<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Truyền Thống Nyingma</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-nyingema/truyen-thong-nyingema/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Sat, 25 Apr 2026 03:57:22 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>THÔNG BẠCH CHƯƠNG TRÌNH HOẰNG PHÁP CỦA ĐẠO SƯ TERCHEN NAMKHA RINPOCHE VÀ ĐỨC JIGME RINPOCHE</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/thong-bach-chuong-trinh-hoang-phap-cua-duc-phap-vuong-terchen-rinpoche-va-nhiep-chinh-vuong-jigme-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/thong-bach-chuong-trinh-hoang-phap-cua-duc-phap-vuong-terchen-rinpoche-va-nhiep-chinh-vuong-jigme-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 23 Nov 2022 12:01:23 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Quốc Tế]]></category>
		<category><![CDATA[Ripa]]></category>
		<category><![CDATA[Ripa Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Việt nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11769</guid>
		<description><![CDATA[]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/2022/11/a.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-11900" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/2022/11/a.jpg" alt="a" width="1448" height="2048" /></a> <a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/2022/11/b.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-11901" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/2022/11/b.jpg" alt="b" width="868" height="1280" /></a> <a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/2022/11/c.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-11902" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/2022/11/c.jpg" alt="c" width="868" height="1280" /></a> <a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/2022/11/d.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-11903" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/2022/11/d.jpg" alt="d" width="1448" height="2048" /></a></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/thong-bach-chuong-trinh-hoang-phap-cua-duc-phap-vuong-terchen-rinpoche-va-nhiep-chinh-vuong-jigme-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đánh giá sự tiến bộ của việc thực hành Giáo Pháp</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/danh-gia-su-tien-bo-cua-viec-thuc-hanh-giao-phap/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/danh-gia-su-tien-bo-cua-viec-thuc-hanh-giao-phap/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 31 May 2019 10:14:39 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=9358</guid>
		<description><![CDATA[Để đánh giá sự tiến bộ tâm linh của chúng ta, điều quan trọng là phải nhận ra mục tiêu của mình, con đường dẫn đến mục tiêu đó và nền tảng hiện tại chúng ta đang đứng trên con đường của cuộc hành trình tâm linh. Trong Phật giáo có rất nhiều con đường rèn luyện tâm linh. Mỗi&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/danh-gia-su-tien-bo-cua-viec-thuc-hanh-giao-phap/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Để đánh giá sự tiến bộ tâm linh của chúng ta, điều quan trọng là phải nhận ra mục tiêu của mình, con đường dẫn đến mục tiêu đó và nền tảng hiện tại chúng ta đang đứng trên con đường của cuộc hành trình tâm linh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong Phật giáo có rất nhiều con đường rèn luyện tâm linh. Mỗi con đường đều có mục đích, ý định và lợi ích duy nhất của nó cho chính chúng ta và người khác. Nhưng để có thể được lợi ích thật sự, điều quan trọng là phải hiểu được mục đính chính phía sau những thực hành này. Nếu chuyển hướng sai tại một ngã tư đường, mỗi bước đi của ta sẽ càng làm cho chúng ta rời xa đích đến. Tương tự như vậy, nếu không nhận ra thực chất của mục đích tâm linh và những gì chúng ta cần hướng đến, thì sự thực hành của chúng ta sẽ không có lợi ích, hoặc ít nhất cũng sẽ không phát huy được hết sự lợi ích.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trọng tâm chính của tất cả rèn luyện trong Giáo Pháp là để lợi ích cho tâm chúng ta. Điều này nghe có vẻ như ích kỷ, nhưng không phải vậy. Trừ khi chúng ta hoàn thiện chính mình, bằng không chúng ta sẽ không thể thực sự giúp đỡ người khác hoặc thực hiện bất cứ hoạt động Giáo Pháp nào. Không được trang bị mà chỉ khao khát giúp đỡ người khác, cũng giống như thực hành bắn cung mà không biết cách bắn hoặc không có cung hay mũi tên. Cho dù có đặt ra hàng trăm mục tiêu, chúng ta cũng không thể trở thành một cung thủ giỏi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Do đó, tôi không nói rằng chúng ta nên tự tôn trong việc tập trung vào chính mình. Thay vì vậy, tôi muốn nói rằng chúng ta nên hướng mọi cố gắng trong thực hành đến việc làm lợi ích cho tâm thức chúng ta, với một quan điểm rộng mở với người khác. Chúng ta càng thuần hóa những niệm tưởng cuồng dại và cảm xúc hỗn loạn của chính mình, ta càng trở nên an bình, giác ngộ và bi mẫn, trở thành người giải thoát khỏi sự ích kỷ. Thế nên, mục tiêu trong rèn luyện tâm nên là sự chuyển hóa [tâm mê muội] thành tâm giác ngộ vì lợi ích của mọi chúng sinh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những lợi ích của thực hành thiền định là không giới hạn trong phạm vi hiểu biết dựa trên trí năng hay khái niệm. Chúng cần phải bao gồm cả cảm giác của chúng ta. Điểm quan trọng nhất của thực hành Pháp là để rèn luyện hay hoàn thiện tâm thức bằng việc đưa nó đến một trạng thái hoàn toàn an bình, buông xả và trong sáng, bảo vệ tâm khỏi mọi cảm xúc phiền não. Để đạt được trạng thái này, chúng ta phải trau dồi cảm giác và kinh nghiệm an bình trong tâm mình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tuy nhiên, vấn đề gặp phải khi ta thực hành Pháp là chúng ta không đưa những hiểu biết của ta vào trong cuộc sống và không áp dụng những gì chúng ta đã học. Thật không may, sự hiểu biết của chúng ta thường trụ trong lĩnh vực tưởng tượng, ở một nơi nào khác. Sự hiểu biết trở thành đối tượng khác của tâm, không được áp dụng vào chủ thể là chính chúng ta. Đó là lý do tại sao chúng ta thường muốn biết nhiều thứ, học nhiều môn. Nhưng ngay cả nếu tiêu tốn mười hay hai mươi năm trong việc học hay thực hành, chúng ta có thể chẳng đạt được gì hơn là một hiểu biết giả tạo, một sự quen thuộc mơ hồ với đối tượng của việc học.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mặc dù mục đích của chúng ta là giác ngộ, là một điều không thể hiểu được vào lúc này, và nó cũng không dễ giải thích; nhưng nói một cách đơn giản thì mục đích của thực hành là để đạt đến tâm an bình cao nhất, đó là trạng thái buông xả nhất, kiên định mạnh mẽ và viên mãn. Nếu không cải thiện được tâm chúng ta thì bất chấp bao nhiêu hiểu biết về mười địa vị, năm con đường, nghi lễ, triết học, v.v… tất cả sẽ trở thành đối tượng mà chẳng bao giờ chúng ta áp dụng vào chính mình. Có thể nói rất đơn giản, như khi chúng ta quay mặt về hướng đúng thì mỗi bước đi sẽ đưa chúng ta tới gần đích đến. Tương tự, khi bắt đầu thực hành – bất cứ thực hành nào chúng ta chọn – nếu sử dụng nó để lợi ích và rèn luyện tâm, thì thậm chí có là một thực hành nhỏ nhặt hay đơn giản, ngay cả khi chỉ kéo dài không hơn một giờ hay chỉ một ngày, nó vẫn sẽ giúp ích chúng ta. Nhưng nếu chuyển thực hành của chúng ta thành một đối tượng, một sự vui thích dễ chịu bên ngoài, nó sẽ chẳng thực sự lợi ích cho ta. Chúng ta có thể trở thành nhà văn hay học giả, có khả năng nhắc lại như vẹt nhiều thứ khác nhau; mà điều này chẳng thực sự giúp ích gì cho ta cả.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào thời Đức Phật còn tại thế, có một trong mười sáu vị Arhat (A-la-hán) hay hiền triết, tên là Chullapanthaka, vô cùng trì độn và không thể nhớ nổi ngay cả một bài giảng chỉ bốn dòng. Do vậy, Đức Phật hướng dẫn ông quét bụi trong đại sảnh của tăng chúng và lau chùi dép của các vị bhikshu (tỳ-kheo), trong lúc đó lặp đi lặp lại rằng: “Bụi đã được tẩy sạch. Nhiễm ô đã được tẩy sạch”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chullapanthaka mất nhiều năm liền chỉ tập trung vào việc lau chùi và lặp lại cùng câu kệ trên. Có một ngày, ông tự suy nghĩ: “Ý nghĩa của câu Đức Phật nói ‘quét bụi’ và ‘tẩy sạch cảm xúc’ thực ra là gì? Có phải bụi là nhiễm ô của tâm thức hay của đại sảnh và những đôi dép?” Vào chính lúc đó, những dòng kệ sau đây xuất hiện trong tâm ông:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Đây không phải là bụi của thế gian, mà là bụi của tham, sân và si.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bụi là tên gọi của tham, sân và si, và chẳng phải của thế gian.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người uyên bác là người đã tẩy sạch bụi</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đạt được tự tin trong giáo lý của Đức Phật”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lập tức ông trở thành một vị Arhat, một bậc giác ngộ. Tại sao? Không vì ông có hàng trăm kỹ thuật khác nhau. Không vì ông là một đại học giả và tìm thấy con đường mật truyền để đạt tới mục đích. Mà đúng hơn là nhờ sự gìn giữ tâm ông trong một trạng thái đơn giản, an bình và hoan hỷ tột độ, và làm công việc công đức, ông chú tâm với sự tỉnh giác về những gì ông đang làm. Ông áp dụng toàn bộ tâm trí vào bất cứ những gì thân và tâm ông làm, nên cuối cùng ông được giác ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Để đạt được giác ngộ, không cần thiết phải biết nhiều thứ, cũng không cần phải thực hành theo nhiều cách. Việc tu tập đơn giản phải là vấn đề, mà có lẽ tốt hơn nên giữ cho được đơn giản – càng thực hành quá nhiều, ta lại càng lẫn lộn, rối rắm. Do vậy, hãy giữ sự tu tập đơn giản, và điều quan trọng nhất là phải vận dụng vào trong tâm bạn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu ta biết cách vận dụng thực hành của mình một cách thích hợp và nếu ta có một kinh nghiệm thiền định, sức mạnh, hay một số chứng ngộ, thì bước quan trọng kế tiếp là phát triển nhận thức thanh tịnh. Phần lớn mục đích thực hành của đạo Phật, dù hiển giáo hay mật giáo (giáo tông hay mật tông) là để tịnh hóa nhận thức của chúng ta. Thường chúng ta thấy và suy nghĩ trong giới hạn nhị nguyên, với một chủ thể và đối tượng. Chúng ta thường nghĩ: “Điều này là tốt”, “Điều này là xấu”, “Người ấy là bạn tôi”, “Người kia là kẻ thù của tôi”. Vì sự phân biệt liên tục này chúng ta phải trải qua những hạnh phúc và phiền muộn, và tạo ra các nghiệp thiện và ác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự vận hành của tất cả những gì vừa nói được khởi đầu từ những nhận thức sai lầm của chúng ta, vì ta phân biệt theo cách sai lầm. Tất nhiên, cũng có đôi khi sự nhận thức phân biệt của chúng ta là đúng thật, như khi ta bị bệnh hay đói. Nhưng trong hầu hết trường hợp thì nhận thức phân biệt của chúng ta đều chỉ là sự tạo tác của tâm. Ví dụ, khi ông C gặp ông A, ông ta có thể nghĩ: “Người này là bạn của tôi”, và cảm thấy hạnh phúc khi gặp ông ấy. Nhưng khi ông B gặp ông A, ông ta lại có thể nghĩ: “Đó là kẻ thù của tôi”, và ông ta không vui, cho dù trong cả hai trường hợp vẫn là những con người đó. Sự đánh giá xếp loại của chúng ta, “bạn” hay “thù” có thể thay đổi liên tục, và cảm xúc của ta cũng thay đổi tương ứng, ngay cả khi đối tượng xếp loại vẫn không thay đổi. Nguyên nhân chỉ là nhận thức của chính ta thay đổi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chúng ta liên tục sàng lọc [những đối tượng trong] thế giới này qua lăng kính nhận thức của chính mình. Khi ta mang kính màu tối, mọi sự nhìn đều tối. Nhưng khi ta đeo kính trắng thì cũng cùng thế giới đó lại hiện ra rõ ràng. Đây là lý do tại sao việc thay đổi cách nhận thức của chính ta là quan trọng. Nhận thức thanh tịnh là phương pháp của đạo Phật để thấy sự vật một cách tích cực và đúng thật như chúng đang hiện hữu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như chúng ta biết, nhận thức thanh tịnh có thể được nhận hiểu theo nhiều mức độ. Trong thực hành mật tông, mọi sự được thấy như một cõi tịnh độ Phật. Hành giả chuyển hóa hiện tượng thành sự hỗ trợ cho thực hành và cuộc sống tinh thần qua nhận thức thanh tịnh. Nhưng điều đó lại là một chủ đề khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với chư Phật toàn giác, bất kể là hình dạng hay thân tướng nào xuất hiện, các ngài đều không có những khái niệm nhị nguyên hay cảm xúc phiền não. Các Ngài sẽ không cảm thấy đau khổ hay khích động.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với những bậc lão luyện chứng ngộ cao cũng vậy, hoàn cảnh vật chất không tạo ra bất cứ tác động tiêu cực nào về mặt cảm xúc hay khái niệm. Các vị ấy có thể trông giống như đang rất đau khổ, nhưng tâm họ vẫn luôn duy trì sự thanh thản và hoan hỷ. Trong thực tế, bệnh tật có thể là một nguồn hạnh phúc và an bình cho họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Câu chuyện kể về Ngài Zhang Rinpoche là một ví dụ cho điều này. Ngài là một đại Lama và yogi của phái Kagyupa, đã thực hành đại cực lạc suốt cuộc đời. Một hôm, Ngài bị va đầu rất mạnh vào vách động đá. Mặc dù bị chấn thương nghiêm trọng và đầu Ngài chảy rất nhiều máu nhưng Ngài vẫn cảm thấy cực lạc, không đau đớn. Tại sao vậy? Xét cho cùng, Ngài cũng là người bằng xương thịt như tất cả chúng ta. Lịch sử Phật giáo Tây Tạng có rất nhiều vị đại Lama phô diễn phép màu để ngăn chặn và chuyển hóa những tai họa xảy đến với các Ngài. Nhưng ngài Zhang Rinpoche lại không cần phô diễn phép màu để ngăn chặn tổn thương. Do nơi nhận thức và trạng thái nội tâm, Ngài kinh nghiệm cực lạc thay vì đau đớn. Điều này tùy thuộc vào năng lực nhận thức thanh tịnh và sự chứng ngộ trí tuệ đại cực lạc của Ngài. Loại kết quả này có thể vượt hơn chúng ta, nhưng tối thiểu chúng ta có thể cố gắng rèn luyện chính mình trong việc thấy mọi người như bạn bè, không phải kẻ thù – không chỉ một hay hai người, mà là mọi người, bằng việc thiền định về lòng bi và các thiền định khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một truyện kể về Ngài Dodrupchen đệ nhất theo tự truyện của Ngài Jigme Gyalwe Nyuku (1765 – 1843) cung cấp một tấm gương mạnh mẽ khác về việc những vị tổ đã giác ngộ chuyển hóa kinh nghiệm của các Ngài. Có lần, Ngài Jigme Gyalwe Nyuku du hành từ miền Đông Tây Tạng đến trung tâm Tây Tạng, ở đó Ngài gặp Dodrupchen đệ nhất tại Samye. Vị Dodrupchen đệ nhất gửi Ngài một bức thư cho Jigme Lingpa ở Tsering Jong. Ngài đã diện kiến và tiếp nhận giáo lý từ Jigmed Lingpa và sau đó trở lại gặp Dodrupchen tại Samye. Vào lúc đó Ngài Dodrupchen đã được rất nhiều người biết đến nhưng vẫn chưa nổi tiếng, và Jigme Gyalwe Nyuku chỉ mới khoảng hai mươi tuổi, chưa được mấy người biết đến. Họ cùng nhau bắt đầu hành hương đến miền Tây Tây Tạng để gặp một số vị đại Lama.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một ngày nọ, Dodrupchen nói rằng ngài sẽ trở lại Lhasa và sau đó đến Kham. Jigme Gyalwe Nyuku nói: “Không, Ngài không thể đi một mình, tôi sẽ giúp Ngài đến Lhasa”. Họ bàn thảo và cuối cùng đồng ý cùng đi với nhau.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trên đường, Ngài Dodrupchen bị bệnh và Jigme Gyalwe Nyuku phải mang hành lý của cả hai. Khi họ cố gắng vượt qua một ngọn núi cao, Dodrupchen không thể leo lên sườn núi dốc. Họ chỉ còn một ít mỡ động vật, một ít dầu và chẳng còn tsampa (bột mì nướng, món ăn chủ yếu ở Tây Tạng). Họ phải nghỉ lấy sức sau mỗi một quãng đường rất ngắn và hầu như chẳng đi được bao xa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau một lúc, Dodrupchen thậm chí không thể đứng dậy nổi nên Jigme Gyalwe Nyuku phải đỡ ông dậy sau mỗi lần nghỉ. Nhưng dù thân thể Dodrupchen bị bệnh nặng, tâm ngài vẫn không cảm thấy buồn hay đau khổ. Dodrupchen nói: “Hôm nay tôi có một cơ hội nhỏ để kinh nghiệm khổ hạnh trong thực hành Pháp bằng gánh nặng của thân thể và kinh nghiệm gian khổ của tinh thần – chịu hy sinh một chút trong thực hành Giáo Pháp thiêng liêng”. Ngài chào đón sự đau khổ và nói: “Qua sự dâng hiến như vậy, tôi đang đạt kết quả của thân người quý báu với mười tám phẩm tính và sự quang vinh của bốn thuận lợi lớn (sống ở một nơi hòa thuận, có một bậc thầy thiêng liêng, lập nguyện chân chánh và tích lũy công đức). Do vậy, không nghi ngờ gì nữa, loại kinh nghiệm này chính là kết quả sự tích lũy công đức và tịnh hóa các nhiễm ô trong những kiếp trước của tôi”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi Ngài Jigme Gyalwe Nyuku tiếp tục: “Và Dodrupchen đã có niềm đại hoan hỷ như thế trong tâm, thật tuyệt diệu khi thấy như vậy. Vị Lama này thật sự đang làm theo những lời Đức Phật dạy. Bằng việc vượt qua lửa dữ và rừng đao kiếm, các ngươi sẽ tìm được Giáo Pháp cho mục tiêu tối thượng”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Do vậy, ở đây có hai vấn đề. Trước hết, nếu bạn có sự hoan hỷ, bất kể hoàn cảnh của bạn có nghiêm trọng đến đâu, bạn đều có thể dễ dàng chuyển hóa chúng thành sự thực hành. Thứ hai, ngay cả nếu bạn không đủ sức chuyển chúng thành sự thực hành, điều này cũng giúp bạn dễ dàng chịu đựng hơn ngay cả những kinh nghiệm khủng khiếp nhất.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên, mặc dù thân thể Ngài Dodrupchen Rinpoche trong tình trạng nguy kịch, Ngài vẫn thật hạnh phúc vì có thể tán thán cơ hội để kinh nghiệm đau khổ cho một mục đích đầy ý nghĩa và cho một tương lai tuyệt diệu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với người bình thường chúng ta, điều quan trọng là có một quan điểm đơn giản nhưng tích cực và thực tế, hãy suy nghĩ rằng mỗi một chúng sinh đang sống đều có cha mẹ và bạn bè. Nếu có thể thấy sự vật theo cách này, chúng ta sẽ có tình thương và lòng bi đối với mọi người. Chúng ta sẽ có một tâm an bình và buông xả. Nếu tâm được an bình và hoan hỷ, chúng ta có thể áp dụng nó để chuyển hóa bất cứ hoàn cảnh nào thành tích cực, một nguồn của an bình và hạnh phúc hơn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Làm thế nào chúng ta đánh giá sự thực hành của mình và xác định chúng ta đang cải thiện hay chưa được cải thiện, đang tiến bộ hay thụt lùi? Vấn đề thứ nhất là nhiều người trong chúng ta không thực sự muốn thấy những khuyết điểm của chính mình. Hoặc, thậm chí nếu thấy chúng, ta cũng không thể thừa nhận vì sự yếu đuối của tâm, thiếu tự tin, và sự nhạy cảm của bản ngã. Chúng ta tránh né vào trong việc trách cứ người khác hay một sự việc nào khác và tìm cảm giác dễ chịu sai lầm bằng cách trốn sau một bức màn che an toàn. Trong văn học Tây Tạng luôn nói rằng điều quan trọng là phải có một tấm gương để thấy khuôn mặt chính mình, không phải chỉ có đôi mắt để thấy các khuyết điểm trên khuôn mặt người khác. Thế nên, thay vì tìm kiếm một người nào khác để chịu trận thay mình, chúng ta nên học cách nhìn vào thái độ tinh thần của chính mình và sau đó là hành động của thân thể. Sự hiện diện của chúng ta hôm nay tại nơi này là một bằng chứng sống của việc ta có tiến bộ hay không.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngay cả nếu chỉ tìm thấy các khuyết điểm trong chính mình, chúng ta vẫn nên vui vẻ suy nghĩ: “Giờ đây tôi đã thấy được các vấn đề của mình, tôi có thể chuyển hướng theo con đường đúng. Nếu đã có bất cứ tiến bộ tâm linh nào, bất kể chúng bình thường ra sao, chúng ta nên thừa nhận, hoan hỷ và tán thán. Sau đó, năng lượng của sự hoan hỷ chúng ta sẽ mạnh mẽ và nhân lên nhiều lần năng lực của sự tiến bộ tâm linh chúng ta. Hạnh phúc về những cải thiện giúp chúng ta duy trì sự tiến bộ đã có và tạo năng lượng cho những nỗ lực trong tương lai của ta.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi sống ở Ấn Độ, tôi có gặp một học giả và người lãnh đạo quan trọng của Ấn Độ, sinh ra trong một gia đình thuộc đẳng cấp thấp. Ông ta được tiếp nhận một nền giáo dục tốt và trở thành một tiến sĩ, sau đó thành thống đốc của một bang ở miền Bắc Ấn Độ. Trong suốt đời, ông đấu tranh chống lại hệ thống phân biệt đẳng cấp. Nhưng có lần ông nói với tôi: “Mặc dù tôi nói là mình chống lại hệ thống phân biệt đẳng cấp và đã dành cả cuộc đời đấu tranh chống lại nó, tôi vẫn chưa trung thực. Nếu có ai đó thuộc một giai cấp thậm chí còn thấp hơn giai cấp của tôi đến hỏi cưới con gái tôi, tôi sẽ thấy ngần ngại. Điều đó có nghĩa là trong thực tế tôi thù ghét và ganh tị với người thuộc giai cấp cao hơn mình, và tôi không hoàn toàn công bằng khi nói đến toàn bộ hệ thống phân biệt đẳng cấp”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mỗi khi nhớ lại những lời này, tôi kinh nghiệm một cảm giác tán thán về trí tuệ, sự rộng mở và trung thực của ông. Lẽ dĩ nhiên, tôi không nói về sự phân biệt chính trị là tốt; nhưng khả năng của vị học giả Ấn Độ này đối mặt với khuyết điểm của ông ta một cách trung thực là đáng chú ý. Nếu có thể thấy và chấp nhận sự thất bại của chính chúng ta, việc thay đổi chúng sẽ dễ dàng. Tôi nghĩ tất cả chúng ta đều có điều sai quấy tương tự như vậy. Sự khác biệt là rất nhiều người hoàn toàn không muốn nghĩ đến chúng và không thể chịu nổi việc phải chấp nhận chúng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nhiều người trong chúng ta không thích những người giàu có vì nghĩ rằng: “Tôi ghét người giàu vì họ không giúp người nghèo”. Tuy vậy, khi chính ta có được điều gì đó, ta cũng hiếm khi chia sẻ với những người kém may mắn. Chúng ta hầu như chẳng bao giờ tình nguyện phục vụ xã hội ngay cả khi có thời gian nhàn rỗi. Vậy tại sao chúng ta lại cho là những người giàu có lỗi? Trong thực tế, [đó là do] chúng ta ganh tị và thù ghét họ. Nhiều người trong chúng ta cũng khó mở lòng rộng rãi với cha mẹ, con cái, họ hàng, hoặc các bạn đạo, trong khi sự quan tâm đến những người này là trách nhiệm hàng đầu của ta. Chỉ khi nào chúng ta cống hiến trọn cuộc đời mình để chia sẻ tất cả những gì mình có, giống như mẹ Teresa, ta mới có quyền chỉ trích những người không bố thí như ta. Tất cả chúng ta đều có quan điểm của riêng mình – “Hệ thống này là xấu. Hệ thống đó là tệ” – nhưng cảm giác của chúng ta thường dựa căn bản trên phản ứng cảm xúc của chính mình, hiếm khi dựa căn bản trên sự hiểu biết chân thật về đạo đức hay tâm linh. Hiểu được điều này là rất quan trọng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Để đánh giá sự tiến bộ tâm linh của chính mình, chúng ta cần kiểm tra xem sự thiền định của ta có được đặt nền tảng đúng trong cuộc sống của chính ta hay không. Chúng ta cần chắc chắn rằng đã sử dụng thực hành để rèn luyện chính tâm mình, và chúng ta không chỉ dựa vào nó như một truyền thống. Chúng ta cần tự hỏi mình có sử dụng sự thực hành như đó là một sự tốt đẹp khôn ngoan hay như một lý do để che giấu một số khiếm khuyết của ta. Nếu như vậy là chúng ta đã không áp dụng sự thực hành cho chính tâm mình. Biết được như vậy thì cần phải thức tỉnh và bắt đầu đi theo con đường đúng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu thiền định về lòng bi chẳng hạn, chúng ta cảm thấy dễ dàng phát sinh lòng bi với người nào đó ở xa và không giao kết với mình. Nếu chúng ta không biết một ông Smith nào đó ở Luân Đôn, đang bị bệnh hay gặp phải điều gì đó, thì việc phát triển lòng bi với ông ta sẽ khá dễ dàng. Nhưng câu hỏi quan trọng là liệu chúng ta có thể thực hành lòng bi và nhận thức thanh tịnh với những người mình thực sự biết – các thành viên trong gia đình, cha, mẹ, con cháu, chồng, vợ, đồng nghiệp, bạn bè, bạn đồng tu và những kẻ thù của ta – là tất cả những người có quan hệ nối kết với chúng ta. Nếu ta không thể có lòng bi với những người thân thiết thì việc nói về lòng bi đối với mọi những chúng sinh sẽ là chuyện hết sức lố bịch và đáng xấu hổ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu ta đang thiền định về vô thường và thực sự đạt nhiều tiến triển thì một trong những kết quả cuối cùng là ta sẽ không còn giận dữ với người khác. Không một ai là kẻ thù của chúng ta – đó chỉ là sự tạm thời. Bất cứ một người nào hôm nay là kẻ thù của ta, ngày mai sẽ là một người bạn và sẽ đổi khác đi vào những ngày sau nữa. Nếu thực sự hiểu biết về vô thường, chúng ta biết chẳng có lý do nào để cảm thấy bám luyến hay thù hận, vì không thể có những điều như là bạn bè hay kẻ thù mãi mãi. Chúng ta nên trau dồi tính bình đẳng với tất cả chúng sinh đang sống và có lòng bi với tất cả, những người đang tranh đấu lẫn nhau vì sự vô minh của họ. Do vậy, ngay cả việc thực hành về vô thường, nếu làm đúng, sẽ hoàn toàn thay đổi chúng ta. Dĩ nhiên, nếu chúng ta tu tập những giai đoạn cao của sự thực hành một cách đúng đắn thì không còn nghi ngờ gì về năng lực hiệu quả của nó. Tuy nhiên, ngay cả khi ta đã thực hành dù một khía cạnh đơn giản hay thông thường nhất của giáo lý từ tận đáy lòng, điều đó cũng sẽ mang lại lợi ích lớn lao cho ta.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không cần thiết phải được nghe người khác nói là ta thực hành tốt hay không. Chính bản thân ta là dấu hiệu tốt nhất để chỉ ra điều đó. Chúng ta phải luôn xem lại chính mình để thấy liệu ta đã có được bất cứ sự cải thiện nào trong tâm hay không. Việc chúng ta ghi nhớ và am hiểu được nhiều điều chẳng có gì quan trọng. Nếu tâm ta không được thuần phục và an bình, chúng ta nên nghiêm túc nhìn lại chính mình vì lợi ích và tiến bộ của chính ta.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vấn đề lớn với chúng ta là cảm xúc. Về mặt trí năng chúng ta có thể dựa vào triết học, các thiền định bậc cao hơn và sự quán sát trí tuệ. Nhưng về mặt thực hành, chúng ta thường bị choáng ngợp bởi những cảm xúc tiêu cực. Chúng ta có thể làm gì với những cảm xúc này? Như đã đề cập ở trên, bước đầu tiên là phải nhận biết được chúng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Kế tiếp, chúng ta nên sử dụng kinh nghiệm thiền định để an định chúng. Ví dụ, thỉnh thoảng chúng ta nổi giận. Mà sự nóng giận chỉ là một tạo tác của tâm chúng ta. Nóng giận và thù ghét là sản phẩm của sự không thích, điều đó hoàn toàn chỉ là sự tưởng tượng của chúng ta. Sự bám luyến cũng là tạo tác tinh thần của chúng ta. Chúng ta nghĩ: “Cái đó đẹp. Điều đó thật tuyệt vời. Tôi muốn có nó”. hoặc: “Điều đó thật thú vị”. Chúng ta bị bám luyến theo cách này và bắt đầu bám víu và chấp chặt. Kế đó, tất cả cảm xúc phiền não theo sau. Nóng giận và thù ghét là vấn nạn hàng đầu đối với một số lớn người phương Đông và người Tây Tạng, cũng như sự ganh tị ở người Mỹ. [Đối với người Mỹ], sự ganh tị là điều gì đó chúng ta phát triển từ thuở bé, do những điều kiện trong các môi trường trường học, trò chơi và sự cạnh tranh. Thậm chí nó trở thành một lời khen: “Ồ, y phục bạn thật đẹp, tôi cảm thấy ganh tị”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chúng ta không được chấp nhận hoặc bào chữa cho cảm xúc của mình bằng suy nghĩ kiểu như: “Tôi nóng giận, nhưng đó là quyền của tôi. Tôi phải được nóng giận, điều đó là tốt”. Không, như vậy là sai lầm. Ngọn lửa cảm xúc sẽ đốt cháy chúng ta thành tro. Một số người chúng ta bào chữa sự nóng giận của mình bằng suy nghĩ: “Mọi người đều nóng giận, vậy tại sao tôi lại không được?” Song, chỉ vì người khác ở trong một hầm lửa, điều đó không có nghĩa là chúng ta cũng phải nhảy vào. Nếu muốn cải thiện, chúng ta phải cố gắng không có những cảm xúc này. Đó là lý do tại sao chúng ta chọn việc thực hành Giáo Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chúng ta phải thấy cảm xúc tiêu cực là xấu ác. Ví dụ, nếu thù ghét hay bám luyến một ai đó, chúng ta có thể nghĩ: “Tôi có mọi loại cảm xúc này trong tôi. Tôi giống như một cái túi đựng rác dơ bẩn”. Đừng nên nghĩ: “Tôi nóng giận; nhưng vì tôi được giáo dục hay giàu có, đó là quyền của tôi”. Điều này chỉ làm cảm xúc chúng ta phát triển nhiều hơn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Việc thấy được cảm xúc của chúng ta là tiêu cực và xấu xa là rất quan trọng. Khi chúng ta trở nên ti tiện qua việc nói xấu người nào đó, hoặc nói ra lời những cay nghiệt, chúng ta nên hình dung mình đang nôn mửa, hoặc ta là con rắn độc đang khè hơi và cắn mổ vào lưỡi mình. Nếu ta đang làm điều gì tổn hại ai đó, ta phải tự nghĩ chính mình như một quái vật khủng khiếp bị lửa thiêu đốt, đang cố ăn thịt mọi người. Ngay cả dù thân thể ta có thể đẹp đẽ, khi bị cảm xúc phiền não ám ảnh, chúng ta sẽ trở thành quái vật. Nếu nhìn thấy chính mình như quái vật, điều gì sẽ xảy ra? Chúng ta sẽ chẳng còn muốn [tiếp tục] sống trong loại tình huống đó chút nào.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau khi nhận biết được cảm xúc phiền não của chính mình và thấy chúng là tiêu cực, chúng ta nên sử dụng việc rèn luyện Giáo Pháp để tẩy tịnh và chuyển hóa chúng vào thực hành. Liều thuốc giải độc cho sân hận là phát triển lòng bi với chúng sinh bằng cách nghĩ họ là các bà mẹ của chúng ta. Liều thuốc giải độc cho tính ganh tị là tùy hỷ với hạnh phúc của tất cả bà mẹ chúng sinh. Liều thuốc giải độc cho bám luyến là hiểu được vô thường và bản chất đau khổ của sinh tử. Liều thuốc giải độc cho vô minh là nhận ra thật tính và lý duyên sinh của mọi hiện tượng hiện hữu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một mặt, tâm chúng ta là rất khó thuần phục vì chúng dễ thay đổi và liên tục dao động. Nhưng mặt khác, điều này cũng chính là yếu tố làm cho tâm thật dễ rèn luyện. Để thay đổi hình dạng của một cái bàn cứng chắc, chúng ta phải làm việc rất vất vả. Nhưng thay đổi cách suy nghĩ của chúng ta lại dễ hơn nhiều – hầu như ta có thể thay đổi ngay lập tức. Nếu chúng ta thận trọng đừng để tâm mình rơi vào sự kiểm soát của nóng giận, bám luyến và đố kỵ v.v… thì tâm ta sẽ tự nhiên ở trong trạng thái rộng mở, buông xả và an ổn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có lần, tôi xem một mẩu tin trên truyền hình về một người phát triển kỹ năng tung hứng để điều trị các bệnh nhân tâm thần. Cho dù không được xếp vào loại rối loạn tâm thần, nhưng nhiều người trong chúng ta ít nhất cũng có tâm thức quá rắc rối, phức tạp. Điều quan trọng là phải loại bỏ tất cả những quan điểm và cảm xúc tiêu cực này, để đưa tâm ta trở lại trạng thái tự nhiên (tôi không đề cập đến những trạng thái tự nhiên cao, chỉ là một trạng thái tự nhiên bình thường), giống như trở lại trạng thái tâm thức của trẻ em.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bạn có thể nghĩ rằng tâm trẻ em chưa được giáo dục, nó không khao khát. Về mặt trí năng là đúng vậy, nhưng mọi việc đều có hai mặt. Tâm của trẻ em ít cảm xúc hơn. Có thể trẻ em sẽ khóc khi đói hay lạnh, nhưng chúng không phân tích: “Đây là kẻ thù của tôi bởi vì thế này, thế kia” hoặc “Đây là bạn của tôi vì điều này, điều nọ”. Chúng ít giả tạo. Thậm chí nếu khi chúng ta già, chơi trò chơi của trẻ em, như chơi tung hứng, có thể đem chúng ta trở lại trạng thái tâm ngây thơ, rộng mở của thời thơ ấu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Do vậy, nếu chúng ta có thể có một tâm đơn giản, rộng mở và buông xả, giống như trẻ em, và nếu có thể áp dụng trí tuệ và kinh nghiệm của một thiền giả khéo léo, chúng ta ở trên con đường đúng cho cả sự tỉnh giác và an bình. Ngoài ra, nếu tâm chúng ta buông xả trong rộng mở, sự ràng buộc của cảm xúc và khái niệm sẽ tự nhiên nới lỏng, và kinh nghiệm của an bình và trí tuệ giác ngộ sẽ khởi lên một cách tự nhiên qua một ít công phu thiền định. Do đó, điểm quan trọng đầu tiên là mở rộng cánh cửa của tâm để chào đón ánh sáng bình minh của tinh thần trong lòng chúng ta. Nếu đã đi được bất cứ bước nào trong hướng này, thì chúng ta đang tạo tiến bộ. Hãy hoan hỷ với điều đó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Tulku Thondup</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Tuệ Pháp </em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Trích: "Hành Trình Giác Ngộ” </em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/danh-gia-su-tien-bo-cua-viec-thuc-hanh-giao-phap/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tầm quan trọng của những lời nguyện &#8211; Điều cần làm ở Bồ Đề Đạo Tràng</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/truyen-thong-nyingema/kinh-sach-nyingma-lich-su-chung-truyen-thua-nyingema/tam-quan-trong-cua-nhung-loi-nguyen-dieu-can-lam-o-bo-de-dao-trang/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/truyen-thong-nyingema/kinh-sach-nyingma-lich-su-chung-truyen-thua-nyingema/tam-quan-trong-cua-nhung-loi-nguyen-dieu-can-lam-o-bo-de-dao-trang/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 09 Dec 2018 14:55:11 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kinh sách Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=8995</guid>
		<description><![CDATA[Trong nửa cuối năm 2014, Orgyen Tobgyal Rinpoche đã tổ chức những Pháp hội Đại Thành Tựu Drupchen ở cả Lerab Ling (Pháp) và Bir (Ấn Độ) trước khi đến Bodhgaya vào tháng 12. Khá tình cờ, dưới Cội Bồ Đề, Ngài gặp hai đệ tử, những vị đã tham dự các Pháp hội Drupchen. Mong mỏi không bỏ lỡ cơ hội quý giá đến vậy, họ nhanh chóng thỉnh cầu Rinpoche ban Lung (khẩu truyền)&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/truyen-thong-nyingema/kinh-sach-nyingma-lich-su-chung-truyen-thua-nyingema/tam-quan-trong-cua-nhung-loi-nguyen-dieu-can-lam-o-bo-de-dao-trang/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><i>Trong nửa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuối năm</span> 2014, Orgyen Tobgyal Rinpoche đã tổ chức những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp hội</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại Thành Tựu</span> Drupchen ở cả Lerab Ling (Pháp) và Bir (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span>) trước khi đến Bodhgaya vào tháng 12. Khá <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tình cờ</span>, dưới Cội <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Đề</span>, Ngài gặp hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span>, những vị đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham dự</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp hội</span> Drupchen. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mong mỏi</span> không bỏ lỡ cơ hội quý giá đến vậy, họ nhanh chóng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu </span>Rinpoche ban Lung (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span>) cho Manjushri Nama Samghiti (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Điển</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hồng Danh</span> Đức <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Văn Thù</span>). Một lời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hợp lý</span> và thậm chí là rất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cát tường</span>, các bạn có thể nghĩ vậy. Nhưng không, Rinpoche nói rằng với những vị có phước báu được ở dưới Cội <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Đề</span> vĩ đại, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> một Lung thì khá là không hiểu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề</span>…</i></p>
<p style="text-align: justify;">Phật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thích Ca Mâu Ni</span> có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng bi mẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô biên</span> dành cho mỗi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>. Người ta nói rằng chính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng bi mẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô biên</span> này đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thúc đẩy</span> Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát khởi</span> năm trăm "đại nguyện" vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hữu tình</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>, kết quả trực tiếp của chúng là việc Ngài đạt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên mãn</span> – điều chỉ ra cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> tầm quan trọng của việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát khởi</span> những nguyện ước. Bạn có thể thọ nhận một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> ở bất cứ đâu, nhưng bạn chỉ có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> một vị "Phật" nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sức mạnh</span> của nguyện ước.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mong ước</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> khởi lên vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng bi mẫn</span> của bạn dành cho mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hữu tình</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> và chính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng bi mẫn</span> này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thúc đẩy</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát khởi</span> những nguyện ước, điều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuối cùng</span> dẫn đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật quả</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vì vậy</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bước đầu</span> tiên hướng về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật quả</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát khởi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng bi mẫn</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hữu tình</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tam thiên đại thiên thế giới</span> bị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mê lầm</span> bởi những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩ</span> của chính họ. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> đều tưởng tượng một cái "ngã" trong khi chẳng có "ngã". Và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa trên</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lầm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">căn bản</span> này, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô minh</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luân hồi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span>. Nếu bạn tiến hành <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuối cùng</span> bạn sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự tích</span> lũy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công đức</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span>; càng nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công đức</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy</span> thì càng nhiều che chướng được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiêu trừ</span>. Khi bạn đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiêu trừ</span> mọi che chướng, bạn sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> Phật, ở đây, tại chính nơi này.</p>
<p style="text-align: justify;">Một vị "Phật" là người đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính Không</span>, trong khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hữu tình</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> trong các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi giới</span> của sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tồn tại</span> bị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mê lầm</span> – phải vậy không? Vì thế, sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mê lầm</span> phải được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span> xem nó là gì. Và khi bạn biết về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mê lầm</span>, bạn sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy</span> "trí tuệ". <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Danh hiệu</span> ‘Đấng Toàn Tri’ cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> biết rằng Phật có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> thấu suốt tất cả – những vị không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> được gọi là "hữu tình chúng sinh", trong khi những vị có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ </span>được gọi là "Phật". Và ở đây, dưới Cội <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Đề</span>, là nơi mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> đó được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thành tựu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> là kết quả của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát</span>. Dẫu vậy, khi bạn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> một vị Phật, mọi chuyện là như vậy đấy. Những phẩm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính giác</span> ngộ của bạn sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi lạc</span> mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hữu tình</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> ở khắp nơi và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mãi mãi</span>. Bạn có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng kiến</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> của "những phẩm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính giác</span> ngộ" ở ngay đây, quanh Cội <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Đề</span>. Mọi thứ bạn thấy là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đức Phật</span>. Người ta nói rằng ở đây, tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương</span> tòa, an trụ tất cả một nghìn lẻ hai vị Muni của kiếp này và rằng mỗi ngày – hay thậm chí mỗi giây – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hữu tình</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> nhận được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi lạc</span> như là kết quả. Hãy lấy chính bạn làm ví dụ; bạn là một doanh nhân, nhưng bạn đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du hành</span> đến đây, dưới Cội <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Đề</span>. Điều này nghĩa là bạn có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công đức</span> lớn lao bởi hầu hết doanh nhân trên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế giới</span> này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chưa bao giờ</span> đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Đề Đạo Tràng</span>. Tại đây, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> và người ăn xin có ở khắp nơi, nhưng chẳng có những giám đốc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điều hành</span> trong bộ com lê doanh nhân – bạn có thấy ai không? <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Đề Đạo Tràng</span> cũng là địa điểm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">linh thiêng</span> nhất với những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span> Dzogpa Chenpo. Đức Shri Singha và Manjushrimitra đã sống ở đây và Guru Rinpoche đã ở đây trong hai trăm năm.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Orgyen Tobgyal Rinpoche </b></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Pema Jyana </em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <span data-sheets-root="1" data-sheets-value="{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:&quot;Tầm quan trọng của những lời nguyện - Điều cần làm ở Bồ Đề Đạo Tràng&quot;}" data-sheets-userformat="{&quot;2&quot;:701,&quot;3&quot;:{&quot;1&quot;:0},&quot;5&quot;:{&quot;1&quot;:[{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0,&quot;5&quot;:{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0}},{&quot;1&quot;:0,&quot;2&quot;:0,&quot;3&quot;:1},{&quot;1&quot;:1,&quot;2&quot;:0,&quot;4&quot;:1}]},&quot;6&quot;:{&quot;1&quot;:[{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0,&quot;5&quot;:{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0}},{&quot;1&quot;:0,&quot;2&quot;:0,&quot;3&quot;:1},{&quot;1&quot;:1,&quot;2&quot;:0,&quot;4&quot;:1}]},&quot;7&quot;:{&quot;1&quot;:[{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0,&quot;5&quot;:{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0}},{&quot;1&quot;:0,&quot;2&quot;:0,&quot;3&quot;:3},{&quot;1&quot;:1,&quot;2&quot;:0,&quot;4&quot;:1}]},&quot;8&quot;:{&quot;1&quot;:[{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0,&quot;5&quot;:{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0}},{&quot;1&quot;:0,&quot;2&quot;:0,&quot;3&quot;:3},{&quot;1&quot;:1,&quot;2&quot;:0,&quot;4&quot;:1}]},&quot;10&quot;:1,&quot;12&quot;:0}"><a href="https://r.search.yahoo.com/_ylt=AwrKAwrzRWdlVd4Pn0JrUwx.;_ylu=Y29sbwNzZzMEcG9zAzIEdnRpZAMEc2VjA3Ny/RV=2/RE=1701295732/RO=10/RU=https%3a%2f%2fthuvienhoasen.org%2fa30831%2ftam-quan-trong-cua-nhung-loi-nguyen/RK=2/RS=y5PZwwAn2XcYpYdaOBd3v8zoDLk-">Tầm quan trọng của những lời nguyện - Điều cần làm ở Bồ Đề Đạo Tràng</a></span></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/truyen-thong-nyingema/kinh-sach-nyingma-lich-su-chung-truyen-thua-nyingema/tam-quan-trong-cua-nhung-loi-nguyen-dieu-can-lam-o-bo-de-dao-trang/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tu Tâm theo Kim Cương Thừa</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/truyen-thong-nyingema/tu-tam-theo-kim-cuong-thua/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/truyen-thong-nyingema/tu-tam-theo-kim-cuong-thua/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 25 May 2018 14:19:08 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kinh sách Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=8662</guid>
		<description><![CDATA[Sự Tu Tâm Vô Thượng Trí Của Mât Thừa Những Giáo Huấn Về Thực Hành Một Bổn Tôn  Với Những Thuộc Tính NAMO GURU DHEVA DAKINI HUNG. Đạo sư vĩ đại Padmakara đã thành tựu giai đoạn phát triển và thành tựu, và đã đạt được năng lực phô diễn của tính giác tự nhiên. Ngài đã đạt đến tất địa an trụ trong thân tướng mahamudra. Trong hư không của sự biểu hiện, Ngài nô đùa với toàn thể hiện tượng và hiện hữu. Vì lợi ích của&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/truyen-thong-nyingema/tu-tam-theo-kim-cuong-thua/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><b>Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu Tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vô Thượng</span> Trí Của Mât Thừa</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Huấn</span> Về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thực Hành</span> Một Bổn Tôn </b><br />
<b>Với Những Thuộc Tính</b></p>
<p style="text-align: justify;">NAMO GURU DHEVA DAKINI HUNG.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo sư</span> vĩ đại Padmakara đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giai đoạn phát triển</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span>, và đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năng lực</span> phô diễn của tính giác <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span>. Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt đến</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tất địa</span> an trụ trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân tướng </span>mahamudra. Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hư không</span> của sự biểu hiện, Ngài nô đùa với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn thể</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện tượng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vì lợi ích</span> của nhà vua và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công chúa</span> đương thời cũng như cho những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế hệ</span> tương lai, Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban cho</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công chúa</span> xứ Kharchen, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Công Chúa</span> Tsogyal những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo huấn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thật</span> này, Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu hành</span> tâm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vô Thượng </span>theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương Thừa</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Công Chúa</span> Tsogyal nói: Emaho, Thưa Đại Sư! con khẩn cầu những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> của Ngài về sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Bổn Tôn cùng với những thuộc tính. Vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> sẽ không đạt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tất địa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nếu không</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa vào</span> một Bổn Tôn Yidam, chúng con nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành </span>một Bổn Tôn Yidam ra sao?</p>
<p style="text-align: justify;">Vị Thầy đáp: <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sự thiền</span> quán về Bổn Tôn Yidam với những thuộc tính có hai loại: <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự thiền</span> quán <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiệm tiến</span> cho một người khả năng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm thức</span> kém và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự thiền</span> quán về thân <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất nhị</span> của người có khả năng lớn hơn.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Người có khả năng tâm thức kém</b></p>
<p style="text-align: justify;">Người có khả năng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm thức</span> kém nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu hành</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bồ đề tâm</span>, tức sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quý báu</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm giác</span> ngộ. Khởi đầu, dù ở đâu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> nên rửa tay, súc miệng, rửa mặt, với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cam lồ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật t</span>hay nước trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tịnh bình</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngồi kiết già</span> hoặc bán già trên một chỗ ngồi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoải mái</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó nên hướng tâm con đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tam giới</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luân hồi</span> đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vướng mắc</span> vào khổ đau và những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên nhân</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trước tiên</span> hãy hình <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành ý</span> nghĩ của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bồ đề tâm</span>: Để đưa tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> ra khỏi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luân hồi</span>, con sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân tướng</span> của Bổn Tôn Yidam! <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kế tiếp</span> trau dồi lòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bi thương</span> xót tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tình thương</span> (từ) muốn họ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoan hỷ</span> muốn họ gặp được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiên vị</span> (xả) muốn họ không xa rời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó tụng ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủng tự</span> OM AH HUNG, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kế tiếp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đảm đương</span> niềm tự hào mình là vị Bổn Tôn Yidam rồi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủng tử</span> tự riêng của vị đó trên một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoa sen</span>, một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trời</span>, và một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trăng</span> ở giữa ngực vị Yidam.</p>
<p style="text-align: justify;">Kế đó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> ánh sáng chiếu ra từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủng tử</span> tự, tất cả chư Phật, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát</span> an trụ trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mười phương</span> cũng như tất cả chư Guru, Yidam, và Dakini đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện</span> trên bầu trời phía trước con. Hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đảnh lễ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> đến các Ngài, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sám hối</span> những sai phạm, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoan hỷ</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công đức</span> của các Ngài, thọ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quy y</span> nơi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tam Bảo</span>, khẩn thỉnh các Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển Pháp luân</span>, khẩn cầu các Ngài đừng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập niết bàn</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát khởi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bồ đề tâm</span>, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hồi hướng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiện căn</span>. Phụng tống vị Thầy và những vị khác, và để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự quán</span> tưởng lắng xuống hay tan hòa vào trong con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tùy theo</span> cách nào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thích hợp</span>. Những bước này tất cả đều là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương diện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy công đức</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó, để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span>, hãy để thân con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> của ánh sáng nhờ những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tia sáng </span>chiếu ra từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủng tử</span> tự nơi giữa ngực con. Ánh sáng cũng chiếu vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mười phương</span> nhờ đó mọi sự vật trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế gian</span> cũng như tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> ánh sáng. Sau đó, ánh sáng này được tất cả chư Phật và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mười phương</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban phước</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Về việc hòa nhập lại ánh sáng vào con, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế gian</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> ánh sáng, thấm nhập vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>, họ hóa tán vào con, và ánh sáng của thân con tan hòa giống như sự bốc hơi nước trên mặt gương. Rồi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dần dần</span> hóa tán vào tòa ngồi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trăng</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kế tiếp</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trời</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trăng</span>, sau đó hòa tan vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủng tử </span>tự. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kế tiếp</span> tan hòa vào hình lưỡi liềm và bindu (Giọt ánh sáng). Ánh sáng của bindu là của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tâm</span>, kích thước bằng một phần trăm của đầu sợi tóc. Hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> điều này nhiều lần.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự quán</span> tưởng của con không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rõ ràng</span>, hãy niệm mantra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính Không</span> (shunyata), v.v..., sau đó hãy để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự quán</span> tưởng tan biến.</p>
<p style="text-align: justify;">Quả của hai thân là do <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span> hai loại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy</span> này.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính Không</span> này, hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tâm</span> con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện</span> như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủng tử</span> tự của vị Bổn Tôn Yidam hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủng tử</span> tự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển hóa</span> thành một thuộc tính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biểu tượng</span> được chạm nổi với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủng tử</span> tự. Từ sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển hóa</span> này, tạo ra đầy đủ vị Bổn Tôn Yidam riêng của con với đầu, những thuộc tính, v.v..., sau đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủng tử</span> tự trên một dĩa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trời</span> hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trăng</span> trên một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoa sen </span>giữa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> của Bổn Tôn.</p>
<p style="text-align: justify;">Những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tia sáng</span> chiếu ra từ đó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cầu thỉnh</span> tất cả chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Như Lai</span>, Guru (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span>), Bổn Tôn Yidam, Dakini của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mười phương</span> trong bầu trời phía trước con. Sau đó dâng cúng các Ngài năm loại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span>. Mời thỉnh Bổn Tôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> và khẩn cầu chư vị an tọa.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quán tưởng</span> chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Như Lai</span> ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đảnh</span> và trên đỉnh đầu con là vị Phật thống nhiếp của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span>(bộ). Sau đó khẩn thỉnh phụng tống các Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiếp theo</span> sau, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủng tử</span> tự trên dĩa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trời</span> ở giữa đỉnh đầu, cổ họng, và ngực của con. Thánh hóa chúng như thân, khẩu, ý. Tập trung <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chú tâm</span> một điểm vào vị Bổn Tôn Yidam.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó, khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm thấy</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mệt mỏi</span>, hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tụng niệm</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">1. Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tụng niệm</span> vajra lầm thầm là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tụng niệm</span> chỉ ở vùng cổ có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghe được</span>.<br />
2. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tụng niệm</span> vajra với âm điệu êm tai là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tụng niệm</span> với giai điệu như vào lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span>.<br />
3. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tụng niệm</span> vajra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span> là niệm thầm trong tâm.<br />
4. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tụng niệm</span> như luân xa là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> rằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">âm thanh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> qua miệng con, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi vào</span> rốn, và tan hòa lại vào giữa ngực.<br />
5. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tụng niệm</span> như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tràng hoa</span> là xoay vòng mantra quanh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủng tử</span> tự ở giữa ngực và niệm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhất tâm </span>trong lúc tập <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> con vào những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủng tự</span>.<br />
6. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tụng niệm</span> tập trung vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">âm thanh</span> là trong lúc niệm chỉ tập <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> con vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">âm thanh</span> của mantra.</p>
<p style="text-align: justify;"><b><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thực hành giữa thời </span></b></p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Công Chúa</span> Tsogyal <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hỏi Đạo</span> Sư: Chúng con nên làm gì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong khoảng</span> giữa thời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền quán</span> về vị Bổn Tôn Yidam?</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Sư</span> khuyên: Khi con không thể trì tụng, hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> torma, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tán thán</span> sau khi rung chuông. Khi phụng tống Bổn Tôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span>, hãy an trụ với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tư duy</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý niệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bình thường</span> của con.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó, khi con muốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn tất</span>, hãy đặt một bức hình, bức tượng, hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh điển</span> phía trước con và làm một mandala với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nước thơm</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rải hoa</span>. Trong một thoáng, hãy tự hào là một Bổn Tôn Yidam và chiếu ra những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tia sáng</span> từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủng tử</span> tự giữa ngực con. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cầu thỉnh</span> tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">pháp thân</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sắc thân</span> an trụ trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mười phương</span>. Khẩn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cầu pháp</span> thân trụ trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">pháp khí</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh điển</span>. Khẩn cầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sắc thân</span> trụ trong tranh, tượng.</p>
<p style="text-align: justify;">Hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> tập hội chư Phật, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát</span>, các Tổ, Yidam, và Dakini ở trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mười phương</span> lưu lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trước mặt</span> con. Dâng cúng các Ngài bất kỳ vật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> nào con có, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span> bảy tịnh hóa[33] trước sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện</span> của các Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào lúc này, con có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> torma đến vị Bổn Tôn Yidam. Dâng các vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hộ Pháp</span> torma nước, làm tượng tsa tsa, tượng đất sét hay những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> khác như vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó nếu muốn tụng các lời của chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Như Lai</span>, hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> rằng chỉ trong chốc lát lưỡi con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hư không</span>, từ đó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> chữ HUNG và chày vajra một chấu. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quán tưởng</span> rằng niệm những bài tụng này xuất ra từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủng tử</span> tự qua ống của chày vajra. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vô lượng</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phân thân</span> của con tràn ngập hàng tỉ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vũ trụ</span>, mỗi thân có một chày vajra trong miệng. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quán tưởng</span> rằng tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghe được</span> và họ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">được giải thoát</span> khỏi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luân hồi</span>. Đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niệm kinh</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Tất cả những bước này đều là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành Pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span> trong giữa thời hoặc khi làm những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> hàng ngày.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Niêm ấn giai đoạn phát triển </b></p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Công Chúa</span> Tsogyal <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hỏi Đạo</span> Sư: Chúng con nên niêm ấn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giai đoạn phát triển</span> với giai đoạn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện </span>như thế nào?</p>
<p style="text-align: justify;">Vị Thầy khai thị: <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hành giả</span> nào muốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> giai đoạn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> tự thân trong tướng Bổn Tôn, khẩn thỉnh Bổn Tôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> rời khỏi (phụng tống). Hóa tán nguyện <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hữu tình</span> thành ánh sáng, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủng tử</span> tự của Bổn Tôn hoặc một chữ HUNG. Chữ HUNG tan hòa dần thành bindu. Bindu nhỏ dần thành <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong sáng</span>. Từ trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> này, hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an trú</span> trong “tính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">như thị </span>của mọi hiện tượng”, trống không, tự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô niệm</span> vượt lên những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực đoan</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span> và phi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thường xuyên</span> hãy tự nhắc mình <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương ứng</span> với những hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> về giai đoạn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> mà con nhận được từ Thầy mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu con, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> làm như vậy, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> ba hay bốn thời một ngày, thì ngay trong kiếp này hay không bị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gián đoạn</span> bởi những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> khác, con sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an trú</span> trong đại yoga trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung ấm</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> thân mahamudra của vị Bổn Tôn Yidam. Ngay cả dù <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năng lực</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giai đoạn phát triển</span> của con chưa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên mãn</span>, trong kiếp tới con sẽ trụ trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> đại yoga và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chắc chắn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> cấp mahamudra của Vidyadhara.</p>
<p style="text-align: justify;">Tất cả những bước này là những khai thị về những giai đoạn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuần tự</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> cho những người khả năng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đơn giản</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Người có khả năng tâm thức cao nhất</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Công Chúa</span> Tsogyal <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hỏi Đạo</span> Sư: Người có khả năng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm thức</span> cao nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> ra sao?</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Sư</span> đáp: Khi một người có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm thức</span> cao <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhất thiền</span> quán về một Bổn Tôn, họ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không quán</span> tưởng từng bước. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đơn giản</span> chỉ tụng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm chú</span>, một câu chú, hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đơn giản</span> chỉ muốn hay nghĩ về vị Bổn Tôn, là họ thấy Bổn Tôn một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cách sinh</span> động mạnh mẽ, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lập tức</span>, và tự-hiện hữu, giống như một bọt nước <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> từ nước. Đây là sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cầu thỉnh</span> Bổn Tôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ pháp</span> giới.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tự quán</span> tưởng chính con như Bổn Tôn là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hư không</span>, và Bổn Tôn có thể thấy được nhưng không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự tính</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span>. Như vậy, đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hư không</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> là bất khả phân.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chân lý tương đối</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> bất tận như là Bổn Tôn, trong khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt đối</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> rằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh túy</span> của Bổn Tôn không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự tính</span>, là trống không. Do vậy, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân lý tương đối</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt đối </span>là bất khả phân.</p>
<p style="text-align: justify;">Vị Bổn Tôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> như phái nam là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương tiện</span>, khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> như phái nữ là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span>. Như vậy, đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương tiện</span> bất khả phân.</p>
<p style="text-align: justify;">Vị Bổn Tôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân tướng</span> Bổn Tôn là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phúc lạc</span>, nó không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự tính</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính Không</span>. Như vậy, đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính Không</span> bất khả phân.</p>
<p style="text-align: justify;">Vị Bổn Tôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân tướng</span> Bổn Tôn là tính giác, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình tướng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> của nó không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự tính</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span>. Như vậy, đó là tính giác và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hư không</span> bất khả phân.</p>
<p style="text-align: justify;">Vị Bổn Tôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân tướng</span> Bổn Tôn là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quang minh</span>, nó không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự tính</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính Không</span>. Như vậy, đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quang minh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính Không</span> bất khả phân.</p>
<p style="text-align: justify;">Hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> chính con như Bổn Tôn theo cách đó, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân tướng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hữu hình</span> nhưng không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự tính </span>và do vậy vượt lên tuổi tác và suy hoại. Khẩu thì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tụng niệm</span> bất tận do vậy, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh túy</span> của mantra vượt khỏi sự ngưng dứt. Tâm siêu vượt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sinh tử</span> và như vậy là sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương tục</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">pháp tính</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Không lìa Bổn Tôn trong bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> hàng ngày – đi, đứng, nằm, ngồi – đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> của người có khả năng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm thức</span> cao nhất. Điều này cực khó và là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lãnh vực</span> của người có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiệp báo</span> đã từng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu hành</span> trước kia.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Những giai đoạn quán tưởng </b></p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Công Chúa</span> Tsogyal <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hỏi Đạo</span> Sư: Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền quán</span> về vị Bổn Tôn Yidam, xin Ngài khai thị về cách lưu giữ Bổn Tôn trong tâm.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Sư</span> đáp: <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trước tiên</span> là những hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự quán</span> tưởng Bổn Tôn: Dù con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền quán</span> Bổn Tôn ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trước mặt</span> hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền quán</span> chính con là vị Bổn Tôn, sau khi nhận được hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> của vị Thầy, Ngài sẽ ban ân phước cho con, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của Ngài và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo vệ</span> con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chống lại </span>những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế lực</span> gây <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chướng ngại</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kế tiếp</span>, hãy ngồi ở nơi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thích hợp</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân thể</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoải mái</span>. Đặt một bức hình Bổn Tôn thật đẹp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trước mặt</span>. Ngồi một lúc ngắn không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">suy nghĩ</span> rồi nhìn vào bức hình từ đầu xuống chân. Nhìn lần nữa, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chi tiết</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dần dần</span> từ chân lên đầu. Hãy nhìn chăm chú vào bức hình như một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn thể</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thỉnh thoảng </span>nghỉ ngơi không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">suy nghĩ</span> về bức hình và hãy tự làm tươi tỉnh. Sau đó theo cách này nhìn lại nhiều lần trong trọn ngày.</p>
<p style="text-align: justify;">Tối đó hãy ngủ suốt đêm. Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thức dậy</span> hãy nhìn như trước. Vào buổi tối đừng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> Bổn Tôn mà chỉ an nghỉ tâm con trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô niệm</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Làm theo điều này, Bổn Tôn sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sống động</span> trong tâm con dù không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền quán</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không </span>được như vậy, hãy nhìn chăm chú vào bức hình, nhắm mắt lại và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình dung</span> bức hình ở trước con. Ngồi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> khi nào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình ảnh</span> vẫn còn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span>. Khi nó trở nên mờ nhạt và không rõ, hãy nhìn lại bức hình và lặp lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự quán</span> tưởng, hãy để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình ảnh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sống động</span>. Cắt đứt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">suy nghĩ</span> khái niệm và ngồi (với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình ảnh</span> Bổn Tôn).</p>
<p style="text-align: justify;">Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền quán</span> như vậy con sẽ có năm loại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span>: <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> chuyển động, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> thủ đắc, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thói quen</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> ổn định và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">1. Khi tâm con không giữ được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an định</span>, lúc đó con có nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tư tưởng</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩ</span>, và hồi ức, đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> chuyển động. Qua đó, con tiến gần đến việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiểm soát</span> tâm. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kinh nghiệm</span> này giống như thác nước đổ xuống vách đá.<br />
2. Sau đó, khi con có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> Bổn Tôn trong một lúc ngắn với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình dáng</span> và màu sắc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sống động</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rõ ràng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>, đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> thủ đắc. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kinh nghiệm</span> này giống như một hồ nhỏ.<br />
3. Tiếp sau đó, khi Bổn Tôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rõ ràng</span> dù con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền quán</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong khoảng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> ngắn hay dài, và khi Bổn Tôn ở yên trong sáu thời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công phu</span> của con mà không có niệm tưởng thô nào xảy ra, đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thói quen</span>, giống như dòng chảy của một con sông.<br />
4. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kế tiếp</span>, không động niệm và con có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> thời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công phu</span> trong lúc vẫn thấy Bổn Tôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rõ ràng</span>. Đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> ổn định giống như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Núi Tu Di</span>.<br />
5. Sau đó, khi con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> được trọn ngày hay hơn mà không mất sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sống động</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tứ chi </span>ngay cả đến tóc trên thân Bổn Tôn và không khởi niệm, đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hành giả</span>, hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">áp dụng</span> điều này cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> của mình!</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu ngồi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> Bổn Tôn quá lâu mà không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rõ ràng</span>, thân con sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rối loạn</span>. Con sẽ trở nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mệt mỏi</span> và không thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiến bộ</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự thiền</span> quán của mình. Con sẽ có nhiều niệm tưởng hơn, vậy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trước tiên</span> hãy tự làm tươi tỉnh và sau đó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cho đến</span> khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rõ ràng</span>, đừng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền quán</span> vào ban đêm. Nói chung, điều quan trọng là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> ngắn. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thiền quán</span> trong lúc có ánh sáng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trời</span>, khi bầu trời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong sáng</span>, hay với một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngọn đèn</span> bơ. Không nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền quán</span> khi vừa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thức giấc</span> hoặc con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm thấy</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uể oải </span>hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mệt mỏi</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào ban đêm hãy ngủ thẳng giấc và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền quán</span> tám thời ngắn vào ngày hôm sau.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>, nếu xả thiền đột ngột, con sẽ mất tập trung, vậy hãy xả thiền chậm rãi.</p>
<p style="text-align: justify;">Lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền quán</span> khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự quán</span> tưởng của con trở nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sống động</span>, con có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> vào ban đêm, lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàng hôn</span>, và bình minh.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung đừng làm con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mệt mỏi</span>, hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chú tâm</span> vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span>, lần lần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quen thuộc</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền quán</span> ổn định, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> đầy đủ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình tướng</span> Bổn Tôn.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Kéo dài sự quán tưởng </b></p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Công Chúa</span> Tsogyal <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hỏi Đạo</span> Sư: Chúng con nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> vị Bổn Tôn trụ trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> bao lâu?</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Sư</span> đáp: Sau khi con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rõ ràng</span> và một ít ổn định như đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> ở trên, có thể kéo dài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> an trụ. Thường thì sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tụng niệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quyết định</span> dộ dài của thời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công phu</span>. Nhưng vì chưa tới lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tụng niệm</span>, sự kéo dài thời thiền nên theo khả năng an trụ trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> của con.</p>
<p style="text-align: justify;">Đối với cách đo lường bên trong của thời thiền, thì khoảng cách của những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hơi thở</span> là quan trọng nhất. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tuy nhiên</span>, với sự đo lường bên ngoài thì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> và số lượng thời thiền là quan trọng nhất.</p>
<p style="text-align: justify;">Số lượng của thời thiền có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quyết định</span> là giữ bốn thời trong một ngày và đêm, và kéo dài càng lâu càng tốt. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mục tiêu</span> của việc đo lường thời thiền là không làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xáo trộn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân thể</span>, giữ cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành </span>thăng bằng, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia tăng</span> sự tập trung, và có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> trong một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> dài.</p>
<p style="text-align: justify;">Về việc tính đếm, không nên đếm miệng mà dùng chuỗi để đếm bằng tâm. Sau đó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia tăng</span> số lượng; hãy nghỉ một lúc và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> một lúc.</p>
<p style="text-align: justify;">Về sự đo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> bằng bóng râm, hãy chia một ngày thành mười sáu hay tám thời (chia bóng râm theo đường vạch) và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> mỗi hai phần của vạch bóng râm rồi nghỉ một phần. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tóm lại</span>, hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> trong tám thời ngắn và nghỉ ngơi xen kẽ tám thời.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi con đã ổn định theo cách này, hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền quán</span> trong hai thời ngắn rồi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dần dần</span> kéo dài thêm. Sau đó con sẽ có thể trụ trong cả ngày, một ngày và một đêm, nửa tháng, một tháng, v.v...</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tóm lại</span>, bất kể thời thiền của con ổn định ra sao, điểm chính là đừng làm thân con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mệt mỏi</span>. Hãy giữ những thời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền cân</span> xứng và kéo dài một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong sáng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất động</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô niệm</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Đây là những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo huấn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> về việc kéo dài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự quán</span> tưởng Bổn Tôn.</p>
<p style="text-align: justify;"><b><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sửa chữa những lỗi lầm </span></b></p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Công Chúa</span> Tsogyal <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hỏi Đạo</span> Sư: Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền quán</span> về Bổn Tôn, chúng con nên sửa những lỗi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biến đổi</span> ra sao?</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Sư</span> đáp: Để sửa những lỗi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biến đổi</span>, có hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương diện</span>: <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span> lỗi và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sửa lỗi</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span> lỗi có hai loại: thông thường và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Những lỗi thông thường là quên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span>, lười biếng, e ngại, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hôn trầm</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạo cử</span> (kích động), quá <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nỗ lực</span> và thiếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cố gắng</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">1. Quên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền quán</span> bị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xao lãng</span>.<br />
2. Lười biếng là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">suy nghĩ</span> một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải đãi</span>, “Tôi sẽ làm sau”.<br />
3. E ngại là sợ mình không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> và sợ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lạc</span>.<br />
4. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hôn trầm</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm thấy</span> trì trệ vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn cảnh</span>, một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngẫu nhiên</span> hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span>.<br />
5. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trạo cử</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm thấy</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> bị kích động do <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn cảnh</span> hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">có chủ ý</span>.<br />
6. Quá <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nỗ lực</span> là không bằng lòng trong lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> Bổn Tôn đã được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rõ ràng</span> lại phát sinh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý muốn </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> thêm lần nữa.<br />
7. Thiếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cố gắng</span> là vẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dửng dưng</span> khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự quán</span> tưởng Bổn Tôn không được rõ.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> Bổn Tôn, có mười <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hai lỗi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> như sau: <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lờ mờ</span> và không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong sáng</span>, trên và dưới <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đảo lộn</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân thể</span> không cân xứng, trang phục <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biến đổi</span>, tư thế thay đổi, hình dạng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biến đổi</span>, số lượng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biến đổi</span>, màu sắc của thân <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biến đổi</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> chỉ có màu sắc, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> chỉ có hình dạng, ngồi nghiêng ngả và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dần dần</span> biến mất.</p>
<p style="text-align: justify;">Bây giờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> sửa những lỗi này. Với bảy lỗi thông thường, con nên giữ vững tám <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">áp dụng</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sửa chữa</span> chúng.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Áp dụng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chánh niệm</span> khi quên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Áp dụng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quyết tâm</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiên trì</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đối trị</span> lười biếng. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Áp dụng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chánh tư duy</span> như phương thuốc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chống lại</span> lo sợ. Để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đối trị</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hôn trầm</span>, hãy phát triển nhiệt tình, đi tắm và đi dạo. Khi bị xáo động, hãy phát triển sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">buồn chán</span> đối với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luân hồi</span>, hãy cột tâm của con với sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tỉnh thức</span>, và buộc tâm vào cây <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tóm lại</span>, với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hôn trầm</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạo cử</span>, hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sử dụng</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảnh giác</span> của người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">canh giữ</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Áp dụng</span> sự bình thản <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">buông xả</span> khi mong muốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nỗ lực</span> quá nhiều. Hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyên cần</span> khi thiếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cố gắng</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Về cách sửa những lỗi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> của Bổn Tôn, hãy nhìn kỹ những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chi tiết</span> khi bị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lờ mờ</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối tăm</span> hay không rõ và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành thiền định</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính Không</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô niệm</span>. Hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luân phiên</span> giữa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô niệm</span>, nhìn Bổn Tôn và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi sự cân đối của thân, trang phục, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình dáng</span>, hay tư thế <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biến đổi</span>, hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> rằng thân Bổn Tôn là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vật chất</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cụ thể</span> và rất to lớn, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vững chắc</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quán tưởng</span> rằng những con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bồ câu</span> bay vào và ra lỗ mũi, những con chim, cừu và nai nô đùa trên tay và chân. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quán tưởng</span> rằng vị Bổn Tôn an trụ như chất liệu cứng chắc giống một bức tượng.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biến đổi</span> số lượng, hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạn chế</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> một hay hai Bổn Tôn. Khi chỉ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> màu sắc, hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình dáng</span>. Nếu Bổn Tôn đổi màu đỏ hay vàng theo sức nóng của thể trạng máu hay mật vv... hãy nghỉ ngơi. Nếu Bổn Tôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dần dần</span> biến mất, hãy tập <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> vào tay và mặt Bổn Tôn. Với lỗi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọn vẹn</span>, hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân thể</span> Bổn Tôn với đầy đủ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trang hoàng</span> và những thuộc tính.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tóm lại</span>, hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> mà không trở nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mệt mỏi</span> vì bất kỳ những lỗi nào có thể xảy ra. Sau đó, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính Không</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô niệm</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kế tiếp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> trong lúc nhìn và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chú tâm</span> vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân thể</span> vị Bổn Tôn.</p>
