<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Mindoling Nyingma</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-nyingema/mindoling-nyingma/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Fri, 17 Apr 2026 16:09:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Tiểu sử vắn tắt Tulku Dakpa Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-van-tat-tulku-dakpa-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-van-tat-tulku-dakpa-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 07 Feb 2022 09:44:58 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Mindoling Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Mindroling]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=10807</guid>
		<description><![CDATA[Tulku Dakpa Rinpoche sinh ngày 25 tháng 11 năm 1975 là con trai của Lama Thubten Kalsang tôn quý và bà Yongdu Wangmo. Ngài được Kyabje Minling Trichen Rinpoche công nhận là vị tái sinh thứ ba của đạo sư Tây Tạng Gegong Rogza Sonam Palge Rinpoche. Lên tám tuổi, Ngài bắt đầu các nghiên cứu Giáo Pháp với cha trong ngôi làng của Tu viện Dzogchen, một trong sáu Tu viện chính của truyền&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-van-tat-tulku-dakpa-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Tulku Dakpa Rinpoche sinh ngày 25 tháng 11 năm 1975 là con trai của Lama Thubten Kalsang tôn quý và bà Yongdu Wangmo. Ngài được Kyabje Minling Trichen Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công nhận</span> là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> thứ ba của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> Gegong Rogza Sonam Palge Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Lên tám tuổi, Ngài bắt đầu các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> với cha trong ngôi làng của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Dzogchen, một trong sáu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> chính của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Nyingma. Ở đó, Ngài học nghệ thuật đọc và viết cơ bản bằng Tạng ngữ và nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi quỹ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span>, chẳng hạn Konchok Chidu và Karling Shitro – một trăm vị Tôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an bình</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phẫn nộ</span>, một Terma được Karma Lingpa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span>. Mười tám tuổi, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia nhập</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Mindrolling ở Dehra Dun, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span>, được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> bởi Kyabje Minling Trichen Rinpoche và Khochhen Rinpoche. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Mindrolling là cội nguồn hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> mẹ của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Nyingma. Minling Khenchen Rinpoche đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền giới</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sa Di</span> cho Ngài. Tulku Dakpa Rinpoche đã tốt nghiệp Học viện Ngagyur Nyingma – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật học viện</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Mindrolling như là vị trì giữ cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kinh thừa</span> và Mật thừa sau khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> ở đó trong chín năm. Trong quá trình <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span>, Ngài đã học <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiến thức</span> chung về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lịch sử</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thi ca</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> xác thực, cũng như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiến thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> từ các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luận giải</span> của chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> về Luật, Kinh và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Luận Tạng</span> – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ba thừa</span> của Phật. Hơn thế nữa, Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> nhiều bản văn về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiến thức</span> Mật thừa vĩ đại, chẳng hạn các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luận giải</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> Guhyagarbha của chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> vĩ đại – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn giả</span> Lochen Dharmashri và Kunkhyen Longchen Rabjam<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20TULKU%20DAKPA%20RINPOCHE.docx#_ftn1">[1]</a> và Dzogpa Chenpo Semnyid Ngalso, tức Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span> – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">An Trú</span> Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bản Tính</span> Tâm của Kunkhyen Longchen Rabjam. Trong chín năm ở đó, Ngài đã thọ nhận hầu hết các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> từ Khenchen Tsewang Rigdzin, cố Khenpo Jampal Tsering và từ nhiều Khenpo khác trong Học viện. Trong lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span>, Ngài đã dạy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lịch sử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thi ca</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> xác thực, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Đạo</span>, v.v... cho các lớp khác trong Học viện, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuân theo</span> mệnh lệnh từ chư Khenpo của Học viện. Ngài cũng là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biên tập</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên đầu</span> tiên của Ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Biên Tập</span> Minling trong ba năm. Trong nhiệm kỳ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biên tập</span> của Ngài, Ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Biên Tập</span> đã chỉnh sửa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Lịch Sử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Truyền Thừa</span> Mindrolling và Các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quy Tắc</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giới Luật</span> Của Học Viện.</p>
