<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Sakya</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-sakya/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Fri, 17 Apr 2026 16:09:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Thức trung ấm</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/thuc-trung-am/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/thuc-trung-am/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 03 Feb 2023 11:48:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Sakya]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=12021</guid>
		<description><![CDATA[Hôm nay tôi được yêu cầu trình bày học thuyết về sự thể nghiệm sau cái chết, tại Tây Tạng điều này được biết như là thức Trung ấm. Tôi cho rằng đây là vấn đề có liên quan đến vài học thuyết đặc biệt của đạo Phật. Trước tiên, tôi muốn đưa vấn đề này vào trong phối cảnh&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/thuc-trung-am/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Hôm nay tôi được yêu cầu trình bày học thuyết về sự thể nghiệm sau cái chết, tại Tây Tạng điều này được biết như là thức Trung ấm. Tôi cho rằng đây là vấn đề có liên quan đến vài học thuyết đặc biệt của đạo Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước tiên, tôi muốn đưa vấn đề này vào trong phối cảnh của chính nó. Đức Thế Tôn, vì mục đích truyền đạt giáo pháp tuệ giác cho chúng sinh ngài đã thành lập vô số học thuyết. Tám mươi bốn nghìn pháp môn được xuất phát từ đức Phật và tất cả tám mươi bốn nghìn học thuyết này không ngoài bài pháp đầu tiên của đức Phật, đó là giáo pháp được biết như Bốn Sự thực. Bốn sự thực đó là: Sự thực về Khổ đau, sự thực về Nguyên nhân khổ đau, sự thực về Niết bàn và sự thực về Con đường dẫn đến Niết bàn. Bốn chân lý này là tinh túy của toàn bộ lời dạy, học thuyết và sự thể hiện của giáo pháp bất diệt đã được trao truyền từ Đức Thế tôn. Nói một cách ngắn gọn… thứ nhất, sự thực về Khổ đau là y cứ vào sự hiện hữu bất như ý, âu lo, sự sinh diệt vô thường về tâm và vật lý. Tất cả nỗi khổ đau này tương ứng với nhận thức sai lầm về bản ngã. Khi tư tưởng bất giác rơi vào những sai lầm về nhận thức đối với bản ngã và tác động trên ý thức, tâm trở nên bị chi phối bởi tư tưởng nhiễm ô, chẳng hạn như tham lam, giận giữ và ảo tưởng. Với những tư tưởng bị nhiễm ô này nên chúng sinh tạo nghiệp. Những tác nghiệp này dẫn dắt chúng sinh tái sinh vào cảnh giới này hoặc cảnh giới khác trong vòng luân hồi bất tận. Tóm lại sự diễn tả về hai sự thực khổ đau mà chúng sinh thọ nhận cũng như nguyên nhân của khổ đau được bắt nguồn từ nhận thức sai lầm về bản ngã, trong khi sự thực bản ngã chẳng có gì cả… không có chủ thể nhận thức… tương ứng với bản ngã là sự vô minh. Đức Phật đã dạy tiếp về con đường dẫn đến tự do. Con đường này bao gồm sự tu tập của thân, miệng và ý với hành động tốt để dẫn đến sự giải thoát đích thực không chỉ dựa trên những kinh nghiệm về đau khổ mà còn là những nguyên nhân của khổ đau. Con đường dẫn đến chân lý về sự đoạn tận khổ đau hay Niết bàn (Nirvana), đó là sự giải thoát từ toàn bộ đau khổ và nguyên nhân của nó.</p>
<p style="text-align: justify;">Giáo pháp về thức Trung ấm cũng tương quan với Bốn sự thực mà Đức Phật đã giảng dạy. Những nỗi lo lắng và hoảng sợ khác nhau xuất hiện, những kinh nghiệm hão huyền mà tâm thức chạm phải với tâm trạng sau khi chết có thể chứng minh rằng điều này tương ứng với sự thực đầu tiên của Bốn sự thực, sự thực về Đau khổ. Những hiện hữu và sự tái hiện mà tư tưởng đã trải qua có thể xác minh rằng chúng nó được hình thành từ tâm ô nhiễm, chẳng hạn như sự tham muốn, giận dữ, mê mờ, kiêu mạn và chấp trước cũng như bắt nguồn từ những hành động của nghiệp, thiện, ác và vô ký.</p>
<p style="text-align: justify;">Với cách này chúng nó tương ứng với sự thực thứ hai, chân lý về Nguyên nhân khổ đau. Nhớ rằng, sự đau khổ đối với trải nghiệm của thức Trung ấm cũng phát triển từ nghiệp, hành động của nghiệp và tâm ô nhiễm. Vì vậy chúng nó tương ứng với Sự thực về Nguyên nhân khổ đau. Nếu ai đủ may mắn có được sự hướng dẫn đúng đối với Thiền định, sự chuẩn bị và thực tập đối với việc kinh nghiệm sau cái chết: sự học hỏi, thiền định, chuẩn bị và thực tập này có thể tương ứng với Sự thực thứ ba, Sự thực về con đường (phương pháp) diệt khổ. Cuối cùng, nếu ai đó cũng có khả năng thực hành có hiệu quả với thức Trung ấm, nhận ra những gì họ huân tập và biểu hiện, đưa họ đến con đường đạt đạo (bằng sự hiểu biết đối với tự ngã), sự tỉnh giác này tương ứng với Thọ dụng thân (Sambhogakaya), người ta có thể đạt được Phật tính (Buhhdahood) ngay trong sự thể nghiệm Bardo. Sự ngộ nhập Phật tính trong trạng thái thức Trung ấm tương ứng với Sự thực cuối cùng, Sự thực về Diệt đế hay Giải thoát từ nỗi khổ đau.</p>
<p style="text-align: justify;">Bây giờ chúng ta thử nên tìm hiểu về nguồn gốc lịch sử của giáo pháp đặc biệt này, những giáo lý được biết đến với học thuyết của thức Trung ấm (Bardo).</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta biết rằng có nhiều sự nghiên cứu về trạng thái Trung ấm, tác phẩm Atarabhave (Thân Trung Ấm) được viết bằng chữ Sanskrit, được thấy trong nhiều kinh sách Ấn Độ. Chúng ta có thể tìm thấy đề tài này trong A tỳ Đạt Ma luận (Abhidharma), Tập hợp luận tạng (Abhidharmasamuccaya) cũng như trong vị trí nào đó của mật tông, và thuộc về sự truyền bá vào thời kỳ sau, chẳng hạn như học thuyết Chakrasamvara, Mật tông Hevajra và các tông phái khác. Nhưng nói chung chúng ta có thể biết rằng giáo lý về thức Trung ấm (Bardo) được chia thành hai truyền thống Tây Tạng rõ nét: Chúng nó thuộc về sự truyền thừa Đầu tiên hoặc là Nyingma, và sự truyền thừa trong Thời kỳ sau. Những giáo lý về thức Trung ấm cũng thay đổi, như vài luận sư nói về sáu trạng thái Trung ấm, các vị khác nói có bốn Trung ấm hoặc ba Trung ấm. Chẳng hạn như Jetsun Milarepa nói về sáu trạng thái Trung ấm. Tlis nổi tiếng với các học giả phương tây về cuốn the Tibetan Book of the Dead</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi nghĩ rằng quyển Tạng Thư Chết (Tibetan Book of the Dead) đã đạt được mức độ nổi tiếng nào đó đối với Phật tử phương Tây. Nó y cứ trên truyền thống Nyingma và tương tự như truyền thống Kagyu khác là dựa trên một tạng thư được viết bởi Tashi Tseringma, một Đại sư Du Già. Cả hai quyển sách này đều nói về sáu trạng thái Trung ấm. Tuy nhiên sáu trạng thái mà cả hai đã diễn tả được rút ra từ bốn trạng thái căn bản của Trung ấm được trình bày trong kinh điển Mật tông. Bốn trạng thái này là: Sinh xứ Trung ấm (the Birthplace Bardo), Tử Nghiệm Trung ấm (Bardo of the death experience), Thực thể Trung ấm (the reality Bardo) và Thành vị Trung ấm (bardo of becoming), thức này cũng được gọi là Nghiệp dẫn Trung ấm (the Bardo of karmic propensities). Trong Tạng Thư Chết đã được dịch sang Anh ngữ và những sách khác của Tashi Tseringma có thêm hai thức Trung ấm khác gọi là Mộng Trung ấm (the dream Bardo- Trung ấm trong giấc mộng) và Định Trung ấm (Bardo of meditative absorption- Trung ấm trong trạng thái Thiền định). Hai thức Trung Ấm này, như chúng tôi nói, có thể được thêm vào ở bốn thức trên.</p>
<p style="text-align: justify;">Nguồn gốc của từ Bardo (thức Trung ấm) có ý nghĩa là khoảng cách giữa hai điểm. Tựu trung khi chúng ta nói về từ Bardo, chúng ta suy nghĩ về sự liên quan đến trạng thái thức tâm tìm kiếm chính nó giữa sống và chết. Sự thực chúng ta là, ngay bây giờ, trong đời sống hiện tại cũng bao gồm trong thức Trung ấm. Chúng ta đang chịu chi phối bởi thức Trung Ấm về sự huân tập hoặc khoảng giữa cái sinh sắp mất và cái chết sẽ đến. Đây là Sinh xứ Trung ấm. Nhiều người có thể không biết được điều này… nó không phải là một cách nhìn thông thường lắm ở trong đời sống hiện tại.</p>
<p style="text-align: justify;">Chẳng có gì ngạc nhiên khi chúng ta không nhận ra đời sống hiện tại như một thân Trung ấm… rốt cuộc chúng ta là những người với những tập quán tin tưởng rất rắn chắc trong một bản ngã trong khi sự thực không có tự ngã tồn tại, và trong mọi cái thấy tựa hồ như thực chất khi chúng nó không là. Vì vậy thật ngạc nhiên biết bao khi chúng ta không nhận ra đời sống con người hiện tại như là bộ phận tồn tại của chu kỳ thức Trung ấm. Bây giờ, chúng ta biết rằng đây là một vấn đề, chúng ta nên cân nhắc những gì phải làm với nó. Những gì thực hành thích đáng ngay thức tâm Trung ấm này? Đầu tiên chúng ta nên tinh tấn trong việc tạo ra nhiều cơ hội. Chúng ta có thể làm điều này bằng việc nghiên cứu giáo pháp, xuyên qua việc tiếp nhận sự hướng dẫn từ những bậc thầy có kinh nghiệm, theo đuổi những năng lực của mật pháp, sự chỉ đạo và hướng dẫn thiền tập (cũng được hướng dẫn bởi những bậc thầy có kinh nghiệm), và tâm chúng ta rèn luyện không ngừng trong chánh niệm và nhớ rằng “đây là những đạo sư Phật giáo mà tôi đã nghe. Đây là những sự hướng dẫn mà những vị thầy của tôi đã cho tôi sự thiền định. Đây là vị đạo sư tin tuởng của tôi. Đây là lời giáo huấn của ông ta. Đây là Yidam của tôi (vị bồ tát tôi đã chọn) và tôi đang quán chiếu về ngài”. Xa hơn chúng ta nên phát triển chính mình bằng cách luôn luôn nhắc nhở chính mình rằng tất cả âm thanh nên được nghe như câu thần chú, tất cả ý nghĩ phát khởi (tốt, xấu và vô ký) nên được thấy như sự biểu hiện của tuệ giác siêu việt, và tất cả hình thù cần phải được quan sát như hình thái của tâm linh. Nếu chúng ta tôi luyện chính mình trong những thực tập này suốt cả đời, những phương cách được chuẩn bị cho thức Thành vị Trung ấm và thức Tử nghiệm Trung ấm là điều rất tốt. Cũng vậy, cơ hội nhận diện và hiểu biết những gì nên được làm trước đối với thức Trung Ấm và rồi điều này nó sẽ trực tiếp đi theo cái chết, trong ánh sáng trong suốt của thức Trung ấm ấy, có nhiều ánh sáng tuyệt diệu phát ra, thêm nữa, ngay cả việc người ta tìm lại chính mình trong thức Thành vị Trung Ấm (bardo of Becoming), cơ hội nhận biết tình thế và phối hợp với nó được phát triển ở mức cao hơn.</p>
<p style="text-align: justify;">Thức Trung Ấm thứ hai đó là Tử Nghiệm (death experience). Nó cũng được gọi là Bất lạc thức (unhappy Bardo), bởi vì khi cái chết xuất hiện người ta rất buồn bã lúc từ bỏ mọi thứ của thế giới này trong tâm trạng vô cùng bất an, nỗi hoảng sợ lớn lao cũng như những niệm khởi bất định, bồn chồn và lo lắng với những người mà trong đời sống không có cơ hội tu tập và tạo nhiều việc không tốt. Tuy nhiên với những người đã hiến dâng đời mình với những thiện nghiệp khi đối diện với giai đoạn này người ta không sợ hãi lắm. Trái lại những tâm lý tội lỗi sẽ được phơi bày, thí dụ, những vị thần phẫn nộ và ma quỷ hung dữ xuất hiện, một tư tưởng thiện sẽ tìm đến chào đón chính mình bằng các thiện nghiệp biểu hiện qua những vị thần giám hộ (Yidam) hoặc bảo hộ của người đó trong những khía cạnh tốt. Nó sẽ là lúc vui mừng nhất… hăng hái nhất đối với những người ấy. Nhưng tiến trình chết chính nó biến đổi khi sự sống tách khỏi xác thân vật lý. Có bốn yếu tố từ cơ thể con người xảy ra. Lúc chết, các nhân tố của đất, nước, lửa và không khí bắt đầu tan vào trong cái khác, trong lúc này thức Trung ấm xuất hiện với những ý thức chủ quan kinh qua sự trải nghiệm về cái chết.</p>
<p style="text-align: justify;">Cái chết, thường lệ được kèm theo sự suy nhược, đau đớn và không có sự giúp đỡ để kiểm tra bệnh tình bằng thuốc men hoặc cầu nguyện hoặc bất kỳ ý nghĩa nào khác. Và nó cũng đi cùng với sự lo âu, bối rối và nỗi trắc ẩn lớn lao. Vì những lý do này những trải nghiệm của đương sự dường như bị dẫn dắt bởi những hình dáng ghê sợ và những âm thanh rùng rợn, một âm thanh ồn náo trong thực tế vừa được nghe, cuối cùng nó tắt đi và trở nên im ắng trong khoảng thời gian ngắn. Thông thường đây là cách mà nó xuất hiện đối với các tình trạng không được chuẩn bị.</p>
<p style="text-align: justify;">Như chúng tôi đã trình bày, những người có sự chuẩn bị đối với thức Trung ấm họ sẽ biết cách nhận diện những ảo ảnh này khi chúng xuất hiện và có ít nhiều sự sẵn sàng. Ở đây chúng ta có thể thấy giá trị lớn lao của sự chuẩn bị đó bằng thiền tập và sự hiểu biết như sự dự bị đối với Sinh Xứ Trung ấm (birthplace Bardo) trong việc hỗ trợ sự tỉnh giác của người đó với sự trải nghiệm khi nó vừa phát khởi.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy nhiên tiến trình chết có thể xuất hiện một cách chủ quan, theo quan điểm Mật tông, những gì xảy ra trong giai đoạn này là sắc tố đỏ và sắc tố trắng, chúng được chứa đựng bên trong thể xác con người và hợp nhất hoặc đi cùng nhau. Sắc tố đỏ có được là từ người mẹ và sắc tố trắng là từ người cha. Sắc tố đỏ được cho là qui tụ trong vùng của rốn, trong khi sắc tố trắng được tìm thấy ở đỉnh đầu. Trong tiến trình chết, khi thần thức bắt đầu rời khỏi thân xác, sắc tố đỏ bắt đầu bay lên từ rốn hướng đến đỉnh đầu. Khi điều này xảy ra, trung ấm có cảm giác mọi thứ như thể là màu hồng hoặc là mặt trời đang lấp lánh. Người nào cảm quan với màu đỏ thì mọi thứ dường như nhuốm đỏ. Khi sắc tố trắng bắt đầu đi xuống từ đỉnh đầu đến trái tim, thức ấm cảm giác giống như mọi thứ là màu trắng hoặc như thể ánh trăng lấp lánh. Hai tiến trình này được gọi là lằn đỏ và lằn trắng. Khi hai lằn này gặp nhau ở vùng trái tim chúng nó được gọi là sự ngất lịm (blackout), bởi vì ở đây hai sắc tố đã đụng nhau và hợp nhất nên người ta đã mất đi ý thức và rơi vào tình trạng ngất lịm. Ngay lúc sự hợp nhất của chúng, tất cả tư tưởng, sự quyến luyến, bất bình, lừa dối, tham lam, giận dữ và si mê đã bị ngừng trong một lúc. Rồi người ta nhập vào trong thân Trung ấm kế tiếp, thân trung ấm với ánh sáng trong suốt của thực thể. Nơi đây thần thức cảm nhận về ánh sáng trong suốt của thực thể, điều này cũng được gọi là căn bổn thực thể. Những ai không có sự chuẩn bị thì không nhận ra nó bởi vì thức ấm rơi vào trạng thái bất giác một cách trực tiếp. Với một vị tu thiền tốt người đã thực hành một thời gian dài trong chánh định, tuy nhiên kinh nghiệm này là một điều rất tốt, nếu ông ta nhận ra ánh sáng trong suốt của thực thể của nó, ông ta tức khắc trực ngộ được Phật tính. Nhưng nếu một ai đó muốn vượt qua ảo giác hoặc muốn chuẩn bị đầy đủ đối với kinh nghiệm ánh sáng trong suốt này, bắt đầu nhận ra trạng thái này với những gì nó là, y sẽ đi vào trong Trung ấm thứ ba: thành vị Trung ấm (Bardo of becoming - trung ấm thuộc về sự trở thành), trạng thái này cũng được gọi là Nghiệp dẫn Trung ấm (Bardo of karmic propensities).</p>
<p style="text-align: justify;">Hầu hết mọi người bất thình lình bị đánh thức, rồi sau đó họ trở nên rõ biết với những gì hiện hữu như đã nói ở trong Book of the Dead. Những hình ảnh xuất hiện của nhiều vị thần khác nhau này, như thần Herukas trong dáng vẻ phẫn nộ. Những dáng vẻ phẫn nộ của họ là dễ làm khiếp đảm và rất là khó khăn thật sự đối với lĩnh vực của tri giác để nhận diện nó với những gì chúng nó là, hãy tự có can đảm để cầu nguyện cho họ. Họ vô cùng hung tợn và ghê sợ. Một số họ cao như núi và một số khác nhỏ như loài người. Những vị thần nầy với hình thù phẫn nộ như thế rất khó khăn cho việc nhận diện họ như những sự phóng ra hoặc chiếu rọi của tâm. Trạng thái này thường xảy ra và chúng sinh chuyển tiếp cũng ở đây. Nếu người ta có thể nhận ra sự hiện hữu của quỷ thần như những gì họ là, họ sẽ trực tiếp bước vào cõi phật thanh tịnh. Dù cơ hội này đã không đến, bước kế tiếp họ sẽ nhận ra sự hiện diện của các vị Bồ tát Dhyani khác nhau, đức Phật A Di Đà và các vị Phật khác. Chư Phật xuất hiện với ánh sáng to lớn mà thân Trung ấm khó khăn lắm mới nhìn lên được các ngài trong ánh sáng rực rỡ đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Cùng lúc đó những ánh sáng mờ ảo khác xuất hiện rất là dịu dàng, nhiều vẻ quyến rũ và dễ nhìn hơn. Thông thường thức Trung ấm sẽ chọn những ánh sáng có nhiều vẻ mờ ảo này và tránh xa ánh sáng rực rỡ của đức Phật Dhyani. Nếu người đó làm như vậy, y sẽ hướng đến sự tái sinh vào cõi thế gian. Hoặc giả nếu y hướng đến ánh sáng lập lòe sắc trắng, y sẽ sinh vào cõi trời, hướng đến ánh sáng sắc đen là kết quả của địa ngục, và ánh sáng sắc đỏ là cảnh giới của ngạ quỷ.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong Tạng Thư Chết, ở phần Bardo Thodol nhiều loại ma quỷ đã được chứng minh xuất hiện với ý thức vào ngày đầu tiên, ngày thứ hai hoặc ngày thứ bảy; nó đề cập đến các loại ma quỷ hoặc những hiện tượng khác nhau xuất hiện trong những ngày kế tiếp. Điều này nên được hiểu rằng nó không nói đến ngày giờ của nhân gian nhưng đúng hơn là thời gian của Thiền định. Đây có thể là đối với một vị tu Thiền tốt, với độ dài thời gian đáng kể và thời gian có thể được sử dụng trong những cấp độ khác nhau của quá trình. Tuy nhiên, nếu một người không có được sự chuẩn bị cho kinh nghiệm, y có thể là ở trong giai đoạn quá ngắn… quá ngắn, đúng hơn người ấy rất khó biết được những gì đã xảy ra. Và bây giờ chúng ta đi vào trạng thái Trung ấm kế tiếp.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở thức Trung ấm thứ tư, Thành vị Trung ấm (the Bardo of becoming), thức này được biết là ở trong trạng thái thân Trung ấm và đã bị tách rời khỏi sự tồn tại và đồng nhất của thân thể vật lý trước kia. Thức Trung ấm này đối mặt với những chiều hướng tái sinh. Những người không may tâm ý bị chi phối bởi hành vi bất thiện và khuynh hướng tội lỗi bấy giờ họ đầy ắp những nỗi lo lắng và sợ hãi về việc làm của họ ở trong trạng thái này và đối với nơi mà họ phải đi đến. Lúc này họ hoàn toàn rõ ràng về những gì xảy ra mà họ đã từng làm nên. Bấy giờ sự hối hận và xót xa lớn khởi lên đối với nghiệp xấu mà họ đã tích lũy. Họ cảm giác chính mình bị tước đi tất cả sự mong ước và hoàn toàn cô đơn trước những gì họ được biết và những ngọn gió nghiệp bây giờ đang đẩy họ đi (do sức mạnh của những khuynh hướng nghiệp) đến một nơi tái sinh hoặc một nơi nào khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Rồi họ bắt đầu thấy lờ mờ vài cảnh giới của sự tái sinh. Ví dụ, nếu y cảm giác rằng mình bị cuốn hút vào trong một ngôi nhà bằng sắt, thì y đang ở trong tình trạng tái sinh vào cõi địa ngục. Nếu y tưởng tượng mình đi vào một lùm cây, một chòi tranh hoặc một vài loại hoa cỏ cây cối, y đang đầu thai vào cảnh giới súc sinh. Nếu y thấy những binh lính đang diễn hành và y nhập vào cuộc diễn hành đó, y sẽ bị tái sinh vào những cảnh giới của A tu la. Nhưng nếu y thấy chính mình đi vào một căn nhà xinh đẹp, chỗ tái sinh của y sẽ là những cõi trời hoặc cõi người.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự trình bày trên rất là ngắn gọn về bốn trạng thái thức Trung ấm. Cần nhấn mạnh rằng kinh nghiệm xuyên qua sự kiện này sau khi chết rất là mãnh liệt, bởi vì nó không còn bị chướng ngại bởi các chức năng giác quan, bởi những xao động của thế giới này, hoặc bởi những quan niệm lừa dối của bản ngã trong một bối cảnh trần gian. Tất cả những biến động này làm giảm bớt sự tỉnh táo đối với kinh nghiệm mà chúng ta đã đi qua và thức Trung ấm xuất hiện rất rõ ràng, mãnh liệt và rõ rệt. Tâm thức đó cũng vậy, dĩ nhiên có sự tập trung cao độ và nhạy cảm với toàn bộ tiến trình. Vì thế nếu người có nhiều lợi thế về kinh nghiệm thiền tập để chuẩn bị cho Trung ấm, thì rất dễ dàng hưởng ứng theo cách giới luật, thiền định và sự tập trung tư tưởng và làm theo sự hướng dẫn mà họ đã học để chuẩn bị trước cho thân Trung ấm.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì vậy tại sao tôi có sự thực tập cả đời và cố gắng tập trung vào điều này và truyền đạt về tinh thần đại bi Bồ tát Quán Thế Âm. Tôi dạy điều này cho tất cả đệ tử của mình để cung cấp sự chuẩn bị tốt nhất cho thân Trung ấm bằng hai tiến trình của chính nó: tiến trình của sự tạo nên bao gồm công việc hiện thực, và tiến trình hoàn thành hoặc nghiên cứu thiền định dựa trên sự tự nhiên của tâm. Tôi cũng nhấn mạnh đến việc củng cố về sự thực hành thiền định hằng ngày với sự thực tập vô định kỳ để nhớ đến mọi điều như sự biểu lộ của thân xác, âm thanh và tư tưởng của bồ tát và tinh tấn hướng đến tất cả kinh nghiệm của đời sống này,</p>
<p style="text-align: justify;">Dù mọi vật hiện hữu trong trần gian nhưng trở thành con đường quán chiếu của lòng từ bi quảng đại. Tôi cảm thấy tin tưởng hoàn toàn rằng đây là phương pháp tốt nhất cho bốn trạng thái của thức Trung ấm. Tôi tin tưởng sự phù hộ của đức Bồ tát Đại bi. Tôi rất vui mừng khi có cơ hôi để chia sẻ với các bạn với sự phát họa ngắn gọn này về học thuyết Trung ấm.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Câu hỏi và Trả lời</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Q1: Sự thiết thực của việc chuẩn bị cho thức Trung ấm và ánh sáng trong suốt là gì? Nó là việc thực hành chủ yếu mà chúng ta làm trong đời sống hay chỉ là những chỉ thị đặc trưng để có thể nhớ như là chúng ta đang biết về thức Trung ấm.</p>
<p style="text-align: justify;">A1: Nói chung, sự tu tập đã diễn tả trong bài giảng, chẳng hạn, sự thiền tập dựa trên một vị bồ tát hoặc những pháp thiền khác là thiết thực. Có những phương pháp đặc biệt, chẳng hạn như sáu pháp yoga đã được dạy bởi Đức Sakya và cũng được tìm thấy trong những lời dạy của các Đại sư Tây Tạng. Những pháp này là dream yoga (thiền trong giấc mộng), pháp thiền để đạt đến sự tỉnh giác, hoặc Heat yoga v.v… có lợi ích và rất tốt. Nếu bạn nhận được những sự hướng dẫn đó và cảm nhận sự quan trọng trong những bài học hướng dẫn hợp tấu cùng bạn, điều này rất tốt nếu bạn muốn thực hành. Nếu bạn không có nhận được sự chỉ giáo và những bài học mà muốn biết nó, đó là vài điều bạn có thể xét lại.</p>
<p style="text-align: justify;">Q2: Trong Tạng Thư Chết đưa ra sự chỉ dạy đặc biệt đối với việc ứng xử với những người vừa chết. Không được di chuyển thân thể họ v.v… điều này không thể phù hợp trong những hoàn cảnh mà người ta không được biết đến những giáo lý này, như những bệnh viện tân thời. Vậy chúng ta phải làm như thế nào đối với người sắp chết hoặc vừa chết?</p>
<p style="text-align: justify;">A2: Nói chung niềm tin về trái thạng sau khi chết của Phật giáo Tây Tạng có truyền thống không đụng tới thi thể trong khoảng vài ngày… tối đa là ba đến bảy ngày. Bởi vì người Tây tạng không muốn lấy đi sự sống của bất kỳ ai, họ muốn chắc ăn, đầu tiên thần thức sẽ không quay trở lại và thể xác không hồi phục. Điều này đã xảy ra đối với các thiền sư như đã được biết, lúc mà những gì xuất hiện với những sự khác lạ như cái chết, họ đi vào trạng thái của đại định và rồi họ có thể quay về. Hoặc trong tình trạng họ chưa chết hẳn. Cho nên đợi cho đến khi họ hoàn toàn rời khỏi thể xác và đi vào thức Trung ấm, người Tây Tạng muốn chắc chắn trong việc di chuyển thân xác.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy nhiên đối với những người bình thường cái chết xảy ra đó là khi ý thức trực tiếp rời khỏi thân xác khi trút hơi thở cuối cùng. Đây là sự tách rời hoàn toàn của thân và tâm, và sự liên quan không giống nhau mặc dầu theo thông lệ ba ngày thi thể được giữ trong nhà. Trong thời gian làm lễ và tụng kinh là cầu nguyện sự gia hộ cho người chết tỉnh giác. Tên của Đức Phật được đọc đi đọc lại trước linh thể, lời kinh cứ lập đi lập lại để hướng dẫn người chết được giải thoát hoặc đầu thai vào chỗ tốt. Với những cách này, những nỗ lực được làm để giúp người chết xuyên qua những kinh nghiệm đánh động trạng thái trong thức Trung ấm. Những nơi hoặc những hoàn cảnh có Phật tử hay không, với lý do này, dĩ nhiên rất cần thiết. Tối thiểu từ quan điểm này chúng ta ít hay nhiều cũng nên thực hành.</p>
<p style="text-align: justify;">Q3: Những gì sẽ xảy ra với người chết vì tai nạn và không có cơ hội để chuẩn bị cho thức Trung ấm?</p>
<p style="text-align: justify;">A3: Bất kỳ ai đó bất thình lình bị đụng xe rồi chết nhưng họ vẫn duy trì trạng huống mà họ đã chuẩn bị cho thức Trung ấm thì họ sẽ không đánh mất chính mình, bất cứ lúc nào và trong mọi tình huống pháp hành đã phát triển.</p>
<p style="text-align: justify;">Q4: Chúng ta có thể làm gì để có thể nhận ra kinh nghiệm ánh sáng trong suốt đó khi nó hiện ra?</p>
<p style="text-align: justify;">A4: Bạn nên tiếp tục thiền tập một cách tinh cần và phải thực hành các phương pháp thiền hằng ngày, Như thế, bạn sẽ tiến triển không ngăn ngại và sẽ chuẩn bị đủ cho sự xuất hiện của ánh sáng trong suốt đó.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Dezhung Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Thích Nữ Tịnh Quang</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Bài thuyết trình này được trình bày bởi Đức Venerable Dezhung Rinpoche với sự thỉnh cầu của trung tâm Jetsun Sakya vào ngày 19 tháng 11 năm 1977 tại Hàn Lâm Viện của Phật Giáo châu Mỹ, thành phố New York.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <a href="https://thuvienhoasen.org/p39a8084/8/thuc-trung-am">Thức Trung Ấm</a></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/thuc-trung-am/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lời khuyên về việc nhớ đến Cha Mẹ</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/loi-khuyen-ve-viec-nho-den-cha-me/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/loi-khuyen-ve-viec-nho-den-cha-me/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 28 Sep 2022 02:38:54 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Sakya]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11627</guid>
		<description><![CDATA[Trước nhất cha mẹ là những người ân cần nhất đã cho ta thân người Sau đó, đạo sư ân cần nhất trong việc trình bày giáo lý thiêng liêng. Cuối cùng con phải tự biểu lộ lòng ân cần to lớn nhất, Luôn luôn thành tâm với thân thể, lời nói và tâm ý với giáo pháp Nếu con&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/loi-khuyen-ve-viec-nho-den-cha-me/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Trước nhất cha mẹ là những người ân cần nhất đã cho ta thân người<br />
Sau đó, đạo sư ân cần nhất trong việc trình bày giáo lý thiêng liêng.<br />
Cuối cùng con phải tự biểu lộ lòng ân cần to lớn nhất,<br />
Luôn luôn thành tâm với thân thể, lời nói và tâm ý với giáo pháp<br />
Nếu con nhớ đến cha mẹ của con, hãy cố gắng hết mình trong Phật pháp.<br />
Tất cả những ai được sinh ra tự nhiên phải có ngày chết<br />
Một cuộc gặp gỡ không tránh khỏi chia tay.<br />
Và lúc chết không có gì ngoài Pháp là có ích lợi.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu con nhớ cha mẹ con, thì hãy cố gắng để đền đáp lòng ân cần của họ liền bây giờ.<br />
Hãy hướng dẫn họ tiếp nhận đạo đức, tránh làm tổn hại, và lập ra con đường tu tập.<br />
Bất cứ công đức nào con có được, hãy hồi hướng tất cả cho họ,<br />
Vì con không thể đền đáp lòng ân cần bằng bất cứ gì khác hơn ngoài Phật pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu nhớ cha mẹ con, hãy tránh những hành động phi Phật pháp.<br />
Thương nghiệp và nông nghiệp không thích hợp với những người với đời sống xuất gia<br />
Trong sự rộn ràng làm xao lãng con thất bại trong việc hoàn thành mục tiêu của chính mình và những người khác.<br />
Và không có gì tệ hại hơn trong thế giới này hơn là người liều lĩnh và hấp tấp.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu nhớ cha mẹ con, hãy ở thoải mái tại nhà<br />
Du lịch nhiều quá sẽ mang đủ loại xao lãng.<br />
Nói nhiều quá sẽ làm cả thế giới chống lại con.<br />
Có nhiều dự án quá không được gì mà chỉ là thất bại và tiêu tán.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu nhớ cha mẹ con, hãy xem mọi người như như một người cha và một người mẹ<br />
Những người bạn và đồng minh là cha mẹ con; những kẻ thù cay đắng cũng là cha mẹ con.<br />
Đạo sư là cha mẹ con, bạn pháp cũng là cha mẹ con.<br />
Không một chúng sinh nào đã không từng là cha hay mẹ con.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu nhớ cha mẹ con, mà không nhận ra được lòng ân cần của họ,<br />
Thế thì hãy tự mình nghiên cứu những bài vở của những học giả thâm sâu,<br />
Và tiếp nhận những hướng dẫn sâu sắc, và từ ngữ của những bậc thầy cao thượng,<br />
Bằng khác đi thì hàng trăm năm trôi qua và con sẽ vẫn không biết.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu nhớ cha mẹ con, thì hãy luôn luôn tận tâm.<br />
Tất cả những việc làm đạo đức đều xuất phát từ sự tận tâm.<br />
Và không có sự thận trọng như vậy thì con sẽ đền đáp một cách sai lạc.<br />
Không có điều gì tệ hại hơn trong thế giới này hơn là sự ngu ngơ thờ ơ</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu con nhớ đến cha mẹ con, hãy thương mến họ với lòng từ bi.<br />
Hãy tiếp nhận mantra bí mật thậm thâm với tâm tỉnh thức vị tha (tâm bồ đề),</p>
<p style="text-align: justify;">Hãy để dòng cam lộ pháp bảo chữa trị vết thương của tự bám chấp,<br />
Và con sẽ không phải hối hận về việc đã không đền đáp lòng được lòng ân cần của họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu con nhớ đến cha mẹ con, hãy tận tâm qua học hỏi và quán chiếu.<br />
Với ứng dụng chuyên môn, thắt chặt mối liên hệ phương pháp và tuệ trí.<br />
Hãy xa rời những quan điểm chấp ngã và đến với những tư tưởng vô ngã rộng rãi.<br />
Ngay cả nếu không gian vượt khỏi luân hồi là trống không, con cũng không có gì hối hận.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu con nhớ đến cha mẹ con, hãy tìm nơi thanh vắng của núi rừng.<br />
Hãy trau dồi bốn cảm giác vô biên cho cha mẹ bạn ở trong sáu đường.<br />
Hãy để đứa trẻ say mê với cuộc đời giải thoát của bậc từ phụ anh hùng<br />
Và không bao giờ lìa xa bậc từ mẫu của hạnh phúc trong sáng.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu con nhớ đến cha mẹ con, hãy tu tập trong tâm tỉnh giác (tâm bồ đề),<br />
Và thiền tập liên tục trên con đường của hai giai tầng thậm thâm[1].<br />
Khi sự thực chứng cuối cùng hiển lộ,<br />
Con sẽ không bao giờ thiếu phương tiện và tuệ trí thậm thâm.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu con nhớ đến cha mẹ của con, hãy nhìn vào tâm thức của chính con.<br />
Từ phụ là sự trong sáng, từ mẫu là bản chất của tính không.<br />
Tính không trong sáng không thể tả là đặc tính căn bản của tâm.<br />
Không có sự tách rời từ sự trong sáng không thể phân chia này và tính không.<br />
Ha! Ha! Đó là cha và nó cũng là mẹ.<br />
Nó là một, không thể phân chia, tuy thế bị phân chia làm hai.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi con nghĩ về điều này và nó uyển chuyển như thế nào,<br />
Tức cười làm sao là mọi hiện tượng đều giống như vậy!<br />
Khi áp dụng lý trí bảy phần của chiếc xe[2],<br />
việc bám chấp vào cha mẹ con thật sự hòa tan trong không gian vô tận.<br />
Vượt khỏi mọi biểu hiện, đứa trẻ đi vào con đường trống rỗng bao la.<br />
Và trong không gian căn bản, vượt khỏi tâm thức, không có cha hoặc mẹ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Öntö Khyenrab Chökyi Özer</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Tuệ Uyển</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn:</em> <a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/G2fTMq6L2ggQAAQQ/loi-khuyen-ve-viec-nho-den-cha-me.pdf"><em>Lời khuyên về việc nhớ đến Cha Mẹ</em></a></p>
<p><em>[1] Phước đức và trí tuệ</em></p>
<p><em>[2] Không có cỗ xe nào khác ngoài các bộ phận của nó</em><br />
<em>Không có cỗ xe nào giống với các bộ phận của nó</em><br />
<em>Không có cỗ xe nào sở hữu các bộ phận của nó</em><br />
<em>Không có cỗ xe nào phụ thuộc vào các bộ phận của nó</em><br />
<em>Không có cỗ xe mà các bộ phận phụ thuộc vào</em><br />
<em>Không có cỗ xe nào là tập hợp các bộ phận của nó</em><br />
<em>Không có cỗ xe nào là hình dạng của các bộ phận của nó</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Trả lời Lodrö Namgyal, một nhà sư ở Dungdo, người nói rằng đôi khi ông cảm thấy buồn và hối tiếc khi nhớ về cha mẹ mình và rằng ông cần một số lời khuyên ngắn gọn về cách giải quyết chuyện này, Lodrö Lekshé Gyatso đã vui vẻ viết ra bất cứ điều gì nghĩ đến.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/loi-khuyen-ve-viec-nho-den-cha-me/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Vài nét về dòng Truyền thừa Sakya</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/vai-net-ve-dong-truyen-thua-sakya/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/vai-net-ve-dong-truyen-thua-sakya/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 24 Sep 2022 11:38:39 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Lịch sử chung]]></category>
		<category><![CDATA[Sakya]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11619</guid>
		<description><![CDATA[Lịch sử của dòng Sakya bắt nguồn từ các vị trời giáng sinh từ cõi Tịnh Quang trong cõi trời Sắc giới đến ngự tại các rặng núi tuyết của Tây Tạng vì lợi lạc của chúng sinh. Có mười thế hệ nối tiếp trước khi Đạo Sư Liên Hoa Sinh đến Tây Tạng. Vào thời điểm đó, các ngài&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/vai-net-ve-dong-truyen-thua-sakya/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Lịch sử của dòng Sakya bắt nguồn từ các vị trời giáng sinh từ cõi Tịnh Quang trong cõi trời Sắc giới đến ngự tại các rặng núi tuyết của Tây Tạng vì lợi lạc của chúng sinh. Có mười thế hệ nối tiếp trước khi Đạo Sư Liên Hoa Sinh đến Tây Tạng. Vào thời điểm đó, các ngài được biết đến là Lha Rig. Sau tám thế hệ, do sự tranh cãi với vị lãnh đạo Yaksha, Lha Rig trở nên nổi tiếng là Khon, nghĩa là “tranh cãi” hay “xung đột”. Năm 750 sau Công nguyên, gia tộc Khon trở thành đệ tử của đức Liên Hoa Sinh và nhận các quán đảnh Vajrakila. Một người con trai trong gia tộc nhận giới xuất gia từ đức Shatirakshita ở [tu viện] Samye, trở thành một trong bảy dịch giả tăng sĩ đầu tiên của Tây Tạng. Trong mười ba thế hệ sau đó (750 – 1073), gia tộc Khon trở thành cột trụ chính cho các giáo lý của truyền thống Cổ Mật ở tỉnh Tsang.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào thế kỷ 11, do sự vô minh của chúng sinh, thực hành Pháp trở nên lỏng lẻo ở tỉnh Tsang. Trưởng tộc, ngài Sherab Tsultrim quyết định rằng đã đến lúc tìm kiếm các Mật điển mới ở Ấn Độ. Đạo sư Liên Hoa Sinh viết rằng, “một hóa thân của Virupa xứ Ấn Độ - Drogmi Lotsawa sẽ xuất hiện”. Người em, Konchog Gyalpo đến học với Drogmi Lotsawa (992 – 1074). Tại địa điểm linh thiêng, dưới nền đất màu trắng (tiếng tạng là Sa skya), được tiên đoán bởi đạo sư Liên Hoa Sinh và đức Atisha, Khon Knochog Gyalpo xây dựng ngôi chùa đầu tiên đặt tên là Gorum Zimchi Karpo năm 1073. Sự kiện này đánh dấu sự bắt đầu cho tên gọi “Sakya”. Gia đình linh thánh, các vị lãnh đạo cha truyền con nối của dòng truyền thừa cao quý này, nổi tiếng với ba tên gọi, Lha Rig, Khon và Sakya.</p>
<p style="text-align: justify;">Sachen Kunga Nyingpo (1092 – 1158), con trai của Khon Konchog Gyalpo, là người có kỹ năng và sự chứng ngộ tâm linh phi thường, nắm giữ dòng truyền thừa của Kinh và Mật. Các vị đạo sư chính của ngài đầu tiên phải kể đến cha ngài, mà từ đó ngài nhận được hệ thống thực hành Vajrakila và Samputa. Từ đức Bari Lotsawa, ngài nhận được Chakrasamvara, Guhysamaja, Vajrabhairava và nhiều pháp khác; từ Shangton Chobar, ngài nhận được toàn bộ giáo lý Lamdre trong bốn năm cùng với các hệ thống Mahamaya và Samayogadakinijala. Từ Mal Lotsawa Lodro Drag, ngài nhận được Chakrasamvara, Bhairava, giáo lý của đại thành tựu giả Naropa như Vajrayogini và các giáo lý quan trọng của dòng truyền thừa của Panjrarnata Mahakala. Từ Lama Nam Kaupa, ngài nhận được mọi chỉ dẫn bên ngoài, bên trong và bí mật của Hộ Pháp Chaturmukha bốn mặt. Đây chỉ là các vị thầy chính của đức Sachen Kunga Nyingpo.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở tuổi 12, trong cuộc nhập thất Văn thù sáu tháng, ngài đã có linh kiến về đức Văn Thù cùng với hai vị Bồ Tát, người đã nói với ngài những dòng trong cuốn “Tách rời khỏi Bốn Bám chấp”: Với sự bám chấp vào cuộc đời này – sẽ không có học trò Pháp Bám chấp vào Tam cõi – sẽ không có sự từ bỏ Bám chấp vào mục đích cá nhân – sẽ không có tư tưởng giác ngộ nếu bám chấp khởi lên – sẽ không có tri kiến.</p>
<p style="text-align: justify;">Sachen Kunga Nyingpo nhận các giáo lý Lamdre lần đầu tiên từ đức Shangton Chobar và lần thứ hai trực tiếp từ Virupa trong một chuỗi các linh kiến kéo dài một tháng. Đây được biết đến là dòng truyền thừa Lamdre “gần”. Sachen có bốn con trai – Kunga Bar, Sonam Tsemo, Jetsun Dragpa Gyaltsen và Palchen Rinpoche. Người đầu tiên mất khi đang học ở Nalanda, Ấn Độ. Người con trai thứ hai, Sonam Tsemo (1142 – 82) trở thành một học giả uyên bác ở tuổi 16. Ở tuổi 41, ngài đã bay thẳng về Khechara, cõi giới của Vajrayogini. Ngài có linh kiến về rất nhiều vị bổn tôn thiền định và rất nhiều vị đệ tử chứng đắc. Jetsun Dragpa Gyaltsen (1147 – 1216) nhận các giới nguyện độc thân và có nhiều dấu hiệu chứng ngộ trưởng thành tâm linh từ khi còn trẻ. Ở tuổi 11, ngài ban các giáo lý Hevajra.</p>
<p style="text-align: justify;">Đệ tử chính của Jetsun Dragpa Gyaltsen là cháu trai ngài, con trai của Palchen của Opoche, ngài Sakya Pandita Kunga Gyaltsen nổi tiếng (1182 – 1251). Nghiên cứu các triết học Phật giáo và ngoại đạo, mật điển, logic, tiếng Phạn, thơ ca, chiêm tinh và nghệ thuật với rất nhiều đạo sư xứ Ấn Độ, Nepal, Kashmir và Tây Tạng, ngài đã nắm vững các chủ đề này. Khi ngài 27 tuổi, sau khi gặp ngài Pandita Shakya Shribhadra xứ Kashmir, ngài trở thành một vị tỳ kheo và duy trì giới nguyện không chút xao lãng. Các tác phẩm của ngài như Kho tàng Logic Tri thức Giá trị (Tsadma rigsgter) và Sự Phân biệt Ba giới nguyện (sDomgsum rabdbye) vẫn nổi tiếng đến ngày hôm nay. Cả thảy ngài viết 114 bộ luận tôn giác. Kho tàng Logic Tri thức giá trị là bản văn duy nhất có nguồn gốc Tây Tạng được dịch ra tiếng Phạn. Công việc dịch thuật được hoàn thành bởi đệ tử của ngài ở tu viện Nalanda ở Magadha, và nhận được sự tôn vinh. “Vào thời điểm ngài thị tịch, trái đất đã rung động sáu lần và chim chóc khắp đất nước hót rất buồn. Các dấu hiệu kì lạ đã được chứng kiến bởi các đệ tử và các vị vua khi lửa thiêu cháy giàn hỏa thiêu, và mọi người ở đó đều trải qua sự an bình hỷ lạc. Đạt được sự giác ngộ hoàn hảo nhờ lực gia trì của Manjunatha, ngài được thế giới biết đến là Phật Vimalashri”.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1244, Godan Khan, cháu trai của Chingis Khan, bị cuốn hút bởi sự nổi tiếng của Sakya Pandita, đã mời ngài đến Mông Cổ để trao truyền giáo lý Phật Đà. Sau đó, năm 1253, sau khi cả Sakya Pandita và Godan Khan đều mất, hoàng đế, Sechen Kublai Khan mời Drogon Chogyal Pagpa, cháu trai của Sakya Pandita đến cung điện. Pagpa đã tạo ra kiểu chữ viết mới cho ngôn ngữ Mông Cổ. Kublai Khan ấn tượng với ngài Pagpa đến mức đã tuyên bố Phật giáo là quốc giáo của Mông Cổ và trao cho ngài [Pagpa] quyền cai trị ba tỉnh Tây Tạng. Như thế, Pagpa là người đầu tiên trong lịch sử Tây Tạng đã có được quyền lực tôn giáo và thế tục trong suốt thế kỷ. Cũng vào lúc này, chùa lớn Lhakhang Chenmo được xây dựng ở Sakya. Cho đến ngày nay nó vẫn đứng vững là thư viện tôn giáo vĩ đại nhất của Tây Tạng với các bức tượng và các đồ tôn giáo rất cổ. Pagpa được kế nhiệm bởi em trai Chagna và các vị Sakyapa đã cai trị Tây Tạng trong hơn một trăm năm.</p>
<p style="text-align: justify;">Cuối cùng, Tishri Kunglo (1299 – 1327), cháu trai lớn nhất trong 15 cháu trai của em trai ngài Sakya Pandita, đã thành lập bốn cung điện của triều đại (Podrang): Zhithog, Rinchen Gang, Lhakhang và Ducho, duy chỉ còn tồn tại cung điện cuối cùng. Vào thế kỷ 18, thời đại của Sakya Trizin Wangdu Nyingpo, đức Liên Hoa Sinh thứ hai của thời đại này, cung điện Ducho bị chia đôi – Drolma Podrang và Phuntsok Podrang. Các vị lãnh đạo của hai cung điện này là ngài Kyabgon Sakya Trizin Ngawang Kunga (sinh năm 1945) của cung điện Drolma, vị lãnh đạo hiện tại của truyền thống Sakya, bậc nắm giữ Pháp tòa Sakya thứ 41 và đang sống ở Dehra Dun, Ấn Độ. Ngài có hai con trai, Ratna Vajra và Gyana Vajra. Ngài cũng có một chị gái, Jetsunma Chimey Luding, người đã giảng dạy rộng khắp trên thế giới. Gongma Dagchen Rinpoche (sinh năm 1929) của cung điện Phuntsok thành lập Sakya Thegchen Choling ở Seattle, Wash, Mỹ. Ngài có một em trai, Gongma Thinley Rinpoche, một vị tăng mới mất gần đây. Dagchen Rinpoche có năm người con trai. Người con trai thứ hai, Ananda Vajra Rinpoche, một luật sư giỏi, đã giúp đỡ đức Đạt Lai Lạt Ma và chính phủ lưu vong Tây Tạng trong các vấn đề pháp luật và hiến pháp. Sự tiếp nối vị trí Sakya Trizin, trưởng dòng Sakya, là cha truyền con nối từ thời của Khon Konchog Gyalpo và gần đây, luân phiên giữa hai cung điện.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong số các vị nắm giữ truyền thống Sakya, Sachen Kunga Nyingpo, Sonam Tsemo, Dragpa Gyaltsen, Sakya Pandita Kunga Gyaltsen và Drogon Chogyal Pagpa nổi tiếng là Năm Đấng Cao Cấp của truyền thống Sakya, hay Jetsun Gongma Nga. Ba vị đầu tiên được biết đến là “Ba vị Trắng” và hai vị còn lại là “Hai vị Đỏ”. Sau đó, có Sáu Trang Sức của Tây Tạng: Yagton Sanggye Pal và Rongtol Mawe Senge, những người nổi tiếng vì kiến thức về kinh điển; Ngorchen Kunga Zangpo và Dzongpa Kunga Namgyal – uyên thâm mật điển; Gorampa Sonam Sengge và Shakya Chogden – uyên thâm cả kinh điển và mật điển. Đây là các vị đạo sư quan trọng nhất của truyền thống Sakya. Trong số các ngài, Goram Sonam Sengge thiết lập sự nghiên cứu chính thức về logic.</p>
<p style="text-align: justify;">Giống như các truyền thống khác của Phật giáo Tây Tạng, có rất nhiều các nhánh truyền thừa xuất hiện. Các dòng truyền thừa nắm giữ giáo lý của Sakya Pandita Kunga Gyaltsen là Sakya, Ngor và Tsar. Ngorchen Kunga Zangpo (1382 – 1457) và các vị đạo sư kế nhiệm như Konchok Lhundrup, Thartse Namkha Chime Palzang và Drubkhang Palden Dhondup thành lập dòng truyền thừa Ngor. Tsarchen Losal Gyatso (1502 – 56), theo sau là Jamyang Khyentse Wangchuk và Mangto Ludrup Gyatso thành lập dòng truyền thừa Tsar. Ba dòng truyền thừa khác có nguồn gốc từ Sakya là Bulug/Shalu thành lập bởi đức Buton Rinchen Drub, Jonang bởi đức Dolpopa Sherab Gyalten và kế nhiệm là ngài Jonang Taranata và Bodong bởi đức Bodong Panchen Chogle Namgyal. Dzongpa của đức Dzongpa Kunga Namgyal thường được xem là một truyền thừa riêng biệt. “Nhưng trong truyền thống Sakya, chỉ có một vài điểm khác biệt rất nhỏ trong việc giải thích và học thuyết về Kinh và Mật” – Dzongsar Jamyang Khyentse Chokyi Lodro. Về tri kiến, ở Tây Tạng, có ba sự diễn giải Trung quán tông khởi lên; trung quán tông đoạn kiến, trung quán tông bất diệt và trung quán tông Trung Đạo. Dòng Sakya theo con đường Trung Đạo, được dạy bởi đức Sakya Pandita và giải thích bởi Gorampa Sonam Senggye và nhiều đạo sư khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong truyền thống Sakya, trong số hàng trăm giáo lý Phật Đà từ Ấn Độ ăn sâu vào đời sống tâm linh Tây Tạng nhờ những nỗ lực của Năm vị đạo sư sáng lập, nổi tiếng nhất là sự trao truyền Hevaja khởi nguồn từ đức Virupa, Vajrakila của đức Liên Hoa Sinh, Vajrayogini của đức Naropa, Mahakala của Vararuchi và Guhyasamaja của ngài Long Thọ. Năm vị đại thành tựu giả xứ Ấn Độ này được coi là nổi tiếng nhất trong truyền thống Sakya. Bên cạnh những dòng truyền thừa xuất sắc này, còn có nhóm Bốn Mật điển: Hevajra, Chakrasamvara, Guhyasamaja và Vajrabhairava. Một bộ quan trọng khác là Mười ba Pháp Hoàng Kim bao gồm Ba pháp Đỏ, Ba pháp Đỏ vĩ đại, Ba pháp đỏ nhỏ hơn, Văn thù đen, Quan Âm Simhanada, Sabala Garuda và Zambala đỏ. Có rất nhiều các bản khác nhau liệt kê mười ba pháp, tuy nhiên bộ ba Ba Pháp đỏ vẫn không thay đổi. Đây là các thực hành Vô thượng Du già của truyền thống Sakya, còn hàng trăm các truyền thừa giáo lý khác như là Hayagriva, Kalachakra, Mahamaya, Văn Thù, Kim Cương Thủ, Tara và tương tự thế.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong các học viện tu sĩ của Sakya, mười tám bản văn chính được nghiên cứu tỉ mỉ. Hiện tại, chỉ có một vài học viện, một học viện chính ở Rajpu Ấn Độ, và một ở Boudhanath, Kathmandu, Nepal. Một vài vẫn được mở ở Tây Tạng như Dzongsar Khamje Ling. Mười tám bản văn giảng dạy về Trí tuệ Ba la mật, Giới luật (vinaya), Tri kiến Trung Đạo, Hiện tượng, Logic và Nhận thức Luận. Các bản luận giải độc đáo của truyền thống gồm có Sự phân biệt Ba giới nguyện, và Kho tàng Logic các Tri thức Giá trị của đức Sakya Pandita. Các tác phẩm của đức Gorampa Sonam Sengge cũng đặc biệt quan trọng. Khi tốt nghiệp, một vị tăng được trao các bằng Kazhupa, Kavhupa và Rabjampa trên cơ sở của công đức.</p>
<p style="text-align: justify;">Các tu viện chính của dòng Sakya ở miền trung Tây Tạng là Lhakhang Chenmo được thành lập bởi đức Khon Konchog Gyalpo (tu viện chính của dòng Sakya), Ngor Ewam Choden thành lập bởi đức Ewam Kunga Zangpo (tu viện chính của dòng Ngorpa), Dar Drangmoche ở Tsang thành lập bởi Tsarchen Losal Gyatso (tu viện chính của dòng Tsarpa), Nalanda ở Phenpo xây dựng bởi đức Rongton Sheja Kunrig và Tsedong Sisum Namgyal bởi đức Namkha Tashi Gyaltse. Ở tỉnh Kam, Dhondup Ling được thành lập bởi đức Dagchen Sherab Gyaltsen, Lhundrup Teng của Dege thành lập bởi đức Tangtong Gyalpo, cũng như tu viện Dzongsar của đức Jamyang Khyentse Wangpo và Chokyi Lodro; và Deur Chode bởi đức Chodak Sangpo ở tỉnh Amdo. Tất thảy, có hàng nghìn tu viện của truyền thống Sakya từ Trung Quốc, Mông Cổ đến miền tây Tây Tạng, Kashmir, Nepal và Ấn Độ. Hiện tại, Tsechen Tenpai Gatsal ở Rajpur, U.P và Sa Magon ở Puruwalla là hai tu viện chính của Sakya. Ngor Ewam Choden ở Maduwalla, Dehra Dun là tu viện chính của Ngorpa. Tashi Rabten Long ở Lumbini, cùng với hai tu viện khác ở Kathmandu, Nepal đại diện cho dòng Tsarpa. Bây giờ, đức Sakya Trizin Ngawang Kunga là vị trưởng dòng Sakya và đứng thứ hai ở Tây Tạng sau đức Đạt Lai Lạt Ma. Ngài Luding Khen Rinpoche là trưởng dòng Ngor và ngài Chogye Trichen Rinpoche là trưởng dòng Tsar.</p>
<p><em>Việt dịch: Hạnh Phúc – Nhóm Thuận Duyên</em></p>
<p><em>Nguồn Anh ngữ: <a href="http://www.szakja.hu/english/sakyatradition.html">Sakya Tashi Choling</a></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn Việt ngữ: <a href="https://thuvienhoasen.org/a15041/vai-net-ve-dong-truyen-thua-sakya">Vài Nét Về Dòng Truyền Thừa Sakya</a></em></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/vai-net-ve-dong-truyen-thua-sakya/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Bài ca vĩ đại của sự kinh nghiệm</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/bai-ca-vi-dai-cua-su-kinh-nghiem/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/bai-ca-vi-dai-cua-su-kinh-nghiem/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 08 Apr 2022 14:03:53 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kinh sách Sakya]]></category>
		<category><![CDATA[Lịch sử chung]]></category>
		<category><![CDATA[Sakya]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11032</guid>
		<description><![CDATA[Namo gurubhadraya Đến chư đạo sư và bổn tôn cá nhân an trụ bất khả phân, Bậc hợp nhất mọi phẩm tính vào dòng tâm thức, Con đảnh lễ với thân, khẩu, ý thanh tịnh; Con cúng dường thoát khỏi người bám chấp và sự chấp bám; Con tán thán bằng tâm, vượt lên hoạt động của ngữ, thoát khỏi sự tạo tác; Con sám hối mà không vướng mắc bởi tội lỗi vi phạm trong ba thời; Con quy y không đối tượng, thoát khỏi sợ hãi; Con tạo tác vô&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/bai-ca-vi-dai-cua-su-kinh-nghiem/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Namo gurubhadraya<br />
Đến chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> và bổn tôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cá nhân</span> an trụ bất khả phân,<br />
Bậc hợp nhất mọi phẩm tính vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dòng tâm thức</span>,<br />
Con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đảnh lễ</span> với thân, khẩu, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý thanh</span> tịnh;<br />
Con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> người bám chấp và sự chấp bám;<br />
Con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tán thán</span> bằng tâm, vượt lên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> của ngữ, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự tạo</span> tác;<br />
Con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sám hối</span> mà không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vướng mắc</span> bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tội lỗi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vi phạm</span> trong ba thời;<br />
Con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quy y</span> không đối tượng, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sợ hãi</span>;<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con tạo</span> tác <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô lượng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bồ đề tâm</span> không có đối tượng,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bản tính</span> của điều đó là dharmata[1], <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">như không</span> gian;<br />
Gốc rễ của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công đức</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy</span> là sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hồi hướng</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span>;<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chấp nhận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện tượng</span> rỗng rang của mandala này;<br />
Xin <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban phước</span> cho con, đấng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban phước</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Chỉ khi nào sự thấu suốt được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span>),<br />
thì sẽ như chư Phật từng nói,<br />
“Tất cả thấy biết về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span> đều là nguồn gốc của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lỗi lầm</span>”,<br />
Cho nên, sự thấy biết là không thể thấy biết.<br />
Người có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span>, thì không thấy biết;<br />
Người có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí thông minh</span> sắc bén, thì vượt trên mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngôn từ</span>;<br />
Với người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh tấn</span>, chẳng có gì để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>;<br />
Với người có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span>, chẳng có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên nhân</span> và kết quả;<br />
Với người có lòng bi thì không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>;<br />
Với người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy công đức</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span>, chẳng có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật quả</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thoát khỏi</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực đoan</span> là vượt lên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tri kiến</span>, biểu hiện, và đối tượng, Madhyamaka[3],<br />
Chittamatra[4], và còn nữa,<br />
biểu hiện trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngôn từ</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự tạo</span> tác.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tư duy</span> trong tâm là khái niệm,<br />
bản tính[5] thì không thể biểu hiện và không thể nghĩ bàn.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chừng nào</span> thấy biết còn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span>,<br />
thì chẳng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> khỏi mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Dựa trên</span> khái niệm là đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô minh</span>;<br />
nên mới nói rằng, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> bị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chìm đắm</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biển luân hồi</span>.<br />
Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dòng tâm thức</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">được giải thoát</span> bằng việc nghe,<br />
đừng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">diễn tả</span> cái thấy bằng ngôn từ!<br />
Với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh điển</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên nhân</span>, và upadesha,<br />
cái thấy được xác quyết, tâm được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh thản</span>.<br />
Chỉ khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành thiền định</span> đã được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span>,<br />
thì chẳng có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> và cũng không có người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thiền định</span> đó, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực đoan</span> là không có đối tượng,<br />
do vậy hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">buông bỏ</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> của mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm không</span> có tâm, hãy nhìn vào tâm;<br />
nếu thấy được, đó không phải là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự tâm</span>.<br />
Với cái thấy không có cái thấy, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự tâm</span> sẽ được thấy;<br />
hãy an trụ không sao lãng trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm không</span> có cái thấy.<br />
Nếu bám luyến, hãy tạo nối kết với sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong sáng</span>;<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tán loạn</span>, hãy neo giữ với móc sắt của sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hồi tưởng</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thiền định</span> là sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong sáng</span> không khái niệm.<br />
Đừng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">diễn tả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> bằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngôn từ</span>,<br />
khi chưa kết nối được với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cam lồ</span> của kinh nghiệm!<br />
Hãy bắt đầu với việc phát triển lòng bi và bodhichitta (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý muốn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span>);<br />
vào lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết thúc</span>, hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hồi hướng công đức</span> cho sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Chỉ khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> hạnh,<br />
người ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> được kiến và thiền.<br />
Có dấu ấn những điều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thích thú</span>,<br />
hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span> hạnh không lấy và không bỏ.<br />
Đừng đặt hạnh vốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> không giả tạo như vậy<br />
về phía <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tà hạnh</span>.<br />
Đừng đặt hạnh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thăm viếng</span> bạn bè<br />
về phía <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư xử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bừa bãi</span>.<br />
Đừng đặt hạnh không bám chấp vào một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sở thích</span><br />
về phía <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham dục</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sân hận</span>.<br />
Đừng đặt hạnh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">buông xả</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span><br />
về phía bất thiện!<br />
Đừng đặt hạnh tịnh hóa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> ba thừa[6] vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo đức</span> bị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhiễm ô</span>.<br />
Đừng đặt hạnh thiếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo đức</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô đạo đức</span> trong sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung lập</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Chỉ khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật quả</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span>,<br />
ngoài tâm ra thì chẳng có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>.<br />
Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự tâm</span>, đó là Phật,<br />
đừng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm kiếm</span> Phật ở nơi nào khác.<br />
Hãy đừng đặt dharmakaya đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sở hữu</span> hai thanh tịnh[7]
về phía nền tảng[8].<br />
Đừng bám chấp cốt tủy của Phật<br />
trong rupakaya (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sắc Thân</span>), <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span><br />
nhằm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điều phục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>.<br />
Về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">căn bản</span>, chẳng có Phật;<br />
đừng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hy vọng</span> đạt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span>.<br />
Về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối hậu</span>, chẳng có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>;<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đừng sợ</span> hãi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong cái thấy thiếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tư duy</span> hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">diễn tả</span>,<br />
người ta bị lừa gạt bởi việc nghe và<br />
sự suy ngẫm về sutra và tantra.<br />
Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> không bị rơi vào các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thái cực</span>,<br />
người ta bị lừa gạt bởi việc tạo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nỗ lực</span> của thân và tâm.<br />
Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> không ngừng đó của hạnh,<br />
người ta bị lừa gạt bởi lạc vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tà hạnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư xử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bừa bãi</span>.<br />
Kết quả là, bất khả phân giữa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luân hồi</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niết bàn</span>,<br />
người ta bị lừa gạt vì bị rơi về phía <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hy vọng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sợ hãi</span>.<br />
Cái thấy đó của Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Đạo</span><br />
là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảo tưởng</span> vì đó không phải là sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xác nhận</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thiền định</span> ấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">buông xả</span> thân và tâm,<br />
là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảo tưởng</span> vì điều đó không cần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nỗ lực</span>.<br />
Hạnh đó, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên nhân</span> nền tảng của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham dục</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sân hận</span>,<br />
là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảo tưởng</span> vì nó không lấy hay bỏ.<br />
Kết quả đó, mahamudra,<br />
là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảo tưởng</span> vì kết quả ấy không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hy vọng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sợ hãi</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> tạo tác, đó là kiến.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> sao lãng, đó là thiền.<br />
Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">buông bỏ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span>, đó là hành.<br />
Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự tâm</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span>, đó là kết quả.<br />
Nếu cắt đứt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi ngờ</span>, đó là kiến.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> sao lãng, đó là thiền.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> bám luyến và chấp giữ, đó là hành.<br />
Nếu các phẩm tính được đầy đủ, đó là kết quả.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung, với người đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span> cái thấy,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nếu không</span> có đối tượng của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>,<br />
vị đại thiền giả đó không có một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> có hành để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span>,<br />
đó là yoga <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> hạnh.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> có kết quả,<br />
[trong bản văn gốc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> thiếu mất dòng này]
cái thấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rốt ráo</span> là không có cái thấy,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết luận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">triết học</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cần thiết</span> ở đây;<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> cao nhất là không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>,<br />
tâm chấp bám không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cần thiết</span> ở đây,<br />
hạnh cao nhất là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không hạnh</span>,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tà hạnh</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cần thiết</span> ở đây;<br />
quả cao nhất là không kết quả,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hy vọng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sợ hãi</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cần thiết</span> ở đây.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung, không có đối tượng để thấy trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thực tại</span>,<br />
bây giờ, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương tự</span>, cái thấy không là cái thấy.<br />
Không có đối tượng của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> bổn nguyên,<br />
giờ đây, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương tự</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> là không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>.<br />
Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span>[12], không có hạnh,<br />
giờ đây, cũng vậy, hạnh là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không hạnh</span>.<br />
Nếu kiến không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới hạn</span>,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chắc chắn</span> người ta có thể nghĩ nó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không gian</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dao động</span> hay chuyển động trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chắc chắn</span> người ta có thể nghĩ nó là núi.<br />
Nếu sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong sáng</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> không bị che ám,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chắc chắn</span> người ta có thể nghĩ nó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trời</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trăng</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> lấy hay bỏ trong hành,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chắc chắn</span> người ta có thể nghĩ nó là mặt đất.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hy vọng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sợ hãi</span> trong kết quả,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chắc chắn</span> người ta có thể nghĩ họ đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> bám chấp.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thiền định</span> có thể hoặc không thể hòa nhập vào cái thấy,<br />
nhưng khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> được hòa nhập vào cái thấy,<br />
thì chẳng có sao lãng trong tánh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rốt ráo</span> bổn nguyên.<br />
Cái thấy có thể hoặc không thể được hòa nhập vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>,<br />
nhưng khi cái thấy được hòa nhập vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>,<br />
thì chẳng còn bám chấp vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mùi vị</span> của dhyana[13].<br />
Kiến và thiền có thể hoặc không thể được hòa nhập vào hành,<br />
nhưng khi kiến và thiền được hòa nhập vào hành,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> và hậu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> sẽ khởi lên.<br />
Vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> không khởi lên trong tâm,<br />
vậy cái thấy cao có lợi gì?<br />
Vì nó không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải độc</span> cho các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhiễm ô</span>,<br />
vậy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> giỏi được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ích lợi</span> gì?<br />
Vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> không được kết nối với lòng bi,<br />
vậy hành nghiêm ngặt có lợi gì?<br />
Vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lỗi lầm</span> của ta không giảm, thậm chí trên bề mặt,<br />
vậy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật quả</span> bổn nguyên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ích lợi</span> gì?[14]
Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> của sự không khởi lên được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span>,<br />
người ta đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt đến</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới hạn</span> của kiến.<br />
Nếu cả hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> và hậu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span>,<br />
người ta đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt đến</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới hạn</span> của thiền.<br />
Nếu hủy hoại và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo vệ</span> bị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô hiệu</span> hóa[15],<br />
người ta đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt đến</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới hạn</span> của hành.<br />
Nếu người ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> cả hai dharmakaya và rupakaya[16],<br />
người ta đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt đến</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới hạn</span> của kết quả.</p>
<p style="text-align: justify;">Khảo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sát tâm</span> về kiến;<br />
xem coi có sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span> hay không hiện hữu của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thường kiến</span> và đoạn kiến?<br />
Khảo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sát tâm</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>;<br />
xem có thấy sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span> hay không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span> của tâm sao lãng?<br />
Khảo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sát tâm</span> về hành;<br />
xem có thấy sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span> hay không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span> của cái thấy thô tục?<br />
Khảo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sát tâm</span> về kết quả,<br />
xem có thấy sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span> hay không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span> về khả năng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chịu đựng</span> gian khổ?<br />
Kiến là sự hướng dẫn của tâm,<br />
thiền là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> của tâm,<br />
hành là bạn hữu của tâm,<br />
kết quả là nơi trú của tâm.<br />
Bầu trời của kiến được xem là cao,<br />
biển của thiền được xem là sâu,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lĩnh vực</span> của hành được xem là nơi trồng trọt,<br />
thu hoạch của kết quả được xem là đã chín.</p>
<p style="text-align: justify;">Dù con không có được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu biết</span> tốt nhất,<br />
