<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Palyul Nyingma</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Fri, 17 Apr 2026 16:09:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Tiểu sử sơ lược về Đức Yangthang Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-so-luoc-ve-duc-yangthang-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-so-luoc-ve-duc-yangthang-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 16 Oct 2016 04:52:23 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Palyul Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Palyul]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7086</guid>
		<description><![CDATA[Ngay tại thời điểm mà Hóa thân của Đức Dorje Dechen Lingpa chào đời tại Sikkim - Ấn Độ, bầu trời đã rền vang tiếng sấm báo hiệu nơi Ngài sinh ra. Ngài đã được tìm thấy một cách chính xác như đã được miêu tả tại vùng Yangthang gần Sikkim - Ấn Độ hiện nay, đó là lý do&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-so-luoc-ve-duc-yangthang-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngay tại thời điểm mà Hóa thân của Đức Dorje Dechen Lingpa chào đời tại Sikkim - Ấn Độ, bầu trời đã rền vang tiếng sấm báo hiệu nơi Ngài sinh ra. Ngài đã được tìm thấy một cách chính xác như đã được miêu tả tại vùng Yangthang gần Sikkim - Ấn Độ hiện nay, đó là lý do tại sao Ngài được biết đến là Yangthang Tulku. Hóa thân thứ hai của Ngài sinh ra tại Sikkim và được giáo dưỡng cùng với vị Hóa thân thứ nhất. Khi Đức Yangthang Rinpoche được mời quay trở lại Tu viện Tây Tạng, thì vị Hóa thân ít tuổi hơn đã nài nỉ được đi cùng với Ngài. Hai chàng trai trẻ tuổi đã khởi hành cùng phái đoàn của mình, vui đùa và thực hiện nhiều điều huyền diệu suốt chuyến đi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau khi trở về Tu viện Dhomang cả hai vị Tái sinh đã được trao gửi cho Đức Sogtrul Rinpoche và các vị Lama khác tại Dhomang. Họ đã được thụ nhận nền giáo dưỡng tốt nhất và tuyệt vời nhất từ Khenpo Pema, vị Thầy dạy riêng thuộc Tu viện chính của Truyền thống Palyul. Mặt khác, cả 2 vị Tulku đều có khả năng hoàn thiện việc nghiên cứu tu học của mình. Ở Tây Tạng, trước cuộc Cách Mạng Văn Hóa, Đức Yangthang Rinpoche đời trước đã ban cho Ngài toàn bộ trao truyền Kangyur và nhiều quán đảnh lớn khác. Ngài trở thành vị đứng đầu Tu viện Dhomang và một mình gánh vác trọng trách chăm sóc Tu viện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm 1958, nhà nước Trung Quốc đã bắt giữ và hãm hại Đức Sogtrul Rinpoche cùng vị Tulku nhỏ tuổi hơn. Đức Yangthang Rinpoche đã trốn thoát và đi tới khu vực Tu viện Dodrupchen, nơi mà về sau chính Ngài cũng đã bị bắt và giam giữ suốt 20 năm. Suốt thời gian này, Ngài đã phải chịu đựng những hình thức tra tấn dã man của đội quân nhà nước Trung Quốc. Tuy nhiên, Ngài vẫn rất lạc quan và nhiệt thành với việc thực hành giáo Pháp. Ngài đã động viên những người bạn trong tù tiếp tục bí mật thực hành và cầu nguyện cho đến ngày được trả tự do. Và, thực tế thì sau cái chết của Mao Trạch Đông, Ngài đã được trả tự do.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong số các vị Terton, những vị Hóa thân được công nhận được ban danh hiệu "Lingpa", phù hợp với những phẩm tính xuất sắc của các Ngài. Giống như Đức Ratna Lingpa, Đức Chokgyur Lingpa và các vị khác, Đức Dorje Dechen Lingpa đã phát lộ các kho tàng giáo lý và là một Đạo sư tỉnh giác không phải nghĩ bàn, một hiện thân về trí tuệ và từ bi của tất cả chư Phật. Là một vị Hóa thân, Đức Yangthang Tulku Rinpoche có năng lực và ân phước ban truyền bộ quán đảnh Rinchen Terzod, vì rất ít các vị Lama có đầy đủ phẩm tính trao truyền và Ngài cũng chính là Hóa thân của Đức Vimalamitra, giống như Đức Kyabje Penor Rinpoche. Trí tuệ của Đức Vimalamitra sánh ngang với Đức Liên Hoa Sanh, suối nguồn ân phước của mọi kho tàng giáo lý được phát lộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thông tin về tiểu sử của Ngài được cung cấp bởi Đức Gyaltrul Rinpoche tôn kính, trích từ cuốn "Buổi phỏng vấn của các đệ tử với Đạo sư tôn kính Gyaltrul Rinpoche" xuất bản bởi Orgyen Dorje Den.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Nguồn: http://www.vimalavideo.org/yangthang-rinpoche.html</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Việt ngữ: Tara Devi (Nhóm Rigpa Lotsawas)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hiệu đính: Giác nhiên</span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với Đức Yangthang Rinpoche đều được Ngài dẫn dắt liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này cầu mong các đời hóa thân của Ngài sớm quang lâm đến Việt nam.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-so-luoc-ve-duc-yangthang-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Giáo lý Guru yoga</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/giao-ly-guru-yoga/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/giao-ly-guru-yoga/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 17 Sep 2015 05:52:59 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Guru Yoga]]></category>
		<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Palyul]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Palyul Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5578</guid>
		<description><![CDATA[Tính chất quan trọng của sự Khẩu truyền  Dù giáo lý hay thực hành mà chúng ta đang thảo luận trong truyền thống Phật Giáo đặc biệt tới mức độ nào, dù truyền thống đó là Tiểu thừa, Đại thừa hay Kim Cương thừa, tiến trình của việc phát triển tâm linh là tiến trình của đệ tử nương tựa&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/giao-ly-guru-yoga/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/FawangTempleSmall.jpg"><img class="  wp-image-5579 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/FawangTempleSmall-272x300.jpg" alt="FawangTempleSmall" width="419" height="462" /></a></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Tính chất quan trọng của sự Khẩu truyền </b></p>
<p style="text-align: justify;">Dù giáo lý hay thực hành mà chúng ta đang thảo luận trong truyền thống Phật Giáo đặc biệt tới mức độ nào, dù truyền thống đó là Tiểu thừa, Đại thừa hay Kim Cương thừa, tiến trình của việc phát triển tâm linh là tiến trình của đệ tử nương tựa một vị Thầy. Chúng ta có thể gọi vị Thầy đó là một Lạt ma, một Guru, hay bất kỳ danh hiệu gì, nhưng vấn đề trọng yếu là có một sự khẩu truyền xảy ra trong đó một vị Thầy giảng dạy đệ tử: đệ tử nghe các giáo lý, thâm nhập ý nghĩa của chúng và đưa chúng vào thực hành.</p>
<p style="text-align: justify;">Việc chúng ta nhấn mạnh vào một sự khẩu truyền là có lý do. Từ thời đại của Đức Phật cho tới ngày nay, Phật Pháp luôn luôn được truyền dạy và có nghĩa là được khẩu truyền, bảo đảm rằng có một truyền thống sống động vẫn thấm đẫm sự ban phước và năng lực của những giáo lý nguyên thủy. Sự khẩu truyền này cũng ngăn ngừa việc có thể có những kẻ gọi là Thầy chỉ xuất phát từ những ý tưởng của riêng họ. Thay vào đó, vị Thầy phải kinh qua một truyền thống giáo lý được chứng minh.</p>
<p style="text-align: justify;">Điều này làm cho Phật Pháp khác biệt với những loại kiến thức khác ở đó người ta có thể làm đổi mới. Trong những lãnh vực kiến thức như thế việc nảy sinh ra những hệ thống tư tưởng mới hay đưa vào những ý tưởng mới mẻ có thể là điều thích đáng. Nhưng khi ta nói về Phật Pháp thì để một giáo lý có giá trị, mỗi giáo lý phải nối kết với những giáo lý nguyên thủy của Đức Phật. Những giáo lý không thể là điều mà một người nào đó hoàn toàn phát khởi trong đầu họ. Các giáo lý là những gì vị Thầy kinh qua.</p>
<p style="text-align: justify;">Cũng thế, trong những loại kiến thức khác của nhân loại, người ta có thể chấp nhận được việc đưa ra thông tin theo một cách càng làm vui lòng và dễ chịu thì càng tốt. Nhưng mặc dù các Giáo Pháp cần được giới thiệu trong một phương cách dễ nghe, điều tối quan trọng là những giáo lý được trao truyền có năng lực để ban phước và gây ảnh hưởng cho những người nghe chúng trong một cách thế tích cực – không chỉ trong đời này, mà còn cả những đời sau. Vì thế mặc dù việc giảng dạy Pháp cần tao nhã và được giới thiệu khéo léo, điều tối quan trọng là sự ban phước của thông điệp cốt tủy.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Những Phẩm tính của Lạt ma</b></p>
<p style="text-align: justify;">Những giáo lý mà chúng ta biết là Phật giáo được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng dạy trước tiên. Những giáo lý này đã được hộ trì nhờ một dòng truyền dạy sống động cho tới ngày nay bởi những người được hứng khởi để đi theo gương mẫu của Đức Phật và nghiên cứu con đường đó và truyền dạy nó cho những người khác. Trong bất kỳ truyền thống Phật Giáo khác nhau nào chúng ta cũng nhận ra rằng có vô số người nhờ nghiên cứu và thiền định mà trở nên vô cùng uyên bác, có năng lực và chứng ngộ tâm linh. Nhưng lý do tại sao các ngài giảng dạy và lý do vì sao những cá nhân này cam kết để trở nên uyên bác trong lãnh vực Giáo Pháp thì không nên để cho mình chìm ngập trong việc tự thổi phồng mình lên. Ta không trở nên uyên bác về Pháp để tự cho rằng bản thân ta uyên bác và để đạt được một địa vị đặc biệt nào đó. Ta cũng không giảng dạy người khác từ một cảm thức tự phụ có tính cách cá nhân. Pháp được hộ trì bởi nó mang lại những lợi ích cho những người lắng nghe giáo lý. Đó là động lực đằng sau việc giảng dạy.</p>
<p style="text-align: justify;">Để trở thành một vị Thầy đích thực của truyền thống thì sẽ không đủ nếu chỉ đọc sách vừa đủ để trở nên thật tinh thông giáo lý và sau đó tự coi mình như một vị Thầy. Đúng hơn, ta phải được vị Thầy của ta, một người chứng ngộ một cách đặc biệt, cho phép giảng dạy. Cũng có thể có trường hợp ta được ban cho một thị kiến về Bổn tôn chọn lựa của ta, trong kinh nghiệm đó Bổn tôn sẽ ban cho ta sự ban phước và thẩm quyền để giảng dạy.</p>
<p style="text-align: justify;">Như vậy vấn đề không chỉ đơn giản là việc một người bình thường phát điển đầy đủ sự thông minh tài giỏi để có thể nói thật hay về Pháp. Lợi ích thật sự của những giáo lý không xảy đến nhờ một sự tiếp cận thông thường, bởi lẽ càng thêm sự tiếp cận thông thường thì chỉ càng tăng thêm khuynh hướng nuôi dưỡng sự tự phụ và những cảm xúc mâu thuẫn của riêng ta. Chẳng có lợi lạc nào có thể đến từ điều đó. Chỉ khi việc giảng dạy là một hành động vô ngã để làm lợi lạc người khác được đặt nền trên một sự truyền dạy đích thực thì ta mới thực sự có lợi lạc là điều cần thiết để Giáo Pháp được hộ trì.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu ta chiếu cố tới tất cả những giáo lý của Đức Phật, bao gồm mọi luận giảng về những giáo lý đó của các đại thành tựu giả vĩ đại – những pundit (học giả) uyên bác của Ấn Độ, Tây Tạng và những truyền thống Phật Giáo khác – thì một cá nhân đơn độc không thể nỗ lực và đưa tất cả những giáo lý đó vào thực hành. Điều này không có nghĩa là có phương diện nào đó của những giáo lý đó là vô ích và không có chức năng. Trong thế giới này, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã chuyển Pháp luân trong ba lần truyền dạy liên tiếp trong thời đại của Ngài. Trong Kim Cương thừa khi chúng ta khảo sát hàng ngàn pho sách được gọi chung là Phật Pháp, bao gồm 84.000 tuyển tập của những giáo lý của Đức Phật và 6.400.000 bản văn Tantra (Mật điển), thì rõ ràng là không một người đơn độc nào có thể thâm nhập và thực hành tất cả những giáo lý đó.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Khảo sát vị Thầy</b></p>
<p style="text-align: justify;">Như thế điều này đưa chúng ta tới chủ đề guru yoga. Ta hãy xem xét từ nguyên của từ ‘lama’ trong tiếng Tây Tạng. Âm đầu tiên ‘la’ có nghĩa là ‘cái gì không thể vượt qua’ (vô song). Từ thứ hai ‘ma’ theo nghĩa đen có nghĩa là mẹ. Điều này có nghĩa là thái độ của vị Thầy thì giống như thái độ của một bà mẹ đối với những đứa con của bà. Có một hàm ý rằng mối liên hệ với Lạt ma mang theo nó rất nhiều sức nặng. Đệ tử cũng có một tiềm năng khổng lồ để được lợi lạc từ mối liên hệ đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Đây là lý do tại sao trong con đường thần chú bí mật của giáo lý Kim Cương thừa, điều được nhấn mạnh ngay từ lúc khởi đầu là việc vị Thầy và đệ tử khảo sát lẫn nhau thì rất quan trọng. Hẳn đó phải là một tiến trình phê phán nhờ đó người này chọn lựa người kia. Ví dụ như các Mật điển có nói rằng nếu một Lạt ma hám lợi, tham vọng, bị lệ thuộc vào những cảm xúc mâu thuẫn, tràn đầy kiêu ngạo, ganh tị hay tranh đua, thì việc một đệ tử nương tựa vào một vị Thầy như thế sẽ không thích hợp cho dù Lạt ma đó là ai. Lạt ma phải có những phẩm chất đúng đắn, kể cả phẩm tính của lòng bi mẫn. Nếu vị Thầy không có những phẩm tính căn bản này thì một Lạt ma như thế sẽ rất khó ban phước cho đệ tử – sự ban phước là điều cần thiết để mối liên hệ Thầy/trò mang lại kết quả tốt đẹp.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong việc khảo sát những phẩm tính của một Lạt ma, một người bình thường khó có thể đánh giá được những phẩm tính của dòng tâm thức của Lạt ma đó, đặc biệt là khi mới gặp vị Thầy này. Nhưng một yếu tố quyết định được cân nhắc là dòng truyền thừa mà vị Lạt ma hộ trì và dòng truyền đó có được duy trì với samaya thanh tịnh hay không.</p>
<p style="text-align: justify;">Ta không thể xác định một cách đơn giản dựa vào mức độ hiểu biết của một vị Thầy để xem ông có năng lực tâm linh có thể trao truyền ân phước chân chính hay không. Nếu dòng tâm của vị Thầy không được thúc đẩy bởi một phẩm tính vị tha và bi mẫn – phẩm tính của Bồ đề tâm – mà đúng hơn bị kích động bởi một phẩm tính kiêu ngạo và những cảm xúc phiền não, thì điều đó sẽ không phải là một mối liên hệ lợi lạc cho dù vị Thầy đó rất uyên bác. Đây là bởi động lực của vị Thầy không đúng đắn.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế vào lúc đầu, điều quan trọng đối với đệ tử là khảo sát một vị Thầy tương lai. Một khi đệ tử đi tới chỗ quyết định nương tựa một vị Thầy nhất định thì không còn gì để thảo luận nữa. Quyết định đã được lập ra. Vào lúc đó điều quan trọng đối với đệ tử là nương tựa toàn tâm toàn ý nơi vị Thầy. Nếu ta trải qua tiến trình khảo sát để kiểm tra những phẩm tính của vị Thầy và quyết định rằng vị Thầy này thích hợp đối với bản thân ta, thì ta sẽ có thể duy trì một sự tôn kính và một niềm tin nơi vị Thầy.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi ấy, miễn là đệ tử duy trì một thái độ tin tưởng và sùng mộ đối với một Lạt ma được chọn lựa theo cách này, sẽ không đệ tử nào không được trực tiếp nhận những sự ban phước của Đức Phật trong dòng truyền thừa sống động này. Điều này thì hoàn toàn không thể sai lầm.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Câu chuyện của Lạt ma-Chăn cừu</b></p>
<p style="text-align: justify;">Ở Tây Tạng có một gia đình du cư chăn nuôi gia súc. Họ sinh sống bằng nghề nuôi và bán thú vật và tuyệt nhiên không hiểu biết gì về Pháp. Công việc của họ có bản chất thế tục.</p>
<p style="text-align: justify;">Một người chăn gia súc làm thuê cho gia đình này được cho thực phẩm khi anh ta đưa đàn thú ra ngoài mỗi ngày. Vào lúc giữa trưa, anh đi tới một bờ sông, để mặc đàn thú gặm cỏ, anh ngồi xuống uống trà và dùng bữa trưa của mình. Ở nơi anh ngồi có một tảng đá nhô lên. Mỗi ngày anh dùng những thực phẩm dư thừa gồm thức ăn và trà và để chúng trên tảng đá. Anh ta làm điều này mà không suy xét rằng việc đó là tốt hay xấu. Việc để thức ăn thừa trên tảng đá chỉ là một tập quán lười nhác của anh.</p>
<p style="text-align: justify;">Tảng đá nhô lên đặc biệt này có ba mặt trên đó anh ta thường đặt thức ăn. Khi sự việc đó xảy ra, những tảng đá này có một vài tinh linh địa phương tới cư ngụ. Trong số đó có một tinh linh rồng, một tinh linh ma quỷ và một tinh linh khác được gọi là tsen. Ba tinh linh phi nhân này rất tán thưởng những “vật cúng dường” này mà người có vẻ là một con người tâm linh và hành giả thành tựu này đang ban tặng họ mỗi ngày. Họ thảo luận với nhau: “Để tỏ lòng biết ơn, ít nhất là một người trong chúng ta phải làm điều gì đó. Ai sẽ làm việc ấy?” Và họ đi tới kết luận là tinh linh ma sẽ là người giúp đỡ người chăn cừu. Và vì thế tinh linh ma nhập vào người chăn cừu khiến anh ta bị thay đổi toàn diện. Anh thực sự trở thành một người rất thông thái và tài giỏi.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi từ cánh đồng trở về nhà, anh là một người khác. Thay vì chỉ về nhà như thường lệ, anh trở về nhà và bắt đầu nói về Pháp, anh bắt đầu thuyết giảng. Trải qua một thời gian, anh có tới hàng ngàn đệ tử. Anh tạo được một ấn tượng sâu sắc như một vị thầy tâm linh đến độ tập họp được quanh mình một nhóm đệ tử khổng lồ. Anh cũng viết nhiều quyển sách và nổi danh là người rất uyên bác về Pháp. Điều này tiếp diễn trong nhiều năm và danh tiếng của anh tiếp tục phát triển.</p>
