<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Đạo sư Palyul</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/dao-su-palyul/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Fri, 17 Apr 2026 16:09:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Tiểu sử sơ lược về Đức Yangthang Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-so-luoc-ve-duc-yangthang-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-so-luoc-ve-duc-yangthang-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 16 Oct 2016 04:52:23 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Palyul Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Palyul]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7086</guid>
		<description><![CDATA[Ngay tại thời điểm mà Hóa thân của Đức Dorje Dechen Lingpa chào đời tại Sikkim - Ấn Độ, bầu trời đã rền vang tiếng sấm báo hiệu nơi Ngài sinh ra. Ngài đã được tìm thấy một cách chính xác như đã được miêu tả tại vùng Yangthang gần Sikkim - Ấn Độ hiện nay, đó là lý do&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-so-luoc-ve-duc-yangthang-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngay tại thời điểm mà Hóa thân của Đức Dorje Dechen Lingpa chào đời tại Sikkim - Ấn Độ, bầu trời đã rền vang tiếng sấm báo hiệu nơi Ngài sinh ra. Ngài đã được tìm thấy một cách chính xác như đã được miêu tả tại vùng Yangthang gần Sikkim - Ấn Độ hiện nay, đó là lý do tại sao Ngài được biết đến là Yangthang Tulku. Hóa thân thứ hai của Ngài sinh ra tại Sikkim và được giáo dưỡng cùng với vị Hóa thân thứ nhất. Khi Đức Yangthang Rinpoche được mời quay trở lại Tu viện Tây Tạng, thì vị Hóa thân ít tuổi hơn đã nài nỉ được đi cùng với Ngài. Hai chàng trai trẻ tuổi đã khởi hành cùng phái đoàn của mình, vui đùa và thực hiện nhiều điều huyền diệu suốt chuyến đi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau khi trở về Tu viện Dhomang cả hai vị Tái sinh đã được trao gửi cho Đức Sogtrul Rinpoche và các vị Lama khác tại Dhomang. Họ đã được thụ nhận nền giáo dưỡng tốt nhất và tuyệt vời nhất từ Khenpo Pema, vị Thầy dạy riêng thuộc Tu viện chính của Truyền thống Palyul. Mặt khác, cả 2 vị Tulku đều có khả năng hoàn thiện việc nghiên cứu tu học của mình. Ở Tây Tạng, trước cuộc Cách Mạng Văn Hóa, Đức Yangthang Rinpoche đời trước đã ban cho Ngài toàn bộ trao truyền Kangyur và nhiều quán đảnh lớn khác. Ngài trở thành vị đứng đầu Tu viện Dhomang và một mình gánh vác trọng trách chăm sóc Tu viện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm 1958, nhà nước Trung Quốc đã bắt giữ và hãm hại Đức Sogtrul Rinpoche cùng vị Tulku nhỏ tuổi hơn. Đức Yangthang Rinpoche đã trốn thoát và đi tới khu vực Tu viện Dodrupchen, nơi mà về sau chính Ngài cũng đã bị bắt và giam giữ suốt 20 năm. Suốt thời gian này, Ngài đã phải chịu đựng những hình thức tra tấn dã man của đội quân nhà nước Trung Quốc. Tuy nhiên, Ngài vẫn rất lạc quan và nhiệt thành với việc thực hành giáo Pháp. Ngài đã động viên những người bạn trong tù tiếp tục bí mật thực hành và cầu nguyện cho đến ngày được trả tự do. Và, thực tế thì sau cái chết của Mao Trạch Đông, Ngài đã được trả tự do.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong số các vị Terton, những vị Hóa thân được công nhận được ban danh hiệu "Lingpa", phù hợp với những phẩm tính xuất sắc của các Ngài. Giống như Đức Ratna Lingpa, Đức Chokgyur Lingpa và các vị khác, Đức Dorje Dechen Lingpa đã phát lộ các kho tàng giáo lý và là một Đạo sư tỉnh giác không phải nghĩ bàn, một hiện thân về trí tuệ và từ bi của tất cả chư Phật. Là một vị Hóa thân, Đức Yangthang Tulku Rinpoche có năng lực và ân phước ban truyền bộ quán đảnh Rinchen Terzod, vì rất ít các vị Lama có đầy đủ phẩm tính trao truyền và Ngài cũng chính là Hóa thân của Đức Vimalamitra, giống như Đức Kyabje Penor Rinpoche. Trí tuệ của Đức Vimalamitra sánh ngang với Đức Liên Hoa Sanh, suối nguồn ân phước của mọi kho tàng giáo lý được phát lộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thông tin về tiểu sử của Ngài được cung cấp bởi Đức Gyaltrul Rinpoche tôn kính, trích từ cuốn "Buổi phỏng vấn của các đệ tử với Đạo sư tôn kính Gyaltrul Rinpoche" xuất bản bởi Orgyen Dorje Den.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Nguồn: http://www.vimalavideo.org/yangthang-rinpoche.html</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Việt ngữ: Tara Devi (Nhóm Rigpa Lotsawas)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hiệu đính: Giác nhiên</span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với Đức Yangthang Rinpoche đều được Ngài dẫn dắt liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này cầu mong các đời hóa thân của Ngài sớm quang lâm đến Việt nam.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-so-luoc-ve-duc-yangthang-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đôi nét về Đức Jetsunma Ahkon Lhamo</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/doi-net-ve-duc-jetsunma-ahkon-lhamo/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/doi-net-ve-duc-jetsunma-ahkon-lhamo/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 17 Sep 2015 05:32:46 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Palyul Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Palyul]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5567</guid>
		<description><![CDATA[Jetsunma Ahkon Lhamo là phụ nữ Tây phương đầu tiên được công nhận là Đạo sư Hoá Thân hay Tulku của Phật Giáo Tây Tạng. Sinh tại Brooklyn, New York, được kế thừa truyền thống Ý và Do Thái, lòng bi mẫn và khát khao chấm dứt nỗi khổ của thế giới đã được biểu lộ thật rõ ràng trong&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/doi-net-ve-duc-jetsunma-ahkon-lhamo/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Jetsunma Ahkon Lhamo là phụ nữ Tây phương đầu tiên được công nhận là Đạo sư Hoá Thân hay Tulku của Phật Giáo Tây Tạng. Sinh tại Brooklyn, New York, được kế thừa truyền thống Ý và Do Thái, lòng bi mẫn và khát khao chấm dứt nỗi khổ của thế giới đã được biểu lộ thật rõ ràng trong con người bà từ thủa thiếu thời.</p>
<p style="text-align: justify;">Jetsunma bắt đầu giảng dạy năm 1981, quy tụ những đệ tử ước muốn tìm ra một con đường thoát khỏi đau khổ và vô minh. Năm 1985, His Holiness Pedma Norbu (Penor) Rinpoche - hiện là Vị Lãnh đạo Tối cao của phái Nyingma, dòng truyền thừa cổ xưa nhất của Phật Giáo Tây Tạng, cũng là vị trì giữ ngai tòa của hệ thống tu viện Palyul rộng lớn - viếng thăm trung tâm của bà trong lần đầu tiên Ngài du hành tới Châu Mỹ. His Holiness đã tỉ mỉ hỏi bà về căn bản và những phương pháp giảng dạy của bà. Cuối cùng, His Holiness đã tuyên bố rằng bà đang giảng dạy những giáo huấn Đại thừa thuần túy. Ngài ban cho những đệ tử của Jetsunma sự quy y và những giới nguyện Bồ Tát theo truyền thống Phật Giáo và tiên đoán rằng trung tâm của bà sẽ phát triển mạnh mẽ.</p>
<p style="text-align: justify;">Cũng trong năm này trung tâm của Jetsunma bắt đầu khóa tỉnh thức cầu nguyện 24 giờ một ngày không ngừng nghỉ được tiếp tục cho tới ngày nay (tháng 4 năm 1999 đánh dấu kỷ niệm 14 năm).</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/images-13.jpg"><img class="  wp-image-5571 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/images-13.jpg" alt="images (1)" width="462" height="445" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>His Holiness Penor Rinpoche và Jetsunma Ahkon Lhamo </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1987, Jetsunma du hành tới tu viện của His Holiness Penor Rinpoche ở Bylakuppe, Ấn Độ, ở đó Ngài và His Holiness Dilgo Khyentse quá cố chính thức công nhận bà là Hóa Thân của Genyenma Ahkon Lhamo, một vị thánh Tây Tạng vào thế kỷ 17. Genyenma Ahkon Lhamo đã có công xây dựng tu viện Palyul nguyên thủy ở đó anh ngài, Vidyadhara Kunzang Sherab là vị trì giữ ngai tòa đầu tiên. Trong hầu hết đời mình, Genyenma Ahkon Lhamo đã sống và thực hành trong một hang động phía trên Palyul, là nơi đã trở thành một địa điểm cho những cuộc hành hương. Những dấu hiệu kỳ diệu xuất hiện vào lúc ngài mất, kể cả sự phát sinh xá lợi linh thiêng nhất tại Palyul. Trong đời này, Penor Rinpoche đã cầu nguyện xá lợi này để Ngài có thể tìm thấy Hóa Thân của Genyenma Ahkon Lhamo. Một phần của xá lợi còn tồn tại sau cuộc Cách Mạng Văn Hóa của Cộng Sản Trung Hoa, và His Holiness đã tặng nó cho Jetsunma năm 1988 vào lễ đăng quang chính thức của bà. Hiện nay nó được cất giữ tại chùa Poolesville. Trong dịp đăng quang của Jetsunma, His Holiness cũng tuyên bố trung tâm Poolesville là trụ xứ của dòng Palyul ở Tây phương và đặt tên cho nó là Kunzang Odsal Palyul Changchub Choling (Lục địa Pháp Toàn Giác của Tịnh Quang Tuyệt đối).</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/1053875117_GmHds-S.jpg"><img class="  wp-image-5573 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/1053875117_GmHds-S-300x280.jpg" alt="1053875117_GmHds-S" width="510" height="476" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong> Đức Orgyen Kusum Lingpa và Jetsunma Ahkon Lhamo</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1994, Jetsunma được công nhận thêm là Hóa Thân của Lhacham Mandarawa (một Hóa Thân của Đức Tara Trắng). Mandarawa là phối ngẫu tâm linh Ấn Độ của Đức Padmasambhava (Liên Hoa Sanh), Đạo Sư Kim Cương thừa thành lập Phật Giáo ở Tây Tạng. Một quyển tiểu sử 38 chương của Mandarawa do các đệ tử của bà dịch thuật chẳng bao lâu nữa sẽ được xuất bản. Sự công nhận này cũng đưa tới một chuyến hành hương quan trọng tới Ấn Độ và Nepal được thực hiện vào tháng Ba năm 1996. Trong chuyến đi này, Jetsunma và 25 đệ tử của bà viếng thăm những thánh địa được gắn liền với Mandarawa và Đức Padmasambhava. Một đoàn làm phim tài liệu chuyên nghiệp làm việc trong một chương trình về Phật Giáo tại Tây phương đã ghi lại chuyến hành hương này. Cũng theo cách đó, Jetsunma cũng nổi bật trong quyển “Tái sinh ở Tây phương,” của Vickie MacKenzie, một công trình nghiên cứu về những Tulku ở Châu Mỹ và Châu Âu.</p>