nhưng nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học hỏi</span> với các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị đạo</span> sư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span>,<br />
nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tri kiến</span> của việc nghe và suy niệm,<br />
đây là cách hiểu của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> ra sao.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tương tự</span> với cái ách và cổ của con rùa biển[17],<br />
hiểu rằng cuộc sống làm người là khó có được.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tương tự</span> như viên ngọc trên đỉnh đầu của Takshaka[18],<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu biết</span> rằng khó tìm được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị đạo</span> sư.<br />
Hiểu được sự thay đổi của thân qua bốn mùa,<br />
như dấu hiệu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span> của cái chết.<br />
Giống như người bị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lưu vong</span> nơi xứ sở của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kẻ thù</span>,<br />
hiểu rằng mọi thứ đều phải bỏ lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sau khi chết</span>.<br />
Giống như màu sắc của lông con công,<br />
hiểu ra được mọi sự đều sinh từ nghiệp.<br />
Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> của rỗng không được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span>,<br />
hiểu được rằng không có việc sinh ra trong samsara.<br />
Giống như sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phản chiếu</span> trong gương,<br />
hiểu ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình tướng</span> là rỗng không.<br />
Giống như thấy sự phô diễn trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giấc mộng</span>,<br />
hiểu được rằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> của rỗng không là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình tướng</span>.<br />
Giống như màu vàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rực rỡ</span> của whey (chất lỏng giống nước còn lại khi sữa chua đã đông),<br />
hiểu ra bản tính[19] là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thuần khiết</span>.<br />
Giống như những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đám mây</span>, đồ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dơ bẩn</span>, gỉ sắt,<br />
hiểu ra việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa trên</span> khái niệm là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngẫu nhiên</span>.<br />
Hiểu được tính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa trên</span> khái niệm là samsara (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luân hồi</span>),<br />
hiểu ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span> khái niệm là nirvana (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niết bàn</span>).<br />
Hiểu được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luân hồi</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span>,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu biết</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span>.<br />
Hiểu ra cả hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span> đều không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span>,<br />
hiểu được rỗng không bổn nguyên là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban sơ</span>[20].</p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung, nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> trong tâm, đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span>,<br />
nếu kiến được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> lần nữa.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Huyễn thân</span> chín muồi[21] là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span>;<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nếu không</span> có bệnh tật, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> lần nữa.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Dựa vào</span> ẩn tu nơi hẻo lánh là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span>,<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> lần nữa.<br />
Sinh kế <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phù hợp</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>, là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span>,<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> sinh kế xấu, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> lần nữa.<br />
Những đối tượng khao khát của thân và tâm trẻ trung là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span>,<br />
nếu được kết nối với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span>[22], <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> lần nữa.<br />
Bạn bè đồng thuận với kiến và hành là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span>,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> nơi vắng vẻ là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span>.<br />
Không bám chấp và bám luyến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực phẩm</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tài sản</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span>,<br />
không xác định nơi cư trú là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tình bạn</span> không có nghĩa vụ là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span>,<br />
nếu có được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự do</span>, là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Con không phải là người có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công đức</span>,<br />
nhưng được sinh ra có thân người đầy đủ và<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền bá</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật Pháp</span>;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chuyển tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> bám <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chấp pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế gian</span> và<br />
khởi lòng nhiệt thành cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span>;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Lìa bỏ</span> xứ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sở bị</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ruồng bỏ</span> của mình và<br />
Gặp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị đạo</span> sư trong lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lưu vong</span>;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nghiên cứu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh điển</span> và<br />
hiểu được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngôn từ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span>;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
Tìm được một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị đạo</span> sư của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương Thừa</span> và<br />
và có được đầy đủ bốn abhisheka (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>);<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
Được ban trao truyền miệng, các hướng dẫn và<br />
sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tri kiến</span> xác quyết <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên thâm</span>;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
Khơi dậy sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sùng kính</span> vị thầy và<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban phước</span> vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dòng tâm thức</span>;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
Cắt đứt những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi ngờ</span> về các đối tượng bên ngoài và<br />
khởi lên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span>;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
Có được sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rõ ràng</span> trong giai đoạn phát sinh bổn tôn và<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> được sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> của giai đoạn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span>;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
Có được sức nóng của cực lạc[23] rực sáng trong thân và<br />
sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span> trong tâm;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
Hiểu ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảo tưởng</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương đối</span> và<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu biết</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối thượng</span>;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Từ bỏ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> về đối tượng<br />
và được kết nối với cái neo của sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hồi tưởng</span>;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất hạnh</span> được cướp mất và<br />
bạn hữu, sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải độc</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span>;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
Mất đi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham dục</span> vào đối tượng,<br />
và được kết nối với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương tiện thiện xảo</span>;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
Đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span><br />
và hiểu ra chúng là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">huyễn ảo</span>;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
Thấy nỗi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> và<br />
lòng bi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> khởi lên;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
Đưa ra lý lẽ với người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đối lập</span><br />
và khơi dậy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng cứ</span> trong chính mình;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
Phát hiện suối <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công đức</span><br />
và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">loại bỏ</span> khỏi bám luyến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tài sản</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực phẩm</span>;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Từ bỏ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tà hạnh</span> và<br />
làm bất kỳ hạnh nào mang lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoan hỷ</span>;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Cầu mong việc lắng nghe và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> cũng gặp gỡ nhau;<br />
cầu mong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh điển</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên do</span> cũng gặp gỡ nhau;<br />
cầu mong dòng truyền và vị guru cũng gặp gỡ nhau;<br />
cầu mong sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> và các hướng dẫn miệng cũng gặp gỡ nhau;<br />
cầu mong sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh tấn</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> cũng gặp gỡ nhau;<br />
cầu mong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh tiếng</span> và phẩm tính cũng gặp gỡ nhau.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nhận biết</span> sẽ chẳng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span><br />
qua việc nghe mà thiếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tri kiến</span> xác quyết sẽ chẳng khởi lên<br />
qua <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lý luận</span> mà không nối kết với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh điển</span>.<br />
Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban phước</span> sẽ chẳng xảy ra<br />
qua vị guru (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span>) không có dòng truyền.<br />
Sẽ chẳng có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span><br />
qua <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> mà không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh tấn</span>.<br />
Chẳng có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> cho chính mình<br />
qua hướng dẫn miệng mà không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>.<br />
Chẳng có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> cho người khác<br />
qua những phẩm tính mà không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếng tăm</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Không có trứng, từ đâu con gà bắt đầu sinh?<br />
Không có con gà, trái trứng bắt nguồn ra sao?<br />
Con gà hay quả trứng, cái nào có trước tiên?<br />
Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> không hiện khởi<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nếu không</span> có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự tạo</span> tác bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điều kiện</span>,<br />
thì cái nào trước, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên nhân</span> hay kết quả?<br />
Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> bổn nguyên của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự tâm</span>,<br />
nếu cả hai khái niệm và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span>,<br />
thì cái nào trước, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đức Phật</span> hay chúng sinh?</p>
<p style="text-align: justify;">Vì Giáo Pháp[24] không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span> từ khởi thủy,<br />
nếu kết quả, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật tính</span>, chưa từng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span>,<br />
thì cái nào có trước, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> hay Đức Phật?<br />
Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt đối</span> chẳng bao giờ có bất cứ gì;<br />
nếu cả hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảo tưởng</span> và không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảo tưởng</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span>,<br />
cái nào trước, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương đối</span> hay tuyệt đối?<br />
Vì trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt đối</span> chẳng có Phật,<br />
vậy ai đã giảng dạy Tripitaka?[25]
Nếu Dharma (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>)[26] không được giảng dạy bởi vị thầy,<br />
Làm sao có được những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bộ kinh</span> điển?<br />
Nếu nói rằng “Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chấm dứt</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span>,<br />
tất cả những gì có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điều kiện</span>, được sinh và sẽ chết,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuối cùng</span> đều không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span>”,<br />
làm sao nó có thể là kết quả được phát sinh từ hành động?<br />
Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> từ khởi thủy,<br />
Làm thế nào sẽ có sự chấm dứt?<br />
Ngoại trừ dharmata (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">pháp tính</span>)<br />
chẳng có gì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span> trong bất cứ cách nào.<br />
Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">pháp tính</span> chẳng thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biến đổi</span>,<br />
làm thế nào có thể có sinh và tử?<br />
Nếu tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không thật</span>,<br />
tại sao <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> nghĩ chúng đáng tin?<br />
Nếu tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> đều đúng,<br />
Làm thế nào mọi thứ đều lừa gạt?<br />
Nếu tự thân samsara (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luân hồi</span>) là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span>,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thực hiện</span> điều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất thiện</span> là sự cực kỳ lừa dối.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự giải thoát</span> đến các cõi cao,<br />
việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo đức</span> để tạo ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> như vậy là lừa dối.<br />
Nếu kết quả của tự thân karma (nghiệp) là đúng,<br />
Thì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span>, đều lừa dối.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mặt trăng</span> trong nước không phải là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trăng</span> trong bầu trời,<br />
nhưng không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa vào</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trăng</span> đó, thì sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phản chiếu</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span>;<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương tự</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản chất</span> của mọi thứ<br />
được dạy là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hai chân lý</span> (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhị đế</span> – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân đế</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tục đế</span>)<br />
sẽ chẳng có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> nào<br />
mà không gồm chứa trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hai chân lý</span> ấy.<br />
Vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không thật</span> và không hư,<br />
bám chấp vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hai chân lý</span> là bị lừa dối.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thèm muốn</span> các đối tượng, giống như khát mà uống nước muối,<br />
chẳng bao giờ có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỏa mãn</span> cơn khát vào bất cứ lúc nào;<br />
giống như người cùi nhìn vào gương,<br />
khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">buông bỏ</span> bám luyến, người ta được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỏa mãn</span>[27].<br />
những gợn sóng lăn tăn của sông duhkha[28]
không bao giờ có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">loại bỏ</span> vào bất cứ lúc nào;<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương tự</span> như khói của ngọn lửa đã tắt,<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển đổi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất thiện</span> bằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span>,<br />
[duhkha của họ] được tẩy trừ.<br />
Từ dòng sông của sinh, già, bệnh, chết<br />
người ta chẳng bao giờ có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự do</span> vào bất cứ lúc nào;<br />
giống như việc xây cầu trên sông,<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất sinh</span>, người ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">được giải thoát</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại dương</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sinh tử</span><br />
không bao giờ có thể khô cạn vào bất kỳ lúc nào;<br />
giống như sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> của bảy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trời</span>;<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">loại bỏ</span> được sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thèm khát</span> đối tượng,<br />
[thì samsara của chính họ] được khô cạn.<br />
Các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> khó khăn có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điều kiện</span> của công việc<br />
chẳng bao giờ có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn tất</span> vào bất cứ lúc nào;<br />
giống như sự thay đổi kênh đào cho việc tưới tiêu<br />
cứ để [công việc] như nó là, thì công việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn tất</span>.<br />
Bóng tối đậm đặc của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô minh</span><br />
không bao giờ có thể được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">loại bỏ</span> vào bất cứ lúc nào;<br />
giống như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngọn đèn</span> trong phòng tối,<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trời</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span>, [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô minh</span>] được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">loại bỏ</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mặt trời</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> của sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô ngã</span><br />
chẳng bao giờ có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> vào bất cứ lúc nào;<br />
giống như buổi bình minh của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trời</span> mọc,<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối thượng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dòng tâm thức</span>, thì [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span>] <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span>.<br />
Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhiễm ô</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span> của khái niệm<br />
chẳng bao giờ có thể rút ra được vào bất cứ lúc nào;<br />
giống như vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bác sĩ</span> có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> lấy viên đạn ra,<br />
nếu có được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năng lực</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải độc</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lấy ra</span>.<br />
Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ràng buộc</span> của tính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham lam</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ích kỷ</span><br />
chẳng bao giờ có thể cởi được vào bất cứ lúc nào;<br />
giống như việc cởi nút thắt của sợi chỉ,<br />
nếu hiểu được những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sở hữu</span> là ảo huyễn, sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ràng buộc</span> sẽ được cởi.<br />
Từ ngục tù của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ba cõi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sinh tử</span><br />
người ta không bao giờ có thể được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự do</span> vào bất kỳ lúc nào;<br />
giống như tù nhân được thả khỏi ngục,<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> khỏi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xích sắt</span> của người bám chấp và bị bám chấp, người ta được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự do</span>.<br />
Thành phố của nirvana (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niết bàn</span>)<br />
chẳng bao giờ có thể đến được vào bất cứ lúc nào;<br />
giống như vị khách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi vào</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span>,<br />
nếu nối kết được với sự bắt đầu của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span>, người ta sẽ đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niết bàn</span>.<br />
Vị guru, người bạn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span>,<br />
chẳng bao giờ có thể gặp được vào bất cứ lúc nào;<br />
giống như Dharmodgata và Sadaprarudita[30],<br />
nếu nghiệp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy</span> nối kết với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span>, sẽ gặp được guru.<br />
Dòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cam lồ</span> của hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span><br />
không bao giờ có thể được uống vào bất cứ lúc nào;<br />
giống như tìm nước uống lúc khát,<br />
nếu người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế gian</span>] một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thích hợp</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> đó được uống.<br />
Tính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất nhị</span> của Mahamudra<br />
chẳng bao giờ có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span> vào bất cứ lúc nào;<br />
giống như con lạc đà gặp được con của nó,<br />
nếu tâm được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span>, [mahamudra] sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span>.<br />
Phóng ra những lời lẽ theo lệ thường<br />
không bao giờ có thể cạn vào bất kỳ lúc nào;<br />
giống như việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đóng cửa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> kinh doanh vì hết hàng hóa,<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chấm dứt</span> tính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa trên</span> khái niệm, [lời lẽ] sẽ hết.<br />
Cái thô <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">che dấu</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dòng tâm thức</span><br />
không bao giờ có thể được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điều phục</span> vào bất kỳ lúc nào;<br />
giống như thuốc để chữa bệnh,<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phù hợp</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>, [bệnh tật] được chữa lành.<br />
Việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sở hữu</span> ba kaya (thân) và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năm trí</span><br />
không bao giờ có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thể đạt</span> được vào bất kỳ lúc nào;<br />
giống như vương quốc được tạo nên từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy công đức</span>,<br />
nếu hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy</span> được đầy đủ,<br />
[các thân và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span>] ấy đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> lắng nghe và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span><br />
có biết được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mục đích</span> của sutra và tantra hay không?<br />
Điều nguy hiểm là không cắt bỏ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi ngờ</span>;<br />
xin đừng ngả về phía lệ thường.<br />
Tất cả các vị thầy giảng dạy và viết lách<br />
có được sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> xác quyết hay không?<br />
Hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm hiểu</span> trong hướng dẫn miệng thiêng liêng!<br />
Có một sự nguy hiểm mà các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> sẽ chết theo lối thường.<br />
Mọi thiền giả vĩ đại nào đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>,<br />
xin đừng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham gia</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nói chuyện vô ích</span>;<br />
xin đừng quá mong muốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực phẩm</span> và quần áo;<br />
xin đừng bám luyến vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mùi vị</span> của dhyana (thiền).<br />
Tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> điều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất thiện</span><br />
mong hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> thấu đáo một ít về sutra và tantra,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh thoảng</span> hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi theo</span> vị guru như một người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phục vụ</span>,<br />
hãy luôn nhìn vào tâm mình.<br />
Nếu lười biếng đối với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đức hạnh</span>,<br />
[hãy nhớ] sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô thường</span> về cái chết trong tâm!<br />
Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham dục</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sân hận</span> khởi lên hướng đến đối tượng,<br />
[hãy giữ] dharmata (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp Tính</span>) và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> trong tâm!<br />
Nếu bị kết nối với vòng luẩn quẩn của người và công việc,<br />
[hãy giữ] <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu biết</span> về sự lừa gạt của Mara (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ma Vương</span>)!<br />
Bất chấp việc gì người ta có thể làm, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nếu không</span> có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>,<br />
[hãy giữ] những khiếm khuyết của samsara trong tâm!<br />
Có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>, đời này và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đời sau</span> đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung ấm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện tại</span> (bardo đời này) được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span> –<br />
[đó] chính là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không sinh</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hành giả</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>, người khác <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>, cả hai đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>,<br />
thế nên, hãy luôn giữ việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành Pháp</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào lúc có được cuộc sống làm người đầy đủ,<br />
tại sao không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> tâm linh?<br />
Nhiều lần được ở cùng vị guru <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiêng liêng</span>,<br />
tại sao lại không làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vừa lòng</span> Ngài?<br />
Nhiều lần khẩn cầu hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thâm sâu</span>,<br />
tại sao lại không làm bất cứ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> nào?<br />
Nhiều lần khơi dậy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tri kiến</span> xác quyết trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>,<br />
Tại sao lại để nó quay ngược <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở lại</span> lần nữa?</p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung, rời bỏ quê hương sống lưu vong,<br />
dù bị chia cắt khỏi quê hương cũng không hối tiếc.<br />
Hãy luôn hướng tâm đến Giáo Pháp tích cực,<br />
dù sinh vào cõi địa ngục cũng không hối tiếc.<br />
Hãy nương tựa vào vị guru như bổn tôn chính,<br />
Dù nguồn vui của mình bị cạn cũng không hối tiếc.<br />
Hãy làm bất cứ phục vụ sùng kính nào đến vị guru;<br />
dù Ngài không quan tâm đến đệ tử; người đệ tử cũng không hối tiếc.<br />
Khẩn cầu giáo lý upadesha phù hợp với kinh điển;<br />
dù không thể thực hành cũng không hối tiếc.<br />
Hạnh đạo đức chính là từ bỏ những hoạt động,<br />
dù chưa đạt được siddhi[31] cũng không hối tiếc.<br />
Bảo vệ hứa nguyện là công việc chính của mình;<br />
dù bị bạn bè nhạo báng cũng không hối tiếc.</p>
<p style="text-align: justify;">Tiêu tốn cuộc sống trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy công đức</span>;<br />
dù có chết đi cũng không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hối tiếc</span>.<br />
Cầu mong đừng tạo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hối tiếc</span> cho chính mình;<br />
dù người khác trách cứ cũng không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hối tiếc</span>.<br />
Ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một mình</span> không bám luyến bạn bè;<br />
dù không có người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi theo</span> cũng không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hối tiếc</span>.<br />
Hãy nhìn vào tâm như sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> chính của kiến;<br />
dù <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> là nhỏ bé cũng không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hối tiếc</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Dựa vào</span> việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ăn uống</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hòa hợp</span> bệnh tật;<br />
dù bị bệnh cũng không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hối tiếc</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thực hiện</span> hạnh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phù hợp</span> với nguyện đã thọ;<br />
Dù <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tà hạnh</span> cũng không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hối tiếc</span>.<br />
Hãy xét lỗi của mình, đừng xét lỗi người khác;<br />
dù không được yêu thích cũng không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hối tiếc</span>.<br />
Xem <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> của người khác là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan tâm</span> chính của mình;<br />
Dù <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> của mình bị mất đi cũng không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hối tiếc</span>.<br />
Hát một bài ca nhỏ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phù hợp</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span>;<br />
Dù mất đi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc nói chuyện</span> phiếm cũng không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hối tiếc</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Áp dụng</span> các cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiết kiệm</span> đối với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">của cải</span>;<br />
dù <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lễ nghi</span> có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghèo nàn</span> cũng không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hối tiếc</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Giống như việc ném hòn đá vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại dương</span>,<br />
xin hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm kiếm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> không thể thay đổi!<br />
Giống như cắt đứt ngọn cây chuối,<br />
xin hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm kiếm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không sinh</span> khởi!<br />
Giống như ánh sáng trong đêm tối,<br />
xin hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm kiếm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> giải độc!<br />
Giống như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của Vedic Brahmin (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bà la môn</span> theo phái <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vệ Đà</span>),<br />
xin hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm kiếm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh điển</span> vững chắc!<br />
Giống như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">áp dụng</span> axit với vàng,<br />
xin hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm kiếm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> có ích!<br />
Mặc dù các vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hộ pháp</span> giữ cửa đền chùa,<br />
có vẻ như đang sắp đánh, sắp đánh, nhưng họ không đánh.<br />
Mặc dù có những người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bình thường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tăng trưởng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quyền lực</span>,<br />
dường như được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>, họ lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span>.<br />
Mặc dù có những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> của Pháp đối mặt với gian khó<br />
dường như khốn khổ, đáng thương, họ lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>.<br />
Mặc dù sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giàu sang</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất phát</span> từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rộng lượng</span><br />
có vẻ như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hao mòn</span> dần, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">suy yếu</span> dần, nhưng lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tăng trưởng</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng sinh</span> và chư Phật ngang bằng nhau,<br />
nhưng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span> tạo ra sự khác biệt to lớn giữa họ.<br />
Ta và người khác ngang nhau,<br />
nhưng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên nhân</span> bám chấp tạo ra sự khác biệt lớn giữa họ.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kẻ thù</span> và trẻ em ngang nhau,<br />
nhưng lòng từ ái và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sân hận</span> tạo ra sự khác biệt lớn giữa họ.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mọi người</span> đều có được thân người như nhau,<br />
song, chiến thắng hay thất bại tạo ra sự khác biệt lớn giữa họ.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng sinh</span> nào có được thân người,<br />
đừng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vui sướng</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tội lỗi</span>;<br />
vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span> của cuộc sống này là không thể chịu nổi,<br />
sao <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không tính</span> đến những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span> của các cõi thấp?<br />
Mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công đức</span> ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span>,<br />
hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span> kết nối với cái thấy và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hồi hướng</span>;<br />
xin đừng làm nó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công đức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhiễm ô</span>.<br />
“Không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> trong luân hồi” –<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> đó không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span> trong chính mình,<br />
thì việc ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ích lợi</span> gì?<br />
Không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">loại bỏ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">suy nghĩ</span> về cuộc sống này,<br />
việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi vào</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> gì?<br />
Không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sợ hãi</span> sinh và tử,<br />
Việc giảng dạy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> gì?<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> cắt đi những râu ria của việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa trên</span> khái niệm,<br />
thì việc cắt tóc trên đầu mình được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> gì?<br />
Không đem sự thay đổi vào những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> thông thường,<br />
thì việc thay đổi màu của tấm vải được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> gì?<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> nương tựa vào những guru <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiêng liêng</span>,<br />
Thì việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> xứ sở của mình được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> gì?<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> các hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span>,<br />
thì việc nghe và suy ngẫm được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> gì?<br />
Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời khắc</span> của cái chết xảy đến, chẳng gì có thể giúp được, ngoại trừ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung, một guru <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham lam</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dối trá</span>,<br />
chẳng có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> ban hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thâm sâu</span>;<br />
kẻ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dối trá</span> phô trương làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mê muội</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> tạm thời<br />
chẳng có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> gặp được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dứt khoát</span>;<br />
kẻ quá phóng đại về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luân hồi</span><br />
chẳng có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niết bàn</span>.<br />
Người đến từ bóng đen to lớn của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô minh</span><br />
chẳng có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trời</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> hé rạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> của việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">so sánh</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảo ảnh</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span>,<br />
thì người ta đã tìm được lời lẽ của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân lý</span>.<br />
Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> của sự không hiện khởi được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span>,<br />
thì người ta đã tìm được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảo tưởng</span>.<br />
Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhân quả</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span><br />
thì người ta đã tìm được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> tạm thời.<br />
Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> của sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">so sánh</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không gian</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span>,<br />
thì người ta đã tìm được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> xác quyết.<br />
Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> của rỗng không được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span>,<br />
thì người ta đã tìm được tính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa trên</span> khái niệm.<br />
Nếu kết nối được với tâm vị guru <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiêng liêng</span>,<br />
thì người ta đã tìm được hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Thêm nữa, tuy hiểu được nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nếu không</span> phải người nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thích hợp</span> của lời hướng dẫn,<br />
kiến sẽ không được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span>.<br />
Đừng bị sao lãng bởi những sao lãng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế gian</span><br />
về việc không cắt đứt được những phát triển theo lệ thường.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> thể sống nơi hẻo lánh,<br />
người ta sẽ không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> siddhi (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span>);<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> và quên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi vòng</span> luẩn quẩn của người và sự việc.<br />
Nếu mầm mống của sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối thượng</span> không được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span>,<br />
thì chẳng có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh hoa</span> trong lớp vỏ bên ngoài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô giá</span> trị của lệ thường.<br />
Không nên sao lãng bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tám pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế gian</span>,<br />
hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span>, nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Hãy thấy sự nối kết giữa kiến và thiền;<br />
hãy thấy sự nối kết giữa hành và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span>;<br />
hãy thấy sự nối kết giữa hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh điển</span>;<br />
hãy thấy sự nối kết giữa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con người</span> và sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>;<br />
hãy thấy sự nối kết giữa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> và hậu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>;<br />
hãy thấy sự nối kết giữa dòng truyền và vị guru.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung, không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết thúc</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngôn từ</span> của sutra và tantra;<br />
ngay bây giờ, hành động quan trọng là ngưng lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời nói</span>.<br />
Đã cắt đứt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi ngờ</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span>;<br />
giờ đây việc quan trọng là ngưng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm kiếm</span>.<br />
[Đó là] không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mục tiêu</span> trong các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế gian</span>,<br />
bây giờ hành động quan trọng là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> sao lãng.<br />
Người ta không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thể lệ</span> thuộc vào Yama[32] Thần Chết,<br />
Bây giờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> quan trọng là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>;<br />
giờ chết là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất định</span>, hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biểu lộ</span> sự siêng năng.<br />
Nếu được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>, đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng từ</span> của vị guru,<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">buồn phiền</span>, thì nó là sự lưu xuất từ nghiệp trước;<br />
nếu bị mất mát, đừng chán nản,<br />
và nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành đạt</span>, đừng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiêu căng</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Người có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span><br />
vào tám mươi bốn ngàn cổng của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span><br />
có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> hành động <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tội lỗi</span>.<br />
Người ta phải dấn thân vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo đức</span>;<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cần thiết</span> phải có một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm không</span> có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế gian</span>.<br />
Hơn nữa, hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> và quên đi các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>.<br />
Đừng nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phỉ báng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>;<br />
cũng đừng lăng mạ người khác.<br />
Vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> được sự nhầm lẫn giữa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con người</span>,<br />
nếu hỏi rằng điều đó được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> ra sao,<br />
một người bị xem là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mê lầm</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span><br />
vì họ kém <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thông minh</span> và ít <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học hỏi</span>.<br />
Không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mục đích</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span>,<br />
phóng đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quá mức</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xem thường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con người</span>,<br />
bị che phủ bởi đờm dãi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đáng khinh</span> của tính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa trên</span> khái niệm[33],<br />
bị chiếm đoạt bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cạm bẫy</span> của mara[34], của tính tự cao tự đại,<br />
không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan điểm</span> nhiều người cùng một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chí hướng</span>,<br />
cũng xa rời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> Kadampa[35] và bỏ đi!<br />
Nhờ không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phân biệt</span> giữa lấy và bỏ của điều thiện và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất thiện</span>,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giả vờ</span> thành thạo mà không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu biết</span>, không có nồng nhiệt[36],<br />
người ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span> hạnh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phóng túng</span>,<br />
tạo sự lừa dối, tràn đầy xứ sở với sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dối trá</span>,<br />
cũng xa rời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> Yogin[37] và bỏ đi!<br />
Đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chấp nhận</span> Mantra Bí Mật[38] là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>,<br />
lại không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sở hữu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chín muồi</span> của abhisheka[39]
và tách khỏi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan điểm</span> của phương pháp[40] <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span><br />
vì không gặp được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đức Thế Tôn</span> của Mantra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bí Mật</span>[41],<br />
cũng xa rời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> Mahamudra (Đại Ấn) và bỏ đi!<br />
Đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chấp nhận</span> Mahayana (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại Thừa</span>) là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>,<br />
bị tách rời khỏi lòng bi và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bồ đề tâm</span>,<br />
hành động, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con người</span> không được nối kết<br />
trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> của nền tảng không nỗ lực[42],<br />
cũng xa rời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> Dzogchen[43] (Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span>) và bỏ đi!<br />
Giống như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sừng thỏ</span>, các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết tập</span> (uẩn) đều không có nền tảng,<br />
nói <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cụ thể</span> là đếm số miệng, số mắt, số nếp nhăn,<br />
tìm một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc tính</span> mà không có nền tảng của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc tính</span>;<br />
cũng xa rời Abhidharma[44] và bỏ đi!<br />
Sự tính toán nối kết <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mâu thuẫn</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mâu thuẫn</span><br />
với vẻ bên ngoài lừa gạt, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dối trá</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không thật</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô nghĩa</span>,<br />
không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> cho tâm, người ta bị lừa gạt vào lúc chết;<br />
cũng xa rời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> Luận lý và bỏ đi!<br />
Có khối u bên trong của việc bám chấp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân lý</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình tướng</span> lừa gạt,<br />
giữ chặt sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chấp nhận</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">như tinh</span> túy,<br />
với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nỗ lực</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> sự tỏa khắp của giả thuyết[45] không quan trọng;<br />
cũng xa rời Madhyamika (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quán</span>) và bỏ đi!<br />
Tiêu tốn cuộc sống vào những lời lẽ theo lệ thường,<br />
mặc dù <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">am hiểu</span>, người ta lại không hiểu được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> của tâm,<br />
người ta chết trong thân <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảo tưởng</span> vào lúc chết;<br />
cũng xa rời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Biện Chứng</span> và bỏ đi!<br />
Bậc thầy, không có các phẩm tính,<br />
tạo nối kết[46] <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> với ba điều sau –<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham lam</span> đưa một giá cả cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thích thú</span> phối ngẫu của vị guru không có samaya,<br />
bám luyến vào cả hai sự hòa hợp[47] và giải thoát[48] mà không có phương pháp[49]?<br />
cũng xa rời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> Vajrayana (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương Thừa</span>) và bỏ đi!<br />
Bị giữ chặt trong ngục tù <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tà hạnh</span> của thân và ngữ,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự tâm</span> không có kiến và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> của thiền.<br />
Gian <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khổ nhân</span> đôi là không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mục đích</span>;<br />
Cũng xa rời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> được Thọ Phong và bỏ đi!<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thiền định</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngu si</span> mà không lắng nghe và suy niệm<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> hay may vá khi ngồi,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư xử</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tà hạnh</span> nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi vào</span> làng mạc,<br />
thời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết thúc</span> trong giấc ngủ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lờ mờ</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uể oải</span>,<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm kiếm</span>, chỉ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm kiếm</span> quà tặng,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho phép</span> người nào có quà tặng được vào cửa,<br />
người không có quà, chặn lại ngoài cổng[50], –<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nuôi dưỡng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân nhân</span> bằng của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span>;<br />
cũng xa rời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> của Đại Thiền Giả và bỏ đi!<br />
Không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu biết</span>, nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thâm sâu</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span>;<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thích thú</span> tận hưởng những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vui đùa</span>, nói <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyện phiếm</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mục đích</span>, ca hát và những điệu nhảy múa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quyến rũ</span>;<br />
lừa gạt có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> và kiến chỉ bằng miệng,<br />
tạo vu khống và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi ngờ</span> ở chỗ này và chỗ khác,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nếu có thể</span>, đi đánh cắp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tài sản</span> của nhà hàng xóm,<br />
rũ bỏ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trách nhiệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span> như chẳng có gì khác để làm;<br />
cũng xa rời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> Người Nội Trợ và bỏ đi!<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi nhuận</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh vọng</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xung đột</span>, tranh cãi, sinh kế, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thất vọng</span>, không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỏa mãn</span>,<br />
là nguồn gốc của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất hạnh</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span>, ngược với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo đức</span>;<br />
tiêu tốn cuộc sống trong khốn khó mà không có bất kỳ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mục đích</span> nào,<br />
chẳng còn chỗ nào có thể đi ngoại trừ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ba cõi</span> thấp;<br />
xa rời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> Chủ Nhà và đi!<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trước tiên</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất thiện</span>;<br />
lúc giữa, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế gian</span>;<br />
sau đó, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>.<br />
Tâm của yogin đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">buông bỏ</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>;<br />
đại thiền giả mà thu góp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">của cải</span> là người thường;<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> với các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc tính</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa trên</span> khái niệm;<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiện hạnh</span> của thân và ngữ là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tà hạnh</span>.<br />
Không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span>, để cho sáu thức[51] được buông lỏng.<br />
Nếu bám chấp, bám luyến bổn tôn cũng là sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lệ thuộc</span>.<br />
Nếu khao khát, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thèm muốn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật quả</span> cũng là sự lừa gạt.<br />
Nếu chấp cứng, bám chặt vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> cũng là sự lừa dối.</p>
<p style="text-align: justify;">Hòa tan tính giác vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span>.<br />
Đây là hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> cho người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu biết</span>;<br />
tính giác chuyển vào sự rỗng không của tâm,<br />
những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc tính</span> của sự bám chấp và người chấp bám <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">được giải thoát</span> ngay tại chỗ của nó[52],<br />
ngay cả cái gọi là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan điểm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">định kiến</span> cũng không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span>;<br />
tâm khiến kiến được xác quyết là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>.<br />
Không sao lãng chuyển thành không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>;<br />
ngay cả cái gọi là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hôn trầm</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạo cử</span> đều không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span>;<br />
tâm khiến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự thiền</span> định được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vững chắc</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>.<br />
Hành xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> chuyển thành bất tận;<br />
các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc tính</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tà hạnh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">được giải thoát</span> ngay tại chỗ của nó;<br />
ngay cả cái gọi là lấy hay bỏ đều không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span>;<br />
tâm mà hành được xác quyết là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bất tử</span> chuyển vào trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất sinh</span>;<br />
các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc tính</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hy vọng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sợ hãi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">được giải thoát</span> ngay tại chỗ của nó;<br />
ngay cả cái gọi là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện tại</span> và tương lai đều không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span>;<br />
tâm mà kết quả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vững chắc</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>.<br />
Kiến được phát <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sinh không</span> bị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">che lấp</span>,<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảo tưởng</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiêu diệt</span>, nó được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiêu diệt</span> bởi điều này (kiến);<br />
vì không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sở hữu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">định kiến</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiên cố</span>,<br />
không có sự gây hại của người bám chấp và bị chấp bám thật đáng ngạc nhiên!<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thiền định</span> không tạo tác xảy ra một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span>,<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> và các giai đoạn được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt đến</span>, chúng được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt đến</span> bởi điều này;<br />
vì không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sở hữu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên nhân</span> của việc tập trung vào đối tượng,<br />
không có sự gây hại của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hôn trầm</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạo cử</span> là đáng ngạc nhiên!<br />
Hành <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên tục</span> xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span>,<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">buông bỏ</span> bám chấp, nó được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">buông bỏ</span> bởi điều này;<br />
vì không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sở hữu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tư tưởng</span> phản bác và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiến lập</span>,<br />
không có sự gây hại của lấy và bỏ thật đáng ngạc nhiên!<br />
không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm kiếm</span> kết quả được tạo ra một cách dễ dàng,<br />
theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thông lệ</span>, dharmakaya <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> bởi điều này,<br />
vì không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sở hữu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tư tưởng</span> buông bỏ và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span><br />
không có sự gây hại của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hy vọng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sợ hãi</span> thật đáng ngạc nhiên!</p>
<p style="text-align: justify;">Đôi khi có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không gian</span> của bầu trời;<br />
đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> không có các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực đoan</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọng tâm</span>.<br />
Đôi khi có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong đáy sâu của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại dương</span>;<br />
đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> không chuyển động và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kích thích</span>.<br />
Đôi khi có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trời</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trăng</span>;<br />
đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong sáng</span> không che ám.<br />
Đôi khi có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> ở giữa sông;<br />
đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên tục</span>.<br />
Đôi khi có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện</span> của vị guru;<br />
đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">loại bỏ</span> sự phát triển.<br />
Đôi khi có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong an trụ lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span>;<br />
đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> ở nơi hẻo lánh.<br />
Đôi khi có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> ở giữa chợ;<br />
đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong việc đem <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình tướng</span> vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span>.<br />
Đôi khi có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong một loạt các yogin;<br />
đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">so sánh</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span>.<br />
Đôi khi có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> ở giữa các người cùi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành khất</span>;<br />
đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span> hạnh cùng một vị.<br />
Đôi khi có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> nếu xứ sở được mở mang;<br />
đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong việc lang thang không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mục đích</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đơn độc</span>.<br />
Có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thường trụ</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tại</span>,<br />
đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành kiến</span> hay cục bộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lúc đầu</span>, sự bàn bạc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tốt đẹp</span> khởi lên,<br />
vào lúc giữa, khởi lên sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thích thú</span>,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuối cùng</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm thức</span> hiện khởi;<br />
nhờ rời bỏ các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span>, người ta được nối kết với<br />
sự khởi đầu của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span>,<br />
nhờ buông lỏng, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> và các giai đoạn được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt đến</span>,<br />
nhờ che đầu[53], người ta có thể thấy khoảng cách xa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rõ ràng</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Thậm chí <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">địa ngục</span> sâu nhất của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>,<br />
