<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Lịch sử chung</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-sakya/lich-su-chung-truyen-thua-sakya/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Sat, 25 Apr 2026 03:57:22 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Vài nét về dòng Truyền thừa Sakya</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/vai-net-ve-dong-truyen-thua-sakya/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/vai-net-ve-dong-truyen-thua-sakya/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 24 Sep 2022 11:38:39 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Lịch sử chung]]></category>
		<category><![CDATA[Sakya]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11619</guid>
		<description><![CDATA[Lịch sử của dòng Sakya bắt nguồn từ các vị trời giáng sinh từ cõi Tịnh Quang trong cõi trời Sắc giới đến ngự tại các rặng núi tuyết của Tây Tạng vì lợi lạc của chúng sinh. Có mười thế hệ nối tiếp trước khi Đạo Sư Liên Hoa Sinh đến Tây Tạng. Vào thời điểm đó, các ngài&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/vai-net-ve-dong-truyen-thua-sakya/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Lịch sử của dòng Sakya bắt nguồn từ các vị trời giáng sinh từ cõi Tịnh Quang trong cõi trời Sắc giới đến ngự tại các rặng núi tuyết của Tây Tạng vì lợi lạc của chúng sinh. Có mười thế hệ nối tiếp trước khi Đạo Sư Liên Hoa Sinh đến Tây Tạng. Vào thời điểm đó, các ngài được biết đến là Lha Rig. Sau tám thế hệ, do sự tranh cãi với vị lãnh đạo Yaksha, Lha Rig trở nên nổi tiếng là Khon, nghĩa là “tranh cãi” hay “xung đột”. Năm 750 sau Công nguyên, gia tộc Khon trở thành đệ tử của đức Liên Hoa Sinh và nhận các quán đảnh Vajrakila. Một người con trai trong gia tộc nhận giới xuất gia từ đức Shatirakshita ở [tu viện] Samye, trở thành một trong bảy dịch giả tăng sĩ đầu tiên của Tây Tạng. Trong mười ba thế hệ sau đó (750 – 1073), gia tộc Khon trở thành cột trụ chính cho các giáo lý của truyền thống Cổ Mật ở tỉnh Tsang.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào thế kỷ 11, do sự vô minh của chúng sinh, thực hành Pháp trở nên lỏng lẻo ở tỉnh Tsang. Trưởng tộc, ngài Sherab Tsultrim quyết định rằng đã đến lúc tìm kiếm các Mật điển mới ở Ấn Độ. Đạo sư Liên Hoa Sinh viết rằng, “một hóa thân của Virupa xứ Ấn Độ - Drogmi Lotsawa sẽ xuất hiện”. Người em, Konchog Gyalpo đến học với Drogmi Lotsawa (992 – 1074). Tại địa điểm linh thiêng, dưới nền đất màu trắng (tiếng tạng là Sa skya), được tiên đoán bởi đạo sư Liên Hoa Sinh và đức Atisha, Khon Knochog Gyalpo xây dựng ngôi chùa đầu tiên đặt tên là Gorum Zimchi Karpo năm 1073. Sự kiện này đánh dấu sự bắt đầu cho tên gọi “Sakya”. Gia đình linh thánh, các vị lãnh đạo cha truyền con nối của dòng truyền thừa cao quý này, nổi tiếng với ba tên gọi, Lha Rig, Khon và Sakya.</p>
<p style="text-align: justify;">Sachen Kunga Nyingpo (1092 – 1158), con trai của Khon Konchog Gyalpo, là người có kỹ năng và sự chứng ngộ tâm linh phi thường, nắm giữ dòng truyền thừa của Kinh và Mật. Các vị đạo sư chính của ngài đầu tiên phải kể đến cha ngài, mà từ đó ngài nhận được hệ thống thực hành Vajrakila và Samputa. Từ đức Bari Lotsawa, ngài nhận được Chakrasamvara, Guhysamaja, Vajrabhairava và nhiều pháp khác; từ Shangton Chobar, ngài nhận được toàn bộ giáo lý Lamdre trong bốn năm cùng với các hệ thống Mahamaya và Samayogadakinijala. Từ Mal Lotsawa Lodro Drag, ngài nhận được Chakrasamvara, Bhairava, giáo lý của đại thành tựu giả Naropa như Vajrayogini và các giáo lý quan trọng của dòng truyền thừa của Panjrarnata Mahakala. Từ Lama Nam Kaupa, ngài nhận được mọi chỉ dẫn bên ngoài, bên trong và bí mật của Hộ Pháp Chaturmukha bốn mặt. Đây chỉ là các vị thầy chính của đức Sachen Kunga Nyingpo.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở tuổi 12, trong cuộc nhập thất Văn thù sáu tháng, ngài đã có linh kiến về đức Văn Thù cùng với hai vị Bồ Tát, người đã nói với ngài những dòng trong cuốn “Tách rời khỏi Bốn Bám chấp”: Với sự bám chấp vào cuộc đời này – sẽ không có học trò Pháp Bám chấp vào Tam cõi – sẽ không có sự từ bỏ Bám chấp vào mục đích cá nhân – sẽ không có tư tưởng giác ngộ nếu bám chấp khởi lên – sẽ không có tri kiến.</p>
<p style="text-align: justify;">Sachen Kunga Nyingpo nhận các giáo lý Lamdre lần đầu tiên từ đức Shangton Chobar và lần thứ hai trực tiếp từ Virupa trong một chuỗi các linh kiến kéo dài một tháng. Đây được biết đến là dòng truyền thừa Lamdre “gần”. Sachen có bốn con trai – Kunga Bar, Sonam Tsemo, Jetsun Dragpa Gyaltsen và Palchen Rinpoche. Người đầu tiên mất khi đang học ở Nalanda, Ấn Độ. Người con trai thứ hai, Sonam Tsemo (1142 – 82) trở thành một học giả uyên bác ở tuổi 16. Ở tuổi 41, ngài đã bay thẳng về Khechara, cõi giới của Vajrayogini. Ngài có linh kiến về rất nhiều vị bổn tôn thiền định và rất nhiều vị đệ tử chứng đắc. Jetsun Dragpa Gyaltsen (1147 – 1216) nhận các giới nguyện độc thân và có nhiều dấu hiệu chứng ngộ trưởng thành tâm linh từ khi còn trẻ. Ở tuổi 11, ngài ban các giáo lý Hevajra.</p>
<p style="text-align: justify;">Đệ tử chính của Jetsun Dragpa Gyaltsen là cháu trai ngài, con trai của Palchen của Opoche, ngài Sakya Pandita Kunga Gyaltsen nổi tiếng (1182 – 1251). Nghiên cứu các triết học Phật giáo và ngoại đạo, mật điển, logic, tiếng Phạn, thơ ca, chiêm tinh và nghệ thuật với rất nhiều đạo sư xứ Ấn Độ, Nepal, Kashmir và Tây Tạng, ngài đã nắm vững các chủ đề này. Khi ngài 27 tuổi, sau khi gặp ngài Pandita Shakya Shribhadra xứ Kashmir, ngài trở thành một vị tỳ kheo và duy trì giới nguyện không chút xao lãng. Các tác phẩm của ngài như Kho tàng Logic Tri thức Giá trị (Tsadma rigsgter) và Sự Phân biệt Ba giới nguyện (sDomgsum rabdbye) vẫn nổi tiếng đến ngày hôm nay. Cả thảy ngài viết 114 bộ luận tôn giác. Kho tàng Logic Tri thức giá trị là bản văn duy nhất có nguồn gốc Tây Tạng được dịch ra tiếng Phạn. Công việc dịch thuật được hoàn thành bởi đệ tử của ngài ở tu viện Nalanda ở Magadha, và nhận được sự tôn vinh. “Vào thời điểm ngài thị tịch, trái đất đã rung động sáu lần và chim chóc khắp đất nước hót rất buồn. Các dấu hiệu kì lạ đã được chứng kiến bởi các đệ tử và các vị vua khi lửa thiêu cháy giàn hỏa thiêu, và mọi người ở đó đều trải qua sự an bình hỷ lạc. Đạt được sự giác ngộ hoàn hảo nhờ lực gia trì của Manjunatha, ngài được thế giới biết đến là Phật Vimalashri”.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1244, Godan Khan, cháu trai của Chingis Khan, bị cuốn hút bởi sự nổi tiếng của Sakya Pandita, đã mời ngài đến Mông Cổ để trao truyền giáo lý Phật Đà. Sau đó, năm 1253, sau khi cả Sakya Pandita và Godan Khan đều mất, hoàng đế, Sechen Kublai Khan mời Drogon Chogyal Pagpa, cháu trai của Sakya Pandita đến cung điện. Pagpa đã tạo ra kiểu chữ viết mới cho ngôn ngữ Mông Cổ. Kublai Khan ấn tượng với ngài Pagpa đến mức đã tuyên bố Phật giáo là quốc giáo của Mông Cổ và trao cho ngài [Pagpa] quyền cai trị ba tỉnh Tây Tạng. Như thế, Pagpa là người đầu tiên trong lịch sử Tây Tạng đã có được quyền lực tôn giáo và thế tục trong suốt thế kỷ. Cũng vào lúc này, chùa lớn Lhakhang Chenmo được xây dựng ở Sakya. Cho đến ngày nay nó vẫn đứng vững là thư viện tôn giáo vĩ đại nhất của Tây Tạng với các bức tượng và các đồ tôn giáo rất cổ. Pagpa được kế nhiệm bởi em trai Chagna và các vị Sakyapa đã cai trị Tây Tạng trong hơn một trăm năm.</p>
<p style="text-align: justify;">Cuối cùng, Tishri Kunglo (1299 – 1327), cháu trai lớn nhất trong 15 cháu trai của em trai ngài Sakya Pandita, đã thành lập bốn cung điện của triều đại (Podrang): Zhithog, Rinchen Gang, Lhakhang và Ducho, duy chỉ còn tồn tại cung điện cuối cùng. Vào thế kỷ 18, thời đại của Sakya Trizin Wangdu Nyingpo, đức Liên Hoa Sinh thứ hai của thời đại này, cung điện Ducho bị chia đôi – Drolma Podrang và Phuntsok Podrang. Các vị lãnh đạo của hai cung điện này là ngài Kyabgon Sakya Trizin Ngawang Kunga (sinh năm 1945) của cung điện Drolma, vị lãnh đạo hiện tại của truyền thống Sakya, bậc nắm giữ Pháp tòa Sakya thứ 41 và đang sống ở Dehra Dun, Ấn Độ. Ngài có hai con trai, Ratna Vajra và Gyana Vajra. Ngài cũng có một chị gái, Jetsunma Chimey Luding, người đã giảng dạy rộng khắp trên thế giới. Gongma Dagchen Rinpoche (sinh năm 1929) của cung điện Phuntsok thành lập Sakya Thegchen Choling ở Seattle, Wash, Mỹ. Ngài có một em trai, Gongma Thinley Rinpoche, một vị tăng mới mất gần đây. Dagchen Rinpoche có năm người con trai. Người con trai thứ hai, Ananda Vajra Rinpoche, một luật sư giỏi, đã giúp đỡ đức Đạt Lai Lạt Ma và chính phủ lưu vong Tây Tạng trong các vấn đề pháp luật và hiến pháp. Sự tiếp nối vị trí Sakya Trizin, trưởng dòng Sakya, là cha truyền con nối từ thời của Khon Konchog Gyalpo và gần đây, luân phiên giữa hai cung điện.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong số các vị nắm giữ truyền thống Sakya, Sachen Kunga Nyingpo, Sonam Tsemo, Dragpa Gyaltsen, Sakya Pandita Kunga Gyaltsen và Drogon Chogyal Pagpa nổi tiếng là Năm Đấng Cao Cấp của truyền thống Sakya, hay Jetsun Gongma Nga. Ba vị đầu tiên được biết đến là “Ba vị Trắng” và hai vị còn lại là “Hai vị Đỏ”. Sau đó, có Sáu Trang Sức của Tây Tạng: Yagton Sanggye Pal và Rongtol Mawe Senge, những người nổi tiếng vì kiến thức về kinh điển; Ngorchen Kunga Zangpo và Dzongpa Kunga Namgyal – uyên thâm mật điển; Gorampa Sonam Sengge và Shakya Chogden – uyên thâm cả kinh điển và mật điển. Đây là các vị đạo sư quan trọng nhất của truyền thống Sakya. Trong số các ngài, Goram Sonam Sengge thiết lập sự nghiên cứu chính thức về logic.</p>
<p style="text-align: justify;">Giống như các truyền thống khác của Phật giáo Tây Tạng, có rất nhiều các nhánh truyền thừa xuất hiện. Các dòng truyền thừa nắm giữ giáo lý của Sakya Pandita Kunga Gyaltsen là Sakya, Ngor và Tsar. Ngorchen Kunga Zangpo (1382 – 1457) và các vị đạo sư kế nhiệm như Konchok Lhundrup, Thartse Namkha Chime Palzang và Drubkhang Palden Dhondup thành lập dòng truyền thừa Ngor. Tsarchen Losal Gyatso (1502 – 56), theo sau là Jamyang Khyentse Wangchuk và Mangto Ludrup Gyatso thành lập dòng truyền thừa Tsar. Ba dòng truyền thừa khác có nguồn gốc từ Sakya là Bulug/Shalu thành lập bởi đức Buton Rinchen Drub, Jonang bởi đức Dolpopa Sherab Gyalten và kế nhiệm là ngài Jonang Taranata và Bodong bởi đức Bodong Panchen Chogle Namgyal. Dzongpa của đức Dzongpa Kunga Namgyal thường được xem là một truyền thừa riêng biệt. “Nhưng trong truyền thống Sakya, chỉ có một vài điểm khác biệt rất nhỏ trong việc giải thích và học thuyết về Kinh và Mật” – Dzongsar Jamyang Khyentse Chokyi Lodro. Về tri kiến, ở Tây Tạng, có ba sự diễn giải Trung quán tông khởi lên; trung quán tông đoạn kiến, trung quán tông bất diệt và trung quán tông Trung Đạo. Dòng Sakya theo con đường Trung Đạo, được dạy bởi đức Sakya Pandita và giải thích bởi Gorampa Sonam Senggye và nhiều đạo sư khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong truyền thống Sakya, trong số hàng trăm giáo lý Phật Đà từ Ấn Độ ăn sâu vào đời sống tâm linh Tây Tạng nhờ những nỗ lực của Năm vị đạo sư sáng lập, nổi tiếng nhất là sự trao truyền Hevaja khởi nguồn từ đức Virupa, Vajrakila của đức Liên Hoa Sinh, Vajrayogini của đức Naropa, Mahakala của Vararuchi và Guhyasamaja của ngài Long Thọ. Năm vị đại thành tựu giả xứ Ấn Độ này được coi là nổi tiếng nhất trong truyền thống Sakya. Bên cạnh những dòng truyền thừa xuất sắc này, còn có nhóm Bốn Mật điển: Hevajra, Chakrasamvara, Guhyasamaja và Vajrabhairava. Một bộ quan trọng khác là Mười ba Pháp Hoàng Kim bao gồm Ba pháp Đỏ, Ba pháp Đỏ vĩ đại, Ba pháp đỏ nhỏ hơn, Văn thù đen, Quan Âm Simhanada, Sabala Garuda và Zambala đỏ. Có rất nhiều các bản khác nhau liệt kê mười ba pháp, tuy nhiên bộ ba Ba Pháp đỏ vẫn không thay đổi. Đây là các thực hành Vô thượng Du già của truyền thống Sakya, còn hàng trăm các truyền thừa giáo lý khác như là Hayagriva, Kalachakra, Mahamaya, Văn Thù, Kim Cương Thủ, Tara và tương tự thế.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong các học viện tu sĩ của Sakya, mười tám bản văn chính được nghiên cứu tỉ mỉ. Hiện tại, chỉ có một vài học viện, một học viện chính ở Rajpu Ấn Độ, và một ở Boudhanath, Kathmandu, Nepal. Một vài vẫn được mở ở Tây Tạng như Dzongsar Khamje Ling. Mười tám bản văn giảng dạy về Trí tuệ Ba la mật, Giới luật (vinaya), Tri kiến Trung Đạo, Hiện tượng, Logic và Nhận thức Luận. Các bản luận giải độc đáo của truyền thống gồm có Sự phân biệt Ba giới nguyện, và Kho tàng Logic các Tri thức Giá trị của đức Sakya Pandita. Các tác phẩm của đức Gorampa Sonam Sengge cũng đặc biệt quan trọng. Khi tốt nghiệp, một vị tăng được trao các bằng Kazhupa, Kavhupa và Rabjampa trên cơ sở của công đức.</p>
<p style="text-align: justify;">Các tu viện chính của dòng Sakya ở miền trung Tây Tạng là Lhakhang Chenmo được thành lập bởi đức Khon Konchog Gyalpo (tu viện chính của dòng Sakya), Ngor Ewam Choden thành lập bởi đức Ewam Kunga Zangpo (tu viện chính của dòng Ngorpa), Dar Drangmoche ở Tsang thành lập bởi Tsarchen Losal Gyatso (tu viện chính của dòng Tsarpa), Nalanda ở Phenpo xây dựng bởi đức Rongton Sheja Kunrig và Tsedong Sisum Namgyal bởi đức Namkha Tashi Gyaltse. Ở tỉnh Kam, Dhondup Ling được thành lập bởi đức Dagchen Sherab Gyaltsen, Lhundrup Teng của Dege thành lập bởi đức Tangtong Gyalpo, cũng như tu viện Dzongsar của đức Jamyang Khyentse Wangpo và Chokyi Lodro; và Deur Chode bởi đức Chodak Sangpo ở tỉnh Amdo. Tất thảy, có hàng nghìn tu viện của truyền thống Sakya từ Trung Quốc, Mông Cổ đến miền tây Tây Tạng, Kashmir, Nepal và Ấn Độ. Hiện tại, Tsechen Tenpai Gatsal ở Rajpur, U.P và Sa Magon ở Puruwalla là hai tu viện chính của Sakya. Ngor Ewam Choden ở Maduwalla, Dehra Dun là tu viện chính của Ngorpa. Tashi Rabten Long ở Lumbini, cùng với hai tu viện khác ở Kathmandu, Nepal đại diện cho dòng Tsarpa. Bây giờ, đức Sakya Trizin Ngawang Kunga là vị trưởng dòng Sakya và đứng thứ hai ở Tây Tạng sau đức Đạt Lai Lạt Ma. Ngài Luding Khen Rinpoche là trưởng dòng Ngor và ngài Chogye Trichen Rinpoche là trưởng dòng Tsar.</p>
<p><em>Việt dịch: Hạnh Phúc – Nhóm Thuận Duyên</em></p>
<p><em>Nguồn Anh ngữ: <a href="http://www.szakja.hu/english/sakyatradition.html">Sakya Tashi Choling</a></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn Việt ngữ: <a href="https://thuvienhoasen.org/a15041/vai-net-ve-dong-truyen-thua-sakya">Vài Nét Về Dòng Truyền Thừa Sakya</a></em></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/vai-net-ve-dong-truyen-thua-sakya/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Bài ca vĩ đại của sự kinh nghiệm</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/bai-ca-vi-dai-cua-su-kinh-nghiem/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/bai-ca-vi-dai-cua-su-kinh-nghiem/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 08 Apr 2022 14:03:53 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kinh sách Sakya]]></category>
		<category><![CDATA[Lịch sử chung]]></category>
		<category><![CDATA[Sakya]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11032</guid>
		<description><![CDATA[Namo gurubhadraya Đến chư đạo sư và bổn tôn cá nhân an trụ bất khả phân, Bậc hợp nhất mọi phẩm tính vào dòng tâm thức, Con đảnh lễ với thân, khẩu, ý thanh tịnh; Con cúng dường thoát khỏi người bám chấp và sự chấp bám; Con tán thán bằng tâm, vượt lên hoạt động của ngữ, thoát khỏi sự tạo tác; Con sám hối mà không vướng mắc bởi tội lỗi vi phạm trong ba thời; Con quy y không đối tượng, thoát khỏi sợ hãi; Con tạo tác vô&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/bai-ca-vi-dai-cua-su-kinh-nghiem/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Namo gurubhadraya<br />
Đến chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> và bổn tôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cá nhân</span> an trụ bất khả phân,<br />
Bậc hợp nhất mọi phẩm tính vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dòng tâm thức</span>,<br />
Con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đảnh lễ</span> với thân, khẩu, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý thanh</span> tịnh;<br />
Con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> người bám chấp và sự chấp bám;<br />
Con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tán thán</span> bằng tâm, vượt lên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> của ngữ, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự tạo</span> tác;<br />
Con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sám hối</span> mà không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vướng mắc</span> bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tội lỗi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vi phạm</span> trong ba thời;<br />
Con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quy y</span> không đối tượng, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sợ hãi</span>;<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con tạo</span> tác <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô lượng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bồ đề tâm</span> không có đối tượng,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bản tính</span> của điều đó là dharmata[1], <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">như không</span> gian;<br />
Gốc rễ của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công đức</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy</span> là sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hồi hướng</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span>;<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chấp nhận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện tượng</span> rỗng rang của mandala này;<br />
Xin <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban phước</span> cho con, đấng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban phước</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Chỉ khi nào sự thấu suốt được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span>),<br />
thì sẽ như chư Phật từng nói,<br />
“Tất cả thấy biết về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span> đều là nguồn gốc của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lỗi lầm</span>”,<br />
Cho nên, sự thấy biết là không thể thấy biết.<br />
Người có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span>, thì không thấy biết;<br />
Người có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí thông minh</span> sắc bén, thì vượt trên mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngôn từ</span>;<br />
Với người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh tấn</span>, chẳng có gì để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>;<br />
Với người có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span>, chẳng có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên nhân</span> và kết quả;<br />
Với người có lòng bi thì không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>;<br />
Với người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy công đức</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span>, chẳng có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật quả</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thoát khỏi</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực đoan</span> là vượt lên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tri kiến</span>, biểu hiện, và đối tượng, Madhyamaka[3],<br />
Chittamatra[4], và còn nữa,<br />
biểu hiện trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngôn từ</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự tạo</span> tác.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tư duy</span> trong tâm là khái niệm,<br />
bản tính[5] thì không thể biểu hiện và không thể nghĩ bàn.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chừng nào</span> thấy biết còn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span>,<br />
thì chẳng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> khỏi mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Dựa trên</span> khái niệm là đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô minh</span>;<br />
nên mới nói rằng, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> bị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chìm đắm</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biển luân hồi</span>.<br />
Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dòng tâm thức</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">được giải thoát</span> bằng việc nghe,<br />
đừng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">diễn tả</span> cái thấy bằng ngôn từ!<br />
Với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh điển</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên nhân</span>, và upadesha,<br />
cái thấy được xác quyết, tâm được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh thản</span>.<br />
Chỉ khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành thiền định</span> đã được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span>,<br />
thì chẳng có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> và cũng không có người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thiền định</span> đó, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực đoan</span> là không có đối tượng,<br />
do vậy hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">buông bỏ</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> của mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm không</span> có tâm, hãy nhìn vào tâm;<br />
nếu thấy được, đó không phải là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự tâm</span>.<br />
Với cái thấy không có cái thấy, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự tâm</span> sẽ được thấy;<br />
hãy an trụ không sao lãng trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm không</span> có cái thấy.<br />
Nếu bám luyến, hãy tạo nối kết với sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong sáng</span>;<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tán loạn</span>, hãy neo giữ với móc sắt của sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hồi tưởng</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thiền định</span> là sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong sáng</span> không khái niệm.<br />
Đừng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">diễn tả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> bằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngôn từ</span>,<br />
khi chưa kết nối được với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cam lồ</span> của kinh nghiệm!<br />
Hãy bắt đầu với việc phát triển lòng bi và bodhichitta (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý muốn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span>);<br />
vào lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết thúc</span>, hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hồi hướng công đức</span> cho sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Chỉ khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> hạnh,<br />
người ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> được kiến và thiền.<br />
Có dấu ấn những điều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thích thú</span>,<br />
hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span> hạnh không lấy và không bỏ.<br />
Đừng đặt hạnh vốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> không giả tạo như vậy<br />
về phía <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tà hạnh</span>.<br />
Đừng đặt hạnh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thăm viếng</span> bạn bè<br />
về phía <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư xử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bừa bãi</span>.<br />
Đừng đặt hạnh không bám chấp vào một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sở thích</span><br />
về phía <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham dục</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sân hận</span>.<br />
Đừng đặt hạnh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">buông xả</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span><br />
về phía bất thiện!<br />
Đừng đặt hạnh tịnh hóa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> ba thừa[6] vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo đức</span> bị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhiễm ô</span>.<br />
Đừng đặt hạnh thiếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo đức</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô đạo đức</span> trong sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung lập</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Chỉ khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật quả</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span>,<br />
ngoài tâm ra thì chẳng có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>.<br />
Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự tâm</span>, đó là Phật,<br />
đừng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm kiếm</span> Phật ở nơi nào khác.<br />
Hãy đừng đặt dharmakaya đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sở hữu</span> hai thanh tịnh[7]
về phía nền tảng[8].<br />
Đừng bám chấp cốt tủy của Phật<br />
trong rupakaya (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sắc Thân</span>), <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span><br />
nhằm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điều phục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>.<br />
Về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">căn bản</span>, chẳng có Phật;<br />
đừng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hy vọng</span> đạt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span>.<br />
Về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối hậu</span>, chẳng có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>;<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đừng sợ</span> hãi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong cái thấy thiếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tư duy</span> hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">diễn tả</span>,<br />
người ta bị lừa gạt bởi việc nghe và<br />
sự suy ngẫm về sutra và tantra.<br />
Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> không bị rơi vào các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thái cực</span>,<br />
người ta bị lừa gạt bởi việc tạo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nỗ lực</span> của thân và tâm.<br />
Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> không ngừng đó của hạnh,<br />
người ta bị lừa gạt bởi lạc vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tà hạnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư xử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bừa bãi</span>.<br />
Kết quả là, bất khả phân giữa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luân hồi</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niết bàn</span>,<br />
người ta bị lừa gạt vì bị rơi về phía <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hy vọng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sợ hãi</span>.<br />
Cái thấy đó của Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Đạo</span><br />
là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảo tưởng</span> vì đó không phải là sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xác nhận</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thiền định</span> ấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">buông xả</span> thân và tâm,<br />
là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảo tưởng</span> vì điều đó không cần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nỗ lực</span>.<br />
Hạnh đó, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên nhân</span> nền tảng của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham dục</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sân hận</span>,<br />
là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảo tưởng</span> vì nó không lấy hay bỏ.<br />
Kết quả đó, mahamudra,<br />
là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảo tưởng</span> vì kết quả ấy không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hy vọng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sợ hãi</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> tạo tác, đó là kiến.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> sao lãng, đó là thiền.<br />
Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">buông bỏ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span>, đó là hành.<br />
Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự tâm</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span>, đó là kết quả.<br />
Nếu cắt đứt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi ngờ</span>, đó là kiến.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> sao lãng, đó là thiền.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> bám luyến và chấp giữ, đó là hành.<br />
Nếu các phẩm tính được đầy đủ, đó là kết quả.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung, với người đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span> cái thấy,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nếu không</span> có đối tượng của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>,<br />
vị đại thiền giả đó không có một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> có hành để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span>,<br />
đó là yoga <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> hạnh.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> có kết quả,<br />
[trong bản văn gốc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> thiếu mất dòng này]
cái thấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rốt ráo</span> là không có cái thấy,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết luận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">triết học</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cần thiết</span> ở đây;<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> cao nhất là không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>,<br />
tâm chấp bám không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cần thiết</span> ở đây,<br />
hạnh cao nhất là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không hạnh</span>,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tà hạnh</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cần thiết</span> ở đây;<br />
quả cao nhất là không kết quả,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hy vọng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sợ hãi</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cần thiết</span> ở đây.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung, không có đối tượng để thấy trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thực tại</span>,<br />
bây giờ, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương tự</span>, cái thấy không là cái thấy.<br />
Không có đối tượng của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> bổn nguyên,<br />
giờ đây, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương tự</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> là không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>.<br />
Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span>[12], không có hạnh,<br />
giờ đây, cũng vậy, hạnh là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không hạnh</span>.<br />
Nếu kiến không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới hạn</span>,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chắc chắn</span> người ta có thể nghĩ nó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không gian</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dao động</span> hay chuyển động trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chắc chắn</span> người ta có thể nghĩ nó là núi.<br />
Nếu sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong sáng</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> không bị che ám,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chắc chắn</span> người ta có thể nghĩ nó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trời</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trăng</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> lấy hay bỏ trong hành,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chắc chắn</span> người ta có thể nghĩ nó là mặt đất.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hy vọng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sợ hãi</span> trong kết quả,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chắc chắn</span> người ta có thể nghĩ họ đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> bám chấp.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thiền định</span> có thể hoặc không thể hòa nhập vào cái thấy,<br />
nhưng khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> được hòa nhập vào cái thấy,<br />
thì chẳng có sao lãng trong tánh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rốt ráo</span> bổn nguyên.<br />
Cái thấy có thể hoặc không thể được hòa nhập vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>,<br />
nhưng khi cái thấy được hòa nhập vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>,<br />
thì chẳng còn bám chấp vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mùi vị</span> của dhyana[13].<br />
Kiến và thiền có thể hoặc không thể được hòa nhập vào hành,<br />
nhưng khi kiến và thiền được hòa nhập vào hành,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> và hậu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> sẽ khởi lên.<br />
Vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> không khởi lên trong tâm,<br />
vậy cái thấy cao có lợi gì?<br />
Vì nó không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải độc</span> cho các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhiễm ô</span>,<br />
vậy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> giỏi được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ích lợi</span> gì?<br />
Vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> không được kết nối với lòng bi,<br />
vậy hành nghiêm ngặt có lợi gì?<br />
Vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lỗi lầm</span> của ta không giảm, thậm chí trên bề mặt,<br />
vậy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật quả</span> bổn nguyên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ích lợi</span> gì?[14]
Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> của sự không khởi lên được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span>,<br />
người ta đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt đến</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới hạn</span> của kiến.<br />
Nếu cả hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> và hậu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span>,<br />
người ta đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt đến</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới hạn</span> của thiền.<br />
Nếu hủy hoại và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo vệ</span> bị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô hiệu</span> hóa[15],<br />
người ta đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt đến</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới hạn</span> của hành.<br />
Nếu người ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> cả hai dharmakaya và rupakaya[16],<br />
người ta đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt đến</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới hạn</span> của kết quả.</p>
<p style="text-align: justify;">Khảo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sát tâm</span> về kiến;<br />
xem coi có sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span> hay không hiện hữu của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thường kiến</span> và đoạn kiến?<br />
Khảo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sát tâm</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>;<br />
xem có thấy sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span> hay không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span> của tâm sao lãng?<br />
Khảo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sát tâm</span> về hành;<br />
xem có thấy sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span> hay không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span> của cái thấy thô tục?<br />
Khảo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sát tâm</span> về kết quả,<br />
xem có thấy sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span> hay không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span> về khả năng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chịu đựng</span> gian khổ?<br />
Kiến là sự hướng dẫn của tâm,<br />
thiền là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> của tâm,<br />
hành là bạn hữu của tâm,<br />
kết quả là nơi trú của tâm.<br />
Bầu trời của kiến được xem là cao,<br />
biển của thiền được xem là sâu,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lĩnh vực</span> của hành được xem là nơi trồng trọt,<br />
thu hoạch của kết quả được xem là đã chín.</p>
<p style="text-align: justify;">Dù con không có được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu biết</span> tốt nhất,<br />
nhưng nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học hỏi</span> với các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị đạo</span> sư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span>,<br />
nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tri kiến</span> của việc nghe và suy niệm,<br />
đây là cách hiểu của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> ra sao.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tương tự</span> với cái ách và cổ của con rùa biển[17],<br />
hiểu rằng cuộc sống làm người là khó có được.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tương tự</span> như viên ngọc trên đỉnh đầu của Takshaka[18],<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu biết</span> rằng khó tìm được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị đạo</span> sư.<br />
Hiểu được sự thay đổi của thân qua bốn mùa,<br />
như dấu hiệu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span> của cái chết.<br />
Giống như người bị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lưu vong</span> nơi xứ sở của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kẻ thù</span>,<br />
hiểu rằng mọi thứ đều phải bỏ lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sau khi chết</span>.<br />
Giống như màu sắc của lông con công,<br />
hiểu ra được mọi sự đều sinh từ nghiệp.<br />
Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> của rỗng không được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span>,<br />
hiểu được rằng không có việc sinh ra trong samsara.<br />
Giống như sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phản chiếu</span> trong gương,<br />
hiểu ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình tướng</span> là rỗng không.<br />
Giống như thấy sự phô diễn trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giấc mộng</span>,<br />
hiểu được rằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> của rỗng không là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình tướng</span>.<br />
Giống như màu vàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rực rỡ</span> của whey (chất lỏng giống nước còn lại khi sữa chua đã đông),<br />
hiểu ra bản tính[19] là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thuần khiết</span>.<br />
Giống như những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đám mây</span>, đồ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dơ bẩn</span>, gỉ sắt,<br />
hiểu ra việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa trên</span> khái niệm là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngẫu nhiên</span>.<br />
Hiểu được tính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa trên</span> khái niệm là samsara (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luân hồi</span>),<br />
hiểu ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span> khái niệm là nirvana (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niết bàn</span>).<br />
Hiểu được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luân hồi</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span>,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu biết</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span>.<br />
Hiểu ra cả hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span> đều không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span>,<br />
hiểu được rỗng không bổn nguyên là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban sơ</span>[20].</p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung, nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> trong tâm, đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span>,<br />
nếu kiến được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> lần nữa.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Huyễn thân</span> chín muồi[21] là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span>;<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nếu không</span> có bệnh tật, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> lần nữa.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Dựa vào</span> ẩn tu nơi hẻo lánh là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span>,<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> lần nữa.<br />
Sinh kế <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phù hợp</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>, là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span>,<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> sinh kế xấu, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> lần nữa.<br />
Những đối tượng khao khát của thân và tâm trẻ trung là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span>,<br />
nếu được kết nối với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span>[22], <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> lần nữa.<br />
Bạn bè đồng thuận với kiến và hành là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span>,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> nơi vắng vẻ là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span>.<br />
Không bám chấp và bám luyến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực phẩm</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tài sản</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span>,<br />
không xác định nơi cư trú là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tình bạn</span> không có nghĩa vụ là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span>,<br />
nếu có được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự do</span>, là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Con không phải là người có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công đức</span>,<br />
nhưng được sinh ra có thân người đầy đủ và<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền bá</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật Pháp</span>;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chuyển tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> bám <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chấp pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế gian</span> và<br />
khởi lòng nhiệt thành cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span>;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Lìa bỏ</span> xứ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sở bị</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ruồng bỏ</span> của mình và<br />
Gặp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị đạo</span> sư trong lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lưu vong</span>;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nghiên cứu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh điển</span> và<br />
hiểu được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngôn từ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span>;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
Tìm được một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị đạo</span> sư của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương Thừa</span> và<br />
và có được đầy đủ bốn abhisheka (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>);<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
Được ban trao truyền miệng, các hướng dẫn và<br />
sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tri kiến</span> xác quyết <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên thâm</span>;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
Khơi dậy sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sùng kính</span> vị thầy và<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban phước</span> vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dòng tâm thức</span>;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
Cắt đứt những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi ngờ</span> về các đối tượng bên ngoài và<br />
khởi lên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span>;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
Có được sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rõ ràng</span> trong giai đoạn phát sinh bổn tôn và<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> được sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> của giai đoạn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span>;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
Có được sức nóng của cực lạc[23] rực sáng trong thân và<br />
sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span> trong tâm;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
Hiểu ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảo tưởng</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương đối</span> và<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu biết</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối thượng</span>;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Từ bỏ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> về đối tượng<br />
và được kết nối với cái neo của sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hồi tưởng</span>;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất hạnh</span> được cướp mất và<br />
bạn hữu, sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải độc</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span>;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
Mất đi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham dục</span> vào đối tượng,<br />
và được kết nối với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương tiện thiện xảo</span>;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
Đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span><br />
và hiểu ra chúng là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">huyễn ảo</span>;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
Thấy nỗi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> và<br />
lòng bi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> khởi lên;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
Đưa ra lý lẽ với người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đối lập</span><br />
và khơi dậy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng cứ</span> trong chính mình;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.<br />
Phát hiện suối <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công đức</span><br />
và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">loại bỏ</span> khỏi bám luyến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tài sản</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực phẩm</span>;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Từ bỏ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tà hạnh</span> và<br />
làm bất kỳ hạnh nào mang lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoan hỷ</span>;<br />
cả hai điều này xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Cầu mong việc lắng nghe và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> cũng gặp gỡ nhau;<br />
cầu mong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh điển</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên do</span> cũng gặp gỡ nhau;<br />
cầu mong dòng truyền và vị guru cũng gặp gỡ nhau;<br />
cầu mong sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> và các hướng dẫn miệng cũng gặp gỡ nhau;<br />
cầu mong sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh tấn</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> cũng gặp gỡ nhau;<br />
cầu mong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh tiếng</span> và phẩm tính cũng gặp gỡ nhau.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nhận biết</span> sẽ chẳng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span><br />
qua việc nghe mà thiếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tri kiến</span> xác quyết sẽ chẳng khởi lên<br />
qua <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lý luận</span> mà không nối kết với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh điển</span>.<br />
Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban phước</span> sẽ chẳng xảy ra<br />
qua vị guru (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span>) không có dòng truyền.<br />
Sẽ chẳng có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span><br />
qua <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> mà không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh tấn</span>.<br />
Chẳng có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> cho chính mình<br />
qua hướng dẫn miệng mà không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>.<br />
Chẳng có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> cho người khác<br />
qua những phẩm tính mà không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếng tăm</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Không có trứng, từ đâu con gà bắt đầu sinh?<br />
Không có con gà, trái trứng bắt nguồn ra sao?<br />
Con gà hay quả trứng, cái nào có trước tiên?<br />
Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> không hiện khởi<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nếu không</span> có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự tạo</span> tác bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điều kiện</span>,<br />
thì cái nào trước, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên nhân</span> hay kết quả?<br />
Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> bổn nguyên của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự tâm</span>,<br />
nếu cả hai khái niệm và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span>,<br />
thì cái nào trước, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đức Phật</span> hay chúng sinh?</p>
<p style="text-align: justify;">Vì Giáo Pháp[24] không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span> từ khởi thủy,<br />
nếu kết quả, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật tính</span>, chưa từng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span>,<br />
thì cái nào có trước, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> hay Đức Phật?<br />
Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt đối</span> chẳng bao giờ có bất cứ gì;<br />
nếu cả hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảo tưởng</span> và không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảo tưởng</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span>,<br />
cái nào trước, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương đối</span> hay tuyệt đối?<br />
Vì trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt đối</span> chẳng có Phật,<br />
vậy ai đã giảng dạy Tripitaka?[25]
Nếu Dharma (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>)[26] không được giảng dạy bởi vị thầy,<br />
Làm sao có được những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bộ kinh</span> điển?<br />
Nếu nói rằng “Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chấm dứt</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span>,<br />
tất cả những gì có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điều kiện</span>, được sinh và sẽ chết,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuối cùng</span> đều không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span>”,<br />
làm sao nó có thể là kết quả được phát sinh từ hành động?<br />
Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> từ khởi thủy,<br />
Làm thế nào sẽ có sự chấm dứt?<br />
Ngoại trừ dharmata (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">pháp tính</span>)<br />
chẳng có gì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span> trong bất cứ cách nào.<br />
Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">pháp tính</span> chẳng thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biến đổi</span>,<br />
làm thế nào có thể có sinh và tử?<br />
Nếu tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không thật</span>,<br />
tại sao <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> nghĩ chúng đáng tin?<br />
Nếu tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> đều đúng,<br />
Làm thế nào mọi thứ đều lừa gạt?<br />
Nếu tự thân samsara (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luân hồi</span>) là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span>,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thực hiện</span> điều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất thiện</span> là sự cực kỳ lừa dối.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự giải thoát</span> đến các cõi cao,<br />
việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo đức</span> để tạo ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> như vậy là lừa dối.<br />
Nếu kết quả của tự thân karma (nghiệp) là đúng,<br />
Thì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span>, đều lừa dối.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mặt trăng</span> trong nước không phải là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trăng</span> trong bầu trời,<br />
nhưng không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa vào</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trăng</span> đó, thì sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phản chiếu</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span>;<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương tự</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản chất</span> của mọi thứ<br />
được dạy là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hai chân lý</span> (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhị đế</span> – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân đế</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tục đế</span>)<br />
sẽ chẳng có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> nào<br />
mà không gồm chứa trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hai chân lý</span> ấy.<br />
Vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không thật</span> và không hư,<br />
bám chấp vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hai chân lý</span> là bị lừa dối.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thèm muốn</span> các đối tượng, giống như khát mà uống nước muối,<br />
chẳng bao giờ có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỏa mãn</span> cơn khát vào bất cứ lúc nào;<br />
giống như người cùi nhìn vào gương,<br />
khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">buông bỏ</span> bám luyến, người ta được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỏa mãn</span>[27].<br />
những gợn sóng lăn tăn của sông duhkha[28]
không bao giờ có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">loại bỏ</span> vào bất cứ lúc nào;<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương tự</span> như khói của ngọn lửa đã tắt,<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển đổi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất thiện</span> bằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span>,<br />
[duhkha của họ] được tẩy trừ.<br />
Từ dòng sông của sinh, già, bệnh, chết<br />
người ta chẳng bao giờ có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự do</span> vào bất cứ lúc nào;<br />
giống như việc xây cầu trên sông,<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất sinh</span>, người ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">được giải thoát</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại dương</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sinh tử</span><br />
không bao giờ có thể khô cạn vào bất kỳ lúc nào;<br />
giống như sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> của bảy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trời</span>;<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">loại bỏ</span> được sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thèm khát</span> đối tượng,<br />
[thì samsara của chính họ] được khô cạn.<br />
Các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> khó khăn có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điều kiện</span> của công việc<br />
chẳng bao giờ có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn tất</span> vào bất cứ lúc nào;<br />
giống như sự thay đổi kênh đào cho việc tưới tiêu<br />
cứ để [công việc] như nó là, thì công việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn tất</span>.<br />
Bóng tối đậm đặc của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô minh</span><br />
không bao giờ có thể được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">loại bỏ</span> vào bất cứ lúc nào;<br />
giống như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngọn đèn</span> trong phòng tối,<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trời</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span>, [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô minh</span>] được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">loại bỏ</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mặt trời</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> của sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô ngã</span><br />
chẳng bao giờ có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> vào bất cứ lúc nào;<br />
giống như buổi bình minh của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trời</span> mọc,<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối thượng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dòng tâm thức</span>, thì [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span>] <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span>.<br />
Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhiễm ô</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span> của khái niệm<br />
chẳng bao giờ có thể rút ra được vào bất cứ lúc nào;<br />
giống như vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bác sĩ</span> có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> lấy viên đạn ra,<br />
nếu có được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năng lực</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải độc</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lấy ra</span>.<br />
Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ràng buộc</span> của tính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham lam</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ích kỷ</span><br />
chẳng bao giờ có thể cởi được vào bất cứ lúc nào;<br />
giống như việc cởi nút thắt của sợi chỉ,<br />
nếu hiểu được những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sở hữu</span> là ảo huyễn, sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ràng buộc</span> sẽ được cởi.<br />
Từ ngục tù của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ba cõi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sinh tử</span><br />
người ta không bao giờ có thể được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự do</span> vào bất kỳ lúc nào;<br />
giống như tù nhân được thả khỏi ngục,<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> khỏi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xích sắt</span> của người bám chấp và bị bám chấp, người ta được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự do</span>.<br />
Thành phố của nirvana (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niết bàn</span>)<br />
chẳng bao giờ có thể đến được vào bất cứ lúc nào;<br />
giống như vị khách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi vào</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span>,<br />
nếu nối kết được với sự bắt đầu của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span>, người ta sẽ đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niết bàn</span>.<br />
Vị guru, người bạn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span>,<br />
chẳng bao giờ có thể gặp được vào bất cứ lúc nào;<br />
giống như Dharmodgata và Sadaprarudita[30],<br />
nếu nghiệp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy</span> nối kết với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span>, sẽ gặp được guru.<br />
Dòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cam lồ</span> của hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span><br />
không bao giờ có thể được uống vào bất cứ lúc nào;<br />
giống như tìm nước uống lúc khát,<br />
nếu người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế gian</span>] một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thích hợp</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> đó được uống.<br />
Tính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất nhị</span> của Mahamudra<br />
chẳng bao giờ có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span> vào bất cứ lúc nào;<br />
giống như con lạc đà gặp được con của nó,<br />
nếu tâm được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span>, [mahamudra] sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span>.<br />
Phóng ra những lời lẽ theo lệ thường<br />
không bao giờ có thể cạn vào bất kỳ lúc nào;<br />
giống như việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đóng cửa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> kinh doanh vì hết hàng hóa,<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chấm dứt</span> tính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa trên</span> khái niệm, [lời lẽ] sẽ hết.<br />
Cái thô <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">che dấu</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dòng tâm thức</span><br />
không bao giờ có thể được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điều phục</span> vào bất kỳ lúc nào;<br />
giống như thuốc để chữa bệnh,<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phù hợp</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>, [bệnh tật] được chữa lành.<br />
Việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sở hữu</span> ba kaya (thân) và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năm trí</span><br />
không bao giờ có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thể đạt</span> được vào bất kỳ lúc nào;<br />
giống như vương quốc được tạo nên từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy công đức</span>,<br />
nếu hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy</span> được đầy đủ,<br />
[các thân và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span>] ấy đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> lắng nghe và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span><br />
có biết được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mục đích</span> của sutra và tantra hay không?<br />
Điều nguy hiểm là không cắt bỏ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi ngờ</span>;<br />
xin đừng ngả về phía lệ thường.<br />
Tất cả các vị thầy giảng dạy và viết lách<br />
có được sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> xác quyết hay không?<br />
Hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm hiểu</span> trong hướng dẫn miệng thiêng liêng!<br />
Có một sự nguy hiểm mà các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> sẽ chết theo lối thường.<br />
Mọi thiền giả vĩ đại nào đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>,<br />
xin đừng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham gia</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nói chuyện vô ích</span>;<br />
xin đừng quá mong muốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực phẩm</span> và quần áo;<br />
xin đừng bám luyến vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mùi vị</span> của dhyana (thiền).<br />
Tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> điều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất thiện</span><br />
mong hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> thấu đáo một ít về sutra và tantra,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh thoảng</span> hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi theo</span> vị guru như một người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phục vụ</span>,<br />
hãy luôn nhìn vào tâm mình.<br />
Nếu lười biếng đối với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đức hạnh</span>,<br />
[hãy nhớ] sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô thường</span> về cái chết trong tâm!<br />
Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham dục</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sân hận</span> khởi lên hướng đến đối tượng,<br />
[hãy giữ] dharmata (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp Tính</span>) và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> trong tâm!<br />
Nếu bị kết nối với vòng luẩn quẩn của người và công việc,<br />
[hãy giữ] <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu biết</span> về sự lừa gạt của Mara (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ma Vương</span>)!<br />
Bất chấp việc gì người ta có thể làm, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nếu không</span> có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>,<br />
[hãy giữ] những khiếm khuyết của samsara trong tâm!<br />
Có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>, đời này và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đời sau</span> đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung ấm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện tại</span> (bardo đời này) được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span> –<br />
[đó] chính là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không sinh</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hành giả</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>, người khác <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>, cả hai đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>,<br />
thế nên, hãy luôn giữ việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành Pháp</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào lúc có được cuộc sống làm người đầy đủ,<br />
tại sao không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> tâm linh?<br />
Nhiều lần được ở cùng vị guru <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiêng liêng</span>,<br />
tại sao lại không làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vừa lòng</span> Ngài?<br />
Nhiều lần khẩn cầu hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thâm sâu</span>,<br />
tại sao lại không làm bất cứ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> nào?<br />
Nhiều lần khơi dậy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tri kiến</span> xác quyết trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>,<br />
Tại sao lại để nó quay ngược <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở lại</span> lần nữa?</p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung, rời bỏ quê hương sống lưu vong,<br />
dù bị chia cắt khỏi quê hương cũng không hối tiếc.<br />
Hãy luôn hướng tâm đến Giáo Pháp tích cực,<br />
dù sinh vào cõi địa ngục cũng không hối tiếc.<br />
Hãy nương tựa vào vị guru như bổn tôn chính,<br />