<p style="text-align: justify;">Tulku Dakpa Rinpoche thường viếng thăm Kyabje Minling Trichen Rinpoche để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span>, các trao truyền và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span>. Kyabje Rinpoche là cha <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy nhất</span> trên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> bên trong của Tulku Dakpa Rinpoche và nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sức mạnh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng từ</span> và sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> của Ngài, Tulku Dakpa Rinpoche mở tâm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiến bộ</span> trên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span>. Lòng sùng mộ của Ngài với Kyabje Rinpoche ngày càng sâu sắc thêm, bất kể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hóa thân</span> của Kyabje Rinpoche có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> hay không. Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> Kyabje Trulshik Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20TULKU%20DAKPA%20RINPOCHE.docx#_ftn2">[2]</a> soạn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Du Già</span> về Kyabje Minling Trichen Rinpoche. Kyabje Trulshik Rinpoche đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoan hỷ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chấp nhận</span> và soạn một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi quỹ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Du Già</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô cùng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span>, điều mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span> Mindrolling đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Rinpoche đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm kiếm</span> các vị trì giữ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> khác nhau và thọ nhận những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> quan trọng từ chư vị. Ngài đã thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> cho Kama – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> truyền miệng của trường phái Nyingma từ Kyabje Taklung Tsetrul Rinpoche tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Mindrolling. Ngài thọ nhận hai lần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> về Rinchen Terdzod – Kho Tàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quý Báu</span>: <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một lần</span> từ Kyabje Penor Rinpoche tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Shechen với phần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> từ Shechen Rabjam Rinpoche và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một lần</span> từ Kyabje Taklung Tsetrul Rinpoche tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Mindrolling với phần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> từ Namkhai Nyingpo Rinpoche. Ngài cũng thọ trao truyền Damngak Dzod – Kho Tàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chỉ Dẫn</span>, một tuyển tập <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> từ tám trường phái khác nhau của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> do <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn giả</span> Jamgon Kongtrul<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20TULKU%20DAKPA%20RINPOCHE.docx#_ftn3">[3]</a> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết tập</span>, từ Kyabje Trulshik Rinpoche tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Shechen cũng như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> Mindrolling tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Mindrolling. Ngài thọ trao truyền cho các quyển gốc của Longchen Nyingtik [Nyingtik Tsapod] từ Kyabje Pema Kalsang Rinpoche ở Bỉ. Khi ấy, Kyabje Pema Kalsang Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính thức</span> tấn phong Ngài là [vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> của] Drupwang Rogza Sonam Palge Rinpoche và soạn một lời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cầu nguyện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trường thọ</span> cho Rinpoche. Rinpoche thọ Bảy Kho Tàng của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn giả</span> Kunkhyen Longchenpa hai lần: <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một lần</span> từ Tulku Rigdzin Pema Rinpoche tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Palyul ở Nam Ấn và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một lần</span> từ Khenpo Gelek Tenzin tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Mindrolling. Ngài cũng thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> từ nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị đạo</span> sư khác như Kyabje Khochhen Rinpoche, Khenchen Petse Rinpoche, Khenchen Thupten Rinpoche, v.v...</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi Kyabje Minling Trichen Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span>, Tulku Dakpa Rinpoche lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh ngộ</span> Kyabje Taklung Tsetrul Rinpoche và thọ nhận từ vị này tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> Kho Tàng Phương Bắc [Jangter] và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> Rinchen Terdzod lần thứ hai và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> là các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> của tâm. Tulku Dakpa Rinpoche thực sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm thấy</span> rằng Kyabje Taklung Tsetrul Rinpoche là sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiển bày</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng từ</span> lớn lao của Kyabje Minling Trichen Rinpoche với Ngài. Kyabje Taklung Tsetrul Rinpoche là một trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> gốc của Tulku Dakpa Rinpoche và Ngài vẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cầu nguyện</span> Kyabje Taklung Tsetrul Rinpoche trụ thế dài lâu và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên tục</span> dẫn dắt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 2007, Rinpoche viếng thăm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> trước kia của Ngài – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Gegong, một trong năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Longchen Nyingtik chính trong vùng Dzachukha, miền Đông <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, cùng với nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> Phần Lan của Ngài. Nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> Nyingma vĩ đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất thân</span> từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> này, chẳng hạn Dza Patrul Rinpoche, Khenpo Kunpal Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20TULKU%20DAKPA%20RINPOCHE.docx#_ftn4">[4]</a> và Kunkhyen Bopa Tulku Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/TI%E1%BB%82U%20S%E1%BB%AC%20V%E1%BA%AEN%20T%E1%BA%AET%20TULKU%20DAKPA%20RINPOCHE.docx#_ftn5">[5]</a>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> và cả làng đã cung nghênh Rinpoche bằng những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trang nghiêm</span>. Họ đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> Rinpoche những bức tượng, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo tháp</span> và bản <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">văn quan</span> trọng của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Phật, cùng với trăm con Yak, trăm con cừu và trăm con ngựa, nhiều loại gấm và v.v... Họ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô cùng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoan hỷ</span> khi được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh ngộ</span> Rinpoche và họ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> Ngài sớm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở lại</span> và ở lại lâu hơn, dẫn dắt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> và giảng dạy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong những kỳ nghỉ của Học viện, Rinpoche đã viếng thăm châu Âu để giảng dạy theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Tâm</span> Dzogchen Bỉ và thăm nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quốc gia</span> khác ở châu Âu từ năm 1999. Kết quả là, Ngài hiện đang sống tại Phần Lan, nơi Ngài là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng lập</span> và giám đốc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điều hành</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> Danakosha, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> gốc cho các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> của Rinpoche. Ngài cũng dẫn dắt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> Rangjung Osel – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> riêng ở miền Nam Phần Lan. Ngài thường ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> cho các cấp độ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo</span> khác nhau và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> cùng với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span>. Sự hào phóng lớn lao trong việc giảng dạy của Ngài đem đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> mới về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span> của nhiều người. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kiến thức</span> lớn lao, trái tim bi mẫn, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> tận tụy và khả năng dẫn dắt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> của Ngài thực sự được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trân trọng</span>. Rinpoche cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du hành</span> đến những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nơi khác</span> ở châu Âu, châu Á và Hoa Kỳ để ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> tại các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> khác nhau. Ngài là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo Tây Tạng</span> đầu tiên thường trú tại Phần Lan và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span> thực sự mong rằng Rinpoche trụ thế dài lâu và tầm nhìn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao la</span> của Ngài vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi lạc</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hữu tình</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> là những vị kết nối với Ngài, được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên thành</span> suôn sẻ và không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nỗ lực</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Được viết bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> Olli Pietiläinen theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> của Tulku Dakpa Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt ngữ: Pema Jyana</em></p>
<p><em>Nguồn Anh ngữ: <a href="https://tdr.bio/biography/">Biography</a></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn Việt ngữ: <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a37150/tieu-su-van-tat-tulku-dakpa-rinpoche">Tiểu Sử Vắn Tắt Tulku Dakpa Rinpoche</a></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-van-tat-tulku-dakpa-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử sơ lược Đức Mindrolling Trichen thứ 11</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/tieu-su-so-luoc-duc-mindrolling-trichen-thu-11/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/tieu-su-so-luoc-duc-mindrolling-trichen-thu-11/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 27 Feb 2017 07:05:40 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống Mindoling Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Mindroling]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7286</guid>
		<description><![CDATA[Tu viện trưởng thứ 11 của tu viện Mindrolling, Đức Trichen Jurme Kunzang Wangyal sinh ra trong gia đình của vị tu viện trưởng thứ 10 của Mindrolling, ngài Trichen Jurme Dondrub Wangyal và vợ là Yum Dawa Droma, vào ngày thứ mười tám, tháng âm lịch đầu tiên của năm Cừu Sắt. Đức Mindrolling Trichen Rinpoche đã thọ nhận&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/tieu-su-so-luoc-duc-mindrolling-trichen-thu-11/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Tu viện trưởng thứ 11 của tu viện Mindrolling, Đức Trichen Jurme Kunzang Wangyal sinh ra trong gia đình của vị tu viện trưởng thứ 10 của Mindrolling, ngài Trichen Jurme Dondrub Wangyal và vợ là Yum Dawa Droma, vào ngày thứ mười tám, tháng âm lịch đầu tiên của năm Cừu Sắt.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Mindrolling Trichen Rinpoche đã thọ nhận những giáo lý sâu rộng và sự gia trì từ rất nhiều đạo sư Tây Tạng lỗi lạc. Ngài Dzongsar Khyentse Chökyi Lodro, ngài Sechen Kongtrul vĩ đại, ngài Minling Chung Rinpoche, ngài Minling Khen Rinpoche, ngài Sechen Rabjam Rinpoche, ngài Dordzin Namdrol Gyatso, ngài Dordzin Dechen Choedzin và ngài Gelong Kunzangla là một số đạo sư danh tiếng mà ngài đã theo học.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/01-107.jpg"><img class="  wp-image-7288 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/01-107-300x200.jpg" alt="01 (107)" width="629" height="419" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Đức Dilgo Khyentse Rinpoche và Đức Mindrolling Trichen Rinpoche </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Vị thầy gốc của Đức Mindrolling Trichen Rinpoche là ngài Dzongsar Khyentse Chökyi Lodrö, người đã truyền cho ngài những chỉ dẫn quý báu về Mật nhiệm (Guhyagarbhatantra) với những diễn giải khác nhau. Ngài Dzongsar Khyentse Rinpoche công bố rằng Đức Rinpoche Jurme Kunzang Wangyal đã vô cùng xuất sắc trong việc hiểu tường tận và thực hành những giáo lý quý báu này, và chỉ dẫn Đức Rinpoche truyền lại giáo lý đó mười một lần cho những học trò may mắn và xứng đáng trong tương lai.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau nhiều năm theo học các đạo sư vĩ đại của Tây Tạng, Đức Mindrolling Trichen Rinpoche đã dành hơn 14 năm cho các đợt nhập thất, và thành tựu trong nhiều thực hành. Trong số những dấu hiệu kỳ diệu, có thể kể đến việc Ngài đã biên soạn nên nhiều giáo lý và khám phá ra kho tàng của Đấng Đại bi Jigten Wangchuk Pema Garwang.