<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Dujom Tesar Nyingma</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-nyingema/dujom-tesar-nyingma/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Sun, 07 Jun 2026 20:27:58 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Sự tôn kính</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/dujom-tesar-nyingma/su-ton-kinh/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/dujom-tesar-nyingma/su-ton-kinh/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 26 Mar 2020 07:46:50 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Dujom Tesar Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=9951</guid>
		<description><![CDATA[Tinh túy của mọi hành xử và lễ nghi là sự tôn kính. Thời xưa khi những phẩm chất bên trong thanh tịnh được tôn kính một cách tự nhiên và được xem như là tôn quý nhất thì những người có những phẩm chất này thường được tôn vinh để trở thành những vị hoàng đế, nữ hoàng và&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/dujom-tesar-nyingma/su-ton-kinh/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Tinh túy của mọi hành xử và lễ nghi là sự tôn kính. Thời xưa khi những phẩm chất bên trong thanh tịnh được tôn kính một cách tự nhiên và được xem như là tôn quý nhất thì những người có những phẩm chất này thường được tôn vinh để trở thành những vị hoàng đế, nữ hoàng và thành phần quý tộc nhờ bản chất thuần khiết trong những lễ nghi và hành xử của họ. Sự chính trực tự nhiên của họ được tôn kính bởi những người có tâm thức thanh tịnh để họ có thể duy trì dòng dõi tập quán thanh tịnh này cho nhiều thế hệ, bất kể là những hoàn cảnh của họ có thay đổi như thế nào.</p>
<p style="text-align: justify;">Bản chất cao quý tự nhiên của chúng ta vốn thanh tịnh từ khởi thủy, nhưng trong thời buổi hiện đại này thì các nguyên tố bên trong của chúng ta trở nên bị che chướng và không được tinh lọc một cách tinh tế, vì vậy, chúng ta đã không còn khả năng kết nối với dòng dõi cao quý tự nhiên của mình. Thay vào đó, chúng ta lại bị dính mắc, bám luyến vào những hoàn cảnh thô tháo, vô thường để rồi khi những hoàn cảnh này thay đổi, thì hành vi của chúng ta cũng trở nên thô tháo, kiêu ngạo và thiếu kiên định. Sự cao quý đích thực thì giống như vàng ròng, cái luôn luôn bất biến trước mọi hoàn cảnh. Kể cả nếu bạn có đốt nó thì nó vẫn là vàng ròng; kể cả bạn có cắt gọt nó thì nó cũng vẫn là vàng ròng; và kể cả nếu bạn có nghiền nát nó thì nó cũng vẫn là vàng ròng.</p>
<p style="text-align: justify;">Dù cho được sinh ra trong thành phần quý tộc hay cố gắng để trở thành cao quý nhờ vào tài sản, quyền lực hay thanh thế, thì chúng ta cũng không thể có những tập khí, thói quen cao quý bên trong bất biến thanh tịnh, trừ khi chúng ta đã từng tích lũy chúng từ các kiếp trước. Nếu không có thói quen, tập khí tôn kính sâu sa tới bản chất bất biến thanh tịnh của những hành xử xã hội, mà chúng ta chỉ thích nghi một cách hời hợt, bề nổi bên ngoài với sự biểu lộ thô tháo, vô thường của chúng thì chúng ta đã lạm dụng sai mục đích năng lực và vị thế của mình qua sự thiển cận này, và chúng ta chỉ là những kẻ quý tộc rởm đời, không thực chất.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày nay, những người đến từ các nước nghèo về vật chất thường coi thường điều cao quý vì họ đã liên đới một cách sai lạc bản chất tôn quý đích thực với những hoạt động bất tịnh thô tháo của giới quý tộc rởm đời, lệch lạc. Còn những người đến từ các nước vật chất hùng mạnh thì lại không thể nhận ra những phẩm chất cao quý thực sự, bởi vì với thói quen tâm trí máy móc của thời đại khoa học, họ đã trở nên quá thiếu kiên nhẫn để học hỏi sự tôn kính. Nhưng những người từ tất cả mọi quốc gia đều cố gắng đi tìm kiếm những phẩm chất cao quý như sự trung thực, tử tế, can đảm và hào phóng khi lựa chọn những người lãnh đạo của họ, vì họ hiểu rằng sự tôn kính, trân trọng sẽ tạo ra sự hài hòa và thấu hiểu giữa con người với nhau.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu chúng ta trông dựa vào các nguyên tố thô bất tịnh cùng vật chất thô đặc, trì trệ thì sức mạnh, năng lực bên ngoài của chúng ta có thể được gia tăng, nhưng trong khi đó thì các nguyên tố thanh tịnh bên trong của chúng ta lại bị suy giảm; rồi thì sự tôn kính thực sự sẽ bị mất đi, sự mất cân bằng, hài hòa cùng thô bạo sẽ xuất hiện. Khi có những thói quen, tập khí vật chất thì chúng ta chỉ tôn kính tới những gì mình có thể dùng được trong lúc vẫn còn sử dụng nó. Nếu nhìn thấy những bậc siêu phàm thì chúng ta có thể chỉ tôn kính họ một cách tạm thời mà không thực sự sâu sắc và lâu dài từ sâu thẳm trong tâm mình. Chúng ta không thể hiểu hay được lợi ích từ những phẩm chất tâm linh của các ngài vì chúng ta đã nhìn các ngài từ một quan điểm vật chất theo sự tán thành, hợp lý hóa của riêng mình. Tâm thức chúng ta trở nên ngày càng bị mắc kẹt vào những đối tượng giả ảo, rởm đời, trì trệ và thô tháo từ mối bận tâm, lo lắng của mình, và vì vậy chúng ta không thể kết nối được với bản chất đích thực của mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng nếu mục đích của chúng ta là sự giác ngộ thì chúng ta cần phải tôn kính tới những bậc siêu phàm với những phẩm tính tâm linh, và chúng ta cần phải nương tựa, trông dựa vào các ngài để làm sắc bén những khả năng của chính chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Đứng từ quan điểm thế gian thì mục đích thật sự của việc tôn kính là để chỉ ra rằng văn hóa và truyền thống là quý báu, và để trở nên thông thạo, am tường và đáng được tôn kính thì chúng ta phải nhận ra được những phẩm tính quý báu của chúng. Đứng từ quan điểm Giáo Pháp thì mục đích thực sự của việc tôn kính là để kết nối từ tâm thức tới tâm thức thông qua những phẩm chất thanh tịnh, phi chất thể bên trong nhằm phát triển những phẩm chất thanh tịnh có chất thể bên ngoài, và rồi những phẩm chất thanh tịnh có chất thể bên ngoài này lại tạo ra những phẩm chất thanh tịnh phi chất thể bên trong hơn nữa.</p>
<p style="text-align: justify;">Có nhiều hình thức tôn kính khác nhau nằm trong những cách thể hiện, biểu lộ của thân, khẩu và tâm; nhưng nếu nguồn gốc của sự tôn kính lại không phải đến từ tâm của chúng ta thì rồi, sự biểu lộ và thể hiện sự tôn kính ấy sẽ lại thành ra sai lạc và giả tạo. Đó là lý do tại sao Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói: “Vạn pháp hiện hữu vốn ở trong tâm một cách tự nhiên. Tâm là nguyên thủy, dẫn đầu và hiện hữu trước những hành động của thân và khẩu. Bất kỳ ai nói và làm với tâm thanh tịnh thì họ sẽ luôn luôn hạnh phúc cũng giống như những chiếc bóng từ những vật thể không bao giờ chia tách khỏi những vật thể – nguồn phát ra chúng”.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhiều vị thầy nói rằng chúng ta chỉ có thể tôn kính Pháp với tâm của mình nếu chúng ta cũng tôn kính Pháp với thân và khẩu của mình, nhưng cũng có những người lại chỉ tôn kính Giáo Pháp với thân và khẩu của họ nhưng với tâm của mình, họ lại không tôn kính Giáo Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">Chẳng hạn, khi bậc thầy của chúng ta ở trong phòng thờ và chúng ta quỳ gối trước bàn thờ, nhưng chúng ta lại duỗi chân ra ngay sau khi vị thầy đi ra ngoài để chúng ta lại một mình, thì điều này là bất kính. Khi chúng ta dành toàn tâm toàn ý vào bậc thầy của mình, chúng ta coi ngài như Bậc Minh Sư hay Đấng Tối Linh của mình nhưng sau đó khi nói về ngài với những người khác thì chúng ta lại dùng tên riêng của ngài một cách tùy tiện, thì điều này là bất kính. Hai sự biểu lộ của thân và khẩu này chỉ ra rằng sự bất kính đến từ tâm thức bất tịnh của chúng ta. Ở đâu có sự tôn kính giả tạo, rởm đời thì ở đó không có lễ nghi chân thực cùng sự cao quý thuần khiết.</p>
<p style="text-align: justify;">Để thể hiện sự tôn kính đích thực trong một cách sâu sắc và tinh tế trước sau như một, thì chúng ta cần phải để cho tâm thức mình được thanh tịnh. Sau đó thì sự tôn kính của chúng ta sẽ không còn là sự hai mặt nữa. Luôn luôn là tốt nhất nếu chúng ta khảo sát tâm thức mình trước khi tự động nói rằng chúng ta tôn kính một ai đó, hãy nhớ rằng sự tôn kính thật sự thì luôn bắt nguồn từ tâm. Nếu những truyền thống cố gắng dạy con người ta tôn kính bằng thân và khẩu một cách cứng nhắc mà lại thiếu đi những phương tiện thiện xảo, thì tâm thức chúng ta sẽ trở nên lo sợ rằng mình sẽ không tuân theo được hay sẽ phản bội lại truyền thống. Khi tâm thức chúng ta sợ hãi, lo lắng thì chúng ta có thể phản ứng lại bằng cách trở nên hung dữ, chống đối và không còn tôn kính nữa, bởi vì các nguyên tố thanh nhẹ bên trong chúng ta đã trở nên bị tắc nghẽn. Nếu học được sự tôn kính thiện ý từ bên trong – điều tồn tại trong bản chất thanh nhẹ của các nguyên tố, thì rồi sự biểu lộ bên ngoài từ thân và khẩu của chúng ta sẽ trở nên rộng mở, thanh tịnh và không bị che chướng, rồi sự tôn kính của chúng ta sẽ luôn được liên tục và không ngừng dứt.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự tôn kính của người này đôi khi lại là sự bất kính của người khác, và sự bất kính của người khác đôi khi lại là sự tôn kính của người kia. Hình thức giới luật khép kín của một số người là bất kính đối với hình thức phóng khoáng, dí dỏm của những người khác, và ngược lại, có đôi khi phong cách phóng khoáng, dí dỏm của một số người lại là bất kính với phong cách kỷ luật khép kín của một số người.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì sự thân mật vốn bắt nguồn từ tình yêu thương và sự tin tưởng nên nếu chúng ta dùng những cách biểu lộ tôn kính theo kiểu trang trọng, hình thức theo cách dành cho những người xa lạ và không quen biết như che dấu và tự tạo khoảng cách cho mình trước những người bạn thân, thì điều này là bất kính với sự tôn kính thân mật. Nếu chúng ta dùng những cách biểu lộ tôn kính thân mật và riêng tư với những người xa lạ, không quen biết ở nơi công cộng, thì đây lại là sự bất kính với sự tôn kính của hình thức trang trọng. Có những sự biểu lộ không phải là bất kính trong sự riêng tư, cá nhân nhưng nó lại là sự bất kính trong một nhóm tập thể. Ví dụ, nếu do thói quen cá nhân của mình, chúng ta nằm xuống và đánh trung tiện (đánh rắm) ở giữa một nhóm người lạ và không hề quen biết, thì đây là điều bất kính và không thích hợp.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu chúng ta thường dùng tiếng lóng thì nó có thể là sự bất kính với phong cách hàn lâm, văn học của những học giả và triết gia; Nếu chúng ta dùng kiểu ngôn ngữ dài dòng, phức tạp thì nó có thể là sự bất kính với ngôn ngữ tự nhiên trần trụi như tấm gương của các bậc thánh. Nếu chúng ta viết vô số những luận giảng, giải thích theo cách phân tích, diễn dịch và tinh vi, trau chuốt, và chúng ta không thể tổng hợp, quy nạp chúng về cái cốt lõi, tinh túy và thiết yếu của chúng, thì đó là bất kính với phong cách của các bậc thánh cùng những triết gia giỏi.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi có một ai đó cho chúng ta lời khuyên với ý định tốt thì sẽ là bất kính nếu chúng ta không trả lời là “Tôi hiểu”. Thậm chí nếu đã biết trước được những gì họ đang định nói cho mình mà chúng ta lại nói: “Tôi biết rồi”, thì đó là sự bất kính thay vì nói “Cảm ơn bạn”. Nếu chúng ta dùng sự châm biếm và trào phúng với ý định giúp ích cho những người khác thì dường như nó có vẻ là hơi giống như sự bất kính nhưng thực ra, nó lại là sự tôn kính thực sự. Nếu, với sự tâng bốc mà chúng ta sử dụng lời nói cùng lễ nghi êm dịu cho ý định dành lợi lộc cho bản thân mình, thì dù cho nhìn từ bên ngoài thì điều này có vẻ như là tôn kính, nhưng thực chất thì nó lại là một thủ đoạn bất kính ngầm bên trong.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu chúng ta nói chuyện về Giáo Pháp với những người không có khả năng hay có khao khát hiểu được Pháp, thì điều này là bất kính với Giáo Pháp. Nếu chúng ta dạy Pháp cho những người vốn đã hiểu được điều chúng ta dạy rồi, thì điều này là bất kính với những người chúng ta cố gắng dạy.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự tôn kính của một số dân tộc du mục lang thang từ miền Tây Bắc Ấn Độ di cư sang Tây Âu vào thế kỷ 15 dành cho sự thực hành thì trông giống như là bất kính với một số hành giả giới đức nghiêm ngặt. Sự tôn kính Giáo Pháp của một số tu sĩ giới nghiêm vào kỳ nhập thất thì trông giống như là bất kính với một số học giả tôn giáo hay học giả triết học, bởi họ nghĩ người tu sĩ trong thời gian nhập thất là ăn không ngồi rồi và không thực sự làm được cái gì cả. Một số người trong kỳ nhập thất có sự tôn kính tới kỳ nhập thất nhưng họ lại không tôn kính con người hay động vật ở khu nhập thất. Vì vậy, sự tôn kính hay bất kính luôn tùy thuộc vào ý định thanh tịnh của các nguyên tố bên trong.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu là những tu sĩ mà chúng ta lại không có tâm đạo hạnh tự nhiên hay sự nhàm chán, xả bỏ vòng luân hồi sinh tử, thì dù bên ngoài chúng ta có cố gắng giữ gìn những thệ nguyện của mình bằng hành động cụ thể với sự biểu hiện của thân, ngữ để có được sự tôn kính của người khác, thì chúng ta vẫn trở thành những thầy tu trong trường đào tạo quân đội – một sự bất kính với những tu sĩ thanh tịnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu không chứng ngộ và nhận ra vị Dakini Trí Tuệ ánh sáng nội tại thanh nhẹ bên trong của chính mình mà chúng ta chỉ tôn kính tới các dakini thô nặng bên ngoài trong khi tự biện minh cho mình bằng hệ thống Mật Thừa (Tantric), thì chúng ta đã trở thành những hành giả yogi kích dục bất kính với các vị hành giả yogi thanh tịnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu chúng ta không thực hành Pháp mà chỉ liên tục nói một cách thiếu tín tâm về vị thầy, về những giáo lý của ngài, về những lễ quán đỉnh của ngài, về sự thực hành của chúng ta, về những kỳ nhập thất của chúng ta, thì chúng ta đã lên một danh sách mua sắm Giáo Pháp, và rồi tâm thức bất tịnh của chúng ta sẽ trở nên bị táo bón và trĩ Giáo Pháp, điều là sự bất kính với những hành giả Pháp thực sự và với Giáo Pháp thanh tịnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu chúng ta không có sự giác ngộ trong cõi niết bàn cực lạc nhờ sự nhàm mỏi, chán ghét tâm thức luân hồi sinh tử, thì điều này là bất kính với giáo lý Nguyên Thủy Hinayana (Tiểu Thừa). Thậm chí nếu chúng ta có một sự giác ngộ cõi niết bàn cực lạc nhờ sự nhàm mỏi, chán ghét với thái cực khác của tâm thức luân hồi sinh tử, thì điều này vẫn là bất kính với giáo lý Đại Thừa (Mahayana), vì sau đó, chúng ta đã bỏ rơi tất cả chúng sinh trong vòng luân hồi sinh tử để luôn được an trụ trong cõi niết bàn vì lợi ích chỉ cho bản thân mình. Dù cho chúng ta có thể có sự tôn kính dành cho các hệ thống Nguyên Thủy và Đại Thừa nhưng nếu chúng ta vẫn không có các phương tiện thiện xảo để chuyển hóa ngay lập tức các nhân duyên, điều kiện của vòng luân hồi sinh tử thành các nhân duyên, điều kiện của cõi niết bàn, thì điều này là bất kính với hệ thống Kim Cương Thừa.</p>
<p style="text-align: justify;">Bất cứ ai cầu nguyện tới các vị nữ Bổn Tôn như Đức Tara, thì đó là bất kính với hệ thống Nguyên Thủy Hinayana (Tiểu Thừa). Bất cứ ai phân biệt giữa tất cả chúng sinh, dù đó là nam hay nữ, từ những loài côn trùng cho đến con người, mà không thừa nhận Phật tính vốn sẵn của họ, thì đó là bất kính với hệ thống Đại Thừa (Mahayana). Bất cứ ai không chấp nhận rằng Vị Bổn Tôn Trí Tuệ là siêu vượt lên khỏi tâm thức bình phàm của mình và không dâng lên những cúng dường thanh tịnh, thì đó là bất kính với hệ thống Ngoại Mật Thừa Tantric.</p>
<p style="text-align: justify;">Bất cứ ai không hiểu rằng bản tính thanh tịnh của tâm thức là tự do và giải thoát khỏi hoạt động tinh thần, và họ không kiến lập rằng tâm thức họ là đại không trống rỗng vĩ đại, thì đó là bất kính với giáo lý Trung Quán Madyamika. Bất cứ ai không hiểu bản tánh thanh tịnh của vạn pháp trong sinh tử và niết bàn, và họ không thể chứng ngộ và nhận ra rằng thủ ấn trí tuệ tỏa khắp mọi nơi, thì đó là bất kính với giáo lý Đại Thủ Ấn Mahamudra.</p>
<p style="text-align: justify;">Bất cứ ai thấy rằng không có sự khác biệt giữa một chủng tử (hạt giống) vốn gom chứa sẵn mọi nguyên tố một cách ẩn tàng và kết quả của hạt giống ấy, thì đó là bất kính với những người nông dân bình phàm. Bất cứ ai không kiến lập chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối như là tách biệt, và bất cứ ai không từ bỏ luân hồi sinh tử để chấp nhận niết bàn, và bất cứ ai không thấy rằng hạt giống và kết quả của nó là khác biệt, thì đó là bất kính với giáo lý của triết lý tôn giáo thông thường. Nhưng bất cứ ai không kiến lập rằng chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối là bất khả phân, và bất cứ ai không thực hành rằng sinh tử và niết bàn là bất khả phân, và bất cứ ai không xác quyết rằng kết quả đến từ nguyên nhân (hạt giống) và nguyên nhân (hạt giống) đến từ kết quả, do vậy không có sự tách biệt giữa chúng, thì đó là bất kính với giáo lý Đại Viên Mãn Mahasandhi.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự tôn kính của Pháp – điều dựa vào Tâm Trí Tuệ vô hạn là bất kính với sự tôn kính của vòng luân hồi sinh tử – điều dựa vào tâm nhị nguyên. Nếu chúng ta luôn luôn tôn kính con đường của vòng luân hồi sinh tử thì chúng ta không thể giải phóng tâm thức bị giới hạn cứng nhắc của mình vào những phẩm chất thanh nhẹ, xứng đáng được tôn kính thực sự. Nhưng một cách tương đối, nếu chúng ta thiếu tôn trọng những tập quán, phong tục của vòng luân hồi sinh tử, thì chúng ta không thể nào hiển lộ con đường và cách thức của Giáo Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">Đó là lý do vì sao Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói: “Bất kể điều gì samsara (vòng luân hồi sinh tử) mong ước, Ta cũng mong ước. Chúng sinh và bản thân Ta đều có cùng sự cảm thọ. Đau khổ và Hạnh phúc thì đều giống nhau”. Điều này không có nghĩa là Đức Phật có một tâm thức nhị nguyên giống như những chúng sinh của vòng luân hồi sinh tử, mà để tùy thuận theo chân lý tương đối, thì Đức Phật không thể dẫn dắt chúng sinh đi tới những phẩm tính của niết bàn nếu thiếu đi những phẩm tính của luân hồi sinh tử. Nếu chúng ta thể hiện lòng tôn kính thực sự thì thực hành tốt nhất là hãy chấp nhận bất kỳ hệ thống nào một cách tạm thời cho tới khi nào chúng ta được giải phóng hoàn toàn khỏi sự bất tịnh và để đi tới sự thanh tịnh, giải phóng khỏi sự bất kính của các nguyên tố thô nặng và đi tới sự tôn kính của các nguyên tố vi tế thanh nhẹ, để rồi cuối cùng chúng ta sẽ siêu vượt lên khỏi cả sự tôn kính lẫn sự bất kính để đi vào bản chất, tinh túy bí mật thuần tịnh của chúng ta.</p>
<p style="text-align: center;">Tiếng sủa lớn của một chú chó hoang là sự bất kính với<br />
những tên trộm nhưng lại là sự tôn kính với chủ của nó.</p>
<p style="text-align: center;">Những nhà lãnh đạo thế gian yêu chiều phu nhân của<br />
mình một cách ngoan ngoãn thái quá là sự bất kính<br />
với những đòi hỏi từ hiện tượng chung của xã hội<br />
nhưng lại là sự tôn kính với những phu nhân<br />
tự kiếm tìm sự kiểm soát của họ.</p>
<p style="text-align: center;">Những vị thầy tâm linh tham vọng, chưa chứng ngộ<br />
là sự bất kính với quan điểm Phật giáo thanh tịnh<br />
nhưng lại là sự tôn kính với những nhà<br />
bảo trợ giàu có của họ.</p>
<p style="text-align: center;">Sự đáp trả lại những bông hoa thiện chí sau khi<br />
nhận lấy những mũi tên ác ý của bậc Bồ Tát<br />
là sự bất kính với tập quán bất tịnh thế gian<br />
nhưng đó lại là sự tôn kính tới<br />
tập quán thanh tịnh của bậc Bồ Tát.</p>
<p style="text-align: center;">Thủ ấn trí tuệ bình đẳng bất nhiễm của Đức Phật<br />
là sự bất kính với mọi tâm thức nhị nguyên loạn tưởng –<br />
cái chia tách chân lý tuyệt đối và chân lý tương đối<br />
nhưng lại là sự tôn kính với Tâm Trí Tuệ bất nhị –<br />
cái mà trong đó chân lý tuyệt đối và<br />
chân lý tương đối là bất khả phân.</p>
<p><strong>Đức Thinley Norbu Rinpoche</strong></p>
<p><em>Nguyên tác: Magic Dance The Display Of The Self – Nature Of The Five Wisdom Dakinis</em></p>
<p><em>Trích: Vũ Điệu Huyền Diệu – Sự Hiển Lộ Tự Tánh của Ngũ Trí Dakini</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/dujom-tesar-nyingma/su-ton-kinh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Phép lạ và sự huyền nhiệm</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/dujom-tesar-nyingma/phep-la-va-su-huyen-nhiem/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/dujom-tesar-nyingma/phep-la-va-su-huyen-nhiem/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 26 Mar 2020 07:17:37 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Dujom Tesar Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=9948</guid>