<p style="text-align: justify;">Anh ta đang tiếp tục những hoạt động này thì một Lạt ma khác đang du hành trong vùng nghe nói về anh. Nhờ những năng lực tâm linh đích thực, vị Lạt ma chân chính này hiểu rõ là Lạt ma-chăn cừu không phải là người thực sự có những phẩm tính chân chính. Ngài nhận ra rằng một tinh linh ma ám nhập đã truyền cho Lạt ma-chăn cừu khả năng giảng dạy.</p>
<p style="text-align: justify;">Và vì thế Lạt ma chân chính nói với một tu sĩ thị giả của ngài: “Ta muốn ông để hương trầm xuống những nơi Lạt ma này giảng dạy và đốt nó, làm khói thoảng khắp vùng để Lạt ma này và tất cả những đệ tử đều ngửi thấy mùi khói. Ông có thể làm được điều đó cho ta không?”</p>
<p style="text-align: justify;">Vị sư nói: “Chẳng có vấn đề gì,” và ông để hương trầm xuống và đốt. Ông đi qua đám đông hàng ngàn người đang lắng nghe người chăn cừu biến thành vị Thầy này. Ngay khi người chăn cừu ngửi thấy mùi khói hương, tinh linh ma xuất ra khỏi thân thể anh ta. Người chăn cừu khốn khổ ngồi trên ngai nhìn quanh đám đông và nói: “Cừu của tôi đâu?”</p>
<p style="text-align: justify;">Trọng tâm của câu chuyện này là cho dù một vị Thầy có thể tài giỏi, nổi tiếng và có biện tài về Pháp, nhưng điều đó không quyết định tính chất xác thực. Bạn cần khảo sát rõ ràng những gì bạn đang tìm kiếm ở một vị Thầy.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi bạn đã trải qua tiến trình khảo sát này với tư cách một đệ tử và đi tới quyết định rằng bạn muốn nương tựa một vị Thầy nhất định, thì với một cảm thức của niềm tin và thị kiến thanh tịnh, bạn sẽ không gặp rắc rối gì liên quan tới vị Thầy đó. Như thế, khi bạn nhận các giáo lý từ vị Thầy, bạn hoàn toàn tiếp thu được những gì vị Thầy ban cho.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Nương tựa vị Thầy</b></p>
<p style="text-align: justify;">Một số vấn đề trong những điều quan trọng nhất mà bạn nên tự hỏi chính mình là: “vị Thầy này có kinh nghiệm giải thoát khỏi đau khổ và vô minh để có thể truyền đạt loại tự do đó cho tôi không? Vị Thầy này có được thúc đẩy bởi Bồ đề tâm hay không? Vị Thầy này có thực sự từ bi khi quan tâm tới tôi như một đệ tử không?” Đây là điều chúng ta tìm thấy trong tất cả những giáo lý của Kinh điển, các Tantra (Mật điển) và đặc biệt là trong những giáo lý tâm của những trường phái Mahamudra (Đại Ấn) và Dzogchen (Đại Viên mãn): Điều cực kỳ quan trọng là phải khảo sát những phẩm tính của một Lạt ma để xác định rõ những phẩm tính ấy trước khi nương tựa vị Thầy đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Toàn bộ vấn đề của tiến trình khảo sát là không xét đoán một vị Thầy trong một diễn đàn công cộng hay trong một ý nghĩa trừu tượng. Thay vì thế, đó là việc đánh giá vị Thầy ngay trên một bình diện cá nhân để xác định xem mối quan hệ với vị Thầy đó sẽ có lợi ích cho bạn với tư cách một đệ tử hay không. Vị Thầy này có những phẩm tính và giáo lý để hiến tặng khiến cho bạn có thể được lợi lạc khi thọ nhận những giáo lý ấy hay không? Việc khảo sát hoàn toàn xuất phát từ quan điểm của riêng bạn chứ không từ viễn cảnh có tính chất khái niệm.</p>
<p style="text-align: justify;">Việc nương tựa một vị Thầy thì tuyệt đối cần yếu đối với đệ tử để thọ nhận một cách thuần tịnh sự trao truyền các giáo lý. Điều này hoàn toàn đúng trong trường hợp các giáo lý Đại Viên mãn. Bạn chỉ có thể nhận sự trao truyền thuần tịnh của Đại Viên mãn từ một vị Thầy còn sống. Không có nguồn mạch trao truyền nào khác ngoài suối nguồn của việc bạn làm việc với một vị Thầy đích thực.</p>
<p style="text-align: justify;">Và thêm nữa, điều quan trọng là Lạt ma hay các Lạt ma mà bạn nương tựa không phải là những cá nhân bị thúc đẩy bởi những tham muốn vị kỷ cho những lợi lạc cá nhân; về mặt nào đó họ không phải là người thủ đoạn hay lừa dối; cách họ nói Pháp không mâu thuẫn và phản tác dụng; họ không kiêu ngạo về những phẩm tính của riêng mình và thường xuyên nói về hay phô bày những phẩm tính của họ trong một cách thế tranh đua hay tự khoa trương. Tất cả những loại phẩm tính này nơi một vị Thầy cần phải được tránh xa.</p>
<p style="text-align: justify;">Trái lại, khi bạn gặp một Lạt ma hay vị Thầy có một tính cách cao quý, những phẩm tính tuyệt vời, thiện xảo và quan tâm sâu sắc tới thực hành Phật giáo nói chung và con đường Kim Cương thừa nói riêng, có dòng tâm thức được Bồ đề tâm thúc đẩy, hết sức từ ái và bi mẫn khi quan tâm tới người khác, và bản thân đã chứng ngộ bản tánh nền tảng của các hiện tượng trong một cách thế rất đáng tin cậy và trực tiếp, thì khi bạn gặp một người nào đó hiện thân tất cả những phẩm tính này, bạn đang có cơ hội lý tưởng để nương tựa người ấy như một vị Thầy. Người này hội tụ tất cả những phẩm chất của một vị Thầy tốt lành và đích thực.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế, khi ta nói về một người nào đó là một Lạt ma đích thực, ta không chỉ đang nói về một người có danh hiệu hay được coi là một Lạt ma theo một ý nghĩa nói chung hay thông thường. Chỉ khi nào ta nói về một người thực sự có những phẩm tính đáng tin cậy này thì ta mới đang thực sự nói về một Lạt ma có phẩm chất và đích thực, có nghĩa là người mà nếu bạn nương tựa vào họ bạn sẽ chỉ nhận được những lợi lạc. Thực hành và kinh nghiệm của bạn trong Pháp sẽ chỉ phát triển như kết quả của một sự nối kết với người thực sự xứng đáng với danh hiệu “Lạt ma.”</p>
<p style="text-align: justify;">Khi thái độ của đệ tử đối với Lạt ma của họ là một thái độ tin tưởng và sùng mộ đến nỗi người đệ tử thực sự thấy vị Thầy là một vị Phật thực sự, hay là hiện thân đích thực của Pháp Thân Vajradhara (Kim Cương Trì), hay là hiện thân đích thực của Bổn tôn của đệ tử – khi đệ tử có loại tin cậy và niềm tin đó mà không có chút nghi ngờ và do dự nào - thì những sự ban phước và phẩm tính của thân, ngữ và tâm giác ngộ của tất cả chư Phật và Bồ Tát được trao truyền qua Lạt ma tới đệ tử.</p>
<p style="text-align: justify;">Cũng có những trường hợp trong đó ta gặp một Lạt ma mà với ngài ta có một mối liên hệ trong nhiều đời. Dấu hiệu bạn sẽ có trong trường hợp này là chỉ nghe nói tới danh hiệu của vị Thầy thì cũng đã là một kinh nghiệm thật cuốn hút đối với bạn: mọi lông tóc trên thân thể bạn liên tục dựng đứng lên. Đó là một điều gì xảy ra hoàn toàn tự nhiên và không phải là một kinh nghiệm giả tạo.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi có một sự xác quyết trong tâm bạn rằng đây chính là một vị Phật, đây đích thực là Pháp Thân Kim Cương Trì, hay đây thực sự là Guru Rinpoche mà bạn đang gặp và nương tựa vào Lạt ma của bạn, và khi bạn cầu nguyện với sự xác quyết đó trong tâm bạn, thì chắc chắn là bạn sẽ nhận được những sự ban phước từ mối liên hệ đó. Nhưng điều này cũng hàm ý rằng bạn, với tư cách là một đệ tử, hãy giữ gìn thái độ của riêng bạn đối với vị Thầy và bảo đảm rằng bạn luôn luôn tôn kính và lĩnh hội dễ dàng những gì vị Thầy đang nói. Đừng nhượng bộ những tập quán thông thường của sự kiêu ngạo hay khoa trương hay trong một cách thế làm suy yếu mối liên hệ với vị Thầy bằng cách phủ nhận những gì Thầy nói hay bằng cách cố gắng ngăn trở những nỗ lực của Thầy. Tất cả những thái độ này cần phải né tránh bởi chúng không hỗ trợ cho mối liên hệ đáng tin cậy và cởi mở rất cần thiết để những sự ban phước tuôn chảy từ vị Thầy tới đệ tử.</p>
<p style="text-align: justify;">Các Tantra (Mật điển) lập đi lập lại tầm quan trọng của việc nương tựa Lạt ma như suối nguồn của những sự ban phước trong thực hành của ta. Bất luận lời cầu nguyện đặc biệt mà đệ tử dâng lên Lạt ma, bất luận nó có thể có vẻ tầm thường và nhỏ bé ra sao, nếu lời cầu nguyện đó được đặt nền trên sự tin cậy và niềm tin trọn vẹn nơi Lạt ma, thì những sự ban phước của Lạt ma sẽ luôn luôn đến được với người đệ tử. Trong Tantra Đại dương Giác tánh Phi Thời gian có nói rằng một lời cầu nguyện nhỏ bé tới vị Thầy với niềm tin và lòng sùng mộ thanh tịnh thì tốt hơn nhiều nếu so với việc thực hiện hàng trăm triệu lần trì tụng các thần chú Bổn tôn. Kết quả của lời cầu nguyện sẽ mãnh liệt hơn nhiều khi nó thực sự là một biểu lộ của niềm tin và lòng sùng mộ của ta nơi Lạt ma.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi ta đã thiết lập một mối liên hệ với Lạt ma dựa trên sự tin cậy, niềm tin và lòng sùng mộ, thì có những cách thức khác nhau để nương tựa mối liên hệ ấy nhờ đó những loại thành tựu khác nhau có thể xảy ra. Nếu một đệ tử có ý định đạt được thành tựu giác ngộ cao cả nhất, đệ tử đồng nhất Lạt ma với Đức Vajradhara (Kim Cương Trì) – Đức Phật Pháp Thân. Nếu đệ tử được đặc biệt thúc đẩy để phát triển trí tuệ sâu xa hơn, đệ tử đồng nhất Lạt ma với Đức Manjushri (Văn Thù), Bồ Tát của trí tuệ. Để khuyến khích lòng từ và bi của họ, đệ tử thiền định về Lạt ma như bất khả phân với Đức Avalokitesvara (Quán Thế Âm), Bồ Tát của lòng bi mẫn. Để thâu đạt năng lực tâm linh vĩ đại hơn, đệ tử tập trung trên Lạt ma như bất khả phân với Đức Vajrapani (Kim Cương Thủ), Bồ Tát của năng lực tâm linh. Để chiến thắng những loại sợ hãi và phiền muộn khác nhau, ta nương tựa Lạt ma như hiện thân đích thực của Đức Tara tôn quý. Để tăng trưởng sự trường thọ của ta, ta thiền định về Lạt ma bất khả phân với Đức Amitayus (Đức Phật Vô lương Thọ). Để chiến thắng bệnh tật, ta thiền định Lạt ma là Đức Phật Dược Sư. Để tăng trưởng tài bảo và sự thịnh vượng của ta, ta thiền định Lạt ma như bất khả phân với Đức Vaishravana, Jambhala, hay bất kỳ Bổn tôn tài bảo nào. Để tịnh hóa hậu quả của những ác hạnh và những che chướng của thân, ngữ và tâm ta, ta thiền định Lạt ma như bất khả phân với Đức Phật Vajrasattva (Kim Cương Tát Đỏa). Để tăng trưởng sự vinh quang, của cải, và cơ hội của ta, ta thiền định Lạt ma như bất khả phân với Đức Phật Ratnasambhava (Bảo Sanh), Đức Phật của Bảo Sanh bộ. Để phát triển năng lực của ta – khả năng để sử dụng ảnh hưởng mạnh mẽ và lợi lạc trên thế giới – ta thiền định Lạt ma như bất khả phân với Đức Amitabha (Đức Phật A Di Đà) hay một Bổn tôn như Kurukulla. Nếu ta ước muốn thực hiện hoạt động phẫn nộ, ta thiền định Lạt ma như bất khả phân với Đức Vajrabhairava (2) hay những Bổn Tôn phẫn nộ hơn nữa. Nếu ta muốn theo cách tiếp cận kết hợp tất cả những phẩm tính này trong một thân tướng duy nhất, ta thiền định Lạt ma như bất khả phân với Guru Rinpoche. Trong mỗi một trường hợp này, quan điểm của ta là: Lạt ma gốc của ta là hiện thân đích thực của một hay những phương diện khác của đấng Giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Đạo sư Vĩ đại Liên Hoa Sanh</b></p>
<p style="text-align: justify;">Cách tiếp cận phổ quát bao gồm tất cả những phương diện này là thiền định Lạt ma của ta như hiện thân đích thực của Guru Rinpoche. Trong trường hợp này không nên nghĩ tưởng Guru Rinpoche chỉ đơn giản là một nhân vật lịch sử, tức là như một cá nhân xuất hiện sau Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong thời đại và không gian đặc biệt của chúng ta. Tinh túy (bản chất) thực sự của Guru Rinpoche xảy ra trước Đức Phật Thích Ca Mâu Ni một quãng thời gian vô tận. Dòng tâm giác ngộ - dòng tâm giác ngộ của Guru Rinpoche - là biểu lộ duy nhất của lòng bi mẫn, những sự ban phước và trí tuệ bẩm sinh của vô số chư Phật từ vô lượng kiếp trong quá khứ, tất cả tập trung trong dòng tâm duy nhất này là dòng tâm của Đạo sư vĩ đại Guru Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu chúng ta nghĩ tưởng Phật Pháp như được phân chia thành các giáo lý Kinh điển và Tantra (Mật điển), thì những giáo lý mà ngày nay chúng ta biết là Phật Giáo chính là các giáo lý được Đức Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni giảng dạy. Tuy nhiên, trong ý nghĩa to lớn hơn, những giáo lý của Phật Pháp và đặc biệt là các giáo lý của con đường Mật thừa thì không bị giới hạn vào sự biểu lộ của Đức Phật duy nhất đó. Đây là nơi hoạt động của Guru Rinpoche được coi là rất phổ quát và hết sức rộng lớn. Bất kỳ nơi nào giáo lý Kim Cương thừa được mọi vị Phật giảng dạy trong quá khứ, đang được giảng dạy hay sẽ được giảng dạy, bất kỳ nơi nào một vị Thầy tâm linh đang trao truyền những giáo lý đó, thì tinh túy của Guru Rinpoche được hiện thân ở đó – trong vị Phật đó, trong vị Thầy, trong Lạt ma đó. Vô số hiển lộ của Guru Rinpoche đã xuất hiện và tiếp tục xuất hiện trong những cõi giới khác nhau, những vũ trụ khác nhau, dưới những danh hiệu khác nhau, trong những thân tướng khác nhau. Có nhiều miêu tả trong Kinh văn truyền thống chứng minh cho sự phô diễn đa dạng của hoạt động của Guru Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong thời đại và không gian đặc biệt của chúng ta – khi chúng ta kinh nghiệm di sản của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là một trong một ngàn vị Phật sẽ xuấât hiện trong thời đại này trong đó chúng ta sống – tất cả một ngàn vị Phật này và mọi hoạt động của các ngài kể cả Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đều là những hiển lộ từ một nguồn mạch duy nhất. Tất cả đều là những phương diện hoạt động khác nhau bắt nguồn từ một nguồn mạch ân phước và trao truyền duy nhất. Khắp trong vũ trụ to lớn và phạm vi thời gian rộng lớn này, hàng trăm triệu hiển lộ của chư Phật và các vị Thầy xuất hiện đều là những hiển lộ của năng lực của Guru Rinpoche. Vì thế, biểu lộ của những sự ban phước của Guru Rinpoche không thể bị giới hạn vào một cấu trúc thời gian duy nhất và một tôn giáo duy nhất như Ấn Độ hay Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Những miêu tả về việc đản sinh kỳ diệu của Guru Rinpoche ở Ấn Độ và chuyến du hành đem giáo lý tới Tây Tạng của Ngài chỉ là một khía cạnh nhỏ bé của toàn bộ sự ban phước và hoạt động của Guru Rinpoche. Ngay cả những miêu tả về cuộc đời của Guru Rinpoche mà chúng ta có cũng không nói tới một nhân vật duy nhất, mà nói tới tám hiển lộ của Guru Rinpoche như sự biểu lộ phạm vi rộng lớn của sự ban phước và hoạt động của Guru Rinpoche. Sự ban phước và hoạt động này tiếp tục hiển lộ trong tất cả những vị Thầy và Đạo sư vĩ đại là những hiện thân của Guru Rinpoche. Guru Rinpoche không chết. Guru Rinpoche không tịch diệt. Guru Rinpoche tiếp tục biểu lộ hoạt động kỳ diệu này để mang lại lợi lạc cho chúng sinh hiện nay và trong tương lai.</p>
<p style="text-align: justify;">Không điều nào trong giáo lý này mâu thuẫn với bất kỳ giáo lý nào được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trao truyền. Cuộc chuyển Pháp luân lần thứ ba của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là cuộc chuyển Pháp luân liên quan tới bản tánh rốt ráo của thực tại và chính trong lần chuyển Pháp luân này mà nền tảng của giáo lý Kim Cương thừa được tìm thấy. Tuy nhiên, trong thời gian và không gian đặc biệt của chúng ta, chính Guru Rinpoche là người hữu hiệu nhất trong việc phát triển và giới thiệu những giáo lý Kim Cương thừa này.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong những nhận thức thông thường của chúng ta những gì chúng ta tri giác là hiện tượng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, là bậc sinh ra như một thái tử ở một nơi vào thời đó thuộc miền bắc Ấn Độ, là nam tử của Vua Shudodena (Tịnh Phạn) và Hoàng hậu Mayadevi (Tịnh Diệu). Ngài lớn lên và đạt được Giác ngộ, chuyển Pháp luân, nhập Niết bàn, di hài được hỏa thiêu và để lại xá lợi vẫn còn tồn tại cho chúng ta tới ngày nay.</p>
<p style="text-align: justify;">Tinh túy của Guru Rinpoche thì bất sinh và bất diệt. Nó không phải là cái gì chúng ta có thể giới hạn vào một thực thể ra đời vào một lúc nào đó và chấm dứt hiện hữu vào một thời điểm khác. Thân của Guru Rinpoche không phải là một thân thể gồm máu và thịt. Sự hiện diện của Guru Rinpoche không được đặt nền trên bất kỳ nền tảng vật lý nào. Tinh túy đó luôn luôn hiện diện. Nó đã luôn luôn tồn tại và lúc nào cũng sẽ tồn tại, bởi nó không lệ thuộc vào những giới hạn của bất kỳ thân tướng hữu hình nào. Có nhiều dịp các vị vua và thượng thư ở Ấn Độ cố gắng ám sát Guru Rinpoche. Có một lần Ngài bị thiêu sống. Một người bình thường sẽ chết ngay lập tức, nhưng thân thể Ngài không bao giờ bị tổn hại về mặt vật lý trong mọi cách thế bởi hiện thân của Ngài không có tính chất bình thường.</p>