Dù nguồn vui của mình bị cạn cũng không hối tiếc.<br />
Hãy làm bất cứ phục vụ sùng kính nào đến vị guru;<br />
dù Ngài không quan tâm đến đệ tử; người đệ tử cũng không hối tiếc.<br />
Khẩn cầu giáo lý upadesha phù hợp với kinh điển;<br />
dù không thể thực hành cũng không hối tiếc.<br />
Hạnh đạo đức chính là từ bỏ những hoạt động,<br />
dù chưa đạt được siddhi[31] cũng không hối tiếc.<br />
Bảo vệ hứa nguyện là công việc chính của mình;<br />
dù bị bạn bè nhạo báng cũng không hối tiếc.</p>
<p style="text-align: justify;">Tiêu tốn cuộc sống trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích lũy công đức</span>;<br />
dù có chết đi cũng không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hối tiếc</span>.<br />
Cầu mong đừng tạo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hối tiếc</span> cho chính mình;<br />
dù người khác trách cứ cũng không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hối tiếc</span>.<br />
Ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một mình</span> không bám luyến bạn bè;<br />
dù không có người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi theo</span> cũng không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hối tiếc</span>.<br />
Hãy nhìn vào tâm như sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> chính của kiến;<br />
dù <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> là nhỏ bé cũng không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hối tiếc</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Dựa vào</span> việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ăn uống</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hòa hợp</span> bệnh tật;<br />
dù bị bệnh cũng không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hối tiếc</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thực hiện</span> hạnh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phù hợp</span> với nguyện đã thọ;<br />
Dù <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tà hạnh</span> cũng không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hối tiếc</span>.<br />
Hãy xét lỗi của mình, đừng xét lỗi người khác;<br />
dù không được yêu thích cũng không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hối tiếc</span>.<br />
Xem <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> của người khác là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan tâm</span> chính của mình;<br />
Dù <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> của mình bị mất đi cũng không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hối tiếc</span>.<br />
Hát một bài ca nhỏ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phù hợp</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span>;<br />
Dù mất đi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc nói chuyện</span> phiếm cũng không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hối tiếc</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Áp dụng</span> các cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiết kiệm</span> đối với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">của cải</span>;<br />
dù <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lễ nghi</span> có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghèo nàn</span> cũng không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hối tiếc</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Giống như việc ném hòn đá vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại dương</span>,<br />
xin hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm kiếm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> không thể thay đổi!<br />
Giống như cắt đứt ngọn cây chuối,<br />
xin hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm kiếm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không sinh</span> khởi!<br />
Giống như ánh sáng trong đêm tối,<br />
xin hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm kiếm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> giải độc!<br />
Giống như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của Vedic Brahmin (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bà la môn</span> theo phái <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vệ Đà</span>),<br />
xin hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm kiếm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh điển</span> vững chắc!<br />
Giống như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">áp dụng</span> axit với vàng,<br />
xin hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm kiếm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> có ích!<br />
Mặc dù các vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hộ pháp</span> giữ cửa đền chùa,<br />
có vẻ như đang sắp đánh, sắp đánh, nhưng họ không đánh.<br />
Mặc dù có những người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bình thường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tăng trưởng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quyền lực</span>,<br />
dường như được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>, họ lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span>.<br />
Mặc dù có những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> của Pháp đối mặt với gian khó<br />
dường như khốn khổ, đáng thương, họ lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>.<br />
Mặc dù sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giàu sang</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất phát</span> từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rộng lượng</span><br />
có vẻ như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hao mòn</span> dần, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">suy yếu</span> dần, nhưng lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tăng trưởng</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng sinh</span> và chư Phật ngang bằng nhau,<br />
nhưng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span> tạo ra sự khác biệt to lớn giữa họ.<br />
Ta và người khác ngang nhau,<br />
nhưng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên nhân</span> bám chấp tạo ra sự khác biệt lớn giữa họ.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kẻ thù</span> và trẻ em ngang nhau,<br />
nhưng lòng từ ái và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sân hận</span> tạo ra sự khác biệt lớn giữa họ.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mọi người</span> đều có được thân người như nhau,<br />
song, chiến thắng hay thất bại tạo ra sự khác biệt lớn giữa họ.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chúng sinh</span> nào có được thân người,<br />
đừng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vui sướng</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tội lỗi</span>;<br />
vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span> của cuộc sống này là không thể chịu nổi,<br />
sao <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không tính</span> đến những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span> của các cõi thấp?<br />
Mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công đức</span> ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span>,<br />
hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span> kết nối với cái thấy và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hồi hướng</span>;<br />
xin đừng làm nó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công đức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhiễm ô</span>.<br />
“Không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> trong luân hồi” –<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> đó không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span> trong chính mình,<br />
thì việc ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ích lợi</span> gì?<br />
Không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">loại bỏ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">suy nghĩ</span> về cuộc sống này,<br />
việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi vào</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> gì?<br />
Không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sợ hãi</span> sinh và tử,<br />
Việc giảng dạy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> gì?<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> cắt đi những râu ria của việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa trên</span> khái niệm,<br />
thì việc cắt tóc trên đầu mình được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> gì?<br />
Không đem sự thay đổi vào những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> thông thường,<br />
thì việc thay đổi màu của tấm vải được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> gì?<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> nương tựa vào những guru <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiêng liêng</span>,<br />
Thì việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> xứ sở của mình được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> gì?<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> các hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span>,<br />
thì việc nghe và suy ngẫm được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> gì?<br />
Khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời khắc</span> của cái chết xảy đến, chẳng gì có thể giúp được, ngoại trừ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung, một guru <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham lam</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dối trá</span>,<br />
chẳng có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> ban hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thâm sâu</span>;<br />
kẻ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dối trá</span> phô trương làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mê muội</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> tạm thời<br />
chẳng có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> gặp được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dứt khoát</span>;<br />
kẻ quá phóng đại về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luân hồi</span><br />
chẳng có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niết bàn</span>.<br />
Người đến từ bóng đen to lớn của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô minh</span><br />
chẳng có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trời</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> hé rạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> của việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">so sánh</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảo ảnh</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span>,<br />
thì người ta đã tìm được lời lẽ của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân lý</span>.<br />
Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> của sự không hiện khởi được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span>,<br />
thì người ta đã tìm được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảo tưởng</span>.<br />
Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhân quả</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span><br />
thì người ta đã tìm được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> tạm thời.<br />
Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> của sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">so sánh</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không gian</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span>,<br />
thì người ta đã tìm được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> xác quyết.<br />
Nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> của rỗng không được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span>,<br />
thì người ta đã tìm được tính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa trên</span> khái niệm.<br />
Nếu kết nối được với tâm vị guru <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiêng liêng</span>,<br />
thì người ta đã tìm được hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Thêm nữa, tuy hiểu được nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nếu không</span> phải người nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thích hợp</span> của lời hướng dẫn,<br />
kiến sẽ không được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span>.<br />
Đừng bị sao lãng bởi những sao lãng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế gian</span><br />
về việc không cắt đứt được những phát triển theo lệ thường.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nếu không</span> thể sống nơi hẻo lánh,<br />
người ta sẽ không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> siddhi (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span>);<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> và quên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi vòng</span> luẩn quẩn của người và sự việc.<br />
Nếu mầm mống của sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối thượng</span> không được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span>,<br />
thì chẳng có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh hoa</span> trong lớp vỏ bên ngoài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô giá</span> trị của lệ thường.<br />
Không nên sao lãng bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tám pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế gian</span>,<br />
hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span>, nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Hãy thấy sự nối kết giữa kiến và thiền;<br />
hãy thấy sự nối kết giữa hành và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span>;<br />
hãy thấy sự nối kết giữa hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh điển</span>;<br />
hãy thấy sự nối kết giữa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con người</span> và sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>;<br />
hãy thấy sự nối kết giữa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> và hậu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>;<br />
hãy thấy sự nối kết giữa dòng truyền và vị guru.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung, không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết thúc</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngôn từ</span> của sutra và tantra;<br />
ngay bây giờ, hành động quan trọng là ngưng lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời nói</span>.<br />
Đã cắt đứt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi ngờ</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span>;<br />
giờ đây việc quan trọng là ngưng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm kiếm</span>.<br />
[Đó là] không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mục tiêu</span> trong các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế gian</span>,<br />
bây giờ hành động quan trọng là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> sao lãng.<br />
Người ta không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thể lệ</span> thuộc vào Yama[32] Thần Chết,<br />
Bây giờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> quan trọng là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>;<br />
giờ chết là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất định</span>, hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biểu lộ</span> sự siêng năng.<br />
Nếu được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>, đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng từ</span> của vị guru,<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">buồn phiền</span>, thì nó là sự lưu xuất từ nghiệp trước;<br />
nếu bị mất mát, đừng chán nản,<br />
và nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành đạt</span>, đừng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiêu căng</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Người có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span><br />
vào tám mươi bốn ngàn cổng của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span><br />
có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> hành động <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tội lỗi</span>.<br />
Người ta phải dấn thân vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo đức</span>;<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cần thiết</span> phải có một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm không</span> có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế gian</span>.<br />
Hơn nữa, hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> và quên đi các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>.<br />
Đừng nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phỉ báng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>;<br />
cũng đừng lăng mạ người khác.<br />
Vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> được sự nhầm lẫn giữa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con người</span>,<br />
nếu hỏi rằng điều đó được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> ra sao,<br />
một người bị xem là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mê lầm</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span><br />
vì họ kém <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thông minh</span> và ít <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học hỏi</span>.<br />
Không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mục đích</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span>,<br />
phóng đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quá mức</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xem thường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con người</span>,<br />
bị che phủ bởi đờm dãi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đáng khinh</span> của tính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa trên</span> khái niệm[33],<br />
bị chiếm đoạt bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cạm bẫy</span> của mara[34], của tính tự cao tự đại,<br />
không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan điểm</span> nhiều người cùng một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chí hướng</span>,<br />
cũng xa rời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> Kadampa[35] và bỏ đi!<br />
Nhờ không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phân biệt</span> giữa lấy và bỏ của điều thiện và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất thiện</span>,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giả vờ</span> thành thạo mà không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu biết</span>, không có nồng nhiệt[36],<br />
người ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span> hạnh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phóng túng</span>,<br />
tạo sự lừa dối, tràn đầy xứ sở với sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dối trá</span>,<br />
cũng xa rời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> Yogin[37] và bỏ đi!<br />
Đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chấp nhận</span> Mantra Bí Mật[38] là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>,<br />
lại không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sở hữu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chín muồi</span> của abhisheka[39]
và tách khỏi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan điểm</span> của phương pháp[40] <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span><br />
vì không gặp được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đức Thế Tôn</span> của Mantra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bí Mật</span>[41],<br />
cũng xa rời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> Mahamudra (Đại Ấn) và bỏ đi!<br />
Đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chấp nhận</span> Mahayana (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại Thừa</span>) là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>,<br />
bị tách rời khỏi lòng bi và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bồ đề tâm</span>,<br />
hành động, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con người</span> không được nối kết<br />
trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> của nền tảng không nỗ lực[42],<br />
cũng xa rời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> Dzogchen[43] (Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span>) và bỏ đi!<br />
Giống như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sừng thỏ</span>, các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết tập</span> (uẩn) đều không có nền tảng,<br />
nói <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cụ thể</span> là đếm số miệng, số mắt, số nếp nhăn,<br />
tìm một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc tính</span> mà không có nền tảng của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc tính</span>;<br />
cũng xa rời Abhidharma[44] và bỏ đi!<br />
Sự tính toán nối kết <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mâu thuẫn</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mâu thuẫn</span><br />
với vẻ bên ngoài lừa gạt, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dối trá</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không thật</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô nghĩa</span>,<br />
không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> cho tâm, người ta bị lừa gạt vào lúc chết;<br />
cũng xa rời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> Luận lý và bỏ đi!<br />
Có khối u bên trong của việc bám chấp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân lý</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình tướng</span> lừa gạt,<br />
giữ chặt sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chấp nhận</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">như tinh</span> túy,<br />
với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nỗ lực</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> sự tỏa khắp của giả thuyết[45] không quan trọng;<br />
cũng xa rời Madhyamika (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quán</span>) và bỏ đi!<br />
Tiêu tốn cuộc sống vào những lời lẽ theo lệ thường,<br />
mặc dù <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">am hiểu</span>, người ta lại không hiểu được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> của tâm,<br />
người ta chết trong thân <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảo tưởng</span> vào lúc chết;<br />
cũng xa rời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Biện Chứng</span> và bỏ đi!<br />
Bậc thầy, không có các phẩm tính,<br />
tạo nối kết[46] <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> với ba điều sau –<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham lam</span> đưa một giá cả cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thích thú</span> phối ngẫu của vị guru không có samaya,<br />
bám luyến vào cả hai sự hòa hợp[47] và giải thoát[48] mà không có phương pháp[49]?<br />
cũng xa rời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> Vajrayana (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương Thừa</span>) và bỏ đi!<br />
Bị giữ chặt trong ngục tù <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tà hạnh</span> của thân và ngữ,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự tâm</span> không có kiến và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> của thiền.<br />
Gian <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khổ nhân</span> đôi là không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mục đích</span>;<br />
Cũng xa rời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> được Thọ Phong và bỏ đi!<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thiền định</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngu si</span> mà không lắng nghe và suy niệm<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> hay may vá khi ngồi,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư xử</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tà hạnh</span> nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi vào</span> làng mạc,<br />
thời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết thúc</span> trong giấc ngủ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lờ mờ</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uể oải</span>,<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm kiếm</span>, chỉ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm kiếm</span> quà tặng,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho phép</span> người nào có quà tặng được vào cửa,<br />
người không có quà, chặn lại ngoài cổng[50], –<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nuôi dưỡng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân nhân</span> bằng của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span>;<br />
cũng xa rời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> của Đại Thiền Giả và bỏ đi!<br />
Không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu biết</span>, nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thâm sâu</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span>;<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thích thú</span> tận hưởng những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vui đùa</span>, nói <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyện phiếm</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mục đích</span>, ca hát và những điệu nhảy múa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quyến rũ</span>;<br />
lừa gạt có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> và kiến chỉ bằng miệng,<br />
tạo vu khống và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi ngờ</span> ở chỗ này và chỗ khác,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nếu có thể</span>, đi đánh cắp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tài sản</span> của nhà hàng xóm,<br />
rũ bỏ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trách nhiệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span> như chẳng có gì khác để làm;<br />
cũng xa rời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> Người Nội Trợ và bỏ đi!<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi nhuận</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh vọng</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xung đột</span>, tranh cãi, sinh kế, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thất vọng</span>, không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỏa mãn</span>,<br />
là nguồn gốc của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất hạnh</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span>, ngược với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo đức</span>;<br />
tiêu tốn cuộc sống trong khốn khó mà không có bất kỳ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mục đích</span> nào,<br />
chẳng còn chỗ nào có thể đi ngoại trừ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ba cõi</span> thấp;<br />
xa rời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> Chủ Nhà và đi!<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trước tiên</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất thiện</span>;<br />
lúc giữa, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế gian</span>;<br />
sau đó, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>.<br />
Tâm của yogin đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">buông bỏ</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>;<br />
đại thiền giả mà thu góp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">của cải</span> là người thường;<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> với các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc tính</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa trên</span> khái niệm;<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiện hạnh</span> của thân và ngữ là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tà hạnh</span>.<br />
Không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span>, để cho sáu thức[51] được buông lỏng.<br />
Nếu bám chấp, bám luyến bổn tôn cũng là sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lệ thuộc</span>.<br />
Nếu khao khát, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thèm muốn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật quả</span> cũng là sự lừa gạt.<br />
Nếu chấp cứng, bám chặt vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> cũng là sự lừa dối.</p>
<p style="text-align: justify;">Hòa tan tính giác vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span>.<br />
Đây là hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> cho người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu biết</span>;<br />
tính giác chuyển vào sự rỗng không của tâm,<br />
những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc tính</span> của sự bám chấp và người chấp bám <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">được giải thoát</span> ngay tại chỗ của nó[52],<br />
ngay cả cái gọi là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan điểm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">định kiến</span> cũng không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span>;<br />
tâm khiến kiến được xác quyết là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>.<br />
Không sao lãng chuyển thành không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>;<br />
ngay cả cái gọi là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hôn trầm</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạo cử</span> đều không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span>;<br />
tâm khiến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự thiền</span> định được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vững chắc</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>.<br />
Hành xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> chuyển thành bất tận;<br />
các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc tính</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tà hạnh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">được giải thoát</span> ngay tại chỗ của nó;<br />
ngay cả cái gọi là lấy hay bỏ đều không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span>;<br />
tâm mà hành được xác quyết là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bất tử</span> chuyển vào trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất sinh</span>;<br />
các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc tính</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hy vọng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sợ hãi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">được giải thoát</span> ngay tại chỗ của nó;<br />
ngay cả cái gọi là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện tại</span> và tương lai đều không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span>;<br />
tâm mà kết quả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vững chắc</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>.<br />
Kiến được phát <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sinh không</span> bị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">che lấp</span>,<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảo tưởng</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiêu diệt</span>, nó được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiêu diệt</span> bởi điều này (kiến);<br />
vì không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sở hữu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">định kiến</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiên cố</span>,<br />
không có sự gây hại của người bám chấp và bị chấp bám thật đáng ngạc nhiên!<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thiền định</span> không tạo tác xảy ra một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span>,<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> và các giai đoạn được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt đến</span>, chúng được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt đến</span> bởi điều này;<br />
vì không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sở hữu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên nhân</span> của việc tập trung vào đối tượng,<br />
không có sự gây hại của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hôn trầm</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạo cử</span> là đáng ngạc nhiên!<br />
Hành <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên tục</span> xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span>,<br />
nếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">buông bỏ</span> bám chấp, nó được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">buông bỏ</span> bởi điều này;<br />
vì không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sở hữu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tư tưởng</span> phản bác và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiến lập</span>,<br />
không có sự gây hại của lấy và bỏ thật đáng ngạc nhiên!<br />
không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm kiếm</span> kết quả được tạo ra một cách dễ dàng,<br />
theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thông lệ</span>, dharmakaya <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> bởi điều này,<br />
vì không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sở hữu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tư tưởng</span> buông bỏ và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span><br />
không có sự gây hại của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hy vọng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sợ hãi</span> thật đáng ngạc nhiên!</p>
<p style="text-align: justify;">Đôi khi có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không gian</span> của bầu trời;<br />
đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> không có các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực đoan</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọng tâm</span>.<br />
Đôi khi có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong đáy sâu của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại dương</span>;<br />
đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> không chuyển động và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kích thích</span>.<br />
Đôi khi có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trời</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trăng</span>;<br />
đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong sáng</span> không che ám.<br />
Đôi khi có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> ở giữa sông;<br />
đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên tục</span>.<br />
Đôi khi có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện</span> của vị guru;<br />
đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">loại bỏ</span> sự phát triển.<br />
Đôi khi có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong an trụ lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span>;<br />
đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> ở nơi hẻo lánh.<br />
Đôi khi có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> ở giữa chợ;<br />
đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong việc đem <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình tướng</span> vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span>.<br />
Đôi khi có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong một loạt các yogin;<br />
đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">so sánh</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span>.<br />
Đôi khi có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> ở giữa các người cùi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành khất</span>;<br />
đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span> hạnh cùng một vị.<br />
Đôi khi có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> nếu xứ sở được mở mang;<br />
đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong việc lang thang không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mục đích</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đơn độc</span>.<br />
Có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thường trụ</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tại</span>,<br />
đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành kiến</span> hay cục bộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lúc đầu</span>, sự bàn bạc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tốt đẹp</span> khởi lên,<br />
vào lúc giữa, khởi lên sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thích thú</span>,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuối cùng</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm thức</span> hiện khởi;<br />
nhờ rời bỏ các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span>, người ta được nối kết với<br />
sự khởi đầu của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span>,<br />
nhờ buông lỏng, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> và các giai đoạn được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt đến</span>,<br />
nhờ che đầu[53], người ta có thể thấy khoảng cách xa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rõ ràng</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Thậm chí <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">địa ngục</span> sâu nhất của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>,<br />
là cung điện <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> của cõi Akanistha[54]. (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trời Sắc Cứu Cánh</span>)<br />
Ngay cả sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đau khổ</span> của nóng và lạnh,<br />
là dharmakaya (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp Thân</span>) <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> sự phát triển.<br />
Thậm chí những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết luận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">triết học</span> không thuộc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo Phật</span>,<br />
đều là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh túy</span> của Madhyamaka.<br />
Ngay cả hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> của vị guru linh thánh<br />
là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảo tưởng</span> bị lừa gạt bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảo tưởng</span>.<br />
Thậm chí <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span><br />
là sự vẽ tranh trên nước.<br />
Ngay cả sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> của năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> và mười giai đoạn (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thập địa</span>)<br />
giống như việc đếm số sừng trên đầu con thỏ.<br />
Thậm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chí đức</span> Phật đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span><br />
cũng chỉ là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rốt ráo</span> có thực.<br />
Ngay cả dharmata được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> bởi tính giác<br />
là cây chuối ruột rỗng bên trong[55].<br />
Vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tại</span> mà không có hành động<br />
và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngôn từ</span> của kiến không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tri thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chắc chắn</span>,<br />
đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương tự</span> như nhau, đó là sự nguy hiểm của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lầm</span>.<br />
Vì hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> về việc buông lỏng các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác quan</span><br />
và lạc mất sáu thức giác gây ra sao lãng<br />
đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương tự</span> như nhau, đó là sự nguy hiểm của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lầm</span>.<br />
Vì sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> được phát sinh mãnh liệt và<br />
hạnh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư xử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thô tục</span> của người điên<br />
đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương tự</span> như nhau, đó là sự nguy hiểm của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lầm</span>.<br />
Vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> cạn kiệt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hy vọng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sợ hãi</span><br />
và sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ác cảm</span> của người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đố kỵ</span> ở bên trong<br />
đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương tự</span> như nhau, đó là sự nguy hiểm của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lầm</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Bài ca của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> này được hát bởi upasaka Dragpa Gyaltsen. Được đặt nền tảng trên cả hai sutra và tantra, bài ca đã được soạn thảo thành thơ và được tô điểm bằng thơ kệ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trang hoàng</span> để làm giảm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiêu mạn</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia tăng</span> lòng nhiệt thành của người sùng mộ. Như thế, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> về bài ca được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn tất</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Jetsun Dragpa Gyaltsen</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <a href="https://thuvienhoasen.org/p39a6268/1-jetsun-dragpa-gyaltsen-1147-1216-bai-ca-vi-dai-cua-kinh-nghiem">1 Jetsun Dragpa Gyaltsen (1147 – 1216) Bài Ca Vĩ Đại Của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kinh Nghiệm</span></a></em></p>
<p style="text-align: justify;"><i>[1]. Dharmata (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp Tánh</span>) <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối hậu</span> của Pháp, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực đoan</span>.</i><br />
<i>[2]. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sự tích</span> lũy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công đức</span>.</i><br />
<i>[3]. Madhyamaka (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Đạo</span>) là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết luận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">triết học</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhấn mạnh</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực đoan</span>.</i><br />
<i>[4]. Chittamatra (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Duy Thức</span>) là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết luận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">triết học</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhấn mạnh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tại</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối hậu</span> của tâm.</i><br />
<i>[5]. Trong bối cảnh này, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tại</span> đó là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực đoan</span>.</i><br />
<i>[6]. Ba bánh xe là quà tặng, người cho, và người nhận.</i><br />
<i>[7]. Hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> là sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> che ám của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhiễm ô</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tri kiến</span> của dharmakaya.</i><br />
<i>[8]. Trong bối cảnh này, nền tảng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên nhân</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên tục</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực đoan</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> tất cả các pháp trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luân hồi</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niết bàn</span>.</i><br />
<i>[9]. Mahamudra, hay “đại ấn” <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên quan đến</span> việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> sự hợp nhất của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong sáng</span> và rỗng không trong tướng bổn tôn trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> tantra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du già</span> bổn tôn cao nhất.</i><br />
<i>[10]. Trong bối cảnh của kiến (cái thấy), <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực tại</span> có nghĩa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản chất</span> của sự vật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực đoan</span>.</i><br />
<i>[11]. Trong bối cảnh của thiền, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> bổn nguyên là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> nền tảng của tâm khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực đoan</span>.</i><br />
<i>[12]. Trong bối cảnh của hành, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> có nghĩa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản chất</span> của sự vật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thoát khỏi</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực đoan</span>.</i><br />
<i>[13]. Dhyana (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thiền Na</span>) là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> tập trung.</i><br />
<i>[14]. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật quả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban sơ</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật tính không</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điều kiện</span> tỏa khắp tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>.</i><br />
<i>[15]. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phá hủy</span> có nghĩa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiêu diệt</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kẻ thù</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo vệ</span> là để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo vệ</span> những người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi theo</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span>.</i><br />
<i>[16]. Dharmakaya (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp Thân</span>) là kết quả của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự tích</span> lũy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span>, sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọn vẹn</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối thượng</span> của tâm. Rupakaya (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sắc Thân</span>) là kết quả của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự tích</span> lũy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công đức</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quy luật</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi Phật</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luân hồi</span>.</i><br />
<i>[17]. Dòng này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên quan đến</span> phép <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">loại suy</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> về cái ách bằng gỗ trôi bồng bềnh trên mặt biển và cơ hội hiếm hoi của con rùa biển nổi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lên mặt</span> nước mà đầu của nó chui lọt vào cái ách.</i><br />
<i>[18]. Takshaka, một trong tám <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">long vương</span>, trên đỉnh đầu có viên ngọc quý.</i><br />
<i>[19]. Ở đây, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tánh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span>.</i><br />
<i>[20]. “Thoát khỏi nguồn gốc” có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghĩa không</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điều kiện</span>.</i><br />
<i>[21]. “Huyễn thân chín muồi” <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> thân người như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết quả của nghiệp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chín muồi</span>.</i><br />
<i>[22]. “Phương pháp” <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương Thừa</span>.</i><br />
<i>[23]. “Sức nóng của cực lạc” <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên quan đến</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực lạc</span>, kết quả từ việc dấn thân vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> giai đoạn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du già</span> nội hỏa.</i><br />
<i>[24]. Ở đây, các pháp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> các sự vật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sở hữu</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc tính</span>.</i><br />
<i>[25]. Tripitaka (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tam Tạng Giáo</span> Điển) là kinh sách được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công nhận</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo Phật</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> ba phần: Vinaya (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Luật tạng</span>), Abhidharma (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Luận tạng</span>), và Sutra (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kinh tạng</span>).</i><br />
<i>[26]. Dharma (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>), ở đây <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học thuyết</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đức Phật</span>.</i><br />
<i>[27]. Hai dòng đầu của bốn dòng kệ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn cảnh</span> chung của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luân hồi</span>, hai dòng thứ hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> tự mình <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> khỏi các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn cảnh</span> đó.</i><br />
<i>[28]. Duhkha là từ tiếng Phạn có nghĩa “đau khổ”.</i><br />
<i>[29]. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> cao nhất là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế tục</span> cao nhất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> như giai đoạn thứ tư của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyên cần</span>, trực tiếp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi trước</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> của cái thấy.</i><br />
<i>[30]. Điều này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên quan đến</span> câu truyện của Ngài Sadaprarudita thấy trong bản dịch của Edward Conze, Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span> Của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trí Tuệ</span> Trong Tám Ngàn Câu Và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bài Kệ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tóm Tắt</span> (Bolina: Bốn Mùa, 1973), chương 30.</i><br />
<i>[31]. Siddhi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> cả hai siddhi thông thường (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giàu sang</span> v.v...) và siddhi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phi thường</span> (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn giác</span>).</i><br />
<i>[32]. Yama (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Dạ Ma</span> – Thần Chết) vua của cái chết.</i><br />
<i>[33]. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ẩn dụ</span> này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên quan đến</span> việc nói về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan điểm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa trên</span> khái niệm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết hợp</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cá nhân</span>.</i><br />
<i>[34]. Mara (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ma Vương</span>) <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế lực</span> gây <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chướng ngại</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span>. Thông thường họ được chia thành bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phạm trù</span>: mara của các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết tập</span> (uẩn), mara của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhiễm ô</span>, mara của sự chết, và mara là con trai của trời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dục giới</span> (Cupid).</i><br />
<i>[35]. Dòng truyền Kadampa được đặt nền tảng ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> bởi bậc thầy Jowo Atisha của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn độ</span> vào giữa thế kỷ thứ mười một. Dòng truyền này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> về sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền bá</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rộng rãi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Rèn luyện</span> Tâm, như Bảy Điểm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Rèn Luyện</span> Tâm và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> khác.</i><br />
<i>[36]. Ở đây, sức nóng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trình độ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> đầu tiên của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyên cần</span> trước khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> như lửa của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> của cái thấy.</i><br />
<i>[37]. Yogin là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span>.</i><br />
<i>[38]. “Mantra Bí mật” là tên thông thường cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> tantric trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo Tây Tạng</span>.</i><br />
<i>[39]. Abhisheka là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> đạt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một đời</span> bằng việc tạo ra căn nguyên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lệ thuộc</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> giữa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên nhân</span> – các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết tập</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên tố</span> và ayatana – và kết quả – các kaya (thân) và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> – và cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới thiệu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> vào Vajrayana.</i><br />
<i>[40]. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quan điểm</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> là những hướng dẫn và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> thấy trong Vajrayana.</i><br />
<i>[41]. Ở đây, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thế Tôn</span> của Mantra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bí Mật</span> là một bổn tôn; gặp gỡ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span> bổn tôn như Vajrayogini như sự hợp nhất của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong sáng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span>, hay Mahamudra.</i><br />
<i>[42]. “Pháp của nền tảng không nỗ lực” <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> của tâm, sự hợp nhất của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong sáng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span>.</i><br />
<i>[43]. Dzogchen, hay ati yoga (Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span>) là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> cao nhất của phái Nyingma thuộc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo Tây Tạng</span>.</i><br />
<i>[44]. Abhidharma (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">A Tỳ Đàm</span>) là các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh điển</span> và luận giảng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên quan đến</span> việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rèn luyện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span>.</i><br />
<i>[45]. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giả thuyết</span> không quan trọng là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thuật ngữ</span> trong phép <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">suy luận</span>.</i><br />
<i>[46]. Tạo “nối kết với Giáo Pháp” có nghĩa tạo ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span>.</i><br />
<i>[47]. Hợp nhất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du già</span> hợp nhất với một phối ngẫu đủ phẩm tính.</i><br />
<i>[48]. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sự giải thoát</span> có nghĩa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiêu diệt</span> khiến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát chúng</span> sinh xấu ác</i><br />
<i>[49]. Ở đây, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> lòng bi và động cơ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thích đáng</span>.</i><br />
<i>[50]. Đoạn này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> “các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại hành</span> giả” <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tỏ ra</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiên vị</span> với những người đem quà tặng và phớt lờ những người không có quà tặng.</i><br />
<i>[51]. Năm giác thức của thân và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý thức</span>.</i><br />
<i>[52]. “Giải thoát ngay tại chỗ của nó” có nghĩa “thoát khỏi các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cực đoan</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhị nguyên</span>”.</i><br />
<i>[53]. “Che đầu” <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> sự che mắt.</i><br />
<i>[54]. Akanistha là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi tịnh</span> độ của sambhogakaya (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Báo Thân</span>).</i><br />
<i>[55]. Cũng giống như cây chuối thì rỗng ruột hoặc không có lõi, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp tính</span> cũng không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực thể</span> bên trong.</i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/bai-ca-vi-dai-cua-su-kinh-nghiem/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đại thừa Pháp vương Sakya và lịch sử dòng truyền thừa Sakya</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/dai-thua-phap-vuong-sakya-va-lich-su-dong-truyen-thua-sakya/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/dai-thua-phap-vuong-sakya-va-lich-su-dong-truyen-thua-sakya/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 08 Apr 2022 13:53:04 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Lịch sử chung]]></category>
		<category><![CDATA[Sakya]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Sakya]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11023</guid>
		<description><![CDATA[Truyền thừa Sakya là một trong bốn truyền thống tâm linh vĩ đại tại Tây Tạng. Truyền thống này đóng một vai trò quan trọng trong sự trì giữ và phát triển giai đoạn tân Tantra vào thế kỷ thứ 11. Truyền thống Sakya được trì giữ và hoằng dương rộng lớn, sản sinh nhiều bậc thánh tăng, Thành tựu&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/dai-thua-phap-vuong-sakya-va-lich-su-dong-truyen-thua-sakya/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Truyền thừa Sakya là một trong bốn truyền thống tâm linh vĩ đại tại Tây Tạng. Truyền thống này đóng một vai trò quan trọng trong sự trì giữ và phát triển giai đoạn tân Tantra vào thế kỷ thứ 11. Truyền thống Sakya được trì giữ và hoằng dương rộng lớn, sản sinh nhiều bậc thánh tăng, Thành tựu giả và học giả vĩ đại. Trong các thế kỷ 13 và 14, những bậc trì giữ truyền thống Sakya đồng thời đảm nhận trọng trách chính trị tại Tây Tạng. Mặc dù địa vị chính trị của truyền thống này giảm dần qua các thế kỷ, nhưng những truyền thống tâm linh siêu việt này vẫn còn được trưởng dưỡng và trì giữ nghiêm mật tới tận ngày nay. Theo sử liệu của dòng Truyền thừa Sakya, sử liệu các vị vua đời Minh, Lịch sử Phật giáo Tạng truyền đời Minh, năm 1413 bậc lãnh đạo Tâm linh dòng Sakya đã đến Nam Kinh theo lời thỉnh cầu của triều Minh, chứng kiến sự thành tựu Pháp, đạo hạnh của ngài, Minh Thành Tổ đã cúng dường ngài danh xưng Đại Thừa Pháp Vương, có nghĩa là “vạn hạnh viên dung diệu pháp tối thắng chân như tuệ trí hoằng từ quảng tế hộ quốc diễn giáo chính giác Đại Thừa Pháp vương Tây thiên thượng thiện kim cương phổ ứng đại quang minh Phật lĩnh thiên hạ Thích giáo”.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Dòng truyền thừa Sakya và các bậc Thượng sư truyền thừa</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Truyền thừa Sakya khởi nguồn từ chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Nguồn giáo pháp quan trọng nhất của truyền thống Sakya truyền thừa từ Yogi vĩ đại người Ấn Độ, Virupa (thế kỷ thứ 9), một trong 84 Đại thành tựu giả và sự thành tựu vi diệu nhất thông qua đạo sư Gayadhara (994 - 1043) tới đệ tử người Tạng là Drokmi Lotsawa Shakya Yeshe (992 - 1072). Đạo sư Drokmi Lotsawa truyền thừa cho đệ tử của mình là Khon Konchok Gyalpo (1034 - 1102), ngài là tổ sư, bậc khai sáng truyền thống Sakya.</p>
<p style="text-align: justify;">Truyền thống Sakya bắt nguồn từ dòng tộc Khon, theo sử liệu của truyền thống Sakya, đây là dòng tộc bắt nguồn từ chư thiên. Khởi đầu từ Thượng sư Khon Konchok Gyalpo (1034 - 1102), bậc khai sáng truyền thống Sakya, dòng truyền thừa vẫn phát triển và được trì giữ nghiêm mật tới tận ngày nay.</p>
<p style="text-align: justify;">Truyền thừa giáo pháp của Đại Thành tựu giả Virupa Ấn Độ vẫn được tiếp tục trì giữ thông qua đạo sư Khon Konchok Gyalpo và tiếp đến xuống Pháp tử của ngài là Sachen Kunga Nyingpo (1092 - 1158). Đạo sư Kunga Nyingpo trong đời đã hiển thị những năng lực và sự thành tựu tâm linh siêu việt, ngài trì giữ các dòng truyền thừa Tantra và Hiển giáo. Ngài có bốn Pháp tử là Kungabar, Sonam Tsemo, Jetsun Dakpa Gyeltsen và Palchen Rinpoche. Sonam Tsemo (1142 - 1182), Pháp tử thứ hai là một đại học giả ngay ở tuổi 16 và ngài có nhiều linh kiến thanh tịnh về các Bản tôn trí tuệ cùng rất nhiều đệ tử thành tựu. Đạo sư Jetsun Dakpa Gyeltsen (1147 - 1216), Pháp tử thứ ba đã hiển thị những năng lực tâm linh ngay từ khi còn trẻ tuổi. Ngay khi 11 tuổi, ngài đã truyền trao quán đỉnh Hỷ Kim cương và trở thành bậc trì giữ chính của dòng truyền thừa Sakya.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm trong số những bậc Long tượng của truyền thống Sakya là bậc Thượng sư trứ danh Sachen Kunga Nyingpo (1092 - 1158), Loppön Sonam Tsemo (1142 - 1182), Jetsun Drakpa Gyaltsen (1147 - 1216), Sakya Pandita (1182 - 1251), và Drogon Chogyal Phagpa (1235 - 1280). Các ngài được tôn kính là năm vị tổ sư của truyền thống Sakya.</p>
<p style="text-align: justify;">Tiếp theo năm vị Tổ sư là Sáu Ornaments của Tây Tạng cũng là những bậc thầy tâm linh nổi tiếng của truyền thống Sakya.</p>
<p style="text-align: justify;">Sáu Tràng hoa của xứ Tạng bao gồm ngài Yakton Sengey Phel và Rongton Sheja Künrig, những luận sư trứ danh Kinh thừa; Thượng sư Ngorchen Kunga Zangpo và Zongpa Kunga Namgyal, hai bậc thông tuệ Mật điển (Tantra); Thượng sư Gorampo Sonam Sengey và Shakya Chogden, hai bậc thông tuệ cả kinh điển và Tantra. Đạo sư Gorampa Sonam Sengey, hoằng dương môn logic trong truyền thống Sakya.</p>
<p style="text-align: justify;">Pháp tử của Palchen Rinpoche là ngài Sakya Pandita Kunga Gyeltsen (1182 - 1251). Ngài là bậc thông tuệ triết học, logic, ngôn ngữ Sanskrit, vũ trụ học, thơ ca, nghệ thuật Phật giáo và triết học của các nhiều truyền thống tôn giáo khác. Ngài đã tham học dưới sự hướng đạo của rất nhiều đạo sư vĩ đại Ấn Độ, Nepal, Kashmiri và Tây Tạng, và trở thành một trong những học giả vĩ đại nhất trong lịch sử Phật giáo Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Các nhánh chính của truyền thừa Sakya</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Không giống như những truyền thống khác của Phật giáo Tạng truyền, một số lượng lớn các nhánh đã phát triển trong truyền thống Sakya. Các truyền thừa giáo pháp dần được các đệ tử thiết lập như đạo sư Ngorchen Kunga Zangpo (1382 - 1457) và các bậc thầy tiếp nối mạch giáo pháp này như ngài Konchok Lhundrup, Thartse Namkha Palsang và Drubkhang Palden Dhondup được biết đến là truyền thừa Ngor. Nhánh truyền thừa này chú trọng nhiều tới truyền thống tự viện và những pháp thực hành giới luật. Truyền thừa từ đạo sư Tsarchen Losel Gyatso (1502 - 1556) là truyền thừa Khẩu truyền Tsar, bao gồm các học thuyết bên ngoài, bên trong, bí mật như Mahakala, Vajrayogini, Dzambala và nhiều Bản tôn khác. Một truyền thống quan trọng nữa là Dzongpa được kiến lập bởi Đạo sư Dzongpa Kuna Namgyal (1432 - 1496). Hình ảnh minh họa cho sự phát triển này là dòng truyền thừa Sakya bắt đầu từ dòng dõi Khon cao quý như một thân cây, các truyền thừa Ngorpa và Tsarpa như những nhánh cây bắt nguồn từ thân cây tỏa ra các phương hướng khác nhau.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kinh điển và giáo pháp của truyền thừa Sakya</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Ngoài dựa trên những giáo pháp Hiển giáo là nền tảng tu tập của truyền thừa, truyền thừa Sakya có nhiều những trước tác của những bậc Thượng sư Sakya, khởi nguồn từ những Đại Thành tựu giả Ấn Độ cũng như những trước tác của các Thượng sư như Sachen Kunga Nyingpo (1092 - 1158), Sonam Tsemo (1142 - 1182), Drakpa Gyeltsen (1147 - 1216), Sakya Pandita Kunga Gyeltsen (1182 - 1251) và Drogon Chogyal Phakpa (1235 - 1280) – Năm vị Tổ sư của truyền thống Sakya - và nhiều thành tựu giả và học giả khác của truyền thống.</p>
<p style="text-align: justify;">Hai trong số những luận sư trứ danh nhất của truyền thống Sakya là Gorampa Sonam Senge (1429 - 1489) và Panchen Shakya Chokden (1428 - 1507). Những trước tác của các đạo sư này bao gồm những luận giảng về Kinh điển Hiển giáo và Mật Tạng đều được tu học trong tất cả các truyền thừa Phật giáo Tạng truyền khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Giáo pháp và nghi quỹ nền tảng của truyền thống Sakya là "Lamdre (Lam/bras)" hay "Đạo và Quả". Về cơ bản, quan điểm triết học thể hiện trong "Đạo và Quả" là sự "Bất khả phân giữa Luân hồi và Niết Bàn”. Theo quan kiến này, dòng tâm thức là căn bản tạo nên Luân hồi hay Niết bàn. Khi bị che chướng, dòng tâm sẽ hiện khởi tướng trạng Luân hồi, và khi không bị vướng mắc bởi những nhiễm ô, dòng tâm sẽ hiện khởi tướng Niết bàn. Mỗi hành giả phải nỗ lực để chứng đắc cảnh giới bất khả phân căn bản này thông qua thiền định.</p>