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Trichen thứ 10 của tu viện Mindrolling đã nhập diệt khi Rinpoche mới lên bảy tuổi. Trong những năm sau đó, Rinpoche đã tiếp tục việc học tập và bắt đầu thực hiện các nhiệm vụ của người kế thừa ngôi vị tu viện trưởng. Sự kiện Trung Quốc xâm lược Tây tạng năm 1959 và những hậu quả của cuộc chiến này đã cản trở lễ tấn phong chính thức của ngài. Theo lời thỉnh cầu của tăng đoàn và gia đình, Đức Trichen của tu viện Mindrolling đã rời khỏi Tây Tạng khi 29 tuổi.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Mindrolling Trichen Rinpoche đã lưu lại Bhutan một thời gian rồi rời qua Ấn Độ. Ngài đã gặp gỡ và lưu trú cùng đạo sư vĩ đại Đức Dudjom Rinpoche, người bạn cũ của Đức Trichen thứ 10 của tu viện Mindrolling.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/01-132.jpg"><img class="  wp-image-7289 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/01-132-300x200.jpg" alt="01 (132)" width="572" height="381" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Đức Đức Dalai Lama 14 và Đức Mindrolling Trichen Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1962, Đức Dudjom Rinpoche và Đức Dilgo Khyentse Rinpoche đã cử hành nghi lễ tấn phong chính thức cho Đức Trichen thứ 11 của tu viện Mindrolling với sự hiện diện của nhiều vị thầy và các vị chức sắc danh tiếng ở Tu viện Zangdok Palri tại Kalimpong. Ở Kalimpong, trong quá trình làm việc thân cận với Đức Dudjom Rinpoche, Đức Karmapa thứ 16, Đức Dilgo Khyentse Rinpoche và những vị khác, Rinpoche đã tích cực tham gia vào việc thiết lập Phật pháp tại Ấn Độ. Ngài đã tổ chức nhiều pháp hội, các lễ quán đảnh và các buổi giảng pháp lớn.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1976, Đức Mindrolling Trichen Rinpoche rời tới Dehra Dun, Ấn Độ, đảm nhiệm vị trí tu viện trưởng từ xa của Tu viện Mindrolling và tiếp tục làm lợi lạc cho chúng sinh quan việc chuyển Pháp luân. Sự hiện diện của ngài trên thế giới đã truyền cảm hứng cho mọi người gìn giữ con đường thanh tịnh vị tha và từ bi. Những nỗ lực của ngài hầu hết tập trung vào việc truyền bá tầm nhìn và lời khuyên của vị Pháp Vương vĩ đại Chögyal Terdag Lingpa: đảm bảo sự thanh tịnh của giáo pháp và duy trì giới luật.</p>
<p style="text-align: justify;">Nổi danh ở Tây Tạng là hóa thân của Đức Liên Hoa Sanh, Đức Mindrolling Trichen Rinpoche thứ 11 của tu viện Mindrolling được khắp giới Phật giáo kính ngưỡng và tôn sùng là Đại thành tựu giả và là một trong những đạo sư thành tựu vĩ đại nhất của thế kỷ.</p>
<p style="text-align: justify;">Trichen Dorje Chang, theo danh hiệu mà nhiều người biết tới ngài, đã ở bên gia đình và Tăng đoàn tu viện Mindrolling tại Dehra Dun cho tới khi ngài nhập diệt.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào 7 giờ tối ngày thứ 3 trong tháng đầu của Những điều kỳ diệu, năm Chuột Đất (9 tháng Hai 2008), không hề có một sự khó chịu mảy may, với dung mạo rạng rỡ hơn bao giờ hết, và nét mặt mỉm cười, Đức Trichen thứ 11 của tu viện Mindrolling ngắm nhìn mọi người xung quanh với ánh mắt đầy tình thương. Rồi trong dáng vẻ nghỉ ngơi, Đức Trichen của tu viện Mindrolling Kyabje Jurme Kunzang Wangyal đã biểu hiện hoạt động cuối cùng là chuyển di tâm ý giác ngộ của ngài tới một cõi khác, để chuyển tâm của những chúng sinh cần được thuần phục về pháp.</p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"><em>Nguồn: <a style="color: #000000;" href="http://mindrolling.org/history/HHMindrollingTrichenRinpoche.cfm">http://mindrolling.org/history/HHMindrollingTrichenRinpoche.cfm</a></em></span></p>
<p style="text-align: justify;">Việt ngữ: Satya</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/tieu-su-so-luoc-duc-mindrolling-trichen-thu-11/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lịch trình Hoằng Pháp của Đức Mindroling Khenchen Rinpoche tháng 10 năm 2015</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/lich-trinh-hoang-phap-cua-duc-mindroling-khenchen-rinpoche-thang-10-nam-2015/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/lich-trinh-hoang-phap-cua-duc-mindroling-khenchen-rinpoche-thang-10-nam-2015/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 08 Oct 2015 17:21:57 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kinh sách Mindroling]]></category>
		<category><![CDATA[Mindoling Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6103</guid>
		<description><![CDATA[10/10/2015: Về đến sân bay Nội Bài. 12/10/2015: Chùa Cót Quán đỉnh Hồng Quan Âm Như Lai - Pháp tu thuộc tantra vô thượng của dòng truyền thừa Mindrolling. 15/10: đi Thanh Hóa 17/10: Chùa Hồi Long Hoằng Hóa - Thanh Hóa ban Quán đỉnh Tara 18-21/10: Chùa Phúc Long Ban pháp Phổ Ba Kim cang và pháp Kurukule Quán&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/lich-trinh-hoang-phap-cua-duc-mindroling-khenchen-rinpoche-thang-10-nam-2015/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>10/10/2015: Về đến sân bay Nội Bài.</p>
<p>12/10/2015: Chùa Cót</p>
<p>Quán đỉnh Hồng Quan Âm Như Lai - Pháp tu thuộc tantra vô thượng của dòng truyền thừa Mindrolling.</p>
<p>15/10: đi Thanh Hóa</p>
<p>17/10: Chùa Hồi Long Hoằng Hóa - Thanh Hóa ban Quán đỉnh Tara</p>
<p>18-21/10: Chùa Phúc Long</p>
<p>Ban pháp Phổ Ba Kim cang và pháp Kurukule<br />
Quán đảnh Hộ Pháp Lachen (hộ pháp Đại Viên mãn).</p>
<p>25/10: Chùa Linh Tiên - Tứ Kỳ - HN ban quán đảnh Tara</p>
<p>26/10: Chùa Linh Sơn - Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc</p>
<p>Quán đảnh A di đà</p>
<p>27/10: Chùa Hương Tích - Việt trì- Phú thọ</p>
<p>Quán đảnh A di đà - Trường thọ.</p>
<p>29/10: Ngài Đi TP HCM</p>
<p>30/10: Đại Tùng Lâm Vũng Tàu</p>
<p>7h tối ban quán đảnh cho 20.000 người trong đó có trên 4000 tăng ni.</p>
<p>Đọc thêm tiểu sử tại:<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/mindoling-nyingma/tieu-su-dao-su-minling-khenchen-rinpoche/"> https://kimcuongthua.org/…/tieu-su-dao-su-minling-khenche<span class="text_exposed_show">n-…/</span></a></p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/lich-trinh-hoang-phap-cua-duc-mindroling-khenchen-rinpoche-thang-10-nam-2015/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Thực hành tổng quát truyền thống Mindroling</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/mindoling-nyingma/thuc-hanh-tong-quat-truyen-thong-mindroling/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/mindoling-nyingma/thuc-hanh-tong-quat-truyen-thong-mindroling/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 29 Aug 2015 13:54:45 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kinh sách Mindroling]]></category>
		<category><![CDATA[Mindoling Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3361</guid>