là cung điện <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> của cõi Akanistha[54]. (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trời Sắc Cứu Cánh</span>)<br />
Ngay cả sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span> của nóng và lạnh,<br />
là dharmakaya (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp Thân</span>) <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> sự phát triển.<br />
Thậm chí những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết luận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">triết học</span> không thuộc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo Phật</span>,<br />
đều là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh túy</span> của Madhyamaka.<br />
Ngay cả hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> của vị guru linh thánh<br />
là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảo tưởng</span> bị lừa gạt bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảo tưởng</span>.<br />
Thậm chí <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span><br />
là sự vẽ tranh trên nước.<br />
Ngay cả sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> của năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> và mười giai đoạn (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thập địa</span>)<br />
giống như việc đếm số sừng trên đầu con thỏ.<br />
Thậm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chí đức</span> Phật đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span><br />
cũng chỉ là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rốt ráo</span> có thực.<br />
Ngay cả dharmata được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> bởi tính giác<br />
là cây chuối ruột rỗng bên trong[55].<br />
Vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tại</span> mà không có hành động<br />
và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngôn từ</span> của kiến không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tri thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chắc chắn</span>,<br />
đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương tự</span> như nhau, đó là sự nguy hiểm của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lầm</span>.<br />
Vì hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> về việc buông lỏng các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác quan</span><br />
và lạc mất sáu thức giác gây ra sao lãng<br />
đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương tự</span> như nhau, đó là sự nguy hiểm của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lầm</span>.<br />
Vì sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> được phát sinh mãnh liệt và<br />
hạnh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư xử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thô tục</span> của người điên<br />
đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương tự</span> như nhau, đó là sự nguy hiểm của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lầm</span>.<br />
Vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> cạn kiệt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hy vọng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sợ hãi</span><br />
và sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ác cảm</span> của người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đố kỵ</span> ở bên trong<br />
đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương tự</span> như nhau, đó là sự nguy hiểm của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lầm</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Bài ca của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> này được hát bởi upasaka Dragpa Gyaltsen. Được đặt nền tảng trên cả hai sutra và tantra, bài ca đã được soạn thảo thành thơ và được tô điểm bằng thơ kệ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trang hoàng</span> để làm giảm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiêu mạn</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia tăng</span> lòng nhiệt thành của người sùng mộ. Như thế, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> về bài ca được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn tất</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Jetsun Dragpa Gyaltsen</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <a href="https://thuvienhoasen.org/p39a6268/1-jetsun-dragpa-gyaltsen-1147-1216-bai-ca-vi-dai-cua-kinh-nghiem">1 Jetsun Dragpa Gyaltsen (1147 – 1216) Bài Ca Vĩ Đại Của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kinh Nghiệm</span></a></em></p>
<p style="text-align: justify;"><i>[1]. Dharmata (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp Tánh</span>) <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối hậu</span> của Pháp, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực đoan</span>.</i><br />
<i>[2]. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sự tích</span> lũy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công đức</span>.</i><br />
<i>[3]. Madhyamaka (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Đạo</span>) là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết luận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">triết học</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhấn mạnh</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực đoan</span>.</i><br />
<i>[4]. Chittamatra (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Duy Thức</span>) là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết luận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">triết học</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhấn mạnh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tại</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối hậu</span> của tâm.</i><br />
<i>[5]. Trong bối cảnh này, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tại</span> đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực đoan</span>.</i><br />
<i>[6]. Ba bánh xe là quà tặng, người cho, và người nhận.</i><br />
<i>[7]. Hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> là sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> che ám của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhiễm ô</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tri kiến</span> của dharmakaya.</i><br />
<i>[8]. Trong bối cảnh này, nền tảng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên nhân</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên tục</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực đoan</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> tất cả các pháp trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luân hồi</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niết bàn</span>.</i><br />
<i>[9]. Mahamudra, hay “đại ấn” <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên quan đến</span> việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> sự hợp nhất của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong sáng</span> và rỗng không trong tướng bổn tôn trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> tantra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du già</span> bổn tôn cao nhất.</i><br />
<i>[10]. Trong bối cảnh của kiến (cái thấy), <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tại</span> có nghĩa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản chất</span> của sự vật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực đoan</span>.</i><br />
<i>[11]. Trong bối cảnh của thiền, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> bổn nguyên là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> nền tảng của tâm khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực đoan</span>.</i><br />
<i>[12]. Trong bối cảnh của hành, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> có nghĩa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản chất</span> của sự vật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực đoan</span>.</i><br />
<i>[13]. Dhyana (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thiền Na</span>) là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> tập trung.</i><br />
<i>[14]. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật quả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban sơ</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật tính không</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điều kiện</span> tỏa khắp tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>.</i><br />
<i>[15]. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phá hủy</span> có nghĩa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiêu diệt</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kẻ thù</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo vệ</span> là để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo vệ</span> những người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi theo</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span>.</i><br />
<i>[16]. Dharmakaya (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp Thân</span>) là kết quả của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự tích</span> lũy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span>, sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọn vẹn</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối thượng</span> của tâm. Rupakaya (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sắc Thân</span>) là kết quả của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự tích</span> lũy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công đức</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quy luật</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi Phật</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luân hồi</span>.</i><br />
<i>[17]. Dòng này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên quan đến</span> phép <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">loại suy</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> về cái ách bằng gỗ trôi bồng bềnh trên mặt biển và cơ hội hiếm hoi của con rùa biển nổi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lên mặt</span> nước mà đầu của nó chui lọt vào cái ách.</i><br />
<i>[18]. Takshaka, một trong tám <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">long vương</span>, trên đỉnh đầu có viên ngọc quý.</i><br />
<i>[19]. Ở đây, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tánh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span>.</i><br />
<i>[20]. “Thoát khỏi nguồn gốc” có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghĩa không</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điều kiện</span>.</i><br />
<i>[21]. “Huyễn thân chín muồi” <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> thân người như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết quả của nghiệp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chín muồi</span>.</i><br />
<i>[22]. “Phương pháp” <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương Thừa</span>.</i><br />
<i>[23]. “Sức nóng của cực lạc” <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên quan đến</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span>, kết quả từ việc dấn thân vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> giai đoạn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du già</span> nội hỏa.</i><br />
<i>[24]. Ở đây, các pháp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> các sự vật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sở hữu</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc tính</span>.</i><br />
<i>[25]. Tripitaka (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tam Tạng Giáo</span> Điển) là kinh sách được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công nhận</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo Phật</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> ba phần: Vinaya (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Luật tạng</span>), Abhidharma (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Luận tạng</span>), và Sutra (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kinh tạng</span>).</i><br />
<i>[26]. Dharma (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>), ở đây <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học thuyết</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đức Phật</span>.</i><br />
<i>[27]. Hai dòng đầu của bốn dòng kệ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn cảnh</span> chung của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luân hồi</span>, hai dòng thứ hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> tự mình <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> khỏi các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn cảnh</span> đó.</i><br />
<i>[28]. Duhkha là từ tiếng Phạn có nghĩa “đau khổ”.</i><br />
<i>[29]. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> cao nhất là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế tục</span> cao nhất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> như giai đoạn thứ tư của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyên cần</span>, trực tiếp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi trước</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> của cái thấy.</i><br />
<i>[30]. Điều này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên quan đến</span> câu truyện của Ngài Sadaprarudita thấy trong bản dịch của Edward Conze, Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span> Của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trí Tuệ</span> Trong Tám Ngàn Câu Và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bài Kệ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tóm Tắt</span> (Bolina: Bốn Mùa, 1973), chương 30.</i><br />
<i>[31]. Siddhi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> cả hai siddhi thông thường (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giàu sang</span> v.v...) và siddhi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phi thường</span> (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn giác</span>).</i><br />
<i>[32]. Yama (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Dạ Ma</span> – Thần Chết) vua của cái chết.</i><br />
<i>[33]. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ẩn dụ</span> này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên quan đến</span> việc nói về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan điểm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa trên</span> khái niệm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết hợp</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cá nhân</span>.</i><br />
<i>[34]. Mara (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ma Vương</span>) <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế lực</span> gây <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chướng ngại</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span>. Thông thường họ được chia thành bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phạm trù</span>: mara của các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết tập</span> (uẩn), mara của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhiễm ô</span>, mara của sự chết, và mara là con trai của trời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dục giới</span> (Cupid).</i><br />
<i>[35]. Dòng truyền Kadampa được đặt nền tảng ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> bởi bậc thầy Jowo Atisha của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn độ</span> vào giữa thế kỷ thứ mười một. Dòng truyền này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> về sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền bá</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rộng rãi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Rèn luyện</span> Tâm, như Bảy Điểm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Rèn Luyện</span> Tâm và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> khác.</i><br />
<i>[36]. Ở đây, sức nóng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trình độ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> đầu tiên của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyên cần</span> trước khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> như lửa của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> của cái thấy.</i><br />
<i>[37]. Yogin là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span>.</i><br />
<i>[38]. “Mantra Bí mật” là tên thông thường cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> tantric trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo Tây Tạng</span>.</i><br />
<i>[39]. Abhisheka là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> đạt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một đời</span> bằng việc tạo ra căn nguyên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lệ thuộc</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> giữa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên nhân</span> – các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết tập</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên tố</span> và ayatana – và kết quả – các kaya (thân) và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> – và cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới thiệu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> vào Vajrayana.</i><br />
<i>[40]. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quan điểm</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> là những hướng dẫn và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> thấy trong Vajrayana.</i><br />
<i>[41]. Ở đây, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thế Tôn</span> của Mantra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bí Mật</span> là một bổn tôn; gặp gỡ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span> bổn tôn như Vajrayogini như sự hợp nhất của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong sáng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span>, hay Mahamudra.</i><br />
<i>[42]. “Pháp của nền tảng không nỗ lực” <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> của tâm, sự hợp nhất của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong sáng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span>.</i><br />
<i>[43]. Dzogchen, hay ati yoga (Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span>) là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> cao nhất của phái Nyingma thuộc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo Tây Tạng</span>.</i><br />
<i>[44]. Abhidharma (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">A Tỳ Đàm</span>) là các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh điển</span> và luận giảng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên quan đến</span> việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rèn luyện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span>.</i><br />
<i>[45]. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giả thuyết</span> không quan trọng là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thuật ngữ</span> trong phép <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">suy luận</span>.</i><br />
<i>[46]. Tạo “nối kết với Giáo Pháp” có nghĩa tạo ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span>.</i><br />
<i>[47]. Hợp nhất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du già</span> hợp nhất với một phối ngẫu đủ phẩm tính.</i><br />
<i>[48]. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sự giải thoát</span> có nghĩa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiêu diệt</span> khiến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát chúng</span> sinh xấu ác</i><br />
<i>[49]. Ở đây, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> lòng bi và động cơ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thích đáng</span>.</i><br />
<i>[50]. Đoạn này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> “các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại hành</span> giả” <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tỏ ra</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiên vị</span> với những người đem quà tặng và phớt lờ những người không có quà tặng.</i><br />
<i>[51]. Năm giác thức của thân và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý thức</span>.</i><br />
<i>[52]. “Giải thoát ngay tại chỗ của nó” có nghĩa “thoát khỏi các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực đoan</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhị nguyên</span>”.</i><br />
<i>[53]. “Che đầu” <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> sự che mắt.</i><br />
<i>[54]. Akanistha là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi tịnh</span> độ của sambhogakaya (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Báo Thân</span>).</i><br />
<i>[55]. Cũng giống như cây chuối thì rỗng ruột hoặc không có lõi, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp tính</span> cũng không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực thể</span> bên trong.</i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/bai-ca-vi-dai-cua-su-kinh-nghiem/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đại thừa Pháp vương Sakya và lịch sử dòng truyền thừa Sakya</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/dai-thua-phap-vuong-sakya-va-lich-su-dong-truyen-thua-sakya/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/dai-thua-phap-vuong-sakya-va-lich-su-dong-truyen-thua-sakya/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 08 Apr 2022 13:53:04 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Lịch sử chung]]></category>
		<category><![CDATA[Sakya]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Sakya]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11023</guid>
		<description><![CDATA[Truyền thừa Sakya là một trong bốn truyền thống tâm linh vĩ đại tại Tây Tạng. Truyền thống này đóng một vai trò quan trọng trong sự trì giữ và phát triển giai đoạn tân Tantra vào thế kỷ thứ 11. Truyền thống Sakya được trì giữ và hoằng dương rộng lớn, sản sinh nhiều bậc thánh tăng, Thành tựu&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/dai-thua-phap-vuong-sakya-va-lich-su-dong-truyen-thua-sakya/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Truyền thừa Sakya là một trong bốn truyền thống tâm linh vĩ đại tại Tây Tạng. Truyền thống này đóng một vai trò quan trọng trong sự trì giữ và phát triển giai đoạn tân Tantra vào thế kỷ thứ 11. Truyền thống Sakya được trì giữ và hoằng dương rộng lớn, sản sinh nhiều bậc thánh tăng, Thành tựu giả và học giả vĩ đại. Trong các thế kỷ 13 và 14, những bậc trì giữ truyền thống Sakya đồng thời đảm nhận trọng trách chính trị tại Tây Tạng. Mặc dù địa vị chính trị của truyền thống này giảm dần qua các thế kỷ, nhưng những truyền thống tâm linh siêu việt này vẫn còn được trưởng dưỡng và trì giữ nghiêm mật tới tận ngày nay. Theo sử liệu của dòng Truyền thừa Sakya, sử liệu các vị vua đời Minh, Lịch sử Phật giáo Tạng truyền đời Minh, năm 1413 bậc lãnh đạo Tâm linh dòng Sakya đã đến Nam Kinh theo lời thỉnh cầu của triều Minh, chứng kiến sự thành tựu Pháp, đạo hạnh của ngài, Minh Thành Tổ đã cúng dường ngài danh xưng Đại Thừa Pháp Vương, có nghĩa là “vạn hạnh viên dung diệu pháp tối thắng chân như tuệ trí hoằng từ quảng tế hộ quốc diễn giáo chính giác Đại Thừa Pháp vương Tây thiên thượng thiện kim cương phổ ứng đại quang minh Phật lĩnh thiên hạ Thích giáo”.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Dòng truyền thừa Sakya và các bậc Thượng sư truyền thừa</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Truyền thừa Sakya khởi nguồn từ chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Nguồn giáo pháp quan trọng nhất của truyền thống Sakya truyền thừa từ Yogi vĩ đại người Ấn Độ, Virupa (thế kỷ thứ 9), một trong 84 Đại thành tựu giả và sự thành tựu vi diệu nhất thông qua đạo sư Gayadhara (994 - 1043) tới đệ tử người Tạng là Drokmi Lotsawa Shakya Yeshe (992 - 1072). Đạo sư Drokmi Lotsawa truyền thừa cho đệ tử của mình là Khon Konchok Gyalpo (1034 - 1102), ngài là tổ sư, bậc khai sáng truyền thống Sakya.</p>
<p style="text-align: justify;">Truyền thống Sakya bắt nguồn từ dòng tộc Khon, theo sử liệu của truyền thống Sakya, đây là dòng tộc bắt nguồn từ chư thiên. Khởi đầu từ Thượng sư Khon Konchok Gyalpo (1034 - 1102), bậc khai sáng truyền thống Sakya, dòng truyền thừa vẫn phát triển và được trì giữ nghiêm mật tới tận ngày nay.</p>
<p style="text-align: justify;">Truyền thừa giáo pháp của Đại Thành tựu giả Virupa Ấn Độ vẫn được tiếp tục trì giữ thông qua đạo sư Khon Konchok Gyalpo và tiếp đến xuống Pháp tử của ngài là Sachen Kunga Nyingpo (1092 - 1158). Đạo sư Kunga Nyingpo trong đời đã hiển thị những năng lực và sự thành tựu tâm linh siêu việt, ngài trì giữ các dòng truyền thừa Tantra và Hiển giáo. Ngài có bốn Pháp tử là Kungabar, Sonam Tsemo, Jetsun Dakpa Gyeltsen và Palchen Rinpoche. Sonam Tsemo (1142 - 1182), Pháp tử thứ hai là một đại học giả ngay ở tuổi 16 và ngài có nhiều linh kiến thanh tịnh về các Bản tôn trí tuệ cùng rất nhiều đệ tử thành tựu. Đạo sư Jetsun Dakpa Gyeltsen (1147 - 1216), Pháp tử thứ ba đã hiển thị những năng lực tâm linh ngay từ khi còn trẻ tuổi. Ngay khi 11 tuổi, ngài đã truyền trao quán đỉnh Hỷ Kim cương và trở thành bậc trì giữ chính của dòng truyền thừa Sakya.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm trong số những bậc Long tượng của truyền thống Sakya là bậc Thượng sư trứ danh Sachen Kunga Nyingpo (1092 - 1158), Loppön Sonam Tsemo (1142 - 1182), Jetsun Drakpa Gyaltsen (1147 - 1216), Sakya Pandita (1182 - 1251), và Drogon Chogyal Phagpa (1235 - 1280). Các ngài được tôn kính là năm vị tổ sư của truyền thống Sakya.</p>
<p style="text-align: justify;">Tiếp theo năm vị Tổ sư là Sáu Ornaments của Tây Tạng cũng là những bậc thầy tâm linh nổi tiếng của truyền thống Sakya.</p>
<p style="text-align: justify;">Sáu Tràng hoa của xứ Tạng bao gồm ngài Yakton Sengey Phel và Rongton Sheja Künrig, những luận sư trứ danh Kinh thừa; Thượng sư Ngorchen Kunga Zangpo và Zongpa Kunga Namgyal, hai bậc thông tuệ Mật điển (Tantra); Thượng sư Gorampo Sonam Sengey và Shakya Chogden, hai bậc thông tuệ cả kinh điển và Tantra. Đạo sư Gorampa Sonam Sengey, hoằng dương môn logic trong truyền thống Sakya.</p>
<p style="text-align: justify;">Pháp tử của Palchen Rinpoche là ngài Sakya Pandita Kunga Gyeltsen (1182 - 1251). Ngài là bậc thông tuệ triết học, logic, ngôn ngữ Sanskrit, vũ trụ học, thơ ca, nghệ thuật Phật giáo và triết học của các nhiều truyền thống tôn giáo khác. Ngài đã tham học dưới sự hướng đạo của rất nhiều đạo sư vĩ đại Ấn Độ, Nepal, Kashmiri và Tây Tạng, và trở thành một trong những học giả vĩ đại nhất trong lịch sử Phật giáo Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Các nhánh chính của truyền thừa Sakya</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Không giống như những truyền thống khác của Phật giáo Tạng truyền, một số lượng lớn các nhánh đã phát triển trong truyền thống Sakya. Các truyền thừa giáo pháp dần được các đệ tử thiết lập như đạo sư Ngorchen Kunga Zangpo (1382 - 1457) và các bậc thầy tiếp nối mạch giáo pháp này như ngài Konchok Lhundrup, Thartse Namkha Palsang và Drubkhang Palden Dhondup được biết đến là truyền thừa Ngor. Nhánh truyền thừa này chú trọng nhiều tới truyền thống tự viện và những pháp thực hành giới luật. Truyền thừa từ đạo sư Tsarchen Losel Gyatso (1502 - 1556) là truyền thừa Khẩu truyền Tsar, bao gồm các học thuyết bên ngoài, bên trong, bí mật như Mahakala, Vajrayogini, Dzambala và nhiều Bản tôn khác. Một truyền thống quan trọng nữa là Dzongpa được kiến lập bởi Đạo sư Dzongpa Kuna Namgyal (1432 - 1496). Hình ảnh minh họa cho sự phát triển này là dòng truyền thừa Sakya bắt đầu từ dòng dõi Khon cao quý như một thân cây, các truyền thừa Ngorpa và Tsarpa như những nhánh cây bắt nguồn từ thân cây tỏa ra các phương hướng khác nhau.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kinh điển và giáo pháp của truyền thừa Sakya</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Ngoài dựa trên những giáo pháp Hiển giáo là nền tảng tu tập của truyền thừa, truyền thừa Sakya có nhiều những trước tác của những bậc Thượng sư Sakya, khởi nguồn từ những Đại Thành tựu giả Ấn Độ cũng như những trước tác của các Thượng sư như Sachen Kunga Nyingpo (1092 - 1158), Sonam Tsemo (1142 - 1182), Drakpa Gyeltsen (1147 - 1216), Sakya Pandita Kunga Gyeltsen (1182 - 1251) và Drogon Chogyal Phakpa (1235 - 1280) – Năm vị Tổ sư của truyền thống Sakya - và nhiều thành tựu giả và học giả khác của truyền thống.</p>
<p style="text-align: justify;">Hai trong số những luận sư trứ danh nhất của truyền thống Sakya là Gorampa Sonam Senge (1429 - 1489) và Panchen Shakya Chokden (1428 - 1507). Những trước tác của các đạo sư này bao gồm những luận giảng về Kinh điển Hiển giáo và Mật Tạng đều được tu học trong tất cả các truyền thừa Phật giáo Tạng truyền khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Giáo pháp và nghi quỹ nền tảng của truyền thống Sakya là "Lamdre (Lam/bras)" hay "Đạo và Quả". Về cơ bản, quan điểm triết học thể hiện trong "Đạo và Quả" là sự "Bất khả phân giữa Luân hồi và Niết Bàn”. Theo quan kiến này, dòng tâm thức là căn bản tạo nên Luân hồi hay Niết bàn. Khi bị che chướng, dòng tâm sẽ hiện khởi tướng trạng Luân hồi, và khi không bị vướng mắc bởi những nhiễm ô, dòng tâm sẽ hiện khởi tướng Niết bàn. Mỗi hành giả phải nỗ lực để chứng đắc cảnh giới bất khả phân căn bản này thông qua thiền định.</p>
<p style="text-align: justify;">Lamdre là một trong những pháp thiền định toàn diện nhất và có cấu trúc hệ thống nhất trong truyền thống Kim cương thừa, hợp nhất toàn bộ các thứ lớp tu tập và quả vị của Tantra tối thượng. Xét ở phương diện tuyệt đối, pháp thực hành này cho phép hành giả chứng đạt cảnh giới Bản tôn Hỷ Kim cương (Hevajra), một trong những Bản tôn chính của truyền thống Sakya. Truyền thống giáo pháp thâm diệu này bắt nguồn từ đại Thành tựu giả Ấn Độ Virupa (thế kỷ thứ 9), Đạo sư Avadhutipa, Đạo sư Gayadhara (994 - 1043), và Đạo sư Shakyamitra (một đệ tử của Bồ tát Long Thọ), ngài đã truyền trao giáo pháp xuống đại dịch giả Drokmi Lotsawa. Dòng truyền thừa không gián đoạn của những bậc kim cương thượng sư vẫn tiếp tục được trì giữ nghiêm mật đến ngày nay. Truyền thống giáo pháp Lamdre đã được Đạo sư Muchen Sempa Chenpo, một đệ tử của đạo sư Ngorchen Kunga Sangpo (1382 - 1457) phát triển thành hai nhánh: Thứ nhất: truyền trao riêng cho từng đệ tử thích hợp. Thứ hai, truyền trao cho đại chúng. Kể từ đó, giáo pháp Lamdre lần đầu tiên đã tới miền đất Tuyết và được truyền thừa không gián đoạn qua thế hệ các vị đạo sư tới ngài Sakya Trizin đời thứ 41, bậc trì giữ bảo tòa hiện đời của truyền thống Sakya.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngoài ra truyền thống Sakya cũng thực hành các pháp Kim Cương thừa khác như: Tantra Hỷ Kim cương (Hevajra), Tantra Thắng lạc Kim cương (Chakrasamvara), Mahakala và v.v… Các Đại học tự viên của truyền thừa nghiên cứu Mười tám chính luận như: Kinh Bát nhã, Luận Trung Quán, Vi Diệu Pháp, Logic…</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Trọng trách chính trị của truyền thừa Sakya tại Tây Tạng từ thế kỷ 13 đến cuối thế kỷ 14</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Trọng trách chính trị của truyền thừa Sakya bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ 13. Vào năm 1240 người cháu nội của Thành Cát Tư Hãn là Hoàng tử Godan đã ra lệnh cho quân đội tấn công xứ Tạng. Khi đang tiến hành chiến dịch này, vị hoàng tử đã mong muốn tìm cầu sự hướng đạo của một Đạo sư Phật giáo trứ danh. Một số vị tướng của ông đã gửi thông tin rằng có ba Lạt ma trứ danh tại xứ Tạng. Thượng sư của tự viên Drikhung là những bậc có nhiều bảo vật nhất; Thượng sư của tự viện Taklung hòa hợp nhất; và các Thượng sư tự viện Sakya có năng lực tâm linh nhất. Hoàng tử Godan sau đó đã gửi thư thỉnh mời và phẩm vật cúng dường lên bậc Thượng sư Kunga Gyaltsen, thỉnh cầu ngài tới nơi chốn của mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Đạo sư Kunga Gyaltsen (1182 - 1251) được tôn kính là Sakya Pandita bởi sự thông tuệ về ngôn ngữ Sanskrit, đã chấp nhận lời thỉnh mời này. Ngài rời Sakya vào năm 1244 tới khu vực Kokonor, nơi Hoàng tử Godan cắm trại. Đạo sư Sakya Pandita đã đưa cùng ngài trên hành trình hai người cháu là Phagpa Lodro Gyaltsen lên mười tuổi và Drogon Chakna lên sáu tuổi. Các đại diện Mông Cổ của Godan đã hộ tống theo ngài trong suốt hành trình. Đạo sư Sakya Pandita đã truyền trao nhiều giáo pháp trên suốt hành trình tới khu vực Kokonor. Hành trình đòi hỏi một thời gian dài, bởi vậy ngài đã gửi cho hai người cháu đi trước tới Kokonor. Trước khi ngài tới khu vực cắm trại của Godan năm 1247, hai người cháu nhỏ tuổi của ngài cũng đã cảm hóa rất nhiều người Mông Cổ tại đây. Theo các sử liệu Tây Tạng, Đạo sư Sakya Pandita đã gặp Hoàng tử Godan tại Lanchow, thủ phủ Kansu.</p>
<p style="text-align: justify;">Đạo sư Sakya Pandita đã truyền trao Phật pháp cho Godan và trong một lần ngài đã thuyết phục ông từ bỏ ý định dìm chết rất nhiều Trung Quốc dưới những dòng sông. Godan có ý định này bởi vì lo ngại số lượng người Trung Quốc đông khi ấy luôn luôn đe dọa quyền lực của ông. Đạo sư Sakya Pandita đã dạy rằng, việc làm đó trái với giáo pháp của đức Thế tôn. Đạo sư Sakya Pandita ở lại nơi cư trú của Godan trong vài năm, trong thời gian này ngài truyền trao rất nhiều giáo pháp, khai thị cho Godan và các vị tướng của ông. Ngài chính là bậc đã đặt nền tảng cho Phật giáo nơi đây phát triển rực rỡ trong nhiều thế kỷ. Để tri ân giáo pháp mà Đạo sư truyền trao, Hoàng tử Godan đã thỉnh cầu Đạo sư đảm nhận trọng trách chính trị thế tục toàn bộ 13 vùng của trung tâm Tây Tạng. Ông đã gửi một trước tác của mình tới người Tạng, có tựa đề "Thub-pai Gòn-sal", có nghĩa là "Tâm nguyện của Đức Phật". Biết rằng mình không thể thọ hơn được, ông đã gửi trước tác này như món quà Pháp cho xứ Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1251, đạo sư Sakya Pandita đã viên tịch ở tuổi 70. Hoàng tử Godan qua đời sớm sau đó và hoàng tử Hốt Tất Liệt (Kublai) tiếp ngôi, ông được biết đến là Sechen của người Tạng. Năm 1253, Hốt Tất Liệt đã thỉnh mời đạo sư Chogyal Phagpa mười chín tuổi đến hoàng cung của mình và ông đã vô cùng kính sợ trước sở học uyên bác của vị thánh tăng trẻ tuổi, ngài đã hiển bày trí tuệ siêu việt trước các câu hỏi khó. Hốt Tất Liệt sau đó đã thỉnh cầu ngài truyền trao những khai thị tâm linh nhưng vị thánh tăng trẻ tuổi đã dạy rằng, trước khi ông có thể thụ nhận giáo pháp tâm linh như vậy, ông cần phải đỉnh lễ trước ngài, bậc đạo sư tâm linh của ông trong bất kỳ lần gặp gỡ nào và bảo tòa của ngài phải ở phía trên, cao hơn ngai vàng của hoàng đế. Hốt Tất Liệt trả lời rằng ông chưa thể làm công khai như vậy được trước người dân hay ở nơi công cộng, vì có thể sẽ đánh mất địa vị và quyền lực của mình. Một số nguồn tư liệu khác viết rằng, Hốt Tất Liệt đã đồng ý đặt ngai vàng của mình thấp hơn bảo tòa của bậc Đạo sư khi ông thụ nhận giáo pháp từ ngài và đặt ngang bằng nhau khi ông giải quyết công việc triều đình.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo truyền thống, Thượng sư Phagpa đã truyền trao quán đỉnh và luận giảng giáo pháp cho Hốt Tất Liệt và hai mươi lăm vị quan của ông trong ba lần. Sau lần đầu tiên, Hốt Tất Liệt đã thỉnh cầu và cúng dường ngài đảm nhận trọng trách bậc lãnh đạo tâm linh và thế tục 13 địa hạt (Trikhor Chusum) trung tâm Tây Tạng. Sau lần thứ hai, Hốt Tất Liệt đã cúng dường ngài xá lợi của Đức Phật và thỉnh cầu ngài đảm nhận trọng trách bậc lãnh đạo tâm linh và thế tục toàn bộ ba khu vực Tây Tạng (chol-ska-sum). Khi Hốt Tất Liệt trở thành Khan vào năm 1260, sau lần nhận quán đỉnh và giáo pháp lần thứ ba, ông đã cúng dường đạo sư Phagpa danh xưng "bậc vua Pháp”. Trong cùng năm, ông đã thỉnh cầu đạo sư Phagpa cử hành và chủ trì nghi thức cho buổi lễ đăng quang của mình. Lịch sử ghi lại rằng, mối quan hệ giữa bậc thượng sư với người đệ tử, giữa thượng sư với người bảo trợ là các Khan Mông Cổ được ví như “mặt trời và mặt trăng trên bầu trời".</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1265 Đạo sư Phagpa trở về Tây Tạng lần đầu tiên. Tại trung tâm tự viện truyền thống Sakya ngài đã được cung đón nồng nhiệt và được tôn kính trọng thị bởi các trưởng tộc Tây Tạng. Đạo sư Chogyal Phagpa đã thiết lập một hệ thống chính quyền quản lý tập trung ở Tây Tạng. Một chức danh là quan Thượng thư (Ponchen), có trọng trách quản lý chung toàn bộ công việc chính quyền. Dưới chức danh này là 13 tộc trưởng (Tripons), những vị quan trực tiếp quản lý địa hạt riêng của mình. Theo quy định, quan thượng thư sẽ được bổ nhiệm bởi chính đạo sư Phagpa và được đặt danh hiệu là Ponchen Shakya Sangpo. Theo phương thức này ngài Chogyal Phagpa đã hợp nhất toàn bộ xứ Tạng dưới sự điều hành của Chính quyền trung ương.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhận lời thỉnh mời của Hốt Tất Liệt, năm 1268 đạo sư Chogyal Phagpa trở lại hoàng cung Khan tại Mông Cổ. Với sự thông tuệ của mình, ngài đã gửi cho Khan một bộ chữ viết mới mà ngài đã soạn cho người Mông Cổ. Hốt Tất Liệt đã vô cùng hoan hỷ và hệ thống chữ viết mới được biết đến là "Phagpa Script" đã được chính thức được đưa vào sử dụng. Khan đã đỉnh lễ cúng dường đạo sư Phagpa tôn xưng "Pháp Tử các Bản tôn Ấn Độ”, "Pháp chủ tôn quý của Đất Trời”, “Bậc Sáng tạo chữ viết”, "Sứ giả của hòa bình trên toàn thế giới", và "Bậc Sở hữu Ngũ Minh”. Thượng sư Phagpa viên tịch tại Sakya năm 1280. Chogyal Phakpa là bậc đạo sư đầu tiên trong lịch sử Tây Tạng đảm nhận trọng trách bậc lãnh đạo cả về tâm linh và thế tục. Người em của ngài là đạo sư Chakna sau đó đã tiếp tục đảm nhận trọng trách này, tiếp đến thế hệ các lãnh đạo của truyền thừa đảm nhận trọng trách lãnh đạo Tây Tạng trong hơn một trăm năm.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào năm bậc Thượng sư Phagpa viên tịch, Hốt Tất Liệt cuối cùng đã chinh phục toàn cõi Trung Quốc, và đã lên ngôi hoàng đế của Trung Quốc. Đạo sư Dharmapala, Pháp tử của ngài Drogon Chakna được tôn xưng và nắm giữ trọng trách "Tishri" vào năm 1282. Đạo sư Tishri Kunga Lodro Gyaltsen (1299 - 1327) đã kiến lập bốn Hoàng cung (pho Brang): Zhithog, Rinchen Gang, Lhakhang, và Ducho, trong số đó ngày nay chỉ còn hai hoàng cung vẫn còn tồn tại.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào thế kỷ thứ mười lăm, hoàng cung Ducho được chia thành hai là (1) Dolma Phodrang và (2) Phuntsok Phodrang. Bậc lãnh đạo hai hoàng cung này là ngài Sakya Trizin.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1287, ngài đã tới xứ Tạng nhưng đã viên tịch trong hành trình dài. Năm 1295 Hốt Tất Liệt qua đời. Trong suốt thời gian của đạo sư Sakya Pandita và thế hệ các đạo sư sau đó, chính quyền Tây Tạng được đặt dưới sự quản lý của người Tạng. Các mối quan hệ giữa nhà cầm quyền Mông Cổ và các bậc Thượng sư Tây Tạng không nên được nhìn, xem xét ở phương diện chính trị thế tục. Tư duy và suy xét một cách sâu sắc vào thái độ, sự trân quý của các Khan tới các bậc đạo sư của mình như Chogyal Phagpa, chúng ta thấy, ông đã thành tâm thỉnh cầu, cúng dường các ngài đảm nhận trọng trách bậc lãnh đạo tâm linh và thế tục tại xứ Tạng. Mối quan hệ giữa Bậc Thầy - Đệ tử, người bảo trợ được thiết lập giữa các bậc thầy Tạng và người Mông cổ dựa vào sự trân quý, thực tâm thực hành giáo pháp vì lợi ích chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi Hốt Tất Liệt qua đời năm 1295, quyền lực của người Mông Cổ bắt đầu suy giảm tại Trung Quốc. Năm 1305 Đạo sư Dagnyi Zangpo Pal đảm nhận trọng trách bậc lãnh đạo tâm linh truyền thống Sakya trong mười ba năm. Hệ thống quản lý đất nước dưới sự điều hành bởi các Ponchen và Tripons (quan thượng thư và hạt chủ) được tiếp tục trong thời gian này. Khi trong giai đoạn chính quyền dưới sự điều hành của Thượng sư Ponchen Gawa Zangpo và Sonam Gyaltsen, trọng trách chính trị của truyền thống Sakya bắt đầu suy yếu. Hầu hết các bậc Thượng sư truyền thống Sakya các đời kế tiếp đều tập trung nhiều hơn vào trọng trách tâm linh và để lại trọng trách nhiều hơn cho các đời quan Thượng thư.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Những tự viện chính của truyền thừa Sakya</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Các tự viện chính của truyền thống Sakya là Sakya Lhakhang Chenmo, được thành lập bởi đạo sư Khon Konchok Gyelpo, nằm ở khu vực Tsang trung tâm Tây Tạng. Tự viện Ngor E-Vam Choden được thành lập bởi đạo sư E-Vam Kunga Zangpo, đây là trụ xứ chính của dòng Ngor Sakya ở miền trung Tây Tạng. Tự viện Dar Drangmoche, được thành lập bởi đạo sư Tsarchen Losal Gyatso, là trụ xứ chính của tự viện cũng nằm trong vùng Tsang.</p>
<p style="text-align: justify;">Truyền thống Sakya có các tự viện lớn khác như: Phenpo Nalanda trong khu vực Phenpo miền trung Tây Tạng, được xây dựng bởi các học giả trứ danh Rongton Sheja Kunrig, và tự viện Tsedong Sisum Namgyel, được thành lập bởi đapk siw Namkha Tashi Gyeltsen. Những tự viện lớn khác như tự viên Dhondup Ling, được thành lập bởi đạo sư Dagchen Sherab Gyeltsen; tự viện Lhundup Teng được thành lập bởi đạo sư Thangton Gyalpo, trong khu vực Derge tỉnh Kham miền đông Tây Tạng; tự viện Dzongsar - trụ xứ của Rinpoche Dzongsar Khyentse; và tự viện Deur Chode, được kiến lập bởi đạo sư Chodrak Sangpo khu vực Amdo tỉnh Kham miền đông Tây Tạng. Ngoài ra cũng có nhiều tự viện khác tại vùng Tây Tây Tạng, Trung Quốc và Mông Cổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Các tự viện lớn ngày nay của dòng tại Ấn Độ bao gồm tự viện Tsechen Tenpai Gatsal ở Rajpur, bang Uttar Pradesh, được thành lập bởi ngài Sakya Tridzin; tự viện Ngor E-Vàm Shedrup Dhargye Ling ở Bir, bang Himachal Pradesh; tự viện Tsechen Dhongag Chöling ở Mundgod, bang Karnataka; và tự viện Ngor E-Vam Choden ở Dehradun, bang Uttar Pradesh; tự viện Tashi Rabten Ling tại Lumbini, Nepal, và nhiều tự viện ở Ấn Độ, Nepal, và nhiều nước trên thế giới.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Bậc lãnh đạo hiện đời của truyền thừa Sakya</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Bậc lãnh tụ của dòng truyền thừa Sakya hiện đời là ngài Sakya Trizin (Ngakwang Kunga Thekchen Palbar Samphel Ganggi Gyalpo), đản sinh năm 1945 tại Tsedong, Tây Tạng thuộc dòng dõi bộ tộc Khon...</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài hiện đang an trú tại Rajpur, Ấn Độ và du hóa, hoằng dương giáo pháp dòng truyền thừa Sakya rộng khắp nhiều nơi trên thế giới làm lợi ích vô số hữu tình. Ngài có hai Pháp tử là Ratna Vajra Rinpoche (đản sinh năm 1974) và Jnana Vajra Rinpoche (đản sinh năm 1979).</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: La Sơn Phúc Cường</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <a href="https://thuvienhoasen.org/a24057/dai-thua-phap-vuong-sakya-va-lich-su-dong-truyen-thua-sakya">Đại thừa Pháp vương Sakya và lịch sử dòng truyền thừa Sakya</a></em></p>
<div class="ddict_btn" style="top: 6555px; left: 199.109px;"><img src="chrome-extension://bpggmmljdiliancllaapiggllnkbjocb/logo/48.png" alt="" /></div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/dai-thua-phap-vuong-sakya-va-lich-su-dong-truyen-thua-sakya/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lịch sử của phái Sakya</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/lich-su-cua-phai-sakya/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/lich-su-cua-phai-sakya/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 18 Apr 2018 07:12:41 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Lịch sử chung]]></category>
		<category><![CDATA[Sakya]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=8495</guid>
		<description><![CDATA[Vị vua đầu tiên của Tây Tạng là Nyatri Tsanpo, người mà một số học giả nói là đã sinh năm 126 trước công nguyên. Triều đại của ông là dấu ấn rõ ràng của Tây Tạng nguyên thủy (Bod) như một nước có chủ quyền. Trong lúc không có nhiều người biết về Tây Tạng trong giai đoạn này, các ghi chép thời xưa trình bày người Tây Tạng am tường về y học, thiên văn, và nhiều nghệ&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/lich-su-cua-phai-sakya/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Vị vua đầu tiên của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> là Nyatri Tsanpo, người mà một số <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> nói là đã sinh năm 126 <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trước công nguyên</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Triều đại</span> của ông là dấu ấn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rõ ràng</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên thủy</span> (Bod) như một nước có chủ quyền. Trong lúc không có nhiều người biết về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> trong giai đoạn này, các ghi chép <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời xưa</span> trình bày người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">am tường</span> về y học, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiên văn</span>, và nhiều nghệ thuật thiết yếu khác.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới thiệu</span> đến xứ sở này trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">triều đại</span> của vị vua thứ hai mươi tám, Lha Tho Tho Ri (sinh năm 254 <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sau công nguyên</span>).</p>
<p style="text-align: justify;">Gần bốn trăm năm sau, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự kiện</span> quan trọng chính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kế tiếp</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo Phật</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> là sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> của bộ ba ông và cháu (mes dbon rnams gsum). Vị đầu tiên là Srong Tsan Gampo (617-650 <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sau công nguyên</span>), vị vua thứ ba mươi lăm. Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">triều đại</span> Ngài, kéo dài từ năm 629 đến lúc Ngài chết vào năm 650, Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span>sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo trợ</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàng gia</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> những ngôi chùa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo</span> đầu tiên của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>. Ngài được xem là thân lưu xuất của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát</span> Avalokiteshvara (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quán Tự Tại</span>).</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kế tiếp</span> là vị vua thứ ba mươi tám, Trisrong Detsen (740-798 <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sau công nguyên</span>), Ngài đóng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vai trò</span> quan trọng nhất trong việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới thiệu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo</span> đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> và được xem là thân lưu xuất của Đức Manjushri (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Văn Thù</span>). Ngài thỉnh cả hai vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu viện </span>trưởng Shantarakshita và Padmasambhava đến thăm. Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">việc làm</span> như thế, Ngài một mặt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn kính</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu viện</span> và những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả </span>tantric áo choàng-trắng về mặt khác của triều đình Ngài, giữ tầm cỡ cả hai sangha ngang bằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">với nhau</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cuối cùng</span>, Tritsug Detsen (794-839) cũng được biết như Tri Ralpachan, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> vị vua thứ bốn mươi bốn trong năm 817. Con trai nhỏ nhất của Tride Srongtsen và cháu của Trisrong Detsen, Ngài chịu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trách nhiệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thuật ngữ</span> học về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>, được các dịch <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giả sử</span> dụng.</p>
<p style="text-align: justify;"><b><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Lịch sử</span> của Khon</b></p>
<p style="text-align: justify;">Dấu vết Khon <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên thủy</span> cho một bộ trời được gọi là wosel lha (“chư thiên của tánh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quang minh</span> trong sáng”). Các biên niên sử của dòng truyền Khon (gdung rabs) trích dẫn từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác giả</span> Ngorchen Konchog Lhundrup, thế kỷ thứ mười lăm:</p>
<p style="text-align: justify;">Dòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa thân</span> của Manjushri,<br />
Sakyapa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quang vinh</span>, bắt đầu trong xứ sở các vị trời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quang minh </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong sáng</span>.<br />
Có ba anh em, Chiring, Yuring, và Yuse [Use].<br />
Yuse, được tạo ra là vua của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con người</span>, cha của bốn con trai.<br />
Anh trai Ngài, Yuring đến để giúp đỡ.<br />
Con trai của Yuring và Muza Dembu<br />
là nhóm của bảy maza. Sáu anh em lớn tuổi nhất<br />
với cha họ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở về</span> vùng đất của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chư thiên</span>.<br />
Người con trai nhỏ nhất, Masang Chije,<br />
và Thogcham Wurmo có một con trai, Pawo Tag.<br />
Ngài và người vợ rồng của Ngài, Trama, có một con trai<br />
được gọi là Lutsa Tagpo Woechan.<br />
Lutsa và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phu nhân</span> Mon, Tsomo Gyal,<br />
trong lúc sống <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">với nhau</span>, có một con trai<br />
vào lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phân chia</span> giữa đá phiến và cỏ,<br />
nên Ngài có tên là Yahpang Kyes,<br />
một vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">anh hùng</span> mà người khác không thể đánh bại.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Manjushri được nói là đã lưu xuất ra ba vị trời của tánh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quang minh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong sáng</span> – Chiring, Yuring, và Yuse – để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích </span>người khác. Điều quan trọng là những vị trời này đã được nghĩ là sự lưu xuất từ Đức Manjushri, vì tất cả phái nam của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dòng dõi </span>Khon cũng được xem là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa thân</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hậu duệ</span> của ba vị trời.</p>
<p style="text-align: justify;">Ba anh em <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi xuống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi người</span>, ở đây họ được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">yêu cầu</span> cai quản <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhân loại</span>. Yuse, người trẻ nhất được đề bạt làm vua. Ông sinh bốn con trai, được biết như bốn anh em Se Chi Li. Cha và con cùng nhau chiến đấu với mười tám bộ lạc chính của Dong, một trong bốn thị tộc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên thủy</span> của người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>.1 Với sự giúp đỡ của Yuring, anh trai của Yuse, họ chiến thắng thị tộc Dong và làm những thành viên của thị tộc này thành nước chư hầu.</p>
<p style="text-align: justify;">Yuring cưới con gái của Mu,2 Muza Dembu, các con trai của họ là bảy anh em Masang, sáu người trong họ quay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở về</span> xứ sở của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chư thiên</span> cùng với cha. Masang Chije, người trẻ nhất ở lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế gian</span>. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lập gia đình</span> với Thogcham Wurmo, con gái của Thoglha Woedchan, và họ có một con trai được biết là Thogtsad Bangpo Tag.</p>
<p style="text-align: justify;">Thogtsad cưới Lucham Drama, con gái của một Naga (Rồng) sinh ra con trai có tên là Lutsa Tagpo Woechan, Lutsa và một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phu nhân</span> Mon,3 Tsomo Gyal <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lấy nhau</span>; con trai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy nhất</span> của họ sinh ra trên đỉnh núi, nên ông được đặt tên là Yahpang Kyes (“Sinh Ra tại Dải Phân Cách Giữa Đá Phiến Và Cỏ”). Theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vũ trụ</span> học <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chư thiên</span> sống trên cao nhất trên đỉnh ngọn núi, trong lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con người</span> sống ở phía dưới.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Khon trong Giai Đoạn Có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Uy Quyền</span> Lớn</b></p>
<p style="text-align: justify;">Bản <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mô tả</span> của Konchog Lhundrup <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span>:<br />
Sau đó, giết chết người Srinpo tên là Kyareng Khragmey và<br />
cướp vợ ông ta, Yahdrum Silima,<br />
Ngài [Yahpang] lấy cô làm vợ.<br />
Họ có một con trai tên Khonpar Kye.<br />
Con trai của Khonpar Kye và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phu nhân</span> Chambu Dron của Chan,<br />
đẹp trai và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thông tuệ</span>, hiếm có trong xứ sở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con người</span>.<br />
Tên là Khonpa Jegung Tag,<br />
Ngài được biết như Khonton Palpoche, người đã đến Nyantse.</p>
<p style="text-align: justify;">Yahpang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đánh nhau</span> với một Srinpo tên Kyareng, giết chết ông ta và cưới vợ của ông ấy. Bởi vì sự hợp nhất của họ sinh ra đứa con của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mối thù</span> hận giữa trời (lha) và quỷ (srin po), đứa bé được đặt tên là Khonpar Kye (“Sinh ra trong mối Hận thù”) đây là nguồn gốc của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu</span> thị tộc Khon.</p>
<p style="text-align: justify;">Khonpar Kye, con của trời, người, và quỷ, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lập gia đình</span> với một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phu nhân</span> từ một bộ trời thấp hơn của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, Tsan. Tên bà là Chambu Dron. Con trai của họ được gọi là Khonton Palpoche (Vị Thầy Khon làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Gia Tăng</span> Tài Bảo”) vì sau khi được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bổ nhiệm</span> thành một trong những bộ trưởng thân cận của triều đình vua Trisong Detsan, ông đã làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia tăng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tài sản</span> cho nhà vua.</p>
<p style="text-align: justify;">Khonton Palpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lập gia đình</span> với Lang Zang Nechung, em gái của dịch giả Lang Khampa. Bản <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mô tả </span>thay đổi khác nhau là họ có hai hay bốn con trai, nhưng phần lớn những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> sau này tin rằng là có hai; người anh là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại học giả</span> Khon Lotsawa Lu’i Wangpo, và người em là Khon Dorje Rinchen. Ngài Jetsun Dragpa Gyaltsen chú thích trong Biên niên sử về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dòng dõi</span> Khon (‘khon gyi gdung rabs), “Khon Lu’i Wangpo Srungs là người đầu tiên trong bảy người được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thử thách</span>.4 Em trai của Khon Dorje Rinchen <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của bậc Thầy Padmasambhava và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> một tantrika”.</p>
<p style="text-align: justify;">Khon Lu’i Wangpo được thụ phong bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát</span> Shantarakshita và được ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu</span> Nagendrarakshita (Lu’i Wangpo Srungs). Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> một dịch giả khéo léo, làm việc đầu tiên với những dịch giả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ </span>Devachandra, Jnanagarbha, và Vidyakarasimha, và nhận được những hướng dẫn từ Đức Padmasambhava (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Liên Hoa Sanh</span>).</p>
<p style="text-align: justify;">Người con trai nhỏ hơn, Khon Dorje Rinchen, là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> trực tiếp của bậc Thầy Padmasambhava; Ngài nhận được nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Mantra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bí mật</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rèn luyện</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> tất cả dạng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span>. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lập gia đình</span> với một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phu nhân</span> của Dro, Yanglon Kyid, và họ có bảy con trai.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm anh em rời khỏi nhà họ ở Nyantse và sinh sống trong nhiều vùng khác nhau ở phía tây của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, nhưng người nhỏ nhất ở lại xứ sở của cha mình. Người con trai thứ sáu, Sherab Yontan, sinh sống ở Thung lũng Yah. Ông có hai con trai, và người con trai lớn, Yontan Jungney là người nắm dòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền Giáo</span> Pháp của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tổ tiên</span> Khon truyền lại.</p>
<p style="text-align: justify;">Yontan Jungney có ba con trai, và người con lớn nhất, Tsultrim Gyalpo ở lại Drompa và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>. Ông cũng có ba con trai: người con cả và con út ở lại Thung lũng Yah. Người em giữa tên là Tsugtor Sherab, hay Dorje Tsugtor và ông có bảy con trai.. cùng với người em của Tsugtor Sherab, họ được biết như Nhóm Tám người của Khon.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Anh cả</span> của bảy anh em, Gethong có một con trai gọi là Khon Balpo, đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Vajrakilaya ở hang động Tsamo Rong. Ông <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> và dùng mười hai Tenma như những người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phục vụ </span>ông.</p>
<p style="text-align: justify;">Con trai của Khon Balpo là Sakya Lodro, người cai quản Thung lũng Jyaru, vùng thượng và hạ của Shab, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tổ tiên</span> giữ Thung lũng Yah. Ông có hai con trai: Khonrog Sherab Tsultrim và Khon Konchog Gyalpo. Người con cả, Sherab Tsultrim thọ nguyện của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">độc thân</span>; hạnh của ông <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span>, và ông không có con. Ông thật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiện xảo</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tổ tiên</span> Khon và đạt các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> của Vajrakilaya. Ông <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năng lực</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phi thường</span> và khả năng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span> những phép <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">huyền diệu</span>, ông <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên thâm</span> cả hai tantra mới và cổ xưa. Đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Yangdag và Vajrakilaya, Sherab Tsultrim đạt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> và có thể phô bày <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năng lực</span> của ông đến các vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hộ pháp</span> Karmo Nyida và Dudgon.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Nền Tảng của Sakya</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Câu chuyện</span> về phái Sakya (sa skya) bắt đầu với Ngài Khon Konchog Gyalpo (1034-1103 <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sau công nguyên</span>), <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban đầu</span> được biết như Khon Sakyapa. Sinh ra trong năm con chó đực gỗ (tuất mộc), Ngài nhận được các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và hướng dẫn của cha và anh trai ngay từ thời niên thiếu, và Ngài trở nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiện xảo</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tổ tiên</span> Khon truyền lại.</p>
<p style="text-align: justify;">Có lần, khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan tâm</span> cao độ vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> tantric mới, Khon Konchog và anh Ngài, Sherab Tsultrim đến hội chợ trong Thung lũng Dro. Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lễ hội</span>, nhiều vị Ngagpa mặc trang phục và mang những đồ dùng của hai mươi tám Ishvaris,5 <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span> một vũ điệu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết hợp</span> với Mamo Ekajati.6 Họ được đệm theo với trống và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span> giữa đám đông. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chứng kiến</span> điều này, Khon Konchog Gyalpo nói với anh, “Giờ đây Mantra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bí mật</span> đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư xử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lạc</span>. Từ giờ trở đi vì những dấu hiệu của việc đạt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu </span>trong phái Nyingma sẽ rất hiếm, tôi sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">che dấu</span> ba quyển sách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sử dụng</span> như kho tàng.” Mặc dù muốn dấu tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>, Ngài đã lập nguyện với các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hộ pháp</span> giữ Ngài khỏi việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">che dấu</span> Yangdag và Vajrakilaya. Sau này, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế hệ</span> Khon đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kế tục</span> những bản văn này như các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> chính của họ và vẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> torma (bánh bột) cho Dharmapala (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hộ Pháp</span>) Karmo Nyida và Dudgon.</p>
<p style="text-align: justify;">Sherab Tsultrim nói, “Ta là một người già. Nhưng vì ngươi còn trẻ, ngươi nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rèn luyện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống</span> mới của Mantra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bí mật</span>. Ngài Drogmi Sakya Yeshe bây giờ là vị thầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> nhất, vậy hãy nhanh chóng đi đến Ngài.”</p>
<p style="text-align: justify;">Khon Konchog Gyalpo đã nhận được nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> từ các vị dịch giả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đứng đầu</span> của thời Ngài, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trước tiên</span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> Hevajra và tantra từ Ngài Khyin Lotsawa, và khi Khyin Lotsawa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span> sau này, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> cao hơn được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> từ Drogmi Lotsawa, Khon Konchog Gyalpo dâng cúng mười bảy con ngựa quý, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dược thảo</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">châu ngọc</span>, và còn nữa cho Drogmi, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> từ Sung Ngag Rinpoche (“Những Hướng Dẫn Miệng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quý Báu</span>.”), hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> đền đáp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con đường</span> và Kết quả.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài cũng nhận được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Guhyasamaja từ Oddiyana Pandita Guhyaprajna, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Chakrasamvara từ Mal Lotsawa, và còn nữa. Ngài cũng có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> vào các vị thầy khác như Bari Lotsawa, Putrab Lotsawa, các anh em Namkau, Khon Gichuwa, và Kyura Aseng, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thông thạo</span> tất cả các tantra cũ và mới.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó Ngài xây một điện thờ cho cha và anh Ngài ở Jagbasin trong vùng Zhang. Bên cạnh đó, Ngài đặt một cây (acacia) kilaya để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban phước</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kế tiếp</span> Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> nhỏ trong Thung lũng Trawo (bây giờ được biết như Sakya Ruins) và cư trú ở đó vài năm.</p>
<p style="text-align: justify;">Một ngày nọ, Khon Konchog Gyalpo và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> đi chơi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiêu khiển</span>. Nhìn từ ngọn núi đã đi qua, Ngài thấy Núi Ponpori nhìn giống như một con voi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nằm nghiêng</span>; bên phải của nó màu trắng, có những đốm sáng chói, như nước chảy xuống và nhiều dấu hiệu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cát tường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tốt đẹp</span> khác. Ngài nghĩ, “Nếu xây một chùa ở đây, sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao la</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>.”</p>
<p style="text-align: justify;">Chủ nhân của khu đất, Jowo Dong Nag, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho phép</span> Ngài được xây chùa. Sau đó Khon Konchog Gyalpo hỏi Gurab (chủ nhân của vùng Zhang Zhung), bốn chính quyền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span>, và bảy chính quyền của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần thánh </span>và người, liệu họ có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phản đối</span> việc xây chùa hay họ muốn bao nhiêu. Tất cả họ đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trả lời</span>, “chúng tôi không cần trả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bồi thường</span>. Xin hãy xây chùa của ông.”</p>
<p style="text-align: justify;">Vị thầy nói, “Ngôi chùa phải được những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế hệ</span> sau <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chấp nhận</span>,” và Ngài đặt giá một con ngựa cái trắng, một vòng cổ bằng ngọc, một bộ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">y phục</span> quý của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phu nhân</span>, và còn nữa để phân phát giữa họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Khon Konchog Gyalpo là người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng lập</span> đầu tiên của Sakya. Ngài đẩy mạnh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rộng rãi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> của Drogmi, giảng dạy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> cho nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span>, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span> ở Gorum khi Ngài sáu mươi chín tuổi giữa nhiều dấu hiệu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lạ kỳ</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Năm bậc Thầy nền tảng của Sakya</b></p>
