<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Nyingma</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-nyingema/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Fri, 17 Apr 2026 16:09:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Trong tấm gương của cái Chết &#8211; Tạng Thư Sống Chết</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/trong-tam-guong-cua-cai-chet-tang-thu-song-chet/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/trong-tam-guong-cua-cai-chet-tang-thu-song-chet/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 18 Apr 2023 01:38:48 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Tài liệu tham khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=12234</guid>
		<description><![CDATA[Kinh nghiệm đầu tiên của tôi về sự chết xảy đến vào lúc tôi khoảng chừng bảy tuổi. Chúng tôi đang chuẩn bị rời vùng cao nguyên miền đông để du hành đến vùng trung tâm của Tây Tạng. Samten, một trong những thị giả của thầy tôi, là một thầy tu kỳ diệu rất tử tế đối với tôi&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/trong-tam-guong-cua-cai-chet-tang-thu-song-chet/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Kinh nghiệm đầu tiên của tôi về sự chết xảy đến vào lúc tôi khoảng chừng bảy tuổi. Chúng tôi đang chuẩn bị rời vùng cao nguyên miền đông để du hành đến vùng trung tâm của Tây Tạng. Samten, một trong những thị giả của thầy tôi, là một thầy tu kỳ diệu rất tử tế đối với tôi lúc tôi còn bé. Ông có gương mặt sáng tròn mủm mĩm luôn sẵn sàng nở nụ cười. Ông được mọi người trong tu viện yêu mến vì tính tình ông thật tốt. Hàng ngày thầy tôi thường giảng dạy, làm phép quán đảnh, dẫn đầu những buổi lễ hay những thời khóa tu tập. Đến cuối ngày, tôi thường họp chúng bạn để đóng tuồng, diễn lại những công việc làm trong ngày, Thầy Samten luôn luôn cho tôi mượn tạm những bộ y phục mà thầy tôi đã mặc hồi sáng. Thầy chả bao giờ từ chối tôi việc gì.</p>
<p style="text-align: justify;">Rồi bỗng Samten ngã bệnh, và điều rõ rệt là thầy sẽ không sống được nữa. Chúng tôi phải trì hoãn cuộc hành trình. Tôi không bao giờ quên được hai tuần lễ kế tiếp. Mùi hôi thối của chết chóc đang lơ lửng như đám mây phủ trên mọi sự. Mỗi khi tôi nhớ về khoảng thời gian ấy, thì cái mùi đó lại trở lại trong tôi. Tu viện ngập tràn một ý thức mãnh liệt về cái chết. Tuy vậy, điều này tuyệt nhiên không có gì ghê gớm hãi hùng; vì với sự hiện diện của thầy tôi, cái chết của thầy Samten mang một ý nghĩa đặc biệt. Nó trở thành một bài học cho tất cả chúng tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Thầy Samten nằm trên chiếc gường cạnh cửa sổ trong một điện thờ nhỏ tại tư dinh của thầy tôi. Tôi biết thầy đang từ từ chết. Thỉnh thoảng tôi đi vào phòng, ngồi bên thầy. Thầy không nói được nữa, và tôi kinh ngạc trước sự đổi thay của gương mặt thầy, bây giờ đã xệ xuống trông thật hốc hác. Tôi nhận ra rằng thầy sắp từ giã chúng tôi, và chúng tôi sẽ không bao giờ còn gặp lại thầy. Tôi cảm thấy vô cùng buồn bã cô đơn.</p>
<p style="text-align: justify;">Samten không chết dễ dàng cho lắm. Hơi thở khó khăn nặng nhọc của thầy luôn ám ảnh chúng tôi, và chúng tôi có thể ngửi thấy cả cái mùi thân xác thầy đang tàn tạ. Tu viện hoàn toàn im lặng, không một tiếng động ngoại trừ tiếng hơi thở của thầy. Mọi sự đều tập trung vào thầy Samten. Nhưng, dù cơn hấp hối kéo dài của Samten thật đau đớn, chúng tôi vẫn thấy được rằng, tự trong thẳm sâu của con người thầy, đang có một niềm bình an và tin tưởng. Lúc đầu tôi không thể giải thích được điều này, nhưng rồi tôi hiểu tại sao. Đó là nhờ ở đức tin của thầy, công phu tu tập của thầy, và sự hiện diện của thầy chúng tôi. Mặc dù buồn bã, tôi cũng biết rằng khi có thầy tôi đó thì mọi sự sẽ yên ổn, vì thầy sẽ giúp cho thầy Samten đạt giải thoát. Về sau tôi được biết rằng, bất cứ hành giả mật tông nào cũng đều mơ ước được chết trước thầy mình, và có cái diễm phúc được thầy tiếp dẫn trong lúc chết.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong lúc thầy tôi bình tĩnh hướng dẫn thầy Samten trải qua cái chết, ngài chỉ cho thầy biết từng giai đoạn một của tiến trình chết mà thầy sẽ gặp. Tôi rất ngạc nhiên trước sự hiểu biết rõ ràng minh bạch của thầy tôi, trước vẻ tin tưởng và bình an nơi ngài. Khi có sự hiện diện của thầy tôi, người cả lo nhất cũng phải an tâm. Bây giờ Jamyang Khyentse đang chứng tỏ cho chúng tôi thấy đức vô úy ngài đối với sự chết. Không phải ngài coi thường nó: Ngài thường bảo chúng tôi rằng ngài sợ nó, và cảnh cáo chúng tôi đừng có ngây ngô tưởng chết là dễ. Nhưng cái gì đã khiến thầy tôi đối diện cái chết với thái độ nhẹ nhàng lãnh đạm, thực tiễn mà lại thoải mái lạ lùng như thế? Câu hỏi ấy đã thâm nhập trong đầu tôi, làm tôi đầy kinh ngạc.</p>
<p style="text-align: justify;">Cái chết của Samten đã làm tôi chấn động. Thế là mới bảy tuổi đầu, tôi đã thoáng thấy năng lực rộng lớn của truyền thống tôn giáo trong đó tôi dự phần, và tôi chợt hiểu được mục đích của sự tu hành. Nhờ tu hành, mà Samten đã chấp nhận được cái chết cũng như hiểu rõ rằng nỗi đau đớn có thể là một phần của quá trình thanh luyện rất tự nhiên và sâu xa. Nhờ tu hành, mà thầy tôi đã có một hiểu biết trọn vẹn về sự chết, và một kỹ thuật minh bạch để hướng dẫn người khác đi vào cõi chết.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi thầy Samten chết, chúng tôi khởi hành đi Lhasa, thủ đô Tây Tạng. Đấy là một cuộc hành trình gian nan suốt ba tháng trên lưng ngựa. Từ đấy chúng tôi tiếp tục cuộc hành hương đến những thánh tích ở trung ương và miền nam Tây Tạng, những di tích của các bậc thánh, vua chúa và học giả đã có công du nhập đạo Phật vào Tây Tạng từ thế kỷ thứ bảy trở đi. Thầy tôi là hiện thân của nhiều bậc thầy thuộc đủ mọi truyền thống, và vì thầy nổi tiếng như thế nên chúng tôi đi đến đâu cũng được đón tiếp rất rộn ràng.</p>
<p style="text-align: justify;">Đối với tôi, cuộc hành trình ấy rất hấp dẫn và đã để lại trong tôi nhiều hoài niệm tốt đẹp. Người Tây Tạng quen dậy sớm để sử dụng tối đa ánh sáng thiên nhiên. Chúng tôi đi ngủ vào lúc trời sập tối và thức dậy trước bình minh, và khi tia sáng đầu tiên vừa ló dạng thì những con trâu yaks chở hành lý đã bắt đầu di chuyển. Những lều trại được nhổ lên, căn lều của thầy tôi nhổ sau chót. Một thanh niên sẽ đi trước để chọn chỗ tốt cho việc cắm lều trại, nơi chúng tôi sẽ dừng khoảng giữa trưa để nghỉ ngơi đến hết ngày. Tôi thường thích cắm trại cạnh một con sông để nghe tiếng nước chảy, hoặc để ngồi trong lều mà nghe mưa tí tách trên mái.</p>
<p style="text-align: justify;">Đoàn người chúng tôi có tất cả khoảng chừng ba mươi căn lều. Suốt ngày tôi cỡi một con ngựa màu vàng bên cạnh thầy tôi. Trong khi chúng tôi cỡi ngựa, thầy tôi giảng dạy cho tôi, kể chuyện, niệm chú, và đặt ra một số phương pháp cho tôi thực hành giáo lý. Một ngày kia, khi chúng tôi tiến gần đến hồ thiêng Yamdrok và thoáng thấy bóng mặt nước ngời sáng như xà cừ của nó, thì một vị Lạt ma trong đoàn lữ hành, Lạt ma Tseten, bắt đầu chết.</p>
<p style="text-align: justify;">Cái chết của Tseten là một bài học sống động khác nữa đối với tôi. Ông là thầy của bà vợ tâm linh của thầy tôi, Khandro Tsering Chodron, hiện nay vẫn còn. Bà được xem như nữ hành giả mật tông xuất sắc nhất của Tây Tạng, một bậc thầy mai danh ẩn tích mà đối với tôi là một hiện thân của đức hy sinh tận tụy. Nội một sự hiện diện đầy trìu mến của bà cũng đủ dạy cho tôi rất nhiều. Lama Tseten là người có lòng nhân ái vô biên, Ông tuổi ngoại lục tuần, khổ người khá cao và tóc đã hoa râm. Ông tỏa ra một sự dễ thương không chút nào gắng gượng. Ông cũng là một thiền giả tu chứng cao, chỉ cần ở cạnh ông cũng đủ đem lại cho tôi một cảm giác thanh bình và trong sáng. Một đôi khi ông rầy la tôi, và tôi cũng khá sợ hãi; nhưng mặc dù thỉnh thoảng ông có hơi nghiêm khắc, ông vẫn luôn luôn đầy tính nhân hậu.</p>
<p style="text-align: justify;">Lama Tseten chết một cách phi phàm. Mặc dù có một tu viện gần đấy, ông không chịu đến, bảo rằng ông không muốn để lại cho người ta một cái xác phải thu dọn. Bởi thế chúng tôi dựng lều trại thành vòng tròn như thường lệ. Khandro săn sóc đều dưỡng cho Lama Tseten, thầy giáo đạo của bà. Chúng tôi là hai người duy nhất có mặt trong lều của ông, khi ông cất tiếng gọi. Ông thường gọi là Khandro là “a-mi” tiếng nói địa phương ông, có nghĩa là “con ta”.</p>
<p style="text-align: justify;">- Này con, hãy lại đây. Nó đang đến. Ta không còn gì để khuyên bảo con thêm nữa. Con rất tốt, ta lấy làm sung sướng vì con. Hãy phụng sự bậc thầy của con như bấy lâu con đã làm.</p>
<p style="text-align: justify;">Lập tức bà khởi sự chạy ra khỏi lều, nhưng ông đã nắm lấy tay áo bà lại.</p>
<p style="text-align: justify;">- Con đi đâu thế?</p>
<p style="text-align: justify;">Bà trả lời:</p>
<p style="text-align: justify;">- Con sẽ đi gọi Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Ông mỉm cười:</p>
<p style="text-align: justify;">- Chớ làm phiền ông ta, không cần thiết. Đối với bậc thầy, vốn không bao giờ có khoảng cách nào giữa chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Với những lời lẽ ấy, ông đưa mắt nhìn lên trời rồi chết. Khandro thoát được khỏi tay ông và chạy vội ra để gọi thầy tôi. Tôi ngồi yên bất động tại chỗ, kinh ngạc khi thấy một người nhìn thẳng mặt cái chết với thái độ bình thản như vậy. Lama Tseten đáng lẽ có thể nhờ thầy mình thân hành đến giúp - một điều mà bất cứ người nào khác đều mong mỏi – nhưng ông ta lại không cần. Bây giờ tôi đã hiểu tại sao: Tại vì ông đã trực nhận sự hiện diện của bậc thầy ở trong tâm mình. Jamyang Khyentse vẫn luôn luôn ở bên ông, trong đầu óc và trái tim của ông; ông không bao giờ cảm thấy có sự ngăn cách nào cả.</p>
<p style="text-align: justify;">Khandro đã đi mời thầy tôi, Jamyang Khyentse. Tôi không sao quên được cái lúc ông khom lưng để bước vào căn lều. Ông đưa mắt nhìn vào mặt của Lama Tseten rồi nhìn sâu vào đôi mắt, và khởi sự cười khúc khích. Ông thường gọi Lama Tseten là “La Ghen”, vị lạt ma già, một cách gọi âu yếm của ông. Ông bảo:</p>
<p style="text-align: justify;">- La Ghen, đừng có ở trong trạng thái đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Bây giờ tôi hiểu rằng, lúc đó thầy tôi đã thấy Lama Tseten đang nhập vào một thứ định trong đó hành giả tan hòa bản chất của tâm mình với không gian của chân lý.</p>
<p style="text-align: justify;">- Ông biết chứ, La-Ghen, nếu ông nhập định này, thì một đôi khi có vài chướng ngại vi tế có thể phát sinh. Nào, ta sẽ hướng dẫn ông.</p>
<p style="text-align: justify;">Sửng sốt, tôi ngắm nhìn những gì xảy ra kế tiếp, và nếu không phải chính mắt tôi trông thấy thì tôi sẽ không bao giờ tin được. Lama Tseten sống lại. Rồi thầy tôi ngồi một bên ông ta, hướng dẫn thần thức ông đi vào cõi chết. Có nhiều cách làm việc này, và cách mà thầy tôi đang sử dụng lúc đó kết thúc với ba lần thầy thốt lên âm “A”. Khi thầy tôi thốt tiếng “A” đầu tiên, chúng tôi có thể nghe Lama Tseten nói theo khá rõ. Lần thứ hai, giọng ông không rõ nữa, và lần thứ ba thì hoàn toàn im lặng: Ông đã chết.</p>
<p style="text-align: justify;">Cái chết của Samten đã dạy cho tôi mục đích của sự tu hành, cái chết của Lama Tseten cho tôi thấy rằng những hành giả thuộc tầm cỡ như ông lúc sinh thời vẫn ẩn giấu những khả năng kỳ diệu của mình, và đôi khi chỉ bày tỏ chúng một lần mà thôi, vào lúc chết. Mặc dù còn bé xíu, tôi cũng đã hiểu rằng có một sự khác nhau rõ rệt giữa cái chết của Samten và của Lama Tseten, đó là sự khác nhau giữa cái chết của một thầy tu tử tế có hành trì lúc sinh thời, và cái chết của một hành giả có nội chứng tâm linh sâu xa hơn nhiều. Samten chết một cái chết bình thường và chết trong đau đớn, nhưng với sự bình an của đức tin; còn cái chết của Lama Tseten là một sự thi triển thần thông của sự làm chủ tâm ý.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngay sau tang lễ Lama Tseten, chúng tôi di chuyển lên tu viện Yamdrok. Như lệ thường, tôi ngủ cạnh thầy tôi trong phòng ông, và tôi còn nhớ đêm ấy tôi đang ngắm những cái bóng của những ngọn đèn thắp bằng bơ nhảy múa trên vách tường. Trong lúc mọi người ngủ say, tôi đã nằm thức và khóc suốt đêm trường. Điều ấy tôi hiểu rằng cái chết là một sự thật, và cả tôi nữa cũng sẽ phải chết. Khi tôi nằm đấy suy nghĩ về sự chết và về cái chết của chính tôi, qua tất cả nỗi đau buồn đó, trong tôi một ý thức sâu xa dần dần ló dạng, đó là ý thức rằng “mình phải chấp nhận nó”. Và với ý thức ấy, tôi quyết định cống hiến cuộc đời mình cho sự tu tập tâm linh.</p>
<p style="text-align: justify;">Thế là tôi đã khởi sự giáp mặt cái chết và những hàm ẩn của nó khi tuổi còn rất nhỏ. Lúc ấy tôi không bao giờ tưởng tượng được rằng ta phải trải qua biết bao nhiêu là cái chết dồn dập, hết cái chết này tới cái chết khác. Cái chết mất nước Tây Tạng sau khi Trung quốc xâm chiếm. Cái chết lưu đày. Cái chết mất mọi thứ mà gia đình tôi và tôi đã sở hữu. Gia đình tôi, Lakar Tsang, đã từng là một trong những nhà giàu nhất xứ Tây Tạng. Từ thế kỷ thứ mười bốn, gia đình tôi đã nổi tiếng là một trong những thí chủ quan trọng nhất của Phật giáo, bằng cách hỗ trợ sự hoằng dương chánh pháp và giúp các bậc thầy vĩ đại trong những công trình của họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng cái chết tàn phá tôi hơn tất cả thì chưa xảy tới, đó là cái chết của thầy tôi, Jamyang Khyentse. Khi ngài mất, tôi cảm như nền móng cuộc đời tôi đã sụp đổ. Đấy là vào năm 1959, năm mà nước Tây Tạng sụp đổ. Đối với người Tây Tạng, cái chết của thầy tôi là một số ác liệt thứ hai, và đối với xứ Tây Tạng, cái chết ấy đánh dấu sự cáo chung của một thời đại.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Cái chết trong thế giới tân tiến</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Khi mới đến Tây phương lần đầu, tôi hoàn toàn kinh ngạc vì sự trái ngược giữa những thái độ đối với cái chết ở đây với những gì tôi đã quen thuộc từ bé. Mặc dù đã đạt đến nhiều thành quả kỹ thuật, xã hội tân tiến phương tây vẫn chưa có hiểu biết thực sự nào về cái chết hoặc những gì xảy ra trong khi chết hay sau khi chết.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi được biết rằng người ngày nay được dạy phải phủ nhận cái chết, xem nó không có ý nghĩa gì ngoài ra là sự hoàn toàn hủy diệt, tiêu vong. Điều đó có nghĩa rằng phần đông người trên thế giới ngày nay hoặc sống trong sự phủ nhận cái chết hoặc sợ hãi nó. Ngay cả việc nói về cái chết cũng được xem là điềm gở, nhiều người tin rằng nhắc đến cái chết thì cũng gần như là mong nó xảy đến cho mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhiều người khác nhìn cái chết với một sự vui vẻ ngây ngô thiếu suy nghĩ, tưởng chừng như vì một lý do bí ẩn nào đó, cái chết sẽ đến với họ một cách êm thấm, không có gì phải lo ngại. Khi nghĩ đến những người này, tôi nhớ lời một bậc thầy của Tây Tạng nói:</p>
<p style="text-align: justify;">- Người ta thường khinh suất về sự chết và cứ nghĩ: “Ôi! Hơi đâu mà lo cho mệt, ai rồi cũng phải chết, chuyện đó tự nhiên quá mà. Tôi thì khỏi lo.” Nhưng đấy chỉ là lý thuyết, đến khi sắp chết mới biết không phải là chuyện đơn giản.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong hai thái độ nói trên về cái chết, thì một thái độ xem chết như chuyện gở cần né tránh, một xem chết là một điều sẽ xảy đến tự nhiên không cần lo nghĩ. Nhưng cả hai đều hoàn toàn cách xa sự am hiểu ý nghĩa đích thực của cái chết.</p>
<p style="text-align: justify;">Mọi truyền thống tôn giáo lớn nhất của nhân loại, dĩ nhiên trong đó có Ki tô giáo, đều nói rõ cho ta biết rằng chết không phải là hết. Các tôn giáo ấy đều nói đến một viễn cảnh về đời sắp đến, khiến cho cuộc đời hiện tại ta đang sống mang đầy ý nghĩa thiêng liêng. Nhưng mặc dù có những giáo lý như vậy, phần lớn xã hội tân tiến vẫn là một sa mạc tâm linh ở đấy đa số người tưởng chừng như cuộc đời này là tất cả. Vì thiếu một đức tin chân chính về đời sau, họ sống mà không có một mục đích tối hậu nào cả.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi đã nhận ra rằng thái độ chối bỏ cái chết có những hậu quả khốc hại vượt ngoài phạm vi cá nhân, nó ảnh hưởng tới hoàn thể hành tinh này. Vì tin tưởng chỉ có cuộc đời này mà thôi, không có đời nào khác, cho nên người thời nay không phát triển một tri kiến sâu xa nhắm đến trường kỳ. Do đó không có gì để ngăn cản họ khỏi cướp bóc quả địa cầu vì những mục tiêu cấp thời, hoặc ngăn họ sống một cách ích kỷ gây tai họa cho tương lai. Chúng ta còn cần bao nhiêu lời cảnh cáo khác nữa, giống như lời sau đây của ông Bộ trưởng xứ Brazil về Môi sinh, người chịu trách nhiệm bảo vệ rừng Amazone.</p>
<p style="text-align: justify;">- Xã hội kỹ nghệ tân tiến quả là một thứ tôn giáo cuồng tín. Chúng ta đang phá hoại, làm nhiễm độc, hủy diệt tất cả mầm sống trên hành tinh này. Chúng ta đang ký những giấy nợ mà con cháu chúng ta sẽ không thể trả... Chúng ta đang làm như thể mình là thế hệ cuối cùng trên hành tinh này. Nếu không có một biến cải tận gốc về tâm, trí và lối nhìn, thì trái đất sẽ kết thúc như Vénus, cháy thành than và chết.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự sợ chết và không biết đến đời sau quả đang cung cấp nhiên liệu cho sự thiêu hủy sinh môi đe dọa tất cả đời sống chúng ta. Vậy có phải là sự thể càng phiền phức hơn nếu người ta không được học tập về chết là gì, hoặc làm thế nào để chết? Nếu người ta không được thấy vài hy vọng vào những gì nằm sau cái chết, và bởi thế, biết được những gì thực sự nằm sau sự sống? Có gì mỉa mai hơn, khi giới trẻ được học đầy đủ mọi môn ngoại trừ môn học duy nhất chứa đựng chìa khóa mở ra toàn thể ý nghĩa cuộc đời, và có thể là mở đến chính sự sinh tồn của chúng ta?</p>
<p style="text-align: justify;">- Bạn có tin có đời sau không?</p>
<p style="text-align: justify;">Không phải hỏi họ có tin ở một lý thuyết triết học về đời sau không, mà hỏi họ có cảm thức niềm tin ấy một cách sâu xa trong tim họ không. Bậc thầy biết rằng nếu người ta tin có đời sau, thì toàn bộ nhân sinh quan của họ sẽ khác, họ sẽ ý thức rõ về trách nhiệm cá nhân và về đạo đức. Những gì các bậc thầy phải hoài nghi là, với những người không tin có đời sau, thì có nguy cơ là họ sẽ kiến tạo một xã hội chỉ nhắm đến những kết quả đoản kỳ, không cần suy nghĩ nhiều về hậu quả hành động. Phải chăng điều này có thể là lý do chính tại sao chúng ta đã tạo nên một thế giới tàn bạo như hiện nay, một thế giới ít có lòng bi mẫn thực sự?</p>
<p style="text-align: justify;">Đôi khi tôi nghĩ rằng những nước giàu mạnh nhất của thế giới đã phát triển thật giống như những cõi trời mô tả trong kinh. Trong kinh mô tả loài chư thiên sống cực kỳ xa hoa, hưởng đủ mọi lạc thú, không lo lắng gì về chiều hướng tâm linh của cuộc đời. Mọi sự xảy ra thật tốt đẹp cho đến khi cái chết đến gần, với những suy tưởng bất ngờ xuất hiện. Khi ấy những bà vợ và tình nhân của họ không dám đến gần họ, chỉ đứng từ xa mà tung hoa tới, với lời cầu nguyện chiếu lệ rằng mong cho họ được sanh làm trời trở lại. Không một hoài niệm nào về những hạnh phúc hay tiện nghi đã qua có thể làm nơi trú ẩn cho họ khỏi cái khổ trước mắt, trái lại càng làm cho nó bi đát hơn. Cứ thế những vị trời bị bỏ rơi cho chết trong cô đơn khốn khổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Số phận những vị trời ấy làm tôi nhớ đến cách người ta đối xử với những người lớn tuổi, người bệnh và người sắp chết hiện nay. Xã hội chúng ta bị ám ảnh bởi tuổi trẻ, dục tính, quyền lực, và chúng ta tránh né tuổi già, tránh né sự tàn tạ. Có phải thật kinh khủng, khi ta bỏ rơi người già vì cuộc đời hoạt động của họ đã chấm dứt, họ không còn ích lợi nữa? Có phải thật ray rứt khi ta tống họ vào nhà dưỡng lão, ở đấy họ phải chết trong cô độc, bị ruồng bỏ?</p>
<p style="text-align: justify;">Phải chăng cũng đã đến lúc ta phải nhìn lại cách ta đối xử với những người mắc bệnh nan y như ung thư và AIDS? Tôi biết một số người đã chết vì bệnh AIDS, và đã thấy họ thường bị cả đến bạn bè cũng xem họ như những tiện dân. Dấu ấn gắn liền với cơn bệnh đã đưa họ tới chỗ tuyệt vọng, làm cho họ cảm thấy đời mình thật ghê tởm, và dưới mắt người khác thì đời họ coi như đã chấm dứt.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngay cả khi một người ta quen biết hay thương mến sắp chết, nhiều người cũng không biết phải làm sao để giúp đỡ họ; và khi họ chết, không ai khuyến khích ta nên có một ý niệm gì về tương lai của người chết, họ sẽ ra sao, làm sao ta có thể tiếp tục giúp đỡ họ. Quả thế, mọi ý nghĩ tương tự đều dễ bị xua đuổi xem là lố bịch, vô nghĩa.</p>
<p style="text-align: justify;">Tất cả điều này cho ta thấy rõ rằng, hơn bao giờ hết, chúng ta đang cần một sự thay đổi căn để trong thái độ đối với cái chết và người sắp chết.</p>
<p style="text-align: justify;">May thay, những thái độ đã bắt đầu thay đổi. Phong trào Tiếp dẫn đường chẳng hạn, đang làm những công việc kỳ diệu là đem lại sự săn sóc thuộc phạm vi thực tiễn và tình cảm. Tuy nhiên, sự săn sóc thực tiễn và tình cảm chưa đủ; dĩ nhiên người hấp hối cần được săn sóc yêu mến, song họ còn cần một cái gì sâu sắc hơn nữa. Họ cần khám phá một ý nghĩa thực thụ cho cái chết và sự sống. Không thế thì làm sao chúng ta có thể đem lại cho họ niềm an lạc tối hậu? Bởi vậy, giúp đỡ người hấp hối còn cần đến khả năng tâm linh, vì chỉ nhờ có kiến thức về tâm linh mà chúng ta mới có thể thực sự hiểu và đối mặt với cái chết.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi lấy làm phấn chấn tinh thần khi những năm gần đây, toàn bộ vấn đề chết và hấp hối đã được mở ra ở Tây phương nhờ những nhà tiên phong như Elizabeth Kubler-Ross và Raymond Moody. Khi nhìn kỹ cách thức chúng tôi săn sóc người sắp chết, Elizabeth Kubler Ross đã chứng minh rằng, với một tình yêu vô điều kiện, và một thái độ có tuệ giác, thì cơn hấp hối có thể trở thành một kinh nghiệm an lành, chuyển hóa. Những nghiên cứu khoa học về nhiều phương diện khác nhau của kinh nghiệm cận-tử (khi gần chết) ra đời tiếp theo tác phẩm của Raymond Moody đã cho nhân loại thấy một hy vọng mãnh liệt sinh động rằng cuộc đời không phải chấm dứt với cái chết, và quả thực còn có một đời ở sau cuộc đời.</p>
<p style="text-align: justify;">Rủi thay, có vài người không thực hiểu ý nghĩa trọn vẹn của những khám phá ấy về sự chết. Họ đi đến cực đoan thi vị hóa cái chết, và tôi đã nghe những trường hợp bi đát về những thanh niên đã tự sát bởi vì họ tin rằng chết là tốt đẹp và là một lối thoát khỏi những đau buồn trong đời họ. Nhưng cả hai thái độ, sợ chết và ưa chết, đều là một kiểu trốn tránh. Chết không đáng buồn cũng không đáng vui, đó chỉ là một sự kiện hiển nhiên của cuộc đời.</p>
