài cũng nhận những trao truyền từ Guru Pamasambhava và Yeshe Tshogyal ngay trong đời này, ngài đã nhận sự trao truyền từ Sho’i Gyaltse Legpa (1290-1366), đệ tử trực tiếp của Pema Ledreltsal, để đặt một gương mẫu cho những người theo học đời sau về sự quan trọng của việc nhận những trao truyền thích đáng. Có những Kho Tàng Pháp từ Đất dành cho ngài khám phá nhưng ngài từ chối, nói rằng, “Tôi đang mở cánh cửa Kho Tàng Pháp của sự sáng tỏ bên trong, không cần Kho Tàng Pháp từ những vết nứt của núi đá.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi ngài đến Ogyen Dzong Odzer Trinkyi Kyedmo’i Tshal ở Kangri Thodkar (Thành Oddiyana trong Động Mây Sáng Chói tại Núi Đỉnh Tuyết Phủ), và chỗ ẩn tu này trở thành nơi ở chính của ngài. Ở đây ngài khám phá và tạo hầu hết những Terma và tác phẩm nổi tiếng của ngài, gồm khoảng hai trăm bảy mươi luận văn. Nhưng không may, nhiều tác phẩm của ngài đã mất. Longchen Rabjam tả Kangri Thodkar bằng những lời sau đây :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nó nằm ở đông bắc chùa Trashi Gephel của Onkyangdo. Có vẻ quả núi này được trang hoàng bằng một cái bờm tuyết và trắng như màu trăng vào thời trước. Nhưng với thời gian, đỉnh của nó bây giờ trang hoàng với đá và khuôn mặt nó phủ cỏ thuốc và những khe nước sạch. Hương thơm dịu dàng của hoa và cỏ thuốc tỏa ra. Trên phía nam núi, giữa một rừng cây là Ogyen Dzong (Thành Oddyana), hang động của những hiền nhân đã được Guru Padma ban phước, vươn ra như cổ một con công.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Theo yêu cầu của thiền giả Odzer Gocha, ngài viết lại năm mươi lăm luận văn của Khadro Yangtig, những bản văn bổ sung cho Khadro Nyingthig, như những Kho Tàng Pháp từ Tâm. Khi những bản văn được viết lại, bầu trời thường trực đầy những ánh sáng cầu vồng, và những phô bày huyền thật kỳ diệu của những Dakini có thể được mọi người hiện diện nhìn thấy. Longchen Rabjam thấy Vimalamitra trong những thị kiến thanh tịnh và nhận những ban phước, trao truyền và tiên tri. Do Vimalamitra cảm ứng, ngài viết Lama Yangtig trong ba mươi lăm luận văn, như là một bản văn hỗ trợ cho Vima Nyingthig. Ngài cũng viết Zabmo Yangtig, một bình giảng về cả hai Nyingthig. Những đức Phật, bổn tôn, vị thầy và những hộ pháp, cũng như các hóa thần bổn tôn An bình và Hung nộ, những Bổn tôn của Tám Đại Mạn Đà La, Guru Padmasambhava và Vimalamitra xuất hiện đều đặn trước ngài, ban cho những ban phước, và truyền cảm hứng cho ngài viết những bản văn rất mật truyền này. Trong nhiều lúc, những đệ tử của ngài thấy những Hộ pháp trong phòng ngài. Ekajati, Vajrasadhu và Rahula thường sửa soạn giấy và mực cho ngài viết.</span></p>
<ol style="text-align: justify;">
<li><b> Dzodchen Dun, Bảy Đại Kho Tàng :</b></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Yidzhin Rinpoche’i Dzod, hai mươi hai chương, và tự bình giảng, Pema Karpo, với những luận văn kết hợp. Một tổng quan về toàn bộ giáo lý Đại thừa Phật giáo, soi sáng những đường lối nghiên cứu, phân tích và tu hành trong Đại thừa và Kim Cương thừa.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Mengag Rinpoche’i Dzod. Một luận văn dùng những bộ khác nhau của sáu bộ phận cấu thành để tổng lược những kinh và tantra Phật giáo, đặc biệt tinh túy của con đường và quả của Đại Toàn Thiện trong tính toàn thể của chúng trong hình thức những giáo huấn đạo đức, triết học và thiền định.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Choying Rinpoche’i Dzod, mười ba chương với tự bình giảng, Lungki Terdzod. Một giải thích những giáo lý sâu xa và rộng lớn về nền tảng, con đường và quả của ba phạm trù chính của Đại Toàn Thiện, gọi là Semde, Longde và Mengagde, đặc biệt là Longde.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Trubtha Dzod trong tám chương. Một giải thích nhiều quan điểm triết học của mọi thừa kinh và tantra Phật giáo.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Thegchog Dzod trong hai mươi lăm chương. Bình giảng ý nghĩa về Mười Bảy Tantra và Một Trăm Mười Chín Luận Văn Giáo Huấn của Mengagde. Nó trình bày một dải rộng giáo lý Phật giáo từ sự biểu lộ của vị thầy tuyệt đối, Ba Thân, đến sự hoàn thành quả cuối cùng tự nhiên thành tựu của thực hành con đường Đại Toàn Thiện, bao gồm Thodgal (Tiếp Cận Trực Tiếp). Có nói bản văn này được viết để đáp ứng cho những nguyện vọng của Rigdzin Kumaradza vào lúc chết của ngài.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Tshigton Dzod trong mười một chương. Một tổng lược của Thegchod Dzod giải thích những điểm quan yếu của thực hành. Nó bắt đầu với một diễn tả cái nền tảng và kết thúc với quả, trạng thái giải thoát tối hậu.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Nelug Dzod trong năm chương với tự bình giảng. Nó giải thích nghĩa tối hậu của tất cả ba phần của Đại Toàn Thiện.</span></li>
<li><b> Ngalso Korsum, Ba Chu Trình về Thư Giãn</b><span style="font-weight: 400;">. Ngalso Korsum gồm bản văn gốc, ba tổng lược, gọi là “vòng hoa”, ba tự bình giảng, gọi là “cỗ xe”, và ba “bình giảng ý nghĩa” hay Những giáo huấn về Thực hành, toàn bộ mười lăm luận văn :</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Semnyid Ngalso, bản văn gốc trong mười ba chương, tổng lược của nó, Kunda’i Thengwa (đã mất) ; một tự bình giảng về bản văn gốc, Ngeton Shingta Chenmo, một tổng lược của tự bình giảng, Pema Karpo’i Threngwa, và giáo huấn về thực hành, Changchub Lamzang. Semnyid Ngalso giải thích mọi giai đoạn của con đường, sự bắt đầu, chặng giữa và kết thúc của những giáo lý kinh và tantra.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Gyuma Ngalso, bản văn gốc trong tám chương; tổng lược của nó, Mandara’i Phrengwa; tự bình giảng, Shingta Zangpo; và giáo huấn về thực hành, Yidzhin Norbu. Bản văn này là một giáo huấn về đoạn dứt những trói buộc với những hiện hữu hiện tượng bằng những giáo lý về tám thí dụ như huyễn.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Samten Ngalso, bản văn gốc trong ba chương; tổng lược của nó, Pundarik’i Threngwa, tự bình giảng của nó, Shingta Namdag; và giáo huấn về thực hành, Nyingpo Chuddu. Bản văn là một giáo huấn về con đường sâu xa của nhập định, trí huệ tự nhiên tự hữu. có hai bản văn phụ thêm, một tổng lược của Ngalso Korsum có tựa đề Legshed Gyalso và một bản mục lục tên là Pema Tongden. Ba tự bình giảng về Ngalso Korsum cũng được biết với tên là Shinga Namsum, Ba Cỗ Xe.</span></li>
<li><b> Rangtrol Korsum, Ba Chu Trình cho Giải Thoát Tự Nhiên.</b><span style="font-weight: 400;"> Chúng là những “bình giảng ý nghĩa” về những giáo huấn phần Semde của Đại Toàn Thiện.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Semnyid Rantrol, Tâm Giải Thoát Tự Nhiên trong ba chương và một bình giảng ý nghĩa hay giáo huấn về thực hành có tựa đề Lamrim Nyingpo (Những bản dịch của hai bản văn này gồm trong sách này).</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Chonyid Rangtrol trong ba chương, và một giáo huấn về thực hành có tựa đề Rinchen Nyingpo.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Nyamnyid Rangtrol trong ba chương, và một giáo huấn về thực hành có tựa đề Yidzhin Nyingpo.</span></li>
<li><b> Yangtig Namsum, Ba Tinh Túy Bên Trong.</b><span style="font-weight: 400;"> Nó chứa đựng những điểm quan yếu của những giáo lý bí truyền Mengagde, cái cao nhất của ba phần của Đại Toàn Thiện. Trong những bản văn này nhấn mạnh đặc biệt vào tu hành Thodgal.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Lama Yangtig hay Yangzab Yidzhin Norbu gồm ba mươi lăm luận văn. Nó cô đọng và giải thích chủ đề bao la của Bốn Bộ Giáo Lý Bí Truyền của Vima Nyingthig và Một Trăm Mười Chín Luận Văn của Giáo Huấn của Mengagde của Đại Toàn Thiện. Bốn Bộ Giáo Lý Bí Truyền là Seryig Chen, Yuyig Chen, Dungyig Chen và Zang-yig Chen với Phrayig Chen.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Khadro Yangtig gồm năm mươi lăm luận văn. Trong đời trước của Longchen Rabjam như là Pema Ledreltsal, ngài có thẩm quyền về những bản văn của Khadro Ningthig. Trong đời này ngài nhận những trao truyền và chứng ngộ những giáo lý Khadro Nyingthig, và viết những bản văn tựa đề Khadro Yangtig về Khadro Nyingthig.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Zabmo Yangtig là bình giảng chi tiết và sâu xa nhất về cả hai Vima Nyingthig và Khadro Nyingthig.</span></li>
<li><b> Munsel Korsum, Ba Chu Trình về Xua Tan Bóng Tối.</b><span style="font-weight: 400;"> Ba bản văn này là những bình giảng về Guhyamayajala-tantra theo những quan điểm của Nyingthig.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Chidon Yidkyi Munsel,</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Dudon Marig Munsel,</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Drelwa Chogchu Munsel.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài đã đạt sự Toàn Thiện của Tánh Giác Bổn Nhiên qua con đường bí mật của Tiếp Cận Trực Tiếp (Thod-rGal), trạng thái toàn thiện tự nhiên của tánh sáng tỏ của Đại Toàn Thiện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm bốn mươi hai tuổi, hợp đúng với một số tiên tri được Vimalamitra ban cho trong một thị kiến thanh tịnh, ngài trùng tu chùa Zha Pema Wangchen ở Drada trong vùng Wuru. Ngôi chùa này được xây vào thế kỷ thứ chín bởi Nyang Tingdzin Zangpo theo lệnh của vua Thrisong Deutsen để bảo vệ khỏi những cuộc xâm lăng của “những ngoại đạo” nước ngoài. Ngài cũng nhận ra chùa này như ngôi chùa đã được tiên tri trong Langri Lungten trong Kajur, “sự hiện diện thiêng liêng của xứ Zhva.” Ngài khám phá đủ vàng để chứa đầy một Gutse (một bình chứa dành cho nghi lễ) ở Samye, và với nó ngài có tiền để trùng tu. Mỗi ngày một cậu bé với bông đeo tai lam ngọc giúp nhóm xây dựng, nhưng đến bữa ăn thì không thấy. Nhóm người làm nghi ngờ và để ý trông chừng nó. Khi họ ngừng công việc họ thấy nó biến mất vào bức tường và họ nói lại với ngài. Ngài bảo đó là Vajrasadhu đến giúp họ. Khi họ đào, nhiều ma quỷ và lực lượng xấu thoát lên mặt đất và bay xung quanh với một cơn mưa đất đá. Mọi người chạy thục mạng. Với năng lực thiền định, ngài nhảy múa với những cử chỉ hung nộ, thốt lên những thần chú bằng tiếng Sanskrit. Ngài tập trung chúng trở lại và chôn chúng trước cặp mắt những người hiện diện. Lúc đó nhiều người thấy ngài trong hình tướng Guru Padmasambhava Hung Nộ. Một lần khi những người làm không thể dựng đứng hai trụ đá, ngài rung động áo dài và thốt lên những lời-của-sự thật (tạ ơn), và tức khắc họ có thể dựng chúng. Vào ngày lễ hoàn thành, nhiều người thấy ngài hiện thành nhiều hình tướng như Phổ Hiền, và nhiều Phật và Bồ tát xuất hiện trên trời và mưa xuống những hoa ban phước. Phật Maitreya (Di Lạc), chỉ vào ngài, cho lời tiên tri: “Sau hai đời nữa, con sẽ thành Phật có danh hiệu là Rirab Marme’i Gyalt-shen trong cõi Phật có tên là Pema Tsegpa.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam là một ẩn sĩ, và ngài từ chối có tổ chức hành chánh. Nhưng bởi vì sự uyên bác và bản chất hiền thánh của ngài, hàng ngàn tín đồ gồm những học giả, thiền giả, và người thường liên tục tụ tập chung quanh ngài. Những học giả vĩ đại nhất và những quan chức chính quyền cao nhất của thời đó được ngài gây cảm hứng. Do sự quan tâm thuần túy tâm linh của họ, họ kính trọng ngài không bao giờ bởi vì cơ cấu hành chánh hay vì uy tín xã hội, chính trị nào.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Gompa Kunrig xứ Drigung trở thành đệ tử của ngài và Longchen Rabjam, hoàn thành một lời tiên tri của Guru Padma-sambhava, đã kéo ông ra khỏi con đường chiến tranh. Trong tiên tri của Guru Padmasambhava có nói :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong nơi có tên là Dri</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một đứa con của quỷ gọi là Kunga sẽ đến.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trên thân nó sẽ được đánh dấu bằng một cây kiếm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau khi chết nó sẽ xuống địa ngục.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tuy nhiên, nếu một lưu xuất của Văn Thù từ phương Nam (Tây Tạng)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có thể hàng phục nó,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nó sẽ thoát khỏi tái sanh vào địa ngục.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Kunrig tự xem mình là đối tượng của lời tiên tri vì ông có dấu tích một cây kiếm trên lưng và đang hoạch định chiến tranh ở tỉnh Wu và Tsang của Tây Tạng. Ông chỉ định một Lama tên là Palchigpa đi tìm xuất thân của Văn Thù. Vào thời đó ở miền Trung Tây Tạng không có ai bác học hơn Longchen Rabjam. Thế nên, sau khi tìm kiếm, vị Lama tin rằng Longchen Rabjam là thân lưu xuất của Văn Thù. Kunrig nhận nhiều giáo lý từ ngài, và đã cúng dường ngài một tu viện tên là Trog Ogyen. Drikung Kunrig là đối thủ thế lực nhất với Tai Situ của Phagtru, vị cai trị Tây Tạng, nên Longchen Rabjam đã thực sự ngăn chặn một cuộc chiến tranh nghiêm trọng ở Tây Tạng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Tidro ngài làm những lễ cúng Tshog một thời gian dài. Ngài kéo lên ngọn cờ chiến thắng trên một ngọn núi không ai có thể tới, và tâm hồn nhiều người đã thức tỉnh với Pháp. Trên đường đến Lhasa, ngài bị bao quanh bởi một lực lượng những người thù địch từ Yarlung, họ định giết ngài vì nghĩ rằng ngài là thầy của Drigung Kunrig. Nhưng do năng lực giác ngộ, ngài trở nên vô hình với họ. Ở Jokhang trước Jowo, ngài có nhiều thị kiến về chư Phật và nhận những ban phước. Khi đến Shugseb, qua sự biết trước của mình, ngài biết chiến tranh sẽ xảy ra năm Hợi Thổ (1359). Thế nên ngài đến Mon (Bhutan). Ngài ban cho những giáo lý ở Bumthang và Ngalong, nhờ đó thắp lên ánh sáng của Pháp ở đó, và ngài đặt những hạn chế về săn bắn và đánh cá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Bumthang ngài xây một tu viện ẩn cư, đặt tên cho nó là Tharpaling, Đất Giải Thoát, bởi vì có khoảng một trăm ngàn người tụ họp để nghe Ngài dạy Pháp, mong muốn được giải thoát. Ngài được mời đến Lhotrag. Ở Layag Lhalung và Manthang, ngài ban những giáo lý Nyingthig cho khoảng một ngàn đệ tử chủ yếu là những nhà sư. Ngài được Lama Dampa Sodnam Gyalt-shen phái Sakya và Tragzang của Nyephu tôn kính vì những trả lời uyên bác cho những câu hỏi của họ, xóa tan những nghi nan về nhiều điểm quan yếu trong những quan điểm triết học và tu hành thiền định. Tai Situ Changchub Gyaltshen của Phagtru người trở thành cai trị của Tây Tạng năm 1349, ban đầu ghét Longchen Rabjam vì ngài là thầy của Drigung Kunrig, kẻ thù chủ yếu của ông. Về sau, khi ông nhận ra sự vĩ đại của cái học và bản chất Bồ tát của ngài, ông đã đặt bàn chân sen của Longchen Rabjam lên đỉnh đầu mình như một viên ngọc quý. Theo yêu cầu của Tai Situ, ngài ban cho ông và khoảng hai ngàn tín đồ những giáo lý Tinh Túy Tối Thâm (Yang-gSang Bla-Med). Nhiều lãnh tụ thời đó như Dorje Gyaltshen của Yardrog và Situ Sakya Zangpo của Wurtod, trở thành tín đồ của ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Lhasa ngài đã được tiếp rước bởi một đám rước gồm nhiều vị sư. Từ một cái ngai đặt giữa Lhasa và Ramoche, ngài ban giới nguyện Bồ đề tâm và những giáo lý khác cho đám đông. Ngài đã thuần hóa nhiều học giả kiêu căng bằng lý luận khúc chiết và đưa họ vào niềm tin chân thật vào Pháp. Nhờ vậy ngài được biết một cách công khai như là Kunkhyen Choje, Bậc Toàn Giác của Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Nyephu Shugseb ngài ban những giáo lý Đại Toàn Thiện cho một chúng hội hơn một ngàn tín đồ. Trong những vùng đồi đá gần tu viện Trog Ogyen, ngài ban những quán đảnh và giáo lý Tánh Sáng Tỏ của Tinh Túy Kim Cương cho khoảng ba ngàn người gồm bốn mươi vị thầy. Vào lúc chấm dứt những giáo lý họ làm một lễ Tiệc Cúng Dường (Tshog) và Ngài nói với họ :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lễ Tiệc Cúng Dường này là cái cuối cùng chúng ta cử hành chung với nhau. Các ông cần từ bỏ những hành động thế gian và nắm lấy tinh túy tối hậu (của đời sống) bằng con đường sâu xa của tu hành Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi ngài đến chùa Zha, và vào lúc thuyết pháp cho quần chúng, những sự kỳ diệu xảy ra như có một cơn mưa hoa rơi xuống từ bầu trời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào năm năm mươi sáu tuổi, trong năm Con Thỏ Thủy của Rabjung thứ sáu (1363) giữa buổi ban pháp, ngài nói Gyalse Zodpa đem giấy, mực đến. Trong sự buồn rầu cùng độ của những đệ tử, ngài viết di chúc tâm linh của mình, có tên là Trima Medpa’i Od, Tánh Sáng Rỡ Vô Nhiễm. Đây là vài dòng từ di chúc ấy :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chừng nào chúng ta biết bản tánh của sanh tử,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thì những sở hữu thế gian không có tự tánh ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên giờ đây ta sắp bỏ thân vô thường</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">huyễn hóa này và</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ta sẽ nói cho các con cái gì độc nhất là tốt đẹp cho các con. Hãy nghe ta….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hôm nay, ta được cảm hứng bởi</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khuôn Mặt của bậc Pema bi mẫn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự vui sướng của ta với cái chết thì lớn hơn rất nhiều</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự vui sướng của những thương gia làm ra tài sản khi</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">đi biển,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Của những vua chư thiên khi tuyên bố thắng trận ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và của những bậc thánh đã hoàn thành nhập định.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và khi thời đã đến, những người du hành đi trên</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">con đường của họ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bây giờ Pema Ledreltsal sẽ không ở lại đây lâu nữa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mà sẽ đến ở trong trạng thái an toàn, phúc lạc và bất tử….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bây giờ chúng ta sẽ không có sự liên kết nào thêm trong đời này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ta là một người ăn xin sắp chết như nó muốn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ cảm thấy buồn mà hãy luôn luôn cầu nguyện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi ngài đến rừng ở Chimphu bằng con đường Gyama và Samye. Ngài nói : “(Năng lực tâm linh của) Chimphu tương đương với nghĩa địa Sitavan ở Ấn Độ. Chết ở nơi này tốt hơn một sự tái sanh ở những nơi khác. Ta sắp bỏ thân thể cũ rách của ta ở đây.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi ngài hiện tướng bệnh tật của thân. Nhưng ngài vẫn giữ việc thuyết pháp cho đám đông người tụ họp ở đó để nhận Pháp. Khi những đệ tử xin ngài nghỉ ngơi, ngài bảo : “Ta muốn hoàn thành việc thuyết pháp.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào ngày mười sáu tháng thứ mười hai của năm đó, ngài cử hành những cúng dường tỉ mỉ cho những Daka và Dakini. Bấy giờ ngài cho thời pháp công khai cuối cùng, nói rằng : “Các con cần hiến mình chỉ cho sự thực hành Pháp. Không có tinh túy nào trong những hiện tượng hợp tạo. Đặc biệt các con cần nhấn mạnh những thực hành Thregchod và Thodgal. Nếu các con gặp những khó khăn trong việc hiểu những thực hành, hãy đọc Yangtig Yidzhin Norbu; nó giống như một viên ngọc như ý. Các con sẽ đạt đến niết bàn trong trạng thái Tan Biến mọi Hiện Tượng vào Bản Tánh Tối Hậu.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào ngày mười tám, ngài nói với vài đệ tử: “Hãy sắp xếp một lễ cúng dường và rồi tất cả các con hãy ra khỏi phòng.” Khi các đệ tử biểu lộ mong muốn được ở lại cạnh ngài, ngài nói: “Nào, ta sắp bỏ thân cũ rách huyễn hóa này. Chớ gây tiếng động, mà hãy ở yên trong Thiền định.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi tâm thức ngài hòa tan vào trạng thái bổn nguyên và bỏ lại thân thể ngồi trong tư thế Pháp thân. Những người hiện diện chứng kiến mặt đất rung kên và những âm thanh ầm ầm, mà kinh điển diễn tả như những dấu hiệu của những chứng đắc cao. Họ để thân thể ngài trong hai mươi lăm ngày. Trong khoảng thời gian ấy những ánh sáng cầu vồng thường vòng qua bầu trời. Dầu trong tháng mười hai và tháng giêng, tháng lạnh nhất ở Tây Tạng, trái đất trở nên ấm, băng chảy và hoa hồng nở. Vào thời gian thiêu, trái đất rung ba lần và một tiếng trầm nghe được bảy lần. Những cái còn lại không thiêu cháy được là trái tim, lưỡi và mắt của ngài. Năm loại gDung và nhiều Ringsel (xá lợi) có được từ xương là một dấu chỉ sự chứng đắc năm thân và năm trí huệ của Phật quả. Có nói rằng những Ringsel lớn tăng thành hàng trăm hàng ngàn. Một trong những hiện thân chính yếu của Long-chen Rabjam là đại Terton Pema Lingpa (1450-?) sinh tại Bhutan.