<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Đạo sư Kathok</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/dao-su-kathok/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Sun, 07 Jun 2026 19:24:15 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Cam kết trì giữ đạo đức kiên định của Chatral Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/cam-ket-tri-giu-dao-duc-kien-dinh-cua-chatral-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/cam-ket-tri-giu-dao-duc-kien-dinh-cua-chatral-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 01 Sep 2022 03:38:02 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kathok Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Kathok]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11557</guid>
		<description><![CDATA[Chatral Rinpoche nổi danh trong cộng đồng Tây Tạng bởi giới luật tâm linh vô song của ngài, đặc biệt là khi xảy ra việc ngài tự chế không ăn thịt. Ăn thịt là một phương diện kiên cố của văn hóa Tây Tạng và rất ít người có thể kiêng thịt lâu dài. Đức Đạt Lai Lạt Ma trở&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/cam-ket-tri-giu-dao-duc-kien-dinh-cua-chatral-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Chatral Rinpoche nổi danh trong cộng đồng Tây Tạng bởi giới luật tâm linh vô song của ngài, đặc biệt là khi xảy ra việc ngài tự chế không ăn thịt. Ăn thịt là một phương diện kiên cố của văn hóa Tây Tạng và rất ít người có thể kiêng thịt lâu dài. Đức Đạt Lai Lạt Ma trở thành người ăn chay vào năm 1966, nhưng khi Ngài mắc bệnh viêm gan B, các bác sĩ Tây Tạng chữa bệnh cho Ngài đã nài nỉ Ngài ăn thịt trở lại, và cho tới ngày hôm nay Ngài vẫn tiếp tục dùng thịt với mức độ vừa phải. Một ít Đạo sư đương thời – chẳng hạn như Kangyur Rinpoche – cũng nổi tiếng là những người ăn chay nghiêm túc nhưng đó chỉ là ngoại lệ.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi tôi ở Đại Học Wisconsin – trong Chương trình Nepal năm 2000, tôi nghiên cứu về cách người Tây Tạng suy nghĩ về sự hội tụ có tính chất văn hóa của Phật Giáo và việc ăn thịt, và Chatral Rinpoche là một trong những người chính yếu tôi đã phỏng vấn. Đây là một vài trích dẫn từ cuộc phỏng vấn đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Tại sao ngài ngừng ăn thịt? Ngài bao nhiêu tuổi khi lập quyết định này?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Trong nhiều bản văn của Phật Giáo Nguyên thủy và Đại thừa có nói rằng ta không nên ăn thịt. Cũng tương tự như thế, một bản văn Kim Cương thừa nói rằng ta không nên hưởng thụ thịt và rượu. Vì thế tôi đang đi theo những giáo huấn của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Là một người tu hành, tôi không dùng thịt hay rượu và đồng thời tôi cố gắng bảo những người khác tránh dùng những món này. Đây là lý do của tôi – tôi đang nỗ lực để thúc đẩy người khác. Khi tới Bodhgaya tôi 47 tuổi và trước tất cả chư Phật và Bồ Tát tôi đã lập một lời nguyện từ bỏ thịt và rượu.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Vì sao ngài nghĩ rằng thói quen ăn chay là một phương diện quan trọng của việc thực hành Pháp?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Nếu bạn dùng thịt, điều đó đi nghịch lại những giới nguyện bạn đã thọ khi tìm kiếm sự nương tựa nơi Phật, Pháp và Tăng đoàn. Bởi khi bạn ăn thịt bạn cướp đi mạng sống của một chúng sinh. Vì thế tôi từ bỏ việc này.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Một vài người tuyên bố rằng ta có thể cứu giúp các thú vật mà ta ăn bằng cách cầu nguyện cho chúng, và như thế ăn thịt là một hành động từ bi. Là một trong các yogi và Lạt ma thành tựu nhất, ngài nghĩ sao về sự khẳng định này?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Với những năng lực siêu nhiên có được nhờ một vài thiền định, quả là có một vài vị chứng ngộ có thể làm các thú vật đã chết sống lại và giúp chúng đạt được một tái sinh hay giác ngộ cao hơn bằng cách tiêu thụ một ít thịt của chúng. Nhưng điều này không được thực hiện để làm phương tiện sinh sống mà chỉ vì mục đích cứu giúp thú vật đó. Cá nhân tôi không có năng lực đó và vì thế tôi không bao giờ ăn thịt. Dùng thịt trong thực đơn hàng ngày thì khác xa việc ăn thịt để giải thoát một chúng sinh bằng những năng lực siêu nhiên. Tôi chỉ là một hành giả bình thường thực sự không có những phẩm tính này. Vì thế, nếu tôi ăn thịt thì cũng chẳng khác gì bạn hay bất kỳ cư sĩ nào khác ăn thịt. Tôi sẽ phạm tội và mắc phải nghiệp xấu. Tôi không giả vờ như thể mình có những năng lực đặc biệt và ăn thịt, tôi chỉ tránh dùng thịt.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Ngài có biết các Lạt ma khác là người ăn chay?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Tôi biết nhiều Lạt ma xứ Tây Tạng. Đó là những người ăn chay thuộc phái Nyingma, Sakya và Geluk ở Tây Tạng. Tuy vậy, so với số Lạt ma ăn thịt thì những Lạt ma ăn chay rất ít. Hiện nay tôi 88 tuổi (vào năm 2000) và trải qua kinh nghiệm của tôi, tôi đã gặp nhiều Lạt ma ở Kham, Amdo – mọi miền của Tây Tạng – là những người không ăn thịt. Có những Lạt ma ăn thịt và có những Lạt ma không ăn. Tại tu viện của tôi ở Tây Tạng cũng có những Lạt ma ăn thịt và những Lạt ma ăn chay.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Nhiều hành giả Phật Giáo ở Hoa Kỳ ăn thịt bởi các Lạt ma Tây Tạng của họ ăn thịt. Ngài nghĩ thế nào về điều này?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Nhiều đại thành tựu giả ở Ấn Độ đã uống một lượng rượu khổng lồ và phát triển những năng lực thần thông. Một trong những đại thành tựu giả này là ngài Virupa đã uống rượu suốt ngày, treo mặt trời trên không trung và ngăn không cho nó lặn.(1) Naropa, Tilopa... là những Đạo sư vĩ đại. Nếu bạn có thể đạt được những năng lực siêu nhiên, bạn không cần phải theo khuôn mẫu của những người bình thường và bạn có thể uống rượu và ăn thịt. Những vị có các năng lực siêu nhiên vẫn có thể ban những giáo lý vĩ đại và làm lợi lạc tất cả chúng sinh. Vì thế, nếu những vị Thầy ở Mỹ thuộc cấp độ đó, bạn hãy yêu cầu tất cả những bằng hữu của bạn cùng tham gia việc uống rượu và ăn thịt với họ. Việc này hoàn toàn phụ thuộc vào cấp độ chứng ngộ ta đã thành tựu. Một Lạt ma hưởng thụ thịt và rượu vẫn có thể đưa dẫn người khác trên con đường đúng đắn, với điều kiện là họ đã phát triển những năng lực siêu nhiên.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Ngài thấy các Phật tử Tây Tạng ở hải ngoại đang thực hiện một nỗ lực chân thành nhằm giảm bớt việc tiêu thụ thịt của họ và trở thành người ăn chay, hay việc ăn thịt đã trở thành một phương diện kiên cố của văn hóa Tây Tạng?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Ở Tây Tạng chỉ có thịt và tsampa(2), không có lương thực chính yếu khác. Tây Tạng ở trên cao và khí hậu như ở một lãnh nguyên (tundra). Ở đó không có nhiều rau trái. Sau khi tới miền Nam Á, bạn thực sự không phải theo tục lệ dùng thịt và tsampa của Tây Tạng. Có nhiều loại trái cây và rau, những món phụ đầy bổ dưỡng – tất cả là những thực phẩm tốt lành. Mọi sự đều sẵn sàng. Vì thế thực sự không cần nói về những tục lệ của Tây Tạng như một sự bào chữa cho việc ăn thịt. Theo kinh nghiệm của tôi thì không ăn thịt có nhiều lợi lạc. Tôi đã 88 tuổi và từ khi ngừng ăn thịt, tôi không mắc chứng bệnh trầm trọng nào. Khi ngủ, tôi ngủ ngon lành. Khi thức dậy, tôi có thể bước đi tức thì. Khi đọc Kinh điển, mắt tôi có thể nhìn thấy thật rõ ràng. Tôi có thính giác rất tốt và có thể nghe thật chăm chú. Đây là những phẩm tính mà tôi đã kinh nghiệm từ việc kiêng thịt. Tôi không mắc bệnh hay chết khi ngừng ăn thịt; tôi không gặp những hậu quả xấu. Tôi có thể du hành bằng xe hơi, máy bay hay xe lửa mà không nôn mửa hay chóng mặt và tôi chẳng bao giờ nhức đầu. Tôi là một con người được hình thành bằng thịt và máu giống như bất kỳ ai khác và là bằng chứng cho thấy việc từ bỏ thịt không làm ta bệnh tật giống như nhiều người Tây Tạng dường như nghĩ như thế. Tôi đang nói với anh bằng kinh nghiệm riêng của tôi; chỉ có những điều tốt lành đến với tôi từ việc từ bỏ thịt.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Nhiều người Tây Tạng đã trích dẫn một đoạn Kinh nói rằng nếu ta không nghe, không thấy hay không nghi ngờ về món thịt được đặc biệt dành cho ta, thì món thịt ấy có thể dùng được. Ngài trả lời ra sao về điều này?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Nếu con vật bị giết mà ta không nhìn thấy thì điều đó giống như ăn cắp một thứ gì đó mà không bị bắt. Nếu bạn sử dụng lý cứ này thì việc ăn cắp đó cũng được coi là đáng tán thưởng. Bạn có thể nói điều gì nhơ bẩn mà không bị người khác nghe thấy – như thể bạn cần có chứng cớ để xét đoán điều đó có phải là một tội lỗi hay không. Những điều họ nói là không đúng. Sát sinh, trộm cắp và những hành vi tiêu cực khác chẳng bao giờ có thể thoát khỏi hậu quả. Cho dù những người khác không nhìn thấy nhưng các Bổn tôn, chư Phật và Bồ Tát nhìn thấy bạn đang làm những điều đó. Có một câu tục ngữ Tây Tạng nói rằng cho dù bạn không bị bắt gặp đang phạm một tội lỗi, nhưng chư thiên bắt quả tang bạn trong mọi lúc. Không thể làm bất kỳ điều gì không bị nhìn thấy – bạn luôn luôn bị các Bổn tôn quan sát. Các ngài nhìn thấy và hiểu những gì bạn làm – các ngài biết rằng bạn đã trợ giúp cho việc giết chết một con vật bằng cách mua thịt. Đây là câu trả lời của tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Một vài tu sĩ nói với con rằng bởi các côn trùng bị giết trong quá trình sản xuất gạo và những loại rau trái khác cho nên thực sự không có gì khác biệt trong việc dùng những thực phẩm này và ăn thịt. Ngài nghĩ thế nào về điều này?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Điều này có nghĩa là bạn không ăn bất kỳ thứ gì và sẽ chết đói. Nếu bạn nói rằng bạn đi trong một tháng mà không giết côn trùng khi dùng thực phẩm thì bạn sẽ chết. Nếu bạn chết, đời người quý báu này bị uổng phí. Vì thế nếu bạn để thân thể bạn bị hủy hoại thì điều đó có nghĩa là bạn đang tự tử, bạn đang tự giết mình. Khi nhìn thấy côn trùng trong gạo, bạn có thể thường xuyên lấy ra và thả chúng. Bạn không nhất thiết phải giết hại chúng sinh để ăn. Nhưng khi ta bước đi ta dẫm nát nhiều côn trùng dưới bàn chân. Ta có thể không nhìn thấy hay nhận ra chúng, hẳn là ta đang giết hại chúng. Không tỉnh giác không có nghĩa là ta không tạo ra bất kỳ tội lỗi nào, bởi xét cho cùng thì nhân và quả luôn luôn có ở đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau cuộc phỏng vấn, Rinpoche nói với tôi: “Hôm nay bạn tới hỏi tôi những điều này và tôi đã trả lời chúng. Điều này thật tốt. Tôi rất sung sướng. Bạn đã ghi lại cuộc trò chuyện của tôi, vì thế bạn nên thuật lại cho mọi người. Chúng ta đang ở tại hang động của Guru Rinpoche. Ở nơi đây, chúng ta đang trao đổi những câu hỏi và trả lời. Cho những người khác nghe những điều này thì thật tốt. Khi bạn thực hiện cuốn sách của bạn, hãy đưa buổi phỏng vấn của tôi vào phần đầu. Cảm ơn bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Tu viện của Rinpoche ở Yangleshod có treo hai tấm biển trên đó ghi những điều liên quan tới việc ăn thịt. Tấm biển thứ nhất viết bằng tiếng Tây Tạng, Nepal và Anh ngữ và là một trong những vật đầu tiên bạn nhìn thấy khi tới gần tu viện.</p>
<p style="text-align: justify;">Tấm biển có kích thước bốn mét vuông ghi:</p>
<p style="text-align: justify;">TUYỆT ĐỐI NGĂN CẤM DÙNG THỊT, ĐỒ UỐNG CÓ CHẤT CỒN VÀ THUỐC LÁ CŨNG NHƯ ĐÁNH BÀI HAY CỜ BẠC TRONG TU VIỆN PHẬT GIÁO NÀY.</p>
<p style="text-align: justify;">Một trong những giới luật chính yếu trong Phật Giáo là kiềm chế không dùng các chất gây say, cùng với việc cố gắng không sát sinh, trộm cắp, nói dối và tà dâm. Có ít Phật tử Tây Tạng ở ngoài truyền thống tu viện trì giữ nghiêm túc giới luật này và những hành giả Nyingma được coi là có uống rượu. Rinpoche không tha thứ cho điều này trong những đệ tử của ngài. Có một việc xảy ra cách đây vài năm khi các đệ tử của một Lạt ma quá cố tới xin Rinpoche ban phước. Các đệ tử này đặt một tấm hình của Lạt ma quá cố này trong phòng của Rinpoche. Khi Rinpoche nhìn thấy tấm hình, ngài nói: “Người này là một kẻ nghiện rượu và đã gãy bể các giới luật của ông ta, đừng để tấm hình này trong phòng tôi, hãy cất nó đi!” Khi vị thị giả lấy tấm hình ra khỏi khung gỗ thì bên dưới có một tấm hình khác. Rinpoche hỏi người trong hình là ai và được cho biết đó là con trai của vị Lạt ma quá cố và cũng là một người nghiện rượu nặng. Rinpoche tuyên bố: “Cha nào con nấy. Hãy lấy cả hai tấm hình của họ ra!”</p>
<p style="text-align: justify;">Đối với việc hút thuốc, Rinpoche nói:</p>
<p style="text-align: justify;">“Khuyết điểm chính yếu của việc hút thuốc là nó sẽ đóng kín lỗ mở Brahma (Phạm Thiên) trên đỉnh đầu ta. Vì thế vào lúc chết, ta sẽ rất khó thực hành phowa(3) khi nỗ lực làm tâm thức ta xuất ra từ đó, tự giải thoát khỏi luân hồi sinh tử hay đi tới ba cõi giới cao. Vì lợi lạc của bản thân và những người khác, các hành giả Giáo Pháp hoàn toàn không nên hút thuốc!”</p>
<p style="text-align: justify;">Tấm biển thứ hai được treo bên ngoài khu vực thờ phụng chính và viết bằng chữ Tây Tạng và Anh ngữ: “Trong khi dùng thịt của một con vật để làm béo tốt thân thể ta, làm sao ta có thể thực hành lòng bi mẫn chân chính? Vì sức khỏe của bạn, vì môi trường và vì các thú vật, hãy ngừng lại tập quán dơ bẩn này”. Tấm áp phích lớn này được đặt trong một khung bảo vệ được thực hiện bởi một nhóm bảo vệ quyền lợi của thú vật tại tu viện Dzogchen ở miền Nam Ấn Độ và nó cho ta thấy Rinpoche hết sức coi trọng giới đức này.</p>
<p style="text-align: justify;">Một bạn thân của gia đình Chatral Rinpoche là Pema, con gái của vị Thầy Nyingma vĩ đại Tarthang Tulku Rinpoche. Trong cuộc phỏng vấn do tôi thực hiện vào năm 2000, bà đã cho tôi một vài hiểu biết sâu sắc về tầm quan trọng của việc ăn chay trong thực hành lòng bi mẫn của Chatral Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Bà nói: “Việc ăn thịt rất dữ dội trên hệ thống rađa tâm linh của Chatral. Rinpoche có nối kết rất khăng khít với các thú vật. Ngài yêu thương thú vật. Ngài thích xem phim ảnh trên máy truyền hình về đời sống hoang dã. Lòng đại bi đã khiến ngài ngưng ăn thịt. Ngài cống hiến tất cả tiền bạc của ngài để cứu 70 xe vận tải đầy cá ở Calcutta. Đó là hoạt động hàng năm quan trọng nhất của ngài. Ngài cầu nguyện cho từng xô cá đổ xuống biển, cố gắng đưa chúng tới những cảnh giới cao hơn. Trong Pháp, không chỉ là vấn đề không làm điều gì – chẳng hạn như ăn thịt – mà còn là bảo vệ đời sống một cách tích cực.</p>