<p>Khi Guru Rinpoche tới xứ Tuyết và vua Tây Tạng lễ lạy Ngài, nhà vua cúi mình và chạm đầu vào nơi mà ông nghĩ là đầu gối của Guru Rinpoche an tọa phía trước nhà vua. Tuy nhiên, đầu vua lướt qua thân Guru Rinpoche và chạm vào bên dưới tấm thảm. Khi Guru Rinpoche rời Tây Tạng tới cõi của quỷ ăn thịt người, Ngài không chết theo một cách bình thường và lìa bỏ thân xác. Ngài thực sự rời Xứ Tây Tạng theo một cách thế kỳ diệu – là điều mà mọi người hiện diện nhân dịp đó đã chứng kiến.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy nhiên, tôi từng nghe rằng ở Tây phương có những người tham gia vào việc buôn bán xá lợi của Guru Rinpoche! Chẳng hạn như người ta nói rằng đó là những sợi tóc lấy từ đầu của Guru Rinpoche. Có một hộp terma do Jatson Nyingpo khám phá được nhắc tới như một sợi tóc của Guru Rinpoche, nhưng nó giống một sợi (tia) ánh sáng cầu vồng hơn – không thực sự có sợi tóc nào ở đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Thiền định về Lạt ma gốc của ta như hiện thân đích thực của tinh túy và những sự ban phước của Guru Rinpoche có nghĩa là mọi thực hành Bổn tôn mà bạn thực hiện, hay mọi hoạt động mà bạn có ý định làm trong thực hành của bạn – dù là hoạt động làm an bình (tức tai), làm giàu có (tăng ích), lôi cuốn (kính ái), hay phẫn nộ (hàng phục) – trong tất cả những cách thế này sự thực hành của bạn sẽ thành công và có kết quả mỹ mãn. Nếu bạn cầu nguyện Lạt ma của bạn như bất khả phân với Guru Rinpoche với một tâm thức tràn đầy niềm tin và sùng mộ thì Guru Rinpoche không bao giờ xa rời bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi tới thực hành Bổn tôn, chúng ta có thể nhận thấy những phán đoán phát khởi trong tâm ta, chẳng hạn như nói rằng Bổn tôn này tốt hơn Bổn tôn kia, hay Bổn tôn này mạnh mẽ hơn Bổn tôn kia, hay với Bổn tôn này thì sự ban phước đến nhanh hơn. Những loại tư tưởng thông thường này không thực sự thích hợp khi ta đang đối xử với sự việc thuộc loại này. Yếu tố quan trọng duy nhất là sự quan tâm đầy sùng mộ và niềm tin trong tâm đệ tử. Có thể là trong một vài tình huống, niềm tin của bạn mạnh mẽ hơn nơi một Bổn tôn nhất định và vì thế thực hành Bổn tôn đó hữu hiệu hơn đối với bạn. Nhưng điều đó không có nghĩa là ở một bình diện rốt ráo hơn có sự khác biệt được lập ra giữa những phương diện khác nhau của bậc giác ngộ. Tất cả các ngài đều xuất hiện từ phạm vi bao la duy nhất của giác tánh phi thời gian như những hiển lộ đích thực như nhau của sự ban phước và năng lực. Có thể nói là không có đẳng cấp trong các Bổn tôn. Không phải là một vài vị mạnh mẽ hơn những vị khác, hay một vài vị linh thiêng hơn những vị khác, hay một vài vị mang lại nhiều lợi lạc hơn những vị khác. Đúng hơn, vấn đề nằm ở chỗ bạn được thúc đẩy tới mức độ nào theo một hướng nhất định với tư cách là một hành giả.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu bạn bị bận tâm về mức độ bạn nhận lãnh những sự ban phước từ Bổn tôn hay từ việc thực hành của bạn, thì sẽ còn lợi ích hơn nữa khi bạn khảo sát xem ở mức độ nào bản thân bạn đang phát triển niềm tin và lòng sùng mộ đối với Bổn tôn đó và đối với việc thực hành của bạn. Tâm ta càng ấp ủ sự hoài nghi và bất kỳ điều gì khác ngoài một niềm tin vững chắc trong sáng chân thành nơi việc thực hành của ta, thì bản thân ta càng thêm lầm lạc. Ta ngăn che tâm thức của chính mình bằng sự hoài nghi, chao đảo và thiếu sự xác quyết và tin cậy đó. Chính ở trên bình diện đó chúng ta có thể nói rằng không có sự ban phước trong thực hành. Không phải vì Bổn tôn không có sự ban phước. Không phải vì Lạt ma không có sự ban phước. Nhưng chính là bởi đệ tử đóng kín đối với sự ban phước đó bằng sự hoài nghi hay mê lầm của họ.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Thực hành pháp Guru Yoga</b></p>
<p style="text-align: justify;">Phương cách thực sự trong đó bạn thực hiện thiền định guru yoga là quán tưởng bản thân bạn trong thân tướng của một Bổn tôn, trong trường hợp này là nữ Bổn tôn Vajrayogini. Hãy thiền định trong không gian trên đầu bạn, bằng độ dài khoảng một cubit trên đỉnh đầu (bằng bề dài khoảng một cẳng tay của bạn), là một ngai tòa làm bằng ba hoa sen, cái này trên cái kia – một hoa sen trắng, đỏ và xanh dương đậm. Bạn quán tưởng chiếc đĩa dẹt hình mặt trăng viên mãn trên ngai tòa ba hoa sen này. Trên đĩa này bạn thiền định thân tướng của Guru Rinpoche, coi Ngài là tinh túy của tất cả những sự ban phước của tất cả chư Phật và Bồ Tát được hợp nhất trong thân tướng duy nhất này. Mặc dù sự hiển lộ của thân tướng Guru Rinpoche mang một hình tướng nào đó với tư thế, những điệu bộ, vật trang sức và y phục đặc biệt, tinh túy (bản chất) của ngài thì bất khả phân với bản chất của Lạt ma gốc của bạn. Việc cầu nguyện với sự xác tín này là nền tảng cho thực hành guru yoga.</p>
<p style="text-align: justify;">Thân tướng đặc biệt của Guru Rinpoche có sắc trắng hơi pha đỏ. Ngài có một mặt, hai bàn tay và vẻ biểu lộ của ngài được mô tả là có phần phẫn nộ trong ý nghĩa về mặt cơ bản thì đó là một biểu lộ an bình thoáng chút phẫn nộ – chứ không phải là một biểu lộ phẫn nộ rõ ràng. Thân Guru Rinpoche được tô điểm ba mươi hai hảo tướng chính và tám mươi hảo tướng phụ khiến sắc thân của Ngài không có điều gì làm người nhìn thấy phải khó chịu, phiền lòng, hay cảm thấy thiếu cân xứng. Mái tóc Ngài chảy xuống vai và lưng. Trên đầu Ngài là vương miện hoa sen mang lại sự giải thoát cho tất cả những ai nhìn thấy nó.</p>
<p style="text-align: justify;">Thân tướng của Guru Rinpoche mặc một áo khoác lộng lẫy được nói tới là Áo Khoác của Vua Sawok. Nguồn gốc của chiếc áo này được truy nguyên từ một sự kiện đặc biệt khi Guru Rinpoche đang ở một miền ngày nay người Tây Tạng gọi là Tso Pema hay Rewalsar ở Ấn Độ. Vua xứ này dâng chiếc áo choàng của mình cho Guru Rinpoche. Để công nhận việc vị vua thế tục này dâng cúng biểu tượng tráng lệ của Guru Rinpoche, thân tướng Guru Rinpoche khoác chiếc áo choàng ngoài này. Ngoài ra, Guru Rinpoche mặc một y tu sĩ theo nghi thức tượng trưng cho giới luật Tiểu thừa. Ngài được tô điểm bằng những vật trang sức quý báu như các bông tai, chuỗi hạt, vòng xuyến và vòng chân. Bàn tay phải ngài cầm một chày kim cương năm chấu nơi trung tâm tim. Bàn tay trái đặt trong lòng trong một cử chỉ quân bình thiền định, cầm một tách sọ người đầy cam lồ trong đó có một bình đầy chất cam lồ bất tử.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong chỗ gập của khuỷu tay trái của Guru Rinpoche có một chĩa ba là một ám chỉ kín đáo nguyên lý nữ, phương diện của Vajra Yogini. Những phối ngẫu khác nhau như Yeshe Tsogyal và Mandarava được kết hợp với Guru Rinpoche. Căn cứ vào việc về bản chất các phối ngẫu này hoàn toàn cùng một bản tánh với Vajra Yogini, như thế đây là ý nghĩa của chĩa ba trong chỗ gập của khuỷu tay trái.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi ta nhận ra sự quan hệ của yab và yum (phối ngẫu nam/nữ hay phối ngẫu cha/mẹ) được áp dụng cho các Bổn tôn, chúng ta không nên tạo ra một sai lầm hiển nhiên khi cho rằng điều này phải thực hiện với người nam/nữ trong ý nghĩa vật lý. Các Bổn tôn không phải là những chúng sinh nam và nữ, nhưng là những năng lực nam và nữ. Hình tượng lưỡng cực của người nam và nữ minh họa sự hợp nhất nguyên thủy của sắc tướng (hay thân tướng) và tánh Không. Một trong những miêu tả của hình tượng này là miêu tả phương diện nam, phương diện yab, ám chỉ sắc tướng hiện tượng trong khi yum, phương diện nữ, là biểu lộ của tánh Không. Vì thế cách thức trong đó các Bổn tôn hiển lộ chỉ là một biểu lộ trực tiếp của bản tánh nền tảng của thực tại như nó là.</p>
<p style="text-align: justify;">Dakini Yeshe Tsogyal nổi tiếng vì từng là phối ngẫu của Guru Rinpoche, nhưng chúng ta nên nhớ rằng với tư cách là phối ngẫu của Ngài, chức năng đầu tiên của bà là thâu thập và hệ thống hóa các giáo lý của Guru Rinpoche. Vai trò của bà rất giống vai trò của đệ tử của Đức Phật là Ananda đã thực hiện sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, đó là thâu thập những giáo lý của Đức Phật để chúng có thể được truyền lại cho những thế hệ tương lai. Đây đúng là chức năng của Yeshe Tsogyal – duy trì, hệ thống hóa, sưu tầm và thu thập những giáo lý của Guru Rinpoche. Trong khi Dakini Yeshe Tsogyal đã xuất hiện trong thân tướng một phụ nữ ở Tây Tạng, tinh túy (bản chất) rốt ráo của bà là tinh túy của một Dakini của giác tánh phi thời gian. Vì thế không có mâu thuẫn nào trong hiển lộ của bà mà cốt tủy là một phụ nữ hay là một chĩa ba được mang trong chỗ gập của khuỷu tay trái của Guru Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Thêm vào đó, bạn thiền định rằng thân tướng của Guru Rinpoche ở trên đầu bạn an tọa trong tư thế kim cương viên mãn (kiết già) với chân trái ở trên đùi phải và chân phải ở trên đùi trái. Hãy thiền định thân tướng của Ngài đang phóng ra muôn phương những tia sáng chói lọi.</p>
<p style="text-align: justify;">Vật trang sức vô tận của thân tướng Guru Rinpoche là tinh túy của nguyên lý Tăng đoàn; vật trang sức vô tận của ngữ của Ngài là nguyên lý của Pháp; vật trang sức vô tận của tâm ngài là nguyên lý của Phật như một suối nguồn của sự quy y (nương tựa). Những phẩm tính của Guru Rinpoche hiện thân nguyên lý Bổn tôn được chọn lựa của Kim Cương thừa; hoạt động của Ngài hiện thân nguyên lý Bổn tôn được chọn lựa của các Dakini và Dharmapala (Hộ Pháp). Tóm lại, những gì xuất hiện lúc ban đầu chỉ là thân tướng của Guru Rinpoche, khi được thấu hiểu trên một bình diện rốt ráo hơn thì chính là tinh túy đích thực của tất cả chư Phật, Bổn tôn, Daka và Dakini, Hộ Pháp và toàn bộ tập hội rộng lớn của Tam Bảo và ba cội gốc (3), tất cả được bao gồm trong một hiển lộ duy nhất.</p>
<p>Bất luận Bổn tôn đặc biệt mà bạn đang thiền định trong thực hành cá nhân của riêng bạn và bất luận thân tướng đặc biệt mà bạn đang quán tưởng là ai, điều quan trọng là bạn quán tưởng thân tướng ấy là sắc tướng thuần tịnh không có bất kỳ tính chất thật có hay hữu hình nào. Bạn không quán tưởng Bổn tôn như một thân thể gồm thịt và máu, nhưng đúng hơn là một thân thể hoàn toàn không có thực chất – một thân tướng không là gì ngoài sự xuấât hiện thuần tịnh không có chút vững chắc hay thực chất nào. Ví dụ như khi bạn đang thực hành ka-gye (tám mệnh lệnh về thực hành sadhana), nếu bạn đang thiền định về Vajrakilaya (4) hay Chemchog hay bất kỳ heruka (5) chính yếu nào của giáo khóa này, việc quán tưởng trong những thực hành rộng lớn hơn bao hàm sự quán tưởng căn bản thân tướng bạn như thân tướng của Bổn tôn với toàn bộ các mạn đà la của các Bổn tôn xuất hiện ở các điểm trong thân bạn được kết hợp với việc tập hợp của năng lực vi tế. Vì thế bạn không quán tưởng một thân tướng có một khung xương, một hệ thống tuần hoàn, một hệ thống tiêu hóa hay cơ bắp. Không có yếu tố nào trong những yếu tố vật lý thông thường này đi vào việc hình dung của bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong thời đại và không gian của chúng ta Guru Rinpoche là suối nguồn cho những dòng truyền thừa mà ta nhận lãnh. Mặc dù chúng ta không thể nhận thức trực tiếp sự hiện diện thực sự của Guru Rinpoche, ta vẫn nối kết với suối nguồn đó nhờ dòng truyền thừa không đứt đoạn được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Khi chúng ta nương tựa Lạt ma như hiện thân đích thực của Guru Rinpoche và bất khả phân với Ngài, thì chúng ta trực tiếp nối kết với suối nguồn không đứt đoạn đó đã truyền xuống chúng ta về mặt lịch sử.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong cõi thuần tịnh tối thượng Akanishta, Guru Rinpoche đã nhận sự trao truyền từ Dakini tên là Leche Wangmo, thiên nữ đầy năng lực của sự hoạt động. Tiến trình trong đó Guru Rinpoche thọ nhận sự trao truyền là tiến trình vị Dakini này biến Ngài thành một chủng tự hung mà bà nuốt vào bụng. Khi chữ hung đi qua các luân xa trong thân bà, Ngài thọ nhận bốn cấp độ quán đảnh: quán đảnh bình chứa, quán đảnh bí mật, quán đảnh giác tánh trí tuệ và quán đảnh thứ tư. Bà trục xuất Ngài qua cơ quan bí mật của bà và Ngài lấy lại thân tướng của mình. Đây rõ ràng không phải là một tiến trình bình thường của việc nuốt một vật nào đó, tiêu hóa và bài tiết nó.</p>
<p style="text-align: justify;">Tiến trình đặc biệt này cũng tìm thấy sự biểu lộ của nó trong nhiều abisheka hay các lễ quán đảnh được các Đạo sư kim cương thực hiện. Những buỗi lễ này bao gồm những quán tưởng tương tự trong đó đệ tử được chuyển hóa thành một chữ, được Đạo sư kim cương nuốt vào bụng, được chuyển hóa và lại được sinh vào thế giới như Bổn tôn. Đây là những tiến trình nhờ đó khi ban phước cho đệ tử, Đạo sư kim cương tịnh hóa dòng tâm của đệ tử về những hậu quả của các ác hạnh và những che chướng và trao truyền năng lực tâm linh của lễ quán đảnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Một khi nhờ Đạo sư kim cương mà đệ tử được phát triển như Bổn tôn, đệ tử duy trì sự đồng nhất với Bổn tôn được chọn lựa trong suốt thời gian lễ quán đảnh. Đệ tử nhận ra tinh túy của mình là tinh túy của Bổn tôn hiển lộ trong thân tướng đặc biệt đó. Việc đệ tử nhận thức mình là Bổn tôn là samayasattva (nguyện tát đỏa), phương diện hứa nguyện, là cái mà Đạo sư kim cương thấm đẫm với jnanasattva (trí tát đỏa), phương diện giác tánh phi thời gian. Sau đó Đạo sư kim cương tiến hành sử dụng những chất thể hay vật phẩm khác nhau như chiếc bình v.v.. như những biểu tượng trao truyền sự ban phước tối thượng của những cấp độ quán đảnh khác nhau. Chính trên nền tảng đó mà sự trao truyền thực sự năng lực và sức mạnh tâm linh có thể xảy ra.</p>
<p style="text-align: justify;">Đây chỉ là một biểu lộ của một nguyên lý rộng lớn hơn nhiều. Dù chúng ta để hết tâm trí trong những hoạt động của Pháp hay trong công việc bình thường, chính tâm thức của ta là yếu tố quan trọng nhất – tâm ta nhìn tình huống ra sao, tâm ta có liên quan với những hoàn cảnh thế nào. Ở đây cả Lạt ma lẫn đệ tử đều có một trách nhiệm: để sự trao truyền thực sự xảy ra, tâm của Lạt ma và tâm của đệ tử quan niệm tình huống theo một cách thế thích hợp. Khi ấy và chỉ khi ấy mới thực sự có thể có sự ban phước đích thực trong một lễ quán đảnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Trở lại thiền định thực sự của guru yoga: sau khi quán tưởng thân tướng của Guru Rinpoche như sự hợp nhất của chư Phật và mọi suối nguồn quy y ở trên đỉnh đầu bạn, bạn thiền định rằng thân tướng được đánh dấu ở trán với một chữ om màu trắng, ở cổ họng với một chữ ah màu đỏ, ở trung tâm tim với một chữ hung màu xanh dương đậm và ở trung tâm rốn với một chữ hri xanh lá cây. Thêm nữa, bạn thiền định rằng trên lòng bàn tay và lòng bàn chân của thân tướng Guru Rinpoche là bốn chữ ha ri ni sa. Những tia sáng chiếu sáng khắp muôn phương từ những chữ này khẩn cầu những sự ban phước của mọi suối nguồn quy y quay trở lại và thấm nhập vào thân tướng của Ngài ở trên đỉnh đầu bạn. Với một sự nhất tâm bạn bắt đầu phần thực hành thực sự của pháp guru yoga, nó bao gồm sự khẩn cầu Lạt ma và trì tụng thần chú Đạo sư kim cương, thần chú của Guru Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Tiếp theo phần chính của thực hành, trước tiên bạn thiền định rằng từ chữ om trắng ở trung tâm trán của Guru Rinpoche xuất hiện một tia sáng trắng, giống như một ngôi sao băng, đi vào trán bạn và hoàn toàn tràn ngập thân thể bạn. Ánh sáng trắng tịnh hóa bạn trên bình diện vật lý về những hậu quả của các che chướng và ác hạnh, thấm đẫm thân bạn với những sự ban phước của thân giác ngộ. Bằng một tiến trình tương tự bạn thiền định rằng từ trung tâm cổ họng của Guru Rinpoche, từ chữ ah màu đỏ, xuất hiện một tia sáng đỏ đi vào trung tâm cổ họng của bạn, tịnh hóa ngữ của bạn. Từ trung tâm tim của Guru Rinpoche, từ chữ hung màu xanh dương đậm, xuất hiện một sợi hay sợi tơ ánh sáng giống như một làn khói hương thoang thoảng thâm nhập trung tâm tim và tịnh hóa tâm bạn. Và cuối cùng bạn thiền định rằng từ tất cả những trung tâm của thân Guru Rinpoche xuất hiện những tia sáng cầu vồng năm màu, trắng, đỏ, vàng, xanh lá cây và xanh dương, tất cả những tia sáng này được thâu rút vào các luân xa của riêng bạn và tịnh hóa những dấu vết cuối cùng của sự che chướng và mang lại cấp độ thứ tư của sự quán đảnh. Theo cách này bạn nhận lãnh bốn cấp độ quán đảnh, là quán đảnh bình chứa, bí mật, giác tánh trí tuệ và quán đảnh thứ tư. Điều này thiết lập tiềm năng cho sự chứng ngộ của riêng bạn theo thứ tự, là những chứng ngộ thuộc Hóa thân, Báo thân, Pháp thân và Svabhavikakaya (Thân tự tánh), tổng thể của ba kaya (thân).</p>
<p style="text-align: justify;">Khi tới lúc thực sự chấm dứt thời khóa, bạn thiền định rằng thân tướng của Guru Rinpoche ở trên đỉnh đầu bạn tan hòa thành ánh sáng. Ánh sáng này thấm nhập vào bạn và vào lúc đó bạn đi vào giai đoạn thành tựu vô tướng của thực hành. Bạn thiền định rằng thân, ngữ và tâm giác ngộ của Guru Rinpoche tuyệt nhiên không xa lìa thân, ngữ và tâm của riêng bạn. Đó là sự hợp nhất bất nhị viên mãn. Bạn thiền định trong một tâm thái vô tướng, không có bất kỳ cấu trúc quy chiếu nào, không có bất kỳ sự tạo tác khái niệm nào, chỉ đơn giản để tâm bạn nghỉ ngơi trong trạng thái bất nhị đó càng lâu càng tốt. Tiếp sau đó, bạn kết thúc với những lời nguyện hồi hướng và nguyện ước.</p>
<p style="text-align: justify;">Có một số phương pháp đặc biệt khác trong đó sự quán tưởng của thực hành guru yoga được giới thiệu tùy theo các dòng truyền thừa đặc biệt, các truyền thống đặc biệt và ngay cả những hoàn cảnh đặc biệt. Nhưng các nguyên lý tổng quát được mô tả trong giới thiệu này có thể áp dụng trong mọi trường hợp: bạn quán tưởng Lạt ma ở trên đỉnh đầu bạn. Trong trường hợp đặc biệt này bạn hình dung thân tướng của Guru Rinpoche là thân tướng hiện thân mọi suối nguồn của sự quy y. Trong những hệ thống thực hành khác bạn có thể được chỉ dẫn để quán tưởng một đám đông thực sự của các suối nguồn quy y, giống như một tập hội rộng lớn, trên đỉnh đầu bạn. Hay bạn có thể được dạy để quán tưởng một dòng truyền thừa, với mỗi nhân vật của dòng truyền ở trên nhân vật kia, kéo thẳng lên ở trên đỉnh đầu bạn. Có những chi tiết khác nhau trong những cách quán tưởng đặc biệt tùy thuộc vào hệ thống bạn đang nghiên cứu, nhưng bạn nên hiểu rằng mặc dù có vẻ có những khác biệt trong các chi tiết, nhưng bản tánh cốt tủy của thực hành thì đồng nhất trong mỗi trường hợp.</p>
<p style="text-align: justify;">Như tôi đã nói ở trên, những phẩm tính quan trọng nhất để bảo đảm sự thành công của việc thực hành trong tâm thức đệ tử là niềm tin, lòng sùng mộ, sự tin cậy và thị kiến thanh tịnh. Nếu một đệ tử thực sự nhất quyết nhận được lợi lạc từ việc thực hành hay kết hợp với Pháp thì những phẩm tính đó rất cần thiết./.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Chokyi Nyima (Richard Barron) dịch sang Anh ngữ. </b><br />
<b>Bill Speckart biên tập.</b></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Nguyên tác: “<b>Guru Yoga Teaching</b>” </i><br />
<i>by H.H. Penor Rinpoche</i><br />
<i><a href="http://palyul.org/eng_teachings-guruyoga.htm#pema">http://palyul.org/eng_teachings-guruyoga.htm#pema</a></i><br />
<i>Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên</i></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Chú thích:</b></p>
<p style="text-align: justify;">(1) H.H. Penor Rinpoche sinh năm 1932 tại miền Powo thuộc tỉnh Kham, Đông Tây Tạng. Ngài là vị Hộ trì Ngai tòa thứ 11 của Dòng Palyul của phái Nyingma. Ngài được coi là một trong những Đạo sư xuất sắc nhất của truyền thống Phật Giáo Tây Tạng.<br />
(2) Vajrabhairava: Hiện thân phẫn nộ của Đức Manjushri (Văn Thù). Ngài là Bổn tôn chính của phái Gelupa. Là một Hộ Pháp, ngài giải trừ mọi chướng ngại của hành giả trên con đường.<br />
(3) Ba cội gốc: Lạt ma, Bổn tôn, Dakini (hay những vị Bảo trợ).<br />
(4) Vajrakilaya: Một trong những Bổn tôn chính của phái Nyingma thuộc về Các Giáo lý Tám Sadhana.</p>
<p style="text-align: justify;">(5) Heruka: Nghĩa đen là ‘người uống máu.’ Một Bổn tôn phẫn nộ; người uống máu của sự chấp ngã.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/giao-ly-guru-yoga/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đôi nét về Đức Jetsunma Ahkon Lhamo</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/doi-net-ve-duc-jetsunma-ahkon-lhamo/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/doi-net-ve-duc-jetsunma-ahkon-lhamo/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 17 Sep 2015 05:32:46 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Palyul Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Palyul]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5567</guid>
		<description><![CDATA[Jetsunma Ahkon Lhamo là phụ nữ Tây phương đầu tiên được công nhận là Đạo sư Hoá Thân hay Tulku của Phật Giáo Tây Tạng. Sinh tại Brooklyn, New York, được kế thừa truyền thống Ý và Do Thái, lòng bi mẫn và khát khao chấm dứt nỗi khổ của thế giới đã được biểu lộ thật rõ ràng trong&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/doi-net-ve-duc-jetsunma-ahkon-lhamo/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Jetsunma Ahkon Lhamo là phụ nữ Tây phương đầu tiên được công nhận là Đạo sư Hoá Thân hay Tulku của Phật Giáo Tây Tạng. Sinh tại Brooklyn, New York, được kế thừa truyền thống Ý và Do Thái, lòng bi mẫn và khát khao chấm dứt nỗi khổ của thế giới đã được biểu lộ thật rõ ràng trong con người bà từ thủa thiếu thời.</p>
<p style="text-align: justify;">Jetsunma bắt đầu giảng dạy năm 1981, quy tụ những đệ tử ước muốn tìm ra một con đường thoát khỏi đau khổ và vô minh. Năm 1985, His Holiness Pedma Norbu (Penor) Rinpoche - hiện là Vị Lãnh đạo Tối cao của phái Nyingma, dòng truyền thừa cổ xưa nhất của Phật Giáo Tây Tạng, cũng là vị trì giữ ngai tòa của hệ thống tu viện Palyul rộng lớn - viếng thăm trung tâm của bà trong lần đầu tiên Ngài du hành tới Châu Mỹ. His Holiness đã tỉ mỉ hỏi bà về căn bản và những phương pháp giảng dạy của bà. Cuối cùng, His Holiness đã tuyên bố rằng bà đang giảng dạy những giáo huấn Đại thừa thuần túy. Ngài ban cho những đệ tử của Jetsunma sự quy y và những giới nguyện Bồ Tát theo truyền thống Phật Giáo và tiên đoán rằng trung tâm của bà sẽ phát triển mạnh mẽ.</p>
<p style="text-align: justify;">Cũng trong năm này trung tâm của Jetsunma bắt đầu khóa tỉnh thức cầu nguyện 24 giờ một ngày không ngừng nghỉ được tiếp tục cho tới ngày nay (tháng 4 năm 1999 đánh dấu kỷ niệm 14 năm).</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/images-13.jpg"><img class="  wp-image-5571 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/images-13.jpg" alt="images (1)" width="462" height="445" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>His Holiness Penor Rinpoche và Jetsunma Ahkon Lhamo </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1987, Jetsunma du hành tới tu viện của His Holiness Penor Rinpoche ở Bylakuppe, Ấn Độ, ở đó Ngài và His Holiness Dilgo Khyentse quá cố chính thức công nhận bà là Hóa Thân của Genyenma Ahkon Lhamo, một vị thánh Tây Tạng vào thế kỷ 17. Genyenma Ahkon Lhamo đã có công xây dựng tu viện Palyul nguyên thủy ở đó anh ngài, Vidyadhara Kunzang Sherab là vị trì giữ ngai tòa đầu tiên. Trong hầu hết đời mình, Genyenma Ahkon Lhamo đã sống và thực hành trong một hang động phía trên Palyul, là nơi đã trở thành một địa điểm cho những cuộc hành hương. Những dấu hiệu kỳ diệu xuất hiện vào lúc ngài mất, kể cả sự phát sinh xá lợi linh thiêng nhất tại Palyul. Trong đời này, Penor Rinpoche đã cầu nguyện xá lợi này để Ngài có thể tìm thấy Hóa Thân của Genyenma Ahkon Lhamo. Một phần của xá lợi còn tồn tại sau cuộc Cách Mạng Văn Hóa của Cộng Sản Trung Hoa, và His Holiness đã tặng nó cho Jetsunma năm 1988 vào lễ đăng quang chính thức của bà. Hiện nay nó được cất giữ tại chùa Poolesville. Trong dịp đăng quang của Jetsunma, His Holiness cũng tuyên bố trung tâm Poolesville là trụ xứ của dòng Palyul ở Tây phương và đặt tên cho nó là Kunzang Odsal Palyul Changchub Choling (Lục địa Pháp Toàn Giác của Tịnh Quang Tuyệt đối).</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/1053875117_GmHds-S.jpg"><img class="  wp-image-5573 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/1053875117_GmHds-S-300x280.jpg" alt="1053875117_GmHds-S" width="510" height="476" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong> Đức Orgyen Kusum Lingpa và Jetsunma Ahkon Lhamo</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1994, Jetsunma được công nhận thêm là Hóa Thân của Lhacham Mandarawa (một Hóa Thân của Đức Tara Trắng). Mandarawa là phối ngẫu tâm linh Ấn Độ của Đức Padmasambhava (Liên Hoa Sanh), Đạo Sư Kim Cương thừa thành lập Phật Giáo ở Tây Tạng. Một quyển tiểu sử 38 chương của Mandarawa do các đệ tử của bà dịch thuật chẳng bao lâu nữa sẽ được xuất bản. Sự công nhận này cũng đưa tới một chuyến hành hương quan trọng tới Ấn Độ và Nepal được thực hiện vào tháng Ba năm 1996. Trong chuyến đi này, Jetsunma và 25 đệ tử của bà viếng thăm những thánh địa được gắn liền với Mandarawa và Đức Padmasambhava. Một đoàn làm phim tài liệu chuyên nghiệp làm việc trong một chương trình về Phật Giáo tại Tây phương đã ghi lại chuyến hành hương này. Cũng theo cách đó, Jetsunma cũng nổi bật trong quyển “Tái sinh ở Tây phương,” của Vickie MacKenzie, một công trình nghiên cứu về những Tulku ở Châu Mỹ và Châu Âu.</p>
<p style="text-align: justify;">Tại trung tâm KPC (Kunzang Palyul Choling), Jetsunma đã duy trì một thời khóa biểu nghiêm nhặt trong việc giảng dạy và hướng dẫn những cuộc nhập thất, luôn luôn nhấn mạnh rằng cần phải phát triển lòng bi mẫn và nội quán phi thường vào chân tánh của các hiện tượng. Các đệ tử của bàhiện lên tới vài trăm người, bao gồm 34 vị thọ giới xuất gia (tăng và ni) theo truyền thống, một trong những nhóm lớn nhất ở Bắc Mỹ. Bà đã đứng ra tổ chức những buổi giảng dạy rộng rãi của các Lạt Ma Nyingma vĩ đại nhất còn sống, bao gồm việc Penor Rinpoche ban giảng toàn bộ các khóa Rinchen Terdzod và Nam Cho. Jetsunma cũng đã thiết lập một khóa nghiên cứu kinh viện và nhập thất bảy năm được gọi là Shedra, cũng như giám sát việc xây dựng 28 stupa (tháp) mà 10 cái trong số đó có thể được nhìn thấy trong nơi trú ngụ của muông thú hoang dã rộng 65 mẫu Anh. Và nổi tiếng do việc cúng dường bài ca sùng mộ cho những vị Thầy, giọng hát của Jetsunma có thể được nghe qua một đĩa CD mới có tên là “Sự Khẩn cầu,” hát lên lời cầu nguyện mãnh liệt của bà tới Đức Padmasambhava.</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên</i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/doi-net-ve-duc-jetsunma-ahkon-lhamo/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Thực hành tổng quát truyền thống Palyul</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/kinh-sach-palyul/thuc-hanh-tong-quat-truyen-thong-palyul/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/kinh-sach-palyul/thuc-hanh-tong-quat-truyen-thong-palyul/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 29 Aug 2015 13:26:24 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kinh sách Palyul]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3321</guid>
		<description><![CDATA[GIAI ĐOẠN CƠ BẢN (NGONDRO) Còn gọi là giai đoạn Ngondro, tức Pháp tu nền tảng hay Pháp tu dự bị. Trước tiên, hành giả phải tu tập, chiêm nghiệm, thiền quán Bốn bước khởi đầu bình thường và Năm bước khởi đầu phi thường. Để thực hiện Bốn bước này, hành giả phải dựa trên bốn phép quán niệm,&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/kinh-sach-palyul/thuc-hanh-tong-quat-truyen-thong-palyul/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;">GIAI ĐOẠN CƠ BẢN (NGONDRO)</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Còn gọi là giai đoạn Ngondro, tức Pháp tu nền tảng hay Pháp tu dự bị.</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Trước tiên, hành giả phải tu tập, chiêm nghiệm, thiền quán Bốn bước khởi đầu bình thường và Năm bước khởi đầu phi thường.</p>
<p style="text-align: justify;">Để thực hiện Bốn bước này, hành giả phải dựa trên bốn phép quán niệm, trong Kim cương Thừa gọi là Bốn phép chuyển tâm, bao gồm:</p>
<ol style="text-align: justify;">
<li><em> Thân người là quý: ý thức sự hy hữu được thân người để tu thành Phật quả.</em></li>
<li><em>Thân, tâm và hoàn cảnh đều vô thường: ý thức mình có thể chết bất cứ lúc nào nên cần phải cấp cấp nỗ lực tu trì.</em></li>
<li><em> Nhân nào quả nấy: ý thức khi mình hành động thiện thì sẽ mang lại kết quả tốt đẹp, còn hành động ác thì kết quả sẽ tai hại - chúng ta có thể tự do xoay chuyển nghiệp của mình.</em></li>
<li><em> Luân hồi là khổ: ý thức toàn bộ tiến trình sinh tử luân hồi, cho dù chúng ta có tái sinh ở cõi trời hay địa ngục đi nữa, thì chu trình này đều đau khổ.</em></li>
</ol>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Tiếp theo, để thực hiện Năm bước, hành giả phải thực hành:</em></strong></p>
<ol style="text-align: justify;">
<li><em>Quy y và lễ lạy: Nhằm tạo chỗ dựa vững chắc và thể nghiệm Phật, Pháp, Tăng ngay chính bản thân để tiến tới giải thoát, hành giả phải xưng tụng: Namo Buddhaya, Namo Dharmaya, Namo Sanghaya và lễ lạy năm vóc sát đất.</em></li>
<li><em>Phát Bồ đề tâm: Hành giả khởi Đại bi tâm, thương xót tất cả chúng sanh đang lặn hụp trong vũng lầy sinh tử, muốn đạt đến trạng thái giải thoát và chứng ngộ Phật quả một cách nhanh nhất để cứu độ họ. Hành giả trì tụng câu kinh Phát Bồ đề tâm để làm mạnh mẽ thêm ý nguyện thiêng liêng, cao cả đó.</em></li>
<li><em> Thanh tịnh nghiệp chướng: Hành giả sám hối tất cả lỗi lầm từ xưa đến nay theo pháp tu Đệ nhất thanh tịnh tội lỗi với Kim Cương Tát Đỏa - quán tưởng và trì tụng thần chú Bách tự Kim Cang, hoặc lạy sám với 35 vị Phật.</em></li>
<li><em>Tích lũy công đức: Hành giả muốn chứng quả vị Phật thì phải thành tựu viên mãn Công đức và Trí tuệ, bằng cách cúng dường Mạn đà la - dâng cúng những gì quý giá nhất lên chư Phật, chứng tỏ lòng thành của hành giả hướng dâng trọn vẹn cuộc đời cho sự giải thoát giác ngộ như chư Phật, nhờ vậy mà phát sinh được nhiều công đức.</em></li>
<li><em> Ân sủng của dòng truyền thừa: Pháp này vô cùng quan trọng. Hành giả hòa nhập tâm mình với tâm của bậc thầy qua pháp Đạo sư Du già (Guru Yoga) thông qua các nghi quỹ và thần chú. Vị đạo sư chính là sự thể hiện hữu hình cụ thể của Phật, Pháp và Tăng nên hành giả phải luôn lễ kính.</em></li>
</ol>
<p style="text-align: justify;">Theo pháp tu Tây Tạng, hành giả phải thực hiện các pháp này mỗi pháp là 111.111 lần với tất cả sự chí thành, chí tâm và toàn lực. (Thực ra, con số này đã trừ bớt 10% lơ đễnh, còn lại 100.000 lần). Riêng pháp cuối cùng, hành giả phải trì tụng câu chú của dòng truyền thừa từ 1.300.000 đến 2.000.000 lần, bởi pháp này vốn quan trọng nhất. Tuy thế, người ta vẫn thường gọi pháp này là pháp tu 500.000, dù túc số có nhiều hơn. Pháp tu này chung cho cả ba dòng, riêng dòng Gelugpa (Mũ vàng) có đôi chút khác biệt.</p>
<p style="text-align: justify;">Để hoàn tất pháp tu Ngondro, đối với hành giả nhập thất, phải mất từ 6 tháng đến 1 năm mới xong; những hành giả không nhập thất song vẫn hành trì đều đặn mỗi ngày thì trung bình phải mất đến 3 năm mới xong.</p>
<p style="text-align: justify;">Hành giả tu tập pháp nền tảng, trước tiên cần phải có tâm xuất ly, muốn vượt thoát ra khỏi vòng luân hồi sinh tử (cốt yếu của Tiểu thừa) và phải dõng mãnh phát Bồ đề tâm (tinh túy của Đại thừa). Vì lòng bi mẫn, hành giả phát Bồ đề tâm là vì thương xót chúng sanh, không phải chỉ giải thoát cho riêng mình, mà cần phải đạt quả vị giải thoát một cách nhanh nhất để cứu độ chúng sanh. Phải hội đủ những yếu tố đó hành giả mới xứng đáng là một hành giả Mật tông và mới có đủ điều kiện để tu tập Kim Cương thừa.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Đại sư Tulku Nyima Rinpoche dạy rằng, pháp tu nền tảng hay dự bị này là để: “thanh lọc hóa cái bình chứa, biến bình chứa thành bình tịnh thủy trước đã. Thầy có thể đoan chắc là các con sẽ mau chóng thành tựu nếu chịu khó miên mật, kiên trì hoàn thiện các pháp tu dự bị! Trên con đường tu tập các pháp tu dự bị, thầy bảo đảm là các con sẽ đạt được nhiều kinh nghiệm sâu sắc, có khả năng chuyển hoá mãnh liệt. Đến lúc đó rồi thì các con sẽ trở thành những chiếc bình chứa hoàn hảo để đón nhận những giáo huấn Dzogchen!”</em></p>
<p style="text-align: center;">GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN (KYE-RIM)</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi được chín chắn qua lễ điểm đạo, chín chắn qua sự hiểu biết và thực hành giai đoạn Ngondro, hành giả tiếp tục được rèn luyện với vị thầy qua một thời gian để làm chín chắn thêm dòng tâm thức để bước vào những giai đoạn mới.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong giai đoạn này, hành giả luyện tập thiền quán về một vị Bổn tôn mà mình có duyên hay do thầy chọn. Có hành giả thích những vị Phật hiền, có hành giả thích những vị Phật trong hình tướng hung dữ, tùy theo nghiệp kết nối của họ. Giai đoạn này cũng gọi là thiền quán Bổn tôn.</p>
<p style="text-align: justify;">Cụ thể, hành giả sẽ quán cõi đất này chính là cõi Tịnh độ. Chỗ hành giả tu là cung điện của Bổn tôn. Nơi hành giả ngồi là đài sen, là tòa kim cương của Bổn tôn. Thân, khẩu của hành giả là thân, khẩu của Bổn tôn. Tâm hành giả an trụ trong định không lay động, nhất tâm, an trụ trong tâm của Bổn tôn. Nhờ đó, hành giả chuyển thức thành trí, nhận biết bởi do nghiệp của chúng sanh mà cõi này trở nên bất tịnh, còn đối với nhãn quan của chư Phật thì đây chính là Tịnh độ.</p>
<p style="text-align: justify;">Như thế, hành giả Mật tông lấy kết quả làm con đường. Nghĩa là, sau khi nhận được Quán đảnh, nhận được ân phước của vị Phật, hành giả thiền quán mình chính là vị Bổn tôn đó, thấy mình và Bổn tôn không khác. Không có sự cách biệt giữa một vị Phật xa xôi với hành giả trong cõi này.</p>
<p style="text-align: justify;">Mật tông lợi dụng tất cả những mong cầu, tham vọng nhất của bản ngã để tu tập. Khi bản ngã đó đã là một vị Phật thì hành giả không còn mong cầu gì nữa ngoài việc thiền quán về vị Phật đó. Nhờ được chín chắn và được gia trì bởi một vị đạo sư chứng đạo, việc quán tưởng của hành giả sẽ hoàn toàn không phải vọng tưởng. Bởi vị thầy của họ đã tu như vậy, chứng như vậy, trong hình thức như vậy và truyền trao tri kiến như vậy, nên đệ tử sẽ vâng theo lời dạy của thầy mà được thành tựu y như vậy, linh ảnh vị Bổn tôn giữa thầy và trò hoàn toàn không khác. Dĩ nhiên người học trò phải trải qua thời gian tích lũy công đức, tu hành đúng cách, hành trì miên mật và phải hoàn thiện hết tất cả các pháp môn mà bậc thầy đã chỉ dạy, như thế mới có cơ may tiến tới thành tựu viên mãn.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi cung thỉnh Bổn tôn từ cõi trí tuệ của ngài đến để cúng dường và tán thán, hành giả phải tu tập theo Thất nguyện Phổ Hiền (trong Thập nguyện Phổ Hiền), gồm:</p>
<ol style="text-align: justify;">
<li><em>Đảnh lễ chư Phật;</em></li>
<li><em>Cúng dường Tam bảo;</em></li>
<li><em>Sám hối nghiệp chướng;</em></li>
<li><em> Tùy hỷ công đức;</em></li>
<li><em> Cầu Phật chuyển bánh xe chánh pháp;</em></li>
<li><em> Xin Phật ở đời;</em></li>