		<description><![CDATA[Tâm thức của tất cả chúng sinh đều là những pháp sư với những phép lạ và thần thông đến từ những mánh khóe lừa đảo, nó khiến cho chân lý trở thành cái không thật và cái không thật lại trở thành chân lý nhằm mục đích đạt được vui sướng hay gánh chịu khổ đau. Người ta sợ&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/dujom-tesar-nyingma/phep-la-va-su-huyen-nhiem/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Tâm thức của tất cả chúng sinh đều là những pháp sư với những phép lạ và thần thông đến từ những mánh khóe lừa đảo, nó khiến cho chân lý trở thành cái không thật và cái không thật lại trở thành chân lý nhằm mục đích đạt được vui sướng hay gánh chịu khổ đau. Người ta sợ huyền thuật và trở nên mê tín dị đoan bởi vì họ đã chia tách, phân biệt các nguyên tố thô ra khỏi các nguyên tố vi tế, và họ đã hoài nghi, không tin vào mối liên hệ giữa chúng. Tập khí, thói quen phân chia này dẫn đến một sự mất cân bằng giữa các nguyên tố thô và vi tế. Sau đó, nếu một hoàn cảnh xấu xuất hiện như một vụ tai nạn hay một căn bệnh thì đôi khi chúng ta cho rằng nó là tà thuật đến từ một tay phù thủy, hay đến từ ma quỷ hoặc hồn linh nào đó. Tất nhiên nói chung thì cho tới khi tâm nhị nguyên của chúng ta bị cạn kiệt, còn không thì chúng ta vẫn có hiện tượng tiêu cực. Những ma quỷ hay các hồn linh đặc biệt thực sự hiện hữu và tồn tại thông qua những hiện tượng này, nhưng chúng ta không bao giờ nên nghĩ rằng chúng khác biệt hay tách biệt khỏi tâm thức loạn động của chính mình. Chúng ta sẽ luôn luôn bị lừa phỉnh, bị bịp bợm cho tới khi tất cả mọi phù thủy tà ác được chuyển hóa thành những pháp sư trí tuệ thiện lành và cho tới khi chúng ta đã chuyển hóa được tâm thức loạn động của chính mình trở thành Tâm Trí Tuệ.</p>
<p style="text-align: justify;">Với lợi ích tận cùng và tối hậu, thì sự hóa giải, đối trị tốt nhất để chống lại những phù thủy là làm tan hòa, hóa tán mọi ý niệm huyền thuật, phép lạ cùng thần thông vào tính không trống rỗng vĩ đại (đại không). Sau đó, bằng cách quán sát tâm thức mình, sự nhị nguyên của chủ thể bên trong – kẻ nhìn thấy phép lạ, thần thông cùng đối tượng phù thủy bên ngoài đều được tan biến và trở thành một với khoảng không của Tâm Trí Tuệ. Một khoảng không thì luôn luôn là vô hại, bởi vì trong đó không có đối tượng gây hại nào cả và cũng không có cả chủ thể lãnh chịu tổn hại nào hết. Vạn pháp hiện hữu và tồn tại được sinh khởi một cách phi nỗ lực trong Tâm Trí Tuệ giống như phép lạ và thần thông trí tuệ phi chướng ngại vậy, nó luôn làm lợi lạc và không bao giờ gây ra tổn hại.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng nếu chúng ta tin vào phép lạ, phù thủy và ma quỷ thì cho lợi ích tạm thời và tương đối, chúng ta nên có một phương pháp hóa giải, đối trị nhằm trừ tà và bảo hộ như là sự quán tưởng để bảo vệ bản thân, việc này là cần thiết trong trường hợp này. Nếu cần đến sự bảo hộ chống lại một phù thủy có năng lượng nguyên tố lửa (hỏa đại) vượt trội, thì chúng ta có thể quán tưởng hoặc các nguyên tố lửa mạnh hơn hoặc các nguyên tố nước uy lực hơn. Để bảo vệ chống lại một ma quỷ có năng lượng nguyên tố nước (thủy đại) trỗi vượt, thì chúng ta có thể sử dụng hoặc các nguyên tố nước mạnh hơn hoặc các nguyên tố lửa mãnh liệt hơn. Nếu cần đến sự bảo hộ chống lại sự hung hãn được gây ra bởi một cơn thịnh nộ thì cách hóa giải sẽ là hoặc dùng năng lượng phẫn nộ, thịnh nộ hơn để trấn áp hoặc sẽ dùng năng lượng an dịu, hòa bình hơn để thuần phục. Để bảo hộ chống lại một phù thủy có năng lực âm binh thì chúng ta có thể quán tưởng những vị bổn tôn hùng mạnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Bản chất của ma quỷ huyễn hoặc có thể được hiểu nhờ khảo sát 4 khía cạnh khác nhau của chúng.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Ma quỷ chướng ngại</strong> xuất hiện như là kết quả của việc lệ thuộc vào những cảm giác bị che ám bên trong, và chúng ta vẫn sử dụng những cảm giác bị che ám bên trong này để tạo ra một mối nối kết với các nguyên tố bên ngoài. Ví dụ, những cơn động đất, lũ lụt và nạn tai bản chất vốn là không xấu cũng không tốt. Cha mẹ, gia đình, bạn bè và người thân yêu thì tự chính họ là không xấu cũng không tốt. Tuy nhiên, khi bản ngã, cái tôi của chúng ta móc nối với những hoàn cảnh vật chất bên ngoài này, rồi nó diễn dịch chúng ra theo quan niệm riêng, thì lúc này quan niệm của chúng ta sẽ thành tốt hay xấu, thiện hay ác… và cả hai cách diễn dịch tốt hay xấu này đều trở thành những ma quỷ chướng ngại.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Ma quỷ phi chướng ngại</strong> xuất hiện khi những cảm giác và tâm trạng sinh khởi không phải là kết quả của những hoàn cảnh vật chất bên ngoài và nó không phụ thuộc vào những hoàn cảnh. Chúng ta thường rất quan tâm về những ma quỷ phi chướng ngại này, bởi vì chúng ta không thể tìm thấy một nguyên nhân vật chất nào cho những cảm xúc và tâm trạng của mình. Trong thời đại này, chúng ta thường tiêu tốn nhiều năm với những nhà trị liệu để giải thoát bản thân mình khỏi những ma quỷ phi chướng ngại này, chúng ta đã cố gắng lý giải và tống khứ chúng.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Ma quỷ tự mãn</strong> về những phẩm chất thế tục xuất hiện khi chúng ta tự diễn giải những hoàn cảnh thuận lợi như địa vị, bạn hữu cùng những tiện nghi với sự kiêu hãnh, tự hào với một cảm giác thỏa mãn, kiêu hãnh, rồi sau đó chúng ta trở nên bị dính mắc, bám chấp vào vận mệnh, số phận tốt đẹp của mình. Ma quỷ tự mãn về những phẩm tính tâm linh của chúng ta thì lại còn vi tế hơn nữa. Ví dụ, chúng ta có thể nghĩ con đường tâm linh của mình là siêu việt, cao cấp, vị thầy của chúng ta là tốt nhất, những thể nghiệm đầy an lạc và linh ảnh của chúng ta là rất đặc biệt. Tâm thức chúng ta trở nên bị che ám bởi sự tự quan trọng hóa với những niệm tưởng này, và vì tâm che chướng của chúng ta không thể làm tăng trưởng những phẩm chất thanh tịnh của mình nên chúng ta không thể chiến thắng được ma quỷ tự mãn.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Ma quỷ tự cho mình là đúng</strong> xuất hiện khi nhu cầu thể hiện những khái niệm so sánh về chính mình, rồi diễn dịch thành bản thân mình tốt đẹp hơn người khác. Ví dụ, chúng ta có thể nghĩ: “Tôi xinh đẹp hơn, thông minh hơn, năng khiếu hơn họ”. Trong Phật giáo Kim Cương Thừa cao cấp, những vị bổn tôn được mô tả là đang dẫm đạp lên 4 cái xác một cách sinh động. Những cái xác này là biểu trưng cho sự hủy diệt những ma quỷ tự cho mình là đúng.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Đức Thế Tôn, cầu mong con chuyển hóa thân bình phàm này thành Thân Trí Tuệ tráng lệ, lộng lẫy, như Ngài!</em><br />
<em>Đức Thế Tôn, cầu mong con chiến thắng bốn ma này với phương diện phẫn nộ nhất của Ngài, như Ngài!</em><br />
<em>Đức Thế Tôn, cầu mong con, với đôi chân khổng lồ, vĩ đại của lòng bi mẫn mạnh mẽ, nghiền nát và dẹp tan bốn ma này, như Ngài!</em></p>
<p style="text-align: justify;">Ma quỷ tự mãn và ma quỷ tự cho mình là đúng là mối nguy hiểm bậc nhất cho các hành giả. Nếu không chứng ngộ và nhận ra được Tâm Trí Tuệ, thì một hành giả có thể trở thành một vị thánh hay một nhà hiền triết với bản ngã của mình, và nhờ các nghi quỹ thực hành (sadhana) nào đó, mà họ có thể đạt được những năng lực, sức mạnh lớn lao như một pháp sư. Nhưng nếu chúng ta không thực sự hiểu biết về bản tính trí tuệ chân thực và chúng ta không có sự tự tin vào Tâm Trí Tuệ của chính mình thì dẫu cho bất kể loại sức mạnh, năng lực nào chúng ta đạt được thông qua sự thực hành, nếu không thể giải thoát được tâm thức mình khỏi sự kiêu hãnh, tự hào vào bản ngã từ việc đạt được những năng lực, sức mạnh này, thì rốt cuộc nó chỉ là nguyên nhân ném chúng ta vào vòng luân hồi sinh tử mà thôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Vị Đạo Sư “Thấu Suốt Ba Thời” đã nói: “Có rất nhiều bậc thánh nhân, nhưng chỉ một số ít trong họ thật sự giác ngộ”. Khi không chứng ngộ và nhận ra được Tâm Trí Tuệ thì dẫu cho một vị thánh có thể có năng lực phô diễn, thực hiện nhiều phép màu kỳ diệu, vĩ đại khác nhau nhưng nếu bản chất phép lạ mà ông ta thị hiện là bản ngã, thì ông ta sẽ chỉ tự tạo ra những ma quỷ của sự tự mãn và tự cho mình là đúng mà thôi – những thứ là chướng ngại to lớn cho sự giác ngộ. Vì lý do này, con đường của bậc hành giả là rất khó khăn.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung, cho tới khi một bậc học giả đã hoàn toàn tự tin và xác quyết được trong Tâm Trí Tuệ của mình, thì ông ta cần phải thực hành trong cô tịch, đơn độc một cách bí mật. Nhiều năm trước, ở xứ Ấn, có một học giả vĩ đại tên là “Suối Nguồn Giáo Lý”, ông đã sống và giảng dạy tại viện đại học Phật giáo Nalanda. Nhờ thực hành sadhana nghi quỹ bổn tôn của mình mà ông đã đạt được thành tựu (tất địa) thông thường, và ông có thể phô diễn những phép màu lớn lao. Khi ban những lễ quán đảnh, ông đã có thể đặt những chiếc bình nghi lễ ở trong bầu trời mà không cần nâng chúng lên bằng tay để ông có thể dùng hai tay của mình bắt ấn. Mặc dù tâm thức ông rất mạnh mẽ, nhưng vị thầy của ông đã khuyên ông không nên rời khỏi Nalanda cho tới khi đạt được sự xác tín trong Tâm Trí Tuệ của mình. Tuy nhiên, ông đã vẫn rời viện đại học cùng với một đệ tử tín tâm để thực hiện những hoạt động của một vị thánh trong thế gian.</p>
<p style="text-align: justify;">Trên đường đi, ông đã gặp một cô gái không tin vào Phật giáo. Đến gần một cây đào, ông đã yêu cầu cô ta lấy cho ông vài quả đào nhưng cô ta nói: “Ông hãy tự lấy đi, tôi không muốn phục vụ ông”. Vì vậy ông ngồi gần cây đào, và nhìn lên, lập tức những quả đào ở trên cây rơi xuống phía trước ông như mưa. Ngay lập tức, cô gái nói: “Trước khi ông ăn những quả đào này, hãy nhìn tôi!”. Khi ông nhìn cô ta, cô ta đã nhìn xuống những quả đào và tất cả những trái đào này lại bay ngược trở lại trên cây, vì thế ông không thể có nổi dù chỉ một trái đào. Ông trở nên nao núng và tức giận. Cô gái nói với ông, “Dù cho ông là một hành giả yogi rất năng lực và mạnh mẽ, nhưng ông sẽ thấy, sau 3 đêm nữa, ông sẽ không còn sống đâu”.</p>
<p style="text-align: justify;">Ông bỏ đi cùng đệ tử của mình và sau đó một lúc ông đã trở nên bị bệnh tiểu ra máu. Dù có năng lực quán tưởng của bổn tôn nhưng sự lo lắng của ông vẫn gia tăng vì sự xác tín trí tuệ của ông không đủ lớn. Ông đã nghĩ rằng mình đang bị bổn tôn trừng phạt vì vi phạm samaya do không tuân theo lời khuyên của Thầy mình là không nên rời bỏ viện đại học cho tới khi có được sự xác quyết trí tuệ.</p>
<p style="text-align: justify;">Ông được nhiều người nói rằng bệnh của ông chỉ có thể được chữa khỏi nhờ bọt biển từ đại dương. Đại dương thì ở quá xa nên ông đã nhờ đệ tử của mình tới đó để mang bọt biển về. Trên đường về, người đệ tử đã gặp một cô gái khác trên đường, cô gái đã hỏi anh đi đâu mà vội vã thế. Khi người đệ tử giải thích rằng thầy của mình đang bị bệnh thập tử nhất sinh, thì cô gái buồn bã nói rằng thầy của anh đã chết mất rồi. Người đệ tử vội ném bọt biển đi và chạy về thị trấn chỗ thầy mình ở, nhưng khi tới nơi, anh thấy thầy mình vẫn còn sống. Thầy của anh hỏi: “Bọt biển đâu?”, và người đệ tử giải thích rằng mình đã gặp một cô gái bên đường nói rằng thầy đã chết. Lúc này “Suối Nguồn Giáo Lý” biết rằng mình sẽ chết do năng lực của ma quỷ. Tuy nhiên, ông vẫn quyết định cố gắng dựa vào năng lực của mình để quay trở lại thân xác sau khi chết và vì vậy ông đã bảo đệ tử hãy bảo vệ thi thể của mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi “Suối Nguồn Giáo Lý” chết, vẫn cô gái trước đó, vốn là một phù thủy, vào ban đêm, cô ta đã hóa hiện ra thành nhiều con chó sói chạy xung quanh ngôi nhà của ông suốt cả đêm, chúng cào vào những cánh cửa của những người hàng xóm và tru lớn tiếng để toàn thị trấn biết có một tử thi ở gần đây. Vào ban ngày, cô ta xuất hiện và loan tin về việc có thể tìm xác chết đó ở đâu, và vì vậy dân tình trong thị trấn đã đến và mang xác chết đi hỏa thiêu. Sau 3 ngày, một luồng gió xuất hiện gần người đệ tử, và từ đó có một giọng nói đã cất lên: “Trong đời này ta đã không thể đạt giác ngộ, nhưng có lẽ ta sẽ có thể giác ngộ trong bardo (trung ấm)”.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhiều bản văn Phật giáo đã nhắc đến những ví dụ khác nhau về những chướng ngại được tạo ra bởi ma quỷ tự mãn và ma quỷ tự cho mình là đúng. Những hành giả như “Suối Nguồn Giáo Lý” có thể đã được hóa hiện và lưu xuất ra bởi Đức Phật để dạy chúng ta cách làm sao nhận ra những ảnh hưởng, tác động từ những ma quỷ này. Nếu chúng ta thông minh hay nổi tiếng về sự thông minh của mình nhưng chúng ta lại thiếu đi trí tuệ xác quyết, thì chúng ta cần phải luôn luôn canh chừng bản thân chống lại những ma quỷ tự mãn và ma quỷ tự cho mình là đúng để thực hành trong một cách thế thanh tịnh. Nếu không có sự xác quyết trọn vẹn vào Tâm Trí Tuệ của mình, thì chúng ta sẽ tiếp tục bị lừa dối bởi phép lạ và thần thông, bất kể cho chúng ta có nghĩ đó là thần thông của ma quỷ hay thần thông đến từ tâm thức loạn động của chính mình. Không có một sự thấu hiểu thực sự, thì chúng ta sẽ thấy bất kỳ điều huyền bí hay kỳ lạ nào với sự nghi ngờ và sự chia tách giữa chủ thể và đối tượng, giữa vi tế và thô nặng, và chúng ta sẽ hoài nghi bản tính chân thực của trí tuệ huyền bí vốn sẵn có trong tâm chính mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Bất cứ thứ gì không thể giải thích được thì chúng ta nói nó là kỳ lạ, huyền bí vì sự biểu lộ nguyên tố vi tế của nó được ẩn dấu bên trong các nguyên tố thô. Mọi giá trị, phẩm chất ẩn mật đều huyền bí và kỳ lạ. Chúng ta có thể nói rằng ngày mai là bí ẩn, năm tới là bí ẩn, tương lai là bí ẩn, bởi vì chúng không dễ dàng thấy được chúng và chúng vẫn chưa xảy ra. Chúng ta chưa bao giờ nghĩ rằng những hiện tượng ban ngày là bí ẩn bởi vì chúng là dễ thấy và thô, nhưng chúng ta lại nghĩ rằng những hiện tượng mộng là bí ẩn bởi vì chúng khó nhận thấy và vi tế.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta nghĩ cái gì ẩn mật là không thể tin cậy được vì chúng không xác thực và chúng ta khước từ những gì mình cảm thấy là huyền bí, kỳ lạ, nhưng thực tế thì cả hai cái này đều không cố hữu và ổn định, cả hiện tượng ban ngày và hiện tượng mộng đều không xác thực và không thể tin cậy được. Khi chúng ta nằm mộng thì hiện tượng lúc thức của chúng ta là không dễ thấy. Nhưng khi chúng ta thức thì hiện tượng nằm mộng của chúng ta lại là cái không dễ thấy. Mỗi thứ đều bí ẩn và huyền diệu như nhau khi đứng từ những quan điểm khác nhau.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta thường nghĩ rằng vì giấc mộng ngắn ngủi nên nó không thật, trong khi vì ban ngày kéo dài nên nó là thật. Nhưng đôi lúc trong một giấc mộng, chúng ta có thể hoàn tất một nhiệm vụ dài chỉ trong một chốc lát mà lúc ban ngày bình thường chúng ta không bao giờ có thể hoàn thành được như vậy, và chúng ta có thể du hành những hành trình với khoảng cách dài trong một thời khắc mà ban ngày, bình thường chúng ta có thể phải mất nhiều ngày. Dù ngắn hay dài thì lúc mộng hay lúc ban ngày đều chỉ được tạo ra một cách huyền diệu bởi ý niệm và một cách thực chất thì nó cũng không thật. Cả hai đều không xác thực, vô thường và bí ẩn như nhau.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhiều người vô thần và không theo một tín ngưỡng tôn giáo nào thì nói chung, họ thường không tin vào các tôn giáo, và đặc biệt là Đạo Phật, bởi vì chúng dường như là bí ẩn và khó hiểu. Nhưng tuy vậy mà họ vẫn tin và chấp nhận nhiều tình huống bí ẩn thế gian khác. Chẳng hạn, những kẻ buôn lậu là bí ẩn với nhân viên thuế quan. Vì họ tin vào sự bí ẩn của những kẻ buôn lậu nên những nhân viên thuế quan nghi ngờ, hoài nghi tất cả mọi người, bao gồm cả những người không buôn lậu. Một cách tự động, họ tin sự bí ẩn là ở khắp mọi nơi; đây là công việc của họ. Còn những kẻ buôn lậu thì lại nghi ngờ tất cả nhân viên thuế quan, dù cho họ có thực sự kiểm tra mình hay không. Không tin vào sự bí ẩn của các nhân viên thuế quan thì làm sao một kẻ buôn lậu lại ngụy trang, che dấu để bảo vệ sự bí ẩn của riêng mình? Như một hệ quả, vào mọi lúc mọi nơi, những kẻ buôn lậu và các nhân viên thuế quan bị tham gia vào sự hoài nghi qua lại lẫn nhau và biểu lộ sự bí ẩn như thể nó là tín ngưỡng, tôn giáo của họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Cái có thể giải thích được thì luôn luôn sẵn có trong cái bí ẩn không thể giải thích được và cái bí ẩn không thể giải thích được cũng luôn sẵn có trong cái có thể giải thích được. Những kẻ buôn lậu có sẵn những nhân viên thuế quan bên trong họ, và những nhân viên thuế quan cũng có sẵn những kẻ buôn lậu bên trong họ. Những gì sẵn có này biểu hiện thông qua sự hoài nghi và sự cố gắng đưa nhau vào bẫy từ bí ẩn của người này sang bí ẩn của một người khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Khắp mọi nơi trong hệ thống lãnh đạo sinh tử luân hồi, họ đều tin vào sự bí ẩn mà không nhận ra nó. Một xứ sở có năng lực, sức mạnh bí ẩn có thể luôn chinh phục được một xứ sở có những hoạt động không bí ẩn, dễ nhận thấy. Một số hệ thống lãnh đạo có quyền lực chính trị rất hùng mạnh và họ có những hệ thống tổ chức được giữ bí mật để làm cho họ có vẻ bí ẩn đối với công chúng. Các cơ quan tình báo như KGB (cơ quan tình báo Nga) và CIA (cơ quan tình báo Mỹ) là bí ẩn với nhau với tất cả mọi người. Vì sức mạnh của họ đến từ sự bí ẩn nên khi những bí mật của mình bị tiết lộ, thì họ luôn thay thế bằng những bí mật khác. Kết quả là những tổ chức của các quốc gia khác không bao giờ hiểu được những gì họ sẽ chuẩn bị thực hiện hay làm thế nào để đối phó với họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Bệnh hoang tưởng tự bảo vệ mình của bản ngã chúng ta tạo ra tính đa nghi, và tính đa nghi này là nguồn gốc của bí ẩn sinh tử luân hồi, điều là nguyên nhân cho sự hoài nghi nhiều hơn nữa. Chúng ta luôn đa nghi rằng các đối tượng bên ngoài sẽ làm hại chúng ta, và vì vậy chúng ta tạo ra sự ngăn cách và phân biệt. Nhưng chúng ta lại chưa bao giờ hoài nghi rằng cùng những đối tượng này là Phật – tâm thức bí ẩn của chính chúng ta thì chưa bao giờ từng chia tách khỏi chúng ta và là nguồn gốc của bí ẩn niết bàn.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu con người có thể tin vào bí ẩn của vòng luân hồi sinh tử thì họ cũng nên có thể tin vào bí ẩn của niết bàn. Chúng ta có thể nói rằng Đức Phật là bí ẩn vì những phẩm chất siêu phàm của Ngài là ẩn mật với chúng ta. Nhưng chúng ta cũng có thể nói rằng những chúng sinh là bí ẩn, bởi vì nếu không có trí tuệ xác tín thì họ không thể tin cậy được và bị đánh lừa bởi những hiện tượng không xác thực của riêng mình, và cái không xác thực và không thể tin cậy được thì luôn là sự bí ẩn.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự bí ẩn của vòng luân hồi sinh tử (samsara) được tạo ra bởi tâm nhị nguyên, điều luôn gây ra sự lừa dối. Chúng ta không thể nào chối bỏ sự bí ẩn của samsara trừ khi chúng ta tin vào sự bí ẩn của nirvana (niết bàn). Nếu chúng ta chối bỏ sự bí ẩn của niết bàn thì nó gây ra sự vô minh, trong khi nếu chúng ta tin vào nó, thì chúng ta không thể bị đánh lừa bởi các đối tượng.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự bí ẩn của samsara được tạo ra bởi tâm nhị nguyên thì luôn gây ra đau khổ, trong khi sự bí ẩn của nirvana lại bảo vệ và giải phóng chúng ta khỏi đau khổ. Sự bí ẩn của samsara là một vòng quay bất tận của những điều không thể lý giải được chuyển thành cái có thể lý giải được và rồi lại quay trở lại cái không thể lý giải được, nó cứ thế lặp đi lặp lại, cái này chồng chất lên cái kia. Điều này là do sự bí ẩn của samsara thì luôn hiện hữu và tồn tại trong thời gian nằm giữa chủ thể và đối tượng. Vì chúng ta có những mong cầu, trông đợi vào các đối tượng, nên khi đánh mất chúng, chúng ta đau khổ và tạo ra những đối tượng mới. Trong cách này, chúng ta bị trói buộc vào những sự đối lập như tồn tại hay không tồn tại, và chúng ta tin vào những sự đối lập như là sự thiết yếu. Khi nghĩ về phần thân trên của mình, thì phần thân dưới trở thành bí ẩn. Khi chúng ta nghĩ về phía trước, thì phía sau là điều bí ẩn. Trước và sau thì lại phụ thuộc vào từng người theo tính chất bí ẩn nhị nguyên; bạn không thể có một cái này mà không có cái khác, nhưng bạn chỉ có thể có một cái vào một thời điểm mà thôi. Sự huyền bí, bí ẩn là sự ẩn mật; nó là sự thiết yếu nhưng không được biểu lộ, hay được biểu lộ một cách vi tế. Nếu chúng ta không tin vào những điều đối lập thì chúng ta có sự bí ẩn của niết bàn. Những gì chúng ta thấy có thể là dương tính, nhưng âm tính bí ẩn lại luôn sẵn có và được bộc lộ thông qua các nguyên tố vi tế hiện diện ở trong các nguyên tố thô.</p>
<p style="text-align: justify;">Những phẩm chất siêu phàm huyền bí luôn có ảnh hưởng tốt và mang lại lợi ích. Chúng khiến cho tâm thức trở nên ngày càng ít bị phụ thuộc vào các đối tượng hơn, và chúng cho phép những điều không thể lý giải được và điều có thể lý giải được hòa nhập vào nhau bất khả phân.</p>
<p style="text-align: justify;">Những bậc siêu phàm thì không còn phụ thuộc vào chủ thể và đối tượng hay thời gian nữa, và các ngài không thể bị đánh lừa bởi những hiện tượng bí ẩn của vòng luân hồi sinh tử. Nhưng với những người có tâm thức bình phàm thì họ lại không thể nắm bắt được các phẩm tính siêu phàm ẩn mật, và như vậy những phẩm tính này dường như là đáng sợ và huyền bí với họ. Những gì không được xác định thì luôn là huyền bí, vì vậy, nếu chúng ta không xác định được hay không biết về tâm thức của mình thì nó luôn là điều bí ẩn. Vì tâm thức chúng ta là sự bí ẩn tối hậu nên Dharma (Pháp hay Chân Lý), cái là sự biểu hiện cho những phẩm chất thanh tịnh của tâm thức cũng phải là bí ẩn. Do tâm thức chúng ta bí ẩn nên các hiện tượng bên ngoài bình phàm, cái vốn đến từ tâm thức cũng là sự bí ẩn.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo tính chất bí ẩn của vật chất bình thường từ vòng sinh tử luân hồi thì nước bí ẩn hơn đất vì nó nhẹ, linh động và dễ thay đổi hơn. Lửa thì bí ẩn hơn nước vì nó nhẹ, nhanh và khó xúc chạm hơn. Gió bí ẩn lửa vì nó nhẹ hơn và vô hình hơn. Nhưng hư không là bí ẩn nhất trong tất cả các nguyên tố, bởi vì nó chưa bao giờ mờ tối, chưa bao giờ trống rỗng, và nó là vô hình nhất và rộng mở nhất. Nếu không có hư không, thì không thể có đất, không thể có nước, không thể có lửa và không thể có gió. Hư không tỏa khắp trên mọi nguyên tố.</p>