<p style="text-align: justify;">Rinpoche đã sống điều đó. Ngài được nối kết như thế trên một bình diện rộng lớn với chúng sinh và nỗi khổ của họ. Rinpoche bị lôi tới những nơi tăm tối, tội lỗi, đầy sát khí – tới những khu vực tế lễ thú vật của tín đồ Ấn giáo. Có lần ngài đưa cô con gái Saraswati của ngài và tôi tới nơi đó. Cảnh vật bên ngoài rất đẹp với hoa và nghệ thuật điêu khắc. Ngài mua một ít chim trong một cái lồng và thả chúng trên đỉnh mái nhà. Sau đó chúng tôi đi tới nơi hiến tế dê. Thoạt đầu tôi nhắm mắt lại, nhưng sau đó tôi nhìn thấy những con dê ngây thơ bị giết và máu tung tóe khắp nơi. Tôi chết khiếp. Rinpoche bước trên máu dê thật điềm đạm như thể ngài đang thiền hành. Ngài không bối rối chút nào bởi điều đó. Tôi cho rằng ngài đang cố dạy chúng tôi bài học về sự vô úy và nhẫn nại khi đối diện với đau khổ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Zach Larson</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Thanh Liên</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguyên tác: Chatral Rinpoche’s Steadfast Commitment to Ethics</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn Anh ngữ: <a href="http://www.shabkar.org/download/pdf/Steadfast_Commitment_to_Ethics.pdf">Chatral Rinpoche’s Steadfast Commitment to Ethics</a></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn Việt ngữ: <a href="https://thuvienhoasen.org/a5182/cam-ket-tri-giu-dao-duc-kien-dinh-cua-chatral-rinpoche">Cam kết trì giữ đạo đức kiên định của Chatral Rinpoche</a></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>(1). Một buổi tối Đạo sư vĩ đại Virupa đang uống rượu ở một quán rượu và người phục vụ ở quầy rượu bảo ngài rằng cho tới khi mặt trời lặn ngài có thể uống bao nhiêu cũng được mà không phải trả tiền. Vì ngài không mang nhiều tiền, ngài cắm purba (lưỡi dao nghi lễ) của ngài trên mặt đất nơi lằn ranh giữa bóng tối và ánh nắng mặt trời, khiến chúng đứng yên một chỗ và ngăn cản không cho mặt trời lặn.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>(2). Tsampa: bột mì làm bằng lúa mạch nướng hay các loại hạt khác. Một loại thực phẩm chính ở Tây Tạng.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>(3). Phowa là thực hành phóng xuất tâm thức ta qua kinh mạch trung ương của thân, phóng nó ra ngoài qua đỉnh đầu, được gọi là “cửa Phạm Thiên”. Khi ấy, tâm thức được hình dung như đi vào trái tim của Đức Phật A Di Đà. Theo cách này, vào lúc chết, ta có thể kiểm soát tốt hơn nữa bản tánh của hóa thân kế tiếp của ta.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/cam-ket-tri-giu-dao-duc-kien-dinh-cua-chatral-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử ngắn Đạo sư Nyoshul Khenpo Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/tieu-su-ngan-dao-su-nyoshul-khenpo-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/tieu-su-ngan-dao-su-nyoshul-khenpo-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 14 Sep 2015 05:19:35 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kathok Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Kathok]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5215</guid>
		<description><![CDATA[Đạo sư Đại Viên Mãn Nyoshul Khenpo Rinpoche và Đức Sogyal Rinpoche Đây hoàn toàn không phải là một namthar – một tiểu sử tâm linh – nó chỉ là một chuỗi những chuyện rủi ro. Tôi sinh ở miền đông Tây Tạng năm 1932. Cha tôi là một kẻ cướp lang thang, một kẻ cướp đường. Ông ta đánh&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/tieu-su-ngan-dao-su-nyoshul-khenpo-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>Đạo sư Đại Viên Mãn Nyoshul Khenpo Rinpoche và Đức Sogyal Rinpoche </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Jamyang-Dorje1.jpg"><img class="  wp-image-5219 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Jamyang-Dorje1-247x300.jpg" alt="Jamyang Dorje" width="365" height="443" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Đây hoàn toàn không phải là một namthar – một tiểu sử tâm linh – nó chỉ là một chuỗi những chuyện rủi ro. Tôi sinh ở miền đông Tây Tạng năm 1932. Cha tôi là một kẻ cướp lang thang, một kẻ cướp đường. Ông ta đánh đập, cướp giật và ngay cả giết người. Tôi thực sự không biết cha tôi, vì ông đã bỏ gia đình khi tôi còn rất nhỏ. Cha tôi giống như người các bạn thấy trong phim cao bồi, sống ngoài luật lệ trên lưng ngựa. Ông thường sống trong những miền hoang dã xứ Kham, miền đông Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong gia đình tôi có ba trai và bảy gái. Hai người anh tôi thì rất mạnh và thô lỗ, như cha vậy ; ông cũng rất yêu quý hai đứa con cứng rắn này. Tôi là đứa thứ ba, có hơi yếu đuối và nhút nhát. Cha tôi thường chê tôi, nói rằng tôi giống một đứa con gái và chẳng được gì. Cha tôi dạy các con mình chiến đấu, nhưng những đứa con gái và tôi không thích lắm sự đánh nhau, cho nên cha chúng tôi không để ý đến chúng tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Mẹ tôi là một tâm hồn dịu dàng và từ ái, một con người mộ đạo, với nhiều kiên nhẫn và chịu đựng. Bà có những ước mong thành thật thực hành Pháp, dù bà có quá nhiều con và nhiều chuyện để đối phó trong nhà. Bà nuôi hy vọng lớn lao rằng tôi sẽ đáp ứng những ước mong về Pháp của bà, bởi vì tôi giống bà ở tính cách dịu dàng và từ ái. Mẹ tôi tự bằng lòng với những phần thưởng đơn giản của đạo đức, cầu nguyện và sự hiến mình cho gia đình.</p>
<p style="text-align: justify;">Bà nội tôi, mẹ của người cướp đường, cũng thuần thành. Bà là một đệ tử không thường xuyên của đại sư Đại Toàn Thiện Nyoshul Lungtok Nyima, người là đệ tử ruột của Patrul Rinpoche. Rất say mê Pháp và thực hành, bà không học nhiều nhưng đã nhận những giáo lý và thực hành và hiểu chúng, như thế chuyển hóa bản chất bà. Bà cầu nguyện thường trực cho đứa con cướp bóc ương ngạnh của bà chuyển biến và thay đổi cuộc đời của nó.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi tôi còn là một em bé, bà nội tôi và mẹ tôi thường hát đi hát lại bên nôi, “Chúng con quy y Phật, chúng con quy y Pháp, chúng con quy y Tăng.” Cũng thế, họ thường cầu nguyện và nói với người khác về những giáo lý, và cầu nguyện đến Nyoshul Lungtok Tenpai Nyima, dù ngài ở đâu – họ thường không biết ngài ở đâu – một cách nhiệt thành, biểu lộ mong muốn tha thiết ngài sẽ đến để dạy và ban phước cho họ. Họ nhắc nhở mọi người ngài là một đại đạo sư như thế nào. Đó là lần đầu tiên tôi nghe đến tên thiêng liêng của vị guru này, Nyoshul Lungtok, – một cái tên gây cảm hứng cho tôi đến tận ngày nay.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi tôi lớn lên, bà nội tôi giải thích cho tôi Nyoshul Lungtok là lama gốc tôn kính của bà, và ngài đã cho bà một đời sống mới. Dù không học kinh điển, bà có kinh nghiệm trong Đại Toàn Thiện, và cũng thực hành những giáo lý bồ đề tâm. Bà hát tụng thần chú của lòng đại bi, Om mani padme hung, ba trăm triệu lần trong đời bà. Nếu người ta trì tụng một trăm triệu lần một thần chú, đếm mỗi lần với một xâu chuỗi, đó gọi là một toong-jor. Bà đã làm ba lần như thế trong đời bà – ba trăm triệu trì tụng thần chú của lòng đại bi, thần chú của Quán Thế âm, Om mani padme hung, thực hành thiền định và từ bi như vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Bà nội tôi khuyên tôi, bởi vì bản tánh tôi hiền lành, thực rất thích hợp để theo lối sống của mẹ tôi hơn là bắt chước cha tôi. Bà còn khuyến khích tôi tìm một lama-bồ tát thông thạo để dạy và huấn luyện tôi, và cố gắng trở nên giác ngộ như chính vị lama ấy – vì đó là điều Phật dạy.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong ba năm tôi chăm sóc gia súc của gia đình và những việc lặt vặt khác. Tôi chẳng học thứ gì, nhưng tôi nhớ nghĩ về vị lama mà tôi đã nghe tên. Trong thời gian này, khi tôi lên năm, mẹ tôi và bà đưa tôi đến tu viện Sakya gần đấy, nơi tôi được cắt tóc và cho một pháp danh. Năm tám tuổi, tôi vào tu viện. Có khoảng một trăm nhà sư, người thực hành và những lama trong tu viện ấy ở xứ Kham. Pháp danh của vị trụ trì là Jamyang Khenpa Tapkye ; ngài là ông cậu họ của tôi.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>NHỮNG NĂM ĐẦU TIÊN Ở TU VIỆN</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Là bà con, Jamyang Khenpa Tapkye quan tâm đến tôi. Tôi liền được dạy cho biết đọc và viết, chuyện đó là dễ dàng đối với tôi. Không phải đứa trẻ nào cũng có một dịp may như vậy. Để ở trong tu viện này, những người tập sự trẻ phải đi khất thực mỗi ngày chung quanh những làng lân cận. Tôi vẫn còn những vết sẹo nơi chân vì những con chó Tây Tạng khổng lồ, chó giữ nhà dữ tợn, chúng cắn tôi khi đi ngang qua cửa để xin tsampa, một loại bột nướng khô, thức ăn chủ yếu của người Tây Tạng. Khi những đứa trẻ tập sự không có gì, chúng sẽ bị đánh và bắt phải ngồi ở bên ngoài không có gì để chống lại với giá lạnh. Đó là một cuộc sống gian khổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào khoảng mười tuổi công việc của tôi là chăn cừu của tu viện, đôi khi ở trong chùa và đôi khi chăn ở ngoài, nơi những chỗ hoang vu. Khi trời nắng tôi được ra ngoài, rất thoải mái, cảm thấy rất hạnh phúc, chỉ xem chừng cừu gặm cỏ. Nhưng đôi khi trời mưa và lạnh cóng, với mưa đá và gió, tôi không chỗ ẩn núp. Hơn nữa tôi không thể thấy cừu biến mất trong sương mù và hẻm núi. Tôi phải tìm chúng để gom chúng lại và đưa về vào ban tối. Tôi biết chính xác chúng có bao nhiêu con. Tôi nhận ra từng khuôn mặt chúng và gọi mỗi con bằng tên nó.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào mùa xuân và mùa hè ngắn ngủi, có nhiều hoa dại và đủ loại chim ca hát. Kham rất đẹp vào thời kỳ ấy trong năm. Thời gian còn lại, khí hậu khá lạnh và khắc nghiệt. Tôi nhớ rõ ràng những ngày hè an vui của tuổi thơ khi khí hậu đáng yêu và tôi hoàn toàn sung sướng, ngồi ngoài nắng, hoàn toàn thoải mái và buông xả, khi đàn cừu gặm cỏ và tôi nhìn vào bầu trời xanh đậm màu ngọc bích và chỉ để tâm thức tôi tự do như nó là. Đấy là sự khởi đầu tự nhiên, không tạo tác của sự khai triển thiền định nơi tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Đôi khi những con chim ríu rít, và vài tư tưởng bắt đầu đến trong tâm, đại loại : Tôi làm gì ở đây, nghe những con chim chăng ? Tại sao tôi ở đây ? Bà tôi bảo với tôi rằng chỉ sự việc độc nhất đáng làm là thực hành và chứng nghiệm Pháp thánh, tuy nhiên dù tôi đã vào tu viện, hình như bây giờ tôi chỉ là một người chăn cừu. Làm sao tôi có thể theo những giáo lý và gặp một vị thầy đích thực, hơn là chỉ làm một người chăn cừu mặc đồ thừa rách rưới, phí phạm thời gian trong những cánh đồng ?</p>
<p style="text-align: justify;">Thu hết can đảm, tôi nói với mẹ tôi muốn học với một lama thật sự, có được những giáo lý tâm linh đích thực, và tìm ra Pháp thiêng liêng thật sự là gì. Rồi tôi bỏ tu viện và đến một thung lũng khác, nơi ấy có một đại lama cao cấp là Lama Rigdzin Jampel Dorje. Vị lama này quả thật là một đại sư giác ngộ, một đại thành tựu giả đã chứng ngộ sự hợp nhất của hai dòng giáo lý Đại Ấn (Mahamudra) và Đại Toàn Thiện (Dzogchen).</p>
<p style="text-align: justify;">Khi tôi khoảng mười hai tuổi, tôi bắt đầu và hoàn thành năm trăm thực hành sơ bộ hay ngondro, dưới sự hướng dẫn cá nhân của vị đại lama này. Rồi tôi cầu thỉnh và nhận lãnh từ Jampel Dorje những giáo lý chi tiết về sự không tách lìa của thực hành thiền shamatha (chỉ) và thiền vipashyana (quán). Tôi áp dụng những giáo huấn Kim Cương thừa về thiền định này trong kiểu mẫu Đại Ấn, theo Dòng Thực Hành. Sự thực hành này gồm bốn yoga nổi tiếng của Đại Ấn – nhất tâm, đơn giản, một vị và siêu vượt khỏi thiền định – chúng được soi sáng hơn trong ba thể thức không-thiền-định, không-tạo-tác (vượt khỏi hành động và không hành động), và không-phóng-dật.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi bắt đầu dần dần nhận ra rằng có lẽ thật khó khăn để thực sự tiến bộ trong thực hành tâm linh mà không có một nền tảng hiểu biết vững chắc những giáo lý tổng quát của kinh và tantra, và đặc biệt là Bồ đề tâm quý báu. Có nói rằng, “Thiền định mà không học thì giống như leo một ngọn núi mà không có đôi mắt ; học mà không thiền định thì giống như cố gắng leo một ngọn núi mà không có tay và chân.” Rigdzin Jampel Dorje chấp nhận. Thế nên tôi bắt đầu học với một vị khenpo quan trọng ở tu viện, một giáo sư tu viện trưởng uyên bác và thành tựu tâm linh. Tôi phải học và tụng đọc thuộc lòng vô số lời cầu nguyện, sadhana, kinh văn và bình giải trước chúng hội – một công việc khổng lồ.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi nghiên cứu ba lời nguyện của ba thừa, gồm những lời nguyện pratimoksha hay những lời nguyện giải thoát cá nhân từ Luật, những cam kết bồ tát và những samaya Mật thừa. Tôi nghiên cứu Bồ tát hạnh của đạo sư Đại thừa Ấn Độ Shantideva, những giáo lý Bồ đề tâm về tu hành tâm thức (sự chuyển hóa thái độ), của Atisha và rất nhiều giáo lý tương đối và tổng quát của Phật pháp, theo những kinh điển và bình giải của truyền thống Phật giáo. Tôi nhớ Mười Ba Đại Bản Văn. Về sau tôi nghiên cứu sâu về triết học Trung Đạo của Nargarjuna, biện chứng Trung Quán, ngữ nguyên học, luận lý, văn học Bát Nhã ba la mật, Năm Trang Hoàng của Asanga, A tỳ đạt ma câu xá của Vasubandhu và v.v… Cuối cùng tôi nghiên cứu toàn bộ Ba Tạng, gồm trong toàn bộ Tây Tạng gọi là Kangyur trong một trăm lẻ tám bộ lớn, cũng như những luận giải chi tiết của các pháp sư Ấn và Tạng trong một toàn bộ còn lớn hơn là Tangyur. Theo cách này, phối hợp với thực hành, tôi thông thạo ba thừa, gồm kinh và tantra – tất cả những giáo lý của đức Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Được phấn khích mạnh mẽ, tôi theo đuổi sự tu hành học giả này một cách cần cù. Dưới đạo sư phi thường Rigdzin Jampel Dorje và khenpo của tôi, tôi trải qua mười hai năm acharya hay tu học khenpo theo đúng truyền thống phối hợp với thiền định và hành thiền của Dòng Thực Hành Rimé không bộ phái, cho đến năm hai mươi bốn tuổi. Tôi nghiên cứu mọi giáo lý cần thiết để trở thành một khenpo, một tu viện trưởng và một giáo sư và đảm nhận mọi thực hành Đại thừa và Kim Cương thừa và những nhập thất trong đơn độc để thực hiện chúng. Tôi còn nhớ tôi là một chú bé nhỏ con và đơn độc, trong một vùng tôi không quen biết một ai, và người ta thường giễu cợt tôi như thế nào. Tôi cũng nhớ một cách biết ơn lòng tốt khó tin và sự rộng lượng hào phóng của vị thầy vô ngã của tôi khi tôi theo đuổi tất cả những học hành và tu tập này trải hơn mười hai năm.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>NHẬN NHỮNG GIÁO HUẤN CỐT LÕI</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Khi tôi mười tám, tôi nhận lãnh những giáo lý sâu xa và độc nhất, bí mật về bản tánh chính yếu của tâm, những giáo huấn cốt lõi của Longchen Nyingthig, tinh túy tâm yếu của những giáo lý Đại Toàn Thiện. Tôi đã nhận những giáo lý biệt truyền quý báu này về cái thấy, thiền định và hành động của Đại Toàn Thiện từ tái sanh (tulku) của guru của bà nội tôi – những giáo lý làm rõ nghĩa tối hậu của Phật Pháp và của rigpa, tâm Phật bẩm sanh, theo sự sắp xếp nền tảng, con đường và quả, một bộ ba được xem là một và không thể phân chia. Tôi sớm đạt được niềm tin không lay chuyển bên trong và sự xác tín về Đại Toàn Thiện tự nhiên này, những giáo lý bất nhị của Đại Toàn Thiện về tánh thanh tịnh bổn nhiên và sự hiện tiền tự nhiên hiện thân trong những thực hành Trekchod – Cắt Đứt, và Togal – Siêu Xuất.</p>
<p style="text-align: justify;">Nyoshul Lungtok Tenpai Nyima, người nối pháp của Patrul Rinpoche, đã chết những năm trước đó. Tái sanh tulku của ngài đã sanh lại, lên ngôi và được các đệ tử của vị đời trước gồm cả Khenpo Ngakga dạy dỗ. Chính vị tulku này, pháp danh là Nyoshul Lungtok Tenpai Nyima, đã đưa tôi vào bản tánh của tâm thức khi trao truyền những giáo lý này. Ngài là guru gốc của tôi. Tôi nhận pháp danh từ ngài và từ tu viện Nyoshul nơi chúng tôi sống với nhau, trong một quận ngoại ô vùng đại tu viện Kathok của Nyingma. Từ những lama này tôi thừa hưởng tất cả những giáo lý của Longchenpa và Jigme Lingpa. Tôi nhớ toàn bộ Bảy Kho Tàng của Longchenpa, cũng như hai bộ ba nổi tiếng của Longchenpa là Bộ Ba của Giải Thoát Tự Nhiên và Bộ Ba của Tự Do Bổn Nhiên của Tâm và Yonten Dzod, Kho Tàng của Những Phẩm Tính Giác Ngộ của Jigme Lingpa, giải nghĩa tất cả chín thừa theo truyền thống Nyingma của Phật pháp. Tôi hoàn toàn hạnh phúc.</p>