<p style="text-align: justify;">Tại trung tâm KPC (Kunzang Palyul Choling), Jetsunma đã duy trì một thời khóa biểu nghiêm nhặt trong việc giảng dạy và hướng dẫn những cuộc nhập thất, luôn luôn nhấn mạnh rằng cần phải phát triển lòng bi mẫn và nội quán phi thường vào chân tánh của các hiện tượng. Các đệ tử của bàhiện lên tới vài trăm người, bao gồm 34 vị thọ giới xuất gia (tăng và ni) theo truyền thống, một trong những nhóm lớn nhất ở Bắc Mỹ. Bà đã đứng ra tổ chức những buổi giảng dạy rộng rãi của các Lạt Ma Nyingma vĩ đại nhất còn sống, bao gồm việc Penor Rinpoche ban giảng toàn bộ các khóa Rinchen Terdzod và Nam Cho. Jetsunma cũng đã thiết lập một khóa nghiên cứu kinh viện và nhập thất bảy năm được gọi là Shedra, cũng như giám sát việc xây dựng 28 stupa (tháp) mà 10 cái trong số đó có thể được nhìn thấy trong nơi trú ngụ của muông thú hoang dã rộng 65 mẫu Anh. Và nổi tiếng do việc cúng dường bài ca sùng mộ cho những vị Thầy, giọng hát của Jetsunma có thể được nghe qua một đĩa CD mới có tên là “Sự Khẩn cầu,” hát lên lời cầu nguyện mãnh liệt của bà tới Đức Padmasambhava.</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên</i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/doi-net-ve-duc-jetsunma-ahkon-lhamo/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử vắn tắt Đức Domang Yangthang Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-van-tat-cua-domang-yangthang-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-van-tat-cua-domang-yangthang-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 29 Aug 2015 13:15:59 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Palyul Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Palyul]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3318</guid>
		<description><![CDATA[Chương 1: Sự chào đời và công nhận là vị tái sinh của Đại Sư Domang Terchen Domang Yangthang Rinpoche – người làm rạng danh giáo lý của truyền thống Cựu Dịch, sinh vào ngày 10 tốt lành của tháng 11 năm Kỷ Tỵ (1929). Ngài chào đời ở vùng Yangthang, nằm gần xứ Sikkim hiện nay. Phụ thân Ngài&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-van-tat-cua-domang-yangthang-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Chương 1: Sự chào đời và công nhận là vị tái sinh của Đại Sư Domang Terchen</strong></p>
<p>Domang Yangthang Rinpoche – người làm rạng danh giáo lý của truyền thống Cựu Dịch, sinh vào ngày 10 tốt lành của tháng 11 năm Kỷ Tỵ (1929). Ngài chào đời ở vùng Yangthang, nằm gần xứ Sikkim hiện nay. Phụ thân Ngài là Lama Pema Drodud, vị đến từ tu viện Dzogchen vùng Do-kham. Mẫu thân Ngài là Bà Tenzin Chodron, con gái của Yangthang Ating thuộc dòng dõi gia đình “Tsan-O-Yu-Drag-Karpa”.</p>
<p>Sau khi Ngài chào đời, một vài dấu hiệu tuyệt vời đã xuất hiện, chẳng hạn chủng tử Om tự sinh trên răng của Ngài, một hình giống như ốc trắng ở chân răng, cùng nhiều điều khác. Không giống như những đứa trẻ khác, Ngài lớn khá nhanh.</p>
<p>Rất nhiều các bản văn Mật thừa chỉ ra rằng tiền thân của Yangthang Rinpoche – Ngài Domang Terchen (tức Dorje Dechen Lingpa) là hiện thân của Đức Lhatsun Namkha Jigme, một vị Khai Tạng Mật vĩ đại. Một bản văn nói rằng:</p>
<p>“Trong lục địa Lưới Ogmin Liên Hoa,</p>
<p>Nơi vùng đất thịnh vượng liên tục Dremoshong (Sikkim),</p>
<p>Cơn mưa Thánh Pháp Mật thừa không thể phá huỷ trút xuống</p>
<p>Jigme Pawo Kunsang Namgyal.</p>
<p>Vị mang danh hiệu Dorje sẽ phát lộ pháp du già chôn giấu từ kho tàng tâm,</p>
<p>Khi Ngài nhớ lại tất cả những điều được gieo trồng trong tâm Ngài trước đây”.</p>
<p>Và cũng từ kho tàng bổ sung Rigdzin Sogdrub của Đại Sư Lhatsun Namkha Jigme có</p>
<p>“Thánh địa tối thắng Dremojong (Sikkim), trung tâm của Nam Thiệm Bội Châu</p>
<p>Trong động kim cương Lhari Nyinku</p>
<p>Hiện thân tối hậu tinh tuý trọng yếu giác ngộ của tất thảy chư đạo sư Trì Minh Vương: Namkha Jigme.</p>
<p>Những bản văn Mật thừa của Ngài tự nhiên sinh khởi.</p>
<p>Kho tàng bổ sung của pho giáo lý Lama Rigdzin Sogdrub, thứ giải thích hoàn hảo các bản văn bí mật, được phát lộ bởi Dorje Dechen Lingpa, hoá thân của Jigme Pawo Kunsang Namgyal. Nguyện mọi sự tốt lành!”. Các nguồn tài liệu khác cũng nói rằng:</p>
<p>“Bậc thầy Đại Viên Mãn từ Sikkim, hoá thân Vimalamitra,</p>
<p>Heruka vinh quang Namkha Jigme Tsal</p>
<p>Hoá thân của Ngài là Jigme Pawo</p>
<p>Và hoá thân thứ ba là Dorje Dechen Lingpa.</p>
<p>Như được tán thán rõ ràng trong nhiều bản văn kim cương về chân nghĩa, Domang Terchen hay Dorje Dechen Lingpa, hoá thân của Traktung Jigme Pawo (vị này lại là hoá thân của Gyalwa Lhatsun Chenpo tức Lhatsun Namkha Jigme) đã phát lộ phần bổ sung của pho Terma “Rigdzin Sokdrub”, cùng hơn 12 bộ Kho Tàng mới (Tersar), dưới dạng Terma đất, cũng như Terma tâm. Ngài duy trì và giữ gìn trọn vẹn phần giáo lý cuối cùng của Đại Sư Lhatsun Namkha Jigme, và làm lợi lạc chúng sinh một cách rộng lớn.</p>
<p>Vị tái sinh của Ngài là Domang Yangthang Rinpoche hay Kunsang Jigme Dechen Odsel Dorje. Các vị Thánh Sư như Dzogchen Rinpoche thứ 5, đã chỉ ra cách tìm vị tái sinh này: “Hãy đi tới nơi gọi là Yangthang ở Sikkim! Chắc chắn các con sẽ tìm thấy vị tái sinh không mấy khó khăn”.</p>
<p>Dựa vào những chỉ dẫn này, Domang Soktrul Rinpoche cũng vài người khác đã tới Sikkim để tìm kiếm vị tái sinh. Khi đến vùng Yangthang, họ thấy vài đứa trẻ đang chơi đùa. Một trong số chúng tới chỗ họ và nói bằng tiếng địa phương vùng Sikkim, “Các ông đến thực sự muộn đấy!”.</p>
<p>Họ hỏi cậu bé tên vùng đó, và tên của cha cậu. Cậu đáp rằng, “Vùng này được gọi là Yangthang. Cha tôi là Pema Drodud”. Sau đó, cậu nói, “Hãy đến nhà tôi!”.</p>
<p>Đoàn tìm kiếm vô cùng ngạc nhiên trước điều này. Họ bảo với cha cậu rằng, cậu bé rất đặc biệt. Người cha đáp, “Đúng thế, thực sự cậu bé rất đặc biệt. Khi chào đời, vài âm thanh vang dội trên trời. Tôi đã ghi chép chúng lại”. Ông đưa cho họ bản ghi chép và nó nói rằng:</p>
<p>“Trên đỉnh thung lũng, có một ngọn núi tuyết trắng trong như Bảo tháp<a href="#_ftn1" name="_ftnref1">[1]</a>.</p>
<p>Ở dưới thung lũng, có những dòng sông lớn như xích sắt<a href="#_ftn2" name="_ftnref2">[2]</a>..</p>
<p>Trên đỉnh của vùng trung thung lũng trông như chày kim cương<a href="#_ftn3" name="_ftnref3">[3]</a></p>
<p>Ta ở đó: Dorje Dechen Lingpa!”.</p>
<p>Khi phái đoàn thấy những dòng này, cha cậu bé không biết họ tới đây để làm gì. Bởi những ghi chép này phù hợp với chỉ dẫn của Đức Dzogchen Rinpoche thứ 5 và các vị thầy khac không chút đối nghịch, Domang Soktrul Rinpoche công nhận cậu bé là vị tái sinh của Dorje Dechen Lingpa.</p>
<p><strong>Chương 2: Được thỉnh mời từ Sikkim tới Kham và tham dự nghi lễ đăng quang</strong></p>
<p>Bởi cậu bé đã được nhận ra là vị tái sinh chân chính, Domang Soktrul Rinpoche đã dâng lên nhiều ngọc báu, bao gồm vàng, bạc. Khi Rinpoche lên 9, Ngài cùng đoàn tuỳ tùng cưỡi ngựa và tiến về xứ Kham, Tây Tạng từ vùng đất thánh Sikkim, qua nhiều vùng đất thuộc miền trung Tạng, trong đó có Lhasa.</p>
<p>Trên đường tới Kham, họ đi hành hương tới nhiều Thánh địa linh thiêng thuộc vùng Utsang. Mười bốn tuổi (năm Nhâm Ngọ chu kỳ Rabjung thứ 16, tức năm 1942) Ngài tới tu viện Domang (Thbten Gepel Ling hay Domang Kelsang Gompa), thuộc vùng Dreho Drango Dzong, xứ Do-Kham. Ngài được đăng quang là vị tái sinh trên Pháp toà thuộc về hoá thân trước đó: Đức Domang Terchen.</p>
<p>Địa điểm nơi Ngài đản sinh ngày nay thuộc Sikkim, Ấn Độ. Ngài được thỉnh mời từ Sikkim tới vùng du mục Drango Li-khok-mey. Trong lịch sử, thật hiếm khi có một trường hợp tìm kiếm và thỉnh mời vị tái sinh từ một vùng đất xa đến vậy.</p>
<p><strong>Chương 3. Tinh tấn tu học dưới sự chỉ dạy của nhiều bậc đạo sư</strong></p>
<p>Kể từ khi còn nhỏ, Rinpoche đã nỗ lực trong việc nghiên cứu mọi chủ đề mà một Kim Cương Sư cần học hỏi: đọc, viết, múa [vũ điệu Kim Cương], vẽ, trì tụng cùng nhiều môn khác, từ các vị đạo sư, chủ yếu là Domang Soktrul Rinpoche, một đệ tử của hoá thân trước đó.</p>
<p>Từ nhiều bậc Thượng sư vĩ đại, chẳng hạn Tsakha Lama Tsullo, Khenchen Pema (vị được đặc biệt cử tới từ Tổ Đình Palyul để giảng dạy cho Rinpoche), Khenpo Lobsang Chodrak, Tulku Yeshe Dorje, Rahob Dzogtrul, Khenpo Yonga, Jyakong Tulku Dorje Dramdu (con trai của Traktung Dudjom Lingpa), Yukok Chatrewa, Mani Lama Pema Siddhi, và nhiều vị khác, Rinpoche hoàn thành việc nghiên cứu và quán chiếu về vô vàn bản kinh văn, trong đó có các chủ đề chung. Sau đấy, Ngài tiến hành các hoạt động du già như một vị yogi ẩn mật vĩ đại, và hoàn toàn tập trung vào thực hành nhập thất.</p>
<p>Các vị đạo sư phi phàm chính yếu của Rinpoche gồm Drubchen Lingtrul Rinpoche, Kyabje Khyentse Rinpoche, Sera Yangtrul Rinpoche, cùng những vị khác, như Ngài thường đề cập.</p>
<p><strong>Chương 4: Sống trong tù ngục vào thời biến loạn</strong></p>
<p>Sau khi Trung Quốc tới Tây Tạng, và trước khi hoàn cảnh trở nên thực sự đau khổ, nhiều vị đại sư xứ Do-Khan đã lên kế hoạch sống lưu vong, trong đó có Yangthang Rinpoche. Vì thế Ngài tới Tu viện Do-kok Drubchen và thỉnh ý Drubchen Lingtrul Rinpoche - Bổn Sư của Ngài rằng, “Liệu con có nên sống tha hương?”.</p>
<p>Đại Sư đáp rằng, “Con cần đón nhận khó khăn dù nó lớn đến nhường nào. Con không nên rời bỏ quê hương”.</p>
<p>Nương theo khai thị của Ân Sư, Yangthang Rinpoche không rời khỏi Xứ Tạng, mà đối diện với hiểm nguy.. Ngài tới vùng đất mà Ngài coi sóc, vùng Ke-phen-lo-kok-ma. Sau đó, Ngài bị chính quyền bỏ tù, và như thế trải qua nhiều đau đớn trong hơn 20 năm.</p>
<p>Lúc đó, có nhiều đạo sư và Tulku bị giam trong cùng nhà ngục. Trong số đó, Sera Yangtrul Rinpoche cũng bị giam cùng nơi với Rinpoche. Vì thế, Ngài thường tận hưởng bữa tiệc cam lồ Giáo Pháp về các thực hành thâm sâu và bí mật. Mặc dù phải trải qua nhiều khó khăn về thể xác, Ngài nhận lĩnh khổ đau và trao tặng hạnh phúc. Hơn thế, Rinpoche thấy nghịch cảnh là cảm hứng cho thiện hạnh và như thế, Ngài chủ yếu tập trung vào hành trì trong tù ngục.</p>
<p>Ngài chỉ nói với các đệ tử xung quanh rằng, Ngài có thể tiến hành thực hành chính yếu trong nhà tù.</p>
<p>Khi chính sách của Trung Quốc được nới lỏng, Rinpoche được thả. Lúc này Ngài là một vị Đại Sư - đối tượng của tín tâm và lòng sùng mộ. Bởi Ngài chào đời ở Ấn Độ, Rinpoche được chính quyền Trung Quốc mời đến làm việc trong học viện chính trị thuộc vùng Gamtse. Tận dụng cơ hội này, Ngài đã đóng góp lớn lao cho việc phục hồi văn hoá Tây Tạng và Phật Pháp.</p>
<p><strong>Chương 5: Giải thoát và thành thục những kẻ may mắn bằng quán đỉnh và khẩu truyền</strong></p>
<p>Yang thang Rinpoche đã hướng dẫn cho những chúng sinh may mắn vào con đường giải thoát và thành thục nhờ ban các quán đỉnh, khẩu truyền và chỉ dẫn cốt tuỷ thâm sâu. Năm 1991, Ngài tới nước Mỹ, ban quán đỉnh và khẩu truyền Pho Nyingtik Yabzhi ở California và thủ đô Washington D.C.</p>
<p>Năm 2000, theo lời thỉnh cầu của vị trưởng dòng thứ 3 của truyền thống Cổ Mật, Ngài Penor Rinpoche, Yangthang Rinpoche đã ban trọn vẹn quán đỉnh của hoá thân tiền nhiệm (Domang Terchen) cho Penor Rinpoche và tập hội những kẻ sùng mộ ở Tu viện Namdroling, miền Nam Ấn Độ, khi Penor Rinpoche ban quán đỉnh Rinchen Terzod cho đại chúng.</p>
<p>Từ ngày 29 tháng 1 năm 2010, Rinpoche dành hơn 20 ngày để ban trọn vẹn Pho Kama cho tập hội tu sĩ và cư sĩ tham dự Nyingma Monlam ở Bồ Đề Đạo Tràng, theo lời thỉnh cầu của Hiệp Hội Duy Trì Truyền Thừa Kama Của Truyền Thống Cố Mật. Cũng năm 2010, Ngài ban trọn vẹn đàn quán đỉnh của Đại Sư Lhatsun Namkha Jigme và Terchen Jatson Nyingpo ở tu viện Pemayangtse, Sikkim.</p>