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam là một trong những học giả và người kiệt xuất nhất và vĩ đại nhất của Tây Tạng. Nhưng hạnh kiểm hàng ngày của ngài thì giản dị, ‘rất người’ và tỉ mỉ. Ngài là tái sanh của những bậc chứng ngộ, tuy nhiên ngài bày tỏ cuộc sống của một cá nhân tầm thường sùng mộ những hoạt động nghiên cứu, tu hành và kỷ luật để hoàn thành mục đích của sự biểu lộ của ngài, đó là làm một tấm gương cho một người tu hành và một vị thầy của Pháp. Đây là một số trong nhiều đoạn gây cảm hứng và thích thú từ tiểu sử của ngài :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mọi thứ gì được cúng dường cho ngài từ niềm tin sẽ chỉ được dùng để phụng sự Pháp và không bao giờ cho chính ngài hay một mục tiêu thế gian nào khác. Ngài không cho phép bất kỳ vật gì đã hiến cho Pháp lại chuyển sai qua mục tiêu khác. Ngài không bao giờ bày tỏ sự tôn kính cho một người thường, dù vĩ đại hay quyền thế bao nhiêu, và nói : “Tôn kính phải được dành cho Tam Bảo mà không phải cho một người không đức hạnh.” Ngài không bao giờ cho một chỗ ngồi hay tôn trọng người kiêu căng vì thế lực hay giàu có. Khi phân phát những đồ cúng dường cho các nhà sư, ngài bắt đầu từ hàng chót, nói rằng “Chúng ta cần cẩn thận không bỏ sót người ở cuối, người ở hàng đầu dầu sao cũng có những đồ cúng dường.” Theo kinh điển, nếu một người bình thường nhận và chấp nhận sự tôn kính từ một người tâm linh cao cấp, nhiều công đức của người ấy bị thiêu cháy vì việc đó. Dù những đồ cúng dường cho ngài có lớn lao đến đâu, ngài nói những lời cầu nguyện hồi hướng mà không bao giờ biểu lộ sự biết ơn, và ngài nói, “Những thí chủ nên có cơ hội để tạo công đức.” Thế nên những thí chủ sẽ nhận được công đức thay vì những biểu lộ biết ơn vì những đồ cúng dường của họ. Vì ngài xa lìa những hy vọng và lo sợ của thành tựu thế gian, ngài sống đời mình trong những chốn ẩn cư và từ chối thiết lập hay sống trong bất kỳ chỗ ở nào, nói rằng, “Nếu tôi cố gắng, tôi có thể xây dựng một tu viện, nhưng làm thế chỉ tạo ra những phóng dật. Thế nên tốt hơn là tập trung vào việc điều ngự tâm thức (của người).”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài tuân thủ những lễ cúng của hai ngày thứ mười (của trăng tròn và khuyết, tức là ngày 10 và 25 âm lịch) và ngày mồng 8 mỗi tháng. Ngài từ ái bao la với người nghèo và kém may mắn, và ngài thường rất thích thú thức ăn do người nghèo cúng dường, dầu cho đó có thể có phẩm chất khủng khiếp, và rồi ngài nói một số lời cầu nguyện cho họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Điều này đưa người ta đến một nhận xét rất thú vị từ quan điểm xã hội, một người bình thường có thể nghĩ rằng Longchen Rabjam từ ái bao la với người nghèo, nỗ lực của ngài phải là đem mọi sự vật ngài có cho người nghèo. Trong nhiều trường hợp ngài hẳn phải làm như thế. Nhưng trong các tiểu sử không có đề cập nào về một đường lối xử thế như vậy cả. Bất luận thế nào, có một quan điểm tâm linh đàng sau sự việc ấy. Hầu hết sự vật mà ngài có thể có, ngài không bao giờ giữ mà chuyển cho những mục tiêu tôn giáo, đó đều là những “tặng phẩm của lòng tin” do các tín đồ, và chúng được hướng đến những mục tiêu tôn giáo. Một vật phẩm của lòng tin phải được tiêu dùng cho một mục tiêu tôn giáo, cho sự phục vụ Phật, Pháp, hay Tăng, và không cho những mục tiêu thế gian hay cho sự hưởng thụ của người thế tục. Nếu một vật phẩm của lòng tin được người thế tục hưởng thụ thay vì được dùng cho những mục tiêu tôn giáo, người thế tục sẽ tạo ra nghiệp mất công đức, điều đó sẽ tạo ra khó khăn trong tương lai. Từ quan điểm của Pháp, bằng cách nhận những đồ cúng dường của người nghèo khổ, ngài cho họ một cơ hội để tạo những công đức, đó là nguyên nhân cho hạnh phúc tương lai. Thế nên ngài thật sự ban ân cho người nghèo bằng cách cung cấp chính mình như một phương tiện cho họ để làm ra công đức, mặc dù ngài có thể có những bữa ăn tốt trong những gia đình giàu có nhất. Đó là lý do tại sao những người viết tiểu sử đặc biệt nói về việc ngài thọ hưởng thực phẩm của người nghèo để nêu lên lòng tốt của ngài với họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong Lịch sử của Lama Yangtig Longchen Rabjam khuyên những người theo ngài bằng những lời giản dị :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Các người theo ta trong tương lai ! Hãy bỏ lại những hoạt động thế gian của cuộc đời này. Hãy bắt đầu những chuẩn bị cho những đời tới. Hãy nương dựa vào một vị thầy đức hạnh toàn hảo. Hãy nhận lãnh những giáo huấn về tinh túy của tánh sáng tỏ. Hãy thực hành những giáo lý bí mật của Nying-thig trong vắng vẻ. (Hãy đạt đến quả của) sự siêu vượt khỏi (những khác biệt của) sanh tử và niết bàn ngay trong đời này. Nếu các người nhận được lời tiên tri nào, hãy hiến mình cho sự phụng sự những người khác hết mức của mình. Hãy truyền bá những giáo lý trong khi nhẫn chịu sự vô ơn và khó nhọc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một trong những tính cách nổi bật nhất trong những lời chỉ dạy của Longchen Rabjam là sự nhấn mạnh của ngài vào sự hòa điệu với tự nhiên : sự bao la và vẻ đẹp an bình của tự nhiên bên ngoài là chỗ nương tựa và sự bao la và tỉnh giác an bình của bản tánh giác ngộ bên trong là mục tiêu. Bằng cách nhìn thấy sự an bình không nhiễu loạn, sự sáng tỏ không nhiễm ô và sự đơn giản không rối rắm của tự nhiên bên ngoài như nó vốn là và bằng cách nương dựa vào chúng, người ta có được cảm hứng để sự chứng ngộ trạng thái tự nhiên bên trong hiện bày. Ngài cảm kích, hân thưởng bản tánh của những hiện tượng bên ngoài và thấy những đức hạnh của chúng. Ngài nhấn mạnh rằng đối với một người mới học, những hiện tượng tích cực bên ngoài là một căn cứ quan trọng để phát sanh tiến bộ thiền định.</span></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><b>Các công trình chính yếu của Đạo sư Longchenpa</b></p>
<ol style="text-align: justify;">
<li><b> Dzodchen Dun, Bảy Đại Kho Tàng :</b></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Yidzhin Rinpoche’i Dzod, hai mươi hai chương, và tự bình giảng, Pema Karpo, với những luận văn kết hợp. Một tổng quan về toàn bộ giáo lý Đại thừa Phật giáo, soi sáng những đường lối nghiên cứu, phân tích và tu hành trong Đại thừa và Kim Cương thừa.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Mengag Rinpoche’i Dzod. Một luận văn dùng những bộ khác nhau của sáu bộ phận cấu thành để tổng lược những kinh và tantra Phật giáo, đặc biệt tinh túy của con đường và quả của Đại Toàn Thiện trong tính toàn thể của chúng trong hình thức những giáo huấn đạo đức, triết học và thiền định.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Choying Rinpoche’i Dzod, mười ba chương với tự bình giảng, Lungki Terdzod. Một giải thích những giáo lý sâu xa và rộng lớn về nền tảng, con đường và quả của ba phạm trù chính của Đại Toàn Thiện, gọi là Semde, Longde và Mengagde, đặc biệt là Longde.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Trubtha Dzod trong tám chương. Một giải thích nhiều quan điểm triết học của mọi thừa kinh và tantra Phật giáo.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Thegchog Dzod trong hai mươi lăm chương. Bình giảng ý nghĩa về Mười Bảy Tantra và Một Trăm Mười Chín Luận Văn Giáo Huấn của Mengagde. Nó trình bày một dải rộng giáo lý Phật giáo từ sự biểu lộ của vị thầy tuyệt đối, Ba Thân, đến sự hoàn thành quả cuối cùng tự nhiên thành tựu của thực hành con đường Đại Toàn Thiện, bao gồm Thodgal (Tiếp Cận Trực Tiếp). Có nói bản văn này được viết để đáp ứng cho những nguyện vọng của Rigdzin Kumaradza vào lúc chết của ngài.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Tshigton Dzod trong mười một chương. Một tổng lược của Thegchod Dzod giải thích những điểm quan yếu của thực hành. Nó bắt đầu với một diễn tả cái nền tảng và kết thúc với quả, trạng thái giải thoát tối hậu.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Nelug Dzod trong năm chương với tự bình giảng. Nó giải thích nghĩa tối hậu của tất cả ba phần của Đại Toàn Thiện.</span></li>
<li><b> Ngalso Korsum, Ba Chu Trình về Thư Giãn</b><span style="font-weight: 400;">. Ngalso Korsum gồm bản văn gốc, ba tổng lược, gọi là “vòng hoa”, ba tự bình giảng, gọi là “cỗ xe”, và ba “bình giảng ý nghĩa” hay Những giáo huấn về Thực hành, toàn bộ mười lăm luận văn :</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Semnyid Ngalso, bản văn gốc trong mười ba chương, tổng lược của nó, Kunda’i Thengwa (đã mất) ; một tự bình giảng về bản văn gốc, Ngeton Shingta Chenmo, một tổng lược của tự bình giảng, Pema Karpo’i Threngwa, và giáo huấn về thực hành, Changchub Lamzang. Semnyid Ngalso giải thích mọi giai đoạn của con đường, sự bắt đầu, chặng giữa và kết thúc của những giáo lý kinh và tantra.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Gyuma Ngalso, bản văn gốc trong tám chương ; tổng lược của nó, Mandara’i Phrengwa ; tự bình giảng, Shingta Zangpo ; và giáo huấn về thực hành, Yidzhin Norbu. Bản văn này là một giáo huấn về đoạn dứt những trói buộc với những hiện hữu hiện tượng bằng những giáo lý về tám thí dụ như huyễn.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Samten Ngalso, bản văn gốc trong ba chương ; tổng lược của nó, Pundarik’i Threngwa, tự bình giảng của nó, Shingta Namdag ; và giáo huấn về thực hành, Nyingpo Chuddu. Bản văn là một giáo huấn về con đường sâu xa của nhập định, trí huệ tự nhiên tự hữu. có hai bản văn phụ thêm, một tổng lược của Ngalso Korsum có tựa đề Legshed Gyalso và một bản mục lục tên là Pema Tongden. Ba tự bình giảng về Ngalso Korsum cũng được biết với tên là Shinga Namsum, Ba Cỗ Xe.</span></li>
<li><b> Rangtrol Korsum, Ba Chu Trình cho Giải Thoát Tự Nhiên.</b><span style="font-weight: 400;"> Chúng là những “bình giảng ý nghĩa” về những giáo huấn phần Semde của Đại Toàn Thiện.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Semnyid Rantrol, Tâm Giải Thoát Tự Nhiên trong ba chương và một bình giảng ý nghĩa hay giáo huấn về thực hành có tựa đề Lamrim Nyingpo (Những bản dịch của hai bản văn này gồm trong sách này).</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Chonyid Rangtrol trong ba chương, và một giáo huấn về thực hành có tựa đề Rinchen Nyingpo.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Nyamnyid Rangtrol trong ba chương, và một giáo huấn về thực hành có tựa đề Yidzhin Nyingpo.</span></li>
<li><b> Yangtig Namsum, Ba Tinh Túy Bên Trong.</b><span style="font-weight: 400;"> Nó chứa đựng những điểm quan yếu của những giáo lý bí truyền Mengagde, cái cao nhất của ba phần của Đại Toàn Thiện. Trong những bản văn này nhấn mạnh đặc biệt vào tu hành Thodgal.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Lama Yangtig hay Yangzab Yidzhin Norbu gồm ba mươi lăm luận văn. Nó cô đọng và giải thích chủ đề bao la của Bốn Bộ Giáo Lý Bí Truyền của Vima Nyingthig và Một Trăm Mười Chín Luận Văn của Giáo Huấn của Mengagde của Đại Toàn Thiện. Bốn Bộ Giáo Lý Bí Truyền là Seryig Chen, Yuyig Chen, Dungyig Chen và Zang-yig Chen với Phrayig Chen.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Khadro Yangtig gồm năm mươi lăm luận văn. Trong đời trước của Longchen Rabjam như là Pema Ledreltsal, ngài có thẩm quyền về những bản văn của Khadro Ningthig. Trong đời này ngài nhận những trao truyền và chứng ngộ những giáo lý Khadro Nyingthig, và viết những bản văn tựa đề Khadro Yangtig về Khadro Nyingthig.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Zabmo Yangtig là bình giảng chi tiết và sâu xa nhất về cả hai Vima Nyingthig và Khadro Nyingthig.</span></li>
<li><b> Munsel Korsum, Ba Chu Trình về Xua Tan Bóng Tối.</b><span style="font-weight: 400;"> Ba bản văn này là những bình giảng về Guhyamayajala-tantra theo những quan điểm của Nyingthig.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Chidon Yidkyi Munsel,</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Dudon Marig Munsel,</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Drelwa Chogchu Munsel.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài đã đạt sự Toàn Thiện của Tánh Giác Bổn Nhiên qua con đường bí mật của Tiếp Cận Trực Tiếp (Thod-rGal), trạng thái toàn thiện tự nhiên của tánh sáng tỏ của Đại Toàn Thiện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm bốn mươi hai tuổi, hợp đúng với một số tiên tri được Vimalamitra ban cho trong một thị kiến thanh tịnh, ngài trùng tu chùa Zha Pema Wangchen ở Drada trong vùng Wuru. Ngôi chùa này được xây vào thế kỷ thứ chín bởi Nyang Tingdzin Zangpo theo lệnh của vua Thrisong Deutsen để bảo vệ khỏi những cuộc xâm lăng của “những ngoại đạo” nước ngoài. Ngài cũng nhận ra chùa này như ngôi chùa đã được tiên tri trong Langri Lungten trong Kajur, “sự hiện diện thiêng liêng của xứ Zhva.” Ngài khám phá đủ vàng để chứa đầy một Gutse (một bình chứa dành cho nghi lễ) ở Samye, và với nó ngài có tiền để trùng tu. Mỗi ngày một cậu bé với bông đeo tai lam ngọc giúp nhóm xây dựng, nhưng đến bữa ăn thì không thấy. Nhóm người làm nghi ngờ và để ý trông chừng nó. Khi họ ngừng công việc họ thấy nó biến mất vào bức tường và họ nói lại với ngài. Ngài bảo đó là Vajrasadhu đến giúp họ. Khi họ đào, nhiều ma quỷ và lực lượng xấu thoát lên mặt đất và bay xung quanh với một cơn mưa đất đá. Mọi người chạy thục mạng. Với năng lực thiền định, ngài nhảy múa với những cử chỉ hung nộ, thốt lên những thần chú bằng tiếng Sanskrit. Ngài tập trung chúng trở lại và chôn chúng trước cặp mắt những người hiện diện. Lúc đó nhiều người thấy ngài trong hình tướng Guru Padmasambhava Hung Nộ. Một lần khi những người làm không thể dựng đứng hai trụ đá, ngài rung động áo dài và thốt lên những lời-của-sự thật (tạ ơn), và tức khắc họ có thể dựng chúng. Vào ngày lễ hoàn thành, nhiều người thấy ngài hiện thành nhiều hình tướng như Phổ Hiền, và nhiều Phật và Bồ tát xuất hiện trên trời và mưa xuống những hoa ban phước. Phật Maitreya (Di Lạc), chỉ vào ngài, cho lời tiên tri : “Sau hai đời nữa, con sẽ thành Phật có danh hiệu là Rirab Marme’i Gyalt-shen trong cõi Phật có tên là Pema Tsegpa.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam là một ẩn sĩ, và ngài từ chối có tổ chức hành chánh. Nhưng bởi vì sự uyên bác và bản chất hiền thánh của ngài, hàng ngàn tín đồ gồm những học giả, thiền giả, và người thường liên tục tụ tập chung quanh ngài. Những học giả vĩ đại nhất và những quan chức chính quyền cao nhất của thời đó được ngài gây cảm hứng. Do sự quan tâm thuần túy tâm linh của họ, họ kính trọng ngài không bao giờ bởi vì cơ cấu hành chánh hay vì uy tín xã hội, chính trị nào.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Gompa Kunrig xứ Drigung trở thành đệ tử của ngài và Longchen Rabjam, hoàn thành một lời tiên tri của Guru Padma-sambhava, đã kéo ông ra khỏi con đường chiến tranh. Trong tiên tri của Guru Padmasambhava có nói :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong nơi có tên là Dri</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một đứa con của quỷ gọi là Kunga sẽ đến.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trên thân nó sẽ được đánh dấu bằng một cây kiếm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau khi chết nó sẽ xuống địa ngục.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tuy nhiên, nếu một lưu xuất của Văn Thù từ phương nam (Tây Tạng)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có thể hàng phục nó,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nó sẽ thoát khỏi tái sanh vào địa ngục.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Kunrig tự xem mình là đối tượng của lời tiên tri vì ông có dấu tích một cây kiếm trên lưng và đang hoạch định chiến tranh ở tỉnh Wu và Tsang của Tây Tạng. Ông chỉ định một Lama tên là Palchigpa đi tìm xuất thân của Văn Thù. Vào thời đó ở miền Trung Tây Tạng không có ai bác học hơn Longchen Rabjam. Thế nên, sau khi tìm kiếm, vị Lama tin rằng Longchen Rabjam là thân lưu xuất của Văn Thù. Kunrig nhận nhiều giáo lý từ ngài, và đã cúng dường ngài một tu viện tên là Trog Ogyen. Drikung Kunrig là đối thủ thế lực nhất với Tai Situ của Phagtru, vị cai trị Tây Tạng, nên Longchen Rabjam đã thực sự ngăn chặn một cuộc chiến tranh nghiêm trọng ở Tây Tạng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Tidro ngài làm những lễ cúng Tshog một thời gian dài. Ngài kéo lên ngọn cờ chiến thắng trên một ngọn núi không ai có thể tới, và tâm hồn nhiều người đã thức tỉnh với Pháp. Trên đường đến Lhasa, ngài bị bao quanh bởi một lực lượng những người thù địch từ Yarlung, họ định giết ngài vì nghĩ rằng ngài là thầy của Drigung Kunrig. Nhưng do năng lực giác ngộ, ngài trở nên vô hình với họ. Ở Jokhang trước Jowo, ngài có nhiều thị kiến về chư Phật và nhận những ban phước. Khi đến Shugseb, qua sự biết trước của mình, ngài biết chiến tranh sẽ xảy ra năm Hợi Thổ (1359). Thế nên ngài đến Mon (Bhutan). Ngài ban cho những giáo lý ở Bumthang và Ngalong, nhờ đó thắp lên ánh sáng của Pháp ở đó, và ngài đặt những hạn chế về săn bắn và đánh cá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Bumthang ngài xây một tu viện ẩn cư, đặt tên cho nó là Tharpaling, Đất Giải Thoát, bởi vì có khoảng một trăm ngàn người tụ họp để nghe ngài dạy Pháp, mong muốn được giải thoát. Ngài được mời đến Lhotrag. Ở Layag Lhalung và Manthang, ngài ban những giáo lý Nyingthig cho khoảng một ngàn đệ tử chủ yếu là những nhà sư. Ngài được Lama Dampa Sodnam Gyalt-shen phái Sakya và Tragzang của Nyephu tôn kính vì những trả lời uyên bác cho những câu hỏi của họ, xóa tan những nghi nan về nhiều điểm quan yếu trong những quan điểm triết học và tu hành thiền định. Tai Situ Changchub Gyaltshen của Phagtru người trở thành cai trị của Tây Tạng năm 1349, ban đầu ghét Longchen Rabjam vì ngài là thầy của Drigung Kunrig, kẻ thù chủ yếu của ông. Về sau, khi ông nhận ra sự vĩ đại của cái học và bản chất Bồ tát của ngài, ông đã đặt bàn chân sen của Longchen Rabjam lên đỉnh đầu mình như một viên ngọc quý. Theo yêu cầu của Tai Situ, ngài ban cho ông và khoảng hai ngàn tín đồ những giáo lý Tinh Túy Tối Thâm (Yang-gSang Bla-Med). Nhiều lãnh tụ thời đó như Dorje Gyaltshen của Yardrog và Situ Sakya Zangpo của Wurtod, trở thành tín đồ của ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Lhasa ngài đã được tiếp rước bởi một đám rước gồm nhiều vị sư. Từ một cái ngai đặt giữa Lhasa và Ramoche, ngài ban giới nguyện Bồ đề tâm và những giáo lý khác cho đám đông. Ngài đã thuần hóa nhiều học giả kiêu căng bằng lý luận khúc chiết và đưa họ vào niềm tin chân thật vào Pháp. Nhờ vậy ngài được biết một cách công khai như là Kunkhyen Choje, Bậc Toàn Giác của Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Nyephu Shugseb ngài ban những giáo lý Đại Toàn Thiện cho một chúng hội hơn một ngàn tín đồ. Trong những vùng đồi đá gần tu viện Trog Ogyen, ngài ban những quán đảnh và giáo lý Tánh Sáng Tỏ của Tinh Túy Kim Cương cho khoảng ba ngàn người gồm bốn mươi vị thầy. Vào lúc chấm dứt những giáo lý họ làm một lễ Tiệc Cúng Dường (Tshog) và ngài nói với họ :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lễ Tiệc Cúng Dường này là cái cuối cùng chúng ta cử hành chung với nhau. Các ông cần từ bỏ những hành động thế gian và nắm lấy tinh túy tối hậu (của đời sống) bằng con đường sâu xa của tu hành Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi ngài đến chùa Zha, và vào lúc thuyết pháp cho quần chúng, những sự kỳ diệu xảy ra như có một cơn mưa hoa rơi xuống từ bầu trời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào năm năm mươi sáu tuổi, trong năm Con Thỏ Thủy của Rabjung thứ sáu (1363) giữa buổi ban pháp, ngài nói Gyalse Zodpa đem giấy, mực đến. Trong sự buồn rầu cùng độ của những đệ tử, ngài viết di chúc tâm linh của mình, có tên là Trima Medpa’i Od, Tánh Sáng Rỡ Vô Nhiễm. Đây là vài dòng từ di chúc ấy :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chừng nào chúng ta biết bản tánh của sanh tử,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thì những sở hữu thế gian không có tự tánh ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên giờ đây ta sắp bỏ thân vô thường</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">huyễn hóa này và</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ta sẽ nói cho các con cái gì độc nhất là tốt đẹp cho các con. Hãy nghe ta….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hôm nay, ta được cảm hứng bởi</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khuôn Mặt của bậc Pema bi mẫn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự vui sướng của ta với cái chết thì lớn hơn rất nhiều</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự vui sướng của những thương gia làm ra tài sản khi</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">đi biển,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Của những vua chư thiên khi tuyên bố thắng trận ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và của những bậc thánh đã hoàn thành nhập định.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và khi thời đã đến, những người du hành đi trên</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">con đường của họ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bây giờ Pema Ledreltsal sẽ không ở lại đây lâu nữa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mà sẽ đến ở trong trạng thái an toàn, phúc lạc và bất tử….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bây giờ chúng ta sẽ không có sự liên kết nào thêm trong đời này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ta là một người ăn xin sắp chết như nó muốn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ cảm thấy buồn mà hãy luôn luôn cầu nguyện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi ngài đến rừng ở Chimphu bằng con đường Gyama và Samye. Ngài nói : “(Năng lực tâm linh của) Chimphu tương đương với nghĩa địa Sitavan ở Ấn Độ. Chết ở nơi này tốt hơn một sự tái sanh ở những nơi khác. Ta sắp bỏ thân thể cũ rách của ta ở đây.