<li><em> Hồi hướng công đức.</em></li>
</ol>
<p style="text-align: justify;">Hoàn thiện giai đoạn này, hành giả cần thực hiện pháp này theo đủ túc số Bổn tôn, tùy theo điều kiện mà chọn nghi quỹ ngắn hay nghi quỹ dài, và tùy theo pháp tu mà túc số có thể từ 6 triệu, 10 triệu, 32 triệu cho đến 100 triệu lần cho mỗi một câu thần chú của Bổn tôn. Theo đó, ở mức thấp nhất, nếu nhập thất, hành giả phải mất từ 1 cho đến 3 năm. Nếu không nhập thất, có thể cả đời hành giả vẫn không thực hiện đủ túc số. Ở những mức độ cao hơn, nhiều vị thầy đã trải qua gần hết cuộc đời trong chốn núi rừng u tịch mới có thể thành tựu được.</p>
<p style="text-align: center;">GIAI ĐOẠN HOÀN THIỆN (DZOG-RIM)</p>
<p style="text-align: justify;">Thực hiện xong những pháp tu Bổn tôn của giai đoạn phát triển, hành giả sẽ thực hành các pháp tu về kinh mạch và những bài tập thân thể (Tsa-lung - tiếng Tây Tạng; Hathat-yoga - tiếng Ấn) với những thủ ấn của Bổn tôn (thực hành Tsa-lung, Skr: Prana, Nada, Bindu) qua 6 pháp Du-già bí truyền đặc biệt, gồm: 1. Nội hỏa (Tumo) - pháp gốc rễ; 2. Huyễn thân (Gyulu); 3. Quang minh (Odsel); 4. Chuyển mộng (Milam); 5. Vượt trung ấm (Bardo); 6. Chuyển thần thức (Phowa) - nếu hành giả trong đời chưa thành Phật thì có thể thực hiện pháp này để chuyển thần thức về cõi Tịnh độ.</p>
<p style="text-align: justify;">Tiếp theo, hành giả thực hành Đại Toàn thiện (Dzogchen) bởi những pháp tu Du-già bí truyền cao cấp nhất (thông thường là Trekchod và Togal) để nhận biết Tâm Kim cương (Dorje-sem), đạt được Tam thân Phật (Ku-sum). Thành tựu pháp này, hành giả đạt được giác ngộ, tu vô tu tu, chứng vô chứng chứng, tự tại ra vào sanh tử, tự tại tái sanh, tự tại thị hiện và tự tại hóa độ chúng sanh, chứng đắc tập pháp bao la của một vị Phật.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/kinh-sach-palyul/thuc-hanh-tong-quat-truyen-thong-palyul/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử vắn tắt Đức Domang Yangthang Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-van-tat-cua-domang-yangthang-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-van-tat-cua-domang-yangthang-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 29 Aug 2015 13:15:59 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Palyul Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Palyul]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3318</guid>
		<description><![CDATA[Chương 1: Sự chào đời và công nhận là vị tái sinh của Đại Sư Domang Terchen Domang Yangthang Rinpoche – người làm rạng danh giáo lý của truyền thống Cựu Dịch, sinh vào ngày 10 tốt lành của tháng 11 năm Kỷ Tỵ (1929). Ngài chào đời ở vùng Yangthang, nằm gần xứ Sikkim hiện nay. Phụ thân Ngài&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-van-tat-cua-domang-yangthang-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Chương 1: Sự chào đời và công nhận là vị tái sinh của Đại Sư Domang Terchen</strong></p>
<p>Domang Yangthang Rinpoche – người làm rạng danh giáo lý của truyền thống Cựu Dịch, sinh vào ngày 10 tốt lành của tháng 11 năm Kỷ Tỵ (1929). Ngài chào đời ở vùng Yangthang, nằm gần xứ Sikkim hiện nay. Phụ thân Ngài là Lama Pema Drodud, vị đến từ tu viện Dzogchen vùng Do-kham. Mẫu thân Ngài là Bà Tenzin Chodron, con gái của Yangthang Ating thuộc dòng dõi gia đình “Tsan-O-Yu-Drag-Karpa”.</p>
<p>Sau khi Ngài chào đời, một vài dấu hiệu tuyệt vời đã xuất hiện, chẳng hạn chủng tử Om tự sinh trên răng của Ngài, một hình giống như ốc trắng ở chân răng, cùng nhiều điều khác. Không giống như những đứa trẻ khác, Ngài lớn khá nhanh.</p>
<p>Rất nhiều các bản văn Mật thừa chỉ ra rằng tiền thân của Yangthang Rinpoche – Ngài Domang Terchen (tức Dorje Dechen Lingpa) là hiện thân của Đức Lhatsun Namkha Jigme, một vị Khai Tạng Mật vĩ đại. Một bản văn nói rằng:</p>
<p>“Trong lục địa Lưới Ogmin Liên Hoa,</p>
<p>Nơi vùng đất thịnh vượng liên tục Dremoshong (Sikkim),</p>
<p>Cơn mưa Thánh Pháp Mật thừa không thể phá huỷ trút xuống</p>
<p>Jigme Pawo Kunsang Namgyal.</p>
<p>Vị mang danh hiệu Dorje sẽ phát lộ pháp du già chôn giấu từ kho tàng tâm,</p>
<p>Khi Ngài nhớ lại tất cả những điều được gieo trồng trong tâm Ngài trước đây”.</p>
<p>Và cũng từ kho tàng bổ sung Rigdzin Sogdrub của Đại Sư Lhatsun Namkha Jigme có</p>
<p>“Thánh địa tối thắng Dremojong (Sikkim), trung tâm của Nam Thiệm Bội Châu</p>
<p>Trong động kim cương Lhari Nyinku</p>
<p>Hiện thân tối hậu tinh tuý trọng yếu giác ngộ của tất thảy chư đạo sư Trì Minh Vương: Namkha Jigme.</p>
<p>Những bản văn Mật thừa của Ngài tự nhiên sinh khởi.</p>
<p>Kho tàng bổ sung của pho giáo lý Lama Rigdzin Sogdrub, thứ giải thích hoàn hảo các bản văn bí mật, được phát lộ bởi Dorje Dechen Lingpa, hoá thân của Jigme Pawo Kunsang Namgyal. Nguyện mọi sự tốt lành!”. Các nguồn tài liệu khác cũng nói rằng:</p>
<p>“Bậc thầy Đại Viên Mãn từ Sikkim, hoá thân Vimalamitra,</p>
<p>Heruka vinh quang Namkha Jigme Tsal</p>
<p>Hoá thân của Ngài là Jigme Pawo</p>
<p>Và hoá thân thứ ba là Dorje Dechen Lingpa.</p>
<p>Như được tán thán rõ ràng trong nhiều bản văn kim cương về chân nghĩa, Domang Terchen hay Dorje Dechen Lingpa, hoá thân của Traktung Jigme Pawo (vị này lại là hoá thân của Gyalwa Lhatsun Chenpo tức Lhatsun Namkha Jigme) đã phát lộ phần bổ sung của pho Terma “Rigdzin Sokdrub”, cùng hơn 12 bộ Kho Tàng mới (Tersar), dưới dạng Terma đất, cũng như Terma tâm. Ngài duy trì và giữ gìn trọn vẹn phần giáo lý cuối cùng của Đại Sư Lhatsun Namkha Jigme, và làm lợi lạc chúng sinh một cách rộng lớn.</p>
<p>Vị tái sinh của Ngài là Domang Yangthang Rinpoche hay Kunsang Jigme Dechen Odsel Dorje. Các vị Thánh Sư như Dzogchen Rinpoche thứ 5, đã chỉ ra cách tìm vị tái sinh này: “Hãy đi tới nơi gọi là Yangthang ở Sikkim! Chắc chắn các con sẽ tìm thấy vị tái sinh không mấy khó khăn”.</p>
<p>Dựa vào những chỉ dẫn này, Domang Soktrul Rinpoche cũng vài người khác đã tới Sikkim để tìm kiếm vị tái sinh. Khi đến vùng Yangthang, họ thấy vài đứa trẻ đang chơi đùa. Một trong số chúng tới chỗ họ và nói bằng tiếng địa phương vùng Sikkim, “Các ông đến thực sự muộn đấy!”.</p>
<p>Họ hỏi cậu bé tên vùng đó, và tên của cha cậu. Cậu đáp rằng, “Vùng này được gọi là Yangthang. Cha tôi là Pema Drodud”. Sau đó, cậu nói, “Hãy đến nhà tôi!”.</p>
<p>Đoàn tìm kiếm vô cùng ngạc nhiên trước điều này. Họ bảo với cha cậu rằng, cậu bé rất đặc biệt. Người cha đáp, “Đúng thế, thực sự cậu bé rất đặc biệt. Khi chào đời, vài âm thanh vang dội trên trời. Tôi đã ghi chép chúng lại”. Ông đưa cho họ bản ghi chép và nó nói rằng:</p>
<p>“Trên đỉnh thung lũng, có một ngọn núi tuyết trắng trong như Bảo tháp<a href="#_ftn1" name="_ftnref1">[1]</a>.</p>
<p>Ở dưới thung lũng, có những dòng sông lớn như xích sắt<a href="#_ftn2" name="_ftnref2">[2]</a>..</p>
<p>Trên đỉnh của vùng trung thung lũng trông như chày kim cương<a href="#_ftn3" name="_ftnref3">[3]</a></p>
<p>Ta ở đó: Dorje Dechen Lingpa!”.</p>
<p>Khi phái đoàn thấy những dòng này, cha cậu bé không biết họ tới đây để làm gì. Bởi những ghi chép này phù hợp với chỉ dẫn của Đức Dzogchen Rinpoche thứ 5 và các vị thầy khac không chút đối nghịch, Domang Soktrul Rinpoche công nhận cậu bé là vị tái sinh của Dorje Dechen Lingpa.</p>
<p><strong>Chương 2: Được thỉnh mời từ Sikkim tới Kham và tham dự nghi lễ đăng quang</strong></p>
<p>Bởi cậu bé đã được nhận ra là vị tái sinh chân chính, Domang Soktrul Rinpoche đã dâng lên nhiều ngọc báu, bao gồm vàng, bạc. Khi Rinpoche lên 9, Ngài cùng đoàn tuỳ tùng cưỡi ngựa và tiến về xứ Kham, Tây Tạng từ vùng đất thánh Sikkim, qua nhiều vùng đất thuộc miền trung Tạng, trong đó có Lhasa.</p>
<p>Trên đường tới Kham, họ đi hành hương tới nhiều Thánh địa linh thiêng thuộc vùng Utsang. Mười bốn tuổi (năm Nhâm Ngọ chu kỳ Rabjung thứ 16, tức năm 1942) Ngài tới tu viện Domang (Thbten Gepel Ling hay Domang Kelsang Gompa), thuộc vùng Dreho Drango Dzong, xứ Do-Kham. Ngài được đăng quang là vị tái sinh trên Pháp toà thuộc về hoá thân trước đó: Đức Domang Terchen.</p>
<p>Địa điểm nơi Ngài đản sinh ngày nay thuộc Sikkim, Ấn Độ. Ngài được thỉnh mời từ Sikkim tới vùng du mục Drango Li-khok-mey. Trong lịch sử, thật hiếm khi có một trường hợp tìm kiếm và thỉnh mời vị tái sinh từ một vùng đất xa đến vậy.</p>
<p><strong>Chương 3. Tinh tấn tu học dưới sự chỉ dạy của nhiều bậc đạo sư</strong></p>
<p>Kể từ khi còn nhỏ, Rinpoche đã nỗ lực trong việc nghiên cứu mọi chủ đề mà một Kim Cương Sư cần học hỏi: đọc, viết, múa [vũ điệu Kim Cương], vẽ, trì tụng cùng nhiều môn khác, từ các vị đạo sư, chủ yếu là Domang Soktrul Rinpoche, một đệ tử của hoá thân trước đó.</p>
<p>Từ nhiều bậc Thượng sư vĩ đại, chẳng hạn Tsakha Lama Tsullo, Khenchen Pema (vị được đặc biệt cử tới từ Tổ Đình Palyul để giảng dạy cho Rinpoche), Khenpo Lobsang Chodrak, Tulku Yeshe Dorje, Rahob Dzogtrul, Khenpo Yonga, Jyakong Tulku Dorje Dramdu (con trai của Traktung Dudjom Lingpa), Yukok Chatrewa, Mani Lama Pema Siddhi, và nhiều vị khác, Rinpoche hoàn thành việc nghiên cứu và quán chiếu về vô vàn bản kinh văn, trong đó có các chủ đề chung. Sau đấy, Ngài tiến hành các hoạt động du già như một vị yogi ẩn mật vĩ đại, và hoàn toàn tập trung vào thực hành nhập thất.</p>
<p>Các vị đạo sư phi phàm chính yếu của Rinpoche gồm Drubchen Lingtrul Rinpoche, Kyabje Khyentse Rinpoche, Sera Yangtrul Rinpoche, cùng những vị khác, như Ngài thường đề cập.</p>
<p><strong>Chương 4: Sống trong tù ngục vào thời biến loạn</strong></p>
<p>Sau khi Trung Quốc tới Tây Tạng, và trước khi hoàn cảnh trở nên thực sự đau khổ, nhiều vị đại sư xứ Do-Khan đã lên kế hoạch sống lưu vong, trong đó có Yangthang Rinpoche. Vì thế Ngài tới Tu viện Do-kok Drubchen và thỉnh ý Drubchen Lingtrul Rinpoche - Bổn Sư của Ngài rằng, “Liệu con có nên sống tha hương?”.</p>
<p>Đại Sư đáp rằng, “Con cần đón nhận khó khăn dù nó lớn đến nhường nào. Con không nên rời bỏ quê hương”.</p>
<p>Nương theo khai thị của Ân Sư, Yangthang Rinpoche không rời khỏi Xứ Tạng, mà đối diện với hiểm nguy.. Ngài tới vùng đất mà Ngài coi sóc, vùng Ke-phen-lo-kok-ma. Sau đó, Ngài bị chính quyền bỏ tù, và như thế trải qua nhiều đau đớn trong hơn 20 năm.</p>
<p>Lúc đó, có nhiều đạo sư và Tulku bị giam trong cùng nhà ngục. Trong số đó, Sera Yangtrul Rinpoche cũng bị giam cùng nơi với Rinpoche. Vì thế, Ngài thường tận hưởng bữa tiệc cam lồ Giáo Pháp về các thực hành thâm sâu và bí mật. Mặc dù phải trải qua nhiều khó khăn về thể xác, Ngài nhận lĩnh khổ đau và trao tặng hạnh phúc. Hơn thế, Rinpoche thấy nghịch cảnh là cảm hứng cho thiện hạnh và như thế, Ngài chủ yếu tập trung vào hành trì trong tù ngục.</p>
<p>Ngài chỉ nói với các đệ tử xung quanh rằng, Ngài có thể tiến hành thực hành chính yếu trong nhà tù.</p>
<p>Khi chính sách của Trung Quốc được nới lỏng, Rinpoche được thả. Lúc này Ngài là một vị Đại Sư - đối tượng của tín tâm và lòng sùng mộ. Bởi Ngài chào đời ở Ấn Độ, Rinpoche được chính quyền Trung Quốc mời đến làm việc trong học viện chính trị thuộc vùng Gamtse. Tận dụng cơ hội này, Ngài đã đóng góp lớn lao cho việc phục hồi văn hoá Tây Tạng và Phật Pháp.</p>
<p><strong>Chương 5: Giải thoát và thành thục những kẻ may mắn bằng quán đỉnh và khẩu truyền</strong></p>
<p>Yang thang Rinpoche đã hướng dẫn cho những chúng sinh may mắn vào con đường giải thoát và thành thục nhờ ban các quán đỉnh, khẩu truyền và chỉ dẫn cốt tuỷ thâm sâu. Năm 1991, Ngài tới nước Mỹ, ban quán đỉnh và khẩu truyền Pho Nyingtik Yabzhi ở California và thủ đô Washington D.C.</p>
<p>Năm 2000, theo lời thỉnh cầu của vị trưởng dòng thứ 3 của truyền thống Cổ Mật, Ngài Penor Rinpoche, Yangthang Rinpoche đã ban trọn vẹn quán đỉnh của hoá thân tiền nhiệm (Domang Terchen) cho Penor Rinpoche và tập hội những kẻ sùng mộ ở Tu viện Namdroling, miền Nam Ấn Độ, khi Penor Rinpoche ban quán đỉnh Rinchen Terzod cho đại chúng.</p>
<p>Từ ngày 29 tháng 1 năm 2010, Rinpoche dành hơn 20 ngày để ban trọn vẹn Pho Kama cho tập hội tu sĩ và cư sĩ tham dự Nyingma Monlam ở Bồ Đề Đạo Tràng, theo lời thỉnh cầu của Hiệp Hội Duy Trì Truyền Thừa Kama Của Truyền Thống Cố Mật. Cũng năm 2010, Ngài ban trọn vẹn đàn quán đỉnh của Đại Sư Lhatsun Namkha Jigme và Terchen Jatson Nyingpo ở tu viện Pemayangtse, Sikkim.</p>
<p>Năm 2011, Ngài ban quán đỉnh và khẩu truyền Nyingtik Yabzhi cho Degyal Tulku thứ 3 và đại chúng ở tu viện Namkha Kyutsom, Nepal.</p>
<p>Năm 2012, theo lời thỉnh cầu của Hiệp Hội Duy Trì Truyền Thừa Kama Của Truyền Thống Cổ Mật, Rinpoche ban khẩu truyền Pho Kama và quán đỉnh Gabgye Deshe Dupa cho 1700 thành viên Tăng Đoàn, bao gồm các hành giả tu sĩ và cư sĩ.</p>
<p>Cùng năm đó, Rinpoche tới trụ xứ chính của các trung tâm Rigpa, Lerab Ling, nước Pháp và ban các quán đỉnh của Tổ Jigme Lingpa.</p>
<p>Tháng 4 năm 2013, Rinpoche viếng thăm Orgyen Dorje Den, trung tâm của Gyatrul Rinpoche ở Caliornia và ban quán đỉnh Pho Kama và toàn bộ các quán đỉnh của hoá thân trước đó - Đức Domang Terchen.</p>
<p>Như thế, Rinpoche thoả mãn nhiều đệ tử bằng Thánh Pháp. Những học trò may mắn đã được chỉ dẫn tới con đường của sự giải thoát và chín muồi.</p>
<p><strong>Chương 6: Các hoạt động Phật sự của Rinpoche liên quan tới việc phục hồi giáo lý Phật Đà</strong></p>
<p>Từ hình tướng bên ngoài, mặc dù giáo lý Phật Đà ở vùng đất tuyết Tây Tạng dường như chỉ còn lại danh tiếng, một cách tuyệt đối, nhiều vị đạo sư vĩ đại vẫn còn trụ thế. Giống như khiến đám tro tàn bùng cháy trở lại, Rinpoche đã đảm trách việc tái thiết tu viện Domang Thubten Gephel Ling – nơi Ngài coi sóc, xây dựng mới chính điện cũng như các đối tượng linh thánh (những bức tượng). Ngài xây dựng lại học viện nghiên cứu cao cấp (shedra) và trung tâm thực hành. Hiện tại việc giảng dạy, thực hành Giáo Pháp và tiến hành các nghi quỹ vẫn đang diễn ra.</p>
<p>Sau khi được phóng thích, Rinpoche không ở lại Tây Tạng lâu. Ngài trở về Ấn Độ và sống tại Sikkim, nơi Ngài chào đời. Thuở bình minh của câu chuyện Phật Pháp ở Sikkim, có ba đại sư đã cùng nhau vân tập tại Sikkim. Họ là Lhatsun Namkhe Jigme, Ngadak Semba Chenpo và Kathok Rigzin Chenpo. Ở nơi vốn là trụ xứ “cung điện đỏ” của Tổ Ngadak Semba Chenpo, Rinpoche xây dựng tu viện Ngadak Jangchub Choling. Bức tượng chính yếu trong chính điện là Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn. Giống như vậy, ở “đồi mạn đà la” - trụ xứ của Sư Tổ Kathok Rigzin Chenpo, Rinpoche xây dựng tu viện Kathok - ở đó, bức tượng Guru Rinpoche là chính yếu.</p>
<p>Phía phải của trung tâm thị trấn ở Yuksam, xứ Sikkim, Rinpoche xây dựng Phòng Kinh Luân chứa 18 kinh luân lớn. Kiểu phòng kinh luân này rất hiếm gặp trên thế giới. Mặc dù Rinpoche hiện đã bước sang tuổi 85, Ngài vẫn xả thân trong các hoạt động nhằm phục hồi Giáo Pháp. Hiện tại, Ngài vẫn khoẻ và không ngừng tiến hành các hoạt động vĩ đại làm lợi lạc Phật Pháp và chúng sinh.</p>
<p>Việt dịch : Liên Hoa Trí</p>
<p><em>Bản tiểu sử này được trích trong cuốn sách “Chiếc thang dẫn lên cõi Tịnh Độ” được Việt dịch bởi Liên Hoa Trí. Vì lợi lạc của chúng sinh xin được phép đăng tiểu sử này. Mong tác giả hoan hỷ vì đã không thể liên hệ với tác giả để xin phép.</em></p>
<p><a href="#_ftnref1" name="_ftn1">[1]</a> Đỉnh Kangchenjonka</p>
<p><a href="#_ftnref2" name="_ftn2">[2]</a> Điều này liên quan tới các điểm giao cắt của những dòng sông lớn ở vùng Gyazhing xứ Sikkim.</p>
<p><a href="#_ftnref3" name="_ftn3">[3]</a> Điều này liên quan tới tu viện Pemayangtse ở Pelling, được xây dựng bởi Đại Sư Lhatsun Namkha Jigme.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-van-tat-cua-domang-yangthang-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Đức Kyabje Pema Norbu Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/kyabje-pema-norbu-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/kyabje-pema-norbu-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 29 Aug 2015 13:15:22 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Palyul Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Palyul]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Palyul Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3315</guid>