<p>Năm 2011, Ngài ban quán đỉnh và khẩu truyền Nyingtik Yabzhi cho Degyal Tulku thứ 3 và đại chúng ở tu viện Namkha Kyutsom, Nepal.</p>
<p>Năm 2012, theo lời thỉnh cầu của Hiệp Hội Duy Trì Truyền Thừa Kama Của Truyền Thống Cổ Mật, Rinpoche ban khẩu truyền Pho Kama và quán đỉnh Gabgye Deshe Dupa cho 1700 thành viên Tăng Đoàn, bao gồm các hành giả tu sĩ và cư sĩ.</p>
<p>Cùng năm đó, Rinpoche tới trụ xứ chính của các trung tâm Rigpa, Lerab Ling, nước Pháp và ban các quán đỉnh của Tổ Jigme Lingpa.</p>
<p>Tháng 4 năm 2013, Rinpoche viếng thăm Orgyen Dorje Den, trung tâm của Gyatrul Rinpoche ở Caliornia và ban quán đỉnh Pho Kama và toàn bộ các quán đỉnh của hoá thân trước đó - Đức Domang Terchen.</p>
<p>Như thế, Rinpoche thoả mãn nhiều đệ tử bằng Thánh Pháp. Những học trò may mắn đã được chỉ dẫn tới con đường của sự giải thoát và chín muồi.</p>
<p><strong>Chương 6: Các hoạt động Phật sự của Rinpoche liên quan tới việc phục hồi giáo lý Phật Đà</strong></p>
<p>Từ hình tướng bên ngoài, mặc dù giáo lý Phật Đà ở vùng đất tuyết Tây Tạng dường như chỉ còn lại danh tiếng, một cách tuyệt đối, nhiều vị đạo sư vĩ đại vẫn còn trụ thế. Giống như khiến đám tro tàn bùng cháy trở lại, Rinpoche đã đảm trách việc tái thiết tu viện Domang Thubten Gephel Ling – nơi Ngài coi sóc, xây dựng mới chính điện cũng như các đối tượng linh thánh (những bức tượng). Ngài xây dựng lại học viện nghiên cứu cao cấp (shedra) và trung tâm thực hành. Hiện tại việc giảng dạy, thực hành Giáo Pháp và tiến hành các nghi quỹ vẫn đang diễn ra.</p>
<p>Sau khi được phóng thích, Rinpoche không ở lại Tây Tạng lâu. Ngài trở về Ấn Độ và sống tại Sikkim, nơi Ngài chào đời. Thuở bình minh của câu chuyện Phật Pháp ở Sikkim, có ba đại sư đã cùng nhau vân tập tại Sikkim. Họ là Lhatsun Namkhe Jigme, Ngadak Semba Chenpo và Kathok Rigzin Chenpo. Ở nơi vốn là trụ xứ “cung điện đỏ” của Tổ Ngadak Semba Chenpo, Rinpoche xây dựng tu viện Ngadak Jangchub Choling. Bức tượng chính yếu trong chính điện là Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn. Giống như vậy, ở “đồi mạn đà la” - trụ xứ của Sư Tổ Kathok Rigzin Chenpo, Rinpoche xây dựng tu viện Kathok - ở đó, bức tượng Guru Rinpoche là chính yếu.</p>
<p>Phía phải của trung tâm thị trấn ở Yuksam, xứ Sikkim, Rinpoche xây dựng Phòng Kinh Luân chứa 18 kinh luân lớn. Kiểu phòng kinh luân này rất hiếm gặp trên thế giới. Mặc dù Rinpoche hiện đã bước sang tuổi 85, Ngài vẫn xả thân trong các hoạt động nhằm phục hồi Giáo Pháp. Hiện tại, Ngài vẫn khoẻ và không ngừng tiến hành các hoạt động vĩ đại làm lợi lạc Phật Pháp và chúng sinh.</p>
<p>Việt dịch : Liên Hoa Trí</p>
<p><em>Bản tiểu sử này được trích trong cuốn sách “Chiếc thang dẫn lên cõi Tịnh Độ” được Việt dịch bởi Liên Hoa Trí. Vì lợi lạc của chúng sinh xin được phép đăng tiểu sử này. Mong tác giả hoan hỷ vì đã không thể liên hệ với tác giả để xin phép.</em></p>
<p><a href="#_ftnref1" name="_ftn1">[1]</a> Đỉnh Kangchenjonka</p>
<p><a href="#_ftnref2" name="_ftn2">[2]</a> Điều này liên quan tới các điểm giao cắt của những dòng sông lớn ở vùng Gyazhing xứ Sikkim.</p>
<p><a href="#_ftnref3" name="_ftn3">[3]</a> Điều này liên quan tới tu viện Pemayangtse ở Pelling, được xây dựng bởi Đại Sư Lhatsun Namkha Jigme.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-van-tat-cua-domang-yangthang-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Đức Kyabje Pema Norbu Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/kyabje-pema-norbu-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/kyabje-pema-norbu-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 29 Aug 2015 13:15:22 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Palyul Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Palyul]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Palyul Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3315</guid>
		<description><![CDATA[ Đức Kyabje Pema Norbu Rinpoche Đức Kyabje Pema Norbu Yangsi Rinpoche (tái sinh) Pháp vương Pema Norbu (“Penor”) Rinpoche đã dành cuộc đời để thực hành và chứng ngộ các giáo lý Phật Đà, chắc chắn rằng giáo lý không chỉ được duy trì, mà còn phát triển ra nhiều vùng trên thế giới. Sau đây là những thông tin&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/kyabje-pema-norbu-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"> <strong>Đức Kyabje Pema Norbu Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Yangsi-Rinpoche-The-Reincarnation-of-HH-Pema-Norbu-Rinpoche.jpg"><img class="alignnone  wp-image-5225" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Yangsi-Rinpoche-The-Reincarnation-of-HH-Pema-Norbu-Rinpoche-300x200.jpg" alt="Yangsi-Rinpoche-The-Reincarnation-of-HH-Pema-Norbu-Rinpoche" width="446" height="297" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Đức Kyabje Pema Norbu Yangsi Rinpoche (tái sinh)</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Pháp vương Pema Norbu (“Penor”) Rinpoche đã dành cuộc đời để thực hành và chứng ngộ các giáo lý Phật Đà, chắc chắn rằng giáo lý không chỉ được duy trì, mà còn phát triển ra nhiều vùng trên thế giới. Sau đây là những thông tin được thu thập từ các nguồn trực tiếp và nhiều cuốn sách của Học viện Ngagyur Nyingma. Chúng tôi cầu nguyện rằng tiểu sử này sẽ tiếp tục duy trì, hoằng truyền và phát triển giáo lý, như Đức Pháp vương hằng mong muốn!</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Sự công nhận</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Ngài Drubwang Pema Norbu Rinpoche đời thứ ba sinh ở vùng Powo, thuộc tỉnh Kham, miền Đông Tây Tạng, trong gia đình của Sonam Gyurme và Dzom Kyi trong tháng mười hai năm Nhâm Thân (tức năm 1932). Ngài sinh ra vào thời điểm lạnh giá nhất của mùa đông, khi mà không gì có thể phát triển và vùng đất ngập trong tuyết trắng. Tuy nhiên, vào thời điểm Ngài chào đời, hoa nở khắp ngôi nhà của vị tulku mới sinh. Hơn thế nữa, hai đoàn tìm kiếm vị tulku, một được cử bởi Dzogchen Rinpoche và một được cử bởi Khenchen Ngagi Wangpo đã gặp nhau ở chính ngôi nhà này, và khẳng định sự công nhận không do dự gì. Việc trao đổi và đi lại ở những vùng núi cao thuộc miền Đông Tây Tạng không nhanh chóng như bây giờ, bởi vậy điều này được xem là một dấu hiệu tốt lành.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài Khenchen Ngagi Wangpo Rinpoche đã tiên đoán điểm đến của hóa thân mới. Năm 1936, năm Bính Tý, vị Pema Norbu trẻ tuổi được mời đến tu viện Palyul, nơi Ngài quy y với Khenpo vĩ đại và uyên bác. Khenchen Ngagi Wangpo Rinpoche tiến hành lễ cắt tóc truyền thống và ban cho Ngài Pháp danh “Dhongag Shedrup Tenzin.” Khen Rinpoche sau đó ban cho Ngài quán đảnh trường thọ Amitayus [Phật Vô Lượng Thọ] và biên soạn lời cầu nguyện trường thọ, được tụng đọc hàng ngày bởi hàng nghìn đệ tử của Penor Rinpoche trên toàn thế giới cho đến khi Ngài viên tịch.</p>
<p style="text-align: justify;">Rinpoche chính thức được đăng ngôi bởi đạo sư của Ngài, Thubten Chokyi Dawa (1894 – 1959) [Chogtrul Rinpoche thứ hai] và Karma Thekchok Nyingpo (1908 – 1958) [Karma Kuchen Rinpoche thứ tư]. Penor Rinpoche trở thành bậc trì giữ Pháp tòa thứ mười một của Tổ Đình Palyul với hơn 400 tu viện nhánh. Ngài dành rất nhiều năm ở Palyul, nghiên cứu và thọ nhận giáo lý từ các bậc đạo sư và học giả. Ngài nhận trao truyền tâm-truyền-tâm từ Lungtrul Rinpoche Shedrup Tenpai Nyima. Ngài cũng nhận được giáo lý và chỉ dẫn từ Ngài Karma Kuchen Rinpoche thứ tư, bậc trì giữ Pháp tòa thứ mười [của tu viện], người chuẩn bị kỹ lưỡng để Ngài trở thành vị kế thừa. Đến lượt mình, Pháp vương Penor Rinpoche đã hướng dẫn Karma Kuchen Rinpoche thứ năm.</p>
<p style="text-align: justify;">Có rất nhiều ví dụ minh chứng sức mạnh phi thường của Penor Rinpoche, thậm chí khi còn là một đứa bé. Một lần, Ngài đang chơi đùa với một chày Kim Cương cổ và quý giá, khi nó thình lình trượt khỏi tay và rơi xuống đất, vỡ làm đôi. Lo sợ bị thầy quở trách, Ngài nhanh chóng gắn nó lại bằng nước bọt của mình, khiến chày Kim Cương còn mạnh mẽ hơn trước. Một sự việc tương tự xảy ra sau đó, trong một lễ Chasum, Ngài làm rơi chuông nghi lễ xuống sàn đá. Mọi người cho rằng chiếc chuông đã vỡ, nhưng khi Penor Rinpoche nhặt nó lên, nó không bị vỡ và vang lên còn ngọn ngào hơn trước. Mười lăm tuổi, Penor Rinpoche để lại dấu chân trên đá gần khu thất Dago trên tu viện Palyul, nơi mà ngày nay, nó vẫn có thể được thấy.</p>
<p style="text-align: justify;">Một lần khi Ngài vẫn còn trẻ, Rinpoche gặp một người đàn ông già, kẻ cứ nài nỉ Ngài thực hành Phowa cho mình. Một cách ngây thơ, Rinpoche làm theo thỉnh cầu. Kết thúc thực hành, Ngài quá đỗi ngạc nhiên khi thấy rằng lão già đã chết – Phowa đã quá hiệu quả! Ngay lập tức Ngài bắt đầu thực hành lại, để hồi sinh tử thi nằm đó. Lão già đã sống lại, nhưng thay vì cảm ơn, lão hét lên, “Ôi trời ơi, sao Ngài lại mang tôi về? Tôi đã ở Cõi Tịnh Độ của Phật A Di Đà!”<br />
Trong nhiều năm sau đó, cháu trai của lão già đó đã phục vụ ở tu viện Namdrolling, Ấn Độ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Việc tu học</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Đức Penor Rinpoche đã tu học với rất nhiều vị lạt ma, nhận được những lợi lạc từ mối quan hệ ấm áp và thân thiết mà Ngài có với bậc thầy vĩ đại của Ngài, Đức Chogtrul Rinpoche thứ hai. Trong buổi lễ quy y, Chogtrul Rinpoche đã ban cho Ngài Pháp danh Thubten Lekshe Chokyi Drayang, “Bậc trì giữ giáo lý Phật Đà với khẩu oai hùng của Pháp cao quý.” Tại khu thất Dago, Ngài đã nhận và thực hành giáo lý dự bị Namcho Dzogchen của Sangye Lakchang, “Đức Phật trong lòng bàn tay.” Ngài cũng nghiên cứu nhiều môn học, bao gồm biên soạn, thi ca, chiêm tinh, y học và tiếp tục nghiên cứu Kinh điển với Khenpo Nuden, Khenpo Sonam Dondrup và Khenpo Gondrup.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở tuổi mười ba, Ngài thọ nhận giới getsul và nhận Pháp danh “Dongak Shedrup Tendzin Chokle Namgyal” (Bậc trì giữ vinh quang giáo lý của Nghiên cứu và Thực hành Kinh và Mật). Năm hai mươi mốt tuổi, Ngài thọ nhận giới gelong (Cụ túc giới) từ bậc Đạo sư ở tu viện Tarthang và thọ nhận vô số giáo lý, bao trọn toàn bộ những chỉ dẫn và quán đảnh quan trọng của truyền thống Nyingma. Dòng truyền thừa giới luật này vô cùng thanh tịnh, được trao truyền đến Tây Tạng bởi Đức Shantarakshita trong thời đại của Đại Sư Liên Hoa Sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào buổi lễ truyền giới, Chogtrul Rinpoche dâng lên Penor Rinpoche bộ y vàng được trân trọng và truyền trao bởi các thế hệ trì giữ truyền thừa. Mặc dù vô vàn khó khăn trong việc trốn khỏi Tây Tạng, Penor Rinpoche đã mang theo bộ y này trong suốt quá trình đến Ấn Độ khi để lại đằng sau rất nhiều tài sản quý giá khác. Kết quả là, trong cuộc đời sống lưu vong, Ngài đã có thể truyền giới cho hơn 10000 vị tăng ni, bởi vậy Ngài đã cống hiến lớn lao cho sự ổn định của giới luật tu sĩ và thực hành Kim Cương thừa trong thời đại suy đồi này.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ vị Khenpo vĩ đại của tu viện Kathok, Khenpo Lekshe Jorden, Penor Rinpoche thọ nhận rất nhiều trao truyền. Trong đó, đặc biệt là truyền thống Kham của quán đảnh Anuyoga của Do Gonpa Dup qua nghi lễ quán đảnh nổi tiếng “Dòng sông Cam lồ” của Mokton Dorje Palzang. Penor Rinpoche cũng thọ nhận truyền thống cổ của tu viện Kathok và cùng lúc là các quán đảnh, trao truyền và giáo lý của “Kho tàng các chỉ dẫn cốt tủy” của Jamgon Kongtrul, “Lời dạy cô đọng của Lạt-ma” của Terton Dorje Lingpa, kho tàng “Hung Kor Nyingtik” của Dorje Lingpa, Cô đọng trọn vẹn của Kagye của Ngài Ngari; và bộ Tendrel Nyesel của Lerab Lingpa. Từ Karma Kuchen Rinpoche, Ngài cũng thọ nhận quán đảnh Anu Yoga của Ngài Nyelpa Delek từ truyền thống Rinchen Trengwa.</p>