<p style="text-align: justify;">Trong sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công bố</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiên tri</span> từ Dòng Truyền Miệng của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Không Gian</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trong Sáng</span> của Dakini [klong gsal mkha’ ‘gro snyan brgyud], Đức Guru Rinpoche trình bày,</p>
<p style="text-align: justify;">Kunga Nyingpo, Sakya Lotsawa,<br />
Sonam Tsemo, Dragpa Gyaltsen,<br />
những thân lưu xuất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát</span> của ba gia đình  sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> ở Tsang...<br />
Sau khi Sakya Lotsawa được gọi tên Kunga,<br />
và người có tên Phagpa đến,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con người</span> và những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> sẽ được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mạnh khỏe</span>.<br />
Họ sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đức Phật</span> trong năm mươi năm,<br />
Những thân lưu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> nay của Manjusri.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự ra đời của gongma nga (“năm vị tổ sáng lập”) đã được nhiều vị thầy tiên đoán <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> Ngài Atisha.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Sachen Kunga Nyingpo </b>(1092-1160 C.E.∙)</p>
<p style="text-align: justify;">Vị tổ đầu tiên của năm vị tổ là Sachen Kunga Nyingpo. Ngài Khon Konchog Gyalpo không thể có con trai với người vợ đầu tiên, Dorje Chugmo. Khi năm mươi lăm tuổi, Ngài theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời khuyên</span> của Kha’u Chenpo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span> lấy người vợ thứ hai, Machig Zhangmo, con gái của chủ nhân vùng Zhang Zhung. Do <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vận may</span>, họ có một con trai trong nam con khỉ đực nước (thân thủy-1092) giữa nhiều dấu hiệu lạ thường. Họ đặt tên ông là Sakyapa Chenpo Kunga Nyingpo.</p>
<p style="text-align: justify;">Sachen Kunga Nyingpo là một lưu xuất của Avalokiteshvara. Điều này đã được vị tổ vĩ đại Nam Kha’upa Chenpo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xác nhận</span>, Ngài trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chú tâm</span> một điểm trong tánh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quang minh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong sáng </span>đã thấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm thức</span> sinh ra của Sachen trong một lều bằng cầu vồng trong bầu trời trên thung lũng Machig Zhangmo. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tâm thức</span> khoác vẻ ngoài của Kasarpani, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân tướng</span> hai tay của Avalokiteshvara, do vậy vị tổ hiểu rằng một lưu xuất của Avalokiteshvara sẽ được sinh ra trong thị tộc Khon. Vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lý do</span> này, Ngài khuyến khích Khon Konchog Gyalpo lấy vợ lần thứ hai.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ lúc còn nhỏ, Sachen có thể đọc và tính toán. Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> những bản văn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên thâm</span>, và Ngài hiểu được đàn ông, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phụ nữ</span>, loài vật, các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính chất</span> của ngọc, trò chơi, chữa bệnh, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">văn phạm</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thi ca</span>, luận văn, và còn nữa. Vì những phẩm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính thông</span> minh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bình thường</span>, Ngài đã làm nhiều người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Những phẩm tính hiếm thấy của Ngài là vô hạn và được chia thành hai phần trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiểu sử</span>: những phẩm tính về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rèn luyện</span> và những phẩm tính về sự thấu suốt.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> Hevajra đầu tiên từ cha, cha Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span> khi Ngài được mười một tuổi. Sau đó, theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời khuyên</span> của mẹ Ngài theo học với Bari Lotsawa, cũng là một trong các guru của cha Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Bari Lotsawa khuyên Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> sadhana (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi quỹ</span>) của Manjushri Arapacana. Trong lúc làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> này, Ngài gặp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chướng ngại</span> do <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh linh</span> Pekar gây ra, nên Bari Lotsawa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban cho</span> Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành </span>của Acala cùng với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo vệ</span> nước. Sau khi dẹp yên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chướng ngại</span>, Sachen <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành </span>sáu tháng và có một linh kiến trực tiếp về Đức Manjushri. Trong lúc có linh kiến này Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Rèn luyện</span> Tâm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> của Sakya “Từ bỏ Bốn Bám Luyến,” trong đó, các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan điểm</span> cốt tủy của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> Mahayana được thấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>. Vào lúc đó, Ngài cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> các Dharani (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chân Ngôn</span>) không thể quên và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> phân tích <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô song</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi được mười hai tuổi, Ngài đến Rong Ngur Mig, ở đó Ngài học Abhidharmasamucaya với vị thầy Drangti Tharma Nyingpo. Sachen đã để lại dấu tay trên đá tại đây mà hiện nay vẫn còn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tồn tại</span>. Sau khi Drangti <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span>, Ngài học luận lý và Madhyamaka (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Đạo</span>) với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của Ngài Drangti, Khyung Rinchen Trag, ở Nyang thượng.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở về</span> với Bari Lotsawa, Ngài nhận được nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>, như hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống</span> chính của Guhyasamaja, Krishnayamari, và ba tantra của vòng Hevajra. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kế tiếp</span>, Ngài đến học với đại Khon Gyichu Dralha Bar, từ vị này Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> ba tantra của Hevajra, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> về các bài ca của tám mươi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bốn đại</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu giả</span> và các hướng dẫn khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Như thế, vào tuổi hai mươi chín, Ngài đã học với nhiều bậc thầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đứng đầu</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> vào thời Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Chuyện kể về buổi gặp gỡ với vị guru gốc của Ngài, Zhangton Chobar, khi Sachen được hai mươi chín tuổi đã được người khác tường thuật đầy đủ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chi tiết</span>.8 Từ vị guru này, Ngài nhận được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> của bậc thầy về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con đường</span> Lamdre và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Kết quả, Ngài đã giữ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span> những hướng dẫn ở Zhangton trong mười tám năm.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Sachen bốn mươi bảy tuổi, Ngài bị đầu độc trong khi cư trú ở Gunthang, và đã quên mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp </span>Ngài biết, Ngài ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một mình</span> tách biệt một số lần, dâng cúng khẩn cầu đến guru Ngài, và có thể nhớ lại một câu kệ ở nhiều nơi.</p>
<p style="text-align: justify;">Guru của Ngài, Je Gonpa,9 <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> trong giấc mơ của Ngài và dạy mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> mà Ngài đã quên, do vậy Sachen có thể nhớ lại mọi thứ. Sau điều này, Ngài nhận được nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> hơn từ mahasiddha (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại thành tựu giả</span>) Virupa, từ đó Ngài viết ra những bài ca <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tán thán</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span>. Điều này minh họa dòng truyền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span> hiếm có của Lamdre, vì Sachen đã nghe tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> trực tiếp từ Virupa trong thân người.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau điều này, Ngài bắt đầu dạy Lamdre cho những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> tuyển chọn và viết ra các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bài kệ</span> Vajra, mà trước đây chỉ được ban trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> miệng.</p>
<p style="text-align: justify;">Những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác phẩm</span> được sưu tập từng phần của Sachen làm thành ba bộ trong Sakya Kabum và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm </span>một luận giảng quan trọng về tantra gốc đầy đủ Laghusamvara của vòng Chakrasamvara, được gọi là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chuỗi Ngọc</span> Trai (mu tig phreng ba), và nhiều bản văn khác tập trung vào những khía cạnh khác nhau về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lý thuyết</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Vajrayana. Trong một tuyển tập tách biệt, Ngài đã viết mười một luận giảng về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con đường</span> và Kết quả, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> nhất trong đó là luận giảng Nyagma (nyags ma) và Sey Donma (sras don ma).</p>
<p style="text-align: justify;">Thêm vào những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> này, Sachen là một bậc thấu suốt cao độ và đã phô diễn nhiều dấu hiệu của sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong suốt</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span> Ngài. Nói chung, tâm Ngài đã thấm nhập lòng bi và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng từ</span> ái. Như đã nhắc đến, Ngài đã thấy Manjushri trong thân người và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trang nghiêm</span> của Acala và Arya Tara.</p>
<p style="text-align: justify;">Sachen Kunga Nyingpo là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> vĩ đại, người chưa từng tách rời hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giai đoạn phát triển</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span>, dấn thân vào bốn cách thức làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> đang sống <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> lúc Ngài sáu mươi bảy tuổi. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span> đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi tịnh</span> độ trong chu trình thứ ba của sáu mươi năm, vào ngày mười bốn của Asvina (tháng mười) trong năm con cọp đực đất (dần thổ). Vào lúc đó, thân lưu xuất của Ngài ở cả bốn nơi: <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi tịnh</span> độ Dewachen, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tịnh độ</span> Potala, Oddiyana, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế giới</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vàng Ròng</span> ở phương bắc.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiên tri</span> của Lama Zhang, Sachen có ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> đạt siddhi (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tất địa</span> - <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span>) trong lúc họ trong thân người. Ngài có bảy hay mười một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> Jetsun Dragpa Gyaltsen, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt đến</span> giai đoạn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhẫn nhục </span>của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ứng dụng</span> (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia hạnh đạo</span>), và mười lăm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> Loppon Sonam Tsemo, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được </span>đại nhiệt trên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ứng dụng</span>. Ba mươi mốt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của Ngài, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> Kyara Akyabs, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được </span>nhiệt trung bình, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> Khampa Aseng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tri kiến</span> của những dấu hiệu và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> siddhi an trụ trong nhiệt nhỏ.</p>
<p style="text-align: justify;">Sachen Kunga Nyingpo cưới hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phu nhân</span> và có bốn con trai. Người con trai đầu tiên, Kunga Bar sinh ra với người vợ trẻ nhất của Ngài, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phu nhân</span> Cxhamphurmo. Kunga đi đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> nhưng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span> ở Magadha khi hai mươi hai tuổi.ba con trai khác của Sachen được sinh ra với người vợ khác, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phu nhân</span> Machig Woedrn. Người lớn nhất là Sonam Tsemo sinh ra khi cha Ngài được năm mươi lăm tuổi. Con trai thứ hai, Dragpa Gyaltsen sinh ra sau năm năm, và người trẻ nhất, Palchen Woedpo, sinh ra sau đó ba năm. Người sau này được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đào tạo</span> thành <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bác sĩ</span> và là cha của Sakya Pandita lừng danh, Kunga Gyaltsen.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Lopon Sonam Tsemo</b> (1142-1182 C.E.)</p>
<p style="text-align: justify;">Như đã trình bày, Sonam Tsemo sinh ra bởi Sachen và Machig Woedron trong năm con chó đực nước (tuất thủy). Ngay khi Ngài sinh ra, chư dakini viết, “Sonam Tsemo, Thân lưu xuất của Manjushri, đã sinh ra tại Sakya” trên cổng của Vajrasan tại Bodh Gaya (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Đề Đạo Tràng</span>) ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Sonam Tsemo rất đẹp trai, và người ta nói rằng sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư xử</span> của Ngài vượt lên tất cả trẻ con. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngồi xếp bằng</span> mọi lúc. Khi được mười hai tuổi, Ngài thấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vẻ mặt</span> của các bổn tôn Hevajra, Manjushri, Tara, và Acala. Ngài giảng dạy ba tantra của Hevajra, Laghusamvara và Jnanasarasamucaya từ ký ức. Ngài cũng nhớ lại mười một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> của Ngài, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> trong đó là bậc thầy quan trọng của dòng truyền Dombhi Heruka Lamdre, Ngài Durgacandra.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi được mười bảy tuổi, Sonam Tsemo dạy bốn phần tantra từ ký ức, và Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> khắp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> như một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> của tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Vajrayana (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương Thừa</span>). Ngài học tất cả vòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý </span>Vajrayana của cha Ngài và thấu suốt chúng trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong năm 1161, năm sau khi Ngài Sachen <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span>, Sonam Tsemo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giao phó</span> ngai của Sakya cho em trai Jetsun Dragpa Gyaltsen được mười ba tuổi, và đi đến Sangphu để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> học với nhà luận lý và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại học giả</span> Chapa Chokyi Senge. Ngài học ở đó mười một năm, học <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">văn phạm</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lý luận</span>, Madhyamaka, sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">văn chương</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span>; Ngài trở nên rất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủ đề</span> này.</p>
<p style="text-align: justify;">Có lần, khi giảng dạy Lamdre ở Utse Nyingpo, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lần lượt</span> như Manjushri, Virupa, và Avalokiteshvara đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiến thanh</span> tịnh của các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> Jepa, Zhujya, và Mogton. Ngài là một bậc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> những phẩm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span> thể nghĩ bàn.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong số các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác phẩm</span> chính của Ngài là một luận giảng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chi tiết</span> về Samputatantra; luận giảng về Bodhicharyavatara được biết sớm nhất ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>; và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giới Thiệu</span> Chung về những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phân Chia</span> của Tantra (rgyud sde spyi rnams) có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảnh hưởng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> về sau, sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới thiệu</span> bộ ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lý luận</span> về ba luận giảng bao hàm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn diện</span> của Ngài được viết trên nền tảng nguyên văn của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống</span> Lamdre (hai phần sau được em trai Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn tất</span>, Jetsun Dragpa Gyaltsen, sau khi Sonam Tsemo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span>).</p>
<p style="text-align: justify;">Lopon Sonam Tsemo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính thức</span> giữ ngai của Sakya trong mười ba năm, từ tuổi mười bảy đến ba mươi, vào lúc đó Ngài chuyển qua cho em, Dragpa Gyaltsen.</p>
<p style="text-align: justify;">Như một dấu hiệu đại thấu suốt của Ngài, khi được bốn mươi tuổi, Lopon Sonam Tsemo biểu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện thân </span>cầu vồng – thân của ánh sáng vajra – tiếng nhạc và mùi hương <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dễ chịu</span> trong lúc giảng dạy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp </span>trên một ngai giữa tập thể tám mươi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span>. Những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> này đã phát triển <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> vào ngày mười một của tháng mười một năm con cọp đực nước (1182).</p>
<p style="text-align: justify;">Một người thường <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">suốt đời</span> sống <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">độc thân</span>, Lopon Sonam Tsemo chẳng để lại người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thừa kế</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Jetsun Dragpa Gyaltsen</b> (1147-1216 C.E.)</p>
<p style="text-align: justify;">Ngay trước lúc Dragpa Gyaltsen sinh ra, một vua Naga (Rồng) <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giấc mộng</span> của mẹ Ngài. Cậu bé được sinh ra giữa những điềm báo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cát tường</span> trong năm con thỏ lửa (mẹo hỏa). Ngài bắt đầu nói chuyện lúc tuổi còn nhỏ và thường thích dùng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một mình</span>, không bám luyến mạnh mẽ, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh tấn </span>trong việc phát triển những phẩm tính, và vượt lên những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> trẻ con.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi tám tuổi, Ngài thọ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyện hành</span> giả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">độc thân</span> từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát</span> Dawa Gyaltsen, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đức hạnh</span> của Ngài được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn kính</span> hơn những người cùng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thọ giới</span>. Nói chung, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chưa bao giờ</span> uống rượu hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ăn thịt </span>ngoài các chất liệu samaya trong những bữa tiệc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span>. Có lần Ngài kể lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chi tiết</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giấc mộng </span>trong đó Ngài rất khao khát uống rượu, nhưng Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quyết định</span> rằng điều này là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> của mara nên Ngài đã kiêng không uống. Sau đó, Ngài không còn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thèm muốn</span> nó, nên rượu và thịt chẳng bao giờ Ngài chạm môi trong cuộc sống hàng ngày.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiếp nhận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi quỹ</span> Saroruhavajra của Hevajra khi Jetsun Rinpoche được mười một tuổi, một năm sau, Ngài ban một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thuyết giảng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chi tiết</span> về nó và tất cả ai nghe Ngài đều có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ấn tượng</span> rất mạnh. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ngoài ra</span>, khi mười hai tuổi Ngài nằm mơ khẩn cầu ba tantra của Hevajra, sau đó Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> thấu đáo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thật tánh</span> của mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện tượng</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi cha Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span>, Dragpa Gyatsen được mời ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> tại một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">buổi lễ</span> hội lớn về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Một lần</span> nữa Ngài gây <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ấn tượng</span> cho nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> với sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> về Hevajra-tantra.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài nhận được nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> từ cha Ngài, Sachen Kunga Nyingpo. Như người giữ ngai của Sakya, Ngài cũng nhận được nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> từ những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> như Nyan Tsugtor, Zhang Tsultrim Drag, Nyan Wangyal, Nepali Jayasena, và Lotsawa Palchog Dangpo Dorje. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thực hành</span> hàng ngày của Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> đầy đủ bảy mươi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mạn đà la</span>. Chẳng hạn, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Hevajra trong lúc đưa Ngài lên ngai khi giảng dạy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>. Trong cách đó, Ngài chưa từng tách rời thân, khẩu, và ý của Ngài khỏi hai giai đoạn phát sinh hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Về mặt khả năng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải nghĩa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>, không có luận thư nào quá khó với Ngài để làm cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dễ hiểu</span>, và khi Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giảng giải</span> ngay cả những bản văn khó nhất, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của Ngài đều thấy rất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dễ hiểu</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tương tự</span>, Ngài có khả năng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">loại bỏ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi ngờ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lạc</span> với những người mà Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tranh luận</span>, vì những trả lởi của Ngài luôn luôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phù hợp</span> hoàn mãn với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Jetsun Dragpa Gyaltsen đã viết nhiều luận giảng quan trọng. Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn tất</span> bộ tam <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lý luận</span> bắt đầu bởi anh Ngài, một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> đầy đủ về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> nền tảng, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span>, và kết quả của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Hevajra được gọi là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cây Như ý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quý báu</span> (rin po che ljong shing). Bản văn này vẫn giữ vững <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lập trường</span> như sự trình bày xác quyết của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan điểm</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> của Sakya, và nó là một trong những viên ngọc quý thật sự của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Sakya. Ngài cũng viết luận giảng xác quyết của Sakyapa về Hevajra-tantra, Được Phú Bẩm Với Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thanh Tịnh</span> (dag ldan). Hai bản văn này cùng với Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giới Thiệu</span> Chung Về Các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phân Chia</span> Của Tantra của Ngài Lopon Sonam Tsemo, hình thành cốt tủy sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý </span>Vajrayana của phái Sakya. Một cách tổng quát, chúng được xem là sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bình luận</span> đầy đủ của dòng truyền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải nghĩa</span> Dombhi Heruka về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con đường</span> và Kết quả, như sự đối nghịch với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> hướng dẫn sâu sắc truyền xuống qua Krishnapa. Dragpa Gyaltsen cũng viết một luận giảng đầy đủ về Vajrapanjara-tantra, nên Ngài và anh trai đã góp phần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn tất</span> những luận giảng về ba tantra chính của phái Sakya – Hevajra, Vajrapanjara, và Samputa.</p>
<p style="text-align: justify;">Jetsun Rinpoche cũng viết những sadhana <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chi tiết</span> và các sách giáo khoa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống </span>Khon Vajrakilaya, và Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> các hướng dẫn miệng của Đức Padmasambhava <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban cho</span> Yeshe Tsogyal được truyền xuống trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Khon về Vajrakilaya. Một vòng các bản viết quan trọng khác của Ngài là Kho Tàng của Vua về Vòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trị Liệu</span> Y Khoa (gso dpyad rgyal po’i skor mdzod), bao trùm mọi khía cạnh về nghệ thuật chữa lành bệnh và luận thư quan trọng về y học <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> này còn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tồn tại</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> ngày nay. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cuối cùng</span>, Ngài đã soạn thảo bản <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mô tả</span> sớm nhất của những vị vua <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, bắt đầu với Nyatri Tsanpo.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung, các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác phẩm</span> sưu tập của Ngài hình thành bốn bộ. Với những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác phẩm</span> thêm vào đã được đưa ra ánh sáng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gần đây</span>, Ngài đã soạn thảo khoảng gần năm bộ đầy đủ về các luận giảng, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi quỹ</span>, và những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác phẩm</span> về tất cả thể loại khác nhau.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói riêng, Jetsun Rinpoche đã viết một số bài ca <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa trên</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span>, cũng được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới thiệu</span> trong sách này, được xuất bản lần đầu bởi Manjushri Báo trong chuỗi Thị Kiến. Các bài ca này là kho báu lớn của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Sakya, nhất là Bài Ca Vĩ Đại của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kinh Nghiệm</span> (nyams mgur chen mo), trong đó Ngài Jetsun Rinpoche trình bày <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thâm sâu</span> nhất về Kiến và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp </span>của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, kiến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên thâm</span> về tánh tự-giải thoát của rigpa, và vị của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> nội tại về một trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> vĩ đại nhất của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài biểu hiện nhiều dấu hiệu của sự thấu suốt cao cấp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong suốt</span> đời và qua những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giấc mộng</span> của Ngài. Ngài được nhiều bổn tôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban phước</span>, và được sự thấu thị (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiên tri</span>); ngay cả những vị trời, rồng đều đến với Ngài để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xóa bỏ</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi ngờ</span> của họ. Ngài có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> như thế nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức </span>vị guru gốc của Ngài không khác với Phật Vajradhara (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương</span> Trì), và khi cùng với các vị thầy mình, Ngài làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hài lòng</span> các vị bằng việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thành</span> các nhu cầu về thân, khẩu, và ý của các vị và không bao giờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham gia</span> nói chuyện <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô nghĩa</span> về các vị thầy. Khi guru của Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span>, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiêu dùng</span> mọi thứ Ngài có, không bám luyến để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> v.v... Ví dụ, Ngài xây một điện thờ được biết là Utse Nyingma. Ngài cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công trình</span> kỷ niệm cho ông nội, cha và anh trai Ngài, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đều đặn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> một trăm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngọn đèn</span> phía trước mỗi nơi.</p>
<p style="text-align: justify;">Jetsun Rinpoche có nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> trong những giấc mơ của Ngài. Khi hai mươi tuổi, trong lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chợp mắt</span> Ngài nằm mơ thấy đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tụng niệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bài kinh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cầu nguyện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hồng danh</span> Đức Manjushri (Manjushri-namasamgiti); Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thức giấc</span> mà vẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tụng niệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản kinh</span>. Hơn hai năm sau đó, Ngài có một số <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giấc mộng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương tự</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên quan đến</span> các kiếp sống trước của Ngài ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Ngài năm mươi lăm tuổi, trong năm con chó đực lửa (tuất hỏa), Ngài có một giấc mơ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> quan trọng về tánh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quang minh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong sáng</span>, trong đó Ngài Sachen Kunga Nyingpo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban cho</span> Ngài dòng truyền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con đường</span> và Kết quả, khai thị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng tỏ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biểu tượng</span>:</p>
<p style="text-align: justify;">Tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> ta dạy cho con đều được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> ở đây:<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thật tánh</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bồ đề tâm</span>,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp tánh</span> bổn nguyên, được làm thành chỗ ngồi của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span><br />
Giữ chặt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên tố</span> gió,<br />
và phát triển tốt sức nóng của lửa với tumo.<br />
Dòng chảy của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bồ đề tâm</span> phải <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi vào</span> kinh mạch trung ương<br />
và còn nữa, để đem các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên tố</span> chịu dưới sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiểm soát</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thực tế</span> hóa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năm trí</span> tuệ,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất tử</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự thấu suốt của Jetsun Rinpoche cũng được nhà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiền triết</span> Kashmiri Sakya Sribhadra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công nhận</span>, người sau này đến Sakya <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong khoảng</span> năm 1208 và ban thụ phong về Sakya Pandita vào lúc đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào một dịp, vị đại Panchen tiên đoán có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhật thực</span>. Jetsun Rinpoche nói, “Xin đừng nói điều đó. Nó sẽ không xảy ra ngay bây giờ.” Vị pandita thấp hơn rất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bối rối</span>, nhưng sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">che khuất</span> không xảy ra. Jetsun Rinpoche đã ngăn chận nó bằng việc chặn lại gió <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">di chuyển</span> vào kinh mạch rasana và lalana và bằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">việc làm</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bồ đề tâm</span> đỏ và trắng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi vào</span> và hòa trộn vào kinh mạch trung ương. Panchen nói, “Lão <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span> đó sẽ làm bất cứ điều gì có thể chỉ để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng minh</span> ta sai. Chẳng có gì để nói thêm. Ta hiểu. Lão <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span>đó thật đáng tự hào.”</p>
<p style="text-align: justify;">Vào lúc khác, khi Jetsun Rinpoche đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> tại Zim Chil Karpo, vị đại Pandita, người sắp rời Sakya, đã hỏi Sapan, “Chú của ông đang làm gì?”</p>
<p style="text-align: justify;">Sapan <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trả lời</span>, “Ông ta đang trụ trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>.”<br />
Pandita nói, “Chúng ta nên đến và gặp ông ấy.”<br />
Đứa trẻ đáp, “Con sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi trước</span> tiên.”<br />
Nhưng vị Pandita đề nghị, “Hãy cùng nhau đi.”</p>
<p style="text-align: justify;">Do vậy họ đã đi cùng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">với nhau</span>. Jetsun Rinpoche đang làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tán thán</span> đến bổn tôn Guhyasamaja Ngài đã tạo ra ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trước mặt</span>. Ngài nghĩ rằng nên bày tỏ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn kính</span> đến khách, Ngài đứng lên để chào hỏi vị Pandita, có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý định</span> là đặt chuông và vajra lên bàn, nhưng chúng lại treo trong không trung.</p>
<p style="text-align: justify;">Vị đại Pandita nói, “Điều đó, thực sự gây <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh ngạc</span>,”</p>
<p style="text-align: justify;">Jetsun Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trả lời</span> khiêm tốn, “Điều này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> không có gì đáng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngạc nhiên</span> cả.”</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó vị Pandita <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đảnh lễ</span> Jetsun Rinpoche, nhưng vị pandita thấp hơn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phàn nàn</span> “việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đảnh lễ</span> dâng hiến đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span> là không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thích hợp</span>. Ngay cả dù ông đã làm, xin hãy đừng làm thêm.”</p>
<p style="text-align: justify;">Vị đại Pandita <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trả lời</span>, “Jetsun Dragpa Gyaltsen là vị Mahavajradhara thật sự. Ngài đã thấy mandala của Guhyasamaja.” Sau đó ông làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trang hoàng</span> đỉnh đầu Jetsun Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Jetsun Rinpoche cũng có thể giao tiếp với những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sinh linh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phi nhân</span>, chẳng hạn Ngài nói với hắc long Kunshe, “Ta muốn xây một điện thờ ở đây, vậy hãy lấy hết <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tài sản</span> của ngươi và đi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nơi khác</span>.”</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tìm kiếm</span> kỹ lưỡng, vị rồng đáp, “Tôi tìm khắp nơi, và cách một khoảng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không gian</span> nhỏ trên bờ biển, chẳng có chỗ nào chọn được.”</p>
<p style="text-align: justify;">Jetsun Rinpoche ra lệnh, “Vậy, hãy chọn một nơi nào đó.”</p>
<p style="text-align: justify;">Kunshe <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">than vãn</span>, “ Nếu tôi chỉ lấy vàng, chắc phải hàng ngàn năm,”</p>
<p style="text-align: justify;">“Tuy vậy, hãy ở đây và làm một số phòng,” vị tổ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">yêu cầu</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Vị rồng chuyển đi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nơi khác</span>, được dẫn dắt bởi Mon Dorje Raja và được Ngài Jetsun Rinpoche đẩy từ sau. Nơi ông ta cư trú là tàn tích của tảng đá hiện nay tại phía đông Ladrang. Sau đó Jetsun Rinpoche xây điện thờ mà Ngài gọi là Utse Nyingma.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Jetsun Rinpoche được sáu mươi mốt tuổi, Ngài có một giấc mơ ở trong một đồng cỏ. Một số <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phụ nữ</span>màu xanh dương nói với Ngài, “Hãy đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiên đường</span> của dakini, Khechari.”</p>
<p style="text-align: justify;">Jetsun Rinpoche hỏi, “Tại sao tôi phải đến Khechari? Vì chư Phật không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span> nào khác hơn là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích chúng sinh</span>, tôi không đi.”</p>
<p style="text-align: justify;">Có một tảng đá trắng, nhẵn phía trước Ngài, và họ thúc dục, “Hãy đến và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bước lên</span> và ông sẽ đến Khechari.”</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng Ngài không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bước lên</span> tảng đá.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào một buổi chiều tháng chín khi Ngài sáu mươi bảy tuổi, Sachen <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> được bao quanh bởi tám <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại Bồ Tát</span>; bên phải Ngài là là chín bổn tôn mandala Hevajra và bên trái là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đức Phật</span> Shakyamuni được bao quanh bởi tám vị Arhat, Kaudinya, và còn nữa. Sachen hỏi, “Nếu ngươi được thụ phong, vậy ai được thụ phong? Nếu ngươi nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, vậy ai nhận nó?”</p>
<p style="text-align: justify;">Jetsun Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trả lời</span>, “Nếu con đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thọ giới</span> và nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, bậc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp Vương</span> (Sachen) là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu viện</span>trưởng và bậc thầy của con.”</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài Sachen đáp, “Con đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu rõ</span> theo cách như nó là.”</p>
<p style="text-align: justify;">Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giấc mộng</span>, Jetsun Rinpoche có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">loại bỏ</span> nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi ngờ</span> của Ngài nhờ hỏi các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Một năm sau, nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sứ giả</span> linh thánh mời Ngài đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi tịnh</span> độ của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đức Phật</span> Amitabha, nhưng Ngài mời đi. Năm sau dù nhiều vị trời gửi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời mời</span> Ngài, không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tán thán</span> vũ trụ 10 Saha cũng không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tán thán</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi tịnh </span>độ, Ngài cũng không nghiêng về phía <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tịnh độ</span> cũng không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chán ghét</span> các cõi xấu. Ngài nói, “Những người không có sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo vệ</span> đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tin tưởng</span> ở tôi, do vậy tôi không đi,” và mời những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sứ giả</span> về.</p>
<p style="text-align: justify;">Những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sứ giả</span> nói, “Bằng mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương tiện</span> Ngài phải đi khi được bảy mươi tuổi,” và Ngài thấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi tịnh</span> độ Sukhavati. Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> của người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bình thường</span>, mặt đất rung chuyển, các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">âm thanh</span> được nghe, và nhiều ánh sáng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kỳ diệu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Một buổi chiều trong năm Ngài bảy mươi tuổi, một số người thấy tập hội các bổn tôn mời Ngài đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi tịnh</span> độ, và có nói rằng Sapan, cháu Ngài cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng kiến</span> điều này. Sáng hôm sau, Sapan đợi Jetsun Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện</span>, với đầu tựa vào dầu gối. Ông có một giấc mơ ngắn, trong mơ ông thấy một tập hội bổn tôn đến từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi tịnh</span> độ ngự trên những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tia sáng</span> tràn đầy bầu trời và bao quanh bằng các mạng lưới <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">châu báu</span>. Các Ngài mang một ngai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sư tử</span> khảm ngọc cùng với nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span>. Các Ngài nài xin Jetsun Rinpoche đến Sukhavati, và hình như vị thầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan tâm</span>. Các bổn tôn nói, “Hãy nhìn xem <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi tịnh </span>độ,” và làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biểu tượng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đảnh lễ</span>. Sapan thấy mặt đất được làm bằng ngọc bích, và có nhiều sự vật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đẹp đẽ</span> như cây làm bằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">châu báu</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào lúc đó, khi Sapan <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thức dậy</span>, đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> Bài Nguyện Bảy Chi và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> trên mandala của ông, Jetsun Rinpoche nói với Sapan, “Ta sắp đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi tịnh</span> độ,. Ta sẽ không ở đây lâu, vì sau đó ta sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàng đế</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">pháp giới</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế giới</span> Màu-Vàng ròng, như ta đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> với ông, và tịnh hóa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi Phật</span> của ta. Sau đó, trong hơn ba kiếp sống, ta sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối thượng</span> của Mahamudra trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một đời</span> không cần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> thân ta trong sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tùy thuộc</span> vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tùy thuộc</span> bổn nguyên của Mantra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bí mật</span>.”</p>
<p style="text-align: justify;">Do vậy, bậc thầy vĩ đại đã rời bỏ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế gian</span> này đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi tịnh</span> độ vào ngày mười hai tháng hai của người<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> trong năm con chim trống lửa (1216)</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Sakya Pandita Kunga Gyaltsen Palzangpo</b> (1182-1253 C.E.)</p>
<p style="text-align: justify;">Con trai út của Ngài Sachen, Palchen Woedpo có hai con trai với vợ ông, Machig Garphuma Nyitri Cham. Con trai lớn nhất là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp Vương</span> Sakya Pandita, tên là Kunga Gyaltsen. Khi mang thai Ngài, mẹ Ngài có một giấc mơ trong đó một vị rồng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">châu ngọc</span> nhìn bà với cái nhìn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trừng trừng</span> không thể chịu nổi và nói, “Tôi sẽ đến và ở với bà.” Sau đó bà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> xuất chúng của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>. Khi Ngài sinh ra ngày hai mươi sáu tháng hai năm con cọp đực nước (dần thủy), bầu trời tràn đầy ánh sáng. Cha Ngài lúc đó được ba mươi ba tuổi.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi Ngài sinh ra, do sự kích hoạt các dấu vết trước, Ngài có thể nói một số tiếng Phạn và nói tiếng<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> không cần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rèn luyện</span>. Ngài được sinh ra như một pandita ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> và được Đức Manjushri <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo vệ</span> trong hai mươi lăm kiếp sống.</p>
<p style="text-align: justify;">Về phần xác định <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span>, vị Kashmiri pandita Shakya Sribhadra nhận được một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiên tri</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên quan đến </span>Sakya Pandita từ Đức Tara. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bác sĩ</span> Biji, vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> Tsang Nag và những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cá nhân</span> khác đã thấy Ngài như thân lưu xuất của Manjushri, điều này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rõ ràng</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiểu sử</span> của Ngài. Về mặt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> tạm thời, Sakya Pandita có thể thấu hiểu mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phạm vi</span> học tập chỉ nhờ nghe chúng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một lần</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài thọ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyện hành</span> giả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">độc thân</span> từ người chú, Jetsun Dragpa Gyaltsen, và được ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu </span>Kunga Gyaltsen. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống</span> giới nguyện của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát</span> cũng như bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> của Mahayoga.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ cha Ngài, Sakya Pandita <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> Hevajra và được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> trong ba nguyện. Khi được mười tám tuổi, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Abhidharma (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">A Tỳ Đàm</span>) từ vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại học giả</span> Vasubhandu (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thế Thân</span>) trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quang minh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong sáng</span>, và Ngài thấu suốt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rõ ràng</span> từng chữ của bản văn. Vì thế, phái Sakya có một dòng truyền ngắn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> về Abhidharma vẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> hiện nay. Khi Sakya Pandita <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Abhidharma sau này từ vị pandita Shakya Sribhadra, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> nào khác biệt.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài cũng có một giấc mơ trong đó Ngài gặp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> Dignaga và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> những điểm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọng yếu</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô lượng</span> bản văn, và Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn trí</span> trong nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủ đề</span>, như luận lý. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> luận thư Maitreya từ Zhudon Dorje Kyab, vòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Lý luận</span> từ dòng truyền cổ về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lý luận</span> từ Majya Changston và Tsurton Zhon Seng. Ngài cũng nhận được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> về bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống</span> nguyên lý từ Tsegpa Wangchug Senge. Ngài được ban vòng Shijey của Ngài Padampa Sangye, Dzogchen, Chod, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Kadampa của Chiwo Lhepa Changchub Wod, và Ngài hiểu hết tất cả.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Ngài hai mươi ba tuổi, Sakya Pandita gặp một trong các vị thầy có tầm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảnh hưởng</span> quan trọng nhất, Kashmiri pandita Shakya Sribhadra, đi cùng là Sangha Sri, Sugata Sri, và Dana Sri. Ngài Sakya Pandita <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> năm khoa học <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lý luận</span> chính và phụ và còn nữa từ họ, và Ngài được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công bố</span> là pandita.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Sakya hai mươi bảy tuổi, Ngài nhận thụ phong đầy đủ (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thọ cụ</span> túc giới) từ Shakya Sri, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">pháp danh</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu viện</span> là Bhadra Sri (hay Palzang theo tiếng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>). <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trong khoảng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> này Ngài cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> đầy đủ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> bởi vị guru gốc và chú của Ngài, Jetsun Dragpa Gyaltsen. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đặc biệt</span> khi Sakya Pandita khẩn cầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên thâm</span> về guru yoga, Ngài thấy chú Ngài như Đức Manjushri trong thân người, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh hoa</span> của tất cả chư Phật, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu rõ</span> những điểm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọng yếu</span> của tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> không có sai sót, do vậy Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại định</span> và thấu suốt không thể nghĩ bàn.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài giảng dạy suốt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span> Ngài. Khi lên chín tuổi, Ngài đã dạy sadhana của Hevajra; lúc mười một tuổi dạy tantra của Hevajra và Buddhasamayoga, và lúc mười hai dạy Vajrapanjara và Samputa. Ngài chưa từng ngừng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giảng giải</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> khi Ngài bảy mươi tuổi.</p>
<p style="text-align: justify;">Một vị thuộc phái Vedanta của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vệ Đà</span> – Vệ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đàn Đà</span>) tên là Harinada cùng năm người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đồng hành </span>từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> đến để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tranh luận</span> với Sakya Pandita. Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tranh luận</span> thắng và cắt tóc của ông ta, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển hóa</span> ông và những người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi theo</span> sang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Sakya Pandita viết nhiều sách, bốn quyển quan trọng nhất trong những sách này là Kho Tàng của sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Suy Luận</span> (tshad ma rigs gter) cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lý luận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo Phật</span>; Làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trong Sáng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mục Đích</span> của Muni (thub pa’i dgongs gsal) cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> Mahayana; Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phân Biệt</span> Ba Giới Nguyện (sdom gsum rab phye) để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">loại bỏ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lạc</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Vajrayana; và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác phẩm</span> Ngài yêu thích nhất – mà phần lớn người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> ghi nhớ thuộc lòng nhiều phần – Kho Tàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quý Báu</span> của Lời Hùng Biện (legs bshad rin po che mdzod) đề cập đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đời sống</span> hàng ngày. Thêm vào đó, Ngài đã viết những luận thư quan trọng về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">văn phạm</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">âm nhạc</span>, y khoa, nghệ thuật, thơ ca, và những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủ đề</span> khác. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ngoài ra</span>, Ngài là một dịch giả khéo léo và đã chịu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trách nhiệm</span> cho lần xuất bản cuối về Pramanavarttika của Dharmakirti (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp Xứng</span>), cũng như các bản văn khác. Nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm thấy</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phiên dịch</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tác phẩm</span> chưa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hoàn thành</span> về Tantra Gốc Vajrakilaya (phur ba’l rtsa rgyud dum bu), đã được chính tay Đức Padmasambhava viết trên lá cây cọ, Sakya Pandita đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vững chắc</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giá trị</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiệu lực</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Vajrakilaya-tantra của phái Nyingma, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> do <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tổ tiên</span> truyền lại của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia tộc</span> Khon và là một trong các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> chính của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi sáu mươi tuổi, Ngài được mời đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span> bởi vị thủ lãnh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mông Cổ</span> Godon Khan. Ngài không thể từ chối <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời mời</span> thỉnh này, vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất phát</span> từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đe dọa</span> xâm lăng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>. Để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo vệ</span> người dân <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> từ người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mông Cổ</span>, mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gần đây</span> đã xâm lăng và đánh thắng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span>, Sakya Pandita và hai người cháu – Chogyal Phagpa chín tuổi, và Chagna, người em năm tuổi – bắt đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lên đường</span> đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span> trong năm 1244. sau chuyến đi trong năm năm, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuối cùng</span> họ đến triều đình khan ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span>, Ngài Sakya Pandita đã lưu lại ở đó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> cuối đời.</p>
<p style="text-align: justify;">Một trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự kiện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> và đáng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngạc nhiên</span> mà Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span> khi nhà vua mời Ngài đến một điện thờ ảo được tạo ra bởi thầy phù thủy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span>. Vị tổ đã làm cho điện thờ này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> thật qua <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năng lực</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> của Ngài, và điều này làm cho vua và triều đình có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọn vẹn</span> vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung, Sakya Pandita là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảnh hưởng</span> lớn nhất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong lịch sử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo Tây Tạng</span>. Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> một ngôi làng nhỏ cho việc học tập và cấp học bổng, và Ngài đã khởi đầu thời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàng kim</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo Tây Tạng</span>. Những luận thư của Ngài, dù có thể gây <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tranh luận</span> đến một số <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phạm vi</span>, đều được xem là có căn cứ đích xác trên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">các chủ</span> đề về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lý luận</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo</span> Vajrayana và Mahayana. Ngài biểu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện ra</span> ngoài những dấu hiệu của sự thấu suốt (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span>), như là ushnisha (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhục kế</span>) trên đỉnh đầu Ngài. Sau khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span> Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> một vị Phật được gọi là Vimala Sri trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thế Giới</span> Màu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vàng Ròng</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Drogon Chogyal Phagpa</b> (1235-1280)</p>
<p style="text-align: justify;">Drogon Chogyal Phagpa sinh ra giữa những dấu hiệu xuất chúng đến em trai Ngài Sakya Pandita, Zangtsa Sonam Gyaltsen (1184-1239), và vợ là Machig Kunkyi, trong năm con cừu cái gỗ (mùi mộc), lúc cha Ngài năm mươi hai tuổi. Ngài nhớ lại những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiếp trước</span> của Ngài như Saton Riwa, Langriwa, và những người khác. Chogyal Phagpa đã dạy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi quỹ</span> Saroruhavajra khi Ngài được ba tuổi, và Jatakas khi Ngài lên tám; khi chín tuổi Sakya Pandita dạy Ngài Hevajra-tantra. Để làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mọi người</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngạc nhiên</span>, Phagpa đưa ra một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải nghĩa</span> về Những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Lời Khuyên</span> Cho Sự Thu Thập <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tích Lũy</span> (Sambharaparikatha) của vị tổ Vasubhandu cùng năm đó, và niềm tự hào của các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> bị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">suy giảm</span> khi họ nghe sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> này từ một cậu bé. Nghĩ rằng một người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bình thường</span> không thể có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> như vậy, họ xem Ngài là một Arya (bậc Thánh). Vì thế, Ngài được tất cả biết đến như Phagpa, có nghĩa “Arya”†</p>