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi ngài hiện tướng bệnh tật của thân. Nhưng ngài vẫn giữ việc thuyết pháp cho đám đông người tụ họp ở đó để nhận Pháp. Khi những đệ tử xin ngài nghỉ ngơi, ngài bảo : “Ta muốn hoàn thành việc thuyết pháp.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào ngày mười sáu tháng thứ mười hai của năm đó, ngài cử hành những cúng dường tỉ mỉ cho những Daka và Dakini. Bấy giờ ngài cho thời pháp công khai cuối cùng, nói rằng : “Các con cần hiến mình chỉ cho sự thực hành Pháp. Không có tinh túy nào trong những hiện tượng hợp tạo. Đặc biệt các con cần nhấn mạnh những thực hành Thregchod và Thodgal. Nếu các con gặp những khó khăn trong việc hiểu những thực hành, hãy đọc Yangtig Yidzhin Norbu ; nó giống như một viên ngọc như ý. Các con sẽ đạt đến niết bàn trong trạng thái Tan Biến mọi Hiện Tượng vào Bản Tánh Tối Hậu.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào ngày mười tám, ngài nói với vài đệ tử : “Hãy sắp xếp một lễ cúng dường và rồi tất cả các con hãy ra khỏi phòng.” Khi các đệ tử biểu lộ mong muốn được ở lại cạnh ngài, ngài nói : “Nào, ta sắp bỏ thân cũ rách huyễn hóa này. Chớ gây tiếng động, mà hãy ở yên trong thiền định.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi tâm thức ngài hòa tan vào trạng thái bổn nguyên và bỏ lại thân thể ngồi trong tư thế Pháp thân. Những người hiện diện chứng kiến mặt đất rung kên và những âm thanh ầm ầm, mà kinh điển diễn tả như những dấu hiệu của những chứng đắc cao. Họ để thân thể ngài trong hai mươi lăm ngày. Trong khoảng thời gian ấy những ánh sáng cầu vồng thường vòng qua bầu trời. Dầu trong tháng mười hai và tháng giêng, tháng lạnh nhất ở Tây Tạng, trái đất trở nên ấm, băng chảy và hoa hồng nở. Vào thời gian thiêu, trái đất rung ba lần và một tiếng trầm nghe được bảy lần. Những cái còn lại không thiêu cháy được là trái tim, lưỡi và mắt của ngài. Năm loại gDung và nhiều Ringsel có được từ xương là một dấu chỉ sự chứng đắc năm thân và năm trí huệ của Phật quả. Có nói rằng những Ringsel lớn tăng thành hàng trăm hàng ngàn. Một trong những hiện thân chính yếu của Long-chen Rabjam là đại Terton Pema Lingpa (1450-?) sinh tại Bhutan.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam là một trong những học giả và người kiệt xuất nhất và vĩ đại nhất của Tây Tạng. Nhưng hạnh kiểm hàng ngày của ngài thì giản dị, ‘rất người’ và tỉ mỉ. Ngài là tái sanh của những bậc chứng ngộ, tuy nhiên ngài bày tỏ cuộc sống của một cá nhân tầm thường sùng mộ những hoạt động nghiên cứu, tu hành và kỷ luật để hoàn thành mục đích của sự biểu lộ của ngài, đó là làm một tấm gương cho một người tu hành và một vị thầy của Pháp. Đây là một số trong nhiều đoạn gây cảm hứng và thích thú từ tiểu sử của ngài :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mọi thứ gì được cúng dường cho ngài từ niềm tin sẽ chỉ được dùng để phụng sự Pháp và không bao giờ cho chính ngài hay một mục tiêu thế gian nào khác. Ngài không cho phép bất kỳ vật gì đã hiến cho Pháp lại chuyển sai qua mục tiêu khác. Ngài không bao giờ bày tỏ sự tôn kính cho một người thường, dù vĩ đại hay quyền thế bao nhiêu, và nói : “Tôn kính phải được dành cho Tam Bảo mà không phải cho một người không đức hạnh.” Ngài không bao giờ cho một chỗ ngồi hay tôn trọng người kiêu căng vì thế lực hay giàu có. Khi phân phát những đồ cúng dường cho các nhà sư, ngài bắt đầu từ hàng chót, nói rằng “Chúng ta cần cẩn thận không bỏ sót người ở cuối, người ở hàng đầu dầu sao cũng có những đồ cúng dường.” Theo kinh điển, nếu một người bình thường nhận và chấp nhận sự tôn kính từ một người tâm linh cao cấp, nhiều công đức của người ấy bị thiêu cháy vì việc đó. Dù những đồ cúng dường cho ngài có lớn lao đến đâu, ngài nói những lời cầu nguyện hồi hướng mà không bao giờ biểu lộ sự biết ơn, và ngài nói, “Những thí chủ nên có cơ hội để tạo công đức.” Thế nên những thí chủ sẽ nhận được công đức thay vì những biểu lộ biết ơn vì những đồ cúng dường của họ. Vì ngài xa lìa những hy vọng và lo sợ của thành tựu thế gian, ngài sống đời mình trong những chốn ẩn cư và từ chối thiết lập hay sống trong bất kỳ chỗ ở nào, nói rằng, “Nếu tôi cố gắng, tôi có thể xây dựng một tu viện, nhưng làm thế chỉ tạo ra những phóng dật. Thế nên tốt hơn là tập trung vào việc điều ngự tâm thức (của người).”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài tuân thủ những lễ cúng của hai ngày thứ mười (của trăng tròn và khuyết, tức là ngày 10 và 25 âm lịch) và ngày mồng 8 mỗi tháng. Ngài từ ái bao la với người nghèo và kém may mắn, và ngài thường rất thích thú thức ăn do người nghèo cúng dường, dầu cho đó có thể có phẩm chất khủng khiếp, và rồi ngài nói một số lời cầu nguyện cho họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Điều này đưa người ta đến một nhận xét rất thú vị từ quan điểm xã hội, một người bình thường có thể nghĩ rằng Longchen Rabjam từ ái bao la với người nghèo, nỗ lực của ngài phải là đem mọi sự vật ngài có cho người nghèo. Trong nhiều trường hợp ngài hẳn phải làm như thế. Nhưng trong các tiểu sử không có đề cập nào về một đường lối xử thế như vậy cả. Bất luận thế nào, có một quan điểm tâm linh đàng sau sự việc ấy. Hầu hết sự vật mà ngài có thể có, ngài không bao giờ giữ mà chuyển cho những mục tiêu tôn giáo, đó đều là những “tặng phẩm của lòng tin” do các tín đồ, và chúng được hướng đến những mục tiêu tôn giáo. Một vật phẩm của lòng tin phải được tiêu dùng cho một mục tiêu tôn giáo, cho sự phục vụ Phật, Pháp, hay Tăng, và không cho những mục tiêu thế gian hay cho sự hưởng thụ của người thế tục. Nếu một vật phẩm của lòng tin được người thế tục hưởng thụ thay vì được dùng cho những mục tiêu tôn giáo, người thế tục sẽ tạo ra nghiệp mất công đức, điều đó sẽ tạo ra khó khăn trong tương lai. Từ quan điểm của Pháp, bằng cách nhận những đồ cúng dường của người nghèo khổ, ngài cho họ một cơ hội để tạo những công đức, đó là nguyên nhân cho hạnh phúc tương lai. Thế nên ngài thật sự ban ân cho người nghèo bằng cách cung cấp chính mình như một phương tiện cho họ để làm ra công đức, mặc dù ngài có thể có những bữa ăn tốt trong những gia đình giàu có nhất. Đó là lý do tại sao những người viết tiểu sử đặc biệt nói về việc ngài thọ hưởng thực phẩm của người nghèo để nêu lên lòng tốt của ngài với họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong Lịch sử của Lama Yangtig Longchen Rabjam khuyên những người theo ngài bằng những lời giản dị :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Các người theo ta trong tương lai ! Hãy bỏ lại những hoạt động thế gian của cuộc đời này. Hãy bắt đầu những chuẩn bị cho những đời tới. Hãy nương dựa vào một vị thầy đức hạnh toàn hảo. Hãy nhận lãnh những giáo huấn về tinh túy của tánh sáng tỏ. Hãy thực hành những giáo lý bí mật của Nying-thig trong vắng vẻ. (Hãy đạt đến quả của) sự siêu vượt khỏi (những khác biệt của) sanh tử và niết bàn ngay trong đời này. Nếu các người nhận được lời tiên tri nào, hãy hiến mình cho sự phụng sự những người khác hết mức của mình. Hãy truyền bá những giáo lý trong khi nhẫn chịu sự vô ơn và khó nhọc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một trong những tính cách nổi bật nhất trong những lời chỉ dạy của Longchen Rabjam là sự nhấn mạnh của ngài vào sự hòa điệu với tự nhiên : sự bao la và vẻ đẹp an bình của tự nhiên bên ngoài là chỗ nương tựa và sự bao la và tỉnh giác an bình của bản tánh giác ngộ bên trong là mục tiêu. Bằng cách nhìn thấy sự an bình không nhiễu loạn, sự sáng tỏ không nhiễm ô và sự đơn giản không rối rắm của tự nhiên bên ngoài như nó vốn là và bằng cách nương dựa vào chúng, người ta có được cảm hứng để sự chứng ngộ trạng thái tự nhiên bên trong hiện bày. Ngài cảm kích, hân thưởng bản tánh của những hiện tượng bên ngoài và thấy những đức hạnh của chúng. Ngài nhấn mạnh rằng đối với một người mới học, những hiện tượng tích cực bên ngoài là một căn cứ quan trọng để phát sanh tiến bộ thiền định.</span></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><b>Một số trích dẫn từ các tác phẩm của Ngài Longchenpa</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những trích dẫn sau từ những tác phẩm của ngài nói lên những quan điểm của ngài về tự nhiên bên ngoài và bên trong.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những hang động và những cánh đồng yêu thích trong rừng bình an</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trang hoàng với ngàn hoa khiêu vũ và những dòng suối âm vang</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những nơi đó, chúng ta có thể ngắm nhìn không lay động tâm thức mệt mỏi của chúng ta,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và ở lại đó để hoàn thành những mục đích của đời sống quý giá làm người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nơi đó, không gặp chúng sanh hoang dã nào,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đã làm bình lặng những phiền não nhiễm ô và hoàn thành bảy phẩm tính cao cả,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào lúc xả bỏ thân thể này,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mong rằng chúng ta đạt được đức vua của tâm thức, trạng thái bổn nguyên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tự nhiên bên ngoài lợi lạc cho sự tu hành tâm linh bên trong :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trên đỉnh đồi, trong rừng, trên một hòn đảo</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thích thú và hài hòa suốt bốn mùa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy tham thiền nhất tâm không xao lãng</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Về tánh sáng tỏ thoát khỏi mọi tạo tác ý niệm….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vì bên ngoài và bên trong là tương thuộc,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người ta cần sống trong một nơi chốn vui thích, đơn côi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những đỉnh núi, vì chúng mở rộng và làm trong sáng tâm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là những nơi rất tốt để xua tan hôn trầm và tốt lành cho sự tu hành giai đoạn phát sanh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những núi tuyết, vì chúng làm sạch sẽ tâm và làm trong sáng tham thiền,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là những nơi tốt cho tu hành quán chiếu, và sẽ có ít che chướng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những rừng cây, vì chúng làm ổn định tâm và khai triển sự an trụ của tham thiền,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là những chỗ tốt cho tu hành an định và tăng trưởng phúc lạc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những núi đá, vì chúng làm sanh khởi cảm giác hối lỗi và vô thường,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáng trong và uy lực, là những chỗ tốt để hoàn thành sự hợp nhất của quán chiếu và an định.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những bờ sông, vì chúng đã làm ngắn lại những tư tưởng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phát sanh sự khai triển của sự vọt khỏi sanh tử nhanh chóng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những nghĩa địa, vì chúng uy lực và khiến những chứng đắc đến nhanh,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là những chỗ tốt để tu hành cả hai giai đoạn phát triển và thành tựu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự lựa chọn những nơi chốn thiền định tùy thuộc vào sức mạnh và nhu cầu của cá nhân thiền giả :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những nơi chốn như thành thị, chợ phiên, nhà trống, cây đơn độc,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nơi người và loài chẳng phải người hay lui tới,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Làm phóng dật những người mới học và thành chướng ngại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nhưng đó là chỗ dựa tối cao cho thiền giả rất an ổn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vẻ đẹp và bình an của cô đơn làm phát sanh cảm hứng, niềm vui và sự an định trong tâm thức và đời sống. Longchen Rabjam truyền đạt những đức hạnh của cô đơn khi diễn tả sự an định của rừng trong Kể Lại Niềm Vui Trong Rừng :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong một khu rừng, tự nhiên có ít phóng dật và</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">tiêu khiển,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người ta xa khỏi mọi khổ đau của hiểm nguy và</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">bạo lực.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Niềm vui lớn hơn rất nhiều sự hoan hỷ của những thành thị cõi trời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy hưởng thụ thiên nhiên tĩnh lặng của rừng hôm nay.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hỡi tâm thức, hãy nghe những đức hạnh của rừng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những cây quý, vật cúng dường xứng đáng cho chư Phật,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trĩu đầy trái cây lớn dần rực rỡ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hoa nở và lá cây phát ra mùi hương dịu dàng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hương thơm đầy khắp không khí.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những dòng suối trên núi âm vang điệu nhạc mê hồn của trống.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự mát lạnh của mặt trăng xúc chạm mọi sự. Khoảng giữa cây cối</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phủ lấy áo mây dày.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bầu trời trang hoàng bằng muôn vàn tinh tú.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những đàn thiên nga bay quanh những hồ thơm ngát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chim và nai qua lại giữa an bình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những cây như ý, hoa sen và hoa loa kèn màu xanh</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đầy những con ong mật vo ve.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cây cối chuyển động theo những điệu múa nhịp nhàng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những cánh tay của dây leo thõng xuống</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Gởi lời chào mừng đến những kẻ viếng thăm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những ao trong mát phủ đầy hoa sen</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rạng rỡ như những khuôn mặt tươi cười.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những thảm cỏ xanh như bầu trời giáng hạ trên mặt đất</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những hang động yêu kiều với những chuỗi cây hoa</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như tinh tú mọc trong bầu trời trong sáng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như chư thiên chơi đùa trong một vườn hoa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những con cu gáy phát tiếng ngọt ngào, làm say bằng niềm vui.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Gió mùa thổi như ban phát ngàn hoa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những đám mây âm vang tiếng sấm vui tươi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những trận mưa rào tuyệt vời đi đến làm mát lạnh hơi nóng</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thức ăn từ rễ, lá và trái</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không nhiễm độc bởi những hành vi bất thiện và được cung cấp suốt bốn mùa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong rừng những xúc cảm tiêu tan tự nhiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không có ai nói những lời bất hòa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vì xa khỏi những phóng dật do tiêu khiển từ phố thị,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong rừng sâu sự thanh bình của nhập định lớn lên tự nhiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đời sống trong rừng phù hợp với thánh pháp và thuần hóa tâm thức</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và hoàn thành hạnh phúc của thanh bình tối hậu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đối với người mới học, quan trọng là thấy những đức hạnh nằm trong cái đẹp của những nơi chốn cô tịch như rừng núi để gây hứng khởi cho tâm thức với sự cô đơn. Nếu người ta không khai triển một thói quen thấy những mặt bình thường mà tích cực của cô đơn, như vẻ đẹp của nó, người ta có thể không bao giờ dám bỏ những tiêu khiển của trần thế. Mục tiêu thấy vẻ đẹp của thiên nhiên không phải là tạo ra một tương quan xúc cảm với nó. Longchen Rabjam giải thích cách thấy và diễn dịch những cảnh bình thường như một minh họa của Pháp và cảm hứng cho Pháp :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong vườn hoa đẹp trên bờ sông</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những con ong-mật-Như-Lai ngồi trên những đóa hoa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Làm đẹp trọn vẹn khu vườn và phát ra âm thanh trống Pháp,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và toàn thể khu vườn hiển lộ như đang tôn kính nghe Pháp….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bình an và giàu có với sự trang sức bằng những tràng hoa đức hạnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được làm đẹp bởi những vinh quang của khổ hạnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự giàu sang không thể có ngay cả ở cõi trời Phạm Thiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cây cối trĩu quả và lá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những vườn cây cung cấp những lạc thú khác nhau trong bốn mùa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những dòng sông phát ra âm nhạc dịu dàng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những khu rừng được trang hoàng bằng những nhà khổ hạnh tham thiền.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ âm thanh cây cối tiếp xúc với gió,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chim chóc, ong và nai</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nghe thánh pháp làm bình yên trong tiếng nói Phạm Thiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những quang cảnh này làm nở đóa hoa ngàn cánh của niềm tin.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như thể mọi nghiệp tốt được hoàn thành trong quá khứ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và những ban phước của lòng từ ái của những thánh nhân</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đã thâm nhập vào những sinh thể của đất này,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và đại dương sanh tử đang dứt tận.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam giải thích như thế nào, sau khi đi vào sự cô đơn an bình của rừng, tiến bộ trên con đường thiền định :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau khi vào rừng, hãy ở trong một cái hang dưới chân một ngọn đồi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Dưới một gốc cây trong một đồng cỏ với cây thuốc và hoa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hay trong một lều tranh hay lợp bằng lá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với nước uống, thức ăn và trái cây,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một lối sống giản dị duy trì thân xác</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và hiến mình ngày đêm cho Pháp đức hạnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong khu rừng, bằng thí dụ là những lá chết</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thấu hiểu rằng thân thể, tuổi trẻ và những giác quan</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Dần dần thay đổi và không có tự tánh nào,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và mọi loại thịnh vượng chắc chắn phải suy tàn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bằng thí dụ những lá lìa cây</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đi đến chỗ thấu hiểu rằng bạn, thù cũng như thân mình,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đang tụ hội, đều thuận theo sự tan rã</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và phải trói buộc vào chia lìa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bằng thí dụ là những ao sen trống không</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thấu hiểu rằng những đối tượng khác nhau của tham muốn giàu sang</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tất yếu phải đổi thay, rằng không có tinh túy thật sự nào trong chúng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và cái gì được tích tập cái đó sẽ tiêu vong.