<p style="text-align: justify;">Đây là những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo huấn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sửa chữa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lỗi lầm</span> khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền quán</span> về Bổn Tôn.</p>
<p style="text-align: justify;"><b><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu hành với bổn tôn </span></b></p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Công Chúa</span> Tsogyal <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hỏi Đạo</span> Sư: Chúng con nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rèn luyện</span> với Bổn Tôn như thế nào?</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Sư</span> khai thị: <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo huấn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu hành</span> với Bổn Tôn là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> Bổn Tôn bằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô niệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> khi con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> những lỗi này. Hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luân phiên</span> giữa Bổn Tôn và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô niệm</span>. Khi con có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> Bổn Tôn không bị lỗi, hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> Bổn Tôn đứng thẳng, hay ngồi, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nằm ngửa</span> hoặc sấp trên một bình nguyên hay đỉnh núi, gần hay xa, trên đá hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dưới nước</span>. Hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu hành</span> việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> Bổn Tôn theo những cách này bất cứ khi nào con muốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Hòa nhập với Bổn Tôn</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Công Chúa</span> Tsogyal <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hỏi Đạo</span> Sư: Chúng con nên hòa nhập với Bổn Tôn ra sao?</p>
<p style="text-align: justify;">Vị Thầy khai thị: Một khi con đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu hành</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quen thuộc</span> với Bổn Tôn, hãy hóa tán Ngài vào trong con. Hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> điều đó khi con là một Bổn Tôn đơn hay một mandala với một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi Phật</span>. Sau đó, để nối kết Bổn Tôn với cái <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối hậu</span>, Bổn Tôn được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> và được ổn định nhờ niệm tưởng của con. Tâm con và tám thức <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết tập</span> là cái <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân tướng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> của Bổn Tôn. Một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt đối</span>, nó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tỉnh giác</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm giác</span> ngộ, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> vĩ đại tự-hiện hữu, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh túy</span> của quả. Vị Bổn Tôn không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> từ đâu khác. Cho dù Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> ra sao đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô tự tính</span> và do vậy là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân tướng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất nhị</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Xuất hiện</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân tướng</span> Bổn Tôn là vượt khỏi bám luyến vì Ngài là thân, khẩu, ý như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kim cương</span> (thân vajra) <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> nhưng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô tự tính</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Dù tâm con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> như Bổn Tôn, nó cũng không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự tính</span>. Vì nó không thể khảo sát hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biểu thị </span>bằng bất cứ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình tướng</span> gì, nó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">pháp thân</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỡi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span>, con đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu hành</span> như vậy theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> này,cần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuân thủ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an trú</span> trong sáu samaya của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>. Con không nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sùng kính</span> vị Thầy, người đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban cho</span> con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Áp dụng</span> những gì có lợi cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> và tránh những gì không lợi. Đừng để sự tập trung của con bị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lãng phí</span> vì những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> hàng ngày. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiếp tục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span> mà không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> Bổn Tôn, hãy giữ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span> việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Bổn Tôn riêng của con và không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">suy nghĩ</span> bỏ vị này lấy vị khác. Bất kỳ vị Bổn Tôn nào con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương tự</span> như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền quán</span> về tất cả chư Phật. Việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền quán</span> về chư Phật không gì khác hơn là giúp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span> tâm con. Thậm chí việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> Bổn Tôn cũng chỉ là một biểu hiện của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm thức</span>. Ngoài điều này ra thì không có gì để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>. Chư Phật và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát</span> đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện thân</span> trong vị Bổn Tôn Yidam của con.</p>
<p style="text-align: justify;">Đây là hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> về hòa nhập với Bổn Tôn và nối kết Ngài với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt đối</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Làm thế nào để thành tựu bổn tôn </b></p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Công Chúa</span> Tsogyal hỏi vị Thầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hóa Thân</span>: Thưa, người ta lấy một vị Bổn Tôn như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> Ngài ra sao?</p>
<p style="text-align: justify;">Vị Thầy đáp: Để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> một Bổn Tôn, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trước tiên</span> hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> vị Bổn Tôn phía trước con. Sau đó ổn định <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự quán</span> tưởng vế chính con như Bổn Tôn. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cho đến</span> lúc này tránh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tụng niệm</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Bây giờ, khi sắp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Bổn Tôn, hãy sắp xếp một mandala cho sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> và bày đồ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span>. Hãy đặt những đối tượng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiêng liêng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trước mặt</span> và tự làm tươi tỉnh, ngồi xuống trên một chỗ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoải mái</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cầu thỉnh</span> vị Thầy và tập hội chư Bổn Tôn Yidam, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đảnh lễ</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tán thán</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span> tám chi. Vị Bổn Tôn sau đó tan thành ánh sáng và hóa tán vào trong con, bằng cách này hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng </span>chính con là vị Bổn Tôn Yidam. Hãy vẽ một vòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo vệ</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> và thánh hóa sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhờ ba samadhi v.v.., hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> mandala cùng với những Bổn Tôn. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thực hiện</span> sự hiến cúng thánh hóa và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đảnh</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cầu thỉnh</span> và hòa nhập Bổn Tôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đảnh lễ</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tán thán</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Lập lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự quán</span> tưởng Bổn Tôn tách biệt phía trước con, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tụng niệm</span>. Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn tất</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tụng niệm</span> hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tán thán</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thể nhập</span> Bổn Tôn vào thân con và đi ngủ trong lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> niềm tự hào con là Bổn Tôn.</p>
<p style="text-align: justify;">Sáng hôm sau khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thức dậy</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lập tức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> Bổn Tôn và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tụng niệm</span> theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi quỹ</span> của con như trên.</p>
<p style="text-align: justify;">Hãy thánh hóa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực phẩm</span> và đồ uống và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> như một bữa tiệc.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo cách này dù con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu hành</span> với Bổn Tôn như một tập hội Bổn Tôn trong mandala đơn, con vẫn sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Đây là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo huấn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> của sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> Bổn Tôn.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Những dấu hiệu thành tựu </b></p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Công Chúa</span> Tsogyal <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hỏi Đạo</span> Sư: Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> một Bổn Tôn, những dấu hiệu và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biểu lộ</span> gì của sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> sẽ xuất hiện?</p>
<p style="text-align: justify;">Vị Thầy khai thị: Có bốn loại dấu hiệu: biểu hiện, những giấc mơ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">báo hiệu</span>, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span>, và những dấu hiệu trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tế</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Bốn loại biểu hiện giống như khói, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảo ảnh</span>, đom đóm, và một bầu trời không mây. Những biểu hiện này được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> như những ví dụ cho sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiến bộ</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm loại giấc mơ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">báo hiệu</span> như sau: thấy chư Phật và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát</span> khác với mình, thấy chư Phật và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát </span>và mình như nhau, thấy chính mình là Bổn Tôn không có trước sau, thấy tất cả chư Phật và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát </span>bày tỏ sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn kính</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> cho mình và mộng thấy rằng tất cả chư Phật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền đạt</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải nghĩa</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ngoài ra</span>, nếu nằm mơ thấy mình nhiều lần khỏa thân là dấu hiệu đã tịnh hóa những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tập khí</span>. Mơ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi lên</span> cầu thang vào bầu trời là dấu hiệu đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi vào</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span>. Mơ thấy cưỡi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sư tử</span> và voi là dấu hiệu đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thành</span> các địa (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quả vị</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát</span>). Mơ thấy có vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> tươi cười v.v... là dấu hiệu nhận được một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiên tri</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Dù con có những hảo mộng như vậy, cũng đừng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vui mừng</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Đây là những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> bên ngoài, bên trong và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">1. Những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> bên ngoài trong khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> là: thấy những đối tượng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vật chất</span> như phân <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tử vi</span> tế, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủng tử</span> tự, những thuộc tính của tâm, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân tướng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vi tế</span>, v..v..., hoặc thấy những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lĩnh vực</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tri giác</span> thô của năm màu như lửa và nước, v..v...<br />
2. Những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> bên trong là khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> về Bổn Tôn con không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">để ý</span> đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hơi thở</span> ra vào, thân con nhẹ như bông gòn và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> già chết.<br />
3. Những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span> là khi con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Bổn Tôn một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">huyễn ảo</span>, thì như chỉ là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện tiền</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span>. Con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm thấy</span> lòng bi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bình đẳng</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mọi người</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lĩnh vực</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> của con hé lộ như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Những dấu hiệu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tế</span> là những dấu hiệu bên ngoài và trong. Những dấu hiệu bên ngoài là ánh sáng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span>, hình của Bổn Tôn cười, một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">âm thanh</span> lớn hay mùi hương thơm dịu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span>, một đèn bơ tự thắp sáng, thấy đầu con bay lên, hoặc thấy thân con không có bất kỳ khó chịu nào. Những dấu hiệu bên trong cho thấy lòng bi của con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tăng trưởng</span> hơn trước, bám luyến của con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giảm bớt</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">định kiến</span>, con có samaya <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tình thương</span> với vị Thầy và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp hữu</span>, con không còn sợ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luân hồi</span> và không bị Mara (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ma vương</span>) <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đe dọa</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi những dấu hiệu như vậy xảy ra, đừng trở nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vui mừng</span> mà hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh tấn</span>.<br />
Đây là cách ù những dấu hiệu và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Những kết quả của thực hành </b></p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Công Chúa</span> Tsogyal <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hỏi Đạo</span> Sư: Những phẩm tính nào sẽ là kết quả của việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Bổn Tôn?<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Sư</span> nói: Những phẩm tính kết quả từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Bổn Tôn là con tịnh hóa những che chướng và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy công đức</span>.<br />
Vì sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý niệm</span> hóa của con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chấm dứt</span> nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền quán</span> một Bổn Tôn, con sẽ tịnh hóa những che chướng của nghiệp, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm xúc</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phiền não</span>, và những nơi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span>.<br />
Về phần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy công đức</span>, có năm loại kết quả: kết quả của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span>, đó là bốn cấp vidyadhara, và kết quả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối hậu</span>.<br />
Những cấp vidyadhara có hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương diện</span>: phẩm tính và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh túy</span>. Các phẩm tính là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lục thông</span> và bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần lực</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tinh túy</span> là bốn cấp vidyadhara, đó là vidyadhara cấp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trưởng thành</span>, vidyadhara cấp làm chủ cuộc sống, vidyadhara cấp đại ấn, và cấp vidyadhara của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span>.<br />
Kết quả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối hậu</span> là khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự thiền</span> quán Bổn Tôn của con trở nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">linh hoạt</span>, ngay cả dù con có một ít phẩm tính và chút <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thông minh</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chắc chắn</span> con sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật quả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên mãn</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Năm con đường </b></p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Công Chúa</span> Tsogyal <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hỏi Đạo</span> Sư: Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bát Nhã Ba La Mật</span> đã dạy rằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> phải đi qua các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span>. Chúng con phải làm sao để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phối hợp</span> năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> mandala Bổn Tôn tới viên mãn?<br />
Vị Thầy đáp: <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> mandala Bổn Tôn có bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương diện</span>: <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> tiếp hợp, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> của cái thấy, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> trau dồi (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trưởng dưỡng</span>), và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn tất</span>.<br />
Những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiệm tiến</span> này có thể nối kết với bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương diện</span> của tiếp cận và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span>, trong đó sự tiếp cận là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> của tiếp hợp, tiếp cận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> của cái thấy (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiến giải</span>), sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trưởng dưỡng</span>, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại thành tựu</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn tất</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><b><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con đường tiếp hợp </span></b></p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con đường</span> tiếp hợp có bốn khía cạnh. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân như</span> và những samadhi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">như huyễn</span> là sức nóng (nỗn địa). <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thực hành</span> tập trung <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vi tế</span> và tướng Bổn Tôn đơn là đỉnh cao nhất (đảnh địa). <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thực hành</span> sự biểu hiện <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọn vẹn</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân tướng</span> Bổn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn chi</span> tiết là sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhẫn địa</span>). <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thực hành</span> về tập hội trên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên tục</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế gian</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối cao</span> (thế đệ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhất địa</span>).</p>
<p style="text-align: justify;">1. Bằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại định</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân như</span>, hãy xác định rằng mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện tượng</span> đều là tâm con và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô niệm</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> không tạo tác của tâm. Hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> lúc con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span> nó.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại định</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">như huyễn</span> là sự tự-phô diễn của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hư không</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất sinh</span>. Đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> tính bất khả phân có biết nhưng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô niệm</span> của sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biểu lộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình tướng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính Không</span>. Giống như ánh sáng tràn ngập <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hư không</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span>, trong lúc sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> là biểu hiện và phi khái niệm.</p>
<p style="text-align: justify;">Lúc đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span> được điều này sau khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">linh hoạt</span>, con sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vượt qua</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ranh giới</span> giữa những sự giống nhau của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại Thừa</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiểu Thừa</span>, sau đó mười một dấu hiệu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> sức nóng sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span>:</p>
<p style="text-align: justify;">Những côn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trùng không</span> sống trên thân con.<br />
Những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhiễm ô</span> bên ngoài và bên trong của con được tịnh hóa.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thoát khỏi</span> bệnh tật của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân tứ đại</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạt được</span> cái nhẫn thuộc về thể lý.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vượt qua</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">suy nghĩ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa trên</span> khái niệm của con.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thoát khỏi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực phẩm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vật chất</span>, sự tươi sáng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rực rỡ</span> huy hoàng của con vượt lên sự tàn tạ.<br />
Không phát sinh những tham nuốn thông thường.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thoát khỏi</span> năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm xúc</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phiền não</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tập khí</span> có khuynh hướng thiên về kiến và hành của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiểu thừa</span> được cạn kiệt.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thoát khỏi</span> tám mối <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế gian</span>.<br />
Nhận được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thâm sâu</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Đây là mười một dấu hiệu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chấp nhận</span> vượt khỏi sự bị rơi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở lại</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">2. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thực hành</span> Bổn Tôn đơn và tập trung <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vi tế</span> ở giai đoạn đỉnh là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> về samadhi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vi tế</span> và Bổn Tôn đơn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> khi nó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biểu lộ</span> trong ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lãnh vực</span> của đối tượng.</p>
<p style="text-align: justify;">Những dấu hiệu của tập trung của giai đoạn đỉnh là năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm xúc</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phiền não</span> không khởi lên theo những đối tượng bên ngoài, và không thể bị hại bởi năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên tố</span> bên ngoài. Đó là những dấu hiệu tâm con đã hòa nhập với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình tướng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">4. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thực hành</span> yoga của tướng thân <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phức tạp</span> ở giai đoạn nhẫn là tự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu hành</span> với Bổn Tôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phẫn nộ</span> và hiền minh như ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span>, năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span> hay một số nhóm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span> điều này khi đã phát triển <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quen thuộc</span> với nó, con có thể phát ra ánh sáng với một samadhi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tức thời</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tỉnh giác</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> của con có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán tưởng</span> thậm chí một mandala của một ngàn vị Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Những dấu hiệu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng tỏ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> giai đoạn nhẫn và trở nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">linh hoạt</span> trong việc biểu hiện những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình tướng</span> là con có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biến cát</span> thành vàng, tạo ra nước ở nơi khô hạn, làm than củi đâm chồi, và có thể điều khiển <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mọi vật</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hữu hình</span> theo con muốn. Đó là những dấu hiệu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> sự làm chủ tâm.</p>
<p style="text-align: justify;">4. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hoàn tất</span> tập hội trên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên tục</span> ở giai đoạn cao nhất của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế gian</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại lạc</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">pháp tính</span>. Khi trở nên cực kỳ ổn định, con được phú cho năm điều, v.v.., và con bắt đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi quỹ</span> vào một lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cát tường</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năng lực</span> tập trung mạnh, con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> cấp vidyadhara làm chủ cuộc sống, do vậy; <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong vòng </span>sáu, mười hai hay mười sáu tháng con sẽ đạt tới bộ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiêng liêng</span> của sự làm chủ. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Năng lực</span> sống của con sẽ tương đương <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trời</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trăng</span> và có thể kéo dài tuổi thọ của con mỗi lần một trăm năm.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năng lực</span> tập trung yếu, con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> cấp vidyadhara <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trưởng thành</span>. Khi rời bỏ thân xác, con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân tướng</span> đầy đủ của bổn tôn yidam trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung ấm</span>. Đó là kết quả của sự ổn định trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giai đoạn phát triển</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><b><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con đường của cái thầy </span></b></p>
<p style="text-align: justify;">Bây giờ Ta sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> sự tiếp cận đầy đủ đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> của cái thấy. Sau khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> thân còn lại của con là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân tâm</span> thức, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhiễm ô</span> sẽ cạn kiệt và con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất biến</span> của vidyadhara cấp làm chủ cuộc sống vượt khỏi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sinh tử</span>, thậm chí không cần rời bỏ thân xác <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện tại</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạt được</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngũ thông</span> và bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần lực</span>, con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc tính</span> của cái <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối hậu</span>. Mặc dù <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển hóa </span>thành <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> vật qua <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> kiếp không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thể tính</span> toán được, phô diễn những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần lực</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">huyền diệu</span> của con trên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> của cái thấy và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vì lợi ích</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>, con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi vào</span> hành động mà không bám luyến và nhận được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> từ những vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa thân</span> trong thân người. Con sẽ không rơi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở lại</span> khỏi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><b><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con đường của sự trưởng dưỡng và hoàn tất</span></b></p>
<p style="text-align: justify;">Bây giờ Ta sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> như là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trưởng dưỡng</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con đường</span> của sự trường dưỡng là đặt những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc tính</span> của cái <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối hậu</span> vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> cấp mahamudra của thân cầu vồng.</p>
<p style="text-align: justify;">Dù <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> tâm của con trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> không khác với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> tâm của các vị Phật nhưng vì con vẫn còn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> của thức hậu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> do vậy phải <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủ ý</span> trụ lại trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>. Vì giờ đây con an trụ trong tập trung không lay động, đó là cấp vidyadhara của mahamudra. Đây là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất động</span> từ ati yoga. Không rời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> con lưu xuất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">như huyễn </span>và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>. Bằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm thức</span> hay bằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biểu tượng</span>, con có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">báo thân</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại thành tựu</span>, cấp vidyadhara của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span>, những phẩm tính của con hầu hết đều ngang bằng với những phẩm tính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối thượng</span> của chư Phật, nhưng vẫn còn có khác biệt giữa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> hay có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> khiến nâng cấp những phẩm tính đó. Cấp vidyadhara <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sở hữu</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nâng cao</span> tức khắc.</p>
<p style="text-align: justify;">Tập hợp những vị nhiếp chính và ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>, con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn tất</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại định</span> như-kim cương và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> cho mình và người khác nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần lực</span> không cần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cố gắng</span>. Đây là hành động <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biểu lộ </span>của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span>. Hội ngộ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">pháp thân</span> mặt đối mặt, con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> qua những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban phước</span> và tịnh hóa những che chướng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vi tế</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tri kiến</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhị nguyên</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Đây là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiệm tiến</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">việc làm</span> thế nào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương diện</span> tiếp cận và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span>, năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span>, và bốn cấp vidyadhara.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Sự nhảy qua các cấp bậc </b></p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Công Chúa</span> Tsogyal <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hỏi Đạo</span> Sư: Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> tắt của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương Thừa</span>, liệu có thể nhảy qua các cấp bậc trên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> hay không?</p>
<p style="text-align: justify;">Vị Thầy đáp: Cũng có dạy rằng có sự nhảy qua những cấp bậc. Có thể có một số người đạt tới <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiến bộ</span> qua <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> tiếp hợp, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> của cái thấy, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trưởng dưỡng</span> một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tức thời</span>. Không đi từng bước, một số người đạt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> của cái thấy, một số đạt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật quả</span> từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trưởng dưỡng</span>, có người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiệm tiến</span> dần đến cuối đường và đạt tới <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật quả</span>. Người ta khác nhau theo mức độ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năng lực</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thông minh</span> và tập trung.</p>
<p style="text-align: justify;">Bốn cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tùy theo</span> đẳng cấp của bốn loại người thì không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa vào</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">việc phải</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> sau khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> ở kiếp tới. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hệ thống</span> quả của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương Thừa</span> chủ trương rằng con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> căn bệnh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sinh tử</span> ngay trong kiếp sống này, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> cấp samadhi vượt khỏi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span>, con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ba thân</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"> Để đạt tới địa Bất khả phân và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đắc Pháp</span> thân chỉ trong một kiếp, người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thông tuệ</span> được dạy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu hành </span>trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">pháp thân</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quen thuộc</span> dần với nó, và lấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">như thị</span> làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Để đạt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thiện Thệ</span> địa và đắc thân <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại lạc</span>, người nhiệt thành được dạy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu hành</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại lạc</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quen thuộc</span> dần với nó, và lấy lạc làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Để đạt địa Vòng Đại Tập hội và đắc những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân sắc</span> tướng, người nhiều sân được dạy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu hành</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quen thuộc</span> dần với nó. Người chấp giữ những thuộc tính được dạy để nhận Bổn Tôn làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong cách này, con tịnh hóa các cõi của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ba thân</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quen thuộc</span> dần với ba địa. Vì tất cả những kết quả này đều dung chứa trong tâm con nên hãy xác quyết rằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật quả</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span> ở đâu khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Đây là những phẩm tính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">siêu phàm</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> nhảy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vượt qua</span> những cấp bậc.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Những thân và những trí tuệ </b></p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Công Chúa</span> Tsogyal <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hỏi Đạo</span> Sư: Thưa, chúng con đạt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quả vị</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương Thừa</span>, năm thân, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngũ trí</span> ra sao?</p>
<p style="text-align: justify;">Vị Thầy khai thị: <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Liên quan đến</span> những loại khả năng khác nhau vừa nhắc đến ở trên, khi con tiến hành bốn cách nhận làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span>, con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> quả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô thượng</span>, kết quả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> của năm thân và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngũ trí</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp giới thể tính trí</span> nghĩa là tướng chung của tất cả chư Phật, tính vốn có sẵn không tạo tác của con, một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh túy</span> nguyên sơ vô <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điều kiện</span>, là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất sinh</span>, vốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> vượt khỏi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sinh diệt</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trí tuệ</span> như gương nghĩa là dù <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">pháp giới</span> không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vật chất</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cụ thể</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> của nó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong sáng</span> và mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện tượng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> giống như những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phản chiếu</span> trong một tấm gương trong lúc đó không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự tính</span>, và được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> trong lúc không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">suy nghĩ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa trên</span> khái niệm.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bình đẳng tính trí</span> nghĩa là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">pháp giới</span> bất tận là tính giác tự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span>, và lìa khỏi mọi tạo tác. Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô sinh</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất nhị</span>, và đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bình đẳng</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Diệu quan sát trí</span> (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phân biệt</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cá thể</span>) là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự kiện</span> không rời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bình đẳng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất nhị</span> này, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc tính</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện tượng</span> chung và riêng là không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lẫn lộn</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> đầy đủ, trong lúc những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tập khí </span>của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô minh</span> được loại bỏ và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn giác</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện ra</span> không có khổ đau của sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">suy nghĩ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa trên </span>khái niệm.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại viên cảnh trí</span> (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> của hành động <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiên trì</span>)[34] là ngơi nghỉ trong lúc vẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> như vừa nhắc đến. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trí tuệ</span> bất khả phân này là để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> cho chính mình và người khác một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> với sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiên trì</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Năm trí</span> này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biểu lộ</span> riêng rẽ như sự biểu hiện bất tận của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác tính</span> con, nhưng chúng không bao giờ tách rời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> nền tảng của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">pháp giới</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp giới thể tính trí</span> này là nền tảng của tất cả, là sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện</span> nguyên sơ trong chính con; suốt ba thời, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> chưa từng tách khỏi nó.</p>
<p style="text-align: justify;">Bây giờ cách năm thân <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện</span> ra sao như sau.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp thân</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> bẩm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sinh không</span> do tạo tác, một sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thâm sâu</span>, vượt khỏi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sinh diệt</span> và tạo tác.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Báo thân</span> là sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hỷ lạc</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> tự-hiện hữu của tính giác, vì thân và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện</span> trong sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương tục</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> bẩm sinh của tâm con.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hóa thân</span> là lòng bi sinh ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ trí</span> tuệ, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> và phô diễn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">như huyễn</span> trong tất cả cách.</p>
<p style="text-align: justify;">Thân <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại lạc</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại lạc</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất sinh</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm giác</span> ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Thân <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh túy</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự kiện</span> bốn thân này không tách rời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">như tinh</span> túy của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm giác</span> ngộ bẩm sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì năm thân và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năm trí</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span>, điều này được gọi là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sở hữu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tổng tướng</span> của tất cả chư Phật. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hành giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiệm tiến</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh túy</span> của năm thân này khi ở trên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính </span>của tâm mình. Khi rời bỏ thân xác, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> năm thân và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năm trí</span> này theo một cách siêu vượt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng đắc</span> và thấy biết chúng theo một cách siêu vượt thấy biết.</p>
<p style="text-align: justify;">Đây là sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật tính</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vì lợi ích</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> ra sao. Rất nhiều sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phản chiếu </span>của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trời</span> trên mặt nước mà không để lại dấu vết một vòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trời</span> nào cả. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tương tự</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chân lý</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đấng Giác Ngộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên mãn</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp thân</span>, không lưu lại sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bình đẳng</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản thể</span> bẩm sinh, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">huyền diệu</span> qua <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">báo thân</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa thân</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tùy theo</span> những khuynh hướng riêng biệt của người cần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điều phục</span> nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">như không</span> gian <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô tận</span>. Dù <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vì lợi ích</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">pháp thân</span> không có sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">suy nghĩ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa trên</span> khái niệm (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô niệm</span>).</p>
<p style="text-align: justify;">Ví dụ, ánh sáng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trời</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan niệm</span> làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương tự</span>, hai thân không có quan niệm hành động cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>. Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> do <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năng lực</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nguyện</span> của họ.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo sư</span> khai thị: Này Tsogyal, khi chu trình năm trăm năm của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời đại</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đen tối</span> xảy đến, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đa số</span> người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi theo</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương Thừa</span> sẽ chỉ nói mà không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> của chúng. Họ sẽ để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương Thừa </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi lạc</span> vào sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tụng niệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần chú</span> của phù thủy và sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sử dụng</span> sai những chất liệu samaya cho những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> trống rỗng. Họ sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> nơi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ẩn cư</span> ở giữa làng. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tuyên bố</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> hợp nhất họ sẽ tự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho phép</span> hưởng thụ những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham dục</span> thường tình. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tuyên bố</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> họ sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dung túng </span>cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sân hận</span> thường tình. Nhầm lẫn giữa thiện và ác, họ đổi chác những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo huấn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> và thậm chí những vị Thầy cũng bán mình cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span>. Họ sẽ biến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương Thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành sự</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu </span>và sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> với động cơ chính trị và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham vọng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ích kỷ</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời kỳ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mạt pháp</span> này, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương Thừa</span> sẽ bị che ám bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngôn từ</span>. Ân phước của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương Thừa</span> sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giảm bớt</span> vì thiếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu biết</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> của nó. Vì chỉ có số ít đạt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tất địa</span>, sẽ đến lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương Thừa</span> gần như biến mất. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vì lợi ích</span> của những người có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiện nghiệp</span> đã được định trước vào lúc đó, hãy viết ra dòng truyền nhờ sự nghe này và cất dấu nó như một kho tàng.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong Động Phi Cao tại Yerpa, vào ngày 12 tháng cuối thu Năm Thân. Ta, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Công Chúa</span> Tsogyal viết ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tràng hoa</span> hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quý báu</span> này, Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu Tâm</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương Thừa</span>, và cất giấu nó như một kho tàng. Sau khi gặp được một người đã định có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiện nghiệp</span> trước, cầu mong những lời tịnh hóa những che chướng này đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> của yï, và cầu mong y <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> cấp độ vidyadhara.</p>
<p style="text-align: justify;">Dấu ấn kho tàng.<br />
Dấu ấn cất dấu.<br />
Dấu ấn sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên thâm</span>.<br />
Dấu ấn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giao phó</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><b><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo huấn Dakini</span></b><br />
<i>Nguồn: <span data-sheets-root="1" data-sheets-value="{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:&quot;Tu Tâm theo Kim Cương Thừa&quot;}" data-sheets-userformat="{&quot;2&quot;:693,&quot;3&quot;:{&quot;1&quot;:0},&quot;5&quot;:{&quot;1&quot;:[{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0,&quot;5&quot;:{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0}},{&quot;1&quot;:0,&quot;2&quot;:0,&quot;3&quot;:1},{&quot;1&quot;:1,&quot;2&quot;:0,&quot;4&quot;:1}]},&quot;7&quot;:{&quot;1&quot;:[{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0,&quot;5&quot;:{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0}},{&quot;1&quot;:0,&quot;2&quot;:0,&quot;3&quot;:3},{&quot;1&quot;:1,&quot;2&quot;:0,&quot;4&quot;:1}]},&quot;8&quot;:{&quot;1&quot;:[{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0,&quot;5&quot;:{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0}},{&quot;1&quot;:0,&quot;2&quot;:0,&quot;3&quot;:3},{&quot;1&quot;:1,&quot;2&quot;:0,&quot;4&quot;:1}]},&quot;10&quot;:1,&quot;12&quot;:0}"><a href="https://r.search.yahoo.com/_ylt=AwrKC13Fn9ZlRjQCyD9rUwx.;_ylu=Y29sbwNzZzMEcG9zAzEEdnRpZAMEc2VjA3Ny/RV=2/RE=1708593222/RO=10/RU=https%3a%2f%2fthuvienhoasen.org%2fa5982%2ftu-tam-theo-kim-cuong-thua/RK=2/RS=vwShMTHXZqiwBEjs2wPNAfOwVIE-">Tu Tâm theo Kim Cương Thừa</a></span></i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/truyen-thong-nyingema/tu-tam-theo-kim-cuong-thua/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Những lợi lạc của việc xây dựng một Bảo Tháp</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/truyen-thong-nyingema/nhung-loi-lac-cua-viec-xay-dung-mot-bao-thap/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/truyen-thong-nyingema/nhung-loi-lac-cua-viec-xay-dung-mot-bao-thap/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 27 Dec 2017 03:26:02 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kinh sách Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=8134</guid>
		<description><![CDATA[Cúng dường Lễ lạy, Dâng hiến những món Cúng dường,  Đi nhiễu quanh Tháp và Thực hiện những Nguyện ước Bảo tháp Godavari tại Chatral Gompa (Nepal) Xin Cúng dường Tam Bảo! Tôi sẽ giảng nghĩa ngắn gọn việc xây dựng một Bảo tháp của Đấng Thiện Thệ và những lợi ích đối với những người sùng mộ khi lễ lạy, dâng hiến những món cúng dường và đi nhiễu quanh tháp. Tập hội những người sùng mộ quan tâm tới những Kinh điển xác thực mà&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/truyen-thong-nyingema/nhung-loi-lac-cua-viec-xay-dung-mot-bao-thap/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p align="center"><strong><em><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cúng dường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Lễ lạy</span>, Dâng hiến những món <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cúng dường</span>, </em></strong><br />
<strong><em><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đi nhiễu quanh</span> Tháp và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thực hiện</span> những Nguyện ước</em></strong></p>
<p align="center"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/bao-thap-godavari-tai-chatral-gompa-nepal-.jpg"><img class="  wp-image-8136 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/bao-thap-godavari-tai-chatral-gompa-nepal--300x180.jpg" alt="bao-thap-godavari-tai-chatral-gompa-nepal-" width="533" height="320" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><em><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span> Godavari tại Chatral Gompa (Nepal)</em></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><i>Xin <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cúng dường</span> Tam Bảo!</i></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Tôi sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giảng nghĩa</span> ngắn gọn việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span> của Đấng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thiện Thệ</span> và những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> đối với những người sùng mộ khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lễ lạy</span>, dâng hiến những món <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi nhiễu quanh</span> tháp. Tập hội những người sùng mộ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan tâm</span> tới những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kinh điển</span> xác thực mà tôi đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dẫn chứng</span> ở đây như những bằng chứng, xin <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoan hỉ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chấp nhận</span> những điều này!</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Trong <i>Kinh Karmavibhanga</i> có nói:</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đức Phật</span> nói với Shuka, chàng thanh niên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bà la môn</span>:</p>
<p style="text-align: justify;">Có mười tám <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi lạc</span> của việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thiện Thệ</span>. Mười tám điều đó là gì?</p>
<p style="text-align: justify;">1/ Ta sẽ được sinh làm nam tử (con trai) của một nhà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lãnh đạo</span> vĩ đại;</p>
<p style="text-align: justify;">2/ Sẽ có một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân thể</span> tôn quý;</p>
<p style="text-align: justify;">3/ Sẽ trở nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đẹp đẽ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô cùng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hấp dẫn</span>;</p>
<p style="text-align: justify;">4/ Sẽ có những khả năng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác quan</span> sắc bén;</p>
<p style="text-align: justify;">5/ Sẽ đầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năng lực</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span>;</p>
<p style="text-align: justify;">6/ Sẽ có một đoàn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tùy tùng</span> vĩ đại gồm những người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phục vụ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phụ tá</span>;</p>
<p style="text-align: justify;">7/ Sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> một vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lãnh đạo</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con người</span>;</p>
<p style="text-align: justify;">8/ Sẽ là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nơi nương tựa</span> cho tất cả;</p>
<p style="text-align: justify;">9/ Sẽ lừng danh trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mười phương</span>;</p>
<p style="text-align: justify;">10/ Sẽ có thể tự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">diễn đạt</span> bằng các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngôn ngữ</span> và vần kệ một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rộng rãi</span>;</p>
<p style="text-align: justify;">11/ Sẽ nhận những món <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> từ người và trời;</p>
<p style="text-align: justify;">12/ Sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sở hữu</span> nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">của cải</span>;</p>
<p style="text-align: justify;">13/ Sẽ có được lãnh thổ của một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chuyển Luân Thánh Vương</span>;</p>
<p style="text-align: justify;">14/ Sẽ có một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trường thọ</span>;</p>
<p style="text-align: justify;">15/ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thân thể</span> ta sẽ như một bộ sưu tập <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kim cương</span>;</p>
<p style="text-align: justify;">16/ Thân ta sẽ được phú bẩm những dấu hiệu chính và phụ (của một vị Phật);</p>
<p style="text-align: justify;">17/ Sẽ được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ba cõi</span> cao;</p>
<p style="text-align: justify;">18/ Sẽ nhanh chóng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Niết bàn</span> toàn hảo;</p>
<p style="text-align: justify;">Mười tám điều này là những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi lạc</span> của việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo Tháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thiện Thệ</span>.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Trong <i><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> Manjushri (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Văn Thù</span>) Mula</i> có nói:</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Nếu chính tay ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span> để tịnh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa thân</span> thể ta, ta sẽ có thể làm như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế cho</span> dù ta mắc năm tội <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô cùng</span> tàn ác. Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> một trăm ngàn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span>, ta sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lãnh đạo</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế giới</span> của tất cả những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trì minh</span> vương, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> thấu hiểu mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kinh điển</span> và được phú bẩm những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiện xảo</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span>. Trong một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thời đại</span> An trụ, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sau khi chết</span>, ta sẽ luôn luôn sinh ra làm một nhà cai trị và không bao giờ bị đọa trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ba cõi</span> thấp. Như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trời</span> mọc trong một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quốc gia</span> trung ương, ta sẽ được phú bẩm mọi khả năng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác quan</span>, nhớ được những gì ta đã học và nhớ lại những đời trước của mình.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Trong <i>Kinh</i> <i>Bình <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Xá lợi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bí mật</span></i> có nói:</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đức Thế Tôn</span> đã nói:</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương Thủ</span>, nếu ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biên soạn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo pháp</span> này và đặt nó trong một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span> đó sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xá lợi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kim cương</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh túy</span> của tất cả các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đức Như Lai</span>. Nó sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia hộ </span>bằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh túy</span> Đà ra ni <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span> của tất cả các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đức Như Lai</span>. Nó sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span> của chín mươi chín <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đức Như Lai</span>, cũng nhiều như mè trong một bình hạt mè. Nó sẽ được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia hộ</span> như một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp </span>chứa đựng đôi mắt và Ushnisha (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhục kế</span>) của tất cả các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đức Như Lai</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Tất cả những ai đặt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình ảnh</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đức Phật</span> trong một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span>, người ấy sẽ được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia hộ</span> bằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính chất </span>của bảy viên ngọc quý của các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình ảnh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Như Lai</span>. Tất cả những ai tỏ lòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sùng kính</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn trọng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span> này, họ sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> những vị bất lai và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuối cùng</span> sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tỉnh thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên mãn</span> đối với sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô song</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt đối</span> toàn hảo.</p>
<p style="text-align: justify;">Cho dù ta chỉ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lễ lạy</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy nhất</span> hay chỉ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một lần</span> đi nhiễu, ta sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đọa lạc</span> những nơi chốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xấu xa</span> như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">địa ngục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">A Tỳ</span>. Ta sẽ không bao giờ rời bỏ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> dẫn tới sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô song</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên mãn</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cũng thế</span>, vùng đất quanh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span> này và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình ảnh</span> sẽ được tất cả các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đức Như Lai</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia hộ</span>.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Trong <i>Kinh Saddharma Pundarika</i> có nói:</p>
<p style="text-align: justify;">Các bức tường được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> từ bùn và gạch,</p>
<p style="text-align: justify;">Và một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span> của Đấng Chiến Thắng được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> như thế.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế, cho dù nó được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> từ những đống đất đen,</p>
<p style="text-align: justify;">Những ai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span> vì Đấng Chiến Thắng,</p>
<p style="text-align: justify;">Ở những nơi hẻo lánh khốn khổ,</p>
<p style="text-align: justify;">Cho dù nó được làm bằng một đống cát,</p>
<p style="text-align: justify;">Của những trẻ em chơi những trò chơi,</p>
<p style="text-align: justify;">(Những người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span>) sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span>.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi lạc</span> của việc hiến dâng món <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> (cho một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span>) được nói trong Kinh do Prasenajid (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vua Ba Tư Nặc</span>) khẩn cầu:</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Nếu ta rửa sạch một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span></p>
<p style="text-align: justify;">Ta sẽ có một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trường thọ</span> trong các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế giới</span> của trời và người.</p>
<p style="text-align: justify;">Thân và tâm ta sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> bệnh tật.</p>
<p style="text-align: justify;">Ta sẽ chiến thắng mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span>,</p>
<p style="text-align: justify;">Sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vĩnh cửu</span> và sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giàu có</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu ta rung một cái chuông trước <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật Tháp</span>,</p>
<p style="text-align: justify;">Ta sẽ có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngôn ngữ</span> cuốn hút và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh tiếng</span> lớn lao.</p>
<p style="text-align: justify;">Ta sẽ có giọng nói <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vui vẻ</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phạm Thiên</span> và nhớ lại những đời trước của ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong số những vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span>, những ai lần chuỗi với tâm sùng mộ trước một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thiện Thệ</span>, sẽ được trao tặng một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tốt lành</span> nhiều chuỗi vàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quý báu</span>,</p>
<p style="text-align: justify;">Sẽ có được những món trang sức khác nhau,</p>
<p style="text-align: justify;">Và sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lỗi lạc</span> nhất trong số những người xứng đáng và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">may mắn</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Những ai hiến dâng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">âm nhạc</span> cho một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span> của Đấng Chiến Thắng,</p>
<p style="text-align: justify;">Sẽ có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> toàn hảo trong sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu biết</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Sẽ có một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân tướng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vật lý</span> toàn hảo và một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm thức</span> cùng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngôn ngữ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngữ của ta sẽ làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỏa mãn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế giới</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Những người đặt những cờ chiến thắng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt đẹp</span> khác nhau</p>
<p style="text-align: justify;">Tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thánh tích</span> thiết yếu (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span>), là suối nguồn của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công đức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh khiết</span>,</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bản thân</span> họ sẽ nhận những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện tại</span> chúng là ruộng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế giới</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu ta gắn những cờ đuôi nheo tại một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thiện Thệ</span>,</p>
<p style="text-align: justify;">Ta sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> một người trị vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vinh quang</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con người</span>, một người cai trị đầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năng lực</span> của các vị trời,</p>
<p style="text-align: justify;">Và sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại lạc</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Ta sẽ giành được cờ đuôi nheo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> của sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự do</span> toàn hảo.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu ta lau chùi một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span> Phật,</p>
<p style="text-align: justify;">Ta sẽ trở nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt đẹp</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hấp dẫn</span>,</p>
<p style="text-align: justify;">Sẽ có một gương mặt cao quý và nước da của một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoa sen</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Ta sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> những khiếm khuyết của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sinh tử</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Những ai lau chùi bụi đất quanh một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span></p>
<p style="text-align: justify;">Bằng khăn sạch vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mùa xuân</span></p>
<p style="text-align: justify;">Sẽ được quý bà cầm những chiếc quạt có cán vàng</p>
<p style="text-align: justify;">Quạt một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân ái</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Liên quan đến</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi lạc</span> của việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lễ lạy</span> và đi nhiễu một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span>, trong <i>Kinh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quán thế Âm</span></i> có nói:</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu ta quỳ gối một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn kính</span> trước một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật Tháp</span>,</p>
<p style="text-align: justify;">Ta sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">anh hùng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quốc vương</span> đầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năng lực</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế giới</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Sẽ có một áo giáp với những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biểu tượng</span> bằng vàng.</p>
<p style="text-align: justify;">Ta sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> một vị Thầy đầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năng lực</span> và yêu thích chư Phật.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Trong <i>Kinh Saddharma Pundarika</i> có nói:</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Những ai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chắp tay</span> trước một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span>,</p>
<p style="text-align: justify;">Bằng hai tay hay chỉ một tay;</p>
<p style="text-align: justify;">Những ai chỉ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một lần</span> cúi mình <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lễ lạy</span>,</p>
<p style="text-align: justify;">Hay thậm chí cúi đầu trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> ngắn;</p>
<p style="text-align: justify;">Những ai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lễ lạy</span> hay chỉ nói “Phật”, ngay cả với tâm sao lãng,</p>
<p style="text-align: justify;">Dù <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một lần</span> hay vài lần,</p>
<p style="text-align: justify;">Trước nơi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xá lợi</span> được lưu giữ,</p>
<p style="text-align: justify;">Người ấy sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">siêu việt</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Trong <i>Caitya Pradakshina Ghata</i> có nói:</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Những phẩm tính của việc đi nhiễu một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span> của vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo hộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thế giới</span>,</p>
<p style="text-align: justify;">Không thể được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mô tả</span> một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đúng đắn</span> bằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngôn từ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đơn thuần</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Những điều này và những trích dẫn khác từ các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kinh điển</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> sẽ phát triển <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> và hỉ lạc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao la</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thúc đẩy</span> tất cả những ai khát khao <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">may mắn</span> sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sử dụng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span> làm người của họ trong một cách thế đầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span>. Hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nỗ lực</span> tốt nhất những khả năng của các bạn, để thâu thập những tích tập (của những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành vi</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> xứng đáng) và hãy tịnh hóa mọi che chướng. Với một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thái độ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ đề tâm</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lễ lạy</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span>, đi nhiễu, lập <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ước nguyện</span> cao quý v.v... trước những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nơi nương tựa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">siêu việt </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> này (các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo tháp</span>), điều đó sẽ ban những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi lạc</span> vĩ đại đầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> qua việc thấy, nghe và tưởng nhớ.</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Điều này được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biên soạn</span> bởi Phật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương</span> (Chatral Sangye Dorje), người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span>, Là người vào thời buổi này của năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">suy đồi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ban tặng</span> diện mạo của việc dẫn dắt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> Qua những biểu trưng của thân, ngữ và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm Phật</span>.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công đức</span> này, nguyện mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> cấp độ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">siêu việt</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới hạn</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sinh tử</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Niết bàn</span>. Bằng cách đánh bại lực lượng các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ma quân</span>, nguyện họ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hộ trì</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năng lực</span> của vương quốc vĩ đại của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đức Phổ</span> Hiền, nguyện hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi lạc</span> (cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản thân</span> và những người khác) <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiển lộ</span> một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> và nguyện điều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tốt lành</span> và huy hoàng rực sáng.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Bài này được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biên soạn</span> vào ngày 22 tháng 9 năm Hỏa Mã đực thuộc chu kỳ sáu mươi năm thứ 16 (1966). SARVA MANGALAM!</i></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kyabje Chadral Sangye Dorje Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Thanh Liên</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <span data-sheets-root="1" data-sheets-value="{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:&quot;Những Lợi Lạc Của Việc Xây Dựng Một Bảo Tháp&quot;}" data-sheets-userformat="{&quot;2&quot;:701,&quot;3&quot;:{&quot;1&quot;:0},&quot;5&quot;:{&quot;1&quot;:[{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0,&quot;5&quot;:{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0}},{&quot;1&quot;:0,&quot;2&quot;:0,&quot;3&quot;:1},{&quot;1&quot;:1,&quot;2&quot;:0,&quot;4&quot;:1}]},&quot;6&quot;:{&quot;1&quot;:[{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0,&quot;5&quot;:{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0}},{&quot;1&quot;:0,&quot;2&quot;:0,&quot;3&quot;:1},{&quot;1&quot;:1,&quot;2&quot;:0,&quot;4&quot;:1}]},&quot;7&quot;:{&quot;1&quot;:[{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0,&quot;5&quot;:{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0}},{&quot;1&quot;:0,&quot;2&quot;:0,&quot;3&quot;:3},{&quot;1&quot;:1,&quot;2&quot;:0,&quot;4&quot;:1}]},&quot;8&quot;:{&quot;1&quot;:[{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0,&quot;5&quot;:{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0}},{&quot;1&quot;:0,&quot;2&quot;:0,&quot;3&quot;:3},{&quot;1&quot;:1,&quot;2&quot;:0,&quot;4&quot;:1}]},&quot;10&quot;:1,&quot;12&quot;:0}"><a href="https://r.search.yahoo.com/_ylt=AwrKEbfSxntm3zgG0ThrUwx.;_ylu=Y29sbwNzZzMEcG9zAzEEdnRpZAMEc2VjA3Ny/RV=2/RE=1719416659/RO=10/RU=https%3a%2f%2fthuvienhoasen.org%2fa29080%2fnhung-loi-lac-cua-viec-xay-dung-mot-bao-thap/RK=2/RS=tjT_yGOY9ynifEn7AP0jPfiSfZ4-">Những Lợi Lạc Của Việc Xây Dựng Một Bảo Tháp</a></span></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/truyen-thong-nyingema/nhung-loi-lac-cua-viec-xay-dung-mot-bao-thap/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Trong tấm gương của cái chết</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/truyen-thong-nyingema/trong-tam-guong-cua-cai-chet/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/truyen-thong-nyingema/trong-tam-guong-cua-cai-chet/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 29 Sep 2017 07:52:35 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kinh sách Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7959</guid>
		<description><![CDATA[Kinh nghiệm đầu tiên của tôi về sự chết xảy đến vào lúc tôi khoảng chừng bảy tuổi. Chúng tôi đang chuẩn bị rời vùng cao nguyên miền đông để du hành đến vùng trung tâm của Tây Tạng. Samten, một trong những thị giả của thầy tôi, là một thầy tu kỳ diệu rất tử tế đối với tôi lúc tôi còn bé. Ông có gương mặt sáng tròn mũm mĩm&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/truyen-thong-nyingema/trong-tam-guong-cua-cai-chet/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kinh nghiệm</span> đầu tiên của tôi về sự chết xảy đến vào lúc tôi khoảng chừng bảy tuổi. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng tôi</span> đang chuẩn bị rời vùng cao nguyên miền đông để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du hành</span> đến vùng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>. Samten, một trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thị giả</span> của thầy tôi, là một thầy tu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kỳ diệu</span> rất tử tế đối với tôi lúc tôi còn bé. Ông có gương mặt sáng tròn mũm mĩm luôn sẵn sàng nở nụ cười. Ông được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mọi người</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu viện</span> yêu mến vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính tình</span> ông thật tốt. Hàng ngày thầy tôi thường giảng dạy, làm phép <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đảnh</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dẫn đầu</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">buổi lễ</span> hay những thời khóa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu tập</span>. Đến cuối ngày, tôi thường họp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng bạn</span> để đóng tuồng, diễn lại những công <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">việc làm </span>trong ngày, Thầy Samten luôn luôn cho tôi mượn tạm những bộ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">y phục</span> mà thầy tôi đã mặc hồi sáng. Thầy chả bao giờ từ chối tôi việc gì.</p>