<p style="text-align: justify;">Thật đáng buồn, là phần đông chúng ta chỉ bắt đầu thưởng thức được hương vị đời sống khi chúng ta sắp sửa chết. Tôi thường nghĩ về lời nói của bậc đạo sư Padmasambhava (Liên Hoa Sanh):</p>
<p style="text-align: justify;">- Những người tin rằng họ còn có nhiều thời gian chỉ chuẩn bị lúc cái chết đến. Khi ấy thì họ ân hận vô cùng. Nhưng có phải là đã quá muộn hay không?</p>
<p style="text-align: justify;">Về thế giới hiện nay, có lời bình luận nào rùng rợn hơn nhận xét rằng đa số người chết mà không chuẩn bị cho cái chết, cũng như họ đã sống mà không chuẩn bị cho đời sống?</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Cuộc hành trình qua sống chết</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Theo sự minh triết của Phật, thì chúng ta có thể thực sự dành cả đời mình để chuẩn bị cho cái chết. Chúng ta không cần chờ đến khi có người thân đang chết một cách khó nhọc, hoặc khi gặp bạo bệnh bất ngờ, mới miễn cưỡng nhìn lại đời mình. Chúng ta cũng không buộc phải đi tay không vào lúc chết để gặp cái điều xa lạ mình chưa biết. Ta có thể khởi sự ngay tại đây và bây giờ, tìm ra ý nghĩa cho đời mình. Ta có thể biến mọi lúc thành một cơ hội để cho ta thay đổi và chuẩn bị - một cách nhiệt tình, minh bạch, và an tâm – cho cái chết và vĩnh cửu.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo đạo Phật, sống và chết được xem như một toàn thể, ở đây chết chỉ là khởi đầu của một chương mới. Chết như một tấm gương trong đó phản chiếu tất cả ý nghĩa cuộc đời.</p>
<p style="text-align: justify;">Quan điểm ấy là cốt tủy trong những giáo lý thuộc trường phái cổ xưa nhất của Phật giáo Tây Tạng. Nhiều độc giả có lẽ đã nghe nói về quyển Tử thư của Tây Tạng. Điều tôi định làm trong tác phẩm này là giải thích và khai triển cuốn Tử thư ấy, để bao gồm không những cái chết mà cả đến sự sống nữa, bổ túc chi tiết toàn thể nền giáo lý trong đó Tử thư chỉ là một phần. Trong nền giáo lý vi diệu này, chúng ta tìm thấy toàn bộ sự sống chết được trình bày song hành như một chuỗi dài những thực tại thoáng chốc luôn luôn biến chuyển được biết dưới danh từ Bardos, sự mờ mịt, danh từ này thông thường dùng để mô tả trạng thái trung gian giữa chết và tái sanh, nhưng kỳ thực, Bardo đang xảy ra liên tục suốt cả trong đời sống lẫn trong cái chết, và là những giao thời cao điểm mà nếu biết vận dụng, nó có thể đưa đến giác ngộ giải thoát.</p>
<p style="text-align: justify;">Những Bardos là cơ hội ngàn năm một thuở để giải thoát bởi vì, theo giáo lý, có một vài thời điểm có mãnh lực hơn những lúc khác rất nhiều, đầy tiềm năng hơn, vào lúc ấy bất cứ gì ta làm đều có một ảnh hưởng quan trọng sâu xa. Tôi nghĩ Bardo giống như lúc mà bạn bước qua lề của một vực thẳm; chẳng hạn như lúc bậc thầy khai thị cho đệ tử thấy bản lai diện mục của y. Nhưng một trong những thời điểm lớn lao nhất, đầy tiềm năng nhất, đó là lúc chết.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo Phật giáo Tây Tạng, ta có thể chia toàn thể hiện hữu của mình thành bốn thực tại liên tục nối tiếp nhau:</p>
<p style="text-align: justify;">1- Đời sống,</p>
<p style="text-align: justify;">2- Hấp hối và chết,</p>
<p style="text-align: justify;">3- Sau khi chết, và</p>
<p style="text-align: justify;">4- Tái sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Bốn giai đọan này được gọi là bốn Bardo:</p>
<p style="text-align: justify;">· Thứ nhất là Bardo tự nhiên của đời này,</p>
<p style="text-align: justify;">· Thứ hai là Bardo đau đớn của sự chết,</p>
<p style="text-align: justify;">· Thứ ba là Bardo chiếu sáng của dharmatta hay pháp giới tánh.</p>
<p style="text-align: justify;">· Thứ tư là Bardo nghiệp lực đưa đến tái sinh, trở thành.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì giáo lý về Bardo có tính chất lớn lao bao trùm toàn diện như thế, nên sách này đã được cấu trúc khá kỹ lưỡng. Bạn đọc sẽ được hướng dẫn từ giai đoạn này đến giai đoạn khác trong quá trình khai mở tri kiến về cuộc hành trình sinh tử. Cuộc thám hiểm của chúng ta đương nhiên phải khởi sự bằng một sự suy nghiệm chân xác để biết chết nghĩa là gì, và nhiều mặt khác nhau của sự thật về vô thường. Đó là loại tư duy có thể giúp ta tận dụng đời sống này trong khi chúng ta còn có thời gian, để bảo đảm khi chết sẽ không còn gì ân hận hay tự trách đã uổng phí một đời. Như Milarepa bậc thánh thi sĩ nổi tiếng của Tây Tạng đã nói:</p>
<p style="text-align: justify;">- Tôn giáo của tôi là sống và chết làm sao để khỏi ân hận.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi quán chiếu sâu xa về thông điệp của vô thường – cái gì quả thực đang nằm bên kia vô thường và sự chết – chúng ta đi thẳng tới trong tâm của giáo lý cổ xưa và đầy quyền năng của Tây Tạng, đó là bản chất tinh túy của tâm, hay tự tánh của tâm. Sự trực nhận bản chất của tâm (trực ngộ bản tâm) – mà ta có thể gọi là tinh túy sâu xa nhất của chúng ta, cái sự thật mà tất cả chúng ta đều mong tìm đạt – chính là chìa khóa của sự thấu hiểu về sống chết. Vì vào lúc chết, điều thực sự xảy ra là, chỉ có cái tâm thường ngày (tức là ý thức do năm giác quan đem lại) và những vọng tưởng của nó chết đi, và trong khoảng hở này, bản chất vô biên của tâm ta, như một bầu trời bao la vô hạn, được hiển lộ. Bản chất tinh túy này của tâm, hay tâm bản nhiên, chính là bối cảnh cho toàn thể sự sống và chết, giống như bầu trời ôm trọn cả vũ trụ.</p>
<p style="text-align: justify;">Giáo lý dạy rõ rằng, nếu chúng ta chỉ biết về tâm như là cái phần phải tan rã khi ta chết (nghĩa là ý thức thuộc năm giác quan – ND), thì chúng ta sẽ không biết gì về những gì sẽ tiếp tục, không có một ý niệm nào về một “chiều không gian mới”, nghĩa là về cái tâm bản nhiên, một thực tại sâu xa hơn nhiều. Bởi thế, điều tối cần với chúng ta là phải làm quen với tâm bản nhiên trong khi ta còn sống. Có vậy chúng ta mới sẵn sàng để đón nhận nó khi nó hiển lộ một cách tự nhiên và mãnh liệt vào lúc ta chết; có vậy ta mới có thể nhận ra nó “một cách tự nhiên như một đứa trẻ chạy đến nấp vào gối mẹ”, như giáo lý đã nói. Và khi ta an trú trong trạng thái đó, cuối cùng sẽ được giải thoát.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự mô tả về tâm bản nhiên đương nhiên dẫn đến một nền giáo dục đầy đủ về thiền định, vì thiền là cách duy nhất, giúp ta có thể hé thấy, rồi dần dần trực nhận và an trú cái tâm bản nhiên ấy. Kế tiếp sẽ đến phần giải thích bản chất của tiến hóa nhân loại, tái sanh, nghiệp, để bạn đọc có một ý niệm đầy đủ về ý nghĩa cuộc lộ trình của chúng ta qua sinh tử.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngang đây có lẽ bạn đọc đã có đủ tri kiến để có thể đi vào trọng tâm của quyển sách này: Một trình bày bao quát về cả bốn Bardos và các giai đoạn khác của sự chết, rút từ nhiều kinh điển. Giáo lý, lời khuyên thực tiễn, những sự luyện tâm, được trình bày chi tiết để giúp chúng ta và những người khác kinh quá cuộc sống, kinh quá giai đoạn hấp hối, cái chết và giai đoạn sau khi chết. Sách này kết thúc bằng một viễn tượng về giáo lý Bardo có thể giúp ta hiểu thấu bản chất thâm sâu nhất của nhân tâm và vũ trụ như thế nào.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhiều sinh viên thường hỏi tôi:</p>
<p style="text-align: justify;">- Làm sao ta biết được những Bardos ấy là gì, từ đâu có được giáo lý minh bạch một cách lạ lùng về Bardo, tri kiến khúc chiết về từng giai đoạn một của quá trình chết, về sự chết và tái sinh ấy?</p>
<p style="text-align: justify;">Đối với nhiều độc giả, câu trả lời mới nghe dường như khó hiểu, bởi vì khái niệm về tâm mà tây phương hiện có, là một khái niệm hết sức hẹp hòi. Mặc dù những năm gần đây có những sự vượt rào đáng kể, nhất là về khoa học tâm sinh lý và về tâm thức siêu việt, đại đa số các nhà khoa học vẫn tiếp tục xem tâm chỉ là những quá trình vật lý trong não bộ, điều này đi ngược lại chứng cứ của hàng ngàn năm kinh nghiệm của các nhà thần bí và các thiền giả thuộc mọi truyền thống tôn giáo.</p>
<p style="text-align: justify;">Vậy thì từ nguồn thẩm quyền nào mà một quyển sách như thế này được viết ra? Một học giả Hoa kỳ đã viết:</p>
<p style="text-align: justify;">- Nội minh của đạo Phật được căn cứ trên một tri kiến bao quát về thực tại, trên một tuệ giác sâu xa về tự ngã và hoàn cảnh xung quanh; nghĩa là, trên sự toàn giác của đức Phật (*). [1]
<p style="text-align: justify;">Nguồn gốc của giáo lý về Bardo là tâm giác ngộ, cái tâm đã hoàn toàn tỉnh thức của Phật được chứng nghiệm và giảng giải bởi một dọc dài những bậc đạo sư kể từ đức Phật Nguyên thủy trở về sau. Những khám phá tỉ mỉ và thận trọng – có thể bảo là rất khoa học - của các ngài, và cách lập thành công thức những khám phá ấy về tâm linh qua nhiều thế kỷ, đã cho ta một bức tranh đầy đủ nhất có thể có về cả sự sống lẫn sự chết. Chính bức tranh toàn diện này mà, được cảm hứng từ Jamyang Khyentse thầy tôi và những bậc thầy vĩ đại khác, lần đầu tiên tôi đang cố truyền đạt lại cho người tây phương.</p>
<p style="text-align: justify;">Trải qua nhiều năm thiền quán, giảng dạy và thực tập, thỉnh vấn những bậc thầy để sáng tỏ vấn đề, tôi đã viết ra quyển Tạng thư về sống chết này, như một đúc kết tinh hoa những lời khuyên tâm huyết của các bậc thầy tôi, để trở thành một Tử thư Tây Tạng và một Sinh thư Tây Tạng mới. Tôi muốn nó sẽ là một sách dẫn, một sách tham khảo, và một nguồn cảm hứng thiêng liêng. Chỉ nhờ đọc đi đọc lại nhiều lần, tôi xin gợi ý, bạn mới có thể khám phá được nhiều tầng ý nghĩa sâu xa của nó. Bạn sẽ thấy rằng càng sử dụng nó bao nhiêu, bạn càng thấy những hàm ẩn của sách này bấy nhiêu, và càng nhận thức được chiều sâu của sự minh triết đang được truyền đạt đến bạn qua nền giáo lý này.</p>
<p style="text-align: justify;">Giáo lý Bardo chứng minh cho ta thấy rõ những gì sẽ xảy đến nếu ta có chuẩn bị cho cái chết và những gì sẽ xảy đến nếu chúng ta không chuẩn bị. Thật không thể có chọn lựa nào minh bạch hơn. Nếu bây giờ chúng ta không chịu chấp nhận cái chết trong lúc ta đang sống, thì chúng ta sẽ phải trả giá rất đắt suốt cuộc đời, vào lúc chết, và sau khi chết. Hậu quả sẽ là, ta tàn phá cả cuộc đời này và tất cả những đời sắp tới. Ta sẽ không thể sống cuộc đời mình một cách viên mãn, ta sẽ cứ bị giam hãm trong cái phần phải chết của ta. Sự vô minh này sẽ cướp đi của ta cái căn bản của cuộc hành trình tiến đến giác ngộ, và khiến chúng ta mãi mãi vướng vào cái bẫy của ảo tưởng, vào chu kỳ sống chết không được kiểm soát, cái biển khổ mà Phật tử thường gọi là luân hồi.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng thông điệp chính của giáo lý Phật là, nếu ta có chuẩn bị, thì có hy vọng tràn trề ở trong đời sống cũng như vào lúc chết. Giáo lý đó cho ta thấy cái khả tính về một sự giải thoát vô giới hạn, mà ta phải đạt đến ngay bây giờ trong đời này, sự giải thoát làm cho chúng ta có thể chọn lựa cái chết của mình và bởi thế, chọn lựa sự sinh ra của mình. Đối với một người có chuẩn bị và thực tập, thì cái chết đến với họ không phải như một chiến bại mà là một chiến thắng, cái giờ phút vinh quang nhất của cuộc đời.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Sogyal Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Ni Sư Thích Nữ Trí Hải</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <a href="https://thuvienhoasen.org/p39a8278/7/phan-mot-song-1-trong-tam-guong-cua-cai-chet">Sống 1. Trong Tấm Gương Của Cái Chết</a></em></p>
<p><em>[1] (*) Robert A. F. Thurman trong Mind Science, an East-West Dialogue. P.55 Boston, Wisdom, 1991.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/trong-tam-guong-cua-cai-chet-tang-thu-song-chet/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Thiền định về sự Vô thường</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/thien-dinh-ve-su-vo-thuong/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/thien-dinh-ve-su-vo-thuong/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 15 Feb 2023 08:38:02 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Vô thường và cái Chết]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=12044</guid>
		<description><![CDATA[Có nhiều hoàn cảnh gây nên cái chết. Ta có thể chết vì bệnh động kinh, chết sau khi nằm liệt giường với một chứng bệnh kinh niên ở giai đoạn cuối, chết vì ngộ độc thực phẩm, bởi rơi từ một vách đá, hay vì bị vũ khí tấn công. Ta không thể biết chắc được khi nào cái&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/thien-dinh-ve-su-vo-thuong/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Có nhiều hoàn cảnh gây nên cái chết. Ta có thể chết vì bệnh động kinh, chết sau khi nằm liệt giường với một chứng bệnh kinh niên ở giai đoạn cuối, chết vì ngộ độc thực phẩm, bởi rơi từ một vách đá, hay vì bị vũ khí tấn công. Ta không thể biết chắc được khi nào cái chết sẽ đến. Đời sống thì mong manh như một ngọn nến lập lòe trong gió hay một con chim nhỏ bé đậu trên cành cây. Không thể nào biết được ban đêm sau khi đi ngủ bạn sẽ còn thức dậy vào ngày mai. Giờ đây bạn đang sống, tuy nhiên chẳng có gì chắc chắn là sang năm bạn còn sống hay không. Sau khi bỏ lại cuộc đời này, bạn sẽ phải tiếp tục đi tới một cõi sống khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế hãy cầu nguyện: “Ôi Guru Rinpoche, từ hôm nay trở về sau, xin xoay chuyển tâm con hướng về sự thực hành – xin chăm sóc con! Và xin lo liệu để thực hành của con không lạc vào những con đường tà vạy, chẳng hạn như thực hành chỉ để ngăn ngừa bệnh tật và ma quỷ trong đời này hay để có được thực phẩm và quần áo! Xin gìn giữ để con không rơi vào thái độ thấp kém chỉ tìm cầu giải thoát khỏi sinh tử cho mỗi mình con, bỏ lại sau lưng tất cả những bà mẹ trong quá khứ của con! Đạo sư toàn trí của Pháp Longchen Rabjam, ngài thấu biết con! Lạt ma gốc tràn đầy bi mẫn, ngài là một với Đạo sư Quý báu Guru Rinpoche, Longchen Rabjam và Rigdzin Jikmé Lingpa – xin chăm sóc con!”</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu bạn không nắm lấy cơ hội để thực hành Pháp mà hoàn cảnh hiện tại này hiến tặng cho bạn sau khi đã có mọi sự tự do và thuận lợi thì trong những đời tương lai bạn sẽ không tìm thấy một nền tảng vật lý hoàn hảo như thế để giải thoát khỏi luân hồi sinh tử. Việc giờ đây bạn có được đời người hạnh phúc này là kết quả của công đức mỏng manh mà bạn đã tích tập trong những đời quá khứ. Nếu bạn không thực hành đức hạnh trong hoàn cảnh hiện tại của bạn, và thay vì thế chỉ tích tập những ác hạnh, thì một khi công đức trong những đời quá khứ mang lại nền tảng vật lý này bị cạn kiệt, sau cái chết bạn sẽ lang thang như một chúng sinh trong những cõi thấp. Một khi bạn bị sinh trong một trạng thái bất hạnh như thế, bạn sẽ không phân biệt được điều tốt và điều xấu, và thậm chí bạn sẽ chẳng bao giờ nghe được âm thanh của Pháp. Bạn sẽ không gặp một thiện tri thức. Bạn sẽ giống như một người mù bị bỏ mặc giữa một sa mạc mênh mông. Thật là một tai họa khủng khiếp! Quả là một thảm kịch! Chúng sinh trong các cõi địa ngục nhiều như những vi trần trong trái đất. Các ngạ quỷ nhiều như những hạt cát trên một bờ sông. Các súc sinh nhiều như những hạt trong một thùng rượu chang. Nếu bạn nghĩ về số lượng và các loại chúng sinh trong những cõi thấp, bạn sẽ nhận ra rằng cơ hội để có được một thân người thì mỏng manh biết bao. So sánh với những chúng sinh khác, loài người ít ỏi như những hạt bụi trên móng tay của bạn. Và ngay cả trong nhân loại, những người mà hành vi của họ có hại và mâu thuẫn với Pháp thì giống như những vì sao trong bầu trời đêm, trong khi những người thực sự hành xử phù hợp với Pháp thì hiếm hoi như những ngôi sao ban ngày. Khi quán chiếu điều này, bạn hãy cầu nguyện: “Ôi Guru Rinpoche, xin xoay chuyển tâm con hướng về sự thực hành – xin chăm sóc con! Các Đạo sư toàn trí Longchenpa và Jikmé Lingpa, xin đừng để con lạc vào những con đường tà vạy! Lạt ma tràn đầy bi mẫn, ngài là một với các ngài – xin chăm sóc con!”</p>
<p style="text-align: justify;">Bởi những hành giả giữ giới hạnh rất hiếm có nên việc bạn sở hữu một thân người thì giống như đi tới một hòn đảo châu báu. Đạt được một căn bản đầy triển vọng như thế với đầy đủ mọi tự do và thuận lợi và sau đó sử dụng thân người đó chỉ để tích tập những hành vi tiêu cực thì chẳng khác gì một thương gia đến được đảo châu báu rồi lại trở về tay không. Với một tâm thức bốc đồng và thiếu kiên định như thế bạn sẽ không có bất kỳ nền tảng nào để đạt được giải thoát khỏi luân hồi sinh tử, và thân thể bạn sẽ chỉ giúp bạn tạo thêm đau khổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Điều tối quan trọng là đừng trở thành nạn nhân của tám hoàn cảnh ngẫu nhiên khiến không thể thực hành được Giáo Pháp hay của tám tâm thái không thích hợp khiến ta bị cắt rời với Pháp (không có tự do để thực hành Pháp). Trước tiên, bị những ảnh hưởng suy đồi dẫn dắt sai lạc, có nghĩa là gặp phải những vị Thầy không hành xử phù hợp với Pháp. Sau đó, mặc dù đôi khi bạn ước muốn thực hành Pháp, nhưng bạn có thể bị ngăn trở không thể làm thế do bởi những cảm xúc đối lập, là lúc năm độc đang hoành hành trong tâm bạn, và bạn bị sức mạnh của chúng quét phăng đi mất. Hoặc trong khi thực hành, nghiệp tiêu cực có thể giáng xuống bạn và chín muồi như những hoàn cảnh không thuận lợi. Nếu bạn không biết cách kết hợp những thứ đó với con đường thì chúng sẽ trở thành các chướng ngại. Bạn có thể ước muốn đưa giáo lý vào thực hành, nhưng nếu bạn thiếu tinh tấn, bạn sẽ bị sự lười biếng làm xao lãng. Trong một vài trường hợp, bạn có thể quan tâm tới giáo lý trong khi bạn là một kẻ nô lệ nằm dưới quyền kiểm soát của một người nào khác. Cũng có những người chỉ có vẻ dấn mình vào con đường và giả bộ thực hành để có được thực phẩm và quần áo, hay thực hành như một phương thuốc để chữa trị bệnh tật hoặc những tinh linh ác hại, hay do sợ bị trừng phạt. Điều này giống như để thịt lừa vào một cái bình và giả mạo là thịt thú rừng hảo hạng hay thịt lạc đà. Mặc dù thái độ của bạn trái ngược với giáo lý nhưng trước mặt người khác thì bạn hành xử như một hành giả với hy vọng được kính trọng hay khen thưởng. Bị ảnh hưởng bởi những bằng hữu xấu xa, bạn điên dại và ngu đần theo tập quán thâm căn cố đế có nghĩa là không cảm thấy có chút nhiệt tâm nào khi học tập những phẩm tính và lợi lạc của các thiện hạnh và không sợ hãi những hậu quả của các ác hạnh. Đây là "tám hoàn cảnh ngẫu nhiên khiến không thể thực hành Pháp".</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó tới tám tâm thái (tám thiên hướng) không thích hợp. Tâm thái đầu tiên xảy ra khi, mặc dù bạn chứng kiến và nghe thấy những nỗi khổ của sinh tử, chẳng hạn như những đau khổ của ba cõi thấp, nhưng bạn không cảm thấy sợ hãi, và vì thế chỉ hơi chút tỉnh ngộ và từ bỏ một cách yếu ớt. Ta được dạy rằng niềm tin (hay lòng sùng mộ) thì giống như một bánh xe quý báu, nó lăn theo con đường đức hạnh cả ngày lẫn đêm. Và niềm tin là điều quan trọng nhất trong bảy sự giàu có cao quý. Thêm nữa tâm bạn thiếu một viên ngọc sùng mộ đối với giáo lý hay Đạo sư. Cũng có một trạng thái khi bạn bị vướng kẹt trong sự trói buộc của thế gian và những tham muốn sự giàu có, của cải và bằng hữu. Trong trạng thái khác, bạn có thể có một tính khí tiêu cực giống như không thể rửa sạch miếng than đen, và bạn liên tục dấn mình vào những hành vi thô tục, suy đồi, không thể cứu chữa được giống như một con rắn độc. Khi chưa từng an định thân, khẩu và tâm bạn, bạn có thể chẳng bao giờ kiềm giữ được những hành động tiêu cực, tác hại, mâu thuẫn với giáo lý. Hoặc do bởi bạn thiếu ngay cả một sự quan tâm thực sự nhỏ bé nhất, bạn có thể không có ngay cả một dấu hiệu của một tâm hồn đức hạnh, giống như một con vật chăm chú nhìn ngôi chùa. Bạn có thể bị bỏ lại với những giới nguyện Biệt giải thoát và Bồ Tát hoàn toàn gãy bể của bạn, hay những hứa nguyện samaya Mật thừa của bạn bị xé rách thành từng mảnh bởi miệt thị Đạo sư và v.v... Đây là "tám tâm thái không thích hợp làm cho ta bị cắt rời khỏi Pháp".</p>
<p style="text-align: justify;">Hãy cầu nguyện như sau: “Khi mười sáu trạng thái bất khả này tấn công con, đe dọa việc thực hành Pháp của con, Ôi Guru Rinpoche, xin xoay chuyển tâm con hướng về sự thực hành – xin chăm sóc con! Các Đạo sư toàn trí Longchenpa và Jikmé Lingpa, xin đừng để con lạc vào những con đường tà vạy! Lạt ma tràn đầy bi mẫn, ngài là một với các ngài – xin chăm sóc con!”</p>
<p style="text-align: justify;">Bạn phải thoát khỏi những nghịch cảnh như thế bởi một khi bạn rơi vào bất kỳ cái nào trong những trạng thái bất khả này, bạn sẽ không có cơ hội để thực hành Pháp một cách thuần tịnh và đích thực.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào giờ phút này, thân bạn không bị bệnh tật tàn phá và tâm bạn không bị đau khổ, bạn cũng không là một kẻ nô lệ chịu sự kiểm soát của người khác. Vì thế giờ đây là lúc bạn có phẩm tính toàn hảo, tốt lành hoàn toàn độc lập này, nếu bạn lãng phí sự tự do và những thuận lợi của đời người này bởi sự biếng nhác và phóng dật thì cần gì phải nói rằng bạn sẽ phải xa lìa những bằng hữu, của cải, thân quyến và những người thân yêu khi bạn chết! Ngay cả thân thể này mà bạn thật yêu quý, nó như ngôi nhà của tâm thức, sẽ bị đưa ra khỏi chiếc giường một mình nó và mang tới một nơi hoang vắng để bị những con cáo, kền kền, chó và v.v... xé ra thành từng mảnh. Khi điều đó xảy ra, tâm thức của bạn sẽ bị cuốn vào cõi bardo giống như một lông chim bị thổi tung trong gió và sẽ không có gì khác ngoài sự khiếp sợ được dành cho bạn. Vì thế bạn nên cầu nguyện: “Để bảo vệ con thoát khỏi những nỗi sợ này, từ ngày hôm nay, Ôi Guru Rinpoche, xin xoay chuyển tâm con hướng về Pháp - xin chăm sóc con! Các Đạo sư toàn trí Longchenpa và Jikmé Lingpa, xin đừng để con lạc vào những con đường tà vạy! Lạt ma tràn đầy bi mẫn, ngài là một với các ngài – xin chăm sóc con!”</p>
<p style="text-align: justify;">Trong Kinh điển có nói:</p>
<p style="text-align: justify;">Những người biếng lười và thiếu tinh tấn,<br />
Có thể sống một trăm năm.<br />
Nhưng nên sống một ít ngày,<br />
Với sự tinh tấn kiên định.</p>
<p style="text-align: justify;">Và Kho tàng Quý báu Những Giáo huấn Cốt tủy (Mengak Rinpoche’i Dzö) nói rằng:</p>
<p style="text-align: justify;">Đừng vứt bỏ thân người này với những tự do và phú bẩm của nó cho kẻ thù là thực phẩm và quần áo,<br />
Đừng vứt bỏ Bồ đề tâm vị tha này cho kẻ thù là những thừa thấp,<br />
Đừng vứt bỏ bản tính của tâm như viên ngọc báu cho kẻ thù là sự mê lầm,<br />
Đừng vứt bỏ hai tích tập như ý cho kẻ thù là cuộc đời hiện tại này,<br />
Đừng vứt bỏ tâm sùng mộ nhiệt thành cho kẻ thù là những tà kiến!</p>