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bằng thí dụ là sự thay đổi của ngày, tháng và bốn mùa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thấu hiểu rằng thân thể như hoa nở mùa xuân</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phải chịu biến đổi khi thời gian trôi chảy, sự trẻ trung của nó phai dần,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và thần chết sẽ đến là chắc chắn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bằng thí dụ là trái cây rơi rụng</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thấu hiểu rằng tất cả, trẻ, lớn hay già,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phải lệ thuộc vào cái chết, rằng thời gian chết thì không thể định,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và tất yếu cái gì có sanh cái đó có chết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bằng thí dụ là sự sanh khởi của những phản chiếu trong ao</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thấu hiểu rằng những hiện tượng khác nhau xuất hiện như không có (hiện hữu) chân thật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chúng như những bóng huyễn, một ảo ảnh, một mặt trăng trong nước,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và nhất định trống không, vô tự tánh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đã thấu hiểu những hiện tượng theo cách ấy,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trên một chỗ rộng rãi hãy ngồi thẳng và thoải mái.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với thái độ làm lợi lạc cho chúng sanh, hãy thiền định về tâm của giác ngộ (Bồ đề tâm).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không theo những tư tưởng của quá khứ và không đem đến những tư tưởng tương lai,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và giải phóng hiện tại khỏi sự suy nghĩ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy tham thiền trong một trạng thái không dao động, không có những phóng chiếu và thu hồi….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">An trụ trong tự do, sáng tỏ, trực nhận và sống động,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">(Sự hợp nhất của) tánh không và sáng tỏ, thoát khỏi mọi nắm bắt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đây là sự thấu hiểu của chư Phật ba đời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngoài việc tham thiền tự nhiên với sự thong dong</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong nghĩa bổn nhiên vốn sẵn, bản tánh bổn nhiên của tâm như nó là,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy không nghĩ điều gì cả, giải phóng tất cả tư tưởng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tự do khỏi những tư tưởng, phân tích và những ý niệm hóa</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là cái nhìn thấy (thị kiến) của chư Phật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên, làm bình lặng khu rừng tư tưởng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy trông xem cái an bình tối hậu, bản tánh bổn nhiên của tâm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào lúc kết thúc (thời thiền) Hãy hồi hướng những công đức bằng phương tiện gọi là “thanh tịnh thoát khỏi ba phương diện.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hầu hết những tác giả Tây Tạng biểu lộ sự khiêm hạ của các ngài trong những tác phẩm, như tự diễn tả mình là ngu dốt và thất học mặc dầu các vị là những đại học giả ; hoang dã và mê mờ mặc dù các vị là những người chứng ngộ, và là những thành viên vô nghĩa và thấp thỏi của cộng đồng mặc dù là những bậc được kính trọng nhất. Đó cũng là một cách để huấn luyện mình không phát sanh kiêu hãnh và tự phụ trong tương quan đời sống và khiêm hạ, rất “người”, và bình đẳng với tất cả và cũng để dạy những người khác sự khiêm hạ. Nhưng Longchen Rabjam như vài học giả chứng ngộ vĩ đại khác, để lộ đời sống chân thật của mình và công bố tiếng gầm không sợ hãi và không giới hạn của sự học và cái thấy thấu suốt của mình để gây cảm hứng và làm phát sanh sự xác tín vào những giáo lý trong tâm thức những người theo đạo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cho đến giữa thế kỷ này, trong các tác phẩm, hầu hết những đại học giả của Tây Tạng đã dựa vào kinh điển và những lời dạy của những thánh nhân đã chứng ngộ chân lý như nó là, hay vào chính chứng ngộ của các ngài về chân lý như nó là. Ngày nay nhiều học giả hiện đại viết ra những nhận định và phê phán về kinh, luận mà không có một manh mối y cứ nào, dù là về mặt trí thức, về thật nghĩa là gì.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam viết vì ngài đã học từ những đạo sư chứng ngộ của mình và từ những kinh điển chính thống và vì ngài đã tự mình chứng ngộ trực tiếp qua sự tu hành mãnh liệt trên con đường ngài đã được giới thiệu vào. Ngài không trình bày điều gì chỉ nương dựa vào quan điểm trí thức của mình. Chính Longchen Rabjam viết :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vì tu hành từ đời này sang đời khác,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và đã được đưa vào con đường này bởi những vị thầy thiêng liêng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôi đã chứng ngộ nghĩa của tinh túy thậm thâm</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và đã thành tựu những thừa tối thượng như đại dương.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bởi thế, trong trí huệ bao la như bầu trời,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ những đám mây lớn của sự học và phân tích với tia chớp của những lợi lạc và hạnh phúc,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Kèm với sấm của những chứng ngộ và tham thiền,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cơn mưa lớn này của giáo lý rải xuống.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bởi vì sự bao la của cái học và phân tích trí thức,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôi đã hấp thụ nghĩa của tất cả mọi thừa</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và đã học trong con đường tuyệt hảo này của tánh Kim cương.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên tôi đã viết bình giảng này về cảnh giới sâu thẳm và bao la tối hậu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong Shingta Chenpo ngài viết :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Padma(sambhava) vinh quang, sanh từ đại dương của đại bi và trí huệ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người theo ngài, phú bẩm với ngàn Tia Sáng Vô Nhiễm (Longchen Rabjam),</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là mặt trời của chúng sanh, xua tan bóng tối của tâm thức và</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">An trụ trong cõi giới bổn nguyên không che ám.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong Gyuma Ngalso ngài viết :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bậc Chiến Thắng nói rằng tất cả mọi hiện tượng thuộc về tính cách hai cái huyễn (nhiễm ô và thanh tịnh).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vì mục tiêu chứng ngộ điều này,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bằng cách cô đọng tinh túy của mọi kinh và tantra,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôi sẽ giải thích cái tôi đã chứng ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong Semnyid Rantrol ngài viết :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những hiện hữu hiện tượng là vô sanh và bình đẳng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong đó những tri giác (nhận thức và tâm) vốn nguyên giải thoát</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phổ biến khắp như nhau không nắm bắt ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Về sự thống trị kỳ diệu này, Tâm Tự Nhiên Giải Thoát</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy nghe khi tôi nói với các bạn cái tôi chứng ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đôi khi mục đích viết là để cho chính sự học của người viết. Cách tốt nhất trong ba cách học là viết. Hai cách kia là nghe (nghiên cứu) những giáo lý và thảo luận hay tranh luận. Thế nên mục đích chính của việc biết là xua tan bóng tối, vô minh của chính mình và của người khác. Longchen Rabjam giải thích tại sao ngài đã viết Semnyid Rangtrol :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Giáo lý này, tinh túy của mặt trời,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được tỏa sáng bởi sự khởi lên của những Tia Sáng</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vô Nhiễm (Longchen Rabjam)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngày nay chúng ta đang ở trong thời đại chiến đấu, bao phủ bởi bóng tối của những tà kiến ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Để xua tan chúng, tôi viết bản văn này của nghĩa</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">rốt ráo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam kết luận bình giảng Nelug Dzod rằng :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ bầu trời bao la của những chủ đề có thể biết được,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với trí huệ, ngàn Tia Sáng của Mặt Trời (Longchen Rabjam),</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cô đọng tinh túy cốt lõi những tantra, kinh điển và giáo huấn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tạo nên (sự chỉ dạy này) ở vùng núi Kangri Thodkar.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam, khác với nhiều tác giả Phật giáo khác, thì rất trực tiếp và thành thật trong việc chỉ ra những quan điểm sai lầm của những người khác, như một tục ngữ Tây Tạng nói : “Chỉ ra những lỗi lầm của các đệ tử một cách trực tiếp là tính chất của một vị thầy.” Nó không phải từ ghét giận hay khắc nghiệt mà bởi vì tâm thương xót và bản tánh khiêm tốn, thành thật và cởi mở của ngài, Trong Choying Dzod, ngài viết :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bây giờ, những con voi khoe khoang họ là người theo Ati,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tuyên bố rằng đám tư tưởng chập chờn là tâm giác ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ôi ! những kẻ ngu này đã rơi vào hầm tối,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Họ xa lìa nghĩa của Đại Toàn Thiện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu các người không biết (những khác biệt giữa) năng lực của những sanh khởi và năng lực của tánh giác ngộ bổn nhiên,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Làm sao các người có thể hiểu tinh túy của tâm giác ngộ ?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như Phật đã nói trong kinh, Longchen Rabjam cũng giải thích rằng ngài chỉ có thể dạy Pháp, con đường đạt đến giác ngộ nếu người ta đi theo nó. Ngài sẽ không có năng lực đem đến giác ngộ cho những tâm thức của chúng sanh chỉ bằng cách sống giữa con người, thế nên ngài mong ước sống trong cô đơn hoang vắng và bằng thực hành đạt đến địa vị Phật và phụng sự chúng sanh hiệu quả hơn :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Để cho chúng sanh, tôi ở đây,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cho vài giáo lý từ lòng bi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nhưng tôi không có thần lực để đem sự chứng ngộ tánh Như cho họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên tôi sống một mình trong rừng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong một khu rừng nhiều nước sạch, đầy trái cây, hoa và lá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bao quanh với hàng rào tre và cây nho,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với những chỗ ở mát mẻ, thích thú, hấp dẫn bằng tre,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mong rằng tâm tôi đạt đến an định.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nơi đây, không có người cũng không ma quỷ thấy tôi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sống bằng nước sạch và chỉ bằng những dưỡng chất khổ hạnh,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và bằng thiền định về những ý nghĩa của những giáo huấn cam lồ của Lama tôi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mong rằng tôi bỏ đi thân thể sống này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào lúc đó, bằng cách chứng ngộ cái sáng tỏ vào lúc chết,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Giải thoát cái sáng tỏ của trạng thái trung ấm vào trạng thái bổn nguyên,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và trở nên không thể tách lìa với những thân và những trí huệ bổn nguyên,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nguyện tôi thành tựu những lợi lạc hai phần một cách tự nhiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Do đọc những tác phẩm ấm áp thích thú và thấu nhập của ngài, người ta có thể cảm thấy sự xúc chạm của tâm bi mẫn của ngài. Những dòng sau là một số diễn tả thường xuyên những cảm giác tự phát và tự nhiên trong hình thức những mong ước trong những luận văn học giả của ngài :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bất kỳ ai đối với tôi</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phát sanh giận dữ hay niềm tin, hay bất kỳ ai làm thương tổn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ca ngợi hay theo tôi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nguyện tôi dẫn dắt tất cả họ nhanh chóng đến giác ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài kết thúc Shingta Chenpo với những ước nguyện sau :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nguyện hạnh phúc của tôi được tất cả chúng sanh kinh nghiệm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nguyện những khổ đau của chúng sanh được chuyển di qua tôi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cho đến khi nào sanh tử trống rỗng</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nguyện tôi vẫn dẫn dắt chúng sanh (đến hạnh phúc và giác ngộ).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Giống như những đạo sư Phật giáo khác, Longchen Rabjam dùng tính chất khổ đau và vô thường của sanh tử như là khí cụ để khuyến tấn những đệ tử thực hành Pháp. Trong Terjung Rinpoche’i Logyu ngài viết :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cuộc đời vô thường như những đám mây mùa thu,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tuổi trẻ vô thường như hoa mùa xuân,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thân thể vô thường như tài sản mượn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Giàu có vô thường như sương trên cỏ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bạn bè thân thuộc vô thường như một người khách trong một cửa tiệm ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Dù họ có hội hợp, họ sẽ tan lìa như những người bạn đi du lịch ; và</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thần chết, như bóng của dãy núi phương tây, sẽ không trì hỗn….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự sanh thì còn đáng sợ hơn sự chết,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bất cứ nơi nào người ta tái sanh trong sanh tử, không có chỗ nào là hạnh phúc,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đức Phật đã nói ; nó giống như hầm lửa….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bằng cách học hỏi người ta sẽ không đạt giải thoát khỏi đau khổ :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trước hết, quyết định nhờ những học hỏi không sai lầm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Xua tan mọi nghi ngờ và giả tạo bằng suy tư.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và rồi thiền định về nó, người ta được giải thoát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên, đã học nghĩa không sai lầm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Quan trọng là thực hành nó một mình trong rừng….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cuộc đời này có tự do và những phú bẩm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không biết khi nào nó sẽ mục nát ; nó như một bình đất sét.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tri giác về ngày mai hay đời tới</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người ta sẽ ra sao đều không được biết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên xin hãy thực hành Pháp ngay ngày hôm nay.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những công việc của đời này sẽ không bao giờ chấm dứt cho đến khi chết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi các bạn dừng chúng lại, chính là bản tánh của chúng mà chúng được chấm dứt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Niềm tin vào Pháp thì khó phát triển,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên bất cứ khi nào các bạn nhớ đến Pháp,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">hãy thực hành nó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau đây là một số sáu thành tố do Longchen Rabjam ban cho trong Mengag Dzod để tóm lại và làm rõ những điểm đạo đức, triết học, tôn giáo và thiền định của Pháp. Những yếu tố quan trọng để đi vào Pháp:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu điều quan trọng để đi vào Pháp là</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tuân thủ kỷ luật tu hành, nền tảng của con đường,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Học hỏi nhiều chủ đề khác nhau mà không thiên chấp,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Làm bình lặng ba cửa và tự tâm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngừng dứt những hành vi bất thiện, và phát triển những hành vi thiện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có hổ thẹn, và phát triển lòng tin,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và có một vị thầy đức hạnh và những người bạn đức hạnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những điều ấy rất quan trọng cho người mới học.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những tính cách của cô đơn :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu yếu tố quan trọng để sống trong cô đơn là</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một nơi chốn đơn độc với những dấu hiệu tốt lành,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nơi những bậc quá khứ đã đặt chân đến,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở đó những người giữ nguyện tụ tập vì nó không dơ bẩn bởi ô nhiễm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nơi không có những phóng dật và tiêu khiển,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nơi những lương thực dễ có được,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và nơi không có nguy hiểm từ người hay loài không phải người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam nhấn mạnh rằng sự cô đọng của tất cả các thừa vào một cái là phương tiện đạt đến Phật tánh, và ngài bác bỏ quan điểm rằng chúng là những thân phần trái nghịch nhau của những giáo lý. Ngài kết luận Semnyid Ngalso với những lời sau :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bây giờ, những người bình thường mà tâm nhãn không thanh tịnh,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cho những con đường khác nhau của “dòng tương tục” (tantra) và của “hoàn thiện” (ba la mật)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là trái nghịch nhau. Họ không biết cách kết hợp chúng thành một.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bởi thế, họ có những con mắt thiên lệch.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở đây (trong bản văn này), những nghĩa sâu xa tối thượng của các thừa, thừa nhân và thừa quả,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôi đã cô đọng thành một, là phương tiện của sự tu hành.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Theo quan điểm của Longchen Rabjam, mọi đức hạnh của chín thừa được cô đọng trong tánh giác, tâm giác ngộ của Đại Toàn Thiện :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những kinh điển của Thanh Văn, Bích Chi Phật và Bồ tát</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đồng ý trong cái thấy xác định không có sự hiện hữu của cái ngã của người và cái ngã của pháp</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và trong sự tự do thoát khỏi những ý niệm hóa, như hư không.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong những kinh điển của yoga Ati bí mật tối thượng và vĩ đại,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong tự do như hư không thoát khỏi những phân biệt ta người,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trí huệ bổn nguyên tự-khởi, người ta an trụ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên tất cả nghĩa (của những thừa trước) được cô đọng trong tinh túy tối thượng này (tánh giác).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những loại (tantra ngoại) Kriya, Upa (yoga) và Yoga (tantra),</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đồng ý rằng nhờ phương tiện những mây cúng dường của tự mình, bổn tôn và những tham thiền</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người ta đạt được sự thành tựu tịnh hóa ba cửa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong tột đỉnh kim cương bí mật, vua của những giáo lý,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người ta chứng nghiệm những tri giác, âm thanh và tư tưởng là những bổn tôn từ trạng thái bổn nguyên</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và thành tựu sự tịnh hóa ba cửa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên sự chứng ngộ của (ba thừa) này được thành tựu trong tinh túy tối thượng này (tánh giác).