<p style="text-align: justify;">Lamdre là một trong những pháp thiền định toàn diện nhất và có cấu trúc hệ thống nhất trong truyền thống Kim cương thừa, hợp nhất toàn bộ các thứ lớp tu tập và quả vị của Tantra tối thượng. Xét ở phương diện tuyệt đối, pháp thực hành này cho phép hành giả chứng đạt cảnh giới Bản tôn Hỷ Kim cương (Hevajra), một trong những Bản tôn chính của truyền thống Sakya. Truyền thống giáo pháp thâm diệu này bắt nguồn từ đại Thành tựu giả Ấn Độ Virupa (thế kỷ thứ 9), Đạo sư Avadhutipa, Đạo sư Gayadhara (994 - 1043), và Đạo sư Shakyamitra (một đệ tử của Bồ tát Long Thọ), ngài đã truyền trao giáo pháp xuống đại dịch giả Drokmi Lotsawa. Dòng truyền thừa không gián đoạn của những bậc kim cương thượng sư vẫn tiếp tục được trì giữ nghiêm mật đến ngày nay. Truyền thống giáo pháp Lamdre đã được Đạo sư Muchen Sempa Chenpo, một đệ tử của đạo sư Ngorchen Kunga Sangpo (1382 - 1457) phát triển thành hai nhánh: Thứ nhất: truyền trao riêng cho từng đệ tử thích hợp. Thứ hai, truyền trao cho đại chúng. Kể từ đó, giáo pháp Lamdre lần đầu tiên đã tới miền đất Tuyết và được truyền thừa không gián đoạn qua thế hệ các vị đạo sư tới ngài Sakya Trizin đời thứ 41, bậc trì giữ bảo tòa hiện đời của truyền thống Sakya.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngoài ra truyền thống Sakya cũng thực hành các pháp Kim Cương thừa khác như: Tantra Hỷ Kim cương (Hevajra), Tantra Thắng lạc Kim cương (Chakrasamvara), Mahakala và v.v… Các Đại học tự viên của truyền thừa nghiên cứu Mười tám chính luận như: Kinh Bát nhã, Luận Trung Quán, Vi Diệu Pháp, Logic…</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Trọng trách chính trị của truyền thừa Sakya tại Tây Tạng từ thế kỷ 13 đến cuối thế kỷ 14</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Trọng trách chính trị của truyền thừa Sakya bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ 13. Vào năm 1240 người cháu nội của Thành Cát Tư Hãn là Hoàng tử Godan đã ra lệnh cho quân đội tấn công xứ Tạng. Khi đang tiến hành chiến dịch này, vị hoàng tử đã mong muốn tìm cầu sự hướng đạo của một Đạo sư Phật giáo trứ danh. Một số vị tướng của ông đã gửi thông tin rằng có ba Lạt ma trứ danh tại xứ Tạng. Thượng sư của tự viên Drikhung là những bậc có nhiều bảo vật nhất; Thượng sư của tự viện Taklung hòa hợp nhất; và các Thượng sư tự viện Sakya có năng lực tâm linh nhất. Hoàng tử Godan sau đó đã gửi thư thỉnh mời và phẩm vật cúng dường lên bậc Thượng sư Kunga Gyaltsen, thỉnh cầu ngài tới nơi chốn của mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Đạo sư Kunga Gyaltsen (1182 - 1251) được tôn kính là Sakya Pandita bởi sự thông tuệ về ngôn ngữ Sanskrit, đã chấp nhận lời thỉnh mời này. Ngài rời Sakya vào năm 1244 tới khu vực Kokonor, nơi Hoàng tử Godan cắm trại. Đạo sư Sakya Pandita đã đưa cùng ngài trên hành trình hai người cháu là Phagpa Lodro Gyaltsen lên mười tuổi và Drogon Chakna lên sáu tuổi. Các đại diện Mông Cổ của Godan đã hộ tống theo ngài trong suốt hành trình. Đạo sư Sakya Pandita đã truyền trao nhiều giáo pháp trên suốt hành trình tới khu vực Kokonor. Hành trình đòi hỏi một thời gian dài, bởi vậy ngài đã gửi cho hai người cháu đi trước tới Kokonor. Trước khi ngài tới khu vực cắm trại của Godan năm 1247, hai người cháu nhỏ tuổi của ngài cũng đã cảm hóa rất nhiều người Mông Cổ tại đây. Theo các sử liệu Tây Tạng, Đạo sư Sakya Pandita đã gặp Hoàng tử Godan tại Lanchow, thủ phủ Kansu.</p>
<p style="text-align: justify;">Đạo sư Sakya Pandita đã truyền trao Phật pháp cho Godan và trong một lần ngài đã thuyết phục ông từ bỏ ý định dìm chết rất nhiều Trung Quốc dưới những dòng sông. Godan có ý định này bởi vì lo ngại số lượng người Trung Quốc đông khi ấy luôn luôn đe dọa quyền lực của ông. Đạo sư Sakya Pandita đã dạy rằng, việc làm đó trái với giáo pháp của đức Thế tôn. Đạo sư Sakya Pandita ở lại nơi cư trú của Godan trong vài năm, trong thời gian này ngài truyền trao rất nhiều giáo pháp, khai thị cho Godan và các vị tướng của ông. Ngài chính là bậc đã đặt nền tảng cho Phật giáo nơi đây phát triển rực rỡ trong nhiều thế kỷ. Để tri ân giáo pháp mà Đạo sư truyền trao, Hoàng tử Godan đã thỉnh cầu Đạo sư đảm nhận trọng trách chính trị thế tục toàn bộ 13 vùng của trung tâm Tây Tạng. Ông đã gửi một trước tác của mình tới người Tạng, có tựa đề "Thub-pai Gòn-sal", có nghĩa là "Tâm nguyện của Đức Phật". Biết rằng mình không thể thọ hơn được, ông đã gửi trước tác này như món quà Pháp cho xứ Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1251, đạo sư Sakya Pandita đã viên tịch ở tuổi 70. Hoàng tử Godan qua đời sớm sau đó và hoàng tử Hốt Tất Liệt (Kublai) tiếp ngôi, ông được biết đến là Sechen của người Tạng. Năm 1253, Hốt Tất Liệt đã thỉnh mời đạo sư Chogyal Phagpa mười chín tuổi đến hoàng cung của mình và ông đã vô cùng kính sợ trước sở học uyên bác của vị thánh tăng trẻ tuổi, ngài đã hiển bày trí tuệ siêu việt trước các câu hỏi khó. Hốt Tất Liệt sau đó đã thỉnh cầu ngài truyền trao những khai thị tâm linh nhưng vị thánh tăng trẻ tuổi đã dạy rằng, trước khi ông có thể thụ nhận giáo pháp tâm linh như vậy, ông cần phải đỉnh lễ trước ngài, bậc đạo sư tâm linh của ông trong bất kỳ lần gặp gỡ nào và bảo tòa của ngài phải ở phía trên, cao hơn ngai vàng của hoàng đế. Hốt Tất Liệt trả lời rằng ông chưa thể làm công khai như vậy được trước người dân hay ở nơi công cộng, vì có thể sẽ đánh mất địa vị và quyền lực của mình. Một số nguồn tư liệu khác viết rằng, Hốt Tất Liệt đã đồng ý đặt ngai vàng của mình thấp hơn bảo tòa của bậc Đạo sư khi ông thụ nhận giáo pháp từ ngài và đặt ngang bằng nhau khi ông giải quyết công việc triều đình.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo truyền thống, Thượng sư Phagpa đã truyền trao quán đỉnh và luận giảng giáo pháp cho Hốt Tất Liệt và hai mươi lăm vị quan của ông trong ba lần. Sau lần đầu tiên, Hốt Tất Liệt đã thỉnh cầu và cúng dường ngài đảm nhận trọng trách bậc lãnh đạo tâm linh và thế tục 13 địa hạt (Trikhor Chusum) trung tâm Tây Tạng. Sau lần thứ hai, Hốt Tất Liệt đã cúng dường ngài xá lợi của Đức Phật và thỉnh cầu ngài đảm nhận trọng trách bậc lãnh đạo tâm linh và thế tục toàn bộ ba khu vực Tây Tạng (chol-ska-sum). Khi Hốt Tất Liệt trở thành Khan vào năm 1260, sau lần nhận quán đỉnh và giáo pháp lần thứ ba, ông đã cúng dường đạo sư Phagpa danh xưng "bậc vua Pháp”. Trong cùng năm, ông đã thỉnh cầu đạo sư Phagpa cử hành và chủ trì nghi thức cho buổi lễ đăng quang của mình. Lịch sử ghi lại rằng, mối quan hệ giữa bậc thượng sư với người đệ tử, giữa thượng sư với người bảo trợ là các Khan Mông Cổ được ví như “mặt trời và mặt trăng trên bầu trời".</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1265 Đạo sư Phagpa trở về Tây Tạng lần đầu tiên. Tại trung tâm tự viện truyền thống Sakya ngài đã được cung đón nồng nhiệt và được tôn kính trọng thị bởi các trưởng tộc Tây Tạng. Đạo sư Chogyal Phagpa đã thiết lập một hệ thống chính quyền quản lý tập trung ở Tây Tạng. Một chức danh là quan Thượng thư (Ponchen), có trọng trách quản lý chung toàn bộ công việc chính quyền. Dưới chức danh này là 13 tộc trưởng (Tripons), những vị quan trực tiếp quản lý địa hạt riêng của mình. Theo quy định, quan thượng thư sẽ được bổ nhiệm bởi chính đạo sư Phagpa và được đặt danh hiệu là Ponchen Shakya Sangpo. Theo phương thức này ngài Chogyal Phagpa đã hợp nhất toàn bộ xứ Tạng dưới sự điều hành của Chính quyền trung ương.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhận lời thỉnh mời của Hốt Tất Liệt, năm 1268 đạo sư Chogyal Phagpa trở lại hoàng cung Khan tại Mông Cổ. Với sự thông tuệ của mình, ngài đã gửi cho Khan một bộ chữ viết mới mà ngài đã soạn cho người Mông Cổ. Hốt Tất Liệt đã vô cùng hoan hỷ và hệ thống chữ viết mới được biết đến là "Phagpa Script" đã được chính thức được đưa vào sử dụng. Khan đã đỉnh lễ cúng dường đạo sư Phagpa tôn xưng "Pháp Tử các Bản tôn Ấn Độ”, "Pháp chủ tôn quý của Đất Trời”, “Bậc Sáng tạo chữ viết”, "Sứ giả của hòa bình trên toàn thế giới", và "Bậc Sở hữu Ngũ Minh”. Thượng sư Phagpa viên tịch tại Sakya năm 1280. Chogyal Phakpa là bậc đạo sư đầu tiên trong lịch sử Tây Tạng đảm nhận trọng trách bậc lãnh đạo cả về tâm linh và thế tục. Người em của ngài là đạo sư Chakna sau đó đã tiếp tục đảm nhận trọng trách này, tiếp đến thế hệ các lãnh đạo của truyền thừa đảm nhận trọng trách lãnh đạo Tây Tạng trong hơn một trăm năm.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào năm bậc Thượng sư Phagpa viên tịch, Hốt Tất Liệt cuối cùng đã chinh phục toàn cõi Trung Quốc, và đã lên ngôi hoàng đế của Trung Quốc. Đạo sư Dharmapala, Pháp tử của ngài Drogon Chakna được tôn xưng và nắm giữ trọng trách "Tishri" vào năm 1282. Đạo sư Tishri Kunga Lodro Gyaltsen (1299 - 1327) đã kiến lập bốn Hoàng cung (pho Brang): Zhithog, Rinchen Gang, Lhakhang, và Ducho, trong số đó ngày nay chỉ còn hai hoàng cung vẫn còn tồn tại.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào thế kỷ thứ mười lăm, hoàng cung Ducho được chia thành hai là (1) Dolma Phodrang và (2) Phuntsok Phodrang. Bậc lãnh đạo hai hoàng cung này là ngài Sakya Trizin.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1287, ngài đã tới xứ Tạng nhưng đã viên tịch trong hành trình dài. Năm 1295 Hốt Tất Liệt qua đời. Trong suốt thời gian của đạo sư Sakya Pandita và thế hệ các đạo sư sau đó, chính quyền Tây Tạng được đặt dưới sự quản lý của người Tạng. Các mối quan hệ giữa nhà cầm quyền Mông Cổ và các bậc Thượng sư Tây Tạng không nên được nhìn, xem xét ở phương diện chính trị thế tục. Tư duy và suy xét một cách sâu sắc vào thái độ, sự trân quý của các Khan tới các bậc đạo sư của mình như Chogyal Phagpa, chúng ta thấy, ông đã thành tâm thỉnh cầu, cúng dường các ngài đảm nhận trọng trách bậc lãnh đạo tâm linh và thế tục tại xứ Tạng. Mối quan hệ giữa Bậc Thầy - Đệ tử, người bảo trợ được thiết lập giữa các bậc thầy Tạng và người Mông cổ dựa vào sự trân quý, thực tâm thực hành giáo pháp vì lợi ích chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi Hốt Tất Liệt qua đời năm 1295, quyền lực của người Mông Cổ bắt đầu suy giảm tại Trung Quốc. Năm 1305 Đạo sư Dagnyi Zangpo Pal đảm nhận trọng trách bậc lãnh đạo tâm linh truyền thống Sakya trong mười ba năm. Hệ thống quản lý đất nước dưới sự điều hành bởi các Ponchen và Tripons (quan thượng thư và hạt chủ) được tiếp tục trong thời gian này. Khi trong giai đoạn chính quyền dưới sự điều hành của Thượng sư Ponchen Gawa Zangpo và Sonam Gyaltsen, trọng trách chính trị của truyền thống Sakya bắt đầu suy yếu. Hầu hết các bậc Thượng sư truyền thống Sakya các đời kế tiếp đều tập trung nhiều hơn vào trọng trách tâm linh và để lại trọng trách nhiều hơn cho các đời quan Thượng thư.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Những tự viện chính của truyền thừa Sakya</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Các tự viện chính của truyền thống Sakya là Sakya Lhakhang Chenmo, được thành lập bởi đạo sư Khon Konchok Gyelpo, nằm ở khu vực Tsang trung tâm Tây Tạng. Tự viện Ngor E-Vam Choden được thành lập bởi đạo sư E-Vam Kunga Zangpo, đây là trụ xứ chính của dòng Ngor Sakya ở miền trung Tây Tạng. Tự viện Dar Drangmoche, được thành lập bởi đạo sư Tsarchen Losal Gyatso, là trụ xứ chính của tự viện cũng nằm trong vùng Tsang.</p>
<p style="text-align: justify;">Truyền thống Sakya có các tự viện lớn khác như: Phenpo Nalanda trong khu vực Phenpo miền trung Tây Tạng, được xây dựng bởi các học giả trứ danh Rongton Sheja Kunrig, và tự viện Tsedong Sisum Namgyel, được thành lập bởi đapk siw Namkha Tashi Gyeltsen. Những tự viện lớn khác như tự viên Dhondup Ling, được thành lập bởi đạo sư Dagchen Sherab Gyeltsen; tự viện Lhundup Teng được thành lập bởi đạo sư Thangton Gyalpo, trong khu vực Derge tỉnh Kham miền đông Tây Tạng; tự viện Dzongsar - trụ xứ của Rinpoche Dzongsar Khyentse; và tự viện Deur Chode, được kiến lập bởi đạo sư Chodrak Sangpo khu vực Amdo tỉnh Kham miền đông Tây Tạng. Ngoài ra cũng có nhiều tự viện khác tại vùng Tây Tây Tạng, Trung Quốc và Mông Cổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Các tự viện lớn ngày nay của dòng tại Ấn Độ bao gồm tự viện Tsechen Tenpai Gatsal ở Rajpur, bang Uttar Pradesh, được thành lập bởi ngài Sakya Tridzin; tự viện Ngor E-Vàm Shedrup Dhargye Ling ở Bir, bang Himachal Pradesh; tự viện Tsechen Dhongag Chöling ở Mundgod, bang Karnataka; và tự viện Ngor E-Vam Choden ở Dehradun, bang Uttar Pradesh; tự viện Tashi Rabten Ling tại Lumbini, Nepal, và nhiều tự viện ở Ấn Độ, Nepal, và nhiều nước trên thế giới.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Bậc lãnh đạo hiện đời của truyền thừa Sakya</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Bậc lãnh tụ của dòng truyền thừa Sakya hiện đời là ngài Sakya Trizin (Ngakwang Kunga Thekchen Palbar Samphel Ganggi Gyalpo), đản sinh năm 1945 tại Tsedong, Tây Tạng thuộc dòng dõi bộ tộc Khon...</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài hiện đang an trú tại Rajpur, Ấn Độ và du hóa, hoằng dương giáo pháp dòng truyền thừa Sakya rộng khắp nhiều nơi trên thế giới làm lợi ích vô số hữu tình. Ngài có hai Pháp tử là Ratna Vajra Rinpoche (đản sinh năm 1974) và Jnana Vajra Rinpoche (đản sinh năm 1979).</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: La Sơn Phúc Cường</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <a href="https://thuvienhoasen.org/a24057/dai-thua-phap-vuong-sakya-va-lich-su-dong-truyen-thua-sakya">Đại thừa Pháp vương Sakya và lịch sử dòng truyền thừa Sakya</a></em></p>
<div class="ddict_btn" style="top: 6555px; left: 199.109px;"><img src="chrome-extension://bpggmmljdiliancllaapiggllnkbjocb/logo/48.png" alt="" /></div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/dai-thua-phap-vuong-sakya-va-lich-su-dong-truyen-thua-sakya/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lịch sử của phái Sakya</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/lich-su-cua-phai-sakya/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/lich-su-cua-phai-sakya/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 18 Apr 2018 07:12:41 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Lịch sử chung]]></category>
		<category><![CDATA[Sakya]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=8495</guid>
		<description><![CDATA[Vị vua đầu tiên của Tây Tạng là Nyatri Tsanpo, người mà một số học giả nói là đã sinh năm 126 trước công nguyên. Triều đại của ông là dấu ấn rõ ràng của Tây Tạng nguyên thủy (Bod) như một nước có chủ quyền. Trong lúc không có nhiều người biết về Tây Tạng trong giai đoạn này, các ghi chép thời xưa trình bày người Tây Tạng am tường về y học, thiên văn, và nhiều nghệ&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/lich-su-cua-phai-sakya/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Vị vua đầu tiên của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> là Nyatri Tsanpo, người mà một số <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> nói là đã sinh năm 126 <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trước công nguyên</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Triều đại</span> của ông là dấu ấn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rõ ràng</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên thủy</span> (Bod) như một nước có chủ quyền. Trong lúc không có nhiều người biết về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> trong giai đoạn này, các ghi chép <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời xưa</span> trình bày người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">am tường</span> về y học, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiên văn</span>, và nhiều nghệ thuật thiết yếu khác.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới thiệu</span> đến xứ sở này trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">triều đại</span> của vị vua thứ hai mươi tám, Lha Tho Tho Ri (sinh năm 254 <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sau công nguyên</span>).</p>
<p style="text-align: justify;">Gần bốn trăm năm sau, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự kiện</span> quan trọng chính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kế tiếp</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo Phật</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> là sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> của bộ ba ông và cháu (mes dbon rnams gsum). Vị đầu tiên là Srong Tsan Gampo (617-650 <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sau công nguyên</span>), vị vua thứ ba mươi lăm. Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">triều đại</span> Ngài, kéo dài từ năm 629 đến lúc Ngài chết vào năm 650, Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span>sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo trợ</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàng gia</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> những ngôi chùa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo</span> đầu tiên của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>. Ngài được xem là thân lưu xuất của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát</span> Avalokiteshvara (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quán Tự Tại</span>).</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kế tiếp</span> là vị vua thứ ba mươi tám, Trisrong Detsen (740-798 <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sau công nguyên</span>), Ngài đóng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vai trò</span> quan trọng nhất trong việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới thiệu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo</span> đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> và được xem là thân lưu xuất của Đức Manjushri (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Văn Thù</span>). Ngài thỉnh cả hai vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu viện </span>trưởng Shantarakshita và Padmasambhava đến thăm. Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">việc làm</span> như thế, Ngài một mặt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn kính</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu viện</span> và những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả </span>tantric áo choàng-trắng về mặt khác của triều đình Ngài, giữ tầm cỡ cả hai sangha ngang bằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">với nhau</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cuối cùng</span>, Tritsug Detsen (794-839) cũng được biết như Tri Ralpachan, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> vị vua thứ bốn mươi bốn trong năm 817. Con trai nhỏ nhất của Tride Srongtsen và cháu của Trisrong Detsen, Ngài chịu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trách nhiệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thuật ngữ</span> học về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>, được các dịch <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giả sử</span> dụng.</p>
<p style="text-align: justify;"><b><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Lịch sử</span> của Khon</b></p>
<p style="text-align: justify;">Dấu vết Khon <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên thủy</span> cho một bộ trời được gọi là wosel lha (“chư thiên của tánh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quang minh</span> trong sáng”). Các biên niên sử của dòng truyền Khon (gdung rabs) trích dẫn từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác giả</span> Ngorchen Konchog Lhundrup, thế kỷ thứ mười lăm:</p>
<p style="text-align: justify;">Dòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa thân</span> của Manjushri,<br />
Sakyapa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quang vinh</span>, bắt đầu trong xứ sở các vị trời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quang minh </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong sáng</span>.<br />
Có ba anh em, Chiring, Yuring, và Yuse [Use].<br />
Yuse, được tạo ra là vua của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con người</span>, cha của bốn con trai.<br />
Anh trai Ngài, Yuring đến để giúp đỡ.<br />
Con trai của Yuring và Muza Dembu<br />
là nhóm của bảy maza. Sáu anh em lớn tuổi nhất<br />
với cha họ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở về</span> vùng đất của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chư thiên</span>.<br />
Người con trai nhỏ nhất, Masang Chije,<br />
và Thogcham Wurmo có một con trai, Pawo Tag.<br />
Ngài và người vợ rồng của Ngài, Trama, có một con trai<br />
được gọi là Lutsa Tagpo Woechan.<br />
Lutsa và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phu nhân</span> Mon, Tsomo Gyal,<br />
trong lúc sống <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">với nhau</span>, có một con trai<br />
vào lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phân chia</span> giữa đá phiến và cỏ,<br />
nên Ngài có tên là Yahpang Kyes,<br />
một vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">anh hùng</span> mà người khác không thể đánh bại.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Manjushri được nói là đã lưu xuất ra ba vị trời của tánh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quang minh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong sáng</span> – Chiring, Yuring, và Yuse – để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích </span>người khác. Điều quan trọng là những vị trời này đã được nghĩ là sự lưu xuất từ Đức Manjushri, vì tất cả phái nam của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dòng dõi </span>Khon cũng được xem là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa thân</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hậu duệ</span> của ba vị trời.</p>
<p style="text-align: justify;">Ba anh em <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi xuống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi người</span>, ở đây họ được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">yêu cầu</span> cai quản <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhân loại</span>. Yuse, người trẻ nhất được đề bạt làm vua. Ông sinh bốn con trai, được biết như bốn anh em Se Chi Li. Cha và con cùng nhau chiến đấu với mười tám bộ lạc chính của Dong, một trong bốn thị tộc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên thủy</span> của người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>.1 Với sự giúp đỡ của Yuring, anh trai của Yuse, họ chiến thắng thị tộc Dong và làm những thành viên của thị tộc này thành nước chư hầu.</p>
<p style="text-align: justify;">Yuring cưới con gái của Mu,2 Muza Dembu, các con trai của họ là bảy anh em Masang, sáu người trong họ quay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở về</span> xứ sở của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chư thiên</span> cùng với cha. Masang Chije, người trẻ nhất ở lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế gian</span>. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lập gia đình</span> với Thogcham Wurmo, con gái của Thoglha Woedchan, và họ có một con trai được biết là Thogtsad Bangpo Tag.</p>
<p style="text-align: justify;">Thogtsad cưới Lucham Drama, con gái của một Naga (Rồng) sinh ra con trai có tên là Lutsa Tagpo Woechan, Lutsa và một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phu nhân</span> Mon,3 Tsomo Gyal <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lấy nhau</span>; con trai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy nhất</span> của họ sinh ra trên đỉnh núi, nên ông được đặt tên là Yahpang Kyes (“Sinh Ra tại Dải Phân Cách Giữa Đá Phiến Và Cỏ”). Theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vũ trụ</span> học <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chư thiên</span> sống trên cao nhất trên đỉnh ngọn núi, trong lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con người</span> sống ở phía dưới.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Khon trong Giai Đoạn Có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Uy Quyền</span> Lớn</b></p>
<p style="text-align: justify;">Bản <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mô tả</span> của Konchog Lhundrup <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span>:<br />
Sau đó, giết chết người Srinpo tên là Kyareng Khragmey và<br />
cướp vợ ông ta, Yahdrum Silima,<br />
Ngài [Yahpang] lấy cô làm vợ.<br />
Họ có một con trai tên Khonpar Kye.<br />
Con trai của Khonpar Kye và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phu nhân</span> Chambu Dron của Chan,<br />
đẹp trai và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thông tuệ</span>, hiếm có trong xứ sở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con người</span>.<br />
Tên là Khonpa Jegung Tag,<br />
Ngài được biết như Khonton Palpoche, người đã đến Nyantse.</p>
<p style="text-align: justify;">Yahpang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đánh nhau</span> với một Srinpo tên Kyareng, giết chết ông ta và cưới vợ của ông ấy. Bởi vì sự hợp nhất của họ sinh ra đứa con của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mối thù</span> hận giữa trời (lha) và quỷ (srin po), đứa bé được đặt tên là Khonpar Kye (“Sinh ra trong mối Hận thù”) đây là nguồn gốc của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu</span> thị tộc Khon.</p>
<p style="text-align: justify;">Khonpar Kye, con của trời, người, và quỷ, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lập gia đình</span> với một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phu nhân</span> từ một bộ trời thấp hơn của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, Tsan. Tên bà là Chambu Dron. Con trai của họ được gọi là Khonton Palpoche (Vị Thầy Khon làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Gia Tăng</span> Tài Bảo”) vì sau khi được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bổ nhiệm</span> thành một trong những bộ trưởng thân cận của triều đình vua Trisong Detsan, ông đã làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia tăng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tài sản</span> cho nhà vua.</p>
<p style="text-align: justify;">Khonton Palpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lập gia đình</span> với Lang Zang Nechung, em gái của dịch giả Lang Khampa. Bản <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mô tả </span>thay đổi khác nhau là họ có hai hay bốn con trai, nhưng phần lớn những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> sau này tin rằng là có hai; người anh là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại học giả</span> Khon Lotsawa Lu’i Wangpo, và người em là Khon Dorje Rinchen. Ngài Jetsun Dragpa Gyaltsen chú thích trong Biên niên sử về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dòng dõi</span> Khon (‘khon gyi gdung rabs), “Khon Lu’i Wangpo Srungs là người đầu tiên trong bảy người được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thử thách</span>.4 Em trai của Khon Dorje Rinchen <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của bậc Thầy Padmasambhava và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> một tantrika”.</p>
<p style="text-align: justify;">Khon Lu’i Wangpo được thụ phong bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát</span> Shantarakshita và được ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu</span> Nagendrarakshita (Lu’i Wangpo Srungs). Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> một dịch giả khéo léo, làm việc đầu tiên với những dịch giả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ </span>Devachandra, Jnanagarbha, và Vidyakarasimha, và nhận được những hướng dẫn từ Đức Padmasambhava (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Liên Hoa Sanh</span>).</p>
<p style="text-align: justify;">Người con trai nhỏ hơn, Khon Dorje Rinchen, là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> trực tiếp của bậc Thầy Padmasambhava; Ngài nhận được nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Mantra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bí mật</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rèn luyện</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> tất cả dạng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span>. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lập gia đình</span> với một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phu nhân</span> của Dro, Yanglon Kyid, và họ có bảy con trai.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm anh em rời khỏi nhà họ ở Nyantse và sinh sống trong nhiều vùng khác nhau ở phía tây của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, nhưng người nhỏ nhất ở lại xứ sở của cha mình. Người con trai thứ sáu, Sherab Yontan, sinh sống ở Thung lũng Yah. Ông có hai con trai, và người con trai lớn, Yontan Jungney là người nắm dòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền Giáo</span> Pháp của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tổ tiên</span> Khon truyền lại.</p>
<p style="text-align: justify;">Yontan Jungney có ba con trai, và người con lớn nhất, Tsultrim Gyalpo ở lại Drompa và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>. Ông cũng có ba con trai: người con cả và con út ở lại Thung lũng Yah. Người em giữa tên là Tsugtor Sherab, hay Dorje Tsugtor và ông có bảy con trai.. cùng với người em của Tsugtor Sherab, họ được biết như Nhóm Tám người của Khon.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Anh cả</span> của bảy anh em, Gethong có một con trai gọi là Khon Balpo, đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Vajrakilaya ở hang động Tsamo Rong. Ông <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> và dùng mười hai Tenma như những người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phục vụ </span>ông.</p>
<p style="text-align: justify;">Con trai của Khon Balpo là Sakya Lodro, người cai quản Thung lũng Jyaru, vùng thượng và hạ của Shab, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tổ tiên</span> giữ Thung lũng Yah. Ông có hai con trai: Khonrog Sherab Tsultrim và Khon Konchog Gyalpo. Người con cả, Sherab Tsultrim thọ nguyện của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">độc thân</span>; hạnh của ông <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span>, và ông không có con. Ông thật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiện xảo</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tổ tiên</span> Khon và đạt các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> của Vajrakilaya. Ông <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năng lực</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phi thường</span> và khả năng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span> những phép <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">huyền diệu</span>, ông <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên thâm</span> cả hai tantra mới và cổ xưa. Đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Yangdag và Vajrakilaya, Sherab Tsultrim đạt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> và có thể phô bày <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năng lực</span> của ông đến các vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hộ pháp</span> Karmo Nyida và Dudgon.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Nền Tảng của Sakya</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Câu chuyện</span> về phái Sakya (sa skya) bắt đầu với Ngài Khon Konchog Gyalpo (1034-1103 <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sau công nguyên</span>), <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban đầu</span> được biết như Khon Sakyapa. Sinh ra trong năm con chó đực gỗ (tuất mộc), Ngài nhận được các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và hướng dẫn của cha và anh trai ngay từ thời niên thiếu, và Ngài trở nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiện xảo</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tổ tiên</span> Khon truyền lại.</p>
<p style="text-align: justify;">Có lần, khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan tâm</span> cao độ vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> tantric mới, Khon Konchog và anh Ngài, Sherab Tsultrim đến hội chợ trong Thung lũng Dro. Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lễ hội</span>, nhiều vị Ngagpa mặc trang phục và mang những đồ dùng của hai mươi tám Ishvaris,5 <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span> một vũ điệu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết hợp</span> với Mamo Ekajati.6 Họ được đệm theo với trống và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span> giữa đám đông. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chứng kiến</span> điều này, Khon Konchog Gyalpo nói với anh, “Giờ đây Mantra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bí mật</span> đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư xử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lạc</span>. Từ giờ trở đi vì những dấu hiệu của việc đạt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu </span>trong phái Nyingma sẽ rất hiếm, tôi sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">che dấu</span> ba quyển sách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sử dụng</span> như kho tàng.” Mặc dù muốn dấu tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>, Ngài đã lập nguyện với các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hộ pháp</span> giữ Ngài khỏi việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">che dấu</span> Yangdag và Vajrakilaya. Sau này, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế hệ</span> Khon đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kế tục</span> những bản văn này như các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> chính của họ và vẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> torma (bánh bột) cho Dharmapala (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hộ Pháp</span>) Karmo Nyida và Dudgon.</p>
<p style="text-align: justify;">Sherab Tsultrim nói, “Ta là một người già. Nhưng vì ngươi còn trẻ, ngươi nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rèn luyện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống</span> mới của Mantra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bí mật</span>. Ngài Drogmi Sakya Yeshe bây giờ là vị thầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> nhất, vậy hãy nhanh chóng đi đến Ngài.”</p>