<p style="text-align: justify;">Rồi bỗng Samten ngã bệnh, và điều rõ rệt là thầy sẽ không sống được nữa. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng tôi</span> phải <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trì hoãn</span> cuộc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành trình</span>. Tôi không bao giờ quên được hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuần lễ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kế tiếp</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mùi hôi</span> thối của chết chóc đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lơ lửng</span> như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đám mây</span> phủ trên mọi sự. Mỗi khi tôi nhớ về khoảng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> ấy, thì cái mùi đó lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở lại</span> trong tôi. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện </span>ngập tràn một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý thức</span> mãnh liệt về cái chết. Tuy vậy, điều này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt nhiên</span> không có gì ghê gớm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hãi hùng</span>; vì với sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện </span>của thầy tôi, cái chết của thầy Samten mang một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span>. Nó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> một bài học cho tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Thầy Samten nằm trên chiếc giường cạnh cửa sổ trong một điện thờ nhỏ tại tư dinh của thầy tôi. Tôi biết thầy đang từ từ chết. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thỉnh thoảng</span> tôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi vào</span> phòng, ngồi bên thầy. Thầy không nói được nữa, và tôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh ngạc</span> trước sự đổi thay của gương mặt thầy, bây giờ đã xệ xuống trông thật hốc hác. Tôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span> rằng thầy sắp từ giã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span>, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span> sẽ không bao giờ còn gặp lại thầy. Tôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm thấy</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô cùng</span> buồn bã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cô đơn</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Samten không chết dễ dàng cho lắm. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hơi thở</span> khó khăn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nặng nhọc</span> của thầy luôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám ảnh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span>, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span> có thể ngửi thấy cả cái mùi thân xác thầy đang tàn tạ. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">im lặng</span>, không một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếng động</span> ngoại trừ tiếng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hơi thở</span> của thầy. Mọi sự đều tập trung vào thầy Samten. Nhưng, dù cơn hấp hối kéo dài của Samten thật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau đớn</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span> vẫn thấy được rằng, tự trong thẳm sâu của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con người</span> thầy, đang có một niềm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bình an</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tin tưởng</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Lúc đầu</span> tôi không thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> được điều này, nhưng rồi tôi hiểu tại sao. Đó là nhờ ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đức tin</span> của thầy, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công phu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu tập </span>của thầy, và sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện</span> của thầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span>. Mặc dù buồn bã, tôi cũng biết rằng khi có thầy tôi đó thì mọi sự sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">yên ổn</span>, vì thầy sẽ giúp cho thầy Samten đạt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span>. Về sau tôi được biết rằng, bất cứ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mật tông</span> nào cũng đều mơ ước được chết trước thầy mình, và có cái <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">diễm phúc</span> được thầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp dẫn</span> trong lúc chết.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong lúc thầy tôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bình tĩnh</span> hướng dẫn thầy Samten <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trải qua</span> cái chết, ngài chỉ cho thầy biết từng giai đoạn một của tiến trình chết mà thầy sẽ gặp. Tôi rất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngạc nhiên</span> trước sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu biết</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rõ ràng </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">minh bạch</span> của thầy tôi, trước vẻ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tin tưởng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bình an</span> nơi ngài. Khi có sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện</span> của thầy tôi, người cả lo nhất cũng phải <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an tâm</span>. Bây giờ Jamyang Khientse đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng tỏ</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi </span>thấy đức <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô úy</span> ngài đối với sự chết. Không phải ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">coi thường </span>nó: Ngài thường bảo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span> rằng ngài sợ nó, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảnh cáo</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span> đừng có ngây ngô tưởng chết là dễ. Nhưng cái gì đã khiến thầy tôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đối diện</span> cái chết với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thái độ</span> nhẹ nhàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lãnh đạm</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tiễn</span> mà lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoải mái</span> lạ lùng như thế? Câu hỏi ấy đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thâm nhập</span> trong đầu tôi, làm tôi đầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh ngạc</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Cái chết của Samten đã làm tôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chấn động</span>. Thế là mới bảy tuổi đầu, tôi đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoáng thấy</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năng lực</span> rộng lớn của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn giáo</span> trong đó tôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dự phần</span>, và tôi chợt hiểu được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mục đích</span> của sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu hành</span>. Nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu hành</span>, mà Samten đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chấp nhận</span> được cái chết cũng như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu rõ</span> rằng nỗi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau đớn</span> có thể là một phần của quá trình thanh luyện rất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span>. Nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu hành</span>, mà thầy tôi đã có một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu biết</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọn vẹn </span>về sự chết, và một kỹ thuật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">minh bạch</span> để hướng dẫn người khác <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi vào</span> cõi chết.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi thầy Samten chết, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khởi hành</span> đi Lhasa, thủ đô <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>. Đấy là một cuộc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành trình </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gian nan</span> suốt ba tháng trên lưng ngựa. Từ đấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> cuộc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành hương</span> đến những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thánh tích</span> ở trung ương và miền nam <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">di tích</span> của các bậc thánh, vua chúa và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> đã có công <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du nhập</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo Phật</span> vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> từ thế kỷ thứ bẩy trở đi. Thầy tôi là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện thân</span> của nhiều bậc thầy thuộc đủ mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span>, và vì thầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> như thế nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span> đi đến đâu cũng được đón tiếp rất rộn ràng.</p>
<p style="text-align: justify;">Đối với tôi, cuộc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành trình</span> ấy rất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hấp dẫn</span> và đã để lại trong tôi nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoài niệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tốt đẹp</span>. Người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> quen dậy sớm để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sử dụng</span> tối đa ánh sáng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiên nhiên</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng tôi</span> đi ngủ vào lúc trời sập tối và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thức dậy</span> trước bình minh, và khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tia sáng</span> đầu tiên vừa ló dạng thì những con trâu yaks chở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành lý</span> đã bắt đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">di chuyển</span>. Những lều trại được nhổ lên, căn lều của thầy tôi nhổ sau chót. Một thanh niên sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi trước</span> để chọn chỗ tốt cho việc cắm lều trại, nơi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span> sẽ dừng khoảng giữa trưa để nghỉ ngơi đến hết ngày. Tôi thường thích cắm trại cạnh một con sông để nghe tiếng nước chảy, hoặc để ngồi trong lều mà nghe mưa tí tách trên mái.</p>
<p style="text-align: justify;">Đoàn người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span> có tất cả khoảng chừng ba mươi căn lều. Suốt ngày tôi cưỡi một con ngựa màu vàng bên cạnh thầy tôi. Trong khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span> cưỡi ngựa, thầy tôi giảng dạy cho tôi, kể chuyện, niệm chú, và đặt ra một số <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> cho tôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>. Một ngày kia, khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span> tiến gần đến hồ thiêng Yamdrok và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoáng thấy</span> bóng mặt nước ngời sáng như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xa cừ</span> của nó, thì một vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Lạt ma</span> trong đoàn lữ hành, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Lạt ma</span> Tseten, bắt đầu chết.</p>
<p style="text-align: justify;">Cái chết của Tseten là một bài học <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sống động</span> khác nữa đối với tôi. Ông là thầy của bà vợ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> của thầy tôi, Khandro Tsering Chodron, hiện nay vẫn còn. Bà được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xem như</span> nữ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mật tông</span> xuất sắc nhất của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, một bậc thầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mai danh</span> ẩn tích mà đối với tôi là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện thân</span> của đức <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hy sinh</span> tận tụy. Nội một sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện</span> đầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trìu mến</span> của bà cũng đủ dạy cho tôi rất nhiều. Lama Tseten là người có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng nhân</span> ái <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô biên</span>, Ông tuổi ngoại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lục trần</span>, khổ người khá cao và tóc đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoa râm</span>. Ông <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tỏa ra</span> một sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dễ thương</span> không chút nào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gắng gượng</span>. Ông cũng là một thiền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giả tu</span> chứng cao, chỉ cần ở cạnh ông cũng đủ đem lại cho tôi một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm giác</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh bình</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong sáng</span>. Một đôi khi ông <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rầy la</span> tôi, và tôi cũng khá <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sợ hãi</span>; nhưng mặc dù <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh thoảng</span> ông có hơi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiêm khắc</span>, ông vẫn luôn luôn đầy tính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhân hậu</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Lama Tseten chết một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phi phàm</span>. Mặc dù có một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu viện</span> gần đấy, ông không chịu đến, bảo rằng ông không muốn để lại cho người ta một cái xác phải thu dọn. Bởi thế <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span> dựng lều trại thành vòng tròn như thường lệ. Khandro <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">săn sóc</span> điều dưỡng cho Lama Tseten, thầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo đạo</span> của bà. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng tôi</span> là hai người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy nhất</span> có mặt trong lều của ông, khi ông <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cất tiếng</span> gọi. Ông thường gọi là Khandro là “a-mi” tiếng nói địa phương ông, có nghĩa là “con ta”.</p>
<p style="text-align: justify;">- Này con, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hãy lại đây</span>. Nó đang đến. Ta không còn gì để khuyên bảo con thêm nữa. Con rất tốt, ta lấy làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sung sướng</span> vì con. Hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phụng sự</span> bậc thầy của con như bấy lâu con đã làm.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Lập tức</span> bà khởi sự chạy ra khỏi lều, nhưng ông đã nắm lấy tay áo bà lại.</p>
<p style="text-align: justify;">- Con đi đâu thế?</p>
<p style="text-align: justify;">Bà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trả lời</span>:</p>
<p style="text-align: justify;">- Con sẽ đi gọi Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Ông <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mỉm cười</span>:</p>
<p style="text-align: justify;">- Chớ làm phiền ông ta, không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cần thiết</span>. Đối với bậc thầy, vốn không bao giờ có khoảng cách nào giữa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Với những lời lẽ ấy, ông <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đưa mắt nhìn</span> lên trời rồi chết. Khandro thoát được khỏi tay ông và chạy vội ra để gọi thầy tôi. Tôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngồi yên</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất động</span> tại chỗ, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh ngạc</span> khi thấy một người nhìn thẳng mặt cái chết với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thái độ</span> bình thản như vậy. Lama Tseten <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đáng lẽ</span> có thể nhờ thầy mình <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân hành</span> đến giúp - một điều mà bất cứ người nào khác đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mong mỏi</span> – nhưng ông ta lại không cần. Bây giờ tôi đã hiểu tại sao: <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tại vì </span>ông đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trực nhận</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện</span> của bậc thầy ở trong tâm mình. Jamyang Khientse vẫn luôn luôn ở bên ông, trong đầu óc và trái tim của ông; ông không bao giờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm thấy</span> có sự ngăn cách nào cả.</p>
<p style="text-align: justify;">Khandro đã đi mời thầy tôi, Jamyang Khientse. Tôi không sao quên được cái lúc ông khom lưng để bước vào căn lều. Ông <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đưa mắt nhìn</span> vào mặt của Lama Tseten rồi nhìn sâu vào đôi mắt, và khởi sự cười khúc khích. Ông thường gọi Lama Tseten là “La Ghen”, vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lạt ma</span> già, một cách gọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">âu yếm</span> của ông. Ông bảo:</p>
<p style="text-align: justify;">- La Ghen, đừng có ở trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Bây giờ tôi hiểu rằng, lúc đó thầy tôi đã thấy Lama Tseten đang nhập vào một thứ định trong đó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả </span>tan hòa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản chất</span> của tâm mình với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không gian</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân lý</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">- Ông biết chứ, La-Ghen, nếu ông <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập định</span> này, thì một đôi khi có vài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chướng ngại</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vi tế</span> có thể phát sinh. Nào, ta sẽ hướng dẫn ông.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sửng sốt</span>, tôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngắm nhìn</span> những gì xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kế tiếp</span>, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nếu không</span> phải chính mắt tôi trông thấy thì tôi sẽ không bao giờ tin được. Lama Tseten <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sống lại</span>. Rồi thầy tôi ngồi một bên ông ta, hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần thức </span>ông <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi vào</span> cõi chết. Có nhiều cách làm việc này, và cách mà thầy tôi đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sử dụng</span> lúc đó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết thúc</span> với ba lần thầy thốt lên âm “A”. Khi thầy tôi thốt tiếng “A” đầu tiên, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span> có thể nghe Lama Tseten nói theo khá rõ. Lần thứ hai, giọng ông không rõ nữa, và lần thứ ba thì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">im lặng</span>: Ông đã chết.</p>
<p style="text-align: justify;">Cái chết của Samten đã dạy cho tôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mục đích</span> của sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu hành</span>, cái chết của Lama Tseten cho tôi thấy rằng những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> thuộc tầm cỡ như ông lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sinh thời</span> vẫn ẩn giấu những khả năng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kỳ diệu</span> của mình, và đôi khi chỉ bày tỏ chúng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một lần</span> mà thôi, vào lúc chết. Mặc dù còn bé xíu, tôi cũng đã hiểu rằng có một sự khác nhau rõ rệt giữa cái chết của Samten và của Lama Tseten, đó là sự khác nhau giữa cái chết của một thầy tu tử tế có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành trì</span> lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sinh thời</span>, và cái chết của một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nội chứng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> hơn nhiều. Samten chết một cái chết <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bình thường</span> và chết trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau đớn</span>, nhưng với sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bình an </span>của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đức tin</span>; còn cái chết của Lama Tseten là một sự thi triển <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần thông</span> của sự làm chủ tâm ý.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngay sau tang lễ Lama Tseten, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">di chuyển</span> lên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu viện</span> Yamdrok. Như lệ thường, tôi ngủ cạnh thầy tôi trong phòng ông, và tôi còn nhớ đêm ấy tôi đang ngắm những cái bóng của những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngọn đèn </span>thắp bằng bơ nhảy múa trên vách tường. Trong lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mọi người</span> ngủ say, tôi đã nằm thức và khóc suốt đêm trường. Điều ấy tôi hiểu rằng cái chết là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự thật</span>, và cả tôi nữa cũng sẽ phải chết. Khi tôi nằm đấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">suy nghĩ</span> về sự chết và về cái chết của chính tôi, qua tất cả nỗi đau buồn đó, trong tôi một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý thức </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dần dần</span> ló dạng, đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý thức</span> rằng “mình phải <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chấp nhận</span> nó”. Và với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý thức</span> ấy, tôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quyết định </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cống hiến</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span> mình cho sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu tập</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Thế là tôi đã khởi sự giáp mặt cái chết và những hàm ẩn của nó khi tuổi còn rất nhỏ. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Lúc ấy</span> tôi không bao giờ tưởng tượng được rằng ta phải <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trải qua</span> biết bao nhiêu là cái chết dồn dập, hết cái chết này tới cái chết khác. Cái chết mất nước <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> sau khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung quốc</span> xâm chiếm. Cái chết <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lưu đày</span>. Cái chết mất mọi thứ mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span> tôi và tôi đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sở hữu</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Gia đình</span> tôi, Lakar Tsang, đã từng là một trong những nhà giàu nhất xứ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>. Từ thế kỷ thứ mười bốn, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span> tôi đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> là một trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thí chủ </span>quan trọng nhất của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo</span>, bằng cách hỗ trợ sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoằng dương chánh pháp</span> và giúp các bậc thầy vĩ đại trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công trình</span> của họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng cái chết tàn phá tôi hơn tất cả thì chưa xảy tới, đó là cái chết của thầy tôi, Jamyang Khientse. Khi ngài mất, tôi cảm như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nền móng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span> tôi đã sụp đổ. Đấy là vào năm 1959, năm mà nước <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng </span>sụp đổ. Đối với người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, cái chết của thầy tôi là một số <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ác liệt</span> thứ hai, và đối với xứ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, cái chết ấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đánh dấu</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cáo chung</span> của một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời đại</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Cái chết trong thế giới tân tiến<br />
</b><br />
Khi mới đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây phương</span> lần đầu, tôi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh ngạc</span> vì sự trái ngược giữa những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thái độ</span> đối với cái chết ở đây với những gì tôi đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quen thuộc</span> từ bé. Mặc dù đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt đến</span> nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành quả</span> kỹ thuật, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xã hội </span>tân tiến phương tây vẫn chưa có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu biết</span> thực sự nào về cái chết hoặc những gì xảy ra trong khi chết hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sau khi chết</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi được biết rằng người ngày nay được dạy phải phủ nhận cái chết, xem nó không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> gì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngoài ra</span> là sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> hủy diệt, tiêu vong. Điều đó có nghĩa rằng phần đông người trên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế giới</span> ngày nay hoặc sống trong sự phủ nhận cái chết hoặc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sợ hãi</span> nó. Ngay cả việc nói về cái chết cũng được xem là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điềm gở</span>, nhiều người tin rằng nhắc đến cái chết thì cũng gần như là mong nó xảy đến cho mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhiều người khác nhìn cái chết với một sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vui vẻ</span> ngây ngô thiếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">suy nghĩ</span>, tưởng chừng như vì một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lý do</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí ẩn</span> nào đó, cái chết sẽ đến với họ một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">êm thấm</span>, không có gì phải lo ngại. Khi nghĩ đến những người này, tôi nhớ lời một bậc thầy của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> nói:</p>
<p style="text-align: justify;">- Người ta thường khinh suất về sự chết và cứ nghĩ: “Ôi! Hơi đâu mà lo cho mệt, ai rồi cũng phải chết, chuyện đó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> quá mà. Tôi thì khỏi lo”. Nhưng đấy chỉ là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lý thuyết</span>, đến khi sắp chết mới biết không phải là chuyện <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đơn giản</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thái độ</span> nói trên về cái chết, thì một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thái độ</span> xem chết như chuyện gở cần né tránh, một xem chết là một điều sẽ xảy đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> không cần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lo nghĩ</span>. Nhưng cả hai đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> cách xa sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">am hiểu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> đích thực của cái chết.</p>
<p style="text-align: justify;">Mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn giáo</span> lớn nhất của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhân loại</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dĩ nhiên</span> trong đó có Ki tô giáo, đều nói rõ cho ta biết rằng chết không phải là hết. Các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn giáo</span> ấy đều nói đến một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viễn ảnh</span> về đời sắp đến, khiến cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện tại</span> ta đang sống mang đầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiêng liêng</span>. Nhưng mặc dù có những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> như vậy, phần lớn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xã hội</span> tân tiến vẫn là một sa mạc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> ở đấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đa số</span> người tưởng chừng như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span> này là tất cả. Vì thiếu một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đức tin</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân chính</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đời sau</span>, họ sống mà không có một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mục đích</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối hậu</span> nào cả.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span> rằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thái độ</span> chối bỏ cái chết có những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hậu quả</span> khốc hại vượt ngoài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phạm vi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cá nhân</span>, nó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảnh hưởng</span> tới toàn thể hành tinh này. Vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tin tưởng</span> chỉ có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span> này mà thôi, không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đời nào</span> khác, cho nên người thời nay không phát triển một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tri kiến</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> nhắm đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trường kỳ</span>. Do đó không có gì để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngăn cản</span> họ khỏi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cướp bóc</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quả địa</span> cầu vì những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mục tiêu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cấp thời</span>, hoặc ngăn họ sống một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ích kỷ </span>gây <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tai họa</span> cho tương lai. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> còn cần bao nhiêu lời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảnh cáo</span> khác nữa, giống như lời sau đây của ông Bộ trưởng xứ Brazil về Môi sinh, người chịu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trách nhiệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo vệ</span> rừng Amazone.</p>
<p style="text-align: justify;">- <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Xã hội</span> kỹ nghệ tân tiến quả là một thứ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn giáo</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuồng tín</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phá hoại</span>, làm nhiễm độc, hủy diệt tất cả mầm sống trên hành tinh này. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> đang ký những giấy nợ mà con cháu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> sẽ không thể trả... <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> đang làm như thể mình là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế hệ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuối cùng</span> trên hành tinh này. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> có một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biến cải</span> tận gốc về tâm, trí và lối nhìn, thì trái đất sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết thúc</span> như Vénus, cháy thành than và chết.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sợ chết</span> và không biết đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đời sau</span> quả đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cung cấp</span> nhiên liệu cho sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiêu hủy</span> sinh môi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đe dọa </span>tất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cả đời</span> sống <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>. Vậy có phải là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự thể</span> càng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phiền phức</span> hơn nếu người ta không được học tập về chết là gì, hoặc làm thế nào để chết? Nếu người ta không được thấy vài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hy vọng</span> vào những gì nằm sau cái chết, và bởi thế, biết được những gì thực sự nằm sau sự sống? Có gì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mỉa mai</span> hơn, khi giới trẻ được học đầy đủ mọi môn ngoại trừ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">môn học</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy nhất</span> chứa đựng chìa khóa mở ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn thể</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span>, và có thể là mở đến chính sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sinh tồn</span> của chúng ta?</p>
<p style="text-align: justify;">- Bạn có tin có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đời sau</span> không?</p>
<p style="text-align: justify;">Không phải hỏi họ có tin ở một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lý thuyết</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">triết học</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đời sau</span> không, mà hỏi họ có cảm thức <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> ấy một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> trong tim họ không. Bậc thầy biết rằng nếu người ta tin có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đời sau</span>, thì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhân sinh</span> quan của họ sẽ khác, họ sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý thức</span> rõ về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trách nhiệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cá nhân</span> và về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo đức</span>. Những gì các bậc thầy phải <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoài nghi</span> là, với những người không tin có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đời sau</span>, thì có nguy cơ là họ sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiến tạo</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xã hội </span>chỉ nhắm đến những kết quả đoản kỳ, không cần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">suy nghĩ</span> nhiều về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hậu quả</span> hành động. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phải chăng </span>điều này có thể là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lý do</span> chính tại sao <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> đã tạo nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một thế</span> giới tàn bạo như hiện nay, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một thế</span> giới ít có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng bi mẫn</span> thực sự?</p>
<p style="text-align: justify;">Đôi khi tôi nghĩ rằng những nước giàu mạnh nhất của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế giới</span> đã phát triển thật giống như những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi trời</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mô tả</span> trong kinh. Trong kinh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mô tả</span> loài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chư thiên</span> sống cực kỳ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xa hoa</span>, hưởng đủ mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lạc thú</span>, không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lo lắng</span> gì về chiều hướng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span>. Mọi sự xảy ra thật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tốt đẹp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> khi cái chết <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đến gần</span>, với những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">suy tưởng</span> bất ngờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span>. Khi ấy những bà vợ và tình nhân của họ không dám <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đến gần </span>họ, chỉ đứng từ xa mà tung hoa tới, với lời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cầu nguyện</span> chiếu lệ rằng mong cho họ được sinh làm trời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở lại</span>. Không một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoài niệm</span> nào về những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span> hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiện nghi</span> đã qua có thể làm nơi trú ẩn cho họ khỏi cái khổ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trước mắt</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trái lại</span> càng làm cho nó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bi đát</span> hơn. Cứ thế những vị trời bị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bỏ rơi</span> cho chết trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cô đơn</span> khốn khổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Số phận những vị trời ấy làm tôi nhớ đến cách người ta đối xử với những người lớn tuổi, người bệnh và người sắp chết hiện nay. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Xã hội</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bị ám ảnh</span> bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuổi trẻ</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dục tính</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quyền lực</span>, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> tránh né <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuổi già</span>, tránh né sự tàn tạ. Có phải <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thật kinh</span> khủng, khi ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bỏ rơi</span> người già vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> của họ đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chấm dứt</span>, họ không còn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ích lợi</span> nữa? Có phải thật ray rứt khi ta tống họ vào nhà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dưỡng lão</span>, ở đấy họ phải chết trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cô độc</span>, bị ruồng bỏ?</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phải chăng</span> cũng đã đến lúc ta phải nhìn lại cách ta đối xử với những người mắc bệnh nan <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">y như</span> ung thư và AIDS? Tôi biết một số người đã chết vì bệnh AIDS, và đã thấy họ thường bị cả đến bạn bè cũng xem họ như những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiện dân</span>. Dấu ấn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gắn liền với</span> cơn bệnh đã đưa họ tới chỗ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt vọng</span>, làm cho họ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm thấy</span> đời mình thật ghê tởm, và dưới mắt người khác thì đời họ coi như đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chấm dứt</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngay cả khi một người ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quen biết</span> hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thương mến</span> sắp chết, nhiều người cũng không biết phải làm sao để giúp đỡ họ; và khi họ chết, không ai khuyến khích ta nên có một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý niệm</span> gì về tương lai của người chết, họ sẽ ra sao, làm sao ta có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> giúp đỡ họ. Quả thế, mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương tự</span> đều dễ bị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xua đuổi</span> xem là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lố bịch</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô nghĩa</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Tất cả điều này cho ta thấy rõ rằng, hơn bao giờ hết, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> đang cần một sự thay đổi căn để trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thái độ</span> đối với cái chết và người sắp chết.</p>
<p style="text-align: justify;">May thay, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thái độ</span> đã bắt đầu thay đổi. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phong trào</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiếp dẫn</span> đường chẳng hạn, đang làm những công việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kỳ diệu</span> là đem lại sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">săn sóc</span> thuộc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phạm vi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tiễn</span> và tình cảm. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tuy nhiên</span>, sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">săn sóc</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tiễn</span> và tình cảm chưa đủ; <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dĩ nhiên</span> người hấp hối cần được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">săn sóc</span> yêu mến, song họ còn cần một cái gì sâu sắc hơn nữa. Họ cần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khám phá</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> thực thụ cho cái chết và sự sống. Không thế thì làm sao <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> có thể đem lại cho họ niềm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an lạc</span> tối hậu? Bởi vậy, giúp đỡ người hấp hối còn cần đến khả năng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span>, vì chỉ nhờ có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiến thức</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> mới có thể thực sự hiểu và đối mặt với cái chết.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi lấy làm phấn chấn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh thần</span> khi những năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gần đây</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề</span> chết và hấp hối đã được mở ra ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây phương</span> nhờ những nhà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiên phong</span> như Elizabeth Kubler-Ross và Raymond Moody. Khi nhìn kỹ cách thức <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng tôi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">săn sóc</span> người sắp chết, Elizabeth Kubler Ross đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng minh</span> rằng, với một tình yêu vô <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điều kiện</span>, và một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thái độ</span> có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuệ giác</span>, thì cơn hấp hối có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an lành</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển hóa</span>. Những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> khoa học về nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương diện</span> khác nhau của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> cận-tử (khi gần chết) ra đời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp theo</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác phẩm</span> của Raymond Moody đã cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhân loại</span> thấy một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hy vọng</span> mãnh liệt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sinh động</span> rằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span> không phải <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chấm dứt</span> với cái chết, và quả thực còn có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một đời</span> ở sau <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Rủi thay, có vài người không thực <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu ý</span> nghĩa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọn vẹn</span> của những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khám phá</span> ấy về sự chết. Họ đi đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực đoan</span> thi vị hóa cái chết, và tôi đã nghe những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trường hợp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bi đát</span> về những thanh niên đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự sát</span> bởi vì họ tin rằng chết là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tốt đẹp</span> và là một lối <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> những đau buồn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong đời</span> họ. Nhưng cả hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thái độ</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sợ chết</span> và ưa chết, đều là một kiểu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trốn tránh</span>. Chết không đáng buồn cũng không đáng vui, đó chỉ là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự kiện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiển nhiên</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Thật đáng buồn, là phần đông <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> chỉ bắt đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thưởng thức</span> được hương vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đời sống</span> khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta </span>sắp sửa chết. Tôi thường nghĩ về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời nói</span> của bậc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> Padmasambhava (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Liên Hoa Sanh</span>):</p>
<p style="text-align: justify;">- Những người tin rằng họ còn có nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> chỉ chuẩn bị lúc cái chết đến. Khi ấy thì họ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ân hận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô cùng</span>. Nhưng có phải là đã quá muộn hay không?</p>
<p style="text-align: justify;">Về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế giới</span> hiện nay, có lời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bình luận</span> nào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rùng rợn</span> hơn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận xét</span> rằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đa số</span> người chết mà không chuẩn bị cho cái chết, cũng như họ đã sống mà không chuẩn bị cho đời sống?</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Cuộc hành trình qua sống chết</b></p>
<p style="text-align: justify;">Theo sự minh triết của Phật, thì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> có thể thực sự dành <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cả đời</span> mình để chuẩn bị cho cái chết. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> không cần chờ đến khi có người thân đang chết một cách khó nhọc, hoặc khi gặp bạo bệnh bất ngờ, mới <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">miễn cưỡng</span> nhìn lại đời mình. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng ta</span> cũng không buộc phải đi tay không vào lúc chết để gặp cái điều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xa lạ</span> mình chưa biết. Ta có thể khởi sự ngay tại đây và bây giờ, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm ra</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> cho đời mình. Ta có thể biến mọi lúc thành một cơ hội để cho ta thay đổi và chuẩn bị - một cách nhiệt tình, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">minh bạch</span>, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an tâm</span> – cho cái chết và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vĩnh cửu</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo Phật</span>, sống và chết được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xem như</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn thể</span>, ở đây chết chỉ là khởi đầu của một chương mới. Chết như một tấm gương trong đó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phản chiếu</span> tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quan điểm</span> ấy là cốt tủy trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> thuộc trường phái cổ xưa nhất của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo Tây Tạng</span>. Nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">độc giả</span> có lẽ đã nghe nói về quyển <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tử thư</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>. Điều tôi định làm trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác phẩm</span> này là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> và khai triển cuốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tử thư</span> ấy, để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> không những cái chết <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mà cả</span> đến sự sống nữa, bổ túc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chi tiết</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn thể</span> nền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> trong đó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tử thư</span> chỉ là một phần. Trong nền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vi diệu</span> này, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm thấy</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sống chết</span> được trình bày song hành như một chuỗi dài những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tại</span> thoáng chốc luôn luôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biến chuyển</span> được biết dưới danh từ Bardos, sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mờ mịt</span>, danh từ này thông <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thường dùng</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mô tả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung gian</span> giữa chết và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span>, nhưng kỳ thực, Bardo đang xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên tục</span> suốt cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong đời</span> sống lẫn trong cái chết, và là những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giao thời</span> cao điểm mà nếu biết vận dụng, nó có thể đưa đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Những Bardos là cơ hội ngàn năm một thuở để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> bởi vì, theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>, có một vài thời điểm có mãnh lực hơn những lúc khác rất nhiều, đầy tiềm năng hơn, vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lúc ấy</span> bất cứ gì ta làm đều có một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảnh hưởng</span> quan trọng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span>. Tôi nghĩ Bardo giống như lúc mà bạn bước qua lề của một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vực thẳm</span>; chẳng hạn như lúc bậc thầy khai thị cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> thấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản lai diện mục</span> của y. Nhưng một trong những thời điểm lớn lao nhất, đầy tiềm năng nhất, đó là lúc chết.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo Tây Tạng</span>, ta có thể chia <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn thể</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span> của mình thành bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tại</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên tục</span> nối tiếp nhau:</p>
<p style="text-align: justify;">1- <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đời sống</span>,</p>
<p style="text-align: justify;">2- Hấp hối và chết,</p>
<p style="text-align: justify;">3- <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sau khi chết</span>, và</p>
<p style="text-align: justify;">4- <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tái sinh</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Bốn giai đoạn này được gọi là bốn Bardo:</p>
<p style="text-align: justify;">· Thứ nhất là Bardo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> của đời này,</p>
<p style="text-align: justify;">· Thứ hai là Bardo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau đớn</span> của sự chết,</p>
<p style="text-align: justify;">· Thứ ba là Bardo chiếu sáng của dharmatta hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">pháp giới tánh</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">· Thứ tư là Bardo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiệp lực</span> đưa đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> về Bardo có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính chất</span> lớn lao bao trùm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn diện</span> như thế, nên sách này đã được cấu trúc khá kỹ lưỡng. Bạn đọc sẽ được hướng dẫn từ giai đoạn này đến giai đoạn khác trong quá trình khai mở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tri kiến</span> về cuộc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành trình</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sinh tử</span>. Cuộc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thám hiểm</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> đương nhiên phải khởi sự bằng một sự suy nghiệm chân xác để biết chết nghĩa là gì, và nhiều mặt khác nhau của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự thật</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô thường</span>. Đó là loại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tư duy</span> có thể giúp ta tận dụng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đời sống</span> này trong khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> còn có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span>, để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo đảm</span> khi chết sẽ không còn gì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ân hận</span> hay tự trách đã uổng phí <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một đời</span>. Như Milarepa bậc thánh thi sĩ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> đã nói:</p>
<p style="text-align: justify;">- <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn giáo</span> của tôi là sống và chết làm sao để khỏi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ân hận</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán chiếu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thông điệp</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô thường</span> – cái gì quả thực đang nằm bên kia <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô thường</span> và sự chết – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi thẳng</span> tới trong tâm của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> cổ xưa và đầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quyền năng</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản chất</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh túy</span> của tâm, hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự tính</span> của tâm. Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trực nhận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản chất</span> của tâm (trực ngộ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tâm</span>) – mà ta có thể gọi là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh túy</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> nhất của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span>, cái <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự thật</span> mà tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> đều mong tìm đạt – chính là chìa khóa của sự thấu hiểu về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sống chết</span>. Vì vào lúc chết, điều thực sự xảy ra là, chỉ có cái tâm thường ngày (tức là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý thức</span> do năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác quan</span> đem lại) và những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vọng tưởng</span> của nó chết đi, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong khoảng</span> hở này, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản chất</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô biên</span> của tâm ta, như một bầu trời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao la</span> vô hạn, được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiển lộ</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bản chất</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh túy</span> này của tâm, hay tâm bản nhiên, chính là bối cảnh cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn thể</span> sự sống và chết, giống như bầu trời ôm trọn cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vũ trụ</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo lý</span> dạy rõ rằng, nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> chỉ biết về tâm như là cái phần phải tan rã khi ta chết (nghĩa là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý thức </span>thuộc năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác quan</span> – ND), thì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> sẽ không biết gì về những gì sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span>, không có một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý niệm </span>nào về một “chiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không gian</span> mới”, nghĩa là về cái tâm bản nhiên, một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tại</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> hơn nhiều. Bởi thế, điều tối cần với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> là phải làm quen với tâm bản nhiên trong khi ta còn sống. Có vậy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta </span>mới sẵn sàng để đón nhận nó khi nó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiển lộ</span> một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> và mãnh liệt vào lúc ta chết; có vậy ta mới có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span> nó “một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> như một đứa trẻ chạy đến nấp vào gối mẹ”, như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> đã nói. Và khi ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an trú</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> đó, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuối cùng</span> sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">được giải thoát</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mô tả</span> về tâm bản nhiên đương nhiên dẫn đến một nền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo dục</span> đầy đủ về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>, vì thiền là cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy nhất</span>, giúp ta có thể hé thấy, rồi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dần dần</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trực nhận</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an trú</span> cái tâm bản nhiên ấy. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kế tiếp</span> sẽ đến phần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản chất</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiến hóa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhân loại</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span>, nghiệp, để bạn đọc có một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý niệm</span> đầy đủ về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> cuộc lộ trình của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> qua <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sinh tử</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngang đây có lẽ bạn đọc đã có đủ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tri kiến</span> để có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi vào</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọng tâm</span> của quyển sách này: Một trình bày bao quát về cả bốn Bardos và các giai đoạn khác của sự chết, rút từ nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh điển</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo lý</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời khuyên </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tiễn</span>, những sự luyện tâm, được trình bày <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chi tiết</span> để giúp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> và những người khác kinh quá cuộc sống, kinh quá giai đoạn hấp hối, cái chết và giai đoạn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sau khi chết</span>. Sách này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết thúc</span> bằng một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viễn tượng</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Bardo có thể giúp ta hiểu thấu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản chất</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thâm sâu</span> nhất của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhân tâm</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vũ trụ</span> như thế nào.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhiều sinh viên thường hỏi tôi:</p>
<p style="text-align: justify;">- Làm sao ta biết được những Bardos ấy là gì, từ đâu có được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">minh bạch</span> một cách lạ lùng về Bardo, trí kiến khúc chiết về từng giai đoạn một của quá trình chết, về sự chết và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> ấy?</p>
<p style="text-align: justify;">Đối với nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">độc giả</span>, câu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trả lời</span> mới nghe dường như khó hiểu, bởi vì khái niệm về tâm mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tây phương </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện có</span>, là một khái niệm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hết sức</span> hẹp hòi. Mặc dù những năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gần đây</span> có những sự vượt rào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đáng kể</span>, nhất là về khoa học tâm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sinh lý</span> và về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">siêu việt</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại đa số</span> các nhà khoa học vẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> xem tâm chỉ là những quá trình <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vật lý</span> trong não bộ, điều này đi ngược lại chứng cứ của hàng ngàn năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> của các nhà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần bí</span> và các thiền giả thuộc mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn giáo</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vậy thì</span> từ nguồn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thẩm quyền</span> nào mà một quyển sách như thế này được viết ra? Một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> Hoa kỳ đã viết:</p>
<p style="text-align: justify;">- <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nội minh</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo Phật</span> được căn cứ trên một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tri kiến</span> bao quát về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tại</span>, trên một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuệ giác</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> về tự ngã và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn cảnh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xung quanh</span>; nghĩa là, trên sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn giác</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đức Phật</span> (*). [1]
<p style="text-align: justify;">Nguồn gốc của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> về Bardo là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm giác</span> ngộ, cái tâm đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tỉnh thức</span> của Phật được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng nghiệm</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giảng giải</span> bởi một dọc dài những bậc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> kể từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đức Phật</span> Nguyên ủy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở về</span> sau. Những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khám phá</span> tỉ mỉ và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thận trọng</span> – có thể bảo là rất khoa học - của các ngài, và cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lập thành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công thức </span>những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khám phá</span> ấy về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> qua nhiều thế kỷ, đã cho ta một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bức tranh</span> đầy đủ nhất có thể có về cả sự sống lẫn sự chết. Chính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bức tranh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn diện</span> này mà, được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm hứng</span> từ Jamyang Khientse thầy tôi và những bậc thầy vĩ đại khác, lần đầu tiên tôi đang cố <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền đạt</span> lại cho người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tây phương</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trải qua</span> nhiều năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền quán</span>, giảng dạy và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tập</span>, thỉnh vấn những bậc thầy để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng tỏ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề</span>, tôi đã viết ra quyển Tạng thư về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sống chết</span> này, như một đúc kết <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh hoa</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời khuyên</span> tâm huyết của các bậc thầy tôi, để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tử thư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một Sinh</span> thư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> mới. Tôi muốn nó sẽ là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sách dẫn</span>, một sách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo</span>, và một nguồn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm hứng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiêng liêng</span>. Chỉ nhờ đọc đi đọc lại nhiều lần, tôi xin gợi ý, bạn mới có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khám phá</span> được nhiều tầng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> của nó. Bạn sẽ thấy rằng càng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sử dụng</span> nó bao nhiêu, bạn càng thấy những hàm ẩn của sách này bấy nhiêu, và càng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức </span>được chiều sâu của sự minh triết đang được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền đạt</span> đến bạn qua nền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> này.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo lý</span> Bardo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng minh</span> cho ta thấy rõ những gì sẽ xảy đến nếu ta có chuẩn bị cho cái chết và những gì sẽ xảy đến nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> không chuẩn bị. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thật không</span> thể có chọn lựa nào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">minh bạch</span> hơn. Nếu bây giờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> không chịu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chấp nhận</span> cái chết trong lúc ta đang sống, thì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> sẽ phải trả giá rất đắt suốt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span>, vào lúc chết, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sau khi chết</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hậu quả</span> sẽ là, ta tàn phá cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span> này và tất cả những đời sắp tới. Ta sẽ không thể sống <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span> mình một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên mãn</span>, ta sẽ cứ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bị giam</span> hãm trong cái phần phải chết của ta. Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô minh</span> này sẽ cướp đi của ta cái <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">căn bản</span> của cuộc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành trình</span> tiến đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span>, và khiến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mãi mãi</span> vướng vào cái bẫy của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảo tưởng</span>, vào chu kỳ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sống chết</span> không được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiểm soát</span>, cái biển khổ mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật tử</span> thường gọi là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luân hồi</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thông điệp</span> chính của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Phật là, nếu ta có chuẩn bị, thì có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hy vọng tràn trề</span> ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong đời</span> sống cũng như vào lúc chết. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo lý</span> đó cho ta thấy cái khả tính về một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự giải thoát</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô giới</span> hạn, mà ta phải <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt đến</span> ngay bây giờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong đời</span> này, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự giải thoát</span> làm cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> có thể chọn lựa cái chết của mình và bởi thế, chọn lựa sự sinh ra của mình. Đối với một người có chuẩn bị và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tập</span>, thì cái chết đến với họ không phải như một chiến bại mà là một chiến thắng, cái giờ phút <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vinh quang</span> nhất của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Sogyal Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Việt dịch: Ni sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thích Nữ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trí Hải</span></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Trích: Tạng Thư Sinh Tử </em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/truyen-thong-nyingema/trong-tam-guong-cua-cai-chet/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tham thiền chu kỳ ngày và đêm</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/7815/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/7815/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 09 Sep 2017 10:34:55 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kinh sách Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7815</guid>
		<description><![CDATA[Khi liên tục trong thời tham thiền nhập định, không đi vào phân tích những đối tượng của năm giác quan, (những hình tướng xuất hiện được để cho) sinh khởi một cách rõ ràng và quang minh trong một cách thư giãn mà cảnh giác, không có bất kỳ xao lãng hay bám nắm (theo những ý niệm và&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/7815/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Khi liên tục trong thời tham thiền nhập định, không đi vào phân tích những đối tượng của năm giác quan, (những hình tướng xuất hiện được để cho) sinh khởi một cách rõ ràng và quang minh trong một cách thư giãn mà cảnh giác, không có bất kỳ xao lãng hay bám nắm (theo những ý niệm và phán định). Bấy giờ, sau khi đã chấm dứt một thời tham thiền nhập định, một tỉnh giác nguyên sơ sẽ tự hiện bày, khi ấy những đối tượng của sáu giác quan có xuất hiện sẽ giống như không có thực thể.</p>
<p style="text-align: justify;">Kính lễ Đạo sư</p>
<p style="text-align: justify;">(1) Con kính lễ với lòng sùng mộ bao la của ba cửa (thân, lời, tâm) tất cả chư vị Đạo sư của Dòng Đại Toàn Thiện, như ngài Changchub Dorje, vị bao gồm trong mình tất cả các Gia Đình Phật, cũng như Urgeyen Tenzin và Dorje Paldron.</p>
<p style="text-align: justify;">(2) Phật Bổn Nguyên Samantabhadra và Vajrasattva vinh quang đã trao truyền phương pháp đi theo con đường tinh túy của Atiyoga cho Garab Dorje, vị thầy tối thượng. Mong muốn giải thích một ít về cam lồ của giáo lý này, con tha thiết cầu xin chư Dakini ban cho con sự cho phép.</p>
<p style="text-align: justify;">(3) Chúng ta luôn luôn cần tu hành tâm chúng ta theo sự thay đổi thái độ gồm bốn phần và chúng ta cần không bao giờ rời lìa khỏi yoga này trong đó chúng ta nhận thức sự hiện diện bẩm sinh tự nhiên của chính chúng ta như là Đạo sư chân thật của chúng ta. Liên tục với tỉnh giác chánh niệm này không hề xao lãng trong bốn thời (ăn, ngồi, đi và ngủ) là gốc của sự thực hành.</p>
<p style="text-align: justify;">(4) Chắc hẳn, với ngày và đêm, có một thực hành chánh yếu mỗi ngày được tiến hành như một chu kỳ liên tục. Sự thực hành ban ngày cai quản những hoạt động của ba thời (ăn, ngồi và đi) thì bao gồm ba chủ đề: hiểu, an định và tiến bộ trong thực hành.</p>
<p style="text-align: justify;">(5) (Về cái đầu tiên của ba chủ đề này): vào lúc bắt đầu, chúng ta cần hiểu cái chúng ta chưa hiểu. Mọi hiện tượng được thấy hay nghe, dù chúng có thể nhiều bao nhiêu, đều giống như những hình ảnh hư giả, dù chúng xuất hiện rất sai khác. Kết luận như vậy chúng ta có thể xác định rằng chúng chỉ là một trò phô diễn huyễn thuật của tâm.</p>
<p style="text-align: justify;">(6) Bản tính của tâm từ sơ thủy vốn trống không và không có một tự ngã. Không có cái gì cụ thể về phần nó, phương diện của nó là sự sáng tỏ quang minh và không bị ngăn ngại (và không dứt đoạn), như mặt trăng phản chiếu trong nước. Đây là tỉnh giác nguyên sơ và tối hậu (tính giác) của hiện diện thanh tịnh (rigpa) trong đó tuyệt không có nhị nguyên giữa tính không và sáng tỏ. Chúng ta cần hiểu rằng tỉnh giác nguyên sơ này thì vốn tự toàn thiện một cách tự nhiên và tự phát.</p>
<p style="text-align: justify;">(7) Bởi vì chúng ta nhận biết rằng những hình tướng xuất hiện (bên ngoài) chỉ là những trang hoàng của pháp tính (thực tính, thực trạng) của hiện hữu, những xuất hiện sinh khởi với sáu căn thư giãn một cách tỉnh táo thì đều tự giải thoát vào trong thật tính (thực trạng) của chính chúng. Bởi vì chúng ta biết rằng hiện diện thanh tịnh thuần túy (rigpa) chỉ là tính giác nguyên sơ như vậy, những biểu lộ của những phiền não và dấu vết nghiệp của chúng ta là tự giải thoát vào trong pháp tính (thực trạng) của chính chúng.</p>
<p style="text-align: justify;">(8) Bởi vì những xuất hiện và hiện diện thanh tịnh (rigpa) được nhận biết là không thể tách biệt, những tư tưởng bám nắm vào nhị nguyên chủ thể và đối tượng là tự giải thoát vào trong pháp tính (thực trạng) của chính chúng. Hơn nữa, những phương pháp của tự giải thoát qua chú ý trần trụi, tự giải thoát ngay nơi sự sinh khởi của tư tưởng, và tự giải thoát như vậy, là những phương cách cho tiến bộ theo con đường thực hành theo chiều hướng của yoga này.</p>
<p style="text-align: justify;">(9) Tỉnh giác sinh khởi vào khoảnh khắc thình lình đầu tiên (của tiếp xúc giác quan) thật ra là cái hiện diện thanh tịnh hiển lộ không có sửa sang, chỉnh trị và vốn không sinh. Thực trạng này của hiện hữu (pháp tính) siêu vượt những giới hạn của cả chủ thể lẫn đối tượng là tính giác nguyên sơ tự phát sinh của hiện diện thanh tịnh.</p>
<p style="text-align: justify;">(10) Về cái hiện diện thanh tịnh này, ba phương diện của trạng thái của Samantabhadra là chân thật trọn vẹn: vắng dứt bất kỳ dấu vết nghiệp nào, Tinh Túy của nó tức là Pháp thân và chính là tính không; vắng dứt những tư tưởng và ý niệm, Bản Tính của nó tức là Báo thân chính là sáng tỏ; vắng dứt bất kỳ tham muốn hay bám luyến nào, Năng Lực của nó là Hóa thân, là không ngăn ngại (và không đoạn dứt).</p>
<p style="text-align: justify;">(11) Một tỉnh giác như vậy, ngay trong sự có mặt của nó, thì hoàn toàn vắng dứt, sạch hết những tư tưởng nhị nguyên suy nghĩ theo chủ thể và đối tượng, và như vậy (những xuất hiện hình tướng) sinh khởi như những biểu lộ của sáng tỏ không có bất kỳ bám nắm nào. Những hình tướng xuất hiện tự hiện bày chính chúng trong trạng thái của thật tính của hiện hữu.</p>
<p style="text-align: justify;">(12) Bởi vì cái tỉnh giác tự nhiên, khoảnh khắc, vô điều kiện này gặp gỡ thật tính của hiện hữu như là Mẹ của nó, (chúng ta nói nó là) Pháp thân. Ở trong hiện trạng (thật tính) của hiện diện thanh tịnh tự toàn thiện một cách tự nhiên này chính là trạng thái tự nhiên của Đại Toàn Thiện.</p>
<p style="text-align: justify;">(13) Về an định (sự thực hành của chúng ta, nó là chủ đề thứ hai): chúng ta đi theo con đường nhờ ba giáo huấn cho hòa nhập, cho buông xả với hiện diện, và cho tiến bộ trong thực hành. Phương pháp thứ nhất, hòa nhập: khi ngồi thoải mái và hoàn toàn buông xả, thư giãn, chúng ta hòa nhập (tỉnh giác của chúng ta) vào bầu trời trước mặt.</p>
<p style="text-align: justify;">(14) Khi chúng ta ổn định như vậy vào một trạng thái thư giãn, cảnh giác mà không có xao lãng và không có thiền định được tạo dựng, cái tỉnh giác nguyên tuyền này giống như hư không trong trẻo, nó cũng là một tình trạng không có bất kỳ tham luyến hay bám nắm nào. Nó chỉ là sáng tỏ quang minh hay chỉ là hiện diện thanh tịnh, và nó tương tự với một khoảnh khắc ngạc nhiên sửng sốt. Cái hiện diện thanh tịnh này hiển lộ trong một cách trơ trụi trần truồng không có nhị nguyên hay phân biệt giữa trạng thái tĩnh lặng và sự chuyển động của những tư tưởng.</p>
<p style="text-align: justify;">(15) Khi tiếp tục trong tham thiền, không rơi vào ảnh hưởng của hôn trầm hay xáo động, chúng ta thấy mình ở trong một trạng thái hiện diện trong sáng tỏ và linh hoạt, sâu thẳm. Về tiếp tục trong một trạng thái của tham thiền, dù cho chúng ta có thể đi vào việc gợi lại những tư tưởng, dẹp chúng qua một bên, khiến cho chúng lập lại, hay triển nở chúng thêm, thì chúng vẫn ở trong thật tính của chính chúng, không có làm chúng ta xao lãng, và chúng là tự giải thoát.</p>
<p style="text-align: justify;">(16) Sau khi đạt đến trạng thái này, khi chúng ta ra khỏi thời kỳ tham thiền nhập định, mức độ an định vững chắc của chúng ta (trong thực hành) là sự nhận thức chúng ta có lệ thuộc vào sức mạnh của những tư tưởng luôn luôn quy định hay không. Những kinh nghiệm trong khi thiền định (sinh khởi một cách tự phát), như sự mọc lên của ánh sáng mặt trời hay mặt trăng. Những kinh nghiệm này, như những thị kiến, những thay đổi trong hơi thở và vân vân, khi chúng sinh khởi vẫn không bị điều kiện hóa bởi những ý niệm (hay phán định).</p>
<p style="text-align: justify;">(17) Về phần những kinh nghiệm xuất hiện sau thời kỳ tham thiền nhập định: chúng ta thấy mọi hình tướng xuất hiện là những sự huyễn, hay chúng ta xem mọi xuất hiện là trống không. (Chúng ta có thể ở) trong một trạng thái hiện diện thuần khiết và có vẻ không có những tư tưởng lan man sinh khởi, hay chúng ta nghĩ chúng ta có thể đi vào những hoạt động mà không tạo ra lỗi lầm nào.</p>
<p style="text-align: justify;">(18) Về chiều kích toàn bộ của chúng ta: bởi vì tri giác những đối tượng bên ngoài và những phân tích về chúng (một mặt), và những tư tưởng lan man và sống động (ở mặt kia) là trống không, chúng ta đạt được Pháp thân tối thượng, nó là bản tính của tâm. Bởi vì cái này thì không thể nào bị nhiễm ô bởi những tư tưởng, đặc tính hay nhận thức, chúng ta đạt đến một tỉnh giác thanh tịnh nguyên sơ không nhiễm dơ bởi những tư tưởng lan man.</p>
<p style="text-align: justify;">(19) Bởi vì những che chướng và những dấu vết nghiệp của chúng ta giờ đây đã hoàn toàn được thanh tịnh, những phiền não của chúng ta không ngoài tầm kiểm soát nữa. Bởi vì như vậy, dù chúng ta có thể là (những cá nhân bình thường), bây giờ chúng ta thấy mình vượt cao hơn mọi cõi của sinh tử, và chúng ta được xem là thuộc về gia đình của những bậc Ứng Cúng (A La Hán).</p>
<p style="text-align: justify;">(20) Về những giáo huấn cho sự thư giãn với hiện diện: bất kỳ khi nào những hình tướng xuất hiện sinh khởi, dù theo bất cứ cách nào, không chỉnh trị hay sửa sang, (chúng ta cần nhìn chúng) như chỉ là những trang hoàng tô điểm của bản thân trạng thái bổn nguyên (nó là thật tính, thật trạng của hiện hữu). Trong trạng thái này, sự hiện diện thanh tịnh (tính giác) bên trong của chúng ta là không sửa trị, trong sáng, sống động và trần truồng. Như thế, khi thư giãn, buông xả một cách cảnh giác với hiện diện, (khi những tư tưởng sinh khởi) chúng ta thư giãn, buông xả chúng vào thật trạng của chính chúng như nó vốn là.</p>
<p style="text-align: justify;">(21) Về những đối tượng của sáu căn: khi chúng sinh khởi chỉ như những trang sức (của trạng thái của hiện diện) trong một cách minh bạch không có bất kỳ ngăn ngại và không có bất kỳ phân tích trí thức nào, bấy giờ chúng trọn vẹn toàn thiện đúng như chúng là, như diệu dụng của hiện diện thanh tịnh mà không có nắm bắt (theo những ý niệm và phán định) nào. Liên tục trong trạng thái này mà không có nhị nguyên nào thì được gọi là thư giãn với hiện diện.</p>
<p style="text-align: justify;">(22) Khi liên tục trong thời tham thiền nhập định, không đi vào phân tích những đối tượng của năm giác quan, (những hình tướng xuất hiện được để cho) sinh khởi một cách rõ ràng và quang minh trong một cách thư giãn mà cảnh giác, không có bất kỳ xao lãng hay bám nắm (theo những ý niệm và phán định). Bấy giờ, sau khi đã chấm dứt một thời tham thiền nhập định, một tỉnh giác nguyên sơ sẽ tự hiện bày, khi ấy những đối tượng của sáu giác quan có xuất hiện sẽ giống như không có thực thể.</p>
<p style="text-align: justify;">(23) Bất kỳ khi nào những tư tưởng lan man của năm độc sinh khởi, chúng ta thư giãn một các cảnh giác để mặc chúng mà không có bám nắm. (Mặt khác) chúng ta không cần cố gắng ngăn chặn chúng với cái đối trị nào hay chuyển hóa chúng nhờ phương pháp nào. (Bởi vì chúng không bị ngăn chặn hay được chuyển hóa), những phiền não sinh khởi trên con đường là tự giải thoát và một tỉnh giác nguyên sơ đang hiện diện.</p>
<p style="text-align: justify;">(24) Những kinh nghiệm sinh khởi trong khi thực hành thiền định biểu lộ như sáng tỏ và tính không. Chúng được thấy hiện diện trong một trạng thái của thị kiến và tính không, hay trong một trạng thái chuyển động liên tục của những tư tưởng và tính không, hay trong một trạng thái cảm giác lạc phúc, sáng tỏ và vô niệm (không lan man).</p>
<p style="text-align: justify;">(25) Về chiều kích toàn thể của chúng ta: hiểu rằng tất cả hiện tượng là Pháp thân, tỉnh giác không sửa trị này về ‘trạng thái của hiện hữu như bản thân nó là’ thì hiện diện giống như một cảnh giới toàn thiện, toàn hảo, một tướng, toàn thể và không có nhị nguyên (bất nhị). Vì điều này (có nói rằng) chúng ta đã đạt đến chiều kích của tính giác bổn nguyên, và một tỉnh giác nguyên sơ của sự sáng tỏ đang hiện diện.</p>
<p style="text-align: justify;">(26) Bởi vì những đối tượng chúng ta tri giác quả thật là những biểu lộ của thật tính của hiện hữu, những phiền não và che chướng của chúng ta trở thành thanh tịnh. Vì cái tỉnh giác nguyên sơ của hiện diện thanh tịnh đang hiện diện, chúng ta gỡ mình khỏi sự dấn thân vào bất kỳ loại thái độ tiêu cực nào. Và bởi vì chúng ta giải thoát khỏi những phiền não, những dấu vết nghiệp và những che chướng, chúng ta được xem là thuộc về gia đình của những Bồ tát cao cả.</p>
<p style="text-align: justify;">(27) Về phần tiến bộ trong thực hành (chủ đề thứ ba): trong một trạng thái tự toàn thiện không chỉnh trị và tự phát, tỉnh giác khoảnh khắc ban sơ này vẫn toàn nguyên hiện diện và không tạo tác. Nó là một hiện diện vô niệm thanh tịnh minh bạch và sống động. Như vậy sự tương tục của tỉnh giác vẫn vững chắc và không xao lãng.</p>
<p style="text-align: justify;">(28) Trong khi tiếp tục trong một thời tham thiền, không bị hôn trầm và xáo động ảnh hưởng, mọi sự tự biểu lộ như là tính không, và tính không là thật trạng của hiện hữu. Bấy giờ, sau khi kết thúc một thời tham thiền, không bị những tư tưởng quy định, chúng ta cần tiếp tục trong trạng thái của bản tính của tâm, đúng như bản thân nó là.</p>
<p style="text-align: justify;">(29) Về những kinh nghiệm trong khi thiền định, chúng ta thấy mình trong một trạng thái bất nhị, dù chúng ta đang thiền định hay không thiền định. Mọi hình tướng xuất hiện sinh khởi hoàn toàn là sự biểu lộ của năng lực của sự tham thiền nhập định của chúng ta. Thật trạng (pháp tính) của hiện hữu của mọi hiện tượng, đúng như chúng là, tự hiện bày mà không lìa khỏi thể trạng bổn nguyên tự nhiên.</p>
<p style="text-align: justify;">(30) Về phần chiều kích toàn thể của chúng ta: mọi hiện tượng, dù thấy hay không thấy, toàn thể đều được tịnh hóa tự chính chúng trong pháp tính (thật trạng của hiện hữu). Bởi thế, chúng ta đạt được chiều kích (hay cảnh giới) tối thượng của bất nhị, và một tỉnh giác nguyên sơ tối thượng không cách gì che phủ được (bởi những hoạt động tâm trí) thì hiện diện.</p>
<p style="text-align: justify;">(31) Qua tịnh hóa trọn vẹn những che chướng của chúng ta đối với hiểu biết (hay trí huệ), như vậy chúng ta đạt được một hiểu biết (hay trí huệ) về tất cả mọi hiện tượng như chúng là trong pháp tính (trong thực trạng của hiện hữu của chúng). Bởi vì chúng ta hoàn toàn giải thoát khỏi bất kỳ nhị nguyên nào trong tương quan người hiểu và cái được hiểu, chúng ta được xem là thuộc về gia đình chư Như Lai toàn giác.</p>
<p style="text-align: justify;">(32) Bây giờ, về tiến hành theo con đường qua thực hành ban đêm, ở đây chúng ta cần tự huấn luyện hai thực hành: một vào buổi tối khi chúng ta ngủ và cái kia vào buổi sáng khi chúng ta lại thức dậy. Vào buổi tối (trước khi vào giấc ngủ) chúng ta cần để cho những căn của chúng ta lắng đọng thành một thể trạng của tham thiền nhập định liên tục. Hơn nữa, chúng ta cần hòa nhập sự thực hành tập trung của chúng ta với giấc ngủ.</p>
<p style="text-align: justify;">(33) Vào lúc rơi vào giấc ngủ, chúng ta cần quán tưởng một chữ A màu trắng hay một quả cầu nhỏ ánh sáng năm màu trong không gian giữa hai lông mày. Cái này được quán tưởng rõ ràng cỡ bằng hạt đậu Hà Lan. Trước tiên chúng ta cố định tỉnh giác của chúng ta vào đó; rồi chúng ta thư giãn tỉnh giác một tí và tự cho phép mình đi vào giấc ngủ.</p>
<p style="text-align: justify;">(34) Khi chúng ta đi vào giấc ngủ trong một trạng thái trong đó sáu quan năng được buông xả một cách cảnh giác vào trong thể trạng (thật tính) của chính chúng, tỉnh giác của chúng ta không bị dơ nhiễm bởi bụi bặm trên mặt của những tư tưởng lan man và tịnh quang tự nhiên bèn xuất hiện. Như vậy chúng ta thấy mình ở trong sự hiện diện của pháp tính mà không có bất kỳ tư tưởng lan man nào.</p>
<p style="text-align: justify;">(35) Hay lại nữa, khi chúng ta quan sát cái tỉnh giác khoảnh khắc này (vào ngay lúc nó sinh khởi), chúng ta không thể thấy bất cứ cái gì ở trong nó mà có thể được cho là an lặng hay chuyển động của tư tưởng. Như vậy, thấy mình trong một trạng thái hiện diện tỉnh táo, đầy sức sống, chúng ta lắng đọng thành một tỉnh giác bình lặng và đi vào giấc ngủ.</p>
<p style="text-align: justify;">(36) Tiến trình vào giấc ngủ là nguyên nhân để chúng ta đi vào sự sáng tỏ của thật trạng của hiện hữu (pháp tính). Bấy giờ (những quan năng) của chúng ta hoàn toàn rút vào Pháp giới (Dharma-dhatu) trong một trạng thái của hiện diện thuần túy. Cho đến khi chúng ta vào giấc ngủ, có thể tiếp tục thấy mình hiện diện trong trạng thái của pháp tính ấy.</p>
<p style="text-align: justify;">(37) Hoàn toàn gỡ khỏi những dấu vết nghiệp của một thân thể vật chất của chúng ta, những dấu vết nghiệp của thị kiến, và những dấu vết nghiệp của hoạt động tâm thức của chúng ta, không có hoạt động tâm thức khởi nữa (trước sự bắt đầu của mộng). Chúng ta tiếp tục thấy mình trong sự hiện diện của trạng thái pháp tính. Như vậy, chúng ta sẽ kinh nghiệm một cấp độ nào đó của sự hòa lẫn với tịnh quang tự nhiên.</p>
<p style="text-align: justify;">(38) (Vào giây phút khi chúng ta thực sự) đi vào giấc ngủ, không có bất kỳ tư tưởng lan man nào sinh khởi và trạng thái hiện diện thuần túy của chúng ta được chìm hút vào Mẹ của nó (tịnh quang tự nhiên) và chúng ta thấy mình trong hiện diện của trạng thái pháp tính. Tiếp theo thời kỳ tham thiền này (nó là tịnh quang tự nhiên), chúng ta sẽ đến chỗ nhận biết những giấc mộng của chúng ta chỉ là những giấc mộng khi chúng ta đi vào trạng thái mộng. Thấy mình tự do với mọi vọng tưởng, (những giấc mộng) biểu lộ theo một cách trợ giúp bạn hữu như là chiều kích của chúng ta và tính giác bổn nguyên của chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">(39) Lúc sáng sớm, (ngay khi tỉnh giấc), một tỉnh giác hay trí huệ (yeshes) nguyên sơ sinh khởi không bị chỉnh sửa và hiện diện trong thật trạng của chính nó. Nếu chúng ta an trụ trong trạng thái tự nhiên này không xao lãng và không thiền định về cái gì, bấy giờ chúng ta sẽ thấy mình hiện diện một cách bình lặng, không bị xao lãng bởi bất kỳ tư tưởng lan man nào. Cái này gọi là trạng thái của Guru Samantabhadra.</p>
<p style="text-align: justify;">(40) Nhìn thẳng vào khuôn mặt của trạng thái này (của hiện diện thuần túy, hiện diện thanh tịnh), chúng ta quan sát với chú ý trần trụi ai là cái đang thiền định. Không tìm thấy cái gì có thể nhận biết (hay xác định được) ở đó, một tỉnh giác tự phát sinh nguyên sơ minh bạch và trần truồng tự giải thoát chính nó ngay khi nó sinh khởi. Bấy giờ một tỉnh giác nguyên sơ bất nhị trở thành hiện diện.</p>
<p style="text-align: justify;">(41) Vào khoảnh khắc đó, thấy mình vượt khỏi mọi thị kiến đối tượng, và siêu vượt mọi tư tưởng lan man bám nắm nhị nguyên, một tỉnh giác hay trí huệ (yeshes) nguyên sơ vô niệm trở nên biểu lộ rõ ràng. Bởi vì chúng ta nhận biết rõ, một tỉnh giác nguyên sơ sáng tỏ, không dơ lấm (bởi vết dơ của những tư tưởng lan man), trở thành biểu lộ rõ ràng. Bởi vì không có nhị nguyên (của chủ thể và đối tượng hiện diện), một tỉnh giác về cảm giác lạc phúc trở thành biểu lộ rõ ràng.</p>
<p style="text-align: justify;">(42) Bởi vì chúng ta đến chỗ hiểu rằng mọi hiện tượng tự chúng thật sự là pháp tính, một tỉnh giác hay trí huệ (yeshes) nguyên sơ không cách gì lầm lẫn trở thành biểu lộ một cách tột bực. Và bởi vì một tỉnh giác nguyên sơ về số lượng (nó biết mỗi sự vật trong cá thể của nó) trở thành biểu lộ rõ ràng trong toàn thể của nó, bản tính vốn sẵn của ba chiều kích của hiện hữu chúng ta trở thành biểu lộ tột bực.</p>
<p style="text-align: justify;">(43) Khi người ta thực hành tinh túy của yoga này cả ngày và đêm, toàn bộ chiều kích đời sống chúng ta đi vào tham thiền nhập định. Trở thành quen thuộc với thực hành, những phiền não của chúng ta sẽ sinh khởi trên con đường (như cái gì hữu ích cho chúng ta). Chắc chắn chúng ta sẽ đạt đến mức độ toàn vẹn của việc hoàn thành lợi lạc của chúng sinh, mà con số ngang với sự bao la của bầu trời, nhờ sự chứng đắc ba chiều kích của hiện hữu chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">(44) Mức độ quen thuộc của chúng ta (với sự thực hành này là cấp độ chúng ta có thể) nhận biết những giấc mộng của chúng ta là những giấc mộng khi chúng ta còn ngủ. Bởi vì những bám luyến vào những cảm giác lạc và khổ (sẽ được chiến thắng mỗi ngày), chúng ta thấy mình trong một trạng thái hòa nhập, không cách gì bị che phủ (bởi ý niệm hay phán định). Bởi vì tỉnh giác nguyên sơ hiện diện, mọi hình tướng xuất hiện sinh khởi như những người bạn (có thể giúp chúng ta trên con đường). Sự tương tục của vọng tưởng bị đứt đoạn như vậy và chúng ta thấy mình trong sự hiện diện của trạng thái pháp tính.</p>
<p style="text-align: justify;">(45) Bởi vì hành giả của Atiyoga, suốt cả ngày và đêm, an trụ không lìa khỏi trạng thái của pháp tính này, có nói rằng anh ta hay chị ta có thể chứng đắc Phật quả thậm chí trong khoảnh khắc giữa hai hơi thở. Đó là điều được con người vĩ đại Garab Dorje nói.</p>
<p style="text-align: justify;">(46) Về những phiền não sinh khởi trên con đường (như là cái hữu ích trong thực hành của chúng ta), không phân biệt những hiện tượng (là tốt hay xấu), chúng ta thấy chúng hiện diện trong trạng thái của pháp tính. Vì tất cả chúng đều hiện diện trong tỉnh giác toàn thể, không có tạo tác ý niệm nào đối với chúng, chúng ta nhận biết mê lầm (bản thân nó không gì khác hơn là) vô niệm. Những hiện tượng biểu lộ (một cách vô niệm) là pháp tính như bản thân pháp tính.</p>
<p style="text-align: justify;">(47) Mọi hiện tượng xuất hiện như những đối tượng của sáu quan năng thì hiện diện trong sáng tỏ quang minh và không có tự tính. Vì vậy, chúng ta nhận biết sân giận có đặc tính của sáng tỏ và bây giờ nó biểu lộ như tỉnh giác (hay trí huệ) nguyên sơ của sáng tỏ.</p>
<p style="text-align: justify;">(48) Mọi sự biểu lộ bên ngoài là pháp tính, trong khi bên trong, hiện diện thanh tịnh thuần khiết là tỉnh giác nguyên sơ. Bởi vì cảm giác đại lạc không có bất kỳ phân biệt nhị nguyên nào, có bản chất của Năng Lực, chúng ta nhận biết tham thật ra tiêu biểu cho diệu dụng của đại lạc. Như thế có biểu lộ một tỉnh giác nguyên sơ về cảm giác đại lạc, nó là tự toàn thiện một cách tự phát mà không có bất kỳ giới hạn nào.</p>
<p style="text-align: justify;">(49) Hơn nữa, những chúng sinh khác được lợi lạc nhờ ba chiều kích của hiện hữu chúng ta. Hơn thế nữa, ba độc phiền não tự biểu lộ chính chúng hoàn toàn là chiều kích của hiện hữu của chúng ta và là tính giác bổn nguyên vốn sẵn.</p>
<p style="text-align: justify;">(50) Bởi vì cái chúng ta gọi là “phiền não” không hiện hữu nữa, những nguyên nhân cho sự chuyển di trong sinh tử không còn. Về điều này, dù chúng ta có nghĩ cách gọi thực trạng này là “niết bàn”, thật ra nó chỉ là vô số phẩm tính công đức (của trạng thái bổn nguyên của Phật quả) biểu lộ chính chúng một cách tự phát trong tự toàn thiện, không có bất kỳ sửa sang hay tạo tác nào được làm với chúng. Như mặt trời mọc lên trong bầu trời, chúng ta có thể nói rằng đó chỉ là sự sáng tỏ như vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">(51) Về phương pháp này: trường hoạt động của những học trò cần bao trùm năm khả năng (ngũ căn trong 37 phẩm trợ đạo): sẵn sàng tích cực tham gia, chuyên cần, hiện diện chánh niệm, định và huệ. Với bất cứ giáo huấn nào chúng ta đã nhận từ thừa tối thượng (Atiyoga), chúng ta cần biết làm thế nào để thực hiện cho chính chúng ta những điều kiện hài hòa để làm đầy đủ và hoàn thiện (năm khả năng này).</p>
<p style="text-align: justify;">(52) Đã phát biểu tất cả những điều này, nhờ ít lời khúc chiết này trao tặng một ít cam lồ của trạng thái của Đạo sư Kunzang Garab Dorje, nguyện tôi và tất cả chúng sinh số đông như sự bao la của bầu trời, những ai nối kết với tôi (về mặt nghiệp và mặt tâm linh), nhanh chóng đạt đến địa vị chân chính của Jina Samantabhadra chiến thắng!</p>
<p style="text-align: justify;">Bản văn này để cho những người mong muốn tham gia vào thừa tối thượng Dzogchen, được viết ra để tưởng nhớ Ông Paul Anderson, người đã ra đi một cách bình an. Bởi vì chúng ta đang bắt đầu một nhập thất ở Cộng Đồng Dzogchen ở Conway trong miền đông nước Mỹ, bản văn này được viết ra bởi hành giả Dzogchen Namkhai Norbu trong năm Hợi Thủy tháng chín ngày mồng ba, đó hẳn là một ngày tốt lành!</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Thể theo yêu cầu của Namkhai Norbu Rinpoche và với sự cộng tác của những thành viên Cộng Đồng Dzogchen ở Conway, bản văn này về thực hành liên tục tham thiền Dzogchen được dịch sang tiếng Anh bởi Vajranatha, John Myrdhin Reynolds.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Namkhai Norbu Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Trùng Hưng và An Phong</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Trích: Sống Trong Tham Thiền Chu Kỳ Ngày và Đêm, NXB Thiện Tri Thức 2003.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/7815/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Hành giả Thiền Định</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/hanh-gia-thien-dinh/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/hanh-gia-thien-dinh/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 09 Sep 2017 10:13:49 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kinh sách Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7804</guid>
		<description><![CDATA[Canh giữ tâm bạn trong cô tịch, từ bỏ những phóng dật và công việc, tránh những tình huống bất lợi, và điều phục phiền não bằng những cách đối trị thích hợp. Bảo đảm rằng cái thấy (kiến) và cách hành xử (hành) của bạn hòa hợp với nhau, hãy hăng hái hiến mình cho thiền định. Bất kỳ&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/hanh-gia-thien-dinh/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Canh giữ tâm bạn trong cô tịch, từ bỏ những phóng dật và công việc, tránh những tình huống bất lợi, và điều phục phiền não bằng những cách đối trị thích hợp.</p>
<p style="text-align: justify;">Bảo đảm rằng cái thấy (kiến) và cách hành xử (hành) của bạn hòa hợp với nhau, hãy hăng hái hiến mình cho thiền định.</p>
<p style="text-align: justify;">Bất kỳ khi nào một trong năm độc phát khởi, ngay lúc đó, hãy tóm lấy nó bằng sự chánh niệm, và không chút phóng tâm, hãy áp dụng các cách đối trị. Với sự tận tâm, tỉnh giác sâu xa, tự chế và một ý thức về phẩm giá, hãy đặt tâm bạn dưới sự kiểm soát. Coi mọi sự ca ngợi và chê trách, tán thành và phản đối, tiếng tốt và tiếng xấu đều như nhau, bởi chúng giống như những ảo ảnh hay giấc mộng và không thực sự hiện hữu.</p>
<p style="text-align: justify;">Là một người thực hành, bạn phải có niềm tin, sự kiên trì, từ bỏ và tỉnh ngộ. Bạn phải buồn rầu và nhàm chán đối với sinh tử, và nỗ lực để đạt được tự do. Khi từ bỏ những mối quan tâm về cuộc đời này và tìm kiếm Giác ngộ tối hậu, bạn phải bỏ lại thật xa phía sau những phóng dật, và ít phiền não, thanh thản và dung thứ, có tri giác thanh tịnh và lòng sùng mộ mãnh liệt, cũng như có tâm kiên cố và lòng tôn kính sâu xa đối với giáo lý – [Các hành giả như thế sẽ thành tựu giải thoát siêu việt nhất!]
