<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Truyền thừa Shechen</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-nyingema/shechen-nyingma/truyen-thua-shechen/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Fri, 17 Apr 2026 16:09:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Thực hành Đại Toàn Thiện trong đời sống hàng ngày</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/thuc-hanh-dai-toan-thien-trong-doi-song-hang-ngay/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/thuc-hanh-dai-toan-thien-trong-doi-song-hang-ngay/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 25 Sep 2015 16:12:17 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Shechen]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Shechen]]></category>
		<category><![CDATA[Đại Toàn Thiện]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5928</guid>
		<description><![CDATA[By Dilgo Khyentse Rinpoche Thực hành thiền Đại toàn thiện trong cuộc sống hằng ngày chỉ đơn giản là phát triển một sự chấp nhận hoàn toàn và thảnh thơi, một sự rộng mở không giới hạn trước mọi hoàn cảnh. Chúng ta nên nhận ra sự rộng mở này như là một sân chơi của những cảm xúc của&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/thuc-hanh-dai-toan-thien-trong-doi-song-hang-ngay/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>By Dilgo Khyentse Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Thực hành thiền Đại toàn thiện trong cuộc sống hằng ngày chỉ đơn giản là phát triển một sự chấp nhận hoàn toàn và thảnh thơi, một sự rộng mở không giới hạn trước mọi hoàn cảnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta nên nhận ra sự rộng mở này như là một sân chơi của những cảm xúc của chúng ta và quan hệ với mọi người mà không có sự giả tạo, cố gắng điều khiển hay sắp đặt kế hoạch.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta nên trải nghiệm mọi điều một cách toàn thể, không bao giờ rút lui vào trong bản thân chúng ta như một con chồn giấu mình trong hố của nó. Sự thực hành này giải phóng vô vàn năng lượng vốn thường bị bó hẹp lại bởi tiến trình cố gắng duy trì những điểm quy chiếu cố định. Sự liên hệ quy chiếu là quá trình chúng ta rút khỏi kinh nghiệm trực tiếp trong cuộc sống hằng ngày.</p>
<p style="text-align: justify;">Có mặt trong thời khắc hiện tại có thể ban đầu gây ra sự sợ hãi. Tuy nhiên, bằng việc đón chào những cảm xúc sợ hãi cùng với toàn thể sự rộng mở, chúng ta vượt qua những chướng ngại được tạo nên bởi những khuôn mẫu cảm xúc theo thói quen.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi chúng ta dấn mình vào thực hành khám phá không gian, chúng ta nên phát triển cảm giác mở rộng hoàn toàn chính chúng ta tới toàn thể vũ trụ. Chúng ta nên mở rộng bản thân chúng ta bằng sự đơn giản và trần trụi tuyệt đối của tâm. Đó là cách thực hành mạnh mẽ và thường xuyên để gỡ bỏ mặt nạ của sự tự bảo vệ.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong sự tham thiền của mình, chúng ta không nên phân tách giữa nhận thức và đối tượng của sự nhận thức. Chúng ta không nên giống như con mèo đang rình chuột. Chúng ta nên nhận ra rằng mục tiêu của tham thiền chẳng phải “đi sâu vào bản thể” của chúng ta hay rút lui khỏi thế giới. Sự hành trì nên được tự do và phi khái niệm, không bị gò bó bởi sự tự quán tâm  hay sự tập trung.</p>