<p style="text-align: justify;">Tulku Shedrup Tenpai Nyima trao truyền cho tôi Nyengyud Men Ngag Chenmo, những giáo huấn cốt lõi nói nhỏ bên tai của Đại Toàn Thiện. Tulku Shedrup Tenpai Nyima là đệ tử chính của Khenpo Ngakga vĩ đại : Ngakgi Wangpo, một đạo sư Đại Toàn Thiện trí huệ-điên cuồng còn nổi tiếng đến ngày nay – một đạo sư Togal thấu suốt và là một hiện thân của tổ Đại Toàn Thiện Ấn Độ Vimalamitra. Khi tôi còn rất nhỏ, tôi đã gặp Khenpo Ngakga và nhận vài trao truyền từ ngài. Tôi còn quá nhỏ để học hỏi thực sự sâu xa với ngài Khenpo Ngakga, thế nên tôi dần dần nhận riêng những giáo lý của ngài Khenpo Ngakga từ Nyoshul Lungtok Shedrup Tenpai Nyima.</p>
<p style="text-align: justify;">Khenpo Ngakga có một phương cách uy nghi và sự lôi cuốn phi thường, một sự hiện diện khó tin nổi. Chỉ đi vào phòng ngài là những tư tưởng và ý niệm chấp ngã của người ta dừng lặng, mở ra cảnh giới trống trải vô ngã của rigpa một cách không cố gắng. Dù tôi chỉ là một đứa trẻ, tôi cũng còn nhớ lại đầy biết ơn thời kỳ đó, “Sự hiện diện đích thực của một đạo sư Phật giáo chân thật thực sự là thế ấy. Ai cũng hoàn toàn kinh ngạc và cảm ứng bởi sự rực rỡ tự nhiên và sự tinh thông tâm linh như vậy. Phước đức làm sao khi gặp một vị Phật sống ngay nơi thế gian này !”</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài Khenpo Ngakga nổi tiếng nhiều vì nhiều lý do. Một lần ngài ngồi ba năm trên đệm thiền, không đi đâu cả. Khi vị đại lama này làm một cuộc nhập thất ba năm, ngài ở trong trạng thái trong vắt của rigpa gọi là zangtal suốt cả thời kỳ ; không ai có thể thấy một cái bóng in xuống từ thân ngài trong suốt ba năm. Điều này tuyệt đối chân thật.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Khenpo Ngakga đang trong thiền định, vào những ngày tốt lành như ngày mồng mười mỗi tháng – ngày mỗi tháng của Guru Rinpoche, và ngày mười lăm – ngày trăng tròn, tám dấu hiệu xuất hiện trên thân ngài Ngakga, bởi vì thân ngài là hóa thân, sắc thân thực sự, sự biểu lộ trên trái đất của một vị Phật. Khenpo Ngakga có những phẩm tính không thể nghĩ bàn như vậy đến mức mà phẩm tính nào nghe ra cũng khó tin, nhưng có nhiều lama là đệ tử của ngài đã thành tựu giác ngộ hết lời ca tụng ngài. Jatral Rinpoche và Bairo Tulku Rinpoche ở Nepal là những đệ tử vĩ đại còn sống hiện giờ của Khenpo Ngakga.</p>
<p style="text-align: justify;">Truyền thống Đại Toàn Thiện nói rằng mỗi một trăm năm một đại sư giác ngộ của Đại Toàn Thiện xuất sanh từ trái tim của Vimalamitra để làm việc cho ý định của Phật trong thế giới này. Trong thế kỷ mười chín, đó là Jamyang Khyentse Wangpo, và trong thế hệ vừa rồi đó là Khenpo Ngakga. Khenpo Ngakga có hàng ngàn đệ tử chứng ngộ, nhưng Nyoshul Lingtok Shedrup Tenpai Nyima, guru gốc của tôi là người kế pháp của ngài, người nắm giữ những giáo huấn cốt lõi của Đại Toàn Thiện đặc biệt gọi là Nyengyud Men Ngag Chenmo, Dòng Những Giáo Huấn Cốt Lõi Truyền Tải về Tinh Túy Tâm Yếu. Đấy là dòng và giáo lý đặc biệt của tôi, giáo lý thể nghiệm (nyongtri) căn cứ vào những giáo huấn cốt lõi truyền tai của Nyingthig, tinh túy tâm yếu của Longchenpa và Jigme Lingpa toàn giác, cốt tủy của Đại Toàn Thiện vốn sẵn đủ, Dzochen. Đây là một dòng truyền thừa chỉ nói thầm cho một đệ tử vào một thời gian nào, không bao giờ cho đám đông. Nó được xem là cực kỳ hiếm có và quý báu. Tôi cũng truyền nó cho rất ít lama đệ tử thân thiết riêng tư.</p>
<p style="text-align: justify;">Những vị nắm giữ dòng và những đạo sư của giáo lý đặc biệt này đều đã giác ngộ, là những thành tựu giả triệt ngộ với những phẩm tính tâm linh không thể nghĩ bàn, nhưng những lama ngày nay như tôi chỉ là một cái bóng của những thiên thể sáng ngời tâm linh ấy. Những đạo sư thân thể ánh sáng cầu vòng ấy không dọi bóng ; ngày nay những người thân thể khuyết điểm như Nyoshul Khenpo tự cho là trao truyền giáo lý siêu việt ấy – vô lý biết bao ! Thuốc trường sanh của những giáo huấn cốt lõi để giải thoát trong dòng độc nhất này giống như hơi thở tươi mát của của những dakini trí huệ. Tiếng rống sư tử của Pháp đã được tuyên bày bởi những yogi như những sư tử tuyết vĩ đại trong đất nước Tây Tạng từ hàng ngàn năm nay, nhưng ngày nay chỉ có vài con chó như Nyoshul Khenpo đang sủa. Và không chỉ có vậy, họ đang đi đây đi đó đến mọi nước trong thế giới, sủa, ăn thức ăn của những người khác, làm rầm rĩ không biết hổ thẹn – đáng nực cười quá chừng !</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi đã ở vài năm tại tu viện Kathok, một trong sáu tu viện chính của phái Nyingma. Trong tiếng Tây Tạng Kathok được gọi là Kathok Dorje Den, nghĩa là Kathok Bodhgaya hay Kathok tòa kim cương của giác ngộ. Ngôi chùa đã bảy trăm năm ở Kham này nổi tiếng như Bodhgaya thứ hai. Kể lại rằng một trăm ngàn yogi đã đạt được thân thể cầu vồng ở đó. Một câu chuyện khác nhắc đến màu trời vàng thần thoại của Kathok, nơi nhiều vị tỳ kheo sống đến nỗi bầu trời thường trực phản chiếu màu vàng sáng của y các ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở Kathok những lama của tôi gồm mười hai đại tulku ; tám khenpo thành tựu tâm linh và uyên bác, những khenpo (khác với nhiều vị ngày nay) biết mọi thứ và nhớ toàn bộ đại tạng Kangyur và nhiều bình giải ; và năm lama giác ngộ không phải là tulku cũng không là khenpo, nhưng đã thành tựu những chứng đắc lớn lao qua nỗ lực tâm linh, trong khi vẫn là những hành giả tầm thường và là những cột trụ vững chắc của tăng đoàn.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi nhận sự trao truyền giáo huấn cốt lõi từ Tulku Shedrup Tenpai Nyima, tôi làm một năm ẩn tu trong hang, thực hành tummo, yoga nội nhiệt bí mật, và tập trung vào những giáo lý cốt lõi truyền tai này. Tôi còn tiếp tục theo đuổi việc học cho đến giữa những năm hai mươi. Tôi thực hành tummo trong nơi hoang dã đầy tuyết cho đến khi tuyết chảy tan quanh tôi. Trong thời kỳ thực hành mãnh liệt khác tôi sống một thời gian như một con thú hoang trong rừng sâu tự do thực hành rushen, những thực hành sơ khởi của Đại Toàn Thiện, với vài yogi khác dưới sự hướng dẫn của guru. Tôi còn nhớ việc sống tự do và buông xả như thế nào, vượt khỏi mọi câu thúc ý niệm và quy ước xã hội – giống như những đại thành tựu giả của thời xưa ! Đó là một thời kỳ tuyệt diệu của thực hành tâm linh. Emaho !</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi thực hành những sadhana Bát Nhã ba la mật đa thuộc Mật thừa gọi là Chošd hay Cắt Đứt Bản Ngã, thiền định suốt đêm trong những nghĩa địa khủng khiếp, hiến thân cho những hồn ma đói khát và những chủ nợ về nghiệp. Những thời kỳ khác tôi dùng để thiền định một mình trên những đỉnh núi đầy gió và trong những hang động đã được những đại sư ngày xưa làm phép để dùng, hay hành hương đến những cảnh trí thiêng liêng và những thung lũng giống như Shangri-la nơi các vị tổ nam và nữ của Phật giáo Kim Cương thừa đã thiền định, ở đó tôi làm những lễ cúng và những hoạt động công đức. Tôi hoàn thành sự tu tập Sáu Yoga của Naropa và Đại Ấn theo hệ thống Kagyu, cũng như Lamdray của phái Sakya – Con Đường và Quả, và Korday Yermay – sự Không Tách Lìa của Sanh tử và Niết bàn, và tantra anuttara yoga Kalachakra. Lama của tôi biết rằng tôi đã hoàn thành những thực hành khác nhau này, gặp gỡ những hóa thần bổn tôn ; và nhận những ban phước, trao truyền và quán đảnh trực tiếp từ các vị ấy, giống như những đạo sư gốc của dòng phái trong thời trước.</p>
<p style="text-align: justify;">Rồi tôi du hành, nhận những giáo lý và những trao truyền từ mười hai vị đạo sư giác ngộ khác từ mọi truyền thống và dòng phái khác nhau có ở Tây Tạng. Những vị đạo sư này tôi xem là những lama gốc của tôi. Lúc đó tôi biết tôi tìm kiếm cái gì và tìm ra nó ở đâu. Tôi thực hành và hoàn thành những giáo lý này, như thế trở thành một lama Rimé không bộ phái, kẻ thừa kế mọi giáo lý thiêng liêng của Tám Cỗ Xe Lớn của Phật giáo Tây Tạng, chúng hiện giờ được xếp vào bốn phái chính : Nyingma, Kagyu, Sakya và Gelug.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>ĐI KHỎI TÂY TẠNG</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Những người đồng tu và tôi phải đi khỏi Tây Tạng vào năm 1959. Sự thực hành tôn giáo vào những năm sáu mươi, bảy mươi được xem là chống phá chính trị. Tôi mất tiếp xúc với những người ở lại, kể cả những dấu vết của gia đình tôi. Tôi chỉ tái hợp với những anh chị em còn sống vào một chuyến viếng thăm miền đông Tây Tạng vào năm 1992.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở Ấn Độ, tôi đã thỉnh cầu và nhận được những giáo lý và trao truyền đầy đủ từ những vị đại đạo sư, gồm vị nhiếp chính của Padmasambhava tái sanh là đức Dudjom Rinpoche ; Dilgo Khyentse Rinpoche – hiện thân của Văn Thù và vị Phật sống, đức Gyalwa Karmapa thứ mười sáu. Về sau, những vị lama này, cũng như những vị khác Tai Situ Rinpoche, Pema Norbu Rinpoche, Sakya Trichen, và Dzigchen Rinpoche yêu cầu tôi làm Khenpo hay giáo sư tại các tu viện của ngài, để giáo dục tăng chúng và huấn luyện để thành khenpo trong các trường.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi vẫn cầu nguyện thường xuyên đến hai mươi lăm đạo sư gốc này, các vị đã cho tôi mọi sự tôi biết và tôi có. Cho dù người ta biết hàng trăm ngàn người tuyệt hảo – hay hàng trăm ngàn người xấu – thì tsawai lama hay guru gốc của mình vẫn là người quan trọng nhất trong cuộc đời. Thật ra, cái thực sự làm tôi kinh ngạc nhất không phải là các vị thầy của tôi, mà là giáo lý của Đại Toàn Thiện tự nhiên, Dzogchen : đó thật là sự lạ lùng kỳ diệu, thần tình và không thể quan niệm nhất trong kinh nghiệm của tôi, và là cái tôi biết ơn nhất. Tôi không thể diễn bày nổi sự biết ơn đối với các vị thầy, các vị đã ban cho tôi những giáo lý. Tôi cố gắng làm tất cả những gì tôi có thể để đền đáp lòng tốt của các ngài bằng cách truyền nó cho những người khác, bất cứ nơi nào tôi đã ở. Vì tôi thực sự tin rằng chính cái này, và chỉ cái này là lợi lạc sâu thẳm nhất.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi đã sống ở Ấn Độ một mình hai mươi lăm năm, không gom chứa vật gì, chỉ là một người già đơn độc, đôi khi đi dạo quanh với y áo kiểu lama Tây Tạng màu đỏ, đôi khi trong màu vàng cam hay màu vàng khất sĩ hay chỉ là những mảnh vải quấn. Đôi khi tôi thuyết pháp trong những tu viện. Tôi cũng có khi ở với những nhà khất sĩ ở Rishikesh và Haridwar, dọc sông Hằng, trong các tự viện, lều, mái che, dưới những tàng cây, bất cứ chỗ nào khi đêm xuống. Biết bao kinh nghiệm khác nhau như mộng ! Đôi khi tôi được tán dương và hoàn toàn thoải mái tiện nghi, thường hơn tôi bị bỏ quên và nghèo đói. Tuy nhiên sự giàu có vô cùng của chân lý và bình an bên trong chính là Pháp, nó luôn luôn nâng đỡ tôi sống hạnh phúc. Đôi khi tôi làm lễ quán đảnh cho những hội chúng lớn, gồm mười hai vị tulku và lama, nơi đó các vị để một cái bình vàng của lễ nhập môn vào tay tôi và tôi đặt nó lên đầu của hàng ngàn vị sư. Những khi khác tôi hoàn toàn nghèo khó, sống bằng tay nuôi miệng trên những con đường của Calcutta, lang thang lòng vòng ngửa tay xin đồng xu. Quá nhiều thăng trầm không ngờ nổi, ai có thể diễn tả cho hết ? Đời sống là như vậy, đầy những quanh co khúc khuỷu không mong đợi – như huyễn, vô thường, không chủ định, và không vững bền. Và cuối cùng, tất cả chúng ta đều chết. Thật là một quang cảnh !</p>
<p style="text-align: justify;">Quá nhiều những trải nghiệm, ký ức, và suy tưởng khác nhau – một số tốt và một số xấu – như nhiều loại giấc mộng khác nhau. Một đêm năm 1959 tôi cùng với bảy mươi người thoát khỏi Tây Tạng, và một vài ngàn binh lính ngoại quốc ở trên những ngọn núi chung quanh, tìm kiếm những người trốn thoát trong đêm tối. Quân lính thình lình khai hỏa, và đạn súng máy và đạn sáng khắp nơi. Bảy mươi người trong đoàn, chỉ tìm thấy lại năm người còn sống qua ngày sau. Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra cho số còn lại. Nhóm năm người chúng tôi tiếp tục đi bộ qua Hy Mã Lạp Sơn, Bhutan, Darjeeling, và Kalimpong – nơi nào có thức ăn, chỗ ở, và an toàn có thể tìm thấy.</p>
<p style="text-align: justify;">Rồi tôi sống nơi vùng thấp nhiều năm như một người tỵ nạn, lưu đày khỏi xứ Tuyết, chen chúc với những người khác trong những trại tỵ nạn đông đặc, những chuyến xe lửa ẩm thấp, xin thức ăn trong những đường xá nóng bức và bụi bặm Ấn Độ. Vài năm sau tôi không ngờ lại thấy mình vượt qua đại dương trong những chiếc phản lực khổng lồ, lên xuống dọc chiều dài của những ngôi nhà chọc trời như cây kim vĩ đại trong những thang máy điều hòa không khí ở những đô thị lớn của thế giới hiện đại, ngủ trong những khách sạn lớn trên nệm dày của những căn phòng hiện đại, ăn trong những nhà hàng và những hàng hiên ngập nắng, được phục vụ như một ông vua.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong những năm đầu thập niên bảy mươi, tôi bị một cơn bệnh suýt chết. Một số người nghĩ rằng tôi bị trúng độc trong một hiệu ăn ở Kalimpong. Hệ thống thần kinh của tôi bị tê liệt ; tôi hoàn toàn là một phế nhân trong vài năm. Trước đó, tôi đã ban những giáo lý rộng và sâu và những quán đảnh cho nhiều người, gồm những nhà sư, lama, tulku và cư sĩ khắp vùng Hy Mã Lạp Sơn. Sau đó tôi không thể thấy rõ, đi khập khiểng, tay run, và tôi chờ chết. Trong thời gian khó khăn ấy, tôi được chăm sóc trong tu viện của Kangyur Rinpoche ở Darjeeling. Kangyur Rinpoche và gia đình ngài đã chăm sóc ân cần cho tôi. Tôi luôn luôn nghĩ đến họ với lòng biết ơn và kính trọng sâu xa. Lama Sonam Tobgyal từ chùa Riwoché là thị giả tin cẩn của tôi trong sáu năm của thời kỳ ấy, ở Ấn Độ và sau này ở Châu Âu.</p>
<p style="text-align: justify;">Thời gian sau tôi được đưa đến Thụy Sĩ để chữa thuốc. Tôi ở hai năm với những người Tây Tạng theo tôi trong cộng đồng Tây Tạng ở đấy, rồi bảy đến tám năm ngơi nghỉ trong trung tâm Nyingma ở thung lũng Dordogne miền tây nam nước Pháp, chỉ thỉnh thoảng mới dạy. Trong bốn năm tôi ở và dạy trong trung tâm ẩn cư ba năm Chantelouse ở đó cho đến năm 1984.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì lúc ấy sức khỏe tôi được cải thiện và tôi hoạt động hơn, đi dạy khắp thế giới, cả Đông lẫn Tây, được những trung tâm của nhiều dòng phái khác nhau mời đến. Tôi có hai cuộc viếng thăm Tây Tạng : một lần với đức Khyentse Rinpoche và một đoàn tùy tùng năm 1990, và rồi với Penor Rinpoche năm 1992, khi tôi gặp những thành viên gia đình còn ở đây. Tôi hiện giờ đang làm việc để trùng tu ba tu viện của tôi và xây dựng vài bệnh viện ở Kham. Tôi hiện ở Thimpu, thủ đô của Bhutan, xứ sở Phật giáo độc lập cuối cùng còn lại trong dãy Hy Mã Lạp Sơn.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>NHƯ MỘT GIẤC MỘNG, NHƯ MỘT ẢO ẢNH</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Có phải cuộc đời giống như một cuốn phim hay một giấc mộng, như một chuỗi giấc mộng ở trong ảo ảnh như mộng bao la ? Làm thế nào để nhớ hết những màn khác nhau tất yếu lộ ra từ thời gian từ lúc tôi là một đứa bé tinh quái nhỏ con thất học cho đến bây giờ, khi tôi đã là một người lang thang đã già và lắm mồm với tóc bạc, kiếng lão và nếp nhăn ? Thật là một điều lạ lùng ! Già và còng. Một cảnh tượng ! Một du khách Tây Tạng đã già, mờ mắt nhìn ngó chung quanh ở những miền đất ngoại quốc ! Emaho ! Lạ lùng ! Kỳ diệu !</p>
<p style="text-align: justify;">Làm sao để giải thích những thất thường vô cùng của trải nghiệm, trừ phi xem tất cả là những công việc của luật nhân quả nghiệp báo không sai chạy ? Và ai tạo ra nghiệp này, ngoài chính chúng ta ? Khi chúng ta nhận thức rằng chúng ta tạo ra nghiệp của chính mình, và do đó chịu trách nhiệm về sự trải nghiệm riêng của chúng ta, tốt lẫn xấu, ưng ý và không ưng, có phải cái nhìn soi suốt này giải phóng chúng ta khỏi bực tức và thất vọng, thấm nhuần một ý nghĩa của tự do và trách nhiệm, cũng như lòng từ bi đối với những ai khổ đau vì thiếu vắng một tỉnh giác như thế ?</p>