<p style="text-align: justify;">Một vị thầy khác của Ngài là Khenpo Khyentse Lodro, cũng được gọi là Khenpo Nuden, từ tu viện Kathok. Trong khu rừng phía trên khu thất Dago, Khenpo Khyentse Lodro tiến hành lễ Drupchen về Anuyoga Dupa Do, cùng lúc đó ban trao truyền về bốn bộ mới trước tác của Ngài về Anuyoga. Khenpo kể câu chuyện sau đây: Trước khi vị Drubwang Pema Norbu thứ hai qua đời, Ngài đã tặng Khenpo một con dao nhỏ. Lúc đó Ngài không nghĩ nhiều đến nó, nhưng bây giờ Ngài nhận ra nó thực sự nghĩa là gì. Con dao tượng trưng cho thanh gươm trí tuệ, và khi Ngài truyền nó cho Khenpo, nó như thể Đức Pema Norbu ban cho Khenpo sự gia trì để hoàn thành việc biên soạn những bản luận giải mới này, để có thể truyền chúng cho vị tái sinh tiếp theo của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ Khenpo Pema Jigme, vị Khenpo uyên bác từ truyền thống Palyul ở Golok, Penor Rinpoche nhận chín bộ các trước tác của Jigme Lingpa, mười ba chương của “Ah Cho” của Karma Chagme, và tuyển tập các trước tác của So Wangdrak Gyatso. Khi Ngài đang nhận trao truyền này, Penor Rinpoche bắt đầu làm nút cát tường trong khi gia trì bằng giọng nói, điều chỉ được làm bởi các bậc Đạo sư thành tựu cao nhất. Ngài tiếp tục làm cho đến năm 1958. Chúng nổi tiếng vì cung cấp sự bảo vệ mạnh mẽ khi đeo bên người. Một sợi dây như vậy được giữ và trân trọng bởi một trong các thị giả của Ngài hiện nay.<br />
Trong khoảng thời gian đó, Penor Rinpoche bất ngờ viết một chữ AH lên vỏ ốc trắng. Khi mực bay đi, chủng tự này vẫn in hằn trên vỏ ốc. Vỏ ốc này vẫn được giữ như một đối tượng kính lễ ở tu viện Palyul Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi đã nhận toàn bộ trao truyền Kangyur và Tengyur, cũng như hoàn thành nhập thất Vajrakilaya, Penor Rinpoche bước vào khóa nhập thất cùng với đạo sư của Ngài, Chogtrul Rinpoche. Được nhập thất cùng với chính vị thầy là một vinh dự hiếm có. Penor Rinpoche dành bốn năm trong thất ở tu viện Tarthang trong cùng phòng với đạo sư. Bởi đã già và thị lực suy giảm, Chogtrul Rinpoche trải qua nhiều khó khăn để ban cho Penor Rinpoche mọi trao truyền được thực hành trong truyền thống Palyul, nhấn mạnh vào các quán đảnh, trao truyền, và chỉ dẫn khẩu truyền bí mật của giáo lý Namcho của Terton Migyur Dorje và kho tàng terma của Ratna Lingpa.</p>
<p style="text-align: justify;">Bắt đầu với ngondro, lên đến giáo lý bí mật thâm sâu nhất của Dzogchen, Ngài nhấn mạnh từng thực hành cho đến khi đệ tử của Ngài tìm ra chân lý trần trụi. Ngài nói, “Nếu ta không thể trao truyền mọi quá đảnh, khẩu truyền và giáo lý cho vị Penor Rinpoche thứ ba trước khi rời bỏ thế giới này, thân người quý giá của ta sẽ bị lãng phí.” Với chỉ dẫn liên tục từ Ân Sư, Penor Rinpoche đã hoàn thành thành công mọi giai đoạn của thực hành, thành tựu việc trì tụng gốc của Tam Căn Bản (lama, yidam và khandro), thực hành dự bị Namcho, tummo và tsalung, và thực hành nền tảng chính yếu của Dzogchen “Đức Phật trong lòng bàn tay,” bao gồm trekcho, togal tịnh quang, thực hành togal bên trong, thực hành màn đêm, và rèn luyện trong trạng thái mộng, bản tánh của âm thanh và các cõi tịnh độ.</p>
<p style="text-align: justify;">Pháp vương Dilgo Khyentse Rinpoche từng nói rằng, “Penor Rinpoche là một vị thánh, người đã vượt qua các giới hạn của samaya.” Với điều này, Ngài ám chỉ rằng Penor Rinpoche đã thực sự chứng ngộ trí tuệ bên trong, và bởi thế đã chứng ngộ trạng thái không có gì để bám chấp và không có gì để từ bỏ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Hành hương</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Mỗi người Tây Tạng đều mong muốn được hành hương đến Lhasa, đặc biệt để viếng thăm Jowo Rinpoche nổi tiếng, “Bậc chúa tể cao quý,” bức tượng linh thiêng nhất của Tây Tạng. Bức tượng này miêu tả Đức Phật khi còn là một hoàng tử ở tuổi 12 và được cho là đã đúc khi Đức Phật vẫn còn sống.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1956, Penor Rinpoche, cùng với một nhóm người lớn, đã tiến về miền trung Tây Tạng. Ngài mới chỉ hai mươi tư tuổi. Đoàn người đã viếng thăm các địa điểm linh thiêng, tu viện, chùa, thánh địa của Phật giáo Tây Tạng, bao gồm Samye, Dorje Drak, Mindrolling, Drepung, Ganden và Sera. Mỗi nơi Ngài đến, Penor Rinpoche đều cúng dường rất nhiều. Ngài cũng viếng thăm Đạt Lai Lạt Ma ở cung điện mùa đông. Ngài đã thọ nhận một quán đảnh trường thọ từ Đức Đạt Lai Lạt Ma. Lễ Monlam Chenmo đang diễn ra, và Ngài cúng dường trà và quyên tặng tiền cho toàn thể tăng đoàn.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Lưu vong</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Khi Penor Rinpoche quay trở về tu viện Palyul cuối năm 1956, tình hình ở Kham trở nên vô cùng căng thẳng. Các dòng truyền thừa đã duy trì sự thanh tịnh và chân chính của Phật giáo hàng nghìn năm đang có nguy cơ bị gián đoạn và mất mãi mãi. Nhận thức rõ điều này, và cùng với mệnh lệnh từ chư Bổn tôn hộ pháp, Penor Rinpoche đã cùng với một nhóm khoảng 300 người hướng về biên giới đông bắc Ấn Độ. Đó chắc chắn là một hành trình dài và đáng sợ, tràn đầy hiểm nguy và khó khăn. Cuối cùng, chỉ ba mươi người sống sót đến được Ấn Độ.</p>
<p style="text-align: justify;">Chư Bổn tôn hộ pháp của Penor Rinpoche đã chỉ dẫn Ngài từng bước trong hành trình. Nhóm của Ngài bị quân đội truy đuổi. Súng nhắm đến chân Ngài, và lựu đạn rơi thẳng về phía Ngài. Nhưng chúng chỉ nổ sau khi Ngài đã di chuyển đến chỗ an toàn. Đói khát, một vài người muốn giết động vật để ăn, nhưng Penor Rinpoche không thể chịu đựng việc nhìn thấy những con vật vô tội bị giết thị và sẽ đến trước để thả con vật đi. Cuối cùng họ đến được Pema Kod và bang miền Đông Ấn Độ, Arunachal Pradesh. Trong năm 1960, nhiều người tỵ nạn đổ về Ấn Độ và năm 1961, Penor Rinpoche, với khoảng sáu trăm người, đã di chuyển về phía nam đến Mysore.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Sự thành lập ở Nam Ấn</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Mục đích đằng sau việc trốn khỏi Tây Tạng của Ngài Penor Rinpoche là để duy trì ngọn lửa Phật Pháp và giải phóng hữu tình chúng sinh khỏi màn đêm vô minh. Ngay khi đến miền Nam Ấn, Ngài đã dốc toàn bộ sức lực để thiết lập một trung tâm, nơi mà sự trao truyền giáo lý Nyingma có thể được duy trì không gián đoạn, và nơi mà truyền thống Palyul vĩ đại có thể được tái thiết lập. Năm 1963, ở Bylakuppe, Nam Ấn, Penor Rinpoche bắt đầu xây dựng tu viện Thegchog Namdrol Shedrub Dargyeling.</p>
<p style="text-align: justify;">Đây là nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Toàn bộ số tiền mà Ngài có để xây dựng lại cuộc đời, tu viện và truyền thống chỉ là 300 rupee. Nhưng Ngài có một nguồn lực vô tận – lòng dũng cảm và quyết tâm to lớn.</p>
<p style="text-align: justify;">Lúc đó, chỉ có một vài vị tăng. Những người bên ngoài, không thể hiểu được tầm nhìn của Ngài, đã nài nỉ Ngài giảm kế hoạch xây dựng tu viện. Ngày nay, khi hàng trăm vị tăng đổ về sảnh đường và thấy rằng không đủ chỗ cho họ ngồi, người ta chỉ có thể ngạc nhiên trước tầm nhìn xa của Penor Rinpoche từ ba thập kỷ trước.</p>
<p style="text-align: justify;">Rất ít đạo sư ở cấp độ của Penor Rinpoche trải qua những khó khăn mà Ngài phải chịu đựng. Dưới cái nắng của xứ Ấn Độ, Ngài khuôn đá, gạch và cát, và trộn xi măng cho đến khi tay và chân của Ngài chảy máu và bị nhiễm trùng. Thiếu nước và đường xá khiến công việc xây dựng trở nên khó khăn hơn nhiều.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong những ngày đầu, Ngài sống trong một túp lều, pha trà Tây Tạng với dầu rẻ tiền, bởi Ngài không có bơ, và nhiều thứ khác. Một người phụ nữ già thấy Ngài đang đào một mình, tạo thành một cái nhà vệ sinh cho một trong các đệ tử đang nhập thất. Khi những người khác thấy Rinpoche làm như vậy, họ nghĩ đến Milarepa và sự vất vả khó nhọc khi xây dựng tháp mười tầng cho con trai của Đạo sư.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Chấn hưng: Các hoạt động trong những năm 1980</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Năm này qua năm khác, với nỗ lực và quyết tâm không ngừng nghỉ, Penor Rinpoche đã liên tục làm việc, vượt qua nhiều chướng ngại và khó khăn. Tầm quan trọng của những hoạt động này với việc duy trì truyền thống Tây Tạng là không thể hiểu hay đánh giá hết. Không có nỗ lực chăm chỉ của Pháp vương Penor Rinpoche, chắc chắn những thực hành này có thể bị mất mãi mãi.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở tu viện Namdrolling, Ngài đã thiết lập các truyền thống sau đây: Sojong, lễ tịnh hóa một tháng hai lần; Yarney, nhập thất mùa mưa; Gaye, thực hành đặc biệt được tiến hành khi kết thúc Yarney; Một trăm nghìn cúng dường dâng lên chư Bổn tôn an bình và phẫn nộ của Terton Karma Lingpa; Nghi lễ Cúng dường thành tựu Kim Cương Tát Đỏa; Vajrakilaya xua tan ác nghiệp của Terton Ratna Lingpa vào cuối năm cũ; Drupchen Một trăm triệu trì tụng sử dụng các mạn đà la khác nhau trong từng năm; Drupchen cúng dường Anu Yoga của Tsokchen Dupa; Mendrup, và nhiều nghi lễ khác. Trong một trong những buổi lễ Mendrup mà Penor Rinpoche tiến hành, thực hành Nyingtik Palchen Dupa, một số vị tăng đã thấy cầu vồng quanh mạn đà la và cam lồ chảy xuống từ bát sọ người.</p>