<p style="text-align: justify;">Những bí ẩn thông thường có 2 khía cạnh: thanh tịnh và bất tịnh. Nó là bí ẩn bất tịnh khi các hiện tượng thanh tịnh của tâm thức chúng ta biến đổi thành các hiện tượng bất tịnh, chẳng hạn, khi vị bổn tôn chúng ta quán tưởng trở thành một ma quỷ. Nó là một bí ẩn thanh tịnh khi các hiện tượng bất tịnh của tâm thức chúng ta biến đổi thành các hiện tượng thanh tịnh, chẳng hạn, khi chúng ta chuyển hóa một ma quỷ thành Bổn Tôn Trí Tuệ. Nếu chúng ta bám chấp vào những hiện tượng bổn tôn trong sự quán tưởng của mình mà không nhận ra Vị Bổn Tôn Trí Tuệ thì những hiện tượng này trở thành bất tịnh. Nhưng nếu chúng ta hiểu được làm thế nào để quán tưởng thông qua các hiện tượng trí tuệ, thì chúng ta có thể chuyển hóa những hiện tượng bị che chướng của ma quỷ thành những hiện tượng thanh tịnh không bị che chướng của bổn tôn.</p>
<p style="text-align: justify;">Tâm Trí Tuệ của Phật là thanh tịnh và huyền bí. Tâm này bảo vệ chúng ta, vì một cách tối hậu, nó là bí mật, bất khả xâm phạm và không thể bị thâm nhập bởi sự bí ẩn thế gian tương đối. Tâm Trí Tuệ của Phật không bị che chướng và luôn làm lợi lạc cho tất cả mà không cần chủ tâm nhờ năng lượng trí tuệ bí ẩn thanh tịnh tỏa khắp trên mọi nguyên tố, và Tâm này luôn tự do và giải thoát. Tâm Trí Tuệ của Phật có năng lực trí tuệ huyền bí, nó không bao giờ kết thúc, không bao giờ bị mắc kẹt lại ở bất kỳ đâu, và không bao giờ bị ảnh hưởng bởi các hiện tượng bị che chướng có thể lý giải được của vòng luân hồi sinh tử. Nếu chúng ta có thể chứng ngộ, nhận ra được bản chất, tinh túy trí tuệ bí mật bí ẩn của chính mình – cái giống hệt như bản chất, tinh túy trí tuệ bí mật bí ẩn của Phật từ lúc khởi thủy, thì sự giác ngộ sẽ không còn là sự bí ẩn, huyền bí với chúng ta nữa, vì chúng ta vốn bất khả phân với Phật và chúng ta là sự huyền nhiệm, bí ẩn.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Cơn địa chấn không thể gây tổn hại tới bầu trời bí ẩn dẫu cho sức chấn động và sự hủy hoại của nó có dữ dội và đảo lộn đến cỡ nào.</em><br />
<em>Đại dương không thể gây tổn hại tới bầu trời huyền bí dẫu cho những cơn sóng thần hỗn loạn có gây ra sự hủy hoại và lụt lội đến cỡ nào.</em><br />
<em>Ngọn lửa không thể gây tổn hại tới bầu trời huyền nhiệm dẫu cho sức nóng hung hãn và sự thiêu đốt hủy diệt của nó có đến cỡ nào.</em><br />
<em>Và bão tố không thể gây tổn hại tới bầu trời kỳ lạ dẫu cho những trận cuồng phong mãnh liệt của nó có gào thét và hủy hoại đến cỡ nào.</em></p>
<p><strong>Đức Thinley Norbu Rinpoche</strong></p>
<p><em>Nguyên tác: Magic Dance The Display Of The Self – Nature Of The Five Wisdom Dakinis  </em></p>
<p><em>Trích: Vũ Điệu Huyền Diệu – Sự Hiển Lộ Tự Tánh của Ngũ Trí Dakini</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/dujom-tesar-nyingma/phep-la-va-su-huyen-nhiem/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Hành thiền</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/hanh-thien/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/hanh-thien/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 28 Oct 2019 00:26:59 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Dujom Tesar Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=9565</guid>
		<description><![CDATA[Thay vì thực sự thực hành Pháp thì chúng ta lại thường chỉ hay nói về sự thực hành Pháp. Chúng ta càng nói nhiều về Pháp trong khi tự mình lại không thực hành bao nhiêu, thì chúng ta lại càng đánh mất đi năng lượng của mình vào những ngôn từ bấy nhiêu, và do vậy quan điểm&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/hanh-thien/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Thay vì thực sự thực hành Pháp thì chúng ta lại thường chỉ hay nói về sự thực hành Pháp. Chúng ta càng nói nhiều về Pháp trong khi tự mình lại không thực hành bao nhiêu, thì chúng ta lại càng đánh mất đi năng lượng của mình vào những ngôn từ bấy nhiêu, và do vậy quan điểm của chúng ta sẽ ngày càng trở nên sai lạc hơn. Theo con đường Phật giáo, thì nếu là những hành giả đích thực thì dù cho chúng ta có đang cầu nguyện, dâng cúng dường, thực hành yoga, quán tưởng hay thiền định, thì bản chất tinh yếu phải luôn là quan điểm xác quyết phi chướng ngại. Tốt nhất với các hành giả là hãy nhớ rằng quan điểm thì vượt lên khỏi sự mô tả.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày xưa, có một đàn sếu đang bay về phương nam. Con đầu đàn nói với chúng: “Đừng tạo ra bất kỳ âm thanh nào nếu không chúng ta sẽ bị con người bắn hạ đấy!” Vì vậy tất cả các con sếu đều bắt đầu nói: “Đừng tạo ra bất kỳ âm thanh nào! Đừng tạo ra bất kỳ âm thanh nào! Đừng tạo ra bất kỳ âm thanh nào!” cho đến khi bầu trời không còn sự tĩnh lặng nữa. Dù không cần thiết phải sử dụng những ngôn từ để mô tả sự chứng ngộ của mình, nhưng những ngôn từ vẫn tự động xuất hiện nhiều và nhiều hơn nữa để mô tả tâm thức vốn bất khả tư nghị của chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Các bài tập thở yoga nội sử dụng 5 nguyên tố vốn sẵn có trong không khí, khí năng, và chúng tịnh hóa các nguyên tố thô vào các nguyên tố vi tế một cách tự nhiên, rồi sau đó là tịnh hóa chúng vào bản chất, tinh túy bí mật của các nguyên tố. Địa khí (khí đất), Thủy khí (khí nước), Hỏa khí (khí lửa), Phong khí (khí gió) và Không khí (khí hư không) có thể được sử dụng bởi những hành giả yoga nội – họ là những người không muốn phụ thuộc vào các loại thuốc men, dược liệu để chống lại các loại bệnh tật của mình. Một hành giả yogi có thể tịnh hóa các nguyên tố địa khí cũ kỹ bất tịnh của mình nhờ quán tưởng và hít vào địa khí màu vàng tươi mới thanh tịnh. Người ấy có thể tịnh hóa các nguyên tố thủy khí nặng nề bất tịnh của mình nhờ quán tưởng và hít vào thủy khí màu trắng thanh tịnh. Người ấy có thể tịnh hóa các nguyên tố hỏa khí u ám bất tịnh của mình nhờ quán tưởng và hít vào hỏa khí màu đỏ thanh tịnh. Người ấy có thể tịnh hóa các nguyên tố phong khí mờ mịt bất tịnh của mình nhờ quán tưởng và hít vào phong khí màu xanh lục thanh tịnh. Người ấy có thể tịnh hóa các nguyên tố không khí mờ đục bất tịnh của mình nhờ quán tưởng sắc tướng ánh sáng bất khả xâm phạm và hít vào không khí màu xanh dương sáng rõ thanh tịnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Các bài tập yoga có thể hữu ích với một người có một thân thể không được cân đối và thoải mái. Vì những nguyên tố thô nặng hữu hình là nguồn gốc của những đặc tính này nên người nào tin và dựa vào các nguyên tố vi tế vô hình thanh nhẹ sẽ tạm thời có thể có được một thân thể thoải mái, hài hòa cân đối trong kiếp hiện tại này. Khi bậc hành giả yoga tịnh hóa những nguyên tố thô thì các nguyên tố ánh sáng thanh nhẹ trong thân của người ấy trở nên hữu hình. Nhưng nếu người ấy chỉ có niềm tin vào các nguyên tố thô và vi tế của thân thể mình mà lại không tin vào bản chất, tinh túy bí mật bao la mênh mông tỏa khắp mọi nơi chốn, thì quan điểm của họ lại bị giới hạn, và do lợi ích của bài tập người ấy thực hành bị giới hạn với thân thể của riêng mình nên người ấy có thể sẽ không bao giờ đạt được Thân Bổn Tôn Trí Tuệ.</p>
<p style="text-align: justify;">Dù không tin vào tiềm năng trí tuệ bí mật của các nguyên tố nhưng nhờ việc làm cho thân thể của mình được nhẹ nhàng hơn, nên một số vận động viên thể dục có thực hành yoga đã chỉ ra rằng họ có thể tìm thấy các nguyên tố vi tế ở trong các nguyên tố thô. Thông qua những hoạt động của mình, một cách tự động, họ đã bộc lộ khả năng chịu đựng cùng những khả năng thiết yếu khác tồn tại một cách tiềm ẩn, vốn sẵn ở bên trong, và những khả năng này được phát sinh từ bản tính nguyên thủy trong các nguyên tố của họ. Hoàn thiện thân thể mình nhờ các nguyên tố thanh nhẹ, họ đã thi đấu và tranh giải với những thân thể nguyên tố thanh nhẹ khác trước những vị khán giả nguyên tố thô đang xem họ với những cặp mắt nguyên tố thô, và phần thưởng là những tấm huy chương nguyên tố thô thực sự mang ý nghĩa: “Cảm ơn các bạn thật nhiều vì đã cho chúng tôi thấy các nguyên tố thanh nhẹ của các bạn!”</p>
<p style="text-align: justify;">Những hành giả Phật giáo tin vào hiện tượng của bổn tôn hiểu được rằng nó là ánh sáng, vô hình, phi chướng ngại và có khả năng xuất hiện một cách huyền diệu ở bất kỳ đâu bởi vì nó tỏa khắp ở mọi nơi mọi chốn. Vì điều này nên họ thừa nhận tiềm năng trí tuệ bí mật của các nguyên tố nằm trong thân thể mình và thực hành với sự quán tưởng, sadhana (nghi quỹ thực hành) và mudra (thủ ấn).</p>
<p style="text-align: justify;">Họ quán tưởng hiện tượng bản chất, tinh túy thanh tịnh của vị bổn tôn nhằm điều phục các nguyên tố thô bất tịnh của mình và cho phép bản chất, tinh túy bí mật từ các nguyên tố của mình được biểu hiện. Kết quả là thân thể của họ trong kiếp hiện tại này sẽ trở nên cân đối hài hòa, thoải mái, và thân thể của họ sau sự sống sẽ trở thành Thân Bổn Tôn Trí Tuệ. Những bậc hành giả này không nhận một tấm huy chương nguyên tố thô từ một vị khán giả nguyên tố thô nào cả. Phần thưởng duy nhất của họ là lời tán thán, ngợi ca trí tuệ và được tắm mình trong những bông hoa ánh sáng từ chư Phật, chư Bồ Tát, chư Thánh, chư Thiên cùng tất cả những nhân vật thông tuệ, vì hiện tượng Bổn Tôn Trí Tuệ của họ tỏa đi khắp mọi nơi một cách phi chướng ngại vì lợi ích cho mọi thực thể.</p>
<p style="text-align: justify;">Lẽ đương nhiên, nếu thích thì tùy theo những hiện tượng riêng cùng những căn cơ, điều kiện của cá nhân mình, chúng ta có thể chọn lựa bất kỳ hệ thống hay truyền thống thực hành nào mình mong muốn hay cần đến để có thể sử dụng được trong những hiện tượng chung. Giữa những điều này thì các truyền thống và những bản văn xác thực đều có một quan điểm biểu trưng dạy sự quán tưởng về những màu sắc, hình ảnh, dấu hiệu cùng những biểu tượng. Mục đích thực sự của quan điểm biểu trưng này là để hiển lộ bản chất, tinh túy nằm trong sự phô diễn, hiển bày trí tuệ của vị bổn tôn nhờ các phương tiện thiện xảo. Sau đó thì dù cho chúng ta có cầm một cây gậy chống đi đường trong tay thì nó cũng có thể trở thành một thanh gươm trí huệ. Kể cả chúng ta có không cầm gì trong tay hết thì vẫn có một thanh gươm trí huệ chặt đứt mạng lưới còn sót lại của những ý niệm mâu thuẫn loạn thần của tâm nhị nguyện bị lừa dối một cách tự nhiên.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong vòng luân hồi sinh tử thì một công cụ không thể thâm nhập vào khắp mọi nơi. Các nguyên tố thô là những rào cản che chướng tới các công cụ khác, vì vậy nên Đức Phật đã thị hiện nhiều công cụ cũng như nhiều biểu tượng, do vậy không chỉ có một thanh gươm hay một biểu tượng mà có vô số không giới hạn những thanh gươm. Chúng ta tạo ra một giới hạn nếu chúng ta hoàn toàn tin tưởng vào một sadhana (nghi quỹ thực hành), như một con dao có thể nắm chắc được, một bình chứa dễ vỡ nào đó. Nhưng trí huệ thì không bao giờ bị giới hạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta dùng những sadhana và bản văn đặc biệt nào đó để chứng ngộ sự phô diễn, hiển bày trí tuệ phi chướng ngại vô hạn. Nếu không sử dụng những vũ khí trí tuệ vốn sẵn của chính mình thì chúng ta cần phải dựa vào những vũ khí biểu trưng để tiêu trừ những chướng ngại. Nhưng những vũ khí biểu trưng thì lại bị giới hạn, nên nếu chúng ta chứng ngộ và nhận ra được vũ khí trí tuệ vốn sẵn của mình thì chúng ta không cần sử dụng tới phương tiện nguyên tố thô nào khác để thâm nhập vào khắp mọi nơi.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung thì các Phật tử thực hành để điều phục tâm thức của mình. Họ thiền định để tịnh hóa các nguyên tố thô nặng thành các nguyên tố vi tế thanh nhẹ, rồi sau đó đưa nó vào bản chất, tinh túy bí mật thanh tịnh của họ, và họ không thiền định để an trú trong không gian trống rỗng vô tri vô giác. Nhờ thiền định mà các Phật tử muốn biết về Tâm Tỉnh Giác Trí Tuệ bất nhiễm với những phẩm chất ánh sáng phi chướng ngại, thanh tịnh và nhẹ bẫng.</p>
<p style="text-align: justify;">Trên đạo lộ thiền định, chúng ta có thể thể nghiệm sự an lạc trong thân. Thể nghiệm an lạc này chủ yếu là một hỗn hợp pha trộn của sự an lạc và tham dục với năng lượng tiềm tàng của thủy đại. Nếu chúng ta trở nên bị bám luyến vào thể nghiệm an lạc của mình thì chúng ta sẽ bị tái sinh vào các cõi trời Dục Giới. Tuy nhiên, sự bám luyến của tâm thức bị che chướng này vào sắc tướng lại có năng lượng tiềm năng rắn chắc của địa đại. Nếu chúng ta không trở nên bị bám luyến vào thể nghiệm an lạc của mình, mà tiếp tục dùng nó như một sự hỗ trợ cho việc đạt được Thân Trí Tuệ Bất Hoại, thì thủy đại và địa đại sẽ ngày càng trở nên sáng hơn, nhẹ hơn và thuần khiết, thuần khiết hơn nữa, lúc này sắc tướng của chúng ta một cách tạm thời trở nên sáng và nhẹ hơn, và nó biểu trưng cho tiềm năng gia tăng an lạc bên trong chúng ta. Chúng ta thể nghiệm năng lực thanh tịnh tự nhiên nhờ sự an lạc này và nhờ năng lực của sắc tướng ánh sáng thanh nhẹ của mình, các nguyên tố tham dục bất tịnh xung đột của chúng sinh, đặc biệt là chúng sinh ở cõi thiên giới được tịnh hóa và một cách tự động được đưa vào một trạng thái Quang Minh Không Lạc (Đại Lạc Tính Không Sáng Rõ). Dần dần, khi sự khác biệt giữa thủy đại và địa đại biến mất, khi ấy chúng ta thể nghiệm sự an lạc không bám luyến.</p>
<p style="text-align: justify;">Trên đạo lộ thiền định, chúng ta có thể thể nghiệm sự sáng tỏ, trong sáng trong khẩu ngữ. Thể nghiệm sáng tỏ, trong sáng này chủ yếu là một hỗn hợp pha trộn của sự sáng tỏ, trong sáng và sự giận dữ, sân hận với năng lượng tiềm tàng của hỏa đại. Nếu chúng ta trở nên bị bám luyến vào thể nghiệm sáng tỏ, trong sáng này thì chúng ta sẽ bị tái sinh vào các cõi trời Sắc Giới. Tuy nhiên, sự bám luyến của tâm thức bị che chướng này vào sự sáng tỏ, trong sáng lại có năng lượng tiềm năng linh động của phong đại. Nếu chúng ta không trở nên bị bám luyến vào thể nghiệm sáng tỏ, trong sáng của mình, mà tiếp tục dùng nó như một sự hỗ trợ cho việc đạt được Khẩu Trí Tuệ Vô Dục, thì hỏa đại và phong đại sẽ ngày càng trở nên sáng hơn, nhẹ hơn và thuần khiết, thuần khiết hơn nữa, lúc này khẩu ngữ của chúng ta một cách tạm thời trở nên du dương, êm ái hơn, và nó biểu trưng cho tiềm năng gia tăng sự sáng tỏ, trong sáng bên trong chúng ta. Chúng ta thể nghiệm năng lực thanh tịnh tự nhiên nhờ sự sáng tỏ, trong sáng này, và nhờ năng lực của khẩu ngữ du dương, êm ái của mình, các nguyên tố sân hận bất tịnh xung đột của chúng sinh, đặc biệt là chúng sinh ở cõi thiên giới được tịnh hóa và một cách tự động chúng được đưa vào một trạng thái Quang Minh Trống Không Bất Nhiễm (Tính Không Sáng Rõ Thanh Tịnh). Dần dần, khi sự khác biệt giữa hỏa đại và phong đại biến mất, khi ấy chúng ta thể nghiệm sự sáng tỏ, trong sáng không bám luyến.</p>
<p style="text-align: justify;">Trên đạo lộ thiền định, chúng ta có thể thể nghiệm tính không, vô niệm trong tâm. Thể nghiệm tính không, vô niệm này chủ yếu là một hỗn hợp pha trộn của tính không trống rỗng và sự vô minh với năng lượng tiềm tàng của không đại. Nếu chúng ta trở nên bị bám luyến vào thể nghiệm tính không, vô niệm này thì chúng ta sẽ bị tái sinh vào các cõi trời Vô Sắc Giới. Tuy nhiên, nếu chúng ta không trở nên bị bám luyến vào thể nghiệm tính không, vô niệm này, mà tiếp tục dùng nó như một sự hỗ trợ cho việc đạt được Tâm Trí Tuệ Tự Tỉnh Giác, thì không đại sẽ ngày càng trở nên sáng hơn, nhẹ hơn và thuần khiết, thuần khiết hơn nữa, lúc này tâm thức của chúng ta một cách tạm thời trở nên siêu phàm, và nó biểu trưng cho tiềm năng gia tăng tính không bên trong chúng ta. Chúng ta thể nghiệm năng lực thanh tịnh tự nhiên nhờ không gian siêu phàm này, và nhờ năng lực của tâm thức siêu phàm bất sinh của mình, các nguyên tố vô minh bất tịnh xung đột của chúng sinh, đặc biệt là chúng sinh ở cõi thiên giới được tịnh hóa và một cách tự động được đưa vào một trạng thái Tính Không Tỉnh Giác Không Lừa Dối (Giác Tính Trống Không Chân Thực). Dần dần, khi sự khác biệt giữa không đại bên trong và bên ngoài biến mất, khi ấy chúng ta thể nghiệm tính không, vô niệm không bám luyến.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong năng lượng của các nguyên tố thì có những ý niệm thô và vi tế. Những ý niệm thô liên quan đến các nguyên tố thô nặng, còn những ý niệm vi tế liên hệ tới các nguyên tố vi tế ánh sáng thanh nhẹ. Thông thường, khi thiền định, chúng ta quán sát tâm mình và có thể trực tiếp nhận ra các ý niệm thô nhờ những cảm nhận hay các cảm xúc khi chúng sinh khởi. Nhờ việc nhận ra những ý niệm thô này mà chúng ta có thể được giải thoát khỏi chúng.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong thiền định, khi chúng ta nghĩ mình đang có ít ý niệm hơn thì nó thường là những ý niệm thô đang giảm dần trong khi dòng chảy ngầm của những ý niệm vi tế vẫn tiếp tục chuyển động mà chúng ta không nhận biết được, giống như hoạt động vi tế của những dòng suối (chảy ngầm) ở dưới bề mặt tĩnh lặng của một ao nước phủ đầy vỏ trấu. Bởi thật khó để nhận ra nên hoạt động vi tế của tâm thức này luôn là sự nguy hiểm, và chính chúng là những chủng tử (hạt giống) cho những cảm xúc mãnh liệt – điều tạo ra các hiện tượng thô. Để tịnh hóa những ý niệm nguyên tố vi tế này thì những hành giả sơ cơ, nhập môn cần phải trông dựa vào tâm ghi nhớ hay sự chánh niệm, tỉnh thức.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo những giáo lý khác nhau thì tất cả mọi loại chánh niệm, tỉnh thức đều có thể được chứa đựng trong sự chánh niệm tỉnh giác của nhận thức và sự chánh niệm tỉnh giác của pháp tính (dharmata). Pháp tính là bản chất, tinh túy, đặc tính tự nhiên của các hiện tượng, nó cũng là nguồn gốc của sự thuần khiết trong các nguyên tố và đồng thời nó cũng là tự tính vô điều kiện của tâm. Sự chánh niệm tỉnh giác của pháp tính là phi nỗ lực và không phụ thuộc vào sự tập trung, định tâm bởi vì nó hoàn toàn tự nhiên. Sự chánh niệm tỉnh giác của nhận thức là sự nương dựa vào việc quán sát tâm với sự tập trung trong suốt quá trình định tâm, thiền định.</p>
<p style="text-align: justify;">Loại nhận thức này không giống như sự nhận thức thông thường là tập trung lên những đối tượng bên ngoài và bám chấp vào chúng; mà thay vào đó, nó tập trung lên chủ thể nhờ các giác quan hay hoàn cảnh. Sự tập trung hay nhận thức với chánh niệm tỉnh giác thì có lợi ích tạm thời cho việc duy trì được một tâm thức điềm tĩnh, ổn định và tâm thức sẽ không bị lừa gạt một cách dễ dàng vào hoạt động của các đối tượng.</p>
<p style="text-align: justify;">Lợi ích tối hậu của chánh niệm tỉnh giác là hòa nhập các nguyên tố có điều kiện, bất tịnh của tâm thức chúng ta vào cùng sự chánh niệm tỉnh giác vô điều kiện của pháp tính - điều bất khả phân với bản chất, tinh túy bí mật tự nhiên của giác tính. Vì vậy, cho tới khi có được sự tự tin vào sự chánh niệm tỉnh giác của pháp tính, chúng ta cần phải luôn dựa vào sự chánh niệm tỉnh giác của nhận thức.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Sự chánh niệm tỉnh giác</strong> là quan trọng nhất trong sự thực hành, tất nhiên rồi, nhưng nó cũng cần thiết trong những công việc hàng ngày thế tục nữa. Không có sự chánh niệm tỉnh giác thì không thứ gì có thể được hoàn tất cả; chúng ta sẽ trễ giờ, sẽ lỡ lời thốt ra những điều vô nghĩa, sẽ tính toán sai lầm mọi sự và sẽ luôn để lỡ mất mục tiêu.</p>