<p style="text-align: justify;">Không gian của trí tuệ bao la, không có khởi thủy và tự sáng tỏ này là nền tảng của hiện hữu –  sự khởi đầu và sự kết thúc của mọi hỗn độn. Sự hiện diện của tính giác trong trạng thái nguyên thủy không thiên vị đối với giác ngộ hay không giác ngộ. Nền tảng của hiện hữu này, vốn được biết đến như tâm bổn nguyên hay thanh tịnh, là cội nguồn mà từ đó mọi hiện tượng xuất hiện. Nó được biết đến như là mẹ vĩ đại, như thai tạng của mọi tiềm năng mà trong đó, mọi thứ khởi sinh và tan biến trong trạng thái tự hoàn thiện và tuyệt đối tự nhiên.</p>
<p style="text-align: justify;">Mọi khía cạnh của hiện tượng là hoàn toàn trong sáng và rõ ràng. Toàn thể vũ trụ là rộng mở không chướng ngại –  mọi thứ thâm nhập lẫn nhau.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhìn mọi thứ trần trụi, rõ ràng và tự do khỏi những che ám, không có gì để đạt được hay chứng ngộ. Bản tính của hiện tượng xuất hiện một cách tự nhiên và thể hiện tự nhiên trong sự tính giác phi thời gian. Mọi thứ hoàn hảo như nó vốn là. Mọi hiện tượng xuất hiện trong sự duy nhất của chúng như là một phần của một nhịp điệu luôn thay đổi. Những nhịp điệu này sống động với ý nghĩa và tầm quan trọng tại mỗi thời khắc; tuy nhiên không có ý nghĩa gì nếu bám chấp vào những ý nghĩa đó ngoài thời khắc mà chúng thể hiện chính mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Đây là vũ điệu của năm đại mà trong đó vật chất là biểu hiện của năng lượng và năng lượng là biểu hiện của tính không. Chúng ta là biểu hiện cho sự giác ngộ của chính chúng ta. Bằng sự không cố gắng hay thực tập bất cứ điều gì, sự giải thoát hay giác ngộ đã có mặt ở đó rồi.</p>
<p style="text-align: justify;">Hành trì thiền Đại toàn thiện mỗi ngày chỉ là bản thân cuộc sống mỗi ngày. Bởi trạng thái kém phát triển không tồn tại, do đó không cần thiết phải hành xử theo bất kỳ một cách đặc biệt nào hay cố gắng để đạt được bất kỳ điều gì ở trên hay ở dưới điều mà chúng ta đang là. Không nên có cảm giác phấn đấu để đạt tới một “mục tiêu tuyệt vời” hay một “trạng thái cao cấp” nào đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Cố phấn đấu đạt tới một trạng thái như vậy là một chứng loạn thần kinh, nó chỉ điều kiện hóa chúng ta và phục vụ cho việc làm chướng ngại dòng chảy tự do của Tâm. Chúng ta cũng nên tránh việc nghĩ về bản thân của chúng ta như những người không có giá trị –  chúng ta vốn tự do và không điều kiện. Chúng ta về thực chất đã giác ngộ và chẳng thiếu điều gì.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi dấn mình vào tham thiền, chúng ta nên cảm thấy nó tự nhiên như ăn, thở và đi vệ sinh. Việc đó không nên trở thành một sự kiện đặc biệt hay theo nghi thức, bị thổi phồng lên bởi sự hệ trọng và trang nghiêm. Chúng ta nên hiểu rằng thiền vượt hơn khỏi nỗ lực, thực hành, mục đích, mục tiêu và tính nhị nguyên của giải thoát và không giải thoát. Thiền luôn lý tưởng; không cần thiết phải sửa chữa bất cứ điều gì. Bởi bất cứ điều gì khởi lên đơn thuần chỉ là trò chơi của tâm thức như vậy, không có thiền không đạt yêu cầu và không cần thiết phải đánh giá những niệm tưởng là tốt hay xấu.</p>
<p style="text-align: justify;">Do đó, chúng ta nên đơn giản chỉ cần ngồi. Đơn giản là ở lại tại vị trí riêng của bạn, trong điều kiện riêng của bạn đúng như nó vốn là. Hãy quên những cảm xúc tự ý thức, chúng ta không cần phải nghĩ “tôi đang thiền đây.” Sự hành trì của chúng ta nên phi nỗ lực, không căng thẳng, không cần cố gắng để kiểm soát hay gượng ép và không cần cố gắng để trở nên “an lạc”.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu chúng ta nhận ra rằng chúng ta đang làm phiền chính bản thân mình bằng bất kỳ cách nào trong những cách trên, chúng ta dừng thiền và đơn giản là nghỉ ngơi, thư giãn một lúc. Sau đó, chúng ta lại tiếp tục hành thiền. Nếu chúng ta có “những trải nghiệm thú vị”  trong hay sau lúc hành thiền, chúng ta nên tránh làm chúng trở nên đặc biệt. Dành thời gian nghĩ về những kinh nghiệm chỉ đơn giản là một sự phân tâm và một sự cố gắng để trở nên mất tự nhiên. Những kinh nghiệm này đơn thuần là dấu hiệu của sự thực hành và nên được coi là những sự kiện thoáng qua. Chúng ta không nên cố gắng trải nghiệm lại chúng bởi như vậy chỉ làm sai lệch sự tự phát tự nhiên của tâm thức.</p>