<p style="text-align: justify;">Hẳn là chẳng có ý nghĩa gì với tôi khi nói về cuộc đời này, nhưng nó nhắc lại cho tôi tất cả giáo pháp thiêng liêng mà tôi đã thọ hưởng – một nguyên nhân đích thực cho sựï hưởng thụ trong những màn ồn náo rộn ràng này. Pháp đến trong nhiều hình thức, nhưng tất cả đều có một vị đơn nhất của bình an<br />
vĩ đại.</p>
<p style="text-align: justify;">Thật ra tôi chỉ là một con người tầm thường ; sự quan tâm duy nhất của tôi là phụng sự, giúp đỡ những người khác và phụ vào việc duy trì truyền bá Pháp. Tuyệt đối tôi không có công việc đăïc biệt nào để làm, nhưng tôi cảm thấy bởi vì Phật giáo đã giúp tôi quá nhiều trong cuộc đời này, nên tôi rất sung sướng khi giúp đỡ bằng cách đưa chính kinh nghiệm của tôi cho bất kỳ ai thích thú với Pháp. Tôi hy vọng trong tương lai, Pháp cao cả, những giáo lý giải thoát, sẽ nở rộ và làm lợi lạc cho mọi người dù họ là ai ở bất kỳ nơi đâu. Tôi không phải là một dịch giả, nên tôi không thể nói với người Tây phương trong ngôn ngữ của họ ; tôi chỉ cố gắng trình bày Pháp trong mọi cách tốt nhất mà tôi có thể làm.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi vui sướng khi thấy nhiều người Tây phương cũng cảm xúc khi thấy Pháp là lợi lạc, quan trọng và thâït sự ơn ích như thế nào. Đó là cái duy nhất mà tôi thực sự biết trong cuộc đời : những công đức tuyệt vời của Phật pháp. Bởi thế tôi cũng hoan hỷ thấy rằng người khác cũng cảm nhận như thế, và tôi biết rằng nếu họ áp dụng nó trong thực hành cụ thể, với sự soi chiếu vào trong, họ sẽ có thể rút ra lợi lạc từ những giáo lý sâu xa và ý nghĩa này. Không vĩ đại sao khi thấu hiểu cái Tự Biết độc nhất, trị bá bệnh này nó giải thoát và giải phóng mỗi một và tất cả, thay vì cứ tiếp tục trong sự theo đuổi không cùng vô tận những hình thức của cái biết, mà không có cái nào trong ấy có lợi lạc tối hậu cho mình và cho người ?</p>
<p style="text-align: justify;">Ngay trên những ga xe điện ngầm ở Paris và London tôi đã thấy những người – họ không phải là Phật tử – mà những khả năng tâm linh đã sắc bén để có thể làm cho họ trực tiếp nắm lấy nội dung chân thật của Pháp bất nhị, nếu họ chỉ cần được giới thiệu với nó bởi một vị thầy đủ phẩm chất. Khi giây phút của Đại Toàn Thiện xảy tới, à, nó đấy ! Đó không phải là vấn đề văn hóa hay nghiên cứu ; mà là hấp lực tâm linh và sự chín thành nghiệp quả của mỗi người.</p>
<p style="text-align: justify;">Những ngày hôm nay tôi phấn khởi được gặp các người thực hành Pháp của Tây phương, họ thành thực tìm kiếm hiểu biết kinh nghiệm đích thực và không bằng lòng với chỉ những nhạt nhẽo vô vị và sự kiện tôn giáo bên ngoài. Đấy là những người mong muốn và thiết tha phóng mình sâu vào trong chính họ, để học và hành những giáo lý, thậm chí làm những việc hy sinh, để nỗ lực trong sự trau dồi tỉnh giác tâm linh. Chẳng phải là Pháp ở khắp mọi nơi sao ? Chẳng phải là không có nơi nào khác để tìm kiếm và thấy ra nó, chỉ trừ trong chính mình, trong tâm và lòng của chính mình sao ?</p>
<p style="text-align: justify;">Như terma sadhana tối thượng Longchen Nyingthig Guru Yoga, Tigle Gyachen của Jigme Lingpa bắt đầu với :</p>
<p style="text-align: justify;">Không chư Phật không chúng sanh, vượt khỏi có và không có,<br />
Bản thân tánh giác bổn nhiên là guru tuyệt đối, chân lý tuyệt đối.<br />
Bằng cách an trụ tự nhiên, vượt ngoài bám trước, trong Bồ đề tâm vốn sẵn tự do và bẩm sinh toàn thiện này,</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi quy y và làm lộ bày Bồ đề tâm tuyệt đối.</p>
<p style="text-align: justify;">Một Vidhyadhadra hay đạo sư rigpa như Rigdzin Jigme Lingpa đã thực sự chứng ngộ Phật tánh qua con đường Đại Toàn Thiện. Bấy giờ, dù chưa từng học nhiều, bởi vì luân xa trí huệ của ngài nở bừng trọn vẹn, ngài có thể tự phát viết ra những bình giải vô giá, hát những bài ca giác ngộ doha rạng ngời, phát giác những terma quý giá của Longchen Nyingthig bằng sự phát hiện huyền bí, và chỉ dạy rộng rãi, soi sáng con đường chúng ta đi cho tới tận ngày nay, ba thế kỷ sau đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Cá nhân tôi không đạt đến Phật tánh và tôi không biết tôi sẽ ở đâu trong tương lai, trong đời này cũng như trong đời tới. Nhưng đấy thực sự không phải là vấn đề, hoàn toàn không ! Dù gì cái xảy ra, cứ xảy ra. Tuyệt đối không có cái gì để phải quan tâm. Tôi chỉ cảm thấy biết ơn những vị thầy của tôi, biết ơn giáo lý và biết ơn đức Phật, và tôi mong muốn rằng tất cả đều có thể tham dự vào nguồn ban phước này, những công đức này, nó thực sự thuộc về tất cả không trừ một ai. Bởi thế tôi liên tục cầu nguyện rằng tất cả chúng sanh có thể tạo nên sự tiếp xúc, kết hợp tốt lành này, qua bất kỳ phương tiện gì lợi lạc và thích hợp.</p>
<p style="text-align: justify;">Nguyện tất cả chúng sanh thức tỉnh trong ánh sáng của Đại Toàn Thiện vốn sẵn và thực hiện tự do, an bình và mãn nguyện toàn hảo !</p>
<p style="text-align: justify;">Sarva mangalam ! Nguyện mọi sự đều tốt lành toàn thiện, và nguyện hòa bình có trong thế giới này và phổ khắp toàn thể vũ trụ.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguyên tác: Một kẻ lang thang chứng ngộ - </em><em>Một phác họa tiểu sử của </em><em>Nyoshul Khenpo Rinpoche</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Trích dịch từ cuốn Đại Toàn Thiện tự nhiên  - </em><em>Nguyễn An Cư dịch - </em><em>N.X.B Thiện Tri Thức, 1999</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em> </em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/tieu-su-ngan-dao-su-nyoshul-khenpo-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Đức Zhichen Ontrul Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/tieu-su-duc-zhichen-ontrul-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/tieu-su-duc-zhichen-ontrul-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 06 Sep 2015 07:49:15 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kathok Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Kathok]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo Sư Kathok Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=4356</guid>
		<description><![CDATA[Ngài được xác chứng là hóa thân của đức Thangton Gyalpo, một trong những hành giả yogi vĩ đại nhất của Tây Tạng. Trong kiếp trước, Ngài là một trong những đạo sư đứng đầu dòng Nyingma Kathok có trụ xứ tại chùa Zhichen cũng chính là ngôi chùa cha tôi ở. Sau khi hoàn thành xong chương trình giáo&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/tieu-su-duc-zhichen-ontrul-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Ngài được xác chứng là hóa thân của đức Thangton Gyalpo, một trong những hành giả yogi vĩ đại nhất của Tây Tạng. Trong kiếp trước, Ngài là một trong những đạo sư đứng đầu dòng Nyingma Kathok có trụ xứ tại chùa Zhichen cũng chính là ngôi chùa cha tôi ở.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi hoàn thành xong chương trình giáo dục của tự viện năm mười tám tuổi, Ngài phụ trách việc trông nom nhiều ngôi chùa chi phái của ngôi chùa chính Zhichen. Ngài mang trọng trách tìm kiếm hóa thân của Zhichen Vairochana ở Derge và Dzongsar, đồng thời Ngài cũng tìm ra cha tôi với sự giúp đỡ của cố Dzongsar Jamyang Khyentse Rinpoche. Sau này, Ngài là người thực hiện lễ đăng quang cho cha tôi ở chùa Zhichen.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhận thấy rằng việc trông nom chùa chiền cũng chẳng khác nào thế sự tầm thường, Ngài muốn ẩn cư và tìm theo những bậc đạo sư chân thật để tu học đạo pháp. Nhưng mọi người thỉnh cầu Ngài không bỏ trọng trách ở chùa. Ngài bèn quyết định lâm bệnh và nói với chúng đệ tử rằng: "Nếu mọi người không cho ta đi theo con đường đạo pháp, thì sống như thế này với ta thật chẳng ích gì. Tùy các người lựa chọn hoặc để ta đi hoặc ở lại."</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi cho rằng, giống như nhiều bậc thầy giác ngộ khác, Ontrul Rinpoche đã biết được là đất nước Tây Tạng đang sắp lâm nạn nên chẳng có lý do gì để xây dựng thêm chùa chiền làm điều Phật sự. Vì thế, Ngài muốn tiếp tục tu trì Phật đạo để lợi ích chúng hữu tình về mặt đạo tâm hơn là theo phương cách phát triển chùa chiền.</p>
<p style="text-align: justify;">Nơi dừng chân đầu tiên của Ontrul Rinpoche là chốn ẩn cư Baney. Nơi đây, Ngài đi theo đạo sư Choktrul và thụ nhận giáo pháp Changthir của dòng Nyingma. Sau khi ở đây một vài năm, Ngài nghe đến danh tiếng của Ngài Shugchung Tsullo, một trong những vị đạo sư vĩ đại nhất hồi cuối thế kỷ thứ XIX. Và Ngài quyết định tìm đến giáo pháp của Shugchung Tsullo.</p>
<p style="text-align: justify;">Ontrul Rinpoche thụ trì pháp tu Dzogchen siêu việt cùng những giáo pháp căn bản của cả ba thừa với Shugchung Tsullo trong suốt mười tám năm. Ngay sau cuối buổi lễ quán đỉnh siêu việt về Đại Thiền Kiến Dzogchen, Shugchung Tsullo ấn chứng Ngài là đạo sư của dòng phái và cho phép Ngài truyền dạy cho bất cứ ai tìm học. Nhưng Ontrul Rinpoche không rời xa chốn ẩn cư của đạo sư Shugchung cho tới khi đạo sư viên tịch.</p>
<p style="text-align: justify;">Shugchung Tsullo là một trong những trưởng dòng chính của dòng Do Drupchen và Changthir. Ngài không những là một học giả uyên bác mà một là một đạo sư Dzogchen giác ngộ; về phương diện bí mật, Ngài còn là một Bậc Khám Phá Kho Tàng mặc dù bên ngoài Ngài thường không tỏ lộ những phẩm chất của mình. Ontrul Rinpoche nhớ lại vào trước ngày Đạo sư Shugchung Tsullo viên tịch, khi ấy xảy ra một cuộc tranh cãi nội bộ giữa cháu gái của đạo sư với tăng chúng đệ tử. Sau khi nghe thuật lại sự việc, Đạo sư thấy rằng: "Ta đã truyền dạy giáo pháp hơn ba mươi năm, vậy mà giáo pháp của ta chẳng giúp ích gì được cho những người này, ngay cả những người của ta còn không thể sống trong lục hòa thì sống tiếp còn ích gì nữa đây."Thế là Shugchung Tsullo ‘lâm’ bệnh đúng vào đêm xảy ra cuộc cãi vã. Ngày hôm sau, đạo sư an nhiên thị tịch trong tư thế thiền định. Sau đó, Đạo sư an trú sáu tuần trong thiền định, hương thơm kỳ diệu tỏa ra từ nhục thân của Ngài tràn ngập khắp không gian với bán kính một cây số. Ngay khi đạo sư vừa xuất định, đại chúng đã thỉnh cầu Ontrul Rinpoche đảm nhiệm lễ trà tỳ.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào đêm diễn ra lễ hỏa táng trà tỳ, Ontrul Rinpoche mộng thấy đạo sư của Ngài đang tự do tự tại cưỡi trên lưng một con ngựa bạch về hướng một ngọn núi cao khổng lồ hình xoáy ốc. Đạo sư bảo với Ngài rằng: "Ta đang đi về phía núi Đồng để hợp nhất với Đức Liên Hoa Sinh. Con cũng sẽ theo chân ta nhưng không phải bây giờ".</p>
<p style="text-align: justify;">Vào đầu những năm 1960, Ontrul Rinpoche tị nạn đến Ấn Độ cùng với chúng đệ tử và nhiều đạo sư khác. Ngài kể lại rằng Ngài vẫn có thể tu tập trên đường sang xứ Ấn mặc dù hoàn cảnh khi đó rất nguy hiểm trong chiến tranh và giữa những làn đạn. Ngài không hề sợ hãi vì Ngài tin tưởng vào sự chỉ dạy của Đạo sư. Song Ngài cũng cảm thương thay cho những sinh linh phải bỏ mạng quá dễ dàng, chẳng hạn như những loài vật bị giết thịt để nuôi những người đói khát và con người thì bị giết hại bởi khí hậu khắc nghiệt và chiến tranh tàn khốc. Đồng thời, qua đây Ontrul Rinpoche cũng phân biệt được trong số đoàn người tị nạn, những hành giả chân chính vẫn an nhiên tự tại và từ bi trước nghịch cảnh với những người không tu đạo chỉ biết sợ hãi và buồn đau trước nỗi đau, mất mát của cải và người thân, trong số những người này, rất nhiều người là Đạo sư trứ danh vào thời gian đó. Vì vậy, thông qua kinh nghiệm này, Ontrul Rinpoche đã có dịp học hỏi từ những bậc thầy chân thật như là tấm gương sáng cho Ngài noi theo suốt quãng đời còn lại và tránh xa những kẻ giả danh tự lộ mặt xấu của mình trước những thử thách.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau này, tại Kalimpong, Ấn Độ, Ontrul Rinpoche thụ quán đỉnh Dzogchen với Ngài Dudjom Rinpoche đời trước và trao đổi đạo pháp với rất nhiều đạo sư Dzogchen chân chính khác. Ngài từng kể với tôi rằng, ngài muốn ở trong chùa của dòng Nyingma. Nhưng hồi đó Ngài không tìm được ở đâu. Do đó, Ngài có ý định nương theo một vị đại trụ trì - đạo sư Dzogchen Polokhen Rinpoche, nhưng rồi Ngài thấy rằng Polochen Rinpoche không có nơi ẩn cư lâu dài nào để Ngài an trú và tu trì. Nên Ngài quyết định ở tại Drepung Gomang vì như Ngài đã nói với tôi: "Nhờ ở chung trong chùa với đại chúng, ta sẽ không gặp những chướng ngại, chẳng hạn như những cám dỗ thế tục trong sự tu hành."</p>
<p style="text-align: justify;">Ontrul Rinpoche an trú tại chùa Drepung Gomang cho đến cuối những năm 1980. Sau đó, khi cha tôi và tôi thỉnh cầu Ngài làm thầy cho tôi, Ngài chuyển tới ngôi chùa của tôi. Nhiều năm sau, Ngài trở lại Tây Tạng để hoàn tất những trọng trách cuối cùng của mình và Ngài đã làm lợi lạc cho rất nhiều người ở đây. Không may thay, sau khi ở Tây Tạng một thời gian ngắn, Ngài viên tịch. Tất cả những người chúng tôi đi theo Ngài đều không có đủ phúc duyên để được lân mẫn bên Ngài lâu hơn.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi cho rằng, hiện giờ Ontrul Rinpoche hẳn là đang ở cõi tịnh độ của Đức Phật A Di Đà bởi vì Ngài luôn chuẩn bị cho việc vãng sinh miền tịnh độ của Phật A Di Đà sau khi từ giã thế giới này. Khi ở bên tôi, đôi khi Ngài đùa vui: "Ta không nghĩ là những vị Dakini ở Núi Đồng sẽ chào đón ta bởi vì ta không phải là một hành giả yogi nên ta sẽ không thể hoàn thành những tâm nguyện của các vị đó được. Bởi vậy, ta cho rằng cõi tịnh độ của Đức Phật A Di Đà sẽ chào đón ta hơn bởi vì ở đó có nhiều chư Tăng và ta có thể hòa hợp hơn". Ngài cũng còn nói rằng: "Một khi ta đã an trú cõi tịnh độ A Di Đà rồi thì viếng thăm Núi Đồng cũng là chuyện dễ dàng." Ontrul Rinpoche không bao giờ tuyên bố những điều tương tự như thế này với mọi người, ngoại trừ tôi và thị giả thân tín nhất của Ngài. Trước lúc viên tịch, Ngài dạy vị thị giả rằng: "Con không phải lo lắng cho ta, ta sắp vãng sinh miền tịnh độ của Đức A Di Đà." Sau đó, Ngài còn dặn dò thêm vài lời với thị giả.</p>
<p class="csscontent" style="text-align: justify;"><a href="http://www.drukpa.org/gurus/ontrul.html" target="_blank">Nguồn: Zhichen Ontrul Rinpoche - Guru, www.drukpa.org</a></p>
<p>http://www.drukpavietnam.org/index.php/phap-vuong-gyalwang-drukpa-xii/thuong-su/25-zhichen-ontrul-rinpoche</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/tieu-su-duc-zhichen-ontrul-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Phụ Thân Tôi &#8211; Ngài Zhichen Bairo Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/phu-than-toi-ngai-zhichen-bairo/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/phu-than-toi-ngai-zhichen-bairo/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 06 Sep 2015 07:34:01 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kathok Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Kathok]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo Sư Kathok Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=4344</guid>