<p style="text-align: justify;">Một lần, có một trận đấu vật được sắp xếp giữa một đô vật khổng lồ hùng mạnh và một vận động viên thể dục mảnh khảnh, yếu ớt. Vào đêm trước khi trận đấu diễn ra, người vận động viên thể dục đã rất lo sợ, ông không thể ngủ vì lo lắng về kích thước của tay đô vật. Thấy vậy, vợ ông ta hỏi tại sao ông lại phải lo nghĩ đến vậy, ông ta trả lời bà vợ về sức mạnh của đối thủ và ông nói: “Ngày mai nhất định tôi sẽ thua mất!”. Người vợ an ủi ông ta và nói: “Đừng lo! Ngày mai tôi sẽ hát một bài ca từ chỗ ngồi khán giả. Hãy đừng bị phân tâm bởi giọng hát của tôi! Mà hãy tập trung vào trận đấu! Khi nghe thấy tôi hát thì ông hãy thật nhanh tóm lấy hai hòn dái của gã khổng lồ và bóp mạnh hết sức mình cho tới khi hắn ngã xuống”.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày hôm sau khi họ đang xung trận và gã khổng lồ đang thắng thế thì người vợ bắt đầu hát: “Này gã khổng lồ, ngươi thật huy hoàng và hùng mạnh, nhưng một trong những viên đá quý của ngươi sắp rụng ra từ trán của ngươi rồi kìa!” Gã khổng lồ lập tức vội vàng giữ lấy trán của mình và chỉ dùng một tay để chiến đấu. Lúc ấy, người vận động viên thể dục nhanh chóng tập trung như lời vợ đã dặn, bóp thật mạnh bằng toàn bộ sức mạnh của mình và ông ta đã khiến cho gã khổng lồ ngã xuống.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi hấp hối sắp chết, với hơi thở cuối cùng, gã khổng lồ đã trả lời bài ca của người vợ: “Người khổng lồ hùng mạnh nhất đã bị mất cảnh giác (chánh niệm tỉnh giác) và bị giết bởi một đối thủ mảnh khảnh, yếu ớt nhưng tập trung, tỉnh giác. Hôm nay mạng sống của ta đã tàn vì do bất cẩn sơ ý, ta đã nắm lấy viên ngọc mộng tưởng lừa dối, cái ta đã quên mất mình vốn sẵn có từ khởi thủy, và vì vậy ta đã đánh mất viên ngọc chánh niệm tỉnh giác của mình. Không có viên ngọc nào quý giá hơn viên ngọc quý giá nhất của sự chánh niệm tỉnh giác cả”. Rồi gã chết.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo những bản văn khác nhau thì tùy theo những căn cơ, điều kiện khác nhau, mà sẽ có nhiều phương pháp giải thoát những ý niệm thông qua chánh niệm tỉnh giác. Thường thì các thiền giả hay quán sát những ý niệm, khảo sát nơi chúng đến, nơi chúng đi, và nơi chúng trụ lại. Quá trình này thì tốt cho thiền giả nhập môn, nhưng nó là không tốt để lúc nào cũng khảo sát như vậy. Vì tâm thức là phi chướng ngại nên những ý niệm được sinh khởi một cách liên tục. Bằng cách liên tục khảo sát chúng, chúng ta sẽ không bao giờ được thảnh thơi mà chỉ tạo ra thêm những ý niệm mới. Sau khi hòa tan những ý niệm nhờ khảo sát chúng, thì chúng lại sinh khởi trở lại và khiến cho quá trình khảo sát trở nên mệt mỏi và kiệt sức. Giữa ý niệm đối trị của sự khảo sát và đối tượng của ý niệm đối trị, thì tâm thức không bao giờ được an định và điềm tĩnh cả, dẫu cho tư thế thân thể vật lý thì trông có vẻ là yên tĩnh, thư thái.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu tâm thức bình thường không bao giờ an định, thì chúng ta không thể thấy tâm tự nhiên chân thật. Một số tâm thức có hoạt động vi tế hơn những tâm thức khác, mặc dù trên bề mặt của mình, chúng xuất hiện như sự an định. Để làm an định hoạt động vi tế này thì điều quan trọng nhất khi thiền định là hãy cố gắng thư giãn tâm thức. Nhưng khi bậc thiền giả sơ cơ cố gắng để thư giãn thì những ý niệm dường như lại sinh khởi nhiều hơn thường lệ. Chúng ta mong đợi, kỳ vọng tâm thức mình được bình an hơn, vì thế khi nhiều ý niệm này sinh khởi thì chúng ta trở nên chán nản với thiền định.</p>
<p style="text-align: justify;">Dạng thiền giả này trở nên bị chán nản do thói quen, tập khí tham lam vật chất hoặc do sự vô minh trong hệ thống nghiệp. Sự tham lam đến từ việc họ đã và đang luôn có dính líu, liên hệ tới vật chất nguyên tố thô hữu hình, nên khi thiền định, chúng ta lại chạy theo cùng thói quen, tập khí này vì muốn chạm vào và sử dụng những ý niệm của mình một cách dễ dàng. Sự tính toán của chúng ta được dựa trên những thói quen, tập khí máy móc. Điều này đặc biệt đúng trong một xứ sở hùng mạnh, giàu có về vật chất và người dân của xứ này ngay từ lúc còn nhỏ đã có một cuộc sống kỹ thuật công nghệ dễ dàng. Với những người trong chúng ta đã phát triển, hình thành thói quen, tập khí máy móc thì thật khó để làm cho tâm thức của mình được điềm tĩnh, an định ngay lập tức. Vì cố gắng hiểu các nguyên tố ánh sáng thanh nhẹ phi vật chất bằng những ý niệm, khái niệm vật chất nên chúng ta không thể nào giải phóng được những ý niệm, khái niệm này, rồi chẳng mấy chốc chúng ta lại từ bỏ thiền định. Hệ thống nghiệp giải thích rằng trải qua vô số kiếp sống trong vòng luân hồi sinh tử mà chúng ta đã tạo ra vô số thói quen, tập khí cùng những ý niệm, khái niệm làm che chướng Tâm Trí Tuệ bí mật tự nhiên của mình. Vì vậy trong kiếp sống này, ngay cả nếu chúng ta vẫn cố gắng để thiền định thì vô số những ý niệm, khái niệm từ vô số kiếp ẩn tàng của chúng ta sẽ vẫn khởi lên và khuấy động sự thiền định của chúng ta. Và rồi chúng ta trở nên rất chán nản vì trong một thời khắc mà chúng ta đã không xua tan được những ý niệm từ vô số kiếp trước của mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta cần phải thiền định một cách liên tục mà không được thiếu kiên nhẫn và ngu dốt bướng bỉnh dưới sự chỉ dẫn của một bậc Thầy trí tuệ hay một đồng đạo tâm linh bi mẫn có năng lực trí tuệ tự nhiên và có thể nghiệm về những phẩm chất tâm linh phi thường. Chúng ta cần phải thiền định với những phương tiện thiện xảo bằng cách không hy vọng giải thoát được những ý niệm của mình ngay lập tức hay đạt được giác ngộ một cách tức thì.</p>
<p style="text-align: justify;">Cũng không cần thiết để hy vọng rằng một ngày xa xôi nào đó trong tương lai, nhờ sự kiên trì hay thông minh trong thiền định của mình, mà chúng ta sẽ có thể chạm tới giác ngộ. Chúng ta cần phải không tính toán thời gian tương lai hay ngay lập tức trong sự thiền định của mình. Sự mong cầu, kỳ vọng này chỉ khiến chúng ta kích động và cuồng loạn. Nếu chúng ta mong cầu sự giác ngộ ngay bây giờ, thì rồi sự giác ngộ sẽ còn ở xa, rất rất xa. Nếu chúng ta cho rằng giác ngộ còn ở rất xa, thì chúng ta lại tạo ra những ý niệm xa xôi thêm lần nữa, và sự giác ngộ sẽ lại càng trở nên xa xôi hơn, hơn nữa. Những tính toán này tạo ra khoảng cách, thời gian và những giới hạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu thực sự muốn trở thành những thiền giả siêu phàm thì chúng ta không nên ấn định một thời gian cho sự thiền định của mình như phong cách của các thiền giả hiện đại. Chúng ta không nên đếm số giờ hay số phút, vì thời gian bị giới hạn sẽ khiến cho sự thiền định bị giới hạn. Yêu cầu và mệnh lệnh của chúng ta – những thứ đến từ tâm thức của những nguyên tố thô và vi tế bị giới hạn thì không thể giải phóng được chính nó vào bản chất, tinh túy bí mật vô hạn, siêu phàm của các nguyên tố nếu chúng ta bị bó buộc bởi thời gian chi ly, chính xác. Nếu tâm thức chúng ta còn bị ràng buộc bởi bất kỳ thứ gì, thì nó sẽ không bao giờ bao la, mênh mông vô tận. Nếu luôn luôn bị sập bẫy và bị giới hạn bởi thời gian, nơi chốn cùng phương hướng, thì làm sao chúng ta có thể có được Tâm Trí Tuệ xác tín? Làm sao chúng ta có thể hiểu được căn cơ, điều kiện của những người khác và làm lợi lạc cho họ? Làm sao chúng ta có thể giúp đỡ tâm thức bị giới hạn với tâm thức thiền định bị giới hạn?</p>
<p style="text-align: justify;">Một dòng sông đang chảy dài bất tận thì không bao giờ bị cạn kiệt dù cho bất kể bao nhiêu tài nguyên của nó được sử dụng, bởi vì nó luôn luôn được làm đầy trở lại nhờ nguồn nước sâu thẳm của mình. Ngay cả dù cho có xuất hiện giống như một dòng sông vô tận, nhưng nếu một dòng sông lại bắt nguồn từ một hồ chứa nước nhân tạo và nó lại không có nguồn nước sâu thẳm tự nhiên, thì không sớm thì muộn, vào đúng thời điểm, nó sẽ bị cạn kiệt. Nếu chúng ta dựa vào bản chất, tinh túy bí mật từ các nguyên tố của mình, thì năng lượng của chúng ta sẽ tuôn chảy một cách vô tận giống như dòng sông vô tận. Còn nếu chúng ta chỉ dựa vào các nguyên tố thô và vi tế mà không nhận ra, chứng ngộ được bản chất, tinh túy bí mật của chúng thì năng lượng của chúng ta sẽ cạn đi và nhanh chóng bị cạn kiệt giống như hồ chứa nước nhân tạo. Và kể cả chúng ta có thể nghĩ mình đang giúp đỡ người khác nhờ sự thông tuệ của nguyên tố thô thì, nếu không có sự xác tín trí tuệ, sự giúp đỡ của chúng ta sẽ chỉ là sự nông cạn và hời hợt nhất thời.</p>
<p style="text-align: justify;">Thiền định là cần thiết để khai mở các kinh mạch cùng các tĩnh mạch cho sự tuần hoàn, lưu thông khí năng. Tâm thức thì lại phụ thuộc vào điều này. Nếu người thiền giả sơ cơ có một tư thế cân bằng thì các kinh mạch và những dây thần kinh của người ấy sẽ được thẳng và mở rộng, sự lưu thông, tuần hoàn của khí sẽ không bị chướng ngại, và tâm thức thiền giả có thể trở nên quân bình. Nếu muốn tư thế ý nghĩa, thì chúng ta phải không chỉ tập trung lên tư thế của thân mà còn phải tập trung lên tư thế của tâm nữa.</p>
<p style="text-align: justify;">Tâm là nhất tâm. Khi thiền định, chúng ta phải không tập trung lên một đối tượng hay tìm kiếm (tầm tứ) một đối tượng. Chúng ta không nên có tâm thức thói quen, tập khí trí óc hiện đại, và chúng ta cũng không nên có tâm thức thói quen, tập khí ủy mị cổ xưa. Chúng ta chỉ nên thư thái, thong thả và tách bản thân mình ra khỏi ngũ uẩn (5 skandhas – sắc, thọ, tưởng, hành và thức), rồi an trụ trong tâm bất nhị.</p>
<p style="text-align: justify;">Đặc tính cốt lõi của thiền định là nó tự do, vượt thoát khỏi những đặc tính cốt yếu từ từng cái trong ngũ uẩn. Tính dễ hoại diệt và dễ lĩnh hội, dễ cảm thọ là đặc tính cốt yếu của sắc uẩn (sắc tướng) mà nguyên tố thô dễ nhận thấy của nó là đất. Tính tụ hội, kinh qua, từng trải, thể nghiệm hay linh động của tham dục là đặc tính cốt yếu của thọ uẩn (cảm thức) mà nguyên tố thô dễ nhận thấy của nó là nước. Tính chín mùi, thuần thục, thấu suốt hoặc theo đuổi đối tượng là đặc tính cốt yếu của tưởng uẩn (nhận thức) mà nguyên tố thô dễ nhận thấy của nó là lửa. Gia tăng những hoạt động và tích tập những khuynh hướng là đặc tính cốt yếu của hành uẩn (ý định, mục đích) mà nguyên tố thô dễ nhận thấy của nó là gió (khí). Nhận thức và tạo tác đối tượng là đặc tính cốt yếu của thức uẩn (ý thức) mà nguyên tố thô dễ nhận thấy của nó là hư không.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo hệ thống Đại Thừa (Mahayana), đặc biệt là theo thiền định Trung Quán (Madyamika) thì phần lớn những hành giả đều cố gắng thiền định vào tính không trống rỗng tự do, vượt lên khỏi mọi hoạt động tinh thần. Tất cả mọi hoạt động tinh thần có thể được gom chứa trong ngũ uẩn. Mỗi khi được tự do khỏi ngũ uẩn thì chúng ta chứng ngộ, nhận ra Tâm Hư Không Bầu Trời Sáng Tỏ.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ khởi thủy thì tâm nền tảng trống rỗng vĩ đại vô hạn là vốn sẵn trong đạo lộ bị giới hạn trống rỗng của hành giả. Nếu trong đời này chúng ta thiền định được vào tính không vĩ đại (đại không) thì dần dần cả hiện tượng ban ngày và hiện tượng mộng ban đêm của chúng ta sẽ biến mất, và chúng trở thành giống như nhau, vì vậy sẽ không còn khoảng giữa nữa. Vào lúc chết, khi chia tách khỏi thân thể tập hợp bởi nghiệp của mình, chúng ta sẽ không có hiện tượng ý niệm của kiếp sống tiếp theo nữa, mà chỉ còn không gian tịnh quang sáng tỏ. Trong cùng cách như vậy, không gian bên trong một chiếc nồi là không khác biệt với không gian bên ngoài chiếc nồi. Khi chúng ta đập vỡ chiếc nồi thì không gian chiếc nồi không bị mất đi vì không gian chiếc nồi là giống hệt với toàn thể không gian chung. Chỉ có các nguyên tố vật chất của chiếc nồi là bị vỡ, và chính nguyên tố vật chất này mang lại cho nó hình thể tồn tại khác biệt. Nếu chúng ta có sự xác tín thì không có con đường, đạo lộ trống rỗng nào khác cả, mà chỉ còn quả của nó là tính không vĩ đại vô nhiễm (đại không bất nhiễm), điều bất khả phân với nền tảng tính không trống rỗng.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo hệ thống Mật Thừa Tổng Quát (General Tantric), thì phần lớn các hành giả đều cố gắng để thiền định vào sự quang minh (tịnh quang sáng tỏ). Dựa vào sadhana (nghi quỹ thực hành) vị bổn tôn hay sự thực hành của mình, nhờ sự quán tưởng, mà họ cố gắng chuyển hóa ngũ uẩn thô tháo bất tịnh thành ngũ uẩn trí tuệ thanh tịnh – Ngũ Bộ Phật hay Ngũ Trí Như Lai cùng các chư tôn. Bản chất, tinh túy của quang minh là hư không sáng tỏ, vì vậy vị bổn tôn và vị phối ngẫu hư không sáng tỏ của ngài luôn luôn là bất khả phân.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ khởi thủy thì tâm nền tảng quang minh vô hạn là vốn sẵn trong đạo lộ bị giới hạn quang minh của hành giả. Nếu trong đời này, sự thực hành thiền định của chúng ta mạnh mẽ và liên tục, thì quang minh sáng rõ từ các hiện tượng mộng của chúng ta và quang minh sáng rõ từ các hiện tượng thức của chúng ta sẽ được tiếp nối, diễn tiến trong cùng cách như mặt trời lặn trong khi mặt trăng tròn mọc. Khi chia tách khỏi thân thể tập hợp bởi nghiệp hiện tại của mình, đạo lộ quang minh của chúng ta thì giống như một đứa con trai nhận ra bà mẹ nền tảng quang minh vô hạn của nó và hợp nhất với bà. Nếu xác tín vào lúc chết thì thói quen thời gian không còn, thói quen nơi chốn không còn, thói quen phân biệt không còn và thói quen đạo lộ cũng không còn. Và khi không còn đạo lộ quang minh nào nữa, thì chỉ còn quả của nó là quang minh hư không sáng tỏ thanh tịnh phi chướng ngại - điều bất khả phân với nền tảng quang minh sáng tỏ.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo hệ thống Đại Viên Mãn, thì từ khởi thủy, tâm thức của chúng ta đã vốn thanh tịnh, tự do, giải thoát và quang minh, vì vậy không có sự phân biệt giữa các nguyên tố thô bên ngoài của ngũ uẩn và các nguyên tố vi tế bên trong của ngũ uẩn. Hành giả chỉ cần ngơi nghỉ trong sự thuần khiết tự bí mật, tỏa khắp toàn triệt, tươi mới và sâu thẳm, vượt lên khỏi những ngôn từ và ý niệm bị che ám này, nó chính là Tâm Trí Tuệ bất nhiễm và không gian quang minh sáng tỏ.</p>
<p style="text-align: justify;">Thường thường, khi thể nghiệm được hư không sáng tỏ trong thiền định của mình thì chúng ta lại ngày càng bám chấp vào nó hơn nữa. Và rồi hư không sáng tỏ lại biến mất. Nếu thấy được hư không sáng tỏ, vượt lên khỏi sự hôn trầm khi thiền định thì chúng ta không được bám chấp vào sự trong sáng, sáng tỏ này và cho rằng sự thiền định của mình là rất tốt. Chúng ta chỉ cần thư giãn, thong thả và ngơi nghỉ với tâm hư không sáng tỏ này để lần tiếp theo khi thiền định, chúng ta có thể dễ dàng hội nhập với sự sáng tỏ, trong sáng lần nữa. Nếu chúng ta dừng sự thiền định của mình lại ở khoảng giữa sự chấp chặt vào những niệm tưởng loạn động thì khi bắt đầu lại, chúng ta sẽ lại tái nối kết với sự bám chấp cùng sự loạn động, và như vậy chúng ta sẽ không thể thư giãn và thoải mái được. Sự thực hành quan trọng nhất là thư giãn, buông lỏng trong thiền định mà không được bám chấp. Nếu những ý niệm nguyên tố thô sinh khởi, thì chúng ta cần phải không được đuổi theo sau những ý niệm này để khảo sát chúng.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu là những thiền giả có kinh nghiệm, khi tâm thức ghi nhớ nhận ra những ý niệm nguyên tố thô, thì chúng ta chỉ cần an trụ trong chánh niệm tỉnh giác mà thôi. Theo kinh văn Đại Viên Mãn (Mahasandhi) thì nếu chúng ta đuổi theo sau những ý niệm thì nhiều ý niệm hơn sẽ sinh khởi làm sản sinh ra nhiều sự mơ hồ và rắc rối hơn, và chúng ta sẽ giống như chú chó ngu ngốc chạy theo sau từng hòn đá thay vì phải tập trung lên người ném đá. Còn nếu chúng ta chỉ an trụ trong chánh niệm tỉnh giác, thì chúng ta sẽ giống như con sư tử - kẻ giết người ném đá thay vì chạy theo sau hòn đá.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi trở thành những thiền giả nhiều kinh nghiệm hơn, thì chúng ta có thể nhận ra những ý niệm ngay từ khi chúng bắt đầu sinh khởi, cũng giống như chúng ta nhận ra được một người quen cũ ở trên phố mà không cần phải giới thiệu. Nhờ sự nhận ra này mà chúng ta có thể giải thoát được những ý niệm của mình vào sự sáng tỏ, trong sáng.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu tiếp tục thiền định thì tâm thức ghi nhớ của chúng ta sẽ trở nên ngày càng mạnh mẽ và năng lực hơn tâm thức của những thiền giả sơ cơ, và nó sẽ không còn phải phụ thuộc vào bất kỳ phương pháp hay pháp môn đối trị đặc biệt nào để giải thoát được những ý niệm của mình nữa. Nó giống như một con rắn có thể không cần dụng công mà vẫn tự cởi bỏ, tháo gỡ được những nút thắt của mình, hay giống như việc viết trên mặt nước bằng ngón tay của bạn vậy, khi bạn có tiếp tục viết thì chữ viết vẫn tiếp tục tan biến.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu nhờ vào kinh nghiệm của mình mà chúng ta có thể tiếp tục thiền định, thì mọi ý niệm sinh khởi chỉ là sự phô diễn. Chúng ta không có ý niệm rằng cái gì sinh khởi hay cái gì không là một ý niệm. Chúng ta không có nỗi sợ về việc mất mát bất kỳ điều gì. Mọi sự đều là sự thiền định không có chủ đích. Bất kỳ ý niệm nào khởi lên thì chúng ta cũng không có ý niệm chối bỏ hay chấp nhận nào nữa. Chúng ta không còn sự mong cầu và trông đợi nào nữa về lợi ích. Nó giống như một tên trộm đi vào một căn nhà trống không.</p>
<p style="text-align: justify;">Tất cả mọi Phật tử thiền định đều có thể được bao gồm trong 2 dạng: Thiền Chỉ (hay còn gọi là Thiền Định – Thiền Samatha) và Thiền Quán (hay còn gọi là Thiền Minh Sát – Vipasyana). Theo hệ thống Nguyên Thủy (Tiểu Thừa – Hinayana), thì trước hết, thông qua sự nhàm chán vòng luân hồi sinh tử mà tâm thức thiền giả trở nên rất bình an. Đây là Thiền Chỉ Samatha, khi tâm thức không bao giờ còn bị lay động, lắc lư bởi những cảm xúc mãnh liệt, giống như một đại dương tĩnh tại, lặng sóng và không có những con sóng dữ dội. Từ tâm thức điềm tĩnh, an định này, thiền giả có thể từng bước dần thấy được bản tính vô ngã của mình, và cái thấy này là Thiền Quán hay Thiền Minh Sát Vipasyana, và từ đó họ dần đạt tới trạng thái của một bậc A La Hán (Arhat) - Bậc tiêu trừ kẻ thù (những cảm xúc mãnh liệt).</p>
<p style="text-align: justify;">Theo hệ thống Đại Thừa (Mahayana), thì khi những thiền giả chứng ngộ, nhận ra tính phi chất thể, vô tự tính của vạn pháp hay Tâm Trí Tuệ vô ngã của họ, thì một cách tự động, tâm thức của họ trở nên an định, điềm đạm và bình an; Đây là Thiền Chỉ Samatha. Khi họ chứng ngộ được tâm thức của mình vốn siêu vượt lên khỏi hai thái cực của hiện hữu và không hiện hữu, thì đó là Thiền Quán hay Thiền Minh Sát Vipasyana, và lúc này họ chạm tới trạng thái Phật quả của sự giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo hệ thống Kim Cương Thừa Ngoại nói chung, thì khi những thiền giả có sự tín tâm nhất niệm về phía đối tượng đại định của vị bổn tôn, thì tâm thức của họ trở nên rất bình an và an định, nó không thể bị thâm nhập bởi những cảm xúc mãnh liệt thông thường. Đây là Thiền Chỉ Samatha. Dần dần, thông qua đại định này mà thân, khẩu và tâm bình phàm của họ trở nên được chuyển hóa thành Thân, Khẩu và Tâm Trí Tuệ của vị bổn tôn, thì đó là Thiền Quán hay Thiền Minh Sát Vipasyana.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo hệ thống Kim Cương Thừa Nội nói chung, thì vạn pháp hiện hữu vô hạn trong vòng luân hồi sinh tử được gom chứa trong ngũ uẩn và tất cả vô số chư Phật được bao gồm trong Ngũ Bộ Phật. Những cảm xúc mãnh liệt của vòng luân hồi sinh tử thì không thể nào thâm nhập được vào tâm thức hành giả khi mà thông qua sự quán tưởng, ngũ uẩn được chuyển hóa thành Ngũ Bộ Phật, vì điều này là bản chất, tinh túy ánh sáng bí mật thanh tịnh của những hiện tượng hữu hình với những phẩm tính vô hình từ năm vị phối ngẫu trí tuệ của tính không vĩ đại (đại không). Đây là Thiền Chỉ Samatha. Dần dần, khi không có sự phân biệt giữa những hiện tượng bất tịnh của vòng luân hồi sinh tử và những hiện tượng thanh tịnh của cõi niết bàn, thì điều này trở thành Thiền Quán hay Thiền Minh Sát Vipasyana, đó là vòng bánh xe không có phương hướng từ những hiện tượng của Vị Bổn Tôn Trí Tuệ.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo hệ thống Đại Thừa (Mahayana), thì sự ngơi nghỉ trong tính không vĩ đại bất nhiễm (đại không vô nhiễm) được gọi là Nyamshag, “An Trụ Trong Sự Thiền Định Thản Nhiên, Thong Dong”. Mỗi khi an trụ trong sự thong dong, thản nhiên thì chúng ta không nên mong cầu tích tập công đức từ bất kỳ hình thức bên ngoài nào bởi vì sự thong dong, thản nhiên là sự tích tập lớn lao, vĩ đại nhất.</p>
<p style="text-align: justify;">Như Đức Milarepa đã nói: “Khi ở trong thiền định Đại Ấn (Mahamudra), nếu con bận tâm về việc tích tập công đức từ thân và khẩu, thì Tâm Trí Tuệ của con có thể biến mất”. Bất cứ khi nào tâm thức di chuyển từ sự thong dong, thản nhiên lớn lao, vĩ đại bất nhiễm này và ngơi nghỉ trong ánh sáng rực rỡ, chói lọi của nó thì, cứ ở đâu mọi thứ sinh khởi lên thì ở đó xuất hiện như là sự phô diễn, hiển bày ảo ảnh huyễn hóa, và nó được gọi là Jethob, “Hậu Thể Nghiệm Thiền Định Thong Dong, Thản Nhiên”.</p>
<p style="text-align: justify;">Năng lực thanh tịnh của các hiện tượng nguyên tố ảo ảnh, huyễn hóa đến từ không gian tính không trống rỗng bất nhiễm. Năng lượng không gian bầu trời này thâm nhập vào năng lượng nguyên tố thô của các hiện tượng, và nó làm cho mọi sự xuất hiện đều vi tế, thanh nhẹ và ảo ảnh huyễn hóa, như mộng như ảo. Ích lợi của Jethob là bất cứ ai thấy vạn pháp như sự phô diễn thì họ sẽ không bám chấp hay chối bỏ những đối tượng như huyễn đó, và theo cách này thì đó là sự tích tập công đức. Như tổ Tilopa đã nói với tổ Naropa: “Cho đến khi chứng ngộ, nhận ra rằng vạn pháp là bất sinh, thì chúng ta cần phải liên tục xoay chuyển vòng bánh xe tích tập công đức và trí tuệ”.</p>
<p style="text-align: justify;">Với nhiều hành giả không có kinh nghiệm thì Nyamshag có nghĩa là ngơi nghỉ trong một thế ngồi và Jethob có nghĩa là chuyển động từ một thế ngồi. Nhưng thực sự thì, bất kỳ ai ở trong tâm thức thong dong, thản nhiên với sự chánh niệm tỉnh giác pháp tính thì người đó đang thực hành thiền định Nyamshag, kể cả dù cho thân thể họ có thể chuyển động và khẩu ngữ của họ có thể phát ra âm thanh. Và bất kỳ ai dịch chuyển từ tâm thức thong dong, thản nhiên đó đi vào sự hậu chói sáng của thể nghiệm với sự chánh niệm tỉnh giác nhận thức thì người đó đang thực hành thiền định Jethob, kể cả dù cho thân thể của họ vẫn giữ yên lặng và khẩu ngữ của họ vẫn im bặt.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo hệ thống Kim Cương Thừa Nội, thì sự ngơi nghỉ trong tính không vĩ đại bất nhiễm (đại không vô nhiễm) cũng được gọi là Nyamshag. Bất cứ khi nào tâm thức chuyển động từ sự thong dong, thản nhiên lớn lao vĩ đại bất nhiễm này và ngơi nghỉ trong ánh sáng chói lọi, rực rỡ của nó thì, ở đâu mọi sự sinh khởi lên thì ở đó xuất hiện như vị bổn tôn, khi mọi sắc tướng xuất hiện như thân bổn tôn, mọi âm thanh vang vọng như thần chú hay ngữ bổn tôn và mọi niệm tưởng sinh khởi như Tâm Trí Tuệ bất nhiễm bổn tôn, thì nó được gọi là Jethob.</p>