		<description><![CDATA[ Đức Kyabje Pema Norbu Rinpoche Đức Kyabje Pema Norbu Yangsi Rinpoche (tái sinh) Pháp vương Pema Norbu (“Penor”) Rinpoche đã dành cuộc đời để thực hành và chứng ngộ các giáo lý Phật Đà, chắc chắn rằng giáo lý không chỉ được duy trì, mà còn phát triển ra nhiều vùng trên thế giới. Sau đây là những thông tin&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/kyabje-pema-norbu-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"> <strong>Đức Kyabje Pema Norbu Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Yangsi-Rinpoche-The-Reincarnation-of-HH-Pema-Norbu-Rinpoche.jpg"><img class="alignnone  wp-image-5225" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Yangsi-Rinpoche-The-Reincarnation-of-HH-Pema-Norbu-Rinpoche-300x200.jpg" alt="Yangsi-Rinpoche-The-Reincarnation-of-HH-Pema-Norbu-Rinpoche" width="446" height="297" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Đức Kyabje Pema Norbu Yangsi Rinpoche (tái sinh)</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Pháp vương Pema Norbu (“Penor”) Rinpoche đã dành cuộc đời để thực hành và chứng ngộ các giáo lý Phật Đà, chắc chắn rằng giáo lý không chỉ được duy trì, mà còn phát triển ra nhiều vùng trên thế giới. Sau đây là những thông tin được thu thập từ các nguồn trực tiếp và nhiều cuốn sách của Học viện Ngagyur Nyingma. Chúng tôi cầu nguyện rằng tiểu sử này sẽ tiếp tục duy trì, hoằng truyền và phát triển giáo lý, như Đức Pháp vương hằng mong muốn!</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Sự công nhận</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Ngài Drubwang Pema Norbu Rinpoche đời thứ ba sinh ở vùng Powo, thuộc tỉnh Kham, miền Đông Tây Tạng, trong gia đình của Sonam Gyurme và Dzom Kyi trong tháng mười hai năm Nhâm Thân (tức năm 1932). Ngài sinh ra vào thời điểm lạnh giá nhất của mùa đông, khi mà không gì có thể phát triển và vùng đất ngập trong tuyết trắng. Tuy nhiên, vào thời điểm Ngài chào đời, hoa nở khắp ngôi nhà của vị tulku mới sinh. Hơn thế nữa, hai đoàn tìm kiếm vị tulku, một được cử bởi Dzogchen Rinpoche và một được cử bởi Khenchen Ngagi Wangpo đã gặp nhau ở chính ngôi nhà này, và khẳng định sự công nhận không do dự gì. Việc trao đổi và đi lại ở những vùng núi cao thuộc miền Đông Tây Tạng không nhanh chóng như bây giờ, bởi vậy điều này được xem là một dấu hiệu tốt lành.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài Khenchen Ngagi Wangpo Rinpoche đã tiên đoán điểm đến của hóa thân mới. Năm 1936, năm Bính Tý, vị Pema Norbu trẻ tuổi được mời đến tu viện Palyul, nơi Ngài quy y với Khenpo vĩ đại và uyên bác. Khenchen Ngagi Wangpo Rinpoche tiến hành lễ cắt tóc truyền thống và ban cho Ngài Pháp danh “Dhongag Shedrup Tenzin.” Khen Rinpoche sau đó ban cho Ngài quán đảnh trường thọ Amitayus [Phật Vô Lượng Thọ] và biên soạn lời cầu nguyện trường thọ, được tụng đọc hàng ngày bởi hàng nghìn đệ tử của Penor Rinpoche trên toàn thế giới cho đến khi Ngài viên tịch.</p>
<p style="text-align: justify;">Rinpoche chính thức được đăng ngôi bởi đạo sư của Ngài, Thubten Chokyi Dawa (1894 – 1959) [Chogtrul Rinpoche thứ hai] và Karma Thekchok Nyingpo (1908 – 1958) [Karma Kuchen Rinpoche thứ tư]. Penor Rinpoche trở thành bậc trì giữ Pháp tòa thứ mười một của Tổ Đình Palyul với hơn 400 tu viện nhánh. Ngài dành rất nhiều năm ở Palyul, nghiên cứu và thọ nhận giáo lý từ các bậc đạo sư và học giả. Ngài nhận trao truyền tâm-truyền-tâm từ Lungtrul Rinpoche Shedrup Tenpai Nyima. Ngài cũng nhận được giáo lý và chỉ dẫn từ Ngài Karma Kuchen Rinpoche thứ tư, bậc trì giữ Pháp tòa thứ mười [của tu viện], người chuẩn bị kỹ lưỡng để Ngài trở thành vị kế thừa. Đến lượt mình, Pháp vương Penor Rinpoche đã hướng dẫn Karma Kuchen Rinpoche thứ năm.</p>
<p style="text-align: justify;">Có rất nhiều ví dụ minh chứng sức mạnh phi thường của Penor Rinpoche, thậm chí khi còn là một đứa bé. Một lần, Ngài đang chơi đùa với một chày Kim Cương cổ và quý giá, khi nó thình lình trượt khỏi tay và rơi xuống đất, vỡ làm đôi. Lo sợ bị thầy quở trách, Ngài nhanh chóng gắn nó lại bằng nước bọt của mình, khiến chày Kim Cương còn mạnh mẽ hơn trước. Một sự việc tương tự xảy ra sau đó, trong một lễ Chasum, Ngài làm rơi chuông nghi lễ xuống sàn đá. Mọi người cho rằng chiếc chuông đã vỡ, nhưng khi Penor Rinpoche nhặt nó lên, nó không bị vỡ và vang lên còn ngọn ngào hơn trước. Mười lăm tuổi, Penor Rinpoche để lại dấu chân trên đá gần khu thất Dago trên tu viện Palyul, nơi mà ngày nay, nó vẫn có thể được thấy.</p>
<p style="text-align: justify;">Một lần khi Ngài vẫn còn trẻ, Rinpoche gặp một người đàn ông già, kẻ cứ nài nỉ Ngài thực hành Phowa cho mình. Một cách ngây thơ, Rinpoche làm theo thỉnh cầu. Kết thúc thực hành, Ngài quá đỗi ngạc nhiên khi thấy rằng lão già đã chết – Phowa đã quá hiệu quả! Ngay lập tức Ngài bắt đầu thực hành lại, để hồi sinh tử thi nằm đó. Lão già đã sống lại, nhưng thay vì cảm ơn, lão hét lên, “Ôi trời ơi, sao Ngài lại mang tôi về? Tôi đã ở Cõi Tịnh Độ của Phật A Di Đà!”<br />
Trong nhiều năm sau đó, cháu trai của lão già đó đã phục vụ ở tu viện Namdrolling, Ấn Độ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Việc tu học</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Đức Penor Rinpoche đã tu học với rất nhiều vị lạt ma, nhận được những lợi lạc từ mối quan hệ ấm áp và thân thiết mà Ngài có với bậc thầy vĩ đại của Ngài, Đức Chogtrul Rinpoche thứ hai. Trong buổi lễ quy y, Chogtrul Rinpoche đã ban cho Ngài Pháp danh Thubten Lekshe Chokyi Drayang, “Bậc trì giữ giáo lý Phật Đà với khẩu oai hùng của Pháp cao quý.” Tại khu thất Dago, Ngài đã nhận và thực hành giáo lý dự bị Namcho Dzogchen của Sangye Lakchang, “Đức Phật trong lòng bàn tay.” Ngài cũng nghiên cứu nhiều môn học, bao gồm biên soạn, thi ca, chiêm tinh, y học và tiếp tục nghiên cứu Kinh điển với Khenpo Nuden, Khenpo Sonam Dondrup và Khenpo Gondrup.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở tuổi mười ba, Ngài thọ nhận giới getsul và nhận Pháp danh “Dongak Shedrup Tendzin Chokle Namgyal” (Bậc trì giữ vinh quang giáo lý của Nghiên cứu và Thực hành Kinh và Mật). Năm hai mươi mốt tuổi, Ngài thọ nhận giới gelong (Cụ túc giới) từ bậc Đạo sư ở tu viện Tarthang và thọ nhận vô số giáo lý, bao trọn toàn bộ những chỉ dẫn và quán đảnh quan trọng của truyền thống Nyingma. Dòng truyền thừa giới luật này vô cùng thanh tịnh, được trao truyền đến Tây Tạng bởi Đức Shantarakshita trong thời đại của Đại Sư Liên Hoa Sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào buổi lễ truyền giới, Chogtrul Rinpoche dâng lên Penor Rinpoche bộ y vàng được trân trọng và truyền trao bởi các thế hệ trì giữ truyền thừa. Mặc dù vô vàn khó khăn trong việc trốn khỏi Tây Tạng, Penor Rinpoche đã mang theo bộ y này trong suốt quá trình đến Ấn Độ khi để lại đằng sau rất nhiều tài sản quý giá khác. Kết quả là, trong cuộc đời sống lưu vong, Ngài đã có thể truyền giới cho hơn 10000 vị tăng ni, bởi vậy Ngài đã cống hiến lớn lao cho sự ổn định của giới luật tu sĩ và thực hành Kim Cương thừa trong thời đại suy đồi này.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ vị Khenpo vĩ đại của tu viện Kathok, Khenpo Lekshe Jorden, Penor Rinpoche thọ nhận rất nhiều trao truyền. Trong đó, đặc biệt là truyền thống Kham của quán đảnh Anuyoga của Do Gonpa Dup qua nghi lễ quán đảnh nổi tiếng “Dòng sông Cam lồ” của Mokton Dorje Palzang. Penor Rinpoche cũng thọ nhận truyền thống cổ của tu viện Kathok và cùng lúc là các quán đảnh, trao truyền và giáo lý của “Kho tàng các chỉ dẫn cốt tủy” của Jamgon Kongtrul, “Lời dạy cô đọng của Lạt-ma” của Terton Dorje Lingpa, kho tàng “Hung Kor Nyingtik” của Dorje Lingpa, Cô đọng trọn vẹn của Kagye của Ngài Ngari; và bộ Tendrel Nyesel của Lerab Lingpa. Từ Karma Kuchen Rinpoche, Ngài cũng thọ nhận quán đảnh Anu Yoga của Ngài Nyelpa Delek từ truyền thống Rinchen Trengwa.</p>
<p style="text-align: justify;">Một vị thầy khác của Ngài là Khenpo Khyentse Lodro, cũng được gọi là Khenpo Nuden, từ tu viện Kathok. Trong khu rừng phía trên khu thất Dago, Khenpo Khyentse Lodro tiến hành lễ Drupchen về Anuyoga Dupa Do, cùng lúc đó ban trao truyền về bốn bộ mới trước tác của Ngài về Anuyoga. Khenpo kể câu chuyện sau đây: Trước khi vị Drubwang Pema Norbu thứ hai qua đời, Ngài đã tặng Khenpo một con dao nhỏ. Lúc đó Ngài không nghĩ nhiều đến nó, nhưng bây giờ Ngài nhận ra nó thực sự nghĩa là gì. Con dao tượng trưng cho thanh gươm trí tuệ, và khi Ngài truyền nó cho Khenpo, nó như thể Đức Pema Norbu ban cho Khenpo sự gia trì để hoàn thành việc biên soạn những bản luận giải mới này, để có thể truyền chúng cho vị tái sinh tiếp theo của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ Khenpo Pema Jigme, vị Khenpo uyên bác từ truyền thống Palyul ở Golok, Penor Rinpoche nhận chín bộ các trước tác của Jigme Lingpa, mười ba chương của “Ah Cho” của Karma Chagme, và tuyển tập các trước tác của So Wangdrak Gyatso. Khi Ngài đang nhận trao truyền này, Penor Rinpoche bắt đầu làm nút cát tường trong khi gia trì bằng giọng nói, điều chỉ được làm bởi các bậc Đạo sư thành tựu cao nhất. Ngài tiếp tục làm cho đến năm 1958. Chúng nổi tiếng vì cung cấp sự bảo vệ mạnh mẽ khi đeo bên người. Một sợi dây như vậy được giữ và trân trọng bởi một trong các thị giả của Ngài hiện nay.<br />
Trong khoảng thời gian đó, Penor Rinpoche bất ngờ viết một chữ AH lên vỏ ốc trắng. Khi mực bay đi, chủng tự này vẫn in hằn trên vỏ ốc. Vỏ ốc này vẫn được giữ như một đối tượng kính lễ ở tu viện Palyul Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi đã nhận toàn bộ trao truyền Kangyur và Tengyur, cũng như hoàn thành nhập thất Vajrakilaya, Penor Rinpoche bước vào khóa nhập thất cùng với đạo sư của Ngài, Chogtrul Rinpoche. Được nhập thất cùng với chính vị thầy là một vinh dự hiếm có. Penor Rinpoche dành bốn năm trong thất ở tu viện Tarthang trong cùng phòng với đạo sư. Bởi đã già và thị lực suy giảm, Chogtrul Rinpoche trải qua nhiều khó khăn để ban cho Penor Rinpoche mọi trao truyền được thực hành trong truyền thống Palyul, nhấn mạnh vào các quán đảnh, trao truyền, và chỉ dẫn khẩu truyền bí mật của giáo lý Namcho của Terton Migyur Dorje và kho tàng terma của Ratna Lingpa.</p>
<p style="text-align: justify;">Bắt đầu với ngondro, lên đến giáo lý bí mật thâm sâu nhất của Dzogchen, Ngài nhấn mạnh từng thực hành cho đến khi đệ tử của Ngài tìm ra chân lý trần trụi. Ngài nói, “Nếu ta không thể trao truyền mọi quá đảnh, khẩu truyền và giáo lý cho vị Penor Rinpoche thứ ba trước khi rời bỏ thế giới này, thân người quý giá của ta sẽ bị lãng phí.” Với chỉ dẫn liên tục từ Ân Sư, Penor Rinpoche đã hoàn thành thành công mọi giai đoạn của thực hành, thành tựu việc trì tụng gốc của Tam Căn Bản (lama, yidam và khandro), thực hành dự bị Namcho, tummo và tsalung, và thực hành nền tảng chính yếu của Dzogchen “Đức Phật trong lòng bàn tay,” bao gồm trekcho, togal tịnh quang, thực hành togal bên trong, thực hành màn đêm, và rèn luyện trong trạng thái mộng, bản tánh của âm thanh và các cõi tịnh độ.</p>
<p style="text-align: justify;">Pháp vương Dilgo Khyentse Rinpoche từng nói rằng, “Penor Rinpoche là một vị thánh, người đã vượt qua các giới hạn của samaya.” Với điều này, Ngài ám chỉ rằng Penor Rinpoche đã thực sự chứng ngộ trí tuệ bên trong, và bởi thế đã chứng ngộ trạng thái không có gì để bám chấp và không có gì để từ bỏ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Hành hương</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Mỗi người Tây Tạng đều mong muốn được hành hương đến Lhasa, đặc biệt để viếng thăm Jowo Rinpoche nổi tiếng, “Bậc chúa tể cao quý,” bức tượng linh thiêng nhất của Tây Tạng. Bức tượng này miêu tả Đức Phật khi còn là một hoàng tử ở tuổi 12 và được cho là đã đúc khi Đức Phật vẫn còn sống.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1956, Penor Rinpoche, cùng với một nhóm người lớn, đã tiến về miền trung Tây Tạng. Ngài mới chỉ hai mươi tư tuổi. Đoàn người đã viếng thăm các địa điểm linh thiêng, tu viện, chùa, thánh địa của Phật giáo Tây Tạng, bao gồm Samye, Dorje Drak, Mindrolling, Drepung, Ganden và Sera. Mỗi nơi Ngài đến, Penor Rinpoche đều cúng dường rất nhiều. Ngài cũng viếng thăm Đạt Lai Lạt Ma ở cung điện mùa đông. Ngài đã thọ nhận một quán đảnh trường thọ từ Đức Đạt Lai Lạt Ma. Lễ Monlam Chenmo đang diễn ra, và Ngài cúng dường trà và quyên tặng tiền cho toàn thể tăng đoàn.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Lưu vong</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Khi Penor Rinpoche quay trở về tu viện Palyul cuối năm 1956, tình hình ở Kham trở nên vô cùng căng thẳng. Các dòng truyền thừa đã duy trì sự thanh tịnh và chân chính của Phật giáo hàng nghìn năm đang có nguy cơ bị gián đoạn và mất mãi mãi. Nhận thức rõ điều này, và cùng với mệnh lệnh từ chư Bổn tôn hộ pháp, Penor Rinpoche đã cùng với một nhóm khoảng 300 người hướng về biên giới đông bắc Ấn Độ. Đó chắc chắn là một hành trình dài và đáng sợ, tràn đầy hiểm nguy và khó khăn. Cuối cùng, chỉ ba mươi người sống sót đến được Ấn Độ.</p>
<p style="text-align: justify;">Chư Bổn tôn hộ pháp của Penor Rinpoche đã chỉ dẫn Ngài từng bước trong hành trình. Nhóm của Ngài bị quân đội truy đuổi. Súng nhắm đến chân Ngài, và lựu đạn rơi thẳng về phía Ngài. Nhưng chúng chỉ nổ sau khi Ngài đã di chuyển đến chỗ an toàn. Đói khát, một vài người muốn giết động vật để ăn, nhưng Penor Rinpoche không thể chịu đựng việc nhìn thấy những con vật vô tội bị giết thị và sẽ đến trước để thả con vật đi. Cuối cùng họ đến được Pema Kod và bang miền Đông Ấn Độ, Arunachal Pradesh. Trong năm 1960, nhiều người tỵ nạn đổ về Ấn Độ và năm 1961, Penor Rinpoche, với khoảng sáu trăm người, đã di chuyển về phía nam đến Mysore.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Sự thành lập ở Nam Ấn</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Mục đích đằng sau việc trốn khỏi Tây Tạng của Ngài Penor Rinpoche là để duy trì ngọn lửa Phật Pháp và giải phóng hữu tình chúng sinh khỏi màn đêm vô minh. Ngay khi đến miền Nam Ấn, Ngài đã dốc toàn bộ sức lực để thiết lập một trung tâm, nơi mà sự trao truyền giáo lý Nyingma có thể được duy trì không gián đoạn, và nơi mà truyền thống Palyul vĩ đại có thể được tái thiết lập. Năm 1963, ở Bylakuppe, Nam Ấn, Penor Rinpoche bắt đầu xây dựng tu viện Thegchog Namdrol Shedrub Dargyeling.</p>
<p style="text-align: justify;">Đây là nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Toàn bộ số tiền mà Ngài có để xây dựng lại cuộc đời, tu viện và truyền thống chỉ là 300 rupee. Nhưng Ngài có một nguồn lực vô tận – lòng dũng cảm và quyết tâm to lớn.</p>
<p style="text-align: justify;">Lúc đó, chỉ có một vài vị tăng. Những người bên ngoài, không thể hiểu được tầm nhìn của Ngài, đã nài nỉ Ngài giảm kế hoạch xây dựng tu viện. Ngày nay, khi hàng trăm vị tăng đổ về sảnh đường và thấy rằng không đủ chỗ cho họ ngồi, người ta chỉ có thể ngạc nhiên trước tầm nhìn xa của Penor Rinpoche từ ba thập kỷ trước.</p>
<p style="text-align: justify;">Rất ít đạo sư ở cấp độ của Penor Rinpoche trải qua những khó khăn mà Ngài phải chịu đựng. Dưới cái nắng của xứ Ấn Độ, Ngài khuôn đá, gạch và cát, và trộn xi măng cho đến khi tay và chân của Ngài chảy máu và bị nhiễm trùng. Thiếu nước và đường xá khiến công việc xây dựng trở nên khó khăn hơn nhiều.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong những ngày đầu, Ngài sống trong một túp lều, pha trà Tây Tạng với dầu rẻ tiền, bởi Ngài không có bơ, và nhiều thứ khác. Một người phụ nữ già thấy Ngài đang đào một mình, tạo thành một cái nhà vệ sinh cho một trong các đệ tử đang nhập thất. Khi những người khác thấy Rinpoche làm như vậy, họ nghĩ đến Milarepa và sự vất vả khó nhọc khi xây dựng tháp mười tầng cho con trai của Đạo sư.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Chấn hưng: Các hoạt động trong những năm 1980</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Năm này qua năm khác, với nỗ lực và quyết tâm không ngừng nghỉ, Penor Rinpoche đã liên tục làm việc, vượt qua nhiều chướng ngại và khó khăn. Tầm quan trọng của những hoạt động này với việc duy trì truyền thống Tây Tạng là không thể hiểu hay đánh giá hết. Không có nỗ lực chăm chỉ của Pháp vương Penor Rinpoche, chắc chắn những thực hành này có thể bị mất mãi mãi.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở tu viện Namdrolling, Ngài đã thiết lập các truyền thống sau đây: Sojong, lễ tịnh hóa một tháng hai lần; Yarney, nhập thất mùa mưa; Gaye, thực hành đặc biệt được tiến hành khi kết thúc Yarney; Một trăm nghìn cúng dường dâng lên chư Bổn tôn an bình và phẫn nộ của Terton Karma Lingpa; Nghi lễ Cúng dường thành tựu Kim Cương Tát Đỏa; Vajrakilaya xua tan ác nghiệp của Terton Ratna Lingpa vào cuối năm cũ; Drupchen Một trăm triệu trì tụng sử dụng các mạn đà la khác nhau trong từng năm; Drupchen cúng dường Anu Yoga của Tsokchen Dupa; Mendrup, và nhiều nghi lễ khác. Trong một trong những buổi lễ Mendrup mà Penor Rinpoche tiến hành, thực hành Nyingtik Palchen Dupa, một số vị tăng đã thấy cầu vồng quanh mạn đà la và cam lồ chảy xuống từ bát sọ người.</p>
<p style="text-align: justify;">Pháp vương quay trở về Tây Tạng lần đầu tiên năm 1982, sau hơn hai mươi năm. Ngài đáp ứng thỉnh cầu của mọi người một cách không mệt mỏi, cả ngày lẫn đêm. Người ta kể rằng một vài hành giả thậm chí đã cố gắng sống đến khi Ngài đến để họ có thể nhận được sự gia trì cuối cùng của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi ở Tây Tạng, Pháp vương tiến hành rất nhiều hoạt động để duy trì và phát triển Pháp. Ngài phục hồi nhiều tu viện bị phá hủy trong thời Cách mạng Văn Hóa, ban các quán đảnh, trao truyền và giáo lý cho hàng nghìn người. Ngài cũng đặt nền tảng cho tương lai bằng cách truyền giới cho rất nhiều tăng ni.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong chuyến đi này và ba chuyến đi sau đó, Pháp vương đã phục hồi giáo lý ở Tây Tạng. Câu chuyện về những điều kỳ lạ xảy ra khi Ngài ở Tây Tạng rất phong phú. Ví dụ, Ngài ban một quán đảnh ở vùng Gonjo thuộc tỉnh Kham cho hàng nghìn người mà không cần đổ đầy bình nghi lễ (bhumpa). Nhưng có lẽ điều kỳ diệu nhất là, từ đống tro tàn, ngày nay tu viện Palyul và các tu viện nhánh ở Tây Tạng đã phát triển trở lại.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi ở Tây Tạng, Ngài đã có được nhiều bản văn hiếm và quý từ bộ Nam Cho. Khi trở về Ấn Độ năm 1983, Ngài có hàng trăm bản của Nam Cho mới thu được và trọn vẹn, cũng như kho tàng của Ratna Lingpa và nhiều bản văn quan trọng khác từ truyền thống Palyul.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1984, Ngài ban những quán đảnh Namcho và kho tàng của Ratna Lingpa đầu tiên ở Ấn Độ. Pháp vương Karma Kuchen Rinpoche, bậc trì giữ Pháp tòa thứ mười hai cũng có mặt để thọ nhận những giáo lý này.<br />