<p style="text-align: justify;">Đây chính là cách bạn nên thực hành.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Chokyi Drakpa</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Thanh Liên</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <a href="https://thuvienhoasen.org/p39a8431/7/thien-dinh-ve-su-vo-thuong">Thiền định về sự Vô thường</a></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/thien-dinh-ve-su-vo-thuong/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiến vào cung thành toàn trí &#8211; Lời nguyện ước thể nhập chân ngữ</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tien-vao-cung-thanh-toan-tri-loi-nguyen-uoc-the-nhap-chan-ngu/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tien-vao-cung-thanh-toan-tri-loi-nguyen-uoc-the-nhap-chan-ngu/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 03 Feb 2023 11:38:19 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=12017</guid>
		<description><![CDATA[Con kính lễ nguồn mạch của đại dương các thành tựu: các Đạo sư, Tam Bảo và chư vị Bồ Tát. Con quy y (nương tựa) các ngài – Xin khẩn cầu các ngài ban phước! Trong mọi đời sau của con, cầu xin con có một tái sinh làm người cao quý đầy đủ mười tám điều tự do&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tien-vao-cung-thanh-toan-tri-loi-nguyen-uoc-the-nhap-chan-ngu/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Con kính lễ nguồn mạch của đại dương các thành tựu: các Đạo sư, Tam Bảo và chư vị Bồ Tát. Con quy y (nương tựa) các ngài –</p>
<p style="text-align: justify;">Xin khẩn cầu các ngài ban phước!</p>
<p style="text-align: justify;">Trong mọi đời sau của con, cầu xin con có một tái sinh làm người cao quý đầy đủ mười tám điều tự do và thuận lợi, và cầu mong con trở thành đệ tử của một bậc Thầy đích thực!</p>
<p style="text-align: justify;">Khi tu hành tâm con nhờ việc nghiên cứu, quán chiếu và thiền định, nguồn mạch của những tái sinh ưu việt và thiện lành đích thực, cầu xin con tuân thủ giáo lý cao quý của Đức Phật!</p>
<p style="text-align: justify;">Cầu xin sự từ bỏ, cội gốc của mọi thực hành Pháp, và bốn tư tưởng chuyển hóa tâm, phát khởi tự nhiên trong dòng tâm thức của con và cầu mong con thấy luân hồi sinh tử với mọi hoạt động vô tận của nó như một ngục tù hay hầm lửa!</p>
<p style="text-align: justify;">Khi thâm tín tính chất không sai lạc của nghiệp, cầu xin con nỗ lực thực hiện ngay cả những thiện hạnh nhỏ bé nhất và tránh làm ngay cả những ác hạnh vi tế nhất!</p>
<p style="text-align: justify;">Không làm mồi ngon cho những nghịch cảnh, những nơi chốn phù hoa náo nhiệt, những bằng hữu phóng dật, hay bất kỳ chướng ngại nào khác trên con đường dẫn tới Giác ngộ, cầu xin con nhận Tam Bảo làm nơi nương tựa của con và tu hành trên con đường tiệm thứ cho chúng sinh ba loại căn cơ!</p>
<p style="text-align: justify;">Cầu xin con từ bỏ mọi nghi ngờ đối với Đạo sư, hiện thân của tất cả những Đấng Thiện Thệ, và không lẻn trốn vào tà kiến coi ngài như ngang hàng với con, cầu xin con thấy ngài như một vị Phật thực sự!</p>
<p style="text-align: justify;">Theo cách này, cầu xin thân, ngữ và tâm con được thuần thục nhờ bốn quán đảnh và như thế cầu xin con dấn mình vào con đường Kim Cương thừa kỳ vĩ!</p>
<p style="text-align: justify;">Nhờ phương tiện của lời cầu nguyện và lòng sùng mộ nhiệt thành, cầu xin con nhận được sự trao truyền trí tuệ của dòng truyền thừa và cầu mong chứng ngộ của con bao la như không gian!</p>
<p style="text-align: justify;">Khi hoàn thiện các thực hành mahayoga của giai đoạn phát triển, cầu xin con đi tới chỗ nhận thức toàn thể thế giới và chúng sinh là ba mạn đà la và vượt qua bốn cấp bậc của một Vidyadhara (Trì Minh Vương), giống như các Bồ Tát Padmasambhava và Vimalamitra!</p>
<p style="text-align: justify;">Khi hoàn thiện thực hành anuyoga, cầu xin mọi ý niệm sinh tử và Niết bàn được tịnh hóa vào trạng thái đại lạc và tính Không bất khả phân và cầu xin con chứng nghiệm cõi thuần tịnh Akanishtha (Tối Thượng)!</p>
<p style="text-align: justify;">Khi hoàn thiện thực hành atiyoga của Dzogpachenpo (Đại Viên mãn), cầu xin mọi kinh nghiệm tan hòa vào phạm vi của thực tại nội tại và cầu xin con được giải thoát thành thân bình chứa thanh xuân, giống như Trì Minh Vương Garab Dorje!</p>
<p style="text-align: justify;">Tóm lại, khi bắt đầu với việc tu hành công hạnh của chư vị Bồ Tát, cầu xin bất kỳ điều gì con làm sẽ không mang lại điều gì ngoài lợi lạc cho tất cả chúng sinh, chính là những cha mẹ của riêng con!</p>
<p style="text-align: justify;">Trong bất kỳ tình huống hay hoàn cảnh nào, cầu mong con không bao giờ có mảy may ước muốn theo đuổi những lề thói thế tục trái nghịch với Pháp!</p>
<p style="text-align: justify;">Dù đang phải chịu sự thống trị của nghiệp và những tập khí, khi một tư tưởng sai lầm xuất hiện với con, cầu mong nó hoàn toàn bất lực!</p>
<p style="text-align: justify;">Vì lợi lạc của những người khác, cầu mong con vô úy và sẵn sàng từ bỏ ngay cả thân thể của riêng con, giống như Thái tử Siddhartha (Tất Đạt Đa)!</p>
<p style="text-align: justify;">Khi đã đạt được trạng thái thành tựu tự nhiên hạnh phúc của riêng con và những người khác, cầu xin con khuấy động những chiều sâu của đại dương ba cõi sinh tử bằng phương tiện của mười sức mạnh và bốn vô úy!</p>
<p style="text-align: justify;">Chư Phật và Bồ Tát đã từng thệ nguyện làm việc với mục đích thành tựu những lời nguyện khát khao vô ngã như những điều này.</p>
<p style="text-align: justify;">Kính lễ các bậc Hiền Thánh tuyên thuyết Chân lý!</p>
<p style="text-align: justify;">OM DHARÉ DHARÉ BHANDHARÉ BHANDARÉ SVAHA</p>
<p style="text-align: justify;">Cầu mong sức mạnh của đức hạnh tăng trưởng!<br />
Cầu mong năng lực của nguyện ước phát triển!<br />
Cầu mong điều xấu ác nhanh chóng được tịnh hóa!</p>
<p style="text-align: justify;">DZAYA DZAYA SIDDHI SIDDHI PHALA PHALA<br />
A A HA SHA SA MA</p>
<p style="text-align: justify;">Mama ko ling samanta</p>
<p style="text-align: justify;">Rigdzin Jikmé Lingpa biên soạn theo khẩn cầu của Choden ở miền Đông Tây Tạng. Sarva mangalam!</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Rigdzin Jikmé Lingpa</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Thanh Liên</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <a href="https://thuvienhoasen.org/p39a8315/8/tien-vao-cung-thanh-toan-tri">Tiến vào cung thành toàn trí - Lời nguyện ước thể nhập chân ngữ</a></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tien-vao-cung-thanh-toan-tri-loi-nguyen-uoc-the-nhap-chan-ngu/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>THÔNG BẠCH CHƯƠNG TRÌNH HOẰNG PHÁP CỦA ĐẠO SƯ TERCHEN NAMKHA RINPOCHE VÀ ĐỨC JIGME RINPOCHE</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/thong-bach-chuong-trinh-hoang-phap-cua-duc-phap-vuong-terchen-rinpoche-va-nhiep-chinh-vuong-jigme-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/thong-bach-chuong-trinh-hoang-phap-cua-duc-phap-vuong-terchen-rinpoche-va-nhiep-chinh-vuong-jigme-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 23 Nov 2022 12:01:23 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Quốc Tế]]></category>
		<category><![CDATA[Ripa]]></category>
		<category><![CDATA[Ripa Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Việt nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11769</guid>
		<description><![CDATA[]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/2022/11/a.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-11900" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/2022/11/a.jpg" alt="a" width="1448" height="2048" /></a> <a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/2022/11/b.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-11901" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/2022/11/b.jpg" alt="b" width="868" height="1280" /></a> <a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/2022/11/c.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-11902" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/2022/11/c.jpg" alt="c" width="868" height="1280" /></a> <a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/2022/11/d.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-11903" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/2022/11/d.jpg" alt="d" width="1448" height="2048" /></a></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/thong-bach-chuong-trinh-hoang-phap-cua-duc-phap-vuong-terchen-rinpoche-va-nhiep-chinh-vuong-jigme-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Bổn Tôn  – Suối nguồn của những thành tựu</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/bon-ton-suoi-nguon-cua-nhung-thanh-tuu/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/bon-ton-suoi-nguon-cua-nhung-thanh-tuu/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 16 Sep 2022 06:38:56 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11598</guid>
		<description><![CDATA[Vienna, Tháng Mười 1987 Những phương pháp đặc biệt của Kim Cương thừa nhắm vào việc đưa những sắc tướng mà chúng ta thường kinh nghiệm là bất tịnh tới một bình diện thanh tịnh. Trọng tâm của sự chuyển hóa này là thấu hiểu rằng mọi hiện tượng chỉ xuất hiện trên bình diện tương đối khi chúng ta&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/bon-ton-suoi-nguon-cua-nhung-thanh-tuu/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Vienna, Tháng Mười 1987</p>
<p style="text-align: justify;">Những phương pháp đặc biệt của Kim Cương thừa nhắm vào việc đưa những sắc tướng mà chúng ta thường kinh nghiệm là bất tịnh tới một bình diện thanh tịnh. Trọng tâm của sự chuyển hóa này là thấu hiểu rằng mọi hiện tượng chỉ xuất hiện trên bình diện tương đối khi chúng ta kinh nghiệm chúng. Trên bình diện tuyệt đối thì chúng không có bất kỳ hiện hữu chân thật nào – chúng không là gì ngoài một giấc mộng, một ảo ảnh. Nếu ta thấu hiểu bản chất đích thực của mọi sự vật, thì tự điều này trở thành kinh nghiệm về sự thuần tịnh của chúng.</p>
<p style="text-align: justify;">Ta không thể chuyển hóa những kinh nghiệm bất tịnh thành thanh tịnh chỉ bằng cách trì tụng một thần chú để biến đổi các hiện tượng. Cũng không nhờ một vài chất thể đặc biệt sở hữu những năng lực như thế, hay nhờ những sự cúng dường cho một vài vị trời để họ giúp đỡ lại ta. Tất cả những điều này không có quan hệ gì tới những gì xảy ra trong Kim Cương thừa. Điều cần quan tâm là phát triển sự thấu suốt rằng thế giới của các sắc tướng tự nó không hiện diện như một sự vô minh; chính thái độ bám chấp của chúng ta vào các sự vật đã đem lại vô minh. Để kinh nghiệm tính chất thuần tịnh của mọi sự thì không có gì đáng làm hơn là thấu hiểu rằng trên bình diện tương đối các sự việc xuất hiện bởi những điều kiện (duyên) khác nhau và bởi lý duyên sinh, nhưng trên bình diện tuyệt đối thì chúng không thực sự hiện hữu. Hai phương diện này không tách lìa nhau.</p>
<p style="text-align: justify;">“Những sắc tướng bất tịnh” hay “những sắc tướng thuần tịnh” có nghĩa là gì? “Bất tịnh” ám chỉ việc ta tin tưởng rằng các sự việc (các pháp) thực có và hiện hữu tương thuộc. Việc tin tưởng rằng các sự việc thực sự hiện hữu là một quan điểm cực đoan không đúng đắn bởi chân tính của mọi sự là tính Không. Nếu muốn nhận ra tính Không của mọi hiện tượng thì ta không thể chấp nhận những gì ta được bảo cho biết. Thật ra, rất khó thấu hiểu chân tính của các sự việc chỉ bằng cách trò chuyện hay nghe nói về nó.</p>
<p style="text-align: justify;">Không phải sắc tướng đơn thuần của các sự việc gây nên sự vô minh, mà chính bởi cách thế chúng ta liên kết với các sự việc và bám chấp vào chúng như thực có. Bởi tự thân các sự việc thì trống không, chúng vượt lên các phạm trù sinh hay diệt. Việc chúng xuất hiện là phương diện của sự tự biểu lộ không ngăn ngại. Các phương pháp khác nhau của Kim Cương thừa được dùng để thấu hiểu điều đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Đối với thực hành Kim Cương thừa, ta cần nhận ta rằng những sự việc chỉ xuất hiện trên bình diện tương đối nhưng trong chân tính của chúng thì chúng không thực sự hiện hữu. Tuy nhiên, ta vẫn tin rằng các sự việc là thực có. Đây là hai viễn cảnh khác nhau, và tất cả những gì cần quan tâm là nối kết chúng với nhau để chúng không thường xuyên mâu thuẫn nhau. Những phương pháp Kim Cương thừa khác nhau, chẳng hạn như thiền định về các phương diện của Đức Phật (Tây Tạng: yidam, nghĩa đen: mối ràng buộc tâm) và những thần chú được dùng để chấm dứt những mâu thuẫn hiển nhiên này.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong “ba cội nguồn” của Kim Cương thừa – Lạt ma, Bổn tôn (yidam) và Hộ Pháp (vị Bảo Trợ) – thì Lạt ma là cội nguồn quan trọng nhất; Bổn tôn và Hộ Pháp là những hiển lộ của Lạt ma. Tâm của Lạt ma là Dharmakaya (Pháp Thân), tính Không của Pháp giới. Các Bổn tôn xuất hiện từ đó như một biểu lộ của lòng bi mẫn và sự quang minh nội tại của tâm. Như thế các ngài không có loại hiện hữu thực sự như được gán cho những vị trời thế tục.</p>
<p style="text-align: justify;">Lý do khiến các Bổn tôn xuất hiện trong những thân tướng đa dạng, chẳng hạn như an bình và phẫn nộ, là bởi các đệ tử có những thái độ, cái nhìn (thị kiến) và những nguyện ước khác nhau. Để đáp ứng những ước muốn khác nhau này, các Bổn tôn có những sắc tướng khác nhau như một biểu lộ của lòng bi mẫn của Lạt ma. Các Bổn tôn cũng xuất hiện trong rất nhiều cách thế khác nhau để tượng trưng rằng toàn bộ việc bám chấp của ta vào những sắc tướng bất tịnh được tịnh hóa.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta có một tri giác nhị nguyên và luôn luôn suy nghĩ trong những phạm trù nhị nguyên. Vì thế, chúng ta không thể nối kết với Bổn tôn tối thượng và ta cần một điều gì đó đại diện cho ngài. Nhiều thân tướng của các Bổn tôn mà ta biết từ những hình ảnh thì ở trong hình thức đại diện đó tượng trưng cho Bổn tôn tối thượng. Thiền định về các Bổn tôn được phân chia thành hai giai đoạn là phát triển (Tây Tạng: Kjerim) và thành tựu (TT: Dsogrim). Ý nghĩa của chúng như sau:</p>
<p style="text-align: justify;">Mọi sắc tướng xuất hiện trong một sự tương thuộc. Điều gì đó xuất hiện vào một thời điểm, tồn tại một thời gian và lại biến mất. Hai giai đoạn thiền định được dùng để tượng trưng rằng nguyên lý sinh diệt được tiến hành trên một bình diện thuần tịnh. Sự xuất hiện của một Bổn tôn tượng trưng rằng việc bám chấp vào sự xuất hiện (sinh khởi) của thế giới kinh nghiệm thế tục được tịnh hóa. Các giai đoạn phát triển có những yếu tố khác nhau: trước tiên ta quán tưởng chính mình là Bổn tôn, sau đó ta quán tưởng Bổn tôn trong không gian trước mặt ta, ta cúng dường và tán thán v.v... Lý do khiến trước tiên ta quán tưởng chính mình là Bổn Tôn như sau: tất cả chúng ta đều thấy mình hết sức quan trọng. Nếu bây giờ có ai nói với ta: “Anh không thực sự hiện hữu”, thì ta khó có thể thấu hiểu và chấp nhận điều này. Trong giai đoạn phát triển ta xử sự với việc này bằng cách không suy nghĩ về việc ta có hiện hữu hay không, mà chỉ đơn thuần không để ý tới vấn đề này và quán tưởng bản thân ta trong hình tướng của Bổn tôn. Nếu ta quán tưởng chính mình là Bổn tôn, trong khi tỉnh giác rằng Bổn tôn là một biểu lộ của sự thuần tịnh viên mãn, thì sự bám chấp vào một cái “tôi” sẽ biến mất một cách tự nhiên.</p>
<p style="text-align: justify;">Việc quán tưởng Bổn tôn trong không gian trước mặt ta tiến hành theo một cách thế tương tự. Ta bám chấp vào mọi đối tượng bên ngoài mà ta tri giác. Trong giai đoạn phát triển ta tưởng tượng toàn thể thế giới bên ngoài là cung điện của Bổn tôn. Bổn tôn ở giữa cung điện và tất cả chúng sinh xuất hiện trong hình tướng của Bổn tôn. Bằng cách quán tưởng các sắc tướng bất tịnh trong hình tướng thuần tịnh của chúng, ta chiến thắng được việc bám chấp vào chúng.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế, điều quan trọng là thấu hiểu rằng mọi yếu tố của giai đoạn phát triển có một nội dung tượng trưng. Không có sự thấu hiểu này, chẳng hạn như tin rằng Bổn tôn thực sự hiện hữu, ta hoàn toàn mê mờ trong việc thiền định và thậm chí phát triển ảo tưởng. Nếu ta sử dụng những giai đoạn phát triển và thành tựu khác nhau về các Bổn tôn, điều quan trọng là phải hiểu rõ ý nghĩa của những hình tướng khác nhau của các ngài. Ví dụ như, tại sao ta quán tưởng mười sáu tay, bốn chân v.v... nếu chỉ có hai tay hai chân thì có thực sự đầy đủ không? Tin rằng ta phải quán tưởng thế này là vì các Bổn tôn thực sự trông giống như thế là một nhận thức sai lầm. Tin vào hiện hữu thực sự của Bổn tôn là một điều khá buồn cười và hết sức vô minh. Thay vì như thế, ta nên hiểu rằng có điều gì đó được tịnh hóa và cái gì đó là một phương pháp tịnh hóa. Việc quán tưởng một Bổn tôn có bốn tay, ví dụ thế, là một biểu tượng của việc tịnh hóa cách thế thông thường của ta khi kinh nghiệm các sự việc trong cái gọi là các phạm trù có bốn phần. Ví dụ như bốn yếu tố (tứ đại) và mọi sự khác ta tin tưởng xuất hiện trong một cách thế có bốn phần. Ba mắt của một Bổn tôn tượng trưng cho việc chiến thắng của cách thế ta suy nghĩ trong những phạm trù có ba phần. Ví dụ như ba thời (quá khứ, hiện tại, tương lai). Điều tương tự áp dụng cho tất cả những chi tiết khác của Bổn tôn; tất cả các chi tiết đó là để tịnh hóa sự bám chấp thông thường của ta vào thế giới của những kinh nghiệm.</p>
<p style="text-align: justify;">Không có sự hiểu biết này, ta kết thúc trong thiền định đầy những nhận thức sai lầm. Ta tin rằng những sự việc là thật có hay không có chút hiện hữu nào. Đó là cách ta đi vào một con đường hoàn toàn sai lạc, là con đường không liên quan gì tới Kim Cương thừa hay Phật Giáo hiểu theo cách thông thường. Tin rằng các Bổn tôn thực sự hiện hữu và không hiểu rằng các ngài là những biểu tượng của sự tịnh hóa những ý niệm tri giác của ta về thế giới kinh nghiệm, điều ấy sẽ chỉ khiến cho những khái niệm phát triển thêm nữa. Kết quả là những ảo tưởng ta đã có sẽ trở nên mạnh mẽ hơn, sau đó chúng có thể dẫn tới kinh nghiệm sợ hãi trong khi thiền định hay dẫn tới sự xuất hiện của những tư tưởng mà ta không biết phải xử sự thế nào với chúng. Vì thế, trong thực hành thiền định, đặc biệt là trong Kim Cương thừa, điều hết sức quan trọng là phải có được cái nhìn đúng đắn (chánh kiến).</p>
<p style="text-align: justify;">Chánh kiến này ra sao? Đó là việc thấu hiểu rằng sự xuất hiện tương đối của các sự việc và thực tại tối hậu của chúng là một sự hợp nhất, thấu hiểu rằng chúng không tách lìa nhau và không mâu thuẫn nhau.</p>
<p style="text-align: justify;">Các giai đoạn phát triển về các Bổn tôn tương ứng với chân lý tương đối, cách thế sự việc xuất hiện.</p>
<p style="text-align: justify;">Các giai đoạn thành tựu tương ứng với nguyên lý rằng rốt cuộc thì các sự vật không thực sự hiện hữu. Đồng thời ta cần thấu hiểu rằng cả hai giai đoạn tạo thành một sự hợp nhất.</p>
<p style="text-align: justify;">Các giai đoạn thành tựu thường được dùng để tránh rơi vào cái thấy cực đoan tin rằng các sự việc thực sự hiện hữu. Các giai đoạn phát triển ngăn ngừa cái thấy cực đoan khi tin rằng các sự việc không có chút hiện hữu nào, chỉ là một sự trống rỗng. Việc hiểu rằng cả hai giai đoạn tạo thành một sự hợp nhất khiến ta thấu hiểu rằng mọi sự là sự hợp nhất của đại lạc và tính Không. Nhờ thiền định theo cách này, bằng cách áp dụng thực hành Bổn tôn, ta có thể đạt được những thành tựu tương đối và tuyệt đối. Trong ý nghĩa đó, Bổn tôn được gọi là “cội nguồn của những thành tựu”.</p>
<p style="text-align: justify;">Các vị bảo trợ (Hộ Pháp), “cội nguồn của hoạt động”, có thể được coi là biểu lộ đa dạng của các Bổn tôn, lại là biểu lộ của tâm Pháp giới của Lạt ma. Bởi Kim Cương thừa là con đường rất sâu xa nên ý nghĩa của các vị bảo trợ là bảo vệ ta thoát khỏi nhiều tình huống và chướng ngại mâu thuẫn có thể xuất hiện khi ta đang đi trên con đường đó. Trong Kim Cương thừa, các Bổn tôn và Hộ Pháp rất quan trọng, tuy nhiên Lạt ma, cội nguồn của sự ban phước, là yếu tố quan trọng nhất. Lý do là chỉ nhờ Lạt ma mà ân phước và sự hứng khởi mới có thể đi vào dòng tâm thức của riêng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Mọi yếu tố được sử dụng trên con đường Kim Cương thừa có một ý nghĩa sâu xa. Thân của Bổn tôn là sự hợp nhất của sắc tướng và tính Không, thần chú là sự hợp nhất của âm thanh và tính Không, và tâm là sự hợp nhất của tỉnh giác (giác tính) và tính Không. Nếu ta áp dụng những yếu tố này vào thực hành của riêng ta, bằng cách hoàn toàn an trú trong sự tỉnh giác này, tự hào Bổn tôn có thể phát khởi trong ta. Nhưng để làm được như thế ta phải thấu suốt ý nghĩa đích thực của những điều này. Chỉ quan tâm tới việc quán tưởng bản thân ta là Bổn tôn thì không đủ, bởi bằng sự quán tưởng đơn thuần ta không thành tựu sự thấu suốt này.</p>
<p style="text-align: justify;">Các hành giả phải thấu suốt ba điều. Cái thấy cả hai loại thực tại tạo nên một sự hợp nhất bất khả phân. Đối với con đường, việc thấu suốt phương pháp và trí tuệ là một sự hợp nhất thì rất quan trọng. Đối với quả, ta cần hiểu rằng hai thân (kaya) là những gì được thành tựu là một sự hợp nhất. Đặc biệt là khi thực hành Mahamudra (Đại Ấn) hay Maha Ati, sự thấu suốt ba yếu tố này (cái thấy, con đường và quả) hết sức quan trọng. Nếu không, ta không thể chứng ngộ kết quả nhờ thực hành này.</p>
<p style="text-align: justify;">Cái được gọi là “Bổn tôn tối thượng” ra sao? Chẳng hạn như Đức Chenrezig (Từ Thị) xuất hiện trong một hình thức hết sức đặc biệt, với bốn tay v.v... Tuy nhiên, đây không phải là phương diện tối thượng của Bổn tôn này mà chỉ là cách thế ngài xuất hiện. Bổn tôn tối thượng là sự tỉnh giác rằng biểu lộ của Đức Chenrezig là lòng bi mẫn của tất cả chư Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Thân tướng của Dorje Phagmo (Heo nái Kim cương)(1) là một hình thức tượng trưng. Dorje Phagmo tối thượng là không gian của các hiện tượng, là trí tuệ siêu việt tối thượng, mẹ của tất cả chư Phật, là người sinh ra tất cả chư Phật. Bà là ba la mật của trí tuệ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Jamgon Kongtrul Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Thanh Liên</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <a href="https://thuvienhoasen.org/p39a5176/bon-ton-suoi-nguon-cua-nhung-thanh-tuu">Bổn Tôn – Suối Nguồn Của Những Thành Tựu</a></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>(1) Vajravarahi (Tib. Dorje Phagmo) Một Dakini là phối ngẫu của Cakrasamvara. Bà là một Bổn tôn chính của dòng Kagyu và là hiện thân của trí tuệ.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/bon-ton-suoi-nguon-cua-nhung-thanh-tuu/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Cam kết trì giữ đạo đức kiên định của Chatral Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/cam-ket-tri-giu-dao-duc-kien-dinh-cua-chatral-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/cam-ket-tri-giu-dao-duc-kien-dinh-cua-chatral-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 01 Sep 2022 03:38:02 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kathok Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Kathok]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11557</guid>