<p style="text-align: justify;">Năng lượng thanh tịnh của các hiện tượng Bổn Tôn Trí Tuệ đến từ quang minh trí tuệ bất nhiễm phi chướng ngại (tịnh quang sáng tỏ trí tuệ vô nhiễm không ngăn che).</p>
<p style="text-align: justify;">Năng lượng quang minh sáng tỏ này là bản chất, tinh túy của vị bổn tôn, nó thâm nhập vào năng lượng bình phàm vi tế và năng lượng ảo huyễn vi tế của các nguyên tố khiến cho chúng xuất hiện như là các hiện tượng của Vị Bổn Tôn Trí Tuệ. Ích lợi của việc này là tất cả vạn pháp bất tịnh, bao gồm cả những hiện tượng ảo huyễn bình phàm đều được tịnh hóa thành những hiện tượng của bổn tôn mà không có sự bám chấp hay chối bỏ.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu chúng ta thực hành liên tục, thì khi sự khác biệt giữa Tâm Bầu Trời Thong Dong Thản Nhiên Bất Nhiễm và những hiện tượng của bổn tôn giảm dần và ngày càng trở nên bất khả phân ly hơn, thì khi ấy chúng ta tiếp cận sự giác ngộ - nơi mà không Nyamshag và cũng không Jethob, không trong và cũng không ngoài, chỉ duy nhất khối cầu pháp tính vô hạn lượng của một mạn đà la mà thôi. Nếu chúng ta phân biệt giữa Thiền Chỉ Samatha và Thiền Quán hay Thiền Minh Sát Vipasyana, hay chúng ta phân biệt giữa Nyamshag và Jethob, thì sẽ có một đạo lộ và những những giai đoạn khác nhau, tùy vào những căn cơ, điều kiện, hoàn cảnh khác nhau. Nhưng bất kỳ ai, một cách nghiêm túc và tha thiết muốn đạt tới giác ngộ mà không có những ý niệm phức tạp, màu mè thì họ không cần phải lo lắng về sự dịch chuyển qua những giai đoạn khác nhau giống như việc leo lên một chiếc cầu thang.</p>
<p style="text-align: justify;">Những phạm trù phức tạp, màu mè này đến từ sự phân biệt giữa chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối. Với bậc hành giả có thể thiền định một cách tự nhiên, thì không có sự khác biệt nào giữa người nhận thức, cái được nhận thức và sự nhận thức hết, với họ cũng không có khác biệt nào giữa ngồi thiền hay thiền động cả, không có sự khác biệt nào giữa chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối luôn. Với những hành giả như vậy thì không có cả khoảng giữa nữa. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói: “Chân lý đích thực thì bất sinh nhưng lũ trẻ lại bám chấp vào Tứ Diệu Đế (4 Chân Lý: Khổ, Tập, Diệt, Đạo) bằng những giọng nói khàn đục. Với những ai đã đi vào bản chất, tinh túy của niết bàn thì thậm chí ngay cả tên gọi của một chân lý cũng không có nữa. Vậy thì lấy đâu ra Tứ Diệu Đế chứ? Không ở đâu hết cả!”</p>
<p style="text-align: justify;">Theo quan điểm phần Tâm Đại Viên Mãn, thì ngay từ lúc khởi thủy vốn đã không có sự phân biệt giữa Thiền Chỉ Shamatha và Thiền Quán Vipasyana, hay giữa Nyamshag và Jethob rồi, và chúng ta thiết lập Bốn Đại Samaya (4 Thệ Nguyện Mật Thừa Lớn) là:</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Samaya Không Hiện Hữu:</strong> Chúng ta không thể tìm thấy những phẩm chất tiêu cực của vòng luân hồi sinh tử cũng như những phẩm chất tích cực của niết bàn ở bất kỳ đâu, bởi vì từ lúc khởi thủy bắt đầu, tâm thức đã không hiện hữu và tồn tại một cách vật lý, có chất thể; Nó chưa từng hiện hữu, ngay lúc này đây nó cũng không hiện hữu và nó cũng sẽ không bao giờ hiện hữu trong tương lai cả. Dù cho những đám mây đen hay trắng có xuất hiện đi chăng nữa thì chúng cũng không hiện hữu và tồn tại, bởi vì hư không thì vốn luôn trống rỗng.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Samaya Duy Nhất:</strong> Tâm thức chúng ta luôn là một, nó là nguồn gốc duy nhất cho bất kỳ hiện tượng bất tịnh nào từ vòng luân hồi sinh tử xuất hiện hay cho bất kể hiện tượng thanh tịnh nào từ niết bàn khởi sinh. Vô số những vì sao tinh tú, hành tinh, mặt trăng và mặt trời đều được phản chiếu trong một đại dương vĩ đại.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Samaya Tự Do Tự Tại:</strong> Những hiện tượng của vòng luân hồi sinh tử không thể bị nhiễm trước và những hiện tượng của niết bàn không thể được ích lợi, bởi vì tâm thức vốn tự do, tự tại khỏi tất cả mọi thái cực cùng giới hạn. Trong bầu trời thì không có những phương hướng và những mặt phẳng.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Samaya Tự Nhiên:</strong> Vô số những phẩm chất đáng khao khát của vòng luân hồi sinh tử và vô hạn những phẩm chất vô dục của niết bàn thì luôn luôn sinh khởi một cách không ngăn ngại. Đây là bản chất, tinh túy cùng sự phô diễn, hiển bày từ vũ điệu huyền diệu của vị Bổn Tôn Trí Tuệ tự nhiên. Được sánh với vô số những viên ngọc quý thông thường, tâm thức thì vô giá vì vạn pháp đều được gia tăng một cách tự nhiên từ tâm thức.</p>
<p style="text-align: justify;">Bất kể ai có thể thực hành được 4 Samaya Lớn này thì người đó đã giác ngộ rồi, kể cả dù cho thân thể vốn tập hợp bởi duyên và là kết quả từ sự chín muồi nghiệp trước đó của họ có xuất hiện như là sắc tướng bình phàm. Vào lúc cuối đời, nhiều hành giả bình phàm hy vọng mình sẽ có một cái chết cát tường, nên họ được vây quanh bởi gia đình, thân quyến cùng chúng đệ tử than khóc, cầu nguyện và thờ phượng trong kiểu cách thiêng liêng. Nhưng khi những hành giả siêu phàm viên tịch, họ không quan tâm đến thân thể mình có được đặt vào một cái ngai bằng vàng ròng, hay được trang hoàng với một vương miện châu báu, rồi được tán thán và thờ phượng hay không, mà kể cả nó có bị ném vào vũng bùn của một nghĩa địa hoang tàn, rồi bị lăng mạ thì các ngài cũng không bận tâm.</p>
<p style="text-align: justify;">Như Đức Longchenpa “Bậc Thầy Trí Tuệ Hư Không Bao La Vĩ Đại Toàn Tri” đã nói: “Khi một hành giả đích thực viên tịch, ngài giống như một kẻ hành khất lang thang trên đường phố đơn độc, một mình, không chút hy vọng và không một ai chăm sóc, giống như một đứa trẻ thơ, ngài thậm chí không có cả những ý niệm về sinh và tử”.</p>
<p style="text-align: justify;">Như Đức Longchenpa đã dạy, bất kể ai thực hành liên tục và thuần tịnh nhờ sự chứng ngộ quan điểm Đại Viên Mãn, thì lần nữa họ được giác ngộ tới sự giác ngộ không còn lần giác ngộ nào nữa. Bậc hành giả đã an trụ một cách xác tín vào một không gian sâu thẳm, uyên thâm trong sự thong dong, thản nhiên bao la, vượt lên những ý niệm về chứng ngộ hay không chứng ngộ, vượt lên những ý niệm về giải thoát và không giải thoát, thì dẫu cho người ấy có sắc tướng của đời này, nhưng nó chỉ là tạm thời giống như vỏ trứng của chim thần garuda (Kim Súy Điểu). Chim non garuda vốn đã sẵn có sự xác tín và khả năng bay được ngay khi còn ở trong bọc trứng, vì thế khi lớp vỏ bọc này vỡ ra, thì ngay lập tức, nó có thể bay vút lên sải cánh trong bầu trời. Nếu có thể chứng ngộ được quan điểm Đại Viên Mãn trong đời này, thì chúng ta sẽ hiểu được rằng, ngay từ lúc bắt đầu khởi thủy thì chú garuda hoàn hảo, viên mãn của giác tính tự tỉnh giác vốn đã cư trú và hiện diện ở ngay trong thân thể tập hợp bởi duyên nghiệp này của mình. Và rồi khi bỏ lại thân thể tập hợp bởi duyên nghiệp này của mình, chú garuda trí tuệ vốn sẵn bên trong của chúng ta sẽ tung bay, sải cánh vút lên trong bầu trời Pháp thân.</p>
<p><strong>Đức Thinley Norbu Rinpoche</strong></p>
<p><em>Nguyên tác: Magic Dance The Display Of The Self - Nature Of The Five Wisdom Dakinis </em></p>
<p><em>Trích: Vũ Điệu Huyền Diệu – Sự Hiển Lộ Tự Tính của Ngũ Trí Dakini</em></p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/hanh-thien/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Dòng truyền thừa</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/dujom-tesar-nyingma/dong-truyen-thua/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/dujom-tesar-nyingma/dong-truyen-thua/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 20 Oct 2019 22:27:30 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Dujom Tesar Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=9557</guid>
		<description><![CDATA[“Giáo lý dòng truyền thừa thì thầm là hơi thở của Dakini”. Đức Milarepa Tinh túy dòng truyền thừa nghĩa là mọi sự đều có sự nối kết tự nhiên không gián đoạn với sự thanh tịnh liên tục và năng lượng tự nhiên. Nếu chúng ta chia tách năng lượng tự nhiên khỏi nguồn gốc bí mật của nó&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/dujom-tesar-nyingma/dong-truyen-thua/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;">“Giáo lý dòng truyền thừa thì thầm là hơi thở của Dakini”.</p>
<p style="text-align: right;">Đức Milarepa</p>
<p style="text-align: justify;">Tinh túy dòng truyền thừa nghĩa là mọi sự đều có sự nối kết tự nhiên không gián đoạn với sự thanh tịnh liên tục và năng lượng tự nhiên. Nếu chúng ta chia tách năng lượng tự nhiên khỏi nguồn gốc bí mật của nó thì nó trở nên bị che ám và bất tịnh, rồi sau đó thì dòng truyền thừa sẽ xuất hiện sự gián đoạn. Khi các nguyên tố vi tế trở nên thô đặc và bị che chướng bởi ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) thì bản chất, tinh túy thuần tịnh của các nguyên tố dường như bị suy giảm hay mất đi, nhưng thực sự thì nó chỉ bị ẩn đi. Mọi thứ hữu hình nhìn thấy được đều có bản chất, tinh túy vô hình, không trông thấy được. Ngay cả như bê tông hay xi măng nhìn thì có vẻ như là hoàn toàn thô đặc và trơ cứng nhưng nó cũng có tinh túy tự nhiên vô hình, không nhìn thấy được. Nguồn gốc phi vật chất của các nguyên tố tỏa khắp trên mọi hiện tượng thô đặc và vi tế, thậm chí ngay cả khi chúng ta làm gián đoạn dòng truyền thừa thì những gì có thể thấy được dường như chỉ là một phần còn sót lại đã chết.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi chúng ta ăn thực phẩm tươi thiên nhiên đến từ những nguyên tố thô hữu hình, thì nó kết nối với những nguyên tố vi tế để sản sinh ra năng lượng vô hình, nhưng những sản phẩm thừa xơ cứng hữu hình (phân) thì vẫn còn lại và được thải ra ngoài. Khi chúng ta ngủ, thì hiện tượng tỉnh thức của các nguyên tố thô nối kết với các nguyên tố vi tế của chúng ta để sản sinh ra sản phẩm thừa (phân) dưới dạng những giấc mộng. Khi được sinh ra, thì nghiệp từ các kiếp trước của chúng ta nối kết với những điều kiện, hoàn cảnh nghiệp báo của kiếp hiện tại trong những tình huống mộng của đời này. Trong mỗi trường hợp, những gì còn sót lại dường như là trơ cứng bởi vì nó đã bị chia tách khỏi nguồn gốc vô hình của mình và dòng truyền thừa tinh túy của nó xuất hiện sự gián đoạn. Sản phẩm thừa (chất thải hay phân) là phần cặn bã còn sót lại của dòng truyền thừa bị gián đoạn này.</p>
<p style="text-align: justify;">Cái gì càng tươi mới thì nó càng gần hơn với nguồn gốc và dòng truyền thừa tự nhiên của nó. Thực phẩm càng để lâu thì nó càng trở nên ôi thiu và trơ cứng, và như vậy nó càng giảm giá trị sử dụng bản chất, tinh túy bí mật của nó với chúng ta khi ăn. Hiện tượng của chúng ta thì liên tục ở trong quá trình lão hóa và bào mòn trừ khi, nhờ thực hành, tập luyện, thì chúng ta mới có thể đưa nó trở lại sự tươi mới. Thân thể chúng ta thì liên tục ở trong quá trình lão hóa trừ khi, nhờ thực hành, tập luyện, thì chúng ta có thể chuyển nó thành Anh Đồng Tịnh Bình Thân (Thân Tịnh Bình Tươi Trẻ).</p>
<p style="text-align: justify;">Tuổi trẻ là biểu tượng của sự cân bằng thuần khiết trong Giáo Pháp, Chân Lý bởi vì tinh túy bí mật của các nguyên tố được biểu lộ một cách hữu hình trong mọi sự khi chúng tươi trẻ và các nguyên tố thô đặc lẫn vi tế của chúng được ở trong trạng thái quân bình. Khi một cái cây còn non trẻ, thì những chiếc lá của nó biểu hiện ánh sáng thuần khiết cùng những màu sắc tươi mới, bởi vì những cành nhánh, gốc rễ và lá cây của nó hấp thụ, sử dụng đất, nước, lửa, gió và hư không trong sự cân bằng với nhau. Khi chúng sinh còn trẻ, thân thể của họ sáng, và màu sắc cũng như vẻ tự nhiên của nước da họ tươi tắn vì họ nuôi dưỡng, duy trì thân thể của mình từ thực phẩm của đất, máu từ nước, thân nhiệt từ lửa mặt trời, hơi thở từ gió và ý thức từ khoảng không của tâm trong sự cân bằng với nhau. Khi những vật thể sống ngày càng trở nên già cỗi thì một sự tương giao mất cân bằng nảy sinh, phát triển giữa các nguyên tố thô nặng và vi tế vốn phụ thuộc lẫn nhau. Một số nguyên tố trở nên trỗi vượt, lấn át và chiếm ưu thế hơn, trong khi các nguyên tố khác lại trở nên yếu kém hơn và trở về trạng thái nằm ngủ tiềm tàng im lìm, không hoạt động. Những loại cây sản sinh ra vỏ cây nặng và cứng, còn thân người sản sinh ra móng tay, tóc, mủ và dịch nhầy xơ cứng. Lá cây trở nên giòn, dễ rụng và phai màu, còn nước da của con người trở nên khô ráp và nhợt nhạt, xanh xám đi, cuối cùng cho đến khi sự liên kết giữa các nguyên tố thô và vi tế trở nên mất cân bằng và khi tới ngưỡng hoàn toàn bị gián đoạn, chia tách thì chỉ còn lại một thân cây chết khô hay một tử thi như một phần còn sót lại trơ cứng. Đối với những người có thể vượt lên khỏi các nguyên tố thô đặc và vi tế bị che chướng để kết nối tới bản chất, tinh túy bí mật không bị che ám của họ thì sẽ không có sự mất cân bằng và như vậy sẽ không có các nguyên tố thô đặc, trơ cứng bị bỏ lại phía sau. Họ để lại một thân cầu vồng, bản chất, tinh túy màu sắc đặc trưng thuần tịnh của các nguyên tố hữu hình.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi chúng ta không thể vượt hẳn lên để đi vào cái phi vật chất thì dòng truyền thừa vật chất của chúng ta chỉ có thể được truy nguyên, đưa tới một phần nhỏ giới hạn của vật chất vi tế, điều mà thời đại ngày nay tạm thời được gọi là một hạt vi lượng (hạt quark), nhưng có lẽ ở một thời đại khác trong tương lai, họ sẽ gọi nó bằng một cách khác để biểu thị một giới hạn vật chất vi tế mới, đây là dòng truyền thừa tâm bị lừa dối của vòng luân hồi sinh tử. (Điều tiên đoán này của tác giả đã đúng, ngày nay, các nhà khoa học đã tìm ra một giới hạn vật chất vi tế mới, tinh tế và nhỏ hơn hạt vi lượng quark, họ gọi là thuyết String (thuyết Dây), và khi chạm tới cấp độ vật chất vi tế Dây này, các nhà khoa học buộc phải đối diện với khái niệm trường vô hình của các vong linh. Như vậy, chủ nghĩa duy vật khi càng đi lên đã càng chạm tới điểm tương đồng với chủ nghĩa duy tâm – lời người biên dịch lại năm 2014). Nếu chúng ta liên tục nhận ra bản chất, tinh túy bí mật tỏa khắp trên vạn pháp, trên mọi hiện tượng, thì sẽ có một dòng truyền thừa Tâm Trí Tuệ không gián đoạn tự nhiên không bị che chướng và không có điểm dừng. Dòng truyền thừa có nghĩa là các phẩm tính quý giá được liên tục, không gián đoạn và được biểu hiện thông qua nhiều hình thức, phương diện khác nhau mà tinh túy, bản chất của nó vẫn luôn giữ được sự thuần tịnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo Luật Tạng (Vinaya), thì có 7 vị trì giữ dòng truyền thừa giới luật của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Theo những vị trì giữ dòng truyền thừa Bồ Đề Tâm (Bodhicitta) thông qua Đức Văn Thù Manjushri và Đức Di Lặc Maitreya, thì đó là 6 Pháp Bảo và 2 Bậc Siêu Phàm. Theo truyền thống Mật giáo (Tantric), thì các bậc trì giữ dòng truyền thừa là 84 bậc Đại thành tựu giả hay 84 Vị Thánh Sư. Theo hệ thống Cổ Mật Nyingmapa, thì có sự truyền trao trí tuệ Đức Phật và sự truyền khẩu của các bậc siêu phàm.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu chúng ta không được kết nối tới bản chất, tinh túy bí mật – cái là Tâm Trí Tuệ của chúng ta do bị che chướng từ truyền thống, chủng tộc, quốc gia, giai cấp hay các thể chế thì chúng ta sẽ không thể biết đến dòng truyền thừa Phật giáo thuần tịnh. Một số người phương đông hay một số người phương tây có cách nghĩ như những người phương đông, họ tin rằng những người phương tây thì không thể có dòng truyền thừa bởi vì họ không có truyền thống. Nếu chúng ta tin rằng những người phương tây thì quá vật chất để có bất kỳ dòng truyền thừa tâm linh nào, thì chúng ta đã bất kính với dòng truyền thừa Phật giáo thuần tịnh. Nếu chúng ta không quan tâm đến những phẩm tính tâm linh thực sự mà lại bị lôi cuốn bởi những phong tục, tập quán phương đông do chúng ta đã liên hệ phương đông với dòng truyền thừa Phật giáo thì chúng ta cũng đã bất kính với dòng truyền thừa Phật giáo thuần tịnh. Nếu chúng ta cho rằng chỉ những vị tu sĩ, lama và guru mới có dòng truyền thừa thì chúng ta chỉ có khái niệm về dòng truyền thừa danh nghĩa, dòng truyền thừa móc khóa, chìa khóa - điều là sự bất kính tới dòng truyền thừa tâm linh thuần tịnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Có nhiều nơi chốn linh thiêng ở phương đông mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã gia hộ, ban phước. Nếu chúng ta thiếu tôn trọng những nơi chốn này, thì chúng ta đã thiếu tôn trọng tới dòng truyền thừa Phật giáo thuần tịnh. Một số người có quan niệm rằng chỉ có người Ấn Độ mới có dòng truyền thừa Phật giáo bởi vì Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã đản sinh ở xứ Ấn, hay bất kỳ ai đến từ Bethlehem đều có dòng truyền thừa của Đức Chúa Jesus. Nhưng Đức Phật đã nói rằng giáo lý chân thực thì không phụ thuộc vào chủng tộc. Nếu chúng ta không thừa nhận những bậc nắm giữ dòng truyền thừa thuần tịnh mà bất chấp xuất xứ, nguồn gốc của các ngài thì chúng ta đã bất kính với dòng truyền thừa tâm linh toàn tri toàn giác vô hạn bất tận.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu chúng ta thực hành Pháp mà lại phụ thuộc vào năng lực dòng truyền thừa vật chất thông thường, thì chúng ta không thể có năng lực tâm linh sâu sắc. Nguồn gốc của năng lực hữu hình thì luôn là năng lực vô hình. Ví dụ, một số loại máy móc thì rất mạnh mẽ, nhưng chúng ta không thể nhìn thấy hay tiếp xúc được với dòng điện vận hành những cỗ máy ấy, bởi vì nguồn gốc năng lực của nó là vô hình. Nếu chúng ta không thể nối kết năng lực vật chất vô hình với nguồn gốc phi vật chất vô hình của nó thì rất nhanh chóng, nó sẽ bị cạn kiệt. Đây là một sự thật đặc biệt của ngày hôm nay khi những người phương đông và phương tây đang tạo ra những nhà máy Giáo Pháp, họ ra sức chèo kéo, thỏa thuận với dòng truyền thừa vật chất cho những năng lực và thành tựu. Giống như những nhà tư bản ham muốn danh vọng và của cải để có được uy tín cùng sự tôn trọng của những người khác, chúng ta cũng muốn những thành tựu có thể sờ nắm được, hữu dụng và chúng ta lo sợ về sự nghèo nàn, thiếu thốn, không ai biết tới mình cũng như lo sợ mất đi quyền lực thế gian. Chúng ta cho rằng dòng truyền thừa thì phải độc đáo, không tìm thấy được ở đâu khác và chỉ dành cho những người tích lũy uy tín tâm linh. Chúng ta cho rằng dòng truyền thừa phải được tìm thấy chỉ qua sự liên đới với những người cao cấp dễ thấy, các trung tâm Giáo Pháp danh tiếng và những vị thầy được công nhận bởi cộng đồng như những bậc nắm giữ dòng truyền thừa chính thống.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta có thể làm bộ như mình là những Phật tử, nhưng nếu chúng ta không có quan kiến trí tuệ và lòng từ bi mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã hiển lộ đi hiển lộ lại nhiều lần, thì rồi bất cứ hoạt động Pháp nào chúng ta thực hiện đều chỉ là vở kịch Pháp dành cho đối tượng khán giả đoạn kiến hư vô luận suông bàn nhảm, huyên thuyên một cách vô nghĩa trong suốt giờ giải lao của vở kịch.</p>
<p style="text-align: justify;">Một số người lại cho rằng dòng truyền thừa thì phụ thuộc vào một vị thầy. Đặc biệt một số người phương đông tin rằng những người phương tây thì không nào thể có dòng truyền thừa được, bởi vì họ không được móc nối với dòng dõi của một vị thầy tâm linh. Trừ phi chúng ta là những người đoạn kiến hư vô và chỉ tin vào sự hữu hình, còn không chúng ta không thể đánh giá, phán xét những phẩm chất tâm linh của một người nào đó mà họ không có vị thầy hữu hình trong kiếp sống này. Nếu ai đó lấy nước từ vòi nước, và vì không nhìn thấy họ lấy nước từ nguồn nước, có lẽ nào đây lại là lý do để chúng ta nói rằng nó không phải là nước? Trên một chuyến hành hương, thì trước tiên những người khách hành hương cần một chỉ dẫn, nhưng khi đã biết đường thì họ có thể hoàn toàn đi một mình. Cuối cùng, chỉ vì không thấy họ có hướng dẫn, mà chúng ta lại nói rằng họ không biết đường. Tất nhiên, với hầu hết mọi người thì dòng truyền thừa sẽ phụ thuộc vào một vị thầy hữu hình, và nói chung nếu chúng ta có thể tìm thấy một vị thầy tốt thì nó cần thiết để có một chỉ dẫn. Nhưng theo truyền thống Phật giáo, nếu chúng ta tin vào nhân quả, tin vào nghiệp, chúng ta tin rằng do một số người có một vị thầy hữu hình trong các đời trước và có thể nghiệm với bản chất, tinh túy thuần tịnh các nguyên tố của họ thì họ có thể được tái sinh và trở nên giác ngộ mà không cần phụ thuộc vào một vị thầy hữu hình trong đời này. Ngay cả khi chúng ta có 100 vị thầy nhưng khi chúng ta bị chia tách khỏi tâm tự nhiên của mình thì dòng truyền thừa của chúng ta đã bị gián đoạn. Nhưng dù cho chúng ta không có thầy, mà chúng ta vẫn được nối kết với tâm tự nhiên của mình thì chúng ta có dòng truyền thừa Tâm Trí Tuệ.</p>