<p style="text-align: justify;">Mọi hiện tượng đều tươi mới một cách hoàn hảo, duy nhất tuyệt đối và hoàn toàn tự do khỏi tất cả những khái niệm về quá khứ, hiện tại và tương lai. Chúng được kinh nghiệm trong sự không có thời gian.</p>
<p style="text-align: justify;">Dòng tương tục của sự khám phá mới, sự phát lộ và nguồn cảm hứng phát sinh tại mọi thời khắc chính là sự biểu hiện của sự sáng tỏ của chúng ta. Chúng ta nên học để thấy cuộc sống mỗi ngày như một mạn đà la – những viền tua sáng tỏ của kinh nghiệm, tỏa ra một cách tự nhiên từ bản tính rỗng không của bản thể chúng ta. Những khía cạnh của mạn đà la của chúng ta là các đối tượng hằng ngày trong kinh nghiệm sống của mình chuyển động trong điệu vũ hay trò chơi của vũ trụ. Bằng hình ảnh tượng trưng này, người thầy nội tại phát lộ ý nghĩa sâu sắc và tối hậu của bản thể. Do đó, chúng ta nên tự nhiên và không gò bó, chấp nhận và học từ mọi điều. Điều này cho phép chúng ta nhìn thấy mặt hài hước và mỉa mai của các sự kiện mà thông thường sẽ khiến chúng ta nổi cáu.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong thiền, chúng ta có thể nhìn xuyên qua những ảo tưởng về quá khứ, hiện tại và tương lai –  kinh nghiệm của chúng ta trở thành sự liên tục của cái bây giờ. Quá khứ chỉ là một ký ức không đáng tin cậu còn neo lại cho tới hiện tại. Tương lai chỉ là sự phóng chiếu về những quan niệm hiện tại của chúng ta. Hiện tại bản thân nó biến mất ngay khi chúng ta cố nắm bắt nó. Do đó, tại sao lại phải bận tâm với sự cố gắng thiết lập một ảo ảnh về nền tảng vững chắc?</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta nên tự giải thoát mình khỏi những ký ức về quá khứ và những định kiến về thiền. Mỗi thời khắc thiền đều duy nhất hoàn toàn và đầy tiềm năng. Trong những thời khắc này, chúng ta không thể đánh giá sự hành thiền của chúng ta theo kinh nghiệm quá khứ, lý thuyết khô cứng hay những lời khoa trương rỗng tuếch.</p>
<p style="text-align: justify;">Đơn giản là dấn mình trực tiếp vào thiền trong thời khắc hiện tại này, với toàn thể hiện hữu của chúng ta, thoát khỏi do dự, chán ngán hay phấn khích, đó <em>chính là</em> giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;">Việt ngữ : Bảo Châu</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/thuc-hanh-dai-toan-thien-trong-doi-song-hang-ngay/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đôi nét về Đạo Sư nắm giữ truyền thống Shechen</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/shechen-nyingma/bac-nam-giu-truyen-thong-shechen/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/shechen-nyingma/bac-nam-giu-truyen-thong-shechen/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 29 Aug 2015 13:45:27 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Shechen Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống Shechen Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Shechen]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3333</guid>