<p style="text-align: justify;">Vào lúc chín tuổi Ngài đến phía bắc để chăm sóc Sakya Pandita. Trong lúc ở Lhasa, Chogyal Phagpa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> thụ phong cho người mới tu (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sa di</span>) trước <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tượng Phật</span> Jowo, và ở Kyormo Lung, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận </span>nguyện Getsul từ Sherab Pal.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài dùng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hết thời</span> gian của Ngài để chăm sóc Sakya Pandita trong chuyến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du hành</span> và cu trú ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> lúc mười bảy tuổi, Chogyal Phagpa rời khỏi Mongolia (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mông Cổ</span>). Sakya Pandita rất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hài lòng</span> về Ngài vì đã thành thạo những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> bên ngoài và bên trong của Vajrayana, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban cho</span> Ngài một ốc xà cừ trắng để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyên thuyết</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> và một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bát khất thực</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giao phó</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> cho Ngài, vị tổ nói, “Đã đến lúc ngươi giảng dạy để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> cho nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>, và nhớ lại những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời hứa</span> của ngươi.” Sau đó Sakya Pandita <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span> vì đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thành</span> tất cả những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý định</span> của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Được Khan (Vua) của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mông Cổ</span> mời, Phagpa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> nhà vua bằng việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phép mầu</span>, như việc cho thấy một trong năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span> Phật một cách tách biệt bằng việc cắt rời năm chi của thân Ngài với một thanh kiếm bén. Bắt đầu với Khan, Chogyal Phagpa ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> Hevajra trên hai mươi lăm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> và đem Vajrayana đến vương quốc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mông Cổ</span>. Nhà Vua ban tước vị Tishri và mười ba vùng đất chung quanh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> như sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> của nhà vua.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào lúc hai mươi mốt tuổi, Chogyal Phagpa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thọ cụ</span> túc giới tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biên giới</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung quốc</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mông Cổ</span> từ vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu viện</span> trưởng Dragpa Senge, của Nyethang; bậc thầy về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> là Jodan Sonam Gyaltsen. Phagpa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> về Abhisamayalankara và những bản văn khác từ vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu viện</span> trưởng và về Vinaya (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giới luật</span>) từ bậc thầy của những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Hai năm sau, Ngài nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời mời</span> đến núi năm-đỉnh và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> về Yamari từ Tong Ton. Sau đó, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở về</span> cung điện của Khan, và khi một tập thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">triệu tập</span>, Ngài chiến thắng hai mươi ba vị thầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tranh luận</span> và cho họ thấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan điểm</span> đúng.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi ba mươi tuổi, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở lại</span> ngai của Sakya, mà Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vắng mặt</span> từ lúc chín tuổi. Ngài đã ban nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> ở đó; và cũng nhận được nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> về những khoa học bên ngoài, bên trong, một biển trao truyền và hướng dẫn từ Nyan Wod Srung, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu giả</span> Yontan Pal, Chim Namkhai Drag, Tsog Gom Kunga Pal, Lowo Lotsawa, Chiwo Lheypa Joo Sey, và các vị khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó, Ngài được Khan <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">triệu hồi</span> lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span> và đến đó khi Ngài ba mươi ba tuổi. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bổ nhiệm </span>mười ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị trí</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quản lý</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trách nhiệm</span> khác nhau và được dâng cúng phần còn lại của ba tỉnh ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> như một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự quán</span> đỉnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào lúc bốn mươi hai tuổi, lần thứ hai ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span> trong chín năm, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở lại</span> Sakya. Ngài giảng dạy một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp hội</span> lớn và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sử dụng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tài sản</span> của Ngài không giữ lại thứ gì, cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự kiện</span> này. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> nền tảng cho trường <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại học</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> và xây những điện thờ (chùa) thân, khẩu, và ý của chư Phật. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bố thí</span> cho tất cả người nghèo trong vùng và chỉ biểu hiện những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích cực</span> đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoằng Pháp</span> đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span>, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mông Cổ</span>; <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thọ giới</span> cho 450.000 người mới tu (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sa di</span>) và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thọ cụ</span> túc giới; ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> về Vajrayana trên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mọi người</span> của mười bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngôn ngữ </span>khác nhau. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ngoài ra</span>, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự giải thoát</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chín muồi</span> qua sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban phước</span> của trao truyền và hướng dẫn. Ngài ban những luận giảng về sutra (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh điển</span>), luận thư, và những giai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đoạn thực</span> hành trong Hinayana và Mahayana; <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trả lời</span> những câu hỏi; và viết nhiều bản văn thật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dễ hiểu</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Sáng sớm của tháng mười một năm con rồng đực sắt (thìn kim); khi Ngài bốn mươi sáu tuổi, đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cố gắng</span> to lớn làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> người khác, Chogyal Phagpa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngồi kiết già</span>, cầm chày vajra và chuông. Ngài chắp hai tay chéo nhau, và giữa những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">âm thanh</span>, hương thơm, và mưa hoa, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Chogyal Phagpa là vị tổ cuối của năm vị tổ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng lập</span> phái Sakya. Cám ơn những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nỗ lực</span> của Ngài, hệ phái đã hướng dẫn dân <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> gần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một thế</span> kỷ; <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mở rộng</span> khắp nơi; và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> viện <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảnh hưởng</span> lớn của xứ sở cho hai trăm năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kế tiếp</span>, sản sinh ra các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> nhất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong lịch sử </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, như các Ngài Buton, Dolbuwa, Longchenpa, Rendawa, Tagtsang Lotsawa, Tsongkhapa và hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> chính, Rongton, Dagpo Tashi Namgyal, Gorampa, và Shakya Chogden.</p>
<p style="text-align: justify;">Về năm vị tổ, Ngài Sachen được xem là thân lưu xuất của Đức Avalokiteshvara; Lopon Rinpoche, Jetsun Rinpoche, và Sapan được xem là thân lưu xuất của Đức Manjushri; và Chogyal Phagpa được xem là thân lưu xuất của Đức Vajrapani (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương Thủ</span>).</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngor và Tshar</b></p>
<p style="text-align: justify;">Hai phụ phái chính của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Sakya là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Ngor và Tshar. Dòng truyền Ngor được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng lập</span> bởi Ngorchen Kunga Zangpo (1382-1456 C.E.). Ngài sinh năm tuất thủy, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rèn luyện</span> tại Sakya và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu viện</span> khác. Vị thầy đầu tiên của Ngài là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu giả</span> Buddha Sri, và Ngài là một trong những vị thầy chính của Gorampa Sonam Senge.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1430, khi bốn mươi tám tuổi, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành lập</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu viện</span> Ngor chính của Evam Choden gần Sakya. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> cấp độ thấu suốt rất cao và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span> trong năm tí hỏa, khi Ngài bảy mươi bốn tuổi.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngorchen đã viết nhiều luận giảng Vajrayana quan trọng, và tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Lamdre chủ yếu đều qua Ngài. Các vị thầy vĩ đại khác của Ngor <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> Konchog Lhundrup; Panchen Ngawang Chodrag; và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gần đây</span> hơn, Ngài Loter Wangpo là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> Sakya chính của Ngài Khyentse Wangpo. Ngor cũng được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> về sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo tồn</span> của họ về cái gọi là bảy mandala của Ngor: Guhyasamaja, Hevajra, Chakrasamvara, Vajrayogini, Vajrabhairava, Sarvavidya, và Mahakala.</p>
<p style="text-align: justify;">Dòng truyền Tshar được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành lập</span> bởi vị tổ được bầu Tsarchen Losal Gyatso (1502-1567 C.E.), người bắt đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo Phật</span> của mình như một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> Gelugpa. Ngài sinh năm tuất thủy, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thọ giới</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sa di</span> từ Dalai Lama thứ nhất, Gendun Gyatso, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu hành</span> tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu viện</span> Tashi Lungpo. Vì Ngài có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> mạnh mẽ vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Sakya và ở vị tổ Sakya, Doringpa, vị thầy chính của Ngài, Tsarchen Losal Gyatso nhận được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiên tri</span> từ Vajrayogini trong thân người, nên Ngài đi tìm Doringpa, đang cư trú trong khu rừng bao quanh Pháo Đài Đá Ka’u gần Sakya.</p>
<p style="text-align: justify;">Tsarchen <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt đến</span> cấp độ thấu suốt cao và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span> vào lúc sáu mươi lăm tuổi, thân <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vật chất</span> của Ngài tan hòa vào dharmadhatu (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">pháp giới</span>). Ngài không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành lập</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới luật</span> mới của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu viện</span>, nhưng dòng truyền Tshar đã được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu viện</span> Rongton Sheja Kunrig của Nalendra Phanpho. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bản thân</span> Ngài Tsarchen có nhiều vị thầy và nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span>, và có nhiệc bậc thầy vĩ đại trong dòng truyền Ngài, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm </span>Đức Dalai Lama thứ năm, người nhận được cả hai Lamdre và Vajrayogini từ Nesar Je trong thế kỷ mười bảy.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Các h<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ọc thuyết</span> của Phái Sakya</b></p>
<p style="text-align: justify;">Phái Sakya giảng dạy đầy đủ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phạm vi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">các chủ</span> đề <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thích hợp</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ba thừa</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới thiệu</span> chung trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo Tây Tạng</span> – đó là Hinayana, Mahayana, và Vajrayana (hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại Thừa</span> Mantra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bí Mật</span> Hiếm Thấy).</p>
<p style="text-align: justify;">Khi trình bày <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">triết học</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo Phật</span>, nó chia <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> thành bốn phần: Vaibhashika (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thắng Luận Tông</span>), Sautrantika (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kinh Lượng Bộ</span>), Chittamatra (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Duy Thức</span>), và Madhyamaka (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Đạo</span>). Giống như tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học phái</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan điểm</span> của Sakya được xem là Madhyamaka.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quan điểm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cứu cánh</span> của nó được gọi là “quan điểm của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự do</span> từ sự phát triển” (spros bral lta ba) được xác định <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rõ ràng</span> trong Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phân Biệt</span> Về Những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quan Điểm</span> (lta ba shan dbyed) của Gorompa Sonam Senge. Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> của hai phái chính khác của Madhyamaka <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> là phái Khác <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tánh Không</span> của Dobulwa Sherab Gyaltsan, khởi nguyên trong phái Jonang, và sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải nghĩa</span> của Je Tsongkhapa về Prasanga Madhyamaka (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quán</span> Ứng Thành). Phái Sakya <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm thấy</span> nguồn gốc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan điểm </span>Madhyamaka <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối hậu</span> từ dòng truyền được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới thiệu</span> đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> bởi dịch giả Patshab Nyima Dragpa ở thế kỷ mười hai, người cùng với pandita Jayananda <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> những bản văn Madhyamaka của Chandrakirti như sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải nghĩa</span> xuất sắc của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> về phái Madhyamaka của Nagarjuna (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Long Thọ</span>). Sự yêu thích <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban đầu</span> của người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống</span> Madhyamaka của Bhavaviveka và Shantarakshita <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới thiệu</span> ở thế kỷ thứ tám lại bị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lu mờ</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Không giống như những người có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uy tín</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> sau này, như Tsongkhapa và Jonang, phái Sakya <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tranh luận</span> với sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thận trọng</span> hơn về Madhyamaka, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">theo sau</span> gần gũi với những pandita <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ </span>và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chống lại</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> mới mẻ.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Lamdre, c<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">on đường</span> và kết quả của nó</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo lý</span> chủ yếu trên cấu trúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> của Sakya là vòng hướng dẫn kết nối với Hevajra-tantra được biết như Hướng Dẫn Miệng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quý Báu</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con Đường</span> và Kết Quả của Nó (gsung ngag rin po che lam dang ‘bras bu dang bcas). <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo lý</span> này bắt nguồn từ vị pandita <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> Sri Dharmapala của Nalanda ở thế kỷ thứ chín, người đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Vajrayana trong nhiều năm. Sau một loạt các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chướng ngại</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span>, Ngài gặp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa thân</span> lưu xuất của bổn tôn Nairatma phối ngẫu của Heruka, ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và làm Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> sáu bhumi (địa) trong sáu ngày. Sau khi hạnh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cấp tiến</span> của Ngài được biết, Ngài bị trục xuất khỏi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu viện</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> một yogin lang thang trước khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> thân cầu vồng và tan hòa vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> của Đức Avalokiteshvara ở miền nam <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài có hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> chính, từ họ các dòng truyền chủ yếu của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con đường</span> và Kết quả đều có nguồn gốc từ Dombhi Heruka và Krishnapa.</p>
<p style="text-align: justify;">Dombhi Heruka rất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thông minh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> đầy đủ trong lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, nên chỉ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">yêu cầu</span> một ít hướng dẫn và không ở lại lâu với Virupa. Dòng truyền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con đường</span> và Kết quả của Ngài được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xem như </span>dòng truyền về sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bình luận</span> Hevajra-tantra.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trái lại</span>, Krishnapa là một pandita <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> đã đi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du hành</span> và ở lại với Virupa vòng quanh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> và là người được Virupa thay đổi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tín ngưỡng</span>. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không sắc</span> bén như Dombhipa nên Virupa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban cho</span> những hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chi tiết</span> hơn, mà ngày nay còn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span> như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bài Kệ</span> Vajra của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con Đường</span> và Kết Quả. Vì thế, dòng truyền của Krishnapa được xem là dòng truyền hướng dẫn sâu sắc, hay upadesha.</p>
<p style="text-align: justify;">Cả hai dòng truyền này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trải qua</span> một số vị thầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> khi được tái <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết hợp</span> bởi Lotsawa Drogmi của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>. Cuộc sống và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">việc làm</span> của Drogmi không bao hàm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rộng rãi</span> ở đây vì đã được trình bày <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chi tiết </span>ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nơi khác</span>.11 Chỉ cần nói rằng Drogmi nằm trong số những dịch giả viết nhiều nhất của giai đoạn mới, đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phiên dịch</span> Hevajra-tantra, Vajrapanjara-tantra, Samputa-tantra, và nhiều bản văn khác. Ngài cũng gom lại nhiều dòng hướng dẫn sâu sắc khác nhau từ mười hai năm tạm trú ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> như một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo Phật</span>. Về phần lớn, tất cả các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tài liệu</span> thô mà sau dẫn đến việc hình <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành sự</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới thiệu</span> riêng biệt của Sakya về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo</span> Vajrayana – đó là ba tantra – bắt nguồn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban đầu</span> từ Drogmi.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con đường</span> và kết quả đặt nền tảng trên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phạm vi</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bài kệ</span> vajra của Virupa. Nhưng các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bài kệ </span>này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban đầu</span> đề cập đến việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nâng cao</span> giai đoạn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span> và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> của mười ba giai đoạn của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> tantric. Phần lớn phần còn lại của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> bắt nguồn từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Sahaja Mahamudra của Saraha và Nagarjuna được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giữ gìn</span> trong bản văn được gọi là Đạt Tới Phía Trước Một Tháp (mchod rten drung thob), và từ sự Không Thể Nghĩ Bàn (Acantyakramo-upadesha) của Kotalipa.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phương pháp</span> của giai đoạn phát sinh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất phát</span> chủ yếu từ Saroruhavajra cũng được biết như Padmakara và Padmavajra, người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> là Mahasiddha (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại thành tựu</span>) đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiển lộ</span> Hevajra-tantra. Các vị tổ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban đầu</span> của Sakya cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa trên</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi thức</span> của Saroruhavajra cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> của các Ngài, nhưng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> sau này đã thay thế <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi thức</span> này với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống</span> sáu chi của Durjayacandra được sắp xếp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hợp lý</span> hơn, bắt nguồn từ dòng truyền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con đường</span> và Kết quả của Dombhi Heruka.</p>
<p style="text-align: justify;">Những hướng dẫn khác <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> tumo yoga (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du già</span> nội hỏa) từ Krishnacarya, về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực chất</span> tương đồng tumo yoga <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm thấy</span> trong Sáu Pháp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Du Già</span> của Naropa của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Kagyu và bắt nguồn từ cùng vị tổ. Hướng dẫn Sahajasiddhi của Dombhi Heruka, những hướng dẫn của Indrabhuti, và những hướng dẫn về tám vị Mahasiddha khác tất cả đều được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết hợp</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bài kệ</span> vajra của Virupa thành một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống </span>hợp nhất về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> cho các giai đoạn phát sinh và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span> của Hevajra-tantra.</p>
<p style="text-align: justify;">Có nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> nhánh của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con đường</span> và Kết quả, guru yoga (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du già</span>), những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiêu trừ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chướng ngại</span>, và còn nữa, khiến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dần dần</span> được nhận làm con khi họ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiến bộ</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống</span> này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối thượng</span> của thân cầu vồng. Bản <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">văn Ấn</span> Độ chính được hỗ trợ bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiến thanh</span> tịnh của Sachen Kunga Nyingpo, người đã nhận những hướng dẫn cao hơn từ Virupa như đã nhắc đến trước đây, và những hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> này đã được chôn dấu và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giữ gìn</span> trong vài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế hệ</span>. Nhiều điểm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan điểm</span> Madhyamaka của Sakya được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chi tiết</span> hóa trong việc kết nối với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con đường</span> và Kết quả, nhất là trong Cây Như-Ý của Ngài Jetsun Dragpa Gyaltsen.</p>
<p style="text-align: justify;">Do đó, trụ cột và xương sống của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Sakya là sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> hàng ngày về các giai đoạn phát sinh và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết hợp</span> với sadhana Hevajra. Thêm vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> hàng ngày này là Hevajra guru yoga và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo vệ</span> của Virupa.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Vajrayogini</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thực hành</span> quan trọng thứ hai là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> vòng mà đích chính là sưu tập <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh tiếng</span> của Sakya về Mười Ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vàng Ròng</span>. Đây là vòng rất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thông dụng</span> của Khechari của Naropa, hay Naro Khachod khi bà được biết ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>. Nếu Hevajra là cột trụ của dòng truyền Sakya thì Vajrayogini là trái tim. Lopon Sonam Tsemo nói với em, Jetsun Rinpoche, “Về tất cả hướng dẫn ta có, Vajrayogini là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên thâm</span> nhất.” Vì thế, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Vajrayogini độc nhất của Naropa chỉ được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giữ gìn</span> trong phái Sakya hàng trăm năm và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không thật</span> sự bắt đầu lan rộng đến các phái khác cho tới khi Dalai Lama thứ năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> từ Nesar Je.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo lý</span> Vajrayogini là trao truyền độc nhất của Naropa. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> chúng trong một linh kiến về Vajrayogini và chỉ truyền cho hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> chính người Nepal, anh em Phamthings, người đã làm nhà của họ ngay dưới hang động Asura ở Pharphing gần Kathmandu, Nepal. Sau <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một thế</span> hệ, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> này cùng với Chakrasamvara-tantra, đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> với Ngài Mal Lotsawa, một guru của Khon Konchog Gyalpo và Sachen Kunga Nyingpo. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo lý</span> Vajrayogini đặt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọng tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi bật</span> trong một sadhana ngắn và một bộ hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên thâm</span> về giai đoạn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> là hướng dẫn về “thiền định vượt lên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tư duy</span>.”</p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> có dạng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phổ thông</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span>, chủ yếu khác nhau trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chi tiết</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành </span>guru yoga và giai đoạn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span>. Có nói rằng nhiều bậc thầy trong dòng truyền Sakya đã thấu suốt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật tánh</span> qua sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Vajrayogini hơn là qua bất cứ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> khác nào. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">so sánh</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống </span>Hevajra, Vajrayogini <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> đễ hiểu và dễ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>; vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lý do</span> này, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Sakya về Vajrayogini đã trở nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phổ biến</span> khắp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, bất chấp về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Vajrakilaya</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Truyền thống</span> Khon về Vajrakilaya đã được nhắc đến. Nó chỉ là Kama, hay Long, dòng truyền về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý </span>Vajrakilaya đã được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên tục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> ngày nay. Trong lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự quán</span> đỉnh và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> dòng truyền của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Kama khác về Vajrakilaya đã được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span>, thì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Nyingma <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ưa chuộng </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> về các terma, như Kilaya <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phạm vi</span> rộng của Rigzin Godem. Điểm đặc trưng khác là Khon Kilaya không giống như các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Kama khác về Kilaya, là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Anuyoga, hơn là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống</span> Mahayoga. Vì thế, chỉ có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống</span> Kama Anuyoga về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Kilaya vẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tồn tại</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Mahakala</b></p>
<p style="text-align: justify;">Vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hộ pháp</span> chính của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Sakya là Đại Mahakala bắt nguồn từ Vajrapanjara-tantra, được biết đến ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> như Gurgon (Panjaranatha). Panjaranatha Mahakala là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> như cả hai dharmapala (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hộ pháp</span>) và yidam (hộ Phật). Dòng truyền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> dharmapala là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết hợp</span> dòng truyền về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Mahakala đem đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> bởi một số vị tổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Dòng truyền đầu tiên bắt nguồn từ Sri Virupa và truyền qua Drogmi. Thứ hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất phát</span> từ Pandita Amoghavajra qua Bari Lotsawa và cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> như một bổn tôn. Thứ ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất phát</span> từ đại pandita Sraddhakaravarman qua các đại dịch giả Rinchen Zangpo, Trag Tenpa, và Mal Lotsawa và là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo vệ</span> thông thường vẫn còn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sử dụng</span> trong Sakya <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> nay. Dòng truyền thứ tư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất phát</span> từ Sakya Sri qua Sakya Pandita.</p>
<p style="text-align: justify;">Mahakala Nhỏ hơn là Chaturmukha Mahakala, được xem là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo vệ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học thuyết</span> của Sakya và đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> với Nyan Lotsawa. Dòng truyền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo vệ</span> này được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết hợp</span> với Guhyasamaja-tantra và tantra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> về Chakrasamvara.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Những h<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ọc giả</span> sau này trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Truyền thống</span> Sakya</b></p>
<p style="text-align: justify;">Các học giả-thành tựu của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Sakya là quá nhiều để tính đếm, nhưng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảnh hưởng</span> của các Ngài trên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn thể</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> có tính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">then chốt</span>. Các học giả-thành tựu của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống </span>Sakya như Yagton, Tagtsang Lotsawa, Rongton, Gorampa, Sakya Chogden, và trong thời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện đại</span> là Jamyang Khyentse Wangpo và Loter Wangpo như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">như học</span> giả đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kỳ diệu</span> như nhau.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Truyền thống</span> Sakya đã giữ ngọn cờ về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiến thức</span> và thấu suốt cao trong bầu trời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> từ khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành lập</span>. Những bậc thầy Sakya đã hỗ trợ và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nuôi dưỡng</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> của các phái khác trong những thế kỷ. Ví dụ, Drugpa Kagyu siddha Yangonpa là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của Sakya Pandita; Longchenpa là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của Lama Dampa Sonam Gyaltsen; Tsongkhapa là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của cả hai Lama Dampa Sonam Gyaltsen và Rendawa Zhonnu Lodo; và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gần đây</span> hơn, Đại Kongtrul và Mipham đều là các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của Jamyang Khyentse Wangpo.</p>
<p style="text-align: justify;"><i></i><b>Acharya Lama Migmar Tseten</b></p>
<p><em>Việt dịch: Tuệ Pháp</em></p>
<p><em>Nguyên tác: Kho báu của dòng truyền thừa Sakya </em> -<em> Treasures of the Sakya Lineage </em></p>
<p><i>1. Dong, sBra, ‘Bru, và sGa là sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> rus chen bzhi (bốn thị tộc lớn). Chogyal Namkhai Norbu.</i><br />
<i>2. Mu là một bộ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần thánh</span> cổ của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>.</i><br />
<i>3. Người Mon thường được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận dạng</span> với khu vực của Bhutan.</i><br />
<i>4. Bảy người mà Shantarakshita <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thọ giới</span> để xem người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới luật</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu viện</span> hay không.</i><br />
<i>5. Hai mươi tám <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiên nữ</span> thường <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi quỹ</span> của Nyingma Mahayoga.</i><br />
<i>6. Nữ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hộ pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đứng đầu</span> của phái Nyingma và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo vệ</span> chính của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Dzogchen.</i><br />
<i>7. Avalokiteshvara, Manjushri, và Vajrapani.</i><br />
<i>8. Cyrus Stearn, Cuộc Sống <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Minh Bạch</span> (Boston: Nhà Xuất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bản Trí</span> tuệ, 2001).</i><br />
<i>9. Zhangton Chobar.</i><br />
<i>10. Saha, hay “không thể chịu nổi”, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">pháp giới</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vũ trụ</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> với các hành tinh, những thiên hà, và còn nữa.</i><br />
<i>11. Stearn, 2001.</i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/lich-su-cua-phai-sakya/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Cuộc phỏng vấn Pháp Vương Sakya Trizin &#8211; Giáo lý cốt tủy của Đạo Phật</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/cuoc-phong-van-phap-vuong-sakya-trizin-giao-ly-cot-tuy-cua-dao-phat/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/cuoc-phong-van-phap-vuong-sakya-trizin-giao-ly-cot-tuy-cua-dao-phat/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 16 Apr 2018 05:18:57 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kinh sách Sakya]]></category>
		<category><![CDATA[Sakya]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=8484</guid>
		<description><![CDATA[Nếu bạn muốn biết tương lai, Hãy nhìn vào hành động hiện nay của bạn H: Thưa Pháp Vương, tại sao chúng tôi nên thực hành giáo lý đạo Phật? Pháp Vương Sakya Trizin: Tôi muốn trả lời điều này bằng ba loại người thực hành Phật giáo. Nói chung, từ con côn trùng nhỏ nhất đến con người thông&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/cuoc-phong-van-phap-vuong-sakya-trizin-giao-ly-cot-tuy-cua-dao-phat/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><b>Nếu bạn muốn biết tương lai,</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Hãy nhìn vào hành động hiện nay của bạn</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Thưa Pháp Vương, tại sao chúng tôi nên thực hành giáo lý đạo Phật?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Pháp Vương Sakya Trizin: </b><span style="font-weight: 400;">Tôi muốn </span><span style="font-weight: 400;">trả lời</span><span style="font-weight: 400;"> điều này bằng ba loại người </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span> <span style="font-weight: 400;">Phật giáo</span><span style="font-weight: 400;">. Nói chung, từ con côn trùng nhỏ nhất đến </span><span style="font-weight: 400;">con người</span> <span style="font-weight: 400;">thông minh</span><span style="font-weight: 400;"> nhất đều </span><span style="font-weight: 400;">đồng ý</span><span style="font-weight: 400;">: tất cả đều muốn </span><span style="font-weight: 400;">hạnh phúc</span><span style="font-weight: 400;"> và tránh </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">. </span><span style="font-weight: 400;">Đa số</span> <span style="font-weight: 400;">mọi người</span><span style="font-weight: 400;"> không hiểu </span><span style="font-weight: 400;">nguyên nhân</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> hay </span><span style="font-weight: 400;">nguyên nhân</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">hạnh phúc</span><span style="font-weight: 400;"> là gì, nhưng trong </span><span style="font-weight: 400;">giáo lý</span> <span style="font-weight: 400;">Phật giáo</span><span style="font-weight: 400;"> và trong </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> của họ, bạn sẽ </span><span style="font-weight: 400;">tìm thấy</span><span style="font-weight: 400;"> những câu </span><span style="font-weight: 400;">trả lời</span><span style="font-weight: 400;"> cho các câu hỏi này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Vậy các nguyên nhân của hạnh phúc và đau khổ là gì?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Ratnavali của Ngài Nagarjuna (</span><span style="font-weight: 400;">Long Thọ</span><span style="font-weight: 400;">) nói: “Mọi hành động khởi lên từ tham, sân, và si đều phát sinh </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">, mọi hành động khởi lên không từ tham, sân và si đều phát sinh </span><span style="font-weight: 400;">hạnh phúc</span><span style="font-weight: 400;">”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vậy, như tôi đã nói, có ba loại người. Giống như tất cả người khác, người </span><span style="font-weight: 400;">thấp kém</span><span style="font-weight: 400;"> nhất đều muốn </span><span style="font-weight: 400;">hạnh phúc</span><span style="font-weight: 400;"> và không bị </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> hay </span><span style="font-weight: 400;">tái sinh</span><span style="font-weight: 400;"> trong các cõi thấp, nên họ </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span> <span style="font-weight: 400;">Phật giáo</span><span style="font-weight: 400;"> để tạo ra các </span><span style="font-weight: 400;">nguyên nhân</span><span style="font-weight: 400;"> được </span><span style="font-weight: 400;">tái sinh</span><span style="font-weight: 400;"> vào </span><span style="font-weight: 400;">cõi người</span><span style="font-weight: 400;"> hay </span><span style="font-weight: 400;">cõi trời</span><span style="font-weight: 400;">. Họ không đủ </span><span style="font-weight: 400;">năng lực</span><span style="font-weight: 400;"> hay </span><span style="font-weight: 400;">can đảm</span> <span style="font-weight: 400;">hoàn toàn</span><span style="font-weight: 400;"> rời bỏ </span><span style="font-weight: 400;">thế gian</span><span style="font-weight: 400;">. Họ chỉ muốn phần tốt nhất của </span><span style="font-weight: 400;">thế giới</span> <span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;"> này; muốn tránh phần </span><span style="font-weight: 400;">tồi tệ</span><span style="font-weight: 400;"> nhất, và đó là điều tại sao họ </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span> <span style="font-weight: 400;">tín ngưỡng</span> <span style="font-weight: 400;">đạo Phật</span><span style="font-weight: 400;"> – để có được </span><span style="font-weight: 400;">tái sinh</span> <span style="font-weight: 400;">tốt hơn</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Loại người trung bình hiểu được </span><span style="font-weight: 400;">toàn bộ</span> <span style="font-weight: 400;">thế giới</span> <span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;">, bất kể họ sinh ở đâu, </span><span style="font-weight: 400;">bản chất</span><span style="font-weight: 400;"> của nó là </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">, giống như lửa thì nóng vì </span><span style="font-weight: 400;">bản chất</span><span style="font-weight: 400;"> của nó. Họ muốn </span><span style="font-weight: 400;">thoát khỏi</span><span style="font-weight: 400;"> nó </span><span style="font-weight: 400;">hoàn toàn</span><span style="font-weight: 400;"> và </span><span style="font-weight: 400;">đạt đến</span><span style="font-weight: 400;"> nirvana (Niết bàn) , </span><span style="font-weight: 400;">trạng thái</span> <span style="font-weight: 400;">hoàn toàn</span> <span style="font-weight: 400;">thoát khỏi</span> <span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Người có </span><span style="font-weight: 400;">nhận biết</span><span style="font-weight: 400;"> cao nhất chính họ vừa không muốn </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> và không muốn </span><span style="font-weight: 400;">hạnh phúc</span><span style="font-weight: 400;">, nên cũng làm mọi điều như </span><span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span><span style="font-weight: 400;"> đang sống đều có cùng </span><span style="font-weight: 400;">sợ hãi</span><span style="font-weight: 400;"> và ước muốn. Họ biết rằng vì từ </span><span style="font-weight: 400;">vô thủy chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> đã bị sinh ra nhiều lần trong </span><span style="font-weight: 400;">thế gian</span><span style="font-weight: 400;">, chẳng có một </span><span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span><span style="font-weight: 400;"> nào đã chưa từng là cha hay mẹ của </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> vào lúc này hay lúc khác. Vì </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> thân cận với tất cả </span><span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span><span style="font-weight: 400;"> đó, người tốt nhất là người </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span> <span style="font-weight: 400;">Phật giáo</span><span style="font-weight: 400;"> để tẩy trừ cho </span><span style="font-weight: 400;">vô số</span> <span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span><span style="font-weight: 400;"> đó khỏi </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Chúng tôi nên thực hành như thế nào?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST<i>: </i></b><span style="font-weight: 400;">Vào lúc khởi đầu </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> cho tất cả </span><span style="font-weight: 400;">Phật tử</span><span style="font-weight: 400;"> hình thành hai việc rất quan trọng: </span><span style="font-weight: 400;">thiền định</span><span style="font-weight: 400;"> về bốn sự </span><span style="font-weight: 400;">hồi tưởng</span><span style="font-weight: 400;"> và thọ </span><span style="font-weight: 400;">quy y</span><span style="font-weight: 400;">. bốn sự </span><span style="font-weight: 400;">hồi tưởng</span><span style="font-weight: 400;"> là sự khó khăn có được thân người; về sự </span><span style="font-weight: 400;">vô thường </span><span style="font-weight: 400;">của mọi sự vật trong </span><span style="font-weight: 400;">luân hồi</span><span style="font-weight: 400;">; sự </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">thế gian</span> <span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;">; và luật của </span><span style="font-weight: 400;">hành nghiệp</span><span style="font-weight: 400;">, hay </span><span style="font-weight: 400;">nhân quả</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nói chung được sinh ra làm người là rất khó. </span><span style="font-weight: 400;">Chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> nghĩ rằng có nhiều người, nhưng nếu </span><span style="font-weight: 400;">so sánh </span><span style="font-weight: 400;">với số lượng của tất cả </span><span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span><span style="font-weight: 400;"> khác, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span> <span style="font-weight: 400;">nhận thấy</span> <span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> thật ít ỏi làm sao. Chẳng hạn; trong mỗi </span><span style="font-weight: 400;">thân thể</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;">, có hàng triệu </span><span style="font-weight: 400;">vi khuẩn</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">vi trùng</span><span style="font-weight: 400;"> và siêu </span><span style="font-weight: 400;">vi trùng</span><span style="font-weight: 400;"> và còn nữa. Thế nên, qua thống kê; cơ hội </span><span style="font-weight: 400;">đạt được</span><span style="font-weight: 400;"> cuộc sống làm người là rất ít. Trong bất cứ </span><span style="font-weight: 400;">trường hợp</span><span style="font-weight: 400;"> nào, có nhiều nơi </span><span style="font-weight: 400;">tái sinh</span><span style="font-weight: 400;"> chẳng </span><span style="font-weight: 400;">lợi ích</span><span style="font-weight: 400;"> cho người ta; vì họ sẽ không gặp được </span><span style="font-weight: 400;">Phật Pháp</span><span style="font-weight: 400;"> ở nơi đó. Có tám </span><span style="font-weight: 400;">nơi sinh</span><span style="font-weight: 400;"> ra không </span><span style="font-weight: 400;">thuận lợi</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">bao gồm</span><span style="font-weight: 400;"> các cõi: </span><span style="font-weight: 400;">địa ngục</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">ngạ quỷ</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">súc sinh</span><span style="font-weight: 400;"> và người man rợ; những nơi mà ở đó </span><span style="font-weight: 400;">giáo lý</span> <span style="font-weight: 400;">tôn giáo</span><span style="font-weight: 400;"> không đúng, nơi không có Phật, và các </span><span style="font-weight: 400;">cõi trời</span><span style="font-weight: 400;">. Song, ngay cả </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> được </span><span style="font-weight: 400;">tái sinh </span><span style="font-weight: 400;">làm người, cũng cần có mười </span><span style="font-weight: 400;">điều kiện tiên quyết</span><span style="font-weight: 400;">, như là </span><span style="font-weight: 400;">cần phải</span><span style="font-weight: 400;"> sinh ra nơi mà </span><span style="font-weight: 400;">Đức Phật</span><span style="font-weight: 400;"> đã đến, nơi </span><span style="font-weight: 400;">Đức Phật</span> <span style="font-weight: 400;">thực tế</span><span style="font-weight: 400;"> giảng dạy </span><span style="font-weight: 400;">tôn giáo</span><span style="font-weight: 400;">, nơi </span><span style="font-weight: 400;">giáo lý</span><span style="font-weight: 400;"> còn </span><span style="font-weight: 400;">tồn tại</span><span style="font-weight: 400;">, nơi có vị thầy đủ </span><span style="font-weight: 400;">lòng từ</span><span style="font-weight: 400;"> để giảng dạy, và nơi vẫn còn những </span><span style="font-weight: 400;">Phật tử</span> <span style="font-weight: 400;">đi theo</span><span style="font-weight: 400;"> như các vị </span><span style="font-weight: 400;">tu sĩ</span><span style="font-weight: 400;"> và </span><span style="font-weight: 400;">cư sĩ</span><span style="font-weight: 400;">. Cũng đòi hỏi có năm </span><span style="font-weight: 400;">hoàn cảnh</span><span style="font-weight: 400;"> của chính mình; người ta phải không </span><span style="font-weight: 400;">vi phạm</span><span style="font-weight: 400;"> bất kỳ năm </span><span style="font-weight: 400;">sa sút</span><span style="font-weight: 400;"> vô hạn, vì điều này sẽ tạo ra </span><span style="font-weight: 400;">chướng ngại</span><span style="font-weight: 400;"> to lớn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự khó khăn này cũng được </span><span style="font-weight: 400;">giải thích</span><span style="font-weight: 400;"> theo nhiều cách khác nhau. </span><span style="font-weight: 400;">Nguyên nhân</span><span style="font-weight: 400;"> của việc sinh làm người là </span><span style="font-weight: 400;">thực hiện</span><span style="font-weight: 400;"> các hành động </span><span style="font-weight: 400;">đạo đức</span><span style="font-weight: 400;"> và giữ </span><span style="font-weight: 400;">thiện hạnh</span> <span style="font-weight: 400;">đúng đắn</span><span style="font-weight: 400;">, và vì rất ít người </span><span style="font-weight: 400;">nhận biết</span><span style="font-weight: 400;"> được điều này nên việc </span><span style="font-weight: 400;">tái sinh</span><span style="font-weight: 400;"> làm người là hiếm bởi </span><span style="font-weight: 400;">nguyên nhân</span><span style="font-weight: 400;"> của nó. Do </span><span style="font-weight: 400;">bản chất</span><span style="font-weight: 400;">, việc sinh ra ở nơi nào khác lại dễ hơn nhiều. Sự khó khăn được minh họa bằng một ví dụ khác: hãy tưởng tượng một con rùa bị mù sống trong biển. Trôi bồng bềnh trên mặt biển là một cái ách, con </span><span style="font-weight: 400;">rùa mù</span><span style="font-weight: 400;"> cứ một trăm năm mới nổi </span><span style="font-weight: 400;">lên mặt</span><span style="font-weight: 400;"> biển, việc có cơ hội tốt để con rùa chui vào cái ách còn dễ hơn </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> được sinh làm thân người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hồi tưởng</span><span style="font-weight: 400;"> thứ hai là </span><span style="font-weight: 400;">vô thường</span><span style="font-weight: 400;">. </span><span style="font-weight: 400;">Đức Phật</span><span style="font-weight: 400;"> đã nói: “Tam giới </span><span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;"> giống như </span><span style="font-weight: 400;">đám mây</span><span style="font-weight: 400;"> trong </span><span style="font-weight: 400;">mùa thu</span><span style="font-weight: 400;">. Sinh và tử của </span><span style="font-weight: 400;">con người</span><span style="font-weight: 400;"> giống như chuyển động của vũ công. Cuộc sống làm người giống như thác nước, như chớp lóe trong bầu trời; không bao giờ ngưng thậm chí chỉ trong một khoảnh khắc, và một khi nó bắt đầu, </span><span style="font-weight: 400;">chắc chắn</span><span style="font-weight: 400;"> nó sẽ đi đến </span><span style="font-weight: 400;">kết thúc</span><span style="font-weight: 400;"> của nó”. Mọi thứ đều thay đổi – mùa màng bên ngoài thay đổi, </span><span style="font-weight: 400;">mùa xuân</span> <span style="font-weight: 400;">dẫn đường</span><span style="font-weight: 400;"> cho </span><span style="font-weight: 400;">mùa hạ</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">mùa thu</span><span style="font-weight: 400;"> và </span><span style="font-weight: 400;">mùa đông</span><span style="font-weight: 400;">. Trẻ em phát triển thành người lớn, người lớn trở nên già, tóc chuyển từ đen sang trắng, da dẻ nhăn nheo, và cuộc sống </span><span style="font-weight: 400;">héo tàn</span><span style="font-weight: 400;"> đi. Phải vậy không? Mọi thứ thay đổi </span><span style="font-weight: 400;">liên tục</span><span style="font-weight: 400;">. Chẳng có một nơi </span><span style="font-weight: 400;">duy nhất</span><span style="font-weight: 400;"> nào </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> có thể </span><span style="font-weight: 400;">trốn thoát</span> <span style="font-weight: 400;">vô thường</span><span style="font-weight: 400;">. Vì mọi sự thay đổi </span><span style="font-weight: 400;">liên tục</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> không bao giờ biết khi nào sẽ đến </span><span style="font-weight: 400;">kết thúc</span><span style="font-weight: 400;">. </span><span style="font-weight: 400;">Chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> có thể </span><span style="font-weight: 400;">hoàn toàn</span> <span style="font-weight: 400;">mạnh khỏe</span><span style="font-weight: 400;"> trong hôm nay và có thể chết trong ngày mai. </span><span style="font-weight: 400;">Chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> chỉ biết hai điều về cái chết: </span><span style="font-weight: 400;">chắc chắn</span><span style="font-weight: 400;"> nó xảy đến, và </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> không </span><span style="font-weight: 400;">hình dung</span><span style="font-weight: 400;"> được khi nào nó sẽ xảy ra. Nó có thể xảy đến vào bất cứ lúc nào, và nhiều thứ bên trong hay bên ngoài có thể gây ra nó. Vì thế, nếu muốn </span><span style="font-weight: 400;">thực hành Phật giáo</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> phải </span><span style="font-weight: 400;">nhận ra</span><span style="font-weight: 400;"> rằng điều </span><span style="font-weight: 400;">cần thiết</span><span style="font-weight: 400;"> là </span><span style="font-weight: 400;">lập tức</span><span style="font-weight: 400;"> bắt đầu. </span><span style="font-weight: 400;">Chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> không thể chắc vào ngày mai làm được bất cứ điều gì.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Điều này giúp chúng tôi ra sao? Sự thực hành của Phật giáo sẽ không làm chúng ta bớt vô thường.</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Nó sẽ không làm </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> bớt </span><span style="font-weight: 400;">vô thường</span><span style="font-weight: 400;"> nhưng sẽ cho sự </span><span style="font-weight: 400;">chắc chắn</span><span style="font-weight: 400;"> rằng trong các </span><span style="font-weight: 400;">kiếp sau chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> sẽ ít </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> hơn. Sự </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">Giáo Pháp</span><span style="font-weight: 400;">, của </span><span style="font-weight: 400;">tôn giáo</span><span style="font-weight: 400;">, có nghĩa tránh hành động </span><span style="font-weight: 400;">bất thiện</span><span style="font-weight: 400;"> và nên làm </span><span style="font-weight: 400;">việc thiện</span><span style="font-weight: 400;">. Khi </span><span style="font-weight: 400;">cư xử</span><span style="font-weight: 400;"> theo cách này, </span><span style="font-weight: 400;">hiển nhiên</span> <span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> sẽ </span><span style="font-weight: 400;">hạnh phúc</span><span style="font-weight: 400;"> hơn trong tương lai.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Vì chúng ta ít mong cầu trong cuộc sống này, chúng ta cũng sẽ ít đau khổ, phải vậy không?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST:</b><span style="font-weight: 400;"> Vâng, đúng vậy. Nhưng quan trọng hơn, nhờ </span><span style="font-weight: 400;">suy nghĩ</span><span style="font-weight: 400;"> về </span><span style="font-weight: 400;">vô thường</span> <span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> sẽ nhanh chóng </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;">. </span><span style="font-weight: 400;">Tư duy</span><span style="font-weight: 400;"> về </span><span style="font-weight: 400;">vô thường</span><span style="font-weight: 400;"> giúp </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> nhanh chóng trên </span><span style="font-weight: 400;">con đường</span><span style="font-weight: 400;"> rất nhiều.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Sáu cõi và những đau khổ của chúng là gì?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Như tôi đã </span><span style="font-weight: 400;">nói trước</span><span style="font-weight: 400;"> đây, bất kể ở đâu trong </span><span style="font-weight: 400;">thế gian</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> đều </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">. </span><span style="font-weight: 400;">Đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> có ba loại: </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> của thay đổi, và </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">hoàn cảnh</span> <span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;">. Sự </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> là khi </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> bị nhức đầu hay điều gì đó giống vậy. Nó </span><span style="font-weight: 400;">đơn giản</span><span style="font-weight: 400;"> là nỗi </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> mà </span><span style="font-weight: 400;">mọi người chấp nhận</span><span style="font-weight: 400;"> và nghĩ là </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">. Sự </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> của việc thay đổi là sự </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> của việc </span><span style="font-weight: 400;">trải qua</span> <span style="font-weight: 400;">nhận thức </span><span style="font-weight: 400;">về thay đổi. </span><span style="font-weight: 400;">Chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> ở với bạn bè ngày hôm nay nhưng </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> phải ra đi, khi đi; </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> gặp </span><span style="font-weight: 400;">kẻ thù</span><span style="font-weight: 400;">. Chẳng gì còn ở lại, vì thấy điều này </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span> <span style="font-weight: 400;">kinh nghiệm</span> <span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> của sự thay đổi. Sự </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">hoàn cảnh</span> <span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span> <span style="font-weight: 400;">liên quan đến</span> <span style="font-weight: 400;">hoạt động</span> <span style="font-weight: 400;">thế gian</span><span style="font-weight: 400;"> không tương xứng. </span><span style="font-weight: 400;">Chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> làm nhiều việc trong </span><span style="font-weight: 400;">thế gian</span><span style="font-weight: 400;"> nhưng chưa từng </span><span style="font-weight: 400;">thỏa mãn</span><span style="font-weight: 400;"> thực sự. Luôn luôn có nhiều việc để làm hơn mà </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> không thể làm và điều này là </span><span style="font-weight: 400;">thất vọng</span><span style="font-weight: 400;">, đó là </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cõi thấp nhất của sáu cõi là </span><span style="font-weight: 400;">địa ngục</span><span style="font-weight: 400;"> nóng và lạnh </span><span style="font-weight: 400;">quá mức</span><span style="font-weight: 400;"> và địa ngục </span><span style="font-weight: 400;">lân cận</span><span style="font-weight: 400;">, ,cũng là </span><span style="font-weight: 400;">trạng thái</span> <span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> to lớn và kéo dài </span><span style="font-weight: 400;">trong khoảng</span> <span style="font-weight: 400;">thời gian</span><span style="font-weight: 400;"> lâu không thể tưởng. </span><span style="font-weight: 400;">Nguyên nhân</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">trạng thái</span> <span style="font-weight: 400;">đau khổ </span><span style="font-weight: 400;">này là sự thù hận. Kế đó là </span><span style="font-weight: 400;">cõi ngạ quỷ</span><span style="font-weight: 400;"> bị nhử bởi </span><span style="font-weight: 400;">thức ăn</span><span style="font-weight: 400;"> và nước uống mà họ không thể nuốt. Đây là kết quả của tính </span><span style="font-weight: 400;">tham lam</span><span style="font-weight: 400;"> và </span><span style="font-weight: 400;">keo kiệt</span><span style="font-weight: 400;">. </span><span style="font-weight: 400;">Cõi súc sinh</span><span style="font-weight: 400;"> được nhiều người </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> biết, và sinh ra ở đây </span><span style="font-weight: 400;">nguyên nhân</span><span style="font-weight: 400;"> là </span><span style="font-weight: 400;">ngu si</span><span style="font-weight: 400;">. </span><span style="font-weight: 400;">Chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> cũng biết </span><span style="font-weight: 400;">cõi người</span><span style="font-weight: 400;">. Cõi thứ năm là bán thiên (</span><span style="font-weight: 400;">a tu la</span><span style="font-weight: 400;">), họ luôn </span><span style="font-weight: 400;">tham gia </span><span style="font-weight: 400;">chiến tranh với cõi thiên vì </span><span style="font-weight: 400;">ganh tỵ</span><span style="font-weight: 400;"> và vì thế kiếp tới của họ </span><span style="font-weight: 400;">tự nhiên</span><span style="font-weight: 400;"> là </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">. Cõi thiên dường như rất </span><span style="font-weight: 400;">sung túc</span> <span style="font-weight: 400;">thoải mái</span><span style="font-weight: 400;">. Họ hưởng thụ khoái lạc to lớn và sống rất lâu, nhưng chẳng sớm thì muộn họ sẽ </span><span style="font-weight: 400;">kinh nghiệm</span> <span style="font-weight: 400;">tuổi già</span><span style="font-weight: 400;"> và cái chết. Vì họ chẳng làm điều gì mà chỉ hưởng thụ, họ sẽ không tạo </span><span style="font-weight: 400;">công đức </span><span style="font-weight: 400;">để được </span><span style="font-weight: 400;">tái sinh</span><span style="font-weight: 400;"> cao và sẽ rơi vào </span><span style="font-weight: 400;">trạng thái</span><span style="font-weight: 400;"> đại </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">. </span><span style="font-weight: 400;">Ba cõi</span><span style="font-weight: 400;"> thấp của </span><span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span> <span style="font-weight: 400;">kinh nghiệm</span><span style="font-weight: 400;"> sự </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> riêng biệt; </span><span style="font-weight: 400;">cõi người</span> <span style="font-weight: 400;">kinh nghiệm</span><span style="font-weight: 400;"> cả ba nhưng chủ yếu là hai </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> đầu; trong khi </span><span style="font-weight: 400;">chư thiên đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> chủ yếu ở hai </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> sau.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Điều </span><span style="font-weight: 400;">cuối cùng</span><span style="font-weight: 400;"> của sự </span><span style="font-weight: 400;">hồi tưởng</span><span style="font-weight: 400;"> là karma, </span><span style="font-weight: 400;">luật nhân quả</span><span style="font-weight: 400;">. Trong </span><span style="font-weight: 400;">quan điểm</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">đạo Phật</span><span style="font-weight: 400;">, mọi thứ </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> có và làm hôm nay đều có </span><span style="font-weight: 400;">nguyên nhân</span><span style="font-weight: 400;"> ở </span><span style="font-weight: 400;">quá khứ</span><span style="font-weight: 400;">. Trong </span><span style="font-weight: 400;">thực tế</span><span style="font-weight: 400;">, người ta nói rằng nếu muốn biết những gì </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> đã làm trong </span><span style="font-weight: 400;">quá khứ</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> nên nhìn vào </span><span style="font-weight: 400;">hoàn cảnh</span> <span style="font-weight: 400;">hiện tại</span><span style="font-weight: 400;"> của mình; dù giàu hay nghèo, xấu hay đẹp, đều là kết quả của hành động ở </span><span style="font-weight: 400;">quá khứ</span><span style="font-weight: 400;">, còn tương lai, </span><span style="font-weight: 400;">hạnh phúc</span><span style="font-weight: 400;"> hay trong </span><span style="font-weight: 400;">tình trạng</span><span style="font-weight: 400;"> khác, đều </span><span style="font-weight: 400;">tùy thuộc</span><span style="font-weight: 400;"> vào những gì </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> làm hôm nay. Nếu rễ cây là thuốc, thì hoa, lá, vỏ và mọi thứ phát triển trên cây sẽ là thuốc; giống vậy, hành động phát triển ra bên ngoài </span><span style="font-weight: 400;">đối lập</span><span style="font-weight: 400;"> với tham, sân và si sẽ phát sinh </span><span style="font-weight: 400;">hạnh phúc</span><span style="font-weight: 400;">. Nếu gốc cây là độc thì mọi thứ phát triển trên cây sẽ bị nhiễm độc, hành động do tham, sân và si thì phát sinh </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Có thực hành nào dựa căn bản trên luật nhân quả không?