<p style="text-align: justify;">Tâm phàm tục của chúng ta là tâm bị lừa gạt, vì vậy đôi mắt của chúng ta nhất định cũng bị lừa gạt. Ngay cả dù cho nó có vẻ như là thực thì những gì chúng ta nhìn thấy có thể là một ảo giác, như một người bị bệnh vàng da nhìn thấy vỏ sò màu trắng thành màu vàng. Do vậy, chúng ta không thể nói rằng người này có dòng truyền thừa hay người kia không có dòng truyền thừa. Điều này chỉ tạo ra những che chướng về dòng truyền thừa thuần tịnh. Nếu chúng ta muốn nói về dòng truyền thừa Pháp thanh tịnh thì cái chúng ta cần quan tâm là sự thuần khiết, tinh ròng. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói: “Pháp tòa sư tử vô úy của Ta vẫn chưa có người sở hữu. Người có lòng từ bi, người có Tâm Trí Tuệ, người có tâm lợi lạc, đây là người trì giữ dòng truyền thừa của Ta, và có thể ngồi lên pháp tòa của Ta”. Ngài không nói một người có danh vị, người được lựa chọn bởi những kẻ mất trí, người tạo ra nhiều thể chế chính trị hơn. Dù cho một người có danh xưng hay không có danh xưng, được lựa chọn hay không được lựa chọn, là chính trị gia hay không phải chính trị gia thì người nắm giữ dòng truyền thừa phải là một người có các phẩm chất trí tuệ nguyên sơ và nguồn tâm của người ấy phải là trí tuệ thanh tịnh. Bất cứ ai có những phẩm chất tâm linh bao la thông qua ý định thanh tịnh và tâm thức được phú bẩm sự thông tuệ từ nghiệp trước đó, thì người đó sẽ nắm giữ dòng truyền thừa tâm linh thanh tịnh và có thể thực sự làm lợi ích cho những người khác.</p>
<p style="text-align: center;">Dù cho được sinh ra như một công nương</p>
<p style="text-align: center;">của một gia đình quyền quý, nhưng Ngài đã</p>
<p style="text-align: center;">không tìm thấy tinh túy trong cuộc sống thế tục như vậy</p>
<p style="text-align: center;">Vì thế Ngài đã trốn chạy khỏi tòa lâu đài tráng lệ</p>
<p style="text-align: center;">Và lang thang hết từ nơi này đến nơi khác,</p>
<p style="text-align: center;">Chỉ tìm kiếm sự giải thoát tối hậu, tận cùng.</p>
<p style="text-align: center;">Vào lúc Ngài tìm cầu sự giải thoát,</p>
<p style="text-align: center;">Với thân tướng tuyệt mỹ vô song như hoa nở của mình,</p>
<p style="text-align: center;">Hai công tước lãnh chúa đã tìm Ngài</p>
<p style="text-align: center;">để bắt Ngài trở thành công chúa của họ,</p>
<p style="text-align: center;">Nhưng ở giữa những cuộc tranh cãi đó,</p>
<p style="text-align: center;">Ngài đã trở thành nữ hoàng của hoàng đế.</p>
<p style="text-align: center;">Trong tu viện năng lực hùng mạnh nhất,</p>
<p style="text-align: center;">Hóa hiện, lưu xuất ra thân trí tuệ bát nhã màu bình minh rạng rỡ,</p>
<p style="text-align: center;">Vung thanh gươm giác tính bất nhiễm sáng ngời,</p>
<p style="text-align: center;">Chặt đứt qua những mạng lưới vô minh huyễn hóa.</p>
<p style="text-align: center;">Ngay cả với bậc trị vì tối cao,</p>
<p style="text-align: center;">Ngài đã trở thành nữ hoàng của xứ sở,</p>
<p style="text-align: center;">Được bao quanh bởi một chuỗi rặng núi tuyết,</p>
<p style="text-align: center;">Ngài đã hoàn toàn tự do khỏi bám luyến, buộc ràng.</p>
<p style="text-align: center;">Khi vị hôn phu kỳ lạ nhất của Ngài,</p>
<p style="text-align: center;">Cúng dường Ngài tới Đức Acharya lãng tử,</p>
<p style="text-align: center;">Ngài đã nhận ra Người không phải là một</p>
<p style="text-align: center;">người bình thường, mà là sự rực rỡ cực sinh động</p>
<p style="text-align: center;">của Đức Phật Amitabha Vô Lượng Quang (A Di Đà)</p>
<p style="text-align: center;">Và như thế Ngài đã hòa trộn tâm thức mình trong tâm trí tuệ của Người.</p>
<p style="text-align: center;">Tới Ngài, hỡi Yeshe Tsogyal, Trí Tuệ Như Hải,</p>
<p style="text-align: center;">con luôn cúi đầu đảnh lễ!</p>
<p style="text-align: center;">Cho tới khi con trở nên giống như Ngài!</p>
<p>(Đây là câu chuyện về tiểu sử của Đức Yeshe Tsogyal, đệ tử của Đức Liên Hoa Sinh. Khi Ngài bị bắt và dâng nạp cho Đức Vua Tây Tạng Trisong Deutsen thì Đức Vua đã cúng dường Ngài tới Đức Đạo Sư Liên Hoa Sinh để trở thành phối ngẫu theo truyền thống Mật thừa. Sau đó dưới sự chỉ dẫn trực tiếp của Đức Liên Hoa Sinh, Ngài đã được truyền dạy rất nghiêm ngặt và đầy đủ về các giới luật, đạo đức, đạo hạnh cũng như trải qua những quá trình tu tập, nhập thất miên mật, chặt chẽ, sau cùng Ngài đã hòa trộn tâm mình với Đức Đạo Sư Guru Rinpoche và đạt giác ngộ - lời người dịch 2014)</p>
<p><strong>Thinley Norbu Rinpoche</strong></p>
<p><em>Nguyên tác: Magic Dance The Display Of The Self - Nature Of The Five Wisdom Dakinis </em></p>
<p><em>Trích: Vũ Điệu Huyền Diệu – Sự Hiển Lộ Tự Tánh của Ngũ Trí Dakini</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/dujom-tesar-nyingma/dong-truyen-thua/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Hai thái cực và vượt lên hai thái cực</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/hai-thai-cuc-va-vuot-len-hai-thai-cuc/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/hai-thai-cuc-va-vuot-len-hai-thai-cuc/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 14 Oct 2019 22:19:13 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Dujom Tesar Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=9551</guid>
		<description><![CDATA[Đau khổ trong hy vọng là người thường kiến, Đau khổ trong tuyệt vọng là người đoạn kiến, Vượt lên cả hy vọng và tuyệt vọng là người chánh kiến Do thói quen, tập khí của mình mà chúng ta đã không nhận ra tiềm năng trí tuệ bí mật thuần tịnh của 5 giác quan, cái vốn bất khả&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/hai-thai-cuc-va-vuot-len-hai-thai-cuc/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;">Đau khổ trong hy vọng là người thường kiến,</p>
<p style="text-align: center;">Đau khổ trong tuyệt vọng là người đoạn kiến,</p>
<p style="text-align: center;">Vượt lên cả hy vọng và tuyệt vọng là người chánh kiến</p>
<p style="text-align: justify;">Do thói quen, tập khí của mình mà chúng ta đã không nhận ra tiềm năng trí tuệ bí mật thuần tịnh của 5 giác quan, cái vốn bất khả phân với tiềm năng trí tuệ bí mật thuần tịnh của 5 đại. Thay vào đó chúng ta lại sử dụng các giác quan nguyên tố thô, cái chỉ nhận thức được các nguyên tố thô bên ngoài, và chúng ta chỉ có thể hiểu được tinh túy bí mật vốn không chia tách của hiện tượng như là cái có chất thể, bị chia tách và phân biệt. Nếu chúng ta đánh giá, coi vật chất như cái trường cửu và bất biến, rồi sau khi hiện tượng thô bị hư hoại, tan biến thì chúng ta lại kết luận rằng những nguyên tố vi tế còn lại là khía cạnh thanh tịnh và tinh khiết nhất, đây là nền tảng của quan điểm thường kiến, vĩnh cửu. Nếu chúng ta đánh giá, cho là không có gì nằm ngoài vật chất dễ nhận thấy và khi hiện tượng thô bị hư hoại, tan biến thì chúng ta lại kết luận rằng không có gì khác tồn tại nữa ngoài vật chất, thì đây là nền tảng của quan điểm đoạn kiến, hư vô. Trong cả hai trường hợp trên, thì họ không bao giờ tin vào tinh túy bí mật tỏa khắp toàn triệt và tinh túy này tiếp tục vượt lên khỏi cả các nguyên tố thô nhìn thấy được và các nguyên tố vi tế không dễ dàng nhận thấy.</p>
<p style="text-align: justify;">Chủ nghĩa thường kiến, vĩnh cửu được mô tả bởi nhiều người theo nhiều cách khác nhau, nhưng cốt lõi chung là họ chia sẻ quan điểm rằng có một dạng thức, hình tướng vi tế hơn tồn tại vượt lên trên các nguyên tố hữu hình và trông thấy được bằng mắt. Những người theo chủ nghĩa vĩnh cửu tin vào một đấng thần linh bất tử, trường tồn, có những phẩm chất tinh tế vô hạn, và đấng này là nguồn gốc của các nguyên tố vật chất thô. Họ tin rằng những ai tin và cầu nguyện tới một đấng sáng tạo khởi nguyên của thiên đàng và trái đất thì họ sẽ tạm thời có được lợi ích trong đời sống này, và về mặt tận cùng và tối hậu, thì họ sẽ có một đời sống bất tử sau khi thân thể vật lý thô của mình chết đi. Họ tin rằng khi các nguyên tố thô biến mất, thì linh hồn nguyên tố vi tế sẽ được tái sinh như một vị thần hay ở trong đoàn tùy tùng của một vị thần nào đó trong một thiên đường hay một tịnh độ vĩnh cửu vượt lên khỏi các nguyên tố thô. Những người thường kiến, vĩnh cửu thường thờ phượng các vị thần xuất hiện trên trái đất trong những thời kỳ xa xưa, trong huyền thoại, và những phẩm tính của họ được hiển lộ, mặc khải thông qua lịch sử, nguồn gốc nguyên tố vi tế của họ. Họ thờ phượng vô số những hình ảnh khác nhau của các vị thần trong nhiều sắc tướng, hình dáng khác nhau như các truyền thống mang lại lợi ích cho chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Chủ nghĩa đoạn kiến, hư vô cũng được mô tả bởi nhiều người theo nhiều cách khác nhau, nhưng tựu chung lại thì họ chia sẻ quan điểm rằng không có gì khác ngoài các phẩm chất vật chất hữu hình của các nguyên tố thô. Họ không tin vào một nguồn gốc phi vật chất của các nguyên tố thô. Vài người tin rằng vật chất xuất hiện từ hư vô, và những người khác lại tin vào vòng chu kỳ lặp đi lặp lại vô tận của năng lượng và vật chất, và từ vòng chu kỳ vô tận này hiện tượng phát sinh khi các hoàn cảnh tụ hội, hòa hợp lại nhờ sự tình cờ và ngẫu nhiên. Theo quan điểm của những người đoạn kiến, thì khi các nguyên tố xuất hiện cùng nhau, thì hình tướng, dạng thức nguyên tố thô của thân thể được sinh ra một cách tự nhiên, và thân thể này được kết hợp một cách bất khả phân với tâm trí. Vì quan niệm như vậy nên những người đoạn kiến không cần đến các quan niệm về một đời sống tương lai hay một mối nối kết nghiệp quả tương tục. Họ thường tôn sùng các phẩm chất của quyền lực, danh vọng, vẻ đẹp, sự thăng tiến và thành công, và họ bị dính mắc, ràng buộc vào các nguyên tố thô trong vô số các dạng thức khác nhau, nhờ vô số con đường thế tục khác nhau tùy thuộc vào lịch sử nguyên tố thô từ nền văn hóa của họ, để trục lợi cho bản thân mình trong đời sống này, họ đã mang cái tôi bản ngã một cách dung tục trong nhiều kiểu cách.</p>
<p style="text-align: justify;">Với những người thường kiến thì niềm tin của những người đoạn kiến chỉ dựa trên vật chất thô là một mối đe dọa, hiểm họa báo trước cho việc thấu hiểu nguồn gốc vật chất vi tế của vạn pháp. Còn với những người đoạn kiến thì niềm tin của những người thường kiến dựa trên cái vi tế và phi vật chất là một mối đe dọa, hiểm họa tới sự tiến bộ vật chất cùng thành quả hữu hình của mọi giá trị vật chất.</p>
<p style="text-align: justify;">Những người thường kiến thực sự tin vào bản chất, tinh túy thuần tịnh của các nguyên tố dù cho họ sẽ không diễn tả nó trong cách hiểu về các nguyên tố. Họ hiểu rằng không thể có sự liên kết lâu dài giữa các nguyên tố thô vô thường, vì vậy khi cầu nguyện, họ chỉ đặt niềm tin lên lợi ích từ các nguyên tố tinh túy, thuần khiết của mình. Nhờ sự khát khao nhận biết về đấng thượng đế hay vị thần tối cao của mình, nhờ sự khát khao đạt được quyền năng, ân điển hay sự chiếu cố của ngài và nhờ sự khát khao đạt được sự bất tử, sự sống đời đời trong một cõi tịnh độ hay thiên đàng, những người thường kiến cố gắng đạt tới bản chất, tinh túy thuần khiết của các nguyên tố. Họ thực sự vẫn nói rằng sắc tướng, hình dạng nguyên tố thô bất tịnh của đối tượng thờ phượng có thể kết nối với sắc tướng, hình dạng ánh sáng tinh khiết của đối tượng thờ phượng trong đời này, và rồi sau khi các nguyên tố thô trở nên trì trệ và hoại diệt, thì bản chất, tinh túy thuần tịnh vẫn giữ lại được sự tươi mới và vĩnh cửu. Niềm tin không được thừa nhận chính thức vào các nguyên tố thanh tịnh này được diễn đạt qua vô số hình thức cầu nguyện, đó có thể là những lễ cúng dường máu ghê rợn, hay sự cúng dường nước tinh khiết, hay đó có thể là việc dâng lên những bông hoa rực rỡ, đó có thể là kiểu cách truyền thống, hay đó có thể là trong những lời khẩn cầu đầy hy vọng và van nài, hay những lời khóc than trong đơn độc v.v… Họ nói rằng nhờ những lời cầu nguyện thì dù vị thần có ở trong hình dạng của một quái thú với những chiếc đuôi, những chiếc sừng hay đôi cánh, hay ngài có ở trong thân người hoặc hình dạng siêu nhiên, dù khía cạnh biểu lộ của ngài là dữ tợn hay nhân từ, phẫn nộ hay hiền minh, hung bạo hay an ủi, dù vị thần đang cưỡi trên một linh thú hay nhảy múa trong bầu trời, dù cho bị đóng đinh trên thập tự giá hay ngự trên một bông hoa sen bất nhiễm, dù ở trên một mặt trăng hay trên một mặt trời tỏa sáng, hay trên một ngai tòa châu báu, thì bản chất, tinh túy của mọi hình thức tôn sùng như vậy sẽ luôn là nguồn gốc thanh tịnh của các nguyên tố.</p>
<p style="text-align: justify;">Dạng thức ánh sáng tinh khiết xuất hiện một cách phi chướng ngại và bất khả phân với tính không bất nhiễm; vì hình tướng, dạng thức không thể sinh khởi trong hư không vô tri vô giác được. Sắc tướng của vị thần không thể xuất hiện; Khẩu ngữ, ngôi lời của vị thần không thể vang vọng; Tâm thức, sự khôn ngoan của vị thần không thể tràn khắp trong các nguyên tố thô mà không có một nguyên tố ý định tinh thuần. Ân huệ và ban phước từ khẩu ngữ của vị thần (bổn tôn) phần lớn đến từ các nguyên tố gió và lửa thanh tịnh; Ân huệ và ban phước từ tâm thức vị thần (bổn tôn) chủ yếu đến từ nguyên tố hư không thuần tịnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Những người đoạn kiến thực ra cũng có liên hệ với nguồn gốc phi vật chất của tất cả các loại vật chất, mặc dù họ sẽ từ chối và không chấp nhận điều này. Như Đức Phật đã nói: “Phật tính tỏa khắp trên tất cả chúng sinh”. Dù cho những người đoạn kiến nói rằng các nguyên tố vi tế không tồn tại, nhưng họ lại mô tả khí chất, căn tính của con người như: thô lỗ, cục cằn như đất, mềm mại, uyển chuyển như nước (hay người gì mà nhạt như nước ốc), nóng như lửa, tính thoảng như không, và tâm rộng rãi, khoáng đạt như hư không và họ sử dụng cùng những cách biểu đạt này như hiền như đất; thờ ơ, lạnh như băng; chán nản ẩm ương; tranh cãi nảy lửa; máu nóng; giông tố cãi vã nổi lên và cởi mở tâm tư…</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu chúng ta hỏi những người lãnh đạo chính phủ theo chủ nghĩa đoạn kiến thì dù cho họ có tin vào các phẩm chất vi tế vô hình của hiện tượng nhưng họ sẽ vẫn nói không, tôi không tin, ngay cả những người binh lính và cảnh sát của họ dù vẫn đang luôn tính toán hiện tại nhìn thấy được với các sự kiện tương lai không trông thấy một cách cụ thể được và họ vẫn đang lên các kế hoạch dựa trên những gì vi tế và không trông thấy được, những cái vô hình sẽ trở thành hữu hình và thô trong tương lai. Điều này có nghĩa là trong thực tế, thì họ có tin vào sự tồn tại, hiện hữu của cái vi tế và vô hình. Mặc dù những người đoạn kiến nói rằng họ không tin vào nhân quả, nghiệp báo nhưng trong các dự định, kế hoạch của mình, họ lại bộc lộ niềm tin của họ vào tính chất liên tục, không ngừng dứt vô hình giữa quá khứ và tương lai, niềm tin vào cái gây ra những kết quả trong tương lai. Việc hoàn toàn tin vào nguyên nhân và kết quả này có nghĩa là họ cũng tin vào nhân quả, nghiệp báo.</p>
<p style="text-align: justify;">Ý định, mục đích của những người đoạn kiến thì tương đồng với ý định, mục đích của một số thiền giả. Nếu chúng ta hỏi một thiền giả vô tướng rằng ông đang thiền định về điều gì, ông ta có thể trả lời rằng: “Không sắc tướng, không gì có thể được thấy”. Tuy nhiên ông ta lại thực sự muốn nắm bắt được cái vô hình, muốn thấy được những điều đặc biệt, không thì ông ta mong đợi cái gì? Nếu nắm bắt, chộp được điều gì đó, ông ta sẽ hành xử như cảnh sát chính phủ vậy. Đầu tiên, họ khiến cho cái vô hình trở thành hữu hình; rồi sau đó, họ sẽ cố gắng thay đổi hay loại bỏ nó. Khi bạn hỏi người đoạn kiến và người thiền giả vô tướng rằng họ có chung mục đích, ý định không thì họ sẽ chối bay chối biến nó, nhưng thực sự thì chúng là một.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu chúng ta hỏi một người đoạn kiến thời gian là gì, thì ông ta sẽ trả lời nó là một giờ đồng hồ. Sau đó nếu chúng ta hỏi tiếp ông sẽ làm gì vào chiều nay, ông ta sẽ nói rằng tôi có một cuộc hẹn vào lúc 5 giờ. Điều này cho thấy ông ta tin vào các nguyên tố vô hình vi tế nằm ẩn tàng trong thời gian được biểu đạt như là tương lai, do vậy câu trả lời của ông ấy được dựa trên niềm tin vào một cuộc sống tương lai dù cho ông ta có từ chối hay không chấp nhận niềm tin vào nó nếu được hỏi một cách trực tiếp.</p>
<p style="text-align: justify;">Những người đoạn kiến cho rằng họ được chia tách khỏi các nguyên tố bên ngoài bởi những thân thể vật lý của mình, nhưng sự thực thì tinh túy bí mật của tất cả các nguyên tố tỏa khắp trên vạn pháp lại chưa từng bao giờ bị chia tách. Thậm chí, nếu một người ở Paris có gọi điện thoại cho một người khác ở tận New York, thì dù khoảng cách của họ là rất xa nhưng họ vẫn có thể kết nối với nhau ngay lập tức, chỉ cần hai người đều sẵn sàng kết nối, như vậy thì thật sự là không có sự phân cách nào cả. Ngay cả khi chúng ta nghĩ rằng tâm đang ở trong thân, thì sự thực nó không ở trong cũng không ở ngoài thân, nó cũng không ở trong bộ não hay trong trái tim của chúng ta. Nếu chúng ta khảo sát một cách kỹ lưỡng “cái bên trong và bên ngoài” này, thì chúng ta sẽ không thể tìm thấy những giới hạn của bên trong và bên ngoài. Sự giới hạn của chúng ta đến từ tập khí, thói quen nghiệp sử dụng các nguyên tố thô, điều tạo ra những phân cách giữa New York và Paris, giữa giọng nói người này với giọng nói một người khác, giữa bên trong và bên ngoài. Mọi phân cách đều đến từ những tập khí, thói quen nguyên tố thô nghiệp quả này.</p>
<p style="text-align: justify;">Hai người có thể liên lạc với nhau từ khoảng cách rất xa và truyền đạt những tư tưởng vi tế trong tâm họ với giọng nói vi tế, không thể xúc chạm được của họ thông qua công cụ thô là ống nghe điện thoại. Dù cho họ đã sẵn sàng được nối kết với nhau từ khởi thủy nhờ tâm phi nối kết tỏa khắp toàn triệt, nhưng các nguyên tố vi tế tiềm tàng ngủ quên của họ lại được đánh thức thông qua những hoàn cảnh thô của cú điện thoại và mối kết nối nguyên gốc của họ được tái thiết lập. Nhưng tốt hơn là chúng ta không nên nói với những kỹ sư đường dây điện thoại viễn liên đoạn kiến về đường dây nối kết phi kết nối, bí mật và tỏa khắp toàn triệt này, nếu không, họ sẽ muốn cắt những đường dây điện thoại kim loại đi đấy.</p>
<p style="text-align: justify;">Tâm chân thực của chúng ta là phi giới hạn, nhưng chúng ta không biết nó bởi vì chúng ta chỉ sử dụng những tâm trí bình phàm bị giới hạn của mình. Khi nghĩ tới việc gọi điện thoại, thì tâm trí chúng ta dừng lại ở Paris, New York, và ở giữa Paris và New York. Nhờ các nguyên tố vi tế của mình mà chúng ta có thể dễ dàng hồi tưởng, nhớ về một xứ sở chúng ta đã từng tới trước đó nhờ đường kết nối từ trước đó của chúng ta với các nguyên tố thô của nó, nhưng vì chúng ta ở trong các nguyên tố thô bị chia tách của mình nên chúng ta không thể vượt lên khỏi giới hạn này. Nếu thông qua các nguyên tố vi tế, chúng ta hình dung một xứ sở mà chúng ta chưa bao giờ đặt chân đến, hoặc nếu chúng ta nằm chiêm bao về một xứ sở mình chưa bao giờ tới, thì điều này có thể là do chúng ta đã từng ở đó trong một kiếp sống trước hay chúng ta sẽ ở đó trong tương lai, nhưng ngay cả khái niệm xứ sở xa lạ này cũng vẫn là giới hạn vi tế của tâm thức bình phàm của chúng ta. Mỗi khi ở trong thái cực của chủ nghĩa hư vô, đoạn kiến hay trong thái cực của chủ nghĩa vĩnh cửu, thường kiến, chúng ta thường chia tách hiện tượng khỏi tính không, và do thói quen, tập khí chia tách này của mình mà chúng ta không thể vượt hẳn lên và đi vào tinh túy bí mật ánh sáng thuần khiết tịnh quang của các nguyên tố.</p>
<p style="text-align: justify;">Phật thì vượt lên khỏi chủ nghĩa vĩnh cửu, thường kiến và Ngài chưa từng trụ lại trong bất kỳ nguyên tố nào. Phật thì vượt lên khỏi chủ nghĩa hư vô, đoạn kiến và Ngài chưa từng chia tách khỏi bất kỳ nguyên tố nào. Nhưng chúng sinh lại không thể nhận ra và chứng ngộ điều này, vì vậy chúng ta luôn tin vào hoặc chủ nghĩa vĩnh cửu hoặc chủ nghĩa hư vô và chúng ta đã, đang và sẽ vẫn tiếp tục luôn ở trong sự đau khổ, sự tự hành hạ bản thân mình trong vòng tròn luẩn quẩn của chết và tái sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Đó là lý do tại sao Đức Phật hóa hiện một cách không chủ đích như các bổn tôn xác thực với những phẩm tính cùng các khía cạnh vĩnh cửu như bất tử và luôn thanh tịnh nhằm giải thoát những chúng sinh bị che chướng bởi những lầm lạc của những người đoạn kiến, hư vô. Đó cũng là lý do tại sao bản tính của các hóa thân Phật được nói là trống rỗng, không có tự tính nhằm giải thoát những chúng sinh bị che chướng bởi những lầm lạc của những người thường kiến, vĩnh cửu. Sự thực thì Đức Phật tỏa khắp trong cả hai thái cực một cách bất khả phân, và do vậy Ngài an trụ vượt lên cả hai thái cực, cực đoan này. Ngài chưa bao giờ trụ lại trong hoặc là thái cực như bổn tôn có sắc tướng hoặc trong thái cực tính không phi sắc tướng bởi vì chúng vốn là bất khả phân. Sự chia tách vị bổn tôn ra khỏi tính không hay chia tách tính không ra khỏi vị bổn tôn thì chỉ tạo ra sự sắp đặt và đi lòng vòng từ thái cực, cực đoan này sang thái cực, cực đoan khác. Phật giáo thì vượt lên khỏi hai thái cực này.</p>