		<description><![CDATA[Chatral Rinpoche nổi danh trong cộng đồng Tây Tạng bởi giới luật tâm linh vô song của ngài, đặc biệt là khi xảy ra việc ngài tự chế không ăn thịt. Ăn thịt là một phương diện kiên cố của văn hóa Tây Tạng và rất ít người có thể kiêng thịt lâu dài. Đức Đạt Lai Lạt Ma trở&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/cam-ket-tri-giu-dao-duc-kien-dinh-cua-chatral-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Chatral Rinpoche nổi danh trong cộng đồng Tây Tạng bởi giới luật tâm linh vô song của ngài, đặc biệt là khi xảy ra việc ngài tự chế không ăn thịt. Ăn thịt là một phương diện kiên cố của văn hóa Tây Tạng và rất ít người có thể kiêng thịt lâu dài. Đức Đạt Lai Lạt Ma trở thành người ăn chay vào năm 1966, nhưng khi Ngài mắc bệnh viêm gan B, các bác sĩ Tây Tạng chữa bệnh cho Ngài đã nài nỉ Ngài ăn thịt trở lại, và cho tới ngày hôm nay Ngài vẫn tiếp tục dùng thịt với mức độ vừa phải. Một ít Đạo sư đương thời – chẳng hạn như Kangyur Rinpoche – cũng nổi tiếng là những người ăn chay nghiêm túc nhưng đó chỉ là ngoại lệ.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi tôi ở Đại Học Wisconsin – trong Chương trình Nepal năm 2000, tôi nghiên cứu về cách người Tây Tạng suy nghĩ về sự hội tụ có tính chất văn hóa của Phật Giáo và việc ăn thịt, và Chatral Rinpoche là một trong những người chính yếu tôi đã phỏng vấn. Đây là một vài trích dẫn từ cuộc phỏng vấn đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Tại sao ngài ngừng ăn thịt? Ngài bao nhiêu tuổi khi lập quyết định này?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Trong nhiều bản văn của Phật Giáo Nguyên thủy và Đại thừa có nói rằng ta không nên ăn thịt. Cũng tương tự như thế, một bản văn Kim Cương thừa nói rằng ta không nên hưởng thụ thịt và rượu. Vì thế tôi đang đi theo những giáo huấn của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Là một người tu hành, tôi không dùng thịt hay rượu và đồng thời tôi cố gắng bảo những người khác tránh dùng những món này. Đây là lý do của tôi – tôi đang nỗ lực để thúc đẩy người khác. Khi tới Bodhgaya tôi 47 tuổi và trước tất cả chư Phật và Bồ Tát tôi đã lập một lời nguyện từ bỏ thịt và rượu.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Vì sao ngài nghĩ rằng thói quen ăn chay là một phương diện quan trọng của việc thực hành Pháp?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Nếu bạn dùng thịt, điều đó đi nghịch lại những giới nguyện bạn đã thọ khi tìm kiếm sự nương tựa nơi Phật, Pháp và Tăng đoàn. Bởi khi bạn ăn thịt bạn cướp đi mạng sống của một chúng sinh. Vì thế tôi từ bỏ việc này.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Một vài người tuyên bố rằng ta có thể cứu giúp các thú vật mà ta ăn bằng cách cầu nguyện cho chúng, và như thế ăn thịt là một hành động từ bi. Là một trong các yogi và Lạt ma thành tựu nhất, ngài nghĩ sao về sự khẳng định này?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Với những năng lực siêu nhiên có được nhờ một vài thiền định, quả là có một vài vị chứng ngộ có thể làm các thú vật đã chết sống lại và giúp chúng đạt được một tái sinh hay giác ngộ cao hơn bằng cách tiêu thụ một ít thịt của chúng. Nhưng điều này không được thực hiện để làm phương tiện sinh sống mà chỉ vì mục đích cứu giúp thú vật đó. Cá nhân tôi không có năng lực đó và vì thế tôi không bao giờ ăn thịt. Dùng thịt trong thực đơn hàng ngày thì khác xa việc ăn thịt để giải thoát một chúng sinh bằng những năng lực siêu nhiên. Tôi chỉ là một hành giả bình thường thực sự không có những phẩm tính này. Vì thế, nếu tôi ăn thịt thì cũng chẳng khác gì bạn hay bất kỳ cư sĩ nào khác ăn thịt. Tôi sẽ phạm tội và mắc phải nghiệp xấu. Tôi không giả vờ như thể mình có những năng lực đặc biệt và ăn thịt, tôi chỉ tránh dùng thịt.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Ngài có biết các Lạt ma khác là người ăn chay?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Tôi biết nhiều Lạt ma xứ Tây Tạng. Đó là những người ăn chay thuộc phái Nyingma, Sakya và Geluk ở Tây Tạng. Tuy vậy, so với số Lạt ma ăn thịt thì những Lạt ma ăn chay rất ít. Hiện nay tôi 88 tuổi (vào năm 2000) và trải qua kinh nghiệm của tôi, tôi đã gặp nhiều Lạt ma ở Kham, Amdo – mọi miền của Tây Tạng – là những người không ăn thịt. Có những Lạt ma ăn thịt và có những Lạt ma không ăn. Tại tu viện của tôi ở Tây Tạng cũng có những Lạt ma ăn thịt và những Lạt ma ăn chay.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Nhiều hành giả Phật Giáo ở Hoa Kỳ ăn thịt bởi các Lạt ma Tây Tạng của họ ăn thịt. Ngài nghĩ thế nào về điều này?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Nhiều đại thành tựu giả ở Ấn Độ đã uống một lượng rượu khổng lồ và phát triển những năng lực thần thông. Một trong những đại thành tựu giả này là ngài Virupa đã uống rượu suốt ngày, treo mặt trời trên không trung và ngăn không cho nó lặn.(1) Naropa, Tilopa... là những Đạo sư vĩ đại. Nếu bạn có thể đạt được những năng lực siêu nhiên, bạn không cần phải theo khuôn mẫu của những người bình thường và bạn có thể uống rượu và ăn thịt. Những vị có các năng lực siêu nhiên vẫn có thể ban những giáo lý vĩ đại và làm lợi lạc tất cả chúng sinh. Vì thế, nếu những vị Thầy ở Mỹ thuộc cấp độ đó, bạn hãy yêu cầu tất cả những bằng hữu của bạn cùng tham gia việc uống rượu và ăn thịt với họ. Việc này hoàn toàn phụ thuộc vào cấp độ chứng ngộ ta đã thành tựu. Một Lạt ma hưởng thụ thịt và rượu vẫn có thể đưa dẫn người khác trên con đường đúng đắn, với điều kiện là họ đã phát triển những năng lực siêu nhiên.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Ngài thấy các Phật tử Tây Tạng ở hải ngoại đang thực hiện một nỗ lực chân thành nhằm giảm bớt việc tiêu thụ thịt của họ và trở thành người ăn chay, hay việc ăn thịt đã trở thành một phương diện kiên cố của văn hóa Tây Tạng?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Ở Tây Tạng chỉ có thịt và tsampa(2), không có lương thực chính yếu khác. Tây Tạng ở trên cao và khí hậu như ở một lãnh nguyên (tundra). Ở đó không có nhiều rau trái. Sau khi tới miền Nam Á, bạn thực sự không phải theo tục lệ dùng thịt và tsampa của Tây Tạng. Có nhiều loại trái cây và rau, những món phụ đầy bổ dưỡng – tất cả là những thực phẩm tốt lành. Mọi sự đều sẵn sàng. Vì thế thực sự không cần nói về những tục lệ của Tây Tạng như một sự bào chữa cho việc ăn thịt. Theo kinh nghiệm của tôi thì không ăn thịt có nhiều lợi lạc. Tôi đã 88 tuổi và từ khi ngừng ăn thịt, tôi không mắc chứng bệnh trầm trọng nào. Khi ngủ, tôi ngủ ngon lành. Khi thức dậy, tôi có thể bước đi tức thì. Khi đọc Kinh điển, mắt tôi có thể nhìn thấy thật rõ ràng. Tôi có thính giác rất tốt và có thể nghe thật chăm chú. Đây là những phẩm tính mà tôi đã kinh nghiệm từ việc kiêng thịt. Tôi không mắc bệnh hay chết khi ngừng ăn thịt; tôi không gặp những hậu quả xấu. Tôi có thể du hành bằng xe hơi, máy bay hay xe lửa mà không nôn mửa hay chóng mặt và tôi chẳng bao giờ nhức đầu. Tôi là một con người được hình thành bằng thịt và máu giống như bất kỳ ai khác và là bằng chứng cho thấy việc từ bỏ thịt không làm ta bệnh tật giống như nhiều người Tây Tạng dường như nghĩ như thế. Tôi đang nói với anh bằng kinh nghiệm riêng của tôi; chỉ có những điều tốt lành đến với tôi từ việc từ bỏ thịt.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Nhiều người Tây Tạng đã trích dẫn một đoạn Kinh nói rằng nếu ta không nghe, không thấy hay không nghi ngờ về món thịt được đặc biệt dành cho ta, thì món thịt ấy có thể dùng được. Ngài trả lời ra sao về điều này?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Nếu con vật bị giết mà ta không nhìn thấy thì điều đó giống như ăn cắp một thứ gì đó mà không bị bắt. Nếu bạn sử dụng lý cứ này thì việc ăn cắp đó cũng được coi là đáng tán thưởng. Bạn có thể nói điều gì nhơ bẩn mà không bị người khác nghe thấy – như thể bạn cần có chứng cớ để xét đoán điều đó có phải là một tội lỗi hay không. Những điều họ nói là không đúng. Sát sinh, trộm cắp và những hành vi tiêu cực khác chẳng bao giờ có thể thoát khỏi hậu quả. Cho dù những người khác không nhìn thấy nhưng các Bổn tôn, chư Phật và Bồ Tát nhìn thấy bạn đang làm những điều đó. Có một câu tục ngữ Tây Tạng nói rằng cho dù bạn không bị bắt gặp đang phạm một tội lỗi, nhưng chư thiên bắt quả tang bạn trong mọi lúc. Không thể làm bất kỳ điều gì không bị nhìn thấy – bạn luôn luôn bị các Bổn tôn quan sát. Các ngài nhìn thấy và hiểu những gì bạn làm – các ngài biết rằng bạn đã trợ giúp cho việc giết chết một con vật bằng cách mua thịt. Đây là câu trả lời của tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Một vài tu sĩ nói với con rằng bởi các côn trùng bị giết trong quá trình sản xuất gạo và những loại rau trái khác cho nên thực sự không có gì khác biệt trong việc dùng những thực phẩm này và ăn thịt. Ngài nghĩ thế nào về điều này?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Điều này có nghĩa là bạn không ăn bất kỳ thứ gì và sẽ chết đói. Nếu bạn nói rằng bạn đi trong một tháng mà không giết côn trùng khi dùng thực phẩm thì bạn sẽ chết. Nếu bạn chết, đời người quý báu này bị uổng phí. Vì thế nếu bạn để thân thể bạn bị hủy hoại thì điều đó có nghĩa là bạn đang tự tử, bạn đang tự giết mình. Khi nhìn thấy côn trùng trong gạo, bạn có thể thường xuyên lấy ra và thả chúng. Bạn không nhất thiết phải giết hại chúng sinh để ăn. Nhưng khi ta bước đi ta dẫm nát nhiều côn trùng dưới bàn chân. Ta có thể không nhìn thấy hay nhận ra chúng, hẳn là ta đang giết hại chúng. Không tỉnh giác không có nghĩa là ta không tạo ra bất kỳ tội lỗi nào, bởi xét cho cùng thì nhân và quả luôn luôn có ở đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau cuộc phỏng vấn, Rinpoche nói với tôi: “Hôm nay bạn tới hỏi tôi những điều này và tôi đã trả lời chúng. Điều này thật tốt. Tôi rất sung sướng. Bạn đã ghi lại cuộc trò chuyện của tôi, vì thế bạn nên thuật lại cho mọi người. Chúng ta đang ở tại hang động của Guru Rinpoche. Ở nơi đây, chúng ta đang trao đổi những câu hỏi và trả lời. Cho những người khác nghe những điều này thì thật tốt. Khi bạn thực hiện cuốn sách của bạn, hãy đưa buổi phỏng vấn của tôi vào phần đầu. Cảm ơn bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Tu viện của Rinpoche ở Yangleshod có treo hai tấm biển trên đó ghi những điều liên quan tới việc ăn thịt. Tấm biển thứ nhất viết bằng tiếng Tây Tạng, Nepal và Anh ngữ và là một trong những vật đầu tiên bạn nhìn thấy khi tới gần tu viện.</p>
<p style="text-align: justify;">Tấm biển có kích thước bốn mét vuông ghi:</p>
<p style="text-align: justify;">TUYỆT ĐỐI NGĂN CẤM DÙNG THỊT, ĐỒ UỐNG CÓ CHẤT CỒN VÀ THUỐC LÁ CŨNG NHƯ ĐÁNH BÀI HAY CỜ BẠC TRONG TU VIỆN PHẬT GIÁO NÀY.</p>
<p style="text-align: justify;">Một trong những giới luật chính yếu trong Phật Giáo là kiềm chế không dùng các chất gây say, cùng với việc cố gắng không sát sinh, trộm cắp, nói dối và tà dâm. Có ít Phật tử Tây Tạng ở ngoài truyền thống tu viện trì giữ nghiêm túc giới luật này và những hành giả Nyingma được coi là có uống rượu. Rinpoche không tha thứ cho điều này trong những đệ tử của ngài. Có một việc xảy ra cách đây vài năm khi các đệ tử của một Lạt ma quá cố tới xin Rinpoche ban phước. Các đệ tử này đặt một tấm hình của Lạt ma quá cố này trong phòng của Rinpoche. Khi Rinpoche nhìn thấy tấm hình, ngài nói: “Người này là một kẻ nghiện rượu và đã gãy bể các giới luật của ông ta, đừng để tấm hình này trong phòng tôi, hãy cất nó đi!” Khi vị thị giả lấy tấm hình ra khỏi khung gỗ thì bên dưới có một tấm hình khác. Rinpoche hỏi người trong hình là ai và được cho biết đó là con trai của vị Lạt ma quá cố và cũng là một người nghiện rượu nặng. Rinpoche tuyên bố: “Cha nào con nấy. Hãy lấy cả hai tấm hình của họ ra!”</p>
<p style="text-align: justify;">Đối với việc hút thuốc, Rinpoche nói:</p>
<p style="text-align: justify;">“Khuyết điểm chính yếu của việc hút thuốc là nó sẽ đóng kín lỗ mở Brahma (Phạm Thiên) trên đỉnh đầu ta. Vì thế vào lúc chết, ta sẽ rất khó thực hành phowa(3) khi nỗ lực làm tâm thức ta xuất ra từ đó, tự giải thoát khỏi luân hồi sinh tử hay đi tới ba cõi giới cao. Vì lợi lạc của bản thân và những người khác, các hành giả Giáo Pháp hoàn toàn không nên hút thuốc!”</p>
<p style="text-align: justify;">Tấm biển thứ hai được treo bên ngoài khu vực thờ phụng chính và viết bằng chữ Tây Tạng và Anh ngữ: “Trong khi dùng thịt của một con vật để làm béo tốt thân thể ta, làm sao ta có thể thực hành lòng bi mẫn chân chính? Vì sức khỏe của bạn, vì môi trường và vì các thú vật, hãy ngừng lại tập quán dơ bẩn này”. Tấm áp phích lớn này được đặt trong một khung bảo vệ được thực hiện bởi một nhóm bảo vệ quyền lợi của thú vật tại tu viện Dzogchen ở miền Nam Ấn Độ và nó cho ta thấy Rinpoche hết sức coi trọng giới đức này.</p>
<p style="text-align: justify;">Một bạn thân của gia đình Chatral Rinpoche là Pema, con gái của vị Thầy Nyingma vĩ đại Tarthang Tulku Rinpoche. Trong cuộc phỏng vấn do tôi thực hiện vào năm 2000, bà đã cho tôi một vài hiểu biết sâu sắc về tầm quan trọng của việc ăn chay trong thực hành lòng bi mẫn của Chatral Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Bà nói: “Việc ăn thịt rất dữ dội trên hệ thống rađa tâm linh của Chatral. Rinpoche có nối kết rất khăng khít với các thú vật. Ngài yêu thương thú vật. Ngài thích xem phim ảnh trên máy truyền hình về đời sống hoang dã. Lòng đại bi đã khiến ngài ngưng ăn thịt. Ngài cống hiến tất cả tiền bạc của ngài để cứu 70 xe vận tải đầy cá ở Calcutta. Đó là hoạt động hàng năm quan trọng nhất của ngài. Ngài cầu nguyện cho từng xô cá đổ xuống biển, cố gắng đưa chúng tới những cảnh giới cao hơn. Trong Pháp, không chỉ là vấn đề không làm điều gì – chẳng hạn như ăn thịt – mà còn là bảo vệ đời sống một cách tích cực.</p>
<p style="text-align: justify;">Rinpoche đã sống điều đó. Ngài được nối kết như thế trên một bình diện rộng lớn với chúng sinh và nỗi khổ của họ. Rinpoche bị lôi tới những nơi tăm tối, tội lỗi, đầy sát khí – tới những khu vực tế lễ thú vật của tín đồ Ấn giáo. Có lần ngài đưa cô con gái Saraswati của ngài và tôi tới nơi đó. Cảnh vật bên ngoài rất đẹp với hoa và nghệ thuật điêu khắc. Ngài mua một ít chim trong một cái lồng và thả chúng trên đỉnh mái nhà. Sau đó chúng tôi đi tới nơi hiến tế dê. Thoạt đầu tôi nhắm mắt lại, nhưng sau đó tôi nhìn thấy những con dê ngây thơ bị giết và máu tung tóe khắp nơi. Tôi chết khiếp. Rinpoche bước trên máu dê thật điềm đạm như thể ngài đang thiền hành. Ngài không bối rối chút nào bởi điều đó. Tôi cho rằng ngài đang cố dạy chúng tôi bài học về sự vô úy và nhẫn nại khi đối diện với đau khổ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Zach Larson</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Thanh Liên</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguyên tác: Chatral Rinpoche’s Steadfast Commitment to Ethics</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn Anh ngữ: <a href="http://www.shabkar.org/download/pdf/Steadfast_Commitment_to_Ethics.pdf">Chatral Rinpoche’s Steadfast Commitment to Ethics</a></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn Việt ngữ: <a href="https://thuvienhoasen.org/a5182/cam-ket-tri-giu-dao-duc-kien-dinh-cua-chatral-rinpoche">Cam kết trì giữ đạo đức kiên định của Chatral Rinpoche</a></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>(1). Một buổi tối Đạo sư vĩ đại Virupa đang uống rượu ở một quán rượu và người phục vụ ở quầy rượu bảo ngài rằng cho tới khi mặt trời lặn ngài có thể uống bao nhiêu cũng được mà không phải trả tiền. Vì ngài không mang nhiều tiền, ngài cắm purba (lưỡi dao nghi lễ) của ngài trên mặt đất nơi lằn ranh giữa bóng tối và ánh nắng mặt trời, khiến chúng đứng yên một chỗ và ngăn cản không cho mặt trời lặn.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>(2). Tsampa: bột mì làm bằng lúa mạch nướng hay các loại hạt khác. Một loại thực phẩm chính ở Tây Tạng.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>(3). Phowa là thực hành phóng xuất tâm thức ta qua kinh mạch trung ương của thân, phóng nó ra ngoài qua đỉnh đầu, được gọi là “cửa Phạm Thiên”. Khi ấy, tâm thức được hình dung như đi vào trái tim của Đức Phật A Di Đà. Theo cách này, vào lúc chết, ta có thể kiểm soát tốt hơn nữa bản tánh của hóa thân kế tiếp của ta.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/cam-ket-tri-giu-dao-duc-kien-dinh-cua-chatral-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Bài ca thống thiết về sự vô thường</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/bai-ca-thong-thiet-ve-su-vo-thuong/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/bai-ca-thong-thiet-ve-su-vo-thuong/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 14 Apr 2022 17:08:58 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Tâm xả ly Luân hồi]]></category>
		<category><![CDATA[Vô thường và cái Chết]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11051</guid>
		<description><![CDATA[1. Bậc tạo dựng mạn đà la tụ hội, hóa hiện và bao la của mọi Bổn Tôn, Pháp Vương vô song Mipham Rinpoche, xin an lập chiếc đĩa hoa sen kỳ diệu trong trái tim con và xin hát một cách tự nhiên những bài ca về sự vô thường. 2. Cánh đồng mùa hạ ngập tràn hoa cỏ&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/bai-ca-thong-thiet-ve-su-vo-thuong/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">1. Bậc tạo dựng mạn đà la tụ hội, hóa hiện và bao la của mọi Bổn Tôn, Pháp Vương vô song Mipham Rinpoche, xin an lập chiếc đĩa hoa sen kỳ diệu trong trái tim con và xin hát một cách tự nhiên những bài ca về sự vô thường.</p>
<p style="text-align: justify;">2. Cánh đồng mùa hạ ngập tràn hoa cỏ và vui vẻ như một xứ thần tiên, nhưng đến mùa đông, khi bị sương giá, gió, mưa và băng tuyết tàn phá, ta càng thêm đau buồn bởi cảnh tượng hoang tàn, lạnh lẽo.</p>
<p style="text-align: justify;">3. Trong khu vườn tráng lệ và nhiều màu sắc, những con ong cần cù, đáng yêu nhìn nhau và hát những bài ca êm tai. Mặc dù tất cả mọi người đều ước muốn thời gian tuyệt vời, vui nhộn, và lãng mạn của cuộc đuổi bắt kéo dài mãi mãi, nhưng làm sao họ né tránh được nghiệp quả của những đời trước?</p>
<p style="text-align: justify;">4. Trong khu rừng sum suê, những con chim cu líu lo và hát ca vui vẻ; âm thanh êm tai và trong như tiếng bạc của chúng lôi cuốn mọi người; một sự dâng hiến tuyệt vời! Tuy nhiên, khi sắp đến đầu thu, nếu ta nhớ lại những điều này thì đó quả là một vị Thầy siêu phàm biểu thị sự vô thường của cuộc đời!</p>
<p style="text-align: justify;">5. Qua cơn mưa bụi, một cầu vồng sáng chói và nhiều màu sắc trong bầu trời được tô điểm bằng những đám mây trắng, nhẹ nhàng và tao nhã biết bao! Nếu suy niệm nghiêm cẩn, quý vị sẽ nhận ra đó là một ảo ảnh sâu sắc và sinh động về sự vô thường.</p>
<p style="text-align: justify;">6. Vào mùa thu, những đám mây trắng chồng chất lên nhau thật thân thiết, giống như những đỉnh núi không ngừng phủ tuyết. Ngay lập tức, chúng biến mất trong bầu trời không để lại chút dấu vết. Chẳng phải tất cả những ẩn dụ này là để dành cho những người có ý hướng từ bỏ “Mọi vinh quang và hạnh phúc trong đời này đang trôi đi và không xác thực” hay sao?</p>
<p style="text-align: justify;">7. Những vũ trụ kiên cố và bao la gồm ba ngàn thế giới sẽ hoàn toàn bị hủy diệt bởi những tai họa của nước, lửa, và gió, vì thế những cung điện, vườn tược và những bức tường được xây dựng bởi chúng sinh tầm thường thì còn khó giữ gìn và không đáng tin cậy hơn nữa.</p>
<p style="text-align: justify;">8. Ngay cả những vị trời và risi (hiền nhân) là những người có thể sống lâu hơn một kiếp, có sự thấu thị và an trụ hỷ lạc trong thiền định cũng không thể trốn thoát và bị trói buộc khi đối diện Thần Chết và những kẻ thù của họ. Thật là một tư tưởng sai lầm và xấu ác khi tin rằng ta có thể tránh khỏi cái chết.</p>
<p style="text-align: justify;">9. Trong quá khứ, có một ít vị được gọi là “Chuyển Luân Thánh Vương” cai trị bốn đại lục và có năng lực kêu gọi hàng trăm người đi vào hành động, nhưng giờ đây những gì họ để lại cho hậu thế chỉ là ký ức về thanh danh trong thời đại huy hoàng của họ. Vì thế, thân thể yếu ớt của chúng ta cũng không thể có chút thực chất nào.</p>
<p style="text-align: justify;">10. Các Đức Như Lai và Bồ Tát đã hoàn thiện mọi sự tịnh hóa che chướng và đạt được chứng ngộ thì như vô số vì sao trên bầu trời. Tuy nhiên, để biểu thị sự vô thường, các ngài đã lần lượt thị hiện việc nhập niết bàn. Tất cả những hiện tượng này cho ta thấy rõ nguyên lý vô thường.</p>
<p style="text-align: justify;">11. Tại ngôi chùa vĩ đại Samye có viên bảo ngọc được tôn trí trên đỉnh, nơi được tán thán là cõi tịnh độ, khi nhớ lại những cảnh tượng sống động của Ba Đấng Tôn quý, các Đạo sư và Đức Vua,(1) tôi không thể không hân hoan và vui sướng. Tuy nhiên, khi trở lại với thực tế, làm sao tôi tránh khỏi nỗi buồn sầu, tan nát.</p>
<p style="text-align: justify;">12. Không lắng nghe và quán chiếu đúng đắn về những pho Kinh và Luận siêu việt, là những gì có thể chống cự sự truy xét bằng ba cách, không thể chặt đứt gốc rễ sinh tử bởi chỉ hành động phù hợp với sự suy nghĩ và ước đoán của riêng ta. Trái lại, ta sẽ lập gia đình, có con, và có rất nhiều thành viên trong gia đình, trở nên già yếu; và khi cái chết đến, vị tu sĩ già bị buộc phải tái sinh và đi đến những cõi thấp bởi đã không thực hành đức hạnh.</p>
<p style="text-align: justify;">13. Nếu người không tinh tấn nghiên cứu và thực hành Kinh điển, điều huyền diệu và tâm – Kinh Ý nghĩa Cô đọng (Kinh), Mạng lưới Huyền diệu (Pháp Kỳ diệu) và Mười tám Mật điển Mẹ - Con (Tâm); mà chỉ chú ý đến các nghi lễ, chẳng hạn như đánh trống, thổi kèn Trung quốc hay sự trình diễn khác, như ý nghĩa sâu xa của Giáo Pháp; tiêu phí một cách bất thiện và tham lam của cải do tín chủ cúng dường; khi cái chết đến, mọi ác hạnh của người ấy sẽ bị phơi bày.</p>
<p style="text-align: justify;">14. Các nhà sư trẻ trong các tu viện thì thông minh và hùng biện biết bao! Quý vị toàn tâm toàn ý khi bám chặt vào việc giảng dạy và tranh luận, nhưng đến khi quý vị nhận được danh hiệu Geshe, tóc quý vị sẽ bạc trắng như những con ốc xà cừ. Mọi hạnh phúc thế tục mà quý vị tận hưởng không thể thoát khỏi số phận phù du của những đóa hoa ưu đàm.</p>