		<description><![CDATA[Đức Dilgo Khyentse Rinpoche CÁC BẬC NẮM GIỮ TRUYỀN THỐNG SHECHEN Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche thuộc thế hệ các vị lama vĩ đại cuối cùng hoàn thành chương trình giáo dục và rèn luyện ở Tây Tạng. Ngài là một lama cao cấp của truyền thừa Nyingma, đạo sư của gia đình hoàng gia Bhutan, và một bậc trì giữ&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/shechen-nyingma/bac-nam-giu-truyen-thong-shechen/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;">Đức Dilgo Khyentse Rinpoche</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/2952_473426549391400_754700237_n.jpg"><img class="alignnone  wp-image-5172" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/2952_473426549391400_754700237_n-210x300.jpg" alt="2952_473426549391400_754700237_n" width="357" height="510" /></a></p>
<p style="text-align: center;">CÁC BẬC NẮM GIỮ TRUYỀN THỐNG SHECHEN</p>
<p style="text-align: justify;">Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche thuộc thế hệ các vị lama vĩ đại cuối cùng hoàn thành chương trình giáo dục và rèn luyện ở Tây Tạng. Ngài là một lama cao cấp của truyền thừa Nyingma, đạo sư của gia đình hoàng gia Bhutan, và một bậc trì giữ dòng truyền thừa Thực hành xuất chúng, đã giành hai mươi hai năm của cuộc đời để thiền định nhập thất và chứng ngộ rất nhiều giáo lý mà ngài đã nhận được.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài cũng sáng tác rất nhiều bài thơ, các tác phẩm thiền định, và các luận giải – tổng cộng hai mươi lăm bản – là một terton, một người truy tìm các kho tàng tâm linh, sự phát lộ qua các linh kiến của ngài mang các chỉ dẫn cốt tủy khẩu truyền rộng lớn của đức Liên Hoa Sinh đến trực tiếp chúng ta. Nổi tiếng vì khả năng có thể trao truyền các giáo lý của mỗi truyền thừa Phật giáo theo đúng truyền thống riêng, ngài là đại diện mẫu mực của phong trào Rime của Tây Tạng, hay là Bất bộ phái, và là một đạo sư đáng kinh của rất nhiều các vị lama của cả bốn dòng phái chính của Tây Tạng. Ngài cũng là một trong các đạo sư xuất chúng về các chỉ dẫn cốt tủy Dzogchen, Đại toàn thiện, và là một trong các bậc trì giữ chính của truyền thống Longchen Nyingtik. Đức Dalai Lama nói rằng ngài coi đức Dilgo Khyentse Rinpoche là vị thầy Dzogchen chính của ngài.</p>
<p style="text-align: justify;"> Một học giả, một nhà hiền triết, một nhà thơ, Rinpoche chưa bao giờ hết nguồn cảm hứng cho những ai biết đến ngài thông qua sự hiện diện phi phàm, sự đơn giản, phẩm giá và sự hài hước của ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Khyentse Rinpoche sinh năm 1910 tại thung lũng Denkhok, miền Đông Tây Tạng. Gia đình ngài có thể truy nguyên tổ tiên hoàng tộc từ đức vua Trisong Detsen; cha ngài là một vị bộ trưởng của vua xứ Derge. Khi vẫn còn trong bụng mẹ, ngài được công nhận là một hóa thân siêu phàm bởi đức Mipham Rinpoche lừng lẫy, người sau này đặt tên cho đứa bé là Tashi Paljor và trao truyền một sự gia trì đặc biệt và quán đảnh Văn Thù cho ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi là một cậu bé, Rinpoche đã có mong ước lớn lao được cống hiến cuộc đời cho đời sống tâm linh. Nhưng cha ngài không nghĩ vậy. Hai đứa con lớn của ông đã rời nhà theo đuổi đời sống tăng sĩ; một được công nhận là một lama tái sinh, một mong muốn trở thành bác sĩ. Cha của Rinpoche hy vọng người con út sẽ theo chân sự nghiệp của ông và quản lý đất đai rộng lớn của gia đình, và ông không chấp nhận rằng ngài có thể là một vị tulku, hay một vị lama tái sinh, như đã được chỉ ra bởi nhiều vị đạo sư uyên bác.</p>