Pháp vương cũng tái thiết lập truyền thống Nam Cho với nhập thất thực hành dự bị một tháng hàng năm, nhập thất Tummo Tsa Lung 44 ngày, cũng như nhập thất Trekcho và Togal.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1985, Pháp vương thành lập trung tâm nhập thất ba năm Samten Osel Ling. Ở đây, Ngài đã đích thân hướng dẫn ba mươi vị tăng trong các khóa nhập thất truyền thống.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài đi đến Mỹ lần đầu tiên vào năm 1985 theo thỉnh cầu của Gyaltrul Rinpoche, và Ngài đã ban các quán đảnh của kho tàng Namcho lần đầu ở phương Tây tại trung tâm nhập thất Tashi Choling. Trong chuyến hoằng pháp ở Mỹ năm 1988, Ngài ban quán đảnh Nyingma Kama và theo lời thỉnh cầu của Jetsunma Ahkon Lhamo, Ngài đã ban các quán đảnh Rinchen Terdzo tại Kunzang Palyul Choling ở Marylang, cũng là lần đầu tiên ở phương Tây.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Sự ổn định: Đầu những năm 90</strong><br />
Pháp vương Penor Rinpoche bắt đầu xây dựng những hỗ trợ, cả về vật lý và con người, để Pháp sẽ tiếp tục phát triển.<br />
Năm 1990, Ngài thọ nhận giáo lý từ bậc đạo sư nổi tiếng, Khenpo Jigme Phuntsok Rinpoche bao gồm Lama Yangtig, Nge She dron Me. Ngài cũng thọ nhận quán đảnh Tendrel Nyesel, thực hành Vajrakilaya của Lerab Lingpa, cũng như các kho tàng của chính Khen Rinpoche.<br />
Pháp vương dành những năm này để huấn luyện rất nhiều vị tăng, lopon và khenpo, cử họ đến các cộng đồng Hi Mã Lạp Sơn để củng cố thực hành Phật giáo ở những vùng này. Ngài tiếp tục làm việc chăm chỉ để đảm bảo rằng những truyền thống địa phương sẽ không bị mất. Ở một số vùng, bởi sự thiếu vắng các vị thầy được đào tạo thích hợp, những người đã học những kỹ năng ở Tây Tạng, dân cư bắt đầu chuyển sang truyền thống tôn giáo khác. Nhờ có nỗ lực của Pháp vương, các truyền thống ở những vùng này không chỉ được củng cố mà còn trở nên mạnh hơn trước.<br />
Năm 1992, Ngài đến tu viện Palyul lần thứ ba và ban quán đảnh Rinchen Terzod lần thứ ba. Ngài cũng đến những tu viện nhánh của Palyul, làm lợi lạc cho họ bằng giáo lý và hỗ trợ tài chính.<br />
Ngài Đạt Lai Lạt Ma, theo thỉnh cầu của toàn thể cộng đồng Nyingma, đã bổ nhiệm Ngài làm Bậc trưởng dòng của truyền thống Nyingma vào năm 1993, noi theo bước chân của Pháp vương Dilgo Khyentse Rinpoche và Pháp vương Dudjom Rinpoche. Cùng năm đó, Ngài thành lập Ni viện Tsogyal Shedrub Dargyeling, vào ngày 27 tháng 11.<br />
Pháp vương cũng đến nhiều trung tâm ở Đài Loan, Hồng Kông và Singapore để ban những giáo lý và quán đảnh và hoàn thành kết nối với các đệ tử ở đây.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Sự mở rộng: Cuối những năm 90</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Các hoạt động của Pháp vương ở Nam Ấn bắt đầu phát triển và thu được kết quả. Năm 1999, Ngài hoàn thành Orgyen Dongang Shedrup Osel Dargye Ling, “Chùa vàng” của Bylakuppe. Sau đó Ngài hoàn thành việc xây dựng một bệnh viện cho vùng đó, phục vụ không chỉ cộng đồng tu sĩ mà còn cả cư dân địa phương.</p>
<p style="text-align: justify;">Về phía quốc tế, năm 1995, Ngài đến Mỹ để ban giáo lý và quán đảnh ở New York và ban kho tàng Nam Cho của Terton Migyur Dorje ở Kunzang Palyul Choling, Maryland.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài đến Mỹ một lần nữa vào năm 1997, và trong chuyến viếng thăm này, Ngài thành lập Trung Tâm Nhập thất Palyul trong một cộng đồng thôn quê nhỏ bé của McDonough, New York. Để thiết lập Pháp vững chãi ở phương Tây, trung tâm nhập thất này là nơi mà hành giả phương Tây thọ nhận giáo lý và nhập thất mà không cần phải đi quá xa. Pháp vương đã giảng dạy khóa nhập thất truyền thống “Giải thoát trong lòng bàn tay” từ khóa đầu tiên năm 1998 đến năm 2008. Chư tăng tham dự vô cùng ngạc nhiên trước phong cách giảng dạy của Ngài. Có nhiều đệ tử đã dành mười tháng để thọ nhận giáo lý trực tiếp từ Pháp vương Penor Rinpoche trong cuộc nhập thất này.</p>
<p style="text-align: justify;">Pháp vương tiếp tục hoằng pháp khắp nơi, ban những quán đảnh và trao truyền quan trọng trên khắp thế giới. Bao gồm các quán đảnh Rinchen Terzod, Mật điển Kalachakra, Mật điển Guhyagarbha, kho tàng Namcho, toàn bộ kho tàng của Ratna Lingpa, Nyingma Kama và nhiều giáo lý khác.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Phát triển: Thế kỷ 21</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù tuổi cao, Pháp vương Penor Rinpoche vẫn tiếp tục các chuyến hoằng pháp, ban những quán đảnh và trao truyền quan trọng khắp nơi trên thế giới, bao gồm Ấn Độ, Nepal, Tây Tạng, nhiều vùng ở châu Á và Âu.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 2003, Ngài viếng thăm vùng hẻo lánh Pema Kod và vùng Mon, gia trì cho các ngôi chùa và ban nhiều giáo lý.<br />
Năm 2004, Ngài hoàn thành một bệnh viện. Một trong các nhà tài trợ lớn của tu viện, thường được biết đến là Palmola, đã tài trợ và xây dựng rất nhiều ngôi chùa. Trong đó có chùa Tara, hoàn thành vào những năm 90, nhưng quan trọng hơn là chùa Zangdokpalri. Ngôi chùa này được thánh hóa vào năm 2004.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 2004 là một năm khó khăn với Pháp vương và được tiên đoán là “năm đen đủi” trong đó sức khỏe của Ngài sẽ gặp nguy hiểm. Mặc cho mọi sự khẩn cầu, Pháp vương vẫn tiếp tục với việc hướng dẫn những khóa nhập thất hàng năm về thực hành dự bị, Tsa Lung/Tummo và Dzogchen ở cả Ấn Độ và Mỹ.</p>
<p style="text-align: justify;">Những khóa này bao gồm cả quán đảnh Rinchen Terdzo, Kalachakra, Guhyagarbha, kho tàng Namcho, bộ kho tàng của Ratna Lingpa, Nyingma Kama và nhiều Pháp khác. Hàng năm, Ngài đều tham dự Nyingma Monlam Chenmo, Đại lễ Cầu nguyện được tổ chức ở Bồ Đề Đạo Tràng. Chư tăng được đào tạo bởi Pháp vương chịu trách nhiệm điều phối chính trong sự kiện này.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Viên tịch – 27 tháng 3, 2009</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù sức khỏe yếu đi, Pháp vương Penor Rinpoche khăng khăng đi hoằng pháp khắp nơi để ban giáo lý và quán đảnh cho tất cả những ai mong muốn thọ nhận.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 2008, Ngài tham dự Nyingma Monlam Chenmo, tết Losar ở tu viện Namdrolling, thực hiện chuyến viếng thăm đến Macau, Hồng Kông và tiến hành khóa nhập thất mùa hè ở Mỹ.</p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù kế hoạch giảng dạy bận rộn, Pháp vương không bao giờ ngừng việc nghĩ đến hạnh phúc của những vị tăng trẻ đang được Ngài chăm lo. Vào một sáng tháng Một dịu mát, Ngài bảo một thị giả đưa Ngài đến Bangalore để mua sắm. Khi đến đó, Ngài đặt hàng nghìn chăn mền. Tu viện đã vô cùng lạnh vào mùa đông năm 2008 và Pháp vương muốn chắc chắn rằng không vị tăng nào không có mền ấm.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở Bồ Đề Đạo Tràng, sức khỏe của Ngài trở nên yếu hơn. Mặc dù, khi được hỏi, Ngài đáp, Ngài khỏe, nhưng trên thực tế, chính sự tích tập các nhân duyên về nghiệp đã đủ và khiến chúng ta thấy Ngài như vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Những thị giả chí thành đã đưa Ngài đến bệnh viện tốt nhất và đôi lúc, Pháp vương có vẻ đã khỏe lại. Khi Ngài trở về chùa vào sáng Losar, 25 tháng Hai, lần đầu tiên, bệnh tình của Ngài trở nên rõ ràng với mọi người và những giọt nước mắt đã tuôn rơi, thậm chí cả những hành giả cao cấp nhất cũng khóc.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày 24 tháng Ba, bệnh tình của Ngài tệ hơn và Ngài được chuyển đến Bệnh viện Columbia Asia ở Bangalore. Ở đó, tất cả những tulku, khenpo, lopon và đệ tử thân thiết nhất ngồi bên Ngài. Ngài nhìn tất cả một lượt, nhắm mắt và an nhiên thị tịch.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Tái sinh</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Với lòng bi mẫn lớn lao dành cho những học trò của Pháp vương, Kyabje Dungse Thinlay Norbu Rinpoche đã hướng dẫn tất cả các đệ tử Palyul tụng đọc lời cầu nguyện bốn dòng, vốn được biên soạn bởi Ngài Khenchen Ngagi Wangpo, trong khi chờ đợi Rinpoche biên soạn một bản dài hơn lời nguyện cầu nguyện Pháp vương sớm tái sinh. Sau đó, ngày 28 tháng Ba, Rinpoche đã thêm 2 dòng vào lời cầu nguyện. Dungse Rinpoche đã hoàn thành lời cầu nguyện và nó đã được tụng đọc vào ngày 9 tháng tư trước Thánh Thân của Pháp vương.</p>
<p style="text-align: justify;">Chỉ trong một đời, Pháp vương Penor Rinpoche đã hoàn thành khối lượng công việc lớn lao. Có rất nhiều điều ở cấp độ bên trong và bí mật chưa thể liệt kê ở đây. Bản tiểu sử này chỉ cung cấp một phần rất nhỏ những gì Ngài đã làm vì mỗi chúng ta, để chúng ta có cơ hội kết nối với trí tuệ cổ xưa của Tây Tạng. Tất cả những gì Ngài đã làm là để ánh sáng Phật Pháp không rời bỏ thế giới này, tất cả những gì Ngài làm, đều là vì chúng ta, với hy vọng rằng chúng ta sẽ giải phóng tâm khỏi những ác nghiệp và mở rộng trái tim đón nhận chân hạnh phúc. Mong ước duy nhất của Ngài là mỗi chúng ta đều sẽ chứng ngộ và một ngày sẽ giác ngộ. Mọi điều Ngài làm đều là để giúp chúng ta hoàn thành mục tiêu đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Pháp vương Penor Rinpoche chắc chắn sẽ trở lại dẫn dắt chúng ta thoát khỏi khổ đau này. Bây giờ chúng ta có thể đơn giản nghĩ rằng, Ngài “thay quần áo” và sẽ trở lại để gia trì thế giới này với lòng từ bi vô lượng, bằng cả những hoạt động bên ngoài cũng như bên trong và bí mật.</p>
<p style="text-align: justify;">Tu viện Namdrolling đã thành lập Hội đồng quản lý các vấn đề của tu viện. Được dẫn dắt bởi Pháp vương Karma Kuchen Rinpoche, bậc trì giữ Pháp tòa thứ mười hai, hội đồng này sẽ tham gia vào quá trình tìm kiếm hóa thân mới của Pháp vương.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn:<a href="http://palyul.org/eng_bio_hh01_recog.htm">http://palyul.org/eng_bio_hh01_recog.htm</a></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em> </em>Mọi lỗi lầm xin sám hối trước Tam Bảo, Đạo sư và dòng truyền thừa cao quý. Mọi công đức xin hồi hướng tất thảy hữu tình chúng sinh, cầu nguyện Đức Pháp vương Penor Rinpoche sớm tái sinh<em>.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em> </em><em>Chúng tôi rất lấy làm tiếc khi không tìm thấy tên dịch giả bản tiểu sử này. Xin phép được đăng tải vì lợi lạc của những chúng sinh. </em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="https://www.facebook.com/photo.php?fbid=487073814698022&amp;set=a.487073601364710.1073741847.225669694171770&amp;type=1&amp;relevant_count=1"> </a></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/kyabje-pema-norbu-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử ngắn Đức Khenpo Pema Sherab Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-khenpo-peme-sherab-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-khenpo-peme-sherab-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 29 Aug 2015 13:14:20 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Palyul Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Palyul]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Palyul Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3312</guid>
		<description><![CDATA[Đức Khenpo Pema Sherab Rinpoche sinh năm 1936 tại Riphu, Dege Jomda thuộc tỉnh Kham đến Dorje Dhondup và Tse Tso. Khi Ngài lên tám tuổi, ngài học đọc và viết tiếng Tạng với người chú của Ngài là Lama Choesang trong khi chăn nuôi gia súc. Năm mười bốn tuổi, Ngài đến học tại Lhasa dưới sự chỉ dạy&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-khenpo-peme-sherab-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Đức Khenpo Pema Sherab Rinpoche sinh năm 1936 tại Riphu, Dege Jomda thuộc tỉnh Kham đến Dorje Dhondup và Tse Tso. Khi Ngài lên tám tuổi, ngài học đọc và viết tiếng Tạng với người chú của Ngài là Lama Choesang trong khi chăn nuôi gia súc. Năm mười bốn tuổi, Ngài đến học tại Lhasa dưới sự chỉ dạy của các vị Thầy và những bậc thông thái đến từ tất cả các Tu viện Phật giáo Tây Tạng. Trong khi thọ nhận các giáo lý, Ngài đã hết mình phụng sự các vị Thầy của Ngài và nỗ lực học tập chăm chỉ suốt ngày đêm.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1953, Đức Shechen Kongtrul Rinpoche đã đưa ra những lời thề nguyện dành cho những người mới tu tập như Ngài. Năm 1959, Ngài đã di chuyển từ Tây Tạng sang Ấn Độ. Tại chính nơi này, ngài đã gặp H.H. Dilgo Khyentse Rinpoche và thọ nhận hầu hết giáo lý của Rinpoche, gồm có Mật điển Guhyagarbha, Longchenpa’s Treasury of Pith Instructions, Kagyud Ngag Dzod (Treasury of Tantra teachings of Kagyu Lineage), Rinchen Terdzod, Jigme Lingpa’s Yonten Dzod (Treasury of Enlightened Qualities), Lochen Dharmashri’s Explanation on Ngari Penchen’s Three Vows entitled, Fruit of the Wish-fulfilling Tree, Lời Vàng của Thầy Tôi của Đức Patrul Rinpoche, và rất nhiều giáo lý về Kinh và Mật</p>
<p style="text-align: justify;">Vào những dịp khác, Ngài đã thọ nhận rất nhiều sự trao truyền giáo lý gồm có Rinchen Terdzod và sự trao truyền bằng miệng từ H.H. Dudjom Rinpoche and H.H. Penor Rinpoche. Ngài đã thọ nhận tất cả các giáo lý liên quan đến Jang-ter (Northern Treasure Teachings) từ H.H. Taklung Tsetrul Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào năm 1968, Đức Penor Rinpoche mời ngài tới Namdroling để giảng dạy Pháp. Mặc dù tại thời điểm đó, học viện chưa được thiết lập nhưng Ngài Khenpo Pema Sherab vẫn dành vài năm dạy các môn học căn bản và nâng cao Phật giáo cho các tu sĩ nhỏ tuổi trong tu viện.</p>
<p style="text-align: justify;">Kể từ khi học viện thành lập được 25 năm, từ năm 1978 cho tới năm 2003, Đức Khenpo Pema Sherab đã dạy trong học viện này với lòng từ và sự bi mẫn đối với học trò của mình. Trong suốt nhiệm kì của Ngài, Ngài đã tận tậm phụng sự mà không hề có bất cứ sự dính mắc nào về tám pháp của thế gian. Suốt những tháng năm đó, Ngài đã ở trong Tu viện, trải qua biết bao gian khổ để gìn giữ và truyền bá giáo lý Đức Phật nói chung và các giáo lý của dòng truyền thừa Nyingma nói riêng.</p>
<p style="text-align: justify;">Những giáo lý mà Ngài truyền bá bao gồm các môn khoa học truyền thống căn bản về ngữ pháp, chính tả và thơ ca tiếng Tạng. Trong số các môn học Phật pháp truyền thống nâng cao, đầu tiên Ngài đã dạy the Thirteen Great Treatises, Jigme Lingpa’s Yonten Dzod (Treasury of Enlightened Qualities), Mipham Rinpoche’s Osel Nyingpo; a commentary to Guhyagarbha Tantra, Longchenpa’s Ngalso Korsum (Trilogy of Resting in the Nature of Mind), Do Tshog Chen Dupa (Sutra that Gathers All Intentions and Great Accumulations), Rongzom Mahapandita’s Thegchen Tsul Jug (Entering the Mahayana Path), Mipham Rinpoche’s Gal Len Nam Sum (The Trilogy of Replies to Criticisms) và rất nhiều các giáo lý khác mô tả Kiến, Thiền, Hành và Kết Quả của dòng truyền thừa Nyingma.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì lợi ích của thế hệ tương lai, ngài đã sáng tác rất nhiều sách về triết học Phật giáo bao gồm tiểu sử của Đức Liên Hoa Sinh, Exposition on Two Truths Lorig và Tagrig, Mặt trời của tâm thức. Tóm lại , Ngài đã chịu trách nhiệm quản lý Tu viện với tràn đầy lòng bi mẫn tới tận ngày nay và lòng tốt của Ngài không thể nào nghĩ bàn.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn : </em><a href="http://www.palyul.org/eng_biokhenpo_pemasherab.htm"><em>http://www.palyul.org/eng_biokhenpo_pemasherab.htm</em></a></p>
<p style="text-align: justify;">Việt dịch : Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính : Giác nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Các nguyên bản Kinh từ tiếng tạng dịch ra tiếng anh chúng tôi mạn phép giữ nguyên. Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với </em><em>Đức Khenpo Pema Sherab Rinpoche đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này Ngài sớm quang lâm đến Việt nam. </em></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-khenpo-peme-sherab-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử ngắn Đức Mugsang Kunchen Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-mugsang-kunchen-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-mugsang-kunchen-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 29 Aug 2015 13:13:40 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Palyul Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Palyul]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Palyul Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3309</guid>