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST:</b> <span style="font-weight: 400;">Luật nhân quả</span><span style="font-weight: 400;">, karma (</span><span style="font-weight: 400;">hành nghiệp</span><span style="font-weight: 400;">), là </span><span style="font-weight: 400;">giáo lý</span><span style="font-weight: 400;"> chính của </span><span style="font-weight: 400;">Phật giáo</span><span style="font-weight: 400;">. Có nghĩa </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> phải luôn </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> những điều thiện; vì hành động </span><span style="font-weight: 400;">bất thiện</span><span style="font-weight: 400;"> sẽ luôn đem đến </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span> <span style="font-weight: 400;">trong đời</span><span style="font-weight: 400;"> này cũng như </span><span style="font-weight: 400;">trong đời</span><span style="font-weight: 400;"> sau. </span><span style="font-weight: 400;">Nếu không</span><span style="font-weight: 400;"> muốn </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">; </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> nên tránh </span><span style="font-weight: 400;">nguyên nhân</span><span style="font-weight: 400;"> của nó; không có </span><span style="font-weight: 400;">nguyên nhân</span><span style="font-weight: 400;"> sẽ không có kết quả, giống như cây bị nhổ bật rễ sẽ chẳng có trái. Nếu muốn </span><span style="font-weight: 400;">hạnh phúc</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta </span><span style="font-weight: 400;">phải rất </span><span style="font-weight: 400;">thận trọng</span><span style="font-weight: 400;"> về </span><span style="font-weight: 400;">nguyên nhân</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">hạnh phúc</span><span style="font-weight: 400;">, giống như muốn cây phát triển, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> phải chăm sóc gốc rễ của nó. Nếu gốc rễ có </span><span style="font-weight: 400;">thiếu sót</span><span style="font-weight: 400;">, cây sẽ không phát triển.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Do vậy, trước khi bắt đầu bất kỳ </span><span style="font-weight: 400;">thiền định</span><span style="font-weight: 400;"> nào </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> phải suy ngẫm bốn </span><span style="font-weight: 400;">hồi tưởng</span><span style="font-weight: 400;"> này và </span><span style="font-weight: 400;">kế tiếp</span><span style="font-weight: 400;"> là thọ </span><span style="font-weight: 400;">quy y</span><span style="font-weight: 400;">. Việc thọ </span><span style="font-weight: 400;">quy y</span><span style="font-weight: 400;"> biểu hiện sự khác biệt giữa người theo </span><span style="font-weight: 400;">đạo Phật</span><span style="font-weight: 400;"> và không theo </span><span style="font-weight: 400;">đạo Phật</span><span style="font-weight: 400;">; nó có nghĩa </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> đã có sự </span><span style="font-weight: 400;">từ bỏ</span><span style="font-weight: 400;"> và nhận sự nương tựa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Chúng ta từ bỏ theo cách nào?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST: </b><span style="font-weight: 400;">Chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> tự mình </span><span style="font-weight: 400;">từ bỏ</span><span style="font-weight: 400;">. Như tôi đã nói, </span><span style="font-weight: 400;">thế gian</span> <span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;"> đầy </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">. Có nhiều </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span> <span style="font-weight: 400;">hiển nhiên</span><span style="font-weight: 400;"> và cũng có nhiều </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> ít </span><span style="font-weight: 400;">rõ ràng</span><span style="font-weight: 400;"> và người </span><span style="font-weight: 400;">bình thường</span><span style="font-weight: 400;"> không chú ý, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> muốn </span><span style="font-weight: 400;">thoát khỏi </span><span style="font-weight: 400;">những </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> này nhưng không đủ </span><span style="font-weight: 400;">kiến thức</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">năng lực</span><span style="font-weight: 400;"> để làm, nên </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> chẳng thể làm được gì nhiều vào lúc </span><span style="font-weight: 400;">hiện tại</span><span style="font-weight: 400;"> này. Giờ đây, khi </span><span style="font-weight: 400;">đảm nhận</span><span style="font-weight: 400;"> một </span><span style="font-weight: 400;">vai trò</span><span style="font-weight: 400;"> quan trọng, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> tìm một người đầy </span><span style="font-weight: 400;">năng lực</span><span style="font-weight: 400;">; nếu bị bệnh, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> hỏi </span><span style="font-weight: 400;">ý kiến</span> <span style="font-weight: 400;">bác sĩ</span><span style="font-weight: 400;">, và nếu có </span><span style="font-weight: 400;">vấn đề</span><span style="font-weight: 400;"> về </span><span style="font-weight: 400;">luật pháp</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> đến </span><span style="font-weight: 400;">luật sư</span><span style="font-weight: 400;">. Do vậy, khi muốn được </span><span style="font-weight: 400;">cứu thoát</span><span style="font-weight: 400;"> khỏi </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">thế gian</span> <span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> phải thọ </span><span style="font-weight: 400;">quy y</span><span style="font-weight: 400;"> nơi </span><span style="font-weight: 400;">Tam Bảo</span><span style="font-weight: 400;">, là những vị giúp đỡ thật sự trong việc </span><span style="font-weight: 400;">đảm nhận</span><span style="font-weight: 400;"> này. </span><span style="font-weight: 400;">Tam Bảo</span><span style="font-weight: 400;"> gồm Phật, người dẫn dắt; Pháp (hay </span><span style="font-weight: 400;">tôn giáo</span><span style="font-weight: 400;">), là </span><span style="font-weight: 400;">Con đường</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;">; và </span><span style="font-weight: 400;">Tăng Đoàn</span><span style="font-weight: 400;">; </span><span style="font-weight: 400;">bao gồm</span><span style="font-weight: 400;"> những người bạn </span><span style="font-weight: 400;">tâm linh</span> <span style="font-weight: 400;">đồng hành</span><span style="font-weight: 400;">. </span><span style="font-weight: 400;">Tuy nhiên</span><span style="font-weight: 400;">, sự </span><span style="font-weight: 400;">quy y</span> <span style="font-weight: 400;">cuối cùng</span> <span style="font-weight: 400;">duy nhất</span><span style="font-weight: 400;"> là </span><span style="font-weight: 400;">đức Phật</span><span style="font-weight: 400;">. </span><span style="font-weight: 400;">Giáo Pháp</span><span style="font-weight: 400;"> có hai phần: </span><span style="font-weight: 400;">giáo lý</span><span style="font-weight: 400;"> và sự </span><span style="font-weight: 400;">nhận biết</span><span style="font-weight: 400;">. </span><span style="font-weight: 400;">Giáo lý</span><span style="font-weight: 400;"> là Tripataka (</span><span style="font-weight: 400;">Tam Tạng Giáo</span><span style="font-weight: 400;"> Điển – Sutra [Kinh], Abhidharma [Luận], Vinaya [Luật]), điều này giống như chiếc thuyền bạn dùng để </span><span style="font-weight: 400;">vượt qua</span><span style="font-weight: 400;"> sông; khi </span><span style="font-weight: 400;">đến bờ bên kia</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">đơn giản</span><span style="font-weight: 400;"> bạn hãy bỏ nó lại. Sự </span><span style="font-weight: 400;">nhận biết</span><span style="font-weight: 400;"> cũng có hai phần: </span><span style="font-weight: 400;">chân lý</span><span style="font-weight: 400;"> của sự </span><span style="font-weight: 400;">chấm dứt</span><span style="font-weight: 400;"> (</span><span style="font-weight: 400;">Diệt Đế</span><span style="font-weight: 400;">) và </span><span style="font-weight: 400;">chân lý</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">con đường</span><span style="font-weight: 400;"> (</span><span style="font-weight: 400;">Đạo Đế</span><span style="font-weight: 400;">). Cái đầu tiên là sự trống không (shunyata – </span><span style="font-weight: 400;">tính không</span><span style="font-weight: 400;">), nên nó không thể là sự </span><span style="font-weight: 400;">quy y</span> <span style="font-weight: 400;">cuối cùng</span><span style="font-weight: 400;">, trong khi </span><span style="font-weight: 400;">Con đường</span><span style="font-weight: 400;"> tự thân nó là </span><span style="font-weight: 400;">vô thường</span><span style="font-weight: 400;"> nên cũng không thể là </span><span style="font-weight: 400;">quy y</span> <span style="font-weight: 400;">cuối cùng</span><span style="font-weight: 400;">. Về phần Sangha, ngay cả những thành </span><span style="font-weight: 400;">viên thật</span><span style="font-weight: 400;"> sự cao nhất vẫn trên </span><span style="font-weight: 400;">Con đường</span><span style="font-weight: 400;">, nên họ không thể là sự </span><span style="font-weight: 400;">quy y</span> <span style="font-weight: 400;">cuối cùng</span><span style="font-weight: 400;">. Sự </span><span style="font-weight: 400;">quy y</span><span style="font-weight: 400;"> chỉ ở nơi </span><span style="font-weight: 400;">đức Phật</span><span style="font-weight: 400;">, nhưng </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> luôn luôn thọ </span><span style="font-weight: 400;">quy y</span><span style="font-weight: 400;"> nơi Phật, Pháp, và Tăng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Điều này có nghĩa Đức Phật là vĩnh cửu?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST:<i> </i></b><span style="font-weight: 400;">Vâng, đúng vậy, </span><span style="font-weight: 400;">dĩ nhiên</span> <span style="font-weight: 400;">Đức Phật</span><span style="font-weight: 400;"> là </span><span style="font-weight: 400;">thường hằng</span><span style="font-weight: 400;">. Dharmakaya (“thân của thực tại”) vượt lên thường và </span><span style="font-weight: 400;">vô thường</span><span style="font-weight: 400;">, và Sambhogakaya (“thân cực lạc”) luôn luôn </span><span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;">. Nirmanakaya (“thân hóa hiện”) là </span><span style="font-weight: 400;">thân tướng</span> <span style="font-weight: 400;">Đức Phật</span><span style="font-weight: 400;"> nhận vào </span><span style="font-weight: 400;">thế gian</span><span style="font-weight: 400;"> có </span><span style="font-weight: 400;">hình tướng</span> <span style="font-weight: 400;">vô thường</span><span style="font-weight: 400;">, mặc dù luôn </span><span style="font-weight: 400;">hiện diện</span><span style="font-weight: 400;"> ở </span><span style="font-weight: 400;">đâu đó</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">nếu không</span><span style="font-weight: 400;"> ở đây.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Thực hành thực tế của việc thọ quy y là gì?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Thọ </span><span style="font-weight: 400;">quy y</span><span style="font-weight: 400;"> được </span><span style="font-weight: 400;">thực hiện</span><span style="font-weight: 400;"> khác nhau </span><span style="font-weight: 400;">tùy theo</span> <span style="font-weight: 400;">mục đích</span><span style="font-weight: 400;"> của ba loại người </span><span style="font-weight: 400;">thực hiện</span><span style="font-weight: 400;"> nó, mặc dù ba </span><span style="font-weight: 400;">nguyên nhân</span><span style="font-weight: 400;"> – </span><span style="font-weight: 400;">sợ hãi</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">niềm tin</span><span style="font-weight: 400;">, và lòng bi – đều như nhau. </span><span style="font-weight: 400;">Thực hành</span> <span style="font-weight: 400;">thực tế</span><span style="font-weight: 400;"> là </span><span style="font-weight: 400;">tụng niệm</span><span style="font-weight: 400;"> bài nguyện </span><span style="font-weight: 400;">quy y</span><span style="font-weight: 400;">. bài nguyện </span><span style="font-weight: 400;">đơn giản</span><span style="font-weight: 400;"> nhất nói: “Con thọ </span><span style="font-weight: 400;">quy y</span><span style="font-weight: 400;"> nơi </span><span style="font-weight: 400;">Đức Phật</span><span style="font-weight: 400;">. Con thọ </span><span style="font-weight: 400;">quy y</span><span style="font-weight: 400;"> nơi </span><span style="font-weight: 400;">Giáo Pháp</span><span style="font-weight: 400;">. Con thọ </span><span style="font-weight: 400;">quy y</span><span style="font-weight: 400;"> nơi </span><span style="font-weight: 400;">Tăng Đoàn</span><span style="font-weight: 400;">”. Một bài nguyện </span><span style="font-weight: 400;">chi tiết</span><span style="font-weight: 400;"> hơn nói: “Con thọ </span><span style="font-weight: 400;">quy y</span><span style="font-weight: 400;"> nơi </span><span style="font-weight: 400;">Đức Phật</span><span style="font-weight: 400;">, Pháp, Tăng </span><span style="font-weight: 400;">cho đến</span><span style="font-weight: 400;"> khi con đạt </span><span style="font-weight: 400;">giác ngộ</span><span style="font-weight: 400;">, nhờ </span><span style="font-weight: 400;">công đức</span><span style="font-weight: 400;"> này cầu mong tất cả </span><span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span> <span style="font-weight: 400;">đạt đến</span> <span style="font-weight: 400;">Phật quả</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nhưng chỉ </span><span style="font-weight: 400;">tụng niệm</span><span style="font-weight: 400;"> bằng miệng thì chưa đủ; mà phải </span><span style="font-weight: 400;">tụng niệm</span><span style="font-weight: 400;"> từ </span><span style="font-weight: 400;">đáy lòng</span><span style="font-weight: 400;">. Nếu muốn trú mưa, việc nói “căn nhà, căn nhà” hoặc “cái dù, cái dù” chẳng giúp được gì. </span><span style="font-weight: 400;">Chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> phải đi tìm nhà, kiếm một cái dù; nếu làm như vậy </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span> <span style="font-weight: 400;">chắc chắn</span><span style="font-weight: 400;"> tránh được cơn mưa. Do vậy, việc thọ </span><span style="font-weight: 400;">quy y</span><span style="font-weight: 400;"> phải thật </span><span style="font-weight: 400;">nghiêm trang</span><span style="font-weight: 400;"> là điều </span><span style="font-weight: 400;">cần thiết</span><span style="font-weight: 400;">, với </span><span style="font-weight: 400;">niềm tin</span><span style="font-weight: 400;"> tưởng </span><span style="font-weight: 400;">hoàn toàn</span><span style="font-weight: 400;"> và </span><span style="font-weight: 400;">ngoài ra</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> phải nghĩ rằng bất chấp chuyện gì xảy ra </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> chỉ tìm cầu </span><span style="font-weight: 400;">quy y Tam Bảo</span><span style="font-weight: 400;"> và luôn luôn an trụ trong </span><span style="font-weight: 400;">Tam Bảo</span><span style="font-weight: 400;">. </span><span style="font-weight: 400;">Tụng niệm</span> <span style="font-weight: 400;">cầu nguyện</span><span style="font-weight: 400;"> theo cách đó và </span><span style="font-weight: 400;">mục đích</span><span style="font-weight: 400;"> này là </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> đầu tiên của </span><span style="font-weight: 400;">Phật giáo</span><span style="font-weight: 400;"> và là một trong những nền tảng của mọi </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;">. Thọ </span><span style="font-weight: 400;">quy y</span><span style="font-weight: 400;"> như vậy </span><span style="font-weight: 400;">phân biệt</span><span style="font-weight: 400;"> được người theo </span><span style="font-weight: 400;">đạo Phật</span><span style="font-weight: 400;"> và không theo </span><span style="font-weight: 400;">đạo Phật</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mặc dù </span><span style="font-weight: 400;">tụng niệm</span><span style="font-weight: 400;"> như vậy là đủ để làm người theo </span><span style="font-weight: 400;">đạo Phật</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">thực hiện</span><span style="font-weight: 400;"> một </span><span style="font-weight: 400;">nghi lễ</span><span style="font-weight: 400;"> ngắn trước một vị hướng dẫn </span><span style="font-weight: 400;">tâm linh</span><span style="font-weight: 400;"> là điều </span><span style="font-weight: 400;">phổ biến</span><span style="font-weight: 400;">. Người hướng dẫn sẽ đọc những lời của bài nguyện, </span><span style="font-weight: 400;">đệ tử</span><span style="font-weight: 400;"> sẽ lập lại sau vị thầy và cũng hứa </span><span style="font-weight: 400;">giữ gìn</span> <span style="font-weight: 400;">giáo lý</span> <span style="font-weight: 400;">đạo đức</span> <span style="font-weight: 400;">căn bản</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">Phật giáo</span><span style="font-weight: 400;">. Từ lúc đó </span><span style="font-weight: 400;">trở về</span><span style="font-weight: 400;"> sau, người </span><span style="font-weight: 400;">đệ tử</span><span style="font-weight: 400;"> nên </span><span style="font-weight: 400;">tiếp tục</span> <span style="font-weight: 400;">tụng niệm</span><span style="font-weight: 400;"> hàng ngày với lòng </span><span style="font-weight: 400;">sùng kính</span><span style="font-weight: 400;"> to lớn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Thú vật thật sự có thể tái sinh làm người hay không?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Có, </span><span style="font-weight: 400;">chắc chắn</span><span style="font-weight: 400;">. Có nhiều chuyện kể về loài vật được </span><span style="font-weight: 400;">tái sinh</span><span style="font-weight: 400;"> làm người như một kết quả của hành động thiện, và về </span><span style="font-weight: 400;">con người</span><span style="font-weight: 400;"> bị </span><span style="font-weight: 400;">tái sinh</span><span style="font-weight: 400;"> làm loài vật như kết quả của hành </span><span style="font-weight: 400;">độc ác</span><span style="font-weight: 400;">. Một số loài vật </span><span style="font-weight: 400;">đặc biệt</span><span style="font-weight: 400;"> tốt, nhất là với kết quả của chúng, và nhờ làm việc rất siêng năng chúng có thể tạo đủ </span><span style="font-weight: 400;">công đức </span><span style="font-weight: 400;">để được sinh làm người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Tại sao việc sinh làm người lại quan trọng như vậy?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST:</b><span style="font-weight: 400;"> Việc sinh làm người là rất </span><span style="font-weight: 400;">quý báu</span><span style="font-weight: 400;">, vì qua cuộc sống làm người, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> có </span><span style="font-weight: 400;">thể không</span><span style="font-weight: 400;"> chỉ </span><span style="font-weight: 400;">đạt được</span> <span style="font-weight: 400;">tái sinh</span><span style="font-weight: 400;"> cao hơn và đến nirvana (</span><span style="font-weight: 400;">niết bàn</span><span style="font-weight: 400;">), mà còn </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span> <span style="font-weight: 400;">Giáo Pháp</span><span style="font-weight: 400;"> và </span><span style="font-weight: 400;">đạt được</span> <span style="font-weight: 400;">giác ngộ</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Suy nghĩ nhiều về vô thường có thật sự giúp được chúng tôi hay không? Chúng tôi luôn biết mình là vô thường và suy nghĩ về nó quá nhiều có thể làm chúng tôi khốn khổ.</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Có, nó thực sự giúp được. Ngài Tsongkhapa nói: “người ở tù chỉ có một </span><span style="font-weight: 400;">suy nghĩ</span><span style="font-weight: 400;">: ‘Khi nào tôi có thể ra tù?’ </span><span style="font-weight: 400;">tư duy</span><span style="font-weight: 400;"> này </span><span style="font-weight: 400;">thường xuyên</span> <span style="font-weight: 400;">xuất hiện</span><span style="font-weight: 400;"> trong tâm họ. </span><span style="font-weight: 400;">Tư duy</span><span style="font-weight: 400;"> của các bạn về </span><span style="font-weight: 400;">vô thường</span><span style="font-weight: 400;"> nên giống như điều này; hãy </span><span style="font-weight: 400;">thiền định</span><span style="font-weight: 400;"> về </span><span style="font-weight: 400;">vô thường</span> <span style="font-weight: 400;">cho đến</span><span style="font-weight: 400;"> khi </span><span style="font-weight: 400;">trạng thái</span><span style="font-weight: 400;"> này của tâm </span><span style="font-weight: 400;">xuất hiện</span><span style="font-weight: 400;">”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Chúng tôi thật sự có ở trong vị trí những tù nhân hay không? Chúng tôi thường tìm thấy những việc khoái lạc trong thế gian hiện hữu này.</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST: </b><span style="font-weight: 400;">Nhưng khoái lạc đó không </span><span style="font-weight: 400;">lâu dài</span><span style="font-weight: 400;">, phải vậy không? Chính khoái lạc đó có thể dẫn đến </span><span style="font-weight: 400;">tai họa</span><span style="font-weight: 400;">, nó có thể hay không? Bây giờ </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span> <span style="font-weight: 400;">hạnh phúc</span><span style="font-weight: 400;"> nhưng không bao giờ biết được những gì có thể xảy ra trong những giờ sắp tới. Có thể </span><span style="font-weight: 400;">tai họa</span> <span style="font-weight: 400;">hoàn toàn</span><span style="font-weight: 400;"> xảy ra. Vì khoái lạc là </span><span style="font-weight: 400;">vô thường</span><span style="font-weight: 400;">, vì nó rất dễ thay đổi, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> thực sự </span><span style="font-weight: 400;">hạnh phúc</span><span style="font-weight: 400;">, vì sự </span><span style="font-weight: 400;">vui thích</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> nhuốm màu </span><span style="font-weight: 400;">lo lắng</span><span style="font-weight: 400;">. Thật ra, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> chưa từng </span><span style="font-weight: 400;">hạnh phúc</span><span style="font-weight: 400;"> vì không </span><span style="font-weight: 400;">biết điều</span><span style="font-weight: 400;"> gì sẽ xảy đến, nên sự </span><span style="font-weight: 400;">lo lắng</span> <span style="font-weight: 400;">chắc chắn</span><span style="font-weight: 400;"> xảy ra.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Sự ẩn dụ về những trạng thái hay thực chất đau khổ của địa ngục hoặc chúng có thật sự hiện hữu như kinh điển của đạo Phật đã mô tả hay không?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Tôi nghĩ ở mức độ nào đó nó thật sự </span><span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;">. Trong </span><span style="font-weight: 400;">thực tế</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">kinh điển</span><span style="font-weight: 400;"> nói các </span><span style="font-weight: 400;">cõi địa ngục</span><span style="font-weight: 400;"> còn </span><span style="font-weight: 400;">kinh khủng</span><span style="font-weight: 400;"> hơn những gì được </span><span style="font-weight: 400;">mô tả</span><span style="font-weight: 400;">, vì </span><span style="font-weight: 400;">đức Phật</span><span style="font-weight: 400;"> chưa </span><span style="font-weight: 400;">giải thích</span><span style="font-weight: 400;"> chúng đầy đủ. Nếu Ngài </span><span style="font-weight: 400;">giải thích</span><span style="font-weight: 400;"> đầy đủ, </span><span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span><span style="font-weight: 400;"> sẽ nản lòng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Chúng có thật như thế nào?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Chúng có thật như cuộc sống của </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> hiện nay. Nhiều người nghĩ nó </span><span style="font-weight: 400;">không thật</span><span style="font-weight: 400;">, giống như một giấc mơ. Nhưng trong </span><span style="font-weight: 400;">thực tế</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span> <span style="font-weight: 400;">hạnh phúc</span><span style="font-weight: 400;"> và </span><span style="font-weight: 400;">không hạnh</span><span style="font-weight: 400;"> phúc trong giấc mơ, khi </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta thức dậy</span><span style="font-weight: 400;"> cũng giống như thế. </span><span style="font-weight: 400;">Kinh nghiệm</span> <span style="font-weight: 400;">hiện tại</span><span style="font-weight: 400;"> này cũng </span><span style="font-weight: 400;">không thật</span><span style="font-weight: 400;">, nhưng </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> nghĩ mọi sự chung quanh </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> là có thật. </span><span style="font-weight: 400;">Địa ngục</span><span style="font-weight: 400;"> cũng có thật như vậy. </span><span style="font-weight: 400;">Dĩ nhiên</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">địa ngục</span><span style="font-weight: 400;"> trong </span><span style="font-weight: 400;">thực tại</span><span style="font-weight: 400;"> cũng </span><span style="font-weight: 400;">không thật</span><span style="font-weight: 400;">. Vậy điều này là gì?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Chư Phật có </b><b>đau khổ</b><b> không?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Không, các Ngài không bao giờ </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">, các Ngài </span><span style="font-weight: 400;">hoàn toàn</span> <span style="font-weight: 400;">thoát khỏi</span> <span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Chư Phật có thấy đau khổ không?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST:</b><span style="font-weight: 400;"> Các Ngài cũng không thấy </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Vậy làm sao các Ngài có thể giúp chúng sinh đang đau khổ?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST:</b><span style="font-weight: 400;"> Chư Phật không </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">. Câu </span><span style="font-weight: 400;">trả lời</span><span style="font-weight: 400;"> này là một trong những khác biệt giữa Phái Sakya và Gelugpa; Phái Gelugpa nói rằng chư Phật thực sự thấy </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">, và </span><span style="font-weight: 400;">chúng tôi</span><span style="font-weight: 400;"> nói rằng các Ngài không thấy. Người </span><span style="font-weight: 400;">thức dậy</span><span style="font-weight: 400;"> từ giấc ngủ không có những giấc mơ. </span><span style="font-weight: 400;">Cảnh tượng</span> <span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">luân hồi</span> <span style="font-weight: 400;">bất tịnh </span><span style="font-weight: 400;">giống như một giấc mơ, giống </span><span style="font-weight: 400;">như ảo</span><span style="font-weight: 400;"> ảnh. Do vậy, người nào đã </span><span style="font-weight: 400;">tỉnh thức</span><span style="font-weight: 400;"> khỏi </span><span style="font-weight: 400;">ảo tưởng</span><span style="font-weight: 400;"> này có </span><span style="font-weight: 400;">thể không</span><span style="font-weight: 400;"> bao giờ mơ lại. Nhưng vì </span><span style="font-weight: 400;">bồ đề tâm</span><span style="font-weight: 400;"> (</span><span style="font-weight: 400;">tâm giác</span><span style="font-weight: 400;"> ngộ) và lòng bi của Ngài </span><span style="font-weight: 400;">cùng lúc</span> <span style="font-weight: 400;">xuất hiện</span><span style="font-weight: 400;"> để giúp đỡ người khác. Nhưng </span><span style="font-weight: 400;">bản thân</span> <span style="font-weight: 400;">Đức Phật</span><span style="font-weight: 400;"> không bao giờ thấy </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">. Với Ngài, mọi sự đều </span><span style="font-weight: 400;">chuyển hóa</span> <span style="font-weight: 400;">thành hình</span><span style="font-weight: 400;"> tướng </span><span style="font-weight: 400;">thanh tịnh</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Đức Phật có liên lụy vào nghiệp hay không?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Ngài đã </span><span style="font-weight: 400;">đạt đến</span> <span style="font-weight: 400;">nghiệp kết</span><span style="font-weight: 400;"> quả </span><span style="font-weight: 400;">cuối cùng</span><span style="font-weight: 400;">, kết quả </span><span style="font-weight: 400;">hợp lý</span><span style="font-weight: 400;"> tốt nhất và cao nhất của karma.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Liệu có bất cứ điều gì có thể xảy đến với chúng ta mà không do kết quả của hành động chính chúng ta không?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Không, không bao giờ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Đức Phật có thể nhận biết kết quả hành động của Ngài hay của người khác hay không?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST:</b><span style="font-weight: 400;"> Có, chẳng hạn đã có nhiều </span><span style="font-weight: 400;">tiên tri</span><span style="font-weight: 400;">, nhưng tôi không nghĩ </span><span style="font-weight: 400;">Đức Phật</span><span style="font-weight: 400;"> thấy hay </span><span style="font-weight: 400;">nhận biết</span><span style="font-weight: 400;"> kết quả. Ở đâu cần </span><span style="font-weight: 400;">tiên tri</span><span style="font-weight: 400;">, nó </span><span style="font-weight: 400;">tự nhiên</span> <span style="font-weight: 400;">xuất hiện</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Chúng ta có thể sửa đổi kết quả của các hành động ở quá khứ không?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: </span><span style="font-weight: 400;">Chắc chắn</span><span style="font-weight: 400;"> rồi. </span><span style="font-weight: 400;">Sự thiền</span><span style="font-weight: 400;"> định Vajrasattva có thể tịnh hóa nhiều hành động xấu của </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> trong </span><span style="font-weight: 400;">quá khứ</span><span style="font-weight: 400;">, nhưng trong bất cứ </span><span style="font-weight: 400;">trường hợp</span><span style="font-weight: 400;"> nào, việc tạo ra nhân tốt và </span><span style="font-weight: 400;">công đức</span><span style="font-weight: 400;"> đều rất </span><span style="font-weight: 400;">cần thiết</span><span style="font-weight: 400;"> và có ích.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Bodhisattva được sinh ra vì t</b><b>ình thương</b><b> và lòng bi</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: </b><strong>Trong Con đường Nhỏ của việc chỉ giải thoát cho cá nhân (Hinayana – Tiểu Thừa), nirvana (sự giải thoát) là một trong Tứ Diệu Đế, nhưng dường như nó ít quan trọng hơn trong Con đường Lớn (Mahayana – Đại Thừa).</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Đúng vậy. Có hai </span><span style="font-weight: 400;">thái cực</span><span style="font-weight: 400;">: </span><span style="font-weight: 400;">thế gian</span> <span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;"> và </span><span style="font-weight: 400;">giải thoát</span><span style="font-weight: 400;">. Cái đầu </span><span style="font-weight: 400;">hoàn toàn</span> <span style="font-weight: 400;">liên quan đến</span> <span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">, và cái kia đã </span><span style="font-weight: 400;">hoàn toàn</span><span style="font-weight: 400;"> đi vượt lên nó. </span><span style="font-weight: 400;">Đại Thừa</span><span style="font-weight: 400;"> dạy rằng không nên </span><span style="font-weight: 400;">đi vào</span><span style="font-weight: 400;"> cả hai. Thay vào đó, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> nên </span><span style="font-weight: 400;">đi theo</span> <span style="font-weight: 400;">Trung Đạo</span><span style="font-weight: 400;">, có nghĩa rằng qua </span><span style="font-weight: 400;">năng lực</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">trí tuệ</span> <span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> không trụ trong </span><span style="font-weight: 400;">thế gian</span> <span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;">, và qua </span><span style="font-weight: 400;">năng lực</span><span style="font-weight: 400;"> của lòng bi, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> không trụ trong </span><span style="font-weight: 400;">giải thoát</span><span style="font-weight: 400;">. Nếu trong </span><span style="font-weight: 400;">giải thoát chúng</span><span style="font-weight: 400;"> ta không thể </span><span style="font-weight: 400;">hoạt động</span><span style="font-weight: 400;">, không thể giúp đỡ người khác. </span><span style="font-weight: 400;">Chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> sẽ </span><span style="font-weight: 400;">chỉ hoàn</span><span style="font-weight: 400;"> toàn </span><span style="font-weight: 400;">thoát khỏi</span> <span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">, nhưng chẳng có điều gì </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> có thể làm cho người khác. Nhờ </span><span style="font-weight: 400;">đạt đến</span> <span style="font-weight: 400;">giác ngộ</span><span style="font-weight: 400;">, mà </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta </span><span style="font-weight: 400;">gọi là Đại </span><span style="font-weight: 400;">Giải Thoát</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> không chỉ </span><span style="font-weight: 400;">thoát khỏi</span> <span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> mà còn có thể giúp đỡ </span><span style="font-weight: 400;">vô lượng</span> <span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span><span style="font-weight: 400;">. Đó là sự khác biệt chính.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Nguyên lý thực hành của Mahayana là gì?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: có ba </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> chính: </span><span style="font-weight: 400;">tình thương</span><span style="font-weight: 400;">, lòng bi và </span><span style="font-weight: 400;">tâm giác</span><span style="font-weight: 400;"> ngộ. </span><span style="font-weight: 400;">Tình thương</span><span style="font-weight: 400;"> có nghĩa bạn </span><span style="font-weight: 400;">mong ước</span><span style="font-weight: 400;"> mỗi </span><span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span><span style="font-weight: 400;"> trong sáu cõi được </span><span style="font-weight: 400;">hạnh phúc</span><span style="font-weight: 400;">, và lòng bi là </span><span style="font-weight: 400;">mong ước</span><span style="font-weight: 400;"> tất cả </span><span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span><span style="font-weight: 400;"> đang </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> được </span><span style="font-weight: 400;">thoát khỏi</span> <span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">. </span><span style="font-weight: 400;">Tâm giác</span><span style="font-weight: 400;"> ngộ có nghĩa, nói chung, là </span><span style="font-weight: 400;">mong ước</span> <span style="font-weight: 400;">đạt được</span> <span style="font-weight: 400;">giác ngộ</span> <span style="font-weight: 400;">vì lợi ích</span><span style="font-weight: 400;"> của tất cả </span><span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span><span style="font-weight: 400;">. Ba điều này rất quan trọng. Không có </span><span style="font-weight: 400;">tình thương</span><span style="font-weight: 400;"> và lòng bi, </span><span style="font-weight: 400;">tâm giác</span><span style="font-weight: 400;"> ngộ sẽ không </span><span style="font-weight: 400;">xuất hiện</span><span style="font-weight: 400;">; và không có </span><span style="font-weight: 400;">tâm giác</span><span style="font-weight: 400;"> ngộ bạn không </span><span style="font-weight: 400;">thể đạt</span> <span style="font-weight: 400;">giác ngộ</span><span style="font-weight: 400;">; do đó, </span><span style="font-weight: 400;">tình thương</span><span style="font-weight: 400;"> và lòng bi là </span><span style="font-weight: 400;">cần thiết</span><span style="font-weight: 400;">. Nhưng về những điều đó, lòng bi là </span><span style="font-weight: 400;">đặc biệt</span><span style="font-weight: 400;"> quan trọng. Nó là </span><span style="font-weight: 400;">hạt giống</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">Đại Thừa</span><span style="font-weight: 400;"> vào lúc bắt đầu; là nước làm cây trồng </span><span style="font-weight: 400;">tăng trưởng</span><span style="font-weight: 400;"> vào lúc giữa; và </span><span style="font-weight: 400;">cuối cùng</span><span style="font-weight: 400;"> là sự </span><span style="font-weight: 400;">chín muồi</span><span style="font-weight: 400;"> của quả. Vì lòng bi ở </span><span style="font-weight: 400;">lúc đầu</span><span style="font-weight: 400;">, lúc giữa và ở cuối nên nó quan trọng là điều </span><span style="font-weight: 400;">rõ ràng</span><span style="font-weight: 400;">. Vì thế, khi Ngài Chandrakirti (</span><span style="font-weight: 400;">Nguyệt Xứng</span><span style="font-weight: 400;">) viết Madhyamakavatara, Ngài nói về lòng bi trước hết với sự </span><span style="font-weight: 400;">tôn kính</span><span style="font-weight: 400;">. “Đức Phật” Ngài nói: “xuất hiện từ </span><span style="font-weight: 400;">Bồ Tát</span><span style="font-weight: 400;">, và </span><span style="font-weight: 400;">Bồ Tát</span><span style="font-weight: 400;"> sinh ra vì lòng bi và </span><span style="font-weight: 400;">tình thương</span><span style="font-weight: 400;">, nhưng </span><span style="font-weight: 400;">đặc biệt</span><span style="font-weight: 400;"> vì lòng bi”. </span><span style="font-weight: 400;">Nguyên nhân </span><span style="font-weight: 400;">chính của </span><span style="font-weight: 400;">Đại Thừa</span><span style="font-weight: 400;"> là lòng bi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Chúng tôi nên thực hành các điều này ra sao?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: </span><span style="font-weight: 400;">Trước tiên</span> <span style="font-weight: 400;">cần phải</span> <span style="font-weight: 400;">học hỏi</span><span style="font-weight: 400;"> và sau đó </span><span style="font-weight: 400;">thiền định</span><span style="font-weight: 400;">. Hãy </span><span style="font-weight: 400;">quán tưởng</span><span style="font-weight: 400;"> những người </span><span style="font-weight: 400;">thương mến</span><span style="font-weight: 400;"> bạn và </span><span style="font-weight: 400;">mong ước</span><span style="font-weight: 400;"> họ được </span><span style="font-weight: 400;">hạnh phúc</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">thoát khỏi</span> <span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">; </span><span style="font-weight: 400;">kế tiếp</span> <span style="font-weight: 400;">cầu nguyện</span><span style="font-weight: 400;"> bạn có </span><span style="font-weight: 400;">năng lực</span><span style="font-weight: 400;"> để </span><span style="font-weight: 400;">hoàn thành</span><span style="font-weight: 400;"> điều này cho họ, mà bạn sẽ có khả năng làm điều này. Sau đó </span><span style="font-weight: 400;">thiền định</span><span style="font-weight: 400;"> về những người không gần bên bạn và </span><span style="font-weight: 400;">cuối cùng</span><span style="font-weight: 400;"> về tất cả </span><span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span><span style="font-weight: 400;">. Trong </span><span style="font-weight: 400;">thực tế</span><span style="font-weight: 400;">, bạn nên khởi đầu bằng việc </span><span style="font-weight: 400;">suy nghĩ</span><span style="font-weight: 400;"> về bốn hồi ức, sau đó thọ </span><span style="font-weight: 400;">quy y</span><span style="font-weight: 400;"> rồi </span><span style="font-weight: 400;">quán tưởng</span><span style="font-weight: 400;"> mẹ bạn và </span><span style="font-weight: 400;">suy nghĩ</span><span style="font-weight: 400;"> thật kỹ lưỡng, </span><span style="font-weight: 400;">chi tiết</span><span style="font-weight: 400;"> nhất về </span><span style="font-weight: 400;">lòng tốt </span><span style="font-weight: 400;">và sự </span><span style="font-weight: 400;">quan tâm</span><span style="font-weight: 400;"> của bà cho bạn. </span><span style="font-weight: 400;">Kế tiếp</span> <span style="font-weight: 400;">nhận ra</span><span style="font-weight: 400;"> bà vẫn </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> và tạo ra các </span><span style="font-weight: 400;">nguyên nhân</span><span style="font-weight: 400;"> gây </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">. Vào lúc này, </span><span style="font-weight: 400;">mong ước</span><span style="font-weight: 400;"> giúp đỡ bà khởi lên và khi bạn muốn giúp đỡ bà </span><span style="font-weight: 400;">thoát khỏi</span> <span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">, thì </span><span style="font-weight: 400;">tâm giác</span><span style="font-weight: 400;"> ngộ </span><span style="font-weight: 400;">xuất hiện</span><span style="font-weight: 400;">. </span><span style="font-weight: 400;">Cuối cùng</span><span style="font-weight: 400;">, hãy </span><span style="font-weight: 400;">cầu nguyện</span><span style="font-weight: 400;"> đến guru và </span><span style="font-weight: 400;">Tam Bảo</span><span style="font-weight: 400;"> để bà có thẻ </span><span style="font-weight: 400;">hạnh phúc</span><span style="font-weight: 400;"> và không </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">. Sau đó hãy </span><span style="font-weight: 400;">suy nghĩ</span><span style="font-weight: 400;"> về cha bạn, về những </span><span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span><span style="font-weight: 400;"> khác và </span><span style="font-weight: 400;">kẻ thù</span><span style="font-weight: 400;"> xấu nhất của bạn. Nếu điều này khó, hãy nhớ rằng thù hận là </span><span style="font-weight: 400;">kẻ thù</span><span style="font-weight: 400;"> thật sự của bạn vì nó sẽ tạo ra những </span><span style="font-weight: 400;">trạng thái</span> <span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> to lớn. </span><span style="font-weight: 400;">Kế tiếp</span> <span style="font-weight: 400;">thiền định</span><span style="font-weight: 400;"> về tất cả </span><span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span><span style="font-weight: 400;"> trong sáu cõi </span><span style="font-weight: 400;">cho đến</span><span style="font-weight: 400;"> khi </span><span style="font-weight: 400;">xuất hiện</span> <span style="font-weight: 400;">tình thương</span> <span style="font-weight: 400;">tự nhiên</span><span style="font-weight: 400;"> với họ không dành riêng cho ai. </span><span style="font-weight: 400;">Cuối cùng</span><span style="font-weight: 400;">, hãy </span><span style="font-weight: 400;">mong ước</span><span style="font-weight: 400;"> bất cứ </span><span style="font-weight: 400;">công đức</span><span style="font-weight: 400;"> nào đã </span><span style="font-weight: 400;">tích lũy</span><span style="font-weight: 400;"> qua điều này có thể </span><span style="font-weight: 400;">lợi ích</span><span style="font-weight: 400;"> cho tất cả </span><span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span><span style="font-weight: 400;"> một cách </span><span style="font-weight: 400;">bình đẳng</span><span style="font-weight: 400;">; sự chia sẻ về </span><span style="font-weight: 400;">công đức</span><span style="font-weight: 400;"> này </span><span style="font-weight: 400;">kết thúc</span><span style="font-weight: 400;"> mỗi thời </span><span style="font-weight: 400;">thiền định</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lòng bi là quan trọng nhất và nên </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> càng nhiều càng tốt. Lòng bi phải </span><span style="font-weight: 400;">hoàn toàn</span><span style="font-weight: 400;"> là </span><span style="font-weight: 400;">bản năng</span><span style="font-weight: 400;">. Avalokitesvara, </span><span style="font-weight: 400;">Đức Thế Tôn</span><span style="font-weight: 400;"> của lòng Bi, đã nói trong một kinh: “Người nào </span><span style="font-weight: 400;">mong ước</span><span style="font-weight: 400;"> đạt </span><span style="font-weight: 400;">giác ngộ</span><span style="font-weight: 400;">, không </span><span style="font-weight: 400;">cần phải</span> <span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> nhiều điều, chỉ cần một điều và đó là lòng bi”. Sự </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> về lòng bi có ba loại. Lòng bi với </span><span style="font-weight: 400;">con người</span><span style="font-weight: 400;"> là </span><span style="font-weight: 400;">mong ước</span><span style="font-weight: 400;"> rằng </span><span style="font-weight: 400;">trước tiên</span><span style="font-weight: 400;"> là mẹ bạn và sau đó là tất cả </span><span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span><span style="font-weight: 400;"> vô hạn được </span><span style="font-weight: 400;">thoát khỏi</span> <span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> và bạn có thể giúp họ. Lòng bi đến </span><span style="font-weight: 400;">Giáo Pháp</span><span style="font-weight: 400;"> (</span><span style="font-weight: 400;">hiện tượng</span><span style="font-weight: 400;"> có </span><span style="font-weight: 400;">điều kiện</span><span style="font-weight: 400;">) là </span><span style="font-weight: 400;">mong ước</span> <span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span><span style="font-weight: 400;"> nên </span><span style="font-weight: 400;">từ bỏ</span><span style="font-weight: 400;"> gốc rễ của </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">, mà gốc rễ của </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> là </span><span style="font-weight: 400;">vô minh</span><span style="font-weight: 400;">. </span><span style="font-weight: 400;">Thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> thứ ba được gọi là lòng bi không đối tượng. Bạn phải </span><span style="font-weight: 400;">nhận ra</span><span style="font-weight: 400;"> rằng tất cả </span><span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span><span style="font-weight: 400;"> không thực sự có, nhưng vì qua </span><span style="font-weight: 400;">vô minh</span><span style="font-weight: 400;"> về những gì coi là có thật, họ bị </span><span style="font-weight: 400;">trói buộc</span><span style="font-weight: 400;"> vào </span><span style="font-weight: 400;">bản ngã</span><span style="font-weight: 400;">, và điều này làm họ </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Chúng sinh có thực sự có hay không?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST: </b><span style="font-weight: 400;">Không, trong </span><span style="font-weight: 400;">thực tế</span> <span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span> <span style="font-weight: 400;">không thật</span><span style="font-weight: 400;"> sự có ở đó, nhưng qua bám luyến </span><span style="font-weight: 400;">bản ngã</span><span style="font-weight: 400;"> nên </span><span style="font-weight: 400;">xuất hiện</span> <span style="font-weight: 400;">hình tướng</span><span style="font-weight: 400;"> ảo huyễn. Khi </span><span style="font-weight: 400;">tham luyến</span><span style="font-weight: 400;"> vào những đối tượng này, bạn cũng có thể có nhiều </span><span style="font-weight: 400;">ác cảm </span><span style="font-weight: 400;">với người khác, và </span><span style="font-weight: 400;">chừng nào</span><span style="font-weight: 400;"> sự </span><span style="font-weight: 400;">vô minh</span><span style="font-weight: 400;"> của bạn còn tin rằng họ thực sự </span><span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;">, bạn vẫn còn </span><span style="font-weight: 400;">bị giam </span><span style="font-weight: 400;">giữ trong quỹ đạo khép kín đó là </span><span style="font-weight: 400;">thế gian</span> <span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> thứ ba là về </span><span style="font-weight: 400;">tâm giác</span><span style="font-weight: 400;"> ngộ, đây là </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> rất quan trọng. Nói chung, có hai </span><span style="font-weight: 400;">tâm giác</span><span style="font-weight: 400;"> ngộ: </span><span style="font-weight: 400;">tương đối</span><span style="font-weight: 400;"> và </span><span style="font-weight: 400;">tuyệt đối</span><span style="font-weight: 400;">. </span><span style="font-weight: 400;">Tâm giác</span><span style="font-weight: 400;"> ngộ </span><span style="font-weight: 400;">tương đối</span><span style="font-weight: 400;"> cũng có hai phần; được gọi là “mong ước” và “đi vào”. </span><span style="font-weight: 400;">Tâm giác</span><span style="font-weight: 400;"> ngộ </span><span style="font-weight: 400;">mong ước</span><span style="font-weight: 400;"> là sự khao khát, ước muốn đạt </span><span style="font-weight: 400;">giải thoát</span><span style="font-weight: 400;"> cho tất cả </span><span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span><span style="font-weight: 400;">, và điều này cũng giống như muốn làm một chuyến đi. </span><span style="font-weight: 400;">Tâm giác</span><span style="font-weight: 400;"> ngộ </span><span style="font-weight: 400;">đi vào</span><span style="font-weight: 400;"> giống như </span><span style="font-weight: 400;">thực hiện</span><span style="font-weight: 400;"> chuyến </span><span style="font-weight: 400;">hành trình </span><span style="font-weight: 400;">đó. </span><span style="font-weight: 400;">Mọi việc</span><span style="font-weight: 400;"> bạn thực sự làm để đạt </span><span style="font-weight: 400;">mục tiêu</span><span style="font-weight: 400;"> được </span><span style="font-weight: 400;">giác ngộ</span><span style="font-weight: 400;"> đều là </span><span style="font-weight: 400;">tâm giác</span><span style="font-weight: 400;"> ngộ </span><span style="font-weight: 400;">đi vào</span><span style="font-weight: 400;">; do vậy trong </span><span style="font-weight: 400;">thực tế</span> <span style="font-weight: 400;">tâm giác</span><span style="font-weight: 400;"> ngộ </span><span style="font-weight: 400;">đi vào</span><span style="font-weight: 400;"> này </span><span style="font-weight: 400;">bao gồm</span><span style="font-weight: 400;"> tất cả </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">đạo Phật</span><span style="font-weight: 400;">, như là sáu paramita </span><span style="font-weight: 400;">của bố thí</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">trì giới</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">nhẫn nhục</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">tinh tấn</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">thiền định</span><span style="font-weight: 400;"> và </span><span style="font-weight: 400;">trí tuệ</span><span style="font-weight: 400;">. Kế đến, </span><span style="font-weight: 400;">tâm giác</span><span style="font-weight: 400;"> ngộ </span><span style="font-weight: 400;">tuyệt đối</span><span style="font-weight: 400;"> là sự </span><span style="font-weight: 400;">hiểu biết</span><span style="font-weight: 400;"> về </span><span style="font-weight: 400;">thật tính</span><span style="font-weight: 400;"> của mọi sự vật, đó là </span><span style="font-weight: 400;">tính không</span><span style="font-weight: 400;">. </span><span style="font-weight: 400;">Nhận ra</span><span style="font-weight: 400;"> điều này là </span><span style="font-weight: 400;">tâm giác</span><span style="font-weight: 400;"> ngộ </span><span style="font-weight: 400;">tuyệt đối</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Chúng tôi nên hiểu tính không ra sao?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: </span><span style="font-weight: 400;">Tính không</span><span style="font-weight: 400;"> thật ra chỉ là </span><span style="font-weight: 400;">danh hiệu</span><span style="font-weight: 400;">. Nó không có nghĩa mọi sự vật đều trống không hoặc trống rỗng. Mỗi </span><span style="font-weight: 400;">tôn giáo</span><span style="font-weight: 400;"> đều </span><span style="font-weight: 400;">cố gắng</span> <span style="font-weight: 400;">giải thích</span> <span style="font-weight: 400;">thật tính</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">hiện tượng</span><span style="font-weight: 400;">, nhưng tất cả đều đi đến </span><span style="font-weight: 400;">kết luận</span><span style="font-weight: 400;"> về điều gì đó đang </span><span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;">, hoặc </span><span style="font-weight: 400;">tích cực</span><span style="font-weight: 400;"> hoặc </span><span style="font-weight: 400;">tiêu cực</span><span style="font-weight: 400;">. Người </span><span style="font-weight: 400;">bình thường</span><span style="font-weight: 400;"> không </span><span style="font-weight: 400;">suy nghĩ</span><span style="font-weight: 400;"> nhiều về </span><span style="font-weight: 400;">hiện tượng</span><span style="font-weight: 400;"> và khởi nguyên của chúng, nhưng người nhiều </span><span style="font-weight: 400;">tâm linh</span><span style="font-weight: 400;"> hơn lại thực sự nghĩ và tự hỏi tại sao sự vật </span><span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;"> và chúng </span><span style="font-weight: 400;">xuất phát</span><span style="font-weight: 400;"> từ đâu. </span><span style="font-weight: 400;">Đạo Cơ</span><span style="font-weight: 400;"> Đốc </span><span style="font-weight: 400;">kết luận</span><span style="font-weight: 400;"> rằng mọi sự vật đều được </span><span style="font-weight: 400;">Thượng Đế</span> <span style="font-weight: 400;">sáng tạo</span><span style="font-weight: 400;">. Một </span><span style="font-weight: 400;">học phái</span> <span style="font-weight: 400;">ban đầu</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">đạo Phật</span><span style="font-weight: 400;">, Sarvastivada (</span><span style="font-weight: 400;">thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ</span><span style="font-weight: 400;">) </span><span style="font-weight: 400;">kết luận</span><span style="font-weight: 400;"> rằng, mặc dù sự vật thô không thực sự </span><span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;">, nhưng nguyên tử – vì quá nhỏ bé nên không thể có nhiều mặt </span><span style="font-weight: 400;">đối diện</span><span style="font-weight: 400;"> với những </span><span style="font-weight: 400;">phương hướng</span><span style="font-weight: 400;"> khác nhau – lại thực sự </span><span style="font-weight: 400;">tồn tại</span><span style="font-weight: 400;"> như những </span><span style="font-weight: 400;">nguyên tố cơ</span><span style="font-weight: 400;"> bản. Một </span><span style="font-weight: 400;">học phái</span> <span style="font-weight: 400;">đạo Phật</span><span style="font-weight: 400;"> cao hơn, Vijnanavada, xác quyết rằng </span><span style="font-weight: 400;">tuyệt đối</span><span style="font-weight: 400;"> không có gì </span><span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;"> ở bên ngoài, và những sự vật mà </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span> <span style="font-weight: 400;">nhận thức</span><span style="font-weight: 400;"> được chỉ là sự phóng chiếu của tâm. </span><span style="font-weight: 400;">Tuy nhiên</span><span style="font-weight: 400;">, khi những </span><span style="font-weight: 400;">triết gia</span><span style="font-weight: 400;"> của Madhyamika khảo sát </span><span style="font-weight: 400;">hiện tượng</span><span style="font-weight: 400;">, mọi sự dường như biến mất và họ chẳng thể </span><span style="font-weight: 400;">tìm thấy</span><span style="font-weight: 400;"> điều gì. Họ không </span><span style="font-weight: 400;">thỏa mãn</span><span style="font-weight: 400;"> bởi sự </span><span style="font-weight: 400;">giải thích</span><span style="font-weight: 400;"> rằng </span><span style="font-weight: 400;">Thượng Đế</span> <span style="font-weight: 400;">sáng tạo</span><span style="font-weight: 400;"> mọi sự hay những nguyên tử nhỏ bé đó </span><span style="font-weight: 400;">tồn tại</span><span style="font-weight: 400;">, và họ </span><span style="font-weight: 400;">lý luận</span><span style="font-weight: 400;"> rằng tâm chủ </span><span style="font-weight: 400;">thể không</span> <span style="font-weight: 400;">thể hiện</span><span style="font-weight: 400;"> hữu nếu đối tượng không </span><span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;">, vì tâm và đối tượng </span><span style="font-weight: 400;">phụ thuộc lẫn nhau</span><span style="font-weight: 400;"> bất khả phân như bên trái và bên phải. Do vậy, </span><span style="font-weight: 400;">nếu không</span><span style="font-weight: 400;"> có </span><span style="font-weight: 400;">vật chất</span><span style="font-weight: 400;"> bên ngoài thì chẳng có thể có tâm. Madhyamika sau khi khảo sát rất kỹ lưỡng </span><span style="font-weight: 400;">kết luận</span><span style="font-weight: 400;"> rằng </span><span style="font-weight: 400;">cuối cùng</span><span style="font-weight: 400;"> chẳng có gì có thể bám chấp là thực sự </span><span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;">. Điều </span><span style="font-weight: 400;">tích cực</span><span style="font-weight: 400;"> chẳng thể tìm được, điều </span><span style="font-weight: 400;">tiêu cực</span><span style="font-weight: 400;"> cũng không thể </span><span style="font-weight: 400;">tìm thấy</span><span style="font-weight: 400;">, không có gì có thể được thấy mà có thể </span><span style="font-weight: 400;">chấp nhận</span><span style="font-weight: 400;"> như thực sự </span><span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;">, vì </span><span style="font-weight: 400;">thật tính</span><span style="font-weight: 400;"> của mọi sự đều vượt lên </span><span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;"> và không </span><span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;">, vượt lên </span><span style="font-weight: 400;">tư duy</span><span style="font-weight: 400;"> và không thể nghĩ bàn. Ngài Shantideva (</span><span style="font-weight: 400;">Tịch Thiên</span><span style="font-weight: 400;">) nói: “cái </span><span style="font-weight: 400;">Tuyệt đối</span><span style="font-weight: 400;"> không phải là đối tượng của tâm, nó vượt lên tâm. Nó là điều gì đó mà bạn không thể </span><span style="font-weight: 400;">mô tả</span><span style="font-weight: 400;">; nó là sự tự hỏi về điều không thể hiểu được”. Tuy vậy, khi nói về những điều như thế, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> đặt tên chúng, nên gọi nó là “tính không”, nhưng </span><span style="font-weight: 400;">tính không</span><span style="font-weight: 400;"> lại không thực sự là điều gì đó có thể đặt tên, nó là sự không thể </span><span style="font-weight: 400;">diễn tả</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Dĩ nhiên</span><span style="font-weight: 400;">, tất cả điều này là “nói </span><span style="font-weight: 400;">rốt ráo</span><span style="font-weight: 400;">”. Nói theo cách </span><span style="font-weight: 400;">tương đối</span><span style="font-weight: 400;">, Madhyamika </span><span style="font-weight: 400;">chấp nhận</span><span style="font-weight: 400;"> bất cứ những gì người </span><span style="font-weight: 400;">bình thường</span> <span style="font-weight: 400;">chấp nhận</span><span style="font-weight: 400;">, nhưng các </span><span style="font-weight: 400;">tác phẩm</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">học phái</span><span style="font-weight: 400;"> này thực sự phô bày </span><span style="font-weight: 400;">kinh nghiệm </span><span style="font-weight: 400;">không thể </span><span style="font-weight: 400;">diễn tả</span><span style="font-weight: 400;"> của mọi sự vật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Có phải sự phê bình hiện tượng này chỉ là một nghịch biện hợp lý? Liệu nó có thể có bất cứ ý nghĩa nào về cuộc sống hàng ngày hay không?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: </span><span style="font-weight: 400;">Dĩ nhiên</span><span style="font-weight: 400;"> là có. Khi </span><span style="font-weight: 400;">nhận ra</span> <span style="font-weight: 400;">chân lý</span> <span style="font-weight: 400;">tối hậu</span><span style="font-weight: 400;">, bạn </span><span style="font-weight: 400;">thoát khỏi</span> <span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">. </span><span style="font-weight: 400;">Chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> đang trong </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ </span><span style="font-weight: 400;">vì chưa </span><span style="font-weight: 400;">tỉnh thức</span><span style="font-weight: 400;"> từ </span><span style="font-weight: 400;">ảo tưởng</span> <span style="font-weight: 400;">tương đối</span><span style="font-weight: 400;">. </span><span style="font-weight: 400;">Chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> bị </span><span style="font-weight: 400;">che đậy</span><span style="font-weight: 400;"> trong </span><span style="font-weight: 400;">ảo tưởng</span> <span style="font-weight: 400;">tương đối</span><span style="font-weight: 400;"> này; và vì thế </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> chấp giữ sự vật như có thật; giữ chặt chúng như là thật, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> hành động và do vậy </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> và tạo ra nhiều </span><span style="font-weight: 400;">nguyên nhân</span><span style="font-weight: 400;"> gây </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> hơn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Vậy vấn đề thực sự là sự bám luyến?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Khi chẳng còn bám luyến vào sự vật như có thật, bạn chẳng tạo ra </span><span style="font-weight: 400;">nguyên nhân</span><span style="font-weight: 400;"> gây </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Có phải đây là một chủ đề thiền định?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST:</b><span style="font-weight: 400;"> Có nhiều </span><span style="font-weight: 400;">thiền định</span><span style="font-weight: 400;"> về điều này trong </span><span style="font-weight: 400;">Đại Thừa</span><span style="font-weight: 400;">, và nhất là trong Mật Thừa. Bạn phải </span><span style="font-weight: 400;">nhận ra </span><span style="font-weight: 400;">rằng </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span> <span style="font-weight: 400;">xuất phát</span><span style="font-weight: 400;"> từ nghiệp xấu, karma xấu </span><span style="font-weight: 400;">xuất phát</span><span style="font-weight: 400;"> từ </span><span style="font-weight: 400;">nhiễm ô</span><span style="font-weight: 400;">, và </span><span style="font-weight: 400;">nhiễm ô</span><span style="font-weight: 400;"> khởi hiện từ </span><span style="font-weight: 400;">bản ngã</span><span style="font-weight: 400;">. Nếu bị lừa gạt, bạn có thể nghĩ cuộn dây là con rắn vì bạn cho rằng </span><span style="font-weight: 400;">bản ngã</span> <span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;">. Khi bạn có “ngã” thì phải có “cái khác”; khi có cái khác thì có </span><span style="font-weight: 400;">tham muốn</span><span style="font-weight: 400;"> cho </span><span style="font-weight: 400;">bản ngã</span><span style="font-weight: 400;"> và ghét cái khác, và điều này càng dẫn đến lừa gạt nhiều hơn và che ám </span><span style="font-weight: 400;">thật tính</span><span style="font-weight: 400;">. </span><span style="font-weight: 400;">Tâm giác</span><span style="font-weight: 400;"> ngộ là cách tốt nhất để nhổ tận gốc </span><span style="font-weight: 400;">quan niệm</span> <span style="font-weight: 400;">sai lầm</span><span style="font-weight: 400;"> về </span><span style="font-weight: 400;">bản ngã</span><span style="font-weight: 400;">. Những </span><span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span><span style="font-weight: 400;"> khác không giống bạn những gì? </span><span style="font-weight: 400;">Trước tiên</span><span style="font-weight: 400;"> hãy cố xem họ </span><span style="font-weight: 400;">bình đẳng</span><span style="font-weight: 400;"> với bạn và </span><span style="font-weight: 400;">yêu thương</span><span style="font-weight: 400;"> họ nhiều như bạn </span><span style="font-weight: 400;">yêu thương</span><span style="font-weight: 400;"> chính mình, </span><span style="font-weight: 400;">cho đến</span><span style="font-weight: 400;"> khi </span><span style="font-weight: 400;">cuối cùng</span><span style="font-weight: 400;"> bạn có thể </span><span style="font-weight: 400;">thương yêu</span> <span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span><span style="font-weight: 400;"> khác nhiều hơn chính bạn. Dù bạn </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> nhiều như thế nào, song hãy </span><span style="font-weight: 400;">cố gắng</span> <span style="font-weight: 400;">mong ước</span> <span style="font-weight: 400;">liên tục</span><span style="font-weight: 400;"> sự </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> của tất cả </span><span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span><span style="font-weight: 400;"> có thể đến với bạn, và tất cả các </span><span style="font-weight: 400;">nguyên nhân</span><span style="font-weight: 400;"> tạo </span><span style="font-weight: 400;">hạnh phúc</span><span style="font-weight: 400;"> của bạn có thể đem cho họ. Và bạn luôn </span><span style="font-weight: 400;">mong ước</span><span style="font-weight: 400;"> rằng </span><span style="font-weight: 400;">công đức</span><span style="font-weight: 400;"> có được qua điều này nên </span><span style="font-weight: 400;">vì lợi ích</span><span style="font-weight: 400;"> của tất cả </span><span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> để </span><span style="font-weight: 400;">nhận ra</span> <span style="font-weight: 400;">tính không</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">tâm giác</span><span style="font-weight: 400;"> ngộ </span><span style="font-weight: 400;">tuyệt đối</span><span style="font-weight: 400;">, có hai phần: sự </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> về tập trung (</span><span style="font-weight: 400;">thiền chỉ</span><span style="font-weight: 400;">) và sự phân tích của </span><span style="font-weight: 400;">kinh nghiệm</span><span style="font-weight: 400;"> (</span><span style="font-weight: 400;">thiền quán</span><span style="font-weight: 400;">), điều này phô bày cho </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> thấy </span><span style="font-weight: 400;">kinh nghiệm</span><span style="font-weight: 400;"> của Madhyamika một cách </span><span style="font-weight: 400;">rõ ràng</span><span style="font-weight: 400;">. Các </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> này cần một số </span><span style="font-weight: 400;">giải thích</span><span style="font-weight: 400;"> dài dòng hơn và tôi không thể đề cập chúng ở đây một cách </span><span style="font-weight: 400;">thích hợp</span><span style="font-weight: 400;">. Nhưng trước và sau mỗi lần </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;">, bạn phải thọ </span><span style="font-weight: 400;">quy y</span><span style="font-weight: 400;"> và chia sẻ </span><span style="font-weight: 400;">công đức</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Nếu sự vật và tâm không hiện hữu, vậy hình tướng là gì? Chúng bắt đầu từ đâu và kết thúc ở nơi nào?