		<description><![CDATA[Ngài Zhichen Bairo Rinpoche Lotsawa Vairochana nổi tiếng là một đại dịch giả giác ngộ và Ngài đã phiên dịch tất cả các giáo pháp Tam Thừa sang tiếng Tạng với tài năng dịch thuật xuất chúng của mình. Trụ xứ chính hay tự viện của cha tôi là Zhichen Kharmar Sangag Tangye Ling ở Gulok, một trong những chi&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/phu-than-toi-ngai-zhichen-bairo/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Zhichen-Bairo-Rinpoche.jpg"><img class="  wp-image-4345 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Zhichen-Bairo-Rinpoche-250x300.jpg" alt="Zhichen Bairo Rinpoche" width="322" height="386" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Ngài Zhichen Bairo Rinpoche </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Lotsawa Vairochana nổi tiếng là một đại dịch giả giác ngộ và Ngài đã phiên dịch tất cả các giáo pháp Tam Thừa sang tiếng Tạng với tài năng dịch thuật xuất chúng của mình. Trụ xứ chính hay tự viện của cha tôi là Zhichen Kharmar Sangag Tangye Ling ở Gulok, một trong những chi nhánh chính của Kathog Dorje Dhan ở miền đông Tây Tạng. Zhichen gồm khoảng hơn hai mươi tự viện có mặt trên khắp vùng.</p>
<div>
<p style="text-align: justify;">Cha tôi rời xứ Gulok vào khoảng đầu năm 1958 mà không nói cho ai biết mình sẽ đi đâu vì mọi người đều không muốn xa Ngài. Cha tôi kể lại: Ngài biết trước rằng nếu chỉ cứ tiếp tục loanh quanh với những việc thường ngày trong tự viện thì không lợi ích được nhiều. Vì vậy, ông đã rời tự viện, tới Lhasa, xuống biên giới Bhutan từ Lhodrak ở miền nam Tây Tạng quê hương của mẹ tôi. Cha mẹ tôi gặp nhau lần đầu tiên khi mẹ tôi mười chín tuổi. Ba năm sau, họ lại gặp nhau tại Beyul (thung lũng ẩn tàng) là thánh địa của Đạo sư Liên Hoa Sinh nằm trên vùng biên giới giữa Tây Tạng và Bhutan. Tại đây, họ nhập thất trong một vài năm. Tôi được sinh ra trong khoảng thời gian trên đường cha mẹ tôi hành hương về Ấn Độ.</p>
<p style="text-align: justify;">Cha tôi là một bậc Thầy tâm linh cho những ai có duyên pháp với ông. Đối với tôi, được trở thành con trai duy nhất của ông là một món quà tuyệt vời. Tôi yêu quí ông không chỉ vì ông là một người cha mà còn là một người bạn đạo trong mọi giây phút của cuộc đời tôi. Mặc dù phải trải qua vô vàn khó khăn trong những ngày thơ ấu, tôi không bao giờ cảm thấy đơn độc trong đời, và giờ đây tôi hiểu được rằng chính ông là người truyền cho tôi sức mạnh để vượt qua tất cả những giai đoạn khó khăn đó. Tôi cho rằng, không phải bất kỳ ai trong chúng ta cũng có thể nghĩ đến việc trở thành một người cha tốt như cha tôi! Khi tôi còn nhỏ, ông thường sáng kiến làm rất nhiều đồ chơi thú vị từ những đồ đã hỏng như chiếc đồng hồ đeo tay, đài radio, catsette, …Tôi chẳng bao giờ thích những món đồ chơi thương mại khác. Tôi thấy đồ chơi thủ công cha tôi làm thú vị hơn những đồ chơi điện tử đắt tiền kia nhiều. Khi tôi lớn hơn một chút, cha tôi đã dành rất nhiều sức lực, kiên nhẫn hàng giờ liền chơi với tôi, chạy nhảy, chơi bóng, cầu lông, chơi ném đĩa Frisbee và những trò chơi tương tự. Tôi vẫn còn nhớ ông đã làm một con đường ngoằn ngoèo dài gần một cây số trên một quả đồi lớn cạnh nhà tôi và đẩy tôi trên chiếc xe ba bánh suốt ngày lên lên xuống xuống, chơi trò giả vờ đi lên thăm bố mẹ và cùng bố mẹ đi xuống trở về nhà. Ông còn chơi với tôi bất chấp cả những ngày mưa gió. Đẩy tôi trên mặt đường trơn đầy bùn hẳn khó khăn hơn nhiều nên ông nhấc bổng cả tôi lẫn chiếc xe trên tay từ phía sau và cho tôi đi lên lên xuống xuống quả đồi kỳ diệu ấy. Ông còn giả vờ gây tiếng ồn ầm ĩ bắt chước xe tải bốn bánh đang ì ạch leo trên đường dốc đầy bùn lầy. Sau này khi trưởng thành hơn, tôi rất thích ngựa nên ông thường bắt về những con ngựa hoang chưa được thuần phục từ trên núi để cho tôi ngắm nhìn và vuốt ve nó. Đôi khi ông còn đặt tôi ngồi lên lưng ngựa nếu chú ngựa đó không quá to và hung hăng. Cuối cùng, ông mua cho tôi một con ngựa để cưỡi. Ông đã ban tặng cho mọi thứ mà tôi muốn trên đời. Có được một người cha không những là một bậc Thánh mà còn là một người cha giàu lòng thương yêu như ông thật là một vinh hạnh lớn với tôi. Tôi cảm thấy vinh hạnh hơn và rất mãn nguyện khi thấu tỏ được sự thật rằng ông là một người cha tuyệt vời như vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Jamyang Khyentse Chokyi Lodro ấn chứng cha tôi là hóa thân của Vairotsana khi ông lên tám tuổi. Cha tôi sống và tu học ở trụ xứ chính Zhichen Kharmar Sangag Tengye Ling của ông ở Gulok, miền đông Tây Tạng. Tôi cho rằng, ông hẳn đã phải trải qua một thời thơ ấu đầy khó khăn, điều này tôi góp nhặt được từ những câu chuyện kể của ông cùng một số nguồn thông tin khác. Trong suốt tuổi thơ từ lúc cha tôi được ấn chứng là một hóa thân và gửi đến Gulok, ông bà nội tôi cũng như không một thành viên nào trong gia đình ở bên ông. Thực ra, tôi chưa bao giờ nghe thấy một lời phàn nàn nào của ông về thái độ cùng cách cư xử của người khác đối với mình. Ông cũng không hay nói tốt về người khác, tôi nghĩ ông không bận tâm nhiều như chúng ta. Chúng ta nên ghi nhớ rằng những điều này không dễ dàng ảnh hưởng đến nhân cách của ông bởi vì nhân cách của ông đã được tích lũy một cách kỹ càng trong nhiều đời trước khi quyết định chuyển thế vì lợi ích của người khác. Tuy nhiên, là một người con, tôi vẫn cảm thấy thương ông mặc dù giờ đây tôi chẳng thể làm gì cho ông. Thêm nữa, mặc dù ông không bao giờ bình luận gì về những khó khăn khi còn thơ ấu cũng như cuộc sống hạnh phúc về sau này nhưng tôi thực sự thu lượm được rằng: Về sau, với sự hỗ trợ về mặt tinh thần của mẹ tôi và tình yêu chân thật mà cha mẹ tôi dành cho nhau nên cuộc sống của cha tôi đã tràn ngập trong niềm vui và an bình. Từ sâu thẳm trái tim mình, tôi luôn biết ơn mẹ tôi đã yêu thương, cảm thông vun đắp cho gia đình. Tôi cũng xin chia sẻ lòng biết ơn với cha tôi vì đã trân trọng và đánh giá cao điều này. Họ thực sự là một sự hợp nhất hoàn hảo! Đặc biệt, tôi rất coi trọng trí tuệ sâu xa của cha tôi đã phân biệt rõ ràng đâu là cuộc sống chân hạnh phúc, đâu là cuộc sống khổ đau. Không như chúng ta chỉ biết chạy theo những cám dỗ và tự giam mình trong bể khổ, ông biết đặt ra ranh giới để tránh xa mọi cạm bẫy của những cám dỗ thế tục. Tôi cho rằng, đây là một trong rất nhiều đại phương tiện mà ông đã áp dụng để gìn giữ chân hạnh phúc và sự bình an trong gia đình cũng như cho mọi người xung quanh. Mặc dù nổi tiếng là trưởng một dòng truyền thừa quan trọng với hơn hai mươi tự viện gồm hàng nghìn hộ gia đình và tăng chúng, cha tôi thích sống một cuộc đời khiêm cung giản dị không bị ràng buộc vào những tổ chức, những hiệp hội của những chủng tộc, trường phái và tông phái khác nhau. Ông nói rằng: Nếu bị vướng chấp vào những hoạt động này thì cuối cùng sẽ khiến cuộc sống của chính mình và người khác khổ đau: "Đó chính là nguyên nhân gây tích lũy tội nghiệp. Vậy tại sao lại phải bận tâm vướng chấp vào nó? Tốt hơn là nên lo công việc của mình đã."</p>
<p style="text-align: justify;">Cha tôi không bao giờ quan tâm tới danh tiếng của mình. Ưu tiên hàng đầu của ông là tạo dựng một môi trường thân thiện cho tất cả mọi người và tránh không để nó bị những hoàn cảnh tiêu cực tác động. Vì thế, chúng ta không bao giờ thấy ông nói về hiểu biết của mình. Trong thực tế, ông sẽ cho bạn thấy là ông chẳng hề biết gì! Chẳng hạn như, ở Tây Tạng lúc ông còn nhỏ sau khi kết thúc khóa học, cha tôi để lại nhiều dấu bàn tay và bàn chân in trên đá như những dấu hiệu chứng đắc của ông mà tới nay vẫn còn và trở thành thánh tích để những tín đồ hành hương chiêm bái. Tuy nhiên, là con trai ông nhưng tôi chưa bao giờ nghe ông kể một lời nào về việc này cho đến mãi bây giờ. Tôi rất muốn được nghe ông kể về trí tuệ siêu việt của ông và làm thế nào ông có thể in dấu lên đá nhưng mẹ tôi nhắc nhở nhiều lần không được trực tiếp hỏi vì ông không thích bị quấy rầy và muốn giữ bí mật. Tôi hiểu ly do tại sao bởi vì không giống chúng ta, ông không thích khoe khoang và sự nổi tiếng. Không những thế, có lẽ không có nghĩa lí gì khi kể về những điều này vào thời đại hiện nay và khi mà với những người như tôi, ông đơn thuần chỉ là một người cha đáng yêu, đáng kính. Bản thân tôi cũng không cảm thấy thoải mái khi hỏi ông những điều này vì đối với tôi, ông thật lân mẫn ấm áp. Bởi vậy, tôi không nên hỏi thẳng thêm nữa.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhờ sự chứng đắc và lòng từ bi, những ai được gặp và thụ pháp với ông luôn cảm thấy được khích lệ trên con đường đạo pháp và nhất tâm phụng sự vì lợi ích chúng sinh. Tôi thực sự rất ngưỡng mộ ông ở điểm này, vì thế gần đây, tôi thỉnh cầu ông giảng dạy thêm giáo pháp cho tăng ni, Phật tử từ khắp nơi trên thế giới. Ông không nói gì, chỉ cười lớn. Cuối cùng, mẹ tôi kể cha tôi nói rằng ông nhận lời vì tôi đã thỉnh cầu. Giờ đây, đúng là ông dành ra khoảng một tháng mỗi năm để giảng dạy giáo pháp tại trụ xứ mới của ông ở Kathmandu (chùa Zhichen Bairo Ling). Tôi cảm thấy rất hối hận vì đã không thỉnh cầu ông giảng Pháp ngay từ những năm đầu. Thật là một tổn thất! Không một ai trong chúng tôi từng phát tâm thỉnh cầu ông chỉ dạy về chứng ngộ. Thay vào đó, nhiều người chỉ nhờ ông sửa đồng hồ, băng đĩa, radio và những thứ linh tinh khác chỉ bởi vì ông có thể sửa được hầu hết tất cả mọi máy móc bằng tay. Tôi vẫn còn nhớ có lần cha tôi rất thích rửa ảnh. Ông có một vài cái máy tráng phim để thử nghiệm. Dĩ nhiên, mọi người thích nhờ ai đó làm giúp hộ cho mình. Ngày nào ông cũng có việc gì để làm. Mẹ tôi không vui lắm khi thấy ông làm việc dưới ánh sáng quá chói, đeo kính từ và ngồi lâu hàng giờ mỗi ngày nhìn chăm chăm vào cái máy. Bà cho rằng nó sẽ giảm thị lực và hệ thống tuần hoàn của ông. Do đó, bà yêu cầu ông không tiếp tục làm việc này nữa. Thông thường cha tôi sẽ không bao giờ từ bỏ sở thích của mình nhưng biết rằng yêu cầu của mẹ tôi xuất phát từ tình yêu và sự quan tâm chân thành, cha tôi từ bỏ sở thích này trong vòng chỉ một tháng. Kể từ đó, tôi không còn trông thấy những cái máy đó nữa. Hẳn là chúng đã bị hư hỏng do độ ẩm cao của thung lũng Himalaya sau nhiều năm không được dùng đến.</p>
<p style="text-align: justify;">Thực ra còn rất nhiều điều tôi muốn viết hơn nữa nhưng nay xin tạm dừng ở đây.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Chúc các bạn an vui!</strong></p>
<p class="csscontent" style="text-align: justify;"><a href="http://www.drukpa.org/biography/father.html" target="_blank">Nguồn: My father - Zhichen Bairo - Family, www.drukpa.org</a></p>
<p>http://www.drukpavietnam.org/index.php/phap-vuong-gyalwang-drukpa-xii/19-cha-toi-ngai-zhichen-bairo</p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/phu-than-toi-ngai-zhichen-bairo/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đức Kyabje Kathok Moktsa Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/duc-kyabje-kathok-moktsa-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/duc-kyabje-kathok-moktsa-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 29 Aug 2015 13:05:21 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kathok Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Kathok]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo Sư Kathok Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3288</guid>
		<description><![CDATA[Đức Kyabje Kathok Moktsa Rinpoche Bác tôi là bậc Thượng sư có nhiều năng lực phi thường cùng Bồ đề tâm mạnh mẽ hướng tới chúng sinh, và điều này đem lại lợi lạc vô cùng cho những ai có thiện duyên hạnh ngộ ông. Ngài được tôn kính rộng khắp là một trong những bậc Kim Cương Thượng sư&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/duc-kyabje-kathok-moktsa-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000;"><strong>Đức Kyabje Kathok Moktsa Rinpoche</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Bác tôi là bậc Thượng sư có nhiều năng lực phi thường cùng Bồ đề tâm mạnh mẽ hướng tới chúng sinh, và điều này đem lại lợi lạc vô cùng cho những ai có thiện duyên hạnh ngộ ông. Ngài được tôn kính rộng khắp là một trong những bậc Kim Cương Thượng sư của Truyền thừa Kathog.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Truyền thừa Kathog thuộc truyền thống Nyingma được sáng lập bởi Đức Kadampa Deshek (1122 - 1192). Tên gọi truyền thừa có từ khi Đức Kadampa kiến lập tự viện Kathog ở tỉnh Kham năm 1159. Tự viện này sau đó trở thành một trong những tự viện cổ kính và thánh địa linh thiêng nhất của truyền thống Nyingma.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Tất cả năm vị đại đệ tử của ngài Kadampa Deshek đều chứng đắc thân cầu vồng. Kể từ năm vị đại đệ tử này qua các đời, truyền xuống đến Ngài Nyala Pema Dudul vào cuối thế kỷ XIX đã có một trăm ngàn hành giả thuộc truyền thừa Kathog thành tựu thân cầu vồng. Đại sư Liên Hoa Sinh dạy rằng: Công đức chiêm bái tự viện Kathog không khác nào công đức chiêm bái Tòa Kim Cương ở Bồ Đề Đạo Tràng nơi Đức Phật thành chính giác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Chính Đại Sư Liên Hoa Sinh đã làm lễ gia trì cho tự viện Kathog mười ba lần và Ngài huyền ký rằng, tự viện Kathog sẽ là một thánh địa siêu việt của Tây Tạng đồng thời là nơi hoằng truyền giáo pháp Kim Cương Thừa của Dakini Yeshe Tsogyal</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Nơi tự viện Kathog an tọa nổi tiếng là một thánh địa linh thiêng. Ở đây xuất hiện rất nhiều dấu hiệu tự nhiên tự nhậm vận của sự tự chứng đắc, ví dụ như chữ chủng tử 'AH' tự nổi lên, hay hình Bồ Tát Kim Cương Thủ tự xuất hiện trên đá, v.v… Còn có thể tìm thấy cả dấu chân linh thiêng của một trăm ngàn Dakini.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Khi nào có thời gian, tôi sẽ bổ sung thêm những thông tin về bác tôi và dòng truyền thừa siêu việt của ông.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"><em>Nguồn : Bác tôi thánh </em><a style="color: #000000;" href="http://www.drukpavietnam.org/index.php/phap-vuong-gyalwang-drukpa-xii/21-bac-toi-thanh-kyabje-moktsa"><em> Moktsa</em></a><em> Rinpoche </em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><span style="color: #000000;">Việt dịch : Vô úy</span> </em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/duc-kyabje-kathok-moktsa-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đức Chatral Rinpoche cuộc đời một huyền thoại</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/duc-chatral-rinpoche-cuoc-doi-cua-mot-huyen-thoai/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/duc-chatral-rinpoche-cuoc-doi-cua-mot-huyen-thoai/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 29 Aug 2015 13:04:24 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kathok Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Kathok]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo Sư Kathok Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3285</guid>
		<description><![CDATA[Kyabje[1] Chatral Sangye Dorje Rinpoche là một trong những vị yogi chứng ngộ nhất của Phật giáo Tây Tạng còn sống hiện nay. Năm 1947, ngài đã có địa vị cao quý của một Bậc Giáo thọ sư của lãnh đạo xứ Tây Tạng, Nhiếp chính Reting, nhưng ngài luôn thích sống như một vị yogi bình thường không bị&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/duc-chatral-rinpoche-cuoc-doi-cua-mot-huyen-thoai/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Kyabje[1] Chatral Sangye Dorje Rinpoche là một trong những vị yogi chứng ngộ nhất của Phật giáo Tây Tạng còn sống hiện nay. Năm 1947, ngài đã có địa vị cao quý của một Bậc Giáo thọ sư của lãnh đạo xứ Tây Tạng, Nhiếp chính Reting, nhưng ngài luôn thích sống như một vị yogi bình thường không bị xao lãng bởi danh tiếng và tiền bạc. Ngài thực hành điều ngài thuyết giảng mà không có sự thỏa hiệp nào, và kết quả là, ngài được yêu quý bởi người dân thuộc mọi tôn giáo ở khắp vùng Himalaya.</p>