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ba tantra nội Maha, Anu và Ati đồng ý :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế giới và chúng sanh, những hiện hữu hiện tượng, là những bổn tôn nam và nữ và cõi tịnh độ của các vị,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cõi giới tối hậu và trí huệ bổn nguyên hợp nhất viên mãn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và bản tánh tối hậu là trí huệ bổn nguyên bất biến và tự-khởi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong cái bí mật tối thượng nhất này (tánh giác), bởi vì tất cả vốn toàn thiện,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và ngoại trừ (những xuất hiện của) những lâu đài vô tạo tác trong cõi tịnh độ của pháp giới bổn nguyên lạc phúc,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chúng toàn khắp trong không có những chiều kích trong hay ngoài,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không có những đặc thù của nỗ lực, chấp nhận hay chối bỏ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tất cả là giải thoát trong pháp giới vô cùng của Pháp thân,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên tất cả những chứng ngộ của chín thừa đều được thành tựu trong tinh túy bí mật vĩ đại này (tánh giác).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam diễn tả sự chứng ngộ của Đại Toàn Thiện trong những lời giản dị, sống động mà sâu xa :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu người ta chứng ngộ sanh tử không có căn cứ, mối manh, đó là niết bàn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu người ta chứng ngộ niết bàn chỉ là giả danh, đó là cõi giới bổn nguyên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu bạn tự do khỏi những nỗ lực và vượt lìa tâm thức, đó là Pháp thân.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu bạn trong tham thiền không có tư tưởng, đó là siêu vượt khỏi những tư tưởng và diễn tả.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu không có những ý niệm và bám luyến, đó là trạng thái tự nhiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu bạn vượt khỏi tâm thức và những hiện tượng đều Không, đó là nghĩa tối hậu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu bạn tự do khỏi “là” và “không là”, đó là tự do khỏi những cực biên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu bạn cắt đoạn gốc rễ những lo sợ và nghi ngờ, đó là giác ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">(Giáo lý Đại Toàn Thiện) là tinh túy chân thực và tối hậu ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôi dạy nó cho những người phước đức mai sau.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bạn và những người theo đạo phước đức khác,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy bảo đảm sự chứng đắc vĩnh cửu trong trạng thái vô tướng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đoạn sau là một số trích dẫn từ những tác phẩm kệ của Longchen Rabjam để làm rõ cái thấy của ngài về đời người và những hiện tượng thế gian, và sự trình bày của ngài về cái thấy, thiền định và những kết quả của sự tu hành Đại thừa :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu phương diện người ta cần nương dựa cho đến chứng đắc rốt ráo :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy bỏ thân thuộc và nương dựa vào những thiện tri thức tuyệt hảo,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy bỏ những bạn bất thiện và nương dựa vào những vị thầy có học và khéo léo hộ trì,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy bỏ những đồng ý và nương dựa vào sự tương hợp tối hậu với Pháp,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy nhận sự học hỏi và tư duy và áp dụng chúng cho tâm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy bỏ những thành thị và ở trong núi non hoang vắng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và tìm kiếm những giáo lý và thực hành chúng với chuyên cần.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu người ta có thể theo như thế, người ta sẽ hoàn thành những chứng đắc nhanh chóng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Man-Ngag Rinpoche’i Dzod MD 7b/1 :</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đối với việc (làm bình lặng) sự nắm bắt cái ngã của những đối tượng, hãy nhìn vào sự thay đổi của chúng trong bốn mùa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đối với bám chấp vào sự thường còn của cuộc đời, hãy nhìn vào hạt sương trên cỏ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đối với vô minh về nhân và quả, hãy nhìn vào những hạt giống và trái của nó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đối với vô minh của tri giác và tâm thức, hãy nhìn vào những giấc mộng khi ngủ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đối với vô minh về một vị, hãy nhìn vào mật mía và những phản chiếu của nó,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và đối với vô minh về bất nhị, hãy nhìn vào nước và băng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những cảnh tượng này là những đối trị vĩ đại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 43a/3 </b><span style="font-weight: 400;">:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự từ bỏ sáu hành vi thiện và bất thiện trộn lẫn là :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ nương dựa vào một vị thầy không có tinh túy tâm linh mà lại khiến giận ghét và tham luyến tăng trưởng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ chấp nhận một đệ tử là một bình chứa không thích hợp (với Pháp) và nghĩ đến những lỗi lầm (của những người khác),</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ thực hành những đức hạnh (trên danh nghĩa) chúng (thật ra) là sự tích tập những hành vi không đức hạnh,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ ban bố từ thiện với mong mỏi được kính trọng và được đáp đền,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ làm những cúng dường để phục vụ cho thân thuộc và sự giàu có của mình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và chớ ban cho những giáo lý để lừa dối người ta mà kiếm lợi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Theo những khuyên bảo này, người ta sẽ tương ưng với Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 9a/5 :</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chứng đắc quả Phật dựa vào Sáu phương diện :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Dụng cụ tuyệt hảo cho tu hành Pháp nương dựa vào việc có một đời người quý báu,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">(Chứng đắc giải thoát) nương dựa vào sự tu hành vì không có tu hành người ta không đạt giải thoát,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành dựa vào hiểu biết trọn vẹn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hiểu biết nương dựa vào học hỏi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự hoàn thiện của học hỏi nương dựa vào suy nghĩ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và tất cả nương dựa vào việc có một đạo sư đạo hạnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 13a/4</b><span style="font-weight: 400;"> :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu nâng đỡ tuyệt hảo của thực hành Pháp :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôn kính Tam Bảo như đối tượng tôn thờ tối thượng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hy sinh những hoạt động của cuộc đời này như sự hy sinh tối thượng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có lòng tin, học và suy nghĩ như sự giàu có tối thượng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nhận biết tự tánh của Tâm như người bạn tối thượng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Buông bỏ bám chấp vào những tham muốn ích kỷ như thái độ tối thượng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và thấy Lama như Phật, đó là sự thành tựu tối thượng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu người ta hành động theo những đường lối này, người ta sẽ hoàn thành những mục tiêu hai phần.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 64b/4 </b><span style="font-weight: 400;">:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu đức hạnh quan trọng là :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lòng bi cho chúng sanh là quan trọng cho việc chứng ngộ vô ngã,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tin vào nhân quả là quan trọng cho sự thâm nhập tánh Không,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không lưu lại trong sanh tử là quan trọng cho sự an trụ trong an lạc,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không mong chờ những kết quả là quan trọng cho lòng từ thiện,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ bỏ khoe khoang là quan trọng cho sự tuân thủ kỷ luật tu hành,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và sự khiêm tốn trong nhu cầu là quan trọng cho việc sống cô đơn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu có sáu điều này người ta thành tựu việc tu hành Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 46a/1 :</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những cần thiết của sáu cái bình đẳng :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cần thiết cảm nhận rằng con của mình và kẻ thù là bình đẳng do biết rằng chúng sanh của sáu đường là những bà mẹ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cần thiết thấy sự bình đẳng giữa vàng và sỏi đá do chứng ngộ giàu có vật chất là huyễn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cần thiết thấy sự bình đẳng của những hành vi thiện và bất thiện vì không có nhân và quả trong thật tánh của chúng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cần thiết thấy tánh nhất như của thiền định và xuất định do chứng ngộ thật tánh của sáu thức.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cần thiết thấy tánh vô phân biệt do diệt trừ những phiền não bằng cách thấy chúng là những trí huệ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và cần thiết thấy sự bình đẳng của sanh tử và niết bàn vì bản tánh của chúng là bổn nhiên thanh tịnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thấy những bình đẳng này là đại yoga.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 48a/5 </b><span style="font-weight: 400;">:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành sáu hoàn thiện (sáu ba la mật) không tách lìa là :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không để cho lòng rộng lượng bị đánh cắp bởi kẻ thù keo kiệt,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không để cho những tên cướp, tà hạnh, phá hủy kỷ luật đạo đức,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không để cho lòng khoan dung bị đâm thủng bởi vũ khí của giận dữ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không để cho tinh tấn bị trói buộc bởi xiềng xích của giải đãi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không để cho tham thiền bị ô nhiễm bởi thuốc độc của những xao động,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và không để trí huệ bổn nguyên bị che ám bởi bóng tối của vô minh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 50a/4</b><span style="font-weight: 400;"> :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành sáu tính chất tuyệt hảo là :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ bỏ những hoạt động của thân mê lầm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ bỏ những diễn tả của ngữ vô nghĩa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ bỏ những phóng chiếu của những tư tưởng của tâm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ bỏ những bám luyến của tham hưởng thụ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ bỏ dấn thân vào những phóng dật và tiêu khiển,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và từ bỏ sự nịnh hót như một phương tiện để giữ gìn cho tâm những của người khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 59b/4</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu cách cô đọng sự tu hành các thừa là :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành tri giác thanh tịnh bằng cách nhận chân thế giới và chúng sanh là những tri giác như huyễn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành lòng bi bằng cách nhận chân sanh tử là thống khổ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành lòng từ bằng cách nhận chân chúng sanh sáu đường là những bà mẹ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành ba thệ nguyện bằng cách nhận chân nghiệp là nhân quả duyên sanh,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành những giai đoạn phát triển và thành tựu bằng cách đồng hóa bốn quán đảnh truyền pháp với ba cửa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và tu hành bản tánh tối hậu bằng cách nhận chân những hình tướng, âm thanh và tư tưởng là bản tánh tối hậu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu người ta hoàn thiện những tu hành này sẽ không có những che chướng và lỗi lầm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 33b/6</b><span style="font-weight: 400;"> :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu lời kim cương của Đại Toàn Thiện Dzogpa Chenpo :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đại Toàn Thiện của nền tảng là sự xác minh cái Tâm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đại Toàn Thiện của con đường là sự thâm nhập điểm cốt yếu cho giải thoát,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đại Toàn Thiện của quả là chứng đắc sự dừng dứt của những hy vọng và lo sợ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đại Toàn Thiện của những đối tượng là sự giải thoát của những tri giác không có nắm bắt,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đại Toàn Thiện của tâm là sự khởi sanh của những tư tưởng như là những hỗ trợ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và Đại Toàn Thiện của nghĩa là sự tan biến tự nhiên của những chuyển động.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bất cứ ai thực hiện được những điều này là vua của các thiền giả.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 74a/3</b><span style="font-weight: 400;"> :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu xác tín của chứng ngộ về cái nhìn thấy sâu xa là :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chứng ngộ những hiện tượng là trung đạo thoát khỏi những cực biên,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chứng ngộ những hiện tượng là tánh sáng tỏ vĩ đại, cái hợp nhất,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chứng ngộ những hiện tượng là tánh bình đẳng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">đại lạc,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chứng ngộ những hiện tượng là bất nhị, tinh túy</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">đơn nhất,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chứng ngộ những hiện tượng là sự thành tựu tự nhiên, tự do khỏi mọi thiên chấp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và chứng ngộ những hiện tượng là thanh tịnh bổn nguyên, tự nhiên bổn nguyên. Dù người ta hoàn thiện chúng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">(Trong thật tánh của chúng) không có người chứng ngộ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cũng như bản thân sự chứng ngộ không có ý tưởng gì về chứng ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên, maya yoga (yoga huyễn) này thoát khỏi mọi thí dụ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 74a/5</b><span style="font-weight: 400;"> :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đã chứng ngộ như thế, có sáu cách giải thoát :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những đối tượng bên ngoài, ngay lúc chúng xuất hiện,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được giải thoát ngay trong bản tánh của sự xuất hiện, như băng tan vào nước.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự tri nhận bên trong, ngay lúc tri nhận,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được giải thoát ngay trong bản tánh của sự tri nhận, như bọt tan vào trong nước.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hai tư tưởng trung gian, ngay lúc chúng chuyển động</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được giải thoát ngay trong bản tánh của những chuyển động, như tia sấm chớp trong bầu trời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những âm thanh, những chỉ danh và tên, ngay lúc vang lên</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được giải thoát ngay trong bản thân sự gọi tên, như những âm thanh của một tiếng vang.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những lý thuyết nắm hiểu, ngay điểm xác nhận,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được giải thoát ngay bản thân những xác nhận, như những cầu vồng biến mất trong bầu trời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những kết quả của thành tựu, ngay lúc đạt được,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được giải thoát ngay trong bản tánh của những chứng đắc, như những ước muốn được đáp ứng tức khắc bởi viên ngọc như ý.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bản tánh thì vốn tự-giải thoát và những đối trị thì tự tan biến.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nó tự do khỏi những chỉ định và những đối tượng, và nó là sự thành tựu tự nhiên của chứng ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>TRL (gTer Byung Rinpoche’i Lo-rGyus) 52b/2 :</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy thấy trí huệ tự nhiên khởi, vua của những cái thấy (tri kiến),</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy thiền định về tánh sáng tỏ tự nhiên khởi, vua của những thiền định,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy tu hành những hiện hữu hiện tượng là huyễn, vua của những hành động.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy đạt được sự tan biến vào trong trạng thái bổn nguyên, vua của những kết quả.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người ta sẽ trở thành Samantabhadra (Phổ Hiền), trong trạng thái tự nhiên thành tựu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>YD 42a/6 </b><span style="font-weight: 400;">:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Quả hoàn thiện của thiền định là :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự chứng đắc những thân và những trí huệ bằng việc hoàn thiện những đoạn trừ và những chứng ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như mặt trời và mặt trăng không bị mây che phủ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi bản tánh tự do khỏi những che ám,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nó được gọi là giác ngộ, và rồi những đức hạnh hiện tiền tự nhiên xuất hiện,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và những sự xuất hiện của thân, các thức và những</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">tri giác,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những thói quen của ba cái che ám, sẽ được giải thoát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như một ngọn đèn trong một cái bình vỡ, một tượng thờ trong một đóa hoa nở ra,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những công đức hiện diện tự nhiên bày hiện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi những thói quen của ba cái che ám được giải thoát,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chúng xuất hiện là những cõi Phật, những trí huệ, và những thân Phật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong những tác phẩm của Longchen Rabjam, thỉnh thoảng ngài cũng có những trích dẫn sai xuất xứ bản văn. Đôi khi ngài đổi lời của một trích dẫn, nhưng không có lỗi lầm trong ý nghĩa. Theo học giả nổi tiếng Mipham Namgyal (1846-1887) Longchen Rabjam đã nhớ rất nhiều kinh điển. Ngài cũng sáng tác rất nhiều tác phẩm trong hoang vắng nơi không có những bản văn để quy chiếu. Thế nên khi trích dẫn ngài chỉ viết ra theo trí nhớ chứ không dựa vào bản văn có sẵn. Khi Mipham biên tập cuốn Pema Karpo và bình giảng của nó để in, ngài không sửa chúng, vì không có những khác biệt trong ý nghĩa, và ngài thấy những biến đổi ấy như là một dấu hiệu về sự vĩ đại của tác giả. Mipham nói trong cuốn Giải Thích Một Số Điểm Khó của Yidzhin Rinpoche’i Dzod :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có nhiều lỗi trong những tiêu đề của những bản văn gốc. Rõ ràng rằng Bậc Toàn Giác Vĩ Đại đã nhớ tất cả kinh, tantra và những bình giảng của chúng, và ngài được dân chúng biết đến như là “Bậc từ chùa Samye với Nhiều Kinh Điển.” Có nói rằng về sau, khi ngài tạo những tác phẩm trong cô đơn, không nhìn vào những bản văn mà chỉ trích chúng từ trí nhớ, điều đó là thật. Có những lỗi trong những tiêu đề trích dẫn và cũng có một số khác biệt trong những lời trích dẫn, nhưng không có sự khác biệt trong ý nghĩa với bản văn gốc. Chúng không phải là những lỗi do người thợ sắp chữ về sau. Bởi vì chúng thuộc về những tác phẩm gốc của ngài, tôi giữ nguyên chúng, bởi vì nếu chúng được duy trì không sửa lại chúng sẽ bảo tồn những ban phước vĩ đại của ngài. Trong những lỗi ấy, không có một sự khác biệt nhỏ nhất nào trong những điểm quan trọng của nghĩa. Nếu người ta có thể thấy điều này, bấy giờ những sự việc đó có khả năng phát sanh thán phục. Thế nên tốt hơn là không thay đổi chúng dù là ai trong mai sau.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>NHỮNG DANH HIỆU CỦA LONGCHEN RABJAM VÀ Ý NGHĨA CỦA CHÚNG</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam dùng nhiều tên khác nhau trong những kết từ của các tác phẩm để phân biệt những chủ đề của những bản văn :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Trong những tác phẩm chủ yếu về những chủ đề có thể giải thích được, những khoa học thế gian như thi ca, vần luật và khoa học ngôn ngữ, tên được dùng là “bởi Samylpa Tshul-thrim Lodro.” Trong những tác phẩm chung cho cả tantra ngoại và nội, tên là : “bởi Dorje Zijid.” Trong những tác phẩm chủ yếu về những chủ đề sâu xa giải thích qua những giai đoạn của các thừa, và về lời và nghĩa giải thích những phân chia của các thiền, tên được dùng là : “bởi Drimed Odzer.” Trong những tác phẩm dạy lãnh vực của bản tánh bất khả tư nghì trong những chi tiết lớn lao nhất, tên được dùng là : “bởi Longchen Rabjam.” Trong những tác phẩm trong đó các thừa, những lý thuyết, tánh Như v.v…. được giải thích chi tiết, tên được dùng là : “bởi Kunkhyen Ngagi Wangpo.”</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PHẬT TÂM </b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Một Hợp Tuyển Những Tác Phẩm của Longchen Rabjam về Đại Toàn Thiện </b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Nguyên tác: BUDDHA MIND  </b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>An Anthology of Longchen Rabjam’s Writings on Dzogpa Chenpo  </b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Tulku Thondup Rinpoche – Snow Lion, 1989  </b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Việt Dịch: Đương Đạo – Nhà xuất bản Thiện Tri Thức, 2000</b></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/cuoc-doi-dao-su-kunkhyen-longchen-rabjam-longchenpa/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Đức Chögyal Namkhai Norbu Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-chogyal-namkhai-norbu-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-chogyal-namkhai-norbu-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 13 Nov 2016 11:31:21 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7111</guid>