		<description><![CDATA[ GIAI ĐOẠN CƠ BẢN (NGONDRO) Còn gọi là giai đoạn Ngondro, tức Pháp tu nền tảng hay Pháp tu dự bị. Trước tiên, hành giả phải tu tập, chiêm nghiệm, thiền quán Bốn bước khởi đầu bình thường và Năm bước khởi đầu phi thường. Để thực hiện Bốn bước này, hành giả phải dựa trên bốn phép quán niệm,&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/mindoling-nyingma/thuc-hanh-tong-quat-truyen-thong-mindroling/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"> GIAI ĐOẠN CƠ BẢN (NGONDRO)</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Còn gọi là giai đoạn Ngondro, tức Pháp tu nền tảng hay Pháp tu dự bị.</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Trước tiên, hành giả phải tu tập, chiêm nghiệm, thiền quán Bốn bước khởi đầu bình thường và Năm bước khởi đầu phi thường.</p>
<p style="text-align: justify;">Để thực hiện Bốn bước này, hành giả phải dựa trên bốn phép quán niệm, trong Kim cương Thừa gọi là Bốn phép chuyển tâm, bao gồm:</p>
<ol style="text-align: justify;">
<li><em> Thân người là quý: ý thức sự hy hữu được thân người để tu thành Phật quả.</em></li>
<li><em>Thân, tâm và hoàn cảnh đều vô thường: ý thức mình có thể chết bất cứ lúc nào nên cần phải cấp cấp nỗ lực tu trì.</em></li>
<li><em> Nhân nào quả nấy: ý thức khi mình hành động thiện thì sẽ mang lại kết quả tốt đẹp, còn hành động ác thì kết quả sẽ tai hại - chúng ta có thể tự do xoay chuyển nghiệp của mình.</em></li>
<li><em> Luân hồi là khổ: ý thức toàn bộ tiến trình sinh tử luân hồi, cho dù chúng ta có tái sinh ở cõi trời hay địa ngục đi nữa, thì chu trình này đều đau khổ.</em></li>
</ol>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Tiếp theo, để thực hiện Năm bước, hành giả phải thực hành:</em></strong></p>
<ol style="text-align: justify;">
<li><em>Quy y và lễ lạy: Nhằm tạo chỗ dựa vững chắc và thể nghiệm Phật, Pháp, Tăng ngay chính bản thân để tiến tới giải thoát, hành giả phải xưng tụng: Namo Buddhaya, Namo Dharmaya, Namo Sanghaya và lễ lạy năm vóc sát đất.</em></li>
<li><em>Phát Bồ đề tâm: Hành giả khởi Đại bi tâm, thương xót tất cả chúng sanh đang lặn hụp trong vũng lầy sinh tử, muốn đạt đến trạng thái giải thoát và chứng ngộ Phật quả một cách nhanh nhất để cứu độ họ. Hành giả trì tụng câu kinh Phát Bồ đề tâm để làm mạnh mẽ thêm ý nguyện thiêng liêng, cao cả đó.</em></li>
<li><em> Thanh tịnh nghiệp chướng: Hành giả sám hối tất cả lỗi lầm từ xưa đến nay theo pháp tu Đệ nhất thanh tịnh tội lỗi với Kim Cương Tát Đỏa - quán tưởng và trì tụng thần chú Bách tự Kim Cang, hoặc lạy sám với 35 vị Phật.</em></li>
<li><em>Tích lũy công đức: Hành giả muốn chứng quả vị Phật thì phải thành tựu viên mãn Công đức và Trí tuệ, bằng cách cúng dường Mạn đà la - dâng cúng những gì quý giá nhất lên chư Phật, chứng tỏ lòng thành của hành giả hướng dâng trọn vẹn cuộc đời cho sự giải thoát giác ngộ như chư Phật, nhờ vậy mà phát sinh được nhiều công đức.</em></li>
<li><em> Ân sủng của dòng truyền thừa: Pháp này vô cùng quan trọng. Hành giả hòa nhập tâm mình với tâm của bậc thầy qua pháp Đạo sư Du già (Guru Yoga) thông qua các nghi quỹ và thần chú. Vị đạo sư chính là sự thể hiện hữu hình cụ thể của Phật, Pháp và Tăng nên hành giả phải luôn lễ kính.</em></li>
</ol>
<p style="text-align: justify;">Theo pháp tu Tây Tạng, hành giả phải thực hiện các pháp này mỗi pháp là 111.111 lần với tất cả sự chí thành, chí tâm và toàn lực. (Thực ra, con số này đã trừ bớt 10% lơ đễnh, còn lại 100.000 lần). Riêng pháp cuối cùng, hành giả phải trì tụng câu chú của dòng truyền thừa từ 1.300.000 đến 2.000.000 lần, bởi pháp này vốn quan trọng nhất. Tuy thế, người ta vẫn thường gọi pháp này là pháp tu 500.000, dù túc số có nhiều hơn. Pháp tu này chung cho cả ba dòng, riêng dòng Gelugpa (Mũ vàng) có đôi chút khác biệt.</p>
<p style="text-align: justify;">Để hoàn tất pháp tu Ngondro, đối với hành giả nhập thất, phải mất từ 6 tháng đến 1 năm mới xong; những hành giả không nhập thất song vẫn hành trì đều đặn mỗi ngày thì trung bình phải mất đến 3 năm mới xong.</p>
<p style="text-align: justify;">Hành giả tu tập pháp nền tảng, trước tiên cần phải có tâm xuất ly, muốn vượt thoát ra khỏi vòng luân hồi sinh tử (cốt yếu của Tiểu thừa) và phải dõng mãnh phát Bồ đề tâm (tinh túy của Đại thừa). Vì lòng bi mẫn, hành giả phát Bồ đề tâm là vì thương xót chúng sanh, không phải chỉ giải thoát cho riêng mình, mà cần phải đạt quả vị giải thoát một cách nhanh nhất để cứu độ chúng sanh. Phải hội đủ những yếu tố đó hành giả mới xứng đáng là một hành giả Mật tông và mới có đủ điều kiện để tu tập Kim Cương thừa.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Đại sư Tulku Nyima Rinpoche dạy rằng, pháp tu nền tảng hay dự bị này là để: “thanh lọc hóa cái bình chứa, biến bình chứa thành bình tịnh thủy trước đã. Thầy có thể đoan chắc là các con sẽ mau chóng thành tựu nếu chịu khó miên mật, kiên trì hoàn thiện các pháp tu dự bị! Trên con đường tu tập các pháp tu dự bị, thầy bảo đảm là các con sẽ đạt được nhiều kinh nghiệm sâu sắc, có khả năng chuyển hoá mãnh liệt. Đến lúc đó rồi thì các con sẽ trở thành những chiếc bình chứa hoàn hảo để đón nhận những giáo huấn Dzogchen!”</em></p>
<p style="text-align: justify;">GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN (KYE-RIM)</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi được chín chắn qua lễ điểm đạo, chín chắn qua sự hiểu biết và thực hành giai đoạn Ngondro, hành giả tiếp tục được rèn luyện với vị thầy qua một thời gian để làm chín chắn thêm dòng tâm thức để bước vào những giai đoạn mới.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong giai đoạn này, hành giả luyện tập thiền quán về một vị Bổn tôn mà mình có duyên hay do thầy chọn. Có hành giả thích những vị Phật hiền, có hành giả thích những vị Phật trong hình tướng hung dữ, tùy theo nghiệp kết nối của họ. Giai đoạn này cũng gọi là thiền quán Bổn tôn.</p>
<p style="text-align: justify;">Cụ thể, hành giả sẽ quán cõi đất này chính là cõi Tịnh độ. Chỗ hành giả tu là cung điện của Bổn tôn. Nơi hành giả ngồi là đài sen, là tòa kim cương của Bổn tôn. Thân, khẩu của hành giả là thân, khẩu của Bổn tôn. Tâm hành giả an trụ trong định không lay động, nhất tâm, an trụ trong tâm của Bổn tôn. Nhờ đó, hành giả chuyển thức thành trí, nhận biết bởi do nghiệp của chúng sanh mà cõi này trở nên bất tịnh, còn đối với nhãn quan của chư Phật thì đây chính là Tịnh độ.</p>
<p style="text-align: justify;">Như thế, hành giả Mật tông lấy kết quả làm con đường. Nghĩa là, sau khi nhận được Quán đảnh, nhận được ân phước của vị Phật, hành giả thiền quán mình chính là vị Bổn tôn đó, thấy mình và Bổn tôn không khác. Không có sự cách biệt giữa một vị Phật xa xôi với hành giả trong cõi này.</p>