<p style="text-align: justify;">Rinpoche sinh năm 1913 ở thung lũng Nyak Adzi, thuộc tỉnh Kham, Tây Tạng trong một gia đình sùng đạo thuộc tộc Abse, với cha là ngài Pema Dondrub, và mẹ là bà Sonam Tso[2]. Một ngày sau khi chào đời, một vị lạt ma trong vùng tên là Asey Bigo Tulku Nyima Gyaltsen đến thăm ngôi nhà của ông bà Pema và Sonam để kể cho họ về một linh kiến mà lạt ma này có vào ngày trước khi Rinpoche chào đời, trong đó một con lừa trắng chất rất nhiều Kinh điển Phật giáo đến nhà ông bà Pema và Sonam và mang những bản văn này đến cho họ. Với linh kiến này, ngài ban cho đứa bé cái tên Trogyal Dorje, nghĩa là “Đấng Vinh Quang Phẫn Nộ Kim Cương.”</p>
<p style="text-align: justify;">Gia đình ngài Chatral Rinpoche chuyển tới Amdo với bộ tộc của họ khi ngài còn là một đứa trẻ nhỏ. Lên mười lăm, Rinpoche quyết định rời nhà để nghiên cứu và thực hành Đạo Phật với các bậc Đạo sư trong vùng. Hành động từ bỏ này là khởi đầu cho hành trình suốt đời như một vị yogi tự do kiếm tìm giác ngộ bằng bất cứ giá nào để giúp đỡ người khác với lòng từ bi một cách hiệu quả. Ngay từ đầu, Rinpoche giữ gìn giới luật nghiêm túc, du hành bằng chân và từ chối dùng ngựa khi được cúng dường. Ngài chỉ ở trong các ẩn thất, hang động hay túp lều nhỏ để tránh vướng bận với những gia chủ và bận tâm thế tục.</p>
<p style="text-align: justify;">Đoạn văn sau đây của Đạo sư Cổ Mật, ngài Kyabje Dudjom Rinpoche, trích từ “<em>Sự giảng giải trực tiếp và đơn giản Pháp thực hành nhập thất trên núi trong sự trần trụi tự nhiên của nó</em>,” dường như là những giới nguyện mà Chatral Rinpoche đã làm theo từ khi ngài rời gia đình:</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Kinh điển nói rằng, “Với việc từ bỏ quê hương, một nửa Pháp đã được thành tựu.” Bởi vậy, để lại quê hương đằng sau, hãy lang thang ở những miền xa lạ. Chia tay bạn bè và người thân theo cách dễ chịu, hãy thờ ơ với những người đang cố thuyết phục bạn từ bỏ Pháp. Dâng hiến mọi tài sản, hãy nương tựa vào đồ bố thí đến với bạn. Hiểu rằng mọi tham luyến là chướng ngại đi kèm với các thói quen xấu, hãy phát triển tâm vô tư. Nếu – về tài sản và những thứ khác – bạn không biết cách hài lòng với chỉ một ít, khi bạn có một, bạn sẽ muốn có hai và ma quỷ ảo mộng của những đối tượng tham luyến sẽ bước vào cuộc đời bạn chẳng khó khăn gì …</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Bạn nên mang theo trên con đường mọi kết nối, cả với những người kính trọng bạn và đối xử tốt với bạn và với những người ghét bạn và đối xử tệ; tốt hay xấu, đừng quan tâm, hãy chấp nhận họ với mong ước thanh tịnh và tốt lành. Mọi lúc, hãy giữ tinh thần bên trong thật tốt không nản lòng, và bên ngoài, trên con đường hành động, hãy giữ hạnh khiêm cung. Hãy mặc quần áo sờn rách. Hãy coi mọi người – tốt, xấu hay trung lập – là hơn bạn. Hãy cố định tham vọng của bạn vào hoàn cảnh một người ăn xin …</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Thậm chí khi thiền định đã hòa nhập tâm bạn, bạn cần tiếp tục vun bồi nó; nếu không thì những chỉ dẫn sâu sắc sẽ bị bỏ lại trên những trang sách và tâm bạn, Pháp của bạn và thực hành của bạn sẽ trở nên không bị ảnh hưởng đến mức thiền định chân chính sẽ không bao giờ đến. Các bạn, những thiền gia già, vẫn là người mới trong thực hành, hãy coi chừng – bạn có thể chết với đầu bị sát muối.<a name="_ednref3"></a><strong>[3]</strong></em></p>
<p style="text-align: justify;">Chatral Rinpoche thọ nhận trao truyền bộ terma<a name="_ednref4"></a>[4] của Terton Dudjom Lingpa (1835 – 1903) từ con trai của vị Terton, ngài Dorje Dradul (1891 – 1959). Sau đó Rinpoche trở thành Bậc Nhiếp chính Kim Cương hay Bậc Trì giữ chính yếu của bộ giáo lý này, tức Dudjom Tersar. Một vị thầy chính yếu khác của Rinpoche là Khandro Dewai Dorje (1899 – 1952), con dâu của Terton Dudjom Lingpa. Bà đã trao truyền cho Rinpoche toàn bộ terma Sera Khandro và ngài trở thành bậc trì giữ chính yếu của truyền thừa này.</p>
<p style="text-align: justify;">Lúc này, Chatral Rinpoche gặp được vị thầy gốc của ngài, Khenpo Ngawang Palzang (1879 – 1941) của tu viện Kathok<a name="_ednref5"></a>[5]. Khenpo vĩ đại là tâm tử của đệ tử chính của ngài Patrul Rinpoche, Lungtok Tenpai Nyima (1829 – 1901)<a name="_ednref6"></a>[6], và được coi là hóa thân của bậc Đạo sư Dzogchen<a name="_ednref7"></a>[7] thế kỷ chín, ngài Vimalamitra. Khenpo Ngakchung ban cho Chatral Rinpoche rất nhiều giáo lý và trao truyền – đặc biệt là giáo lý của truyền thống Longchen Nyingthig<a name="_ednref8"></a>[8] – và sáu năm sau đó, Rinpoche học tập dưới sự chỉ dạy của ngài, hoàn thành ngondro<a name="_ednref9"></a>[9] và thực hành trekchod<a name="_ednref10"></a>[10] và togyal<a name="_ednref11"></a>[11], một vài các thực hành cao cấp nhất của Dzogchen. Rinpoche cũng học tập với nhiều bậc Đạo sư khác ở tu viện Kathok, bên cạnh đó còn có ngài Khyentse Chokyi Lodro (1893 – 1959)<a name="_ednref12"></a>[12] của tu viện Dzongsar, tu viện này (giống như Kathok) nằm ở vùng Derge của tỉnh Kham.</p>
<p style="text-align: justify;">Khenpo Ngawang Palzang biết rằng Rinpoche vô cùng đặc biệt và công nhận ngài là đệ tử thân thiết nhất, giải thích rằng, “tâm của hai vị không khác biệt.”<a name="_ednref13"></a>[13] Ngài ban cho Rinpoche Pháp danh Chatral Sangye Dorje, nghĩa là “Phật Vô úy bậc từ bỏ mọi hoạt động tầm thường.”</p>
<p style="text-align: justify;">Lần đầu tiên sự vĩ đại của Chatral Rinpoche được phát lộ với người khác là tại buổi lễ lớn ở tu viện Kathok, với nhiều vị lạt ma cao cấp tham gia, ngự trên những chiếc ngai cao. Rinpoche ngồi ở đằng sau trên tấm nệm thiền định đơn giản cùng với vài trăm vị tăng khác. Trong buổi lễ, Khenpo Ngawang Palzang đánh giá rằng:</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Trong tất cả các ngài có mặt ở đây hôm nay, có ít hơn mười người chứng ngộ bằng một phần mười của ta. Kế đó, có ít hơn năm người có sự chứng ngộ bằng một nửa của ta. Cuối cùng, chỉ có một người chứng ngộ không khác biệt với ta, và đó là Chatral Sangye Dorje. Ngài có thể đại diện ta trao truyền các giáo lý và công đức của ngài là giống như của ta.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Lời tuyên bố này gây ra sự xáo động trong đám đông và sau đó mọi người đến chúc mừng Rinpoche. Người ta chuẩn bị cho một nghi lễ lớn để tôn vinh Rinpoche trong địa vị mới. Rinpoche không phải người thích những quan tâm và tán dương này và bởi vậy đã bỏ đi vào nửa đêm với lều để tiếp tục thực hành cô độc ở những miền đất hoang vu. Ngày hôm sau khi người ta đến tôn vinh ngài, họ thấy căn phòng trống không và không biết ngài đã đi đâu. Một lần nữa, ngài sống với cái tên Chatral, nghĩa là “ẩn sĩ.”</p>
<p style="text-align: justify;">Chatral Rinpoche từng giải thích rằng, “Chúng ta không ở đâu, chúng ta không sở hữu gì.”<a name="_ednref14"></a>[14] Trong nhận thức tuyệt đối, đây là lời khẳng định thâm sâu về sự vô thường của cuộc đời và bản tánh trống rỗng của mọi vật. Ở cấp độ tương đối, đây là cách mà một vị yogi như Chatral Rinpoche thực sự sống ở Tây Tạng. Không nhà cửa hay tài sản để gánh nặng trong tâm, người ta hoàn toàn tự do để hành Pháp. Còn về những nghịch cảnh của sự bất mãn vật lý và những bữa ăn không đều đặn, Dudjom Rinpoche giải thích rằng, “Khi chứng ngộ rộng lớn như hư không, mọi nghịch cảnh khởi lên như người bạn.”</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1947, vị Nhiếp chính của Tây Tạng, ngài Reting, vị lãnh đạo chính trị của đất nước cho đến khi Đạt Lai Lạt Ma hiện tại trưởng thành, thỉnh cầu giáo lý từ Khenpo Ngakchung, người đã nói với ngài rằng, “Tôi đã quá già để trao truyền giáo lý cho ngài. Tôi có một đệ tử mà tâm và sự chứng ngộ đều giống tôi và đó là Chatral Sangye Dorje. Ngài có thể thỉnh cầu giáo lý từ vị này.”<a name="_ednref15"></a>[15]
<p style="text-align: justify;">Nhiếp chính Reting tìm kiếm Chatral Rinpoche khắp nơi và tìm thấy ngài đang thiền định ở một hang động xa xôi. Khi nghe lời thỉnh cầu, Rinpoche đáp rằng, “Tôi xin lỗi, tôi chẳng có gì đặc biệt và tôi không có gì để dạy ngài. Xin hãy đi nơi khác tìm giáo lý!”. Sau đó Nhiếp chính đưa bức thư của Khenpo Ngakchung, và Rinpoche miễn cưỡng đồng ý để Lhasa để dạy Nhiếp chính Reting.</p>
<p style="text-align: justify;">Mọi người từ khắp nơi đổ về Lhasa để gặp Rinpoche và thọ nhận giáo lý và gia trì từ ngài. Trong đó có các vị lạt ma cao cấp, những lãnh đạo chính trị và cả những người bình thường, họ đã cúng dường Rinpoche rất nhiều. Một cách tự nhiên, ngài thấy tất cả sự chú tâm này như là xao lãng cho phát triển tâm linh của ngài. Ngài yêu cầu có thời gian để thiền định ở vùng xa xôi so với Lhasa. Nhiếp chính đồng ý và gửi một đoàn tùy tùng gồm đầy tớ và lính gác đến hộ tống Rinpoche trên hành trình. Sau khi họ đến, Rinpoche bảo nhóm đàn ông này quay về Lhasa để ngài có thể thiền định độc cư. Nhiếp chính không muốn thầy ngài cô độc, bởi vậy cử vài lính gác quay lại chỗ Rinpoche. Trên đường đi, họ thấy một kẻ ăn xin khốn khó mặc y gấm hoàng gia. Chatral Rinpoche đã đổi bộ quần áo đẹp đẽ này lấy đống giẻ rách của kẻ ăn xin theo kiểu của một yogi thực sự!</p>
<p style="text-align: justify;">Một bậc Đạo sư tâm linh khác đến với cuộc đời Chatral Rinpoche là Kyabje Dudjom Rinpoche, Jigdral Yeshe Dorje, một hóa thân của Terton Dudjom Lingpa<a name="_ednref16"></a>[16]. Dudjom Rinpoche đã trao truyền cho Chatral Rinpoche toàn bộ giáo lý Dudjom Tersar, và coi ngài là Vị Nhiếp chính Tâm linh của truyền thống. Ngài viết về Chatral Rinpoche như sau:</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Với tất cả những người có tri giác – chúng sinh lớn hay bé – sống trong cõi luân hồi này; lúc này, Bậc trì giữ Giác tánh Trogyal Dorje [Chatral Rinpoche] đã thọ nhận từ ta những chỉ dẫn của dòng nhĩ truyền các giáo lý thâm sâu – máu tinh túy của chư Dakini<a name="_ednref17"></a><strong>[17]</strong>. Ta giáo phó cho ngài dòng truyền thừa ý nghĩa, trao cho ngài sức mạnh là vị Nhiếp chính của ta để hướng dẫn chúng sinh và khuyến khích ngài chèo lái con thuyền đệ tử đến giải thoát.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Vì thế, bất cứ vị trời, ma quỷ hay người nào giúp đỡ ngài Trogyal Dorje theo cách thích hợp sẽ tự nhiên có nhiều lợi lạc và hạnh phúc trong đời này và các đời tương lai. Tuy nhiên, thậm chí nếu ý nghĩ hay hành động xấu xa dù nhỏ bé nhất hướng về ngài khởi lên, quân đội của lính canh hống hách của giáo lý – với sức mạnh phẫn nộ và con mắt trí tuệ – sẽ đến trợ giúp ngài. Họ sẽ kết thúc nguồn sống của những chúng sinh có hình tướng hay ngăn chặn nhận thức của những kẻ không có hình tướng và xua tan tên gọi của chúng. Ở đâu có cơ hội của lợi lạc hay mất mát như vậy, hãy cực kỳ cẩn trọng!<a name="_ednref18"></a><strong>[18]</strong></em></p>
<p style="text-align: justify;">Chatral Rinpoche trở thành tâm tử của Dudjom Rinpcohe và nhận lãnh trách nhiệm là Nhiếp chính của giáo lý Dudjom Tersar một cách nghiêm cẩn, bảo vệ vị thầy cao quý của ngài và dòng truyền thừa khỏi các thế lực phá hoại.</p>
<p style="text-align: justify;">Một ngày vào đầu những năm 1950, Dudjom Rinpoche đang nhận quán đảnh trong terma của truyền thống Chokgyur Lingpa từ Tulku Urgyen Rinpoche khi Chatral Rinpoche đi qua. Tulku Urgyen Rinpoche là một người họ hàng xa lạ lúc đó và Chatral Rinpoche nghi ngờ những phẩm tính của ngài cho việc ban một quán đảnh cho Đạo sư từ ái của ngài. Tulku Urgyen Rinpoche miêu tả cuộc trao đổi với Chatral Rinpoche như sau:</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Cuộc trò chuyện của chúng tôi bắt đầu thế này: “Ông, Lạt ma! Ông đến từ đâu?” ngài hỏi một cách thô lỗ.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>“Tôi đến từ Nangchen.”</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>“Ở đâu của Nangchen?”</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>“Tôi là hậu duệ của Chokgyur Lingpa.”</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>“Tôi từng đến Tsikey và tôi chẳng thấy ông ở đó.”</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>“Tôi thường không ở Tsikey.”</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>“Vậy ông đến từ đâu? Ở ngoài đó!”</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>“Con gái của Chokgyur Lingpa, Konchok Paldron, có bốn con trai và một trong số đó là cha tôi.”</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>“Ừm … Tôi có nghe rằng ông là cháu trai của Neten Choking. Tôi biết ngài từ tu viện Dzongsar, nơi ngài đến thăm Đức Dzongsar Khyentse, nhưng tôi chưa từng nghe ngài có cháu trai là lạt ma. Bây giờ tôi được biết Dudjom Rinpoche của chúng ta đang nhận Ba phần<a name="_ednref19"></a><strong>[19]</strong> từ người cháu này, và chúng ta đều biết rất nhiều lạt ma “được gọi là” người Khampa đến miền Trung Tây Tạng này và cố gắng lừa bịp. Bởi vậy, tôi tự hỏi ông có phải một trong số đó. Ừm…”</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Ngài nhìn tôi một lúc lâu. “Rất nhiều lạt ma Khampa đến đây và lừa mọi người bằng cách ban quán đảnh, mà họ chẳng có truyền thừa.”</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Dudjom Rinpoche, đang ngồi ngay đó, xen ngang, và nói rằng, “Chính ta là người thỉnh cầu ông ấy ban trao truyền.”</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Và ngay lập tức Dudjom Rinpoche và Chatral Rinpoche bắt đầu nói đùa, trong đó Chatral Rinpoche quay ra cười với tôi và nói rằng, “Ồ, tôi đoán ông không phải là giả – ông có thể tiếp tục và ban cho ngài quán đảnh.”<a name="_ednref20"></a><strong>[20]</strong></em></p>
<p style="text-align: justify;">Chatral Rinpoche giành rất nhiều thời gian để thực hành trong các hang động được gia trì bởi Guru Padmasambhava,<a name="_ednref21"></a>[21] bậc tổ sư của Phật giáo Tây Tạng và suối nguồn của các giáo lý terma, nền tảng của rất nhiều dòng truyền thừa của truyền thống Cổ Mật.<a name="_ednref22"></a>[22] Chatral Rinpoche thực sự được xem là hóa thân về tâm của Guru Padmasambhava, dựa trên những tiên đoán về sự ra đời và trí tuệ được chứng minh của ngài.<a name="_ednref23"></a>[23]
<p style="text-align: justify;">Cuối những năm 1950, Chatral Rinpoche đến Bhutan. Ngài không bị ép buộc bởi biến cố 10 Tháng 3, năm 1959 như nhiều người Tạng khác<a name="_ednref24"></a>[24], mà đến Bhutan một cách tự do. Điều này có thể cho thấy ngài là hóa thân về tâm của Guru Padmasambhava, như Guru Rinpoche đã tiên đoán rằng người dân Tạng sẽ bị đuổi khỏi quê hương vào thời kỳ hiện đại này và Chatral Rinpoche dường như biết thời điểm thích hợp cho ngài để du hành đến những nơi khác trong vùng Himalaya.<a name="_ednref25"></a>[25] Khi ngài được hỏi chuyến đi thế nào, ngài cười và đáp rằng, “Hoàn toàn tự do, nhẹ nhàng và hạnh phúc.”<a name="_ednref26"></a>[26]
<p style="text-align: justify;">Chatral Rinpoche du hành đến vùng Darjeeling, nơi ngài tái thiết một ngôi chùa đơn giản và biến nó thành trung tâm nhập thất ba năm cho thực hành Longchen Nyingthig. Đây là trung tâm đầu tiên được xây dựng bởi người Tây Tạng ở ngoài xứ Tuyết. Sau đó Rinpoche đến một vài thánh tích Phật giáo quan trọng ở Ấn Độ. Khi đang viếng thăm nơi Phật thành tựu Chánh giác năm 1960, ngài đã có một hứa nguyện, trở thành một phần quan trọng của cuộc đời ngài. Ngài nói rằng, “Tôi đến Bồ Đề Đạo Tràng và hứa nguyện trước tất cả chư Phật và Bồ Tát từ bỏ thịt và rượu.”<a name="_ednref27"></a>[27] Rinpoche khá độc đáo trong thái độ kỷ luật mạnh mẽ về vấn đề này và điều này là một phần khiến ngài được kính trọng bởi những ai biết đến.</p>