<p style="text-align: justify;">Bạn phải phụng sự một vị Thầy cao quý theo cách thế tốt nhất có thể được, và hãy tịnh hóa tâm bạn nhờ việc nghiên cứu, quán chiếu và thiền định. Nhất là bạn nên sử dụng toàn bộ ngày và đêm của bạn để tinh tấn chuyên tâm vào những giáo huấn cốt tủy của dòng truyền dạy qua tai.</p>
<p style="text-align: justify;">Không trở nên phóng dật bởi những mối quan tâm thế tục dù chỉ trong chốc lát, hãy tinh tấn chuyên tâm vào ý nghĩa sâu xa. Tuyệt đối không vi phạm những giới luật của các Thanh Văn, Bồ Tát và Vidyadhara (Trì minh vương). Với tâm thức được kiểm soát, hãy giúp đỡ người khác trong bất kỳ cách thế nào bạn có thể, và hãy đưa mọi sự bạn kinh nghiệm vào con đường dẫn tới giải thoát.</p>
<p style="text-align: justify;">Là người sơ cơ, điều tối quan trọng là bạn phải bảo vệ hạnh phúc của riêng bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Hãy học khoan dung đối với chúng như thể chúng chỉ là những tiếng vang, và chặt đứt tận gốc tâm bám chấp vào một cái “tôi” hay một bản ngã.</p>
<p style="text-align: justify;">Tóm lại, nhờ không bao giờ vượt quá giới hạn của Giáo Pháp trong mọi sự bạn làm, hãy đặt tâm bạn dưới sự kiểm soát, đừng làm hại người khác, và không lùi bước trước những phiền não, dù chỉ trong giây lát. Hãy hiến dâng ngày và đêm của bạn cho đức hạnh – đây là điều trọng yếu!</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày nay, khi con người quá sức phóng túng, điều quan trọng là trước hết bạn phải thành tựu hạnh phúc của riêng bạn trong sự cô tịch. Giống như một con chim không thể bay mà không có đôi cánh, hạnh phúc của người khác không thể được thành tựu mà không có những năng lực nhận thức cao siêu. Vì thế hãy nỗ lực thật tinh tấn cho hạnh phúc của riêng bạn trong khi quan tâm tới hạnh phúc của người khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Đừng để tâm bạn bị lừa gạt bởi những ma quân xảo quyệt là sự phóng dật và công việc, điều quan trọng là bạn phải chuyên tâm vào việc thực hành – đừng để bản thân bạn phải hối tiếc vào giờ chết!</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế, giờ đây hãy chuẩn bị tâm bạn, và suy nghĩ điều này: Nếu bạn chết ngay lúc này, điều gì sẽ xảy đến cho bạn?</p>
<p style="text-align: justify;">Chẳng có gì bảo đảm về việc bạn sẽ đi đâu hay điều gì sẽ xảy ra, sử dụng ngày đêm của bạn trong những nỗi muộn phiền của mê lầm và phóng dật, là phí phạm và làm cho những tự do và thuận lợi trở nên vô nghĩa. Vì thế đơn độc một mình trong cô tịch, hãy thiền định về ý nghĩa cốt tủy. Bởi giờ đây một chiến lược dài hạn thì thực sự cần thiết. Làm sao bạn có thể quả quyết rằng bạn sẽ đi đâu trong tương lai? Bạn phải chuyên tâm thật tinh tấn ngay ngày hôm nay!</p>
<p style="text-align: justify;">Những hình tướng hão huyền của sinh tử thì giống như con đường nguy hiểm. Hãy ghi nhớ điều này trong tâm: Bạn phải tìm ra những phương pháp để tự giải thoát chính mình. Bởi giờ đây nếu bạn vẫn lầm lạc, bạn sẽ lang thang trong mê lầm mãi mãi. Vì thế hãy khơi dậy sự nhẫn nại và gìn giữ điều này trong trái tim bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Đại dương phiền não và biển cả chấp ngã thật khó vượt qua, nhưng giờ đây bạn đã có con tàu của những tự do và thuận lợi, hãy sử dụng nó để đi tới bến bờ xa lạ!</p>
<p style="text-align: justify;">Giờ đây là lúc nhờ năng lực công đức của bạn mà bạn đã có được cơ hội hy hữu này – phương tiện để đi tới con đường giải thoát và giác ngộ – hãy bảo vệ lợi lạc và hạnh phúc của riêng bạn nhờ nỗ lực với sự thành tâm!</p>
<p style="text-align: justify;">Cuộc đời thì vô thường và thay đổi từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác. Và chúng ta tự lừa dối mình một cách thành thạo với những sự phóng dật, trì hoãn thực hành đức hạnh. Khi ta đã trở nên quen thuộc dài lâu với sự mê lầm, trong mỗi giây phút ta bị kéo lôi vào những phiền não một cách tự nhiên, và cho dù ta chuyên tâm tạo lập công đức và đức hạnh, ta thấy chúng không dễ dàng phát khởi. Vì thế, hãy nỗ lực để ngăn ngừa những khốn khổ do các hành động của bạn mang lại!</p>
<p style="text-align: justify;">Không tìm thấy chút vui thú nào trong những trạng thái của sinh tử. Những đau khổ của hiện hữu bị quy định thì không thể chịu đựng nổi, nếu bạn nghĩ về chúng. Vì thế ngay giờ đây hãy chuyên tâm tới phương tiện để đạt được tự do. Nếu bạn không thiết tha hiến mình cho ý nghĩa cốt tủy, trạng thái nhàn rỗi và việc thực hành Pháp không liên tục sẽ không mang lại lợi lạc, vì thế hãy phát triển một cảm thức nhàm chán thật mãnh liệt đối với mọi sự vô thường. Và, không xao lãng ngay cả một chốc lát, hãy phát triển nhiệt tâm đối với việc thực hành!</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu ngay từ lúc bắt đầu bạn nhận ra điều này, bạn sẽ nhanh chóng thành tựu trạng thái của một Arya!(1)</p>
<p style="text-align: justify;">Khi thành tựu hạnh phúc của riêng bạn, hạnh phúc của người khác sẽ đến thật tự nhiên, và bạn sẽ tìm thấy con đường giải thoát siêu việt từ những trạng thái sinh tử. Khi mọi sự bạn làm phù hợp với Pháp, thì bạn là người có nền tảng để đạt được Giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Longchen Rabjam</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Việt dich: Thanh Liên</i></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <span data-sheets-root="1" data-sheets-value="{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:&quot;Hành giả Thiền Định&quot;}" data-sheets-userformat="{&quot;2&quot;:701,&quot;3&quot;:{&quot;1&quot;:0},&quot;5&quot;:{&quot;1&quot;:[{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0,&quot;5&quot;:{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0}},{&quot;1&quot;:0,&quot;2&quot;:0,&quot;3&quot;:1},{&quot;1&quot;:1,&quot;2&quot;:0,&quot;4&quot;:1}]},&quot;6&quot;:{&quot;1&quot;:[{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0,&quot;5&quot;:{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0}},{&quot;1&quot;:0,&quot;2&quot;:0,&quot;3&quot;:1},{&quot;1&quot;:1,&quot;2&quot;:0,&quot;4&quot;:1}]},&quot;7&quot;:{&quot;1&quot;:[{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0,&quot;5&quot;:{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0}},{&quot;1&quot;:0,&quot;2&quot;:0,&quot;3&quot;:3},{&quot;1&quot;:1,&quot;2&quot;:0,&quot;4&quot;:1}]},&quot;8&quot;:{&quot;1&quot;:[{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0,&quot;5&quot;:{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0}},{&quot;1&quot;:0,&quot;2&quot;:0,&quot;3&quot;:3},{&quot;1&quot;:1,&quot;2&quot;:0,&quot;4&quot;:1}]},&quot;10&quot;:1,&quot;12&quot;:0}"><a href="https://www.bing.com/ck/a?!&amp;&amp;p=71a9efee18779008JmltdHM9MTcyMjcyOTYwMCZpZ3VpZD0xNjcxY2NhZC0zOWRjLTZmM2EtMmQyMS1kYzBkMzhiYTZlNWImaW5zaWQ9NTIyNA&amp;ptn=3&amp;ver=2&amp;hsh=3&amp;fclid=1671ccad-39dc-6f3a-2d21-dc0d38ba6e5b&amp;psq=H%c3%a0nh+gi%e1%ba%a3+Thi%e1%bb%81n+%c4%90%e1%bb%8bnh&amp;u=a1aHR0cHM6Ly90aHV2aWVuaG9hc2VuLm9yZy9hNjE0Mi9oYW5oLWdpYS10aGllbi1kaW5o&amp;ntb=1">Hành giả Thiền Định</a></span></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>(1) Arya: Bậc đã thành tựu sự chứng ngộ trực tiếp chân tính của thực tại, bậc đã thành tựu con đường thứ ba trong năm con đường [con đường tích tập, hợp nhất, nội quán (kiến), thiền định, và viên mãn]</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/hanh-gia-thien-dinh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Vài nét về Phật giáo Tây Tạng</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/vai-net-ve-phat-giao-tay-tang/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/vai-net-ve-phat-giao-tay-tang/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 04 Sep 2017 13:37:01 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7756</guid>
		<description><![CDATA[Giáo lý Phật Đà được truyền đến Tây Tạng dưới sự bảo trợ của một dòng truyền thừa cổ xưa các vị vua. Người ta nói rằng các vị bán thần đến từ dòng dõi hoàng gia Punjabi, người đã xuống sống giữa loài người, chạy trốn theo phương bắc về vùng Hi Mã Lạp Sơn. Cuối cùng, ngài ra&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/vai-net-ve-phat-giao-tay-tang/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Giáo lý Phật Đà được truyền đến Tây Tạng dưới sự bảo trợ của một dòng truyền thừa cổ xưa các vị vua. Người ta nói rằng các vị bán thần đến từ dòng dõi hoàng gia Punjabi, người đã xuống sống giữa loài người, chạy trốn theo phương bắc về vùng Hi Mã Lạp Sơn. Cuối cùng, ngài ra khỏi những rặng núi đến vùng Yarlung, Tây Tạng. Nhân dân trong vùng đã lầm tưởng rằng ngài là một bậc phi thường đến từ cõi trời, và mang ngài trên vai và chọn ngài làm vị quốc vương đầu tiên. Tên của ngài là Nyatri Tsenpo.</p>
<p style="text-align: justify;">Bản kinh Phật đầu tiên đến với xứ Tuyết sau 35 đời các vị vua này trong một dòng liên tục truyền từ cha sang con. Vào thời điểm đó, mọi người không biết chữ, và điều này làm cho vị vua đang trị vì rất buồn. Để xua tan sự ngu dốt của dân chúng, ngài đã cầu nguyện chí thành. Nhờ lực gia trì của chư Phật, ba bản kinh của các bậc Đại giác đã từ trên trời rơi xuống mái của cung điện ngài đang ngự. Tất nhiên, không ai có thể đọc chúng, nhưng chỉ với sự hiện diện của những bản văn thần thánh này đã chuyển hóa môi trường đến mức mà mùa màng bội thu và các thế lực ma quỷ trên đất nước bằng cách nào đó đã được làm xoa dịu. Nó như thể là màn đêm dày đặc đã được xua tan một chút bằng tia sáng le lói đầu tiên của bình minh.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm thế hệ sau đó, vị vua vĩ đại Songtsen Gampo [616 – 698 sau Công nguyên] đã lên ngôi. Ngài mời các đạo sư Phật giáo đầu tiên đến Tây Tạng. Nhờ có công đức lớn lao của ngài, ngài đã nỗ lực để có được hai trong ba bức tượng chính được đặt ở Bồ Đề Đạo Tràng, nơi mà đức Phật đạt giác ngộ ở Ấn Độ. Hai bức tượng này được mang đến Tây Tạng như là của hồi môn của hai vị công chúa ngoại quốc mà ngài kết hôn. Một bức tượng theo công chúa của hoàng đế Trung Quốc, trong khi bức tượng thứ hai được mang đến bởi công chúa Nepal. Có thể nói rằng, triều đại ngài trị vì là lúc mà mặt trời mọc lên đến chân trời: đó là hình ảnh mà Pháp bắt đầu sự phổ biến trên vùng đất này.</p>
<p style="text-align: justify;">Ba hay bốn thế hệ sau đó, Vua Trisong Detsen [790 – 844 sau Công nguyên] đã hứa nguyện lớn lao rằng sẽ đưa Phật giáo phát triển trên khắp Tây Tạng; điều này giống như mặt trời lên cao trên bầu trời. Trong thời đại của ngài, ngài đã mời 108 vị đạo sư vĩ đại đến Tây Tạng. Trong thời gian đó, các bậc hướng đạo tâm linh, các vị thầy và đạo sư được gọi là “pandita”. Những người mà nhận các giáo lý và dịch chúng sang tiếng Tây Tạng được gọi là “lotsawa”. Đạo sư quan trọng nhất được mời đến Tây Tạng trong giai đoạn này là Bồ Tát Khenpo nổi tiếng, ngài Shantarakshita.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhà vua đã có kế hoạch lớn lao về việc xây dựng một quần thể các ngôi chùa ở miền Trung Tây Tạng, quần thể ngày nay được biết đến là Samye. Lúc đó, ngài Shantarakshita là một đại Bồ Tát với lòng từ bi lớn lao và một trái tim chân thành. Bởi vì điều này, ngài không thể hàng phục các tinh linh địa phương xung quanh vùng Samye bằng các pháp phẫn nộ. Một tinh linh rồng đầy sức mạnh nói xấu về vị Bồ Tát, “Nếu những người Ấn Độ bắt đầu mang Phật giáo đến đây, sẽ rất khó khăn cho chúng ta. Hãy cùng nhau gây ra những rắc rối”. Tất cả tám loài tinh linh đồng ý hết sức ngăn cản Phật giáo phổ biến trên đất Tây Tạng bằng cách ngăn cản sự xây dựng chùa Samye. Bất cứ thứ gì được xây dựng vào ban ngày, thì ban đêm các vị thần và ma quỷ của vùng đất lại phá hủy chúng. Dường như vị Bồ Tát Khenpo không thể thành công trong nhiệm vụ của ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhà vua rất thất vọng với sự chậm trễ tiến độ này, bởi vậy Khenpo nói với ngài rằng, “Tôi chỉ là một Bồ Tát, tôi không thể chế ngự những tinh linh mạnh mẽ trong vùng đất của ngài, nhưng đừng nản lòng, có một cách. Ở Ấn Độ, bây giờ, có một bậc vô song trong mọi cách thức; ngài không sinh ra từ tử cung. Tên của ngài là Liên Hoa Sinh, Bậc sinh ra từ Hoa sen. Nếu các vị thần và ma quỷ địa phương phản đối giáo Pháp chân thật chỉ đơn giản nghe đến tên ngài, họ sẽ vô cùng kinh hoàng và trở nên bất lực. Hãy mời ngài đến Tây Tạng, và vấn đề sẽ kết thúc". Nhà vua hỏi, “Làm sao chúng ta có thể mời ngài?” và vị Khenpo đáp rằng, “Trong các đời trước, chúng ta đã cùng hứa nguyện, khi Nhà vua, đức Liên Hoa Sinh và tôi là anh em, những người đã giúp đỡ thiết lập một đại bảo tháp ở Boudhanath, Nepal, gọi là Jarung Khashor. Bởi vì lúc đó, chúng ta đã hứa nguyện sẽ đưa Phật giáo về phương Bắc, Đức Liên Hoa Sinh chắc chắn sẽ chấp nhận lời thỉnh mời của chúng ta; chúng ta chỉ cần đề nghị ngài đến đây thôi.”</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Liên Hoa Sinh, người không sinh ra từ một bà mẹ con người, sở hữu một sức mạnh lớn lao có thể chế ngự mọi thế lực ma quỷ. Các đạo sư khác chủ yếu chịu trách nhiệm đưa giáo Pháp đến Tây Tạng là ngài Vimalamitra, một bậc đạo sư chứng ngộ kỳ diệu, người đã đạt đến thân kim cương của sự chuyển hóa lớn vượt ra ngoài sanh tử, và đại dịch giả Tây Tạng Vairochana, một hóa thân của đức Phật Vairochana. Tựu chung lại, 108 vị pandita đã đến Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Rất nhiều người Tây Tạng đã được đào tạo trở thành các dịch giả trong suốt thời gian này, để mà toàn bộ giáo lý Phật Đà, bao gồm các nghi quỹ và thực hành khác nhau, được chuyển dịch sang tiếng Tây Tạng và hệ thống hóa một cách chính xác. Quần thể chùa Samye đã được thiết lập với sự trợ giúp của đức Liên Hoa Sinh, và Pháp được phổ biến trên khắp đất nước. Các giáo lý trong thời kỳ này được biết đến là Nyingma, hay truyền thống Cựu Dịch, để phân biệt với các giáo lý từ Ấn Độ trong giai đoạn sau, gọi là Sarma hay Tân Dịch.</p>
<p style="text-align: justify;">Một thời gian sau khi vua Trisong Detsen qua đời là giai đoạn khủng khiếp của tôn giáo, trong đó vị vua ma quỷ Langdarma, gần như đã xóa sổ Phật giáo. Sự hồi sinh tiếp theo với sự bắt đầu của truyền thống Sarma. Các giáo lý trong giai đoạn sau này chủ yếu được dịch bởi các đại dịch giả Rinchen Sangpo và Marpa Lotsawa. Hai vị đạo sư này cùng các vị thầy khác đã đến Ấn Độ, nhận các chỉ dẫn từ các đạo sư ở đây và mang chúng về Tây Tạng. Tựu chung lại, có tám dòng truyền thừa phát triển ở Tây Tạng và sau đó được biết đến là Tám Cỗ xe của Truyền thừa thực hành. Một là Nyingma, và bảy dòng còn lại là Sarma, hay Tân Dịch.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong số các trường phái Tân Dịch có Marpa Kagyu, Shangpa Kagyu và Lamdrey, Lamdrey thuộc về truyền thống Sakya. Bên cạnh đó có dòng Kadampa, sau đó chuyển thành truyền thống Gelug, và dòng Shijey và Cho, nghĩa tương ứng là An dịu khổ đau và Cắt đứt. Giống như vậy, Jordruk, hay Sáu sự hợp nhất và Nyendrub hay Ba thực hành Kim Cương về Tiến gần và Thành tựu cũng xuất hiện. Tám trường phái này, tất cả đều là giáo lý Phật Đà. Mỗi trường phái giảng dạy không hề mâu thuẫn với hệ thống Kinh điển, bao gồm Tiểu thừa, Đại thừa và hệ thống Mật thừa, Kim cương thừa của Chân ngôn Bí mật.</p>
<p style="text-align: justify;">Một trong các vị vua của giai đoạn này, một vị vua Pháp vĩ đại, Vua Ralpachen, cháu trai của Trisong Detsen, cũng mời các vị đạo sư đến Tây Tạng. Ngài có lòng sùng kính lớn lao với các vị hành giả Phật Pháp đến mức mà ngài đặt họ lên trên đỉnh đầu theo một cách rất phàm tục. Vào thời điểm đó có hai Tăng đoàn, bao gồm các vị tu sĩ xuất gia, được nhận biết bằng việc đầu cạo trọc và mặc y Pháp, và các vị ngakpa hay tantrika, những người được nhận ra bằng tóc tết dài, áo trắng, khăn choàng sọc. Như một dấu hiệu của sự sùng mộ chân thành của ngài, ngài để hai búi tóc rất dài tết lại và mời các vị hành giả đáng kính dẫm và ngồi lên tóc ngài. Ngài thậm chí còn dùng đá cuội để dưới chân các hành giả và để chúng lên đỉnh đầu để tỏ lòng tôn kính. Những cách hành xử của nhà vua như một vị bảo trợ lớn của Phật Pháp, cũng với sự kính trọng lớn lao của ngài với giáo pháp đã tác động tạo nên một hoàn cảnh thuận lợi để giáo lý Phật Đà bám sâu và phát triển ở Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Một hoàn cảnh khác mà ở đó hội đủ điều kiện hoàn hảo ở Tây Tạng là trong triều đại của vua Trisong Detsen trước đó. Chính nhà vua cũng là một hóa thân của Đại Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, và thậm chí một vài trong số các vị bộ trưởng của ngài cũng là những hóa thân. Chư vị đạo sư và các vị pandita được mời đến Tây Tạng là các hóa thân của Phật và Bồ Tát, và các dịch giả trong thời gian đó cũng vậy. Trong suốt thời gian thuận lợi này, nhà vua đã hoàn thành hứa nguyện đưa Phật giáo đến với xứ Tây Tạng như là mặt trời mọc lên bầu trời cao.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong suốt hai thời kỳ này, các vị đạo sư và đệ tử cũng như các vị đệ tử của đệ tử đạt được sự chứng ngộ khó tin. Một vài vị đạo sư và đệ tử phô diễn những dấu hiệu chứng ngộ bằng cách bay vút lên như một đàn chim trên bầu trời. Dù các ngài bay đi đâu và dù các ngài đáp xuống đâu, đều lưu lại dấu chân trên đá. Đó không chỉ là truyền thuyết trong quá khứ; những dấu vết này vẫn được nhìn thấy cho đến ngày hôm nay, và bạn có thể đi và tìm chúng.</p>
<p style="text-align: justify;">Trên đây chỉ đơn giản là phác thảo khi Pháp được truyền đến Tây Tạng. Tóm lại, chúng ta có thể nói rằng Ấn Độ giống như cha của Pháp, Nepal giống như mẹ, và giáo lý đến với Tây Tạng là những đứa con của họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Tiếp tục theo cách thức chung liên quan đến các giáo lý Kim Cương thừa: chúng chỉ phát triển một cách rộng rãi như hiện nay trong ba đại kiếp đặc biệt. Giai đoạn đầu tiên xảy ra trước thời đại của chúng ta vô số đại kiếp, khi mà đức Phật tên là Ngondzok Gyalpo, Đấng Toàn Giác, xuất hiện. Trong thời đại của ngài, Kim Cương thừa được truyền bá rất rộng. Sau đó cho đến tận thời kỳ hiện tại của một đấng giác ngộ tuyệt đối, Đức Thích Ca Mâu Ni, giáo lý Kim Cương thừa không hoàn toàn có thể tìm thấy. Trong tương lai rất xa có một thời đại gọi là Đại Kiếp của Những Bông Hoa Đẹp, khi mà đức Phật Văn Thù Sư Lợi thị hiện và Kim Cương thừa lại được phổ biến một lần nữa. Điều này không có nghĩa là những giáo lý Kim Cương thừa không được giảng dạy trong các đại kiếp ở giữa hai giai đoạn này. Nhưng chúng sẽ chỉ được phổ biến một cách không hoàn chỉnh, không theo một cách toàn diện và rộng lớn như chúng có ở hiện tại.</p>
<p style="text-align: justify;">Thời đại hiện nay của các giáo lý do đức Thích Ca Mâu Ni truyền dạy được gọi là Thời đại của Xung đột, hay thời đại mà năm sự suy đồi trở nên lan tràn, có một sự suy giảm lớn lao – về tuổi thọ, thời đại, chúng sinh, tri kiến và những cảm xúc gây phiền hà[1]. Mặc dù mọi người tranh đấu lẫn nhau trong suốt thời kỳ này, nhưng các giáo lý Mật thừa vẫn bùng cháy như ngọn lửa mãnh liệt. Giáo Pháp cũng bùng lên như ngọn lửa cảm xúc tiêu cực. Có một kiểu chơi chữ trong tên gọi của các Phật Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni) và Phật Di Lặc (Maitreya). “Muni” nghĩa là tài giỏi, trong khi Maitreya nghĩa là Bậc yêu thương. Có một câu tục ngữ rằng, “Trong thời đại Muni, người ta cố gắng tranh đấu với nhau, còn trong thời kỳ của Maitreya, người ta yêu thương lẫn nhau”.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong suối Thời đại của Xung đột, dường như mọi người hiếm khi tử tế; thay vào đó, họ luôn cố gắng vượt qua người khác. Sự cạnh tranh chủ yếu này là khởi nguồn cho tên gọi “Thời đại của Xung đột”. Nhưng đây chính xác là lý do mà Kim Cương thừa có thể được thực hành trong thời kỳ này. Các cảm xúc phiền hà càng mạnh mẽ và uy lực, thì tiềm năng tỉnh thức của chúng ta càng lớn lao. Trong thời đại của đức Di Lặc, mọi người yêu thương lẫn nhau, nhưng họ không thể thậm chí không nghe đến từ “Kim Cương thừa” – có nghĩa sẽ chẳng có chút giáo lý Kim Cương thừa nào.</p>
<p style="text-align: justify;">Có một sự thật là hiện tại, chúng ta đang bị giam hãm trong những hình dạng được nghĩ đến hay trong những cơn sóng cảm xúc trào dâng, của sự sân hận chẳng hạn, khi đó sẽ dễ dàng hơn để nhận ra trạng thái trần trụi của sự tỉnh thức. Dĩ nhiên đó là trường hợp khi mà người ta được rèn luyện trong trạng thái yên tĩnh, thanh thản của thiền định không có những suy nghĩ và cảm xúc tiêu cực. Sau đó, vì cái được gọi là “niềm vui thú dịu nhẹ”, thực sự sẽ khó khăn hơn để nhận ra bản tánh chân thực của tâm bất nhị. Bằng cách rèn luyện hoàn toàn trong sự yên tĩnh, chúng ta có thể kết thúc trong cõi Trời Vô Quan Niệm, và ở đó trong nhiều đại kiếp trong trạng thái bị thu hút không ngơi nghỉ. Trạng thái này tương tự như khi say mê với những thú vui tâm linh của sự an bình và tĩnh lặng. Tuy nhiên, trên thực tế, sự yên tĩnh như một vị trời vô quan niệm này không giúp bạn một chút mảy may nào trong việc đạt đến trạng thái tỉnh thức. Trong tám trạng thái cơ bản mà ở đó người ta chưa thể giải phóng để theo đuổi con đường tâm linh, sinh ra làm một vị trời Vô quan niệm là hoàn cảnh tồi tệ nhất bởi vì đó là một sự xao lãng vô cùng.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngược lại, trải qua những sự nản lòng lớn lao, sự sợ hãi vô cùng và lo lắng căng thẳng có thể sẽ là sự hỗ trợ mạnh mẽ cho thực hành. Ví dụ, nếu chúng ta bị một căn bệnh chết người, và chúng ta đang trên bờ vực của cái chết, nếu ta có thể nhớ mà nhìn về bản tánh của tâm khi ta sắp chết, kinh nghiệm đó sẽ không giống như sự rèn luyện thông thường về sự an bình. Chính sức mạnh của cảm xúc cho phép sự thấu suốt hơn vào bản chất của tâm.</p>
<p style="text-align: justify;">Nó cũng giống như khi chúng ta thực sự nổi giận, rất tức giận như thể chúng ta thấy có một ngọn lửa lớn đang bùng cháy, một sự tức giận hội tụ: nếu chúng ta nhận ra khuôn mặt tự nhiên của mình và buông xả, thì tại thời điểm đó, trạng thái tỉnh thức sẽ hoàn toàn trống rỗng, theo cách mà rõ ràng và sinh động hơn thường lệ. Hay, nếu chúng ta bỗng nhiên sợ hãi, như khi chúng ta bị đuổi theo bởi một đàn chó dữ và tâm trở nên đau điếng, nếu chúng ta có thể nhớ, mặc dù rất khó khăn, nhận ra bản tánh của tâm lúc đó, sự thấu suốt sẽ vượt qua trạng thái bình phàm của sự thấu suốt trong thiền định. Vì thế, những xung đột lớn lao trên thế giới này ngày nay giải thích chính xác tại sao mà giáo lý Kim Cương thừa lại phổ biến như đám lửa cháy lớn.</p>
<p style="text-align: justify;">Có ba cách tiếp cận khác nhau để thực sự ứng dụng các giáo lý Kim Cương thừa vào thực hành: lấy nền tảng làm con đường, lấy con đường làm con đường, và lấy kết quả làm con đường. Ba cách tiếp cận này có thể được hiểu bằng cách sử dụng phân tích của một người làm vườn hay một nông dân. Lấy nền tảng hay nguyên nhân làm con đường giống như là bừa đất và gieo hạt. Lấy con đường làm con đường giống như nhổ cỏ, tưới nước, bón phân và chăm sóc mùa màng. Lấy kết quả làm con đường là thái độ khi đơn giản là nhặt quả chín hay hái những bông hoa đã nở. Để làm được điều này, lấy kết quả trọn vẹn, trạng thái giác ngộ, là cách tiếp cận của Dzogchen (Đại toàn thiện). Điều này tóm tắt nội dung chính của Đại toàn thiện.</p>
<p style="text-align: justify;">Các giáo lý chính của đức Phật nguyên thủy, ngài Phổ Hiền là Dzogchen, Đại toàn thiện. Giáo lý Dzogchen là điểm trọng yếu trong chín thừa. Trước khi giáo lý này đến với thế giới con người, chúng được truyền bá thông qua Gyalwa Gong-gyu, sự tâm truyền của các đấng chiến thắng, trong ba cõi thần thánh: đầu tiên ở Akanishtha, sau đó ở Tushita, và cuối cùng ở Cõi của 33 vị trời, thế giới của Đế Thích (Indra) và 32 vị vua chư hầu của ngài ngự trên đỉnh núi Sumeru (núi Tu Di).</p>
<p style="text-align: justify;">Akanishtha gồm có hai loại: Akanishtha tuyệt đối, thường được gọi là cung điện của Pháp giới, liên quan đến trạng thái giác ngộ của chư Phật. Ngoài ra còn có Akanishtha biểu tượng, là ngôi nhà thứ năm trong số Năm Nơi chốn Thanh Tịnh và vẫn nằm trong cõi trời Sắc giới, nằm ở bầu trời bên trên dãy Tu Di. Akanishtha biểu tượng là cao nhất trong số mười bảy thế giới trong cõi trời Sắc giới, chỉ dưới ngay cõi trời Vô Sắc. Toàn bộ luân hồi bao gồm ba cõi – Dục giới, Sắc giới và Vô Sắc giới. Bên trên cõi Dục giới, mười bảy thế giới tạo thành cõi Sắc giới. Bên trên chúng là Bốn cõi Vô Sắc giới, thường được gọi là khu vực của sự nhận thức vô cùng. Câu nói “chư Phật tỉnh giác với sự giác ngộ chân thực hoàn hảo ở trong cõi của Akanishtha” liên quan đến Pháp giới, không phải cõi Akanishtha biểu tượng.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau cõi Akanishtha, các giáo Pháp được phổ biến ở cõi Tushita, một cõi trong Cõi Sắc giới, nơi mà đức Di Lặc đang cư ngụ. Sau đó, trong cõi Dục giới bên dưới, các giáo Pháp được phổ biến trong cõi gọi là “Ngôi nhà của 33 vị trời.” Đức Phổ Hiền hóa thân thành đức Kim Cương Trì giảng Pháp trong cung điện của Đế Thích, gọi là “Cung điện của Chiến thắng trọn vẹn”, trên đỉnh núi Tu Di. Đây là vài nét về ba cõi thần thánh.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung, người ta nói rằng 6 400 000 giáo lý Dzogchen đến với thế giới này nhờ có ngài Garab Dorje, bậc Trì Minh Vương đầu tiên của loài người, ngài đã trực tiếp nhận các trao truyền từ đức Phật dưới hình tướng ngài Kim Cương Tát Đỏa. Các giáo lý này lần đầu tiên đến vùng Uddiyana, và sau đó được phổ biến ở Ấn Độ và Tây Tạng. Trước thời kỳ của đức Thích Ca Mâu Ni, các giáo lý Dzogchen được truyền bá trong nơi chúng ta đang ở trong vũ trụ bởi các vị Phật khác được biết đến là 12 vị thầy Dzogchen. Đức Thích Ca Mâu Ni thường được xếp là vị hướng đạo thứ tư trong Đại Kiếp Xuất sắc này, với một nghìn vị Phật toàn giác sẽ đến với thế giới. Mặc dù trong ngữ cảnh này, ngài được biết đến là vị thứ tư, nhưng đức Thích Ca là vị thứ 12 trong các vị thầy Dzogchen.</p>
<p style="text-align: justify;">Không có giáo lý Dzogchen nào xuất hiện mà không có sự hiện hữu của một vị Phật trên thế giới này, bởi vậy chúng ta coi ngài Thích Ca là một trong các vị thầy chính mà nhờ đó giáo Pháp được trao truyền. Thực sự, ngài đã trao các giáo lý Dzogchen, mặc dù không theo cách thông thường. Các bài giảng bình thường của ngài đơn giản giành cho những người có nghiệp lực phù hợp với giáo lý của Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát. Không phải là họ không được phép nhận các giáo lý Dzogchen; nghiệp lực của họ làm cho họ nhận được các giáo lý phù hợp. Đức Phật đã trao truyền các giáo lý Dzogchen, cũng như các chỉ dẫn Kim Cương thừa khác, bằng cách đầu tiên thị hiện một mạn đà la của vị bổn tôn và sau đó phổ biến các giáo lý Mật thừa cho đoàn tùy tùng trong sự sắp đặt đó. Tuy nhiên, điều này không nằm trong khả năng quan sát của một người bình thường.</p>
<p style="text-align: justify;">Các giáo lý Dzogchen được giấu kín bằng ba loại bí mật: “bí mật nguyên sơ” nghĩa là tự chúng là bí mật; “bí mật ẩn giấu” nghĩa là các giáo lý không lộ ra cho mọi người; và “bí mật che đậy” nghĩa là chúng được giữ kín một cách có chủ đích. Mọi vị Phật khác cũng dạy Dzogchen, nhưng không rộng mở như dưới thời đại của đức Thích Ca Mâu Ni. Trong suốt giai đoạn này, thậm chí từ “Dzogchen” cũng trở nên rất nổi tiếng, và có thể được nghe thấy như khi cơn gió bay đi khắp nơi. Mặc dù sự phổ biến này, tự các giáo lý, chỉ dẫn cốt tủy được gắn con tem của sự bí mật.</p>
<p style="text-align: justify;">Thông qua trí tuệ hoàn hảo, Đức Thích Ca Mâu Ni luôn giảng dạy sau khi đã cẩn thận quán xét căn cơ của chúng sinh. Nói cách khác, ngài không giảng dạy vượt quá khả năng của họ. Ngài cũng làm cho những giáo lý trở nên thích hợp với người nghe. Vì thế, chúng ta có thể nói rằng những người nghe những giáo lý của ngài chỉ hấp thụ được cái mà khả năng họ có thể hiểu. Sau đó, khi mà họ lặp lại những điều mà ngài đã giảng dạy, sự thuật lại của họ là tương xứng với những điều họ nhận thấy trong các kinh nghiệm cá nhân. Nhưng các giáo lý không chỉ hạn chế trong các kinh nghiệm cá nhận của họ, người mà trong các bản văn lịch sử ghi lại là các bậc Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát. Các giáo lý mà họ trải nghiệm nằm trong các bản khác nhau của Tam Tạng Kinh điển, bao gồm Kinh, Luật và Luận. Lý do mà đức Phật không giảng dạy cho các vị Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát các giáo lý sâu hơn là bởi chúng sẽ không phù hợp với khả năng lĩnh hội của các ngài. Điều mà họ nhìn nhận được gọi là hệ thống Kinh điển phổ thông. Bên cạnh việc trao truyền các kinh điển phổ thông này, đức Thích Ca Mâu Ni cũng giảng dạy dưới ở nhiều địa điểm khác nhau trong khắp vũ trụ. Thị hiện dưới hình tướng của một vị bổn tôn ở trung tâm trong vô số các mạn đà la, ngài giảng dạy các mật điển. Theo cách này, chúng ta nên hiểu rằng chính đức Thích Ca, xuất hiện dưới nhiều hình tướng khác nhau, đã đóng vai trò quan trọng trong việc trao truyền các giáo lý Kim Cương thừa. Điều này không phải theo cách thông thường, mà rất kỳ diệu. Bởi vậy, khi chúng ta nghe rằng khía cạnh Dzogchen của Kim Cường thừa được trao truyền thông qua đức Garab Dorje, ta nên hiểu nó thực sự đến từ đức Thích Ca trong hình tướng ngài Kim Cương Tát Đỏa. Từ đó, nó tiếp tục được trao truyền qua các vị đạo sư khác – đầu tiên qua ngài Garab Dorje, sau đó qua các vị đạo sư Ấn Độ khác nhau và cuối cùng qua đức Liên Hoa Sinh và đức Vimalamitra.</p>
<p style="text-align: justify;">Vị thầy tổ của chúng ta, đức Thích Ca Mâu Ni, đã chỉ định ngài Liên Hoa Sinh làm vị đại diện chính yếu của ngài để giảng dạy Kim Cương thừa. Ngài nói rằng Liên Hoa Sinh là hóa thân về thân của đức Vô Lượng Quang, hóa thân về Khẩu của đức Quan Âm, và hóa thân về tâm của chính ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Liên Hoa Sinh đến với thế giới mà không cần cha hay mẹ, ngài xuất hiện trong một đóa sen nở. Ngài sống ở Ấn Độ trong hơn một ngàn năm và ở Tây Tạng trong 55 năm trước khi ngài từ bỏ thế giới này ở một ngọn đèo tên là Gungtang, Đồng Bằng trên trời, ở biên giới Nepal – Tây Tạng. Bốn vị Dakini đã đến hỗ trợ cho con ngựa của ngài, và rước ngài đến Núi Huy Hoàng màu đồng đỏ, một cõi tịnh độ.</p>
<p style="text-align: justify;">Kể từ khi ngài rời Tây Tạng, ngài liên tục gửi đến các vị đại diện cho ngài. Họ được gọi là các terton, hay những người phát lộ kho báu, và là hóa thân của 25 vị đệ tử chính của ngài. Ngày nay, chúng ta nói về các vị đạo sư này trong rất nhiều hóa thân khác nhau là 108 vị đại terton. Trong nhiều thế kỷ, các ngài xuất hiện và phát lộ các kho báu terma mà đức Liên Hoa Sinh đã chôn giấu trên khắp Tây Tạng vì lợi ích của các thế hệ tương lai. Các terma này được phát hiện trong rất nhiều hình tướng khác nhau như là kinh văn, chỉ dẫn, các chất linh thánh, các viên đá quý, các vật linh thiêng và những thứ tương tự thế.</p>
<p style="text-align: justify;">Rất nhiều trong các vị terton này phát lộ kho báu mà đức Liên Hoa Sinh đã chôn giấu theo cách cực kỳ ấn tượng mà thậm chí những người luôn nghi ngờ cũng buộc phải thừa nhận giá trị của các terma. Đôi khi, một vị terton sẽ đào đá cứng lên trước sự chứng kiến của một đám đông 400 hay 500 năm người và phát lộ thứ được cất giữ bên trong. Bằng cách phô diễn các thần thông và cho phép mọi người chứng kiến tận mắt sự phát lộ, các ngài đã hoàn toàn xua tan những hoài nghi. Thông qua các hoạt động không ngừng nghỉ của đức Liên Hoa Sinh, các vị terton như thế đã tiếp tục thị hiện cho đến tận ngày nay. Vì thế, các giáo lý terma này đến trực tiếp từ đức Liên Hoa Sinh, và được phát lộ theo một cách trực tiếp không thể phủ nhận. Đó không phải chỉ là những truyền thuyết từ xa xưa: thậm chí cho đến gần đây, các vị đại terton vẫn thị hiện những thần thông phi thường như là đi xuyên qua những thứ rất cứng hay bay trên trời.</p>
<p style="text-align: justify;">Các giáo lý Kim Cương thừa, đặc biệt là giáo lý Dzogchen, bao gồm mười bảy bộ Mật điển, được đem đến Tây Tạng và truyền bá bởi đức Liên Hoa Sinh và đức Vimalamitra. Trong khi các giáo lý nào được phổ biến ở Ấn Độ bởi rất nhiều các vị đạo sư khác, sự trao truyền của chúng ở Tây Tạng chủ yếu bởi lòng từ bi của đức Liên Hoa Sinh và đức Vimalamitra. Rất nhiều thế kỷ trước, khi ngài Atisha đến Tây Tạng, ngài đến thăm thư viện vĩ đại của Samye và đã rất ngạc nhiên. Ngài nói rằng, “Những kho báu này phải được mang đến từ cõi của các vị Dakini! Ta chưa từng nghe rằng có nhiều Mật điển đến vậy xuất hiện ở bất cứ đâu trên đất Ấn Độ.” Ngài công nhận rằng Kim Cương thừa ở Tây Tạng phát triển mãnh mẽ hơn so với ở Ấn Độ.</p>
<p style="text-align: justify;">Kể từ khi các giáo lý Phật Đà được đưa đến Tây Tạng cho đến tận ngày hôm nay, sự phát lộ vẫn diễn ra không ngừng dưới dạng các trao truyền terma mới. Trong số các terma nổi tiếng phải kể đến: Nyingtig Yabshi, Bốn nhánh của Cốt tủy tinh túy của ngài Longchenpa; Tawa Long-yang, Sự mở rộng của Tri kiến của ngài Dorje Lingpa; Konchok Chidu, Hiện thân của Tam Bảo phát lộ bởi ngài Jatson Nyingpo; và Gongpa Sangtal, Sự chứng ngộ vô chướng ngại của ngài Phổ Hiền được tìm thấy bởi đức Rigdzin Godem. Ngoài ra còn vô số terma khác nữa. Hơn một trăm năm trước, ngài Jamyang Khyentse Wangpo phát lộ Chetsun Nyingtig, Cốt tủy tinh túy của Chetsun, trong khi ngài Chokgyur Lingpa tìm thấy Kunzang Nyingtig, Cốt tủy tinh túy của đức Phổ Hiền. Vì thế, các dòng truyền thừa Dzogchen liên tục được làm mới bằng sự tìm thấy các terma mới.</p>
<p style="text-align: justify;">Người ta có thể hỏi, vậy mục đích của việc chồng chất các kinh văn Dzogchen là gì? Có một điểm rất quan trọng liên quan ở đây: đó là sự thanh tịnh của trao truyền. Khi các giáo lý được trao truyền xuống từ thầy sang trò, hoàn toàn có thể có một vài sự ô nhiễm, hay hư hỏng của samaya giới có thể dẫn đến sự suy giảm lực gia trì. Để giải quyết vấn đề này, đức Liên Hoa Sinh với trí tuệ thiện xảo và lòng từ bi vô bờ đã cho chúng ta những kho báu tươi mới được ẩn giấu. Không có gì uyên thâm hơn Ba phần của Dzogchen: Phần về Tâm, Phần về Hư Không và Phần về các Chỉ Dẫn. Khoảng cách từ vị Phật đến hành giả là rất ngắn bởi vì sự phát lộ là mới và trực tiếp; không có sự hư hỏng nào trong dòng trao truyền. Tuy nhiên sự thanh tịnh hay không không nằm ở trong chính giáo lý, mà nằm ở trong khoảng cách của dòng trao truyền. Đó là lý do tại sao mà có một sự làm mới liên tục các trao truyền Dzogchen như vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Các vị đệ tử chính của đức Liên Hoa Sinh và đức Vimalamitra được biết đến là “Vua và 25 đệ tử”. Tất cả đều đạt đến thân cầu vồng, sự tan hòa của cơ thể lúc chết thành ánh sáng cầu vồng. Những hành giả như vậy chỉ còn để lại tóc và móng tay. Sau đây, tôi sẽ kể một vài câu chuyện về những người đã chứng thân cầu vồng.</p>
<p style="text-align: justify;">Kể từ những hành giả này trở đi, rất nhiều, rất nhiều các thế hệ, như một dòng sông không ngừng chảy, rất nhiều các đệ tử cũng đã chứng thân cầu vồng. Trong tam thân – Pháp thân, Báo thân và Hóa thân – Báo thân thị hiện có thể nhìn thấy được dưới dạng cầu vồng. Bởi vậy, đạt được thân cầu vồng trong đời này nghĩa là đã trực tiếp tỉnh thức trong trạng thái giác ngộ của báo thân. Một đệ tử của đại dịch giả Tây Tạng Vairochana tên là Pang Mipham Gonpo đã chứng thân cầu vồng. Đệ tử của ngài chứng thân cầu vồng, và trong bảy thế hệ sau đó, các đệ tử đều chứng thân cầu vồng. Ở tỉnh Kham của Tây Tạng, có bốn tu viện lớn của dòng Nyingma: Kathok, Palyul, Shechen và Dzogchen. Ở tu viện Kathok, tám thế hệ các hành giả đã chứng thân cầu vồng, bắt đầu từ vị sáng lập và tiếp tục qua bảy thế hệ tiếp theo. Có một sự xuất hiện liên tục các hành giả từ bỏ thế giới này trong thân cầu vồng cho đến tận ngày hôm nay.</p>
<p style="text-align: justify;">Thêm một vài ví dụ nữa: khoảng 100 năm trước, vào thời đại của ngài Jamyang Khyentse Wangpo, có một vị đạo sư vĩ đại tên là Nyag-la Pema Dudul đã đạt đến giác ngộ với sự chứng thân cầu vồng. Điều này được chứng kiến bởi 500 đệ tử của ngài. Sau đó, ngay trước khi người Trung Quốc xâm chiếm Tây Tạng, có một vị ni sống ở tỉnh Tsang đã rời bỏ thế giới trong thân cầu vồng. Cá nhân tôi nghe được điều này từ một người có mặt lúc đó, và tôi sẽ kể về câu chuyện này trong các phần sau của cuốn sách. Thậm chí sau khi Trung Quốc chiếm đóng, tôi vẫn nghe rằng ở Golok có ba hay bốn người đã rời bỏ thế giới trong thân cầu vồng. Bởi vậy, điều này không phải chuyện cổ tích trong quá khứ, mà là điều gì đó vẫn tiếp tục cho đến ngày hôm nay.</p>
<p><strong>Tulku Urgyen Rinpoche</strong></p>
<p><em>Việt dịch: Nhóm Thuận Duyên</em></p>
<p><em>Trích: Bức tranh cầu vòng </em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>[1] Năm sự suy đồi gồm có: (1) sự suy đồi về tri kiến bởi sự giảm sút những phẩm chất của sự từ bỏ, nghĩa là có tri kiến sai lầm [tà kiến]; (2) sự suy đồi về các cảm xúc gây phiền hà bởi sự suy giảm những phẩm chất của một người chủ nhà, nghĩa là tâm tầm thường mà trong đó sự tầm thường liên quan đến các cảm xúc gây phiền hà mạnh mẽ và dài lâu; (3) sự suy đồi về thời gian bởi sự giảm những sự thích thú, nghĩa là kỷ nguyên suy giảm của Xung Đột; (4) sự suy giảm về tuổi thọ bởi sự giảm trong những điều duy trì sự sống, nghĩa là tuổi thọ giảm, cuối cùng chỉ còn độ dài là mười năm; (5) sự suy đồi của chúng hữu tình, nghĩa là sự giảm số chúng sinh do hình dạng xấu và kích thước kém hơn, sự giảm về công đức bởi những năng lực và suy hoàng kém hơn, sự giảm của tâm do sự kém sắc bén của trí tuệ, khả năng nhớ và chăm chỉ. Vì thế, sự suy đồi của chúng hữu tình mà ở đó ba loại suy giảm đến cùng nhau, nghĩa là tâm họ rất khó để điều phục – trích trong cuốn “Ánh sáng Trí tuệ” của ngài Jokyab Rinpoche.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/vai-net-ve-phat-giao-tay-tang/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Cuộc đời Đạo sư Kunkhyen Longchen Rabjam (Longchenpa)</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/cuoc-doi-dao-su-kunkhyen-longchen-rabjam-longchenpa/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/cuoc-doi-dao-su-kunkhyen-longchen-rabjam-longchenpa/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 12 Feb 2017 15:02:04 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền Thống Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7244</guid>
		<description><![CDATA[Trong những đạo sư Dzogpa Chenpo (Đại Toàn Thiện) từ thời Guru Padmasambhava và Vimalamitra (thế kỷ thứ 9), Kun-khyen Longchen Rabjam (1308-1363) là người lỗi lạc nhất, thiền giả, triết gia và tác giả vĩ đại nhất. Ngài sinh trong một làng tên là Todtrong, trong thung lũng Tra miền Yoru – một trong hai miền vùng trung Tây&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/cuoc-doi-dao-su-kunkhyen-longchen-rabjam-longchenpa/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong những đạo sư Dzogpa Chenpo (Đại Toàn Thiện) từ thời Guru Padmasambhava và Vimalamitra (thế kỷ thứ 9), Kun-khyen Longchen Rabjam (1308-1363) là người lỗi lạc nhất, thiền giả, triết gia và tác giả vĩ đại nhất. Ngài sinh trong một làng tên là Todtrong, trong thung lũng Tra miền Yoru – một trong hai miền vùng trung Tây Tạng, Yoru và Wuru – vào ngày mười tháng mười một năm con Khỉ Thổ. Cha ngài, đạo sư Tensung là con một nhà hiền triết Nyingma tên là Lhasung thuộc bộ tộc Rog. Lhasung sống đến một trăm lẻ năm tuổi, là cháu đời thứ hai mươi lăm của Gyalwa Chog-yang, một trong hai mươi lăm đệ tử chánh của Guru Padmasambhava. Mẹ của Longchen Rabjam là Sodnamgyen của bộ tộc Drom.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những điều mầu nhiệm đi theo với sự sanh ra của ngài. Khi ngài ở trong thai, mẹ ngài mộng thấy hai mặt trời trên đầu một con sư tử khổng lồ chiếu sáng toàn thế giới và tan vào bà. Lúc ngài được sinh ra nữ hộ pháp Namtru Remati xuất hiện trước mẹ ngài trong hình thức một người đàn bà đen hoa một cây gươm. Ôm đứa bé trong tay, nữ hộ pháp nói : “Ta sẽ bảo vệ nó.” Bà giao lại cho mẹ ngài ẵm và biến mất. Một ngày nọ khi mẹ ngài đang làm việc ngoài đồng, một cơn mưa đá rơi xuống và bà chạy về nhà, quên đứa bé đang ở ngoài đồng. Khi nhớ ra, bà đi tìm nó, nhưng đứa bé đã biến mất. Bà bắt đầu kêu khóc và người đàn bà đen lại xuất hiện, với đứa bé trong tay và giao nó lại cho bà mẹ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Theo nhiều lời tiên tri, một trong những đời trước của Longchen Rabjam là Công Chúa Premasal, con của Vua Thrisong Deutsen (790-858). Khi công chúa chết, Guru Padmasambhava đã giao phó cho công chúa sự trao truyền Nyingthig, những giáo lý Tinh Túy Sâu Xa Nhất của Dzogchen.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong số những cuộc đời của Công Chúa Premasal, sự tái sanh trực tiếp trước Longchen Rabjam là Pema Ledreltsal (1291?-1319?), người khám phá những giáo lý Nyingthig. Chúng được Guru Padmasambhava giao phó cho Công Chúa Premasal như là một Terma (Kho tàng Pháp được khám phá) và sau được biết với tên là Khadro Nyingthig.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ thuở nhỏ ngài đã có những phẩm tính cao cả của một Bồ tát, như là niềm tin, lòng bi và trí thông minh phi thường. Khi lên năm, ngài hoàn thiện những thiện xảo về đọc và viết. Khi bảy tuổi, cha ngài ban cho ngài những quán đảnh, giáo huấn và tu hành những nghi thức và thiền định của các tantra và Terma của Nyingma, như là Kagyed Desheg Dupa. Ngài cũng được dạy y học và chiêm tinh học. Khi lên tám tuổi, mẹ ngài mất.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài nhớ cả hai bản văn “Tám Ngàn” và “Hai Mươi (hay hai mươi lăm) Ngàn Bài Kệ Bát Nhã Ba La Mật” sau khi đã đọc chúng một trăm lần. Khi mười một tuổi, cha ngài mất. Năm mười hai tuổi ngài xuất gia tại chùa Samye với Khenpo Samdrup Rinchen và Lobpon Lha Kunga, và được ban pháp danh Tshulthrim Lodro. Ngài thông thạo Vinaya (Luật) và dạy chúng vào năm mười bốn tuổi. Năm mười sáu tuổi ngài nhận nhiều giáo lý của Tantra Mới (phái Tân dịch) từ Trashi Rinchen và những vị khác. Từ mười chín tuổi ngài nghiên cứu theo lối học giả những bản văn gồm bảy luận về luận lý học của Dharmakirti, năm bản văn của Maitrinatha/Asangha, và nhiều bản văn Trung Quán và Bát Nhã ở đại học tu viện Sangphu Neuthog trong sáu năm với nhiều đại giáo sư trong đó có Lobpon Tsengongpa, vị nắm giữ chức trụ trì đời thứ mười lăm, và Latrenpa Chopal Gyaltshen, vị nắm giữ chức trụ trì đời thứ mười sáu của phái Lingtod và Lingmed.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sangphu được xây dựng năm 1073 bởi Ngog Legpa’i Sherab, một trong ba đệ tử chính của Atisha. Nó là trung tâm của Ngog Loden Sherab (1059-1109), dịch giả nổi tiếng của thời kỳ “Hoằng Pháp Về Sau.” Trong hàng thế kỷ nó là một trong những cơ sở học viện quan trọng nhất ở Tây Tạng, nhưng thời gian gần đây những sự nghiên cứu nhờ đó nó được nổi tiếng đã bị gián đoạn trừ ở trại mùa hè của những học giả, và những học trò phái Gelug. Khi Khyentse Wangpo (1820-1892) thăm Sangphu vào khoảng 1840, ngài thấy nó đã trở thành một cái làng của người đời với vài đồ vật có giá trị tôn giáo. Sangphu và Samye là hai cơ sở tu viện, thêm nơi ẩn cư của Đạo Sư Kumazaraja, là những nơi Long-chen Rabjam chủ yếu nhận được sự giáo dục và tu hành của mình. Với dịch giả Panglo Lodro Tenpa (1276-?), ngài học tiếng Sanskrit, thơ ca, luận văn, kịch, năm kinh chính và Abhidharma. Ngài có những thị kiến thanh tịnh về nhiều hóa thần bổn tôn, như Manjusri, Sarasvati, Vajravarahi, và Tara, như một kết quả của sự thiền định về những Sadhana của các vị. Ngài chu du một vòng học hỏi hàn lâm ở nhiều cơ sở nghiên cứu khác nhau, và vì mức độ học vấn của ngài, ngài trở nên nổi tiếng với những danh hiệu danh dự, Samye Lungmangpa (Vị từ chùa Samye, Người Làm Cho Nhiều Kinh Điển Được Tôn Cao) và Longchen Rabjam (Cái Sâu Thẳm và Vô Biên), hay Tiến sĩ về Siêu Hình học Sâu Thẳm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài lang thang nhiều nơi và học với nhiều học giả nổi tiếng. Ngài nhận những giáo lý của những Kinh, Mayajala và Cittavarga, và ba phần chính của những tantra Cổ từ đạo sư Zhonu Dondrub của (tu viện ?) Danphag, Nyonthingmawa Sangye Trag-od và những vị khác. Từ khoảng hai mươi đạo sư, gồm Sangye Tragpa của Nyothing, Zhonu Gyalpo, Zhonu Dorje, Karmapa Ranchung Dorje (1284-1334), Sonam Gyaltshen (1312-1375) phái Sakya và những vị khác, ngài nhận tất cả những giáo lý và trao truyền của những tantra cả cổ và tân của nhiều dòng đang được dạy ở Tây Tạng vào thời bấy giờ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài cảm thấy không thích tính tình thô lỗ và ghen tỵ của một số nhà sư từ tỉnh Kham ở Sangphu, học viện chính của ngài, và bỏ đi. Trong tháng thứ năm của tám tháng nhập thất trong tối ở một hang ở Gyama’i Chogla, ngài có một thị kiến vào lúc bình minh. Ngài đang đứng trên bờ cát của một con sông, từ đó ngài có thể thấy vài ngọn đồi. Ngài nghe tiếng hát đi cùng với âm nhạc. Nhìn về hướng có âm thanh, ngài thấy một phụ nữ mười sáu tuổi mặc đồ thêu kim tuyến, trang sức bằng vàng và ngọc lam và mang một mạng vàng che mặt. Bà cỡi một con ngựa có yên da và chuông. Ngài cầm lấy phần chót của áo bà và cầu xin : “Ôi, Đức Bà Cao Quý (tức là Tara), xin từ bi chấp nhận con.” Bà đặt vương miện bằng ngọc quý lên đầu ngài và nói : “Từ giờ trở đi, ta sẽ luôn luôn cho con những ban phước và những thần lực.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào lúc đó thân tâm ngài chìm trong một trạng thái thiền lạc phúc, sáng tỏ và thoát khỏi những ý niệm. “Tôi đã không tỉnh dậy trong một thời gian lâu !” như ngài nói. Dù ngài thức dậy vào bình minh, ngài đã ở trong cùng trạng thái ấy trong suốt ba ngày (theo bản TTD 9b/1 : một tháng). Nó thiết lập nhân duyên cho sự gặp gỡ của ngài với những giáo lý Nyingthig. Sau cuộc nhập thất ngài ban quán đảnh Vairocana cho khoảng ba mươi người đàn ông và đàn bà. Có thể đó là sự truyền pháp đầu tiên của ngài. Sau đó ngài đi đến tu viện Samye.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm hai mươi bảy tuổi, như những thần bổn tôn của ngài đã tiên tri, ngài đi gặp Rigdzin Kumaradza (1266-1343), vị giữ sự truyền thừa vĩ đại của Nyingthig tổng quát, và đặc biệt những giáo lý Nyingthig được truyền ở Tây Tạng bởi Vimalamitra, có tên là Sangwa Nyingthig hay Vima Nyingthig.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đạo sư sống ở Yartod Kyam với các đệ tử trong một trại có khoảng bảy mươi chỗ ở. Đạo sư vui vẻ tiếp đãi Longchen Rabjam và gợi ý cho ngài với lời tiên tri rằng ngài sẽ trở thành người giữ dòng truyền Nyingthig. Đạo sư nói : “Hồi đêm ta mộng thấy một con chim kỳ diệu, một con chim thiêng, với một đàn một ngàn chim. Chúng đến và đem những bản văn của ta đi khắp mọi hướng. Đó là một dấu hiệu rằng con sẽ trở thành một người giữ sự truyền thừa những giáo lý của ta. Ta sẽ cho con những giáo lý trọn vẹn.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam rất vui mừng bởi sự tiếp đón và những lời của đạo sư. Nhưng ngài không có tài sản vật chất nào để đóng góp vào cho cộng đồng, mà đây là một đòi hỏi để được cho ở. Ngài buồn bã, nghĩ rằng, “Ta sẽ là người độc nhất phải từ bỏ Lama bởi vì không có một sự đóng góp theo pháp. Ta phải rời bỏ thung lũng này trong đêm trước lúc mặt trời lên, vì sẽ nhục nhã khi bỏ đi lúc ban ngày trước mắt mọi người.” Đạo sư đọc tư tưởng của Longchen Rabjam bằng tha tâm thông.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lúc gần sáng khi Longchen Rabjam thức dậy, có hai người đến từ đạo sư, nói rằng, “Bậc Pháp Vương muốn ông đến gặp ngài.” Đạo sư ban trà cho ngài và nói với những người trông nom cộng đồng : “Ta trả sự đóng góp theo pháp đối với cộng đồng nhân danh Geshe Samyepa (Longchen Rabjam). Ông ta sẽ là người tốt nhất trong tất cả các đệ tử của ta.” Trong năm đó, ngài nhận những quán đảnh truyền pháp và giáo huấn của giáo lý Nyingthig của dòng Vimalamitra. Năm sau, thêm vào những truyền pháp và giáo huấn khác, ngài nhận những trao truyền tất cả những tantra và những giáo huấn khác của ba phạm trù Dzogpa Chenpo (Đại Toàn Thiện).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi học với Rigdzin Kumaradza, Longchen Rabjam sống trong những hoàn cảnh nghèo khổ khắc nghiệt. Trong mùa đông cực kỳ lạnh lẽo, ngài chỉ có một cái bao rách dùng như nệm và mền. Trong hai tháng ngài sống bằng ba lít bột và hai mươi mốt viên thuốc Ngulchu cỡ bằng hạt đậu. Để chiến đấu chống lại tham luyến, Lama dạy phải dời trại từ vùng đất không người này sang vùng khác. Trong chỉ một mùa xuân, họ dời trại chín lần, và điều ấy gây khó nhọc lớn lao cho Longchen Rabjam. Khi ngài vừa ở yên, thì đến lúc phải dời trại. Chính trong những hoàn cảnh như vậy mà ngài đã nhận toàn bộ giáo lý sâu thẳm nhất của Nyingthig từ đạo sư, như nước đổ từ một bình chứa vào một cái khác. Và bằng cách thực hành ngày đêm, ngài đã thực hiện sự chứng ngộ như nhau với thầy mình. Ngài được trao quyền là người nối pháp của đạo sư và là người giữ dòng truyền thừa cho những đệ tử tương lai.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như ngài hứa với vị Lama của mình, ngài thực hành những giáo lý của đạo sư trong nhiều chỗ thiêng liêng khác nhau trong bảy năm nhập thất ở Chimphu của Samye. Ngài thấy những thị kiến thanh tịnh về những biểu lộ An bình và Hung nộ của Guru Padmasambhava, Vajrasattva, Tara và những Hóa Thần Bổn Tôn Gốc. Những hộ pháp nguyện phụng sự ngài và đáp ứng những mong muốn của ngài. Với những hóa thần bổn tôn của Tám Đại Mạn Đà La, ngài có thể giao tiếp như giữa người với người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thỉnh thoảng ngài thăm viếng Rigdzin Kumaradza và nhận những soi sáng về những giáo lý và về sự tu hành của ngài. Ngài làm hài lòng thầy mình bằng những đồ cúng dường là sự thực hành Pháp ; những chứng ngộ về cái thấy tiến bộ trong thiền định, và trí huệ biết tất cả những chủ đề có thể biết. Ngài cũng cúng dường mọi tài sản vật chất của ngài bảy lần. Ngài tự tả những chứng đắc của ngài trong Lịch sử của Lama Yangtig :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không còn nữa sự tham luyến sanh tử trong tôi. Tôi đã giải thoát khỏi chuỗi những hy vọng và lo sợ. Tôi luôn luôn ở trong cái thấy và sự tham thiền Đại Toàn Thiện Tuyệt đối.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi ngài cầu nguyện và cúng dường cho tượng Chowo ở Lhasa, ngài thấy một ánh sáng vọt ra từ trán của bức tượng và tan vào trong trán ngài. Việc đó khiến cho ngài nhớ lại những đời trước của ngài là một học giả ở núi Linh Thứu ở Ấn Độ và cũng ở xứ Li, và hiểu biết kinh điển của ngài từ những thời đó thức dậy. Nó làm rộng thêm cái học của ngài hơn nữa. Năm ba mươi mốt tuổi, ngài ban những quán đảnh và giáo huấn Nyingthig cho một số đệ tử lần đầu tiên ở Nyiphu Shugseb.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bấy giờ đệ tử Thiền giả Odzer Gocha cúng dường ngài những bản văn của Khadro Nyingthig mà ông tìm ra sau một cuộc tìm kiếm rất vất vả. Cùng lúc đó, nữ hộ pháp Shenpa Sog-drubna cũng đưa cho ngài một bản in của bản văn đó, nó có ý nghĩa quan trọng. Khadro Nyingthig là những giáo lý Nyingthig được truyền ở Tây Tạng bởi Guru Padmasambhava cho Lhacham Pemasal (thế kỷ 9) và rồi được cất dấu như một Terma và được khám phá từ một ngọn núi ở thung lũng Danglung Thramo bởi Pema Ledreltsal, tái sanh mới vừa đời trước của Longchen Rabjam.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm sau, ba mươi hai tuổi, ngài ban cho tám đệ tử may mắn những quán đảnh truyền pháp và giáo lý giữa những biểu lộ, thị kiến và kinh nghiệm kỳ diệu ở Chimphu Rimochen. Nữ hộ pháp Ekadzati cho những tiên tri qua một đệ tử nữ. Vừa nhảy múa, Longchen Rabjam hát bài ca kim cương :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hỡi những thiền giả, hoan hỷ và hạnh phúc biết bao!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đêm nay, trong cõi Phật không gì sánh,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong chính thân thể mỗi người, cung điện của những thần Bình an và Hung nộ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mạn đà la của chư Phật, tánh sáng tỏ và tánh không,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">đã khai triển.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phật không ở bên ngoài mà hiện hữu ở bên trong….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đấy là nhờ lòng tốt của Lama.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lama không ở ngoài mà trụ ở bên trong,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lama của sự thanh tịnh bổn nguyên và hiện diện tự nhiên</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trụ trong trạng thái của sáng tỏ và tánh không,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">thoát khỏi mọi nắm bắt….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hỡi những người tham thiền ! Tâm các vị có trụ một mình ?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ có giữ những tư tưởng của các người trong chính các người, mà hãy để cho chúng đi bất cứ nơi đâu theo ý chúng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vì tâm là tánh không, dù nó đi hay ở,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bất cứ cái gì khởi lên là trò chơi của trí huệ….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Do biết tiến trình của năm ánh sáng bên trong,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những ánh sáng bên ngoài của mặt trời mặt trăng khởi lên liên tục,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Do kết thúc những tư tưởng bên trong ngay tại gốc của chúng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những hoàn cảnh tốt xấu bên ngoài khởi lên như đại lạc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Do tăng cường những hạt tinh túy bên trong,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những đám mây Dakini bên ngoài luôn luôn nhóm tụ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Do giải thoát những nút thắt bên trong của những kinh mạch ánh sáng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những nút thắt bên ngoài của người nắm bắt và cái được nắm bắt được giải thoát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôi đi đến trạng thái của sáng tỏ và đại lạc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hỡi các anh chị em kim cương, đây là hạnh phúc và hoan hỷ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong những thị kiến Guru Padmasambhava ban cho sự trao truyền Khadro Nyingthig. Ngài ban cho Longchen Rabjam pháp danh Trimed Odzer và Yeshe Tshogyal ban cho pháp danh Dorje Zijid.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Chugpotrag, gần D’oi Choten của Zurkhardo, sau khi cử hành một lễ cúng Tshog, ngài khai thị những giáo lý Khadro Nyingthig. Đêm đó, ngài kinh nghiệm trạng thái thiền sáng tỏ an trụ trong trạng thái thanh tịnh bổn nguyên, Pháp thân, biểu lộ năng lực của Pháp thân là Báo thân, và phóng sự sáng tỏ của nó ra bên ngoài, tức là Hóa thân, bấy giờ ngài khám phá ra và ghi lại Khadro Yangtig như là Kho Tàng Pháp từ Tâm (dGongs-gTer), những bản văn bí truyền phụ vào Khadro Nyingthig.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi đang viết Khadro Yangtig, ngài có những thị kiến về Guru Padmasambhava, Yeshe Tshogyal và Yudronma. Đặc biệt, Yeshe Tshogyal, phối ngẫu của Guru Padmasambhava đã hiện diện trong bảy ngày, ban cho những nhập môn và sự trao truyền ủy thác từ tâm (gTad-zGya) về những dấu hiệu, ý nghĩa và những thí dụ của Khadro Nyingthjg. Dù ngài khám phá hạt giống của bản văn này ở Chimphu, ngài thực sự ghi lại nó ở Kangri Thodkar, và như thế lời kết từ nói rằng ngài viết nó ở Kangri Thodkar. Dù ngài là hiện thân của Pema Ledreltsal, người khám phá Khadro Nyingthig và ngài cũng nhận những trao truyền từ Guru Pamasambhava và Yeshe Tshogyal ngay trong đời này, ngài đã nhận sự trao truyền từ Sho’i Gyaltse Legpa (1290-1366), đệ tử trực tiếp của Pema Ledreltsal, để đặt một gương mẫu cho những người theo học đời sau về sự quan trọng của việc nhận những trao truyền thích đáng. Có những Kho Tàng Pháp từ Đất dành cho ngài khám phá nhưng ngài từ chối, nói rằng, “Tôi đang mở cánh cửa Kho Tàng Pháp của sự sáng tỏ bên trong, không cần Kho Tàng Pháp từ những vết nứt của núi đá.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi ngài đến Ogyen Dzong Odzer Trinkyi Kyedmo’i Tshal ở Kangri Thodkar (Thành Oddiyana trong Động Mây Sáng Chói tại Núi Đỉnh Tuyết Phủ), và chỗ ẩn tu này trở thành nơi ở chính của ngài. Ở đây ngài khám phá và tạo hầu hết những Terma và tác phẩm nổi tiếng của ngài, gồm khoảng hai trăm bảy mươi luận văn. Nhưng không may, nhiều tác phẩm của ngài đã mất. Longchen Rabjam tả Kangri Thodkar bằng những lời sau đây :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nó nằm ở đông bắc chùa Trashi Gephel của Onkyangdo. Có vẻ quả núi này được trang hoàng bằng một cái bờm tuyết và trắng như màu trăng vào thời trước. Nhưng với thời gian, đỉnh của nó bây giờ trang hoàng với đá và khuôn mặt nó phủ cỏ thuốc và những khe nước sạch. Hương thơm dịu dàng của hoa và cỏ thuốc tỏa ra. Trên phía nam núi, giữa một rừng cây là Ogyen Dzong (Thành Oddyana), hang động của những hiền nhân đã được Guru Padma ban phước, vươn ra như cổ một con công.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Theo yêu cầu của thiền giả Odzer Gocha, ngài viết lại năm mươi lăm luận văn của Khadro Yangtig, những bản văn bổ sung cho Khadro Nyingthig, như những Kho Tàng Pháp từ Tâm. Khi những bản văn được viết lại, bầu trời thường trực đầy những ánh sáng cầu vồng, và những phô bày huyền thật kỳ diệu của những Dakini có thể được mọi người hiện diện nhìn thấy. Longchen Rabjam thấy Vimalamitra trong những thị kiến thanh tịnh và nhận những ban phước, trao truyền và tiên tri. Do Vimalamitra cảm ứng, ngài viết Lama Yangtig trong ba mươi lăm luận văn, như là một bản văn hỗ trợ cho Vima Nyingthig. Ngài cũng viết Zabmo Yangtig, một bình giảng về cả hai Nyingthig. Những đức Phật, bổn tôn, vị thầy và những hộ pháp, cũng như các hóa thần bổn tôn An bình và Hung nộ, những Bổn tôn của Tám Đại Mạn Đà La, Guru Padmasambhava và Vimalamitra xuất hiện đều đặn trước ngài, ban cho những ban phước, và truyền cảm hứng cho ngài viết những bản văn rất mật truyền này. Trong nhiều lúc, những đệ tử của ngài thấy những hộ pháp trong phòng ngài. Ekajati, Vajrasadhu và Rahula thường sửa soạn giấy và mực cho ngài viết.</span></p>