<p style="text-align: justify;">15. Các hành giả bề ngoài hững hờ với công đức của con đường tu tập, chẳng hạn như giới, định và tuệ, mà nhất quyết kiếm tìm lợi lạc của cuộc đời hiện tại! Quý vị không thể đi tới đích ngay cả khi cái chết đến và định luật nghiêm ngặt của Thần Chết không trì hoãn và loại trừ ai!</p>
<p style="text-align: justify;">16. Những ông già bạc tóc và lão suy! Quý ông vẫn đang dự trù kế hoạch cho những tháng năm của đời mình mà không chú ý đến tuổi tác như thể không biết rằng mình như một ngọn đèn bơ cạn kiệt; hành trình của cuộc đời này sắp kết thúc. Sao quý ông không nghĩ rằng bây giờ là lúc chuẩn bị một ít tiền của cho chuyến du hành trong trạng thái trung ấm sau cái chết?</p>
<p style="text-align: justify;">17. Những thanh niên và thiếu nữ tràn đầy sức sống và đang độ thanh xuân! Các bạn tự hào về tuổi trẻ mau chóng của mình và chẳng bao giờ thoáng nghĩ đến cái chết, nhưng không ai biết được khi nào cái chết đến. Khi những sứ giả của Thần Chết đến và tròng dây vào cổ các bạn, các bạn cảm thấy ân hận thì đã quá trễ.</p>
<p style="text-align: justify;">18. Những cô cậu đến tuổi dậy thì tìm thấy ở nhau sự hoàn toàn cảm thông và tâm đầu ý hợp! Các bạn không ngớt trao cho nhau những viên kẹo dưới bụi hồng, nghiêm trang thề thốt sẽ thương yêu nhau mãi mãi, mơ màng sẽ là bạn đồng hành bền vững của nhau và không bao giờ chia cách, nhưng dù các bạn làm gì chăng nữa, không ai có thể tiên đoán được là các bạn sẽ sống lâu đến mức độ nào.</p>
<p style="text-align: justify;">19. Những người giàu có, quý phái và có vận mệnh hoàn hảo trong quá khứ đã trở thành những người cùng khốn. Khi những cảnh tượng này được phóng chiếu rõ ràng trên tấm gương của tâm thức, làm sao ta không cảm thấy thống thiết và mỏi mệt về mọi hiện tượng bị nhiễm ô?</p>
<p style="text-align: justify;">20. Bộ ba mươi chiếc răng trắng trẻo của quý vị đã rụng rơi đây đó. Những vết nhăn phủ đầy thân thể quý vị như những đường núi xoắn xít với nhau. Mọi cảnh tượng của sự già yếu là những cảnh báo lặng thầm: chẳng mấy chốc quý vị sẽ chết. Nếu quý vị vẫn u mê và rối trí, làm sao quý vị có thể khác biệt với những con yak?</p>
<p style="text-align: justify;">21. Xuân qua thu lại, cùng thời gian này vào năm tới, vô số người sẽ gặp phải cái chết của mình. Ai có thể quả quyết rằng bạn không phải là một người trong số đó? Vì thế, đời sau thực sự không quá xa!</p>
<p style="text-align: justify;">22. Một trăm năm nữa, chẳng ai có mặt vào lúc này trên trái đất còn sống. Mọi sự sống buộc phải chết đi. Trong hình tướng mê lầm như giấc mộng phù du này, đâu là ý nghĩa của việc theo đuổi lợi lạc của cuộc đời hiện tại?</p>
<p style="text-align: justify;">23. Hầu hết những người bạn tốt cùng độ tuổi với tôi giờ đã trôi dạt vô định đến những xứ sở khác. Nhiều đời người đã rơi vào bóng tối của trạng thái trung ấm. Làm sao một mình tôi có thể hiện hữu trong thế giới này?</p>
<p style="text-align: justify;">24. Khi những sứ giả toàn thắng của Thần Chết đến, cho dù dấu mình trong một lâu đài không thể bị hủy hoại và hoàn toàn vững chắc, được mười ngàn quân lính trang bị áo giáp và vũ khí canh chừng, ta vẫn không thể sống trong thế giới này dẫu chỉ một chốc lát.</p>
<p style="text-align: justify;">25. Cho dù của cải và châu báu của quý vị có thể bao phủ toàn thể ba cõi, các sứ giả của Thần Chết không để cho quý vị hối lộ. Ngay cả Phạm Thiên và Trời Đế Thích cai trị ba ngàn thế giới cũng không thể thoát khỏi cái chết.</p>
<p style="text-align: justify;">26. Cho dù quý vị có vẻ duyên dáng và dễ thương như một cầu vồng ở chân trời, dù quý vị có khêu gợi và hấp dẫn với đủ mọi khéo léo để tán tỉnh, phỉnh phờ và lôi kéo, thủ thuật của quý vị không thể làm lay động ngay cả một sợi lông của đạo quân Thần Chết khát máu.</p>
<p style="text-align: justify;">27. Sau khi chứng kiến nhiều người, dù đau ốm hay khỏe mạnh, đã lần lượt ra đi, ta nên nghĩ tưởng và suy niệm một cách cẩn trọng theo cách này: tất cả những điều này là hồi chuông cảnh báo và thúc bách về sự chắc chắn của cái chết của riêng tôi, vì thế tôi phải chuyển tâm vào con đường vĩ đại của thực hành tinh tấn để đạt được giải thoát.</p>
<p style="text-align: justify;">28. Những vị lãnh đạo và viên chức vĩ đại cai trị hàng trăm và hàng ngàn gia đình của nhiều bộ tộc! Khi cái chết đến, quý vị không có tự do để đem theo mình một miếng thực phẩm, còn nói gì đến việc mang theo thuộc hạ. Vào lúc đó, chỉ có Giáo Pháp chân chính và siêu việt là tuyệt đối lợi lạc, vì thế xin đừng mãi trì hoãn và lãng phí thời gian.</p>
<p style="text-align: justify;">29. Khi mọi hiện tượng trong đời này hoàn toàn ngừng dứt, đau khổ xuất hiện như kết quả của nghiệp, cho dù quý vị có bao nhiêu người thân, bè bạn và người đồng hành, chẳng ai có thể chia sẻ chút nào với quý vị. Cho dù quý vị kêu khóc cho đến khi mặt đẫm lệ, điều ấy chẳng mang lại sự thay đổi hay giúp đỡ nào. Chớ để cái chết đánh bại, mà từ nay trở về sau hãy hiến mình cho việc thực hành Pháp, là điều mang lại lợi lạc vào lúc chết!</p>
<p style="text-align: justify;">30. Nhờ suy niệm nghiêm cẩn, quý vị sẽ nhận ra rằng mọi hiện tượng của thế giới vật chất bên ngoài và thế giới chúng sinh bên trong là những quyển sách giáo khoa biểu thị sự vô thường của cuộc đời. Những tình cảm phóng xuất tự nhiên từ trái tim tôi thì vô vàn, nhưng ở đây tôi chỉ có thể hiến tặng quý vị một bài ca Giáo pháp như mây cho quý vị, những người bạn thân thiết của tôi!</p>
<p style="text-align: justify;">31. Những người bạn thân mến trong cùng một trại! Hãy bảo đảm là sẽ liên tục lắng nghe điều này: mọi sự trong luân hồi sinh tử thật không đáng tin cậy. Để đạt được sự giàu có lâu dài, hoàn hảo và không ô nhiễm của đại lạc, từ nay trở đi, quý vị nên mặc áo giáp tinh tấn để toàn tâm thực hành Giáo Pháp!</p>
<p style="text-align: justify;">32. Từ nay cho đến khi không gian diệt tận, cầu mong con có thể kính lễ vị Bảo trợ - Đức Văn Thù mà không thối chuyển; cùng lúc đó, giảng dạy Giáo Pháp sâu xa cho chúng sinh và đạt được trí tuệ và năng lực tâm thức như Đấng Chiến Thắng Văn Thù!</p>
<p style="text-align: justify;">Trên đây là 32 vần kệ, một con số kỳ diệu, là những cảm xúc chân thành phóng chiếu tự nhiên từ trái tim tôi. Những lời thỉnh cầu liên tục của Otse Yana, một người bạn tốt, là thuận duyên và tâm từ bỏ mãnh liệt đối với sự vô thường trong tâm tôi là nguyên nhân sâu xa khiến tôi, Ngawang Lodro Tsungmed, biên soạn bài kệ này vào ngày 27 tháng Giêng năm 1964. Cầu mong đó là điều kiết tường!</p>
<p><strong>Khenpo Jigme Phuntsok</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Thanh Liên</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguyên tác: “The Lament That Teaches the Impermanence of Life - the Melodious Sound of a Waterfall” by Dharma King Jigme Phuntsok</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <a href="https://thuvienhoasen.org/a17704/bai-ca-thong-thiet-ve-su-vo-thuong">Bài Ca Thống Thiết Về Sự Vô Thường</a></em></p>
<p><em>(1) Ba Đấng Tôn quý, các Đạo sư và Đức Vua: Đức Padmasambhava, Shantarakshita và Vua Trisong Detsen.</em></p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/bai-ca-thong-thiet-ve-su-vo-thuong/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tấm gương của những điểm thiết yếu &#8211; Một bức thư tán thán tính Không</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tam-guong-cua-nhung-diem-thiet-yeu-mot-buc-tho-tan-than-tanh-khong/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tam-guong-cua-nhung-diem-thiet-yeu-mot-buc-tho-tan-than-tanh-khong/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 31 Mar 2022 07:33:19 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo Sư Kathok Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=10990</guid>
		<description><![CDATA[Con kính lễ dưới chân sen của Tenpai Nyima, Người không tách lìa với Pháp Vương Longchenpa Rabjam, Và thấy biết trạng thái tự nhiên của tính Không Của đại dương vô biên những sự vật. Một lá thư khuyên bảo con gửi cho người, bà mẹ cao quý Paldzom của con. Xin hãy nghe một lát và không xao&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tam-guong-cua-nhung-diem-thiet-yeu-mot-buc-tho-tan-than-tanh-khong/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Con kính lễ dưới chân sen của Tenpai Nyima,<br />
Người không tách lìa với Pháp Vương Longchenpa Rabjam,<br />
Và thấy biết trạng thái tự nhiên của tính Không<br />
Của đại dương vô biên những sự vật.</p>
<p>Một lá thư khuyên bảo con gửi cho người, bà mẹ cao quý Paldzom của con.<br />
Xin hãy nghe một lát và không xao lãng.<br />
Ở đây không có khó chịu gì,<br />
Con thong dong và tự do không phiền lo,<br />
Trong một trạng thái của tâm hoan hỷ.<br />
Mẹ có khỏe không, mẹ yêu dấu của con?</p>
<p>Ở đây trong xứ sở Tây phương,<br />
Có nhiều người da trắng và da đỏ,<br />
Họ có mọi loại huyễn thuật và cảnh tượng,<br />
Như bay qua những bầu trời,<br />
Và di chuyển trong nước như cá.<br />
Có quyền hành trên bốn đại,<br />
Họ ganh đua phô diễn những phép lạ<br />
Với muôn ngàn màu sắc đẹp đẽ.<br />
Có nhiều những quang cảnh không cùng,<br />
Như những thiết kế của những màu sắc cầu vồng<br />
Nhưng giống như chỉ là giấc mộng, khi được xét xem,<br />
Chúng là những thấy biết sai lầm của tâm thức.</p>
<p>Mọi hoạt động giống như những trò chơi trẻ nít.<br />
Nếu làm, chúng không bao giờ chấm dứt.<br />
Chúng chỉ là hoàn thành khi mẹ để yên đấy,<br />
Như những lâu đài bằng cát.</p>
<p>Nhưng đấy chưa phải là toàn thể câu chuyện.<br />
Tất cả những pháp của sinh tử và niết bàn<br />
Dẫu được nghĩ là thường còn, chúng không kéo dài.<br />
Khi được khảo sát, chúng chỉ là những hình sắc trống rỗng<br />
Xuất hiện mà không có hiện hữu.<br />
Dẫu không thực, chúng được nghĩ là thực,<br />
Và khi được khảo sát, chúng là không thực như một ảo tưởng.</p>
<p>Nhìn ra ngoài, những đối vật xuất hiện,<br />
Và giống như nước trong một ảo ảnh,<br />
Chúng còn huyễn hoặc hơn cả sự huyễn.<br />
Không thực như những giấc mộng và những ảo tưởng,<br />
Chúng giống như một mặt trăng phản chiếu trong nước và những cầu vồng.</p>
<p>Hãy nhìn vào tự tâm mẹ!<br />
Nó có vẻ rất kích động, khi không được khảo sát.<br />
Nhưng khi được khảo sát, không có gì trong đó cả.<br />
Xuất hiện không có thực thể, nó không là gì ngoài trống rỗng.<br />
Nó không thể được nhận dạng và nói: “Nó đây!”<br />
Mà chỉ tan biến và lẫn thoát như sương mù.</p>
<p>Hãy nhìn thẳng vào tất cả những gì xuất hiện<br />
Trong bất cứ nơi nào của mười phương.<br />
Dầu nó có vẻ như thế nào,<br />
Sự vật trong tự nó, bản tính đích thật của nó,<br />
Là bản tính như hư không của tâm,<br />
Vượt khỏi sự phóng chiếu và tan biến của tư tưởng và ý niệm.</p>
<p>Mọi sự có bản tính trống không.<br />
Khi cái trống không nhìn cái trống không,<br />
Có ai để nhìn vào cái trống không như vậy?<br />
Đâu là chỗ dùng của nhiều thứ phân loại,<br />
Như là “trống không" và “không trống không”,<br />
Vì đó là cái huyễn nhìn cái huyễn,<br />
Và hư vọng quan sát hư vọng?</p>
<p>“Bản tính không cố gắng và như hư không của tâm,<br />
Cảnh giới bao la của thấy biết,<br />
Là trạng thái tự nhiên của mọi sự.<br />
Trong nó, bất cứ điều gì bạn làm đều tốt, đúng,<br />
Dù bạn nghỉ ngơi, bạn luôn thư thái”.<br />
Điều ấy được Jetsun Padmasambhava,<br />
Và đại thành tựu giả Saraha nói ra.</p>
<p>Mọi thiết kế ý niệm<br />
Như là “Nó là hai!” hay “Nó không là hai!”<br />
Rời bỏ các ngài như những con sóng trên một dòng sông,<br />
Để giải thoát một cách tự nhiên tự bản thân chúng.</p>
<p>Con quỷ khổng lồ của tư tưởng vô minh và suy diễn<br />
Làm cho người ta chìm đắm trong đại dương của sinh tử.<br />
Nhưng khi giải thoát khỏi tư tưởng suy diễn này,<br />
Đấy là trạng thái không thể diễn tả, vượt khỏi tâm thức<br />
ý niệm.</p>
<p>Ngoài chỉ những tư tưởng diễn dịch này,<br />
Không có ngay cả những danh từ sinh tử và niết bàn,<br />
Sự lặng chìm toàn bộ tư tưởng diễn dịch<br />
Là tính Như của pháp giới.</p>
<p>Chớ làm thêm phức tạp bằng những phát biểu phức tạp,<br />
Cái bindu đơn nhất không do tạo tác này<br />
Là tính Không, trạng thái tự nhiên của tâm.<br />
Bậc Thiện Thệ, đức Phật đã nói như vậy.</p>
<p>Bản chất của cái gì có thể xuất hiện<br />
Khi chỉ để mặc cho tự nó,<br />
Là cái thấy không tạo tác và không hư hao,<br />
Pháp thân, bà mẹ tính Không.<br />
Mọi tư tưởng diễn đạt là tính Không,<br />
Và người thấy tính Không là tư tưởng suy diễn.<br />
Tính Không không hủy hoại tư tưởng suy diễn,<br />
Và tư tưởng suy diễn không ngăn ngại tính Không.<br />
Tính Không bốn phương diện của bản thân tâm thức<br />
Là cái tối hậu của mọi sự.<br />
Sâu xa và tịch tịnh, tự do với mọi phức tạp,<br />
Sự sáng tỏ tỏa ngời không hỗn hợp,<br />
Vượt khỏi tâm thức ý niệm lòng vòng:<br />
Đây là chiều sâu của tâm các bậc Chiến Thắng.</p>
<p>Trong đây không có một vật gì để trừ bỏ,<br />
Cũng không có cái gì cần thiết phải thêm vào.<br />
Chỉ thuần cái vô nhiễm,<br />
Nhìn một cách tự nhiên vào chính nó.</p>
<p>Nói tóm, khi tâm thức hoàn toàn cắt đứt<br />
Những ràng buộc bám chấp vào sự gì,<br />
Thì mọi điểm thiết yếu đều cô đọng trong đó.<br />
Đây là truyền thống của bậc tối thượng Tipola,<br />
Và của đại học giả Naropa.</p>
<p>Một trạng thái tự nhiên sâu xa như cái này<br />
Là trí huệ của đại lạc,<br />
Trong tất cả mọi loại lạc phúc.<br />
Trong tất cả mọi niềm vui sướng hài lòng,<br />
Nó là vua của vui sướng hài lòng tối thượng.<br />
Nó là sự quán đảnh truyền pháp tối cao thứ tư,<br />
Của mọi phái tantra của Mật thừa.<br />
Nó là giáo huấn tối thượng chỉ thẳng.</p>
<p>Tri kiến “sinh tử tức niết bàn”,<br />
Và tri kiến của Đại Ấn, của Đại Toàn Thiện, Trung Đạo và những cái khác,<br />
Có nhiều tên khác nhau,<br />
Nhưng chỉ một nghĩa tinh yếu.<br />
Đây là tri kiến của Lama Mipham</p>
<p>Như một sự giúp đỡ cho vua của những tri kiến này<br />
Người ta nên bắt đầu với Bồ đề tâm,<br />
Và kết thúc với hồi hướng.<br />
Để cắt đứt bằng những phương tiện thiện xảo<br />
Sự trụ định vào một bản ngã, gốc rễ của sinh tử,<br />
Vua của mọi phương tiện vĩ đại<br />
Là Bồ đề tâm không gì vượt hơn.</p>
<p>Vua của sự hồi hướng toàn hảo<br />
Là phương tiện để tăng trưởng thiện căn.<br />
Cái này là giáo lý đặc biệt của Thích Ca Mâu Ni,<br />
Nó không tìm thấy nơi những bậc thầy khác.</p>
<p>Để thành tựu giác ngộ viên mãn,<br />
Nhiều hơn thế thì không cần thiết,<br />
Nhưng ít hơn thế thì sẽ không đầy đủ.<br />
Con đường nhanh chóng của ba cái tuyệt hảo,<br />
Được gọi là lòng, mắt và sinh lực,<br />
Là lối đi của Longchenpa Rabjam.</p>
<p>Tính Không, viên ngọc như ý,<br />
Là bố thí không nhiễm chấp.<br />
Nó là sự trì giới không hư hoại.<br />
Nó là nhẫn nhục không phiền giận.<br />
Nó là tinh tấn không mê lầm.<br />
Nó là thiền định không phóng dật.<br />
Nó là tinh túy của trí huệ bát nhã.<br />
Nó là ý nghĩa của ba thừa.</p>
<p>Tính Không là trạng thái tự nhiên của tâm.<br />
Tính Không là sự quy y vô niệm.<br />
Tính Không là Bồ đề tâm tuyệt đối.<br />
Tính Không là Vajrasattva ân xá tội lỗi.<br />
Tính Không là mạn đà la của những tích tập toàn thiện.<br />
Tính Không là guru yoga của Pháp thân.</p>
<p>An trụ trong trạng thái tự nhiên của tính Không<br />
Là sự “an định” của shamatha,<br />
Và thấy biết nó rõ ràng sống động<br />
Là sự “quán thấy” của vipashyana.</p>
<p>Cái thấy của giai đoạn phát triển toàn hảo,<br />
Trí huệ của Lạc và Không trong giai đoạn thành tựu,<br />
Đại Toàn Thiện bất nhị,<br />
Và bindu đơn nhất của Pháp thân,<br />
Tất cả mọi cái này đều bao gồm trong nó.</p>
<p>Tính Không tịnh hóa những nghiệp.<br />
Tính Không xua đuổi những lực lượng che ám.<br />
Tính Không thuần hóa những quỷ ma.<br />
Tính Không thành tựu những hóa thần.</p>
<p>Trạng thái sâu xa của tính Không<br />
Làm khô cạn đại dương tham ái.<br />
Nó phá sụp đổ núi sân giận.<br />
Nó soi sáng bóng tối của ngu si.<br />
Nó làm lặng cơn lốc của ghen ghét.<br />
Nó đánh bại chứng bệnh của những phiền não.<br />
Nó là một người bạn trong lúc sầu muộn.<br />
Nó hủy diệt tự phụ trong sướng vui.<br />
Nó chiến thắng trong cuộc chiến tranh với sinh tử.<br />
Nó tiêu hủy bốn ma.<br />
Nó chuyển tám pháp thế gian thành vị bình đẳng.<br />
Nó hàng phục con quỷ chấp ngã.<br />
Nó chuyển những điều kiện xấu thành sự trợ giúp.<br />
Nó chuyển những điềm xấu thành tốt lành.<br />
Nó khiến hiển lộ giác ngộ viên mãn.<br />
Nó sinh ra chư Phật ba thời.<br />
Tính Không là bà mẹ Pháp thân.</p>
<p>Không có giáo lý nào cao hơn tính Không.<br />
Không có giáo lý nào nhanh chóng hơn tính Không.<br />
Không có giáo lý nào tuyệt hảo hơn tính Không.<br />
Không có giáo lý nào sâu xa hơn tính Không.</p>
<p>Tính Không là “cái biết một cái nó giải thoát cho tất cả”.<br />
Tính Không là đức vua tối thượng của dược liệu.<br />
Tính Không là cam lồ của bất tử.<br />
Tính Không là sự thành tựu tự nhiên vượt khỏi cố gắng.<br />
Tính Không là giác ngộ không thi công.<br />
Bằng thiền định tính Không<br />
Người ta cảm thấy lòng bi khủng khiếp<br />
Cho những chúng sinh mê mờ, như chúng ta, trong sự tin vào một cái ngã,<br />
Và Bồ đề tâm khởi lên không dùng sức.<br />
Mọi phẩm tính của con đường và những địa<br />
Sẽ xuất hiện tự nhiên không nỗ lực nào<br />
Và người ta sẽ cảm thấy niềm vui sâu sắc<br />
Khi nhìn luật nhân quả không sai chạy của hành động.</p>
<p>Nếu người ta chỉ có một chốc lát xác tín<br />
Vào tính Không này<br />
Xích xiềng siết chặt của chấp ngã<br />
Sẽ phá tung từng mảnh.<br />
Đây là lời của Aryadeva.</p>
<p>Còn tối cao hơn cúng dường chư Như Lai và con cái của Ngài<br />
Tất cả những hằng sa cõi Phật,<br />
Đầy ắp với sự cúng dường của chư thiên và loài người,<br />
Là thiền định về tính Không.</p>
<p>Nếu công đức của sự an trụ nhất như<br />
Chỉ một khoảnh khắc trong trạng thái tự nhiên này<br />
Mà có được hình sắc cụ thể,<br />
Thì cả không gian không chứa đựng nổi nó.</p>
<p>Bậc không ai sánh trong các hiền triết, Thích Ca Mâu Ni,<br />
Để đạt đến tính Không thậm thâm này,<br />
Đã ném thân ngài vào những giàn lửa,<br />
Cho đi đầu ngài và tay chân,<br />
Và thực hành hàng trăm khổ hạnh khác.</p>
<p>Dầu cho bạn chất đầy thế giới này<br />
Với những đống khổng lồ những tặng vật vàng ngọc,<br />
Giáo lý sâu xa này về tính Không<br />
Dù để tìm kiếm nó, cũng rất khó tìm thấy.<br />
Điều này được nói trong Trăm Ngàn Bài Kệ Bát Nhã Ba La Mật.</p>
<p>Để gặp được giáo lý tối thượng này<br />
Là sức mạnh rực rỡ của công đức<br />
Của nhiều kiếp không thể tính đếm.</p>
<p>Tóm lại, nhờ vào tính Không.<br />
Người ta, vì sự lợi lạc của chính mình,<br />
Được giải thoát vào cảnh giới của Pháp thân vô sinh,<br />
Cái giác ngộ viên mãn rõ ràng<br />
Của bốn thân và năm trí.<br />
Sự phô diễn không ngăn ngại của Sắc thân<br />
Bấy giờ sẽ không ngừng lưu xuất để chỉ dạy cho người nào cần,<br />
Bằng cách khuấy động những chiều sâu của sinh tử vì lợi lạc cho những người khác,<br />
Qua hoạt động tự nhiên thường trực, cùng khắp.<br />
Trong tất cả kinh và tantra, điều này<br />
Được nói là quả rốt ráo.</p>
<p>Làm sao một người như con có thể nói thành lời<br />
Tất cả những lợi lạc và công đức từ đó,<br />
Khi bậc Chiến Thắng, với lưỡi kim cương của ngài,<br />
Không thể làm cạn kiệt chúng, dù ngài có nói trong suốt<br />
một kiếp?</p>
<p>Bậc vinh quang, bậc thầy tối thượng,<br />
Ngài ban cho những lời dạy về tính Không,<br />
Xuất hiện trong hình thức một con người,<br />
Nhưng tâm ngài thật sự là một vị Phật.</p>
<p>Không có dối trá và đạo đức giả,<br />
Hãy khẩn cầu ngài từ sâu thẳm lòng mình,<br />
Và không cần một thủ đoạn nào khác,<br />
Mẹ sẽ đạt đến giác ngộ ngay trong đời này.<br />
Đây là viên ngọc hiện thân của tất cả,<br />
Được dạy trong những tantra của Đại Toàn Thiện.<br />
Khi mẹ đang có viên ngọc này trong lòng bàn tay,<br />
Chớ để nó uổng phí một cách vô nghĩa.</p>
<p>Giống như những sao trên bầu trời, sự học hỏi<br />
Sẽ không bao giờ chấm dứt qua những nghiên cứu.<br />
Ích gì mọi thứ phồn tạp<br />
Nhiều giáo lý thỉnh cầu xin và thọ nhận?<br />
Ích gì mọi thực hành không thể cao hơn tính Không?</p>
<p>Chớ nhắm đến có nhiều trang phục khổ hạnh,<br />
Như cầm gậy và đeo dây hay mặc da thú.<br />
Để cho con voi tự trở vào nhà mình<br />
Chớ đi tìm dấu chân nó trong núi sâu.</p>
<p>Hỡi mẹ, hãy tham thiền tinh túy của tâm,<br />
Như nó được dạy bởi guru, bậc nắm giữ kim cương,<br />
Và mẹ sẽ có tinh túy của tinh túy<br />
Của tất cả tám vạn bốn ngàn giáo lý.<br />
Nó là cam lồ cốt tủy của triệu triệu<br />
Những bậc thành tựu và hiểu biết.<br />
Nó là sự thực hành tối hậu.</p>
<p>Lời khuyên bảo này từ cốt lõi tấm lòng<br />
Của nhà sư hỏng chuyện, Jamyang Dorje,<br />
Là cái thanh tịnh nhất của tinh túy thanh tịnh<br />
Từ bindu của máu đời con.<br />
Bởi thế hãy giữ nó trong lòng, hỡi mẹ.</p>
<p>Những lời khuyên bảo tâm huyết ít ỏi này<br />
Được viết ra trong một xứ sở đẹp đẽ,<br />
Thành phố của bầu trời xanh rộng mở<br />
Ganh đua với sự rực rỡ của những cõi trời.</p>
<p>Gửi đến Chokyi Nodzom thuần thành,<br />
Bà mẹ yêu quý của con,<br />
Và đến những đệ tử sùng tín của tôi.<br />
Tôi trao tặng lá thư khuyên bảo này.</p>
<p>Lá thư này cho những đệ tử được viết bởi một người mang danh là “Khenpo”, người Tây Tạng, Jamyang Dorje, trong Thung Lũng cỏ Dordogne của Đại Lạc, nước Pháp, bên kia đại dương về hướng tây.</p>
<p>Nguyện phước đức và tốt lành từ đó!</p>
<p><strong>Nyoshul Khenpo Jamyang Dorje</strong></p>
<p><em>Anh dịch: Erik Hein Schmidt </em></p>
<p><em>Biên tập: Ani Lodroš Palmo và Ward Brisick</em></p>
<p><em>Việt dịch: Nguyễn An Cư</em></p>
<p><em>Trích: Đại Toàn Thiện Tự Nhiên - Thiền Tây Tạng và những Bài Ca Kim Cương, n</em><em>hà xuất bản Thiện Tri Thức, 1999.</em></p>
<div class="ddict_btn" style="top: 7960px; left: 275.641px;"><img src="chrome-extension://bpggmmljdiliancllaapiggllnkbjocb/logo/48.png" alt="" /></div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tam-guong-cua-nhung-diem-thiet-yeu-mot-buc-tho-tan-than-tanh-khong/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Câu chuyện cuộc đời Tôn giả Longchenpa</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/cau-chuyen-cuoc-doi-ton-gia-longchenpa/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/cau-chuyen-cuoc-doi-ton-gia-longchenpa/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 18 Feb 2022 14:23:51 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Diệu Không Thích Nữ]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=10894</guid>