<p style="text-align: justify;">Mật tông lợi dụng tất cả những mong cầu, tham vọng nhất của bản ngã để tu tập. Khi bản ngã đó đã là một vị Phật thì hành giả không còn mong cầu gì nữa ngoài việc thiền quán về vị Phật đó. Nhờ được chín chắn và được gia trì bởi một vị đạo sư chứng đạo, việc quán tưởng của hành giả sẽ hoàn toàn không phải vọng tưởng. Bởi vị thầy của họ đã tu như vậy, chứng như vậy, trong hình thức như vậy và truyền trao tri kiến như vậy, nên đệ tử sẽ vâng theo lời dạy của thầy mà được thành tựu y như vậy, linh ảnh vị Bổn tôn giữa thầy và trò hoàn toàn không khác. Dĩ nhiên người học trò phải trải qua thời gian tích lũy công đức, tu hành đúng cách, hành trì miên mật và phải hoàn thiện hết tất cả các pháp môn mà bậc thầy đã chỉ dạy, như thế mới có cơ may tiến tới thành tựu viên mãn.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi cung thỉnh Bổn tôn từ cõi trí tuệ của ngài đến để cúng dường và tán thán, hành giả phải tu tập theo Thất nguyện Phổ Hiền (trong Thập nguyện Phổ Hiền), gồm:</p>
<ol style="text-align: justify;">
<li><em>Đảnh lễ chư Phật;</em></li>
<li><em>Cúng dường Tam bảo;</em></li>
<li><em>Sám hối nghiệp chướng;</em></li>
<li><em> Tùy hỷ công đức;</em></li>
<li><em> Cầu Phật chuyển bánh xe chánh pháp;</em></li>
<li><em> Xin Phật ở đời;</em></li>
<li><em> Hồi hướng công đức.</em></li>
</ol>
<p style="text-align: justify;">Hoàn thiện giai đoạn này, hành giả cần thực hiện pháp này theo đủ túc số Bổn tôn, tùy theo điều kiện mà chọn nghi quỹ ngắn hay nghi quỹ dài, và tùy theo pháp tu mà túc số có thể từ 6 triệu, 10 triệu, 32 triệu cho đến 100 triệu lần cho mỗi một câu thần chú của Bổn tôn. Theo đó, ở mức thấp nhất, nếu nhập thất, hành giả phải mất từ 1 cho đến 3 năm. Nếu không nhập thất, có thể cả đời hành giả vẫn không thực hiện đủ túc số. Ở những mức độ cao hơn, nhiều vị thầy đã trải qua gần hết cuộc đời trong chốn núi rừng u tịch mới có thể thành tựu được.</p>
<p style="text-align: justify;">GIAI ĐOẠN HOÀN THIỆN (DZOG-RIM)</p>
<p style="text-align: justify;">Thực hiện xong những pháp tu Bổn tôn của giai đoạn phát triển, hành giả sẽ thực hành các pháp tu về kinh mạch và những bài tập thân thể (Tsa-lung - tiếng Tây Tạng; Hathat-yoga - tiếng Ấn) với những thủ ấn của Bổn tôn (thực hành Tsa-lung, Skr: Prana, Nada, Bindu) qua 6 pháp Du-già bí truyền đặc biệt, gồm: 1. Nội hỏa (Tumo) - pháp gốc rễ; 2. Huyễn thân (Gyulu); 3. Quang minh (Odsel); 4. Chuyển mộng (Milam); 5. Vượt trung ấm (Bardo); 6. Chuyển thần thức (Phowa) - nếu hành giả trong đời chưa thành Phật thì có thể thực hiện pháp này để chuyển thần thức về cõi Tịnh độ.</p>
<p style="text-align: justify;">Tiếp theo, hành giả thực hành Đại Toàn thiện (Dzogchen) bởi những pháp tu Du-già bí truyền cao cấp nhất (thông thường là Trekchod và Togal) để nhận biết Tâm Kim cương (Dorje-sem), đạt được Tam thân Phật (Ku-sum). Thành tựu pháp này, hành giả đạt được giác ngộ, tu vô tu tu, chứng vô chứng chứng, tự tại ra vào sanh tử, tự tại tái sanh, tự tại thị hiện và tự tại hóa độ chúng sanh, chứng đắc tập pháp bao la của một vị Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/mindoling-nyingma/thuc-hanh-tong-quat-truyen-thong-mindroling/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Đạo sư Minling Khenchen Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/mindoling-nyingma/tieu-su-dao-su-minling-khenchen-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/mindoling-nyingma/tieu-su-dao-su-minling-khenchen-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 29 Aug 2015 13:54:11 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Mindoling Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Mindroling]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3358</guid>
		<description><![CDATA[Tháng Năm 1968 Hóa thân Thứ Chín được Đức Đạt Lai Lạt Ma Thừa nhận Đạo sư Minling Khenchen Rinpoche của dòng Ög Min Ogyen Mindrolling sinh trong gia đình Mindrolling thuộc dòng truyền thừa Nyok linh thánh vào ngày 25 tháng Năm, 1968. Thân mẫu của Khenchen Rinpoche là bà Jetsun Dechen Wangmo, cô của Đức Mindroling Trichen Rinpoche,&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/mindoling-nyingma/tieu-su-dao-su-minling-khenchen-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong><br />
</strong>Tháng Năm 1968<br />
<strong>Hóa thân Thứ Chín được Đức Đạt Lai Lạt Ma Thừa nhận</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Đạo sư Minling Khenchen Rinpoche của dòng Ög Min Ogyen Mindrolling sinh trong gia đình Mindrolling thuộc dòng truyền thừa Nyok linh thánh vào ngày 25 tháng Năm, 1968. Thân mẫu của Khenchen Rinpoche là bà Jetsun Dechen Wangmo, cô của Đức Mindroling Trichen Rinpoche, Minling Trichen thứ 11.(1)</p>
<p style="text-align: justify;">Khi vừa ra đời, Rinpoche được ban cho tên Jigmey Namgyal. Ngài được Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, Đức Gyalwa Karmapa thứ 16 và Lhatog Rinpoche thừa nhận là hóa thân của Minling Khenchen Rinpoche thứ 8. Sinh trong dòng Mindrolling, ngài Jigmey Namgyal mà hiện nay được gọi là Khenchen Rinpoche, là vị hộ trì dòng truyền thừa nhánh Khenrab của truyền thống Mindrolling. Lochen Dharmashri, Gyalsay Tenpai Nyima và vị Minling Khenchen tiền nhiệm, là một vài Đạo sư ngoại hạng đã hộ trì dòng truyền thừa này trong quá khứ.</p>
<p style="text-align: justify;">1976 – 1988</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Việc Giáo dục và Học tập</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Từ 1976 trở về trước, Rinpoche bắt đầu học trì tụng, thư họa và y học Tây Tạng với Trlu Khenpo Tsenam Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1983, theo ước nguyện của Đức Mindrolling Trichen và lời mời của Khochhen Rinpoche Tôn quý, Khenchen Rinpoche gia nhập Tu viện Mindrolling ở Ấn Độ. Trong Tu viện Mindrolling, Rinpoche học văn phạm, thi ca, triết học, v.v.. và đặc biệt là những nghi thức và nghi lễ với Dhagpo Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1985, cùng với các Rinpoche khác, Minling Khenchen Rinpoche nhận những truyền dạy giáo lý Terma (kho tàng ẩn dấu) của Pema Lingpa từ Đức Dilgo Khyentse Rinpoche ở Galekphug, Bhutan.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1986, Khenchen Rinpoche gia nhập Học viện Nyingma ở Mysore, Nam Ấn Độ và học vinaya (Luật), sutra (Kinh điển), abhidharma (Luận), madhyamaka (Trung Đạo), luận lý, v.v.. Ở đây ngài nhận wang (quán đảnh) Kama và Terdzo từ Đức Penor Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1987, trong khi viếng thăm Dharamsala theo ước nguyện của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Khenchen Rinpoche cùng với Đức Đạt Lai Lạt Ma nhận lãnh các giáo huấn về Guhyagarbhatantra từ Đức Dilgo Khyentse Rinpoche. Trong thời gian này, Rinpoche cũng nhận quán đảnh đặc biệt của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 Vĩ đại từ Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 hiện tại.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong mùa hè năm 1988, Rinpoche nhận các giáo huấn Yeshe Lama và những giáo lý Dzogchen (Đại Viên mãn) khác từ Đức Dilgo Khyentse Rinpoche tại Nepal.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1990, theo chỉ thị của Đức Dilgo Khyentse Rinpoche, Rinpoche thọ giới Tỳ kheo từ Đức Trulshig Rinpoche. Rinpoche cũng nhận các Giáo huấn về Tâm từ Tulku Urgyen Rinpoche tại Nepal vào năm 1993.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Lãnh đạo Học viện Ngagyur Nyingma</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1992, Rinpoche đảm đương việc lãnh đạo Shedra Mindrolling, Đại học tu viện tại Mindrolling, và bắt đầu giảng dạy cho các tu sĩ. Từ lúc đó Rinpoche đã đáp ứng yêu cầu càng lúc càng tăng để giảng dạy ở Ấn Độ và những quốc gia khác. Những bài giảng của Rinpoche tràn đầy sự trong sáng, sâu xa và hóm hỉnh. Ngài hòa hợp với thời đại ngày nay, điều này khiến ngài trở thành một Đạo sư rất được tôn kính giữa những tulku trẻ tuổi hơn trong hiện tại. Mỗi năm Rinpoche ban các giới nguyện tu viện cho hàng trăm tu sĩ vào ngày mồng 4 tháng 6 âm lịch, là ngày Đức Phật chuyển Pháp luân lần thứ nhất.</p>