<p style="text-align: justify;">Khon Konchog Gyalpo đã nhận được nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> từ các vị dịch giả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đứng đầu</span> của thời Ngài, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trước tiên</span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> Hevajra và tantra từ Ngài Khyin Lotsawa, và khi Khyin Lotsawa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span> sau này, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> cao hơn được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> từ Drogmi Lotsawa, Khon Konchog Gyalpo dâng cúng mười bảy con ngựa quý, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dược thảo</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">châu ngọc</span>, và còn nữa cho Drogmi, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> từ Sung Ngag Rinpoche (“Những Hướng Dẫn Miệng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quý Báu</span>.”), hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> đền đáp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con đường</span> và Kết quả.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài cũng nhận được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Guhyasamaja từ Oddiyana Pandita Guhyaprajna, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Chakrasamvara từ Mal Lotsawa, và còn nữa. Ngài cũng có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> vào các vị thầy khác như Bari Lotsawa, Putrab Lotsawa, các anh em Namkau, Khon Gichuwa, và Kyura Aseng, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thông thạo</span> tất cả các tantra cũ và mới.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó Ngài xây một điện thờ cho cha và anh Ngài ở Jagbasin trong vùng Zhang. Bên cạnh đó, Ngài đặt một cây (acacia) kilaya để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban phước</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kế tiếp</span> Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> nhỏ trong Thung lũng Trawo (bây giờ được biết như Sakya Ruins) và cư trú ở đó vài năm.</p>
<p style="text-align: justify;">Một ngày nọ, Khon Konchog Gyalpo và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> đi chơi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiêu khiển</span>. Nhìn từ ngọn núi đã đi qua, Ngài thấy Núi Ponpori nhìn giống như một con voi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nằm nghiêng</span>; bên phải của nó màu trắng, có những đốm sáng chói, như nước chảy xuống và nhiều dấu hiệu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cát tường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tốt đẹp</span> khác. Ngài nghĩ, “Nếu xây một chùa ở đây, sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao la</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>.”</p>
<p style="text-align: justify;">Chủ nhân của khu đất, Jowo Dong Nag, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho phép</span> Ngài được xây chùa. Sau đó Khon Konchog Gyalpo hỏi Gurab (chủ nhân của vùng Zhang Zhung), bốn chính quyền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span>, và bảy chính quyền của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần thánh </span>và người, liệu họ có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phản đối</span> việc xây chùa hay họ muốn bao nhiêu. Tất cả họ đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trả lời</span>, “chúng tôi không cần trả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bồi thường</span>. Xin hãy xây chùa của ông.”</p>
<p style="text-align: justify;">Vị thầy nói, “Ngôi chùa phải được những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế hệ</span> sau <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chấp nhận</span>,” và Ngài đặt giá một con ngựa cái trắng, một vòng cổ bằng ngọc, một bộ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">y phục</span> quý của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phu nhân</span>, và còn nữa để phân phát giữa họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Khon Konchog Gyalpo là người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng lập</span> đầu tiên của Sakya. Ngài đẩy mạnh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rộng rãi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> của Drogmi, giảng dạy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> cho nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span>, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span> ở Gorum khi Ngài sáu mươi chín tuổi giữa nhiều dấu hiệu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lạ kỳ</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Năm bậc Thầy nền tảng của Sakya</b></p>
<p style="text-align: justify;">Trong sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công bố</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiên tri</span> từ Dòng Truyền Miệng của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Không Gian</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trong Sáng</span> của Dakini [klong gsal mkha’ ‘gro snyan brgyud], Đức Guru Rinpoche trình bày,</p>
<p style="text-align: justify;">Kunga Nyingpo, Sakya Lotsawa,<br />
Sonam Tsemo, Dragpa Gyaltsen,<br />
những thân lưu xuất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát</span> của ba gia đình  sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> ở Tsang...<br />
Sau khi Sakya Lotsawa được gọi tên Kunga,<br />
và người có tên Phagpa đến,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con người</span> và những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> sẽ được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mạnh khỏe</span>.<br />
Họ sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đức Phật</span> trong năm mươi năm,<br />
Những thân lưu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> nay của Manjusri.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự ra đời của gongma nga (“năm vị tổ sáng lập”) đã được nhiều vị thầy tiên đoán <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> Ngài Atisha.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Sachen Kunga Nyingpo </b>(1092-1160 C.E.∙)</p>
<p style="text-align: justify;">Vị tổ đầu tiên của năm vị tổ là Sachen Kunga Nyingpo. Ngài Khon Konchog Gyalpo không thể có con trai với người vợ đầu tiên, Dorje Chugmo. Khi năm mươi lăm tuổi, Ngài theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời khuyên</span> của Kha’u Chenpo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span> lấy người vợ thứ hai, Machig Zhangmo, con gái của chủ nhân vùng Zhang Zhung. Do <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vận may</span>, họ có một con trai trong nam con khỉ đực nước (thân thủy-1092) giữa nhiều dấu hiệu lạ thường. Họ đặt tên ông là Sakyapa Chenpo Kunga Nyingpo.</p>
<p style="text-align: justify;">Sachen Kunga Nyingpo là một lưu xuất của Avalokiteshvara. Điều này đã được vị tổ vĩ đại Nam Kha’upa Chenpo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xác nhận</span>, Ngài trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chú tâm</span> một điểm trong tánh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quang minh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong sáng </span>đã thấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm thức</span> sinh ra của Sachen trong một lều bằng cầu vồng trong bầu trời trên thung lũng Machig Zhangmo. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tâm thức</span> khoác vẻ ngoài của Kasarpani, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân tướng</span> hai tay của Avalokiteshvara, do vậy vị tổ hiểu rằng một lưu xuất của Avalokiteshvara sẽ được sinh ra trong thị tộc Khon. Vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lý do</span> này, Ngài khuyến khích Khon Konchog Gyalpo lấy vợ lần thứ hai.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ lúc còn nhỏ, Sachen có thể đọc và tính toán. Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> những bản văn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên thâm</span>, và Ngài hiểu được đàn ông, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phụ nữ</span>, loài vật, các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính chất</span> của ngọc, trò chơi, chữa bệnh, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">văn phạm</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thi ca</span>, luận văn, và còn nữa. Vì những phẩm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính thông</span> minh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bình thường</span>, Ngài đã làm nhiều người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Những phẩm tính hiếm thấy của Ngài là vô hạn và được chia thành hai phần trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiểu sử</span>: những phẩm tính về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rèn luyện</span> và những phẩm tính về sự thấu suốt.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> Hevajra đầu tiên từ cha, cha Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span> khi Ngài được mười một tuổi. Sau đó, theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời khuyên</span> của mẹ Ngài theo học với Bari Lotsawa, cũng là một trong các guru của cha Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Bari Lotsawa khuyên Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> sadhana (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi quỹ</span>) của Manjushri Arapacana. Trong lúc làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> này, Ngài gặp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chướng ngại</span> do <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh linh</span> Pekar gây ra, nên Bari Lotsawa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban cho</span> Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành </span>của Acala cùng với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo vệ</span> nước. Sau khi dẹp yên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chướng ngại</span>, Sachen <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành </span>sáu tháng và có một linh kiến trực tiếp về Đức Manjushri. Trong lúc có linh kiến này Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Rèn luyện</span> Tâm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> của Sakya “Từ bỏ Bốn Bám Luyến,” trong đó, các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan điểm</span> cốt tủy của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> Mahayana được thấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cùng lúc</span>. Vào lúc đó, Ngài cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> các Dharani (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chân Ngôn</span>) không thể quên và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> phân tích <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô song</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi được mười hai tuổi, Ngài đến Rong Ngur Mig, ở đó Ngài học Abhidharmasamucaya với vị thầy Drangti Tharma Nyingpo. Sachen đã để lại dấu tay trên đá tại đây mà hiện nay vẫn còn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tồn tại</span>. Sau khi Drangti <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span>, Ngài học luận lý và Madhyamaka (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Đạo</span>) với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của Ngài Drangti, Khyung Rinchen Trag, ở Nyang thượng.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở về</span> với Bari Lotsawa, Ngài nhận được nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>, như hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống</span> chính của Guhyasamaja, Krishnayamari, và ba tantra của vòng Hevajra. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kế tiếp</span>, Ngài đến học với đại Khon Gyichu Dralha Bar, từ vị này Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> ba tantra của Hevajra, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> về các bài ca của tám mươi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bốn đại</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu giả</span> và các hướng dẫn khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Như thế, vào tuổi hai mươi chín, Ngài đã học với nhiều bậc thầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đứng đầu</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> vào thời Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Chuyện kể về buổi gặp gỡ với vị guru gốc của Ngài, Zhangton Chobar, khi Sachen được hai mươi chín tuổi đã được người khác tường thuật đầy đủ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chi tiết</span>.8 Từ vị guru này, Ngài nhận được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> của bậc thầy về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con đường</span> Lamdre và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Kết quả, Ngài đã giữ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span> những hướng dẫn ở Zhangton trong mười tám năm.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Sachen bốn mươi bảy tuổi, Ngài bị đầu độc trong khi cư trú ở Gunthang, và đã quên mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp </span>Ngài biết, Ngài ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một mình</span> tách biệt một số lần, dâng cúng khẩn cầu đến guru Ngài, và có thể nhớ lại một câu kệ ở nhiều nơi.</p>
<p style="text-align: justify;">Guru của Ngài, Je Gonpa,9 <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> trong giấc mơ của Ngài và dạy mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> mà Ngài đã quên, do vậy Sachen có thể nhớ lại mọi thứ. Sau điều này, Ngài nhận được nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> hơn từ mahasiddha (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại thành tựu giả</span>) Virupa, từ đó Ngài viết ra những bài ca <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tán thán</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span>. Điều này minh họa dòng truyền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span> hiếm có của Lamdre, vì Sachen đã nghe tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> trực tiếp từ Virupa trong thân người.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau điều này, Ngài bắt đầu dạy Lamdre cho những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> tuyển chọn và viết ra các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bài kệ</span> Vajra, mà trước đây chỉ được ban trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> miệng.</p>
<p style="text-align: justify;">Những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác phẩm</span> được sưu tập từng phần của Sachen làm thành ba bộ trong Sakya Kabum và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm </span>một luận giảng quan trọng về tantra gốc đầy đủ Laghusamvara của vòng Chakrasamvara, được gọi là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chuỗi Ngọc</span> Trai (mu tig phreng ba), và nhiều bản văn khác tập trung vào những khía cạnh khác nhau về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lý thuyết</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Vajrayana. Trong một tuyển tập tách biệt, Ngài đã viết mười một luận giảng về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con đường</span> và Kết quả, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> nhất trong đó là luận giảng Nyagma (nyags ma) và Sey Donma (sras don ma).</p>
<p style="text-align: justify;">Thêm vào những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> này, Sachen là một bậc thấu suốt cao độ và đã phô diễn nhiều dấu hiệu của sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong suốt</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span> Ngài. Nói chung, tâm Ngài đã thấm nhập lòng bi và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng từ</span> ái. Như đã nhắc đến, Ngài đã thấy Manjushri trong thân người và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trang nghiêm</span> của Acala và Arya Tara.</p>
<p style="text-align: justify;">Sachen Kunga Nyingpo là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> vĩ đại, người chưa từng tách rời hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giai đoạn phát triển</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span>, dấn thân vào bốn cách thức làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> đang sống <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> lúc Ngài sáu mươi bảy tuổi. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span> đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi tịnh</span> độ trong chu trình thứ ba của sáu mươi năm, vào ngày mười bốn của Asvina (tháng mười) trong năm con cọp đực đất (dần thổ). Vào lúc đó, thân lưu xuất của Ngài ở cả bốn nơi: <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi tịnh</span> độ Dewachen, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tịnh độ</span> Potala, Oddiyana, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế giới</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vàng Ròng</span> ở phương bắc.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiên tri</span> của Lama Zhang, Sachen có ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> đạt siddhi (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tất địa</span> - <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span>) trong lúc họ trong thân người. Ngài có bảy hay mười một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> Jetsun Dragpa Gyaltsen, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt đến</span> giai đoạn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhẫn nhục </span>của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ứng dụng</span> (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia hạnh đạo</span>), và mười lăm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> Loppon Sonam Tsemo, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được </span>đại nhiệt trên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ứng dụng</span>. Ba mươi mốt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của Ngài, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> Kyara Akyabs, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được </span>nhiệt trung bình, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> Khampa Aseng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tri kiến</span> của những dấu hiệu và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> siddhi an trụ trong nhiệt nhỏ.</p>
<p style="text-align: justify;">Sachen Kunga Nyingpo cưới hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phu nhân</span> và có bốn con trai. Người con trai đầu tiên, Kunga Bar sinh ra với người vợ trẻ nhất của Ngài, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phu nhân</span> Cxhamphurmo. Kunga đi đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> nhưng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span> ở Magadha khi hai mươi hai tuổi.ba con trai khác của Sachen được sinh ra với người vợ khác, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phu nhân</span> Machig Woedrn. Người lớn nhất là Sonam Tsemo sinh ra khi cha Ngài được năm mươi lăm tuổi. Con trai thứ hai, Dragpa Gyaltsen sinh ra sau năm năm, và người trẻ nhất, Palchen Woedpo, sinh ra sau đó ba năm. Người sau này được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đào tạo</span> thành <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bác sĩ</span> và là cha của Sakya Pandita lừng danh, Kunga Gyaltsen.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Lopon Sonam Tsemo</b> (1142-1182 C.E.)</p>
<p style="text-align: justify;">Như đã trình bày, Sonam Tsemo sinh ra bởi Sachen và Machig Woedron trong năm con chó đực nước (tuất thủy). Ngay khi Ngài sinh ra, chư dakini viết, “Sonam Tsemo, Thân lưu xuất của Manjushri, đã sinh ra tại Sakya” trên cổng của Vajrasan tại Bodh Gaya (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Đề Đạo Tràng</span>) ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Sonam Tsemo rất đẹp trai, và người ta nói rằng sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư xử</span> của Ngài vượt lên tất cả trẻ con. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngồi xếp bằng</span> mọi lúc. Khi được mười hai tuổi, Ngài thấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vẻ mặt</span> của các bổn tôn Hevajra, Manjushri, Tara, và Acala. Ngài giảng dạy ba tantra của Hevajra, Laghusamvara và Jnanasarasamucaya từ ký ức. Ngài cũng nhớ lại mười một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> của Ngài, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> trong đó là bậc thầy quan trọng của dòng truyền Dombhi Heruka Lamdre, Ngài Durgacandra.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi được mười bảy tuổi, Sonam Tsemo dạy bốn phần tantra từ ký ức, và Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> khắp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> như một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> của tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Vajrayana (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương Thừa</span>). Ngài học tất cả vòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý </span>Vajrayana của cha Ngài và thấu suốt chúng trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong năm 1161, năm sau khi Ngài Sachen <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span>, Sonam Tsemo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giao phó</span> ngai của Sakya cho em trai Jetsun Dragpa Gyaltsen được mười ba tuổi, và đi đến Sangphu để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> học với nhà luận lý và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại học giả</span> Chapa Chokyi Senge. Ngài học ở đó mười một năm, học <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">văn phạm</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lý luận</span>, Madhyamaka, sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">văn chương</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span>; Ngài trở nên rất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủ đề</span> này.</p>
<p style="text-align: justify;">Có lần, khi giảng dạy Lamdre ở Utse Nyingpo, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lần lượt</span> như Manjushri, Virupa, và Avalokiteshvara đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiến thanh</span> tịnh của các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> Jepa, Zhujya, và Mogton. Ngài là một bậc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> những phẩm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính không</span> thể nghĩ bàn.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong số các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác phẩm</span> chính của Ngài là một luận giảng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chi tiết</span> về Samputatantra; luận giảng về Bodhicharyavatara được biết sớm nhất ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>; và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giới Thiệu</span> Chung về những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phân Chia</span> của Tantra (rgyud sde spyi rnams) có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảnh hưởng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> về sau, sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới thiệu</span> bộ ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lý luận</span> về ba luận giảng bao hàm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn diện</span> của Ngài được viết trên nền tảng nguyên văn của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống</span> Lamdre (hai phần sau được em trai Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn tất</span>, Jetsun Dragpa Gyaltsen, sau khi Sonam Tsemo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span>).</p>
<p style="text-align: justify;">Lopon Sonam Tsemo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính thức</span> giữ ngai của Sakya trong mười ba năm, từ tuổi mười bảy đến ba mươi, vào lúc đó Ngài chuyển qua cho em, Dragpa Gyaltsen.</p>
<p style="text-align: justify;">Như một dấu hiệu đại thấu suốt của Ngài, khi được bốn mươi tuổi, Lopon Sonam Tsemo biểu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện thân </span>cầu vồng – thân của ánh sáng vajra – tiếng nhạc và mùi hương <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dễ chịu</span> trong lúc giảng dạy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp </span>trên một ngai giữa tập thể tám mươi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span>. Những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> này đã phát triển <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> vào ngày mười một của tháng mười một năm con cọp đực nước (1182).</p>
<p style="text-align: justify;">Một người thường <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">suốt đời</span> sống <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">độc thân</span>, Lopon Sonam Tsemo chẳng để lại người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thừa kế</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Jetsun Dragpa Gyaltsen</b> (1147-1216 C.E.)</p>
<p style="text-align: justify;">Ngay trước lúc Dragpa Gyaltsen sinh ra, một vua Naga (Rồng) <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giấc mộng</span> của mẹ Ngài. Cậu bé được sinh ra giữa những điềm báo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cát tường</span> trong năm con thỏ lửa (mẹo hỏa). Ngài bắt đầu nói chuyện lúc tuổi còn nhỏ và thường thích dùng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một mình</span>, không bám luyến mạnh mẽ, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh tấn </span>trong việc phát triển những phẩm tính, và vượt lên những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> trẻ con.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi tám tuổi, Ngài thọ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyện hành</span> giả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">độc thân</span> từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát</span> Dawa Gyaltsen, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đức hạnh</span> của Ngài được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn kính</span> hơn những người cùng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thọ giới</span>. Nói chung, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chưa bao giờ</span> uống rượu hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ăn thịt </span>ngoài các chất liệu samaya trong những bữa tiệc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span>. Có lần Ngài kể lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chi tiết</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giấc mộng </span>trong đó Ngài rất khao khát uống rượu, nhưng Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quyết định</span> rằng điều này là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> của mara nên Ngài đã kiêng không uống. Sau đó, Ngài không còn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thèm muốn</span> nó, nên rượu và thịt chẳng bao giờ Ngài chạm môi trong cuộc sống hàng ngày.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tiếp nhận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi quỹ</span> Saroruhavajra của Hevajra khi Jetsun Rinpoche được mười một tuổi, một năm sau, Ngài ban một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thuyết giảng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chi tiết</span> về nó và tất cả ai nghe Ngài đều có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ấn tượng</span> rất mạnh. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ngoài ra</span>, khi mười hai tuổi Ngài nằm mơ khẩn cầu ba tantra của Hevajra, sau đó Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> thấu đáo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thật tánh</span> của mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện tượng</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi cha Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span>, Dragpa Gyatsen được mời ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> tại một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">buổi lễ</span> hội lớn về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Một lần</span> nữa Ngài gây <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ấn tượng</span> cho nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> với sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> về Hevajra-tantra.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài nhận được nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> từ cha Ngài, Sachen Kunga Nyingpo. Như người giữ ngai của Sakya, Ngài cũng nhận được nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> từ những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> như Nyan Tsugtor, Zhang Tsultrim Drag, Nyan Wangyal, Nepali Jayasena, và Lotsawa Palchog Dangpo Dorje. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thực hành</span> hàng ngày của Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> đầy đủ bảy mươi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mạn đà la</span>. Chẳng hạn, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Hevajra trong lúc đưa Ngài lên ngai khi giảng dạy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>. Trong cách đó, Ngài chưa từng tách rời thân, khẩu, và ý của Ngài khỏi hai giai đoạn phát sinh hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Về mặt khả năng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải nghĩa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>, không có luận thư nào quá khó với Ngài để làm cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dễ hiểu</span>, và khi Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giảng giải</span> ngay cả những bản văn khó nhất, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của Ngài đều thấy rất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dễ hiểu</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tương tự</span>, Ngài có khả năng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">loại bỏ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi ngờ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lạc</span> với những người mà Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tranh luận</span>, vì những trả lởi của Ngài luôn luôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phù hợp</span> hoàn mãn với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Jetsun Dragpa Gyaltsen đã viết nhiều luận giảng quan trọng. Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn tất</span> bộ tam <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lý luận</span> bắt đầu bởi anh Ngài, một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> đầy đủ về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> nền tảng, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span>, và kết quả của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Hevajra được gọi là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cây Như ý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quý báu</span> (rin po che ljong shing). Bản văn này vẫn giữ vững <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lập trường</span> như sự trình bày xác quyết của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan điểm</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> của Sakya, và nó là một trong những viên ngọc quý thật sự của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Sakya. Ngài cũng viết luận giảng xác quyết của Sakyapa về Hevajra-tantra, Được Phú Bẩm Với Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thanh Tịnh</span> (dag ldan). Hai bản văn này cùng với Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giới Thiệu</span> Chung Về Các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phân Chia</span> Của Tantra của Ngài Lopon Sonam Tsemo, hình thành cốt tủy sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý </span>Vajrayana của phái Sakya. Một cách tổng quát, chúng được xem là sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bình luận</span> đầy đủ của dòng truyền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải nghĩa</span> Dombhi Heruka về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con đường</span> và Kết quả, như sự đối nghịch với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> hướng dẫn sâu sắc truyền xuống qua Krishnapa. Dragpa Gyaltsen cũng viết một luận giảng đầy đủ về Vajrapanjara-tantra, nên Ngài và anh trai đã góp phần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn tất</span> những luận giảng về ba tantra chính của phái Sakya – Hevajra, Vajrapanjara, và Samputa.</p>