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Chúng chẳng có khởi đầu. </span><span style="font-weight: 400;">Tuy thế</span><span style="font-weight: 400;"> có </span><span style="font-weight: 400;">kết thúc</span><span style="font-weight: 400;"> khi bạn </span><span style="font-weight: 400;">đạt được</span> <span style="font-weight: 400;">giác ngộ</span><span style="font-weight: 400;">. Tất cả điều này là </span><span style="font-weight: 400;">ảo tưởng</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">không thật</span><span style="font-weight: 400;">, giống như </span><span style="font-weight: 400;">giấc mộng</span><span style="font-weight: 400;">. </span><span style="font-weight: 400;">Giấc mộng</span><span style="font-weight: 400;"> khởi lên từ đâu? Nó đi đâu? Nó giống như vậy. Đây là một giấc mơ dài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Vậy hình tướng là gì?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Chúng là một giấc mơ dài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Tình thương và lòng bi là điều tốt, nhưng có quan điểm cho rằng có khi giận dữ lại tốt hơn với người khác hay không? Sự giận dữ này có bao giờ được chứng minh không?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Có thể, nếu </span><span style="font-weight: 400;">ý định</span><span style="font-weight: 400;"> là tốt ngay cả dù hành động là xấu. Thậm chí nếu bạn </span><span style="font-weight: 400;">giận dữ</span><span style="font-weight: 400;">, nếu với </span><span style="font-weight: 400;">tư duy </span><span style="font-weight: 400;">về </span><span style="font-weight: 400;">lợi ích</span><span style="font-weight: 400;"> người khác, sự </span><span style="font-weight: 400;">giận dữ</span><span style="font-weight: 400;"> của bạn khởi lên từ lòng bi, và bất cứ những gì khởi lên vì lòng bi đều tốt. Nếu gốc rễ là thuốc, ngay cả nếu quả </span><span style="font-weight: 400;">xuất hiện</span><span style="font-weight: 400;"> là xấu, nó cũng sẽ là thuốc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Phật giáo thường tư duy về cách cư xử dẫn đến tiêu cực và thụ động.</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Điều này là đúng nếu bạn </span><span style="font-weight: 400;">đi vào</span><span style="font-weight: 400;"> và an trụ trong </span><span style="font-weight: 400;">giải thoát</span><span style="font-weight: 400;">. Nếu bạn </span><span style="font-weight: 400;">đi vào</span> <span style="font-weight: 400;">Đại Thừa</span><span style="font-weight: 400;">, thay vì khao khát </span><span style="font-weight: 400;">ích kỷ</span><span style="font-weight: 400;"> cầu </span><span style="font-weight: 400;">giải thoát</span> <span style="font-weight: 400;">an định</span><span style="font-weight: 400;">, bạn phải có lòng bi, đó là khao khát </span><span style="font-weight: 400;">tích cực</span> <span style="font-weight: 400;">vì lợi ích</span><span style="font-weight: 400;"> của tất cả </span><span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Phật giáo thỉnh thoảng nói về vô thần vì tin rằng không có Thượng Đế.</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: </span><span style="font-weight: 400;">Phật giáo</span><span style="font-weight: 400;"> không tin vào một </span><span style="font-weight: 400;">Thượng Đế</span><span style="font-weight: 400;"> như </span><span style="font-weight: 400;">đấng sáng tạo</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">thế gian</span><span style="font-weight: 400;">, và trong </span><span style="font-weight: 400;">ý nghĩa</span><span style="font-weight: 400;"> đó, bạn có thể nói </span><span style="font-weight: 400;">Phật giáo</span><span style="font-weight: 400;"> là </span><span style="font-weight: 400;">vô thần</span><span style="font-weight: 400;">. </span><span style="font-weight: 400;">Tuy nhiên</span><span style="font-weight: 400;">, nếu </span><span style="font-weight: 400;">Thượng Đế</span><span style="font-weight: 400;"> là điều gì khác, một lòng bi </span><span style="font-weight: 400;">thiêng liêng </span><span style="font-weight: 400;">hay </span><span style="font-weight: 400;">trí tuệ</span> <span style="font-weight: 400;">thiêng liêng</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">xuất hiện</span><span style="font-weight: 400;"> trong </span><span style="font-weight: 400;">thân tướng</span><span style="font-weight: 400;"> bổn tôn, bạn có thể nói </span><span style="font-weight: 400;">Phật giáo</span><span style="font-weight: 400;"> không phải </span><span style="font-weight: 400;">vô thần </span><span style="font-weight: 400;">mà đa thần.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Nếu không thực sự có bản ngã, vậy cái gì tái sinh?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST: </b><span style="font-weight: 400;">Sự </span><span style="font-weight: 400;">liên tục</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">tâm thức</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">dòng tâm thức</span><span style="font-weight: 400;"> theo thứ tự của một người và kết quả của việc họ làm sẽ phát sinh một người mới. Trong bất kỳ </span><span style="font-weight: 400;">trường hợp</span><span style="font-weight: 400;"> nào, </span><span style="font-weight: 400;">tái sinh</span><span style="font-weight: 400;"> là </span><span style="font-weight: 400;">chân lý tương đối</span><span style="font-weight: 400;">. Sự </span><span style="font-weight: 400;">giải thích</span><span style="font-weight: 400;"> về </span><span style="font-weight: 400;">chân lý tương đối</span><span style="font-weight: 400;"> khác biệt từ </span><span style="font-weight: 400;">học phái</span><span style="font-weight: 400;"> này đến </span><span style="font-weight: 400;">học phái</span><span style="font-weight: 400;"> khác, </span><span style="font-weight: 400;">từ tôn</span><span style="font-weight: 400;"> giáo này đến </span><span style="font-weight: 400;">tôn giáo</span><span style="font-weight: 400;"> kia. Madhyamika tin rằng sự </span><span style="font-weight: 400;">tương đối</span><span style="font-weight: 400;"> là bất cứ những gì </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> thấy mà không khảo sát – </span><span style="font-weight: 400;">quan điểm </span><span style="font-weight: 400;">của người </span><span style="font-weight: 400;">bình thường</span><span style="font-weight: 400;">. Một cách </span><span style="font-weight: 400;">tương đối</span><span style="font-weight: 400;"> thì có </span><span style="font-weight: 400;">tái sinh</span><span style="font-weight: 400;">, nhưng không phải </span><span style="font-weight: 400;">tuyệt đối</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Triết lý Madhyamaka xuất hiện ra sao? Có phải sau thời của Đức Phật?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST:</b> <span style="font-weight: 400;">Dĩ nhiên</span><span style="font-weight: 400;">, nó là </span><span style="font-weight: 400;">đạo Phật</span><span style="font-weight: 400;">; nó là </span><span style="font-weight: 400;">ý nghĩa</span> <span style="font-weight: 400;">thực tế</span><span style="font-weight: 400;"> của sutra Prajnamita (</span><span style="font-weight: 400;">Kinh Bát Nhã Ba La Mật</span><span style="font-weight: 400;">), có nói </span><span style="font-weight: 400;">rõ ràng</span><span style="font-weight: 400;"> rằng ở đâu có người </span><span style="font-weight: 400;">đi theo</span><span style="font-weight: 400;"> các </span><span style="font-weight: 400;">cực đoan</span><span style="font-weight: 400;"> sẽ chẳng bao giờ </span><span style="font-weight: 400;">thoát khỏi</span> <span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">. Các </span><span style="font-weight: 400;">cực đoan</span><span style="font-weight: 400;"> là </span><span style="font-weight: 400;">tích cực</span><span style="font-weight: 400;"> và </span><span style="font-weight: 400;">tiêu cực</span><span style="font-weight: 400;">, về việc </span><span style="font-weight: 400;">tin tưởng</span><span style="font-weight: 400;"> vào </span><span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;"> và không </span><span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;"> và </span><span style="font-weight: 400;">tương tự</span><span style="font-weight: 400;"> như vậy. </span><span style="font-weight: 400;">Triết học</span><span style="font-weight: 400;"> được phát triển từ sutra được </span><span style="font-weight: 400;">Đức Phật</span><span style="font-weight: 400;"> giảng dạy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Nếu chúng ta không chấp nhận sự hiện hữu của chúng sinh, vì mọi sự đều trống rỗng, vậy lý do gì chúng ta phải có lòng bi cho chúng sinh?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Mọi thứ không chỉ là trống không, rỗng không cũng là cái thấy </span><span style="font-weight: 400;">sai lạc</span><span style="font-weight: 400;"> (</span><span style="font-weight: 400;">tà kiến</span><span style="font-weight: 400;">), một </span><span style="font-weight: 400;">cực đoan</span><span style="font-weight: 400;"> – </span><span style="font-weight: 400;">thật tính</span><span style="font-weight: 400;"> của sự vật </span><span style="font-weight: 400;">thoát khỏi</span><span style="font-weight: 400;"> những </span><span style="font-weight: 400;">cực đoan</span><span style="font-weight: 400;">. Để </span><span style="font-weight: 400;">nhận ra</span><span style="font-weight: 400;"> điều này, bạn phải </span><span style="font-weight: 400;">tích lũy công đức</span><span style="font-weight: 400;"> rất nhiều, và cách tốt nhất để làm điều này là </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span> <span style="font-weight: 400;">tình thương</span><span style="font-weight: 400;"> và lòng bi cho tất cả </span><span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span><span style="font-weight: 400;">. </span><span style="font-weight: 400;">Cho đến</span><span style="font-weight: 400;"> khi </span><span style="font-weight: 400;">công đức</span><span style="font-weight: 400;"> này đã được </span><span style="font-weight: 400;">tích lũy</span><span style="font-weight: 400;">, sự </span><span style="font-weight: 400;">hiểu biết</span><span style="font-weight: 400;"> về rỗng không sẽ </span><span style="font-weight: 400;">không sinh</span><span style="font-weight: 400;"> khởi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Vị Guru có t</b><b>rách nhiệm</b><b> to lớn</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Thưa Pháp Vương, Mantrayana là gì?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Mantrayana (Mật Thừa) hay tantra, là </span><span style="font-weight: 400;">phương pháp</span> <span style="font-weight: 400;">thực tế</span><span style="font-weight: 400;">. </span><span style="font-weight: 400;">Mục tiêu</span><span style="font-weight: 400;"> đầu tiên và </span><span style="font-weight: 400;">mục đích</span> <span style="font-weight: 400;">cuối cùng</span><span style="font-weight: 400;"> giống như nhau vì đều trong Mahayana, nhưng vì Mantrayana là trực tiếp, </span><span style="font-weight: 400;">trí tuệ</span><span style="font-weight: 400;"> hơn và có nhiều </span><span style="font-weight: 400;">phương pháp</span><span style="font-weight: 400;"> hơn, nó đi đến cùng nơi đến từ cùng nơi bắt đầu nhanh chóng hơn nhiều; sự khác biệt giống như đi du lịch giữa xe lửa và máy bay. </span><span style="font-weight: 400;">Thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> Mahayana chủ yếu </span><span style="font-weight: 400;">bao gồm</span> <span style="font-weight: 400;">thiền định</span><span style="font-weight: 400;"> qua việc </span><span style="font-weight: 400;">suy nghĩ</span><span style="font-weight: 400;"> về sự vật, nhưng trong Mantrayana thân </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> cũng được </span><span style="font-weight: 400;">sử dụng</span> <span style="font-weight: 400;">rộng rãi</span><span style="font-weight: 400;">. Nhờ biết và </span><span style="font-weight: 400;">sử dụng</span> <span style="font-weight: 400;">thân thể</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> có thể </span><span style="font-weight: 400;">tiến tới</span><span style="font-weight: 400;"> nơi đến của mình một cách nhanh chóng hơn. Giờ đây, nhiều điều cần để cho một máy bay bay được, như xăng dầu, gió, thiết kế của máy móc, v.v... và </span><span style="font-weight: 400;">tương tự</span><span style="font-weight: 400;"> như vậy, khi </span><span style="font-weight: 400;">cố gắng</span> <span style="font-weight: 400;">đạt đến</span> <span style="font-weight: 400;">nhận biết</span><span style="font-weight: 400;"> trong Mantrayana, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span> <span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> không chỉ trong </span><span style="font-weight: 400;">tư duy</span><span style="font-weight: 400;">. </span><span style="font-weight: 400;">Chúng ta</span> <span style="font-weight: 400;">quán tưởng</span><span style="font-weight: 400;"> những mandala khác nhau, </span><span style="font-weight: 400;">tụng niệm</span><span style="font-weight: 400;"> các mantra, v.v... Bạn có thể nói rằng nếu </span><span style="font-weight: 400;">đi theo </span><span style="font-weight: 400;">các </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> này một cách </span><span style="font-weight: 400;">đúng đắn</span><span style="font-weight: 400;">, sự </span><span style="font-weight: 400;">nhận biết</span><span style="font-weight: 400;"> sẽ tự động </span><span style="font-weight: 400;">xuất hiện</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Có phải sự khác biệt giữa Mahayana và Mantrayana chỉ có điều này hay không?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Mahayana được gọi là “Thừa </span><span style="font-weight: 400;">Nguyên nhân</span><span style="font-weight: 400;">”, hay </span><span style="font-weight: 400;">Con đường</span> <span style="font-weight: 400;">Nguyên nhân</span><span style="font-weight: 400;">, và Mantrayana được gọi là </span><span style="font-weight: 400;">Con đường</span><span style="font-weight: 400;"> Kết quả. Trong Mahayana, bạn làm việc chỉ để tạo ra </span><span style="font-weight: 400;">nguyên nhân</span><span style="font-weight: 400;"> đúng bằng việc </span><span style="font-weight: 400;">thực hành bố thí</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">trì giới</span><span style="font-weight: 400;"> và còn nữa. Những </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> này rất </span><span style="font-weight: 400;">đáng giá</span><span style="font-weight: 400;"> và </span><span style="font-weight: 400;">đúng đắn</span><span style="font-weight: 400;"> nhưng vẫn rất khác biệt với những phẩm tính </span><span style="font-weight: 400;">bao la</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">Đức Phật</span><span style="font-weight: 400;">. Nhưng trong Mantrayana, bạn </span><span style="font-weight: 400;">hình dung</span><span style="font-weight: 400;"> chính mình ngay từ </span><span style="font-weight: 400;">lúc đầu</span><span style="font-weight: 400;"> trong </span><span style="font-weight: 400;">thân tướng</span><span style="font-weight: 400;"> của kết quả – </span><span style="font-weight: 400;">Đức Phật</span><span style="font-weight: 400;"> – trong dạng này hay dạng khác. Nhờ </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> này, kết quả – đó là </span><span style="font-weight: 400;">tương tự</span><span style="font-weight: 400;"> như </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> – sẽ </span><span style="font-weight: 400;">xuất hiện</span><span style="font-weight: 400;">, và </span><span style="font-weight: 400;">vì vậy</span><span style="font-weight: 400;"> Mantrayana được gọi là </span><span style="font-weight: 400;">Con đường</span><span style="font-weight: 400;"> Kết quả. Ngay từ lúc bắt đầu bạn nghĩ về chính bạn như </span><span style="font-weight: 400;">Đức Phật</span><span style="font-weight: 400;"> với tất cả phẩm tính, ba mươi hai </span><span style="font-weight: 400;">hảo tướng</span><span style="font-weight: 400;"> chính và tám mươi tướng phụ, v.v...</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Việc nghĩ về chính mình như Đức Phật có sai lầm không?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST: </b><span style="font-weight: 400;">Thực sự là không. </span><span style="font-weight: 400;">Dĩ nhiên</span><span style="font-weight: 400;">, cũng có nói trong Mahayana rằng </span><span style="font-weight: 400;">bản tính</span><span style="font-weight: 400;"> của tâm </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;">, về </span><span style="font-weight: 400;">toàn bộ</span> <span style="font-weight: 400;">cực lạc</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;">, đều thực sự là Phật và luôn như thế. </span><span style="font-weight: 400;">Tuy nhiên</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> không </span><span style="font-weight: 400;">nhận ra </span><span style="font-weight: 400;">điều này và bị </span><span style="font-weight: 400;">ảo tưởng</span><span style="font-weight: 400;"> phủ lên, vì thế </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span> <span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">. Nếu sự che ám và </span><span style="font-weight: 400;">nhiễm ô</span><span style="font-weight: 400;"> là một phần </span><span style="font-weight: 400;">bản chất</span><span style="font-weight: 400;"> của tâm </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;">, thì sự tịnh hóa không thể làm được. Than không thể </span><span style="font-weight: 400;">trở thành</span><span style="font-weight: 400;"> màu trắng cho dù </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> rửa nó nhiều bao nhiêu, nhưng vì </span><span style="font-weight: 400;">bản tính</span><span style="font-weight: 400;"> của tâm là </span><span style="font-weight: 400;">thanh tịnh</span><span style="font-weight: 400;"> nên tâm có thể tịnh hóa được. Vì các bậc khác đã </span><span style="font-weight: 400;">đạt được</span> <span style="font-weight: 400;">giác ngộ</span><span style="font-weight: 400;"> nên điều đó </span><span style="font-weight: 400;">rõ ràng</span><span style="font-weight: 400;"> là cũng có thể với </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;">, rằng tâm </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> cũng có thể tịnh hóa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Con đường</span><span style="font-weight: 400;"> Mantrayana đề cập đến </span><span style="font-weight: 400;">vấn đề</span><span style="font-weight: 400;"> này như sau: có năm </span><span style="font-weight: 400;">dòng dõi</span><span style="font-weight: 400;">, hoặc loại người. Trên </span><span style="font-weight: 400;">thực tế</span><span style="font-weight: 400;"> có hàng trăm và hàng ngàn </span><span style="font-weight: 400;">các loại</span><span style="font-weight: 400;"> khác nhau, nhưng tất cả đều có thể </span><span style="font-weight: 400;">bao gồm</span><span style="font-weight: 400;"> trong năm </span><span style="font-weight: 400;">phạm trù</span><span style="font-weight: 400;">. </span><span style="font-weight: 400;">Thực ra</span><span style="font-weight: 400;"> năm loại này có thể </span><span style="font-weight: 400;">bao gồm</span><span style="font-weight: 400;"> trong một, đó là Phật Vajradhara (</span><span style="font-weight: 400;">Kim Cương</span><span style="font-weight: 400;"> Trì), nhưng, nói chung, </span><span style="font-weight: 400;">thuận tiện</span><span style="font-weight: 400;"> để </span><span style="font-weight: 400;">suy nghĩ</span><span style="font-weight: 400;"> là năm. Năm bộ này </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span> <span style="font-weight: 400;">quán tưởng</span><span style="font-weight: 400;"> trong một mandala, đó là một lâu đài </span><span style="font-weight: 400;">thiên đường</span><span style="font-weight: 400;"> của phần nào đó và được </span><span style="font-weight: 400;">trang hoàng</span><span style="font-weight: 400;">, bao quanh bởi lửa. </span><span style="font-weight: 400;">Đức Phật</span><span style="font-weight: 400;"> ở giữa màu xanh dương đậm và được gọi là Akshobhya (</span><span style="font-weight: 400;">A Súc</span><span style="font-weight: 400;"> Bệ Phật – Đấng </span><span style="font-weight: 400;">Bất Động</span><span style="font-weight: 400;">). Ở hướng đông là </span><span style="font-weight: 400;">Đức Phật</span><span style="font-weight: 400;"> Vairocana màu trắng (Tỳ </span><span style="font-weight: 400;">Lô Giá Na</span><span style="font-weight: 400;"> – Đấng Tạo Tác </span><span style="font-weight: 400;">Hình Tướng</span><span style="font-weight: 400;">); ở hướng nam là </span><span style="font-weight: 400;">Đức Phật </span><span style="font-weight: 400;">Ratnasambhava màu vàng (</span><span style="font-weight: 400;">Bảo Sanh</span><span style="font-weight: 400;"> – Đấng có </span><span style="font-weight: 400;">Bản Tánh</span><span style="font-weight: 400;"> của Ngọc báu); ở </span><span style="font-weight: 400;">hướng tây</span><span style="font-weight: 400;"> là </span><span style="font-weight: 400;">Đức Phật </span><span style="font-weight: 400;">Amitabha màu đỏ (</span><span style="font-weight: 400;">A Di Đà</span><span style="font-weight: 400;"> – </span><span style="font-weight: 400;">Vô Lượng Quang</span><span style="font-weight: 400;">); và ở hướng bắc là </span><span style="font-weight: 400;">Đức Phật</span><span style="font-weight: 400;"> Amoghasiddhi màu xanh lục (</span><span style="font-weight: 400;">Bất Không Thành Tựu</span><span style="font-weight: 400;"> – Đấng </span><span style="font-weight: 400;">Thiện Xảo</span><span style="font-weight: 400;"> trong </span><span style="font-weight: 400;">Thành Tựu</span> <span style="font-weight: 400;">mọi Việc</span><span style="font-weight: 400;"> Làm </span><span style="font-weight: 400;">Hợp Lý</span><span style="font-weight: 400;">). Tất cả các Ngài trông giống như </span><span style="font-weight: 400;">Đức Phật</span><span style="font-weight: 400;"> Sakyamuni ngoại trừ mudra (</span><span style="font-weight: 400;">ấn khế</span><span style="font-weight: 400;">) hay </span><span style="font-weight: 400;">thủ ấn</span><span style="font-weight: 400;"> khác nhau. Phật Akshobhya </span><span style="font-weight: 400;">tiếp xúc</span> <span style="font-weight: 400;">thế gian</span><span style="font-weight: 400;"> trong ấn bhumisparsha (Xúc Địa); hai tay của Phật Vairocana trong ấn giảng dạy (</span><span style="font-weight: 400;">Chuyển Pháp Luân</span><span style="font-weight: 400;">; Phật Ratnasambhava </span><span style="font-weight: 400;">hiển bày</span><span style="font-weight: 400;"> ấn </span><span style="font-weight: 400;">bố thí</span><span style="font-weight: 400;">; Phật Amitabha kết </span><span style="font-weight: 400;">thiền định</span><span style="font-weight: 400;"> ấn; và Phật Amoghasiddhi đưa tay phô bày vajra hình chữ thập, </span><span style="font-weight: 400;">vô úy ấn</span><span style="font-weight: 400;">. Mỗi vị đều có những phẩm tính </span><span style="font-weight: 400;">đặc biệt</span><span style="font-weight: 400;">, nhưng mỗi vị cũng </span><span style="font-weight: 400;">liên quan đến</span><span style="font-weight: 400;"> năm </span><span style="font-weight: 400;">nhiễm ô</span> <span style="font-weight: 400;">phổ biến</span><span style="font-weight: 400;"> nhất mà </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> bị </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> với: Akshobhya màu xanh dương đậm với tính </span><span style="font-weight: 400;">sân hận</span><span style="font-weight: 400;">, Amitabha màu đỏ với tính </span><span style="font-weight: 400;">đam mê</span><span style="font-weight: 400;"> và </span><span style="font-weight: 400;">tham dục</span><span style="font-weight: 400;">, Vairocana màu trắng với </span><span style="font-weight: 400;">vô minh</span><span style="font-weight: 400;"> (</span><span style="font-weight: 400;">ngu si</span><span style="font-weight: 400;">), Amoghasiddhi màu xanh lục với </span><span style="font-weight: 400;">đố kỵ</span><span style="font-weight: 400;">, và Ratnasambhava màu vàng với </span><span style="font-weight: 400;">kiêu mạn</span><span style="font-weight: 400;"> và </span><span style="font-weight: 400;">ham lợi</span><span style="font-weight: 400;">. Những màu sắc </span><span style="font-weight: 400;">liên hệ</span><span style="font-weight: 400;"> một cách </span><span style="font-weight: 400;">rõ ràng</span><span style="font-weight: 400;"> với </span><span style="font-weight: 400;">nhiễm ô</span> <span style="font-weight: 400;">tương ứng</span><span style="font-weight: 400;">. Trong tiếng Anh, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> nói “màu xanh lục với </span><span style="font-weight: 400;">đố kỵ</span><span style="font-weight: 400;">,” trong lúc </span><span style="font-weight: 400;">đam mê</span> <span style="font-weight: 400;">kết hợp</span><span style="font-weight: 400;"> với màu đỏ và </span><span style="font-weight: 400;">sân hận</span><span style="font-weight: 400;"> với màu xanh dương đậm. </span><span style="font-weight: 400;">Chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> có thể thấy một cách </span><span style="font-weight: 400;">rõ ràng</span><span style="font-weight: 400;"> những </span><span style="font-weight: 400;">đặc tính</span><span style="font-weight: 400;"> của năm </span><span style="font-weight: 400;">chủng tộc</span><span style="font-weight: 400;"> này trong những </span><span style="font-weight: 400;">cá nhân</span><span style="font-weight: 400;">: người có nước da sậm có thể có dấu vết </span><span style="font-weight: 400;">tương tự</span><span style="font-weight: 400;"> với vajra (vajra là </span><span style="font-weight: 400;">biểu tượng</span><span style="font-weight: 400;"> của Phật Akshobhya), người hay nóng giận thuộc </span><span style="font-weight: 400;">dòng dõi</span><span style="font-weight: 400;"> Akshobhya. Vì có mối nối kết </span><span style="font-weight: 400;">hoàn toàn</span><span style="font-weight: 400;"> của nhân và quả, người đó sẽ </span><span style="font-weight: 400;">thành công</span> <span style="font-weight: 400;">đặc biệt</span><span style="font-weight: 400;"> dễ dàng nếu họ </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span> <span style="font-weight: 400;">con đường</span> <span style="font-weight: 400;">liên quan đến</span><span style="font-weight: 400;"> Phật Akshobhya. Các bạn thấy, </span><span style="font-weight: 400;">Đức Phật</span><span style="font-weight: 400;"> Akshobhya </span><span style="font-weight: 400;">tiêu biểu</span><span style="font-weight: 400;"> cho sự </span><span style="font-weight: 400;">hoàn toàn</span> <span style="font-weight: 400;">chuyển hóa</span> <span style="font-weight: 400;">sân hận</span><span style="font-weight: 400;">. Trong Mantrayana, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span> <span style="font-weight: 400;">chưa bao giờ</span> <span style="font-weight: 400;">đánh giá</span><span style="font-weight: 400;"> bất cứ </span><span style="font-weight: 400;">nhiễm ô</span><span style="font-weight: 400;"> nào như </span><span style="font-weight: 400;">sân hận</span><span style="font-weight: 400;"> hay </span><span style="font-weight: 400;">tham dục </span><span style="font-weight: 400;">như điều gì đó phải được trấn áp. Thay vào đó, </span><span style="font-weight: 400;">năng lượng</span> <span style="font-weight: 400;">trói buộc</span><span style="font-weight: 400;"> trong sự </span><span style="font-weight: 400;">ô nhiễm</span><span style="font-weight: 400;"> được tịnh hóa và kết quả thành một trong năm vị Phật, mỗi vị đều được </span><span style="font-weight: 400;">đặc tính</span><span style="font-weight: 400;"> hóa bằng một </span><span style="font-weight: 400;">loại trí</span><span style="font-weight: 400;"> tuệ nào đó. Đây là </span><span style="font-weight: 400;">lý do</span><span style="font-weight: 400;"> khác tại sao Mantrayana là </span><span style="font-weight: 400;">Con Đường</span><span style="font-weight: 400;"> Kết Quả.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thật ra, không có </span><span style="font-weight: 400;">bất tịnh</span><span style="font-weight: 400;">. Sự </span><span style="font-weight: 400;">bất tịnh</span> <span style="font-weight: 400;">xuất hiện</span><span style="font-weight: 400;"> vì </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> không </span><span style="font-weight: 400;">nhận ra</span> <span style="font-weight: 400;">chân lý</span><span style="font-weight: 400;"> và vẫn </span><span style="font-weight: 400;">suy nghĩ</span><span style="font-weight: 400;"> về mặt chủ thể và đối tượng. Do vậy, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> có thể nói rằng </span><span style="font-weight: 400;">bất tịnh</span><span style="font-weight: 400;"> cũng </span><span style="font-weight: 400;">xuất phát</span><span style="font-weight: 400;"> từ </span><span style="font-weight: 400;">ảo tưởng</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Chúng tôi thực hành con đường này như thế nào?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Mặc dù </span><span style="font-weight: 400;">con đường</span><span style="font-weight: 400;"> này </span><span style="font-weight: 400;">hiển nhiên</span><span style="font-weight: 400;"> là cao hơn, không </span><span style="font-weight: 400;">dễ hiểu</span><span style="font-weight: 400;"> được nó một cách </span><span style="font-weight: 400;">đúng đắn</span><span style="font-weight: 400;">. Vào lúc bắt đầu, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> phải </span><span style="font-weight: 400;">chắc chắn</span> <span style="font-weight: 400;">quyết tâm</span> <span style="font-weight: 400;">thực hành</span> <span style="font-weight: 400;">bồ đề tâm</span><span style="font-weight: 400;"> của mình, và chỉ sau đó </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta </span><span style="font-weight: 400;">mới có thể </span><span style="font-weight: 400;">tiếp nhận</span> <span style="font-weight: 400;">giáo lý</span><span style="font-weight: 400;"> về năm vị Phật, một trong </span><span style="font-weight: 400;">thân tướng</span><span style="font-weight: 400;"> năm vị để </span><span style="font-weight: 400;">thích hợp</span><span style="font-weight: 400;"> với </span><span style="font-weight: 400;">bản tính</span> <span style="font-weight: 400;">cá nhân</span><span style="font-weight: 400;"> mình. </span><span style="font-weight: 400;">Giáo lý</span><span style="font-weight: 400;"> này được ban trong dạng </span><span style="font-weight: 400;">quán đỉnh</span><span style="font-weight: 400;"> được gọi là wang trong tiếng </span><span style="font-weight: 400;">Tây Tạng</span><span style="font-weight: 400;">. Nó có nghĩa “lễ tôn phong” hay “lễ </span><span style="font-weight: 400;">nhập môn</span><span style="font-weight: 400;">”. </span><span style="font-weight: 400;">Quán đỉnh</span><span style="font-weight: 400;"> này là một trao truyền và cần được nhận từ một vị guru và sau đó </span><span style="font-weight: 400;">học hỏi</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">suy nghĩ</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">thiền định</span><span style="font-weight: 400;"> về nó để </span><span style="font-weight: 400;">đạt được</span><span style="font-weight: 400;"> kết quả </span><span style="font-weight: 400;">cuối cùng</span><span style="font-weight: 400;">. Sau khi </span><span style="font-weight: 400;">tiếp nhận</span><span style="font-weight: 400;"> lễ tôn phong, người ta phải tiến hành </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> hàng ngày không </span><span style="font-weight: 400;">lơ là</span><span style="font-weight: 400;"> và biết </span><span style="font-weight: 400;">suy nghĩ</span> <span style="font-weight: 400;">rõ ràng</span><span style="font-weight: 400;"> về chính mình như </span><span style="font-weight: 400;">hoàn toàn</span><span style="font-weight: 400;"> đồng nhất với kết quả </span><span style="font-weight: 400;">cuối cùng</span><span style="font-weight: 400;">. Thế nên, vì mối nối kết giữa </span><span style="font-weight: 400;">nguyên nhân</span><span style="font-weight: 400;"> và kết quả, kết quả sẽ </span><span style="font-weight: 400;">xuất hiện</span><span style="font-weight: 400;"> một cách </span><span style="font-weight: 400;">tự nhiên</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Có phải sự trao truyền này là quan trọng?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST:</b><span style="font-weight: 400;"> Sự trao truyền từ vị guru là </span><span style="font-weight: 400;">đặc biệt</span><span style="font-weight: 400;"> quan trọng trong Mantrayana. Vị guru trao </span><span style="font-weight: 400;">truyền giáo</span><span style="font-weight: 400;"> lý cho bạn, và Ngài là một phần của các vị thầy </span><span style="font-weight: 400;">thành tựu</span><span style="font-weight: 400;"> không </span><span style="font-weight: 400;">gián đoạn</span><span style="font-weight: 400;">, đi ngược </span><span style="font-weight: 400;">trở về</span> <span style="font-weight: 400;">Đức Phật</span> <span style="font-weight: 400;">nguyên thủy</span><span style="font-weight: 400;">, Vajradhara, từ Ngài, </span><span style="font-weight: 400;">giáo lý</span><span style="font-weight: 400;"> được </span><span style="font-weight: 400;">xuất hiện</span><span style="font-weight: 400;"> trước nhất. Thậm chí trong Mahayana bạn không thể </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span> <span style="font-weight: 400;">nếu không</span><span style="font-weight: 400;"> có hướng dẫn, và điều này </span><span style="font-weight: 400;">đặc biệt</span><span style="font-weight: 400;"> đúng với Mantrayana.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Có nghĩa là chúng ta sẽ không đạt được kết quả trừ khi chúng ta nhận được giáo lý theo cách này?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST:</b> <span style="font-weight: 400;">Chắc chắn</span><span style="font-weight: 400;"> bạn sẽ không thể. Không ai có </span><span style="font-weight: 400;">thể đạt</span><span style="font-weight: 400;"> được bất cứ điều gì chỉ bằng </span><span style="font-weight: 400;">nghiên cứu</span><span style="font-weight: 400;"> bản văn. </span><span style="font-weight: 400;">Trước tiên</span><span style="font-weight: 400;"> bạn phải nhận được </span><span style="font-weight: 400;">giáo lý</span><span style="font-weight: 400;"> trong </span><span style="font-weight: 400;">truyền thống</span><span style="font-weight: 400;"> miệng đi ngược lại đến Phật Vajradhara, và sự </span><span style="font-weight: 400;">ban phước</span><span style="font-weight: 400;"> trực tiếp, không </span><span style="font-weight: 400;">gián đoạn</span><span style="font-weight: 400;"> của dòng </span><span style="font-weight: 400;">truyền giáo</span><span style="font-weight: 400;"> lý phải được </span><span style="font-weight: 400;">tiếp nhận</span> <span style="font-weight: 400;">trước tiên</span><span style="font-weight: 400;">; không có sự </span><span style="font-weight: 400;">ban phước</span> <span style="font-weight: 400;">đặc biệt</span><span style="font-weight: 400;"> này sẽ không có sự </span><span style="font-weight: 400;">chín muồi</span><span style="font-weight: 400;"> nào xảy ra. Mặc dù bây giờ phần lớn </span><span style="font-weight: 400;">giáo lý</span><span style="font-weight: 400;"> đã được viết ra, </span><span style="font-weight: 400;">trước tiên</span><span style="font-weight: 400;"> bạn phải nhận được </span><span style="font-weight: 400;">giáo lý</span><span style="font-weight: 400;"> bằng </span><span style="font-weight: 400;">lời nói</span><span style="font-weight: 400;">; sau đó bạn có thể học tập.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Vậy vị guru là thiết yếu?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST:</b><span style="font-weight: 400;"> Có nói trong các tantra rằng vị guru là suối nguồn của mọi siddhi (</span><span style="font-weight: 400;">thành tựu</span><span style="font-weight: 400;">), hay sự </span><span style="font-weight: 400;">thành tựu tâm linh</span><span style="font-weight: 400;">, và nói chung điều </span><span style="font-weight: 400;">cần thiết</span><span style="font-weight: 400;"> là tìm được vị guru </span><span style="font-weight: 400;">thích hợp</span><span style="font-weight: 400;">, vị có mọi phẩm tính để giảng dạy tantra. Nói </span><span style="font-weight: 400;">cụ thể</span><span style="font-weight: 400;">, điều </span><span style="font-weight: 400;">cần thiết</span><span style="font-weight: 400;"> là bạn tìm được người có mối nối kết riêng với bạn bằng nghiệp. Chẳng hạn, khi Milarepa lần đầu tiên nghe về Marpa, Ông </span><span style="font-weight: 400;">cảm thấy</span><span style="font-weight: 400;"> khao khát </span><span style="font-weight: 400;">cấp bách</span><span style="font-weight: 400;"> gặp được Ngài </span><span style="font-weight: 400;">lập tức</span><span style="font-weight: 400;">. Hoặc khi Tsarchen nghe về vị thầy Sakya vĩ đại, Ngài Doringpa, ông </span><span style="font-weight: 400;">cảm thấy</span><span style="font-weight: 400;"> một thúc giục </span><span style="font-weight: 400;">đặc biệt</span><span style="font-weight: 400;"> đến gặp Ngài càng nhanh càng tốt. Khi bạn </span><span style="font-weight: 400;">tìm thấy</span><span style="font-weight: 400;"> vị guru này, bạn phải nhận được trao truyền và </span><span style="font-weight: 400;">giảng giải</span><span style="font-weight: 400;"> từ Ngài. Trong tantra, việc </span><span style="font-weight: 400;">tiếp nhận</span><span style="font-weight: 400;"> wang là </span><span style="font-weight: 400;">cần thiết</span><span style="font-weight: 400;">, có nghĩa </span><span style="font-weight: 400;">quán đỉnh</span><span style="font-weight: 400;">, trao truyền hay </span><span style="font-weight: 400;">phong thánh</span><span style="font-weight: 400;">. Wang là cánh cửa của tantra. Không có wang bạn chẳng thể làm được gì. Wang giống như việc gieo trồng </span><span style="font-weight: 400;">hạt giống</span><span style="font-weight: 400;"> và bón phân cho đất; nó tạo ra </span><span style="font-weight: 400;">hoàn cảnh</span> <span style="font-weight: 400;">thích hợp</span><span style="font-weight: 400;">. Sau khi nhận được wang, chỉ có một việc là chăm sóc </span><span style="font-weight: 400;">hạt giống</span><span style="font-weight: 400;"> để thấy nó nảy mầm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Làm thế nào để có thể nhận ra vị guru có mối nối kết với mình?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST: </b><span style="font-weight: 400;">Trong một số </span><span style="font-weight: 400;">trường hợp</span><span style="font-weight: 400;">, có một dấu hiệu </span><span style="font-weight: 400;">rõ ràng</span><span style="font-weight: 400;">. Trong </span><span style="font-weight: 400;">trường hợp</span><span style="font-weight: 400;"> Ngài Tsarchen, một </span><span style="font-weight: 400;">phụ nữ xuất hiện</span><span style="font-weight: 400;"> trong khi Ngài đang </span><span style="font-weight: 400;">thiền định</span><span style="font-weight: 400;"> trong hang động. Vào lúc đó Ngài là một </span><span style="font-weight: 400;">tu sĩ</span><span style="font-weight: 400;"> của phái Gelugpa. Bà ta đưa cho Ngài một quyển sách và bảo Ngài đi tìm Ngài Doringpa. Ngài </span><span style="font-weight: 400;">tìm thấy</span><span style="font-weight: 400;"> Doringpa ở Sakya và phát hiện rằng quyển sách Ngài được cho </span><span style="font-weight: 400;">xuất phát</span><span style="font-weight: 400;"> từ thư viện của Ngài Doringpa. Người </span><span style="font-weight: 400;">phụ nữ</span><span style="font-weight: 400;"> là </span><span style="font-weight: 400;">hiện thân</span><span style="font-weight: 400;"> của Vajra Yogini, một bổn tôn nữ. Tsarchen </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span> <span style="font-weight: 400;">cụ thể</span> <span style="font-weight: 400;">thiền định</span><span style="font-weight: 400;"> của bà sau khi nhận được từ Ngài Doringpa, và </span><span style="font-weight: 400;">đạt được</span> <span style="font-weight: 400;">đại giác</span><span style="font-weight: 400;"> ngộ. </span><span style="font-weight: 400;">Tuy nhiên</span><span style="font-weight: 400;">, nói chung, nếu bạn </span><span style="font-weight: 400;">cảm thấy</span><span style="font-weight: 400;"> một </span><span style="font-weight: 400;">thúc đẩy đặc biệt</span><span style="font-weight: 400;"> để gặp hay </span><span style="font-weight: 400;">liên lạc</span><span style="font-weight: 400;"> với một vị guru nào đó, một </span><span style="font-weight: 400;">cảm giác</span><span style="font-weight: 400;"> về điều gì đó xảy ra khi bạn gặp Ngài, đây là một dấu hiệu tốt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nó cũng có thể được phát hiện bằng sự </span><span style="font-weight: 400;">tiên tri</span><span style="font-weight: 400;">. Khi tôi còn rất trẻ, dì tôi đã </span><span style="font-weight: 400;">yêu cầu</span><span style="font-weight: 400;"> một số tăng sĩ </span><span style="font-weight: 400;">thực hiện</span><span style="font-weight: 400;"> một </span><span style="font-weight: 400;">tiên tri</span> <span style="font-weight: 400;">liên quan đến</span><span style="font-weight: 400;"> gương. Họ thấy một lama lạ trong gương và chính tôi ở trước Ngài. Vị lama có hai lỗ tai dài và khoảng cách giữa mũi và môi trên của Ngài rất rộng. Ngài có một cái sẹo. </span><span style="font-weight: 400;">Chúng tôi</span><span style="font-weight: 400;"> không biết có thể là ai, nhưng sau này đã phát </span><span style="font-weight: 400;">hiện ra</span><span style="font-weight: 400;"> đó là Ngài Khyentse Rinpoche.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Vậy có phải điều này có nghĩa chúng ta chỉ có thể đạt kết quả tốt với một lama mà chúng ta có nghiệp nối kết?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST: </b><span style="font-weight: 400;">Không, không </span><span style="font-weight: 400;">nhất thiết</span><span style="font-weight: 400;">. Trong </span><span style="font-weight: 400;">trường hợp</span><span style="font-weight: 400;"> của tôi, tôi không thể nhận được nhiều </span><span style="font-weight: 400;">giáo lý</span><span style="font-weight: 400;"> từ Ngài Khyentse Rinpoche. Bất kỳ vị guru nào đủ </span><span style="font-weight: 400;">tiêu chuẩn</span><span style="font-weight: 400;"> đều tốt, nhưng có một vị </span><span style="font-weight: 400;">đặc biệt</span><span style="font-weight: 400;"> có thể giúp bạn hơn các vị khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Vị guru ban mệnh lệnh khác thường cho đối tượng của Ngài có đúng không?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Đúng. Ví dụ khi Ngài Marpa dạy Lama Ngog, Ngài </span><span style="font-weight: 400;">yêu cầu</span><span style="font-weight: 400;"> ông ta đem đến tất cả những </span><span style="font-weight: 400;">tài sản </span><span style="font-weight: 400;">ông ta có. Ngog </span><span style="font-weight: 400;">trả lời</span><span style="font-weight: 400;"> đã bỏ lại hết chỉ còn một con dê già bị què. Marpa kêu ông về lấy. Marpa nói rằng dù một con dê già bị què chẳng tạo được sự khác biệt nào với Ngài, Ngài ra lệnh chỉ để </span><span style="font-weight: 400;">duy trì</span> <span style="font-weight: 400;">chân giá trị</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">giáo lý</span><span style="font-weight: 400;">. Nếu bạn phải dâng cúng mọi thứ, bạn phải không được giữ lại bất cứ gì. Nhưng mối </span><span style="font-weight: 400;">liên hệ</span><span style="font-weight: 400;"> giữa vị thầy và </span><span style="font-weight: 400;">đệ tử</span><span style="font-weight: 400;"> không phải mối </span><span style="font-weight: 400;">liên hệ</span><span style="font-weight: 400;"> giữa chủ và đầy tớ. Đó là mối </span><span style="font-weight: 400;">liên hệ</span><span style="font-weight: 400;"> giữa cha và con. Là mối </span><span style="font-weight: 400;">liên hệ</span> <span style="font-weight: 400;">tâm linh</span><span style="font-weight: 400;">, nhưng phải ấm áp và </span><span style="font-weight: 400;">thân mật</span><span style="font-weight: 400;"> như mối </span><span style="font-weight: 400;">liên hệ</span><span style="font-weight: 400;"> giữa cha và con. Vị guru có </span><span style="font-weight: 400;">trách nhiệm</span><span style="font-weight: 400;"> to lớn chăm sóc con trai của Ngài, người phải </span><span style="font-weight: 400;">lần lượt</span> <span style="font-weight: 400;">đi theo</span><span style="font-weight: 400;"> mọi </span><span style="font-weight: 400;">giáo lý</span><span style="font-weight: 400;"> được ban và phải giữ mọi giới nguyện của họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Những giới nguyện liên quan là gì?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST:</b><span style="font-weight: 400;"> Chúng không </span><span style="font-weight: 400;">đơn giản</span><span style="font-weight: 400;">. Sau khi nhận được wang, có nhiều giới nguyện để giữ, thêm vào việc </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> hàng ngày và học tập. Nếu bạn đã nhận giới nguyện pratimoksha (</span><span style="font-weight: 400;">biệt giải thoát</span><span style="font-weight: 400;">) của </span><span style="font-weight: 400;">giới luật</span><span style="font-weight: 400;"> Hinayana bạn phải </span><span style="font-weight: 400;">giữ gìn</span><span style="font-weight: 400;">, và sau đó thêm vào giới nguyện của Mahayana, bạn phải </span><span style="font-weight: 400;">giữ giới </span><span style="font-weight: 400;">nguyện tantric, điều này rất quan trọng. Không giữ những giới này, việc </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> sẽ không </span><span style="font-weight: 400;">hiệu quả</span><span style="font-weight: 400;">. Những giới nguyện được ban để tạo ra </span><span style="font-weight: 400;">hoàn cảnh</span><span style="font-weight: 400;"> tốt nhằm chăm sóc </span><span style="font-weight: 400;">hạt giống</span><span style="font-weight: 400;"> đã gieo trồng trong </span><span style="font-weight: 400;">quán đỉnh</span><span style="font-weight: 400;">. Giới nguyện phải được giữ một cách </span><span style="font-weight: 400;">thích đáng</span><span style="font-weight: 400;">, và việc </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> hàng ngày phải được </span><span style="font-weight: 400;">thực hiện</span><span style="font-weight: 400;"> với </span><span style="font-weight: 400;">sự quán</span><span style="font-weight: 400;"> tưởng, </span><span style="font-weight: 400;">tụng niệm</span><span style="font-weight: 400;"> mantra và </span><span style="font-weight: 400;">thiền định</span><span style="font-weight: 400;"> về hai giai đoạn của kyerim (tiến trình phát sinh) và dzogrim (tiến trình </span><span style="font-weight: 400;">hoàn thiện</span><span style="font-weight: 400;">).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Bổn tôn tantric là gì?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST:</b><span style="font-weight: 400;"> Có </span><span style="font-weight: 400;">vô số</span> <span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span><span style="font-weight: 400;"> với những </span><span style="font-weight: 400;">sở thích</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">vị trí</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">quan niệm</span><span style="font-weight: 400;"> và khuynh hướng khác nhau, do vậy, để </span><span style="font-weight: 400;">thích hợp</span><span style="font-weight: 400;"> những dạng khác nhau này, </span><span style="font-weight: 400;">Trí Tuệ</span> <span style="font-weight: 400;">Siêu Việt</span><span style="font-weight: 400;"> – hay </span><span style="font-weight: 400;">Đức Phật</span><span style="font-weight: 400;"> hoặc bất cứ vị nào bạn thích gọi tên – đã mang những </span><span style="font-weight: 400;">hình dáng</span><span style="font-weight: 400;"> khác nhau. Chẳng hạn, với người nhiều </span><span style="font-weight: 400;">tham dục</span> <span style="font-weight: 400;">thiền định</span><span style="font-weight: 400;"> về bổn tôn đang ôm nhau, và người nhiều </span><span style="font-weight: 400;">sân hận</span> <span style="font-weight: 400;">thiền định</span><span style="font-weight: 400;"> về bổn tôn trong tướng </span><span style="font-weight: 400;">phẫn nộ</span><span style="font-weight: 400;">. Người nhiều </span><span style="font-weight: 400;">vô minh</span> <span style="font-weight: 400;">thiền định</span><span style="font-weight: 400;"> về những bổn tôn rất </span><span style="font-weight: 400;">chi tiết</span><span style="font-weight: 400;"> với nhiều </span><span style="font-weight: 400;">châu báu</span><span style="font-weight: 400;"> và </span><span style="font-weight: 400;">trang hoàng</span><span style="font-weight: 400;">. Nhưng thật ra tất cả các Ngài đều </span><span style="font-weight: 400;">Trí tuệ</span> <span style="font-weight: 400;">Siêu Việt</span><span style="font-weight: 400;"> như nhau, </span><span style="font-weight: 400;">xuất hiện</span><span style="font-weight: 400;"> trong nhiều </span><span style="font-weight: 400;">thân tướng</span><span style="font-weight: 400;"> khác nhau để </span><span style="font-weight: 400;">thích hợp</span><span style="font-weight: 400;"> với nhiều loại người khác nhau.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Mối nối kết giữa giáo lý tantric và Đức Phật lịch sử là gì?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST:</b> <span style="font-weight: 400;">Chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> gọi </span><span style="font-weight: 400;">Đức Phật</span> <span style="font-weight: 400;">lịch sử</span><span style="font-weight: 400;"> là </span><span style="font-weight: 400;">Đức Phật</span><span style="font-weight: 400;"> “phổ biến” và những vị Phật tantric là “không </span><span style="font-weight: 400;">phổ biến</span><span style="font-weight: 400;">,” nhưng nhiều tantra đã được </span><span style="font-weight: 400;">tụng niệm</span><span style="font-weight: 400;"> bởi </span><span style="font-weight: 400;">Đức Phật</span> <span style="font-weight: 400;">lịch sử</span><span style="font-weight: 400;">. Hevajra-tantra là một trong số này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Mahamudra là gì?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Mahamudra là </span><span style="font-weight: 400;">Trí Tuệ</span> <span style="font-weight: 400;">Siêu Việt</span><span style="font-weight: 400;"> bạn </span><span style="font-weight: 400;">nhận ra</span><span style="font-weight: 400;"> sau khi </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> kyerim và dzogrim. Kyerim là tiến trình phát sinh: bạn </span><span style="font-weight: 400;">quán tưởng</span><span style="font-weight: 400;"> một mandala </span><span style="font-weight: 400;">xuất hiện</span><span style="font-weight: 400;"> bằng chữ, bạn </span><span style="font-weight: 400;">quán tưởng</span><span style="font-weight: 400;"> các bổn tôn và </span><span style="font-weight: 400;">quyến thuộc</span><span style="font-weight: 400;">. Dzogrim có nghĩa giai đoạn </span><span style="font-weight: 400;">hoàn thiện</span><span style="font-weight: 400;">. Điều này thường vào lúc </span><span style="font-weight: 400;">kết thúc</span> <span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;">. Bạn </span><span style="font-weight: 400;">quán tưởng</span><span style="font-weight: 400;"> mọi thứ được thấm nhập lại vào </span><span style="font-weight: 400;">chủng tự</span> <span style="font-weight: 400;">ban đầu</span><span style="font-weight: 400;"> và sau đó cũng tan biến. Trong </span><span style="font-weight: 400;">thực tế</span><span style="font-weight: 400;">, kyerim tịnh hóa việc sinh ra, và dzogrim tịnh hóa sự chết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Thực hành chính của Sakya là gì?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST: </b><span style="font-weight: 400;">Thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> chính của Sakya là Lamdre, hay </span><span style="font-weight: 400;">Con đường</span><span style="font-weight: 400;"> Kết quả, bao trùm </span><span style="font-weight: 400;">toàn bộ</span><span style="font-weight: 400;"> Hinayana, Mahayana và Mantrayana. </span><span style="font-weight: 400;">Thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> này đến </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> qua Ngài Virupa, một vị thánh vĩ đại người </span><span style="font-weight: 400;">Ấn Độ</span><span style="font-weight: 400;"> sống vào năm 650 </span><span style="font-weight: 400;">sau Công Nguyên</span><span style="font-weight: 400;">, và được đem đến </span><span style="font-weight: 400;">Tây Tạng</span><span style="font-weight: 400;"> bởi dịch giả Drogmi, Ngài </span><span style="font-weight: 400;">viên tịch</span><span style="font-weight: 400;"> năm 1072. Nó được đặt nền tảng trên </span><span style="font-weight: 400;">sự quán</span><span style="font-weight: 400;"> đỉnh và </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> của Hevajra-tantra và </span><span style="font-weight: 400;">bao gồm triết học</span><span style="font-weight: 400;"> của tantra cũng như tất cả những </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> yogic như là nội-nhiệt, yoga </span><span style="font-weight: 400;">hơi thở</span><span style="font-weight: 400;">, tư </span><span style="font-weight: 400;">thế thân</span><span style="font-weight: 400;">, yoga </span><span style="font-weight: 400;">giấc mộng</span><span style="font-weight: 400;">, phowa (“chuyển di tâm thức”), các </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> bardo, v.v... </span><span style="font-weight: 400;">Toàn bộ</span> <span style="font-weight: 400;">giáo lý</span><span style="font-weight: 400;"> được ban khoảng ba tháng. Sau đó </span><span style="font-weight: 400;">chúng tôi</span> <span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> về những </span><span style="font-weight: 400;">giáo lý</span><span style="font-weight: 400;"> rất </span><span style="font-weight: 400;">đặc biệt</span><span style="font-weight: 400;">, rất </span><span style="font-weight: 400;">bí mật</span><span style="font-weight: 400;"> của Ngài Naropa, </span><span style="font-weight: 400;">giáo lý</span><span style="font-weight: 400;"> Vajrayogini với mười một yoga. Sau đó </span><span style="font-weight: 400;">chúng tôi</span><span style="font-weight: 400;"> có nhiều </span><span style="font-weight: 400;">giáo lý</span><span style="font-weight: 400;"> của Mahakala; Vajra Kila, </span><span style="font-weight: 400;">xuất phát</span><span style="font-weight: 400;"> từ </span><span style="font-weight: 400;">truyền thống</span><span style="font-weight: 400;"> Nyingma </span><span style="font-weight: 400;">nguyên thủy</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">gia đình</span><span style="font-weight: 400;"> tôi; Sarvavidya, </span><span style="font-weight: 400;">đặc biệt</span> <span style="font-weight: 400;">lợi ích</span><span style="font-weight: 400;"> cho lúc cận tử và lúc chết; Vajrabhaivara, một tướng </span><span style="font-weight: 400;">phẫn nộ</span><span style="font-weight: 400;"> của Đức Manjushri (</span><span style="font-weight: 400;">Văn Thù</span><span style="font-weight: 400;">); Mười Ba </span><span style="font-weight: 400;">Giáo Lý</span><span style="font-weight: 400;"> như </span><span style="font-weight: 400;">Vàng Ròng</span><span style="font-weight: 400;"> chỉ thuộc về phái Sakya; và nhiều </span><span style="font-weight: 400;">giáo lý</span><span style="font-weight: 400;"> khác. Nhưng Lamdre </span><span style="font-weight: 400;">bao gồm</span><span style="font-weight: 400;"> tất cả.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Khái niệm về đạo đức ở phương Tây, năng lượng tình dục thường được xem là một chướng ngại cho con đường tâm linh. Vậy tantra có ý định chấp nhận những năng lượng này, và chúng có thể thực sự giúp chúng ta đi theo Con đường?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST:</b><span style="font-weight: 400;"> Nếu được </span><span style="font-weight: 400;">sử dụng</span><span style="font-weight: 400;"> một cách đúng; nếu được đúng người </span><span style="font-weight: 400;">sử dụng</span><span style="font-weight: 400;"> vào </span><span style="font-weight: 400;">đúng lúc</span><span style="font-weight: 400;"> và </span><span style="font-weight: 400;">hợp lý</span><span style="font-weight: 400;">, chúng có thể giúp đỡ rất lớn. </span><span style="font-weight: 400;">Câu chuyện</span><span style="font-weight: 400;"> thường được kể về Vua Indrabhuti, người đã nói với </span><span style="font-weight: 400;">Đức Phật </span><span style="font-weight: 400;">Sakyamuni rằng ông muốn được </span><span style="font-weight: 400;">tái sinh</span><span style="font-weight: 400;"> làm chó sói trong rừng hoang còn hơn là nhận </span><span style="font-weight: 400;">con đường tâm linh</span><span style="font-weight: 400;"> vì đòi hỏi </span><span style="font-weight: 400;">từ bỏ</span> <span style="font-weight: 400;">vật chất</span> <span style="font-weight: 400;">thế gian</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">vì vậy</span> <span style="font-weight: 400;">Đức Phật</span><span style="font-weight: 400;"> đã </span><span style="font-weight: 400;">ban cho</span><span style="font-weight: 400;"> ông một </span><span style="font-weight: 400;">giáo lý</span> <span style="font-weight: 400;">đặc biệt</span><span style="font-weight: 400;"> – </span><span style="font-weight: 400;">giáo lý </span><span style="font-weight: 400;">Guhyasamaja – mà </span><span style="font-weight: 400;">chúng tôi</span><span style="font-weight: 400;"> vẫn còn trao truyền. </span><span style="font-weight: 400;">Dĩ nhiên</span><span style="font-weight: 400;">, chỉ </span><span style="font-weight: 400;">từ bỏ</span><span style="font-weight: 400;"> bên ngoài là việc ít </span><span style="font-weight: 400;">giá trị</span><span style="font-weight: 400;">; người ta có thể </span><span style="font-weight: 400;">từ bỏ</span><span style="font-weight: 400;"> điều gì đó một cách </span><span style="font-weight: 400;">bề ngoài</span><span style="font-weight: 400;"> và vẫn rất bám luyến nó! </span><span style="font-weight: 400;">Từ bỏ</span><span style="font-weight: 400;"> thật sự là sự </span><span style="font-weight: 400;">từ bỏ</span><span style="font-weight: 400;"> bám luyến. Bất luận thế nào, Vua Indrabhuti là loại người thực sự cao nhất, ông và </span><span style="font-weight: 400;">toàn bộ</span><span style="font-weight: 400;"> triều đình thật sự đạt </span><span style="font-weight: 400;">giác ngộ</span><span style="font-weight: 400;"> lúc </span><span style="font-weight: 400;">Đức Phật</span><span style="font-weight: 400;"> ban </span><span style="font-weight: 400;">giáo lý</span><span style="font-weight: 400;"> cho họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Song, </span><span style="font-weight: 400;">dĩ nhiên</span><span style="font-weight: 400;"> phần lớn những </span><span style="font-weight: 400;">hành giả</span><span style="font-weight: 400;"> tantric, tăng sĩ là những người không </span><span style="font-weight: 400;">cho phép</span><span style="font-weight: 400;"> hưởng thụ khoái lạc </span><span style="font-weight: 400;">thế gian</span><span style="font-weight: 400;"> và phải sống </span><span style="font-weight: 400;">độc thân</span><span style="font-weight: 400;">. Vua Indrabhuti đạt </span><span style="font-weight: 400;">giác ngộ</span> <span style="font-weight: 400;">lập tức</span><span style="font-weight: 400;">, nhưng </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> nên </span><span style="font-weight: 400;">xem xét</span><span style="font-weight: 400;"> đọc truyện về Ngài Milarepa để thấy những khó khăn mà ngay cả những người có năng khiếu vẫn phải </span><span style="font-weight: 400;">chịu đựng</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Việc thực hành không đúng có những nguy hiểm gì?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: “Nếu có điều gì đó đi sai trong tantra; thì chỉ có một hướng: xuống </span><span style="font-weight: 400;">địa ngục</span><span style="font-weight: 400;">”. </span><span style="font-weight: 400;">Thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> tantra giống như một con rắn trong ống tre – nó chỉ có thể </span><span style="font-weight: 400;">đi lên</span><span style="font-weight: 400;"> hoặc </span><span style="font-weight: 400;">đi xuống</span><span style="font-weight: 400;">. Tìm được một guru tốt và </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span> <span style="font-weight: 400;">giáo lý</span><span style="font-weight: 400;"> thật </span><span style="font-weight: 400;">cẩn thận</span><span style="font-weight: 400;"> là điều </span><span style="font-weight: 400;">cần thiết</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Tại sao tantra lại đòi hỏi quá nhiều bí mật?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Nói chung, tôi nghĩ rằng để tránh tạo ra mất </span><span style="font-weight: 400;">niềm tin</span><span style="font-weight: 400;"> và thậm </span><span style="font-weight: 400;">chí ác</span><span style="font-weight: 400;"> cảm với </span><span style="font-weight: 400;">giáo lý</span><span style="font-weight: 400;"> tantra. Nếu người ta </span><span style="font-weight: 400;">nghe được</span><span style="font-weight: 400;"> những điều gì vào thời điểm sai hoặc không có sự </span><span style="font-weight: 400;">giải thích</span> <span style="font-weight: 400;">đúng đắn</span><span style="font-weight: 400;">, họ có thể bị </span><span style="font-weight: 400;">chấn động</span><span style="font-weight: 400;"> và nghĩ rằng tantra là điều xấu và mất </span><span style="font-weight: 400;">niềm tin</span><span style="font-weight: 400;"> vào </span><span style="font-weight: 400;">Con đường</span><span style="font-weight: 400;"> Tantric. </span><span style="font-weight: 400;">Ngoài ra</span><span style="font-weight: 400;">, nếu người ta thấy các mandala và có thể đọc được những mantra trong sách, họ có thể bị </span><span style="font-weight: 400;">lôi cuốn</span> <span style="font-weight: 400;">cố gắng</span><span style="font-weight: 400;"> tự </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;">, đây là một </span><span style="font-weight: 400;">sai lầm</span><span style="font-weight: 400;"> rất </span><span style="font-weight: 400;">nghiêm trọng</span><span style="font-weight: 400;">. Mọi điều phải được vị guru trao truyền.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Có phải tantra còn hơn nghi lễ?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: </span><span style="font-weight: 400;">Nghi lễ</span><span style="font-weight: 400;"> chỉ là </span><span style="font-weight: 400;">một phần nhỏ</span><span style="font-weight: 400;"> của tantra. </span><span style="font-weight: 400;">Thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> chính là </span><span style="font-weight: 400;">thiền định</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">quán tưởng</span><span style="font-weight: 400;"> và </span><span style="font-weight: 400;">tụng niệm </span><span style="font-weight: 400;">hàng ngày của </span><span style="font-weight: 400;">hành giả</span><span style="font-weight: 400;">; sự </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> về các yoga </span><span style="font-weight: 400;">thân thể</span><span style="font-weight: 400;">, yoga </span><span style="font-weight: 400;">hơi thở</span><span style="font-weight: 400;"> và còn nữa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Vậy kết quả là gì?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST:</b><span style="font-weight: 400;"> Nói chung, kết qua là ba, bốn, hay năm thân (kaya) của </span><span style="font-weight: 400;">Đức Phật</span><span style="font-weight: 400;">. Có ba kaya: hai là rupakaya (“sắc thân”) và một là </span><span style="font-weight: 400;">thân tâm</span><span style="font-weight: 400;"> linh. Thân sau này được gọi là dharmakaya (“thân của </span><span style="font-weight: 400;">thực tại</span><span style="font-weight: 400;"> – pháp thân”); nó là sự </span><span style="font-weight: 400;">liên tục</span><span style="font-weight: 400;"> của tâm đã </span><span style="font-weight: 400;">hoàn toàn</span> <span style="font-weight: 400;">chuyển hóa</span><span style="font-weight: 400;"> và trở nên bất khả phân với shunyata (</span><span style="font-weight: 400;">tính không</span><span style="font-weight: 400;">). Sambhogakaya (“thân </span><span style="font-weight: 400;">cực lạc</span><span style="font-weight: 400;"> – báo thân”) là thân </span><span style="font-weight: 400;">thường xuyên</span><span style="font-weight: 400;"> an trụ trong </span><span style="font-weight: 400;">cõi Phật</span><span style="font-weight: 400;"> Akanistha (Sắc </span><span style="font-weight: 400;">Cứu Cánh</span><span style="font-weight: 400;">) ban </span><span style="font-weight: 400;">giáo lý</span><span style="font-weight: 400;"> cho các </span><span style="font-weight: 400;">đại Bồ Tát</span><span style="font-weight: 400;">. Nirmanakaya (“huyễn thân – hóa thân”) có nhiều loại khác nhau, nhưng nirmanakaya tối ưu là bậc giống như </span><span style="font-weight: 400;">Đức Phật</span> <span style="font-weight: 400;">lịch sử</span> <span style="font-weight: 400;">xuất hiện</span><span style="font-weight: 400;"> giữa </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> ở </span><span style="font-weight: 400;">Ấn Độ</span><span style="font-weight: 400;">. Các thân này kết quả từ sự </span><span style="font-weight: 400;">chuyển hóa</span><span style="font-weight: 400;"> khoái lạc tột bậc của </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;">. Thân </span><span style="font-weight: 400;">hiện tại</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta trở thành</span><span style="font-weight: 400;"> rupakaya và tâm </span><span style="font-weight: 400;">hiện tại</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span> <span style="font-weight: 400;">trở thành</span><span style="font-weight: 400;"> dharmakaya.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Đức Phật</b><b> thấy rằng b</b><b>ản ngã</b><b> chẳng h</b><b>iện hữu</b><b> ở bất cứ đâu.</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Người ta nói rằng phẩm tính quan trọng nhất cần thiết cho việc thực hành Giáo Pháp được thành tựu là niềm tin vĩ đại. Vậy loại niềm tin cần thiết là gì? Tại sao niềm tin là rất quan trọng?