		<description><![CDATA[Tôn giả Longchen Rabjam (1308 - 1363) sinh ra ở Yoru thuộc phần phía Đông của miền Trung Tây Tạng, gần Tu viện Samye vĩ đại mà Đạo Sư Liên Hoa Sinh xây dựng vào thế kỷ tám. Cha Ngài là vị Yogin tên Lopon Tenpa Sung và mẹ Ngài là Sonam Gyen. Lúc thụ thai, mẹ Ngài nằm mơ thấy con sư tử lớn với mặt trời và mặt trăng trên trán, phóng&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/cau-chuyen-cuoc-doi-ton-gia-longchenpa/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn giả</span> Longchen Rabjam (1308 - 1363) sinh ra ở Yoru thuộc phần phía Đông của miền Trung <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, gần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Samye vĩ đại mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Liên Hoa Sinh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> vào thế kỷ tám. Cha Ngài là vị Yogin tên Lopon Tenpa Sung và mẹ Ngài là Sonam Gyen. Lúc thụ thai, mẹ Ngài nằm mơ thấy con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sư tử</span> lớn với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trời</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trăng</span> trên trán, phóng ánh sáng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rực rỡ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">soi sáng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế gian</span>. Con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sư tử</span> sau đó tan thành ánh sáng, thứ tan vào Sonam Gyen và hòa vào tâm bà ấy. Từ khoảnh khắc đó, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong suốt</span> thai kỳ, bà có những trải nghiệm mạnh mẽ về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hỷ lạc</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng suốt</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô niệm</span>. Thân bà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm thấy</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô cùng</span> nhẹ nhàng và tâm bà trở nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng tỏ</span> và trong thai kỳ, bà chẳng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm thấy</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoải mái</span> hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau đớn</span>. Lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn giả</span> Longchenpa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chào đời</span>, Nữ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hộ Pháp</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chân ngôn Bí mật</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Không Hành Nữ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> Remati, đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span>. Bế cậu bé, Bà ấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyên bố</span> rằng: “Ta sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo vệ</span> cậu bé!”. Vài giây sau, Bà ấy tan biến vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hư không</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ năm ba tuổi, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn giả</span> Longchenpa bắt đầu học đọc và viết; năm tuổi, Ngài đã làm chủ việc đọc và viết. Từ đó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở về</span> sau, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dần dần</span> bắt đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học hỏi</span> mọi lĩnh vực <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> khác. Lên bảy tuổi, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn giả</span> Longchenpa thọ nhận từ cha pho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> kho tàng và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> Nyingma của Terton Nyangral Nyima Ozer, được biết đến là Tám Mệnh Lệnh – Hợp Nhất Chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thiện Thệ</span> (Kagye Deshek Dupa). Khi Ngài chín tuổi, mẹ Ngài qua đời.</p>
<p style="text-align: justify;">Cha Ngài Longchenpa qua đời khi Ngài mười hai tuổi và không lâu sau, Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới Sa Di</span> tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Samye cổ xưa do <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Liên Hoa Sinh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành lập</span>. Ngài nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu</span> <b>Tsultrim Lodro</b> “Trì Giới Tuệ” và sau đó, cũng được biết đến là <b>Drime Ozer</b>, tức “Vô Cấu Quang”. Từ năm mười hai tuổi đến khi bước sang tuổi hai mươi bảy, Ngài đã học <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">các chủ</span> đề chung, chẳng hạn y học, chiêm tinh, logic và ngữ pháp. Năm mười chín tuổi, Ngài bắt đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> trong hơn sáu năm tại Sangphu Neutok, học viện <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> Kadampa vĩ đại. Thời nay, chỉ còn lại những tàn tích của học viện này.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài Longchenpa đã thọ nhận và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mở rộng</span> mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật Pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> cả các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương thừa</span> của nhiều trường phái và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span>. Nhờ các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mở rộng</span>, Ngài trở nên khá <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> và được trao <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu</span> <b>Longchen Rabjam</b> nghĩa là “Cõi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bao La</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Uyên Bác</span> Phổ Quát” hay “Cõi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bao La</span> Bao Trùm Khắp”. Và khi đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư ngụ</span> gần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Samye vĩ đại, Ngài cũng được biết đến vào lúc này là “Vị Thọ Nhận Nhiều Trao Truyền Của Samye” (<b>Samye Lungmangpa</b>). Ngài có thể tụng thuộc lòng tất cả các trích dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên quan</span> từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kinh điển</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> và người ta có thể nghe thấy nhiều Lama khác <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận xét</span> rằng: “Thậm chí đừng cố <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tranh luận</span> với Ngài; Ngài thuộc lòng mọi kinh văn”.</p>
<p style="text-align: justify;">Hai mươi bảy tuổi, Ngài Longchenpa thấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản thân</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> ngập tràn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩ</span> xả ly. Ngài hiểu rằng cực kỳ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> thì chưa đủ và đã đến lúc thực sự đưa vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chân ngôn thừa</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương thừa</span> hay “Kim Cương thừa” <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chân ngôn Bí mật</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phi phàm</span>. Vì thế, Ngài Longchenpa sống <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span> của một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> lang thang, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự tại</span> đi đến các vùng quanh Lhasa và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phụ cận</span>, chỉ mang một túi và một chiếc lều nhỏ. Ngài đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuân theo</span> lối ‘Drakhor’ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span>, cách thức của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành hương</span>, tức là đi bộ từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> này đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> khác, ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> và sau đó, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham gia</span> vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tranh luận</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trả lời</span> các câu hỏi. Khi một Lama rất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành công</span> trong điều này, vị ấy sẽ phát triển được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh tiếng</span> lớn lao và được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kính trọng</span> là một quyển kinh văn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo</span> ‘sống’. Giống như một cuốn sách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, những Lama như vậy thường mang những tấm ván trông giống như miếng bao kinh sách, được buộc ở phía trước và sau mà trên đó viết rằng: “Một quyển <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> sống”.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong giai đoạn này của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span>, Ngài Longchenpa đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm kiếm</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span> và trong quá trình, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trải qua</span> vô vàn khó khăn. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Sư</span> Melong Dorje “Gương Kim Cương” được xem là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span> vĩ đại của các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thì thầm</span> (Nyengyu) của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tâm Yếu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bí Mật</span> Của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vô Cấu</span> Hữu (Vima Sangwa Nyingtik), nhưng Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span> vào lúc này. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tuy nhiên</span>, tâm tử hay vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kế thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> của Ngài là Rigdzin Kumaradza Yeshe Shonnu “Trì Minh Vua <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trí Tuệ</span> Trẻ Trung”, vị đã thọ nhận tất cả trao truyền về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luận giải</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> cốt tủy từ Đức Melong Dorje.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trì Minh</span> Rigdzin Kumaradza đang sống ở khúc phía trên của Thung lũng Yarlung ở Yartodkyam, trong một khu trại với khoảng một trăm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span>, những vị sống ở đó trong các lều nhỏ làm từ nỉ Yak. Dường như sống trong khu trại ở thung lũng trên núi là chuyện <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoải mái</span>, nhưng sống ở đó chẳng hề <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoải mái</span>. Trong những tháng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mùa đông</span>, tuyết rơi dày và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô cùng</span> lạnh và gió dữ đến mức không thể nhóm lửa, gây ra những khó khăn ghê gớm. Chính Đức Kumaradza cũng sống trong túp lều một người chỉ đủ lớn để Ngài có thể ngồi thẳng trong đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Rigdzin Kumaradza đang giảng dạy Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tâm Yếu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vô Cấu</span> Hữu (Vima Nyingtik) cho đoàn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tùy tùng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span>, những vị giống như một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đàn tràng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span>. Chư vị đều đang trụ trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> nguyên sơ, trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điều kiện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> của Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span>; vì thế, chư vị không giống như những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> bình phàm. Mặc dù <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bề ngoài</span>, chư vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> chỉ là một khu trại của những người ăn xin, trong khu trại đó có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> – Đức Kumaradza, vị bất khả phân với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vô Cấu</span> Hữu, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị đạo</span> sư Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span> từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span>; các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> [được giảng dạy] là Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span> và có đoàn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tùy tùng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Dzogpa Chenpo.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Ngài Longchenpa lần đầu tiên gặp Đức Kumaradza, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> được thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> từ vị này. Đức Kumaradza <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hài lòng</span> và bảo rằng, “Đêm qua, Ta có một giấc mơ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt vời</span> với các dấu hiệu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô cùng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cát tường</span>, điều chỉ ra rằng con sẽ đến và kết nối <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phụ thuộc lẫn nhau</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>. Sau đó, khi Ta thấy con, Ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lập tức</span> biết rằng con sẽ là vị trì giữ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> của Ta”. Đức Kumaradza <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">yêu cầu</span> Ngài Longchenpa ở bên và bảo rằng sẽ dạy Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trong suốt</span> giai đoạn này của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span>, Ngài Longchenpa đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trải qua</span> mọi kiểu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vất vả</span>, gian khổ và khó khăn. Ví dụ, vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời kỳ</span> trước, ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> cũng như ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span>, khi ai đó thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>, đóng phí <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> như một sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> cho những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> được thọ nhận là điều bắt buộc. Dâng các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương tiện thiện xảo</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy công đức</span>, mặc dù ngày nay ở phương Đông, không có tiền phí [để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham gia</span>] sự trao <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền giáo</span> lý, điều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa vào</span> sự đóng góp của các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tín đồ</span>. Ngày nay, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> một Mandala cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, nhưng vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời kỳ</span> này, người ta thường <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> bột lúa mạch hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngũ cốc</span>. Như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> thấy trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiểu sử</span> của Dịch giả Marpa, Ngài Marpa phải <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> hai mươi sáu gánh lúa mạch do Yak thồ như là tiền phí <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> để thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> Hevajra và sáu gánh để thọ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Du Già</span> Nữ (Vajrayogini) từ một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> Sakya.</p>
<p style="text-align: justify;">Do đó, khi Ngài Longchenpa ở bên Đức Kumaradza, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> một khoản phí <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> đến Đ<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ạo sư</span> là phong tục và mặc dù cực kỳ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span>, Ngài Longchenpa không có những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thí chủ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giàu có</span>. Ngài giống như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> ở đây trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> tập trung vào việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cố gắng</span> thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> từ chư Đ<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ạo sư</span> và sau đó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân chính</span>. Ngài Longchenpa khi ấy sống như một người ăn xin và chẳng có gì để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> khi Đức Kumaradza sắp ban các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span>. Ngài sống bên ngoài, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chịu đựng</span> tuyết lớn và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">yếu tố</span> khắc nghiệt, chỉ có một chiếc bao tải mà Ngài dùng như là nệm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> vào ban ngày và túi ngủ vào ban đêm. Ngoại trừ y áo và chiếc bao tải này, Ngài Longchenpa chẳng có gì khác; nhưng bên trong, Ngài vốn đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sở hữu</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giàu có</span> của Dzogpa Chenpo, Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Dĩ nhiên</span>, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> tiền phí <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> bằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngũ cốc</span> này không phải dành riêng cho Đức Kumaradza mà để nuôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> tập hội. Điều đó giống như khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> bước vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> ở đây và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> cần ai đó tài trợ các chi phí <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sinh hoạt</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> và những vị trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span>, để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhất tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span>. Ngài Longchenpa nhắc đến trong các trước tác rằng bởi không có tiền phí <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trải qua</span> nhiều khó khăn. Ngài nghĩ: "Đạo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sư tôn</span> quý sắp ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>, nhưng tôi lại chẳng có gì để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span>. Dường như tôi chẳng có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công đức</span>; vì thế, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tốt hơn</span> là tôi rời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi trước</span> vào sáng mai, trước khi bình minh. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span>, các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> khác sẽ không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hài lòng</span> và sẽ gây khó dễ cho tôi nếu tôi chẳng có gì để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> vì giáo lý.'' Nhưng đêm đó, Đức Kumaradza, nhờ sức <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần thông</span>, thấy điều mà Ngài Longchenpa đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dự định</span>. Đức Kumaradza gọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thị giả</span> và nói rằng chính Ngài sẽ trả phần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phí của</span> Lama Samyepa – như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn giả</span> Longchenpa thường được biết đến khi ấy.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> thấy rằng Longchenpa khiêm nhường phải ngủ trong bao tải cũ giữa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mùa đông</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, chứ đừng nói đến những khó khăn của Tổ Milarepa, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> thấy rằng các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> vĩ đại đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trải qua</span> khó khăn ghê gớm. Ngày nay, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> có thể có những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan niệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lãng mạn</span> và nghĩ rằng khi Ngài Longchenpa sống trong khu trại của Đức Rigdzin Kumaradza, mọi chuyện cũng không khó khăn lắm. Nói về điều đó thì dễ, nhưng những vị có mặt đã phải <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trải qua</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn cảnh</span> khắc nghiệt khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> không ngừng nghỉ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> của Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span>. Mỗi ngày, Ngài Longchenpa chui vào và chui ra khỏi bao tải, chẳng nghĩ đến việc liệu Ngài có chết vì sự khắc nghiệt của các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">yếu tố</span> hay không. Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trải qua</span> vô vàn khó khăn để thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span> và thực sự đưa chúng vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiểu sử</span> của Ngài Longchenpa, ở điểm này, thật xứng đáng khi nhắc đến rằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong suốt</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span>, Ngài Longchenpa đã trao nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời khuyên</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">then chốt</span> cho các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện tại</span> và tương lai. Ví dụ, Ngài đã viết lại ba điểm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọng yếu</span> vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi lạc</span> của các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> trong tương lai. Ngắn gọn, ba điểm này là:</p>