<p style="text-align: justify;">Pháp vương quay trở về Tây Tạng lần đầu tiên năm 1982, sau hơn hai mươi năm. Ngài đáp ứng thỉnh cầu của mọi người một cách không mệt mỏi, cả ngày lẫn đêm. Người ta kể rằng một vài hành giả thậm chí đã cố gắng sống đến khi Ngài đến để họ có thể nhận được sự gia trì cuối cùng của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi ở Tây Tạng, Pháp vương tiến hành rất nhiều hoạt động để duy trì và phát triển Pháp. Ngài phục hồi nhiều tu viện bị phá hủy trong thời Cách mạng Văn Hóa, ban các quán đảnh, trao truyền và giáo lý cho hàng nghìn người. Ngài cũng đặt nền tảng cho tương lai bằng cách truyền giới cho rất nhiều tăng ni.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong chuyến đi này và ba chuyến đi sau đó, Pháp vương đã phục hồi giáo lý ở Tây Tạng. Câu chuyện về những điều kỳ lạ xảy ra khi Ngài ở Tây Tạng rất phong phú. Ví dụ, Ngài ban một quán đảnh ở vùng Gonjo thuộc tỉnh Kham cho hàng nghìn người mà không cần đổ đầy bình nghi lễ (bhumpa). Nhưng có lẽ điều kỳ diệu nhất là, từ đống tro tàn, ngày nay tu viện Palyul và các tu viện nhánh ở Tây Tạng đã phát triển trở lại.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi ở Tây Tạng, Ngài đã có được nhiều bản văn hiếm và quý từ bộ Nam Cho. Khi trở về Ấn Độ năm 1983, Ngài có hàng trăm bản của Nam Cho mới thu được và trọn vẹn, cũng như kho tàng của Ratna Lingpa và nhiều bản văn quan trọng khác từ truyền thống Palyul.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1984, Ngài ban những quán đảnh Namcho và kho tàng của Ratna Lingpa đầu tiên ở Ấn Độ. Pháp vương Karma Kuchen Rinpoche, bậc trì giữ Pháp tòa thứ mười hai cũng có mặt để thọ nhận những giáo lý này.<br />
Pháp vương cũng tái thiết lập truyền thống Nam Cho với nhập thất thực hành dự bị một tháng hàng năm, nhập thất Tummo Tsa Lung 44 ngày, cũng như nhập thất Trekcho và Togal.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1985, Pháp vương thành lập trung tâm nhập thất ba năm Samten Osel Ling. Ở đây, Ngài đã đích thân hướng dẫn ba mươi vị tăng trong các khóa nhập thất truyền thống.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài đi đến Mỹ lần đầu tiên vào năm 1985 theo thỉnh cầu của Gyaltrul Rinpoche, và Ngài đã ban các quán đảnh của kho tàng Namcho lần đầu ở phương Tây tại trung tâm nhập thất Tashi Choling. Trong chuyến hoằng pháp ở Mỹ năm 1988, Ngài ban quán đảnh Nyingma Kama và theo lời thỉnh cầu của Jetsunma Ahkon Lhamo, Ngài đã ban các quán đảnh Rinchen Terdzo tại Kunzang Palyul Choling ở Marylang, cũng là lần đầu tiên ở phương Tây.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Sự ổn định: Đầu những năm 90</strong><br />
Pháp vương Penor Rinpoche bắt đầu xây dựng những hỗ trợ, cả về vật lý và con người, để Pháp sẽ tiếp tục phát triển.<br />
Năm 1990, Ngài thọ nhận giáo lý từ bậc đạo sư nổi tiếng, Khenpo Jigme Phuntsok Rinpoche bao gồm Lama Yangtig, Nge She dron Me. Ngài cũng thọ nhận quán đảnh Tendrel Nyesel, thực hành Vajrakilaya của Lerab Lingpa, cũng như các kho tàng của chính Khen Rinpoche.<br />
Pháp vương dành những năm này để huấn luyện rất nhiều vị tăng, lopon và khenpo, cử họ đến các cộng đồng Hi Mã Lạp Sơn để củng cố thực hành Phật giáo ở những vùng này. Ngài tiếp tục làm việc chăm chỉ để đảm bảo rằng những truyền thống địa phương sẽ không bị mất. Ở một số vùng, bởi sự thiếu vắng các vị thầy được đào tạo thích hợp, những người đã học những kỹ năng ở Tây Tạng, dân cư bắt đầu chuyển sang truyền thống tôn giáo khác. Nhờ có nỗ lực của Pháp vương, các truyền thống ở những vùng này không chỉ được củng cố mà còn trở nên mạnh hơn trước.<br />
Năm 1992, Ngài đến tu viện Palyul lần thứ ba và ban quán đảnh Rinchen Terzod lần thứ ba. Ngài cũng đến những tu viện nhánh của Palyul, làm lợi lạc cho họ bằng giáo lý và hỗ trợ tài chính.<br />
Ngài Đạt Lai Lạt Ma, theo thỉnh cầu của toàn thể cộng đồng Nyingma, đã bổ nhiệm Ngài làm Bậc trưởng dòng của truyền thống Nyingma vào năm 1993, noi theo bước chân của Pháp vương Dilgo Khyentse Rinpoche và Pháp vương Dudjom Rinpoche. Cùng năm đó, Ngài thành lập Ni viện Tsogyal Shedrub Dargyeling, vào ngày 27 tháng 11.<br />
Pháp vương cũng đến nhiều trung tâm ở Đài Loan, Hồng Kông và Singapore để ban những giáo lý và quán đảnh và hoàn thành kết nối với các đệ tử ở đây.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Sự mở rộng: Cuối những năm 90</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Các hoạt động của Pháp vương ở Nam Ấn bắt đầu phát triển và thu được kết quả. Năm 1999, Ngài hoàn thành Orgyen Dongang Shedrup Osel Dargye Ling, “Chùa vàng” của Bylakuppe. Sau đó Ngài hoàn thành việc xây dựng một bệnh viện cho vùng đó, phục vụ không chỉ cộng đồng tu sĩ mà còn cả cư dân địa phương.</p>
<p style="text-align: justify;">Về phía quốc tế, năm 1995, Ngài đến Mỹ để ban giáo lý và quán đảnh ở New York và ban kho tàng Nam Cho của Terton Migyur Dorje ở Kunzang Palyul Choling, Maryland.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài đến Mỹ một lần nữa vào năm 1997, và trong chuyến viếng thăm này, Ngài thành lập Trung Tâm Nhập thất Palyul trong một cộng đồng thôn quê nhỏ bé của McDonough, New York. Để thiết lập Pháp vững chãi ở phương Tây, trung tâm nhập thất này là nơi mà hành giả phương Tây thọ nhận giáo lý và nhập thất mà không cần phải đi quá xa. Pháp vương đã giảng dạy khóa nhập thất truyền thống “Giải thoát trong lòng bàn tay” từ khóa đầu tiên năm 1998 đến năm 2008. Chư tăng tham dự vô cùng ngạc nhiên trước phong cách giảng dạy của Ngài. Có nhiều đệ tử đã dành mười tháng để thọ nhận giáo lý trực tiếp từ Pháp vương Penor Rinpoche trong cuộc nhập thất này.</p>
<p style="text-align: justify;">Pháp vương tiếp tục hoằng pháp khắp nơi, ban những quán đảnh và trao truyền quan trọng trên khắp thế giới. Bao gồm các quán đảnh Rinchen Terzod, Mật điển Kalachakra, Mật điển Guhyagarbha, kho tàng Namcho, toàn bộ kho tàng của Ratna Lingpa, Nyingma Kama và nhiều giáo lý khác.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Phát triển: Thế kỷ 21</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù tuổi cao, Pháp vương Penor Rinpoche vẫn tiếp tục các chuyến hoằng pháp, ban những quán đảnh và trao truyền quan trọng khắp nơi trên thế giới, bao gồm Ấn Độ, Nepal, Tây Tạng, nhiều vùng ở châu Á và Âu.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 2003, Ngài viếng thăm vùng hẻo lánh Pema Kod và vùng Mon, gia trì cho các ngôi chùa và ban nhiều giáo lý.<br />
Năm 2004, Ngài hoàn thành một bệnh viện. Một trong các nhà tài trợ lớn của tu viện, thường được biết đến là Palmola, đã tài trợ và xây dựng rất nhiều ngôi chùa. Trong đó có chùa Tara, hoàn thành vào những năm 90, nhưng quan trọng hơn là chùa Zangdokpalri. Ngôi chùa này được thánh hóa vào năm 2004.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 2004 là một năm khó khăn với Pháp vương và được tiên đoán là “năm đen đủi” trong đó sức khỏe của Ngài sẽ gặp nguy hiểm. Mặc cho mọi sự khẩn cầu, Pháp vương vẫn tiếp tục với việc hướng dẫn những khóa nhập thất hàng năm về thực hành dự bị, Tsa Lung/Tummo và Dzogchen ở cả Ấn Độ và Mỹ.</p>
<p style="text-align: justify;">Những khóa này bao gồm cả quán đảnh Rinchen Terdzo, Kalachakra, Guhyagarbha, kho tàng Namcho, bộ kho tàng của Ratna Lingpa, Nyingma Kama và nhiều Pháp khác. Hàng năm, Ngài đều tham dự Nyingma Monlam Chenmo, Đại lễ Cầu nguyện được tổ chức ở Bồ Đề Đạo Tràng. Chư tăng được đào tạo bởi Pháp vương chịu trách nhiệm điều phối chính trong sự kiện này.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Viên tịch – 27 tháng 3, 2009</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù sức khỏe yếu đi, Pháp vương Penor Rinpoche khăng khăng đi hoằng pháp khắp nơi để ban giáo lý và quán đảnh cho tất cả những ai mong muốn thọ nhận.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 2008, Ngài tham dự Nyingma Monlam Chenmo, tết Losar ở tu viện Namdrolling, thực hiện chuyến viếng thăm đến Macau, Hồng Kông và tiến hành khóa nhập thất mùa hè ở Mỹ.</p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù kế hoạch giảng dạy bận rộn, Pháp vương không bao giờ ngừng việc nghĩ đến hạnh phúc của những vị tăng trẻ đang được Ngài chăm lo. Vào một sáng tháng Một dịu mát, Ngài bảo một thị giả đưa Ngài đến Bangalore để mua sắm. Khi đến đó, Ngài đặt hàng nghìn chăn mền. Tu viện đã vô cùng lạnh vào mùa đông năm 2008 và Pháp vương muốn chắc chắn rằng không vị tăng nào không có mền ấm.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở Bồ Đề Đạo Tràng, sức khỏe của Ngài trở nên yếu hơn. Mặc dù, khi được hỏi, Ngài đáp, Ngài khỏe, nhưng trên thực tế, chính sự tích tập các nhân duyên về nghiệp đã đủ và khiến chúng ta thấy Ngài như vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Những thị giả chí thành đã đưa Ngài đến bệnh viện tốt nhất và đôi lúc, Pháp vương có vẻ đã khỏe lại. Khi Ngài trở về chùa vào sáng Losar, 25 tháng Hai, lần đầu tiên, bệnh tình của Ngài trở nên rõ ràng với mọi người và những giọt nước mắt đã tuôn rơi, thậm chí cả những hành giả cao cấp nhất cũng khóc.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày 24 tháng Ba, bệnh tình của Ngài tệ hơn và Ngài được chuyển đến Bệnh viện Columbia Asia ở Bangalore. Ở đó, tất cả những tulku, khenpo, lopon và đệ tử thân thiết nhất ngồi bên Ngài. Ngài nhìn tất cả một lượt, nhắm mắt và an nhiên thị tịch.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Tái sinh</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Với lòng bi mẫn lớn lao dành cho những học trò của Pháp vương, Kyabje Dungse Thinlay Norbu Rinpoche đã hướng dẫn tất cả các đệ tử Palyul tụng đọc lời cầu nguyện bốn dòng, vốn được biên soạn bởi Ngài Khenchen Ngagi Wangpo, trong khi chờ đợi Rinpoche biên soạn một bản dài hơn lời nguyện cầu nguyện Pháp vương sớm tái sinh. Sau đó, ngày 28 tháng Ba, Rinpoche đã thêm 2 dòng vào lời cầu nguyện. Dungse Rinpoche đã hoàn thành lời cầu nguyện và nó đã được tụng đọc vào ngày 9 tháng tư trước Thánh Thân của Pháp vương.</p>
<p style="text-align: justify;">Chỉ trong một đời, Pháp vương Penor Rinpoche đã hoàn thành khối lượng công việc lớn lao. Có rất nhiều điều ở cấp độ bên trong và bí mật chưa thể liệt kê ở đây. Bản tiểu sử này chỉ cung cấp một phần rất nhỏ những gì Ngài đã làm vì mỗi chúng ta, để chúng ta có cơ hội kết nối với trí tuệ cổ xưa của Tây Tạng. Tất cả những gì Ngài đã làm là để ánh sáng Phật Pháp không rời bỏ thế giới này, tất cả những gì Ngài làm, đều là vì chúng ta, với hy vọng rằng chúng ta sẽ giải phóng tâm khỏi những ác nghiệp và mở rộng trái tim đón nhận chân hạnh phúc. Mong ước duy nhất của Ngài là mỗi chúng ta đều sẽ chứng ngộ và một ngày sẽ giác ngộ. Mọi điều Ngài làm đều là để giúp chúng ta hoàn thành mục tiêu đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Pháp vương Penor Rinpoche chắc chắn sẽ trở lại dẫn dắt chúng ta thoát khỏi khổ đau này. Bây giờ chúng ta có thể đơn giản nghĩ rằng, Ngài “thay quần áo” và sẽ trở lại để gia trì thế giới này với lòng từ bi vô lượng, bằng cả những hoạt động bên ngoài cũng như bên trong và bí mật.</p>