<p style="text-align: justify;">Một vài năm sau, ngài gặp Kusho Kamala, con gái Terton Tulzhok Lingpa, người trở thành sangyum của ngài<a name="_ednref28"></a>[28]. Họ có hai con gái, Saraswati và Tara Devi. Saraswati phục vụ như thị giả chính của ngài và bà nói tiếng Anh rất tốt. Bà được coi là hóa thân của Dakini Sera Khandro.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1968, ở Darjeeling, Chatral Rinpoche có buổi nói chuyện nổi tiếng với thầy tu kín Cha Thomas Merton, một hành giả cao cấp của truyền thống Zen, được kính trọng bởi nhiều Phật tử. Merton viết về buổi gặp gỡ như sau:</p>
<p style="text-align: justify;"><em>… đó là Chatral, vị Rinpoche vĩ đại nhất mà tôi từng gặp, một con người vô cùng ấn tượng. Chatral trông như một lão nông khỏe mạnh trong cái áo của xứ Bhutan, cuốn chặt ở cổ với roi da và mủ len màu đỏ trên đầu. Ngài có bộ râu dài, mắt sáng, giọng khỏe và rất rõ ràng. Chúng tôi bắt đầu nói về Dzogchen và thiền định Nyingma và “sự chứng ngộ trực tiếp” và nhanh chóng nhận ra rằng chúng tôi đồng tình ở nhiều điểm. Chúng tôi chắc đã nói trong hai giờ hay nhiều hơn, bao gồm tất cả nền tảng, phần lớn xoay quanh các vấn đề về Dzogchen, nhưng có lấy vài điểm giáo lý của Thiên Chúa so sánh với Pháp thân Phật,<a name="_ednref29"></a><strong>[29]</strong> khổ đau, từ bi với mọi sinh vật, động cơ cho việc “giúp đỡ người khác,” nhưng tất cả đều quay trở về Dzogchen, tánh không tối thượng, sự hợp nhất của tánh không và từ bi, “vượt khỏi Pháp thân” và “vượt khỏi Chúa” đến tánh không hoàn hảo tuyệt đối.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Ngài nói rằng ngài đã thiền định cô tịch trong ba mười năm hoặc hơn và ngài chưa chứng ngộ tánh không hoàn hảo và tôi nói tôi cũng chưa. Thông điệp không được nói ra hay nói ra một chút của buổi nói chuyện là sự hiểu hoàn toàn lẫn nhau của chúng tôi như thể ai đó ở bờ của sự chứng ngộ vĩ đại và biết nó và đang cố gắng, như thế nào đó, để đi ra và lạc trong nó. Tôi mong rằng tôi có thể gặp ngài Chatral nhiều hơn. Ngài phá lên và gọi tôi là một Rangjung Sangay (nghĩa là “Phật tự nhiên”) và nói rằng ngài đã được đặt tên là Sangay Dorje. Ngài viết từ “Rangjung Sangay” bằng tiếng Tạng cho tôi và nói rằng khi tôi bước vào “vương quốc vĩ đại” và “cung điện” thì nước Mỹ và tất cả ở trong đó có vẻ như không có gì. Ngài nói, một cách nghiêm túc rằng, có lẽ ngài và tôi sẽ đạt Phật quả hoàn toàn trong đời tiếp theo, có lẽ thậm chí trong đời này, và đoạn chú thích là một kiểu giao kèo rằng chúng tôi sẽ cùng cố gắng hết sức để làm điều đó trong đời này. Tôi vô cùng xúc động, bởi vì hiển nhiên ngài là một người vĩ đại, một hành giả chân chính của Dzogchen, vị lạt ma Cổ Mật tốt nhất, với sự đơn giản và tự do hoàn toàn … Nếu tôi sắp ở cùng một vị Guru Tây Tạng, tôi nghĩ Chatral là người tôi chọn.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó người ta nghe được Merton nói rằng, “Đó là người vĩ đại nhất mà tôi gặp, Ngài là thầy của tôi.”</p>
<p style="text-align: justify;">Chatral Rinpoche vô cùng kiên quyết trong nghiên cứu và thực hành. Ở Ấn Độ, ngài thọ nhận các giáo lý từ Kalu Rinpoche, và trở thành bạn thân, và Ngài Karmapa đời thứ 16 Rangjung Rigpe Dorje. Ngài thọ nhận giáo Pháp từ trên một trăm Đạo sư, từ rất nhiều truyền thống của Phật giáo Tây Tạng. Tầm hiểu biết của ngài được hiển bày trong các trước tác, khi ngài trích dẫn các bản văn từ vô số các truyền thống để củng cố luận điểm ngài trình bày.</p>
<p style="text-align: justify;">Chatral Rinpoche đã thành lập hay tái thiết nhiều trung tâm nhập thất ở Bhutan, Ấn Độ và Nepal, cũng như giám sát việc xây dựng nhiều Bảo tháp.<a name="_ednref30"></a>[30] Dudjom Rinpoche đã làm lễ gia trì cho trung tâm của Rinpoche ở Darjeeling năm 1962 và trong mười năm sau đã giúp đỡ Rinpoche xây dựng một trung tâm ở Yangleshod, Nepal, nơi ngài nghĩ sẽ là một địa điểm tốt lành, bởi Guru Padmasambhava đã thành tựu nhiều thực hành quan trọng ở đây. Tu viện này, nằm ở rìa thung lũng Kathmandu và được gọi là Rigzin Drubpe Ghatsal, “Rừng hoan hỉ trong địa điểm thành tựu của Bậc Trì giữ Giác tánh vinh quang,” là một trong các trụ xứ chính của Rinpoche trong nhiều năm. So với nhiều vị lạt ma có nhiều trụ xứ đẹp đẽ khác, nơi ở của Rinpoche vô cùng giản dị và ấm cúng.</p>
<p style="text-align: justify;">Hàng nghìn người vùng Himalaya coi Chatral Rinpoche là vị thầy gốc của họ bởi vì, qua các hành động từ bi và trí tuệ rộng lớn của ngài, ngài là hiện thân hoàn hảo của giáo lý Phật Đà. Tuy nhiên, ngài vô cùng cẩn trọng trong việc chọn lựa người thọ nhận giáo lý. Ngài biết rõ rằng phần lớn những người thỉnh cầu ngài giáo Pháp chẳng hề nghiêm túc về thực hành của họ như ngài, bởi vậy ngài không muốn lãng phí cam lồ quý giá giáo lý của ngài cho một bình chứa không thích hợp. Rinpoche giải thích rằng, “Có ba kiểu hành giả Pháp: đầu tiên, là những người bên ngoài trông như hành giả, nhưng bên trong thì không phải; thứ hai, những người nói rất cao siêu, nhưng không chứng ngộ gì hết; thứ ba, những người bên ngoài không giống hành giả, nhưng bên trong họ là những hành giả thực sự.”<a name="_ednref31"></a>[31] Vì thế Rinpoche sẽ không trao truyền bất cứ giáo lý cao hơn nào cho những người nghiên cứu với ngài ít hơn sáu năm – khoảng thời gian đủ để chứng minh họ là những hành giả chân chính.</p>
<p style="text-align: justify;">Người phương Tây đặc biệt bị nghi ngờ. Có quá nhiều người đến gặp Rinpoche, mong muốn các giáo lý tối thượng của Dzogchen mà không có đủ phẩm tính để thọ nhận hay hiểu chúng. Có một người đàn ông giàu có từ Mỹ, đã đặt một bọc tiền trước mặt Rinpoche, nói rằng nếu ngài ban cho ông ta giáo lý Dzogchen, số tiền đó sẽ thuộc về ngài. Rinpoche bảo ông ta mang tiền đi và từ chối ban giáo lý. Giáo lý linh thiêng chắc chắn không thể được mua bằng của hối lộ; người ta cần phải kiếm được quyền thọ nhận chúng.<a name="_ednref32"></a>[32]
<p style="text-align: justify;">Trong truyền thống Longchen Nyingthig, khá phổ biến là các giáo lý cao hơn được trao truyền đến chỉ một hay hai trong số những đệ tử tận tụy và xuất sắc nhất của Đạo sư. Bậc thầy gốc của Khenpo Ngawang Palzang, Nyoshul Lungtok trao truyền một vài giáo lý và quán đảnh Longchen Nyingthig cho riêng vị Khenpo vĩ đại. Những kiểu giáo lý này được coi là bí mật và được duy trì bởi dòng trao truyền trực tiếp từ một bậc Đạo sư chứng ngộ đến một đệ tử có đầy đủ phẩm chất.</p>
<p style="text-align: justify;">Có một người đủ điều kiện để thọ nhận các giáo lý thâm sâu của Chatral Rinpoche  – một hành giả phi thường tên là Yum Kusho-la, vị phối ngẫu của Tulku Urgyen Rinpoche. Đoạn sau đây là sự thuật lại việc trao truyền các giáo lý này, diễn ra vào những ngày cuối cùng của cuộc đời bà, được viết bởi con trai bà, Chokyi Nyima Rinpoche:<a name="_ednref33"></a>[33]
<p style="text-align: justify;"><em>Chatral Rinpoche … đến gặp bà. Bà có lòng sùng mộ vô cùng lớn lao với ngài. Bà thỉnh cầu ngài quán đảnh Kim Cương Tát Đỏa và yêu cầu rằng ngài dạy bà “Bốn phần không ba.”<a name="_ednref34"></a><strong>[34]</strong> Đây là tri kiến tối thượng của trekchod. Ngài đã dạy trong thời gian dài. Không may là, chúng tôi không thể thu âm lại những giáo lý này, nhưng ngài cũng không muốn nó được thu lại. Tuy nhiên, bài giảng rất dài và rõ ràng. Cuối cùng, Chatral Rinpoche nói rằng, “Ồ, hãy hòa tâm chúng ta. Hãy an trú trong bình thản.” Chúng ta đều biết– đặc biệt là các bác sĩ của bà – rằng bà rất yếu, nhưng lúc đó, bà nói “AH” rất to. Đôi mắt bà mở to. Không có dấu hiệu đau đớn gì; thay vào đó bà cảm thấy rất thư thái. Tôi nhìn vào đồng hồ. Bà duy trì trạng thái đó trong năm phút. Bỗng nhiên tôi lo lắng rằng bà có thể sắp chết. Tôi nghĩ, “Điều gì xảy ra vậy?” Tôi nhìn vào Chatral Rinpoche và ngài chỉ thiền định ở đó. Điều này làm tôi thư giãn và tôi hiểu chúng tôi đều nên duy trì trong rigpa.<a name="_ednref35"></a><strong>[35]</strong></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Năm phút sau, bà “quay trở lại.” Bà đã duy trì trong tri kiến của “bốn không không ba” không nói gì cả. Sau đó, bà bắt đầu nói và bà cảm ơn Chatral Rinpoche. Ngài nói, “Ta rất vui khi con hiểu giáo lý này. Ta biết con là một hành giả tốt, nhưng ta không nhận ra là con đã đạt đến cấp độ này của giác tánh. Hôm nay ta thấy điều đó, bởi vậy ta kính trọng con, và tự hào khi biết con. Con là một tấm gương tốt cho mọi người.”</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Sau đó Chatral Rinpoche cùng cha và tôi đi ăn trưa ở phòng khác. Chúng tôi ăn và nói chuyện trong hơn một giờ. Cha tôi không hỏi nhiều, nhưng tôi hỏi Chatral Rinpoche, “Điều gì đã xảy ra? Mẹ con đã trải qua điều gì?” Ngài nhìn vào tôi rất nghiêm túc và nói rằng, “Tốt. Một điều tuyệt vời. Bà ấy đã hòa hư không và giác tánh. Chỉ hành giả xuất sắc mới có thể làm thế, đặc biệt là khi đối mặt với cơn đau dữ dội và bệnh tật như vậy. Đến hôm nay ta mới biết rằng Yum Kusho-la là một hành giả cao cấp đến vậy. Đây là tấm gương tốt cho tất cả chúng ta. Bây giờ hãy xem. Có những dấu hiệu kỳ lạ khác. Sẽ rất tốt nếu mọi người có kết nối với Yum Kusho-la có thể gặp bà, cúng dường một chiếc khăn khât, lễ lạy và thỉnh cầu để tâm họ hòa nhập với bà.”</em></p>
<p style="text-align: justify;">Chatral Rinpoche không giành nhiều thời gian để thuyết giảng, bởi chỉ một vài người có đủ phẩm tính để thọ nhận các giáo lý như thế. Thay vào đó, ngài tham gia không ngừng vào các hoạt động đức hạnh, đi đến Calcutta trong chuyến du hành hàng năm, nơi ngài giải phóng bảy mươi xe tải cá trở về với Ấn Độ Dương, nơi mà đánh bắt cá bị cấm, cầu nguyện cho từng con từng con. Ngài nhận những sự đóng góp từ khắp nơi trên thế giới vì hành động từ bi vĩ đại này, điều cũng là chủ đề của một trong các bài giảng trong cuốn sách này. Ngài vô cùng quan tâm đến các hành giả chân chính, đi đến nhiều trung tâm nhập thất khác nhau để có thể kiểm tra sự tiến bộ của họ. Ngài cũng ban tặng những chỉ dẫn cho những người với niềm tin khác đến gặp ngài. Gần đây, khi một linh mục nhà thờ đến thỉnh cầu ngài giáo lý, Rinpoche nói rằng, “Hãy quyết định xem điều gì quan trọng nhất mà Chúa từng nói, và sau đó hiểu nó càng sâu càng tốt.” Điều này đã trở thành lời khuyên thâm sâu nhất mà linh mục từng nhận và nó làm sự hiểu và niềm tin của ông ta trở nên sâu sắc hơn.</p>
<p style="text-align: justify;">Chatral Rinpoche mang nhiều hình tướng để giúp đỡ các đệ tử trong các giấc mơ và linh kiến. Năm 1997, bắt đầu khóa tu cuối tuần ở San Franciso, Lama Tharchin Rinpoche nói với các học trò rằng Chatral Rinpoche xuất hiện trong giấc mơ của ngài, bảo rằng Lama Tharchin và các đệ tử phải tích lũy một trăm triệu lần bài nguyện Bảy dòng của Guru Padmasambhava để tiêu trừ chướng ngại cho sức khỏe của Lama Tharchin, làm lợi lạc cho chúng sinh, và mang đến hòa bình cho thế giới trong thời đại suy đồi này.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau Lễ Năm Mới Tây Tạng năm 2000, hàng trăm Phật tử sùng đạo từ nhiều vùng của Himalaya đã tập trung ở trung tâm của Rinpoche ở Yangleshod, thỉnh cầu sự gia trì của ngài cho thiên niên kỷ mới. Họ cắm trại trong các lều bạt gần tu viện của ngài và kiên nhẫn chờ đợi trong nhiều ngày. Vào thời điểm tốt lành nhất, Rinpoche đã ban cho họ quán đảnh trường thọ. Sau quán đảnh, cả nhóm hát những bài ca tán thán các hoạt động vĩ đại và sự vinh quang của Đạo sư vô song của họ và nhảy múa vui vẻ.</p>
<p style="text-align: justify;">Kiến thức rộng lớn của Rinpoche không chỉ giới hạn trong triết học Phật giáo. Ngài cũng là một chuyên gia về vẽ tranh thangka, âm nhạc nghi lễ, vũ điệu [Kim Cương thừa] và nhiều môn khác. Họa sĩ thangka, Lama Tsongdru Sangpo viết rằng:</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Quan trọng nhất với tôi là chỉ dẫn cá nhân liên tục tôi thọ nhận từ Chatral Sangye Dorje Rinpoche, Đấng Bảo hộ tâm linh của tôi trong đời này và mọi đời tương lai. Ngài gia trì cho tôi nhiều lần với những lời khuyên vô cùng quan trọng nhưng hiếm khi được để ý về những điểm cốt yếu của vẽ thangka và cho tôi chỉ dẫn chi tiết về thiết kế và dáng điệu của từng Bổn tôn đặc biệt.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Chatral Rinpoche nổi tiếng vì sự kiên định khi làm những thứ một cách đúng đắn. Trong truyền thống Phật giáo Tây Tạng, khi ai đó chết, cần để họ ba ngày để có đủ thời gian cho thức rời khỏi thân và hy vọng đi đến một cõi Tịnh Độ hay chí ít là tái sinh tốt lành. Theo Sogyal Rinpoche, “Chatral Rinpoche bảo với những người đang than phiền rằng tử thi bốc mùi nếu nó được giữ trong thời tiết nóng [trong ba ngày]; “Nó không phải như thể bạn phải ăn nó, hay cố gắng bán nó.”<a name="_ednref36"></a>[36]
<p style="text-align: justify;">Năm 2002, một tai nạn không may xảy ra ở một trong các trung tâm của Rinpoche ở Darjeeling. Một người đàn ông Mỹ, đã nghiên cứu Phật giáo Tây Tạng ở Ấn Độ, đến thăm Rinpoche. Trong buổi lễ cầu nguyện, ông ta xin Rinpoche cho gặp riêng để thảo luận “điều gì đó quan trọng.” Khi Rinpoche từ chối, ông ta nhảy lên và bắt đầu làm ngài khó thở. Ông ta bị những thị giả và đệ tử của Rinpoche ngăn lại và bảo rời đi. Nhưng vẫn tiếp tục hành xử như vậy, và khi họ cố gắng lôi ông ta ra khỏi cửa chính của trung tâm, ông ta nổi cơn thịnh nộ và chửi rủa. Cảnh sát đến mang ông ta đi, nhưng sự cố này đã làm tổn thương những người liên quan, và kết quả là, bây giờ rất khó để người phương Tây, chưa từng gặp Rinpoche có thể gặp ngài. Kẻ tấn công phải ở một thời gian trong bệnh viện tâm thần trước khi bị trục xuất khỏi Ấn Độ vì lại tấn công người khác ở Nam Ấn trong năm đó. Là một vị Bồ Tát vĩ đại, ngài và vị phối ngẫu, Sangyum Kusho Kamala, đã gọi điện cho người đàn ông khi hắn trở về Mỹ, vì lo lắng đến tình hình của ông ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Thậm chí trong những hoàn cảnh khó khăn nhất, lòng từ bi vĩ đại của Rinpoche vẫn không hề lay chuyển. Tác phẩm nổi tiếng <em><strong>Ba mươi bảy Pháp hành Bồ Tát Đạo</strong></em> của ngài Ngulchu Gyalsas Thgome Zangpo (thế kỷ mười bốn) đã liệt kê ba mươi bảy thực hành của một vị Bồ Tát như sau:</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mặc dù chúng ta bị đổ lỗi nhưng chưa từng làm hại ai trong đời, nếu ai đó vô minh đe dọa giết chúng ta bởi anh ta bị loạn trí bởi tâm dày vò, thì mong muốn anh ta không chịu khổ đau thêm nữa vì trạng thái này, nhận lấy về mình những kết quả của hành động của anh ta, là Pháp hành của một vị Bồ Tát.<a name="_ednref37"></a><strong>[37]</strong></em></p>
<p style="text-align: justify;">Chatral Rinpoche được thỉnh cầu rất nhiều lần bởi các đệ tử về việc viết một cuốn tự truyện về cuộc đời ngài. Để làm hài lòng thỉnh cầu đó, ngài viết những dòng thơ sau đây:</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Lời hồi đáp trong Ba chủng tự</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Một bản tự truyện chứa đựng giáo lý trực tiếp đánh vào điểm trọng yếu, được biết về một kẻ lừa đảo của thời đại này như tôi:</p>
<p style="text-align: justify;">Nguyện cầu Đạo sư tâm linh và Tam Bảo nghĩ về con!</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi là một lão già, sắp bước sang tuổi 88. Rất nhiều người gần gũi hay xa cách với tôi đã thỉnh cầu tôi, “Xin hãy viết một tự truyện về cuộc đời ngài để giúp đỡ môn đồ.” Tôi nhận ra rằng đây là một chướng ngại cho giải thoát và tôi thấy không cần thiết phải viết nhiều lời như thế. Bởi không ai biết rõ hơn tôi về chủ đề này, tôi sẽ như nhân chứng của mình và đáp lại với Lời hồi đáp trong Ba chủng tử:<a name="_ednref38"></a>[38]