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST:</b> <span style="font-weight: 400;">Dĩ nhiên</span> <span style="font-weight: 400;">niềm tin</span><span style="font-weight: 400;"> là rất quan trọng, nhưng không chỉ là sự quan trọng. Nó là sự bắt đầu. Không có nó, bạn không </span><span style="font-weight: 400;">thể đạt</span><span style="font-weight: 400;"> kết quả tốt. Chẳng hạn, nếu </span><span style="font-weight: 400;">hạt giống</span><span style="font-weight: 400;"> bị đốt, cây không thể phát triển. Bất chấp </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> nhiều thế nào, bạn sẽ không thể có bất kỳ kết quả nào </span><span style="font-weight: 400;">nếu không</span><span style="font-weight: 400;"> có </span><span style="font-weight: 400;">niềm tin</span><span style="font-weight: 400;">. Nhưng không phải là </span><span style="font-weight: 400;">niềm tin mù quáng</span><span style="font-weight: 400;">. Nói chung, có nói về ba loại </span><span style="font-weight: 400;">niềm tin</span><span style="font-weight: 400;">: </span><span style="font-weight: 400;">trước tiên</span><span style="font-weight: 400;">, “niềm tin tự nguyện,” có nghĩa bạn </span><span style="font-weight: 400;">nhận thức</span><span style="font-weight: 400;"> rất nhiều phẩm tính </span><span style="font-weight: 400;">tuyệt hảo</span><span style="font-weight: 400;"> nơi </span><span style="font-weight: 400;">Tam Bảo</span><span style="font-weight: 400;"> mà bạn </span><span style="font-weight: 400;">mong ước</span> <span style="font-weight: 400;">đảm nhận</span><span style="font-weight: 400;"> để </span><span style="font-weight: 400;">lợi ích</span><span style="font-weight: 400;"> cho tất cả </span><span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span><span style="font-weight: 400;">. “niềm tin </span><span style="font-weight: 400;">trong sáng</span><span style="font-weight: 400;">”, có nghĩa thấy những phẩm tính </span><span style="font-weight: 400;">tốt đẹp</span><span style="font-weight: 400;">, vĩ đại của </span><span style="font-weight: 400;">Đức Phật</span><span style="font-weight: 400;">, tâm bạn trở nên </span><span style="font-weight: 400;">trong sáng</span><span style="font-weight: 400;"> và </span><span style="font-weight: 400;">kiên cố</span><span style="font-weight: 400;">; thứ ba là “niềm tin của sự tự tin”, có nghĩa bạn </span><span style="font-weight: 400;">chấp nhận</span> <span style="font-weight: 400;">giáo lý</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">Đức Phật</span><span style="font-weight: 400;"> và </span><span style="font-weight: 400;">kết luận</span><span style="font-weight: 400;"> là đúng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Vậy niềm tin không chỉ là vấn đề chấp nhận giáo điều nào đó?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Không, </span><span style="font-weight: 400;">chắc chắn</span><span style="font-weight: 400;"> là không.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Giáo lý về tái sinh không quen thuộc với phương Tây. Liệu người ta có thể thực hành Giáo Pháp được hiệu quả nếu không chấp nhận sự tái sinh?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Theo định nghĩa của </span><span style="font-weight: 400;">chúng tôi</span><span style="font-weight: 400;"> về </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span> <span style="font-weight: 400;">Giáo Pháp</span><span style="font-weight: 400;"> là không. </span><span style="font-weight: 400;">Chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> nói rằng bất kể những gì mình </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> dù nó có thể cao hay tốt, nó không phải là </span><span style="font-weight: 400;">Giáo Pháp</span><span style="font-weight: 400;"> nếu chỉ có </span><span style="font-weight: 400;">mục đích</span><span style="font-weight: 400;"> cho </span><span style="font-weight: 400;">cuộc đời</span><span style="font-weight: 400;"> này. </span><span style="font-weight: 400;">Giáo Pháp</span><span style="font-weight: 400;"> là những gì bạn </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> cho cuộc sống </span><span style="font-weight: 400;">kế tiếp</span><span style="font-weight: 400;">, nên </span><span style="font-weight: 400;">quan niệm</span><span style="font-weight: 400;"> về </span><span style="font-weight: 400;">tái sinh </span><span style="font-weight: 400;">không thể tách rời với </span><span style="font-weight: 400;">quan niệm</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">Giáo Pháp</span><span style="font-weight: 400;">. Luật karma là một phần bên trong </span><span style="font-weight: 400;">Giáo Pháp</span><span style="font-weight: 400;">, và sự </span><span style="font-weight: 400;">tái sinh</span><span style="font-weight: 400;"> trong tương lai là kết quả của </span><span style="font-weight: 400;">nguyên nhân</span><span style="font-weight: 400;"> ở </span><span style="font-weight: 400;">hiện tại</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Nhiều người ở phương Tây có thể phủ nhận sự phổ quát của đau khổ.</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: </span><span style="font-weight: 400;">Đạo Phật</span><span style="font-weight: 400;"> nói rằng bất luận thế nào, dù bạn ở đâu trong </span><span style="font-weight: 400;">thế gian</span> <span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;">, thì đó là </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">. Việc phớt lờ tính </span><span style="font-weight: 400;">tương tục</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">hiện tại</span><span style="font-weight: 400;"> về </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> là </span><span style="font-weight: 400;">sai lầm</span><span style="font-weight: 400;">. Bạn không nên </span><span style="font-weight: 400;">trốn tránh</span><span style="font-weight: 400;"> nó; bạn phải biết những </span><span style="font-weight: 400;">nguyên nhân</span><span style="font-weight: 400;"> của nó và </span><span style="font-weight: 400;">cố gắng</span><span style="font-weight: 400;"> tránh tạo ra chúng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Học thuyết của Đức Phật đã giảng dạy, anatman hay “vô ngã” là gì?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: </span><span style="font-weight: 400;">Đức Phật</span><span style="font-weight: 400;"> thấy rằng </span><span style="font-weight: 400;">bản ngã</span><span style="font-weight: 400;"> không </span><span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;"> ở bất cứ nơi đâu. </span><span style="font-weight: 400;">Tâm không</span><span style="font-weight: 400;"> phải là </span><span style="font-weight: 400;">bản ngã</span><span style="font-weight: 400;">, thân không là </span><span style="font-weight: 400;">bản ngã</span><span style="font-weight: 400;">; </span><span style="font-weight: 400;">bản ngã</span><span style="font-weight: 400;"> chỉ là </span><span style="font-weight: 400;">danh hiệu</span><span style="font-weight: 400;"> đặt cho một nhóm sự vật cùng nhau: sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Do vậy, trong </span><span style="font-weight: 400;">thực tại</span><span style="font-weight: 400;"> khi khảo sát để </span><span style="font-weight: 400;">tìm kiếm</span><span style="font-weight: 400;"> những gì </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> gọi là </span><span style="font-weight: 400;">bản ngã</span><span style="font-weight: 400;">, sẽ chẳng có gì. </span><span style="font-weight: 400;">Bản ngã</span><span style="font-weight: 400;"> chỉ là </span><span style="font-weight: 400;">danh hiệu</span><span style="font-weight: 400;"> đặt cho sự thu thập về sự vật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Ngay cả dù chúng ta không có linh hồn bất tử, vậy liệu bản ngã không hiện hữu trong một số cách nào đó phải không?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Không, </span><span style="font-weight: 400;">bản ngã</span><span style="font-weight: 400;"> chưa từng </span><span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;">, mà sự </span><span style="font-weight: 400;">tương tục</span><span style="font-weight: 400;"> của tâm </span><span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Cảm giác mạnh mẽ về bản ngã của chúng ta khởi lên từ đâu?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Vì không có lúc khởi đầu, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> sinh ra trong </span><span style="font-weight: 400;">thế gian</span> <span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;"> với </span><span style="font-weight: 400;">thói quen</span> <span style="font-weight: 400;">suy nghĩ</span><span style="font-weight: 400;"> rất mạnh rằng sự </span><span style="font-weight: 400;">liên tục</span><span style="font-weight: 400;"> của tâm là chính </span><span style="font-weight: 400;">bản ngã</span> <span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;">, và </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> đã sống với bám luyến rất mạnh vào nó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Vậy bản ngã chỉ là thói quen của tư duy?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Đúng vậy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Một số người phương Tây nghĩ rằng chết là hoàn toàn hủy diệt.</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Điều đó không đúng. Khi chết, thân bạn </span><span style="font-weight: 400;">kết thúc</span><span style="font-weight: 400;">, nhưng </span><span style="font-weight: 400;">tâm thức</span><span style="font-weight: 400;"> bạn vẫn </span><span style="font-weight: 400;">tiếp diễn</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Nếu thực sự không có bản ngã, vậy cái gì tiếp tục?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST:</b><span style="font-weight: 400;"> Sự </span><span style="font-weight: 400;">liên tục</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">tâm thức</span><span style="font-weight: 400;">. Nó giống như một chuỗi – tất cả các </span><span style="font-weight: 400;">hạt chuỗi</span><span style="font-weight: 400;"> đều khác nhau, nhưng nó cùng một chuỗi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Tâm là gì?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST:</b><span style="font-weight: 400;"> Có nhiều phần với nó, nhưng có một khía cạnh rất </span><span style="font-weight: 400;">căn bản</span><span style="font-weight: 400;"> mà </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> gọi là Kun-Shi (Alaya). </span><span style="font-weight: 400;">Nghĩa đen</span><span style="font-weight: 400;">, điều này có nghĩa “nền tảng của tất cả” và nó là sự tự-thấy </span><span style="font-weight: 400;">rõ ràng</span> <span style="font-weight: 400;">minh bạch</span><span style="font-weight: 400;">. Nó là nền tảng từ đó </span><span style="font-weight: 400;">thế gian</span> <span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;"> và </span><span style="font-weight: 400;">giải thoát</span> <span style="font-weight: 400;">xuất hiện</span><span style="font-weight: 400;">. Nó là </span><span style="font-weight: 400;">tâm không</span> <span style="font-weight: 400;">chướng ngại</span><span style="font-weight: 400;"> thật sự, một phần của </span><span style="font-weight: 400;">tâm không</span><span style="font-weight: 400;"> bám chấp vào những đối tượng bên ngoài. Nó là sự </span><span style="font-weight: 400;">trong sáng</span><span style="font-weight: 400;"> và </span><span style="font-weight: 400;">tiếp tục</span><span style="font-weight: 400;"> đúng ngay từ thời vô thủy </span><span style="font-weight: 400;">cho đến</span><span style="font-weight: 400;"> khi </span><span style="font-weight: 400;">đạt đến</span> <span style="font-weight: 400;">giác ngộ</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Tâm này cũng không hiện hữu trong sự Tuyệt Đối?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: </span><span style="font-weight: 400;">Dĩ nhiên</span><span style="font-weight: 400;">, nó </span><span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;"> một cách </span><span style="font-weight: 400;">tương đối</span><span style="font-weight: 400;">. Một cách </span><span style="font-weight: 400;">rốt ráo</span><span style="font-weight: 400;"> nó là shunyata, nhưng một cách </span><span style="font-weight: 400;">tương đối</span><span style="font-weight: 400;"> thì nó </span><span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;">. Trong </span><span style="font-weight: 400;">thực tại</span><span style="font-weight: 400;">, bạn không thể nói nó </span><span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;"> hay không </span><span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Nó có phải là cá nhân hay là một loại thu thập của ý thức, một nền tảng chung của tất cả tâm thức cá nhân hay không?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Nó là </span><span style="font-weight: 400;">cá nhân</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Điều gì phân biệt giữa người đi theo Mahayana với người đi theo Hinayana?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST:</b><span style="font-weight: 400;"> Có bảy sự khác biệt, nhưng điều chính là người nào mong muốn đạt </span><span style="font-weight: 400;">giải thoát</span> <span style="font-weight: 400;">vì lợi ích</span><span style="font-weight: 400;"> của tất cả </span><span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span><span style="font-weight: 400;"> thì thuộc về Mahayana.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Lòng bi cho tất cả chúng sinh đang sống có phải chỉ là một vấn đề của lòng thương xót với họ hay không?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Không, lòng bi là một </span><span style="font-weight: 400;">ý muốn</span><span style="font-weight: 400;">, mong muốn </span><span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span> <span style="font-weight: 400;">thoát khỏi</span> <span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Lòng bi có đòi hỏi hiểu biết nguyên nhân của đau khổ hay nó chỉ là sự kiện của cảm giác?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Tôi nghĩ cả hai đều </span><span style="font-weight: 400;">cần thiết</span><span style="font-weight: 400;">. Lòng bi có ba giai đoạn: </span><span style="font-weight: 400;">mong ước</span> <span style="font-weight: 400;">nguyên nhân</span><span style="font-weight: 400;"> gây </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> cho họ được </span><span style="font-weight: 400;">tiêu trừ</span><span style="font-weight: 400;">, và </span><span style="font-weight: 400;">mong ước</span> <span style="font-weight: 400;">chúng sinh</span><span style="font-weight: 400;"> đó </span><span style="font-weight: 400;">thoát khỏi</span> <span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;"> nhờ hiểu được </span><span style="font-weight: 400;">thật tính</span><span style="font-weight: 400;"> của mọi sự. Sự </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> về lòng bi </span><span style="font-weight: 400;">rõ ràng</span><span style="font-weight: 400;"> đòi hỏi phải </span><span style="font-weight: 400;">hiểu biết</span> <span style="font-weight: 400;">nguyên nhân</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Thưa Pháp Vương, Ngài đã nói cảm giác của chúng ta về “cái tôi” thật sự là một ảo tưởng. Nếu đúng như vậy, tại sao chúng ta lại khó thấy điều này?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Như tôi đã </span><span style="font-weight: 400;">nói trước</span><span style="font-weight: 400;"> đó, từ thời </span><span style="font-weight: 400;">vô thủy</span><span style="font-weight: 400;"> qua những kiếp sống, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> đã </span><span style="font-weight: 400;">xây dựng</span><span style="font-weight: 400;"> những khuynh hướng làm mạnh thêm bằng mỗi hành động cho rằng “cái tôi” là có thật; các khuynh hướng này khiến </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> rất khó </span><span style="font-weight: 400;">nhận ra</span> <span style="font-weight: 400;">bản tính</span><span style="font-weight: 400;"> ảo huyễn của “cái tôi.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Thấy được tính không thực tại của bản ngã giống như phá vỡ một thói quen xấu phải không?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Đúng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Pháp Vương nói rằng giáo lý về tái sinh là chân lý tương đối và nhiều sự vật hiện hữu một cách tương đối mà không phải tuyệt đối. Vậy sự phân biệt giữa chân lý tương đối và tuyệt đối là gì?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST: </b><span style="font-weight: 400;">Vâng, có </span><span style="font-weight: 400;">hai chân lý</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">tương đối</span><span style="font-weight: 400;"> và </span><span style="font-weight: 400;">tuyệt đối</span><span style="font-weight: 400;">. Một cách </span><span style="font-weight: 400;">tương đối</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span> <span style="font-weight: 400;">đau khổ</span><span style="font-weight: 400;">; một cách </span><span style="font-weight: 400;">tương đối</span><span style="font-weight: 400;">, có </span><span style="font-weight: 400;">nguyên nhân</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">con đường</span><span style="font-weight: 400;">, và kết quả. Nhưng trong </span><span style="font-weight: 400;">kinh nghiệm</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">chân lý</span> <span style="font-weight: 400;">tuyệt đối</span><span style="font-weight: 400;">, không điều gì có thể được nói là </span><span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;"> hay không </span><span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;"> hoặc cả hai cùng hay không cùng nhau </span><span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;">. Đó là cái mà </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> gọi là bốn </span><span style="font-weight: 400;">thái cực</span><span style="font-weight: 400;"> có thể bị </span><span style="font-weight: 400;">phản đối</span><span style="font-weight: 400;">. Chúng bị </span><span style="font-weight: 400;">phản đối</span><span style="font-weight: 400;"> trong </span><span style="font-weight: 400;">ý nghĩa </span><span style="font-weight: 400;">sự </span><span style="font-weight: 400;">phản đối</span> <span style="font-weight: 400;">hợp lý</span><span style="font-weight: 400;">, </span><span style="font-weight: 400;">đúng đắn</span><span style="font-weight: 400;"> có thể đưa ra tất cả bốn khả năng có thể.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Chân lý tuyệt đối (lý cứu cánh) có thể diễn tả được bằng ngôn từ hay không?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST:</b><span style="font-weight: 400;"> Không, mặc dù nó có thể được </span><span style="font-weight: 400;">diễn tả</span><span style="font-weight: 400;"> với một số </span><span style="font-weight: 400;">phạm vi</span><span style="font-weight: 400;">. </span><span style="font-weight: 400;">Tuy nhiên</span><span style="font-weight: 400;">, trong </span><span style="font-weight: 400;">thực tế</span><span style="font-weight: 400;"> nó chỉ có thể được </span><span style="font-weight: 400;">nhận biết</span><span style="font-weight: 400;"> và </span><span style="font-weight: 400;">kinh nghiệm</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Có phải học thuyết của Madhyamaka về tính không được dạy bởi mọi trường phái của Phật giáo Tây Tạng, và sự giảng dạy của họ đều như nhau không?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Đúng vậy, tất cả họ đều dạy cùng một việc, nhưng cách giảng dạy lại khác nhau. Tất cả đều có phẩm tính riêng họ, và mọi </span><span style="font-weight: 400;">thành tựu</span><span style="font-weight: 400;"> đều như nhau.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Những người đi theo Mantrayana có chấp nhận giáo lý của Mahayana không?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Có, Mantrayana </span><span style="font-weight: 400;">chấp nhận</span><span style="font-weight: 400;"> mọi </span><span style="font-weight: 400;">giáo lý</span><span style="font-weight: 400;"> của Mahayana. Nó được </span><span style="font-weight: 400;">phân biệt</span><span style="font-weight: 400;"> với Mahayana bằng rất nhiều </span><span style="font-weight: 400;">phương pháp</span><span style="font-weight: 400;"> khác nhau, </span><span style="font-weight: 400;">sử dụng</span><span style="font-weight: 400;"> những </span><span style="font-weight: 400;">phương pháp</span><span style="font-weight: 400;"> trực tiếp hơn để </span><span style="font-weight: 400;">đạt được</span> <span style="font-weight: 400;">chân lý</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Ý nghĩa của chuông và quyền trượng (chày) vajra được sử dụng trong thiền định và các nghi lễ tantric là gì?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Mỗi thứ đều có nhiều mặt, nhưng chúng là </span><span style="font-weight: 400;">biểu tượng</span><span style="font-weight: 400;"> chính của </span><span style="font-weight: 400;">trí tuệ</span><span style="font-weight: 400;"> và </span><span style="font-weight: 400;">phương tiện</span><span style="font-weight: 400;">, đều quan </span><span style="font-weight: 400;">trọng như</span><span style="font-weight: 400;"> nhau trên </span><span style="font-weight: 400;">con đường</span><span style="font-weight: 400;"> của </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;">; chúng cũng </span><span style="font-weight: 400;">biểu tượng</span><span style="font-weight: 400;"> cho những </span><span style="font-weight: 400;">tính chất</span><span style="font-weight: 400;"> của nam và nữ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Nghi thức là quan trọng trong thực hành của Phật giáo Tây Tạng. Nó được dùng ra sao?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: </span><span style="font-weight: 400;">Nghi thức</span><span style="font-weight: 400;"> rất quan trọng, và qua </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> về nó, có thể tạo được nhiều </span><span style="font-weight: 400;">tiến bộ</span><span style="font-weight: 400;">. </span><span style="font-weight: 400;">Tuy nhiên</span><span style="font-weight: 400;">, không </span><span style="font-weight: 400;">cần thiết</span><span style="font-weight: 400;"> cho </span><span style="font-weight: 400;">mọi người</span> <span style="font-weight: 400;">thực hiện</span><span style="font-weight: 400;"> các </span><span style="font-weight: 400;">nghi thức</span><span style="font-weight: 400;"> nhiều </span><span style="font-weight: 400;">chi tiết</span><span style="font-weight: 400;">. Chỉ có chuông, chày vajra và những </span><span style="font-weight: 400;">thủ ấn</span><span style="font-weight: 400;"> (mudra) là </span><span style="font-weight: 400;">cần thiết</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Tại sao mudra quan trọng?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Chúng rất quan trọng, bên ngoài và bên trong, và rất </span><span style="font-weight: 400;">ích lợi</span><span style="font-weight: 400;"> trong </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span> <span style="font-weight: 400;">quán tưởng</span><span style="font-weight: 400;">. Tự thân mudra cũng có nhiều </span><span style="font-weight: 400;">quyền năng</span><span style="font-weight: 400;"> để </span><span style="font-weight: 400;">bảo vệ</span><span style="font-weight: 400;">, để nhận được </span><span style="font-weight: 400;">ban phước</span><span style="font-weight: 400;">, để chữa lành.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Những phẩm tính nào cần có trước khi người ta có thể ban wang?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST:</b><span style="font-weight: 400;"> Có ba loại guru đã được </span><span style="font-weight: 400;">mô tả</span><span style="font-weight: 400;"> trong các tantra. Loại cao nhất là người đã thực sự thấy được bổn tôn </span><span style="font-weight: 400;">rõ ràng</span><span style="font-weight: 400;"> như </span><span style="font-weight: 400;">chúng ta</span><span style="font-weight: 400;"> thấy người khác. Loại thứ hai là người </span><span style="font-weight: 400;">tối thiểu</span><span style="font-weight: 400;"> đã nhận được một số dấu hiệu </span><span style="font-weight: 400;">thành tựu</span> <span style="font-weight: 400;">tâm linh</span><span style="font-weight: 400;">, có thể trong </span><span style="font-weight: 400;">giấc mộng</span><span style="font-weight: 400;">. Loại thứ ba, thông thường hiện nay, là những vị guru đã </span><span style="font-weight: 400;">tiếp nhận</span><span style="font-weight: 400;"> tất cả những wang </span><span style="font-weight: 400;">cần thiết</span><span style="font-weight: 400;"> và </span><span style="font-weight: 400;">giáo lý</span><span style="font-weight: 400;"> từ vị guru đích thực; người đã </span><span style="font-weight: 400;">thực hiện</span> <span style="font-weight: 400;">nhập thất</span><span style="font-weight: 400;"> về các bổn tôn chính nào đó; người đã học mọi </span><span style="font-weight: 400;">nghi thức</span><span style="font-weight: 400;">, các mudra, sự sắp xếp các mandala, và còn nữa. Chỉ như vậy họ mới có thể ban wang.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Việc tiếp nhận giáo lý từ vị guru thuộc loại thứ ba có đủ tốt hay không?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST: </b><span style="font-weight: 400;">Có, nó tạo một số nối kết, thậm chí nếu nó không thân cận như loại thứ nhất. Loại guru thứ nhất có thể </span><span style="font-weight: 400;">giới thiệu</span><span style="font-weight: 400;"> bạn tới bổn tôn như Ngài muốn với một người bạn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Thiền định nhập thất là gì?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Có nhiều loại khác nhau. Bạn có </span><span style="font-weight: 400;">thể nhập</span><span style="font-weight: 400;"> thất </span><span style="font-weight: 400;">đơn giản</span><span style="font-weight: 400;">, ở đó bạn </span><span style="font-weight: 400;">thực hành thiền định</span><span style="font-weight: 400;"> về </span><span style="font-weight: 400;">tình thương</span><span style="font-weight: 400;">, lòng bi và </span><span style="font-weight: 400;">quyết tâm</span><span style="font-weight: 400;"> đạt </span><span style="font-weight: 400;">giác ngộ</span><span style="font-weight: 400;">. Trong </span><span style="font-weight: 400;">thiền định</span><span style="font-weight: 400;"> tantric, bạn </span><span style="font-weight: 400;">quán tưởng</span><span style="font-weight: 400;"> các bổn tôn, </span><span style="font-weight: 400;">tụng niệm</span><span style="font-weight: 400;"> mantra, tập trung vào cái thấy </span><span style="font-weight: 400;">thân tướng</span><span style="font-weight: 400;"> bổn tôn thật </span><span style="font-weight: 400;">rõ ràng</span><span style="font-weight: 400;">, hoặc </span><span style="font-weight: 400;">đơn giản</span> <span style="font-weight: 400;">thiền định</span><span style="font-weight: 400;"> về shunyata. Đó là những </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Tại sao nhập thất lại rất quan trọng?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Qua </span><span style="font-weight: 400;">thiền định</span> <span style="font-weight: 400;">nhập thất</span><span style="font-weight: 400;">, bạn </span><span style="font-weight: 400;">đạt được</span> <span style="font-weight: 400;">giác ngộ</span><span style="font-weight: 400;">. Không </span><span style="font-weight: 400;">thực hiện</span><span style="font-weight: 400;"> nhiều lần </span><span style="font-weight: 400;">nhập thất</span><span style="font-weight: 400;"> thì không </span><span style="font-weight: 400;">thể đạt</span> <span style="font-weight: 400;">giác ngộ</span><span style="font-weight: 400;">. Nhiều người biết đến ở </span><span style="font-weight: 400;">Tây Tạng</span><span style="font-weight: 400;"> nhiều yogi (</span><span style="font-weight: 400;">hành giả</span><span style="font-weight: 400;">) đã tốn nhiều năm </span><span style="font-weight: 400;">nhập thất </span><span style="font-weight: 400;">trong </span><span style="font-weight: 400;">cô độc</span><span style="font-weight: 400;"> vì </span><span style="font-weight: 400;">mục đích</span><span style="font-weight: 400;"> này; một số vẫn làm như vậy ở </span><span style="font-weight: 400;">Ấn Độ</span><span style="font-weight: 400;">. Trừ khi bạn có những phẩm tính cao tột, sẽ không </span><span style="font-weight: 400;">thể đạt</span> <span style="font-weight: 400;">giác ngộ</span> <span style="font-weight: 400;">trong đời</span><span style="font-weight: 400;"> này </span><span style="font-weight: 400;">nếu không</span> <span style="font-weight: 400;">thực hiện</span> <span style="font-weight: 400;">nhập thất</span> <span style="font-weight: 400;">lâu dài</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Trong thực hành Mantrayana, liệu có cần để ý phải thiền định về vị bổn tôn nào không?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST:</b><span style="font-weight: 400;"> Tốt nhất là </span><span style="font-weight: 400;">thiền định</span><span style="font-weight: 400;"> về vị bổn tôn mà người ta có mối nối </span><span style="font-weight: 400;">kết nghiệp</span><span style="font-weight: 400;">. Loại bổn tôn này được gọi là yidam, hay “bổn tôn </span><span style="font-weight: 400;">bảo trợ</span><span style="font-weight: 400;">”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Mỗi vị bổn tôn có thể là một yidam hay không?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Không </span><span style="font-weight: 400;">hoàn toàn</span><span style="font-weight: 400;"> như vậy. Những vị </span><span style="font-weight: 400;">bảo vệ</span><span style="font-weight: 400;"> không phải là yidam. Có một bộ các bổn tôn là những yidam, và trong số này sẽ có một vị mà bạn có mối nối kết </span><span style="font-weight: 400;">đặc biệt</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Chư Bồ Tát như Đức Manjushri (Văn Thù) và Avalokiteshvara (Quán Tự Tại) có thể là các yidam không?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST: </b><span style="font-weight: 400;">Có, các Ngài có cả hai tướng </span><span style="font-weight: 400;">Bồ Tát</span><span style="font-weight: 400;"> và Yidam.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Chúng ta cần có những phẩm tính nào trước khi có thể nhận wang?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Nhiều phẩm tính khác nhau của </span><span style="font-weight: 400;">đệ tử</span><span style="font-weight: 400;"> xứng đáng đã được </span><span style="font-weight: 400;">mô tả</span><span style="font-weight: 400;">, nhưng các phẩm tính chính là </span><span style="font-weight: 400;">niềm tin</span><span style="font-weight: 400;">, lòng bi, và </span><span style="font-weight: 400;">bồ đề tâm</span><span style="font-weight: 400;">. Người không phát triển </span><span style="font-weight: 400;">bồ đề tâm</span><span style="font-weight: 400;"> không được nhận những </span><span style="font-weight: 400;">quán đỉnh </span><span style="font-weight: 400;">chính, những </span><span style="font-weight: 400;">quán đỉnh</span><span style="font-weight: 400;"> về các bổn tôn như Hevajra.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Nếu ngay cả người ta đã phát triển bồ đề tâm, để tìm thấy một vị guru, có phải là chuyện may mắn không?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST:</b><span style="font-weight: 400;"> Không, người ta phải </span><span style="font-weight: 400;">tìm kiếm</span><span style="font-weight: 400;">. Người ta luôn có thể tìm được vị guru để nhận được </span><span style="font-weight: 400;">giáo lý</span><span style="font-weight: 400;"> từ Ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Nếu không tìm được vị guru, người ta nên làm gì?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Ông ta phải tìm nhiều hơn nữa!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Anuttarayoga-tantra là gì?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Có bốn bộ tantra, trong đó Anuttarayoga-tantra thực sự cao nhất. </span><span style="font-weight: 400;">Nói vắn tắt</span><span style="font-weight: 400;">, nó là sự </span><span style="font-weight: 400;">thực hành </span><span style="font-weight: 400;">trong đó mỗi </span><span style="font-weight: 400;">hoạt động</span><span style="font-weight: 400;"> của cuộc sống người ta – ngay cả việc </span><span style="font-weight: 400;">ăn uống</span><span style="font-weight: 400;">, tắm rửa, v.v... – mọi thứ bạn làm, mọi </span><span style="font-weight: 400;">hoạt động</span><span style="font-weight: 400;"> trong </span><span style="font-weight: 400;">thế gian</span> <span style="font-weight: 400;">hiện hữu</span><span style="font-weight: 400;"> trong khi </span><span style="font-weight: 400;">bạn thiền</span><span style="font-weight: 400;"> định và không </span><span style="font-weight: 400;">thiền định</span><span style="font-weight: 400;">, mọi thứ, mọi hành động đều được </span><span style="font-weight: 400;">chuyển hóa</span><span style="font-weight: 400;"> vào </span><span style="font-weight: 400;">Con đường</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Thực hành đạo Phật có nghĩa chúng ta có phải từ bỏ vật chất thế gian hay không?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Theo Hinayana và Mahayana là có. Nhưng theo Mantrayana thì không </span><span style="font-weight: 400;">cần thiết</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Bằng sự từ bỏ, có nghĩa đi vào núi và sống như người ẩn dật. Liệu chúng tôi có thể sống trong thành phố mà vẫn thực hành không?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Trong Mantrayana là </span><span style="font-weight: 400;">nhất định</span><span style="font-weight: 400;"> được. đây là điều tại sao </span><span style="font-weight: 400;">Đức Phật</span><span style="font-weight: 400;"> dạy Mantrayana cho Vua Indrabhuti.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>H: Vậy tại sao cuộc sống ở tu viện lại quan trọng?</b></p>
<p style="text-align: justify;"><b>PVST</b><span style="font-weight: 400;">: Cuộc sống ở </span><span style="font-weight: 400;">tu viện</span><span style="font-weight: 400;"> là quan trọng để </span><span style="font-weight: 400;">gìn giữ</span> <span style="font-weight: 400;">truyền thống</span><span style="font-weight: 400;"> được sống còn, để </span><span style="font-weight: 400;">giữ gìn</span> <span style="font-weight: 400;">giáo lý</span><span style="font-weight: 400;"> một cách </span><span style="font-weight: 400;">đúng đắn</span><span style="font-weight: 400;">. Khi bạn sống ở </span><span style="font-weight: 400;">thế gian</span><span style="font-weight: 400;">, bạn </span><span style="font-weight: 400;">vẫn có</span><span style="font-weight: 400;"> thể </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;">, có thể rất </span><span style="font-weight: 400;">hiệu quả</span><span style="font-weight: 400;">, nhưng, nói chung, có quá nhiều khả năng để sao lãng trong </span><span style="font-weight: 400;">thế giới</span> <span style="font-weight: 400;">vật chất</span><span style="font-weight: 400;">, và người thường không có </span><span style="font-weight: 400;">thời gian </span><span style="font-weight: 400;">để </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> một cách </span><span style="font-weight: 400;">thích đáng</span><span style="font-weight: 400;"> hoặc học </span><span style="font-weight: 400;">giáo lý</span><span style="font-weight: 400;"> một cách </span><span style="font-weight: 400;">hiệu quả</span><span style="font-weight: 400;">, họ có quá nhiều thứ cần </span><span style="font-weight: 400;">chú tâm </span><span style="font-weight: 400;">đến. Các tăng sĩ có cơ hội </span><span style="font-weight: 400;">tốt hơn</span><span style="font-weight: 400;"> nhiều để </span><span style="font-weight: 400;">thực hành</span><span style="font-weight: 400;"> và học tập, vì họ chẳng có điều gì khác để </span><span style="font-weight: 400;">quan tâm</span><span style="font-weight: 400;">.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Migmar Tseten</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><b></b><i><span style="font-weight: 400;">Việt dịch: Tuệ Pháp</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <a href="https://www.google.com/url?sa=t&amp;rct=j&amp;q=&amp;esrc=s&amp;source=web&amp;cd=&amp;cad=rja&amp;uact=8&amp;ved=2ahUKEwip6dyJ5buFAxXmQ_UHHbsNCxAQFnoECA4QAQ&amp;url=https%3A%2F%2Fthuvienhoasen.org%2Fa6270%2F3-cuoc-phong-van-phap-vuong-sakya-trizin-giao-ly-cot-tuy-cua-dao-phat&amp;usg=AOvVaw1P3aWhvS7iWhaEoSIYuPKn&amp;opi=89978449">Cuộc phỏng vấn Pháp Vương Sakya Trizin - Giáo lý cốt tủy của Đạo Phật</a></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/cuoc-phong-van-phap-vuong-sakya-trizin-giao-ly-cot-tuy-cua-dao-phat/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Kính lễ đến Đức Phật bậc thực hiện mười hai việc làm Giác Ngộ</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/kinh-le-den-duc-phat-bac-thuc-hien-muoi-hai-viec-lam-giac-ngo/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/kinh-le-den-duc-phat-bac-thuc-hien-muoi-hai-viec-lam-giac-ngo/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 14 Apr 2018 15:38:49 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kinh sách Sakya]]></category>
		<category><![CDATA[Sakya]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=8467</guid>
		<description><![CDATA[Ngài là bậc thiện xảo, bi mẫn, sinh ra trong dòng truyền Shakyas, Không thể thất bại bởi người khác, bậc tiêu diệt các mara, Thân Ngài huy hoàng như Núi Tu Di bằng vàng ròng, Vị Vua của Shakyas – con kính lễ dưới chân Ngài. Ngài là bậc đầu tiên phát triển tâm giác ngộ, [Kế đó] viên mãn hai tích lũy về công đức và trí tuệ, Và trong thời đại này đã thực hiện những hoạt động giác ngộ bao&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/kinh-le-den-duc-phat-bac-thuc-hien-muoi-hai-viec-lam-giac-ngo/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Ngài là bậc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiện xảo</span>, bi mẫn, sinh ra trong dòng truyền Shakyas,<br />
Không thể thất bại bởi người khác, bậc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiêu diệt </span>các mara,<br />
Thân Ngài huy hoàng như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Núi Tu Di</span> bằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vàng ròng</span>,<br />
Vị Vua của Shakyas – con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kính lễ</span> dưới chân Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài là bậc đầu tiên phát triển <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm giác</span> ngộ,<br />
[Kế đó] <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên mãn</span> hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công đức</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span>,<br />
Và trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời đại</span> này đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao la</span><br />
Và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> đấng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo hộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> – đến Ngài con dâng cúng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tán thán</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đáp ứng</span> nhu cầu của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chư thiên</span> và biết <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điều phục</span> [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi người</span>],<br />
Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi xuống</span> từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi trời</span>, đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế gian</span> trong dạng một con voi,<br />
Và thấy dòng tộc [Shakyas],<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đi vào</span> bụng của Mayadevi [hoàng hậu Maya] – đến Ngài, con tỏ lòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn kính</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào lúc đủ mười tháng, con trai của Shakyas [dòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thích Ca</span>] đã<br />
Sinh ra trong vườn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cát tường</span> Lumbini [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Lâm Tỳ Ni</span>]. Vào lúc đó,<br />
Trời Brahma (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phạm Thiên</span>) và Indra (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đế thích</span>) <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tán thán</span> Ngài, và những dấu hiệu của Ngài,<br />
Xác quyết Ngài ở trong dòng truyền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ </span>- đến Ngài, con tỏ lòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn kính</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tuổi thanh xuân</span> hùng mạnh, bậc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sư tử</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhân loại</span>, người<br />
Đã phô bày sự khéo léo mạnh mẽ tại Anga ở Magadha,<br />
Đánh bại những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đối thủ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiêu ngạo</span>,<br />
Và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> vô địch – đến Ngài, con tỏ lòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn kính</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phù hợp</span> với phong tục <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế gian</span><br />
Và tránh sự vu khống,<br />
Ngài được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hộ tống</span> bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tùy tùng</span> của hoàng hậu.<br />
Với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương tiện thiện xảo</span>, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phục vụ</span> vương quốc - đến Ngài, con tỏ lòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn kính</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Do thấy rằng những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế tục</span> không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh túy</span>,<br />
Ngài rời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bỏ nhà</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du hành</span> qua bầu trời,<br />
Gần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo Tháp</span> Namdag, Ngài thọ [sự thụ phong của]
Việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> từ chính Ngài – đến Ngài, con tỏ lòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn kính</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Dự định</span> đạt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> bằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nỗ lực</span>,<br />
Tại bờ sông Neranjana trong sáu năm<br />
Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khổ hạnh</span>. Do <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiên trì</span>,<br />
Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thể nhập</span> cao nhất – đến Ngài, con tỏ lòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn kính</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nỗ lực</span> của Ngài từ thời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô thủy</span>,<br />
Tại cội <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bồ đề</span> ở Magadha,<br />
Với tư thế <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiết già</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất động</span>, do <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn giác</span>,<br />
Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên mãn</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> của Ngài - đến Ngài, con tỏ lòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn kính</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhanh chóng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan sát</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> với lòng bi<br />
Trong nơi cao <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhất như</span> Varanasi (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ba La Nại</span>),<br />
Bằng việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển Pháp luân</span>, Ngài dẫn dắt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span><br />
Vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ba thừa</span> - đến Ngài, con tỏ lòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn kính</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Để đánh bại các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đối thủ</span> xấu ác khác,<br />
Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điều phục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáu vị</span> thầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dị giáo</span>, Devadatta (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đề Bà Đạt Đa</span>),<br />
Và Mara (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ma vương</span>) trong xứ sở Khormojig,<br />
Đến vị Thánh, bậc chiến thắng sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xung đột</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thù địch</span> - con tỏ lòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn kính</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đức hạnh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô song</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tam giới</span>,<br />
Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiển bày</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">huyền diệu</span> to lớn ở Sravasti<br />
Được tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chư thiên</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhân loại</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thờ phụng</span>.<br />
Ngài là bậc làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> phát triển - đến Ngài, con tỏ lòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn kính</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Để gợi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm hứng</span> cho người lười biếng với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>,</p>
<p style="text-align: justify;">Trong vùng đất sạch sẽ Kushinagara,<br />
Thân như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kim cương</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất tử</span> của Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span><br />
Và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập niết bàn</span> - đến Ngài, con tỏ lòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn kính</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên mãn</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất hoại</span>,<br />
Và như đối tượng để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> trong tương lai tạo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công đức</span>,<br />
Ngài biểu hiện sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tồn tại</span> của Ngài bằng nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xá lợi</span><br />
Và để lại chúng như tám loại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thánh tích</span> - đến Ngài, con tỏ lòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn kính</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài, bậc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế tôn</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>, khi được sinh ra,<br />
Đã đi bảy bước trên chính trái đất này,<br />
Và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công bố</span>, “Ta là bậc cao nhất trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhân loại</span> ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế gian</span> này”.<br />
Đến Ngài, bậc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại trí</span> trong thời đó, con tỏ lòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn kính</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài là bậc đầu tiên hạ xuống từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi trời</span> Tushita (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đâu Suất</span>)<br />
Sau đó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi vào</span> bụng mẹ Ngài trong chính quyền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàng gia</span><br />
Và sinh ra như bậc Thánh trong vườn Lumbini;<br />
Đấng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ban Phước</span>, vị trời của những vị trời - đến Ngài, con tỏ lòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn kính</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong cung điện <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàng gia</span>, Ngài được tám bảo mẫu yêu mến;<br />
Giữa các thanh niên Shakya (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thích Ca</span>), Ngài biểu hiện sự khỏe mạnh khéo léo;<br />
Và trong Kapilavastu (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thành Ca Tỳ La Vệ</span>), Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chấp nhận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lập gia đình</span> với Gopa;<br />
Thân <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô song</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tam giới</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span> - đến Ngài, con tỏ lòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn kính</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài cho thấy sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">buồn phiền</span> về bốn cái thấy tại bốn cổng thành,<br />
Ngài cắt tóc tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo Tháp</span> Namdag,<br />
Và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khổ hạnh</span> trên bờ sông Neranjana;<br />
Đến Ngài, bậc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chướng ngại</span>, con tỏ lòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn kính</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở Rajgriha, bậc Thánh đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hàng phục</span> voi dữ;<br />
Ở Vaishali, một con khỉ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> mật ong cho Ngài,<br />
Và ở Magadha, Ngài đạt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span>.<br />
Đến Ngài, bậc tỏa sáng với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span>, con tỏ lòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn kính</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Tại Varanasi, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển Pháp luân</span>;<br />
Tại vườn Jeta, Ngài phô bày phép đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">huyền diệu</span>;<br />
Tại Kushinagara, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập niết bàn</span>.<br />
Đến Ngài, bậc có tâm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">như không</span> gian, con tỏ lòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn kính</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế, nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công đức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tán thán</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">việc làm</span> của<br />
Đấng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ban Phước</span>, bậc thầy của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học thuyết</span>,<br />
Cầu mong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> của tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span><br />
Cũng trở nên ngang bằng với những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">việc làm</span> của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Cầu mong tất cả chúng con đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> như<br />
Thân của Đấng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Như Lai</span> [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đức Phật</span>]
Và cầu mong chúng con có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tùy tùng</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trường thọ</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi Phật</span>,<br />
Và những dấu hiệu xuất chúng giống Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năng lực</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cầu nguyện</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tán thán</span> đến Ngài,<br />
Trong khu vực chúng con đang cư trú,<br />
Cầu mong bệnh tật, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghèo khổ</span>, và chiến tranh được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an định</span><br />
Và cầu mong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cát tường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tăng trưởng</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Cầu mong sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cát tường</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học thuyết</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trường tồn</span><br />
Với chư Phật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế gian</span>,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Học thuyết</span> tỏa sáng như ánh sáng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trời</span>,<br />
Và sự phát triển, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thịnh vượng</span> của các bậc nắm giữ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học thuyết</span>, những vị thầy, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Chú thích: Nguồn của ba câu kệ cuối là không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chắc chắn</span>. Ngài Kyabje Dudjom Rinpoche viết trong Chos-sPhyod rằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời nguyện</span> thứ hai là của Ngài Acharya Asura, và theo một số nguồn khác, câu đầu tiên do Ngài Drikung Kyobpa soạn thảo.</em></p>
<div>
<p style="text-align: justify;"><strong>Migmar Tseten </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Tuệ Pháp</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <span data-sheets-root="1" data-sheets-value="{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:&quot;Kính lễ đến Đức Phật bậc thực hiện mười hai việc làm Giác Ngộ&quot;}" data-sheets-userformat="{&quot;2&quot;:701,&quot;3&quot;:{&quot;1&quot;:0},&quot;5&quot;:{&quot;1&quot;:[{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0,&quot;5&quot;:{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0}},{&quot;1&quot;:0,&quot;2&quot;:0,&quot;3&quot;:2},{&quot;1&quot;:1,&quot;2&quot;:0,&quot;4&quot;:1}]},&quot;6&quot;:{&quot;1&quot;:[{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0,&quot;5&quot;:{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0}},{&quot;1&quot;:0,&quot;2&quot;:0,&quot;3&quot;:2},{&quot;1&quot;:1,&quot;2&quot;:0,&quot;4&quot;:1}]},&quot;7&quot;:{&quot;1&quot;:[{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0,&quot;5&quot;:{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0}},{&quot;1&quot;:0,&quot;2&quot;:0,&quot;3&quot;:3},{&quot;1&quot;:1,&quot;2&quot;:0,&quot;4&quot;:1}]},&quot;8&quot;:{&quot;1&quot;:[{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0,&quot;5&quot;:{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0}},{&quot;1&quot;:0,&quot;2&quot;:0,&quot;3&quot;:3},{&quot;1&quot;:1,&quot;2&quot;:0,&quot;4&quot;:1}]},&quot;10&quot;:1,&quot;12&quot;:0}"><a href="https://r.search.yahoo.com/_ylt=AwrKBG64LCJm0r0MU3lrUwx.;_ylu=Y29sbwNzZzMEcG9zAzEEdnRpZAMEc2VjA3Ny/RV=2/RE=1713544505/RO=10/RU=https%3a%2f%2fthuvienhoasen.org%2fp39a6291%2f24-kinh-le-den-duc-phat-bac-thuc-hien-muoi-hai-viec-lam-giac-ngo/RK=2/RS=EP_fNubMJ6cYJ4Ii7GCkaVgktEk-">Kính lễ đến Đức Phật bậc thực hiện mười hai việc làm Giác Ngộ</a></span></em></p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/kinh-le-den-duc-phat-bac-thuc-hien-muoi-hai-viec-lam-giac-ngo/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Bài cầu nguyện hạnh phúc cho tất cả chúng sinh đang sống</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/bai-cau-nguyen-hanh-phuc-cho-tat-ca-chung-sinh-dang-song/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/bai-cau-nguyen-hanh-phuc-cho-tat-ca-chung-sinh-dang-song/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 04 Sep 2017 13:48:14 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kinh sách Sakya]]></category>
		<category><![CDATA[Sakya]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7760</guid>
		<description><![CDATA[Cầu mong giáo lý vô giá của Đấng Toàn Giác, cánh cửa duy nhất qua đó hạnh phúc bao giờ cũng xuất hiện đến với chúng sinh đang sống, không bao giờ suy giảm vào bất cứ nơi chốn hay thời gian nào mà lan tỏa đến tận cùng của mọi phương. Cầu mong các vị thầy vô song và&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/bai-cau-nguyen-hanh-phuc-cho-tat-ca-chung-sinh-dang-song/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Cầu mong giáo lý vô giá của Đấng Toàn Giác, cánh cửa duy nhất qua đó hạnh phúc bao giờ cũng xuất hiện đến với chúng sinh đang sống, không bao giờ suy giảm vào bất cứ nơi chốn hay thời gian nào mà lan tỏa đến tận cùng của mọi phương.</p>
<p style="text-align: justify;">Cầu mong các vị thầy vô song và những người bạn tâm linh của chúng ta được trường thọ và nâng cấp, các bậc yêu mến tín ngưỡng Phật giáo nhiều hơn chính cuộc sống các Ngài mà lòng bi và trí tuệ các Ngài thì bao la rộng lớn.</p>
<p style="text-align: justify;">Cầu mong tập hội tu sĩ thực hành giáo lý Đức Phật luôn kéo dài các công việc của họ tỏa khắp mười phương, vì họ chỉ cho chúng sinh con đường đức hạnh và gánh vác gánh nặng to lớn của việc giảng dạy và thiền định.</p>
<p style="text-align: justify;">Cầu mong tất cả nhân loại thoát khỏi những nỗi sợ hãi của tuổi già, bệnh tật và cái chết, và sống với chánh kiến hiện hữu trên thế gian này. Cầu mong tâm họ tăng trưởng để yêu thương lẫn nhau và niềm hoan hỷ vô tận luôn gia tăng cho mọi người.</p>
<p style="text-align: justify;">Cầu mong các thành phố trên trái đất được tốt đẹp, treo hàng loạt cờ cầu nguyện, sạch sẽ và khẽ lay động trong những cơn gió nhẹ, cầu mong những cư dân không bị nghèo khó mà mặc quần áo tốt và có nhiều châu báu lâu dài.</p>
<p style="text-align: justify;">Cầu mong mắt của chúng sinh đang sống được vui vẻ nhờ bầu trời tạo sự huy hoàng bằng nhiều đám mây bằng vòng hoa sấm chớp, trong khi dưới đất những con công nhảy múa vui thích như cơn mưa rào rơi xuống và tiếp cận nhẹ nhàng.</p>
<p style="text-align: justify;">Cầu mong những ngọn núi được trang hoàng bằng những thảm cỏ lăn tăn, những đám hoa dại và nước đổ xuống, và cầu mong các thung lũng tràn ngập ngũ cốc và các vật nuôi thành bầy đàn cùng hòa trộn với nhau, trong lúc người ta hát những bài ca phát sinh từ hoan hỷ, trong tự do khỏi kiêu mạn, chiến tranh, và bất hòa.</p>
<p style="text-align: justify;">Cầu mong luật pháp tốt đẹp của chính quyền trong cách thanh bình và dân chúng để ý đến người cầm quyền với lòng tôn trọng chân thật để mọi mâu thuẫn bên ngoài và bên trong được thanh thản, tình trạng hạnh phúc chiếm ưu thế như trong Thời Hoàn Thiện.</p>
<p style="text-align: justify;">Cầu mong mọi đền chùa được trang hoàng nhiều hình ảnh của Đấng Giác Ngộ và nhiều kinh sách linh thiêng, cầu mong cơn mưa thờ phụng to lớn được tăng trưởng nhờ vô số đám mây cúng dường từ chư thiên.</p>
<p style="text-align: justify;">Cầu mong sự tụng niệm và học hỏi kinh điển tăng trưởng trong mọi tu viện, mỗi tu viện tràn đầy các tu sĩ trong y áo màu vàng nghệ và người bạn tâm linh, các vị duy trì giáo lý của bậc Thánh và cống hiến ngày tháng của họ để bàn luận, giảng giải và viết về những lời của Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Cầu mong giáo lý linh thiêng của Đấng Giác Ngộ Ban phước, nâng cao các đệ tử thông thường, người mới tu, tăng và ni, mỗi người đều có hạnh đạo đức, đó là sự thanh tịnh hoàn mỹ và siêng năng trong học tập, quán chiếu và thiền định.</p>
<p style="text-align: justify;">Cầu mong các thiền giả, người đã từ bỏ mọi sao lãng được gia tăng sự thành tựu thiền quán đi theo sự từ bỏ; thoát khỏi mọi bận rộn và gây hại, cầu mong họ bao giờ cũng trụ nơi thanh tĩnh trong cô độc.</p>
<p style="text-align: justify;">Cầu mong điều này, giới thiền giả của chúng ta, các vị cầu nguyện và cúng dường với niềm tin đặc biệt, được ban phước với sự thịnh vượng không nhiễm ô bởi nghề nghiệp, cầu mong tuổi thọ và sự hiểu biết về Giáo Pháp của chúng ta gia tăng.</p>
<p style="text-align: justify;">Cầu mong trong con cũng xuất hiện những phẩm tính tâm linh của sự nhận biết, học hỏi và hoàn thiện mọi nguyên tắc đạo đức mà bậc giác ngộ đã dạy, qua sự thực hiện toàn tâm toàn ý của con về bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, và trí tuệ cao nhất.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì lợi ích người khác, cầu mong con cũng tăng trưởng hài hòa với giáo lý linh thiêng và cùng tụ hội với người khác qua lời nói ân cần tử tế và hành động rộng lượng; nhờ năng lực của sự giải nghĩa đúng, cầu mong hành động của họ và của con được hòa hợp với Con đường.</p>
<p style="text-align: justify;">Thay mặt cho tất cả, tôi cống hiến bài nguyện này nhằm cầu mong mọi chướng ngại đến Giáo Pháp được tiêu tán và mọi điều kiện cát tường được hoàn toàn duy trì; cầu mong mọi công đức mà bậc Hiền Triết đã tán thán luôn gia tăng trong mọi phương diện.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Bài cầu nguyện cho hạnh phúc của tất cả này chúng sinh đang sống được viết bởi bậc Thầy Tôn quý Ngorchen Kunga Zangpo, bậc đã thiết lập nơi ẩn cư nổi tiếng của Ngor Evam năm 1434. </em></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Ngorchen Kunga Zangpo</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Trích: Kho báu dòng truyền thừa Sakya</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <a href="https://thuvienhoasen.org/p39a6269/2-ngonchen-kunga-zangpo-bai-nguyen-cau-hanh-phuc-cho-tat-ca-chung-sinh-dang-song">Ngonchen Kunga Zangpo </a></em><a href="https://thuvienhoasen.org/p39a6269/2-ngonchen-kunga-zangpo-bai-nguyen-cau-hanh-phuc-cho-tat-ca-chung-sinh-dang-song"><em>Bài Nguyện Cầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hạnh Phúc</span> </em><em>Cho Tất Cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng Sinh</span> Đang Sống</em></a></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/bai-cau-nguyen-hanh-phuc-cho-tat-ca-chung-sinh-dang-song/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Đức Pháp Vương Chogye Trichen Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/dao-su-sakya/tieu-su-duc-phap-vuong-chogye-trichen-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/dao-su-sakya/tieu-su-duc-phap-vuong-chogye-trichen-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 23 Apr 2017 01:44:48 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Đạo sư Sakya]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7590</guid>
		<description><![CDATA[Đức Lão Pháp Vương Chogye Trichen Rinpoche là vị Lạt ma lớn tuổi nhất và cao cấp nhất dòng truyền thừa Sakya trong Phật giáo Tây Tạng. Ngài là hóa thân của Chogye Trichen đời trước và là Pháp Vương Tsharpa. Ngài không chỉ là vị Lạt ma vĩ đại đã trì giữ hoàn hảo ba loại giới nguyện mà&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/dao-su-sakya/tieu-su-duc-phap-vuong-chogye-trichen-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p class="entry-title" style="text-align: justify;">Đức Lão Pháp Vương Chogye Trichen Rinpoche là vị Lạt ma lớn tuổi nhất và cao cấp nhất dòng truyền thừa Sakya trong Phật giáo Tây Tạng. Ngài là hóa thân của Chogye Trichen đời trước và là Pháp Vương Tsharpa. Ngài không chỉ là vị Lạt ma vĩ đại đã trì giữ hoàn hảo ba loại giới nguyện mà còn là vị đạo sư mật thừa danh tiếng, bậc học giả lỗi lạc và thi hào hùng biện. Lão Pháp Vương được tôn là “bậc thầy của các bậc thầy” vì hầu hết những vị đứng đầu các dòng truyền thừa Phật giáo Tây Tạng đều là đệ tử của Ngài. Đức Đạt Lai Lạt Ma tôn Lão Pháp Vương là vị đạo sư gốc kể từ năm 1971. Đức Sakya Trizin, Đức Pháp Vương Dudjom của dòng truyền thừa Ninh Mã và Đức Shamarpa của dòng truyền thừa Kagyu cũng là học trò của Ngài. Vua Birendra, nhà vua nước Nepal, đã phong tặng cho Ngài danh hiệu cát tường cao quý “Gorkha Dakshin Babu” (Đạo sư vĩ đại của Tây Nepal). Từ trước đến nay đức vua Nepal chưa bao giờ phong tặng danh hiệu cao quý như vậy cho bất kỳ vị thầy Phật Giáo nào.</p>
<p><a href="http://tuyenphap.com/wp-content/uploads/2016/12/chogye-trichen-rinpoche_2.jpg"><img class=" wp-image-2347 aligncenter" title="Tóm Tắt Tiểu Sử Thánh Sư Chogye Trichen Rinpoche, Pháp Vương Nhánh Tsharpa Thuộc Dòng Truyền Thừa Sakya 1" src="http://tuyenphap.com/wp-content/uploads/2016/12/chogye-trichen-rinpoche_2.jpg" sizes="(max-width: 622px) 100vw, 622px" srcset="http://tuyenphap.com/wp-content/uploads/2016/12/chogye-trichen-rinpoche_2.jpg 1202w, http://tuyenphap.com/wp-content/uploads/2016/12/chogye-trichen-rinpoche_2-200x300.jpg 200w, http://tuyenphap.com/wp-content/uploads/2016/12/chogye-trichen-rinpoche_2-684x1024.jpg 684w" alt="Tóm Tắt Tiểu Sử Thánh Sư Chogye Trichen Rinpoche, Pháp Vương Nhánh Tsharpa Thuộc Dòng Truyền Thừa Sakya 1" width="547" height="819" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Lão Pháp Vương sinh năm 1920 gần Gyashar Kushang. Ngài sinh ra trong bộ tộc Che. Bộ tộc Che là hậu duệ của Cõi trời Abhasvara trên trái đất này. Nhiều dấu hiệu cát tường xuất hiện khi Rinpoche đản sinh. Năm 12 tuổi, Rinpoche chính thức được tấn phong là Pháp Vương thứ 26 của Tu viện Phenpo Nalendra. Kể từ khi nhậm chức cho đến khi Ngài ba mươi chín tuổi, Rinpoche đã thọ nhận thần chú và quán đảnh quý giá tối thượng “Con đường &amp; Quả” (“Path and Result”(Lamdre)), thần chú cũng như vô số quán đảnh, giáo Pháp và nghi thức từ tất cả các dòng truyền thừa của bốn dòng phái chính. Trong suốt thời gian ấy, Ngài cũng hoàn thành các khóa tu thiền, tại đó Ngài quán tưởng về các Bổn Tôn – các vị là một phần trong thực hành chủ đạo của Mật thừa. Ngài trở thành bậc thầy giảng Pháp cả Hiển thừa và Mật Thừa.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì Rinpoche tu tập miên mật trong các khóa nhập thất dài ngày nên mọi người thường cho rằng Ngài là hành giả thực hành bí mật. Khi Ngài không nhập thất, Rinpoche sử dụng hầu hết thời gian của mình để thiền định sâu sắc cả ngày lẫn đêm, thực hành các nghi lễ Mật thừa và các lễ cầu nguyện Mật tông. Kết quả là, Ngài đạt được năng lực siêu nhiên và trí tuệ vĩ đại. Rinpoche được coi là hóa thân hiện đại của bậc chứng ngộ vĩ đại trong Phật giáo Ấn Độ cổ xưa, Đại thành tựu giả Virupa. Mỗi ngày trong đời sống của Rinpoche đều là sự tu hành đáng kính không ngơi nghỉ. Ngài thực sự xứng đáng là tấm gương cho hành giả trên toàn thế giới noi theo.</p>
<p style="text-align: justify;">Rinpoche không phân biệt quốc gia và vùng lãnh thổ trong nỗ lực hoằng hóa giáo pháp. Ngài đi khắp thế giới để truyền bá giáo pháp. Với lòng từ bi, Rinpoche đã ban Pháp cao quý của Chư Phật, chẳng hạn như quán đảnh, pháp khẩu truyền, luận giảng kinh và thần chú cho những đệ tử có duyên thọ nhận chúng, bất kể họ là cư sĩ hay tu sĩ. Ngay cả các Pháp Vương và Rinpoche cũng thọ nhận giáo pháp từ Ngài. Tất cả những ai có may mắn diện kiến Ngài đều ca tụng Bồ Đề Tâm của Ngài và chứng thực tâm vị tha của Lão Pháp Vương thể hiện qua việc truyền Phật Pháp không ngơi nghỉ.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày 20 tháng 1 năm 2007 là ngày mà duyên nghiệp vĩ đại của Đức Pháp Vương dành cho việc truyền pháp và lợi lạc chúng sinh cõi trần thế này kết thúc. May sao, đó cũng là ngày những duyên nghiệp vĩ đại chín muồi liên quan đến giây phút cuối cùng của cuộc đời Ngài. Lão Pháp Vương đã đọc cuốn sách “Một kho tàng Phật Pháp đích thực” về Đức Phật Kim Cương Trì III. Ngay lập tức Ngài sử dụng quyền năng chứng ngộ của mình để nghiên cứu và vô cùng xúc động bởi những gì Ngài phát hiện ra. Ngài lập tức lệnh cho Shabdrung Rinpoche viết một bức thư chúc mừng. Trong bức thư đó Ngài ca ngợi cuốn sách “Một kho tàng Phật Pháp đích thực” – cuốn sách về Đức Phật Kim Cương Trì III Wan Ko Yeshe Norbu; Ngài nói rằng cuối sách là con đường chỉ dẫn đến Phật Pháp đích thực và là cánh cổng Pháp mang lại lợi lạc và hạnh phúc cho tất cả chúng sinh. Ngay sau khi bức thư chúc mừng được viết xong, Rinpoche đã nhập Niết Bàn. Đó là hành động linh thánh cuối cùng của Lão Pháp Vương giác ngộ tối thượng.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Shabdrung Rinpoche tôn kính hiện nay đã kế nhiệm vị trí của Đức Chogye Trichen Rinpoche.</p>
<p><span style="color: #000000;"><em>Nguồn: <a style="color: #000000;" href="http://www.highestbuddhistmasters.org/english/ebook/ebk00041.htm">http://www.highestbuddhistmasters.org/english/ebook/ebk00041.htm</a></em></span></p>
<p>Việt dịch: Vô Úy</p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/dao-su-sakya/tieu-su-duc-phap-vuong-chogye-trichen-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