<p style="text-align: justify;"><i>1) <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cầu nguyện</span> đến Đ<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> vì sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span>;</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>2) Xem Đ<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ạo sư</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện thân</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tam Bảo</span> và vì thế, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cầu nguyện</span> đến Đ<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ạo sư</span> để tịnh hóa các che chướng và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy công đức</span>;</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>3) <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giữ gìn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thệ nguyện</span> Samaya, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới luật</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương thừa</span>.</i></p>
<p style="text-align: justify;">Từ điểm thứ nhất, người ta nói rằng vua của mọi lời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cầu nguyện</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">diễn tả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và lòng sùng mộ với chư Đ<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span>. Để hiểu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn giả</span> Longchenpa, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thật hữu</span> ích nếu biết rằng khi đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>, Ngài Longchenpa đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên tục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cầu khẩn</span> mãnh liệt đến Đức Kumaradza và chư Đ<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh tấn</span> hòa tâm trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Du Già</span> với lòng sùng mộ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thành</span>. Ngày nọ, trong khóa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> sáu năm, một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> không tạo tác về lòng sùng mộ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phi phàm</span> khởi lên trong Ngài và Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm thấy</span> tâm Ngài và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm trí</span> tuệ của Đức Rigdzin Kumaradza <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> một, bất khả phân. Đây là cách mà Ngài Longchen Rabjam <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân chính</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> của Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ khoảnh khắc đó, Ngài luôn luôn trụ trong Định trong mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span>, dù đang ngồi, đi hay ngủ. Do đó, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> có thể hiểu được tầm quan trọng lớn lao mà Ngài Longchenpa dành cho điểm đầu tiên trong ba điểm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọng yếu</span> của Ngài, tức có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và lòng sùng mộ với chư Đ<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ạo sư</span>. Đó là cách mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> thọ nhận sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> của Đ<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ạo sư</span> và chư Đ<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span>, thứ là nền tảng để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Điểm thứ hai là người ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cần cầu</span> nguyện đến Đ<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ạo sư</span> như là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện thân</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tam Bảo</span> và theo cách này, tịnh hóa các che chướng và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy công đức</span>. Bởi Đ<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ạo sư</span> là nền tảng để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy công đức</span> lớn lao, điều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô cùng</span> quan trọng là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Du Già</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy công đức</span> và tịnh hóa tất cả che chướng. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại diện</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> các cội nguồn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quy y</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tam Bảo</span> – Phật, Pháp và Tăng, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tam Căn</span> Bản – Đ<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ạo sư</span>, Bổn tôn và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Không Hành Nữ</span>; và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tam Thân</span>, tức các “thân giác ngộ”. Do đó, nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cầu nguyện</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phụng sự</span> Đ<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ạo sư</span> và nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>, dâng và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> và v.v... người ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy công đức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao la</span> cần để đạt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span>. Giống như vậy, tất cả nghiệp, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ác hạnh</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lỗi lầm</span> và che chướng được tịnh hóa nhờ sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span>. Ngài Longchenpa đang nói với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> trong cả điểm thứ nhất và thứ hai rằng nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> muốn đạt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> cần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nỗ lực</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thành</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Du Già</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Điểm thứ ba mà Ngài Longchenpa viết về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên quan đến</span> khả năng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vi phạm</span> các Samaya, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới luật</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chân ngôn Bí mật</span>. Ngài nói với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> trong một vài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> rằng ngày nọ, Ngài cãi cọ với một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">huynh đệ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kim cương</span>. Cãi cọ hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đánh nhau</span> với các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">anh chị</span> em <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kim cương</span> là một trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sa sút</span> Mật thừa và sẽ tạo ra che <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chướng nghiệp</span> trong tâm. Vì thế, Ngài Longchenpa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lập tức</span> dâng lời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sám hối</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xin lỗi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">huynh đệ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kim cương</span> mà Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xung đột</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Về sau, trong nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>, Ngài Longchenpa nhắc đến rằng đôi khi, dù chẳng phải do lỗi của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản thân</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vẫn có</span> những người sẽ không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thích chúng</span> ta. Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span>, có thể có những người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đố kỵ</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> và muốn được như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> và những người có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thù hằn</span> hay thậm chí <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phỉ báng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>. Bất kể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> khác <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm thấy</span> thế nào với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>, Ngài Longchenpa khuyến khích <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> không tranh cãi hay tìm lỗi của các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">anh chị</span> em <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kim cương</span>, bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> có thể bị cuốn đi bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ác ý</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ác tâm</span> hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm giác</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tồi tệ</span> về họ. Ngài khuyên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> giữ các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới luật</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> thật tốt và tránh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xung đột</span> với các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">anh chị</span> em <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kim cương</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Bây giờ, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở lại</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">câu chuyện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn giả</span> Longchen Rabjam: Khi được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chấp nhận</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span>, Ngài Longchenpa đã sống cùng Đức Kumaradza trong sáu năm và thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> các trao truyền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đặc biệt</span>, dưới sự dẫn dắt của Đức Kumaradza, Ngài Longchenpa đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tâm Yếu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bí Mật</span> Của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vô Cấu</span> Hữu, từ các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> nền tảng (Ngondro) <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> của Trực Tiếp Cắt Đứt (Trekchod) và Trực Tiếp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vượt Qua</span> (Thogal). Đức Kumaradza đã dạy Ngài Longchenpa theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chỉ Dẫn</span> Truyền Miệng Của Sự Hướng Dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kinh Nghiệm</span> Vĩ Đại (Mengak Nyongtri Chenmo), điều dẫn dắt sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành trì</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> từng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bước một</span> qua các giai đoạn của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tuân theo</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> này, Ngài Longchenpa đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> khi Ngài có thể thực sự trải nghiệm các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tri kiến</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> và hành động mà Ngài thọ nhận nhờ sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> vĩ đại của Đức Rigdzin Kumaradza.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span> từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> Kumaradza, Ngài Longchenpa bắt đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> trong một khóa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> sáu năm tại Chimphu, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh thoảng</span> đến gặp Đức Rigdzin Kumaradza để thỉnh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời khuyên</span>. Sau đấy, tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thánh địa</span> Gangri Thodkar, Núi Tuyết Sọ Trắng, Ngài Longchenpa đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thành</span> giai đoạn của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span> được biết đến là “giác tính tột bực”. Vào một thời điểm sau đó, Ngài Longchenpa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> giai đoạn “cạn kiệt mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện tượng</span> vào Pháp tính”, cấp độ linh kiến thứ tư theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> Trực Tiếp Cắt Đứt đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thanh Tịnh</span> Nguyên Sơ (Kadak Trekchod). <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> không tạo tác của Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span> đã sinh ra trong tâm Ngài. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> Phật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện thân</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sống động</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp thân Phật</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phổ Hiền</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi đã đạt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span>, năm ba mươi mốt tuổi, Ngài bắt đầu giảng dạy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> làm vậy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> cuối đời, khi Ngài năm mươi sáu tuổi. Ngài đã dạy Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span> cho hàng nghìn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">may mắn</span> trong các vùng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xung quanh</span> Lhasa và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Samye vĩ đại và cả ở Bhutan. Tại Bumthang ở Bhutan, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành lập</span> ngôi chùa được biết đến là Tharpa Ling. Ngôi chùa được gọi là “Tharpa Ling”, tức “Giải Thoát Tự” bởi nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> đã bước vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> tại chính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thánh địa</span> này. Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gần đây</span>, Dodrupchen Rinpoche thường ban nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tâm Yếu</span> tại Tharpa Ling, nơi gần một ngôi làng được gọi là Samling. Tựu trung lại, Ngài Longchenpa đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành lập</span> tám địa điểm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> ở Bhutan; những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> này được biết đến là “Tám Chùa Ling”. Như một phần của kết <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nối nghiệp</span> với Bhutan, vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp theo</span> của Ngài Longchenpa, vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> kho tàng vĩ đại – vua Terton Pema Lingpa, cũng sinh ở Bhutan.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở về</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> từ Bhutan, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> cho nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">may mắn</span>. Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> này, Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biên soạn</span> vô vàn bản văn và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luận giải</span> cho mọi trường phái <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo</span> ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tuy nhiên</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span>, nhờ các trước tác, đối thoại và giảng dạy, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giữ gìn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> của Dzogpa Chenpo – Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span>. Trong nhiều phẩm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính giác</span> ngộ, Ngài Longchenpa được xem là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa hiện</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Văn Thù Sư Lợi</span>, vị Phật của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span>, vị đến làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng tỏ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giữ gìn</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Dzogpa Chenpo. Khi Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở lại</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> trao truyền Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> của Ngài Longchenpa được trao cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> Khenchen Khyabdal Lhundrub và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gián đoạn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> ngày nay.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài Longchen Rabjam <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span> vào năm 1363 tại Samye Chimpu, khu rừng và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Liên Hoa Sinh</span> và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span>, trong những ngọn núi phía trên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Samye vĩ đại. Lúc này, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">yêu cầu</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> sắp xếp vài cúng phẩm và muốn được ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một mình</span>. Khi họ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> được ở lại, Ngài Longchenpa bảo rằng họ có thể ở lại nhưng họ không được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">om sòm</span> mà cần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đơn giản</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>, khi Ngài sắp xả bỏ thân hư huyễn đã héo mòn. Sau đó, trong tư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế Pháp</span> thân <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sư tử</span>, Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi giới</span> nguyên sơ.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi chư Đ<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ạo sư</span> vĩ đại, những vị đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi theo</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span>, chư vị trực tiếp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> trong sự trực tiếp của nền tảng. Có hai cách mà chư vị có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiển bày</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật quả</span>. Một trong số chúng được gọi là “Phật quả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiển bày</span> hoàn toàn” (Ngonpar Dzogpa’i Sangye) và cách còn lại được biết đến là “Phật quả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân chính</span> và trọn vẹn” (Yangdakpa’i Sangye). Không có sự khác biệt trong phẩm tính giữa hai cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiển bày</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lâm chung</span> này, nhưng chúng khác biệt trong cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiển bày</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong hai cách này, cách trước <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiển bày</span> nhiều dấu hiệu và để lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xá lợi</span> vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi lạc</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>. Cách sau là khi Đ<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ạo sư</span> mang thân cầu vồng, chẳng để lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xá lợi</span> hay thi hài. Thay vì để lại thi hài, cả giới <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất tịnh</span> thô lâu và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới thanh tịnh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vi tế</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> tan hòa vào thân <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kim cương</span> của ánh sáng cầu vồng, có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kim cương</span>. Ngài Longchenpa đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span> theo cách trước và vì thế, Ngài để lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xá lợi</span> và tro cốt vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi lạc</span> và để truyền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm hứng</span> cho các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của Ngài và vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hữu tình</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> trong tương lai.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Ngài Longchenpa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span>, có mọi dấu hiệu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cát tường</span> của sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span> được biết đến là “Phật quả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiển bày</span> hoàn toàn”, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> cầu vồng, ánh sáng, sấm, trái đất rúng động và những cơn mưa hoa rơi xuống từ trời. Sau khi thân Ngài được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trà tỳ</span>, như là dấu hiệu của sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span> vào nền tảng nguyên sơ, năm kiểu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xá lợi</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm thấy</span> trong tro cốt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trà tỳ</span>. Trong số đó, có những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xá lợi</span> nhỏ trông như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">châu báu</span> và trông như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngọc trai</span> được gọi là Ringsel và có nhiều phần lớn hơn được biết đến là Kudung hay Dungchen. Kiểu sau lại có năm loại, tức những loại tro cốt khác nhau được biết đến là Shari Ram, Serri Ram, Bari Ram, Nyari Ram và Churi Ram. Chúng được cho là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại diện</span> cho năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span> Phật và sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện</span> của chúng chỉ ra sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> của Đ<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ạo sư</span> về năm thân <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năm trí</span> nguyên sơ. Cũng như tất cả năm kiểu tro cốt lớn hơn này, có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xá lợi</span> Ringsel như những viên ngọc nhỏ không thể bị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phá hủy</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm thấy</span> trong tro <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trà tỳ</span> của Ngài Longchenpa sau khi chúng nguội.</p>