<p style="text-align: justify;">Tu viện Namdrolling đã thành lập Hội đồng quản lý các vấn đề của tu viện. Được dẫn dắt bởi Pháp vương Karma Kuchen Rinpoche, bậc trì giữ Pháp tòa thứ mười hai, hội đồng này sẽ tham gia vào quá trình tìm kiếm hóa thân mới của Pháp vương.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn:<a href="http://palyul.org/eng_bio_hh01_recog.htm">http://palyul.org/eng_bio_hh01_recog.htm</a></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em> </em>Mọi lỗi lầm xin sám hối trước Tam Bảo, Đạo sư và dòng truyền thừa cao quý. Mọi công đức xin hồi hướng tất thảy hữu tình chúng sinh, cầu nguyện Đức Pháp vương Penor Rinpoche sớm tái sinh<em>.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em> </em><em>Chúng tôi rất lấy làm tiếc khi không tìm thấy tên dịch giả bản tiểu sử này. Xin phép được đăng tải vì lợi lạc của những chúng sinh. </em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="https://www.facebook.com/photo.php?fbid=487073814698022&amp;set=a.487073601364710.1073741847.225669694171770&amp;type=1&amp;relevant_count=1"> </a></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/kyabje-pema-norbu-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử ngắn Đức Khenpo Pema Sherab Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-khenpo-peme-sherab-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-khenpo-peme-sherab-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 29 Aug 2015 13:14:20 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Palyul Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Palyul]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Palyul Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3312</guid>
		<description><![CDATA[Đức Khenpo Pema Sherab Rinpoche sinh năm 1936 tại Riphu, Dege Jomda thuộc tỉnh Kham đến Dorje Dhondup và Tse Tso. Khi Ngài lên tám tuổi, ngài học đọc và viết tiếng Tạng với người chú của Ngài là Lama Choesang trong khi chăn nuôi gia súc. Năm mười bốn tuổi, Ngài đến học tại Lhasa dưới sự chỉ dạy&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-khenpo-peme-sherab-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Đức Khenpo Pema Sherab Rinpoche sinh năm 1936 tại Riphu, Dege Jomda thuộc tỉnh Kham đến Dorje Dhondup và Tse Tso. Khi Ngài lên tám tuổi, ngài học đọc và viết tiếng Tạng với người chú của Ngài là Lama Choesang trong khi chăn nuôi gia súc. Năm mười bốn tuổi, Ngài đến học tại Lhasa dưới sự chỉ dạy của các vị Thầy và những bậc thông thái đến từ tất cả các Tu viện Phật giáo Tây Tạng. Trong khi thọ nhận các giáo lý, Ngài đã hết mình phụng sự các vị Thầy của Ngài và nỗ lực học tập chăm chỉ suốt ngày đêm.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1953, Đức Shechen Kongtrul Rinpoche đã đưa ra những lời thề nguyện dành cho những người mới tu tập như Ngài. Năm 1959, Ngài đã di chuyển từ Tây Tạng sang Ấn Độ. Tại chính nơi này, ngài đã gặp H.H. Dilgo Khyentse Rinpoche và thọ nhận hầu hết giáo lý của Rinpoche, gồm có Mật điển Guhyagarbha, Longchenpa’s Treasury of Pith Instructions, Kagyud Ngag Dzod (Treasury of Tantra teachings of Kagyu Lineage), Rinchen Terdzod, Jigme Lingpa’s Yonten Dzod (Treasury of Enlightened Qualities), Lochen Dharmashri’s Explanation on Ngari Penchen’s Three Vows entitled, Fruit of the Wish-fulfilling Tree, Lời Vàng của Thầy Tôi của Đức Patrul Rinpoche, và rất nhiều giáo lý về Kinh và Mật</p>
<p style="text-align: justify;">Vào những dịp khác, Ngài đã thọ nhận rất nhiều sự trao truyền giáo lý gồm có Rinchen Terdzod và sự trao truyền bằng miệng từ H.H. Dudjom Rinpoche and H.H. Penor Rinpoche. Ngài đã thọ nhận tất cả các giáo lý liên quan đến Jang-ter (Northern Treasure Teachings) từ H.H. Taklung Tsetrul Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào năm 1968, Đức Penor Rinpoche mời ngài tới Namdroling để giảng dạy Pháp. Mặc dù tại thời điểm đó, học viện chưa được thiết lập nhưng Ngài Khenpo Pema Sherab vẫn dành vài năm dạy các môn học căn bản và nâng cao Phật giáo cho các tu sĩ nhỏ tuổi trong tu viện.</p>
<p style="text-align: justify;">Kể từ khi học viện thành lập được 25 năm, từ năm 1978 cho tới năm 2003, Đức Khenpo Pema Sherab đã dạy trong học viện này với lòng từ và sự bi mẫn đối với học trò của mình. Trong suốt nhiệm kì của Ngài, Ngài đã tận tậm phụng sự mà không hề có bất cứ sự dính mắc nào về tám pháp của thế gian. Suốt những tháng năm đó, Ngài đã ở trong Tu viện, trải qua biết bao gian khổ để gìn giữ và truyền bá giáo lý Đức Phật nói chung và các giáo lý của dòng truyền thừa Nyingma nói riêng.</p>
<p style="text-align: justify;">Những giáo lý mà Ngài truyền bá bao gồm các môn khoa học truyền thống căn bản về ngữ pháp, chính tả và thơ ca tiếng Tạng. Trong số các môn học Phật pháp truyền thống nâng cao, đầu tiên Ngài đã dạy the Thirteen Great Treatises, Jigme Lingpa’s Yonten Dzod (Treasury of Enlightened Qualities), Mipham Rinpoche’s Osel Nyingpo; a commentary to Guhyagarbha Tantra, Longchenpa’s Ngalso Korsum (Trilogy of Resting in the Nature of Mind), Do Tshog Chen Dupa (Sutra that Gathers All Intentions and Great Accumulations), Rongzom Mahapandita’s Thegchen Tsul Jug (Entering the Mahayana Path), Mipham Rinpoche’s Gal Len Nam Sum (The Trilogy of Replies to Criticisms) và rất nhiều các giáo lý khác mô tả Kiến, Thiền, Hành và Kết Quả của dòng truyền thừa Nyingma.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì lợi ích của thế hệ tương lai, ngài đã sáng tác rất nhiều sách về triết học Phật giáo bao gồm tiểu sử của Đức Liên Hoa Sinh, Exposition on Two Truths Lorig và Tagrig, Mặt trời của tâm thức. Tóm lại , Ngài đã chịu trách nhiệm quản lý Tu viện với tràn đầy lòng bi mẫn tới tận ngày nay và lòng tốt của Ngài không thể nào nghĩ bàn.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn : </em><a href="http://www.palyul.org/eng_biokhenpo_pemasherab.htm"><em>http://www.palyul.org/eng_biokhenpo_pemasherab.htm</em></a></p>
<p style="text-align: justify;">Việt dịch : Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính : Giác nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Các nguyên bản Kinh từ tiếng tạng dịch ra tiếng anh chúng tôi mạn phép giữ nguyên. Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với </em><em>Đức Khenpo Pema Sherab Rinpoche đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này Ngài sớm quang lâm đến Việt nam. </em></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-khenpo-peme-sherab-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử ngắn Đức Mugsang Kunchen Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-mugsang-kunchen-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-mugsang-kunchen-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 29 Aug 2015 13:13:40 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Palyul Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Palyul]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Palyul Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3309</guid>
		<description><![CDATA[Đức Mugsang Kuchen Rinpoche sinh ra tại một gia đình ở Nepal, thân phụ của Ngài là Penpa Dorjee và thân mẫu của Ngài  là Sonam Yangzom. Vào ngày 10 tháng 4 theo lịch Tây Tạng, Ngài được sinh ra với những dấu hiệu kỳ diệu. Năm lên hai tuổi, Đức Dudjom Rinpoche và Mugsang Kuchen Rinpoche đã xác nhận, ấn chứng&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-mugsang-kunchen-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Đức Mugsang Kuchen Rinpoche sinh ra tại một gia đình ở Nepal, thân phụ của Ngài là Penpa Dorjee và thân mẫu của Ngài  là Sonam Yangzom. Vào ngày 10 tháng 4 theo lịch Tây Tạng, Ngài được sinh ra với những dấu hiệu kỳ diệu. Năm lên hai tuổi, Đức Dudjom Rinpoche và Mugsang Kuchen Rinpoche đã xác nhận, ấn chứng Ngài là hóa thân chuyển thế của Đức Chogtrul Kunzang Sherab. Năm lên ba tuổi, Ngài thọ nhận sự giáo dưỡng trực tiếp từ Đức Penor Rinpoche, bậc thượng sư vô cùng Đại bi. Khi tròn bốn tuổi, Ngài đã thọ nhận bộ giáo lý Rinchen Terzöd  từ Đức Drodrub Rinpoche. Bắt đầu lên 5 tuổi, Ngài học đọc và viết tiếng Tạng và bắt đầu thực hành các nghi quỹ của truyền thống Palyul. Do đó, Ngài đã thọ nhận trực tiếp các giáo lý và quán đảnh về thực hành các pháp tu mở đầu (Ngöndro), Tsa Lung và Đại Viên Mãn (Dzogchen) từ Đức Penor Rinpoche. Ngài luôn giữ gìn và phát huy những hoạt động và giáo lý thâm sâu cuả các bậc tiền nhiệm. Ngài đã học các môn khoa học thông thường như ngữ pháp, thơ ca, lo-gic và các môn học nâng cao về triết học Phật giáo tại Đại học tu viện Ngyagyur Nyungma tại Namdriling tại miền Nam Ấn Độ.</p>
<p style="text-align: justify;">Tu viện Mugsang, Mugsang Thubten Sangngag Chöling tọa lạc tại một vùng đất linh thiêng ở Tây Tạng, nằm về phía Tây Nam của tu viện Kathok. "Mug" nghĩa là "có nghĩa là không sáng tỏ"  còn " Sang" nghĩa là " sáng tỏ ". "Mugsang" nghĩa là " Chuyển mình từ không sang tỏ sang sáng tỏ" . Tu viện này được xây dựng tại một địa điểm nơi Terton Migyur Dorje đã dành những ngày cuối cùng của mình đi vào trạng thái thiền định tâm giác ngộ an trụ trong không gian mênh mang của thực tại.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn : http://www.palyul.org/eng_biotulku_mugsang.htm</em></p>
<p style="text-align: justify;">Việt dịch : Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính : Giác nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với </em><em>Đức Mugsang Kuchen Rinpoche</em> <em>đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này Ngài sớm quang lâm đến Việt nam</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-mugsang-kunchen-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử ngắn Đức Khentul Gyangkhang Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-khentul-gyangkhang-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-khentul-gyangkhang-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 29 Aug 2015 13:13:01 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Palyul Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Palyul]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Palyul Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3306</guid>