		<description><![CDATA[Đức Chögyal Namkhai Norbu Rinpoche sinh trưởng tại vùng Derge, miền Đông Tây Tạng, vào năm 1938. Khi lên hai tuổi, Ngài đã được công nhận là hóa thân của Đức Adzom Drugpa (1842-1924), một trong những Đạo sư Dzogchen vĩ đại của đầu thế kỷ 20. Đức Adzom Drugpa là đệ tử của Đức Jamyang Khyentse Wangpo (1820-92) và&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-chogyal-namkhai-norbu-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đức Chögyal Namkhai Norbu Rinpoche sinh trưởng tại vùng Derge, miền Đông Tây Tạng, vào năm 1938. Khi lên hai tuổi, Ngài đã được công nhận là hóa thân của Đức Adzom Drugpa (1842-1924), một trong những Đạo sư Dzogchen vĩ đại của đầu thế kỷ 20. Đức Adzom Drugpa là đệ tử của Đức Jamyang Khyentse Wangpo (1820-92) và Đức Patrul Rinpoche (1808-81), và Ngài cũng là một Bậc Khai Mật Tạng Vương đầy uy lực.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm lên 8 tuổi, Đức Namkhai Norbu Rinpoche cũng được Đức Karmapa đời thứ 16 (1924-1981) và Đức Palpung Situ Rinpoche  (1886-1952) công nhận là hóa thân về tâm của Đức Shabdrung Ngawang Namgyal (1594-1651), Đức Pháp Vương đầu tiên của Bhutan – hóa thân của Đạo sư Drugpa Kagyüd vĩ đại, Đức Pema Karpo (1527-92). Danh hiệu’Chögyal”, nghĩa là Vua Pháp, đã được ban cho Ngài cùng với sự ấn chứng hóa thân này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi vẫn còn là một thiếu niên, Đức Chögyal Namkhai Norbu Rinpoche đã hoàn thành chương trình nghiêm ngặt về nghiên cứu và học tập Kinh điển và Mật điển theo truyền thống, đồng thời thọ nhận các giáo lý từ một số bậc Đạo sư vĩ đại trong thời đại của Ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ lúc 8 tuổi đến 12 tuổi, Ngài gia nhập học viện Sakya tại Tu viện Derge Gönchen. Trong suốt thời gian này, Ngài đã nghiên cứu tu học cùng với Đức Jamyang Khyentse Chökyi Lodrö, tại Dzongsar. Vào năm 1951, Ngài đã thọ nhận quán đảnh Vajrayogini theo các dòng truyền thừa Sakya Ngorpa và Tsarpa. Ngài cũng được vị Thầy của mình khuyên thỉnh cầu quán đảnh từ một Nữ Đạo sư kiệt xuất Ayu Khandro Dorje Paldrön (1838-1953), được xem là hiện thân sống động của Đức Vajrayogini. Đức Bà Ayu Khandro lúc đó 113 tuổi và nhập thất trong bóng tối suốt 56 năm. Nữ Đạo Sư Ayu Khandro Dorje Paldrön là bậc trưởng lão cùng thời với Đức Adzom Drugpa, cũng là một đệ tử trực tiếp của Đức Jamyang Khyentse Wangpo và Đức Nyala Padma Düdul lừng danh (1816-61), bậc đã thành tựu Thân Cầu Vồng. Đức Chögyal Namkhai Norbu đã thọ nhận một số trao truyền từ Nữ Đạo Sư Ayu Khandro Dorje Paldrön, bao gồm những trao truyền mà Ngài đã thỉnh cầu trước đây, cũng như giáo lý Longchen Nyingthig, và các Terma tâm của Nữ Đạo Sư Ayu Khandro Dorje Paldrön.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm 1954, với tư cách là đại diện của Thanh Thiếu Niên Tây Tạng, Đức Chögyal Namkhai Norbu Rinpoche đã được mời đến thăm Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Sau đó, vào năm 1954, Ngài được bổ nhiệm làm giảng viên ngôn ngữ Tây Tạng tại Đại học Dân tộc Tây Nam thuộc Thành Đô, Tứ Xuyên, Trung Quốc. Chính trong thời gian này, Ngài đã thông thạo hai ngôn ngữ Mông Cổ và Trung Quốc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm lên 17 tuổi, theo một linh kiến trong giấc mơ, Đức Chögyal Namkhai Norbu trở về nơi Ngài sinh ra, vùng Derge. Ngài đã du hành tới một thung lũng xa xôi thuộc miền Đông Derge, tại nơi này Ngài đã gặp vị Thầy Gốc của mình, Đức Rigdzin Changchub Dorje (1826-1961/1978), đệ tử của Nữ Đạo Sư Ayu Khandro Dorje Paldrön và Đức Nyala Pema Düdul. Đức Changchub Dorje là vị Thầy hướng dẫn tâm linh của một cộng đồng hành giả cư sĩ tự hỗ trợ mang tên Nyala Gar. Đức Rigdzin Changchub Dorje Rigdzin Changchub Dorje là một thầy thuốc và Đức Chogyal Namkhai Norbu đã ở lại với Ngài trong gần một năm, hỗ trợ Ngài hành nghề y. Trong thời gian này, Đức Namkhai Norbu đã thọ nhận quán đảnh từ vị Thầy của Ngài, Đức Changchub Dorje, người đã giới thiệu trực tiếp cho Ngài những tri kiến đích thực của giáo lý Đại Viên Mãn(Dzogchen).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đức Chögyal Namkhai Norbu sau đó đã thực hiện một chuyến hành hương kéo dài đến miền Trung Tây Tạng, Nepal, Ấn Độ và Bhutan. Khi Ngài trở về quê hương Derge, miền Đông Tây Tạng, Ngài  thấy tình hình chính trị xấu đi với sự bùng phát của bạo lực. Ngài đã trốn đến miền Trung Tây Tạng và cuối cùng xuất hiện như một người tị nạn ở Sikkim, sống tại thủ phủ Gangtok từ năm 1958 đến năm 1960. Trong suốt giai đoạn này, Ngài làm việc với tư cách là một tác giả, một nhà biên tập sách giáo khoa Tây Tạng cho chính phủ ở Sikkim. Tại đó, Ngài đã gặp giáo sư Giuseppe Tucci, một nhà Tây Tạng học lừng danh, người đã mời Ngài đến làm việc tại Rome. Năm 1960, ở độ tuổi 22, Đức Chögyal Namkhai Norbu Rinpoche đã giữ vị trí Research Associate tại IsMEO. Năm 1964, vị trí Giáo sư về văn học và ngôn ngữ phương Đông tại Đại học Naples được tiến cử tới Ngài. Trong 28 năm, Đức Chogyal Namkhai Norbu giảng dạy tiếng Tạng và tiếng Mông Cổ, văn học và lịch sử văn hóa Tây Tạng, Ngài về hưu với danh hiệu Giáo sư Danh dự vào năm 1992. Những công trình học thuật của Ngài biểu lộ một kiến ​​thức uyên thâm về văn hóa Tây Tạng và một quyết tâm kiên định gìn giữ các di sản văn hóa Tây Tạng đặc biệt trở nên sinh động và hoàn toàn có thể dễ dàng tiếp nhận.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau khi giảng dạy Yantra Yoga tại Naples được vài năm thì vào năm 1967 Đức Chögyal Namkhai Norbu bắt đầu giảng dạy giáo lý Dzogchen cho một số môn đồ người Italia. Sự quan tâm đến giáo lý của Ngài ngày càng tăng lên, đầu tiên ở Italia, sau đó khắp phương Tây, đã khiến Ngài tận tụy hiến mình cho những hoạt động giáo Pháp như vậy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm 1981, cùng với nhiều đệ tử, Ngài đã sáng lập trung tâm Cộng đồng Dzogchen đầu tiên tại Arcidosso, Tuscany, và sau đó đến nhiều trung tâm khác tại nhiều vùng khác nhau ở châu Âu, Nga, Hoa Kỳ, Nam Mỹ và Úc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm 1988, Đức Chögyal Namkhai Norbu đã thành lập ASIA (Hiệp hội Đoàn kết Quốc tại châu Á), một tổ chức phi chính phủ hoạt động ở Tây Tạng và hiến mình phụng sự người dân Tây Tạng trong lĩnh vực giáo dục, sức khỏe, đào tạo, cứu trợ thiên tai và phát triển kinh tế bền vững. Năm 1989, Đức Chögyal Namkhai Norbu đã sáng lập Học viện Shang Shung với nhiệm vụ bảo tồn di sản văn hóa Tây Tạng, bao gồm việc gìn giữ và chuyển dịch các bản văn quan trọng, như các Tantra gốc, các bộ luận, các terma của những bậc Thầy kiệt xuất, sự tỏa lan của y học Tây Tạng, chiêm tinh học, ngôn ngữ và một số khía cạnh khác của văn hóa Tây Tạng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong suốt 38 năm qua, Đức Chogyal Namkhai Norbu Rinpoche đã hướng dẫn một lộ trình nghiêm ngặt về các giáo lý và các khóa nhập thất Dzogchen trên khắp thế giới. Ngài đã ban vài trăm khóa nhập thất bao gồm toàn bộ các bản văn của giáo lý Dzogchen, gồm ba bộ Semde (Tâm thức), Longde (Hư không) và Menngade (Khai thị) những giáo lý Karma của dòng dòng truyền thừa không gián đoạn và các giáo lý Terma của những bậc Đạo sư Đại Viên Mãn đầy uy lực, như Đức Changchub Dorje, Đức Adzom Drugpa, Đức Nyala Pema Dudul, Đức Jigme Lingpa và nhiều vị khác, cũng như toàn bộ bộ Terma Longsal độc đáo và quý báu của Ngài. Ngài đã giới thiệu các giáo lý Đại Viên Mãn tới hàng ngàn học trò trên toàn thế giới, và đã làm công cuộc tiên phong trong việc tái thiết lập và giảng dạy lại những Tantra gốc cổ xưa của Dzogchen, như  Kunjed Gyalpo và Dra Thalgyur.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thậm chí ngày nay, Đức Chögyal Namkhai Norbu tiếp tục du hành không ngừng nghỉ đến khắp vùng miền trên thế giới để thuyết Pháp và tổ chức các khóa nhập thất cho hàng nghìn người. Nhiều giáo lý và các khóa nhập thất này được trao truyền trực tiếp qua video webcast và những người không thể gặp Đạo sư có thể quan tâm theo dõi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những năm gần đây, Đức Chögyal Namkhai Norbu Rinpoche đã xác định đảo Tenerife là một địa điểm rất thích hợp cho việc thiết lập, giảng dạy, trì giữ và thực hành giáo lý Dzogchen quý báu, cũng như làm cho nhiều khía cạnh của văn hóa Tây Tạng được lan tỏa. Tầm nhìn của Ngài là thiết lập một Cộng đồng Dzogchen toàn cầu ở Tenerife - một nơi mà tất cả các hành giả Dzogchen có thể gặp gỡ và khế hợp với nhau, và nơi các giáo lý có thể phát triển và được trao truyền cho các thế hệ tương lai.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bản tiểu sử chi tiết đầu tiên của Đức Chögyal Namkhai Norbu được xuất bản trong tạp chí khoa học quốc tế tôn giáo, trong ấn phẩm đặc biệt 'Những tấm gương tâm linh', với nhan đề "Đức Chogyal Namkhai Norbu Rinpoche: Đại Viên Mãn (Dzogchen) và Truyền thống Tây Tạng”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Nguồn: http://podstatamysle.sk/?page_id=1384&amp;lang=en</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><em><span style="font-weight: 400;">Việt ngữ: Tara Devi (Nhóm Viet Rigpa Lotsawas)</span></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><span style="font-weight: 400;">Hiệu đính: Giác nhiên</span></em></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với Đức Chogyal Namkhai Norbu Rinpoche đều được Ngài dẫn dắt liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này cầu mong Ngài sớm quang lâm đến Việt nam và cầu mong giáo lý Đại Viên Mãn (Dzogchen) sẽ hưng thịnh.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-chogyal-namkhai-norbu-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nữ Thành Tựu giả Khandro Tsering Chodron &#8211; Một sự khiêm cung vĩ đại</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/nu-thanh-tuu-gia-khandro-tsering-chodron-mot-su-khiem-cung-vi-dai/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/nu-thanh-tuu-gia-khandro-tsering-chodron-mot-su-khiem-cung-vi-dai/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 29 Jul 2016 05:14:02 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6936</guid>
		<description><![CDATA[  Khandro Tsering Chodron Đức Sogyal Rinpoche đã chia sẻ đôi dòng về Khandro Tsering Chodron trên tờ Huffington Post vào ngày 23 tháng 9 năm 2011. Đầu tháng này, tôi đã tham dự lễ tưởng niệm dì tôi, Khandro Tsering Chodron. Khandro là một trong những hành giả vĩ đại nhất thuộc Phật giáo Tây Tạng, được sùng kính, yêu mến&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/nu-thanh-tuu-gia-khandro-tsering-chodron-mot-su-khiem-cung-vi-dai/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong> <a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Khandro-in-turquoise.jpg"><img class="  wp-image-6937 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Khandro-in-turquoise-201x300.jpg" alt="Khandro in turquoise" width="324" height="484" /></a></strong></p>
<p style="text-align: center;">Khandro Tsering Chodron</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Sogyal Rinpoche đã chia sẻ đôi dòng về Khandro Tsering Chodron trên tờ Huffington Post vào ngày 23 tháng 9 năm 2011.</p>
<p style="text-align: justify;">Đầu tháng này, tôi đã tham dự lễ tưởng niệm dì tôi, Khandro Tsering Chodron.</p>
<p style="text-align: justify;">Khandro là một trong những hành giả vĩ đại nhất thuộc Phật giáo Tây Tạng, được sùng kính, yêu mến rộng rãi trong thời gian gần đây. Khandro chính là mạch cảm hứng và suối nguồn ân phước lớn lao đối với các hành giả pháp trên khắp thế giới. Những ngày trước khi thị tịch, Khandro được các bậc Đạo sư thuộc Phật giáo Tây Tạng trên khắp thế giới đến viếng thăm, như  là bức thông điệp và tặng phẩm thể hiện lòng sùng kính mãnh liệt đối với Khandro. Nghi lễ được tổ chức tại các tu viện Tây Tạng, Ấn Độ và Bhutan trong sự tưởng nhớ thành kính đến Khandro. Các lễ tưởng niệm tại Lerab Ling - một tu viện của chúng tôi thuộc miền Nam nước Pháp - có gần 2000 người tham dự, còn có cả những bậc Đạo sư thuộc truyền thống Phật giáo Tây Tạng vĩ đại bậc nhất.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi tôi đang còn là một thiếu niên ở Tây Tạng, Khandro đã chăm sóc tôi như chăm sóc chính đứa con ruột thịt, thương yêu của Khandro. Nhưng ý nghĩa hơn, đối với tôi Khandro chính là một trong những vị Thầy quan trọng nhất suốt cuộc đời. Không ai có thể minh chứng rõ ràng hơn Khandro về những diệu kì mà chỉ có lòng mộ đạo sâu sắc đối với thực hành tâm linh mới có thể tạo ra, điều vượt ra khỏi thế giới tâm linh con người. Sự khiêm cung và vẻ đẹp tâm hồn của Khandro,  sự giản dị đến ngời sáng, nét nhu mì, dịu dàng và trí tuệ minh mẫn của Khandro được đông đảo người dân Tây Tạng công nhận, mặc dù Khandro luôn cố gắng để ẩn mình, không bao giờ thể hiện bản thân mà chỉ muốn sống một đời sống khổ hạnh, ẩn dật giống như các hành giả cổ xưa.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/phd151jkclktc.jpg"><img class="  wp-image-6938 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/phd151jkclktc-215x300.jpg" alt="phd151jkclktc" width="358" height="500" /></a></p>
<p style="text-align: center;">Đức Jamyang Khyentse Chokyi Lodro và Khandro</p>
<p style="text-align: justify;">Khandro là vị phối ngẫu tâm linh của Thầy tôi, Đức Jamyang Khyentse Chokyi Lodro, một trong những Đạo sư Phật giáo Tây Tạng được tôn kính và có tầm ảnh hưởng bậc nhất thuộc thế  kỉ trước. Mối quan hệ đặc biệt của họ là nguồn cảm hứng lớn lao suốt cuộc đời Khandro, đã chuyển hóa Bà từ một người phụ nữ trẻ đẹp và khá là bất trị trở nên rạng ngời, và có những dấu hiệu của sự thành tựu khiến cho các bậc Đạo sư vĩ đại như Đức Đạt Lai Lạt Ma và Đức Dilgo Khyentse Rinpoche cũng vô cùng kính trọng.</p>
<p style="text-align: justify;">Suốt 11 năm, Khandro đã tận tụy phụng sự Đức Jamyang Khyentse Chökyi Lodrö như một thị giả  trung thành. Từ Đức Jamyang Khyentse Rinpoche, Khandro đã ban vô số khẩu truyền và giáo lý cho các Đạo sư Tây Tạng thuộc thế hệ kế cận, mà trong số đó rất nhiều vị đã tiếp tục giảng dạy giáo Pháp ở Bắc Mĩ và châu Âu. Ngài đã ban cho Khandro tất cả giáo lý, đào tạo và truyền cảm hứng thực hành giáo Pháp cho Khandro. Những câu hỏi của Khandro dành cho Ngài thường dưới dạng những bài hát và Ngài cũng thường viết lại cho Khandro những bài ca đầy vui tươi, dí dỏm.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1955, họ đã du hành từ miền Đông đến miền Trung Tây Tạng cùng một nhóm người trong đó có mẹ tôi, tôi và các thành viên khác trong gia đình. Chúng tôi đã đến Ấn Độ và tới Kinh đô Sikkim và lưu lại thủ đô Gangtok, với tư cách là khách mời của Quốc vương. Chính tại đây Đức Jamyang Khyentse Chökyi Lodrö đã viên tịch chỉ vài tháng sau mùa thu Tây Tạng năm 1959.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/PH089detail.jpg"><img class="  wp-image-6939 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/PH089detail-300x214.jpg" alt="PH089detail" width="547" height="390" /></a></p>
<p style="text-align: center;">Khandro và Sogyal Rinpoche</p>
<p style="text-align: justify;">Khandro đã thể hiện lòng mộ đạo bất diệt của Bà đối với các giáo lý và đối với Đức Jamyang Khyentse Chökyi Lodrö bằng việc tiếp tục sống tại Sikkim nhiều năm sau đó và sống một cuộc đời độc lập, hiến dâng đời mình cho những lời cầu nguyện thành tâm. Khandro đã đọc toàn bộ lời dạy của Đức Phật và hàng trăm bộ luận giảng một cách chậm rãi, từng từ từng chữ một. Tóm lại, cuộc đời Khandro là một tấm gương sáng rất thực tế mà cũng tràn đầy sự giản dị khiêm cung, một cách sống tràn đầy ý nghĩa với lòng vị tha đối với tất cả mọi người; Khandro là kiểu mẫu hoàn hảo về một hành giả Pháp vĩ đại, chính điều này đã khiến Khandro được sùng kính mãnh liệt khi ai đó được tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp với Khandro.</p>
<p style="text-align: justify;">Khandro đã du hành đến châu Âu và châu Mĩ rất nhiều lần theo lời thỉnh cầu của tôi và vào năm 2006, Khandro đã đến sống tại Lerab Ling – Pháp. Chính tại đây, Khandro đã thị tịch vào tháng Năm cùng năm 2006.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong thế giới hiện đại, khi một nhân vật nổi tiếng hay được nhiều người kính trọng từ giã cuộc đời, chúng ta thường có xu hướng tìm hiểu về gia sản của họ. Nhưng trong trường hợp của Khandro, gia sản của Khandro thật vô cùng giản dị, không gì khác chính là sự hiện hữu của Khandro trên cõi trần gian này. Những ai đủ ân phước được gặp Khandro, sẽ không bao giờ quên được không khí ấm áp yêu thương khi ở cùng Khandro. Bời vì cuộc đời Khandro là một tấm gương tinh tế và cảm động về lòng mộ đạo đối với thực hành tâm linh, Khandro chính là hiện thân của trái tim giáo lý Đức Phật và ban rải sự ấm áp đến mọi người theo cách vừa mãnh liệt vừa rõ ràng gần gũi.</p>
<p style="text-align: justify;">Những người chăm sóc Khandro ở Lerab Ling có rất nhiều chuyện kể. Người thì nói: " Thật tuyệt vời khi nhìn cách Bà truyền cảm hứng và xóa tan sự nghi ngờ ngay khi họ bước chân vào phòng".  Người khác lại nói: "Chỉ một cử chỉ, một cái chạm, một cái liếc nhìn từ Khandro cũng đủ để chạm vào thẳm sâu tâm hồn và làm tan chảy trái tim của bạn. Sức mạnh phi thường của Khandro là làm cho tâm thức của bạn được sống với giờ phút hiện tại."</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/khandro-la-with-dzongsar-khyentse_300.jpg"><img class="  wp-image-6940 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/khandro-la-with-dzongsar-khyentse_300-273x300.jpg" alt="khandro-la-with-dzongsar-khyentse_300" width="430" height="473" /></a></p>
<p style="text-align: center;">Khandro và Dzongsar Khyentse Rinpoche</p>
<p style="text-align: justify;">Khandro không giảng dạy giáo Pháp theo nghi thức. Thực sự Khandro không nói nhiều nhưng những gì Khandro làm đều rõ ràng sâu sắc và thậm chí đó chính là những lời tiên đoán. Lắng nghe lời trì tụng tha thiết, vui vẻ của Bà, thực hành Pháp cùng Khandro sẽ khiến bạn được truyền cảm hứng mạnh mẽ tới thẳm sâu con người bên trong; thậm chí khi trò chuyện, đi mua sắm cùng Khandro hay chỉ đơn giản ngồi tắm nắng trong niềm hạnh phúc tĩnh lặng mà vẫn mãnh liệt với sự hiện hữu của Khandro.</p>