<p style="text-align: justify;">Phật giáo là quan điểm tuân theo lời Phật dạy. Mỗi khi chúng ta có một quan điểm, thì chúng ta có chủ thể và đối tượng cùng khoảng giữa của chủ thể lẫn đối tượng. Nếu chúng ta ở một căn nhà chỉ có một tầng thì chúng ta chỉ có thể nhìn thấy khung cảnh ở phía trước mình mà không thấy được những gì ở phía trên mình. Nếu chúng ta ở trên nóc của một tòa cao ốc, thì chúng ta lại có thể nhìn thấy khung cảnh phía trước, xung quanh và ở phía dưới chúng ta, bao gồm cả căn nhà một tầng luôn. Và nếu chúng ta ở trên đỉnh của một ngọn núi thì chúng ta có thể nhìn thấy cả khung cảnh của những gì ở phía trước, xung quanh và ở dưới cùng mọi thứ ở giữa gồm cả căn nhà một tầng và cả tòa cao ốc nữa. Tùy thuộc vào căn cơ, điều kiện riêng đến từ hiện tượng nghiệp trước đó mà chúng ta có thể thấy một quan điểm hay nhiều quan điểm. Ngay cả khi chúng ta nghe về điều gì đó mà mình không thể chứng kiến, thì chúng ta thường không thể chấp nhận nó do khả năng, căn cơ, điều kiện và thói quen, tập khí quan điểm bị giới hạn của mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong vô số kiếp, có thể chúng ta đã tìm kiếm tâm của mình, nhưng nó không bao giờ được tìm thấy bên trong bất kỳ hiện tượng chất thể nào, vì nó luôn luôn là sự trống rỗng, tính không rộng lớn (đại không). Quan điểm này vượt lên khỏi quan điểm thường kiến, vĩnh cửu mà lại không chối bỏ nó. Tâm như tấm gương của chúng ta luôn luôn phản chiếu vô vàn các hiện tượng không chút che chướng và không chút nỗ lực. Quan điểm này vượt lên khỏi quan điểm đoạn kiến, hư vô mà cũng không chối bỏ nó. Điều này không có nghĩa là đại không và hiện tượng phi chướng ngại tồn tại một cách tách biệt và có thể được kết hợp lại cùng nhau như hai sợi chỉ được xoắn kết lại thành một. Ngay từ khởi thủy, thì tính không và hiện tượng là bất khả phân. Đây là quan điểm chung thông thường của người Phật tử. Ở đâu có tính không, thì ở đó có hiện tượng, và ở đâu có hiện tượng thì ở đó có tính không. Chúng ta không thấy điều này là do thói quen phân biệt của tâm nhị nguyên, vì vậy chúng ta chỉ thấy từng thứ một vào một thời điểm, do vậy nên tính không tách biệt khỏi hiện tượng. Đôi lúc, thay vì nhận ra tâm trống rỗng tỏa khắp toàn triệt vốn sẵn của mình, thì khi thực hành chúng ta lại cố gắng tạo ra một tính không khác, và khi chúng ta không thể tìm thấy nó hay không thể tạo ra nó nhờ hiện tượng của mình, thì chúng ta lại trở nên chán nản, thất vọng.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ người bình thường cho đến bậc siêu phàm, thì quan điểm sẽ vẫn tồn tại cho tới khi họ đạt được giác ngộ. Trong quan điểm của người Phật tử, thì tùy thuộc vào căn cơ, khí chất riêng khác nhau của từng người mà họ có những quan điểm khác nhau.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo hệ thống Tiểu Thừa (Hina-yana – hay Nguyên Thủy), thì quan điểm là vô ngã. Theo hệ thống Đại Thừa (Maha-yana), thì quan điểm là vô ngã và hiện tượng là không có tự tính, chúng tự do khỏi mọi hoạt động tâm trí, tinh thần. Theo hệ thống Đại Thủ Ấn (Maha-mudra), thì quan điểm là Tâm Trí Tuệ tỏa khắp trong hiện tượng hiện hữu và phi hiện hữu. Theo hệ thống Đại Viên Mãn (Maha-sandhi), thì quan điểm là sự giải thoát vốn sẵn từ vô thủy của Tâm Trí Tuệ Đức Phật Phổ Hiền Samantabhadra nguyên thủy.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong Tâm Trí Tuệ giác ngộ, thì không có chủ thể, không có đối tượng, không có khoảng giữa của chủ thể và đối tượng, không đầu, không cuối, không thời gian, không phương hướng nên không có quan điểm.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Phật nói: ”Dù cho Ta không xuất hiện ở bất kỳ đâu, nhưng Ta vẫn xuất hiện ở khắp mọi nơi cho những ai thích sự xuất hiện. Với những người không thích sự xuất hiện, thì Ta luôn luôn là tính không trống rỗng. Dù cho Ta chưa từng nói, nhưng Ta vẫn nói cho những ai thích nghe. Và với những ai không thích nghe, thì Ta vẫn an trụ trong sự tĩnh lặng và tịch diệt".</p>
<p style="text-align: justify;">“Dù cho tâm Ta chưa từng khởi niệm bất kỳ điều gì, nhưng với những ai cho rằng tâm Ta là sự toàn tri toàn giác, thì nó là sự toàn tri toàn giác. Còn với những ai cho rằng tâm Ta là không hiện hữu, thì nó là không hiện hữu".</p>
<p style="text-align: justify;">“Bất kỳ ai muốn thấy Ta một cách từ từ thì họ có thể thấy Ta một cách từ từ. Bất kỳ ai muốn thấy Ta ngay lập tức thì họ có thể thấy Ta ngay lập tức. Bất kỳ nguyện ước nào được khởi lên đều sẽ được đạt tới. Đây là phẩm tính thân của Ta".</p>
<p style="text-align: justify;">“Bất kỳ ai muốn nghe thấy Ta một cách từ từ thì họ có thể nghe thấy Ta một cách từ từ. Bất kỳ ai muốn nghe thấy Ta ngay lập tức thì họ có thể nghe thấy Ta ngay lập tức. Bất kỳ nguyện ước nào được khởi lên đều sẽ được đạt tới. Đây là phẩm tính ngữ của Ta".</p>
<p style="text-align: justify;">“Bất kỳ ai muốn biết tâm Ta một cách từ từ thì họ có thể biết tâm Ta một cách từ từ. Bất kỳ ai muốn biết tâm Ta ngay lập tức thì họ có thể biết tâm Ta ngay lập tức. Bất kỳ nguyện ước nào được khởi lên đều sẽ được đạt tới. Đây là phẩm tính tâm của Ta".</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Thinley Norbu Rinpoche</strong></p>
<p><em>Nguyên tác: Magic Dance The Display Of The Self - Nature Of The Five Wisdom Dakinis </em></p>
<p><em>Trích: Vũ Điệu Huyền Diệu – Sự Hiển Lộ Tự Tính của Ngũ Trí Dakini</em></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/hai-thai-cuc-va-vuot-len-hai-thai-cuc/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nữ Đạo sư Sangyum Rigzin Wangmo – Hiện thân của Đức Tara Trắng và Dakini Yeshe Tsogyal</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/nu-dao-su-sangyum-rigzin-wangmo-hien-than-cua-duc-tara-trang-va-dakini-yeshe-tsogyal/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/nu-dao-su-sangyum-rigzin-wangmo-hien-than-cua-duc-tara-trang-va-dakini-yeshe-tsogyal/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 31 May 2016 02:48:02 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Dujom Tesar]]></category>
		<category><![CDATA[Dujom Tesar Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Dujom Tesar]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6827</guid>
		<description><![CDATA[Bức thư từ Đức Dungse Shenphen Dawa Norbu Rinpoche con trai của Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche và Đức Sangyum Rigzin Wangmo. Đức Sangyum Rigzin Wangmo Thân mẫu tôi, Nữ Đạo Sư Sangyum Rigzin Wangmo, đã chứng đạt Pháp thân vào lúc 5:55 chiều ngày 27 tháng 8 năm 2014 tại trung tâm Yeshe Nyingpo thuộc thành phố New York .&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/nu-dao-su-sangyum-rigzin-wangmo-hien-than-cua-duc-tara-trang-va-dakini-yeshe-tsogyal/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong>Bức thư từ Đức Dungse Shenphen Dawa Norbu Rinpoche con trai của Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche và Đức Sangyum Rigzin Wangmo.</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/sangyum.jpg"><img class="  wp-image-6829 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/sangyum-236x300.jpg" alt="sangyum" width="305" height="388" /></a></p>
<p style="text-align: center;">Đức Sangyum Rigzin Wangmo</p>
<p style="text-align: justify;">Thân mẫu tôi, Nữ Đạo Sư Sangyum Rigzin Wangmo, đã chứng đạt Pháp thân vào lúc 5:55 chiều ngày 27 tháng 8 năm 2014 tại trung tâm Yeshe Nyingpo thuộc thành phố New York . Lập tức ngay sau đó, Ngài đã đi vào trạng thái Thuk-dam (an trụ trong trạng thái thiền định để làm lợi lạc tất thảy chúng sinh).</p>
<p style="text-align: justify;">Thân mẫu tôi được công nhận là Hóa thân của Đức Tara Trắng và Dakini Yeshe Tsogyal. Ngài chính là vị phối ngẫu được tiên tri của Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche. Năm lên 8 tuổi, thân mẫu đã thọ nhận những lời tiên tri thiêng liêng từ các Dakini. Vào chính thời điểm đó, dù ở độ tuổi còn nhỏ nhưng bà đã thọ nhận các giáo huấn Dakini từ  Đức Bà Yeshe Tsogyal và đem chúng vào thực hành.</p>
<p style="text-align: justify;">Cuộc gặp gỡ của hai người được sắp đặt bởi vị Hộ pháp Shenpa, vị hộ trì Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche. Hộ pháp Shenpa  xuất hiện với lời tiên tri bà trở thành phối ngẫu tâm linh của Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche, và sau đó Hộ pháp Shenpa đồng thời xuất hiện trước Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche ngụ ý về cuộc gặp gỡ sẽ diễn ra và từ đó Bà đã trở thành phối ngẫu tâm linh của Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche tại Tây Tạng khi vẫn đang độ tuổi thanh xuân.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/ShenpenDudjom.jpg"><img class="  wp-image-6830 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/ShenpenDudjom-300x220.jpg" alt="ShenpenDudjom" width="521" height="382" /></a></p>
<p style="text-align: center;">Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche  và Đức Dungse Shenphen Dawa Norbu Rinpoche</p>
<p style="text-align: justify;">Một điều kỳ diệu và quan trọng đầy thú vị đó là, bà là một hiện thân của Đức Tara và là người phối ngẫu của Đức Dudjom Lingpa, tiền thân của Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche. Tại kiếp đó, bà đã về cõi Phật một ngày khi Đức Dudjom Lingpa trở về, bà đã ra đi không để lại dấu vết.</p>
<p style="text-align: justify;">Với sự gặp gỡ tâm linh của Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche và Đức Sangyum Rigzin Wangmo, một cậu con trai và ba cô con gái đã ra đời. Người con gái lớn Dekyong Yeshe Wangmo, đã chứng đạt Pháp thân ở độ tuổi còn rất trẻ. Đức Pháp Vương đã công nhận cô là Hóa thân của Đức Bà Yeshe Tsogyal. Nhưng không may chúng tôi không có đủ công đức để cô ở lại lâu hơn. Đức Pháp Vương đã soạn lời cầu nguyện Dzang Dok Palri (Cõi Huy Hoàng Màu Đồng Đỏ của Đức Liên Hoa Sanh). Thực sự thì Đức Pháp Vương dành cho cô một tình yêu sâu đậm. Ngài đã vô cùng buồn bã khi cô không lưu lại thế gian này lâu hơn. Người con gái thứ hai Chimey Wangmo và con gái út Tsering Penzom cũng là hiện thân của các Dakini.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi, con trai của họ ,Shenphen Dawa Norbu Rinpoche, đã được tiên tri sẽ thác sinh vào hai Ngài. Tôi đã được công nhận là Tái sinh của Hoàng tử Jamphen Norbu, Terton Taksham , Đức Gyalsay Nangwa Thaye, và Tulku Pema Yeshe.</p>
<p style="text-align: justify;">Phối ngẫu của tôi, Sonam Chhoskit, cũng được tiên tri và lựa chọn bởi Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche. Từ cuộc gặp gỡ tâm linh này, chúng tôi đã có hai con gái là Dechen Yangzom và Tseyang Drolkar. Cuộc cuộc gặp gỡ tâm linh trước đây của tôi với công nương Ashi Pema, tôi là cha của hai cậu con trai: Nhiếp chính Kathok Situ Rinpoche và Nhiếp chính Tulku Namgyal Rinpoche là Hóa thân đời trước của Tulku Namgyal Rinpoche là Tulku sangay Rinpoche, người chính là vị Thầy gốc của Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche, mà từ chính Đức Pháp Vương đã thọ nhận sư trao truyền Phổ Ba Kim Cương. Nhiếp Chính Vương Kathok Situ Rinpoche đã được công nhận bởi Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche và sau đó bởi Đức Pháp Vương Chatral Rinpoche và Đức Pháp Vương Penor Rinpoche, người cũng có liên hệ với cha tôi. Tóm lại, tất cả các thành viên trong gia đình tôi đã cùng nhau tái sinh trong một Mandala cát tường.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/0d779c5c63ce9c798a8c2992714439b0_715__2.jpg"><img class="  wp-image-6831 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/0d779c5c63ce9c798a8c2992714439b0_715__2-300x199.jpg" alt="0d779c5c63ce9c798a8c2992714439b0_715__2" width="525" height="348" /></a></p>
<p style="text-align: center;">Đức Kathok Situ Rinpoche và Đức Dudjom Yangsi Rinpoche</p>
<p style="text-align: justify;">Thân mẫu của tôi, Đức Sangyum Rigzin Wangmo, là hiện thân của Dakini trí tuệ, không chỉ giúp thân phụ tôi tăng trưởng tuổi thọ mà còn khích lệ sự phát triển tốt lành về những biểu hiện trí tuệ của Ngài. Tôi nhớ cha tôi nói rằng ánh mặt trời hạnh phúc đã tỏa rạng trong ông khi lần đầu gặp mẹ tôi. Tôi đã tin tưởng rằng bà không chỉ chăm sóc cho Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche mà còn không ngừng khích lệ Ngài làm nhiều điều lợi lạc cho chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Như rất nhiều người trong số các bạn biết rằng, thân mẫu tôi gần như đã dành cả cuộc đời mình để nhập thất nghiêm mật. Bà đảm nhiệm vai trò tiên phong trong quá trình công nhận các hóa thân của nhiều vị Lama. Những giấc mơ của bà đều nhìn thấu thế giới vô hình và là đều là lời tiên đoán. Trước bất cứ thảm họa nào xảy ra với gia đình và những người xung quanh, bà đều nhìn thấy trước và đưa ra những phương pháp ứng phó kịp thời</p>
<p style="text-align: justify;">Hiện tại, Bà đang ở trong Thuk-dam, như chúng ta biết, theo truyền thống về một vị chứng ngộ cao cấp đạt Pháp thân. Lợi lạc của việc thiền định sâu chính là biểu hiện của hành nguyện Bồ tát, tẩy trừ đi tất cả hiểm nguy, thiên tai,đau khổ như chiến tranh, bệnh tật, nạn đói và động đất. Cũng như từ trạng thái thiền, họ trao sức mạnh cho chúng ta thông qua thực hành và làm cho việc tịnh hóa của chúng ta đến mức tối đa.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng tôi đã thực sự may mắn vì Bà thọ đến 89 tuổi. Nhìn chung theo truyền thống, người ta biết rằng khi một vị Terton từ giã thân người ra đi thì vị phối ngẫu Dakini của Ngài sẽ theo cùng. Bà đã có nhiều linh kiến và tình huống mà các Dakini mời Bà rời khỏi cơ thể của mình để đến với các cõi Phật của họ, nhưng Bà từ chối, nói rằng bà vẫn muốn được ở bên các con. Một lần nữa tôi cảm ơn Bà vì đã ở lại bên chúng tôi lâu. Tôi không có bất cứ nghi ngờ nào về việc Bà có đầy đủ năng lực để rời khỏi cơ thể mình bất cứ khi nào Bà muốn.</p>
<p style="text-align: justify;">Bây giờ lời cầu nguyện mãnh liệt của tôi là Bà sẽ nhanh chóng tái sinh trở lại và chúng ta lại sẽ lần nữa có may mắn ở trong sự hiện diện của Bà. Cầu nguyện cho sự tái sinh của Bà thoát khỏi mọi chướng ngại và cầu nguyện rằng bà sớm trở lại ban phước lành cho chúng ta. Tôi cũng muốn cảm ơn tất cả các môn đồ, bạn bè , và những người hảo tâm đã chia với chúng tôi. Chúng tôi hoan hỉ vì sự giác ngộ của Đức Sangyum Rigzin Wangmo và cầu nguyện rằng hiện thân trí tuệ của Đức Sangyum Rigzin Wangmo nhanh chóng trở lại để tiếp tục ban rãivà hướng dẫn giáo Pháp cho chúng ta trên con đường Đạo.</p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"><a style="color: #000000;" href="http://www.tersar.org/about-sangyum-rikzin-wangmo/">http://www.tersar.org/about-sangyum-rikzin-wangmo/</a></span></p>
<p style="text-align: justify;">Việt ngữ: Tara Devi (Nhóm Viet Rigpa Lotsawas)</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính: Giác Nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Trong đời này chúng con đã có cơ hội diện kiến </em><em>Đức Dudjom Yangsi Rinpoche, nhưng từ những dòng cam lồ về đại dương Giáo Pháp của Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche tiền thân đã để lại cho chúng con nhiều cảm xúc và sự chuyển hóa. Chúng con hoàn thành bản dịch chia sẻ của Đức Dungse Shenphen Dawa Norbu Rinpoche  về mẹ Ngài, Đức Sangyum Rigzin Wangmo </em><em>trong ngày Dakini (25/4/1016 Lịch Tạng). Chúng con cầu mong nhờ chút công đức nhỏ nhoi này những hóa thân trí tuệ của Đức </em><em>Sangyum Rigzin Wangmo sẽ hiện diện tại Việt nam và cầu mong cho giáo lý Dudjom Tersar sẽ nở rộ khắp Việt nam quê hương chúng con. </em></p>
<p style="text-align: justify;"><em> </em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/nu-dao-su-sangyum-rigzin-wangmo-hien-than-cua-duc-tara-trang-va-dakini-yeshe-tsogyal/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tánh giác và những biểu lộ của nó</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tanh-giac-va-nhung-bieu-lo-cua-no/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tanh-giac-va-nhung-bieu-lo-cua-no/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 09 May 2016 23:29:48 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Dujom Tesar]]></category>
		<category><![CDATA[Dujom Tesar Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Dujom Tesar]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6746</guid>
		<description><![CDATA[Ảnh Đức Dudjom Rinpoche By Dudjom Lingpa Rinpoche Vào dịp khác , trong kinh nghiệm thiền định về sự sáng tỏ toàn triệt . Tôi gặp Manjushri Vadisimha ( Văn Thù Sư Lợi – Sư Tử của Ngữ ) và hỏi ngài như sau : “ Hỡi bậc Thầy, bậc che chở thế giới . Con đã đến quyết định căn&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tanh-giac-va-nhung-bieu-lo-cua-no/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;">Ảnh Đức Dudjom Rinpoche</p>
<p><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/20TJWRDjLingpa_82201401.jpg"><img class=" wp-image-6748 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/20TJWRDjLingpa_82201401-300x289.jpg" alt="OLYMPUS DIGITAL CAMERA" width="460" height="443" /></a></p>
<p style="text-align: center;">By Dudjom Lingpa Rinpoche</p>
<p style="text-align: justify;">Vào dịp khác , trong kinh nghiệm thiền định về sự sáng tỏ toàn triệt . Tôi gặp <em>Manjushri Vadisimha ( Văn Thù Sư Lợi – Sư Tử của Ngữ ) </em>và hỏi ngài như sau :</p>
<p style="text-align: justify;">“ Hỡi bậc Thầy, bậc che chở thế giới . Con đã đến quyết định căn bản này đúng như là: Mọi hiện tượng hình tướng của thế giới như đồ chứa đựng. Và những vật được chứa không gì khác hơn là những xuất hiện hình tướng vốn tự biểu lộ . Nhưng xin ngài chỉ cho con những tên riêng và những cõi tịnh của tất cả chư Phật . Có thể hay không thể được xem như những đối tượng độc lập và sự độc lập đó như thế nào ” . Theo sự cầu xin , vị thầy ban cho sự trả lời sau đây :</p>
<p style="text-align: justify;">“ Hãy nghe , hỡi người đại căn.  Những phẩm tính hiện diện tự nhiên quý báu là: <em>Ánh sáng tĩnh lặng bên trong của phương diện nền tảng của Pháp thân và Phật tánh.</em> Như căn cứ những cõi tịnh của chư Phật . Những bổn tôn nam nữ và vô số cung điện , tự biểu hiện toàn thiện như những thuộc tính tự nhiên nền tảng của hiện thể . <em>Đây là nguyên lý của trí huệ siêu việt ( Bát nhã ba la mật ) .</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Sự trình bày của chúng như : Những sự vật có thể khác với nền tảng nguyên lý của phương diện thiện xảo . Sự toàn thiện của những phẩm tính trong bản thân nền tảng của hiện thể là chân lý tối hậu . Sự diễn giải những phẩm tính ấy trở thành hiện hữu như những sự vật trong thế giới ở cấp độ của chân lý tương đối .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Lại nữa , nghĩa rốt ráo về phô diễn của những thân và trí huệ nguyên sơ là : <em>Sự hiện diện tự nhiên của bản thân nền tảng của hiện thể . </em>Nghĩa tạm thời bao gồm : <em>Những giải thích về các cõi tịnh của chư Phật . Danh hiệu của những Bổn tôn nam và nữ . . . khác với nền  tảng .</em> Có nghĩa : <em>Như những thực thể có bản chất với các tướng nhất định .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Sau đây là giải thích về thực tại tối hậu ở cấp độ tương đối . Phù hợp với những phương thức của kinh nghiệm sinh tử . <em>Hãy xem xét cách các bậc chiến thắng bao gồm trong năm thân .</em>Trong thật tánh tối thượng , mọi hiện tượng của những hình tướng xuất hiện có thể có của Sinh tử và Niết bàn đều : <em>Hiện diện vốn có như thuộc tính tự nhiên . Không thi thiết trong tánh Không tối thượng . Nền tảng hiện thể như :</em> <em>Hư không căn bản được gọi là “ Pháp ” ( Dharma ) . </em>Do vô số tính cách và mức độ căn cơ . Tất nhiên sẽ có vô số lối vào con đường tâm linh . Vô số kinh nghiệm thiền định và vô số mục tiêu hiện hữu vốn có như những thuộc tính tự nhiên . Được gọi là <em>“ Thân ” ( Kaya ) . </em>Sự phô diễn hiện tại tự phát của những thân và trí huệ nguyên sơ vốn toàn thiện như là : Những thuộc tính tự nhiên được thọ hưởng . <em>Được gọi là “ Báo thân ” .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Với ý định hữu thức phóng ra . Tất cả những thân lưu xuất vẫn không lìa khỏi bản tánh .  <em>Tuy nhiên , lưu xuất hóa thân của những bậc thầy giác ngộ . Những nhà nghệ thuật . Những vị thầy tái sanh và vật vô tri được biểu lộ . Không gì khác hơn nền tảng của bản thân hiện thể .</em> Bốn phương thức lưu xuất biểu lộ liên hệ duyên sanh . Đồng bộ với thức quan niệm ra một cái <em>“ Tôi ”</em>như thau nước có thể phản chiếu , và những phẩm tính hư không căn bản của Phật tánh như những tinh tú trên trời .</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Thực ra , thế giới không nằm ngoài sự phô diễn của ba thân .  Thuật ngữ “ Pháp thân ” ám chỉ phương diện bản tánh tinh túy như là tánh Không . “ Báo thân ” là phương diện bản tánh vốn sẵn hiện diện tự nhiên . “ Hóa thân ” là phương diện biểu lộ riêng biệt của những hiện tượng hình tướng bề ngoài .</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Hơn nữa , thuật ngữ “ Tự tánh thân ” hàm ý chính nền tảng hiện thể là bản tánh tinh túy của tất cả Sinh tử và Niết bàn . Và tất cả mọi sự đều đồng một vị trong cùng bản tánh của tinh túy đó . Thuật  ngữ “ Thân ” hàm ý gom tụ mọi phương diện của trí huệ nguyên sơ và những phẩm tính tốt đẹp .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Không có sự đổi dời nào trong ba thời . Vì bản tánh tinh túy của hiện thể là bất biến <em>nên không thể biến đổi thành cái khác .</em> Vì không thể tổn hại hay không bị bất cứ cái gì làm tổn thương <em>nên gọi là bất diệt </em>. Vì không hủy diệt bởi chính nó hay do cái gì khác <em>nên gọi là chân thực . </em>Vì an trụ như là nền tảng chung của tất cả Sinh tử và Niết bàn <em>nên không thể hư hỏng . </em>Vì những yếu tố tốt và xấu không làm nhiễm ô nên bền vững và thoát ngoài mọi chao đảo <em>nên hoàn toàn vô ngại</em> . Vì xuyên thấu bất kỳ cái gì kể cả những che chướng vi tế cái biết <em>(Sở tri chướng )</em> và không có đối tượng hay bất cứ duyên nào vượt thắng <em>nên gọi là vô địch .</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Như vậy ,<br />