<ol style="text-align: justify;">
<li><b> Dzodchen Dun, Bảy Đại Kho Tàng :</b></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Yidzhin Rinpoche’i Dzod, hai mươi hai chương, và tự bình giảng, Pema Karpo, với những luận văn kết hợp. Một tổng quan về toàn bộ giáo lý Đại thừa Phật giáo, soi sáng những đường lối nghiên cứu, phân tích và tu hành trong Đại thừa và Kim Cương thừa.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Mengag Rinpoche’i Dzod. Một luận văn dùng những bộ khác nhau của sáu bộ phận cấu thành để tổng lược những kinh và tantra Phật giáo, đặc biệt tinh túy của con đường và quả của Đại Toàn Thiện trong tính toàn thể của chúng trong hình thức những giáo huấn đạo đức, triết học và thiền định.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Choying Rinpoche’i Dzod, mười ba chương với tự bình giảng, Lungki Terdzod. Một giải thích những giáo lý sâu xa và rộng lớn về nền tảng, con đường và quả của ba phạm trù chính của Đại Toàn Thiện, gọi là Semde, Longde và Mengagde, đặc biệt là Longde.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Trubtha Dzod trong tám chương. Một giải thích nhiều quan điểm triết học của mọi thừa kinh và tantra Phật giáo.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Thegchog Dzod trong hai mươi lăm chương. Bình giảng ý nghĩa về Mười Bảy Tantra và Một Trăm Mười Chín Luận Văn Giáo Huấn của Mengagde. Nó trình bày một dải rộng giáo lý Phật giáo từ sự biểu lộ của vị thầy tuyệt đối, Ba Thân, đến sự hoàn thành quả cuối cùng tự nhiên thành tựu của thực hành con đường Đại Toàn Thiện, bao gồm Thodgal (Tiếp Cận Trực Tiếp). Có nói bản văn này được viết để đáp ứng cho những nguyện vọng của Rigdzin Kumaradza vào lúc chết của ngài.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Tshigton Dzod trong mười một chương. Một tổng lược của Thegchod Dzod giải thích những điểm quan yếu của thực hành. Nó bắt đầu với một diễn tả cái nền tảng và kết thúc với quả, trạng thái giải thoát tối hậu.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Nelug Dzod trong năm chương với tự bình giảng. Nó giải thích nghĩa tối hậu của tất cả ba phần của Đại Toàn Thiện.</span></li>
<li><b> Ngalso Korsum, Ba Chu Trình về Thư Giãn</b><span style="font-weight: 400;">. Ngalso Korsum gồm bản văn gốc, ba tổng lược, gọi là “vòng hoa”, ba tự bình giảng, gọi là “cỗ xe”, và ba “bình giảng ý nghĩa” hay Những giáo huấn về Thực hành, toàn bộ mười lăm luận văn :</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Semnyid Ngalso, bản văn gốc trong mười ba chương, tổng lược của nó, Kunda’i Thengwa (đã mất) ; một tự bình giảng về bản văn gốc, Ngeton Shingta Chenmo, một tổng lược của tự bình giảng, Pema Karpo’i Threngwa, và giáo huấn về thực hành, Changchub Lamzang. Semnyid Ngalso giải thích mọi giai đoạn của con đường, sự bắt đầu, chặng giữa và kết thúc của những giáo lý kinh và tantra.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Gyuma Ngalso, bản văn gốc trong tám chương ; tổng lược của nó, Mandara’i Phrengwa ; tự bình giảng, Shingta Zangpo ; và giáo huấn về thực hành, Yidzhin Norbu. Bản văn này là một giáo huấn về đoạn dứt những trói buộc với những hiện hữu hiện tượng bằng những giáo lý về tám thí dụ như huyễn.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Samten Ngalso, bản văn gốc trong ba chương ; tổng lược của nó, Pundarik’i Threngwa, tự bình giảng của nó, Shingta Namdag ; và giáo huấn về thực hành, Nyingpo Chuddu. Bản văn là một giáo huấn về con đường sâu xa của nhập định, trí huệ tự nhiên tự hữu. có hai bản văn phụ thêm, một tổng lược của Ngalso Korsum có tựa đề Legshed Gyalso và một bản mục lục tên là Pema Tongden. Ba tự bình giảng về Ngalso Korsum cũng được biết với tên là Shinga Namsum, Ba Cỗ Xe.</span></li>
<li><b> Rangtrol Korsum, Ba Chu Trình cho Giải Thoát Tự Nhiên.</b><span style="font-weight: 400;"> Chúng là những “bình giảng ý nghĩa” về những giáo huấn phần Semde của Đại Toàn Thiện.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Semnyid Rantrol, Tâm Giải Thoát Tự Nhiên trong ba chương và một bình giảng ý nghĩa hay giáo huấn về thực hành có tựa đề Lamrim Nyingpo (Những bản dịch của hai bản văn này gồm trong sách này).</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Chonyid Rangtrol trong ba chương, và một giáo huấn về thực hành có tựa đề Rinchen Nyingpo.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Nyamnyid Rangtrol trong ba chương, và một giáo huấn về thực hành có tựa đề Yidzhin Nyingpo.</span></li>
<li><b> Yangtig Namsum, Ba Tinh Túy Bên Trong.</b><span style="font-weight: 400;"> Nó chứa đựng những điểm quan yếu của những giáo lý bí truyền Mengagde, cái cao nhất của ba phần của Đại Toàn Thiện. Trong những bản văn này nhấn mạnh đặc biệt vào tu hành Thodgal.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Lama Yangtig hay Yangzab Yidzhin Norbu gồm ba mươi lăm luận văn. Nó cô đọng và giải thích chủ đề bao la của Bốn Bộ Giáo Lý Bí Truyền của Vima Nyingthig và Một Trăm Mười Chín Luận Văn của Giáo Huấn của Mengagde của Đại Toàn Thiện. Bốn Bộ Giáo Lý Bí Truyền là Seryig Chen, Yuyig Chen, Dungyig Chen và Zang-yig Chen với Phrayig Chen.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Khadro Yangtig gồm năm mươi lăm luận văn. Trong đời trước của Longchen Rabjam như là Pema Ledreltsal, ngài có thẩm quyền về những bản văn của Khadro Ningthig. Trong đời này ngài nhận những trao truyền và chứng ngộ những giáo lý Khadro Nyingthig, và viết những bản văn tựa đề Khadro Yangtig về Khadro Nyingthig.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Zabmo Yangtig là bình giảng chi tiết và sâu xa nhất về cả hai Vima Nyingthig và Khadro Nyingthig.</span></li>
<li><b> Munsel Korsum, Ba Chu Trình về Xua Tan Bóng Tối.</b><span style="font-weight: 400;"> Ba bản văn này là những bình giảng về Guhyamayajala-tantra theo những quan điểm của Nyingthig.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Chidon Yidkyi Munsel,</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Dudon Marig Munsel,</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Drelwa Chogchu Munsel.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài đã đạt sự Toàn Thiện của Tánh Giác Bổn Nhiên qua con đường bí mật của Tiếp Cận Trực Tiếp (Thod-rGal), trạng thái toàn thiện tự nhiên của tánh sáng tỏ của Đại Toàn Thiện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm bốn mươi hai tuổi, hợp đúng với một số tiên tri được Vimalamitra ban cho trong một thị kiến thanh tịnh, ngài trùng tu chùa Zha Pema Wangchen ở Drada trong vùng Wuru. Ngôi chùa này được xây vào thế kỷ thứ chín bởi Nyang Tingdzin Zangpo theo lệnh của vua Thrisong Deutsen để bảo vệ khỏi những cuộc xâm lăng của “những ngoại đạo” nước ngoài. Ngài cũng nhận ra chùa này như ngôi chùa đã được tiên tri trong Langri Lungten trong Kajur, “sự hiện diện thiêng liêng của xứ Zhva.” Ngài khám phá đủ vàng để chứa đầy một Gutse (một bình chứa dành cho nghi lễ) ở Samye, và với nó ngài có tiền để trùng tu. Mỗi ngày một cậu bé với bông đeo tai lam ngọc giúp nhóm xây dựng, nhưng đến bữa ăn thì không thấy. Nhóm người làm nghi ngờ và để ý trông chừng nó. Khi họ ngừng công việc họ thấy nó biến mất vào bức tường và họ nói lại với ngài. Ngài bảo đó là Vajrasadhu đến giúp họ. Khi họ đào, nhiều ma quỷ và lực lượng xấu thoát lên mặt đất và bay xung quanh với một cơn mưa đất đá. Mọi người chạy thục mạng. Với năng lực thiền định, ngài nhảy múa với những cử chỉ hung nộ, thốt lên những thần chú bằng tiếng Sanskrit. Ngài tập trung chúng trở lại và chôn chúng trước cặp mắt những người hiện diện. Lúc đó nhiều người thấy ngài trong hình tướng Guru Padmasambhava Hung Nộ. Một lần khi những người làm không thể dựng đứng hai trụ đá, ngài rung động áo dài và thốt lên những lời-của-sự thật (tạ ơn), và tức khắc họ có thể dựng chúng. Vào ngày lễ hoàn thành, nhiều người thấy ngài hiện thành nhiều hình tướng như Phổ Hiền, và nhiều Phật và Bồ tát xuất hiện trên trời và mưa xuống những hoa ban phước. Phật Maitreya (Di Lạc), chỉ vào ngài, cho lời tiên tri : “Sau hai đời nữa, con sẽ thành Phật có danh hiệu là Rirab Marme’i Gyalt-shen trong cõi Phật có tên là Pema Tsegpa.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam là một ẩn sĩ, và ngài từ chối có tổ chức hành chánh. Nhưng bởi vì sự uyên bác và bản chất hiền thánh của ngài, hàng ngàn tín đồ gồm những học giả, thiền giả, và người thường liên tục tụ tập chung quanh ngài. Những học giả vĩ đại nhất và những quan chức chính quyền cao nhất của thời đó được ngài gây cảm hứng. Do sự quan tâm thuần túy tâm linh của họ, họ kính trọng ngài không bao giờ bởi vì cơ cấu hành chánh hay vì uy tín xã hội, chính trị nào.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Gompa Kunrig xứ Drigung trở thành đệ tử của ngài và Longchen Rabjam, hoàn thành một lời tiên tri của Guru Padma-sambhava, đã kéo ông ra khỏi con đường chiến tranh. Trong tiên tri của Guru Padmasambhava có nói :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong nơi có tên là Dri</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một đứa con của quỷ gọi là Kunga sẽ đến.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trên thân nó sẽ được đánh dấu bằng một cây kiếm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau khi chết nó sẽ xuống địa ngục.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tuy nhiên, nếu một lưu xuất của Văn Thù từ phương nam (Tây Tạng)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có thể hàng phục nó,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nó sẽ thoát khỏi tái sanh vào địa ngục.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Kunrig tự xem mình là đối tượng của lời tiên tri vì ông có dấu tích một cây kiếm trên lưng và đang hoạch định chiến tranh ở tỉnh Wu và Tsang của Tây Tạng. Ông chỉ định một Lama tên là Palchigpa đi tìm xuất thân của Văn Thù. Vào thời đó ở miền Trung Tây Tạng không có ai bác học hơn Longchen Rabjam. Thế nên, sau khi tìm kiếm, vị Lama tin rằng Longchen Rabjam là thân lưu xuất của Văn Thù. Kunrig nhận nhiều giáo lý từ ngài, và đã cúng dường ngài một tu viện tên là Trog Ogyen. Drikung Kunrig là đối thủ thế lực nhất với Tai Situ của Phagtru, vị cai trị Tây Tạng, nên Longchen Rabjam đã thực sự ngăn chặn một cuộc chiến tranh nghiêm trọng ở Tây Tạng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Tidro ngài làm những lễ cúng Tshog một thời gian dài. Ngài kéo lên ngọn cờ chiến thắng trên một ngọn núi không ai có thể tới, và tâm hồn nhiều người đã thức tỉnh với Pháp. Trên đường đến Lhasa, ngài bị bao quanh bởi một lực lượng những người thù địch từ Yarlung, họ định giết ngài vì nghĩ rằng ngài là thầy của Drigung Kunrig. Nhưng do năng lực giác ngộ, ngài trở nên vô hình với họ. Ở Jokhang trước Jowo, ngài có nhiều thị kiến về chư Phật và nhận những ban phước. Khi đến Shugseb, qua sự biết trước của mình, ngài biết chiến tranh sẽ xảy ra năm Hợi Thổ (1359). Thế nên ngài đến Mon (Bhutan). Ngài ban cho những giáo lý ở Bumthang và Ngalong, nhờ đó thắp lên ánh sáng của Pháp ở đó, và ngài đặt những hạn chế về săn bắn và đánh cá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Bumthang ngài xây một tu viện ẩn cư, đặt tên cho nó là Tharpaling, Đất Giải Thoát, bởi vì có khoảng một trăm ngàn người tụ họp để nghe ngài dạy Pháp, mong muốn được giải thoát. Ngài được mời đến Lhotrag. Ở Layag Lhalung và Manthang, ngài ban những giáo lý Nyingthig cho khoảng một ngàn đệ tử chủ yếu là những nhà sư. Ngài được Lama Dampa Sodnam Gyalt-shen phái Sakya và Tragzang của Nyephu tôn kính vì những trả lời uyên bác cho những câu hỏi của họ, xóa tan những nghi nan về nhiều điểm quan yếu trong những quan điểm triết học và tu hành thiền định. Tai Situ Changchub Gyaltshen của Phagtru người trở thành cai trị của Tây Tạng năm 1349, ban đầu ghét Longchen Rabjam vì ngài là thầy của Drigung Kunrig, kẻ thù chủ yếu của ông. Về sau, khi ông nhận ra sự vĩ đại của cái học và bản chất Bồ tát của ngài, ông đã đặt bàn chân sen của Longchen Rabjam lên đỉnh đầu mình như một viên ngọc quý. Theo yêu cầu của Tai Situ, ngài ban cho ông và khoảng hai ngàn tín đồ những giáo lý Tinh Túy Tối Thâm (Yang-gSang Bla-Med). Nhiều lãnh tụ thời đó như Dorje Gyaltshen của Yardrog và Situ Sakya Zangpo của Wurtod, trở thành tín đồ của ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Lhasa ngài đã được tiếp rước bởi một đám rước gồm nhiều vị sư. Từ một cái ngai đặt giữa Lhasa và Ramoche, ngài ban giới nguyện Bồ đề tâm và những giáo lý khác cho đám đông. Ngài đã thuần hóa nhiều học giả kiêu căng bằng lý luận khúc chiết và đưa họ vào niềm tin chân thật vào Pháp. Nhờ vậy ngài được biết một cách công khai như là Kunkhyen Choje, Bậc Toàn Giác của Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Nyephu Shugseb ngài ban những giáo lý Đại Toàn Thiện cho một chúng hội hơn một ngàn tín đồ. Trong những vùng đồi đá gần tu viện Trog Ogyen, ngài ban những quán đảnh và giáo lý Tánh Sáng Tỏ của Tinh Túy Kim Cương cho khoảng ba ngàn người gồm bốn mươi vị thầy. Vào lúc chấm dứt những giáo lý họ làm một lễ Tiệc Cúng Dường (Tshog) và ngài nói với họ :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lễ Tiệc Cúng Dường này là cái cuối cùng chúng ta cử hành chung với nhau. Các ông cần từ bỏ những hành động thế gian và nắm lấy tinh túy tối hậu (của đời sống) bằng con đường sâu xa của tu hành Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi ngài đến chùa Zha, và vào lúc thuyết pháp cho quần chúng, những sự kỳ diệu xảy ra như có một cơn mưa hoa rơi xuống từ bầu trời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào năm năm mươi sáu tuổi, trong năm Con Thỏ Thủy của Rabjung thứ sáu (1363) giữa buổi ban pháp, ngài nói Gyalse Zodpa đem giấy, mực đến. Trong sự buồn rầu cùng độ của những đệ tử, ngài viết di chúc tâm linh của mình, có tên là Trima Medpa’i Od, Tánh Sáng Rỡ Vô Nhiễm. Đây là vài dòng từ di chúc ấy :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chừng nào chúng ta biết bản tánh của sanh tử,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thì những sở hữu thế gian không có tự tánh ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên giờ đây ta sắp bỏ thân vô thường</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">huyễn hóa này và</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ta sẽ nói cho các con cái gì độc nhất là tốt đẹp cho các con. Hãy nghe ta….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hôm nay, ta được cảm hứng bởi</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khuôn Mặt của bậc Pema bi mẫn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự vui sướng của ta với cái chết thì lớn hơn rất nhiều</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự vui sướng của những thương gia làm ra tài sản khi</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">đi biển,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Của những vua chư thiên khi tuyên bố thắng trận ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và của những bậc thánh đã hoàn thành nhập định.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và khi thời đã đến, những người du hành đi trên</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">con đường của họ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bây giờ Pema Ledreltsal sẽ không ở lại đây lâu nữa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mà sẽ đến ở trong trạng thái an toàn, phúc lạc và bất tử….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bây giờ chúng ta sẽ không có sự liên kết nào thêm trong đời này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ta là một người ăn xin sắp chết như nó muốn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ cảm thấy buồn mà hãy luôn luôn cầu nguyện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi ngài đến rừng ở Chimphu bằng con đường Gyama và Samye. Ngài nói : “(Năng lực tâm linh của) Chimphu tương đương với nghĩa địa Sitavan ở Ấn Độ. Chết ở nơi này tốt hơn một sự tái sanh ở những nơi khác. Ta sắp bỏ thân thể cũ rách của ta ở đây.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi ngài hiện tướng bệnh tật của thân. Nhưng ngài vẫn giữ việc thuyết pháp cho đám đông người tụ họp ở đó để nhận Pháp. Khi những đệ tử xin ngài nghỉ ngơi, ngài bảo : “Ta muốn hoàn thành việc thuyết pháp.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào ngày mười sáu tháng thứ mười hai của năm đó, ngài cử hành những cúng dường tỉ mỉ cho những Daka và Dakini. Bấy giờ ngài cho thời pháp công khai cuối cùng, nói rằng : “Các con cần hiến mình chỉ cho sự thực hành Pháp. Không có tinh túy nào trong những hiện tượng hợp tạo. Đặc biệt các con cần nhấn mạnh những thực hành Thregchod và Thodgal. Nếu các con gặp những khó khăn trong việc hiểu những thực hành, hãy đọc Yangtig Yidzhin Norbu ; nó giống như một viên ngọc như ý. Các con sẽ đạt đến niết bàn trong trạng thái Tan Biến mọi Hiện Tượng vào Bản Tánh Tối Hậu.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào ngày mười tám, ngài nói với vài đệ tử : “Hãy sắp xếp một lễ cúng dường và rồi tất cả các con hãy ra khỏi phòng.” Khi các đệ tử biểu lộ mong muốn được ở lại cạnh ngài, ngài nói : “Nào, ta sắp bỏ thân cũ rách huyễn hóa này. Chớ gây tiếng động, mà hãy ở yên trong thiền định.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi tâm thức ngài hòa tan vào trạng thái bổn nguyên và bỏ lại thân thể ngồi trong tư thế Pháp thân. Những người hiện diện chứng kiến mặt đất rung kên và những âm thanh ầm ầm, mà kinh điển diễn tả như những dấu hiệu của những chứng đắc cao. Họ để thân thể ngài trong hai mươi lăm ngày. Trong khoảng thời gian ấy những ánh sáng cầu vồng thường vòng qua bầu trời. Dầu trong tháng mười hai và tháng giêng, tháng lạnh nhất ở Tây Tạng, trái đất trở nên ấm, băng chảy và hoa hồng nở. Vào thời gian thiêu, trái đất rung ba lần và một tiếng trầm nghe được bảy lần. Những cái còn lại không thiêu cháy được là trái tim, lưỡi và mắt của ngài. Năm loại gDung và nhiều Ringsel có được từ xương là một dấu chỉ sự chứng đắc năm thân và năm trí huệ của Phật quả. Có nói rằng những Ringsel lớn tăng thành hàng trăm hàng ngàn. Một trong những hiện thân chính yếu của Long-chen Rabjam là đại Terton Pema Lingpa (1450-?) sinh tại Bhutan.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam là một trong những học giả và người kiệt xuất nhất và vĩ đại nhất của Tây Tạng. Nhưng hạnh kiểm hàng ngày của ngài thì giản dị, ‘rất người’ và tỉ mỉ. Ngài là tái sanh của những bậc chứng ngộ, tuy nhiên ngài bày tỏ cuộc sống của một cá nhân tầm thường sùng mộ những hoạt động nghiên cứu, tu hành và kỷ luật để hoàn thành mục đích của sự biểu lộ của ngài, đó là làm một tấm gương cho một người tu hành và một vị thầy của Pháp. Đây là một số trong nhiều đoạn gây cảm hứng và thích thú từ tiểu sử của ngài :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mọi thứ gì được cúng dường cho ngài từ niềm tin sẽ chỉ được dùng để phụng sự Pháp và không bao giờ cho chính ngài hay một mục tiêu thế gian nào khác. Ngài không cho phép bất kỳ vật gì đã hiến cho Pháp lại chuyển sai qua mục tiêu khác. Ngài không bao giờ bày tỏ sự tôn kính cho một người thường, dù vĩ đại hay quyền thế bao nhiêu, và nói : “Tôn kính phải được dành cho Tam Bảo mà không phải cho một người không đức hạnh.” Ngài không bao giờ cho một chỗ ngồi hay tôn trọng người kiêu căng vì thế lực hay giàu có. Khi phân phát những đồ cúng dường cho các nhà sư, ngài bắt đầu từ hàng chót, nói rằng “Chúng ta cần cẩn thận không bỏ sót người ở cuối, người ở hàng đầu dầu sao cũng có những đồ cúng dường.” Theo kinh điển, nếu một người bình thường nhận và chấp nhận sự tôn kính từ một người tâm linh cao cấp, nhiều công đức của người ấy bị thiêu cháy vì việc đó. Dù những đồ cúng dường cho ngài có lớn lao đến đâu, ngài nói những lời cầu nguyện hồi hướng mà không bao giờ biểu lộ sự biết ơn, và ngài nói, “Những thí chủ nên có cơ hội để tạo công đức.” Thế nên những thí chủ sẽ nhận được công đức thay vì những biểu lộ biết ơn vì những đồ cúng dường của họ. Vì ngài xa lìa những hy vọng và lo sợ của thành tựu thế gian, ngài sống đời mình trong những chốn ẩn cư và từ chối thiết lập hay sống trong bất kỳ chỗ ở nào, nói rằng, “Nếu tôi cố gắng, tôi có thể xây dựng một tu viện, nhưng làm thế chỉ tạo ra những phóng dật. Thế nên tốt hơn là tập trung vào việc điều ngự tâm thức (của người).”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài tuân thủ những lễ cúng của hai ngày thứ mười (của trăng tròn và khuyết, tức là ngày 10 và 25 âm lịch) và ngày mồng 8 mỗi tháng. Ngài từ ái bao la với người nghèo và kém may mắn, và ngài thường rất thích thú thức ăn do người nghèo cúng dường, dầu cho đó có thể có phẩm chất khủng khiếp, và rồi ngài nói một số lời cầu nguyện cho họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Điều này đưa người ta đến một nhận xét rất thú vị từ quan điểm xã hội, một người bình thường có thể nghĩ rằng Longchen Rabjam từ ái bao la với người nghèo, nỗ lực của ngài phải là đem mọi sự vật ngài có cho người nghèo. Trong nhiều trường hợp ngài hẳn phải làm như thế. Nhưng trong các tiểu sử không có đề cập nào về một đường lối xử thế như vậy cả. Bất luận thế nào, có một quan điểm tâm linh đàng sau sự việc ấy. Hầu hết sự vật mà ngài có thể có, ngài không bao giờ giữ mà chuyển cho những mục tiêu tôn giáo, đó đều là những “tặng phẩm của lòng tin” do các tín đồ, và chúng được hướng đến những mục tiêu tôn giáo. Một vật phẩm của lòng tin phải được tiêu dùng cho một mục tiêu tôn giáo, cho sự phục vụ Phật, Pháp, hay Tăng, và không cho những mục tiêu thế gian hay cho sự hưởng thụ của người thế tục. Nếu một vật phẩm của lòng tin được người thế tục hưởng thụ thay vì được dùng cho những mục tiêu tôn giáo, người thế tục sẽ tạo ra nghiệp mất công đức, điều đó sẽ tạo ra khó khăn trong tương lai. Từ quan điểm của Pháp, bằng cách nhận những đồ cúng dường của người nghèo khổ, ngài cho họ một cơ hội để tạo những công đức, đó là nguyên nhân cho hạnh phúc tương lai. Thế nên ngài thật sự ban ân cho người nghèo bằng cách cung cấp chính mình như một phương tiện cho họ để làm ra công đức, mặc dù ngài có thể có những bữa ăn tốt trong những gia đình giàu có nhất. Đó là lý do tại sao những người viết tiểu sử đặc biệt nói về việc ngài thọ hưởng thực phẩm của người nghèo để nêu lên lòng tốt của ngài với họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong Lịch sử của Lama Yangtig Longchen Rabjam khuyên những người theo ngài bằng những lời giản dị :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Các người theo ta trong tương lai ! Hãy bỏ lại những hoạt động thế gian của cuộc đời này. Hãy bắt đầu những chuẩn bị cho những đời tới. Hãy nương dựa vào một vị thầy đức hạnh toàn hảo. Hãy nhận lãnh những giáo huấn về tinh túy của tánh sáng tỏ. Hãy thực hành những giáo lý bí mật của Nying-thig trong vắng vẻ. (Hãy đạt đến quả của) sự siêu vượt khỏi (những khác biệt của) sanh tử và niết bàn ngay trong đời này. Nếu các người nhận được lời tiên tri nào, hãy hiến mình cho sự phụng sự những người khác hết mức của mình. Hãy truyền bá những giáo lý trong khi nhẫn chịu sự vô ơn và khó nhọc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một trong những tính cách nổi bật nhất trong những lời chỉ dạy của Longchen Rabjam là sự nhấn mạnh của ngài vào sự hòa điệu với tự nhiên : sự bao la và vẻ đẹp an bình của tự nhiên bên ngoài là chỗ nương tựa và sự bao la và tỉnh giác an bình của bản tánh giác ngộ bên trong là mục tiêu. Bằng cách nhìn thấy sự an bình không nhiễu loạn, sự sáng tỏ không nhiễm ô và sự đơn giản không rối rắm của tự nhiên bên ngoài như nó vốn là và bằng cách nương dựa vào chúng, người ta có được cảm hứng để sự chứng ngộ trạng thái tự nhiên bên trong hiện bày. Ngài cảm kích, hân thưởng bản tánh của những hiện tượng bên ngoài và thấy những đức hạnh của chúng. Ngài nhấn mạnh rằng đối với một người mới học, những hiện tượng tích cực bên ngoài là một căn cứ quan trọng để phát sanh tiến bộ thiền định.</span></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><b>Các công trình chính yếu của Đạo sư Longchenpa</b></p>
<ol style="text-align: justify;">
<li><b> Dzodchen Dun, Bảy Đại Kho Tàng :</b></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Yidzhin Rinpoche’i Dzod, hai mươi hai chương, và tự bình giảng, Pema Karpo, với những luận văn kết hợp. Một tổng quan về toàn bộ giáo lý Đại thừa Phật giáo, soi sáng những đường lối nghiên cứu, phân tích và tu hành trong Đại thừa và Kim Cương thừa.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Mengag Rinpoche’i Dzod. Một luận văn dùng những bộ khác nhau của sáu bộ phận cấu thành để tổng lược những kinh và tantra Phật giáo, đặc biệt tinh túy của con đường và quả của Đại Toàn Thiện trong tính toàn thể của chúng trong hình thức những giáo huấn đạo đức, triết học và thiền định.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Choying Rinpoche’i Dzod, mười ba chương với tự bình giảng, Lungki Terdzod. Một giải thích những giáo lý sâu xa và rộng lớn về nền tảng, con đường và quả của ba phạm trù chính của Đại Toàn Thiện, gọi là Semde, Longde và Mengagde, đặc biệt là Longde.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Trubtha Dzod trong tám chương. Một giải thích nhiều quan điểm triết học của mọi thừa kinh và tantra Phật giáo.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Thegchog Dzod trong hai mươi lăm chương. Bình giảng ý nghĩa về Mười Bảy Tantra và Một Trăm Mười Chín Luận Văn Giáo Huấn của Mengagde. Nó trình bày một dải rộng giáo lý Phật giáo từ sự biểu lộ của vị thầy tuyệt đối, Ba Thân, đến sự hoàn thành quả cuối cùng tự nhiên thành tựu của thực hành con đường Đại Toàn Thiện, bao gồm Thodgal (Tiếp Cận Trực Tiếp). Có nói bản văn này được viết để đáp ứng cho những nguyện vọng của Rigdzin Kumaradza vào lúc chết của ngài.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Tshigton Dzod trong mười một chương. Một tổng lược của Thegchod Dzod giải thích những điểm quan yếu của thực hành. Nó bắt đầu với một diễn tả cái nền tảng và kết thúc với quả, trạng thái giải thoát tối hậu.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Nelug Dzod trong năm chương với tự bình giảng. Nó giải thích nghĩa tối hậu của tất cả ba phần của Đại Toàn Thiện.</span></li>
<li><b> Ngalso Korsum, Ba Chu Trình về Thư Giãn</b><span style="font-weight: 400;">. Ngalso Korsum gồm bản văn gốc, ba tổng lược, gọi là “vòng hoa”, ba tự bình giảng, gọi là “cỗ xe”, và ba “bình giảng ý nghĩa” hay Những giáo huấn về Thực hành, toàn bộ mười lăm luận văn :</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Semnyid Ngalso, bản văn gốc trong mười ba chương, tổng lược của nó, Kunda’i Thengwa (đã mất) ; một tự bình giảng về bản văn gốc, Ngeton Shingta Chenmo, một tổng lược của tự bình giảng, Pema Karpo’i Threngwa, và giáo huấn về thực hành, Changchub Lamzang. Semnyid Ngalso giải thích mọi giai đoạn của con đường, sự bắt đầu, chặng giữa và kết thúc của những giáo lý kinh và tantra.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Gyuma Ngalso, bản văn gốc trong tám chương ; tổng lược của nó, Mandara’i Phrengwa ; tự bình giảng, Shingta Zangpo ; và giáo huấn về thực hành, Yidzhin Norbu. Bản văn này là một giáo huấn về đoạn dứt những trói buộc với những hiện hữu hiện tượng bằng những giáo lý về tám thí dụ như huyễn.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Samten Ngalso, bản văn gốc trong ba chương ; tổng lược của nó, Pundarik’i Threngwa, tự bình giảng của nó, Shingta Namdag ; và giáo huấn về thực hành, Nyingpo Chuddu. Bản văn là một giáo huấn về con đường sâu xa của nhập định, trí huệ tự nhiên tự hữu. có hai bản văn phụ thêm, một tổng lược của Ngalso Korsum có tựa đề Legshed Gyalso và một bản mục lục tên là Pema Tongden. Ba tự bình giảng về Ngalso Korsum cũng được biết với tên là Shinga Namsum, Ba Cỗ Xe.</span></li>
<li><b> Rangtrol Korsum, Ba Chu Trình cho Giải Thoát Tự Nhiên.</b><span style="font-weight: 400;"> Chúng là những “bình giảng ý nghĩa” về những giáo huấn phần Semde của Đại Toàn Thiện.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Semnyid Rantrol, Tâm Giải Thoát Tự Nhiên trong ba chương và một bình giảng ý nghĩa hay giáo huấn về thực hành có tựa đề Lamrim Nyingpo (Những bản dịch của hai bản văn này gồm trong sách này).</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Chonyid Rangtrol trong ba chương, và một giáo huấn về thực hành có tựa đề Rinchen Nyingpo.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Nyamnyid Rangtrol trong ba chương, và một giáo huấn về thực hành có tựa đề Yidzhin Nyingpo.</span></li>
<li><b> Yangtig Namsum, Ba Tinh Túy Bên Trong.</b><span style="font-weight: 400;"> Nó chứa đựng những điểm quan yếu của những giáo lý bí truyền Mengagde, cái cao nhất của ba phần của Đại Toàn Thiện. Trong những bản văn này nhấn mạnh đặc biệt vào tu hành Thodgal.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Lama Yangtig hay Yangzab Yidzhin Norbu gồm ba mươi lăm luận văn. Nó cô đọng và giải thích chủ đề bao la của Bốn Bộ Giáo Lý Bí Truyền của Vima Nyingthig và Một Trăm Mười Chín Luận Văn của Giáo Huấn của Mengagde của Đại Toàn Thiện. Bốn Bộ Giáo Lý Bí Truyền là Seryig Chen, Yuyig Chen, Dungyig Chen và Zang-yig Chen với Phrayig Chen.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Khadro Yangtig gồm năm mươi lăm luận văn. Trong đời trước của Longchen Rabjam như là Pema Ledreltsal, ngài có thẩm quyền về những bản văn của Khadro Ningthig. Trong đời này ngài nhận những trao truyền và chứng ngộ những giáo lý Khadro Nyingthig, và viết những bản văn tựa đề Khadro Yangtig về Khadro Nyingthig.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Zabmo Yangtig là bình giảng chi tiết và sâu xa nhất về cả hai Vima Nyingthig và Khadro Nyingthig.</span></li>
<li><b> Munsel Korsum, Ba Chu Trình về Xua Tan Bóng Tối.</b><span style="font-weight: 400;"> Ba bản văn này là những bình giảng về Guhyamayajala-tantra theo những quan điểm của Nyingthig.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Chidon Yidkyi Munsel,</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Dudon Marig Munsel,</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Drelwa Chogchu Munsel.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài đã đạt sự Toàn Thiện của Tánh Giác Bổn Nhiên qua con đường bí mật của Tiếp Cận Trực Tiếp (Thod-rGal), trạng thái toàn thiện tự nhiên của tánh sáng tỏ của Đại Toàn Thiện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm bốn mươi hai tuổi, hợp đúng với một số tiên tri được Vimalamitra ban cho trong một thị kiến thanh tịnh, ngài trùng tu chùa Zha Pema Wangchen ở Drada trong vùng Wuru. Ngôi chùa này được xây vào thế kỷ thứ chín bởi Nyang Tingdzin Zangpo theo lệnh của vua Thrisong Deutsen để bảo vệ khỏi những cuộc xâm lăng của “những ngoại đạo” nước ngoài. Ngài cũng nhận ra chùa này như ngôi chùa đã được tiên tri trong Langri Lungten trong Kajur, “sự hiện diện thiêng liêng của xứ Zhva.” Ngài khám phá đủ vàng để chứa đầy một Gutse (một bình chứa dành cho nghi lễ) ở Samye, và với nó ngài có tiền để trùng tu. Mỗi ngày một cậu bé với bông đeo tai lam ngọc giúp nhóm xây dựng, nhưng đến bữa ăn thì không thấy. Nhóm người làm nghi ngờ và để ý trông chừng nó. Khi họ ngừng công việc họ thấy nó biến mất vào bức tường và họ nói lại với ngài. Ngài bảo đó là Vajrasadhu đến giúp họ. Khi họ đào, nhiều ma quỷ và lực lượng xấu thoát lên mặt đất và bay xung quanh với một cơn mưa đất đá. Mọi người chạy thục mạng. Với năng lực thiền định, ngài nhảy múa với những cử chỉ hung nộ, thốt lên những thần chú bằng tiếng Sanskrit. Ngài tập trung chúng trở lại và chôn chúng trước cặp mắt những người hiện diện. Lúc đó nhiều người thấy ngài trong hình tướng Guru Padmasambhava Hung Nộ. Một lần khi những người làm không thể dựng đứng hai trụ đá, ngài rung động áo dài và thốt lên những lời-của-sự thật (tạ ơn), và tức khắc họ có thể dựng chúng. Vào ngày lễ hoàn thành, nhiều người thấy ngài hiện thành nhiều hình tướng như Phổ Hiền, và nhiều Phật và Bồ tát xuất hiện trên trời và mưa xuống những hoa ban phước. Phật Maitreya (Di Lạc), chỉ vào ngài, cho lời tiên tri : “Sau hai đời nữa, con sẽ thành Phật có danh hiệu là Rirab Marme’i Gyalt-shen trong cõi Phật có tên là Pema Tsegpa.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam là một ẩn sĩ, và ngài từ chối có tổ chức hành chánh. Nhưng bởi vì sự uyên bác và bản chất hiền thánh của ngài, hàng ngàn tín đồ gồm những học giả, thiền giả, và người thường liên tục tụ tập chung quanh ngài. Những học giả vĩ đại nhất và những quan chức chính quyền cao nhất của thời đó được ngài gây cảm hứng. Do sự quan tâm thuần túy tâm linh của họ, họ kính trọng ngài không bao giờ bởi vì cơ cấu hành chánh hay vì uy tín xã hội, chính trị nào.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Gompa Kunrig xứ Drigung trở thành đệ tử của ngài và Longchen Rabjam, hoàn thành một lời tiên tri của Guru Padma-sambhava, đã kéo ông ra khỏi con đường chiến tranh. Trong tiên tri của Guru Padmasambhava có nói :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong nơi có tên là Dri</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một đứa con của quỷ gọi là Kunga sẽ đến.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trên thân nó sẽ được đánh dấu bằng một cây kiếm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau khi chết nó sẽ xuống địa ngục.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tuy nhiên, nếu một lưu xuất của Văn Thù từ phương nam (Tây Tạng)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có thể hàng phục nó,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nó sẽ thoát khỏi tái sanh vào địa ngục.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Kunrig tự xem mình là đối tượng của lời tiên tri vì ông có dấu tích một cây kiếm trên lưng và đang hoạch định chiến tranh ở tỉnh Wu và Tsang của Tây Tạng. Ông chỉ định một Lama tên là Palchigpa đi tìm xuất thân của Văn Thù. Vào thời đó ở miền Trung Tây Tạng không có ai bác học hơn Longchen Rabjam. Thế nên, sau khi tìm kiếm, vị Lama tin rằng Longchen Rabjam là thân lưu xuất của Văn Thù. Kunrig nhận nhiều giáo lý từ ngài, và đã cúng dường ngài một tu viện tên là Trog Ogyen. Drikung Kunrig là đối thủ thế lực nhất với Tai Situ của Phagtru, vị cai trị Tây Tạng, nên Longchen Rabjam đã thực sự ngăn chặn một cuộc chiến tranh nghiêm trọng ở Tây Tạng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Tidro ngài làm những lễ cúng Tshog một thời gian dài. Ngài kéo lên ngọn cờ chiến thắng trên một ngọn núi không ai có thể tới, và tâm hồn nhiều người đã thức tỉnh với Pháp. Trên đường đến Lhasa, ngài bị bao quanh bởi một lực lượng những người thù địch từ Yarlung, họ định giết ngài vì nghĩ rằng ngài là thầy của Drigung Kunrig. Nhưng do năng lực giác ngộ, ngài trở nên vô hình với họ. Ở Jokhang trước Jowo, ngài có nhiều thị kiến về chư Phật và nhận những ban phước. Khi đến Shugseb, qua sự biết trước của mình, ngài biết chiến tranh sẽ xảy ra năm Hợi Thổ (1359). Thế nên ngài đến Mon (Bhutan). Ngài ban cho những giáo lý ở Bumthang và Ngalong, nhờ đó thắp lên ánh sáng của Pháp ở đó, và ngài đặt những hạn chế về săn bắn và đánh cá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Bumthang ngài xây một tu viện ẩn cư, đặt tên cho nó là Tharpaling, Đất Giải Thoát, bởi vì có khoảng một trăm ngàn người tụ họp để nghe ngài dạy Pháp, mong muốn được giải thoát. Ngài được mời đến Lhotrag. Ở Layag Lhalung và Manthang, ngài ban những giáo lý Nyingthig cho khoảng một ngàn đệ tử chủ yếu là những nhà sư. Ngài được Lama Dampa Sodnam Gyalt-shen phái Sakya và Tragzang của Nyephu tôn kính vì những trả lời uyên bác cho những câu hỏi của họ, xóa tan những nghi nan về nhiều điểm quan yếu trong những quan điểm triết học và tu hành thiền định. Tai Situ Changchub Gyaltshen của Phagtru người trở thành cai trị của Tây Tạng năm 1349, ban đầu ghét Longchen Rabjam vì ngài là thầy của Drigung Kunrig, kẻ thù chủ yếu của ông. Về sau, khi ông nhận ra sự vĩ đại của cái học và bản chất Bồ tát của ngài, ông đã đặt bàn chân sen của Longchen Rabjam lên đỉnh đầu mình như một viên ngọc quý. Theo yêu cầu của Tai Situ, ngài ban cho ông và khoảng hai ngàn tín đồ những giáo lý Tinh Túy Tối Thâm (Yang-gSang Bla-Med). Nhiều lãnh tụ thời đó như Dorje Gyaltshen của Yardrog và Situ Sakya Zangpo của Wurtod, trở thành tín đồ của ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Lhasa ngài đã được tiếp rước bởi một đám rước gồm nhiều vị sư. Từ một cái ngai đặt giữa Lhasa và Ramoche, ngài ban giới nguyện Bồ đề tâm và những giáo lý khác cho đám đông. Ngài đã thuần hóa nhiều học giả kiêu căng bằng lý luận khúc chiết và đưa họ vào niềm tin chân thật vào Pháp. Nhờ vậy ngài được biết một cách công khai như là Kunkhyen Choje, Bậc Toàn Giác của Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Nyephu Shugseb ngài ban những giáo lý Đại Toàn Thiện cho một chúng hội hơn một ngàn tín đồ. Trong những vùng đồi đá gần tu viện Trog Ogyen, ngài ban những quán đảnh và giáo lý Tánh Sáng Tỏ của Tinh Túy Kim Cương cho khoảng ba ngàn người gồm bốn mươi vị thầy. Vào lúc chấm dứt những giáo lý họ làm một lễ Tiệc Cúng Dường (Tshog) và ngài nói với họ :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lễ Tiệc Cúng Dường này là cái cuối cùng chúng ta cử hành chung với nhau. Các ông cần từ bỏ những hành động thế gian và nắm lấy tinh túy tối hậu (của đời sống) bằng con đường sâu xa của tu hành Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi ngài đến chùa Zha, và vào lúc thuyết pháp cho quần chúng, những sự kỳ diệu xảy ra như có một cơn mưa hoa rơi xuống từ bầu trời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào năm năm mươi sáu tuổi, trong năm Con Thỏ Thủy của Rabjung thứ sáu (1363) giữa buổi ban pháp, ngài nói Gyalse Zodpa đem giấy, mực đến. Trong sự buồn rầu cùng độ của những đệ tử, ngài viết di chúc tâm linh của mình, có tên là Trima Medpa’i Od, Tánh Sáng Rỡ Vô Nhiễm. Đây là vài dòng từ di chúc ấy :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chừng nào chúng ta biết bản tánh của sanh tử,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thì những sở hữu thế gian không có tự tánh ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên giờ đây ta sắp bỏ thân vô thường</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">huyễn hóa này và</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ta sẽ nói cho các con cái gì độc nhất là tốt đẹp cho các con. Hãy nghe ta….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hôm nay, ta được cảm hứng bởi</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khuôn Mặt của bậc Pema bi mẫn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự vui sướng của ta với cái chết thì lớn hơn rất nhiều</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự vui sướng của những thương gia làm ra tài sản khi</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">đi biển,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Của những vua chư thiên khi tuyên bố thắng trận ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và của những bậc thánh đã hoàn thành nhập định.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và khi thời đã đến, những người du hành đi trên</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">con đường của họ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bây giờ Pema Ledreltsal sẽ không ở lại đây lâu nữa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mà sẽ đến ở trong trạng thái an toàn, phúc lạc và bất tử….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bây giờ chúng ta sẽ không có sự liên kết nào thêm trong đời này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ta là một người ăn xin sắp chết như nó muốn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ cảm thấy buồn mà hãy luôn luôn cầu nguyện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi ngài đến rừng ở Chimphu bằng con đường Gyama và Samye. Ngài nói : “(Năng lực tâm linh của) Chimphu tương đương với nghĩa địa Sitavan ở Ấn Độ. Chết ở nơi này tốt hơn một sự tái sanh ở những nơi khác. Ta sắp bỏ thân thể cũ rách của ta ở đây.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi ngài hiện tướng bệnh tật của thân. Nhưng ngài vẫn giữ việc thuyết pháp cho đám đông người tụ họp ở đó để nhận Pháp. Khi những đệ tử xin ngài nghỉ ngơi, ngài bảo : “Ta muốn hoàn thành việc thuyết pháp.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào ngày mười sáu tháng thứ mười hai của năm đó, ngài cử hành những cúng dường tỉ mỉ cho những Daka và Dakini. Bấy giờ ngài cho thời pháp công khai cuối cùng, nói rằng : “Các con cần hiến mình chỉ cho sự thực hành Pháp. Không có tinh túy nào trong những hiện tượng hợp tạo. Đặc biệt các con cần nhấn mạnh những thực hành Thregchod và Thodgal. Nếu các con gặp những khó khăn trong việc hiểu những thực hành, hãy đọc Yangtig Yidzhin Norbu; nó giống như một viên ngọc như ý. Các con sẽ đạt đến niết bàn trong trạng thái Tan Biến mọi Hiện Tượng vào Bản Tánh Tối Hậu.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào ngày mười tám, ngài nói với vài đệ tử: “Hãy sắp xếp một lễ cúng dường và rồi tất cả các con hãy ra khỏi phòng.” Khi các đệ tử biểu lộ mong muốn được ở lại cạnh ngài, ngài nói : “Nào, ta sắp bỏ thân cũ rách huyễn hóa này. Chớ gây tiếng động, mà hãy ở yên trong thiền định.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi tâm thức ngài hòa tan vào trạng thái bổn nguyên và bỏ lại thân thể ngồi trong tư thế Pháp thân. Những người hiện diện chứng kiến mặt đất rung kên và những âm thanh ầm ầm, mà kinh điển diễn tả như những dấu hiệu của những chứng đắc cao. Họ để thân thể ngài trong hai mươi lăm ngày. Trong khoảng thời gian ấy những ánh sáng cầu vồng thường vòng qua bầu trời. Dầu trong tháng mười hai và tháng giêng, tháng lạnh nhất ở Tây Tạng, trái đất trở nên ấm, băng chảy và hoa hồng nở. Vào thời gian thiêu, trái đất rung ba lần và một tiếng trầm nghe được bảy lần. Những cái còn lại không thiêu cháy được là trái tim, lưỡi và mắt của ngài. Năm loại gDung và nhiều Ringsel có được từ xương là một dấu chỉ sự chứng đắc năm thân và năm trí huệ của Phật quả. Có nói rằng những Ringsel lớn tăng thành hàng trăm hàng ngàn. Một trong những hiện thân chính yếu của Long-chen Rabjam là đại Terton Pema Lingpa (1450-?) sinh tại Bhutan.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam là một trong những học giả và người kiệt xuất nhất và vĩ đại nhất của Tây Tạng. Nhưng hạnh kiểm hàng ngày của ngài thì giản dị, ‘rất người’ và tỉ mỉ. Ngài là tái sanh của những bậc chứng ngộ, tuy nhiên ngài bày tỏ cuộc sống của một cá nhân tầm thường sùng mộ những hoạt động nghiên cứu, tu hành và kỷ luật để hoàn thành mục đích của sự biểu lộ của ngài, đó là làm một tấm gương cho một người tu hành và một vị thầy của Pháp. Đây là một số trong nhiều đoạn gây cảm hứng và thích thú từ tiểu sử của ngài :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mọi thứ gì được cúng dường cho ngài từ niềm tin sẽ chỉ được dùng để phụng sự Pháp và không bao giờ cho chính ngài hay một mục tiêu thế gian nào khác. Ngài không cho phép bất kỳ vật gì đã hiến cho Pháp lại chuyển sai qua mục tiêu khác. Ngài không bao giờ bày tỏ sự tôn kính cho một người thường, dù vĩ đại hay quyền thế bao nhiêu, và nói : “Tôn kính phải được dành cho Tam Bảo mà không phải cho một người không đức hạnh.” Ngài không bao giờ cho một chỗ ngồi hay tôn trọng người kiêu căng vì thế lực hay giàu có. Khi phân phát những đồ cúng dường cho các nhà sư, ngài bắt đầu từ hàng chót, nói rằng “Chúng ta cần cẩn thận không bỏ sót người ở cuối, người ở hàng đầu dầu sao cũng có những đồ cúng dường.” Theo kinh điển, nếu một người bình thường nhận và chấp nhận sự tôn kính từ một người tâm linh cao cấp, nhiều công đức của người ấy bị thiêu cháy vì việc đó. Dù những đồ cúng dường cho ngài có lớn lao đến đâu, ngài nói những lời cầu nguyện hồi hướng mà không bao giờ biểu lộ sự biết ơn, và ngài nói, “Những thí chủ nên có cơ hội để tạo công đức.” Thế nên những thí chủ sẽ nhận được công đức thay vì những biểu lộ biết ơn vì những đồ cúng dường của họ. Vì ngài xa lìa những hy vọng và lo sợ của thành tựu thế gian, ngài sống đời mình trong những chốn ẩn cư và từ chối thiết lập hay sống trong bất kỳ chỗ ở nào, nói rằng, “Nếu tôi cố gắng, tôi có thể xây dựng một tu viện, nhưng làm thế chỉ tạo ra những phóng dật. Thế nên tốt hơn là tập trung vào việc điều ngự tâm thức (của người).”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài tuân thủ những lễ cúng của hai ngày thứ mười (của trăng tròn và khuyết, tức là ngày 10 và 25 âm lịch) và ngày mồng 8 mỗi tháng. Ngài từ ái bao la với người nghèo và kém may mắn, và ngài thường rất thích thú thức ăn do người nghèo cúng dường, dầu cho đó có thể có phẩm chất khủng khiếp, và rồi ngài nói một số lời cầu nguyện cho họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Điều này đưa người ta đến một nhận xét rất thú vị từ quan điểm xã hội, một người bình thường có thể nghĩ rằng Longchen Rabjam từ ái bao la với người nghèo, nỗ lực của ngài phải là đem mọi sự vật ngài có cho người nghèo. Trong nhiều trường hợp ngài hẳn phải làm như thế. Nhưng trong các tiểu sử không có đề cập nào về một đường lối xử thế như vậy cả. Bất luận thế nào, có một quan điểm tâm linh đằng sau sự việc ấy. Hầu hết sự vật mà ngài có thể có, ngài không bao giờ giữ mà chuyển cho những mục tiêu tôn giáo, đó đều là những “tặng phẩm của lòng tin” do các tín đồ, và chúng được hướng đến những mục tiêu tôn giáo. Một vật phẩm của lòng tin phải được tiêu dùng cho một mục tiêu tôn giáo, cho sự phục vụ Phật, Pháp, hay Tăng, và không cho những mục tiêu thế gian hay cho sự hưởng thụ của người thế tục. Nếu một vật phẩm của lòng tin được người thế tục hưởng thụ thay vì được dùng cho những mục tiêu tôn giáo, người thế tục sẽ tạo ra nghiệp mất công đức, điều đó sẽ tạo ra khó khăn trong tương lai. Từ quan điểm của Pháp, bằng cách nhận những đồ cúng dường của người nghèo khổ, ngài cho họ một cơ hội để tạo những công đức, đó là nguyên nhân cho hạnh phúc tương lai. Thế nên ngài thật sự ban ân cho người nghèo bằng cách cung cấp chính mình như một phương tiện cho họ để làm ra công đức, mặc dù ngài có thể có những bữa ăn tốt trong những gia đình giàu có nhất. Đó là lý do tại sao những người viết tiểu sử đặc biệt nói về việc ngài thọ hưởng thực phẩm của người nghèo để nêu lên lòng tốt của ngài với họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong Lịch sử của Lama Yangtig Longchen Rabjam khuyên những người theo ngài bằng những lời giản dị :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Các người theo ta trong tương lai! Hãy bỏ lại những hoạt động thế gian của cuộc đời này. Hãy bắt đầu những chuẩn bị cho những đời tới. Hãy nương dựa vào một vị thầy đức hạnh toàn hảo. Hãy nhận lãnh những giáo huấn về tinh túy của tánh sáng tỏ. Hãy thực hành những giáo lý bí mật của Nying-thig trong vắng vẻ. (Hãy đạt đến quả của) sự siêu vượt khỏi (những khác biệt của) sanh tử và niết bàn ngay trong đời này. Nếu các người nhận được lời tiên tri nào, hãy hiến mình cho sự phụng sự những người khác hết mức của mình. Hãy truyền bá những giáo lý trong khi nhẫn chịu sự vô ơn và khó nhọc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một trong những tính cách nổi bật nhất trong những lời chỉ dạy của Longchen Rabjam là sự nhấn mạnh của ngài vào sự hòa điệu với tự nhiên : sự bao la và vẻ đẹp an bình của tự nhiên bên ngoài là chỗ nương tựa và sự bao la và tỉnh giác an bình của bản tánh giác ngộ bên trong là mục tiêu. Bằng cách nhìn thấy sự an bình không nhiễu loạn, sự sáng tỏ không nhiễm ô và sự đơn giản không rối rắm của tự nhiên bên ngoài như nó vốn là và bằng cách nương dựa vào chúng, người ta có được cảm hứng để sự chứng ngộ trạng thái tự nhiên bên trong hiện bày. Ngài cảm kích, hân thưởng bản tánh của những hiện tượng bên ngoài và thấy những đức hạnh của chúng. Ngài nhấn mạnh rằng đối với một người mới học, những hiện tượng tích cực bên ngoài là một căn cứ quan trọng để phát sanh tiến bộ thiền định.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Một số trích dẫn từ các tác phẩm của Ngài Longchenpa</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những trích dẫn sau từ những tác phẩm của ngài nói lên những quan điểm của ngài về tự nhiên bên ngoài và bên trong.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những hang động và những cánh đồng yêu thích trong rừng bình an</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trang hoàng với ngàn hoa khiêu vũ và những dòng suối âm vang</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những nơi đó, chúng ta có thể ngắm nhìn không lay động tâm thức mệt mỏi của chúng ta,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và ở lại đó để hoàn thành những mục đích của đời sống quý giá làm người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nơi đó, không gặp chúng sanh hoang dã nào,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đã làm bình lặng những phiền não nhiễm ô và hoàn thành bảy phẩm tính cao cả,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào lúc xả bỏ thân thể này,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mong rằng chúng ta đạt được đức vua của tâm thức, trạng thái bổn nguyên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tự nhiên bên ngoài lợi lạc cho sự tu hành tâm linh bên trong :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trên đỉnh đồi, trong rừng, trên một hòn đảo</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thích thú và hài hòa suốt bốn mùa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy tham thiền nhất tâm không xao lãng</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Về tánh sáng tỏ thoát khỏi mọi tạo tác ý niệm….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vì bên ngoài và bên trong là tương thuộc,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người ta cần sống trong một nơi chốn vui thích, đơn côi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những đỉnh núi, vì chúng mở rộng và làm trong sáng tâm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là những nơi rất tốt để xua tan hôn trầm và tốt lành cho sự tu hành giai đoạn phát sanh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những núi tuyết, vì chúng làm sạch sẽ tâm và làm trong sáng tham thiền,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là những nơi tốt cho tu hành quán chiếu, và sẽ có ít che chướng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những rừng cây, vì chúng làm ổn định tâm và khai triển sự an trụ của tham thiền,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là những chỗ tốt cho tu hành an định và tăng trưởng phúc lạc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những núi đá, vì chúng làm sanh khởi cảm giác hối lỗi và vô thường,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáng trong và uy lực, là những chỗ tốt để hoàn thành sự hợp nhất của quán chiếu và an định.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những bờ sông, vì chúng đã làm ngắn lại những tư tưởng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phát sanh sự khai triển của sự vượt khỏi sanh tử nhanh chóng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những nghĩa địa, vì chúng uy lực và khiến những chứng đắc đến nhanh,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là những chỗ tốt để tu hành cả hai giai đoạn phát triển và thành tựu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự lựa chọn những nơi chốn thiền định tùy thuộc vào sức mạnh và nhu cầu của cá nhân thiền giả :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những nơi chốn như thành thị, chợ phiên, nhà trống, cây đơn độc,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nơi người và loài chẳng phải người hay lui tới,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Làm phóng dật những người mới học và thành chướng ngại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nhưng đó là chỗ dựa tối cao cho thiền giả rất an ổn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vẻ đẹp và bình an của cô đơn làm phát sanh cảm hứng, niềm vui và sự an định trong tâm thức và đời sống. Longchen Rabjam truyền đạt những đức hạnh của cô đơn khi diễn tả sự an định của rừng trong Kể Lại Niềm Vui Trong Rừng :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong một khu rừng, tự nhiên có ít phóng dật và</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">tiêu khiển,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người ta xa khỏi mọi khổ đau của hiểm nguy và</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">bạo lực.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Niềm vui lớn hơn rất nhiều sự hoan hỷ của những thành thị cõi trời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy hưởng thụ thiên nhiên tĩnh lặng của rừng hôm nay.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hỡi tâm thức, hãy nghe những đức hạnh của rừng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những cây quý, vật cúng dường xứng đáng cho chư Phật,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trĩu đầy trái cây lớn dần rực rỡ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hoa nở và lá cây phát ra mùi hương dịu dàng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hương thơm đầy khắp không khí.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những dòng suối trên núi âm vang điệu nhạc mê hồn của trống.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự mát lạnh của mặt trăng xúc chạm mọi sự. Khoảng giữa cây cối</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phủ lấy áo mây dày.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bầu trời trang hoàng bằng muôn vàn tinh tú.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những đàn thiên nga bay quanh những hồ thơm ngát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chim và nai qua lại giữa an bình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những cây như ý, hoa sen và hoa loa kèn màu xanh</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đầy những con ong mật vo ve.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cây cối chuyển động theo những điệu múa nhịp nhàng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những cánh tay của dây leo thõng xuống</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Gởi lời chào mừng đến những kẻ viếng thăm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những ao trong mát phủ đầy hoa sen</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rạng rỡ như những khuôn mặt tươi cười.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những thảm cỏ xanh như bầu trời giáng hạ trên mặt đất</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những hang động yêu kiều với những chuỗi cây hoa</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như tinh tú mọc trong bầu trời trong sáng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như chư thiên chơi đùa trong một vườn hoa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những con cu gáy phát tiếng ngọt ngào, làm say bằng niềm vui.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Gió mùa thổi như ban phát ngàn hoa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những đám mây âm vang tiếng sấm vui tươi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những trận mưa rào tuyệt vời đi đến làm mát lạnh hơi nóng</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thức ăn từ rễ, lá và trái</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không nhiễm độc bởi những hành vi bất thiện và được cung cấp suốt bốn mùa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong rừng những xúc cảm tiêu tan tự nhiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không có ai nói những lời bất hòa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vì xa khỏi những phóng dật do tiêu khiển từ phố thị,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong rừng sâu sự thanh bình của nhập định lớn lên tự nhiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đời sống trong rừng phù hợp với thánh pháp và thuần hóa tâm thức</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và hoàn thành hạnh phúc của thanh bình tối hậu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đối với người mới học, quan trọng là thấy những đức hạnh nằm trong cái đẹp của những nơi chốn cô tịch như rừng núi để gây hứng khởi cho tâm thức với sự cô đơn. Nếu người ta không khai triển một thói quen thấy những mặt bình thường mà tích cực của cô đơn, như vẻ đẹp của nó, người ta có thể không bao giờ dám bỏ những tiêu khiển của trần thế. Mục tiêu thấy vẻ đẹp của thiên nhiên không phải là tạo ra một tương quan xúc cảm với nó. Longchen Rabjam giải thích cách thấy và diễn dịch những cảnh bình thường như một minh họa của Pháp và cảm hứng cho Pháp :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong vườn hoa đẹp trên bờ sông</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những con ong-mật-Như-Lai ngồi trên những đóa hoa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Làm đẹp trọn vẹn khu vườn và phát ra âm thanh trống Pháp,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và toàn thể khu vườn hiển lộ như đang tôn kính nghe Pháp….