<p style="text-align: justify;">Jetsun Rinpoche cũng viết những sadhana <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chi tiết</span> và các sách giáo khoa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống </span>Khon Vajrakilaya, và Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> các hướng dẫn miệng của Đức Padmasambhava <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban cho</span> Yeshe Tsogyal được truyền xuống trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Khon về Vajrakilaya. Một vòng các bản viết quan trọng khác của Ngài là Kho Tàng của Vua về Vòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trị Liệu</span> Y Khoa (gso dpyad rgyal po’i skor mdzod), bao trùm mọi khía cạnh về nghệ thuật chữa lành bệnh và luận thư quan trọng về y học <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> này còn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tồn tại</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> ngày nay. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cuối cùng</span>, Ngài đã soạn thảo bản <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mô tả</span> sớm nhất của những vị vua <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, bắt đầu với Nyatri Tsanpo.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung, các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác phẩm</span> sưu tập của Ngài hình thành bốn bộ. Với những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác phẩm</span> thêm vào đã được đưa ra ánh sáng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gần đây</span>, Ngài đã soạn thảo khoảng gần năm bộ đầy đủ về các luận giảng, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi quỹ</span>, và những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác phẩm</span> về tất cả thể loại khác nhau.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói riêng, Jetsun Rinpoche đã viết một số bài ca <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa trên</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span>, cũng được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới thiệu</span> trong sách này, được xuất bản lần đầu bởi Manjushri Báo trong chuỗi Thị Kiến. Các bài ca này là kho báu lớn của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Sakya, nhất là Bài Ca Vĩ Đại của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kinh Nghiệm</span> (nyams mgur chen mo), trong đó Ngài Jetsun Rinpoche trình bày <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thâm sâu</span> nhất về Kiến và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp </span>của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, kiến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên thâm</span> về tánh tự-giải thoát của rigpa, và vị của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> nội tại về một trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> vĩ đại nhất của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài biểu hiện nhiều dấu hiệu của sự thấu suốt cao cấp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong suốt</span> đời và qua những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giấc mộng</span> của Ngài. Ngài được nhiều bổn tôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban phước</span>, và được sự thấu thị (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiên tri</span>); ngay cả những vị trời, rồng đều đến với Ngài để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xóa bỏ</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi ngờ</span> của họ. Ngài có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> như thế nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức </span>vị guru gốc của Ngài không khác với Phật Vajradhara (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương</span> Trì), và khi cùng với các vị thầy mình, Ngài làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hài lòng</span> các vị bằng việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thành</span> các nhu cầu về thân, khẩu, và ý của các vị và không bao giờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham gia</span> nói chuyện <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô nghĩa</span> về các vị thầy. Khi guru của Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span>, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiêu dùng</span> mọi thứ Ngài có, không bám luyến để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> v.v... Ví dụ, Ngài xây một điện thờ được biết là Utse Nyingma. Ngài cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công trình</span> kỷ niệm cho ông nội, cha và anh trai Ngài, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đều đặn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> một trăm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngọn đèn</span> phía trước mỗi nơi.</p>
<p style="text-align: justify;">Jetsun Rinpoche có nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> trong những giấc mơ của Ngài. Khi hai mươi tuổi, trong lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chợp mắt</span> Ngài nằm mơ thấy đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tụng niệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bài kinh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cầu nguyện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hồng danh</span> Đức Manjushri (Manjushri-namasamgiti); Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thức giấc</span> mà vẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tụng niệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản kinh</span>. Hơn hai năm sau đó, Ngài có một số <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giấc mộng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tương tự</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên quan đến</span> các kiếp sống trước của Ngài ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Ngài năm mươi lăm tuổi, trong năm con chó đực lửa (tuất hỏa), Ngài có một giấc mơ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> quan trọng về tánh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quang minh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong sáng</span>, trong đó Ngài Sachen Kunga Nyingpo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban cho</span> Ngài dòng truyền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con đường</span> và Kết quả, khai thị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng tỏ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biểu tượng</span>:</p>
<p style="text-align: justify;">Tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> ta dạy cho con đều được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> ở đây:<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thật tánh</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bồ đề tâm</span>,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp tánh</span> bổn nguyên, được làm thành chỗ ngồi của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span><br />
Giữ chặt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên tố</span> gió,<br />
và phát triển tốt sức nóng của lửa với tumo.<br />
Dòng chảy của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bồ đề tâm</span> phải <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi vào</span> kinh mạch trung ương<br />
và còn nữa, để đem các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyên tố</span> chịu dưới sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiểm soát</span>.<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thực tế</span> hóa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năm trí</span> tuệ,<br />
<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bất tử</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự thấu suốt của Jetsun Rinpoche cũng được nhà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiền triết</span> Kashmiri Sakya Sribhadra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công nhận</span>, người sau này đến Sakya <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong khoảng</span> năm 1208 và ban thụ phong về Sakya Pandita vào lúc đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào một dịp, vị đại Panchen tiên đoán có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhật thực</span>. Jetsun Rinpoche nói, “Xin đừng nói điều đó. Nó sẽ không xảy ra ngay bây giờ.” Vị pandita thấp hơn rất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bối rối</span>, nhưng sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">che khuất</span> không xảy ra. Jetsun Rinpoche đã ngăn chận nó bằng việc chặn lại gió <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">di chuyển</span> vào kinh mạch rasana và lalana và bằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">việc làm</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bồ đề tâm</span> đỏ và trắng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi vào</span> và hòa trộn vào kinh mạch trung ương. Panchen nói, “Lão <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span> đó sẽ làm bất cứ điều gì có thể chỉ để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng minh</span> ta sai. Chẳng có gì để nói thêm. Ta hiểu. Lão <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span>đó thật đáng tự hào.”</p>
<p style="text-align: justify;">Vào lúc khác, khi Jetsun Rinpoche đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> tại Zim Chil Karpo, vị đại Pandita, người sắp rời Sakya, đã hỏi Sapan, “Chú của ông đang làm gì?”</p>
<p style="text-align: justify;">Sapan <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trả lời</span>, “Ông ta đang trụ trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>.”<br />
Pandita nói, “Chúng ta nên đến và gặp ông ấy.”<br />
Đứa trẻ đáp, “Con sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi trước</span> tiên.”<br />
Nhưng vị Pandita đề nghị, “Hãy cùng nhau đi.”</p>
<p style="text-align: justify;">Do vậy họ đã đi cùng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">với nhau</span>. Jetsun Rinpoche đang làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tán thán</span> đến bổn tôn Guhyasamaja Ngài đã tạo ra ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trước mặt</span>. Ngài nghĩ rằng nên bày tỏ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn kính</span> đến khách, Ngài đứng lên để chào hỏi vị Pandita, có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý định</span> là đặt chuông và vajra lên bàn, nhưng chúng lại treo trong không trung.</p>
<p style="text-align: justify;">Vị đại Pandita nói, “Điều đó, thực sự gây <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh ngạc</span>,”</p>
<p style="text-align: justify;">Jetsun Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trả lời</span> khiêm tốn, “Điều này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> không có gì đáng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngạc nhiên</span> cả.”</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó vị Pandita <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đảnh lễ</span> Jetsun Rinpoche, nhưng vị pandita thấp hơn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phàn nàn</span> “việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đảnh lễ</span> dâng hiến đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span> là không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thích hợp</span>. Ngay cả dù ông đã làm, xin hãy đừng làm thêm.”</p>
<p style="text-align: justify;">Vị đại Pandita <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trả lời</span>, “Jetsun Dragpa Gyaltsen là vị Mahavajradhara thật sự. Ngài đã thấy mandala của Guhyasamaja.” Sau đó ông làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trang hoàng</span> đỉnh đầu Jetsun Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Jetsun Rinpoche cũng có thể giao tiếp với những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sinh linh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phi nhân</span>, chẳng hạn Ngài nói với hắc long Kunshe, “Ta muốn xây một điện thờ ở đây, vậy hãy lấy hết <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tài sản</span> của ngươi và đi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nơi khác</span>.”</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tìm kiếm</span> kỹ lưỡng, vị rồng đáp, “Tôi tìm khắp nơi, và cách một khoảng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không gian</span> nhỏ trên bờ biển, chẳng có chỗ nào chọn được.”</p>
<p style="text-align: justify;">Jetsun Rinpoche ra lệnh, “Vậy, hãy chọn một nơi nào đó.”</p>
<p style="text-align: justify;">Kunshe <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">than vãn</span>, “ Nếu tôi chỉ lấy vàng, chắc phải hàng ngàn năm,”</p>
<p style="text-align: justify;">“Tuy vậy, hãy ở đây và làm một số phòng,” vị tổ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">yêu cầu</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Vị rồng chuyển đi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nơi khác</span>, được dẫn dắt bởi Mon Dorje Raja và được Ngài Jetsun Rinpoche đẩy từ sau. Nơi ông ta cư trú là tàn tích của tảng đá hiện nay tại phía đông Ladrang. Sau đó Jetsun Rinpoche xây điện thờ mà Ngài gọi là Utse Nyingma.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Jetsun Rinpoche được sáu mươi mốt tuổi, Ngài có một giấc mơ ở trong một đồng cỏ. Một số <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phụ nữ</span>màu xanh dương nói với Ngài, “Hãy đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiên đường</span> của dakini, Khechari.”</p>
<p style="text-align: justify;">Jetsun Rinpoche hỏi, “Tại sao tôi phải đến Khechari? Vì chư Phật không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span> nào khác hơn là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích chúng sinh</span>, tôi không đi.”</p>
<p style="text-align: justify;">Có một tảng đá trắng, nhẵn phía trước Ngài, và họ thúc dục, “Hãy đến và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bước lên</span> và ông sẽ đến Khechari.”</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng Ngài không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bước lên</span> tảng đá.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào một buổi chiều tháng chín khi Ngài sáu mươi bảy tuổi, Sachen <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> được bao quanh bởi tám <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại Bồ Tát</span>; bên phải Ngài là là chín bổn tôn mandala Hevajra và bên trái là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đức Phật</span> Shakyamuni được bao quanh bởi tám vị Arhat, Kaudinya, và còn nữa. Sachen hỏi, “Nếu ngươi được thụ phong, vậy ai được thụ phong? Nếu ngươi nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, vậy ai nhận nó?”</p>
<p style="text-align: justify;">Jetsun Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trả lời</span>, “Nếu con đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thọ giới</span> và nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, bậc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp Vương</span> (Sachen) là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu viện</span>trưởng và bậc thầy của con.”</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài Sachen đáp, “Con đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu rõ</span> theo cách như nó là.”</p>
<p style="text-align: justify;">Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giấc mộng</span>, Jetsun Rinpoche có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">loại bỏ</span> nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi ngờ</span> của Ngài nhờ hỏi các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vấn đề</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Một năm sau, nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sứ giả</span> linh thánh mời Ngài đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi tịnh</span> độ của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đức Phật</span> Amitabha, nhưng Ngài mời đi. Năm sau dù nhiều vị trời gửi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời mời</span> Ngài, không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tán thán</span> vũ trụ 10 Saha cũng không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tán thán</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi tịnh </span>độ, Ngài cũng không nghiêng về phía <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tịnh độ</span> cũng không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chán ghét</span> các cõi xấu. Ngài nói, “Những người không có sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo vệ</span> đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tin tưởng</span> ở tôi, do vậy tôi không đi,” và mời những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sứ giả</span> về.</p>
<p style="text-align: justify;">Những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sứ giả</span> nói, “Bằng mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương tiện</span> Ngài phải đi khi được bảy mươi tuổi,” và Ngài thấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi tịnh</span> độ Sukhavati. Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> của người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bình thường</span>, mặt đất rung chuyển, các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">âm thanh</span> được nghe, và nhiều ánh sáng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kỳ diệu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Một buổi chiều trong năm Ngài bảy mươi tuổi, một số người thấy tập hội các bổn tôn mời Ngài đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi tịnh</span> độ, và có nói rằng Sapan, cháu Ngài cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng kiến</span> điều này. Sáng hôm sau, Sapan đợi Jetsun Rinpoche <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện</span>, với đầu tựa vào dầu gối. Ông có một giấc mơ ngắn, trong mơ ông thấy một tập hội bổn tôn đến từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi tịnh</span> độ ngự trên những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tia sáng</span> tràn đầy bầu trời và bao quanh bằng các mạng lưới <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">châu báu</span>. Các Ngài mang một ngai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sư tử</span> khảm ngọc cùng với nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span>. Các Ngài nài xin Jetsun Rinpoche đến Sukhavati, và hình như vị thầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan tâm</span>. Các bổn tôn nói, “Hãy nhìn xem <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi tịnh </span>độ,” và làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biểu tượng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đảnh lễ</span>. Sapan thấy mặt đất được làm bằng ngọc bích, và có nhiều sự vật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đẹp đẽ</span> như cây làm bằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">châu báu</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào lúc đó, khi Sapan <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thức dậy</span>, đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> Bài Nguyện Bảy Chi và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> trên mandala của ông, Jetsun Rinpoche nói với Sapan, “Ta sắp đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi tịnh</span> độ,. Ta sẽ không ở đây lâu, vì sau đó ta sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàng đế</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">pháp giới</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế giới</span> Màu-Vàng ròng, như ta đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> với ông, và tịnh hóa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi Phật</span> của ta. Sau đó, trong hơn ba kiếp sống, ta sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối thượng</span> của Mahamudra trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một đời</span> không cần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ bỏ</span> thân ta trong sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tùy thuộc</span> vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tùy thuộc</span> bổn nguyên của Mantra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bí mật</span>.”</p>
<p style="text-align: justify;">Do vậy, bậc thầy vĩ đại đã rời bỏ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế gian</span> này đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi tịnh</span> độ vào ngày mười hai tháng hai của người<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> trong năm con chim trống lửa (1216)</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Sakya Pandita Kunga Gyaltsen Palzangpo</b> (1182-1253 C.E.)</p>
<p style="text-align: justify;">Con trai út của Ngài Sachen, Palchen Woedpo có hai con trai với vợ ông, Machig Garphuma Nyitri Cham. Con trai lớn nhất là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp Vương</span> Sakya Pandita, tên là Kunga Gyaltsen. Khi mang thai Ngài, mẹ Ngài có một giấc mơ trong đó một vị rồng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">châu ngọc</span> nhìn bà với cái nhìn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trừng trừng</span> không thể chịu nổi và nói, “Tôi sẽ đến và ở với bà.” Sau đó bà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> xuất chúng của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>. Khi Ngài sinh ra ngày hai mươi sáu tháng hai năm con cọp đực nước (dần thủy), bầu trời tràn đầy ánh sáng. Cha Ngài lúc đó được ba mươi ba tuổi.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi Ngài sinh ra, do sự kích hoạt các dấu vết trước, Ngài có thể nói một số tiếng Phạn và nói tiếng<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> không cần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rèn luyện</span>. Ngài được sinh ra như một pandita ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> và được Đức Manjushri <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo vệ</span> trong hai mươi lăm kiếp sống.</p>
<p style="text-align: justify;">Về phần xác định <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span>, vị Kashmiri pandita Shakya Sribhadra nhận được một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiên tri</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên quan đến </span>Sakya Pandita từ Đức Tara. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bác sĩ</span> Biji, vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> Tsang Nag và những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cá nhân</span> khác đã thấy Ngài như thân lưu xuất của Manjushri, điều này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rõ ràng</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiểu sử</span> của Ngài. Về mặt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> tạm thời, Sakya Pandita có thể thấu hiểu mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phạm vi</span> học tập chỉ nhờ nghe chúng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một lần</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài thọ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nguyện hành</span> giả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">độc thân</span> từ người chú, Jetsun Dragpa Gyaltsen, và được ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu </span>Kunga Gyaltsen. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống</span> giới nguyện của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát</span> cũng như bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> của Mahayoga.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ cha Ngài, Sakya Pandita <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> Hevajra và được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> trong ba nguyện. Khi được mười tám tuổi, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Abhidharma (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">A Tỳ Đàm</span>) từ vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại học giả</span> Vasubhandu (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thế Thân</span>) trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quang minh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong sáng</span>, và Ngài thấu suốt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rõ ràng</span> từng chữ của bản văn. Vì thế, phái Sakya có một dòng truyền ngắn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> về Abhidharma vẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> hiện nay. Khi Sakya Pandita <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Abhidharma sau này từ vị pandita Shakya Sribhadra, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> không có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> nào khác biệt.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài cũng có một giấc mơ trong đó Ngài gặp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> Dignaga và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> những điểm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọng yếu</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô lượng</span> bản văn, và Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn trí</span> trong nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủ đề</span>, như luận lý. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> luận thư Maitreya từ Zhudon Dorje Kyab, vòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Lý luận</span> từ dòng truyền cổ về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lý luận</span> từ Majya Changston và Tsurton Zhon Seng. Ngài cũng nhận được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> về bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống</span> nguyên lý từ Tsegpa Wangchug Senge. Ngài được ban vòng Shijey của Ngài Padampa Sangye, Dzogchen, Chod, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Kadampa của Chiwo Lhepa Changchub Wod, và Ngài hiểu hết tất cả.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Ngài hai mươi ba tuổi, Sakya Pandita gặp một trong các vị thầy có tầm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảnh hưởng</span> quan trọng nhất, Kashmiri pandita Shakya Sribhadra, đi cùng là Sangha Sri, Sugata Sri, và Dana Sri. Ngài Sakya Pandita <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> năm khoa học <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lý luận</span> chính và phụ và còn nữa từ họ, và Ngài được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công bố</span> là pandita.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Sakya hai mươi bảy tuổi, Ngài nhận thụ phong đầy đủ (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thọ cụ</span> túc giới) từ Shakya Sri, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">pháp danh</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu viện</span> là Bhadra Sri (hay Palzang theo tiếng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>). <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trong khoảng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> này Ngài cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> đầy đủ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> bởi vị guru gốc và chú của Ngài, Jetsun Dragpa Gyaltsen. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đặc biệt</span> khi Sakya Pandita khẩn cầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên thâm</span> về guru yoga, Ngài thấy chú Ngài như Đức Manjushri trong thân người, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh hoa</span> của tất cả chư Phật, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu rõ</span> những điểm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọng yếu</span> của tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> không có sai sót, do vậy Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại định</span> và thấu suốt không thể nghĩ bàn.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài giảng dạy suốt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span> Ngài. Khi lên chín tuổi, Ngài đã dạy sadhana của Hevajra; lúc mười một tuổi dạy tantra của Hevajra và Buddhasamayoga, và lúc mười hai dạy Vajrapanjara và Samputa. Ngài chưa từng ngừng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giảng giải</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> khi Ngài bảy mươi tuổi.</p>
<p style="text-align: justify;">Một vị thuộc phái Vedanta của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vệ Đà</span> – Vệ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đàn Đà</span>) tên là Harinada cùng năm người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đồng hành </span>từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> đến để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tranh luận</span> với Sakya Pandita. Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tranh luận</span> thắng và cắt tóc của ông ta, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển hóa</span> ông và những người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đi theo</span> sang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Sakya Pandita viết nhiều sách, bốn quyển quan trọng nhất trong những sách này là Kho Tàng của sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Suy Luận</span> (tshad ma rigs gter) cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lý luận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo Phật</span>; Làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trong Sáng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mục Đích</span> của Muni (thub pa’i dgongs gsal) cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> Mahayana; Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phân Biệt</span> Ba Giới Nguyện (sdom gsum rab phye) để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">loại bỏ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lạc</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Vajrayana; và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác phẩm</span> Ngài yêu thích nhất – mà phần lớn người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> ghi nhớ thuộc lòng nhiều phần – Kho Tàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quý Báu</span> của Lời Hùng Biện (legs bshad rin po che mdzod) đề cập đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đời sống</span> hàng ngày. Thêm vào đó, Ngài đã viết những luận thư quan trọng về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">văn phạm</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">âm nhạc</span>, y khoa, nghệ thuật, thơ ca, và những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủ đề</span> khác. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ngoài ra</span>, Ngài là một dịch giả khéo léo và đã chịu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trách nhiệm</span> cho lần xuất bản cuối về Pramanavarttika của Dharmakirti (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp Xứng</span>), cũng như các bản văn khác. Nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm thấy</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phiên dịch</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tác phẩm</span> chưa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hoàn thành</span> về Tantra Gốc Vajrakilaya (phur ba’l rtsa rgyud dum bu), đã được chính tay Đức Padmasambhava viết trên lá cây cọ, Sakya Pandita đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vững chắc</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giá trị</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiệu lực</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Vajrakilaya-tantra của phái Nyingma, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> do <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tổ tiên</span> truyền lại của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia tộc</span> Khon và là một trong các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> chính của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi sáu mươi tuổi, Ngài được mời đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span> bởi vị thủ lãnh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mông Cổ</span> Godon Khan. Ngài không thể từ chối <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời mời</span> thỉnh này, vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất phát</span> từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hình thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đe dọa</span> xâm lăng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>. Để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo vệ</span> người dân <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> từ người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mông Cổ</span>, mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gần đây</span> đã xâm lăng và đánh thắng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span>, Sakya Pandita và hai người cháu – Chogyal Phagpa chín tuổi, và Chagna, người em năm tuổi – bắt đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lên đường</span> đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span> trong năm 1244. sau chuyến đi trong năm năm, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuối cùng</span> họ đến triều đình khan ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span>, Ngài Sakya Pandita đã lưu lại ở đó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> cuối đời.</p>
<p style="text-align: justify;">Một trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự kiện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> và đáng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngạc nhiên</span> mà Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span> khi nhà vua mời Ngài đến một điện thờ ảo được tạo ra bởi thầy phù thủy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span>. Vị tổ đã làm cho điện thờ này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> thật qua <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">năng lực</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> của Ngài, và điều này làm cho vua và triều đình có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọn vẹn</span> vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung, Sakya Pandita là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảnh hưởng</span> lớn nhất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong lịch sử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo Tây Tạng</span>. Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> một ngôi làng nhỏ cho việc học tập và cấp học bổng, và Ngài đã khởi đầu thời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàng kim</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo Tây Tạng</span>. Những luận thư của Ngài, dù có thể gây <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tranh luận</span> đến một số <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phạm vi</span>, đều được xem là có căn cứ đích xác trên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">các chủ</span> đề về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lý luận</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo</span> Vajrayana và Mahayana. Ngài biểu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện ra</span> ngoài những dấu hiệu của sự thấu suốt (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span>), như là ushnisha (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhục kế</span>) trên đỉnh đầu Ngài. Sau khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span> Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> một vị Phật được gọi là Vimala Sri trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thế Giới</span> Màu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vàng Ròng</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Drogon Chogyal Phagpa</b> (1235-1280)</p>