<p style="text-align: justify;">Như một dấu hiệu rằng thân, khẩu và ý của Ngài Longchenpa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> là ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kim cương</span> và bất khả phân với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp thân</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phổ Hiền</span>, mắt, lưỡi và tim Ngài hòa thành một khối, lớn bằng nắm tay. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Xá lợi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">linh thiêng</span> này vẫn nguyên vẹn trước lửa và được truyền lại qua các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của Ngài Longchenpa và hiện thuộc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sở hữu</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thái Hậu</span> Bhutan. Xương sọ của Ngài Longchenpa vẫn nguyên vẹn sau khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trà tỳ</span>, tạo thành <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xá lợi</span> thiêng như đá, màu trắng vàng. Như thế, tất cả dấu hiệu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cát tường</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật quả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiển bày</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện</span> trong các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xá lợi</span> và tro cốt của Ngài Longchenpa. Điều đó đúng như trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Điển</span> Tro <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cốt Thân</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Rực Rỡ</span> (Kudung Barwai Gyud), một trong mười bảy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> của Phần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chỉ Dẫn</span> Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span>, điều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">miêu tả</span> các dấu hiệu được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm thấy</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xá lợi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trà tỳ</span> của vị đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> về Dzogpa Chenpo. Đây là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">miêu tả</span> ngắn gọn về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự giải thoát</span> của Ngài Longchen Rabjam.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Nyoshul Khen Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt ngữ: Pema Jyana (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Liên Hoa Trí</span>) </em></p>
<div>
<p><em>Trích: Longchenpa’s Life Story do David Christensen chuyển dịch Anh ngữ trong cuốn sách The Fearless Lion’s Roar.</em></p>
<p><em>Nguồn: </em><a href="https://thuvienhoasen.org/p38a37301/cau-chuyen-cuoc-doi-ton-gia-longchenpa"><em>Câu Chuyện Cuộc Đời Tôn Giả Longchenpa</em></a></p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/cau-chuyen-cuoc-doi-ton-gia-longchenpa/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử vắn tắt Tulku Dakpa Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-van-tat-tulku-dakpa-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-van-tat-tulku-dakpa-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 07 Feb 2022 09:44:58 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Mindoling Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Mindroling]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=10807</guid>
		<description><![CDATA[Tulku Dakpa Rinpoche sinh ngày 25 tháng 11 năm 1975 là con trai của Lama Thubten Kalsang tôn quý và bà Yongdu Wangmo. Ngài được Kyabje Minling Trichen Rinpoche công nhận là vị tái sinh thứ ba của đạo sư Tây Tạng Gegong Rogza Sonam Palge Rinpoche. Lên tám tuổi, Ngài bắt đầu các nghiên cứu Giáo Pháp với cha trong ngôi làng của Tu viện Dzogchen, một trong sáu Tu viện chính của truyền&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-van-tat-tulku-dakpa-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Tulku Dakpa Rinpoche sinh ngày 25 tháng 11 năm 1975 là con trai của Lama Thubten Kalsang tôn quý và bà Yongdu Wangmo. Ngài được Kyabje Minling Trichen Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công nhận</span> là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> thứ ba của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> Gegong Rogza Sonam Palge Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Lên tám tuổi, Ngài bắt đầu các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> với cha trong ngôi làng của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Dzogchen, một trong sáu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> chính của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Nyingma. Ở đó, Ngài học nghệ thuật đọc và viết cơ bản bằng Tạng ngữ và nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi quỹ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span>, chẳng hạn Konchok Chidu và Karling Shitro – một trăm vị Tôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an bình</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phẫn nộ</span>, một Terma được Karma Lingpa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span>. Mười tám tuổi, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia nhập</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Mindrolling ở Dehra Dun, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span>, được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> bởi Kyabje Minling Trichen Rinpoche và Khochhen Rinpoche. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Mindrolling là cội nguồn hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> mẹ của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Nyingma. Minling Khenchen Rinpoche đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền giới</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sa Di</span> cho Ngài. Tulku Dakpa Rinpoche đã tốt nghiệp Học viện Ngagyur Nyingma – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật học viện</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Mindrolling như là vị trì giữ cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kinh thừa</span> và Mật thừa sau khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> ở đó trong chín năm. Trong quá trình <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span>, Ngài đã học <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiến thức</span> chung về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lịch sử</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thi ca</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> xác thực, cũng như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiến thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> từ các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luận giải</span> của chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> về Luật, Kinh và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Luận Tạng</span> – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ba thừa</span> của Phật. Hơn thế nữa, Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> nhiều bản văn về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiến thức</span> Mật thừa vĩ đại, chẳng hạn các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luận giải</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> Guhyagarbha của chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> vĩ đại – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn giả</span> Lochen Dharmashri và Kunkhyen Longchen Rabjam<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20TULKU%20DAKPA%20RINPOCHE.docx#_ftn1">[1]</a> và Dzogpa Chenpo Semnyid Ngalso, tức Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span> – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">An Trú</span> Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bản Tính</span> Tâm của Kunkhyen Longchen Rabjam. Trong chín năm ở đó, Ngài đã thọ nhận hầu hết các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> từ Khenchen Tsewang Rigdzin, cố Khenpo Jampal Tsering và từ nhiều Khenpo khác trong Học viện. Trong lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span>, Ngài đã dạy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lịch sử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thi ca</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> xác thực, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Đạo</span>, v.v... cho các lớp khác trong Học viện, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuân theo</span> mệnh lệnh từ chư Khenpo của Học viện. Ngài cũng là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biên tập</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên đầu</span> tiên của Ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Biên Tập</span> Minling trong ba năm. Trong nhiệm kỳ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biên tập</span> của Ngài, Ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Biên Tập</span> đã chỉnh sửa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Lịch Sử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Truyền Thừa</span> Mindrolling và Các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quy Tắc</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giới Luật</span> Của Học Viện.</p>
<p style="text-align: justify;">Tulku Dakpa Rinpoche thường viếng thăm Kyabje Minling Trichen Rinpoche để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span>, các trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span>. Kyabje Rinpoche là cha <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy nhất</span> trên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> bên trong của Tulku Dakpa Rinpoche và nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sức mạnh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng từ</span> và sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> của Ngài, Tulku Dakpa Rinpoche mở tâm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiến bộ</span> trên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span>. Lòng sùng mộ của Ngài với Kyabje Rinpoche ngày càng sâu sắc thêm, bất kể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hóa thân</span> của Kyabje Rinpoche có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> hay không. Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> Kyabje Trulshik Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20TULKU%20DAKPA%20RINPOCHE.docx#_ftn2">[2]</a> soạn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Du Già</span> về Kyabje Minling Trichen Rinpoche. Kyabje Trulshik Rinpoche đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoan hỷ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chấp nhận</span> và soạn một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi quỹ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Du Già</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô cùng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span>, điều mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span> Mindrolling đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Rinpoche đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm kiếm</span> các vị trì giữ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> khác nhau và thọ nhận những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> quan trọng từ chư vị. Ngài đã thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> cho Kama – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> truyền miệng của trường phái Nyingma từ Kyabje Taklung Tsetrul Rinpoche tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Mindrolling. Ngài thọ nhận hai lần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> về Rinchen Terdzod – Kho Tàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quý Báu</span>: <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một lần</span> từ Kyabje Penor Rinpoche tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Shechen với phần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> từ Shechen Rabjam Rinpoche và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một lần</span> từ Kyabje Taklung Tsetrul Rinpoche tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Mindrolling với phần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> từ Namkhai Nyingpo Rinpoche. Ngài cũng thọ trao truyền Damngak Dzod – Kho Tàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chỉ Dẫn</span>, một tuyển tập <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> từ tám trường phái khác nhau của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> do <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn giả</span> Jamgon Kongtrul<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20TULKU%20DAKPA%20RINPOCHE.docx#_ftn3">[3]</a> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết tập</span>, từ Kyabje Trulshik Rinpoche tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Shechen cũng như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> Mindrolling tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Mindrolling. Ngài thọ trao truyền cho các quyển gốc của Longchen Nyingtik [Nyingtik Tsapod] từ Kyabje Pema Kalsang Rinpoche ở Bỉ. Khi ấy, Kyabje Pema Kalsang Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính thức</span> tấn phong Ngài là [vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> của] Drupwang Rogza Sonam Palge Rinpoche và soạn một lời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cầu nguyện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trường thọ</span> cho Rinpoche. Rinpoche thọ Bảy Kho Tàng của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn giả</span> Kunkhyen Longchenpa hai lần: <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một lần</span> từ Tulku Rigdzin Pema Rinpoche tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Palyul ở Nam Ấn và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một lần</span> từ Khenpo Gelek Tenzin tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Mindrolling. Ngài cũng thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> từ nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị đạo</span> sư khác như Kyabje Khochhen Rinpoche, Khenchen Petse Rinpoche, Khenchen Thupten Rinpoche, v.v...</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi Kyabje Minling Trichen Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span>, Tulku Dakpa Rinpoche lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh ngộ</span> Kyabje Taklung Tsetrul Rinpoche và thọ nhận từ vị này tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> Kho Tàng Phương Bắc [Jangter] và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> Rinchen Terdzod lần thứ hai và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> là các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> của tâm. Tulku Dakpa Rinpoche thực sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm thấy</span> rằng Kyabje Taklung Tsetrul Rinpoche là sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiển bày</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng từ</span> lớn lao của Kyabje Minling Trichen Rinpoche với Ngài. Kyabje Taklung Tsetrul Rinpoche là một trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> gốc của Tulku Dakpa Rinpoche và Ngài vẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cầu nguyện</span> Kyabje Taklung Tsetrul Rinpoche trụ thế dài lâu và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên tục</span> dẫn dắt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 2007, Rinpoche viếng thăm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> trước kia của Ngài – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Gegong, một trong năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Longchen Nyingtik chính trong vùng Dzachukha, miền Đông <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, cùng với nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> Phần Lan của Ngài. Nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> Nyingma vĩ đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất thân</span> từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> này, chẳng hạn Dza Patrul Rinpoche, Khenpo Kunpal Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20TULKU%20DAKPA%20RINPOCHE.docx#_ftn4">[4]</a> và Kunkhyen Bopa Tulku Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20TULKU%20DAKPA%20RINPOCHE.docx#_ftn5">[5]</a>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> và cả làng đã cung nghênh Rinpoche bằng những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trang nghiêm</span>. Họ đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> Rinpoche những bức tượng, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo tháp</span> và bản <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">văn quan</span> trọng của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Phật, cùng với trăm con Yak, trăm con cừu và trăm con ngựa, nhiều loại gấm và v.v... Họ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô cùng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoan hỷ</span> khi được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh ngộ</span> Rinpoche và họ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> Ngài sớm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở lại</span> và ở lại lâu hơn, dẫn dắt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> và giảng dạy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong những kỳ nghỉ của Học viện, Rinpoche đã viếng thăm châu Âu để giảng dạy theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Tâm</span> Dzogchen Bỉ và thăm nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quốc gia</span> khác ở châu Âu từ năm 1999. Kết quả là, Ngài hiện đang sống tại Phần Lan, nơi Ngài là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng lập</span> và giám đốc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điều hành</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> Danakosha, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> gốc cho các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> của Rinpoche. Ngài cũng dẫn dắt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> Rangjung Osel – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> riêng ở miền Nam Phần Lan. Ngài thường ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> cho các cấp độ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo</span> khác nhau và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> cùng với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span>. Sự hào phóng lớn lao trong việc giảng dạy của Ngài đem đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> mới về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span> của nhiều người. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kiến thức</span> lớn lao, trái tim bi mẫn, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> tận tụy và khả năng dẫn dắt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> của Ngài thực sự được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trân trọng</span>. Rinpoche cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du hành</span> đến những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nơi khác</span> ở châu Âu, châu Á và Hoa Kỳ để ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> tại các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> khác nhau. Ngài là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo Tây Tạng</span> đầu tiên thường trú tại Phần Lan và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span> thực sự mong rằng Rinpoche trụ thế dài lâu và tầm nhìn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao la</span> của Ngài vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi lạc</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hữu tình</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> là những vị kết nối với Ngài, được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên thành</span> suôn sẻ và không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nỗ lực</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Được viết bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> Olli Pietiläinen theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> của Tulku Dakpa Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt ngữ: Pema Jyana</em></p>
<p><em>Nguồn Anh ngữ: <a href="https://tdr.bio/biography/">Biography</a></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn Việt ngữ: <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a37150/tieu-su-van-tat-tulku-dakpa-rinpoche">Tiểu Sử Vắn Tắt Tulku Dakpa Rinpoche</a></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-van-tat-tulku-dakpa-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