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bình an và giàu có với sự trang sức bằng những tràng hoa đức hạnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được làm đẹp bởi những vinh quang của khổ hạnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự giàu sang không thể có ngay cả ở cõi trời Phạm Thiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cây cối trĩu quả và lá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những vườn cây cung cấp những lạc thú khác nhau trong bốn mùa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những dòng sông phát ra âm nhạc dịu dàng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những khu rừng được trang hoàng bằng những nhà khổ hạnh tham thiền.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ âm thanh cây cối tiếp xúc với gió,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chim chóc, ong và nai</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nghe thánh pháp làm bình yên trong tiếng nói Phạm Thiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những quang cảnh này làm nở đóa hoa ngàn cánh của niềm tin.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như thể mọi nghiệp tốt được hoàn thành trong quá khứ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và những ban phước của lòng từ ái của những thánh nhân</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đã thâm nhập vào những sinh thể của đất này,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và đại dương sanh tử đang dứt tận.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam giải thích như thế nào, sau khi đi vào sự cô đơn an bình của rừng, tiến bộ trên con đường thiền định :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau khi vào rừng, hãy ở trong một cái hang dưới chân một ngọn đồi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Dưới một gốc cây trong một đồng cỏ với cây thuốc và hoa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hay trong một lều tranh hay lợp bằng lá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với nước uống, thức ăn và trái cây,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một lối sống giản dị duy trì thân xác</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và hiến mình ngày đêm cho Pháp đức hạnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong khu rừng, bằng thí dụ là những lá chết</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thấu hiểu rằng thân thể, tuổi trẻ và những giác quan</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Dần dần thay đổi và không có tự tánh nào,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và mọi loại thịnh vượng chắc chắn phải suy tàn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bằng thí dụ những lá lìa cây</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đi đến chỗ thấu hiểu rằng bạn, thù cũng như thân mình,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đang tụ hội, đều thuận theo sự tan rã</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và phải trói buộc vào chia lìa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bằng thí dụ là những ao sen trống không</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thấu hiểu rằng những đối tượng khác nhau của tham muốn giàu sang</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tất yếu phải đổi thay, rằng không có tinh túy thật sự nào trong chúng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và cái gì được tích tập cái đó sẽ tiêu vong.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bằng thí dụ là sự thay đổi của ngày, tháng và bốn mùa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thấu hiểu rằng thân thể như hoa nở mùa xuân</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phải chịu biến đổi khi thời gian trôi chảy, sự trẻ trung của nó phai dần,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và thần chết sẽ đến là chắc chắn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bằng thí dụ là trái cây rơi rụng</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thấu hiểu rằng tất cả, trẻ, lớn hay già,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phải lệ thuộc vào cái chết, rằng thời gian chết thì không thể định,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và tất yếu cái gì có sanh cái đó có chết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bằng thí dụ là sự sanh khởi của những phản chiếu trong ao</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thấu hiểu rằng những hiện tượng khác nhau xuất hiện như không có (hiện hữu) chân thật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chúng như những bóng huyễn, một ảo ảnh, một mặt trăng trong nước,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và nhất định trống không, vô tự tánh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đã thấu hiểu những hiện tượng theo cách ấy,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trên một chỗ rộng rãi hãy ngồi thẳng và thoải mái.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với thái độ làm lợi lạc cho chúng sanh, hãy thiền định về tâm của giác ngộ (Bồ đề tâm).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không theo những tư tưởng của quá khứ và không đem đến những tư tưởng tương lai,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và giải phóng hiện tại khỏi sự suy nghĩ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy tham thiền trong một trạng thái không dao động, không có những phóng chiếu và thu hồi….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">An trụ trong tự do, sáng tỏ, trực nhận và sống động,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">(Sự hợp nhất của) tánh không và sáng tỏ, thoát khỏi mọi nắm bắt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đây là sự thấu hiểu của chư Phật ba đời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngoài việc tham thiền tự nhiên với sự thong dong</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong nghĩa bổn nhiên vốn sẵn, bản tánh bổn nhiên của tâm như nó là,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy không nghĩ điều gì cả, giải phóng tất cả tư tưởng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tự do khỏi những tư tưởng, phân tích và những ý niệm hóa</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là cái nhìn thấy (thị kiến) của chư Phật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên, làm bình lặng khu rừng tư tưởng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy trông xem cái an bình tối hậu, bản tánh bổn nhiên của tâm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào lúc kết thúc (thời thiền) Hãy hồi hướng những công đức bằng phương tiện gọi là “thanh tịnh thoát khỏi ba phương diện.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hầu hết những tác giả Tây Tạng biểu lộ sự khiêm hạ của các ngài trong những tác phẩm, như tự diễn tả mình là ngu dốt và thất học mặc dầu các vị là những đại học giả ; hoang dã và mê mờ mặc dù các vị là những người chứng ngộ, và là những thành viên vô nghĩa và thấp thỏi của cộng đồng mặc dù là những bậc được kính trọng nhất. Đó cũng là một cách để huấn luyện mình không phát sanh kiêu hãnh và tự phụ trong tương quan đời sống và khiêm hạ, rất “người”, và bình đẳng với tất cả và cũng để dạy những người khác sự khiêm hạ. Nhưng Longchen Rabjam như vài học giả chứng ngộ vĩ đại khác, để lộ đời sống chân thật của mình và công bố tiếng gầm không sợ hãi và không giới hạn của sự học và cái thấy thấu suốt của mình để gây cảm hứng và làm phát sanh sự xác tín vào những giáo lý trong tâm thức những người theo đạo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cho đến giữa thế kỷ này, trong các tác phẩm, hầu hết những đại học giả của Tây Tạng đã dựa vào kinh điển và những lời dạy của những thánh nhân đã chứng ngộ chân lý như nó là, hay vào chính chứng ngộ của các ngài về chân lý như nó là. Ngày nay nhiều học giả hiện đại viết ra những nhận định và phê phán về kinh, luận mà không có một manh mối y cứ nào, dù là về mặt trí thức, về thật nghĩa là gì.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam viết vì ngài đã học từ những đạo sư chứng ngộ của mình và từ những kinh điển chính thống và vì ngài đã tự mình chứng ngộ trực tiếp qua sự tu hành mãnh liệt trên con đường ngài đã được giới thiệu vào. Ngài không trình bày điều gì chỉ nương dựa vào quan điểm trí thức của mình. Chính Longchen Rabjam viết :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vì tu hành từ đời này sang đời khác,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và đã được đưa vào con đường này bởi những vị thầy thiêng liêng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôi đã chứng ngộ nghĩa của tinh túy thậm thâm</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và đã thành tựu những thừa tối thượng như đại dương.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bởi thế, trong trí huệ bao la như bầu trời,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ những đám mây lớn của sự học và phân tích với tia chớp của những lợi lạc và hạnh phúc,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Kèm với sấm của những chứng ngộ và tham thiền,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cơn mưa lớn này của giáo lý rải xuống.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bởi vì sự bao la của cái học và phân tích trí thức,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôi đã hấp thụ nghĩa của tất cả mọi thừa</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và đã học trong con đường tuyệt hảo này của tánh Kim cương.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên tôi đã viết bình giảng này về cảnh giới sâu thẳm và bao la tối hậu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong Shingta Chenpo ngài viết :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Padma(sambhava) vinh quang, sanh từ đại dương của đại bi và trí huệ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người theo ngài, phú bẩm với ngàn Tia Sáng Vô Nhiễm (Longchen Rabjam),</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là mặt trời của chúng sanh, xua tan bóng tối của tâm thức và</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">An trụ trong cõi giới bổn nguyên không che ám.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong Gyuma Ngalso ngài viết :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bậc Chiến Thắng nói rằng tất cả mọi hiện tượng thuộc về tính cách hai cái huyễn (nhiễm ô và thanh tịnh).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vì mục tiêu chứng ngộ điều này,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bằng cách cô đọng tinh túy của mọi kinh và tantra,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôi sẽ giải thích cái tôi đã chứng ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong Semnyid Rantrol ngài viết :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những hiện hữu hiện tượng là vô sanh và bình đẳng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong đó những tri giác (nhận thức và tâm) vốn nguyên giải thoát</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phổ biến khắp như nhau không nắm bắt ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Về sự thống trị kỳ diệu này, Tâm Tự Nhiên Giải Thoát</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy nghe khi tôi nói với các bạn cái tôi chứng ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đôi khi mục đích viết là để cho chính sự học của người viết. Cách tốt nhất trong ba cách học là viết. Hai cách kia là nghe (nghiên cứu) những giáo lý và thảo luận hay tranh luận. Thế nên mục đích chính của việc biết là xua tan bóng tối, vô minh của chính mình và của người khác. Longchen Rabjam giải thích tại sao ngài đã viết Semnyid Rangtrol :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Giáo lý này, tinh túy của mặt trời,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được tỏa sáng bởi sự khởi lên của những Tia Sáng</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vô Nhiễm (Longchen Rabjam)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngày nay chúng ta đang ở trong thời đại chiến đấu, bao phủ bởi bóng tối của những tà kiến ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Để xua tan chúng, tôi viết bản văn này của nghĩa</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">rốt ráo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam kết luận bình giảng Nelug Dzod rằng :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ bầu trời bao la của những chủ đề có thể biết được,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với trí huệ, ngàn Tia Sáng của Mặt Trời (Longchen Rabjam),</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cô đọng tinh túy cốt lõi những tantra, kinh điển và giáo huấn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tạo nên (sự chỉ dạy này) ở vùng núi Kangri Thodkar.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam, khác với nhiều tác giả Phật giáo khác, thì rất trực tiếp và thành thật trong việc chỉ ra những quan điểm sai lầm của những người khác, như một tục ngữ Tây Tạng nói : “Chỉ ra những lỗi lầm của các đệ tử một cách trực tiếp là tính chất của một vị thầy.” Nó không phải từ ghét giận hay khắc nghiệt mà bởi vì tâm thương xót và bản tánh khiêm tốn, thành thật và cởi mở của ngài, Trong Choying Dzod, ngài viết :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bây giờ, những con voi khoe khoang họ là người theo Ati,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tuyên bố rằng đám tư tưởng chập chờn là tâm giác ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ôi ! những kẻ ngu này đã rơi vào hầm tối,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Họ xa lìa nghĩa của Đại Toàn Thiện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu các người không biết (những khác biệt giữa) năng lực của những sanh khởi và năng lực của tánh giác ngộ bổn nhiên,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Làm sao các người có thể hiểu tinh túy của tâm giác ngộ ?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như Phật đã nói trong kinh, Longchen Rabjam cũng giải thích rằng ngài chỉ có thể dạy Pháp, con đường đạt đến giác ngộ nếu người ta đi theo nó. Ngài sẽ không có năng lực đem đến giác ngộ cho những tâm thức của chúng sanh chỉ bằng cách sống giữa con người, thế nên ngài mong ước sống trong cô đơn hoang vắng và bằng thực hành đạt đến địa vị Phật và phụng sự chúng sanh hiệu quả hơn :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Để cho chúng sanh, tôi ở đây,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cho vài giáo lý từ lòng bi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nhưng tôi không có thần lực để đem sự chứng ngộ tánh Như cho họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên tôi sống một mình trong rừng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong một khu rừng nhiều nước sạch, đầy trái cây, hoa và lá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bao quanh với hàng rào tre và cây nho,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với những chỗ ở mát mẻ, thích thú, hấp dẫn bằng tre,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mong rằng tâm tôi đạt đến an định.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nơi đây, không có người cũng không ma quỷ thấy tôi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sống bằng nước sạch và chỉ bằng những dưỡng chất khổ hạnh,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và bằng thiền định về những ý nghĩa của những giáo huấn cam lồ của Lama tôi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mong rằng tôi bỏ đi thân thể sống này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào lúc đó, bằng cách chứng ngộ cái sáng tỏ vào lúc chết,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Giải thoát cái sáng tỏ của trạng thái trung ấm vào trạng thái bổn nguyên,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và trở nên không thể tách lìa với những thân và những trí huệ bổn nguyên,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nguyện tôi thành tựu những lợi lạc hai phần một cách tự nhiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Do đọc những tác phẩm ấm áp thích thú và thấu nhập của ngài, người ta có thể cảm thấy sự xúc chạm của tâm bi mẫn của ngài. Những dòng sau là một số diễn tả thường xuyên những cảm giác tự phát và tự nhiên trong hình thức những mong ước trong những luận văn học giả của ngài :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bất kỳ ai đối với tôi</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phát sanh giận dữ hay niềm tin, hay bất kỳ ai làm thương tổn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ca ngợi hay theo tôi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nguyện tôi dẫn dắt tất cả họ nhanh chóng đến giác ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài kết thúc Shingta Chenpo với những ước nguyện sau :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nguyện hạnh phúc của tôi được tất cả chúng sanh kinh nghiệm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nguyện những khổ đau của chúng sanh được chuyển di qua tôi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cho đến khi nào sanh tử trống rỗng</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nguyện tôi vẫn dẫn dắt chúng sanh (đến hạnh phúc và giác ngộ).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Giống như những đạo sư Phật giáo khác, Longchen Rabjam dùng tính chất khổ đau và vô thường của sanh tử như là khí cụ để khuyến tấn những đệ tử thực hành Pháp. Trong Terjung Rinpoche’i Logyu ngài viết :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cuộc đời vô thường như những đám mây mùa thu,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tuổi trẻ vô thường như hoa mùa xuân,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thân thể vô thường như tài sản mượn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Giàu có vô thường như sương trên cỏ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bạn bè thân thuộc vô thường như một người khách trong một cửa tiệm ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Dù họ có hội hợp, họ sẽ tan lìa như những người bạn đi du lịch ; và</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thần chết, như bóng của dãy núi phương Tây, sẽ không trì hỗn….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự sanh thì còn đáng sợ hơn sự chết,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bất cứ nơi nào người ta tái sanh trong sanh tử, không có chỗ nào là hạnh phúc,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đức Phật đã nói; nó giống như hầm lửa….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bằng cách học hỏi người ta sẽ không đạt giải thoát khỏi đau khổ :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trước hết, quyết định nhờ những học hỏi không sai lầm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Xua tan mọi nghi ngờ và giả tạo bằng suy tư.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và rồi thiền định về nó, người ta được giải thoát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên, đã học nghĩa không sai lầm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Quan trọng là thực hành nó một mình trong rừng….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cuộc đời này có tự do và những phú bẩm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không biết khi nào nó sẽ mục nát ; nó như một bình đất sét.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tri giác về ngày mai hay đời tới</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người ta sẽ ra sao đều không được biết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên xin hãy thực hành Pháp ngay ngày hôm nay.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những công việc của đời này sẽ không bao giờ chấm dứt cho đến khi chết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi các bạn dừng chúng lại, chính là bản tánh của chúng mà chúng được chấm dứt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Niềm tin vào Pháp thì khó phát triển,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên bất cứ khi nào các bạn nhớ đến Pháp,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">hãy thực hành nó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau đây là một số sáu thành tố do Longchen Rabjam ban cho trong Mengag Dzod để tóm lại và làm rõ những điểm đạo đức, triết học, tôn giáo và thiền định của Pháp. Những yếu tố quan trọng để đi vào Pháp:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu điều quan trọng để đi vào Pháp là</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tuân thủ kỷ luật tu hành, nền tảng của con đường,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Học hỏi nhiều chủ đề khác nhau mà không thiên chấp,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Làm bình lặng ba cửa và tự tâm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngừng dứt những hành vi bất thiện, và phát triển những hành vi thiện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có hổ thẹn, và phát triển lòng tin,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và có một vị thầy đức hạnh và những người bạn đức hạnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những điều ấy rất quan trọng cho người mới học.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những tính cách của cô đơn :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu yếu tố quan trọng để sống trong cô đơn là</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một nơi chốn đơn độc với những dấu hiệu tốt lành,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nơi những bậc quá khứ đã đặt chân đến,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở đó những người giữ nguyện tụ tập vì nó không dơ bẩn bởi ô nhiễm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nơi không có những phóng dật và tiêu khiển,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nơi những lương thực dễ có được,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và nơi không có nguy hiểm từ người hay loài không phải người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam nhấn mạnh rằng sự cô đọng của tất cả các thừa vào một cái là phương tiện đạt đến Phật tánh, và ngài bác bỏ quan điểm rằng chúng là những thân phần trái nghịch nhau của những giáo lý. Ngài kết luận Semnyid Ngalso với những lời sau :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bây giờ, những người bình thường mà tâm nhãn không thanh tịnh,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cho những con đường khác nhau của “dòng tương tục” (tantra) và của “hoàn thiện” (ba la mật)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là trái nghịch nhau. Họ không biết cách kết hợp chúng thành một.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bởi thế, họ có những con mắt thiên lệch.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở đây (trong bản văn này), những nghĩa sâu xa tối thượng của các thừa, thừa nhân và thừa quả,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôi đã cô đọng thành một, là phương tiện của sự tu hành.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Theo quan điểm của Longchen Rabjam, mọi đức hạnh của chín thừa được cô đọng trong tánh giác, tâm giác ngộ của Đại Toàn Thiện :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những kinh điển của Thanh Văn, Bích Chi Phật và Bồ tát</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đồng ý trong cái thấy xác định không có sự hiện hữu của cái ngã của người và cái ngã của pháp</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và trong sự tự do thoát khỏi những ý niệm hóa, như hư không.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong những kinh điển của yoga Ati bí mật tối thượng và vĩ đại,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong tự do như hư không thoát khỏi những phân biệt ta người,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trí huệ bổn nguyên tự-khởi, người ta an trụ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên tất cả nghĩa (của những thừa trước) được cô đọng trong tinh túy tối thượng này (tánh giác).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những loại (tantra ngoại) Kriya, Upa (yoga) và Yoga (tantra),</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đồng ý rằng nhờ phương tiện những mây cúng dường của tự mình, bổn tôn và những tham thiền</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người ta đạt được sự thành tựu tịnh hóa ba cửa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong tột đỉnh kim cương bí mật, vua của những giáo lý,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người ta chứng nghiệm những tri giác, âm thanh và tư tưởng là những bổn tôn từ trạng thái bổn nguyên</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và thành tựu sự tịnh hóa ba cửa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên sự chứng ngộ của (ba thừa) này được thành tựu trong tinh túy tối thượng này (tánh giác).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ba tantra nội Maha, Anu và Ati đồng ý :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế giới và chúng sanh, những hiện hữu hiện tượng, là những bổn tôn nam và nữ và cõi tịnh độ của các vị,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cõi giới tối hậu và trí huệ bổn nguyên hợp nhất viên mãn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và bản tánh tối hậu là trí huệ bổn nguyên bất biến và tự-khởi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong cái bí mật tối thượng nhất này (tánh giác), bởi vì tất cả vốn toàn thiện,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và ngoại trừ (những xuất hiện của) những lâu đài vô tạo tác trong cõi tịnh độ của pháp giới bổn nguyên lạc phúc,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chúng toàn khắp trong không có những chiều kích trong hay ngoài,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không có những đặc thù của nỗ lực, chấp nhận hay chối bỏ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tất cả là giải thoát trong pháp giới vô cùng của Pháp thân,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên tất cả những chứng ngộ của chín thừa đều được thành tựu trong tinh túy bí mật vĩ đại này (tánh giác).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam diễn tả sự chứng ngộ của Đại Toàn Thiện trong những lời giản dị, sống động mà sâu xa :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu người ta chứng ngộ sanh tử không có căn cứ, mối manh, đó là niết bàn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu người ta chứng ngộ niết bàn chỉ là giả danh, đó là cõi giới bổn nguyên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu bạn tự do khỏi những nỗ lực và vượt lìa tâm thức, đó là Pháp thân.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu bạn trong tham thiền không có tư tưởng, đó là siêu vượt khỏi những tư tưởng và diễn tả.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu không có những ý niệm và bám luyến, đó là trạng thái tự nhiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu bạn vượt khỏi tâm thức và những hiện tượng đều Không, đó là nghĩa tối hậu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu bạn tự do khỏi “là” và “không là”, đó là tự do khỏi những cực biên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu bạn cắt đoạn gốc rễ những lo sợ và nghi ngờ, đó là giác ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">(Giáo lý Đại Toàn Thiện) là tinh túy chân thực và tối hậu ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôi dạy nó cho những người phước đức mai sau.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bạn và những người theo đạo phước đức khác,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy bảo đảm sự chứng đắc vĩnh cửu trong trạng thái vô tướng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đoạn sau là một số trích dẫn từ những tác phẩm kệ của Longchen Rabjam để làm rõ cái thấy của ngài về đời người và những hiện tượng thế gian, và sự trình bày của ngài về cái thấy, thiền định và những kết quả của sự tu hành Đại thừa :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu phương diện người ta cần nương dựa cho đến chứng đắc rốt ráo :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy bỏ thân thuộc và nương dựa vào những thiện tri thức tuyệt hảo,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy bỏ những bạn bất thiện và nương dựa vào những vị thầy có học và khéo léo hộ trì,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy bỏ những đồng ý và nương dựa vào sự tương hợp tối hậu với Pháp,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy nhận sự học hỏi và tư duy và áp dụng chúng cho tâm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy bỏ những thành thị và ở trong núi non hoang vắng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và tìm kiếm những giáo lý và thực hành chúng với chuyên cần.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu người ta có thể theo như thế, người ta sẽ hoàn thành những chứng đắc nhanh chóng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Man-Ngag Rinpoche’i Dzod MD 7b/1 :</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đối với việc (làm bình lặng) sự nắm bắt cái ngã của những đối tượng, hãy nhìn vào sự thay đổi của chúng trong bốn mùa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đối với bám chấp vào sự thường còn của cuộc đời, hãy nhìn vào hạt sương trên cỏ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đối với vô minh về nhân và quả, hãy nhìn vào những hạt giống và trái của nó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đối với vô minh của tri giác và tâm thức, hãy nhìn vào những giấc mộng khi ngủ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đối với vô minh về một vị, hãy nhìn vào mật mía và những phản chiếu của nó,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và đối với vô minh về bất nhị, hãy nhìn vào nước và băng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những cảnh tượng này là những đối trị vĩ đại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 43a/3 </b><span style="font-weight: 400;">:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự từ bỏ sáu hành vi thiện và bất thiện trộn lẫn là :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ nương dựa vào một vị thầy không có tinh túy tâm linh mà lại khiến giận ghét và tham luyến tăng trưởng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ chấp nhận một đệ tử là một bình chứa không thích hợp (với Pháp) và nghĩ đến những lỗi lầm (của những người khác),</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ thực hành những đức hạnh (trên danh nghĩa) chúng (thật ra) là sự tích tập những hành vi không đức hạnh,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ ban bố từ thiện với mong mỏi được kính trọng và được đáp đền,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ làm những cúng dường để phục vụ cho thân thuộc và sự giàu có của mình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và chớ ban cho những giáo lý để lừa dối người ta mà kiếm lợi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Theo những khuyên bảo này, người ta sẽ tương ưng với Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 9a/5 :</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chứng đắc quả Phật dựa vào Sáu phương diện :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Dụng cụ tuyệt hảo cho tu hành Pháp nương dựa vào việc có một đời người quý báu,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">(Chứng đắc giải thoát) nương dựa vào sự tu hành vì không có tu hành người ta không đạt giải thoát,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành dựa vào hiểu biết trọn vẹn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hiểu biết nương dựa vào học hỏi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự hoàn thiện của học hỏi nương dựa vào suy nghĩ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và tất cả nương dựa vào việc có một đạo sư đạo hạnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 13a/4</b><span style="font-weight: 400;"> :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu nâng đỡ tuyệt hảo của thực hành Pháp :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôn kính Tam Bảo như đối tượng tôn thờ tối thượng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hy sinh những hoạt động của cuộc đời này như sự hy sinh tối thượng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có lòng tin, học và suy nghĩ như sự giàu có tối thượng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nhận biết tự tánh của Tâm như người bạn tối thượng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Buông bỏ bám chấp vào những tham muốn ích kỷ như thái độ tối thượng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và thấy Lama như Phật, đó là sự thành tựu tối thượng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu người ta hành động theo những đường lối này, người ta sẽ hoàn thành những mục tiêu hai phần.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 64b/4 </b><span style="font-weight: 400;">:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu đức hạnh quan trọng là :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lòng bi cho chúng sanh là quan trọng cho việc chứng ngộ vô ngã,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tin vào nhân quả là quan trọng cho sự thâm nhập tánh Không,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không lưu lại trong sanh tử là quan trọng cho sự an trụ trong an lạc,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không mong chờ những kết quả là quan trọng cho lòng từ thiện,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ bỏ khoe khoang là quan trọng cho sự tuân thủ kỷ luật tu hành,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và sự khiêm tốn trong nhu cầu là quan trọng cho việc sống cô đơn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu có sáu điều này người ta thành tựu việc tu hành Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 46a/1 :</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những cần thiết của sáu cái bình đẳng :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cần thiết cảm nhận rằng con của mình và kẻ thù là bình đẳng do biết rằng chúng sanh của sáu đường là những bà mẹ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cần thiết thấy sự bình đẳng giữa vàng và sỏi đá do chứng ngộ giàu có vật chất là huyễn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cần thiết thấy sự bình đẳng của những hành vi thiện và bất thiện vì không có nhân và quả trong thật tánh của chúng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cần thiết thấy tánh nhất như của thiền định và xuất định do chứng ngộ thật tánh của sáu thức.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cần thiết thấy tánh vô phân biệt do diệt trừ những phiền não bằng cách thấy chúng là những trí huệ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và cần thiết thấy sự bình đẳng của sanh tử và niết bàn vì bản tánh của chúng là bổn nhiên thanh tịnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thấy những bình đẳng này là đại yoga.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 48a/5 </b><span style="font-weight: 400;">:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành sáu hoàn thiện (sáu ba la mật) không tách lìa là :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không để cho lòng rộng lượng bị đánh cắp bởi kẻ thù keo kiệt,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không để cho những tên cướp, tà hạnh, phá hủy kỷ luật đạo đức,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không để cho lòng khoan dung bị đâm thủng bởi vũ khí của giận dữ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không để cho tinh tấn bị trói buộc bởi xiềng xích của giải đãi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không để cho tham thiền bị ô nhiễm bởi thuốc độc của những xao động,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và không để trí huệ bổn nguyên bị che ám bởi bóng tối của vô minh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 50a/4</b><span style="font-weight: 400;"> :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành sáu tính chất tuyệt hảo là :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ bỏ những hoạt động của thân mê lầm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ bỏ những diễn tả của ngữ vô nghĩa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ bỏ những phóng chiếu của những tư tưởng của tâm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ bỏ những bám luyến của tham hưởng thụ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ bỏ dấn thân vào những phóng dật và tiêu khiển,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và từ bỏ sự nịnh hót như một phương tiện để giữ gìn cho tâm những của người khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 59b/4</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu cách cô đọng sự tu hành các thừa là :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành tri giác thanh tịnh bằng cách nhận chân thế giới và chúng sanh là những tri giác như huyễn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành lòng bi bằng cách nhận chân sanh tử là thống khổ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành lòng từ bằng cách nhận chân chúng sanh sáu đường là những bà mẹ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành ba thệ nguyện bằng cách nhận chân nghiệp là nhân quả duyên sanh,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành những giai đoạn phát triển và thành tựu bằng cách đồng hóa bốn quán đảnh truyền pháp với ba cửa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và tu hành bản tánh tối hậu bằng cách nhận chân những hình tướng, âm thanh và tư tưởng là bản tánh tối hậu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu người ta hoàn thiện những tu hành này sẽ không có những che chướng và lỗi lầm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 33b/6</b><span style="font-weight: 400;"> :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu lời kim cương của Đại Toàn Thiện Dzogpa Chenpo :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đại Toàn Thiện của nền tảng là sự xác minh cái Tâm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đại Toàn Thiện của con đường là sự thâm nhập điểm cốt yếu cho giải thoát,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đại Toàn Thiện của quả là chứng đắc sự dừng dứt của những hy vọng và lo sợ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đại Toàn Thiện của những đối tượng là sự giải thoát của những tri giác không có nắm bắt,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đại Toàn Thiện của tâm là sự khởi sanh của những tư tưởng như là những hỗ trợ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và Đại Toàn Thiện của nghĩa là sự tan biến tự nhiên của những chuyển động.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bất cứ ai thực hiện được những điều này là vua của các thiền giả.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 74a/3</b><span style="font-weight: 400;"> :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu xác tín của chứng ngộ về cái nhìn thấy sâu xa là :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chứng ngộ những hiện tượng là trung đạo thoát khỏi những cực biên,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chứng ngộ những hiện tượng là tánh sáng tỏ vĩ đại, cái hợp nhất,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chứng ngộ những hiện tượng là tánh bình đẳng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">đại lạc,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chứng ngộ những hiện tượng là bất nhị, tinh túy</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">đơn nhất,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chứng ngộ những hiện tượng là sự thành tựu tự nhiên, tự do khỏi mọi thiên chấp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và chứng ngộ những hiện tượng là thanh tịnh bổn nguyên, tự nhiên bổn nguyên. Dù người ta hoàn thiện chúng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">(Trong thật tánh của chúng) không có người chứng ngộ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cũng như bản thân sự chứng ngộ không có ý tưởng gì về chứng ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên, maya yoga (yoga huyễn) này thoát khỏi mọi thí dụ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 74a/5</b><span style="font-weight: 400;"> :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đã chứng ngộ như thế, có sáu cách giải thoát :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những đối tượng bên ngoài, ngay lúc chúng xuất hiện,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được giải thoát ngay trong bản tánh của sự xuất hiện, như băng tan vào nước.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự tri nhận bên trong, ngay lúc tri nhận,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được giải thoát ngay trong bản tánh của sự tri nhận, như bọt tan vào trong nước.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hai tư tưởng trung gian, ngay lúc chúng chuyển động</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được giải thoát ngay trong bản tánh của những chuyển động, như tia sấm chớp trong bầu trời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những âm thanh, những chỉ danh và tên, ngay lúc vang lên</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được giải thoát ngay trong bản thân sự gọi tên, như những âm thanh của một tiếng vang.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những lý thuyết nắm hiểu, ngay điểm xác nhận,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được giải thoát ngay bản thân những xác nhận, như những cầu vồng biến mất trong bầu trời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những kết quả của thành tựu, ngay lúc đạt được,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được giải thoát ngay trong bản tánh của những chứng đắc, như những ước muốn được đáp ứng tức khắc bởi viên ngọc như ý.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bản tánh thì vốn tự-giải thoát và những đối trị thì tự tan biến.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nó tự do khỏi những chỉ định và những đối tượng, và nó là sự thành tựu tự nhiên của chứng ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>TRL (gTer Byung Rinpoche’i Lo-rGyus) 52b/2 :</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy thấy trí huệ tự nhiên khởi, vua của những cái thấy (tri kiến),</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy thiền định về tánh sáng tỏ tự nhiên khởi, vua của những thiền định,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy tu hành những hiện hữu hiện tượng là huyễn, vua của những hành động.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy đạt được sự tan biến vào trong trạng thái bổn nguyên, vua của những kết quả.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người ta sẽ trở thành Samantabhadra (Phổ Hiền), trong trạng thái tự nhiên thành tựu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>YD 42a/6 </b><span style="font-weight: 400;">:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Quả hoàn thiện của thiền định là :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự chứng đắc những thân và những trí huệ bằng việc hoàn thiện những đoạn trừ và những chứng ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như mặt trời và mặt trăng không bị mây che phủ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi bản tánh tự do khỏi những che ám,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nó được gọi là giác ngộ, và rồi những đức hạnh hiện tiền tự nhiên xuất hiện,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và những sự xuất hiện của thân, các thức và những</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">tri giác,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những thói quen của ba cái che ám, sẽ được giải thoát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như một ngọn đèn trong một cái bình vỡ, một tượng thờ trong một đóa hoa nở ra,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những công đức hiện diện tự nhiên bày hiện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi những thói quen của ba cái che ám được giải thoát,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chúng xuất hiện là những cõi Phật, những trí huệ, và những thân Phật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong những tác phẩm của Longchen Rabjam, thỉnh thoảng ngài cũng có những trích dẫn sai xuất xứ bản văn. Đôi khi ngài đổi lời của một trích dẫn, nhưng không có lỗi lầm trong ý nghĩa. Theo học giả nổi tiếng Mipham Namgyal (1846-1887) Longchen Rabjam đã nhớ rất nhiều kinh điển. Ngài cũng sáng tác rất nhiều tác phẩm trong hoang vắng nơi không có những bản văn để quy chiếu. Thế nên khi trích dẫn ngài chỉ viết ra theo trí nhớ chứ không dựa vào bản văn có sẵn. Khi Mipham biên tập cuốn Pema Karpo và bình giảng của nó để in, ngài không sửa chúng, vì không có những khác biệt trong ý nghĩa, và ngài thấy những biến đổi ấy như là một dấu hiệu về sự vĩ đại của tác giả. Mipham nói trong cuốn Giải Thích Một Số Điểm Khó của Yidzhin Rinpoche’i Dzod :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có nhiều lỗi trong những tiêu đề của những bản văn gốc. Rõ ràng rằng Bậc Toàn Giác Vĩ Đại đã nhớ tất cả kinh, tantra và những bình giảng của chúng, và ngài được dân chúng biết đến như là “Bậc từ chùa Samye với Nhiều Kinh Điển.” Có nói rằng về sau, khi ngài tạo những tác phẩm trong cô đơn, không nhìn vào những bản văn mà chỉ trích chúng từ trí nhớ, điều đó là thật. Có những lỗi trong những tiêu đề trích dẫn và cũng có một số khác biệt trong những lời trích dẫn, nhưng không có sự khác biệt trong ý nghĩa với bản văn gốc. Chúng không phải là những lỗi do người thợ sắp chữ về sau. Bởi vì chúng thuộc về những tác phẩm gốc của ngài, tôi giữ nguyên chúng, bởi vì nếu chúng được duy trì không sửa lại chúng sẽ bảo tồn những ban phước vĩ đại của ngài. Trong những lỗi ấy, không có một sự khác biệt nhỏ nhất nào trong những điểm quan trọng của nghĩa. Nếu người ta có thể thấy điều này, bấy giờ những sự việc đó có khả năng phát sanh thán phục. Thế nên tốt hơn là không thay đổi chúng dù là ai trong mai sau.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>NHỮNG DANH HIỆU CỦA LONGCHEN RABJAM VÀ Ý NGHĨA CỦA CHÚNG</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam dùng nhiều tên khác nhau trong những kết từ của các tác phẩm để phân biệt những chủ đề của những bản văn :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Trong những tác phẩm chủ yếu về những chủ đề có thể giải thích được, những khoa học thế gian như thi ca, vần luật và khoa học ngôn ngữ, tên được dùng là “bởi Samylpa Tshul-thrim Lodro.” Trong những tác phẩm chung cho cả tantra ngoại và nội, tên là : “bởi Dorje Zijid.” Trong những tác phẩm chủ yếu về những chủ đề sâu xa giải thích qua những giai đoạn của các thừa, và về lời và nghĩa giải thích những phân chia của các thiền, tên được dùng là : “bởi Drimed Odzer.” Trong những tác phẩm dạy lĩnh vực của bản tánh bất khả tư nghì trong những chi tiết lớn lao nhất, tên được dùng là : “bởi Longchen Rabjam.” Trong những tác phẩm trong đó các thừa, những lý thuyết, tánh Như v.v…. được giải thích chi tiết, tên được dùng là : “bởi Kunkhyen Ngagi Wangpo.”</b></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong những đạo sư Dzogpa Chenpo (Đại Toàn Thiện) từ thời Guru Padmasambhava và Vimalamitra (thế kỷ thứ 9), Kun-khyen Longchen Rabjam (1308-1363) là người lỗi lạc nhất, thiền giả, triết gia và tác giả vĩ đại nhất. Ngài sinh trong một làng tên là Todtrong, trong thung lũng Tra miền Yoru – một trong hai miền vùng trung Tây Tạng, Yoru và Wuru – vào ngày mười tháng mười một năm con Khỉ Thổ. Cha ngài, đạo sư Tensung là con một nhà hiền triết Nyingma tên là Lhasung thuộc bộ tộc Rog. Lhasung sống đến một trăm lẻ năm tuổi, là cháu đời thứ hai mươi lăm của Gyalwa Chog-yang, một trong hai mươi lăm đệ tử chánh của Guru Padmasambhava. Mẹ của Longchen Rabjam là Sodnamgyen của bộ tộc Drom.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những điều mầu nhiệm đi theo với sự sanh ra của ngài. Khi ngài ở trong thai, mẹ ngài mộng thấy hai mặt trời trên đầu một con sư tử khổng lồ chiếu sáng toàn thế giới và tan vào bà. Lúc ngài được sinh ra nữ hộ pháp Namtru Remati xuất hiện trước mẹ ngài trong hình thức một người đàn bà đen hoa một cây gươm. Ôm đứa bé trong tay, nữ hộ pháp nói : “Ta sẽ bảo vệ nó.” Bà giao lại cho mẹ ngài ẵm và biến mất. Một ngày nọ khi mẹ ngài đang làm việc ngoài đồng, một cơn mưa đá rơi xuống và bà chạy về nhà, quên đứa bé đang ở ngoài đồng. Khi nhớ ra, bà đi tìm nó, nhưng đứa bé đã biến mất. Bà bắt đầu kêu khóc và người đàn bà đen lại xuất hiện, với đứa bé trong tay và giao nó lại cho bà mẹ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Theo nhiều lời tiên tri, một trong những đời trước của Longchen Rabjam là Công Chúa Premasal, con của Vua Trisong Deutsen (790-858). Khi công chúa chết, Guru Padmasambhava đã giao phó cho công chúa sự trao truyền Nyingthig, những giáo lý Tinh Túy Sâu Xa Nhất của Dzogchen.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong số những cuộc đời của Công Chúa Premasal, sự tái sanh trực tiếp trước Longchen Rabjam là Pema Ledreltsal (1291?-1319?), người khám phá những giáo lý Nyingthig. Chúng được Guru Padmasambhava giao phó cho Công Chúa Premasal như là một Terma (Kho tàng Pháp được khám phá) và sau được biết với tên là Khadro Nyingthig.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ thuở nhỏ ngài đã có những phẩm tính cao cả của một Bồ tát, như là niềm tin, lòng bi và trí thông minh phi thường. Khi lên năm, ngài hoàn thiện những thiện xảo về đọc và viết. Khi bảy tuổi, cha ngài ban cho ngài những quán đảnh, giáo huấn và tu hành những nghi thức và thiền định của các tantra và Terma của Nyingma, như là Kagyed Desheg Dupa. Ngài cũng được dạy y học và chiêm tinh học. Khi lên tám tuổi, mẹ ngài mất.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài nhớ cả hai bản văn “Tám Ngàn” và “Hai Mươi (hay hai mươi lăm) Ngàn Bài Kệ Bát Nhã Ba La Mật” sau khi đã đọc chúng một trăm lần. Khi mười một tuổi, cha ngài mất. Năm mười hai tuổi ngài xuất gia tại chùa Samye với Khenpo Samdrup Rinchen và Lobpon Lha Kunga, và được ban pháp danh Tshulthrim Lodro. Ngài thông thạo Vinaya (Luật) và dạy chúng vào năm mười bốn tuổi. Năm mười sáu tuổi ngài nhận nhiều giáo lý của Tantra Mới (phái Tân dịch) từ Trashi Rinchen và những vị khác. Từ mười chín tuổi ngài nghiên cứu theo lối học giả những bản văn gồm bảy luận về luận lý học của Dharmakirti, năm bản văn của Maitrinatha/Asangha, và nhiều bản văn Trung Quán và Bát Nhã ở đại học tu viện Sangphu Neuthog trong sáu năm với nhiều đại giáo sư trong đó có Lobpon Tsengongpa, vị nắm giữ chức trụ trì đời thứ mười lăm, và Latrenpa Chopal Gyaltshen, vị nắm giữ chức trụ trì đời thứ mười sáu của phái Lingtod và Lingmed.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sangphu được xây dựng năm 1073 bởi Ngog Legpa’i Sherab, một trong ba đệ tử chính của Atisha. Nó là trung tâm của Ngog Loden Sherab (1059-1109), dịch giả nổi tiếng của thời kỳ “Hoằng Pháp Về Sau.” Trong hàng thế kỷ nó là một trong những cơ sở học viện quan trọng nhất ở Tây Tạng, nhưng thời gian gần đây những sự nghiên cứu nhờ đó nó được nổi tiếng đã bị gián đoạn trừ ở trại mùa hè của những học giả, và những học trò phái Gelug. Khi Khyentse Wangpo (1820-1892) thăm Sangphu vào khoảng 1840, ngài thấy nó đã trở thành một cái làng của người đời với vài đồ vật có giá trị tôn giáo. Sangphu và Samye là hai cơ sở tu viện, thêm nơi ẩn cư của Đạo Sư Kumazaraja, là những nơi Long-chen Rabjam chủ yếu nhận được sự giáo dục và tu hành của mình. Với dịch giả Panglo Lodro Tenpa (1276-?), ngài học tiếng Sanskrit, thơ ca, luận văn, kịch, năm kinh chính và Abhidharma. Ngài có những thị kiến thanh tịnh về nhiều hóa thần bổn tôn, như Manjusri, Sarasvati, Vajravarahi, và Tara, như một kết quả của sự thiền định về những Sadhana của các vị. Ngài chu du một vòng học hỏi hàn lâm ở nhiều cơ sở nghiên cứu khác nhau, và vì mức độ học vấn của ngài, ngài trở nên nổi tiếng với những danh hiệu danh dự, Samye Lungmangpa (Vị từ chùa Samye, Người Làm Cho Nhiều Kinh Điển Được Tôn Cao) và Longchen Rabjam (Cái Sâu Thẳm và Vô Biên), hay Tiến sĩ về Siêu Hình học Sâu Thẳm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài lang thang nhiều nơi và học với nhiều học giả nổi tiếng. Ngài nhận những giáo lý của những Kinh, Mayajala và Cittavarga, và ba phần chính của những tantra Cổ từ đạo sư Zhonu Dondrub của (tu viện ?) Danphag, Nyonthingmawa Sangye Trag-od và những vị khác. Từ khoảng hai mươi đạo sư, gồm Sangye Tragpa của Nyothing, Zhonu Gyalpo, Zhonu Dorje, Karmapa Ranchung Dorje (1284-1334), Sonam Gyaltshen (1312-1375) phái Sakya và những vị khác, ngài nhận tất cả những giáo lý và trao truyền của những tantra cả cổ và tân của nhiều dòng đang được dạy ở Tây Tạng vào thời bấy giờ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài cảm thấy không thích tính tình thô lỗ và ghen tỵ của một số nhà sư từ tỉnh Kham ở Sangphu, học viện chính của ngài, và bỏ đi. Trong tháng thứ năm của tám tháng nhập thất trong tối ở một hang ở Gyama’i Chogla, ngài có một thị kiến vào lúc bình minh. Ngài đang đứng trên bờ cát của một con sông, từ đó ngài có thể thấy vài ngọn đồi. Ngài nghe tiếng hát đi cùng với âm nhạc. Nhìn về hướng có âm thanh, ngài thấy một phụ nữ mười sáu tuổi mặc đồ thêu kim tuyến, trang sức bằng vàng và ngọc lam và mang một mạng vàng che mặt. Bà cỡi một con ngựa có yên da và chuông. Ngài cầm lấy phần chót của áo bà và cầu xin : “Ôi, Đức Bà Cao Quý (tức là Tara), xin từ bi chấp nhận con.” Bà đặt vương miện bằng ngọc quý lên đầu ngài và nói : “Từ giờ trở đi, ta sẽ luôn luôn cho con những ban phước và những thần lực.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào lúc đó thân tâm ngài chìm trong một trạng thái thiền lạc phúc, sáng tỏ và thoát khỏi những ý niệm. “Tôi đã không tỉnh dậy trong một thời gian lâu !” như ngài nói. Dù ngài thức dậy vào bình minh, ngài đã ở trong cùng trạng thái ấy trong suốt ba ngày (theo bản TTD 9b/1 : một tháng). Nó thiết lập nhân duyên cho sự gặp gỡ của ngài với những giáo lý Nyingthig. Sau cuộc nhập thất ngài ban quán đảnh Vairocana cho khoảng ba mươi người đàn ông và đàn bà. Có thể đó là sự truyền pháp đầu tiên của ngài. Sau đó ngài đi đến tu viện Samye.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm hai mươi bảy tuổi, như những thần bổn tôn của ngài đã tiên tri, ngài đi gặp Rigdzin Kumaradza (1266-1343), vị giữ sự truyền thừa vĩ đại của Nyingthig tổng quát, và đặc biệt những giáo lý Nyingthig được truyền ở Tây Tạng bởi Vimalamitra, có tên là Sangwa Nyingthig hay Vima Nyingthig.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đạo sư sống ở Yartod Kyam với các đệ tử trong một trại có khoảng bảy mươi chỗ ở. Đạo sư vui vẻ tiếp đãi Longchen Rabjam và gợi ý cho ngài với lời tiên tri rằng ngài sẽ trở thành người giữ dòng truyền Nyingthig. Đạo sư nói : “Hồi đêm ta mộng thấy một con chim kỳ diệu, một con chim thiêng, với một đàn một ngàn chim. Chúng đến và đem những bản văn của ta đi khắp mọi hướng. Đó là một dấu hiệu rằng con sẽ trở thành một người giữ sự truyền thừa những giáo lý của ta. Ta sẽ cho con những giáo lý trọn vẹn.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam rất vui mừng bởi sự tiếp đón và những lời của đạo sư. Nhưng ngài không có tài sản vật chất nào để đóng góp vào cho cộng đồng, mà đây là một đòi hỏi để được cho ở. Ngài buồn bã, nghĩ rằng, “Ta sẽ là người độc nhất phải từ bỏ Lama bởi vì không có một sự đóng góp theo pháp. Ta phải rời bỏ thung lũng này trong đêm trước lúc mặt trời lên, vì sẽ nhục nhã khi bỏ đi lúc ban ngày trước mắt mọi người.” Đạo sư đọc tư tưởng của Longchen Rabjam bằng tha tâm thông.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lúc gần sáng khi Longchen Rabjam thức dậy, có hai người đến từ Đạo sư, nói rằng, “Bậc Pháp Vương muốn ông đến gặp ngài.” Đạo sư ban trà cho ngài và nói với những người trông nom cộng đồng : “Ta trả sự đóng góp theo pháp đối với cộng đồng nhân danh Geshe Samyepa (Longchen Rabjam). Ông ta sẽ là người tốt nhất trong tất cả các đệ tử của ta.” Trong năm đó, ngài nhận những quán đảnh truyền pháp và giáo huấn của giáo lý Nyingthig của dòng Vimalamitra. Năm sau, thêm vào những truyền pháp và giáo huấn khác, ngài nhận những trao truyền tất cả những tantra và những giáo huấn khác của ba phạm trù Dzogpa Chenpo (Đại Toàn Thiện).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi học với Rigdzin Kumaradza, Longchen Rabjam sống trong những hoàn cảnh nghèo khổ khắc nghiệt. Trong mùa đông cực kỳ lạnh lẽo, ngài chỉ có một cái bao rách dùng như nệm và mền. Trong hai tháng ngài sống bằng ba lít bột và hai mươi mốt viên thuốc Ngulchu cỡ bằng hạt đậu. Để chiến đấu chống lại tham luyến, Lama dạy phải dời trại từ vùng đất không người này sang vùng khác. Trong chỉ một mùa xuân, họ dời trại chín lần, và điều ấy gây khó nhọc lớn lao cho Longchen Rabjam. Khi ngài vừa ở yên, thì đến lúc phải dời trại. Chính trong những hoàn cảnh như vậy mà ngài đã nhận toàn bộ giáo lý sâu thẳm nhất của Nyingthig từ đạo sư, như nước đổ từ một bình chứa vào một cái khác. Và bằng cách thực hành ngày đêm, ngài đã thực hiện sự chứng ngộ như nhau với thầy mình. Ngài được trao quyền là người nối pháp của đạo sư và là người giữ dòng truyền thừa cho những đệ tử tương lai.