<p style="text-align: justify;">Lên mười tuổi, cậu bé bị ốm nặng; cậu nằm liệt giường gần một năm. Các vị lama uyên bác khuyên rằng, nếu ngài không theo đuổi con đường tâm linh, ngài sẽ không sống lâu. Nhượng bộ trước những khẩn cầu của mọi người, cha ngài đồng ý rằng cậu bé sẽ theo đuổi mong muốn của cậu để hoàn thành số mệnh. Vì thế, lên mười một, ngài đến tu viện Shechen ở tỉnh Kham, miền Đông Tây Tạng, một trong sáu tu viện chính của truyền thừa Nyingma. Ở đây, vị thầy gốc của ngài, đức Shechen Gyaltsap, người kế thừa chánh Pháp của Mipham Rinpoche chính thức công nhận và làm lễ đăng ngôi cho ngài như hóa thân về tâm của Khyentse Rinpoche đệ nhất, Jamyang Khyentse Wangpo, một vị lama vô song – cùng với Jamgon Kongtrul đệ nhất – thiết lập một thời kỳ phục hưng Phật giáo trên khắp Tây Tạng. Mọi vị đạo sư Tây Tạng đương thời đều có nguồn cảm hứng và sự gia trì từ phong trào này.</p>
<p style="text-align: justify;">Khyentse nghĩa là trí tuệ và từ bi. Các vị tulku Khyentse là hóa thân của các nhân vật quan trọng trong sự phát triển của Phật giáo Tây Tạng. Trong đó có đức Longchenpa, đạo sư Dzogchen vĩ đại của thế kỷ 14, người mà rất nhiều các tác phẩm của ngài đã làm sáng tỏ toàn bộ kiến thức Phật giáo; Jigme Lingpa, người đã sáng lập truyền thống Longchen Nyingtik ở thế kỷ 18; và vua Trisong Detsen và Vimalamitra, người cùng với Guru Rinpoche mang Phật giáo mật tông đến xứ Tây Tạng ở thế kỷ 9.</p>
<p style="text-align: justify;">Tại tu viện Shechen, Khyentse Rinpoche đã giành phần lớn thời gian để nghiên cứu và thiền định với vị thầy gốc của ngài trong một khu ẩn cư bên trên tu viện. Trong suốt thời gian đó, đức Shechen Gyaltsap đã ban cho ngài mọi quán đảnh quan trọng và các chỉ dẫn của truyền thống Cổ Mật. Rinpoche cũng học với nhiều vị đạo sư khác, bao gồm đức Dzogchen Khenpo Shenga nổi tiếng, người đã truyền lại cho ngài Khyentse Rinpoche các tác phẩm chính của ngài, Mười ba bộ Luận giải. Ngài nhận các giáo lý và trao truyền từ hơn năm mươi vị thầy cả thảy.</p>
<p style="text-align: justify;"> Trước khi ngài Shechen Gyaltsap thị tịch, Khyentse Rinpoche, ở tuổi 15, hứa với vị thầy yêu quý sẽ dạy một cách hào phóng cho bất kỳ ai thỉnh ngài về Pháp. Kể từ đó đến khi ngài hai mươi tám, ngài giành thời gian để nhập thất thiền định im lặng, sống trong những khu ẩn cư hay hang động xa xôi hoặc đơn giản là dưới vách đá ở ngọn núi bên gần nơi ngài sinh ra. Sự chứng ngộ pháp nội hỏa (tummo) của ngài đến mức mà trong hang động vẫn ấm trong suốt mùa đông băng tuyết ở Tây Tạng. Ngài cũng để lại vết chân trên một tảng đá dưới một trong các khu ẩn cư.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Dilgo Khyentse Rinpoche sau đó giành nhiều năm cùng với Dzongsar Khyentse Chokyi Lodro (1896 – 1959), người mà cũng là một hóa thân của Khyentse đệ nhất. Sau khi nhận từ Chokyi Lodro rất nhiều quán đảnh Rinchen Terdzo, bộ các quán đảnh của Kho tàng được phát lộ (terma), Rinpoche thỉnh ngài rằng sẽ giành phần đời còn lại để thiền định độc cư. Nhưng Khyentse Chokyi Lodro nói rằng, “Đã đến lúc con giảng dạy và trao truyền các giáo lý quý giá này cho người khác.” Kể từ đó, Rinpoche làm việc liên tục vì lợi lạc của chúng sinh với năng lượng không vơi cạn, là một điểm nổi bật của truyền thừa Khyentse.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong suốt những năm 70 và 80, mặc dù tuổi tác, Khyentse Rinpoche đi khắp xứ Himalaya, Ấn Độ, Đông Nam Á, và Tây phương để trao truyền và giải thích các giáo lý cho rất nhiều đệ tử. Ngài cũng thường đi cùng vị phối ngẫu, Sangyum Lhamo, cháu trai và người thừa kế tâm linh, Rabjam Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Dù bất cứ nơi nào ngài đi, ngài thường dậy trước mặt trời mọc, cầu nguyện và thiền định rất nhiều giờ trước bắt đầu một chuỗi các hoạt động liên tục cho đến tối muộn. Ngài hoàn thành một lượng lớn công việc với sự bình thản và không mấy nỗ lực hiện rõ.</p>