		<description><![CDATA[Đức Gyangkhang Rinpoche đời thứ nhất.  Đức Gyangkhang Rinpoche đời thứ nhất tên là Wong Chug, được sinh ra tại Gangrig,Tây Tạng, xứ sở linh thiêng của Đạo sư Guru Rinpoche. Ngài là anh trai của Đức Karma Tashi Rinpoche. Đức Karma Tashi Rinpoche là trưởng Dòng truyền thừa Palyul đời thứ 4 và Đức Karma Kuchen Rinpoche đời thứ nhất,&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-khentul-gyangkhang-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Gyangkhang Rinpoche đời thứ nhất. </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Đức Gyangkhang Rinpoche đời thứ nhất tên là Wong Chug, được sinh ra tại Gangrig,Tây Tạng, xứ sở linh thiêng của Đạo sư Guru Rinpoche. Ngài là anh trai của Đức Karma Tashi Rinpoche. Đức Karma Tashi Rinpoche là trưởng Dòng truyền thừa Palyul đời thứ 4 và Đức Karma Kuchen Rinpoche đời thứ nhất, một trong hai đệ tử chân truyền của Đức Drubwang Pema Norbu Rinpoche đầu tiên. Sự tiên tri trong nhiều kho tàng Kinh điển và Mật điển đã tiết lộ rằng Ngài chính là hóa thân của Quán thế âm Bồ Tát. Nhờ những giáo lý vô cùng quý giá của Ngài, vô lượng chúng sinh đã đạt được giải thoát.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Gyangkhang Rinpoche đời thứ hai</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Đức Gyangkhang Rinpoche đời thứ hai tên là Rigzin Jigme Longdrol, với ý nghĩa  "The Fearless Awareness Holder who is liberated in the Vast Expanse” . Ngài đã thọ nhận các giáo lý từ các vị thầy lỗi lạc của mình như Karma Nyingjed Wangpo, Karma Jigme, Jigme Gyalwai Nyugu (Patrul Rinpoche's Master), và Jigme Tsewang Chogdrub.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài đã nghiên cứu và lắng nghe Tam Tạng kinh điển (Kinh, Luật và Luận). Ngài cũng đã thọ nhận các giáo lý Hiển giáo và Mật giáo và các giáo lý Kama ( Giáo lý trao truyền) và Terma (Kho tàng cất dấu). Vào những năm tháng đầu đời, Ngài đã có những đóng góp to lớn trong việc truyền bá những giáo lý thâm sâu của Dòng truyền thừa Palyul. Những năm tháng cuối đời Ngài đã ẩn tu trong hang động linh thiêng nơi Guru Rinpoche thực hành pháp tu phẫn nộ. Trong thời gian thực hành tu tập, Ngài đã ban giáo lý Đại Viên Mãn (Dzogchen) cho hàng nghìn đệ tử và xây dựng rất nhiều Bảo tháp và ảnh tượng các vị Phật. Hơn nữa, Ngài đã hoàn thành các giai đoạn phát triển và giai đoạn thành tựu của thiền và phổ độ vô số chúng sinh hữu hình và vô hình. Vì thế, Ngài được coi là một bậc Thầy vĩ đại, bậc nắm giữ giáo lý và nhận được sùng kính rộng rãi.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Gyangkhang Rinpoche đời thứ 3</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Đức Gyangkhang Rinpoche đời thứ 3 tên là Pedma Kenzang Tenzin. Khi còn nhỏ, Ngài thường có linh kiến về Quán Thế Âm Bồ Tát (Chenrizig), một cách rõ ràng như là đang nói chuyện với một người thường. Đức Khenpo Baden Chisong Rinpoche, một trong những Đạo sư của dòng tộc Thích Ca, đã ấn chứng Ngài là hóa thân của Đức Gyangkhang Rinpoche đời thứ hai. Ngài đã tu học dưới sự dẫn dắt của rất nhiều Đạo sư vĩ đại như Đức Jamyang Khyentse Wangpo, Gyaltrul Pema Dongag Tenzin, Jamgon Kongtrul Lodro Thaye và Rigzin Dzotu Pawo Dorje. Ngài đã lắng nghe toàn bộ giáo lý Kinh điển và Mật điển của dòng truyền thừa Nyingma, và đưa vào thực hành và giảng dạy các giáo lý cho nhiều đệ tử, đóng góp vào việc truyền bá Phật Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Gyangkhang Rinpoche thứ 4</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Đức Gyangkhang Rinpoche thứ 4 sinh ra ở Ấn Độ. Đã được Đức H.H. Penor Rinpoche, H.H. Dudjom Rinpoche va H.H. Dilgo Khyentse Rinpoche xác nhận là hóa thân chuyển thế của Đức Gyangkhang Rinpoche thứ ba.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi lên 4 tuổi, Đức Penor Rinpoche đã mời Ngài đến ở tại Tu viện Namdroling và sau đó đã chăm sóc Ngài như đứa con yêu thương của mình. Khi 15 tuổi Ngài đã thọ nhận các giáo lý Mật điển bí truyền, đặt nền tảng cho những thực hành tu tập cao hơn. Ngài đã vào tu viện Ngagyur Nyingma(Shedra), một chi nhánh của Tu viện Namdroling nơi đây Ngài đã nghiên cứu triết lý Phật giáo tổng quát cũng như các giáo lý chuyên sâu của Dòng truyền thừa Nyingma.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Ngài học năm thứ 5 trong chương trình học Phật học, Đức Gyangkhang Rinpoche đã thể hiện kiến thức Kinh điển của mình bằng một bài diễn văn dài về Sangwa Nyingpo (Kinh Magical Net và Giáo lý Mahayoga) trước Đức Đạt Lai Lạt Mat thứ 14 và 30 nghìn tăng sĩ đến từ tất cả truyền thống tôn giáo Tây Tạng. Ngài đã tranh biện về chủ đề này và dành chiến thắng. Đức Dalai Lama 14 đã khen ngợi trí tuệ của Ngài trước tất cả tăng sĩ và trao tặng Ngài khăn Kata (một chiếc khăn truyền thống của tây Tạng), động viên Ngài giữ gìn, truyền bá Giáo lý của Đức Phật vì lợi lạc của tất cả chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài đã thọ nhận các quán đảnh, khẩu truyền và giáo huấn về toàn bộ giáo lý Kinh điển và Mật điển thâm sâu của dòng truyền thừa Nyingma từ Đức Dilgo Khyentse Rinpoche, Dodrubchen Rinpoche, Jadrel Rinpoche, Khenpo Jigme Phuntsok Rinpoche, và Nyoshul Khen Rinpoche. Đặc biệt Ngài đã thọ nhận giáo lý dòng truyền thừa Palyul bao gồm giáo lý Namchö từ Đức Penor Rinpoche. Ngài không chỉ thọ nhận các giáo lý cho giai đoạn sơ khởi (Ngondro), Tsalung và Đại Viên Mãn (Dzogchen) mà còn đưa vào thực hành miên mật. Ngài cũng được các Khenpo và các vị Thầy vĩ đại thời bấy giờ chỉ dạy các giáo lý Phật giáo về Kinh điển và Mật điển.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào năm 1994, dưới gốc cây Bồ Đề, Đức Gyangkhang Rinpoche đã thọ nhận những giới nguyện sắc phong  từ Đức Penor Rinpoche. Vào thời điểm đó, Ngài đã được gọi là Thupten Mawai Nyima Jigme Singye Chogle Nampar Gyalwai De. Năm 1995, Ngài đã hoàn thành khóa học 9 năm trong Tu viện. Với sự học hỏi và hiểu biết của Ngài, Đức Penor Rinpoche đã ban cho Ngài danh hiệu “Tulku Khenpo” và công nhận Ngài là vị Thầy giảng dạy giáo Pháp, đưa chúng sinh đến con đường giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước khi được sắc phong với danh hiệu Khenpo, Ngài đã ban rất nhiều giáo lý trong những dịp ở Tu viện Namdroling, Mỹ và các quốc gia châu Á như Hồng Kông, Đài Loan và một số quốc gia khác. Giao lý Ngài ban ra gồm có các giáo lý Phật giáo về Bồ Đề Tâm, Thiền Định và Triết học. Ngài cũng ban các quán đảnh và khẩu truyền.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Gyangkhang Rinpoche đã nhận ra ý nghĩa các giáo lý Đức Phật qua Kinh điển và Mật điển. Vào một số dịp có nhân duyên Ngài đã ban truyền giáo lý và những chỉ dẫn và đưa ra những lời khuyên ở một số trung tâm Pháp trên thế giới. Hiện tại, Ngài đang giảng dạy tại Tu viên Ngagyur Nyingma và giúp Đức Penor Rinpoche gánh vác rất nhiều trọng trách của các tu viện.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn : </em><a href="http://www.palyul.org/eng_biotulku_gyangkhang.htm"><em>http://www.palyul.org/eng_biotulku_gyangkhang.htm</em></a></p>
<p style="text-align: justify;">Việt dịch : Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính : Giác nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với </em><em>Đức Gyangkhang Rinpoche</em> <em>đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này Ngài sớm quang lâm đến Việt nam</em></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-khentul-gyangkhang-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử ngắn Khenpo Namdrol Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-khenpo-namdrol-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-khenpo-namdrol-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 29 Aug 2015 13:12:18 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Palyul Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Palyul]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Palyul Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3303</guid>
		<description><![CDATA[Đức Khenpo Namdrol Rinpoche sinh năm 1953 tại Dege, thân phụ là ngài Tsedrung và thân mẫu là bà Choetso. Năm 1959, khi lên 7 tuổi, Ngài đã rời khỏi Tây Tạng và tới Bylakuppe, miền Nam Ấn Độ. Năm 1968, Ngài thực hành Bum-Nga (Năm trăm nghìn tích lũy của pháp tu tập sơ khởi). Ngài đã thọ nhận&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-khenpo-namdrol-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Đức Khenpo Namdrol Rinpoche sinh năm 1953 tại Dege, thân phụ là ngài Tsedrung và thân mẫu là bà Choetso. Năm 1959, khi lên 7 tuổi, Ngài đã rời khỏi Tây Tạng và tới Bylakuppe, miền Nam Ấn Độ. Năm 1968, Ngài thực hành Bum-Nga (<em>Năm trăm nghìn tích lũy của pháp tu tập sơ khởi</em>). Ngài đã thọ nhận các giáo lý 37 Pháp Hành Bồ Tát, Vishestava (<em>Tán thán Danh hiệu Đức Phật)</em> và Mipham Rinpoche’s Tong Thun Sengei Ngaro (<em>Notes on Tathagarbha entitled Roar of the Lion)</em> từ Đức Nyoshul Khenpo, một Đạo sư vĩ đại của dòng Đại Viên Mãn (Dzogchen).</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Khenpo Khedrub đã dạy cho Ngài <em>Mipham’s Commentary to Abhidharmakosha, Commentary to Madyamakalankara, Condensed Tenet Concepts from the Treasury of Wish Fulfilling Gem, </em>và <em>Mipham Rinpoche’s Notes on Chandrakirti’s Madhyamakavatara.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Ngài đã thọ nhận các giáo lý về <em>Mipham Rinpoche’s Notes on Nagarjuna’s Mulaprajna</em> và các bộ luận Madhyamika khác. Sau này, Ngài tới Sikkim 5 năm, nơi đây Ngài đã thọ nhận rất nhiều giáo lý Prajnaparamita, Madhyamika, Pramana và các giáo lý Kinh điển khác từ  Đức Khenpo Tsondrue. Ngài cũng thọ nhận các giáo lý Mật điển gồm có <em>Trilogy of Self-Liberation and Key to the Treasure</em> - một luận giảng phổ quát về Guhyagarbha Tantra của Đức Longchenpa.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 25 tuổi, theo ước nguyện của Đức Pháp Vương Penor Rinpoche và Khenpo Tsondrue, Ngài đã trở về Tu viện Namdroling. Năm 1978, kể từ khi thiết lập Tu viện Ngagyur Nyingma, Ngài là người chịu trách nhiệm then chốt trong việc quản lý và giảng dạy tại Tu viện. Năm 1983, Đức Penor Rinpoche đã trao tặng bằng Khenpo cho Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1988, Ngài di chuyển tới Serta, thuộc tỉnh Kham, Tây Tạng để thọ nhận các giáo lý từ Đức Pháp Vương Khenpo Jigme Phuntsog Rinpoche. Vào thời điểm đó, Ngài đã thọ nhận các hướng dẫn về ba luận giảng khác nhau về Guhyagarbha Tantra: Mipham Rinpoche’s Osel Nyingpo (<em>Clear Light Essence</em>), Longchenpa’s Chogchu Munsel (<em>Clearing the Darkness of Ten Directions</em>), và Dodrubchen Tenpai Nyima’s Dzodkyi Demig (<em>Key to the Treasure)</em>. Về giáo lý Đại Viên Mãn (Dzogchen), Ngài đã thọ nhận Chetsun Nyingthig (<em>Innermost Spirituality of Chetsun</em>) cũng như các giáo huấn riêng của Đức Khenpo Jigme Phuntsog về giáo lý Đại Viên Mãn (Dzogchen), Sự Giải Thoát Trong Lòng Bàn Tay, bình giảng của Đức Patrul Rinpoche về <em>Three Words that Strike the Vital Point, Pointing the Finger to the Nature of Mind</em> và nhiều giáo lý khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Cũng vào năm 1992, Đức Khenpo Jigme Phuntsog đã ban cho Ngài <em>Treasury of Precious Meaning of Words</em> của Đức Longchenpa, hướng dẫn về Khandro Nyingthig (<em>Innermost Spirituality of Dakini</em>) mang tên <em>Illuminating the Profound Path</em>, <em>Mipham Rinpoche’s Vital Instructions on Dzogche  Tekchod (Cutting Through) </em>và nhiều những giáo lý bí truyền khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Kể từ khi thiết lập Tu viện, Ngài đã giảng dạy rất nhiều chủ đề khác nhau, gồm có Chandrakirti’s Madhyamakavatara (<em>Entering the Middle Way</em>), <em>Mipham Rinpoche’s Commentary to the Ninth Chapter of Bodhisattvacharyavatara</em> gọi là Ketaka, Mahayanasutralankara (<em>Ornament of the Mahayana sutra)</em>, Mipham Rinpoche’s Nge She Dron Me (<em>Lamp of Definite Understanding</em>), Chidon Dzod Gyi Demig (<em>General Commentary to Guhyagarbha Tantra called the Key to Treasure)</em>, Lochen Dharmashri’s Sangdag Gongyen (<em>Ornament of Vajrapani’s Intentions - Commentary to Guhyagarbha Tantra</em>) và nhiều giáo lý chuyên sâu khác của phái Cổ Mật Nyingma và rất nhiều tác phẩm lớn của các học giả uyên thâm Tây Tạng và Ấn Độ.</p>