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như ngài hứa với vị Lama của mình, ngài thực hành những giáo lý của đạo sư trong nhiều chỗ thiêng liêng khác nhau trong bảy năm nhập thất ở Chimphu của Samye. Ngài thấy những thị kiến thanh tịnh về những biểu lộ An bình và Hung nộ của Guru Padmasambhava, Vajrasattva, Tara và những Hóa Thần Bổn Tôn Gốc. Những Hộ pháp nguyện phụng sự ngài và đáp ứng những mong muốn của ngài. Với những hóa thần bổn tôn của Tám Đại Mạn Đà La, ngài có thể giao tiếp như giữa người với người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thỉnh thoảng ngài thăm viếng Rigdzin Kumaradza và nhận những soi sáng về những giáo lý và về sự tu hành của ngài. Ngài làm hài lòng Thầy mình bằng những đồ cúng dường là sự thực hành Pháp; những chứng ngộ về cái thấy tiến bộ trong thiền định, và trí huệ biết tất cả những chủ đề có thể biết. Ngài cũng cúng dường mọi tài sản vật chất của ngài bảy lần. Ngài tự tả những chứng đắc của ngài trong Lịch sử của Lama Yangtig :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không còn nữa sự tham luyến sanh tử trong tôi. Tôi đã giải thoát khỏi chuỗi những hy vọng và lo sợ. Tôi luôn luôn ở trong cái thấy và sự tham thiền Đại Toàn Thiện Tuyệt đối.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi ngài cầu nguyện và cúng dường cho tượng Chowo ở Lhasa, ngài thấy một ánh sáng vọt ra từ trán của bức tượng và tan vào trong trán ngài. Việc đó khiến cho ngài nhớ lại những đời trước của ngài là một học giả ở núi Linh Thứu ở Ấn Độ và cũng ở xứ Li, và hiểu biết kinh điển của ngài từ những thời đó thức dậy. Nó làm rộng thêm cái học của ngài hơn nữa. Năm ba mươi mốt tuổi, ngài ban những quán đảnh và giáo huấn Nyingthig cho một số đệ tử lần đầu tiên ở Nyiphu Shugseb.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bấy giờ đệ tử Thiền giả Odzer Gocha cúng dường ngài những bản văn của Khadro Nyingthig mà ông tìm ra sau một cuộc tìm kiếm rất vất vả. Cùng lúc đó, nữ hộ pháp Shenpa Sog-drubna cũng đưa cho ngài một bản in của bản văn đó, nó có ý nghĩa quan trọng. Khadro Nyingthig là những giáo lý Nyingthig được truyền ở Tây Tạng bởi Guru Padmasambhava cho Lhacham Pemasal (thế kỷ 9) và rồi được cất giấu như một Terma và được khám phá từ một ngọn núi ở thung lũng Danglung Thramo bởi Pema Ledreltsal, tái sanh mới vừa đời trước của Longchen Rabjam.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm sau, ba mươi hai tuổi, ngài ban cho tám đệ tử may mắn những quán đảnh truyền pháp và giáo lý giữa những biểu lộ, thị kiến và kinh nghiệm kỳ diệu ở Chimphu Rimochen. Nữ hộ pháp Ekadzati cho những tiên tri qua một đệ tử nữ. Vừa nhảy múa, Longchen Rabjam hát bài ca kim cương :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hỡi những thiền giả, hoan hỷ và hạnh phúc biết bao!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đêm nay, trong cõi Phật không gì sánh,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong chính thân thể mỗi người, cung điện của những thần Bình an và Hung nộ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mạn đà la của chư Phật, tánh sáng tỏ và tánh không, </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">đã khai triển.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phật không ở bên ngoài mà hiện hữu ở bên trong….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đấy là nhờ lòng tốt của Lama.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lama không ở ngoài mà trụ ở bên trong,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lama của sự thanh tịnh bổn nguyên và hiện diện tự nhiên</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trụ trong trạng thái của sáng tỏ và tánh không,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">thoát khỏi mọi nắm bắt….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hỡi những người tham thiền ! Tâm các vị có trụ một mình ?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ có giữ những tư tưởng của các người trong chính các người, mà hãy để cho chúng đi bất cứ nơi đâu theo ý chúng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vì tâm là tánh không, dù nó đi hay ở,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bất cứ cái gì khởi lên là trò chơi của trí huệ….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Do biết tiến trình của năm ánh sáng bên trong,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những ánh sáng bên ngoài của mặt trời mặt trăng khởi lên liên tục,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Do kết thúc những tư tưởng bên trong ngay tại gốc của chúng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những hoàn cảnh tốt xấu bên ngoài khởi lên như đại lạc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Do tăng cường những hạt tinh túy bên trong,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những đám mây Dakini bên ngoài luôn luôn nhóm tụ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Do giải thoát những nút thắt bên trong của những kinh mạch ánh sáng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những nút thắt bên ngoài của người nắm bắt và cái được nắm bắt được giải thoát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôi đi đến trạng thái của sáng tỏ và đại lạc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hỡi các anh chị em kim cương, đây là hạnh phúc và hoan hỷ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong những thị kiến Guru Padmasambhava ban cho sự trao truyền Khadro Nyingthig. Ngài ban cho Longchen Rabjam pháp danh Trimed Odzer và Yeshe Tshogyal ban cho pháp danh Dorje Zijid.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Chugpotrag, gần D’oi Choten của Zurkhardo, sau khi cử hành một lễ cúng Tshog, ngài khai thị những giáo lý Khadro Nyingthig. Đêm đó, ngài kinh nghiệm trạng thái thiền sáng tỏ an trụ trong trạng thái thanh tịnh bổn nguyên, Pháp thân, biểu lộ năng lực của Pháp thân là Báo thân, và phóng sự sáng tỏ của nó ra bên ngoài, tức là Hóa thân, bấy giờ ngài khám phá ra và ghi lại Khadro Yangtig như là Kho Tàng Pháp từ Tâm (dGongs-gTer), những bản văn bí truyền phụ vào Khadro Nyingthig.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi đang viết Khadro Yangtig, ngài có những thị kiến về Guru Padmasambhava, Yeshe Tshogyal và Yudronma. Đặc biệt, Yeshe Tshogyal, phối ngẫu của Guru Padmasambhava đã hiện diện trong bảy ngày, ban cho những nhập môn và sự trao truyền ủy thác từ tâm (gTad-zGya) về những dấu hiệu, ý nghĩa và những thí dụ của Khadro Nyingthjg. Dù ngài khám phá hạt giống của bản văn này ở Chimphu, ngài thực sự ghi lại nó ở Kangri Thodkar, và như thế lời kết từ nói rằng ngài viết nó ở Kangri Thodkar. Dù ngài là hiện thân của Pema Ledreltsal, người khám phá Khadro Nyingthig và ngài cũng nhận những trao truyền từ Guru Pamasambhava và Yeshe Tshogyal ngay trong đời này, ngài đã nhận sự trao truyền từ Sho’i Gyaltse Legpa (1290-1366), đệ tử trực tiếp của Pema Ledreltsal, để đặt một gương mẫu cho những người theo học đời sau về sự quan trọng của việc nhận những trao truyền thích đáng. Có những Kho Tàng Pháp từ Đất dành cho ngài khám phá nhưng ngài từ chối, nói rằng, “Tôi đang mở cánh cửa Kho Tàng Pháp của sự sáng tỏ bên trong, không cần Kho Tàng Pháp từ những vết nứt của núi đá.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi ngài đến Ogyen Dzong Odzer Trinkyi Kyedmo’i Tshal ở Kangri Thodkar (Thành Oddiyana trong Động Mây Sáng Chói tại Núi Đỉnh Tuyết Phủ), và chỗ ẩn tu này trở thành nơi ở chính của ngài. Ở đây ngài khám phá và tạo hầu hết những Terma và tác phẩm nổi tiếng của ngài, gồm khoảng hai trăm bảy mươi luận văn. Nhưng không may, nhiều tác phẩm của ngài đã mất. Longchen Rabjam tả Kangri Thodkar bằng những lời sau đây :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nó nằm ở đông bắc chùa Trashi Gephel của Onkyangdo. Có vẻ quả núi này được trang hoàng bằng một cái bờm tuyết và trắng như màu trăng vào thời trước. Nhưng với thời gian, đỉnh của nó bây giờ trang hoàng với đá và khuôn mặt nó phủ cỏ thuốc và những khe nước sạch. Hương thơm dịu dàng của hoa và cỏ thuốc tỏa ra. Trên phía nam núi, giữa một rừng cây là Ogyen Dzong (Thành Oddyana), hang động của những hiền nhân đã được Guru Padma ban phước, vươn ra như cổ một con công.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Theo yêu cầu của thiền giả Odzer Gocha, ngài viết lại năm mươi lăm luận văn của Khadro Yangtig, những bản văn bổ sung cho Khadro Nyingthig, như những Kho Tàng Pháp từ Tâm. Khi những bản văn được viết lại, bầu trời thường trực đầy những ánh sáng cầu vồng, và những phô bày huyền thật kỳ diệu của những Dakini có thể được mọi người hiện diện nhìn thấy. Longchen Rabjam thấy Vimalamitra trong những thị kiến thanh tịnh và nhận những ban phước, trao truyền và tiên tri. Do Vimalamitra cảm ứng, ngài viết Lama Yangtig trong ba mươi lăm luận văn, như là một bản văn hỗ trợ cho Vima Nyingthig. Ngài cũng viết Zabmo Yangtig, một bình giảng về cả hai Nyingthig. Những đức Phật, bổn tôn, vị thầy và những hộ pháp, cũng như các hóa thần bổn tôn An bình và Hung nộ, những Bổn tôn của Tám Đại Mạn Đà La, Guru Padmasambhava và Vimalamitra xuất hiện đều đặn trước ngài, ban cho những ban phước, và truyền cảm hứng cho ngài viết những bản văn rất mật truyền này. Trong nhiều lúc, những đệ tử của ngài thấy những Hộ pháp trong phòng ngài. Ekajati, Vajrasadhu và Rahula thường sửa soạn giấy và mực cho ngài viết.</span></p>
<ol style="text-align: justify;">
<li><b> Dzodchen Dun, Bảy Đại Kho Tàng :</b></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Yidzhin Rinpoche’i Dzod, hai mươi hai chương, và tự bình giảng, Pema Karpo, với những luận văn kết hợp. Một tổng quan về toàn bộ giáo lý Đại thừa Phật giáo, soi sáng những đường lối nghiên cứu, phân tích và tu hành trong Đại thừa và Kim Cương thừa.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Mengag Rinpoche’i Dzod. Một luận văn dùng những bộ khác nhau của sáu bộ phận cấu thành để tổng lược những kinh và tantra Phật giáo, đặc biệt tinh túy của con đường và quả của Đại Toàn Thiện trong tính toàn thể của chúng trong hình thức những giáo huấn đạo đức, triết học và thiền định.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Choying Rinpoche’i Dzod, mười ba chương với tự bình giảng, Lungki Terdzod. Một giải thích những giáo lý sâu xa và rộng lớn về nền tảng, con đường và quả của ba phạm trù chính của Đại Toàn Thiện, gọi là Semde, Longde và Mengagde, đặc biệt là Longde.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Trubtha Dzod trong tám chương. Một giải thích nhiều quan điểm triết học của mọi thừa kinh và tantra Phật giáo.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Thegchog Dzod trong hai mươi lăm chương. Bình giảng ý nghĩa về Mười Bảy Tantra và Một Trăm Mười Chín Luận Văn Giáo Huấn của Mengagde. Nó trình bày một dải rộng giáo lý Phật giáo từ sự biểu lộ của vị thầy tuyệt đối, Ba Thân, đến sự hoàn thành quả cuối cùng tự nhiên thành tựu của thực hành con đường Đại Toàn Thiện, bao gồm Thodgal (Tiếp Cận Trực Tiếp). Có nói bản văn này được viết để đáp ứng cho những nguyện vọng của Rigdzin Kumaradza vào lúc chết của ngài.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Tshigton Dzod trong mười một chương. Một tổng lược của Thegchod Dzod giải thích những điểm quan yếu của thực hành. Nó bắt đầu với một diễn tả cái nền tảng và kết thúc với quả, trạng thái giải thoát tối hậu.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Nelug Dzod trong năm chương với tự bình giảng. Nó giải thích nghĩa tối hậu của tất cả ba phần của Đại Toàn Thiện.</span></li>
<li><b> Ngalso Korsum, Ba Chu Trình về Thư Giãn</b><span style="font-weight: 400;">. Ngalso Korsum gồm bản văn gốc, ba tổng lược, gọi là “vòng hoa”, ba tự bình giảng, gọi là “cỗ xe”, và ba “bình giảng ý nghĩa” hay Những giáo huấn về Thực hành, toàn bộ mười lăm luận văn :</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Semnyid Ngalso, bản văn gốc trong mười ba chương, tổng lược của nó, Kunda’i Thengwa (đã mất) ; một tự bình giảng về bản văn gốc, Ngeton Shingta Chenmo, một tổng lược của tự bình giảng, Pema Karpo’i Threngwa, và giáo huấn về thực hành, Changchub Lamzang. Semnyid Ngalso giải thích mọi giai đoạn của con đường, sự bắt đầu, chặng giữa và kết thúc của những giáo lý kinh và tantra.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Gyuma Ngalso, bản văn gốc trong tám chương; tổng lược của nó, Mandara’i Phrengwa; tự bình giảng, Shingta Zangpo; và giáo huấn về thực hành, Yidzhin Norbu. Bản văn này là một giáo huấn về đoạn dứt những trói buộc với những hiện hữu hiện tượng bằng những giáo lý về tám thí dụ như huyễn.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Samten Ngalso, bản văn gốc trong ba chương; tổng lược của nó, Pundarik’i Threngwa, tự bình giảng của nó, Shingta Namdag; và giáo huấn về thực hành, Nyingpo Chuddu. Bản văn là một giáo huấn về con đường sâu xa của nhập định, trí huệ tự nhiên tự hữu. có hai bản văn phụ thêm, một tổng lược của Ngalso Korsum có tựa đề Legshed Gyalso và một bản mục lục tên là Pema Tongden. Ba tự bình giảng về Ngalso Korsum cũng được biết với tên là Shinga Namsum, Ba Cỗ Xe.</span></li>
<li><b> Rangtrol Korsum, Ba Chu Trình cho Giải Thoát Tự Nhiên.</b><span style="font-weight: 400;"> Chúng là những “bình giảng ý nghĩa” về những giáo huấn phần Semde của Đại Toàn Thiện.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Semnyid Rantrol, Tâm Giải Thoát Tự Nhiên trong ba chương và một bình giảng ý nghĩa hay giáo huấn về thực hành có tựa đề Lamrim Nyingpo (Những bản dịch của hai bản văn này gồm trong sách này).</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Chonyid Rangtrol trong ba chương, và một giáo huấn về thực hành có tựa đề Rinchen Nyingpo.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Nyamnyid Rangtrol trong ba chương, và một giáo huấn về thực hành có tựa đề Yidzhin Nyingpo.</span></li>
<li><b> Yangtig Namsum, Ba Tinh Túy Bên Trong.</b><span style="font-weight: 400;"> Nó chứa đựng những điểm quan yếu của những giáo lý bí truyền Mengagde, cái cao nhất của ba phần của Đại Toàn Thiện. Trong những bản văn này nhấn mạnh đặc biệt vào tu hành Thodgal.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Lama Yangtig hay Yangzab Yidzhin Norbu gồm ba mươi lăm luận văn. Nó cô đọng và giải thích chủ đề bao la của Bốn Bộ Giáo Lý Bí Truyền của Vima Nyingthig và Một Trăm Mười Chín Luận Văn của Giáo Huấn của Mengagde của Đại Toàn Thiện. Bốn Bộ Giáo Lý Bí Truyền là Seryig Chen, Yuyig Chen, Dungyig Chen và Zang-yig Chen với Phrayig Chen.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Khadro Yangtig gồm năm mươi lăm luận văn. Trong đời trước của Longchen Rabjam như là Pema Ledreltsal, ngài có thẩm quyền về những bản văn của Khadro Ningthig. Trong đời này ngài nhận những trao truyền và chứng ngộ những giáo lý Khadro Nyingthig, và viết những bản văn tựa đề Khadro Yangtig về Khadro Nyingthig.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Zabmo Yangtig là bình giảng chi tiết và sâu xa nhất về cả hai Vima Nyingthig và Khadro Nyingthig.</span></li>
<li><b> Munsel Korsum, Ba Chu Trình về Xua Tan Bóng Tối.</b><span style="font-weight: 400;"> Ba bản văn này là những bình giảng về Guhyamayajala-tantra theo những quan điểm của Nyingthig.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Chidon Yidkyi Munsel,</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Dudon Marig Munsel,</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Drelwa Chogchu Munsel.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài đã đạt sự Toàn Thiện của Tánh Giác Bổn Nhiên qua con đường bí mật của Tiếp Cận Trực Tiếp (Thod-rGal), trạng thái toàn thiện tự nhiên của tánh sáng tỏ của Đại Toàn Thiện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm bốn mươi hai tuổi, hợp đúng với một số tiên tri được Vimalamitra ban cho trong một thị kiến thanh tịnh, ngài trùng tu chùa Zha Pema Wangchen ở Drada trong vùng Wuru. Ngôi chùa này được xây vào thế kỷ thứ chín bởi Nyang Tingdzin Zangpo theo lệnh của vua Thrisong Deutsen để bảo vệ khỏi những cuộc xâm lăng của “những ngoại đạo” nước ngoài. Ngài cũng nhận ra chùa này như ngôi chùa đã được tiên tri trong Langri Lungten trong Kajur, “sự hiện diện thiêng liêng của xứ Zhva.” Ngài khám phá đủ vàng để chứa đầy một Gutse (một bình chứa dành cho nghi lễ) ở Samye, và với nó ngài có tiền để trùng tu. Mỗi ngày một cậu bé với bông đeo tai lam ngọc giúp nhóm xây dựng, nhưng đến bữa ăn thì không thấy. Nhóm người làm nghi ngờ và để ý trông chừng nó. Khi họ ngừng công việc họ thấy nó biến mất vào bức tường và họ nói lại với ngài. Ngài bảo đó là Vajrasadhu đến giúp họ. Khi họ đào, nhiều ma quỷ và lực lượng xấu thoát lên mặt đất và bay xung quanh với một cơn mưa đất đá. Mọi người chạy thục mạng. Với năng lực thiền định, ngài nhảy múa với những cử chỉ hung nộ, thốt lên những thần chú bằng tiếng Sanskrit. Ngài tập trung chúng trở lại và chôn chúng trước cặp mắt những người hiện diện. Lúc đó nhiều người thấy ngài trong hình tướng Guru Padmasambhava Hung Nộ. Một lần khi những người làm không thể dựng đứng hai trụ đá, ngài rung động áo dài và thốt lên những lời-của-sự thật (tạ ơn), và tức khắc họ có thể dựng chúng. Vào ngày lễ hoàn thành, nhiều người thấy ngài hiện thành nhiều hình tướng như Phổ Hiền, và nhiều Phật và Bồ tát xuất hiện trên trời và mưa xuống những hoa ban phước. Phật Maitreya (Di Lạc), chỉ vào ngài, cho lời tiên tri: “Sau hai đời nữa, con sẽ thành Phật có danh hiệu là Rirab Marme’i Gyalt-shen trong cõi Phật có tên là Pema Tsegpa.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam là một ẩn sĩ, và ngài từ chối có tổ chức hành chánh. Nhưng bởi vì sự uyên bác và bản chất hiền thánh của ngài, hàng ngàn tín đồ gồm những học giả, thiền giả, và người thường liên tục tụ tập chung quanh ngài. Những học giả vĩ đại nhất và những quan chức chính quyền cao nhất của thời đó được ngài gây cảm hứng. Do sự quan tâm thuần túy tâm linh của họ, họ kính trọng ngài không bao giờ bởi vì cơ cấu hành chánh hay vì uy tín xã hội, chính trị nào.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Gompa Kunrig xứ Drigung trở thành đệ tử của ngài và Longchen Rabjam, hoàn thành một lời tiên tri của Guru Padma-sambhava, đã kéo ông ra khỏi con đường chiến tranh. Trong tiên tri của Guru Padmasambhava có nói :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong nơi có tên là Dri</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một đứa con của quỷ gọi là Kunga sẽ đến.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trên thân nó sẽ được đánh dấu bằng một cây kiếm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau khi chết nó sẽ xuống địa ngục.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tuy nhiên, nếu một lưu xuất của Văn Thù từ phương Nam (Tây Tạng)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có thể hàng phục nó,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nó sẽ thoát khỏi tái sanh vào địa ngục.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Kunrig tự xem mình là đối tượng của lời tiên tri vì ông có dấu tích một cây kiếm trên lưng và đang hoạch định chiến tranh ở tỉnh Wu và Tsang của Tây Tạng. Ông chỉ định một Lama tên là Palchigpa đi tìm xuất thân của Văn Thù. Vào thời đó ở miền Trung Tây Tạng không có ai bác học hơn Longchen Rabjam. Thế nên, sau khi tìm kiếm, vị Lama tin rằng Longchen Rabjam là thân lưu xuất của Văn Thù. Kunrig nhận nhiều giáo lý từ ngài, và đã cúng dường ngài một tu viện tên là Trog Ogyen. Drikung Kunrig là đối thủ thế lực nhất với Tai Situ của Phagtru, vị cai trị Tây Tạng, nên Longchen Rabjam đã thực sự ngăn chặn một cuộc chiến tranh nghiêm trọng ở Tây Tạng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Tidro ngài làm những lễ cúng Tshog một thời gian dài. Ngài kéo lên ngọn cờ chiến thắng trên một ngọn núi không ai có thể tới, và tâm hồn nhiều người đã thức tỉnh với Pháp. Trên đường đến Lhasa, ngài bị bao quanh bởi một lực lượng những người thù địch từ Yarlung, họ định giết ngài vì nghĩ rằng ngài là thầy của Drigung Kunrig. Nhưng do năng lực giác ngộ, ngài trở nên vô hình với họ. Ở Jokhang trước Jowo, ngài có nhiều thị kiến về chư Phật và nhận những ban phước. Khi đến Shugseb, qua sự biết trước của mình, ngài biết chiến tranh sẽ xảy ra năm Hợi Thổ (1359). Thế nên ngài đến Mon (Bhutan). Ngài ban cho những giáo lý ở Bumthang và Ngalong, nhờ đó thắp lên ánh sáng của Pháp ở đó, và ngài đặt những hạn chế về săn bắn và đánh cá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Bumthang ngài xây một tu viện ẩn cư, đặt tên cho nó là Tharpaling, Đất Giải Thoát, bởi vì có khoảng một trăm ngàn người tụ họp để nghe Ngài dạy Pháp, mong muốn được giải thoát. Ngài được mời đến Lhotrag. Ở Layag Lhalung và Manthang, ngài ban những giáo lý Nyingthig cho khoảng một ngàn đệ tử chủ yếu là những nhà sư. Ngài được Lama Dampa Sodnam Gyalt-shen phái Sakya và Tragzang của Nyephu tôn kính vì những trả lời uyên bác cho những câu hỏi của họ, xóa tan những nghi nan về nhiều điểm quan yếu trong những quan điểm triết học và tu hành thiền định. Tai Situ Changchub Gyaltshen của Phagtru người trở thành cai trị của Tây Tạng năm 1349, ban đầu ghét Longchen Rabjam vì ngài là thầy của Drigung Kunrig, kẻ thù chủ yếu của ông. Về sau, khi ông nhận ra sự vĩ đại của cái học và bản chất Bồ tát của ngài, ông đã đặt bàn chân sen của Longchen Rabjam lên đỉnh đầu mình như một viên ngọc quý. Theo yêu cầu của Tai Situ, ngài ban cho ông và khoảng hai ngàn tín đồ những giáo lý Tinh Túy Tối Thâm (Yang-gSang Bla-Med). Nhiều lãnh tụ thời đó như Dorje Gyaltshen của Yardrog và Situ Sakya Zangpo của Wurtod, trở thành tín đồ của ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Lhasa ngài đã được tiếp rước bởi một đám rước gồm nhiều vị sư. Từ một cái ngai đặt giữa Lhasa và Ramoche, ngài ban giới nguyện Bồ đề tâm và những giáo lý khác cho đám đông. Ngài đã thuần hóa nhiều học giả kiêu căng bằng lý luận khúc chiết và đưa họ vào niềm tin chân thật vào Pháp. Nhờ vậy ngài được biết một cách công khai như là Kunkhyen Choje, Bậc Toàn Giác của Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Nyephu Shugseb ngài ban những giáo lý Đại Toàn Thiện cho một chúng hội hơn một ngàn tín đồ. Trong những vùng đồi đá gần tu viện Trog Ogyen, ngài ban những quán đảnh và giáo lý Tánh Sáng Tỏ của Tinh Túy Kim Cương cho khoảng ba ngàn người gồm bốn mươi vị thầy. Vào lúc chấm dứt những giáo lý họ làm một lễ Tiệc Cúng Dường (Tshog) và Ngài nói với họ :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lễ Tiệc Cúng Dường này là cái cuối cùng chúng ta cử hành chung với nhau. Các ông cần từ bỏ những hành động thế gian và nắm lấy tinh túy tối hậu (của đời sống) bằng con đường sâu xa của tu hành Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi ngài đến chùa Zha, và vào lúc thuyết pháp cho quần chúng, những sự kỳ diệu xảy ra như có một cơn mưa hoa rơi xuống từ bầu trời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào năm năm mươi sáu tuổi, trong năm Con Thỏ Thủy của Rabjung thứ sáu (1363) giữa buổi ban pháp, ngài nói Gyalse Zodpa đem giấy, mực đến. Trong sự buồn rầu cùng độ của những đệ tử, ngài viết di chúc tâm linh của mình, có tên là Trima Medpa’i Od, Tánh Sáng Rỡ Vô Nhiễm. Đây là vài dòng từ di chúc ấy :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chừng nào chúng ta biết bản tánh của sanh tử,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thì những sở hữu thế gian không có tự tánh ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên giờ đây ta sắp bỏ thân vô thường</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">huyễn hóa này và</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ta sẽ nói cho các con cái gì độc nhất là tốt đẹp cho các con. Hãy nghe ta….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hôm nay, ta được cảm hứng bởi</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khuôn Mặt của bậc Pema bi mẫn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự vui sướng của ta với cái chết thì lớn hơn rất nhiều</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự vui sướng của những thương gia làm ra tài sản khi</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">đi biển,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Của những vua chư thiên khi tuyên bố thắng trận ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và của những bậc thánh đã hoàn thành nhập định.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và khi thời đã đến, những người du hành đi trên</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">con đường của họ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bây giờ Pema Ledreltsal sẽ không ở lại đây lâu nữa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mà sẽ đến ở trong trạng thái an toàn, phúc lạc và bất tử….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bây giờ chúng ta sẽ không có sự liên kết nào thêm trong đời này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ta là một người ăn xin sắp chết như nó muốn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ cảm thấy buồn mà hãy luôn luôn cầu nguyện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi ngài đến rừng ở Chimphu bằng con đường Gyama và Samye. Ngài nói : “(Năng lực tâm linh của) Chimphu tương đương với nghĩa địa Sitavan ở Ấn Độ. Chết ở nơi này tốt hơn một sự tái sanh ở những nơi khác. Ta sắp bỏ thân thể cũ rách của ta ở đây.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi ngài hiện tướng bệnh tật của thân. Nhưng ngài vẫn giữ việc thuyết pháp cho đám đông người tụ họp ở đó để nhận Pháp. Khi những đệ tử xin ngài nghỉ ngơi, ngài bảo : “Ta muốn hoàn thành việc thuyết pháp.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào ngày mười sáu tháng thứ mười hai của năm đó, ngài cử hành những cúng dường tỉ mỉ cho những Daka và Dakini. Bấy giờ ngài cho thời pháp công khai cuối cùng, nói rằng : “Các con cần hiến mình chỉ cho sự thực hành Pháp. Không có tinh túy nào trong những hiện tượng hợp tạo. Đặc biệt các con cần nhấn mạnh những thực hành Thregchod và Thodgal. Nếu các con gặp những khó khăn trong việc hiểu những thực hành, hãy đọc Yangtig Yidzhin Norbu; nó giống như một viên ngọc như ý. Các con sẽ đạt đến niết bàn trong trạng thái Tan Biến mọi Hiện Tượng vào Bản Tánh Tối Hậu.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào ngày mười tám, ngài nói với vài đệ tử: “Hãy sắp xếp một lễ cúng dường và rồi tất cả các con hãy ra khỏi phòng.” Khi các đệ tử biểu lộ mong muốn được ở lại cạnh ngài, ngài nói: “Nào, ta sắp bỏ thân cũ rách huyễn hóa này. Chớ gây tiếng động, mà hãy ở yên trong Thiền định.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi tâm thức ngài hòa tan vào trạng thái bổn nguyên và bỏ lại thân thể ngồi trong tư thế Pháp thân. Những người hiện diện chứng kiến mặt đất rung kên và những âm thanh ầm ầm, mà kinh điển diễn tả như những dấu hiệu của những chứng đắc cao. Họ để thân thể ngài trong hai mươi lăm ngày. Trong khoảng thời gian ấy những ánh sáng cầu vồng thường vòng qua bầu trời. Dầu trong tháng mười hai và tháng giêng, tháng lạnh nhất ở Tây Tạng, trái đất trở nên ấm, băng chảy và hoa hồng nở. Vào thời gian thiêu, trái đất rung ba lần và một tiếng trầm nghe được bảy lần. Những cái còn lại không thiêu cháy được là trái tim, lưỡi và mắt của ngài. Năm loại gDung và nhiều Ringsel (xá lợi) có được từ xương là một dấu chỉ sự chứng đắc năm thân và năm trí huệ của Phật quả. Có nói rằng những Ringsel lớn tăng thành hàng trăm hàng ngàn. Một trong những hiện thân chính yếu của Long-chen Rabjam là đại Terton Pema Lingpa (1450-?) sinh tại Bhutan.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam là một trong những học giả và người kiệt xuất nhất và vĩ đại nhất của Tây Tạng. Nhưng hạnh kiểm hàng ngày của ngài thì giản dị, ‘rất người’ và tỉ mỉ. Ngài là tái sanh của những bậc chứng ngộ, tuy nhiên ngài bày tỏ cuộc sống của một cá nhân tầm thường sùng mộ những hoạt động nghiên cứu, tu hành và kỷ luật để hoàn thành mục đích của sự biểu lộ của ngài, đó là làm một tấm gương cho một người tu hành và một vị thầy của Pháp. Đây là một số trong nhiều đoạn gây cảm hứng và thích thú từ tiểu sử của ngài :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mọi thứ gì được cúng dường cho ngài từ niềm tin sẽ chỉ được dùng để phụng sự Pháp và không bao giờ cho chính ngài hay một mục tiêu thế gian nào khác. Ngài không cho phép bất kỳ vật gì đã hiến cho Pháp lại chuyển sai qua mục tiêu khác. Ngài không bao giờ bày tỏ sự tôn kính cho một người thường, dù vĩ đại hay quyền thế bao nhiêu, và nói : “Tôn kính phải được dành cho Tam Bảo mà không phải cho một người không đức hạnh.” Ngài không bao giờ cho một chỗ ngồi hay tôn trọng người kiêu căng vì thế lực hay giàu có. Khi phân phát những đồ cúng dường cho các nhà sư, ngài bắt đầu từ hàng chót, nói rằng “Chúng ta cần cẩn thận không bỏ sót người ở cuối, người ở hàng đầu dầu sao cũng có những đồ cúng dường.” Theo kinh điển, nếu một người bình thường nhận và chấp nhận sự tôn kính từ một người tâm linh cao cấp, nhiều công đức của người ấy bị thiêu cháy vì việc đó. Dù những đồ cúng dường cho ngài có lớn lao đến đâu, ngài nói những lời cầu nguyện hồi hướng mà không bao giờ biểu lộ sự biết ơn, và ngài nói, “Những thí chủ nên có cơ hội để tạo công đức.” Thế nên những thí chủ sẽ nhận được công đức thay vì những biểu lộ biết ơn vì những đồ cúng dường của họ. Vì ngài xa lìa những hy vọng và lo sợ của thành tựu thế gian, ngài sống đời mình trong những chốn ẩn cư và từ chối thiết lập hay sống trong bất kỳ chỗ ở nào, nói rằng, “Nếu tôi cố gắng, tôi có thể xây dựng một tu viện, nhưng làm thế chỉ tạo ra những phóng dật. Thế nên tốt hơn là tập trung vào việc điều ngự tâm thức (của người).”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài tuân thủ những lễ cúng của hai ngày thứ mười (của trăng tròn và khuyết, tức là ngày 10 và 25 âm lịch) và ngày mồng 8 mỗi tháng. Ngài từ ái bao la với người nghèo và kém may mắn, và ngài thường rất thích thú thức ăn do người nghèo cúng dường, dầu cho đó có thể có phẩm chất khủng khiếp, và rồi ngài nói một số lời cầu nguyện cho họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Điều này đưa người ta đến một nhận xét rất thú vị từ quan điểm xã hội, một người bình thường có thể nghĩ rằng Longchen Rabjam từ ái bao la với người nghèo, nỗ lực của ngài phải là đem mọi sự vật ngài có cho người nghèo. Trong nhiều trường hợp ngài hẳn phải làm như thế. Nhưng trong các tiểu sử không có đề cập nào về một đường lối xử thế như vậy cả. Bất luận thế nào, có một quan điểm tâm linh đàng sau sự việc ấy. Hầu hết sự vật mà ngài có thể có, ngài không bao giờ giữ mà chuyển cho những mục tiêu tôn giáo, đó đều là những “tặng phẩm của lòng tin” do các tín đồ, và chúng được hướng đến những mục tiêu tôn giáo. Một vật phẩm của lòng tin phải được tiêu dùng cho một mục tiêu tôn giáo, cho sự phục vụ Phật, Pháp, hay Tăng, và không cho những mục tiêu thế gian hay cho sự hưởng thụ của người thế tục. Nếu một vật phẩm của lòng tin được người thế tục hưởng thụ thay vì được dùng cho những mục tiêu tôn giáo, người thế tục sẽ tạo ra nghiệp mất công đức, điều đó sẽ tạo ra khó khăn trong tương lai. Từ quan điểm của Pháp, bằng cách nhận những đồ cúng dường của người nghèo khổ, ngài cho họ một cơ hội để tạo những công đức, đó là nguyên nhân cho hạnh phúc tương lai. Thế nên ngài thật sự ban ân cho người nghèo bằng cách cung cấp chính mình như một phương tiện cho họ để làm ra công đức, mặc dù ngài có thể có những bữa ăn tốt trong những gia đình giàu có nhất. Đó là lý do tại sao những người viết tiểu sử đặc biệt nói về việc ngài thọ hưởng thực phẩm của người nghèo để nêu lên lòng tốt của ngài với họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong Lịch sử của Lama Yangtig Longchen Rabjam khuyên những người theo ngài bằng những lời giản dị :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Các người theo ta trong tương lai ! Hãy bỏ lại những hoạt động thế gian của cuộc đời này. Hãy bắt đầu những chuẩn bị cho những đời tới. Hãy nương dựa vào một vị thầy đức hạnh toàn hảo. Hãy nhận lãnh những giáo huấn về tinh túy của tánh sáng tỏ. Hãy thực hành những giáo lý bí mật của Nying-thig trong vắng vẻ. (Hãy đạt đến quả của) sự siêu vượt khỏi (những khác biệt của) sanh tử và niết bàn ngay trong đời này. Nếu các người nhận được lời tiên tri nào, hãy hiến mình cho sự phụng sự những người khác hết mức của mình. Hãy truyền bá những giáo lý trong khi nhẫn chịu sự vô ơn và khó nhọc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một trong những tính cách nổi bật nhất trong những lời chỉ dạy của Longchen Rabjam là sự nhấn mạnh của ngài vào sự hòa điệu với tự nhiên : sự bao la và vẻ đẹp an bình của tự nhiên bên ngoài là chỗ nương tựa và sự bao la và tỉnh giác an bình của bản tánh giác ngộ bên trong là mục tiêu. Bằng cách nhìn thấy sự an bình không nhiễu loạn, sự sáng tỏ không nhiễm ô và sự đơn giản không rối rắm của tự nhiên bên ngoài như nó vốn là và bằng cách nương dựa vào chúng, người ta có được cảm hứng để sự chứng ngộ trạng thái tự nhiên bên trong hiện bày. Ngài cảm kích, hân thưởng bản tánh của những hiện tượng bên ngoài và thấy những đức hạnh của chúng. Ngài nhấn mạnh rằng đối với một người mới học, những hiện tượng tích cực bên ngoài là một căn cứ quan trọng để phát sanh tiến bộ thiền định.</span></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><b>Các công trình chính yếu của Đạo sư Longchenpa</b></p>
<ol style="text-align: justify;">
<li><b> Dzodchen Dun, Bảy Đại Kho Tàng :</b></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Yidzhin Rinpoche’i Dzod, hai mươi hai chương, và tự bình giảng, Pema Karpo, với những luận văn kết hợp. Một tổng quan về toàn bộ giáo lý Đại thừa Phật giáo, soi sáng những đường lối nghiên cứu, phân tích và tu hành trong Đại thừa và Kim Cương thừa.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Mengag Rinpoche’i Dzod. Một luận văn dùng những bộ khác nhau của sáu bộ phận cấu thành để tổng lược những kinh và tantra Phật giáo, đặc biệt tinh túy của con đường và quả của Đại Toàn Thiện trong tính toàn thể của chúng trong hình thức những giáo huấn đạo đức, triết học và thiền định.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Choying Rinpoche’i Dzod, mười ba chương với tự bình giảng, Lungki Terdzod. Một giải thích những giáo lý sâu xa và rộng lớn về nền tảng, con đường và quả của ba phạm trù chính của Đại Toàn Thiện, gọi là Semde, Longde và Mengagde, đặc biệt là Longde.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Trubtha Dzod trong tám chương. Một giải thích nhiều quan điểm triết học của mọi thừa kinh và tantra Phật giáo.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Thegchog Dzod trong hai mươi lăm chương. Bình giảng ý nghĩa về Mười Bảy Tantra và Một Trăm Mười Chín Luận Văn Giáo Huấn của Mengagde. Nó trình bày một dải rộng giáo lý Phật giáo từ sự biểu lộ của vị thầy tuyệt đối, Ba Thân, đến sự hoàn thành quả cuối cùng tự nhiên thành tựu của thực hành con đường Đại Toàn Thiện, bao gồm Thodgal (Tiếp Cận Trực Tiếp). Có nói bản văn này được viết để đáp ứng cho những nguyện vọng của Rigdzin Kumaradza vào lúc chết của ngài.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Tshigton Dzod trong mười một chương. Một tổng lược của Thegchod Dzod giải thích những điểm quan yếu của thực hành. Nó bắt đầu với một diễn tả cái nền tảng và kết thúc với quả, trạng thái giải thoát tối hậu.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Nelug Dzod trong năm chương với tự bình giảng. Nó giải thích nghĩa tối hậu của tất cả ba phần của Đại Toàn Thiện.</span></li>
<li><b> Ngalso Korsum, Ba Chu Trình về Thư Giãn</b><span style="font-weight: 400;">. Ngalso Korsum gồm bản văn gốc, ba tổng lược, gọi là “vòng hoa”, ba tự bình giảng, gọi là “cỗ xe”, và ba “bình giảng ý nghĩa” hay Những giáo huấn về Thực hành, toàn bộ mười lăm luận văn :</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Semnyid Ngalso, bản văn gốc trong mười ba chương, tổng lược của nó, Kunda’i Thengwa (đã mất) ; một tự bình giảng về bản văn gốc, Ngeton Shingta Chenmo, một tổng lược của tự bình giảng, Pema Karpo’i Threngwa, và giáo huấn về thực hành, Changchub Lamzang. Semnyid Ngalso giải thích mọi giai đoạn của con đường, sự bắt đầu, chặng giữa và kết thúc của những giáo lý kinh và tantra.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Gyuma Ngalso, bản văn gốc trong tám chương ; tổng lược của nó, Mandara’i Phrengwa ; tự bình giảng, Shingta Zangpo ; và giáo huấn về thực hành, Yidzhin Norbu. Bản văn này là một giáo huấn về đoạn dứt những trói buộc với những hiện hữu hiện tượng bằng những giáo lý về tám thí dụ như huyễn.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Samten Ngalso, bản văn gốc trong ba chương ; tổng lược của nó, Pundarik’i Threngwa, tự bình giảng của nó, Shingta Namdag ; và giáo huấn về thực hành, Nyingpo Chuddu. Bản văn là một giáo huấn về con đường sâu xa của nhập định, trí huệ tự nhiên tự hữu. có hai bản văn phụ thêm, một tổng lược của Ngalso Korsum có tựa đề Legshed Gyalso và một bản mục lục tên là Pema Tongden. Ba tự bình giảng về Ngalso Korsum cũng được biết với tên là Shinga Namsum, Ba Cỗ Xe.</span></li>
<li><b> Rangtrol Korsum, Ba Chu Trình cho Giải Thoát Tự Nhiên.</b><span style="font-weight: 400;"> Chúng là những “bình giảng ý nghĩa” về những giáo huấn phần Semde của Đại Toàn Thiện.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Semnyid Rantrol, Tâm Giải Thoát Tự Nhiên trong ba chương và một bình giảng ý nghĩa hay giáo huấn về thực hành có tựa đề Lamrim Nyingpo (Những bản dịch của hai bản văn này gồm trong sách này).</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Chonyid Rangtrol trong ba chương, và một giáo huấn về thực hành có tựa đề Rinchen Nyingpo.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Nyamnyid Rangtrol trong ba chương, và một giáo huấn về thực hành có tựa đề Yidzhin Nyingpo.</span></li>
<li><b> Yangtig Namsum, Ba Tinh Túy Bên Trong.</b><span style="font-weight: 400;"> Nó chứa đựng những điểm quan yếu của những giáo lý bí truyền Mengagde, cái cao nhất của ba phần của Đại Toàn Thiện. Trong những bản văn này nhấn mạnh đặc biệt vào tu hành Thodgal.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Lama Yangtig hay Yangzab Yidzhin Norbu gồm ba mươi lăm luận văn. Nó cô đọng và giải thích chủ đề bao la của Bốn Bộ Giáo Lý Bí Truyền của Vima Nyingthig và Một Trăm Mười Chín Luận Văn của Giáo Huấn của Mengagde của Đại Toàn Thiện. Bốn Bộ Giáo Lý Bí Truyền là Seryig Chen, Yuyig Chen, Dungyig Chen và Zang-yig Chen với Phrayig Chen.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Khadro Yangtig gồm năm mươi lăm luận văn. Trong đời trước của Longchen Rabjam như là Pema Ledreltsal, ngài có thẩm quyền về những bản văn của Khadro Ningthig. Trong đời này ngài nhận những trao truyền và chứng ngộ những giáo lý Khadro Nyingthig, và viết những bản văn tựa đề Khadro Yangtig về Khadro Nyingthig.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Zabmo Yangtig là bình giảng chi tiết và sâu xa nhất về cả hai Vima Nyingthig và Khadro Nyingthig.</span></li>
<li><b> Munsel Korsum, Ba Chu Trình về Xua Tan Bóng Tối.</b><span style="font-weight: 400;"> Ba bản văn này là những bình giảng về Guhyamayajala-tantra theo những quan điểm của Nyingthig.</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Chidon Yidkyi Munsel,</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Dudon Marig Munsel,</span></li>
<li><span style="font-weight: 400;"> Drelwa Chogchu Munsel.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài đã đạt sự Toàn Thiện của Tánh Giác Bổn Nhiên qua con đường bí mật của Tiếp Cận Trực Tiếp (Thod-rGal), trạng thái toàn thiện tự nhiên của tánh sáng tỏ của Đại Toàn Thiện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm bốn mươi hai tuổi, hợp đúng với một số tiên tri được Vimalamitra ban cho trong một thị kiến thanh tịnh, ngài trùng tu chùa Zha Pema Wangchen ở Drada trong vùng Wuru. Ngôi chùa này được xây vào thế kỷ thứ chín bởi Nyang Tingdzin Zangpo theo lệnh của vua Thrisong Deutsen để bảo vệ khỏi những cuộc xâm lăng của “những ngoại đạo” nước ngoài. Ngài cũng nhận ra chùa này như ngôi chùa đã được tiên tri trong Langri Lungten trong Kajur, “sự hiện diện thiêng liêng của xứ Zhva.” Ngài khám phá đủ vàng để chứa đầy một Gutse (một bình chứa dành cho nghi lễ) ở Samye, và với nó ngài có tiền để trùng tu. Mỗi ngày một cậu bé với bông đeo tai lam ngọc giúp nhóm xây dựng, nhưng đến bữa ăn thì không thấy. Nhóm người làm nghi ngờ và để ý trông chừng nó. Khi họ ngừng công việc họ thấy nó biến mất vào bức tường và họ nói lại với ngài. Ngài bảo đó là Vajrasadhu đến giúp họ. Khi họ đào, nhiều ma quỷ và lực lượng xấu thoát lên mặt đất và bay xung quanh với một cơn mưa đất đá. Mọi người chạy thục mạng. Với năng lực thiền định, ngài nhảy múa với những cử chỉ hung nộ, thốt lên những thần chú bằng tiếng Sanskrit. Ngài tập trung chúng trở lại và chôn chúng trước cặp mắt những người hiện diện. Lúc đó nhiều người thấy ngài trong hình tướng Guru Padmasambhava Hung Nộ. Một lần khi những người làm không thể dựng đứng hai trụ đá, ngài rung động áo dài và thốt lên những lời-của-sự thật (tạ ơn), và tức khắc họ có thể dựng chúng. Vào ngày lễ hoàn thành, nhiều người thấy ngài hiện thành nhiều hình tướng như Phổ Hiền, và nhiều Phật và Bồ tát xuất hiện trên trời và mưa xuống những hoa ban phước. Phật Maitreya (Di Lạc), chỉ vào ngài, cho lời tiên tri : “Sau hai đời nữa, con sẽ thành Phật có danh hiệu là Rirab Marme’i Gyalt-shen trong cõi Phật có tên là Pema Tsegpa.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam là một ẩn sĩ, và ngài từ chối có tổ chức hành chánh. Nhưng bởi vì sự uyên bác và bản chất hiền thánh của ngài, hàng ngàn tín đồ gồm những học giả, thiền giả, và người thường liên tục tụ tập chung quanh ngài. Những học giả vĩ đại nhất và những quan chức chính quyền cao nhất của thời đó được ngài gây cảm hứng. Do sự quan tâm thuần túy tâm linh của họ, họ kính trọng ngài không bao giờ bởi vì cơ cấu hành chánh hay vì uy tín xã hội, chính trị nào.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Gompa Kunrig xứ Drigung trở thành đệ tử của ngài và Longchen Rabjam, hoàn thành một lời tiên tri của Guru Padma-sambhava, đã kéo ông ra khỏi con đường chiến tranh. Trong tiên tri của Guru Padmasambhava có nói :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong nơi có tên là Dri</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một đứa con của quỷ gọi là Kunga sẽ đến.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trên thân nó sẽ được đánh dấu bằng một cây kiếm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau khi chết nó sẽ xuống địa ngục.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tuy nhiên, nếu một lưu xuất của Văn Thù từ phương nam (Tây Tạng)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có thể hàng phục nó,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nó sẽ thoát khỏi tái sanh vào địa ngục.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Kunrig tự xem mình là đối tượng của lời tiên tri vì ông có dấu tích một cây kiếm trên lưng và đang hoạch định chiến tranh ở tỉnh Wu và Tsang của Tây Tạng. Ông chỉ định một Lama tên là Palchigpa đi tìm xuất thân của Văn Thù. Vào thời đó ở miền Trung Tây Tạng không có ai bác học hơn Longchen Rabjam. Thế nên, sau khi tìm kiếm, vị Lama tin rằng Longchen Rabjam là thân lưu xuất của Văn Thù. Kunrig nhận nhiều giáo lý từ ngài, và đã cúng dường ngài một tu viện tên là Trog Ogyen. Drikung Kunrig là đối thủ thế lực nhất với Tai Situ của Phagtru, vị cai trị Tây Tạng, nên Longchen Rabjam đã thực sự ngăn chặn một cuộc chiến tranh nghiêm trọng ở Tây Tạng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Tidro ngài làm những lễ cúng Tshog một thời gian dài. Ngài kéo lên ngọn cờ chiến thắng trên một ngọn núi không ai có thể tới, và tâm hồn nhiều người đã thức tỉnh với Pháp. Trên đường đến Lhasa, ngài bị bao quanh bởi một lực lượng những người thù địch từ Yarlung, họ định giết ngài vì nghĩ rằng ngài là thầy của Drigung Kunrig. Nhưng do năng lực giác ngộ, ngài trở nên vô hình với họ. Ở Jokhang trước Jowo, ngài có nhiều thị kiến về chư Phật và nhận những ban phước. Khi đến Shugseb, qua sự biết trước của mình, ngài biết chiến tranh sẽ xảy ra năm Hợi Thổ (1359). Thế nên ngài đến Mon (Bhutan). Ngài ban cho những giáo lý ở Bumthang và Ngalong, nhờ đó thắp lên ánh sáng của Pháp ở đó, và ngài đặt những hạn chế về săn bắn và đánh cá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Bumthang ngài xây một tu viện ẩn cư, đặt tên cho nó là Tharpaling, Đất Giải Thoát, bởi vì có khoảng một trăm ngàn người tụ họp để nghe ngài dạy Pháp, mong muốn được giải thoát. Ngài được mời đến Lhotrag. Ở Layag Lhalung và Manthang, ngài ban những giáo lý Nyingthig cho khoảng một ngàn đệ tử chủ yếu là những nhà sư. Ngài được Lama Dampa Sodnam Gyalt-shen phái Sakya và Tragzang của Nyephu tôn kính vì những trả lời uyên bác cho những câu hỏi của họ, xóa tan những nghi nan về nhiều điểm quan yếu trong những quan điểm triết học và tu hành thiền định. Tai Situ Changchub Gyaltshen của Phagtru người trở thành cai trị của Tây Tạng năm 1349, ban đầu ghét Longchen Rabjam vì ngài là thầy của Drigung Kunrig, kẻ thù chủ yếu của ông. Về sau, khi ông nhận ra sự vĩ đại của cái học và bản chất Bồ tát của ngài, ông đã đặt bàn chân sen của Longchen Rabjam lên đỉnh đầu mình như một viên ngọc quý. Theo yêu cầu của Tai Situ, ngài ban cho ông và khoảng hai ngàn tín đồ những giáo lý Tinh Túy Tối Thâm (Yang-gSang Bla-Med). Nhiều lãnh tụ thời đó như Dorje Gyaltshen của Yardrog và Situ Sakya Zangpo của Wurtod, trở thành tín đồ của ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Lhasa ngài đã được tiếp rước bởi một đám rước gồm nhiều vị sư. Từ một cái ngai đặt giữa Lhasa và Ramoche, ngài ban giới nguyện Bồ đề tâm và những giáo lý khác cho đám đông. Ngài đã thuần hóa nhiều học giả kiêu căng bằng lý luận khúc chiết và đưa họ vào niềm tin chân thật vào Pháp. Nhờ vậy ngài được biết một cách công khai như là Kunkhyen Choje, Bậc Toàn Giác của Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Nyephu Shugseb ngài ban những giáo lý Đại Toàn Thiện cho một chúng hội hơn một ngàn tín đồ. Trong những vùng đồi đá gần tu viện Trog Ogyen, ngài ban những quán đảnh và giáo lý Tánh Sáng Tỏ của Tinh Túy Kim Cương cho khoảng ba ngàn người gồm bốn mươi vị thầy. Vào lúc chấm dứt những giáo lý họ làm một lễ Tiệc Cúng Dường (Tshog) và ngài nói với họ :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lễ Tiệc Cúng Dường này là cái cuối cùng chúng ta cử hành chung với nhau. Các ông cần từ bỏ những hành động thế gian và nắm lấy tinh túy tối hậu (của đời sống) bằng con đường sâu xa của tu hành Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi ngài đến chùa Zha, và vào lúc thuyết pháp cho quần chúng, những sự kỳ diệu xảy ra như có một cơn mưa hoa rơi xuống từ bầu trời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào năm năm mươi sáu tuổi, trong năm Con Thỏ Thủy của Rabjung thứ sáu (1363) giữa buổi ban pháp, ngài nói Gyalse Zodpa đem giấy, mực đến. Trong sự buồn rầu cùng độ của những đệ tử, ngài viết di chúc tâm linh của mình, có tên là Trima Medpa’i Od, Tánh Sáng Rỡ Vô Nhiễm. Đây là vài dòng từ di chúc ấy :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chừng nào chúng ta biết bản tánh của sanh tử,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thì những sở hữu thế gian không có tự tánh ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên giờ đây ta sắp bỏ thân vô thường</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">huyễn hóa này và</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ta sẽ nói cho các con cái gì độc nhất là tốt đẹp cho các con. Hãy nghe ta….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hôm nay, ta được cảm hứng bởi</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khuôn Mặt của bậc Pema bi mẫn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự vui sướng của ta với cái chết thì lớn hơn rất nhiều</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự vui sướng của những thương gia làm ra tài sản khi</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">đi biển,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Của những vua chư thiên khi tuyên bố thắng trận ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và của những bậc thánh đã hoàn thành nhập định.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và khi thời đã đến, những người du hành đi trên</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">con đường của họ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bây giờ Pema Ledreltsal sẽ không ở lại đây lâu nữa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mà sẽ đến ở trong trạng thái an toàn, phúc lạc và bất tử….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bây giờ chúng ta sẽ không có sự liên kết nào thêm trong đời này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ta là một người ăn xin sắp chết như nó muốn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ cảm thấy buồn mà hãy luôn luôn cầu nguyện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi ngài đến rừng ở Chimphu bằng con đường Gyama và Samye. Ngài nói : “(Năng lực tâm linh của) Chimphu tương đương với nghĩa địa Sitavan ở Ấn Độ. Chết ở nơi này tốt hơn một sự tái sanh ở những nơi khác. Ta sắp bỏ thân thể cũ rách của ta ở đây.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi ngài hiện tướng bệnh tật của thân. Nhưng ngài vẫn giữ việc thuyết pháp cho đám đông người tụ họp ở đó để nhận Pháp. Khi những đệ tử xin ngài nghỉ ngơi, ngài bảo : “Ta muốn hoàn thành việc thuyết pháp.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào ngày mười sáu tháng thứ mười hai của năm đó, ngài cử hành những cúng dường tỉ mỉ cho những Daka và Dakini. Bấy giờ ngài cho thời pháp công khai cuối cùng, nói rằng : “Các con cần hiến mình chỉ cho sự thực hành Pháp. Không có tinh túy nào trong những hiện tượng hợp tạo. Đặc biệt các con cần nhấn mạnh những thực hành Thregchod và Thodgal. Nếu các con gặp những khó khăn trong việc hiểu những thực hành, hãy đọc Yangtig Yidzhin Norbu ; nó giống như một viên ngọc như ý. Các con sẽ đạt đến niết bàn trong trạng thái Tan Biến mọi Hiện Tượng vào Bản Tánh Tối Hậu.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào ngày mười tám, ngài nói với vài đệ tử : “Hãy sắp xếp một lễ cúng dường và rồi tất cả các con hãy ra khỏi phòng.” Khi các đệ tử biểu lộ mong muốn được ở lại cạnh ngài, ngài nói : “Nào, ta sắp bỏ thân cũ rách huyễn hóa này. Chớ gây tiếng động, mà hãy ở yên trong thiền định.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rồi tâm thức ngài hòa tan vào trạng thái bổn nguyên và bỏ lại thân thể ngồi trong tư thế Pháp thân. Những người hiện diện chứng kiến mặt đất rung kên và những âm thanh ầm ầm, mà kinh điển diễn tả như những dấu hiệu của những chứng đắc cao. Họ để thân thể ngài trong hai mươi lăm ngày. Trong khoảng thời gian ấy những ánh sáng cầu vồng thường vòng qua bầu trời. Dầu trong tháng mười hai và tháng giêng, tháng lạnh nhất ở Tây Tạng, trái đất trở nên ấm, băng chảy và hoa hồng nở. Vào thời gian thiêu, trái đất rung ba lần và một tiếng trầm nghe được bảy lần. Những cái còn lại không thiêu cháy được là trái tim, lưỡi và mắt của ngài. Năm loại gDung và nhiều Ringsel có được từ xương là một dấu chỉ sự chứng đắc năm thân và năm trí huệ của Phật quả. Có nói rằng những Ringsel lớn tăng thành hàng trăm hàng ngàn. Một trong những hiện thân chính yếu của Long-chen Rabjam là đại Terton Pema Lingpa (1450-?) sinh tại Bhutan.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam là một trong những học giả và người kiệt xuất nhất và vĩ đại nhất của Tây Tạng. Nhưng hạnh kiểm hàng ngày của ngài thì giản dị, ‘rất người’ và tỉ mỉ. Ngài là tái sanh của những bậc chứng ngộ, tuy nhiên ngài bày tỏ cuộc sống của một cá nhân tầm thường sùng mộ những hoạt động nghiên cứu, tu hành và kỷ luật để hoàn thành mục đích của sự biểu lộ của ngài, đó là làm một tấm gương cho một người tu hành và một vị thầy của Pháp. Đây là một số trong nhiều đoạn gây cảm hứng và thích thú từ tiểu sử của ngài :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mọi thứ gì được cúng dường cho ngài từ niềm tin sẽ chỉ được dùng để phụng sự Pháp và không bao giờ cho chính ngài hay một mục tiêu thế gian nào khác. Ngài không cho phép bất kỳ vật gì đã hiến cho Pháp lại chuyển sai qua mục tiêu khác. Ngài không bao giờ bày tỏ sự tôn kính cho một người thường, dù vĩ đại hay quyền thế bao nhiêu, và nói : “Tôn kính phải được dành cho Tam Bảo mà không phải cho một người không đức hạnh.” Ngài không bao giờ cho một chỗ ngồi hay tôn trọng người kiêu căng vì thế lực hay giàu có. Khi phân phát những đồ cúng dường cho các nhà sư, ngài bắt đầu từ hàng chót, nói rằng “Chúng ta cần cẩn thận không bỏ sót người ở cuối, người ở hàng đầu dầu sao cũng có những đồ cúng dường.” Theo kinh điển, nếu một người bình thường nhận và chấp nhận sự tôn kính từ một người tâm linh cao cấp, nhiều công đức của người ấy bị thiêu cháy vì việc đó. Dù những đồ cúng dường cho ngài có lớn lao đến đâu, ngài nói những lời cầu nguyện hồi hướng mà không bao giờ biểu lộ sự biết ơn, và ngài nói, “Những thí chủ nên có cơ hội để tạo công đức.” Thế nên những thí chủ sẽ nhận được công đức thay vì những biểu lộ biết ơn vì những đồ cúng dường của họ. Vì ngài xa lìa những hy vọng và lo sợ của thành tựu thế gian, ngài sống đời mình trong những chốn ẩn cư và từ chối thiết lập hay sống trong bất kỳ chỗ ở nào, nói rằng, “Nếu tôi cố gắng, tôi có thể xây dựng một tu viện, nhưng làm thế chỉ tạo ra những phóng dật. Thế nên tốt hơn là tập trung vào việc điều ngự tâm thức (của người).”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài tuân thủ những lễ cúng của hai ngày thứ mười (của trăng tròn và khuyết, tức là ngày 10 và 25 âm lịch) và ngày mồng 8 mỗi tháng. Ngài từ ái bao la với người nghèo và kém may mắn, và ngài thường rất thích thú thức ăn do người nghèo cúng dường, dầu cho đó có thể có phẩm chất khủng khiếp, và rồi ngài nói một số lời cầu nguyện cho họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Điều này đưa người ta đến một nhận xét rất thú vị từ quan điểm xã hội, một người bình thường có thể nghĩ rằng Longchen Rabjam từ ái bao la với người nghèo, nỗ lực của ngài phải là đem mọi sự vật ngài có cho người nghèo. Trong nhiều trường hợp ngài hẳn phải làm như thế. Nhưng trong các tiểu sử không có đề cập nào về một đường lối xử thế như vậy cả. Bất luận thế nào, có một quan điểm tâm linh đàng sau sự việc ấy. Hầu hết sự vật mà ngài có thể có, ngài không bao giờ giữ mà chuyển cho những mục tiêu tôn giáo, đó đều là những “tặng phẩm của lòng tin” do các tín đồ, và chúng được hướng đến những mục tiêu tôn giáo. Một vật phẩm của lòng tin phải được tiêu dùng cho một mục tiêu tôn giáo, cho sự phục vụ Phật, Pháp, hay Tăng, và không cho những mục tiêu thế gian hay cho sự hưởng thụ của người thế tục. Nếu một vật phẩm của lòng tin được người thế tục hưởng thụ thay vì được dùng cho những mục tiêu tôn giáo, người thế tục sẽ tạo ra nghiệp mất công đức, điều đó sẽ tạo ra khó khăn trong tương lai. Từ quan điểm của Pháp, bằng cách nhận những đồ cúng dường của người nghèo khổ, ngài cho họ một cơ hội để tạo những công đức, đó là nguyên nhân cho hạnh phúc tương lai. Thế nên ngài thật sự ban ân cho người nghèo bằng cách cung cấp chính mình như một phương tiện cho họ để làm ra công đức, mặc dù ngài có thể có những bữa ăn tốt trong những gia đình giàu có nhất. Đó là lý do tại sao những người viết tiểu sử đặc biệt nói về việc ngài thọ hưởng thực phẩm của người nghèo để nêu lên lòng tốt của ngài với họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong Lịch sử của Lama Yangtig Longchen Rabjam khuyên những người theo ngài bằng những lời giản dị :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Các người theo ta trong tương lai ! Hãy bỏ lại những hoạt động thế gian của cuộc đời này. Hãy bắt đầu những chuẩn bị cho những đời tới. Hãy nương dựa vào một vị thầy đức hạnh toàn hảo. Hãy nhận lãnh những giáo huấn về tinh túy của tánh sáng tỏ. Hãy thực hành những giáo lý bí mật của Nying-thig trong vắng vẻ. (Hãy đạt đến quả của) sự siêu vượt khỏi (những khác biệt của) sanh tử và niết bàn ngay trong đời này. Nếu các người nhận được lời tiên tri nào, hãy hiến mình cho sự phụng sự những người khác hết mức của mình. Hãy truyền bá những giáo lý trong khi nhẫn chịu sự vô ơn và khó nhọc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một trong những tính cách nổi bật nhất trong những lời chỉ dạy của Longchen Rabjam là sự nhấn mạnh của ngài vào sự hòa điệu với tự nhiên : sự bao la và vẻ đẹp an bình của tự nhiên bên ngoài là chỗ nương tựa và sự bao la và tỉnh giác an bình của bản tánh giác ngộ bên trong là mục tiêu. Bằng cách nhìn thấy sự an bình không nhiễu loạn, sự sáng tỏ không nhiễm ô và sự đơn giản không rối rắm của tự nhiên bên ngoài như nó vốn là và bằng cách nương dựa vào chúng, người ta có được cảm hứng để sự chứng ngộ trạng thái tự nhiên bên trong hiện bày. Ngài cảm kích, hân thưởng bản tánh của những hiện tượng bên ngoài và thấy những đức hạnh của chúng. Ngài nhấn mạnh rằng đối với một người mới học, những hiện tượng tích cực bên ngoài là một căn cứ quan trọng để phát sanh tiến bộ thiền định.