<p style="text-align: justify;">Đối với tôi, trí tuệ của Khandro và trí tuệ của Thầy tôi, Đức Jamyang Khyentse Rinpoche chính là trí tuệ hợp nhất. Thực tế thì, tất cả các đệ tử của Đức Jamyang Khyentse Rinpoche xem Khandro bất khả phân với Ngài và nhiều người trong số họ đến để bày tỏ sự kính trọng với lòng sùng mộ mãnh liệt, đặc biệt khi Khandro ốm và trước khi Khandro thị tịch.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Dilgo Khuyentse Rinpoche - một trong những đệ tử thân cận nhất của Đức Jamyang Khyentse Chökyi Lodrö và một Đạo sự Tây Tạng tôn kính đã coi Khandro như "Người Mẹ tâm linh". Bất kể khi nào Ngài nhìn thấy Khandro, Ngài sẽ cầm lấy tay Khandro và nhẹ nhàng âu yếm nó và sau đó nhanh chóng đặt lên đầu Ngài. Vì sự khiêm cung của Khandro, Ngài biết rằng thiện xảo này là cách duy nhất Ngài có thể khiến nhận được sự ban phước từ Khandro.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào những năm sau cuộc đời, rõ ràng rằng Khandro đã đạt được chứng ngộ tâm linh cao cấp, nhưng chẳng bao giờ Khandro cho rằng mình có bất kì sự hiểu biết đặc biệt nào. Nhưng ở Khandro toát ra nét lạ thường, một vẻ can đảm, kiên cường  và sự hài hước của Khandro cũng trở nên thâm thúy và sắc sảo hơn. Mặc dù về cuối đời Khandro nói ngày càng ít, nhưng dường như đối với tôi, khiếu hài hước đến khó tin của Khandro đã mang đến cho chúng tôi giáo lý quan trọng về sự châm biếm cuộc đời này. Có lẽ, chúng tôi không cần làm nghiêm trọng mọi điều mà Bà muốn nói.  Vòng luân hồi, sinh tử mà quý vị Phật tử gọi là "samsara"  trông thật nực cười khi được nhìn từ quan kiến của những bậc chứng ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/13654136_852423258195861_8449462412253687246_n.jpg"><img class="  wp-image-6941 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/13654136_852423258195861_8449462412253687246_n-300x300.jpg" alt="13654136_852423258195861_8449462412253687246_n" width="461" height="461" /></a></p>
<p style="text-align: center;">Khandro và Tulku Pema Rinpoche - Jigme Khyentse Rinpoche</p>
<p style="text-align: justify;">Sự thật là, đối với tôi trên thế gian này không có ai đáng quý hơn Khandro và không ai mà tôi dành một tình yêu sâu đậm đến nhường vậy. Bởi vì Khandro quá khiêm nhường, kín đáo, chính sự bình dị ấy đã làm nên sự vĩ đại của Khandro. Thường chỉ những ai có một cái nhìn nội tâm sâu sắc mới có thể cảm nhận được con người thực sự của Khandro. Và mặc dù Khandro thường khiêm cung đến nỗi không ban phước cho bất kì ai nhưng rất nhiều bậc Đạo sư vĩ đại đã lặp lại nhiều lần rằng chính việc Bà đến sống và thị tịch tại Lerab Ling - Pháp là sự ban phước lớn lao nhất.  Tôi cũng cảm thấy như vậy, sự hiện diện của Khandro ở phương Tây là một thực chứng rằng truyền thống Tây Tạng giàu trí tuệ đã hình thành gốc rễ tại đây, và sẽ tiếp tục có những đóng góp thật ý nghĩa cho phúc lợi xã hội và của mọi người trong thế giới hiện đại ngày nay.</p>
<p style="text-align: justify;"><em><span style="color: #000000;">Nguồn: <a style="color: #000000; text-decoration: underline;" href="https://khandrotseringchodron.org/2011/09/23/khandro-tsering-chodron-in-memory-of-an-extraordinary-buddhist-master/">https://khandrotseringchodron.org/2011/09/23/khandro-tsering-chodron-in-memory-of-an-extraordinary-buddhist-master/</a></span></em></p>
<p style="text-align: justify;">Việt ngữ: Tara Devi</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính: Giác Nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Bản tiểu sử này được dịch và hiệu đính để dâng cúng lên ngày Dakini 29/5/2016. Khandro Tsering Chodron là hiện thân của Dakini trong thân tướng con người, cuôc đời của Khandro đã minh chứng cho Giáo Pháp của Đức Phật thật hoàn hảo khi người ta đem vào thực hành và bản chia sẻ của Đức Sogyal Rinpoche về cuộc đời của Khandro thực sự xúc động và cầu mong rằng những ai có duyên đọc bản chia sẻ này sẽ có được nguồn cảm hứng để thực hành giáo Pháp thâm diệu của Đức Phật, sớm giải thoát khỏi mọi đau khổ và tăng trưởng những phẩm tính hành động để làm lợi ích cho chúng sinh. Nhờ công đức nhỏ nhoi này với lòng bi mẫn cầu mong một trong những hóa thân của Khandro Tsering Chodron sẽ hiện lộ tại Việt Nam.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/nu-thanh-tuu-gia-khandro-tsering-chodron-mot-su-khiem-cung-vi-dai/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử ngắn Nữ Đạo sư Tôn Quý Sangyum Kamala Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-ngan-nu-dao-su-ton-quy-sangyum-kamala-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-ngan-nu-dao-su-ton-quy-sangyum-kamala-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 02 Apr 2016 01:42:27 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6667</guid>
		<description><![CDATA[Nữ Đạo sư Tôn Quý Sangyum Kamala Rinpoche sinh trưởng tại làng Pangi, gần Manali, bang Himachal Pradesh thuộc miền Bắc Ấn Độ, trong một Dòng truyền thừa Pháp xuất sắc. Phụ thân của Ngài, Đức Tulshuk Lingpa là một vị Terton trứ danh thuộc Dòng truyền thừa Nyingma. Ngài đã du hành đến Sikkim và truyền bá giáo lý&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-ngan-nu-dao-su-ton-quy-sangyum-kamala-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/unnamed2.jpg"><img class="  wp-image-6669 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/unnamed2-200x300.jpg" alt="unnamed" width="277" height="416" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Nữ Đạo sư Tôn Quý Sangyum Kamala Rinpoche sinh trưởng tại làng Pangi, gần Manali, bang Himachal Pradesh thuộc miền Bắc Ấn Độ, trong một Dòng truyền thừa Pháp xuất sắc. Phụ thân của Ngài, Đức Tulshuk Lingpa là một vị Terton trứ danh thuộc Dòng truyền thừa Nyingma. Ngài đã du hành đến Sikkim và truyền bá giáo lý Đức Phật khắp Tây Tạng, Nepal, Sikkim và Ấn độ theo cả hai phương diện tâm linh và thế tục. Thân mẫu của Ngài, Phunsok Choedon là một đại hành giả và một vị Dakini thực sự đã dâng hiến trọn đời mình cho việc thực hành Pháp. Khi thị tịch ở tuổi 83, nhục thân của bà vẫn trong tư thế thiền định suốt 7 ngày và một chiếc cầu vồng hình tròn đã xuất hiện trên bầu trời phía trên phòng bà.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Chatral-Rinpoche-74.jpg"><img class="  wp-image-6671 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Chatral-Rinpoche-74.jpg" alt="Chatral Rinpoche (74)" width="433" height="284" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Nữ Đạo sư Tôn Quý Sangyum Rinpoche sinh trưởng trong môi trường thấm nhuần sự thực hành Pháp với những ân phước gia trì từ lòng tín tâm sâu xa và năng lực tâm linh huyền diệu của Mật thừa. Ngài đã gặp vị Thầy gốc, Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche và Đức Pháp Vương Chatral Rinpoche năm 13 tuổi tại Simla - Ấn Độ. Thân phụ của Ngài cũng là đệ tử của Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche. Ông của Ngài là một Terton lừng danh, một thầy thuốc có tiếng đến từ Golok – Tây Tạng, và là đệ tử của Đức Dudjom Lingpa [Đức Dudjom Lingpa là đời trước của Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche]. Năm 20 tuổi, Nữ Đạo sư Tôn Quý Sangyum Rinpoche trở thành phối ngẫu tâm linh của Đức Pháp Vương Chatral Rinpoche, bậc Đạo sư Dzogchen [Đại Viên Mãn] vĩ đại của thời đại ngày nay.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/1009923_10153197010781360_5904117147555982214_n.jpg"><img class="  wp-image-6670 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/1009923_10153197010781360_5904117147555982214_n-244x300.jpg" alt="1009923_10153197010781360_5904117147555982214_n" width="326" height="401" /></a></p>
<p style="text-align: center;">(Ảnh Đức Chatral Rinpoche &amp; Sangyum Rinpoche và gia đình)</p>
<p style="text-align: justify;">Suốt cuộc đời mình, đặc biệt là kể từ khi trở thành phối ngẫu tâm linh của Đức Pháp Vương Chatral Rinpoche, Nữ Đạo sư Tôn Quý Sangyum Rinpoche đã thọ nhận và thực hành suối nguồn giáo lý một cách không gián đoạn của truyền thống thực hành Dudjom Tersar và Longchen Nyingthik. Nữ Đạo sư Tôn Quý Sangyum Rinpoche đã liên tục trợ duyên cho vô số các Yogi [Nam hành giả] và Yogini [Nữ hành giả] nhập thất ẩn tu khắp Nepal và Ấn Độ dưới sự hướng dẫn của Đức Pháp Vương Chatral Rinpoche và đặc biệt bà đã thể hiện lòng bi mẫn sâu sắc qua việc chăm sóc cho những người bần cùng nhất về cả hai phương diện vật chất và tâm linh.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/10670138_1546156595616195_6814533503088455272_n.jpg"><img class="  wp-image-6668 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/10670138_1546156595616195_6814533503088455272_n-300x206.jpg" alt="10670138_1546156595616195_6814533503088455272_n" width="540" height="371" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Bà noi theo tấm gương của Đức Pháp Vương Chatral Rinpoche cứu mạng sống của vô số chúng sinh qua việc phóng sinh hàng triệu cá xuống sông Ganges và xây dựng rất nhiều Bảo tháp, Kinh luân và hỗ trợ nhiều dự án tâm linh khác ở Nepal và Ấn Độ. Nữ Đạo sư Tôn Quý Sangyum Rinpoche có ba cô con gái. Cô cả và cô út đã kết hôn với các vị tái sinh [Tulku], cô hai không lập gia đình. Ngài có hai cô cháu gái.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: http://www.berlin-buddhismus.de/kamala-rinpoche.html</em></p>
<p style="text-align: justify;">Việt ngữ: Tara Devi (Nhóm Rigpa Lotsawas)</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính: Giác Nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Tiểu sử này được dịch sau khi chúng tôi đến Nepal vào tháng 1 năm 2016 để đảnh lễ nhục thân </em><em>Đức Pháp Vương Chatral Rinpoche một Đạo Sư đánh kính, sau khi Ngài thị tịch được ít ngày. Nhờ ân phước của Đức Pháp Vương Chatral Rinpoche, chúng tôi đã được diện kiến Nữ Đạo sư Tôn Quý Sangyum Rinpoche và nhờ ân phước của Sangyum Rinpoche chúng tôi đã hoàn thiện bản tiểu sử ngắn gọn này trong ngày Dakini (25/2/1016 Lịch Tạng). Cầu mong nhờ công đức nhỏ nhoi này trí tuệ của sự huyền diệu của Chư Dakini sẽ làm làm an dịu mọi đau khổ của chúng sinh. Cầu mong những hóa thân của Đức Pháp Vương Chatral Rinpoche sớm trở lại để tiếp tục những công hạnh lợi sinh của Ngài. </em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-ngan-nu-dao-su-ton-quy-sangyum-kamala-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Thiền định vắn tắt về Đức Liên Hoa Sanh</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/thien-dinh-van-tat-ve-duc-lien-hoa-sanh/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/thien-dinh-van-tat-ve-duc-lien-hoa-sanh/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 22 Dec 2015 12:20:55 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6565</guid>
		<description><![CDATA[SỰ BUÔNG XẢ Thở ra ba hơi thở sâu, hãy suy nghĩ và cảm thấy mọi năng lượng của lo nghĩ, áp lực và đau khổ được loại ra; chúng được hoàn toàn thải bỏ khỏi thân và tâm bạn với hơi thở. Cảm thấy rằng thân và tâm bạn được giải thoát khỏi áp lực. Cảm thấy thanh bình,&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/thien-dinh-van-tat-ve-duc-lien-hoa-sanh/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">SỰ BUÔNG XẢ</p>
<p id="yui_3_16_0_1_1450785114727_3363" style="text-align: justify;">Thở ra ba hơi thở sâu, hãy suy nghĩ và cảm thấy mọi năng lượng của lo nghĩ, áp lực và đau khổ được loại ra; chúng được hoàn toàn thải bỏ khỏi thân và tâm bạn với hơi thở. Cảm thấy rằng thân và tâm bạn được giải thoát khỏi áp lực. Cảm thấy thanh bình, buông lỏng và mạnh mẽ. Buông xả bằng việc đắm mình trong an bình chữa lành đó khoảng một vài phút.</p>
<p id="yui_3_16_0_1_1450785114727_3377" style="text-align: justify;">CHUẨN BỊ</p>
<p id="yui_3_16_0_1_1450785114727_3381" style="text-align: justify;">Phát triển tâm Bồ đề, tức khuynh hướng sẽ thiền định vì lợi ích của tất cả bà mẹ chúng sanh, để đem lại an bình, hạnh phúc và giác ngộ cho tất cả.</p>
<p id="yui_3_16_0_1_1450785114727_3385" style="text-align: justify;">CHÁNH HÀNH PHÁP</p>
<p style="text-align: justify;">Quán tưởng Guru Rinpoche ở phía trước và bên trên bạn trong bầu trời xanh hoàn toàn rõ ràng, thanh tịnh, rộng mở, bao la, rỗng không, và không chướng ngại. Ngài ngồi trên một dĩa mặt trăng rõ ràng và tỏa sáng, bên trên một dĩa mặt trời sáng chói và ấm áp, ở giữa một hoa sen ngàn cánh – tươi tắn với hơi nước, nở rộ với màu sắc rực rỡ và tỏa hương thơm dịu ngọt.</p>
<p style="text-align: justify;">Guru Rinpoche trong thân ánh sáng trí tuệ quang minh, trang phục bằng lụa và gấm thêu kim tuyến nhiều màu, giống như áo choàng bằng ánh sáng. Ánh sáng vượt lên những dấu vết của các đặc tính thô nặng, cứng rắn, hạn chế, chướng ngại và thay đổi.</p>
<p style="text-align: justify;">Guru Rinpoche xuất hiện trẻ trung, như thể mười sáu tuổi. Khuôn mặt Ngài mỉm cười đầy hoan hỷ, và đôi mắt của lòng bi mẫn và năng lực thấy, vươn tới, khai sáng, trao quyền cho mọi hoạt động, trạng thái của tâm và mỗi tế bào, nguyên tử của thân chúng ta, và đem lại cảm giác an bình, tình thương, cực lạc, sức mạnh và rộng mở. Ngài là hiện thân của tất cả chư Phật, thánh nhân và hiền triết, với huy hoàng của năng lực, an bình, đẹp đẽ và nồng ấm của Ngài đem lại cho chúng ta sự thoải mái, bình yên và rộng mở, như thể chúng ta ngồi gần lửa ấm trong cái lạnh lẽo của mùa đông.</p>
<p style="text-align: justify;">MỘT SỐ CHI TIẾT VỀ SỰ QUÁN TƯỞNG VÀ Ý NGHĨA</p>
<p style="text-align: justify;">Guru Rinpoche được quán tưởng trong bầu trời xanh, biểu tượng rỗng không hay rộng mở, nền tảng của vũ trụ. Ngài ngồi trong tư thế hưởng thụ của hoàng gia, trang nghiêm trên một dĩa mặt trời và mặt trăng, bằng phẳng như một đệm ở giữa một hoa sen ngàn cánh. Những thuộc tính này biểu tượng Ngài được sinh bằng sự sinh ra tinh khiết trong gia đình Phật Liên Hoa (hoa sen) [Liên Hoa Bộ] của sự hợp nhất trí tuệ (mặt trời) và thiện xảo (mặt trăng).</p>
<p style="text-align: justify;">Guru Rinpoche trong một thân của ánh sáng trí tuệ, vì ánh sáng không có dấu vết của đặc tính trần tục, thô nặng hoặc thay đổi. Ngài mười sáu tuổi, vì Ngài vượt lên cảnh giới của sự thay đổi và tuổi tác. Khuôn mặt Ngài mỉm cười tràn đầy hoan hỷ, vì đau khổ và phiền muộn không thể chạm được Ngài. Đôi mắt Ngài an định, thương yêu, trong sáng, mở rộng và quyền năng.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài trang phục trong các áo choàng bằng ánh sáng với những thiết kế và màu sắc khác nhau, biểu tượng sự viên mãn rất nhiều giới luật khác nhau. Áo choàng trắng bên trong (gSang Gos) và áo dài đỏ ('Dung Ma) biểu tượng sự viên mãn giới luật Bồ Tát. Áo dài màu xanh dương bên ngoài (Phod Ch'en) biểu tượng sự viên mãn của giới luật Mật tông. Khăn choàng tu viện (Ch'os Gos) biểu tượng sự viên mãn giới luật pratimokṣha (biệt giải thoát giới). Áo khoác không tay thêu kim tuyến (Ber Ch'en) có ý nghĩa giới luật của tất cả các thừa là một. Nón, áo khoác không tay thêu kim tuyến, giày biểu tượng năng lực thành tựu của Ngài, vì chúng được Vua Zahor cùng với con gái và vương quốc dâng cúng Ngài, khi Guru Rinpoche chuyển hóa ngọn lửa sắp thiêu đốt Ngài thành nước.</p>
<p style="text-align: justify;">Guru Rinpoche cầm các pháp khí, biểu tượng sự thành tựu và năng lực của Ngài. Chày vajra bằng vàng trong tay phải biểu tượng sự thiện xảo hay năng lực bất hoại của Ngài, nguyên lý nam. Sọ người tràn đầy cam lồ trong tay trái Ngài biểu tượng sự hợp nhất của hình tướng / cực lạc và tánh không. Trong sọ người này, bình cam lồ trường thọ được trang hoàng bằng một cây như ý biểu tượng sự đạt được bất tử của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Cây chĩa ba trong khuỷu tay trái Ngài biểu tượng vị phối ngẫu của Ngài hay trí tuệ, nguyên lý nữ, với các dấu hiệu đi theo. Ba điểm sắc nhọn của nó biểu tượng ba thật tánh của tâm – rỗng không, trong sáng, và lòng bi (năng lực). Ba đầu trong dạng còn trẻ, già, và bộ xương sọ biểu tượng ba thân Phật – Pháp Thân, Báo Thân và Hóa Thân. Chín vòng sắt biểu tượng chín thừa rèn luyện. Màn lụa treo năm màu biểu tượng năm trí tuệ Phật. Mái tóc biểu tượng năng lực thành tựu như kết quả của rèn luyện Mật tông trong các mộ địa.</p>
<p style="text-align: justify;">Do đó, sự hiện diện huy hoàng của Guru Rinpoche, khả năng giảng dạy, năng lực, an bình, đẹp đẽ và ấm áp, tràn ngập tất cả pháp giới vì là hiện thân vajra của Phật quả tuyệt đối, bản tánh vajra của pháp giới.</p>
<p style="text-align: justify;">Tình thương và lòng bi vô biên của Ngài hoàn toàn mở rộng đến toàn thể vũ trụ và đi tới từng chúng sanh, giống như tình thương của một người mẹ dành cho đứa con duy nhất. Trí tuệ vô hạn của Ngài biết mọi việc xảy ra trong vũ trụ một cách cùng lúc, không xao lãng khỏi bản tánh tuyệt đối đúng thật như đang hiện hữu – không hạn chế, không phân biệt, tỏa khắp mọi nơi và hoàn toàn rộng mở. Năng lực vô hạn của Ngài cung cấp mọi lợi ích và an định mọi rối loạn của vũ trụ và của mỗi chúng sanh, nếu họ mở rộng với cơ hội này, vì Ngài là suối nguồn vĩnh cửu của chữa lành và kết quả.</p>
<p style="text-align: justify;">Guru Rinpoche không chỉ là một nhà đại hiền triết của thế kỷ tám với năng lực đáng kinh ngạc, mà Ngài còn là hiện thân của tất cả chư Phật, thánh nhân và các nhà hiền triết, vì trong bất cứ thân tướng nào và cách thấy, nhận lấy và cư xử với Ngài, Ngài đều trở thành như vậy. Đó là năng lực của tâm khiến tạo ra mọi hoàn cảnh. Đức Phật và cõi Phật là bản tánh của tâm giác ngộ và năng lực của nó, và sự bất tịnh của thế gian phàm tục chỉ là sự tạo tác và kinh nghiệm của tâm nhị nguyên.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài là sự phản chiếu hay hiện thân của tâm Phật, chân lý, bản tánh thanh tịnh của chính tâm chúng ta, vì trong thật tánh, ánh sáng xuất hiện thanh tịnh của thật tánh, sự rộng mở duy nhất của an bình. Sự nương dựa vào Guru Rinpoche không phải gì khác hơn mà chính là một phương tiện thiện xảo để nhận ra và trao quyền năng cho chính chúng ta đến với những hiện tượng của nhận thức và kinh nghiệm thanh tịnh, hoan hỷ thanh tịnh và mạnh mẽ của chính mình, vốn được sinh khởi từ chính sự an bình của chúng ta và mở ra Phật tánh mà tất cả chúng ta đều sẵn có.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự quán tưởng có nhiều lợi ích. Nó truyền cảm hứng cho bạn hướng đến những mục tiêu tâm linh, tạo ra nếp suy nghĩ tích cực và theo khuôn phép. Nó ươm mầm cho một tính cách sùng tín và kiên định trong tâm thức và là con đường để ta tiếp nhận những ban phước và thành tựu của sự chứng ngộ và năng lực tâm linh.</p>
<p style="text-align: justify;">Hãy thấy toàn thể thế gian đầy đủ mọi loại chúng sanh với lòng sùng kính, khuôn mặt hoan hỷ và đôi mắt hạnh phúc, và tất cả đang nhìn vào khuôn mặt thương yêu, đẹp đẽ, và quyền năng của Guru Rinpoche. Tất cả đều niệm mantra trong cùng một giọng, với âm điệu êm dịu và lớn nhất, như một cầu nguyện hay khẩn cầu đến Guru Rinpoche, như một phương tiện chữa lành những vấn đề của chúng ta, như một luyện tập của năng lượng thân thể và tinh thần của chúng ta, như một lễ hội của sự hiện diện của Guru Rinpoche với chúng ta, và như một thiền định về âm thanh thuần tịnh – âm thanh của mantra trong bản tánh của nhất như, sự nhất như của toàn thể vũ trụ trong âm thanh của cầu nguyện.</p>
<p style="text-align: justify;">Hãy thấy, cảm nhận và tin rằng sự quán tưởng và cầu nguyện mở ra hay sưởi ấm thân và tâm chúng ta trong sự sùng kính, nhiệt thành, an bình, hạnh phúc và rộng mở, và giờ đây trở thành kinh mạch thích hợp để tiếp nhận sự ban phước của Guru Rinpoche.</p>
<p id="yui_3_16_0_1_1450785114727_3391" style="text-align: justify;">Như một kết quả của sự cầu nguyện khẩn cầu tâm giác ngộ của Guru Rinpoche, những chùm ánh sáng ban phước mạnh mẽ nhiều màu xuất phát từ Guru Rinpoche và chạm vào những phần khác nhau trong thân bạn. Chỉ nhờ ánh sáng chạm vào, cảm nhận cảm giác ấm áp, cực lạc, hơi nóng, và rộng mở trong thân và tâm chúng ta. Hãy kinh nghiệm cảm giác đó và buông lỏng. Sau đó qua mọi lỗ chân lông và các cửa, chùm ánh sáng ban phước đi vào thân chúng ta loại bỏ tất cả lo nghĩ, căng thẳng và đau khổ, giống như bóng tối bị loại bỏ bởi ánh sáng mặt trời. Hãy thấy rằng toàn thân chúng ta được chuyển thành một thân ánh sáng ban phước, và mọi cảm giác của chúng ta đều trở thành sự cực lạc, rộng mở, và sức mạnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Tin tưởng rằng chúng ta đã nhận được năng lực ban phước thân, khẩu và ý của Guru Rinpoche và mọi vấn đề của thân tâm chúng ta đã được hoàn toàn an định. Hãy buông xả trong sự nhất như của cảm giác ấm áp, cực lạc và rộng mở – bản tánh phổ quát, Guru Rinpoche tối thượng.</p>
<p id="yui_3_16_0_1_1450785114727_3415" style="text-align: justify;">Nếu chúng ta tin tưởng, thì Guru Rinpoche luôn luôn ở cạnh chúng ta. Ngài không phải là một người thuộc về một thời gian hay nơi chốn đặc biệt. Ngài là (hoặc tiêu biểu cho) Đức Phật, tánh Phật và những biểu hiện của tánh Phật. Nói khác đi, Ngài là thật tánh của vũ trụ và là đặc tính hay biểu hiện thanh tịnh của vũ trụ đó. Bất cứ khi nào chúng ta để tâm mình kết nối với chân lý nội tại của chúng ta, thì chân lý đó sẽ luôn ở đó để đạt tới, và sau đó sự biểu thị hay diễn cảm khởi lên từ chân lý đó sẽ luôn xuất hiện như những biểu hiện hoặc hình tướng thanh tịnh và thiêng liêng. Nếu chúng ta cho phép chính mình được nhận cảm hứng và thấy được chính chân lý và sự an bình tối thượng đó, mà tất cả chúng ta đều sẵn có, qua sự hỗ trợ của Guru Rinpoche và thấy mình như chính Ngài, chúng ta sẽ nhận ra và trở thành Guru Rinpoche và những phẩm tánh, biểu hiện của Ngài.</p>