Bản tánh Kim cương bất hoại có bốn sự bảo đảm :</em></p>
<p style="text-align: justify;">1-Trừ người có đạo tâm với nghiệp thích hợp và phước đức ,<br />
Không chúng sanh nào chứng ngộ được .</p>
<p style="text-align: justify;">2-Khi được chứng ngộ và đưa vào thực hành ,<br />
Không thể không có sự tin cậy kiên cố .</p>
<p style="text-align: justify;">3-Khi đã có sự tin cậy,<br />
Không thể nào không có giải thoát .</p>
<p style="text-align: justify;">4- Tất cả những ai đã tìm ra sự giải thoát ;<br />
Không thể nào không giác ngộ Phật quả .</p>
<p style="text-align: justify;">Sự hiện diện vốn sẵn của năm thân như :<em> Những thuộc tính tự nhiên bản thân của nền tảng hiện thể là chân lý tối hậu . Sự diễn giải tách biệt với nền tảng ở cấp độ của cái gọi là : “ Chân lý tương đối ” và “ Con đường của phương tiện thiện xảo ” . </em>Sau đây là căn cứ diễn tả những Bổn tôn theo những gia đình hay bộ . Tương đương với những loại chúng sinh bám chấp . Bản thân nền tảng hiện thể thanh tịnh đến độ . Những sự méo mó của những khuôn khổ do thói quen . <em>Được xóa sạch trong hư không căn bản .</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Thuật ngữ</em> <em>“ Xóa sạch ”</em> (<em> Sang)</em> <em>được sử dụng ,<br />
Vì trí huệ bổn nguyên và những phẩm tính tốt đẹp thường hiện bày .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Thuật ngữ “ Hiện bày ” ( Gyay ) được dùng ;<br />
Do có Phật bộ ( Sang-gyay ) .</p>
<p style="text-align: justify;">Vì hiện thể chúng sinh ;<br />
Có bảy thuộc tính Kim cương bất khả hoại ;<br />
Nên có Kim Cương bộ .</p>
<p style="text-align: justify;">Vì tác dụng như nguồn của tất cả các thân ;<br />
Và các phương diện của trí huệ nguyên sơ ,<br />
Nên có Bảo Sanh bộ .</p>
<p style="text-align: justify;">Vì không bị nhiễm ô bởi bất kỳ tỳ vết khuyết điểm nào ,<br />
Nên có Liên Hoa bộ .<br />
Vì những hoạt động giác ngộ được thành tựu trọn vẹn ,<br />
Nên có Nghiệp bộ .</p>
<p style="text-align: justify;">Thuật ngữ “ bộ ” hay “ gia đình ” ;<br />
Diễn tả những nhóm họp tương ứng theo kiểu mẫu nói trên .</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đây là giải thích về năm cõi tịnh .<br />
Tương ứng với sự bám trụ vào lãnh thổ của chúng sinh :</p>
<p style="text-align: justify;">Từ sự dẫy đặc những phẩm tính tốt ;<br />
Hiện diện tự nhiên trong nền tảng hiện thể như là :<br />
<em>Hư không căn bản . Nên có cõi Phô Bày Dày Đặc ( Tugpo Kodpa ) .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Vì nền tảng của hiện thể được phú bẩm niềm vui tối thượng ;<br />
<em>Niềm vui này không do bất kỳ đối vật , điều kiện hay tác nhân nào mang tới .</em><br />
<em>Nên có cõi Niềm Vui Được Biểu Lộ ( Ngonpar Gawa ) .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Vì nó phú bẩm vinh quang đầy dẫy của trí huệ nguyên sơ ;<br />
Và những phẩm tính tốt ;<br />
<em>Nên có cõi Vinh Quang Phú Bẩm ( Paldang Danpa ) .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Vì được phú bẩm trí huệ nguyên sơ ;<br />
Của phúc lạc bất tận và tánh Không ;<br />
<em>Nên có cõi Cực Lạc ( Dewachan ) .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Vì có sự trọn vẹn rốt ráo toàn thiện<br />
Của mọi hoạt động tịnh hóa và tự do ;<br />
<em>Nên có cõi Hoạt động Trọn Vẹn ;<br />
Và Rốt Ráo Toàn Thiện ( Layrab Dzogpa ) .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Thuật ngữ <em>“ Trường ” ( Zhing )</em> <em>chỉ hư không căn bản ;</em><br />
Thuật ngữ <em>“ Cõi ” ( Kham )</em> không gì khác hơn là :<br />
<em>” Sự cấu thành nền tảng ”  của hiện thể .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Vì những phẩm tính tốt của nền tảng của hiện thể<em> không thể đo lường ;<br />
</em>Nên thuật ngữ  <em>“ Vô lượng ”</em> được dùng .</p>
<p style="text-align: justify;">Vì hoàn toàn lấp đầy toàn bộ <em>Sinh tử và Niết bàn ,<br />
</em>Nên thuật ngữ <em>“ lâu dài ” ( Khang ) được dung .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Khi ánh sáng vốn sẵn bên trong nền tảng hiện thể chúng snh ,<br />
Tỏa khắp như hư không căn bản hiển hiện rõ ràng .<br />
<em>Bởi trí huệ tối thượng toàn khắp và siêu việt ,<br />
Nên có Vairocana ( Tỳ Lô Giá Na ) .</em></p>
<p style="text-align: justify;">“ Sự biểu Lộ Rành Mạch ” ( Nampa Nangdzad) ;<br />
Của tất cả những trí huệ nguyên sơ ;<br />
Và mọi phẩm tính tốt của nền tảng hiện thể .<br />
<em>Có nghĩa của Phật tánh như là :<br />
</em>“ Sự cấu thành nền tảng ” của chúng sinh .</p>
<p style="text-align: justify;">Vì được phú bẩm bảy thuộc tính Kim cương bất hoại ;<br />
Thoát khỏi dao động trong ba thời .<br />
<em>Nên có Akshobhya ( A súc Bệ )  ;<br />
Và “ Kim Cương Không Lay Chuyển ” ( Mikyod Dorje ) .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Vì là cội nguồn thuộc mọi yếu tố của con đường và quả ,<br />
Được phú bẩm đầy dẫy phẩm tính tốt tuyệt hảo .<br />
<em>Nên có Ratnasambhava ;<br />
“ Nguồn Của Sự Quý Báu ” ( Rinchhen Jungdan ) .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Amitabha , ‘Sáng Tỏ Vô Cùng’ ( Nangwa T’hayay ) ,<br />
Ám chỉ phương diện vô cùng nền tảng của hiện thể chúng sinh .<br />
Biểu lộ như những hiện tượng hình tướng .<br />
Vì tất cả những đề mục của <em>thực tại hiện hữu theo cách tự hữu </em>,<br />
<em>Nên có Amogasiddhi “ Thành Tựu Của Nghĩa ” (  Donyod Drubpa ) .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Tánh Không Kim cương tối hậu là hư không ;<br />
Trong đó mọi hiện tượng Sinh tử và Niết bàn .<br />
<em>Biểu lộ trong phương diện đến và đi  ( Dro ),<br />
Nên có Vajradakini .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Ratnadakini là phương diện tính tự hữu ,<br />
Của tất cả trí huệ nguyên sơ và những phẩm tính tốt ;<br />
Tương tự một kho ngọc quý .<br />
Padmadakini biểu thị ;<br />
Phương diện thoát khỏi mọi bám luyến .<br />
Karmadakini chỉ ,<br />
<em>Mọi hoạt động thân hiện diện tự nhiên ;<br />
Và của trí huệ nguyên sơ là tự hữu không do cố ý nỗ lực .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Vì những méo mó do<br />
<em>Những phiền não ( Phiền não chướng ) và Vô minh ,<br />
Đối với cái ta có thể biết được ( Sở tri chướng ) .<br />
</em>Bị xóa sạch trong hư không căn bản và trí huệ nguyên sơ ;<br />
<em>Cùng những phẩm tính tốt hiển lộ ;<br />
Nên thuật ngữ “ Phật ” được dùng .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Và vì trong cõi hư không bao la ( Kha ) của tánh Không tối thượng ,<br />
Mọi hiện tượng hình tướng của Sinh tử và Niết bàn .<br />
Biểu lộ như những phương diện đến và đi ( Dro ) ,<br />
Thuật ngữ “ Dakini ” ( Khadro )  – “ Người đi trên không trung ” ;<br />
Hay “ Người nhảy múa trong không trung ” được dùng .</p>
<p style="text-align: justify;">Phương diện nền tảng của Pháp thân , Phật tánh trở nên hiển lộ rõ ràng như : <em>Nguyên lý thấm nhập khắp tất cả Sinh tử và Niết bàn .</em> Đây là phương diện nền tảng của trí huệ vốn sẵn như là tự do tối thượng đối với những giới hạn . Thế nên , tất cả thực hành Sadhana liên quan tới thực tại tối hậu bao gồm như sau :</p>
<p style="text-align: justify;">Đạt đến sự làm chủ bẩm sinh nhờ tin chắc sâu xa vào phương diện trí huệ vốn sẵn hay tánh giác vốn sẵn như là : <em>Bản tánh những nguyên lý tâm linh cao nhất đều hợp nhất , và nhận lấy bản tánh nền tảng của thực tại làm sự quy y tối hậu và vô thượng .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Trải qua vô số đời từ vô thủy , phạm vi trí năng của con bị hạn cuộc ngặt nghèo do quan niệm <em>“ Ngã ”</em> <em>là thật và bám chấp những đối tượng giác quan .</em> Bây giờ con phải đạt đến quyết định rằng : <em>Sinh tử và Niết bàn là ảo ảnh của trí huệ vốn sẵn và duy nhất .</em> <em>Thế nên , phạm vi  tâm thức bình thường của con sẽ lớn lên . Đây là sự thiêng liêng nhất trong mọi phương cách phát Bồ đề Tâm .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Tâm thức bình thường của những quan niệm nhị nguyên : <em>Đối tượng và chủ thể trở thành con quỷ lớn nhất của đời sống bị quy định khiến con người mãi lang thang trong vòng sinh tử .</em> Trí huệ phân biệt siêu việt xua đuổi nó vào <em>tánh Không . Không sở hữu bất cứ  vật gì ;</em> <em>sẽ làm hiển lộ trí huệ siêu việt thấu hiểu vô ngã và vô tự tánh</em> . Tạo thành vòng che chở của Bồ đề tâm không bị đánh bại hay bị hủy diệt .</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Làm trút xuống sự ban phước tối thượng của trí huệ hay tánh giác nguyên sơ vốn sẵn ; vào trong cõi tối tăm của sự không nhận biết trí huệ hay tánh giác vốn sẵn . Tạo thành giai đoạn thực sự của việc cầu ban phước . Với sự chứng ngộ</em> : <em>Những hiện tượng hình tướng sinh khởi là sự trang hoàng của trí huệ vốn sẵn .</em> <em>Như thế ,</em><em>sự phô bày tự xảy ra của những kinh nghiệm giác quan tạo thành hành động cúng dường .</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Sự chuyển di từ “ Địa ” của tất cả kinh nghiệm bình thường vào Pháp thân là</em> :<em>Phương diện “ Địa ” ban đầu của Phật quả . </em>Trí huệ siêu việt biết bản tánh nền tảng này đúng như nó là . Đồng thời tri giác những sự vật trong sự đa thù của chúng . <em>Như vậy sẽ bao gồm cái thức biết tất cả và giác ngộ toàn vẹn .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Hai phương diện của trí huệ siêu việt trở nên rõ ràng là : <em>Sự hợp nhất những bí mật của tất cả các bậc chiến thắng và con cháu thừa kế của các ngài .</em> Những cấp đầu tiên chứng ngộ con đường phương tiện thiện xảo là <em>: Chúng hội các vị giữ gìn giáo pháp</em> . Từ sự làm chủ <em>địa thứ tám</em> và các địa cao hơn của chứng ngộ là :<em>Chúng hội của những bồ tát ; và Phật quả thật sự .</em>Và là : <em>Chư Phật và những cõi tịnh độ</em> . Đó là con đường phương tiện thiện xảo giải thích : <em>“ Địa ”</em><em>của mọi kinh nghiệm bình thường .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Sự không nhận biết tánh giác vốn sẵn là : <em>Maheshavara</em> . Mọi khuôn khổ tư tưởng khởi lên từ là : <em>Những Hộ pháp của những giáo lý và tám loại Thiên long . </em>Với phương diện địa ban đầu của Pháp thân trở nên rõ ràng . Những phương diện của trí huệ nguyên sơ tối thượng và tự hữu sinh khởi là : <em>Năng lực được xếp thành phạm trù .</em> Như thế được làm thành con đường phương tiện . <em>Nên thực hành Sadhana thực sự sẽ làm rõ ràng </em>: <em>Trạng thái giác ngộ tối hậu của Phật quả . Tất cả những Sadhana và Mandala được xếp vào và thành tựu trong đó .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Giai đoạn triệu thỉnh là : <em>Làm rõ ràng bản tánh nền tảng .</em> Có nghĩa : <em>Làm chuyển di mọi hiện tượng ba cõi sinh tử đến sự phô diễn của thật tánh tối thượng và độc nhất .</em> <em>Thế nên , phải trụ vững trong địa một cách trực tiếp .</em> Thoát khỏi sự chuyển dời và biến đổi trong ba thời là : <em>Cầu xin sự ở lại ( thỉnh Phật trụ thế ) .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Hành vi đảnh lễ khi gặp <em>“ sự  thấy ”</em> mặt đối mặt là : <em>Hành vi hoàn thành cảm thức sửng sốt khi gặp khuôn mặt thật sự của chính con . </em>Vì phương diện địa ban đầu của Pháp thân là : <em>Cái thấy hùng vĩ nhất của những cái thấy .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Sự phô diễn của những hiện tượng trong thật tánh thực tại là :<br />
<em>Hành vi tối thượng của cúng dường .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Sự tán thán tối hậu là :<br />
<em>Cảm thức của ngạc nhiên thán phục ;<br />
Và tin chắc khi con thấy đúng như nó là :<br />
Bản tánh nền tảng của Sinh tử và Nết bàn là Đại Toàn Thiện</em></p>
<p style="text-align: justify;">Sự phô bày của Thân Giác Ngộ là :<br />
<em>Vô số hiện tượng hình tướng biểu lộ riêng biệt rõ ràng .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Sự phô diễn của Ngữ Giác Ngộ là :<br />
<em>Sự hoàn thiện và thành tựu trọn vẹn tự nhiên của chúng .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Sự phô diễn của Tâm Giác Ngộ là :<br />
<em>Bản thân hư không căn bản như tánh thanh tịnh bổn nguyên ,<br />
Không bị giới hạn của những tạo tác ý niệm .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Đó là những đặc tính của tánh giác hay trí huệ vốn sẵn như Đại Toàn Thiện . Những phẩm tính tốt tự phát khởi nhờ thấu suốt : <em>Sự phô diễn của các thân và tánh giác nguyên sơ . Không do tìm kiếm mà vốn đã hiện diện những phẩm tính thành tựu làm chủ đối với bốn loại hoạt động giác ngộ . </em>Tương tự , hãy hiểu : <em>Bốn quán đảnh đồng thời toàn thiện và trọn vẹn trong tự hữu của sắc tướng , ngữ , tâm trong những phẩm tính và những hoạt động giác ngộ .</em></p>
<p style="text-align: justify;">Hiểu và chứng ngộ trạng thái hoàn thiện toàn vẹn đúng như nó là . . . <em>Chính là Đại Toàn Thiện . </em>Trước đây con đã lang thang trong vòng luân hồi do thiếu cái hiểu như vậy . <em>Cho dù xưa nay vốn đã toàn thiện . Nhưng bị che tối do không nhận biết tánh giác vốn sẵn.</em> Giống như nước vốn tự do trôi chảy . Nhưng bị đóng thành băng hay như vàng và ngọc đã bị bỏ qua vì không nhận biết . Nên không dứt được cảnh đói nghèo .</p>
<p style="text-align: justify;">Rốt ráo , tánh giác hay trí huệ nguyên sơ và những phẩm tính của nền tảng của hiện thể, Phật tánh là toàn thiện và viên mãn như năng lực nguyên sơ của nền tảng . <em>Những diễn giải về điều này là những Mandala riêng biệt của những yếu tố nâng đỡ .</em> Được nâng đỡ là : <em>Những phương tiện thiện xảo đưa những người chưa được điều phục .</em> Cho những người gán sự vật có tính thường còn . Và con đường tương đối của nỗ lực đi đến hư không căn bản vốn không có nỗ lực . Thế nên , được trang bị bởi ba yếu tố then chốt :</p>
<p style="text-align: justify;"><em>1 - Quang minh .</em></p>
<p style="text-align: justify;">2 - Thanh tịnh .</p>
<p style="text-align: justify;">3 - Tánh Không .</p>
<p style="text-align: justify;">Từ đó người ta được đưa đến hư không căn bản của mục đích tối thượng ”</p>
<p style="text-align: justify;">Nói xong ngài biến mất .</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Dudjom Lingpa Rinpoche</strong></p>
<h4 style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Nguyễn An Cư</em></h4>
<p style="text-align: justify;"><em>NXB: Thiện Tri Thức 2004</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tanh-giac-va-nhung-bieu-lo-cua-no/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Đức Khenpo Tsewang Dongyal Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-khenpo-tsewang-dongyal-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-khenpo-tsewang-dongyal-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 17 Dec 2015 13:25:11 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Dujom Tesar]]></category>
		<category><![CDATA[Dujom Tesar Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Dujom Tesar]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6509</guid>
		<description><![CDATA[Đức Khenpo Tsewang Dongyal Rinpoche sinh ra tại vùng Dhoshul, thuộc tỉnh Kham miền Đông Tây Tạng vào ngày mùng 10 năm 1950. Vào ngày hè năm đó, trong túp lều nhỏ của gia đình, mẹ Ngài đã hạ sinh Ngài mà không hề cảm thấy đau đớn. Ngày hôm sau, khi di chuyển chiếc giường nơi đã hạ sinh&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-khenpo-tsewang-dongyal-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Đức Khenpo Tsewang Dongyal Rinpoche sinh ra tại vùng Dhoshul, thuộc tỉnh Kham miền Đông Tây Tạng vào ngày mùng 10 năm 1950. Vào ngày hè năm đó, trong túp lều nhỏ của gia đình, mẹ Ngài đã hạ sinh Ngài mà không hề cảm thấy đau đớn. Ngày hôm sau, khi di chuyển chiếc giường nơi đã hạ sinh Ngài, mẹ Ngài, bà Pema Lhadze tìm thấy một bông hoa tươi đẹp, tỏa hương thơm ngát. Bà đã hái bông hoa và đặt lên bàn thờ cúng dường Đức Chenrezig.</p>
<p style="text-align: justify;">Chẳng bao lâu sau khi Ngài được hạ sinh, ba vị Lama cao cấp từ Tu viện Jadchag đã đến nhà và công nhận Ngài là Hóa thân của Đức Khenpo Sherab Khyentse. Đức Khenpo Sherab Khyentse là một vị Lama cao cấp và là Tu viện trưởng Tu viện Gochen, là một vị học giả tôn kính và một hành giả đã dành phần lớn cuộc đời mình nhập thất miên mật.</p>
<p style="text-align: justify;">Vị Thầy dạy Pháp đầu tiên của Đức Khenpo Tsewang Dongyal Rinpoche chính là cha Ngài, Lama Chimed Namgyal Rinpoche. Năm lên 5 tuổi Ngài bắt đầu đi học và đã đến tu học tại Tu viện Gochen. Việc tu học của Ngài đã bị gián đoạn bởi sự xâm lược của Trung Hoa và việc gia đình Ngài trốn sang Ấn Độ. Tại Ấn Độ, cha và anh trai Ngài tiếp tục việc giáo dưỡng Ngài cho đến khi Ngài đến tu học tại Tu viện Nyingmapa thuộc miền Bắc Ấn Độ đến tận năm 1967.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó, Ngài đã đến tu học tại Học viện Nghiên cứu Tây Tạng, đây là một cơ sở của Đại học Sanskrit tại Varanasi. Tại đây, năm 1975 Ngài đã nhận bằng Thạc sĩ. Ngài cũng tham gia tu học tại Đại học Nyingmapa ở Tây Bengal. Tại đây, năm 1977 Ngài đã nhận bằng BA và MA.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/11230553_1440790016235664_1158584227_n.jpg"><img class="  wp-image-6510 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/11230553_1440790016235664_1158584227_n-300x300.jpg" alt="11230553_1440790016235664_1158584227_n" width="453" height="453" /></a></p>
<p style="text-align: center;">Đức Dudjom Rinpoche &amp; Đức Khenpo Tsewang Rinpoche</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1978, Đức Khenpo Tsewang Dongyal Rinpoche được Đức Dudjom Rinpoche tấn phong là Tu viện trưởng của Học viện Nyingmapa ở Boudhanath, Nepal. Sau này, Ngài trở thành Tu viện trưởng của Khoa nghiên cứu giáo pháp và đã giảng dạy thơ ca, ngữ pháp, triết học và tâm lý học. Năm 1981, Đức Dudjom Rinpoche đã ấn định Ngài là Tu viện trưởng của Trung tâm Dorje Nyingpo tại Paris, Pháp. Năm 1982, Ngài được yêu cầu làm việc cùng với Đức Dudjom Rinpoche tại Trung tâm Yeshe Nyingpo ở New York - Mỹ. Suốt thập kỉ 80, cho đến khi thị tịch của Đức Dudjom Rinpoche vào năm 1987, Đức Khenpo Tsewang Dongyal Rinpoche vẫn tiếp tục kết hợp chặt chẽ cùng với Đức Dudjom Rinpoche và thường đồng hành cùng Ngài với tư cách là biên dịch và thị giả.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1988, Đức Khenpo Tsewang Dongyal Rinpoche và anh trai Ngài đã sáng lập Trung tâm Phật Pháp Padmasambhava. Kể từ đó, Ngài đã trở thành vị hướng dẫn tâm linh tại các Trung tâm Padmasambhava khác nhau trên khắp thế giới. Ngài luôn duy trì kế hoạch giảng dạy và việc di chuyển cùng với anh trai Ngài là Đức Khenchen Palden Sherab Rinpoche.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Venerable-Khenpo-Tsewang-Dongyal-Rinpoche-and-Venerable-Khenchen-Palden-Sherab-Rinpoche.jpg"><img class="  wp-image-6511 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Venerable-Khenpo-Tsewang-Dongyal-Rinpoche-and-Venerable-Khenchen-Palden-Sherab-Rinpoche-300x216.jpg" alt="Venerable Khenpo Tsewang Dongyal Rinpoche and Venerable Khenchen Palden Sherab Rinpoche" width="580" height="417" /></a>              Đức Khenpo Tsewang Rinpoche &amp; Đức Khenchen Palden Sherab Rinpoche</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Khenpo Tsewang Rinpoche đã viết hai cuốn kệ về cuộc đời của Guru Rinpoche, gồm có Praise to the Lotus Born: A Verse Garland of Waves of Devotion - một cuốn hết sức độc đáo về lịch sử văn hóa và tôn giáo của Tây tạng với nhan đề The Six Sublime Pillars of the Nyingma School, nêu chi tiết về căn bản giáo Pháp ở Tây Tạng từ thế kỉ 6 đến thế kỉ 9. Hiện tại, đây là cuốn sách duy nhất chuyển tải các hoạt động giáo Pháp với mức độ thâm sâu của giai đoạn lịch sử bấy giờ.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Khenpo Tsewang Rinpoche cùng với anh trai Ngài là Đức Khenchen Palden Sherab Rinpoche đã viết rất nhiều sách về Phật Pháp bằng tiếng Anh, gồm có Ceaseless Echoes of the Great Silence: A Commentary on the Heart Sutra; Prajnaparamita: The Six Perfections; Door to Inconceivable Wisdom and Compassion; Lion’s Gaze: A Commentary on the Tsig Sum Nedek; và  Opening Our Primordial Nature, tất cả đều sẵn trực tuyến tại Chiso.</p>
<p style="text-align: justify;">http://www.padmasambhava.org/teach/longkhenpo.html</p>
<p style="text-align: justify;">Việt ngữ: Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính: Giác nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với</em> <em>Đ</em><em>ức </em><em>Khenpo Tsewang Rinpoche</em><em> đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này Ngài sớm quang lâm đến Việt nam</em></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-khenpo-tsewang-dongyal-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