<p style="text-align: justify;"><em>Ba phẩm tính của giới, định<a name="_ednref39"></a><strong>[39]</strong> và tuệ</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Không vấy bẩn và được chứng minh qua nhận thức trực tiếp</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Như rêu khô, thoát khỏi sự ẩm ướt của trạng thái sai lầm kiêu căng</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Tôi héo mòn trong hư không của ngọn lửa bùng cháy</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Với chủng tự RAM chói ngời.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Một vẻ bề ngoài tôn giáo, mớ hỗn độn của chủ nghĩa vật chất và Pháp,</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Tôi biết rằng không phải là người bạn của thực hành hữu hiệu.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Bởi vậy tôi ném đi trô bụi của tự phụ và vô cảm</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Vào cơn gió từ đỉnh núi, như là chủng tự YAM.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Tiền bạc được trao tặng vì người sống và kẻ chết, một chướng cản cho giải thoát</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Và các kế hoạch tích lũy, thu lượm và đầu tư chúng để tạo dựng các đối tượng linh thiêng</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Tôi quyết tâm dọn sạch với dòng suối trong vắt của từ bỏ, buông bỏ và ghê tởm</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Với chủng tử cơ bản KHAM.<a name="_ednref40"></a><strong>[40]</strong></em></p>
<p style="text-align: justify;">Huyền thoại của Chatral Rinpoche sẽ còn sống mãi trong nhiều thế hệ. Năm 2003, ngài được tôn vinh là một trong các nhân vật ảnh hưởng nhất ở Nepal trong một buổi lễ ở Kathmandu. Bởi Rinpoche đã hoàn toàn chứng ngộ, ngài không lo lắng rằng việc quan tâm và tán thán của sự kiện này sẽ ảnh hưởng đến thực hành của ngài lúc này và tham gia buổi lễ cùng với rất nhiều học trò và bạn bè. Cho thấy rằng ngài vẫn là một yogi tự do từ trong tâm, ngài đội mũ truyền thống của Nepal trong suốt buổi lễ – lần đầu tiên với một Đạo sư Phật giáo Tây Tạng!</p>
<p style="text-align: justify;">Mặc cho sự tán tụng của hàng nghìn người Himalaya, Rinpoche vẫn khiêm nhường như trước. Ngài từng nói rằng:</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi chỉ là một chúng sinh bình thường và không có gì đặc biệt về tôi. Tôi chỉ làm theo những lời dạy của Đức Phật. Không lừa dối gì về phần của tôi, tôi đứng vững trên nền tảng của việc thực hành Pháp và giúp đỡ mọi hữu tình chúng sinh. Tôi cầu mong rằng mọi hữu tình có thể buông bỏ hành động tự lừa dối mình và tự phóng đại bản thân, để họ có thể thực sự thực hành Pháp để giải thoát bản thân khỏi luân hồi và giúp đỡ chúng sinh khác. Nếu không, sẽ quá muộn khi họ cảm thấy ăn năn!<a name="_ednref41"></a>[41]
<p style="text-align: justify;"><strong>Bài cầu nguyện trường thọ cho ngài Chatral Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;">OM SVASTI</p>
<p style="text-align: justify;">Với lòng từ bi và sức mạnh của những khẩn nguyện của Đạo sư xứ Uddiyana và đoàn tùy tùng,</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài tái sinh hoàn hảo là Sangye Dorje, vị anh hùng tâm linh;</p>
<p style="text-align: justify;">Nguyện cầu gót sen ngài vững bền trong hàng trăm kiếp.</p>
<p style="text-align: justify;">Nguyện cầu việc điều phục chúng sinh và hoạt động giác ngộ của ngài ngày càng phát triển và đạt đến mục tiêu tối thượng!</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Chatral Rinpoche biên soạn theo lời thỉnh cầu của Wangchen Palmo.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Đặc biệt, nguyện cầu ngài, sự hiển bày vi diệu về tâm của Đức Liên Hoa Sinh,</p>
<p style="text-align: justify;">Chiến thắng trong trận chiến với quan kiến sai lầm của thời đại đen tối,</p>
<p style="text-align: justify;">Và tăng trưởng thêm nữa sự tiếp cận với Pháp để hoàn thành các mục tiêu của chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Nguyện cầu cuộc đời ngài kéo dài một trăm năm,</p>
<p style="text-align: justify;">Chói ngời với sự đức hạnh, thành tựu tự nhiên hai lợi ích,</p>
<p style="text-align: justify;">Để âm thanh của giáo lý bí mật tràn khắp ba cõi!</p>
<p style="text-align: justify;"><em><strong>Dudjom Rinpoche biên soạn, Erik Pema Kunsang dịch sang tiếng Anh.</strong></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Ngu</em><em>ồn:   http://nyingmapavietnam.com/Chatral%20Rinpoche.html</em></p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn1"></a>[1] Kyabje nghĩa là “Đấng Quy y” và là danh hiệu được tặng cho các nhân vật rất được kính trọng trong Phật giáo Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn2"></a>[2] Chatral Rinpoche sinh ngày 10 tháng 5 Tạng lịch, năm Con Bò Nước, 1913. Ngày này thường rơi vào tháng Sáu. Ngày sinh của ngài rơi vào ngài mà Guru Padmasambhava thị hiện hình tướng Guru Dorje Drolo, hóa thân phẫn nộ ở Bhutan để điều phục các thần và đấng bảo hộ địa phương và biến họ thành Hộ Pháp cho những giáo lý terma.</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn3"></a>[3] Dudjom Rinpoche, <em>Sự giảng giải trực tiếp và đơn giản Pháp thực hành nhập thất trên núi trong sự trần trụi tự nhiên của nó</em>.</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn4"></a>[4] Terma nghĩa là “kho tàng” và liên quan đến hàng trăm giáo lý được cất giấu bởi Guru Padmasambhava trên khắp Tây Tạng để được phát lộ bởi “khai tạng mật” hay terton.</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn5"></a>[5] Khenpo Ngawang Palzang, người thường được nhắc đến là Khenpo Ngakchung, được so sánh với nhân vật trung tâm của truyền thống Longchen Nyingthig – ngài Longchen Rabjam – trong kiến thức rộng lớn và sự chứng ngộ thâm sâu. Trên thực tế, ngài có rất nhiều linh kiến về Longchen Rabjam, trong đó ngài thọ nhận các quán đảnh và giáo lý. Ngài thi triển nhiều thần thông khi còn bé, bao gồm việc đảo chiều một dòng sông với cái que được coi như là dao găm nghi lễ để ngăn chặn lũ lụt. Những dấu hiệu này khiến ngài được nhận ra là hóa thân của Vimalamitra. Khenpo Ngakchung trở thành tâm tử của Lungtok Tenpai Nyima khi còn nhỏ và nhận trọn vẹn trao truyền Longchen Nyingthig từ ngài. Ngài đã nghiên cứu mở rộng ở tu viện Dzogchen và tham gia vào nhiều khóa nhập thất để nắm vững giáo lý. Ngài viết rất nhiều bản văn nổi tiếng về trekchod và togyal và giữ chức tu viện trưởng tu viện Kathok trong nhiều năm.</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn6"></a>[6] Lungtok Tenpai Nyima cũng được biết đến là Nyoshul Lungtok.</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn7"></a>[7] Dzogchen nghĩa là “Đại toàn thiện” và liên quan đến giáo lý cao nhất của truyền thống Nyingma.</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn8"></a>[8] Truyền thống Longchen Nyingthig là truyền thừa cơ bản cho thực hành Dzogchen của “truyền thống Cựu Dịch” của Phật giáo Tây Tạng, hay dòng Nyingma [Cổ Mật]. Longchen Nyingthig nghĩa là “Tâm yếu Đại Quảng trí.”</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn9"></a>[9] Ngondro nghĩa là “thực hành dự bị”. Xem cuốn <em>Lời vàng của thầy tôi</em> của Patrul Rinpoche để biết thêm chi tiết về thực hành ngondro Longchen Nyingthig.</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn10"></a>[10] Trekchod nghĩa là “cắt qua đến thanh tịnh nguyên sơ.”</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn11"></a>[11] Togyal nghĩa là “vượt qua đến hiện hữu tự nhiên.”</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn12"></a>[12] Khyentse Chokyi Lodro là bậc Đạo sư xuất sắc, bậc nắm giữ gần như mọi truyền thống và truyền thừa của Phật giáo Tây Tạng. Ngài là nhân vật trọng yếu của rimay, phong trào bất bộ phái ở Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn13"></a>[13] Yeshe Thaye và Pem Lhadren, “Cuộc đời của Đấng Quy y,” Ánh sáng Liên Hoa, tập 3, tháng Sáu 2011.</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn14"></a>[14] Carroll Dunham và Ian Baker, Tây Tạng, Hình bóng từ Bánh xe Cuộc đời.</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn15"></a>[15] Thaye và Lhadren, “Cuộc đời của Đấng Quy y.”</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn16"></a>[16] Một phần của giới nguyện Bồ Tát là giúp đỡ chúng sinh trong rất nhiều đời tương lai để giải thoát họ khỏi khổ đau. Được gọi là tulku, “hóa thân,” những bậc vĩ đại này – bao gồm của Đạt Lai Lạt Ma – được gọi là “Rinpoche” hay “Đấng Cao quý.”</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn17"></a>[17] Dakini [Không hành nữ] là bậc nữ cao quý, người, trong số những chúng sinh khác, giúp đỡ Guru Padmasambhava với việc tìm ra và truyền bá các giáo lý terma.</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn18"></a>[18] Thaye và Lhadren, “Cuộc đời của Đấng Quy y.”</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn19"></a>[19] Tên của terma của ngài Chogyur Lingpa được trao truyền.</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn20"></a>[20] Erik Pema Kunsang và Marcia Binder Schmidt, Blazing Splendor: The Memoirs of Tulku Urgyen Rinpoche, trang 304 – 305.</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn21"></a>[21] Guru Padmasambhava được biết đến là “Vị Phật thứ hai,” bởi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni từng nói với các đệ tử rằng ngài sẽ thị hiện trong tám năm nữa và giảng dạy Mật điển – các thực hành cao cấp của Phật giáo, nhờ đó người ta có thể giác ngộ chỉ trong một đời. Guru Padmasambhava được cho là sinh ra từ bông sen trong hình dạng một bé trai tám tuổi ở vùng Uddhiyana (được tin là ở thung lũng Swat ngày nay), như đã dự đoán. Ngài có tám hóa thân chính, ở đó ngài nghiên cứu và thực hành Mật điển. Ngài được thỉnh mời bởi Vua Trisong Deutsen (790 – 844) để điều phục các thế lực ngăn cản việc đưa Phật giáo vào Tây Tạng, bởi vậy ngài đến Tây Tạng và chế ngự các ma quỷ và tinh linh phẫn nộ, những kẻ sau này trở thành Hộ Pháp của Phật giáo. Với sự giúp đỡ của Đạo sư Khenpo Shantarakshita, ngài thành lập tu viện Samye, tu viện Phật giáo đầu tiên của đất nước, và thành công trong việc đưa Phật giáo đến Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn22"></a>[22] Truyền thống Nyingma là cổ nhất trong bốn truyền thống chính của Phật giáo Tây Tạng; ba truyền thống kia là Sakya, Kagyu và Geluk. Trong dòng Nyingma có các bậc Đạo sư xuất sắc như Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche, Kyabje Nyoshul Khen Rinpoche và Kyabje Dudjom Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn23"></a>[23] Yonru Chimey Dorje tiên đoán trước khi Chatral Rinpoche chào đời rằng,</p>
<p style="text-align: justify;">“Hóa thân tối thượng về tâm của Guru Padmasambhava</p>
<p style="text-align: justify;">Đứa bé được gia trì bởi Vimalamitra</p>
<p style="text-align: justify;">Sinh ra vào năm Bò Nước với tên gọi Vajra</p>
<p style="text-align: justify;">Sẽ hoằng dương truyền thừa thực hành”</p>
<p style="text-align: justify;">(trích từ “Cuộc đời Đấng Quy y” của Thaye và Lhadren). Ngài Vimalamitra là một trong những nhân vật vĩ đại của truyền thống Nyingma cùng thời đại với Guru Padmasambhava và Khenpo Ngawang Palzang được xem là hóa thân của ngài.</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn24"></a>[24] Ngày 10 tháng 3 năm 1959, hàng nghìn người Tạng ở Lhasa – lo lắng về sự an toàn của Đạt Lai Lạt Ma – nổi dậy rộng lớn trong ba ngày và nhiều người đã chết. Trung Quốc đã đàn áp dã man cuộc nổi dậy và sau đó Đạt Lai Lạt Ma chạy đến Ấn Độ. Kể từ đó, hàng trăm nghìn người Tạng đã sống lưu vong ở Nepal, Bhutan, Ấn Độ, châu Âu và Mỹ.</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn25"></a>[25] Guru Padmasambhava tiên đoán rằng, “Khi con chim sắt bay và ngựa chạy trên bánh xe, người Tạng sẽ rải rác khắp nơi trên trái đất và Pháp sẽ đến với vùng đất của người mặt đỏ.”</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn26"></a>[26] Thaye và Lhadren, “Cuộc đời của Đấng Quy y.”</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn27"></a>[27] Từ cuộc phỏng vấn Chatral Rinpoche năm 2000, được xuất bản trong “Bất bạo động trong Văn hóa Tây Tạng,” Một chương trình đi thực địa ở Nepal cho sinh viên Đại học Wisconsin-Madison.</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn28"></a>[28] Sangyum nghĩa là vị phối ngẫu. Không giống như các vị tăng, các vị yogi thường có phối ngẫu trong các giai đoạn sau của cuộc đời. Các vị yogi vĩ đại khác như là Dilgo Khyentse Rinpoche và Nyoshul Khen Rinpoche có phối ngẫu như vậy.</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn29"></a>[29] Pháp thân [Dharmakaya] liên quan đến trạng thái nguyên sơ của giác tánh hoàn hảo.</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn30"></a>[30] Một Bảo tháp là đài tưởng niệm Phật giáo với đế vuông, ở giữa có hình hoa sen và đỉnh hình nón, chứa những bản văn và xá lợi linh thiêng. Phật tử thường chiêm bái đến một Bảo tháp bằng cách đi nhiễu quanh nó theo chiều kim đồng hồ và tụng các lời cầu nguyện. Bảo tháp Boudhanath ở thung lũng Kathmandu, có lẽ là lớn nhất và nổi tiếng nhất trên thế giới, là trung tâm lớn cho cộng đồng Tây Tạng ở Nepal.</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn31"></a>[31] Thaye và Lhadren, “Cuộc đời của Đấng Quy y.”</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn32"></a>[32] Có rất nhiều các câu chuyện về việc Chatral Rinpoche thử thách các đệ tử phương Tây khi họ thỉnh cầu giáo lý để xem liệu rằng lòng sùng mộ của họ có đủ. Một người đàn ông được bảo nếu anh ta nhặt con rắn độc trên cỏ lên, anh ta có thể trở thành đệ tử của Rinpoche. Khi nghe vậy, anh ta nhặt con rắn lên và sau đó được phép học tập ở một trong các trung tâm của Rinpoche. Những thử thách khó khăn như vậy là phổ biến, để quyết định xem mức độ sùng mộ với Đạo sư có đủ để đệ tử nhận được lợi lạc từ giáo lý. Đạo sư của ngài Milarepa, Đức Marpa đã đặt ngài vào những thử thách nghiêm ngặt tương tự vậy.</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn33"></a>[33] Chokyi Nyima Rinpoche là một lạt ma của cả hai truyền thống Kagyu và Nyingma của Phật giáo Tây Tạng. Ngài có rất nhiều đệ tử phương Tây nghiên cứu ở trung tâm của ngài Boudha, Nepal, được gọi là “Tu viện trắng.”</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn34"></a>[34] Điều này liên quan đến sự chứng ngộ bốn thân mà không có điểm tham chiếu của ba thời.</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn35"></a>[35] Trạng thái của giác tánh nguyên sơ vượt khỏi các quan niệm nhị nguyên.</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn36"></a>[36] Sogyal Rinpoche, Tạng thư sống chết.</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn37"></a>[37] Trích từ Ba mươi bảy Pháp hành Bồ Tát Đạo.</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn38"></a>[38] Thaye và Lhadren, “Cuộc đời của Đấng Quy y.”</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn39"></a>[39] Một cấp độ cao của thiền định trong đó bản tánh bất nhị của tâm được trải nghiệm.</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn40"></a>[40] Khenpo Tendzin Ozer, “Hạt giống niềm tin: Tiểu sử của Đấng Quy y, Chatral Sangye Dorje,” được dịch bởi Erik Pema Kunsang. Trong đoạn trích này, từ “JVALA” được thay đổi thành “với chủng tự chói ngời”; từ “chữ cái YAM” được chuyển thành “chủng tự YAM”; từ “yếu tố KHAM” được chuyển thành “chủng tự cơ bản KHAM.”</p>
<p style="text-align: justify;"><a name="_edn41"></a>[41] Thaye và Lhadren, “Cuộc đời của Đấng Quy y.”</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/duc-chatral-rinpoche-cuoc-doi-cua-mot-huyen-thoai/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