<p style="text-align: justify;">Kể từ đây, Đức Khenpo Namdrol Rinpoche đã có những đóng góp hết sức to lớn trong công tác quản lý và giảng dạy tại Tu viện với động cơ duy nhất là trì giữ Giáo pháp trong thời đại suy hoại này.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1998, dưới sự hướng dẫn của Đức Pháp Vương Penor Rinpoche, Đức Khenpo Namdrol Rinpoche đã thiết lập Trung tâm Nhập Thất Palyul, Samten Osel Ling ở Pharping, Thung lũng Kathmandu, Nepal. Bây giờ, Khenpo dành hầu hết thời gian của mình tại trung tâm cũng như giảng dạy ở nước ngoài và tu viện.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn : http://www.palyul.org/eng_biokhenpo_namdrol.htm</em></p>
<p style="text-align: justify;">Việt dịch : Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính : Giác Nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với </em><em>Đức Khenpo Namdrol Rinpoche</em><em> đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này Ngài sớm quang lâm đến Việt Nam.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Lưu ý: Trong bản dịch này chúng tôi xin phép giữ nguyên tên các tác phẩm bằng tiếng Anh. Có gì sai sót kính mong chư thiện tri thức từ bi chỉ giáo.</p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-khenpo-namdrol-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử ngắn Đức Khenchen Tsewang Gyatso Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-khenchen-tsewang-gyatso-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-khenchen-tsewang-gyatso-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 29 Aug 2015 13:11:50 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Palyul Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Palyul]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Palyul Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3300</guid>
		<description><![CDATA[Đức Khenchen Tsewang Gyatso Rinpoche sinh năm 1954 tại một ngôi làng gần Lhakhang Dzong thuộc miền Nam Tây Tạng, giáp biên giới với Lhodrak, Bhutan. Từ lúc sinh Ngài ra, cha mẹ Ngài có một cảm giác mạnh mẽ rằng nên gửi Ngài đến Tu viện Nub Namkha'i Nyingpo gần nhà, nơi vị Lama đứng đầu Đức Namkha'i Nyingpo Rinpoche chính là tái sinh của&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-khenchen-tsewang-gyatso-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Đức Khenchen Tsewang Gyatso Rinpoche sinh năm 1954 tại một ngôi làng gần Lhakhang Dzong thuộc miền Nam Tây Tạng, giáp biên giới với Lhodrak, Bhutan. Từ lúc sinh Ngài ra, cha mẹ Ngài có một cảm giác mạnh mẽ rằng nên gửi Ngài đến Tu viện Nub Namkha'i Nyingpo gần nhà, nơi vị Lama đứng đầu Đức Namkha'i Nyingpo Rinpoche chính là tái sinh của một trong 25 đệ tử của Đức Liên Hoa Sinh. Dọc theo thung lũng Hi-Mã-Lạp-Sơn, có rất nhiều hang động và những địa điểm linh thiêng liên hệ gần gũi với Đức Liên Hoa Sinh và một số Terton vĩ đại, là những vị đã tái khám phá ra các giáo lý của Đức Liên Hoa Sinh để lợi ích cho những thế hệ tương lai. Trong số đó có Đạo Sư Chowang Rinpoche, Terton Ratna Lingpa và Terton Padma Lingpa.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngôi làng này nằm trên tuyến đường giao thương chính giữa Lhasa và Bhutan. Dân cư ở đây sống cuộc đời khá sung túc. Năm 1962, Khenpo và gia đình Ngài đã di chuyển qua những tuyến đường xuyên núi, tạo ra con đường qua Butan dẫn tới Ấn Độ.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi đến Ấn Độ, Ngài và các chị em gái được gửi tới trường học nội trú của chính phủ dành cho người Tây Tạng ở Darjeeling, Tây Bengal. Tại đây, Ngài bắt đầu chính thức tu học. Khung chương trình bao gồm các môn học cơ bản thông thường, tiếng Anh, tiếng Ấn Độ và giáo Pháp căn bản. Năm lên 10 tuổi, Ngài khoác lên mình chiếc y tu sĩ và thọ nhận các giới nguyện Sadi. Ngài tiếp tục tu học đến hết lớp 8 và hết năm này qua năm khác Ngài luôn là người đứng đầu lớp.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1969, Ngài đến và tu học tại Học viện nghiên cứu Tây Tạng Trung ương tại Sarnath, gần Varanasi.  Sau đó, Ngài tiếp tục chương trình lớp 9, nghiên cứu Phật học và giáo dục phổ quát dưới sự chỉ dạy của một vị Thầy rất kỷ luật, Đức Khenpo Palden Sherab và các vị Thầy khác. Lớp học bao gồm các môn học tiếng Phạn, tiếng Anh, nhiên cứu chuyên sâu về bản văn theo truyền thống Phật giáo Ấn Độ và Tây Tạng. Ngài tốt nghiệp bằng Acharya năm 1978, xếp hạng đầu tiên trong bốn trường học Phật giáo Tây Tạng, có đại diện tại Sarnath. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã vinh danh thành tích của Ngài với giải thưởng huy chương bạc. Sau khi tốt nghiệp Ngài được mời đến giảng dạy tại Tu viện Palyul Namdroling tọa lạc tại các khu định cư của người Tây Tạng ở Bylakuppe, gần Mysore ở miền nam Ấn Độ. Trong nhiều năm qua, Ngài đã tham gia đào tạo các tu sĩ trẻ và giảng dạy tại Tu viện Nyingma Ngagyur (Shedra). Năm 1983, Ngài đã được Đức Pema Norbu Rinpoche ấn phong là Khenpo. Theo truyền thống Cổ Mật (Nyingmapa), Khenpo là chính là tiến sĩ nghiên cứu Phật học.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Khenchen Tsewang Gyatso Rinpoche đã thọ nhận sự trao truyền các Quán đảnh truyền thừa của phái Cổ Mật (Nyingmapa) , bao gồm quán đảnh Dudjom Tersar từ Đức Kyabje Dudjom Rinpoche; quán đảnh Longchen Nyingthig Yabshi và Nyingma Kama  từ Đức Dilgo Khyentse Rinpoche; quán đảnh  Rinchen Terdzod và Nam Chos  từ Đức Pema Norbu Rinpoche. Ngài đã tinh tấn tu tập pháp tu của dòng Đại Viên Mãn (Dzogchen) dưới sự chỉ dạy của Đức Penor Rinpoche và các vị Thầy lỗi lạc khác như Đức Khenpo Jigme Phuntsok Rinpoche và Nyoshul Khen Rinpoche. Đức Pema Norbu Rinpoche đã cho phép Ngài đến các tu viện giảng dạy, trao truyền quán đảnh và hướng dẫn trong thực hành giáo Pháp .</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Khenchen Tsewang Gyatso Rinpoche đã đến Mỹ, Đài Loan và cộng đồng Hoa kiều ở Singapore, Hồng Kông, và Philippin, giảng dạy Phật pháp chuyên sâu tại các quốc gia này. Phong cách giảng dạy cởi mở, thẳng thắn và cẩn thận của Ngài luôn nhận được nhận những phản hồi tốt đẹp. Gần đây Ngài đã ban Quán đảnh Gyud Sangwai Nyingpo (Guhyagarbha Tantra) nương theo các giáo lý chuyên sâu về luận giảng Odsal Nyingpo của Đức Mipham Rinpoche. Đây là lần đầu tiên, Mật điển tinh yếu của phái Cổ Mật (Nyingma) được giảng giải chi tiết đến thế tại Hoa Kỳ.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn : </em><a href="http://www.palyul.org/eng_biokhenpo_tsewanggyatso.htm"><em>http://www.palyul.org/eng_biokhenpo_tsewanggyatso.htm</em></a></p>
<p style="text-align: justify;">Việt ngữ : Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính : Giác nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với </em><em>Đức Khenchen Tsewang Gyatso Rinpoche </em><em>đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này Ngài sớm quang lâm đến Việt nam</em></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-khenchen-tsewang-gyatso-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử ngắn Đức Karma Kunchen Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-karma-kuchen-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-karma-kuchen-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 29 Aug 2015 13:10:36 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Palyul Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Palyul]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Palyul Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3297</guid>
		<description><![CDATA[Đức Karma Kuchen Rinpoche đã được Đức Dujom Rinpoche và Đức Penor Rinpoche xác nhận ấn chứng là hóa thân chuyển thế của Đức Karma Kuchen Rinpoche, Karma Thegchog Nyingpo. Ngài được mời tới Tu viện Namdroling để thụ nhận sự rèn luyện, giáo dưỡng trực tiếp từ Bậc Thượng sư của mình là Đức Penor Rinpoche. Đức Karma Kuchen&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-karma-kuchen-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Đức Karma Kuchen Rinpoche đã được Đức Dujom Rinpoche và Đức Penor Rinpoche xác nhận ấn chứng là hóa thân chuyển thế của Đức Karma Kuchen Rinpoche, Karma Thegchog Nyingpo.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài được mời tới Tu viện Namdroling để thụ nhận sự rèn luyện, giáo dưỡng trực tiếp từ Bậc Thượng sư của mình là Đức Penor Rinpoche. Đức Karma Kuchen Rinpoche đã miên mật thực hành các giáo Pháp và nắm vững toàn bộ hệ thống giáo lý của Dòng truyền thừa Palyul. Ngài cũng thọ nhận vô số giáo lý của Dòng truyền thừa Nyingma từ hai bậc Đạo sư vĩ đại là Đức Dilgo Khyentse Rinpoche và Penor Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Giữ vững tri kiến về những phẩm tính tuyệt vời của một vị Thầy, năm 1994 Đức Penor Rinpoche đã bổ nhiệm Ngài làm Tu viện trưởng tu viện Palyul Mother ở Tây Tạng. Ngày 14 tháng 8 năm 2000, Ngài được sắc phong là Bậc đứng đầu của Dòng truyền thừa Palyul và là Bậc đứng đầu đời thứ 12 của Dòng truyền thừa Palyul tính cho đến giờ. Đức Penor Rinpoche đã nhiều lần đánh giá cao nỗ lực của Ngài về việc gìn giữ Dòng truyền thừa Palyul và việc hoằng dương rộng khắp giáo pháp của Đức Phật tại miền đất tuyết này.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Karma Kuchen Rinpoche đã đạt thành tựu viên mãn khi Ngài đến Tây Tạng và ở đây Ngài xây dựng các ngôi đền , Bảo tháp, Kinh luân, ảnh tượng các vị Hộ Phật và các vật linh thánh khác. Dưới sự hướng dẫn của Đức Penor Rinpoche, Ngài đã xây dựng một ngôi đền nguy nga, tráng lệ nằm giữa các tu viện.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong số những phẩm tính nổi bật mà Ngài nắm giữ thì sự nghiêm trì giới luật chính là phẩm tính tinh túy nhất của Ngài. Ngài chính là hiện thân của Tịnh Hạnh trong thời đại suy hoại này.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn : http://www.palyul.org/eng_biotulku_karmakuchen.htm</em></p>
<p style="text-align: justify;">Việt ngữ : Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính : Giác nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với </em><em>Đức Karma Kuchen Rinpoche</em> <em>đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này Ngài sớm quang lâm đến Việt nam.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-karma-kuchen-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