<p style="text-align: justify;">1994</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Phó Chủ tịch Đại lễ Nyingma Monlam</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1994, theo thỉnh cầu của nhiều Tu viện Nyingma, Rinpoche nhận chức vụ Phó Chủ tịch Đại lễ Nyingma Monlam (2), một chức vụ mà ngài vẫn giữ cho tới ngày nay. Ngài sẽ bảo trợ sự kiện hàng năm này của Hội nghị Cầu nguyện cho Hòa Bình Thế giới tại Bodh Gaya (Bồ Đề Đạo Tràng) trong năm 2008,2010, và 2011… cho tới nay.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Hộ trì Giáo Pháp và Bảo tồn Dòng Truyền thừa</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Khenchen Rinpoche đã tiếp tục việc nghiên cứu và thực hành của ngài bằng cách nhận lãnh đều đặn những giáo lý và giáo huấn từ Đức Mindrolling Trichen Rinpoche. Mỗi năm Rinpoche chủ tọa những drubchen (3) khác nhau được tổ chức tại tu viện Mindrolling và trải qua một ít thời gian trong ẩn thất nghiêm mật.</p>
<p style="text-align: justify;">Dưới sự hướng dẫn trong quá khứ của Đức Mindolling Trichen Rinpoche và sự dẫn dắt hiện thời của <a href="http://tuyenphap.com/Tham-khao/Thanh-su-Kyabje-Trulshik">Trulshik Rinpoche</a> Tôn quý, với lòng bi mẫn vô hạn và hoạt động không mỏi mệt, Khenchen Rinpoche đã dấn mình vào việc hộ trì Giáo Pháp và bảo tồn dòng truyền thừa Mindrolling.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguyên tác: “His Eminence the 9th Minling Khenchen Rinpoche of Ög Min Ogyen Mindrolling” </em><br />
<em><a href="http://www.khenchenrinpoche.org/2-biography.htm#Gyatso">http://www.khenchenrinpoche.org/2-biography.htm#Gyatso</a></em><br />
<strong><em>Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Chú thích:</strong></p>
<ol style="text-align: justify;">
<li>Đức Mindrolling Trichen Rinpoche thứ 11 (1931-2008) là vị lãnh đạo tối cao của dòng Nyingma tại hải ngoại. Ngài tu học với nhiều Đạo sư lừng danh trong đó có Dzongsar Khyentse Chökyi Lodro, Sechen Kongtrul vĩ đại, Minling Chung Rinpoche, Minling Khen Rinpoche, Sechen Rabjam Rinpoche, Dordzin Namdrol Gyatso, Dordzin Dechen Choedzin và Gelong Kunzangla. Bổn sư của ngài là Dzongsar Khyentse Chökyi Lodrö. Được cộng đồng Tây Tạng tôn kính như một hiện thân của Đức Liên Hoa Sanh. Ngài đã nhập thất 14 năm và thành tựu nhiều thực hành.2. Monlam, cũng được gọi là Lễ Hội Cầu nguyện Vĩ đại của Phật Giáo Tây Tạng, từ ngày 4 tới 11 tháng 1 theo lịch Tây Tạng. Nyingma Monlam là Lễ hội Cầu nguyện Vĩ đại do phái Nyingma tổ chức.</li>
<li>Drubchen là một hình thức nhập thất thiền định truyền thống trong Phật giáo Tây Tạng, kéo dài khoảng mười ngày. Drubchen gồm một tập hội đông đảo các hành giả cư sĩ và tu sĩ và được hướng dẫn bởi ít nhất là một Lạt ma Cao cấp. Drubchen được coi là một thực hành hết sức mãnh liệt, được cho là một phương thuốc để điều phục các thế lực tiêu cực đang hiện hành trong thế giới, và để phát triển sự an bình nội tâm của từng cá nhân, sự an bình trong cộng đồng và nền hòa bình thế giới.</li>
</ol>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/mindoling-nyingma/tieu-su-dao-su-minling-khenchen-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đôi nét về Bậc nắm giữ truyền thống Mindroling</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/mindoling-nyingma/bac-nam-giu-truyen-thong-mindroling/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/mindoling-nyingma/bac-nam-giu-truyen-thong-mindroling/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 29 Aug 2015 13:53:35 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Mindoling Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Mindrolling]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3355</guid>
		<description><![CDATA[Cây Truyền thừa Mindrolling Sư Tổ Terdag Lingpa - Trì Minh Vương Bất Biến Kim Cương - Vị sáng lập tu viện Mindrolling Như tiên tri trong chính kho tàng ẩn dấu của ngài có đoạn: Vào thời điểm của năm sự suy đồi, Khi mà tuổi thọ trung bình của con người quá thấp, Ở một nơi được gọi&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/mindoling-nyingma/bac-nam-giu-truyen-thong-mindroling/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Truyền-thừa-Mindoling.jpg"><img class="  wp-image-5201 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Truyền-thừa-Mindoling-225x300.jpg" alt="Truyền thừa Mindoling" width="313" height="417" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Cây Truyền thừa Mindrolling</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Sư Tổ Terdag Lingpa - Trì Minh Vương Bất Biến Kim Cương - Vị sáng lập tu viện Mindrolling</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Như tiên tri trong chính kho tàng ẩn dấu của ngài có đoạn:</p>
<p style="text-align: justify;">Vào thời điểm của năm sự suy đồi, Khi mà tuổi thọ trung bình của con người quá thấp, Ở một nơi được gọi là Yoru ở tỉnh Dra miền tây nam Samye,Tại ngã ba của thung lũng hướng về phía bắc nhìn trông như nòng súng được treo lên ở Lha Zhol,Đến một người cha tên là Tse một hóa thân của Phật Jana và mẹ mang tên Yangchen một hóa thân của Shelkar Tshoden,</p>
<p style="text-align: justify;">Đứa bé mang tên Pema một yogi theo kiểu hành giả Mật tông sẽ tái sinh trong năm con chó lửa;</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài không thấp cũng không cao với sự phức tạp bóng bẩy biểu tượng cho Ratna bộ,<br />
Ngài sẽ có lòng sùng mộ vững chắc với tôi, Đức Pema và lên 18, ngài sẽ bắt đầu phát hiện các kho báu.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo điều này, và các tiên tri tương tự từ các kho tàng khác, chúa tể tối thượng của các giáo lý bí mật nhất, hóa thân về khẩu của Đức đại dịch giả Vairocana, Minling Terchen Pema Garwang Gyurmed Dorje sinh ra trong gia đình với cha là Đức Noeten Chenpo Sangdag Thinley Lhundup, hậu duệ của gia đình Noe và mẹ và Đức Rigza Hazin Yangchen Dolma – hóa thân của Shelkar Dorji Tsho năm 1646 sau Công nguyên vào ngày thứ mười tháng 2 theo Tạng lịch tương ứng với năm con chó lửa trong chu kì rabjung thứ 11 ở Dranang Dargye Choling với rất nhiều điềm kiết tường.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngay khi đản sinh, người cha nổi tiếng của ngài đã ban cho ngài các quán đánh và gia trì để xua tan các chướng ngại. Ngài được bảo vệ bởi các bổn tôn Hộ pháp trong hình tướng một vị yogi với tóc tết và hai cô gái xinh đẹp từ khi rất nhỏ, điều mà thậm chí sau đó ngài vẫn nhớ. Khi ngài còn trong lòng mẹ hay đang chơi đùa với những đứa bé khác, ngài hiển bày những dáng điệu của Định với nhiều dấu hiệu tốt lành khác, điều đã truyền niềm tin cho rất nhiều người. Ở tuổi lên bốn khi ngài nhận được các quán đảnh của toàn bộ bí mật của tám giáo lý nghi quỹ (Kagyed Sang-Dzog), ngài thiết lập ý nghĩa hoàn hảo của bốn quán đảnh trong tâm trí tuệ của ngài.</p>