<p style="text-align: justify;">Rinpoche viếng thăm Tây Tạng ba lần trong từ năm 1985 đến năm 1990. Ở đây, ngài bắt đầu việc xây dựng lại tu viện Shechen, bị phá hủy trong thời kỳ Cách mạng Văn Hóa, và trông nom việc tái thiết tu viện Samye, nơi được ngài ban gia trì vào năm 1990.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở Nepal, Khyentse Rinpoche đã chuyển truyền thống Shechen rộng lớn về một ngôi nhà mới – một tu viện lộng lẫy phía trước của đại bảo tháp Boudhanath. Nơi đây trở thành vị trí chính của ngài, ngôi nhà cho cộng đồng tăng, được tu viện trưởng Rabjam Rinpoche lãnh đạo. Đó là mong ước đặc biệt của Khyentse Rinpoche rằng đây sẽ là nơi mà giáo lý Phật Đà sẽ được tiếp tục một cách thanh tịnh tuyệt đối, như là trước đây chúng được nghiên cứu và thực hành ở Tây Tạng, và ngài đã giành rất nhiều sự quan tâm đến việc giáo dục các vị lama trẻ đầy triển vọng có thể tiếp tục truyền thống.<br />
Các dự án khác của ngài bao gồm xây dựng các bảo tháp và tu viện ở các địa điểm linh thánh, điều mà ngài nói rằng sẽ thúc đẩy hòa bình thế giới, xa hơn là các giá trị và thực hành Phật giáo, và giúp ngăn cản sự xung đột, bệnh tật và nạn đói. Ở Ấn Độ, ngài xây dựng một bảo tháp mới ở Bồ Đề Đạo Tràng, nơi mà Đức Thích Ca Mâu Ni đã đạt đến giác ngộ dưới tán bồ đề. Bảo tồn các di sản Văn học Phật giáo quý giá cũng rất quan trọng với ngài. Sau khi các cuốn sách và thư viện ở Tây Tạng bị phá hủy một cách hệ thống bởi người Trung Quốc, rất nhiều tác phẩm chỉ còn một hay hai bản. Nhờ có những nỗ lực của Khyentse Rinpoche, khoảng 300 bản văn gần như bị mất đã được công bố.</p>
<p style="text-align: justify;">Thông qua các hoạt động giác ngộ của ngài, Khyentse Rinpoche đã hiến dâng trọn cuộc đời cho việc bảo tồn và truyền bá chánh Pháp. Điều làm ngài hài lòng nhất là nhìn thấy Pháp thực sự được thực hành.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài đi hoằng pháp rất nhiều lần ở phương Tây trong mười lăm năm cuối của cuộc đời, bao gồm hai chuyến đi Bắc Mỹ. Tại trụ xứ của ngài ở châu Âu, Shechen Tennyi Dargyeling ở Dordogne, Pháp, nơi mà mọi người từ khắp nơi trên thế giới nhận các giáo lý vĩ đại từ ngài, ngài đã hướng dẫn cho rất nhiều nhóm đệ tử thực hành nhập thất ba năm theo truyền thống. Đó là cách ngài đóng góp cho Phật giáo Tây Tạng ở phương Tây, có không ít hơn năm trăm đệ tử từ châu Âu đến Bắc Mỹ đã tham gia lễ trà tỳ của ngài ở Bhutan năm 1992.</p>
<p style="text-align: justify;">Không gì miêu tả về cuộc đời của Dilgo Khyentse Rinpoche có thể truyền tải trọn vẹn ngài là ai. Những ai may mắn lớn lao được giành thời gian bên ngài biết rằng họ đang gặp một vị Phật thực sư, vì ngài hoàn toàn tượng trưng cho giáo lý mà ngài phổ biến và các vị đạo sư tâm linh vĩ đại của dòng truyền thừa ngài trì giữ. Thậm chí những người lạ khi gặp ngài cũng cảm thấy tính nhân văn sâu sắc và những phẩm tánh tâm linh của ngài.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Trích dịch từ cuốn Zurchungpa’s Testament. Về bản chi tiết hơn tiểu sử ngài Dilgo Khyentse Rinpoche có thể được tìm thấy trong cuốn tự truyện về cuộc đời ngài, với đề tựa Trăng Kim Cương.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em> Nguồn:http://nyingmapavietnam.com/KYABJE%20DILGO%20KHYENTSE%20RINPOCHE.html</em></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> </strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/shechen-nyingma/bac-nam-giu-truyen-thong-shechen/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