<p id="yui_3_16_0_1_1450785114727_3409" style="text-align: justify;"> Cuối cùng, hãy thấy và cảm nhận rằng Guru Rinpoche đến gần hơn và hòa nhập vào bạn, cả thân và tâm, như nước hòa vào nước và ánh sáng vào ánh sáng. Bạn trở thành một với Ngài. Với năng lượng của cảm giác và niềm tin đó, chẳng còn bất cứ khái niệm nào, chỉ buông xả ở đó, nghỉ ngơi ở đó, và thư giãn ở đó.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Tulku Thondup Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguyên tác: Hành trình Giác ngộ</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><span style="color: #000000;"><span id="yui_3_16_0_1_1450785114727_3328">Tuệ Pháp dịch, Nguyễn Minh Tiến</span> hiệu đính</span></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/thien-dinh-van-tat-ve-duc-lien-hoa-sanh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Đức Ralo Rigdzin Wangyal Dorje Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-ralo-rigdzin-wangyal-dorje-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-ralo-rigdzin-wangyal-dorje-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 17 Dec 2015 13:48:15 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6527</guid>
		<description><![CDATA[Đức Ralo Rigdzin Wangyal Dorje Rinpoche sinh vào rạng sáng ngày mùng 8 tháng 8 năm 1933 (năm Mộc Tuất theo Tạng lịch) tại Pargon Dechen Kyiphug, Tây Tạng. Đây chính là nơi mà Đức Sangye Lama, vị Terton (Khai Mật Tạng Vương) đầu tiên đã nhập thất ẩn tu. Trong suốt tháng chào đời của Đức Ralo Rinpoche, tất cả&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-ralo-rigdzin-wangyal-dorje-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Đức Ralo Rigdzin Wangyal Dorje Rinpoche sinh vào rạng sáng ngày mùng 8 tháng 8 năm 1933 (năm Mộc Tuất theo Tạng lịch) tại Pargon Dechen Kyiphug, Tây Tạng. Đây chính là nơi mà Đức Sangye Lama, vị Terton (Khai Mật Tạng Vương) đầu tiên đã nhập thất ẩn tu. Trong suốt tháng chào đời của Đức Ralo Rinpoche, tất cả các nông trại đều đón nhận những vụ mùa bội thu và ai cũng tin rằng đó chính là dấu hiệu kiết tường.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi lớn lên, Đức Ralo Rinpoche học Phật pháp Tây Tạng từ ông Ngài, Đức Dhechen Rinpoche và cha Ngài, Đức Ralo Karam Vajra Rinpoche, những hậu duệ tiếp nối Dòng truyền thừa Ra Tobden Pawo.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Ralo-Rinpoche.jpg"><img class="  wp-image-6529 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Ralo-Rinpoche.jpg" alt="Ralo Rinpoche" width="352" height="513" /></a></p>
<p style="text-align: center;">Đức Ralo Rinpoche</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Đức Ralo Rinpoche lên 11 tuổi, Ngài đã thực hiện khóa nhập thất 3 tháng. Chính tại đây Ngài đã trực ngộ và thể nhập vào Tánh Không (shunyata) và nguyện rằng sẽ tu học giáo lý Đại Viên Mãn (Dzogchen)</p>
<p style="text-align: justify;">Năm lên 17 tuổi, Đức Ralo Rinpoche đã thực hiện kì nhập thất truyền thống 3 năm, 3 tháng, 3 ngày và đạt được sự chứng ngộ Tam Căn bản: Đạo sư, Bổn tôn và Dakini (Guru, Yidam, Khandro).</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 26 tuổi, Đức Ralo Rinpoche đã di chuyển từ Tây Tạng tới Ấn Độ và sau đó chấp nhận lời mời của Hoàng gia Bhutan ở lại đây.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 27 tuổi, Ngài đã di chuyển từ Bhutan tới Darjeeling, Ấn Độ để thỉnh giáo lý từ Đức Chatral Sangye Dorje Rinpoche, một Bậc Đạo sư Dzogchen vĩ đại.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/His-Holiness-Kyabje-Chatral-Rinpoche-and-Ralo-Rinpoche.jpg"><img class="  wp-image-6528 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/His-Holiness-Kyabje-Chatral-Rinpoche-and-Ralo-Rinpoche-228x300.jpg" alt="His Holiness Kyabje Chatral Rinpoche and Ralo Rinpoche" width="371" height="488" /></a></p>
<p style="text-align: center;">Đức Chatral  Rinpoche &amp; Đức Ralo Rinpoche</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Ralo Rinpoche đã thọ nhận rất nhiều quán đảnh Dzogchen, khẩu truyền, giáo huấn từ Đức Chatral Rinpoche và lại tiếp tục một kì nhập thất ẩn tu 3 năm, 3 tháng, 3 ngày. Sau lần nhập thất này, Ngài đã đạt được chứng ngộ Đại Viên Mãn (Dzogchen) và kinh nghiệm nhiều dấu hiệu thành tựu.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở độ tuổi khoảng 33, 34, Đức Ralo Rinpoche thọ nhận nhiều giáo lý Kim cương thừa hơn và hoàn thành bộ giáo lý về Yidam Vajrakilaya (Bổn tôn Kim Cang Phổ Ba) tại Ấn Độ và Nepal.</p>
<p style="text-align: justify;">Khoảng vào giai đoạn cuối của kì nhập thất Yidam của Đức Ralo Rinpoche, Đức Dilgo Khyentse Rinpoche, một trong những vị Thầy và học giả vĩ đại của Dòng truyền thừa Nyingma vào thế kỉ thứ 20, đã yêu cầu Ngài tới Đài Loan để thỉnh cầu giáo pháp Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Đây là thời điểm bắt đầu khai mở những giáo lý của Đức Ralo Rinpoche tại Đài Loan, nơi Ngài đã thiết lập các trung tâm Pháp. Về sau, Ngài đã du hành tới nhiều địa điểm như Hồng Kông. Nhật Bản và Hoa Kỳ, tại những nơi này Ngài cũng trao truyền các giáo lý và thiết lập các trung tâm Phật Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Ralo Rinpoche đã tu học cùng nhiều vị Thầy vĩ đại của thời kì Phật giáo Tây Tạng thế kỉ 20, bao gồm Đức Dudjom Rinpoche, Đức Karmapa đời thứ XVI, Đức Jamyang Khyentse Chokyi Lodro và Đức Penor Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Là một hành giả và học giả của Bất Bộ Phái (Rimé), Đức Ralo Rinpoche cũng nghiên cứu và thực hành rất nhiều pháp tu thuộc Dòng truyền thừa Kagyu và Sakya của Phật giáo Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Ralo Rinpoche còn là một bậc thành tựu về Y học Tây Tạng và thể theo thỉnh cầu Ngài thường kiểm tra, đưa ra lời khuyên với phương pháp phù hợp cho từng cá nhân để trị bệnh của họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Những hoạt động Từ Bi không ngừng nghỉ đều khởi nguồn từ tấm lòng và tâm trí của Đức Ralo Rinpoche. Hiện tại, Ngài sống tại tu viện của mình ở Parphing, Nepal và chăm sóc việc đào tạo tu sĩ tại đây.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Ralo Rinpoche thị tịch vào ngày 26 tháng 12 năm 2011 tại Nepal. Nhục thể của Ngài được hỏa táng vào ngày 14 tháng 2 tại Tu viện Rigzin Phodrang, Nepal. Cầu vồng xuất hiện quanh mặt trời khi lễ Puja bắt đầu được cử hành. Nhiều dấu hiệu kiết tường và những nét huyền bí xuất hiện xung quanh khu vực diễn ra lễ Puja.</p>
<p style="text-align: justify;">http://wcbs.us/pb/wp_cec17277/wp_cec17277.html</p>
<p style="text-align: justify;">Việt ngữ: Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính: Giác nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với</em><em> </em><em>Đức Ralo Rigdzin Wangyal Dorje Rinpoche</em> <em>đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này những hóa thân của Ngài sớm quang lâm đến Việt nam</em></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-ralo-rigdzin-wangyal-dorje-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đức Orgyen Kusum Lingpa một Kho tàng của Thời đại chúng ta</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/duc-orgyen-kusum-lingpa-mot-kho-tang-cua-thoi-dai-chung-ta/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/duc-orgyen-kusum-lingpa-mot-kho-tang-cua-thoi-dai-chung-ta/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 02 Oct 2015 19:32:13 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Khai Mật Tạng]]></category>
		<category><![CDATA[Longchen Ningthik]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Terma & Terton]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thống khác]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Ningthik]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6065</guid>
		<description><![CDATA[Khuôn mặt chó bun của Ngài có thể liên tục thay đổi sự biểu lộ từ phẫn nộ sang bi mẫn chói ngời và qua vẻ hân hoan như trẻ con một cách nhanh chóng; Ngài tự gọi mình là một “Lạt ma hành khất” và một “trưởng tử của Vajrapani” (Kim Cương Thủ.) Những mâu thuẫn hiển nhiên này&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/duc-orgyen-kusum-lingpa-mot-kho-tang-cua-thoi-dai-chung-ta/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/HH-Kusum-Lingpa-18.jpg"><img class="  wp-image-6068 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/HH-Kusum-Lingpa-18-239x300.jpg" alt="HH Kusum Lingpa (18)" width="392" height="492" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Khuôn mặt chó bun của Ngài có thể liên tục thay đổi sự biểu lộ từ phẫn nộ sang bi mẫn chói ngời và qua vẻ hân hoan như trẻ con một cách nhanh chóng; Ngài tự gọi mình là một “Lạt ma hành khất” và một “trưởng tử của Vajrapani” (Kim Cương Thủ.) Những mâu thuẫn hiển nhiên này chỉ là những khía cạnh của một sự phô diễn trí tuệ được liên tục biểu hiện tuỳ theo nhu cầu của các đệ tử bởi một trong những Lạt ma vĩ đại nhất còn sống của Tây Tạng, H.H. Orgyen Kusum Lingpa.</p>
<p style="text-align: justify;">Đứng trước sự hiện diện của His Holiness là xúc chạm vào khuôn mặt của xứ Tây Tạng cổ xưa, huyền bí trong năng lực nguyên tuyền của nó. Ở nơi Ngài ta không chỉ kinh nghiệm toàn bộ sức nặng của một truyền thống không đứt đoạn, mà còn cả một sự bao la của cái thấy xoá sạch phòng tuyến ngăn chia giữa những gì thường được gọi là thầàn thoại, và thực tại; cả hai đơn thuần được diễn tả ở những mức độ khác nhau trong phạm vi của ý thức.</p>
<p style="text-align: justify;">Với sự tự hào kim cương của một bậc đã chứng ngộ thực hành Pháp qua vô số cuộc đời, His Holiness thuật lại một cách thực tế sự tiếp nối của những Hoá Thân phi thường của Ngài: “Vào thời của Gesar xứ Ling (vị anh hùng trong sử thi Tây Tạng), tôi là một trong ba mươi chiến sĩ chủ lực của ngài; tôi mạnh tới độ có thể nhặt một con voi với một bàn tay và vì thế là một trong số ít người không bị tử thương trong những cuộc chiến tranh được tiến hành giữa xứ Hor và Jang. Tên tôi là Jamtrul Yulai Topgyir bởi tôi mặc áo giáp bằng ngọc lam rắn chắc. Tôi cũng là thành tựu giả Ấn Độ Trilwupa và Lhalung Palgyi Dorje, người đã giết Vua Langdarma (kẻ huỷ diệt Phật Giáo, bị giết bởi một mũi tên vào năm 842). Trong đời Machig Lapdron (nữ hành giả nổi tiếng và là người sáng lập trường phái Chod), tôi là một trong những đệ tử chính của Bà, có tên là Shang Murthi Nyongpa Rangzin, hay Kẻ Cuồng điên Bí mật-tự-Bản chất xứ Shang.”</p>
<p style="text-align: justify;">Trong đời này His Holiness sinh năm 1933 tại Achak Drayu trên ngọn núi linh thiêng Amnyi Machen Nyendop, nó được gọi là ngọn Kailash (Ngân Sơn) ở miền Đông Tây Tạng. Sự ra đời của Ngài được tiên tri trong Kinh điển bởi Dodrup Chen đệ nhất, Jigme Trinley Oser, bởi terton Nyima Dragpa; và bởi Dzogchen Rinpoche thứ năm, ngài Migyur Namkhai Dorje. Một ngagpa thế hệ-thứ tư, His Holiness là con trai của bậc lão thông Kim Cương thừa Washi Lama Lhundrup Gyatso và yogini Padma Lhamso. Thân phụ Ngài mất khi Ngài lên ba tuổi, vào lúc đó His Holiness nhận những giới nguyện quy y và lễ cắt tóc từ Ban Thiền Lạt ma thứ chín, Thubten Chokyi Nyima.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài tự mô tả mình trong thời niên thiếu là “rất nghịch ngợm, xấu xa như đám trẻ sinh động!” Tuy nhiên, Ngài tiến bộ trong việc học tập với một số vị Thầy linh thánh, kể cả Ngài Ahkon Khenchen Losang Dorje, một geshe rabjampa đã hoàn thành việc nghiên cứu hơn một trăm Kinh điển quan trọng nhất, và His Holiness đã là đệ tử chính của vị này trong hơn bốn mươi năm; hai Hoá Thân của Dodrup Chen Rinpoche thứ tư, Thubten Trinley Palzangpo và Rigzin Jalu Dorje; Gyaltrul Wangpo, Khenchen Lobsang Namtak là người đã ban cho Ngài sự truyền dạy Dzogchen Nyingthik, và Ngài đã sống nhiều năm với vị Thầy này; và Palyul Chogtrul Rinpoche mà từ vị này Ngài nhận lãnh các trao truyền Namcho và Tatna Lingpa. Thêm vào đó, từ năm mười ba tuổi, His Holiness bắt đầu nhận lãnh, trong những khoảng thời gian đều đặn, các linh kiến của Guru Padmasambhava và Vajrayogini. Cả hai vị này tiếp tục truyền dạy các giáo huấn và tiên tri cho Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Thân mẫu Ngài mất khi Ngài mười sáu tuổi, (…) và Ngài vui thích khi thuật lại “Khi tôi gặp những gia trưởng keo kiệt, tôi cố tình hát những bài ca kim cương du dương và não nuột làm họ khóc lóc, suy sụp, vì thế họ kết thúc bằng việc liên tục cho tôi những món ăn ngon nhất của họ!” Ngài cũng kể lại những ngày Ngài là một chodpa (hành giả thực hành pháp Chod), nếu những người bạn hành giả của Ngài nghe phong thanh về thời gian và địa điểm thực hành Chod của một yogi, họ sẽ luôn luôn chơi sỏ anh ta. “Những yogi này lập tức có những phản ứng sai lầm,” Ngài lưu ý. “Thật là vui nhộn.” His Holiness không dừng lại ở những trò đùa nghịch như thế: một lần, khi một nhà sư khác đang thực hiện pháp Chod, với sự hóm hỉnh của mình, cậu bé Kusum Lingpa làm kinh hoàng vị yogi tương lai bằng cách thọc bàn tay qua một cái lỗ trong căn lều và giật tóc ông ta!</p>
<p style="text-align: justify;">Vào khoảng thời gian này, His Holiness đi hành hương Lhasa và Samye, ở đó Ngài có các linh kiến về tất cả những đời quá khứ và tương lai của mình. Chính lúc đó Ngài nhận ra rằng trong tương lai Ngài sẽ tái sinh là Sangpa, trưởng tử của vị Nhiếp Chính thứ hai mươi lăm của Shambhala. Lòng dũng cảm hiếm có của Ngài sẽ giúp cho Ngài chiến thắng trong một đánh bom kéo dài bảy ngày do con người trên trái đất này ném xuống các cư dân của Shambhala. Ngài cũng thọ nhận một tiên tri là trong hơn một trăm đời Ngài sẽ khám phá một ngàn cuốn sách được liên kết với những kho tàng ẩn dấu ở năm phương hướng.</p>
<p style="text-align: justify;">Không lâu sau đó, His Holiness bắt đầu khám phá những kho tàng tài bảo, các thực hành có khả năng ban tặng sự thịnh vượng trong những thời đại suy hoại. Sau này, năm ba mươi hai tuổi, Ngài khám phá một kho tàng thân của Đức Phật Vairocana (Tỳ Lô Giá Na) mà hiện nay Ngài đang ban tặng nó cho các đệ tử ở Tây phương, đó là thực hành Jambhala Orgyen. Với sự xác quyết của một bậc đã chứng ngộ sự thực hành, His Holiness nói rằng sự khám phá terma (kho tàng tâm linh được chôn dấu) này lập tức đảo ngược vận mệnh của Ngài, đem lại sự sung túc bất thường, và có thể thực hiện tương tự đối với bất kỳ ai tuân thủ nó một cách tinh tấn. Từ lúc đó, Ngài nổi tiếng là một trong những terton (bậc khám phá terma) còn sống, đã khám phá ba loại terma: những terma được nhận lãnh trực tiếp từ tâm; những terma “điên” có thể hiển lộ trong vị yogi như cách hành xử không theo quy ước; và terma bí mật chỉ có thể khám phá bởi một bậc là sở hữu chủ của tất cả mười tám bộ (gia đình) terma.</p>
<p style="text-align: justify;">Giữ vững lập trường không trộn lẫn Pháp với những vấn đề thế tục, His Holiness trải qua hơn hai mươi ba năm bị giam giữ trong một trại giam của Trung Quốc ở Tây Tạng, Ngài thích nhấn mạnh tới những sự ban phước của Đức Padmasambhava và Vajrayogini mà nhờ đó Ngài cảm thấy Ngài có thể tới Tây phương và ban những giáo lý. “Những Lạt ma khác ở Tây Tạng vĩ đại hơn tôi nhiều,” Ngài nói, “nhưng tôi là một người thăm viếng Châu Mỹ và là một thành phần của những sự việc ở đây.” Mặc dù hiện nay Ngài có trọng trách đối với năm tu viện ở Tây Tạng, tu viện chính nằm ở Golok trong miền đông Tây Tạng, His Holiness bắt đầu nhận những lời mời vào năm 1994 để giảng dạy tại các trung tâm Giáo Pháp Châu Mỹ của các ngài Chagdud, Gyaltrul, và Trungpa Rinpoche, và tại Kunzang Palyul Choling, được điều hành bởi nữ tulku người Mỹ Ahkon Norbu Lhamo. Trong chuyến trở lại Hoa Kỳ vào mùa xuân năm nay, Ngài cũng thành lập một trung tâm nhỏ ở Crestone, Colorado và một trung tâm ở Los Angeles mà Ngài hướng dẫn cùng với trưởng nam của Ngài là Tulku Hungkar Dorje, là vị từng được công nhận là tái sinh của Do Khyentse Yeshe Dorje, mà His Holines sẽ là một Lạt ma vĩ đại hơn ông ta. His Holiness đã đích thân bổ nhiệm đệ tử của Ngài là Kelly Lynch làm giám đốc trung tâm. Trong thời gian thăm viếng Châu Mỹ, His Holiness đã giảng dạy trên ba ngàn người và đã ban các giới nguyện quy y cho hơn năm trăm người.</p>
<p style="text-align: justify;">Lối giảng dạy của His Holiness thiên nhiều về trực giác. Ngài có thể ban những nhập môn chính thức hay thuật lại những câu chuyện của Tây Tạng xa xưa. Sau một buổi tối vui nhộn bất ngờ, Ngài kết luận: “Khi tôi còn trẻ, tôi có nhiều cuộc gặp gỡ ngồ ngộ với những người được gọi là hành giả Pháp thuần tịnh và những trò đùa nghịch được rút ra từ họ, vì thế thỉnh thoảng khi tôi đang giảng dạy, những câu chuyện này xuất hiện trong tâm tôi. Tôi thích kể những câu chuyện này bởi tôi thích cười. Ngày mai chúng ta sẽ cố gắng có thêm những bài giảng, nhưng nếu những câu chuyện này lại xuất hiện thì tôi không thể kiểm soát được mình!”</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng Ngài có thể dễ dàng biểu lộ một cách thế phẫn nộ, đưa ra lời khuyên dạy nghiêm khắc cho những hành giả đang rơi vào sự tự mãn. Khi Ngài có một ước muốn mạnh mẽ, Ngài sẽ trở lại vấn đề một cách liên tục và sinh động tới nỗi ta dễ tin rằng Ngài là một Hoá Thân của Đức Vajrapani (Kim Cương Thủ); một trường năng lực tỏa ra từ Ngài khiến ta có thể sờ mó được. Tại một trung tâm Giáo Pháp, Ngài đã khiển trách tăng đoàn trong ba buổi tối liên tiếp về mọi sự hình thành giờ giấc mà họ đang giữ (“Quý vị nên thức dậy và bắt đầu thực hành vào lúc 4 giờ sáng; ngủ tới 8 giờ sáng và thức khuya thì không tốt”) đối với toàn bộ hiệu quả của tổ chức. Đó là một trong những trách nhiệm của Ngài, Ngài khám phá, tẩy trừ những chướng ngại, đặc biệt là tại những trung tâm Giáo Pháp. Nhưng vào lúc kết thúc, Ngài thình lình cười rạng rỡ và nói: “Tôi nghĩ tôi đã quá khó khăn với quý vị; bây giờ tôi sẽ kể cho quý vị nghe một vài chuyện vui!”</p>
<p style="text-align: justify;">Quả thực là vẻ chói sáng của His Holiness là điều được cảm nhận một cách mạnh mẽ, ngay cả giữa sự biểu lộ phẫn nộ được kiểm soát của Ngài. (Thực thú vị là từ ngữ Tây Tạng để chỉ sự phẫn nộ, dragpo, bao hàm sức mạnh hơn là sự giận dữ.) Nhìn vào mặt Ngài khi ta được Ngài ban phước, ta hiểu được ý nghĩa của thuật ngữ lòng bi mẫn không-bị cụ thể hóa. His Holiness không chỉ ban tặng lòng từ; Ngài trở thành lòng từ ái, và mặc dù hành giả có thể nhận lãnh sự trừng phạt nghiêm khắc khi cần thiết, nhưng họ sẽ không bao giờ bị bỏ rơi.</p>
<p style="text-align: justify;">His Holiness cũng có thể khiêm tốn, bình phàm, và sắc sảo thật tâm lý. Mới đây, lời khuyên dạy tâm huyết của Ngài cho các đệ tử là: “Các Lạt ma vĩ đại là những vị nghĩ về bản thân mình một cách khiêm tốn và không tự đặt mình trong một địa vị đặc biệt, nhưng hạ mình hoà nhập với mọi người, và thậm chí còn thấp thỏi hơn mọi người, như một Lạt ma hành khất. Nếu quý vị sống như một Lạt ma hành khất, quý vị thực sự ở một vị trí làm lợi lạc chúng sinh.” Một vấn đề khác: “Là bất tịnh nếu không nhận ra chân tánh của tâm. Đó là lý do tại sao những gì ở trong tâm quý vị thì bất tịnh như những thứ xuất hiện trong nhà vệ sinh! Nếu ngay cả người bạn tốt nhất của ta có thể thấy được những gì trong tâm ta, thì thật là bối rối. Và nếu mọi người có thể thấy được những gì trong tâm ta, chúng ta sẽ ở trong một trạng thái giằng xé liên tục!” Ngài cũng ban lời dạy về những thực hành cho người chết và về thái độ đúng đắn đối với những của cải như một chuẩn bị cho cái chết của bản thân ta. “Ở Mỹ, khi người nào chết, điều quan trọng nhất là loại y phục nào quý vị sẽ mặc cho tử thi để làm dễ chịu những ai nhìn thấy nó. Tôi có thể quả quyết với quý vị là điều này có hại cho tâm thức bardo bởi nó không giải thoát tâm thức khỏi sự bám luyến. Là những hành giả Phật Giáo, hãy làm điều đức hạnh như trì tụng thần chú Mani (Lục Tự Đại Minh) hay thực hiện những Bổn Tôn an bình và phẫn nộ trong các vị thần trong bardo. Khi quý vị ở trong bardo, điều tôi nói sẽ trở nên chân thực trong tâm quý vị và khi ấy quý vị sẽ hiểu rõ là người ta có thiện tâm đối với người thân của họ vào lúc chết hay không. Đối với tâm thức bardo thì điều tốt đẹp là không để lại sau lưng quá nhiều của cải bởi điều đó gây nên sự bám luyến. Giờ đây hãy sử dụng tài sản của quý vị vào những mục đích đức hạnh. Đừng tích luỹ quá nhiều hay có những dự án to lớn cho tương lai. Đây không phải là con đường của Dzogchen (Đại Viên Mãn). Quý vị nên có một tâm thức được hướng tới hiện tại hơn nữa.”</p>
<p style="text-align: justify;">His Holiness thật rộng lượng tràn đầy tâm linh và cảm xúc, Ngài ban phước cho tất cả, từng người một, bất kể những khoá giảng kết thúc muộn tới đâu hay Ngài mệt nhọc ra sao. Nói chung, Ngài ban tặng gấp đôi so với giáo lý xuất hiện trên lịch giảng dạy chính thức. Và nhìn ngắm Ngài trong những giờ Ngài “nhàn rỗi” là một sự nhắc nhở về nỗ lực không ngừng nghỉ mà những bậc thực hành các giới nguyện Bồ Tát đã làm. Khi Ngài không tích cực giảng dạy hay ban những chỉ dạy tâm linh, Ngài lần chuỗi hột và trì tụng các thần chú, hoặc tìm kiếm người nào đó để làm lợi lạc. Trong khi chờ đợi tại một phi trường ở bờ biển miền đông, Ngài nhìn lướt qua đám đông, đôi mắt ngài dừng lại nơi một phụ nữ ngồi đối diện với Ngài. Bởi Ngài không nói tiếng Anh, Ngài bắt đầu ra hiệu để thu hút sự chú ý của bà ta, thấu hiểu rằng ngay cả sự tiếp xúc thoáng qua cũng có thể gieo trồng một chủng tử sẽ nở rộ trong những đời sau.</p>
<p style="text-align: justify;">His Holiness là một sức thuyết phục của chân tánh, một kho tàng sống của những truyền thống tâm linh cao quý nhất của Tây Tạng, một terton và siddha (thành tựu giả) vĩ đại, không nên bỏ lỡ Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><i>Nguyên tác: A Treasure for Our Time, by Victoria Huckenpahler</i><br />
<i>Bản dịch Việt ngữ của Liên Hoa</i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/duc-orgyen-kusum-lingpa-mot-kho-tang-cua-thoi-dai-chung-ta/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