		<description><![CDATA[Đức Mugsang Kuchen Rinpoche sinh ra tại một gia đình ở Nepal, thân phụ của Ngài là Penpa Dorjee và thân mẫu của Ngài  là Sonam Yangzom. Vào ngày 10 tháng 4 theo lịch Tây Tạng, Ngài được sinh ra với những dấu hiệu kỳ diệu. Năm lên hai tuổi, Đức Dudjom Rinpoche và Mugsang Kuchen Rinpoche đã xác nhận, ấn chứng&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-mugsang-kunchen-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Đức Mugsang Kuchen Rinpoche sinh ra tại một gia đình ở Nepal, thân phụ của Ngài là Penpa Dorjee và thân mẫu của Ngài  là Sonam Yangzom. Vào ngày 10 tháng 4 theo lịch Tây Tạng, Ngài được sinh ra với những dấu hiệu kỳ diệu. Năm lên hai tuổi, Đức Dudjom Rinpoche và Mugsang Kuchen Rinpoche đã xác nhận, ấn chứng Ngài là hóa thân chuyển thế của Đức Chogtrul Kunzang Sherab. Năm lên ba tuổi, Ngài thọ nhận sự giáo dưỡng trực tiếp từ Đức Penor Rinpoche, bậc thượng sư vô cùng Đại bi. Khi tròn bốn tuổi, Ngài đã thọ nhận bộ giáo lý Rinchen Terzöd  từ Đức Drodrub Rinpoche. Bắt đầu lên 5 tuổi, Ngài học đọc và viết tiếng Tạng và bắt đầu thực hành các nghi quỹ của truyền thống Palyul. Do đó, Ngài đã thọ nhận trực tiếp các giáo lý và quán đảnh về thực hành các pháp tu mở đầu (Ngöndro), Tsa Lung và Đại Viên Mãn (Dzogchen) từ Đức Penor Rinpoche. Ngài luôn giữ gìn và phát huy những hoạt động và giáo lý thâm sâu cuả các bậc tiền nhiệm. Ngài đã học các môn khoa học thông thường như ngữ pháp, thơ ca, lo-gic và các môn học nâng cao về triết học Phật giáo tại Đại học tu viện Ngyagyur Nyungma tại Namdriling tại miền Nam Ấn Độ.</p>
<p style="text-align: justify;">Tu viện Mugsang, Mugsang Thubten Sangngag Chöling tọa lạc tại một vùng đất linh thiêng ở Tây Tạng, nằm về phía Tây Nam của tu viện Kathok. "Mug" nghĩa là "có nghĩa là không sáng tỏ"  còn " Sang" nghĩa là " sáng tỏ ". "Mugsang" nghĩa là " Chuyển mình từ không sang tỏ sang sáng tỏ" . Tu viện này được xây dựng tại một địa điểm nơi Terton Migyur Dorje đã dành những ngày cuối cùng của mình đi vào trạng thái thiền định tâm giác ngộ an trụ trong không gian mênh mang của thực tại.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn : http://www.palyul.org/eng_biotulku_mugsang.htm</em></p>
<p style="text-align: justify;">Việt dịch : Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính : Giác nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với </em><em>Đức Mugsang Kuchen Rinpoche</em> <em>đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này Ngài sớm quang lâm đến Việt nam</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-mugsang-kunchen-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử ngắn Đức Khentul Gyangkhang Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-khentul-gyangkhang-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-khentul-gyangkhang-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 29 Aug 2015 13:13:01 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Palyul Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Palyul]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Palyul Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3306</guid>
		<description><![CDATA[Đức Gyangkhang Rinpoche đời thứ nhất.  Đức Gyangkhang Rinpoche đời thứ nhất tên là Wong Chug, được sinh ra tại Gangrig,Tây Tạng, xứ sở linh thiêng của Đạo sư Guru Rinpoche. Ngài là anh trai của Đức Karma Tashi Rinpoche. Đức Karma Tashi Rinpoche là trưởng Dòng truyền thừa Palyul đời thứ 4 và Đức Karma Kuchen Rinpoche đời thứ nhất,&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-khentul-gyangkhang-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Gyangkhang Rinpoche đời thứ nhất. </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Đức Gyangkhang Rinpoche đời thứ nhất tên là Wong Chug, được sinh ra tại Gangrig,Tây Tạng, xứ sở linh thiêng của Đạo sư Guru Rinpoche. Ngài là anh trai của Đức Karma Tashi Rinpoche. Đức Karma Tashi Rinpoche là trưởng Dòng truyền thừa Palyul đời thứ 4 và Đức Karma Kuchen Rinpoche đời thứ nhất, một trong hai đệ tử chân truyền của Đức Drubwang Pema Norbu Rinpoche đầu tiên. Sự tiên tri trong nhiều kho tàng Kinh điển và Mật điển đã tiết lộ rằng Ngài chính là hóa thân của Quán thế âm Bồ Tát. Nhờ những giáo lý vô cùng quý giá của Ngài, vô lượng chúng sinh đã đạt được giải thoát.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Gyangkhang Rinpoche đời thứ hai</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Đức Gyangkhang Rinpoche đời thứ hai tên là Rigzin Jigme Longdrol, với ý nghĩa  "The Fearless Awareness Holder who is liberated in the Vast Expanse” . Ngài đã thọ nhận các giáo lý từ các vị thầy lỗi lạc của mình như Karma Nyingjed Wangpo, Karma Jigme, Jigme Gyalwai Nyugu (Patrul Rinpoche's Master), và Jigme Tsewang Chogdrub.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài đã nghiên cứu và lắng nghe Tam Tạng kinh điển (Kinh, Luật và Luận). Ngài cũng đã thọ nhận các giáo lý Hiển giáo và Mật giáo và các giáo lý Kama ( Giáo lý trao truyền) và Terma (Kho tàng cất dấu). Vào những năm tháng đầu đời, Ngài đã có những đóng góp to lớn trong việc truyền bá những giáo lý thâm sâu của Dòng truyền thừa Palyul. Những năm tháng cuối đời Ngài đã ẩn tu trong hang động linh thiêng nơi Guru Rinpoche thực hành pháp tu phẫn nộ. Trong thời gian thực hành tu tập, Ngài đã ban giáo lý Đại Viên Mãn (Dzogchen) cho hàng nghìn đệ tử và xây dựng rất nhiều Bảo tháp và ảnh tượng các vị Phật. Hơn nữa, Ngài đã hoàn thành các giai đoạn phát triển và giai đoạn thành tựu của thiền và phổ độ vô số chúng sinh hữu hình và vô hình. Vì thế, Ngài được coi là một bậc Thầy vĩ đại, bậc nắm giữ giáo lý và nhận được sùng kính rộng rãi.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Gyangkhang Rinpoche đời thứ 3</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Đức Gyangkhang Rinpoche đời thứ 3 tên là Pedma Kenzang Tenzin. Khi còn nhỏ, Ngài thường có linh kiến về Quán Thế Âm Bồ Tát (Chenrizig), một cách rõ ràng như là đang nói chuyện với một người thường. Đức Khenpo Baden Chisong Rinpoche, một trong những Đạo sư của dòng tộc Thích Ca, đã ấn chứng Ngài là hóa thân của Đức Gyangkhang Rinpoche đời thứ hai. Ngài đã tu học dưới sự dẫn dắt của rất nhiều Đạo sư vĩ đại như Đức Jamyang Khyentse Wangpo, Gyaltrul Pema Dongag Tenzin, Jamgon Kongtrul Lodro Thaye và Rigzin Dzotu Pawo Dorje. Ngài đã lắng nghe toàn bộ giáo lý Kinh điển và Mật điển của dòng truyền thừa Nyingma, và đưa vào thực hành và giảng dạy các giáo lý cho nhiều đệ tử, đóng góp vào việc truyền bá Phật Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Gyangkhang Rinpoche thứ 4</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Đức Gyangkhang Rinpoche thứ 4 sinh ra ở Ấn Độ. Đã được Đức H.H. Penor Rinpoche, H.H. Dudjom Rinpoche va H.H. Dilgo Khyentse Rinpoche xác nhận là hóa thân chuyển thế của Đức Gyangkhang Rinpoche thứ ba.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi lên 4 tuổi, Đức Penor Rinpoche đã mời Ngài đến ở tại Tu viện Namdroling và sau đó đã chăm sóc Ngài như đứa con yêu thương của mình. Khi 15 tuổi Ngài đã thọ nhận các giáo lý Mật điển bí truyền, đặt nền tảng cho những thực hành tu tập cao hơn. Ngài đã vào tu viện Ngagyur Nyingma(Shedra), một chi nhánh của Tu viện Namdroling nơi đây Ngài đã nghiên cứu triết lý Phật giáo tổng quát cũng như các giáo lý chuyên sâu của Dòng truyền thừa Nyingma.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Ngài học năm thứ 5 trong chương trình học Phật học, Đức Gyangkhang Rinpoche đã thể hiện kiến thức Kinh điển của mình bằng một bài diễn văn dài về Sangwa Nyingpo (Kinh Magical Net và Giáo lý Mahayoga) trước Đức Đạt Lai Lạt Mat thứ 14 và 30 nghìn tăng sĩ đến từ tất cả truyền thống tôn giáo Tây Tạng. Ngài đã tranh biện về chủ đề này và dành chiến thắng. Đức Dalai Lama 14 đã khen ngợi trí tuệ của Ngài trước tất cả tăng sĩ và trao tặng Ngài khăn Kata (một chiếc khăn truyền thống của tây Tạng), động viên Ngài giữ gìn, truyền bá Giáo lý của Đức Phật vì lợi lạc của tất cả chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài đã thọ nhận các quán đảnh, khẩu truyền và giáo huấn về toàn bộ giáo lý Kinh điển và Mật điển thâm sâu của dòng truyền thừa Nyingma từ Đức Dilgo Khyentse Rinpoche, Dodrubchen Rinpoche, Jadrel Rinpoche, Khenpo Jigme Phuntsok Rinpoche, và Nyoshul Khen Rinpoche. Đặc biệt Ngài đã thọ nhận giáo lý dòng truyền thừa Palyul bao gồm giáo lý Namchö từ Đức Penor Rinpoche. Ngài không chỉ thọ nhận các giáo lý cho giai đoạn sơ khởi (Ngondro), Tsalung và Đại Viên Mãn (Dzogchen) mà còn đưa vào thực hành miên mật. Ngài cũng được các Khenpo và các vị Thầy vĩ đại thời bấy giờ chỉ dạy các giáo lý Phật giáo về Kinh điển và Mật điển.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào năm 1994, dưới gốc cây Bồ Đề, Đức Gyangkhang Rinpoche đã thọ nhận những giới nguyện sắc phong  từ Đức Penor Rinpoche. Vào thời điểm đó, Ngài đã được gọi là Thupten Mawai Nyima Jigme Singye Chogle Nampar Gyalwai De. Năm 1995, Ngài đã hoàn thành khóa học 9 năm trong Tu viện. Với sự học hỏi và hiểu biết của Ngài, Đức Penor Rinpoche đã ban cho Ngài danh hiệu “Tulku Khenpo” và công nhận Ngài là vị Thầy giảng dạy giáo Pháp, đưa chúng sinh đến con đường giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước khi được sắc phong với danh hiệu Khenpo, Ngài đã ban rất nhiều giáo lý trong những dịp ở Tu viện Namdroling, Mỹ và các quốc gia châu Á như Hồng Kông, Đài Loan và một số quốc gia khác. Giao lý Ngài ban ra gồm có các giáo lý Phật giáo về Bồ Đề Tâm, Thiền Định và Triết học. Ngài cũng ban các quán đảnh và khẩu truyền.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Gyangkhang Rinpoche đã nhận ra ý nghĩa các giáo lý Đức Phật qua Kinh điển và Mật điển. Vào một số dịp có nhân duyên Ngài đã ban truyền giáo lý và những chỉ dẫn và đưa ra những lời khuyên ở một số trung tâm Pháp trên thế giới. Hiện tại, Ngài đang giảng dạy tại Tu viên Ngagyur Nyingma và giúp Đức Penor Rinpoche gánh vác rất nhiều trọng trách của các tu viện.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn : </em><a href="http://www.palyul.org/eng_biotulku_gyangkhang.htm"><em>http://www.palyul.org/eng_biotulku_gyangkhang.htm</em></a></p>
<p style="text-align: justify;">Việt dịch : Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính : Giác nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với </em><em>Đức Gyangkhang Rinpoche</em> <em>đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này Ngài sớm quang lâm đến Việt nam</em></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-khentul-gyangkhang-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử ngắn Khenpo Namdrol Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-khenpo-namdrol-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-khenpo-namdrol-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 29 Aug 2015 13:12:18 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Palyul Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Palyul]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Palyul Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3303</guid>
		<description><![CDATA[Đức Khenpo Namdrol Rinpoche sinh năm 1953 tại Dege, thân phụ là ngài Tsedrung và thân mẫu là bà Choetso. Năm 1959, khi lên 7 tuổi, Ngài đã rời khỏi Tây Tạng và tới Bylakuppe, miền Nam Ấn Độ. Năm 1968, Ngài thực hành Bum-Nga (Năm trăm nghìn tích lũy của pháp tu tập sơ khởi). Ngài đã thọ nhận&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-khenpo-namdrol-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Đức Khenpo Namdrol Rinpoche sinh năm 1953 tại Dege, thân phụ là ngài Tsedrung và thân mẫu là bà Choetso. Năm 1959, khi lên 7 tuổi, Ngài đã rời khỏi Tây Tạng và tới Bylakuppe, miền Nam Ấn Độ. Năm 1968, Ngài thực hành Bum-Nga (<em>Năm trăm nghìn tích lũy của pháp tu tập sơ khởi</em>). Ngài đã thọ nhận các giáo lý 37 Pháp Hành Bồ Tát, Vishestava (<em>Tán thán Danh hiệu Đức Phật)</em> và Mipham Rinpoche’s Tong Thun Sengei Ngaro (<em>Notes on Tathagarbha entitled Roar of the Lion)</em> từ Đức Nyoshul Khenpo, một Đạo sư vĩ đại của dòng Đại Viên Mãn (Dzogchen).</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Khenpo Khedrub đã dạy cho Ngài <em>Mipham’s Commentary to Abhidharmakosha, Commentary to Madyamakalankara, Condensed Tenet Concepts from the Treasury of Wish Fulfilling Gem, </em>và <em>Mipham Rinpoche’s Notes on Chandrakirti’s Madhyamakavatara.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Ngài đã thọ nhận các giáo lý về <em>Mipham Rinpoche’s Notes on Nagarjuna’s Mulaprajna</em> và các bộ luận Madhyamika khác. Sau này, Ngài tới Sikkim 5 năm, nơi đây Ngài đã thọ nhận rất nhiều giáo lý Prajnaparamita, Madhyamika, Pramana và các giáo lý Kinh điển khác từ  Đức Khenpo Tsondrue. Ngài cũng thọ nhận các giáo lý Mật điển gồm có <em>Trilogy of Self-Liberation and Key to the Treasure</em> - một luận giảng phổ quát về Guhyagarbha Tantra của Đức Longchenpa.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 25 tuổi, theo ước nguyện của Đức Pháp Vương Penor Rinpoche và Khenpo Tsondrue, Ngài đã trở về Tu viện Namdroling. Năm 1978, kể từ khi thiết lập Tu viện Ngagyur Nyingma, Ngài là người chịu trách nhiệm then chốt trong việc quản lý và giảng dạy tại Tu viện. Năm 1983, Đức Penor Rinpoche đã trao tặng bằng Khenpo cho Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1988, Ngài di chuyển tới Serta, thuộc tỉnh Kham, Tây Tạng để thọ nhận các giáo lý từ Đức Pháp Vương Khenpo Jigme Phuntsog Rinpoche. Vào thời điểm đó, Ngài đã thọ nhận các hướng dẫn về ba luận giảng khác nhau về Guhyagarbha Tantra: Mipham Rinpoche’s Osel Nyingpo (<em>Clear Light Essence</em>), Longchenpa’s Chogchu Munsel (<em>Clearing the Darkness of Ten Directions</em>), và Dodrubchen Tenpai Nyima’s Dzodkyi Demig (<em>Key to the Treasure)</em>. Về giáo lý Đại Viên Mãn (Dzogchen), Ngài đã thọ nhận Chetsun Nyingthig (<em>Innermost Spirituality of Chetsun</em>) cũng như các giáo huấn riêng của Đức Khenpo Jigme Phuntsog về giáo lý Đại Viên Mãn (Dzogchen), Sự Giải Thoát Trong Lòng Bàn Tay, bình giảng của Đức Patrul Rinpoche về <em>Three Words that Strike the Vital Point, Pointing the Finger to the Nature of Mind</em> và nhiều giáo lý khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Cũng vào năm 1992, Đức Khenpo Jigme Phuntsog đã ban cho Ngài <em>Treasury of Precious Meaning of Words</em> của Đức Longchenpa, hướng dẫn về Khandro Nyingthig (<em>Innermost Spirituality of Dakini</em>) mang tên <em>Illuminating the Profound Path</em>, <em>Mipham Rinpoche’s Vital Instructions on Dzogche  Tekchod (Cutting Through) </em>và nhiều những giáo lý bí truyền khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Kể từ khi thiết lập Tu viện, Ngài đã giảng dạy rất nhiều chủ đề khác nhau, gồm có Chandrakirti’s Madhyamakavatara (<em>Entering the Middle Way</em>), <em>Mipham Rinpoche’s Commentary to the Ninth Chapter of Bodhisattvacharyavatara</em> gọi là Ketaka, Mahayanasutralankara (<em>Ornament of the Mahayana sutra)</em>, Mipham Rinpoche’s Nge She Dron Me (<em>Lamp of Definite Understanding</em>), Chidon Dzod Gyi Demig (<em>General Commentary to Guhyagarbha Tantra called the Key to Treasure)</em>, Lochen Dharmashri’s Sangdag Gongyen (<em>Ornament of Vajrapani’s Intentions - Commentary to Guhyagarbha Tantra</em>) và nhiều giáo lý chuyên sâu khác của phái Cổ Mật Nyingma và rất nhiều tác phẩm lớn của các học giả uyên thâm Tây Tạng và Ấn Độ.</p>
<p style="text-align: justify;">Kể từ đây, Đức Khenpo Namdrol Rinpoche đã có những đóng góp hết sức to lớn trong công tác quản lý và giảng dạy tại Tu viện với động cơ duy nhất là trì giữ Giáo pháp trong thời đại suy hoại này.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1998, dưới sự hướng dẫn của Đức Pháp Vương Penor Rinpoche, Đức Khenpo Namdrol Rinpoche đã thiết lập Trung tâm Nhập Thất Palyul, Samten Osel Ling ở Pharping, Thung lũng Kathmandu, Nepal. Bây giờ, Khenpo dành hầu hết thời gian của mình tại trung tâm cũng như giảng dạy ở nước ngoài và tu viện.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn : http://www.palyul.org/eng_biokhenpo_namdrol.htm</em></p>
<p style="text-align: justify;">Việt dịch : Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính : Giác Nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với </em><em>Đức Khenpo Namdrol Rinpoche</em><em> đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này Ngài sớm quang lâm đến Việt Nam.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Lưu ý: Trong bản dịch này chúng tôi xin phép giữ nguyên tên các tác phẩm bằng tiếng Anh. Có gì sai sót kính mong chư thiện tri thức từ bi chỉ giáo.</p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/palyul-nyingma/tieu-su-ngan-duc-khenpo-namdrol-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