<p><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Minling_Terchen.jpg"><img class="  wp-image-5202 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Minling_Terchen-246x300.jpg" alt="Minling_Terchen" width="406" height="495" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Sư Tổ Terdag Lingpa</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Lên mười tuổi, khi ngài đang nhận quán đảnh của tập hội các Đấng Thiện Thệ (Desheg Duepa), ngài được quán đảnh và gia trì bởi Đức Ugyen vĩ đại trong hóa thân chói lọi nhờ sức mạnh mà ngài có được trong việc thấu suốt ý nghĩa của quán đảnh cái bình bằng trực giác sống động chân thực của mình (Bum Wang). Vào lúc đó, ngài trở nên thông thạo những điều cần thiết của một đạo sư như là đọc, viết và các phương thức nghi lễ truyền thống và nhiều điều khác không chút khó khăn. Bởi vậy, từ đó trở đi ngài thành tựu mọi hoạt động giác ngộ đại diện cho người cha đáng kính của ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Lên 11, ngài gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ năm ở Pelden Drepung, người đã thực hiện lễ cắt tóc đầu tiên và ban cho ngài pháp danh Ngawang Pema Tenzin. Thời điểm cuộc gặp gỡ của các ngài trùng với thời điểm ảnh tự sinh khởi Đức Quan Âm (Avalokiteshvara) của Kyidrong đến, ngài đã bộc lộ sự thích thú với sự trùng hợp tốt lành đó. Trong sự trùng hợp đó, một tia sáng từ trái tim của bức tượng tự sinh khởi và tan hòa vào thân của đức Terchen. Sau đó, khi ngài gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ năm ở Samye, ngài xuất hiện trong hình tướng Đức Quan Âm dưới quang kiến của người sau (Đức Đạt Lai Lạt Ma). Ngài coi cha mình và Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ năm là hai bậc thầy gốc vô song, bởi lẽ họ không những che chở ngài trong suốt cuộc đời của họ, mà còn sau khi vào niết bàn, hai vị vẫn tiếp tục gia hộ cho ngài với thân trí tuệ của mình. Ngài cũng có 16 vị đạo sư vĩ đại, ngài đã nhận được từ họ những giáo lý sâu xa về sự chín muồi và giải thoát và 35 vị đạo sư khác, từ họ ngài nhận được rất nhiều các giáo lý uyên thâm khác nữa. Từ những vị đạo sư này ngài thọ được ba giới nguyện làm nền tảng và nhận được các khẩu truyền về toàn bộ giáo lý kinh điển của Cựu Dịch còn được lưu truyền đến ngày nay, như là kinh Tập hội vĩ đại (dupa-do), Hóa thân huyền bí (gyu-trul), Kilay (phurpa), và nhiều kinh điển khác cùng với rất nhiều các giáo lý Tân Dịch và toàn bộ giáo huấn của Đức Phật (Ka-Gyur), nền tảng của mọi giáo lý khác của Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Đặc biệt, ngài nhận được toàn bộ các quán đảnh và khẩu truyền Ngagyur Kama và Terma, những giáo lý có nguy cơ biến mất với những khó khăn lớn lao. Như thế, ngài đã truyền một sức sống mới vào dòng truyền không gián đoạn của các giáo lý Kama và Terma. Từ năm 13 tuổi, ngài đã nhận được các bài giảng từ cha về mật điển gốc, tinh túy bí mật (tsa gyud sangwa nyingpo), chuỗi liên tục tối thượng (gyud lama), an trú trong trạng thái tự nhiên của tâm (sem-nyid ngal gso) … và đã ghi nhớ cả các bản văn gốc và luận giải. Đặc biệt, ngài đã được truyền trao nhiều điểm trọng yếu trong những bản văn của Kunkhen Longchen Rabjam, những giáo lý cho ngài sức mạnh thấu suốt mọi hiện tượng, phá tan mọi nghi ngờ của ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói tóm lại, ngài đã học hỏi và tinh thông mọi giáo lý Phật Đà, cả Cựu và Tân Dịch một cách toàn hảo, đã được đúc kết trong kinh điển, mật điển và các chỉ dẫn cốt tủy. Đây là vài nét phác họa về việc làm thế nào ngài hoàn tất lộ trình học tập thông qua việc đọc, lắng nghe và suy tư (Logpa thoe-sam gyi khorlo) cả Tam thừa giáo pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi đã xua tan những hoài nghi và sai lạc về mọi kinh điển và mật điển sâu xa với sự thấu hiểu chắc chắn, ngài đã áp dụng vào thực hành thông qua thiền định. Ngài tiến hành nhập thất, bắt đầu từ một tháng, ba tháng, sáu tháng và nhiều năm ở những nơi cô tịch như là, Dragmar Chimphug, Yamalung, Yodsel-tse, Samten-tse và nhiều nơi khác, về thực hành trì tụng các đạo sư an bình và phẫn nộ, Đức Kim Cương Tát Đỏa, tám bổn tôn vĩ đại và nhiều vị khác. Các thực hành chính yếu về cắt đứt (tregchod) và làm an dịu (thod-gal) của Dzogpachenpo cùng với thực hành prana. Khi đã hoàn thiện các thực hành này với giai đoạn phát triển và giai đoạn hoàn thiện, mọi ý niệm bất tịnh của ngài đã ngừng bặt và ý định giác ngộ của mọi biểu hiện nhận thức được khởi lên trong ngài. Bởi vậy, ngài có thể hoàn thành tất cả bốn hoạt động mà không gặp chướng ngại.<br />
Mỗi vẻ ngoài và hành động chỉ là sự hiển bày của trí tuệ, thân trí tuệ của các hiền triết Ấn Độ và Tây Tạng vĩ đại như là, Đức Đại Đạo sư Liên Hoa Sinh, Vimalamitra, Hungze, Sangye Sangwa, Vairocana, Tshogyal, Nangral, Kuenkhen Choje và nhiều vị khác, xuất hiện trước ngài và bài trí mạn đà la các hóa thân và trao truyền vô số quán đảnh Kama và Terma cùng với các giáo lý quý báu riêng của các ngài, với sự giải thích các chỉ dẫn cốt tủy cho con đường rộng lớn. Các vị bổn tôn hướng dẫn như Vajrakumara (Dorji Zhonnu), Kim Cương Tát Đỏa (Dorje Sempa), Quan Âm (Thugje Chenpo), các bổn tôn an bình và phẫn nộ (Zhi-Thro), Nal-Jorma (yogini) và nhiều vị bổn tôn khác đã hiển lộ với ngài và trao truyền các quán đảnh và gia trì. Ngài có thể đi đến rất nhiều cõi tịnh độ như là Cực Lạc (Dewachen), Núi Huy Hoàng (Ngayabling) và nhiều nơi khác khi đã nắm vững thiền định tịnh hóa nền tảng. Ngài cũng có vô số linh kiến diệu kỳ như việc nhận các thông điệp bí mật từ chư Dakini và các vị Hộ Pháp và các ngài cũng tự nhiên thành tựu mọi hoạt động pháp. Bởi ngài sở hữu sự thấu suốt tương lai hoàn hảo tự nhiên không ngăn ngại, ngài tiên đoán rất nhiều về tương lai, sau đó đã diễn ra đúng như thế và trở thành những biện minh giá trị. Đây là vài nét cơ bản về việc làm sao ngài thành tựu con đường xả bỏ thông qua thiền định.</p>
<p style="text-align: justify;">Bắt đầu từ 10 tuổi, ngài bắt đầu thành tựu các hoạt động giác ngộ, đại diện người cha vĩ đại của ngài thông qua các hoạt động giải thích, tranh luận, luận giảng và giảng dạy, thực hành. Theo tiên tri đề cập bên trên, ngài phát lộ Rigzin Thug-thig (tinh túy cốt tủy của Đức Kim Cương Trì) từ Yamalung ở tuổi 18 trong ngày 10 tháng 5 năm con chuột nước theo Tạng lịch.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn:https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=1005373596181123&amp;id=746808095371009&amp;substory_index=0</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/mindoling-nyingma/bac-nam-giu-truyen-thong-mindroling/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