</span></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><b>Một số trích dẫn từ các tác phẩm của Ngài Longchenpa</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những trích dẫn sau từ những tác phẩm của ngài nói lên những quan điểm của ngài về tự nhiên bên ngoài và bên trong.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những hang động và những cánh đồng yêu thích trong rừng bình an</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trang hoàng với ngàn hoa khiêu vũ và những dòng suối âm vang</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những nơi đó, chúng ta có thể ngắm nhìn không lay động tâm thức mệt mỏi của chúng ta,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và ở lại đó để hoàn thành những mục đích của đời sống quý giá làm người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nơi đó, không gặp chúng sanh hoang dã nào,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đã làm bình lặng những phiền não nhiễm ô và hoàn thành bảy phẩm tính cao cả,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào lúc xả bỏ thân thể này,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mong rằng chúng ta đạt được đức vua của tâm thức, trạng thái bổn nguyên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tự nhiên bên ngoài lợi lạc cho sự tu hành tâm linh bên trong :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trên đỉnh đồi, trong rừng, trên một hòn đảo</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thích thú và hài hòa suốt bốn mùa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy tham thiền nhất tâm không xao lãng</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Về tánh sáng tỏ thoát khỏi mọi tạo tác ý niệm….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vì bên ngoài và bên trong là tương thuộc,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người ta cần sống trong một nơi chốn vui thích, đơn côi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những đỉnh núi, vì chúng mở rộng và làm trong sáng tâm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là những nơi rất tốt để xua tan hôn trầm và tốt lành cho sự tu hành giai đoạn phát sanh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những núi tuyết, vì chúng làm sạch sẽ tâm và làm trong sáng tham thiền,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là những nơi tốt cho tu hành quán chiếu, và sẽ có ít che chướng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những rừng cây, vì chúng làm ổn định tâm và khai triển sự an trụ của tham thiền,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là những chỗ tốt cho tu hành an định và tăng trưởng phúc lạc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những núi đá, vì chúng làm sanh khởi cảm giác hối lỗi và vô thường,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáng trong và uy lực, là những chỗ tốt để hoàn thành sự hợp nhất của quán chiếu và an định.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những bờ sông, vì chúng đã làm ngắn lại những tư tưởng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phát sanh sự khai triển của sự vọt khỏi sanh tử nhanh chóng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những nghĩa địa, vì chúng uy lực và khiến những chứng đắc đến nhanh,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là những chỗ tốt để tu hành cả hai giai đoạn phát triển và thành tựu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự lựa chọn những nơi chốn thiền định tùy thuộc vào sức mạnh và nhu cầu của cá nhân thiền giả :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những nơi chốn như thành thị, chợ phiên, nhà trống, cây đơn độc,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nơi người và loài chẳng phải người hay lui tới,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Làm phóng dật những người mới học và thành chướng ngại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nhưng đó là chỗ dựa tối cao cho thiền giả rất an ổn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vẻ đẹp và bình an của cô đơn làm phát sanh cảm hứng, niềm vui và sự an định trong tâm thức và đời sống. Longchen Rabjam truyền đạt những đức hạnh của cô đơn khi diễn tả sự an định của rừng trong Kể Lại Niềm Vui Trong Rừng :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong một khu rừng, tự nhiên có ít phóng dật và</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">tiêu khiển,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người ta xa khỏi mọi khổ đau của hiểm nguy và</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">bạo lực.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Niềm vui lớn hơn rất nhiều sự hoan hỷ của những thành thị cõi trời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy hưởng thụ thiên nhiên tĩnh lặng của rừng hôm nay.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hỡi tâm thức, hãy nghe những đức hạnh của rừng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những cây quý, vật cúng dường xứng đáng cho chư Phật,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trĩu đầy trái cây lớn dần rực rỡ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hoa nở và lá cây phát ra mùi hương dịu dàng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hương thơm đầy khắp không khí.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những dòng suối trên núi âm vang điệu nhạc mê hồn của trống.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự mát lạnh của mặt trăng xúc chạm mọi sự. Khoảng giữa cây cối</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phủ lấy áo mây dày.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bầu trời trang hoàng bằng muôn vàn tinh tú.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những đàn thiên nga bay quanh những hồ thơm ngát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chim và nai qua lại giữa an bình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những cây như ý, hoa sen và hoa loa kèn màu xanh</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đầy những con ong mật vo ve.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cây cối chuyển động theo những điệu múa nhịp nhàng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những cánh tay của dây leo thõng xuống</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Gởi lời chào mừng đến những kẻ viếng thăm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những ao trong mát phủ đầy hoa sen</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rạng rỡ như những khuôn mặt tươi cười.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những thảm cỏ xanh như bầu trời giáng hạ trên mặt đất</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những hang động yêu kiều với những chuỗi cây hoa</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như tinh tú mọc trong bầu trời trong sáng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như chư thiên chơi đùa trong một vườn hoa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những con cu gáy phát tiếng ngọt ngào, làm say bằng niềm vui.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Gió mùa thổi như ban phát ngàn hoa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những đám mây âm vang tiếng sấm vui tươi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những trận mưa rào tuyệt vời đi đến làm mát lạnh hơi nóng</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thức ăn từ rễ, lá và trái</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không nhiễm độc bởi những hành vi bất thiện và được cung cấp suốt bốn mùa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong rừng những xúc cảm tiêu tan tự nhiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không có ai nói những lời bất hòa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vì xa khỏi những phóng dật do tiêu khiển từ phố thị,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong rừng sâu sự thanh bình của nhập định lớn lên tự nhiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đời sống trong rừng phù hợp với thánh pháp và thuần hóa tâm thức</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và hoàn thành hạnh phúc của thanh bình tối hậu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đối với người mới học, quan trọng là thấy những đức hạnh nằm trong cái đẹp của những nơi chốn cô tịch như rừng núi để gây hứng khởi cho tâm thức với sự cô đơn. Nếu người ta không khai triển một thói quen thấy những mặt bình thường mà tích cực của cô đơn, như vẻ đẹp của nó, người ta có thể không bao giờ dám bỏ những tiêu khiển của trần thế. Mục tiêu thấy vẻ đẹp của thiên nhiên không phải là tạo ra một tương quan xúc cảm với nó. Longchen Rabjam giải thích cách thấy và diễn dịch những cảnh bình thường như một minh họa của Pháp và cảm hứng cho Pháp :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong vườn hoa đẹp trên bờ sông</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những con ong-mật-Như-Lai ngồi trên những đóa hoa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Làm đẹp trọn vẹn khu vườn và phát ra âm thanh trống Pháp,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và toàn thể khu vườn hiển lộ như đang tôn kính nghe Pháp….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bình an và giàu có với sự trang sức bằng những tràng hoa đức hạnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được làm đẹp bởi những vinh quang của khổ hạnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự giàu sang không thể có ngay cả ở cõi trời Phạm Thiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cây cối trĩu quả và lá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những vườn cây cung cấp những lạc thú khác nhau trong bốn mùa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những dòng sông phát ra âm nhạc dịu dàng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những khu rừng được trang hoàng bằng những nhà khổ hạnh tham thiền.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ âm thanh cây cối tiếp xúc với gió,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chim chóc, ong và nai</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nghe thánh pháp làm bình yên trong tiếng nói Phạm Thiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những quang cảnh này làm nở đóa hoa ngàn cánh của niềm tin.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như thể mọi nghiệp tốt được hoàn thành trong quá khứ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và những ban phước của lòng từ ái của những thánh nhân</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đã thâm nhập vào những sinh thể của đất này,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và đại dương sanh tử đang dứt tận.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam giải thích như thế nào, sau khi đi vào sự cô đơn an bình của rừng, tiến bộ trên con đường thiền định :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau khi vào rừng, hãy ở trong một cái hang dưới chân một ngọn đồi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Dưới một gốc cây trong một đồng cỏ với cây thuốc và hoa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hay trong một lều tranh hay lợp bằng lá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với nước uống, thức ăn và trái cây,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một lối sống giản dị duy trì thân xác</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và hiến mình ngày đêm cho Pháp đức hạnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong khu rừng, bằng thí dụ là những lá chết</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thấu hiểu rằng thân thể, tuổi trẻ và những giác quan</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Dần dần thay đổi và không có tự tánh nào,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và mọi loại thịnh vượng chắc chắn phải suy tàn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bằng thí dụ những lá lìa cây</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đi đến chỗ thấu hiểu rằng bạn, thù cũng như thân mình,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đang tụ hội, đều thuận theo sự tan rã</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và phải trói buộc vào chia lìa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bằng thí dụ là những ao sen trống không</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thấu hiểu rằng những đối tượng khác nhau của tham muốn giàu sang</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tất yếu phải đổi thay, rằng không có tinh túy thật sự nào trong chúng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và cái gì được tích tập cái đó sẽ tiêu vong.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bằng thí dụ là sự thay đổi của ngày, tháng và bốn mùa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thấu hiểu rằng thân thể như hoa nở mùa xuân</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phải chịu biến đổi khi thời gian trôi chảy, sự trẻ trung của nó phai dần,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và thần chết sẽ đến là chắc chắn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bằng thí dụ là trái cây rơi rụng</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thấu hiểu rằng tất cả, trẻ, lớn hay già,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phải lệ thuộc vào cái chết, rằng thời gian chết thì không thể định,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và tất yếu cái gì có sanh cái đó có chết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bằng thí dụ là sự sanh khởi của những phản chiếu trong ao</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thấu hiểu rằng những hiện tượng khác nhau xuất hiện như không có (hiện hữu) chân thật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chúng như những bóng huyễn, một ảo ảnh, một mặt trăng trong nước,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và nhất định trống không, vô tự tánh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đã thấu hiểu những hiện tượng theo cách ấy,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trên một chỗ rộng rãi hãy ngồi thẳng và thoải mái.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với thái độ làm lợi lạc cho chúng sanh, hãy thiền định về tâm của giác ngộ (Bồ đề tâm).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không theo những tư tưởng của quá khứ và không đem đến những tư tưởng tương lai,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và giải phóng hiện tại khỏi sự suy nghĩ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy tham thiền trong một trạng thái không dao động, không có những phóng chiếu và thu hồi….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">An trụ trong tự do, sáng tỏ, trực nhận và sống động,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">(Sự hợp nhất của) tánh không và sáng tỏ, thoát khỏi mọi nắm bắt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đây là sự thấu hiểu của chư Phật ba đời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngoài việc tham thiền tự nhiên với sự thong dong</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong nghĩa bổn nhiên vốn sẵn, bản tánh bổn nhiên của tâm như nó là,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy không nghĩ điều gì cả, giải phóng tất cả tư tưởng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tự do khỏi những tư tưởng, phân tích và những ý niệm hóa</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là cái nhìn thấy (thị kiến) của chư Phật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên, làm bình lặng khu rừng tư tưởng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy trông xem cái an bình tối hậu, bản tánh bổn nhiên của tâm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào lúc kết thúc (thời thiền) Hãy hồi hướng những công đức bằng phương tiện gọi là “thanh tịnh thoát khỏi ba phương diện.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hầu hết những tác giả Tây Tạng biểu lộ sự khiêm hạ của các ngài trong những tác phẩm, như tự diễn tả mình là ngu dốt và thất học mặc dầu các vị là những đại học giả ; hoang dã và mê mờ mặc dù các vị là những người chứng ngộ, và là những thành viên vô nghĩa và thấp thỏi của cộng đồng mặc dù là những bậc được kính trọng nhất. Đó cũng là một cách để huấn luyện mình không phát sanh kiêu hãnh và tự phụ trong tương quan đời sống và khiêm hạ, rất “người”, và bình đẳng với tất cả và cũng để dạy những người khác sự khiêm hạ. Nhưng Longchen Rabjam như vài học giả chứng ngộ vĩ đại khác, để lộ đời sống chân thật của mình và công bố tiếng gầm không sợ hãi và không giới hạn của sự học và cái thấy thấu suốt của mình để gây cảm hứng và làm phát sanh sự xác tín vào những giáo lý trong tâm thức những người theo đạo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cho đến giữa thế kỷ này, trong các tác phẩm, hầu hết những đại học giả của Tây Tạng đã dựa vào kinh điển và những lời dạy của những thánh nhân đã chứng ngộ chân lý như nó là, hay vào chính chứng ngộ của các ngài về chân lý như nó là. Ngày nay nhiều học giả hiện đại viết ra những nhận định và phê phán về kinh, luận mà không có một manh mối y cứ nào, dù là về mặt trí thức, về thật nghĩa là gì.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam viết vì ngài đã học từ những đạo sư chứng ngộ của mình và từ những kinh điển chính thống và vì ngài đã tự mình chứng ngộ trực tiếp qua sự tu hành mãnh liệt trên con đường ngài đã được giới thiệu vào. Ngài không trình bày điều gì chỉ nương dựa vào quan điểm trí thức của mình. Chính Longchen Rabjam viết :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vì tu hành từ đời này sang đời khác,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và đã được đưa vào con đường này bởi những vị thầy thiêng liêng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôi đã chứng ngộ nghĩa của tinh túy thậm thâm</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và đã thành tựu những thừa tối thượng như đại dương.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bởi thế, trong trí huệ bao la như bầu trời,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ những đám mây lớn của sự học và phân tích với tia chớp của những lợi lạc và hạnh phúc,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Kèm với sấm của những chứng ngộ và tham thiền,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cơn mưa lớn này của giáo lý rải xuống.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bởi vì sự bao la của cái học và phân tích trí thức,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôi đã hấp thụ nghĩa của tất cả mọi thừa</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và đã học trong con đường tuyệt hảo này của tánh Kim cương.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên tôi đã viết bình giảng này về cảnh giới sâu thẳm và bao la tối hậu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong Shingta Chenpo ngài viết :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Padma(sambhava) vinh quang, sanh từ đại dương của đại bi và trí huệ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người theo ngài, phú bẩm với ngàn Tia Sáng Vô Nhiễm (Longchen Rabjam),</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là mặt trời của chúng sanh, xua tan bóng tối của tâm thức và</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">An trụ trong cõi giới bổn nguyên không che ám.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong Gyuma Ngalso ngài viết :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bậc Chiến Thắng nói rằng tất cả mọi hiện tượng thuộc về tính cách hai cái huyễn (nhiễm ô và thanh tịnh).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vì mục tiêu chứng ngộ điều này,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bằng cách cô đọng tinh túy của mọi kinh và tantra,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôi sẽ giải thích cái tôi đã chứng ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong Semnyid Rantrol ngài viết :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những hiện hữu hiện tượng là vô sanh và bình đẳng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong đó những tri giác (nhận thức và tâm) vốn nguyên giải thoát</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phổ biến khắp như nhau không nắm bắt ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Về sự thống trị kỳ diệu này, Tâm Tự Nhiên Giải Thoát</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy nghe khi tôi nói với các bạn cái tôi chứng ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đôi khi mục đích viết là để cho chính sự học của người viết. Cách tốt nhất trong ba cách học là viết. Hai cách kia là nghe (nghiên cứu) những giáo lý và thảo luận hay tranh luận. Thế nên mục đích chính của việc biết là xua tan bóng tối, vô minh của chính mình và của người khác. Longchen Rabjam giải thích tại sao ngài đã viết Semnyid Rangtrol :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Giáo lý này, tinh túy của mặt trời,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được tỏa sáng bởi sự khởi lên của những Tia Sáng</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vô Nhiễm (Longchen Rabjam)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngày nay chúng ta đang ở trong thời đại chiến đấu, bao phủ bởi bóng tối của những tà kiến ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Để xua tan chúng, tôi viết bản văn này của nghĩa</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">rốt ráo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam kết luận bình giảng Nelug Dzod rằng :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ bầu trời bao la của những chủ đề có thể biết được,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với trí huệ, ngàn Tia Sáng của Mặt Trời (Longchen Rabjam),</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cô đọng tinh túy cốt lõi những tantra, kinh điển và giáo huấn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tạo nên (sự chỉ dạy này) ở vùng núi Kangri Thodkar.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam, khác với nhiều tác giả Phật giáo khác, thì rất trực tiếp và thành thật trong việc chỉ ra những quan điểm sai lầm của những người khác, như một tục ngữ Tây Tạng nói : “Chỉ ra những lỗi lầm của các đệ tử một cách trực tiếp là tính chất của một vị thầy.” Nó không phải từ ghét giận hay khắc nghiệt mà bởi vì tâm thương xót và bản tánh khiêm tốn, thành thật và cởi mở của ngài, Trong Choying Dzod, ngài viết :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bây giờ, những con voi khoe khoang họ là người theo Ati,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tuyên bố rằng đám tư tưởng chập chờn là tâm giác ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ôi ! những kẻ ngu này đã rơi vào hầm tối,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Họ xa lìa nghĩa của Đại Toàn Thiện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu các người không biết (những khác biệt giữa) năng lực của những sanh khởi và năng lực của tánh giác ngộ bổn nhiên,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Làm sao các người có thể hiểu tinh túy của tâm giác ngộ ?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như Phật đã nói trong kinh, Longchen Rabjam cũng giải thích rằng ngài chỉ có thể dạy Pháp, con đường đạt đến giác ngộ nếu người ta đi theo nó. Ngài sẽ không có năng lực đem đến giác ngộ cho những tâm thức của chúng sanh chỉ bằng cách sống giữa con người, thế nên ngài mong ước sống trong cô đơn hoang vắng và bằng thực hành đạt đến địa vị Phật và phụng sự chúng sanh hiệu quả hơn :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Để cho chúng sanh, tôi ở đây,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cho vài giáo lý từ lòng bi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nhưng tôi không có thần lực để đem sự chứng ngộ tánh Như cho họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên tôi sống một mình trong rừng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong một khu rừng nhiều nước sạch, đầy trái cây, hoa và lá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bao quanh với hàng rào tre và cây nho,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với những chỗ ở mát mẻ, thích thú, hấp dẫn bằng tre,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mong rằng tâm tôi đạt đến an định.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nơi đây, không có người cũng không ma quỷ thấy tôi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sống bằng nước sạch và chỉ bằng những dưỡng chất khổ hạnh,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và bằng thiền định về những ý nghĩa của những giáo huấn cam lồ của Lama tôi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mong rằng tôi bỏ đi thân thể sống này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào lúc đó, bằng cách chứng ngộ cái sáng tỏ vào lúc chết,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Giải thoát cái sáng tỏ của trạng thái trung ấm vào trạng thái bổn nguyên,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và trở nên không thể tách lìa với những thân và những trí huệ bổn nguyên,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nguyện tôi thành tựu những lợi lạc hai phần một cách tự nhiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Do đọc những tác phẩm ấm áp thích thú và thấu nhập của ngài, người ta có thể cảm thấy sự xúc chạm của tâm bi mẫn của ngài. Những dòng sau là một số diễn tả thường xuyên những cảm giác tự phát và tự nhiên trong hình thức những mong ước trong những luận văn học giả của ngài :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bất kỳ ai đối với tôi</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phát sanh giận dữ hay niềm tin, hay bất kỳ ai làm thương tổn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ca ngợi hay theo tôi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nguyện tôi dẫn dắt tất cả họ nhanh chóng đến giác ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài kết thúc Shingta Chenpo với những ước nguyện sau :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nguyện hạnh phúc của tôi được tất cả chúng sanh kinh nghiệm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nguyện những khổ đau của chúng sanh được chuyển di qua tôi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cho đến khi nào sanh tử trống rỗng</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nguyện tôi vẫn dẫn dắt chúng sanh (đến hạnh phúc và giác ngộ).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Giống như những đạo sư Phật giáo khác, Longchen Rabjam dùng tính chất khổ đau và vô thường của sanh tử như là khí cụ để khuyến tấn những đệ tử thực hành Pháp. Trong Terjung Rinpoche’i Logyu ngài viết :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cuộc đời vô thường như những đám mây mùa thu,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tuổi trẻ vô thường như hoa mùa xuân,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thân thể vô thường như tài sản mượn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Giàu có vô thường như sương trên cỏ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bạn bè thân thuộc vô thường như một người khách trong một cửa tiệm ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Dù họ có hội hợp, họ sẽ tan lìa như những người bạn đi du lịch ; và</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thần chết, như bóng của dãy núi phương tây, sẽ không trì hỗn….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự sanh thì còn đáng sợ hơn sự chết,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bất cứ nơi nào người ta tái sanh trong sanh tử, không có chỗ nào là hạnh phúc,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đức Phật đã nói ; nó giống như hầm lửa….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bằng cách học hỏi người ta sẽ không đạt giải thoát khỏi đau khổ :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trước hết, quyết định nhờ những học hỏi không sai lầm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Xua tan mọi nghi ngờ và giả tạo bằng suy tư.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và rồi thiền định về nó, người ta được giải thoát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên, đã học nghĩa không sai lầm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Quan trọng là thực hành nó một mình trong rừng….</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cuộc đời này có tự do và những phú bẩm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không biết khi nào nó sẽ mục nát ; nó như một bình đất sét.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tri giác về ngày mai hay đời tới</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người ta sẽ ra sao đều không được biết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên xin hãy thực hành Pháp ngay ngày hôm nay.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những công việc của đời này sẽ không bao giờ chấm dứt cho đến khi chết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi các bạn dừng chúng lại, chính là bản tánh của chúng mà chúng được chấm dứt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Niềm tin vào Pháp thì khó phát triển,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên bất cứ khi nào các bạn nhớ đến Pháp,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">hãy thực hành nó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau đây là một số sáu thành tố do Longchen Rabjam ban cho trong Mengag Dzod để tóm lại và làm rõ những điểm đạo đức, triết học, tôn giáo và thiền định của Pháp. Những yếu tố quan trọng để đi vào Pháp:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu điều quan trọng để đi vào Pháp là</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tuân thủ kỷ luật tu hành, nền tảng của con đường,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Học hỏi nhiều chủ đề khác nhau mà không thiên chấp,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Làm bình lặng ba cửa và tự tâm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngừng dứt những hành vi bất thiện, và phát triển những hành vi thiện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có hổ thẹn, và phát triển lòng tin,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và có một vị thầy đức hạnh và những người bạn đức hạnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những điều ấy rất quan trọng cho người mới học.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những tính cách của cô đơn :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu yếu tố quan trọng để sống trong cô đơn là</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một nơi chốn đơn độc với những dấu hiệu tốt lành,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nơi những bậc quá khứ đã đặt chân đến,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở đó những người giữ nguyện tụ tập vì nó không dơ bẩn bởi ô nhiễm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nơi không có những phóng dật và tiêu khiển,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nơi những lương thực dễ có được,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và nơi không có nguy hiểm từ người hay loài không phải người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam nhấn mạnh rằng sự cô đọng của tất cả các thừa vào một cái là phương tiện đạt đến Phật tánh, và ngài bác bỏ quan điểm rằng chúng là những thân phần trái nghịch nhau của những giáo lý. Ngài kết luận Semnyid Ngalso với những lời sau :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bây giờ, những người bình thường mà tâm nhãn không thanh tịnh,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cho những con đường khác nhau của “dòng tương tục” (tantra) và của “hoàn thiện” (ba la mật)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là trái nghịch nhau. Họ không biết cách kết hợp chúng thành một.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bởi thế, họ có những con mắt thiên lệch.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở đây (trong bản văn này), những nghĩa sâu xa tối thượng của các thừa, thừa nhân và thừa quả,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôi đã cô đọng thành một, là phương tiện của sự tu hành.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Theo quan điểm của Longchen Rabjam, mọi đức hạnh của chín thừa được cô đọng trong tánh giác, tâm giác ngộ của Đại Toàn Thiện :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những kinh điển của Thanh Văn, Bích Chi Phật và Bồ tát</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đồng ý trong cái thấy xác định không có sự hiện hữu của cái ngã của người và cái ngã của pháp</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và trong sự tự do thoát khỏi những ý niệm hóa, như hư không.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong những kinh điển của yoga Ati bí mật tối thượng và vĩ đại,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong tự do như hư không thoát khỏi những phân biệt ta người,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trí huệ bổn nguyên tự-khởi, người ta an trụ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên tất cả nghĩa (của những thừa trước) được cô đọng trong tinh túy tối thượng này (tánh giác).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những loại (tantra ngoại) Kriya, Upa (yoga) và Yoga (tantra),</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đồng ý rằng nhờ phương tiện những mây cúng dường của tự mình, bổn tôn và những tham thiền</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người ta đạt được sự thành tựu tịnh hóa ba cửa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong tột đỉnh kim cương bí mật, vua của những giáo lý,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người ta chứng nghiệm những tri giác, âm thanh và tư tưởng là những bổn tôn từ trạng thái bổn nguyên</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và thành tựu sự tịnh hóa ba cửa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên sự chứng ngộ của (ba thừa) này được thành tựu trong tinh túy tối thượng này (tánh giác).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ba tantra nội Maha, Anu và Ati đồng ý :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế giới và chúng sanh, những hiện hữu hiện tượng, là những bổn tôn nam và nữ và cõi tịnh độ của các vị,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cõi giới tối hậu và trí huệ bổn nguyên hợp nhất viên mãn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và bản tánh tối hậu là trí huệ bổn nguyên bất biến và tự-khởi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong cái bí mật tối thượng nhất này (tánh giác), bởi vì tất cả vốn toàn thiện,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và ngoại trừ (những xuất hiện của) những lâu đài vô tạo tác trong cõi tịnh độ của pháp giới bổn nguyên lạc phúc,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chúng toàn khắp trong không có những chiều kích trong hay ngoài,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không có những đặc thù của nỗ lực, chấp nhận hay chối bỏ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tất cả là giải thoát trong pháp giới vô cùng của Pháp thân,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên tất cả những chứng ngộ của chín thừa đều được thành tựu trong tinh túy bí mật vĩ đại này (tánh giác).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam diễn tả sự chứng ngộ của Đại Toàn Thiện trong những lời giản dị, sống động mà sâu xa :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu người ta chứng ngộ sanh tử không có căn cứ, mối manh, đó là niết bàn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu người ta chứng ngộ niết bàn chỉ là giả danh, đó là cõi giới bổn nguyên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu bạn tự do khỏi những nỗ lực và vượt lìa tâm thức, đó là Pháp thân.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu bạn trong tham thiền không có tư tưởng, đó là siêu vượt khỏi những tư tưởng và diễn tả.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu không có những ý niệm và bám luyến, đó là trạng thái tự nhiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu bạn vượt khỏi tâm thức và những hiện tượng đều Không, đó là nghĩa tối hậu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu bạn tự do khỏi “là” và “không là”, đó là tự do khỏi những cực biên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu bạn cắt đoạn gốc rễ những lo sợ và nghi ngờ, đó là giác ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">(Giáo lý Đại Toàn Thiện) là tinh túy chân thực và tối hậu ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôi dạy nó cho những người phước đức mai sau.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bạn và những người theo đạo phước đức khác,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy bảo đảm sự chứng đắc vĩnh cửu trong trạng thái vô tướng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đoạn sau là một số trích dẫn từ những tác phẩm kệ của Longchen Rabjam để làm rõ cái thấy của ngài về đời người và những hiện tượng thế gian, và sự trình bày của ngài về cái thấy, thiền định và những kết quả của sự tu hành Đại thừa :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu phương diện người ta cần nương dựa cho đến chứng đắc rốt ráo :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy bỏ thân thuộc và nương dựa vào những thiện tri thức tuyệt hảo,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy bỏ những bạn bất thiện và nương dựa vào những vị thầy có học và khéo léo hộ trì,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy bỏ những đồng ý và nương dựa vào sự tương hợp tối hậu với Pháp,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy nhận sự học hỏi và tư duy và áp dụng chúng cho tâm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy bỏ những thành thị và ở trong núi non hoang vắng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và tìm kiếm những giáo lý và thực hành chúng với chuyên cần.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu người ta có thể theo như thế, người ta sẽ hoàn thành những chứng đắc nhanh chóng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Man-Ngag Rinpoche’i Dzod MD 7b/1 :</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đối với việc (làm bình lặng) sự nắm bắt cái ngã của những đối tượng, hãy nhìn vào sự thay đổi của chúng trong bốn mùa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đối với bám chấp vào sự thường còn của cuộc đời, hãy nhìn vào hạt sương trên cỏ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đối với vô minh về nhân và quả, hãy nhìn vào những hạt giống và trái của nó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đối với vô minh của tri giác và tâm thức, hãy nhìn vào những giấc mộng khi ngủ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đối với vô minh về một vị, hãy nhìn vào mật mía và những phản chiếu của nó,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và đối với vô minh về bất nhị, hãy nhìn vào nước và băng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những cảnh tượng này là những đối trị vĩ đại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 43a/3 </b><span style="font-weight: 400;">:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự từ bỏ sáu hành vi thiện và bất thiện trộn lẫn là :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ nương dựa vào một vị thầy không có tinh túy tâm linh mà lại khiến giận ghét và tham luyến tăng trưởng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ chấp nhận một đệ tử là một bình chứa không thích hợp (với Pháp) và nghĩ đến những lỗi lầm (của những người khác),</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ thực hành những đức hạnh (trên danh nghĩa) chúng (thật ra) là sự tích tập những hành vi không đức hạnh,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ ban bố từ thiện với mong mỏi được kính trọng và được đáp đền,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chớ làm những cúng dường để phục vụ cho thân thuộc và sự giàu có của mình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và chớ ban cho những giáo lý để lừa dối người ta mà kiếm lợi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Theo những khuyên bảo này, người ta sẽ tương ưng với Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 9a/5 :</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chứng đắc quả Phật dựa vào Sáu phương diện :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Dụng cụ tuyệt hảo cho tu hành Pháp nương dựa vào việc có một đời người quý báu,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">(Chứng đắc giải thoát) nương dựa vào sự tu hành vì không có tu hành người ta không đạt giải thoát,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành dựa vào hiểu biết trọn vẹn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hiểu biết nương dựa vào học hỏi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự hoàn thiện của học hỏi nương dựa vào suy nghĩ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và tất cả nương dựa vào việc có một đạo sư đạo hạnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 13a/4</b><span style="font-weight: 400;"> :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu nâng đỡ tuyệt hảo của thực hành Pháp :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tôn kính Tam Bảo như đối tượng tôn thờ tối thượng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hy sinh những hoạt động của cuộc đời này như sự hy sinh tối thượng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có lòng tin, học và suy nghĩ như sự giàu có tối thượng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nhận biết tự tánh của Tâm như người bạn tối thượng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Buông bỏ bám chấp vào những tham muốn ích kỷ như thái độ tối thượng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và thấy Lama như Phật, đó là sự thành tựu tối thượng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu người ta hành động theo những đường lối này, người ta sẽ hoàn thành những mục tiêu hai phần.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 64b/4 </b><span style="font-weight: 400;">:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu đức hạnh quan trọng là :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lòng bi cho chúng sanh là quan trọng cho việc chứng ngộ vô ngã,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tin vào nhân quả là quan trọng cho sự thâm nhập tánh Không,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không lưu lại trong sanh tử là quan trọng cho sự an trụ trong an lạc,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không mong chờ những kết quả là quan trọng cho lòng từ thiện,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ bỏ khoe khoang là quan trọng cho sự tuân thủ kỷ luật tu hành,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và sự khiêm tốn trong nhu cầu là quan trọng cho việc sống cô đơn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu có sáu điều này người ta thành tựu việc tu hành Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 46a/1 :</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những cần thiết của sáu cái bình đẳng :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cần thiết cảm nhận rằng con của mình và kẻ thù là bình đẳng do biết rằng chúng sanh của sáu đường là những bà mẹ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cần thiết thấy sự bình đẳng giữa vàng và sỏi đá do chứng ngộ giàu có vật chất là huyễn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cần thiết thấy sự bình đẳng của những hành vi thiện và bất thiện vì không có nhân và quả trong thật tánh của chúng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cần thiết thấy tánh nhất như của thiền định và xuất định do chứng ngộ thật tánh của sáu thức.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cần thiết thấy tánh vô phân biệt do diệt trừ những phiền não bằng cách thấy chúng là những trí huệ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và cần thiết thấy sự bình đẳng của sanh tử và niết bàn vì bản tánh của chúng là bổn nhiên thanh tịnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thấy những bình đẳng này là đại yoga.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 48a/5 </b><span style="font-weight: 400;">:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành sáu hoàn thiện (sáu ba la mật) không tách lìa là :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không để cho lòng rộng lượng bị đánh cắp bởi kẻ thù keo kiệt,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không để cho những tên cướp, tà hạnh, phá hủy kỷ luật đạo đức,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không để cho lòng khoan dung bị đâm thủng bởi vũ khí của giận dữ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không để cho tinh tấn bị trói buộc bởi xiềng xích của giải đãi,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không để cho tham thiền bị ô nhiễm bởi thuốc độc của những xao động,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và không để trí huệ bổn nguyên bị che ám bởi bóng tối của vô minh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 50a/4</b><span style="font-weight: 400;"> :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành sáu tính chất tuyệt hảo là :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ bỏ những hoạt động của thân mê lầm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ bỏ những diễn tả của ngữ vô nghĩa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ bỏ những phóng chiếu của những tư tưởng của tâm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ bỏ những bám luyến của tham hưởng thụ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ bỏ dấn thân vào những phóng dật và tiêu khiển,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và từ bỏ sự nịnh hót như một phương tiện để giữ gìn cho tâm những của người khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 59b/4</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu cách cô đọng sự tu hành các thừa là :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành tri giác thanh tịnh bằng cách nhận chân thế giới và chúng sanh là những tri giác như huyễn,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành lòng bi bằng cách nhận chân sanh tử là thống khổ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành lòng từ bằng cách nhận chân chúng sanh sáu đường là những bà mẹ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành ba thệ nguyện bằng cách nhận chân nghiệp là nhân quả duyên sanh,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tu hành những giai đoạn phát triển và thành tựu bằng cách đồng hóa bốn quán đảnh truyền pháp với ba cửa,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và tu hành bản tánh tối hậu bằng cách nhận chân những hình tướng, âm thanh và tư tưởng là bản tánh tối hậu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nếu người ta hoàn thiện những tu hành này sẽ không có những che chướng và lỗi lầm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 33b/6</b><span style="font-weight: 400;"> :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu lời kim cương của Đại Toàn Thiện Dzogpa Chenpo :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đại Toàn Thiện của nền tảng là sự xác minh cái Tâm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đại Toàn Thiện của con đường là sự thâm nhập điểm cốt yếu cho giải thoát,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đại Toàn Thiện của quả là chứng đắc sự dừng dứt của những hy vọng và lo sợ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đại Toàn Thiện của những đối tượng là sự giải thoát của những tri giác không có nắm bắt,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đại Toàn Thiện của tâm là sự khởi sanh của những tư tưởng như là những hỗ trợ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và Đại Toàn Thiện của nghĩa là sự tan biến tự nhiên của những chuyển động.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bất cứ ai thực hiện được những điều này là vua của các thiền giả.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 74a/3</b><span style="font-weight: 400;"> :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sáu xác tín của chứng ngộ về cái nhìn thấy sâu xa là :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chứng ngộ những hiện tượng là trung đạo thoát khỏi những cực biên,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chứng ngộ những hiện tượng là tánh sáng tỏ vĩ đại, cái hợp nhất,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chứng ngộ những hiện tượng là tánh bình đẳng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">đại lạc,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chứng ngộ những hiện tượng là bất nhị, tinh túy</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">đơn nhất,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chứng ngộ những hiện tượng là sự thành tựu tự nhiên, tự do khỏi mọi thiên chấp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và chứng ngộ những hiện tượng là thanh tịnh bổn nguyên, tự nhiên bổn nguyên. Dù người ta hoàn thiện chúng,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">(Trong thật tánh của chúng) không có người chứng ngộ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cũng như bản thân sự chứng ngộ không có ý tưởng gì về chứng ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế nên, maya yoga (yoga huyễn) này thoát khỏi mọi thí dụ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>MD 74a/5</b><span style="font-weight: 400;"> :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đã chứng ngộ như thế, có sáu cách giải thoát :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những đối tượng bên ngoài, ngay lúc chúng xuất hiện,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được giải thoát ngay trong bản tánh của sự xuất hiện, như băng tan vào nước.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự tri nhận bên trong, ngay lúc tri nhận,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được giải thoát ngay trong bản tánh của sự tri nhận, như bọt tan vào trong nước.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hai tư tưởng trung gian, ngay lúc chúng chuyển động</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được giải thoát ngay trong bản tánh của những chuyển động, như tia sấm chớp trong bầu trời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những âm thanh, những chỉ danh và tên, ngay lúc vang lên</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được giải thoát ngay trong bản thân sự gọi tên, như những âm thanh của một tiếng vang.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những lý thuyết nắm hiểu, ngay điểm xác nhận,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được giải thoát ngay bản thân những xác nhận, như những cầu vồng biến mất trong bầu trời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những kết quả của thành tựu, ngay lúc đạt được,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được giải thoát ngay trong bản tánh của những chứng đắc, như những ước muốn được đáp ứng tức khắc bởi viên ngọc như ý.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bản tánh thì vốn tự-giải thoát và những đối trị thì tự tan biến.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nó tự do khỏi những chỉ định và những đối tượng, và nó là sự thành tựu tự nhiên của chứng ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>TRL (gTer Byung Rinpoche’i Lo-rGyus) 52b/2 :</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy thấy trí huệ tự nhiên khởi, vua của những cái thấy (tri kiến),</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy thiền định về tánh sáng tỏ tự nhiên khởi, vua của những thiền định,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy tu hành những hiện hữu hiện tượng là huyễn, vua của những hành động.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy đạt được sự tan biến vào trong trạng thái bổn nguyên, vua của những kết quả.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người ta sẽ trở thành Samantabhadra (Phổ Hiền), trong trạng thái tự nhiên thành tựu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>YD 42a/6 </b><span style="font-weight: 400;">:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Quả hoàn thiện của thiền định là :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự chứng đắc những thân và những trí huệ bằng việc hoàn thiện những đoạn trừ và những chứng ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như mặt trời và mặt trăng không bị mây che phủ,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi bản tánh tự do khỏi những che ám,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nó được gọi là giác ngộ, và rồi những đức hạnh hiện tiền tự nhiên xuất hiện,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Và những sự xuất hiện của thân, các thức và những</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">tri giác,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những thói quen của ba cái che ám, sẽ được giải thoát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như một ngọn đèn trong một cái bình vỡ, một tượng thờ trong một đóa hoa nở ra,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những công đức hiện diện tự nhiên bày hiện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi những thói quen của ba cái che ám được giải thoát,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chúng xuất hiện là những cõi Phật, những trí huệ, và những thân Phật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong những tác phẩm của Longchen Rabjam, thỉnh thoảng ngài cũng có những trích dẫn sai xuất xứ bản văn. Đôi khi ngài đổi lời của một trích dẫn, nhưng không có lỗi lầm trong ý nghĩa. Theo học giả nổi tiếng Mipham Namgyal (1846-1887) Longchen Rabjam đã nhớ rất nhiều kinh điển. Ngài cũng sáng tác rất nhiều tác phẩm trong hoang vắng nơi không có những bản văn để quy chiếu. Thế nên khi trích dẫn ngài chỉ viết ra theo trí nhớ chứ không dựa vào bản văn có sẵn. Khi Mipham biên tập cuốn Pema Karpo và bình giảng của nó để in, ngài không sửa chúng, vì không có những khác biệt trong ý nghĩa, và ngài thấy những biến đổi ấy như là một dấu hiệu về sự vĩ đại của tác giả. Mipham nói trong cuốn Giải Thích Một Số Điểm Khó của Yidzhin Rinpoche’i Dzod :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có nhiều lỗi trong những tiêu đề của những bản văn gốc. Rõ ràng rằng Bậc Toàn Giác Vĩ Đại đã nhớ tất cả kinh, tantra và những bình giảng của chúng, và ngài được dân chúng biết đến như là “Bậc từ chùa Samye với Nhiều Kinh Điển.” Có nói rằng về sau, khi ngài tạo những tác phẩm trong cô đơn, không nhìn vào những bản văn mà chỉ trích chúng từ trí nhớ, điều đó là thật. Có những lỗi trong những tiêu đề trích dẫn và cũng có một số khác biệt trong những lời trích dẫn, nhưng không có sự khác biệt trong ý nghĩa với bản văn gốc. Chúng không phải là những lỗi do người thợ sắp chữ về sau. Bởi vì chúng thuộc về những tác phẩm gốc của ngài, tôi giữ nguyên chúng, bởi vì nếu chúng được duy trì không sửa lại chúng sẽ bảo tồn những ban phước vĩ đại của ngài. Trong những lỗi ấy, không có một sự khác biệt nhỏ nhất nào trong những điểm quan trọng của nghĩa. Nếu người ta có thể thấy điều này, bấy giờ những sự việc đó có khả năng phát sanh thán phục. Thế nên tốt hơn là không thay đổi chúng dù là ai trong mai sau.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>NHỮNG DANH HIỆU CỦA LONGCHEN RABJAM VÀ Ý NGHĨA CỦA CHÚNG</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Longchen Rabjam dùng nhiều tên khác nhau trong những kết từ của các tác phẩm để phân biệt những chủ đề của những bản văn :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Trong những tác phẩm chủ yếu về những chủ đề có thể giải thích được, những khoa học thế gian như thi ca, vần luật và khoa học ngôn ngữ, tên được dùng là “bởi Samylpa Tshul-thrim Lodro.” Trong những tác phẩm chung cho cả tantra ngoại và nội, tên là : “bởi Dorje Zijid.” Trong những tác phẩm chủ yếu về những chủ đề sâu xa giải thích qua những giai đoạn của các thừa, và về lời và nghĩa giải thích những phân chia của các thiền, tên được dùng là : “bởi Drimed Odzer.” Trong những tác phẩm dạy lãnh vực của bản tánh bất khả tư nghì trong những chi tiết lớn lao nhất, tên được dùng là : “bởi Longchen Rabjam.” Trong những tác phẩm trong đó các thừa, những lý thuyết, tánh Như v.v…. được giải thích chi tiết, tên được dùng là : “bởi Kunkhyen Ngagi Wangpo.”</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PHẬT TÂM </b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Một Hợp Tuyển Những Tác Phẩm của Longchen Rabjam về Đại Toàn Thiện </b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Nguyên tác: BUDDHA MIND  </b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>An Anthology of Longchen Rabjam’s Writings on Dzogpa Chenpo  </b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Tulku Thondup Rinpoche – Snow Lion, 1989  </b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Việt Dịch: Đương Đạo – Nhà xuất bản Thiện Tri Thức, 2000</b></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/cuoc-doi-dao-su-kunkhyen-longchen-rabjam-longchenpa/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