<p style="text-align: justify;">Drogon Chogyal Phagpa sinh ra giữa những dấu hiệu xuất chúng đến em trai Ngài Sakya Pandita, Zangtsa Sonam Gyaltsen (1184-1239), và vợ là Machig Kunkyi, trong năm con cừu cái gỗ (mùi mộc), lúc cha Ngài năm mươi hai tuổi. Ngài nhớ lại những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiếp trước</span> của Ngài như Saton Riwa, Langriwa, và những người khác. Chogyal Phagpa đã dạy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi quỹ</span> Saroruhavajra khi Ngài được ba tuổi, và Jatakas khi Ngài lên tám; khi chín tuổi Sakya Pandita dạy Ngài Hevajra-tantra. Để làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mọi người</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngạc nhiên</span>, Phagpa đưa ra một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải nghĩa</span> về Những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Lời Khuyên</span> Cho Sự Thu Thập <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tích Lũy</span> (Sambharaparikatha) của vị tổ Vasubhandu cùng năm đó, và niềm tự hào của các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> bị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">suy giảm</span> khi họ nghe sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> này từ một cậu bé. Nghĩ rằng một người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bình thường</span> không thể có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> như vậy, họ xem Ngài là một Arya (bậc Thánh). Vì thế, Ngài được tất cả biết đến như Phagpa, có nghĩa “Arya”†</p>
<p style="text-align: justify;">Vào lúc chín tuổi Ngài đến phía bắc để chăm sóc Sakya Pandita. Trong lúc ở Lhasa, Chogyal Phagpa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> thụ phong cho người mới tu (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sa di</span>) trước <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tượng Phật</span> Jowo, và ở Kyormo Lung, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận </span>nguyện Getsul từ Sherab Pal.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài dùng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hết thời</span> gian của Ngài để chăm sóc Sakya Pandita trong chuyến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du hành</span> và cu trú ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> lúc mười bảy tuổi, Chogyal Phagpa rời khỏi Mongolia (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mông Cổ</span>). Sakya Pandita rất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hài lòng</span> về Ngài vì đã thành thạo những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> bên ngoài và bên trong của Vajrayana, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban cho</span> Ngài một ốc xà cừ trắng để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyên thuyết</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> và một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bát khất thực</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giao phó</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> cho Ngài, vị tổ nói, “Đã đến lúc ngươi giảng dạy để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> cho nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>, và nhớ lại những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời hứa</span> của ngươi.” Sau đó Sakya Pandita <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span> vì đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thành</span> tất cả những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý định</span> của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Được Khan (Vua) của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mông Cổ</span> mời, Phagpa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> nhà vua bằng việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hiện</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phép mầu</span>, như việc cho thấy một trong năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span> Phật một cách tách biệt bằng việc cắt rời năm chi của thân Ngài với một thanh kiếm bén. Bắt đầu với Khan, Chogyal Phagpa ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> Hevajra trên hai mươi lăm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> và đem Vajrayana đến vương quốc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mông Cổ</span>. Nhà Vua ban tước vị Tishri và mười ba vùng đất chung quanh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> như sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> của nhà vua.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào lúc hai mươi mốt tuổi, Chogyal Phagpa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thọ cụ</span> túc giới tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biên giới</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung quốc</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mông Cổ</span> từ vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu viện</span> trưởng Dragpa Senge, của Nyethang; bậc thầy về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> là Jodan Sonam Gyaltsen. Phagpa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> về Abhisamayalankara và những bản văn khác từ vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu viện</span> trưởng và về Vinaya (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giới luật</span>) từ bậc thầy của những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Hai năm sau, Ngài nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời mời</span> đến núi năm-đỉnh và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> về Yamari từ Tong Ton. Sau đó, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở về</span> cung điện của Khan, và khi một tập thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">triệu tập</span>, Ngài chiến thắng hai mươi ba vị thầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tranh luận</span> và cho họ thấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan điểm</span> đúng.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi ba mươi tuổi, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở lại</span> ngai của Sakya, mà Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vắng mặt</span> từ lúc chín tuổi. Ngài đã ban nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> ở đó; và cũng nhận được nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> về những khoa học bên ngoài, bên trong, một biển trao truyền và hướng dẫn từ Nyan Wod Srung, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu giả</span> Yontan Pal, Chim Namkhai Drag, Tsog Gom Kunga Pal, Lowo Lotsawa, Chiwo Lheypa Joo Sey, và các vị khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó, Ngài được Khan <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">triệu hồi</span> lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span> và đến đó khi Ngài ba mươi ba tuổi. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bổ nhiệm </span>mười ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị trí</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quản lý</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trách nhiệm</span> khác nhau và được dâng cúng phần còn lại của ba tỉnh ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> như một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự quán</span> đỉnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào lúc bốn mươi hai tuổi, lần thứ hai ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span> trong chín năm, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở lại</span> Sakya. Ngài giảng dạy một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp hội</span> lớn và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sử dụng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tài sản</span> của Ngài không giữ lại thứ gì, cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự kiện</span> này. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> nền tảng cho trường <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại học</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> và xây những điện thờ (chùa) thân, khẩu, và ý của chư Phật. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bố thí</span> cho tất cả người nghèo trong vùng và chỉ biểu hiện những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích cực</span> đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoằng Pháp</span> đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span>, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mông Cổ</span>; <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thọ giới</span> cho 450.000 người mới tu (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sa di</span>) và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thọ cụ</span> túc giới; ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> về Vajrayana trên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mọi người</span> của mười bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngôn ngữ </span>khác nhau. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ngoài ra</span>, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự giải thoát</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chín muồi</span> qua sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban phước</span> của trao truyền và hướng dẫn. Ngài ban những luận giảng về sutra (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh điển</span>), luận thư, và những giai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đoạn thực</span> hành trong Hinayana và Mahayana; <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trả lời</span> những câu hỏi; và viết nhiều bản văn thật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dễ hiểu</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Sáng sớm của tháng mười một năm con rồng đực sắt (thìn kim); khi Ngài bốn mươi sáu tuổi, đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cố gắng</span> to lớn làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi ích</span> người khác, Chogyal Phagpa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngồi kiết già</span>, cầm chày vajra và chuông. Ngài chắp hai tay chéo nhau, và giữa những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">âm thanh</span>, hương thơm, và mưa hoa, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Chogyal Phagpa là vị tổ cuối của năm vị tổ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng lập</span> phái Sakya. Cám ơn những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nỗ lực</span> của Ngài, hệ phái đã hướng dẫn dân <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> gần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một thế</span> kỷ; <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mở rộng</span> khắp nơi; và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> viện <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảnh hưởng</span> lớn của xứ sở cho hai trăm năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kế tiếp</span>, sản sinh ra các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> nhất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong lịch sử </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, như các Ngài Buton, Dolbuwa, Longchenpa, Rendawa, Tagtsang Lotsawa, Tsongkhapa và hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> chính, Rongton, Dagpo Tashi Namgyal, Gorampa, và Shakya Chogden.</p>
<p style="text-align: justify;">Về năm vị tổ, Ngài Sachen được xem là thân lưu xuất của Đức Avalokiteshvara; Lopon Rinpoche, Jetsun Rinpoche, và Sapan được xem là thân lưu xuất của Đức Manjushri; và Chogyal Phagpa được xem là thân lưu xuất của Đức Vajrapani (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương Thủ</span>).</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ngor và Tshar</b></p>
<p style="text-align: justify;">Hai phụ phái chính của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Sakya là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Ngor và Tshar. Dòng truyền Ngor được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng lập</span> bởi Ngorchen Kunga Zangpo (1382-1456 C.E.). Ngài sinh năm tuất thủy, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rèn luyện</span> tại Sakya và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu viện</span> khác. Vị thầy đầu tiên của Ngài là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu giả</span> Buddha Sri, và Ngài là một trong những vị thầy chính của Gorampa Sonam Senge.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1430, khi bốn mươi tám tuổi, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành lập</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu viện</span> Ngor chính của Evam Choden gần Sakya. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> cấp độ thấu suốt rất cao và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span> trong năm tí hỏa, khi Ngài bảy mươi bốn tuổi.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngorchen đã viết nhiều luận giảng Vajrayana quan trọng, và tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Lamdre chủ yếu đều qua Ngài. Các vị thầy vĩ đại khác của Ngor <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> Konchog Lhundrup; Panchen Ngawang Chodrag; và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gần đây</span> hơn, Ngài Loter Wangpo là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> Sakya chính của Ngài Khyentse Wangpo. Ngor cũng được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> về sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo tồn</span> của họ về cái gọi là bảy mandala của Ngor: Guhyasamaja, Hevajra, Chakrasamvara, Vajrayogini, Vajrabhairava, Sarvavidya, và Mahakala.</p>
<p style="text-align: justify;">Dòng truyền Tshar được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành lập</span> bởi vị tổ được bầu Tsarchen Losal Gyatso (1502-1567 C.E.), người bắt đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo Phật</span> của mình như một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> Gelugpa. Ngài sinh năm tuất thủy, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thọ giới</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sa di</span> từ Dalai Lama thứ nhất, Gendun Gyatso, và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu hành</span> tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu viện</span> Tashi Lungpo. Vì Ngài có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">niềm tin</span> mạnh mẽ vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Sakya và ở vị tổ Sakya, Doringpa, vị thầy chính của Ngài, Tsarchen Losal Gyatso nhận được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiên tri</span> từ Vajrayogini trong thân người, nên Ngài đi tìm Doringpa, đang cư trú trong khu rừng bao quanh Pháo Đài Đá Ka’u gần Sakya.</p>
<p style="text-align: justify;">Tsarchen <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt đến</span> cấp độ thấu suốt cao và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span> vào lúc sáu mươi lăm tuổi, thân <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vật chất</span> của Ngài tan hòa vào dharmadhatu (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">pháp giới</span>). Ngài không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành lập</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới luật</span> mới của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu viện</span>, nhưng dòng truyền Tshar đã được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu viện</span> Rongton Sheja Kunrig của Nalendra Phanpho. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bản thân</span> Ngài Tsarchen có nhiều vị thầy và nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span>, và có nhiệc bậc thầy vĩ đại trong dòng truyền Ngài, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm </span>Đức Dalai Lama thứ năm, người nhận được cả hai Lamdre và Vajrayogini từ Nesar Je trong thế kỷ mười bảy.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Các h<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ọc thuyết</span> của Phái Sakya</b></p>
<p style="text-align: justify;">Phái Sakya giảng dạy đầy đủ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phạm vi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">các chủ</span> đề <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thích hợp</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ba thừa</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới thiệu</span> chung trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo Tây Tạng</span> – đó là Hinayana, Mahayana, và Vajrayana (hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại Thừa</span> Mantra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bí Mật</span> Hiếm Thấy).</p>
<p style="text-align: justify;">Khi trình bày <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">triết học</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo Phật</span>, nó chia <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> thành bốn phần: Vaibhashika (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thắng Luận Tông</span>), Sautrantika (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kinh Lượng Bộ</span>), Chittamatra (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Duy Thức</span>), và Madhyamaka (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Đạo</span>). Giống như tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học phái</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan điểm</span> của Sakya được xem là Madhyamaka.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quan điểm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cứu cánh</span> của nó được gọi là “quan điểm của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự do</span> từ sự phát triển” (spros bral lta ba) được xác định <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rõ ràng</span> trong Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phân Biệt</span> Về Những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quan Điểm</span> (lta ba shan dbyed) của Gorompa Sonam Senge. Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> của hai phái chính khác của Madhyamaka <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> là phái Khác <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tánh Không</span> của Dobulwa Sherab Gyaltsan, khởi nguyên trong phái Jonang, và sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải nghĩa</span> của Je Tsongkhapa về Prasanga Madhyamaka (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quán</span> Ứng Thành). Phái Sakya <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm thấy</span> nguồn gốc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan điểm </span>Madhyamaka <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối hậu</span> từ dòng truyền được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới thiệu</span> đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> bởi dịch giả Patshab Nyima Dragpa ở thế kỷ mười hai, người cùng với pandita Jayananda <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> những bản văn Madhyamaka của Chandrakirti như sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải nghĩa</span> xuất sắc của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> về phái Madhyamaka của Nagarjuna (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Long Thọ</span>). Sự yêu thích <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban đầu</span> của người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống</span> Madhyamaka của Bhavaviveka và Shantarakshita <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới thiệu</span> ở thế kỷ thứ tám lại bị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lu mờ</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Không giống như những người có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uy tín</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> sau này, như Tsongkhapa và Jonang, phái Sakya <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tranh luận</span> với sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thận trọng</span> hơn về Madhyamaka, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">theo sau</span> gần gũi với những pandita <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ </span>và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chống lại</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> mới mẻ.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Lamdre, c<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">on đường</span> và kết quả của nó</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo lý</span> chủ yếu trên cấu trúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> của Sakya là vòng hướng dẫn kết nối với Hevajra-tantra được biết như Hướng Dẫn Miệng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quý Báu</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con Đường</span> và Kết Quả của Nó (gsung ngag rin po che lam dang ‘bras bu dang bcas). <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo lý</span> này bắt nguồn từ vị pandita <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> Sri Dharmapala của Nalanda ở thế kỷ thứ chín, người đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Vajrayana trong nhiều năm. Sau một loạt các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chướng ngại</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span>, Ngài gặp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa thân</span> lưu xuất của bổn tôn Nairatma phối ngẫu của Heruka, ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và làm Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> sáu bhumi (địa) trong sáu ngày. Sau khi hạnh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cấp tiến</span> của Ngài được biết, Ngài bị trục xuất khỏi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu viện</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> một yogin lang thang trước khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> thân cầu vồng và tan hòa vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> của Đức Avalokiteshvara ở miền nam <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài có hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> chính, từ họ các dòng truyền chủ yếu của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con đường</span> và Kết quả đều có nguồn gốc từ Dombhi Heruka và Krishnapa.</p>
<p style="text-align: justify;">Dombhi Heruka rất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thông minh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> đầy đủ trong lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span>, nên chỉ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">yêu cầu</span> một ít hướng dẫn và không ở lại lâu với Virupa. Dòng truyền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con đường</span> và Kết quả của Ngài được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xem như </span>dòng truyền về sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bình luận</span> Hevajra-tantra.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trái lại</span>, Krishnapa là một pandita <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> đã đi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du hành</span> và ở lại với Virupa vòng quanh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> và là người được Virupa thay đổi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tín ngưỡng</span>. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không sắc</span> bén như Dombhipa nên Virupa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban cho</span> những hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chi tiết</span> hơn, mà ngày nay còn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện hữu</span> như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bài Kệ</span> Vajra của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con Đường</span> và Kết Quả. Vì thế, dòng truyền của Krishnapa được xem là dòng truyền hướng dẫn sâu sắc, hay upadesha.</p>
<p style="text-align: justify;">Cả hai dòng truyền này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trải qua</span> một số vị thầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> khi được tái <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết hợp</span> bởi Lotsawa Drogmi của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>. Cuộc sống và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">việc làm</span> của Drogmi không bao hàm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rộng rãi</span> ở đây vì đã được trình bày <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chi tiết </span>ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nơi khác</span>.11 Chỉ cần nói rằng Drogmi nằm trong số những dịch giả viết nhiều nhất của giai đoạn mới, đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phiên dịch</span> Hevajra-tantra, Vajrapanjara-tantra, Samputa-tantra, và nhiều bản văn khác. Ngài cũng gom lại nhiều dòng hướng dẫn sâu sắc khác nhau từ mười hai năm tạm trú ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> như một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo Phật</span>. Về phần lớn, tất cả các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tài liệu</span> thô mà sau dẫn đến việc hình <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành sự</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới thiệu</span> riêng biệt của Sakya về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo</span> Vajrayana – đó là ba tantra – bắt nguồn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban đầu</span> từ Drogmi.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con đường</span> và kết quả đặt nền tảng trên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phạm vi</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bài kệ</span> vajra của Virupa. Nhưng các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bài kệ </span>này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban đầu</span> đề cập đến việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nâng cao</span> giai đoạn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span> và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> của mười ba giai đoạn của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận biết</span> tantric. Phần lớn phần còn lại của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> bắt nguồn từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Sahaja Mahamudra của Saraha và Nagarjuna được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giữ gìn</span> trong bản văn được gọi là Đạt Tới Phía Trước Một Tháp (mchod rten drung thob), và từ sự Không Thể Nghĩ Bàn (Acantyakramo-upadesha) của Kotalipa.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phương pháp</span> của giai đoạn phát sinh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất phát</span> chủ yếu từ Saroruhavajra cũng được biết như Padmakara và Padmavajra, người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> là Mahasiddha (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại thành tựu</span>) đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiển lộ</span> Hevajra-tantra. Các vị tổ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban đầu</span> của Sakya cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dựa trên</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi thức</span> của Saroruhavajra cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> của các Ngài, nhưng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> sau này đã thay thế <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi thức</span> này với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống</span> sáu chi của Durjayacandra được sắp xếp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hợp lý</span> hơn, bắt nguồn từ dòng truyền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con đường</span> và Kết quả của Dombhi Heruka.</p>
<p style="text-align: justify;">Những hướng dẫn khác <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> tumo yoga (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du già</span> nội hỏa) từ Krishnacarya, về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực chất</span> tương đồng tumo yoga <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm thấy</span> trong Sáu Pháp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Du Già</span> của Naropa của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Kagyu và bắt nguồn từ cùng vị tổ. Hướng dẫn Sahajasiddhi của Dombhi Heruka, những hướng dẫn của Indrabhuti, và những hướng dẫn về tám vị Mahasiddha khác tất cả đều được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết hợp</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bài kệ</span> vajra của Virupa thành một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống </span>hợp nhất về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> cho các giai đoạn phát sinh và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span> của Hevajra-tantra.</p>
<p style="text-align: justify;">Có nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> nhánh của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con đường</span> và Kết quả, guru yoga (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du già</span>), những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiêu trừ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chướng ngại</span>, và còn nữa, khiến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dần dần</span> được nhận làm con khi họ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiến bộ</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống</span> này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối thượng</span> của thân cầu vồng. Bản <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">văn Ấn</span> Độ chính được hỗ trợ bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiến thanh</span> tịnh của Sachen Kunga Nyingpo, người đã nhận những hướng dẫn cao hơn từ Virupa như đã nhắc đến trước đây, và những hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> này đã được chôn dấu và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giữ gìn</span> trong vài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế hệ</span>. Nhiều điểm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan điểm</span> Madhyamaka của Sakya được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chi tiết</span> hóa trong việc kết nối với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con đường</span> và Kết quả, nhất là trong Cây Như-Ý của Ngài Jetsun Dragpa Gyaltsen.</p>
<p style="text-align: justify;">Do đó, trụ cột và xương sống của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Sakya là sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> hàng ngày về các giai đoạn phát sinh và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết hợp</span> với sadhana Hevajra. Thêm vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> hàng ngày này là Hevajra guru yoga và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo vệ</span> của Virupa.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Vajrayogini</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thực hành</span> quan trọng thứ hai là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> vòng mà đích chính là sưu tập <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh tiếng</span> của Sakya về Mười Ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vàng Ròng</span>. Đây là vòng rất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thông dụng</span> của Khechari của Naropa, hay Naro Khachod khi bà được biết ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>. Nếu Hevajra là cột trụ của dòng truyền Sakya thì Vajrayogini là trái tim. Lopon Sonam Tsemo nói với em, Jetsun Rinpoche, “Về tất cả hướng dẫn ta có, Vajrayogini là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên thâm</span> nhất.” Vì thế, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Vajrayogini độc nhất của Naropa chỉ được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giữ gìn</span> trong phái Sakya hàng trăm năm và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">không thật</span> sự bắt đầu lan rộng đến các phái khác cho tới khi Dalai Lama thứ năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> từ Nesar Je.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo lý</span> Vajrayogini là trao truyền độc nhất của Naropa. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp nhận</span> chúng trong một linh kiến về Vajrayogini và chỉ truyền cho hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> chính người Nepal, anh em Phamthings, người đã làm nhà của họ ngay dưới hang động Asura ở Pharphing gần Kathmandu, Nepal. Sau <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một thế</span> hệ, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> này cùng với Chakrasamvara-tantra, đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> với Ngài Mal Lotsawa, một guru của Khon Konchog Gyalpo và Sachen Kunga Nyingpo. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo lý</span> Vajrayogini đặt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọng tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi bật</span> trong một sadhana ngắn và một bộ hướng dẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên thâm</span> về giai đoạn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> là hướng dẫn về “thiền định vượt lên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tư duy</span>.”</p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> có dạng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phổ thông</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span>, chủ yếu khác nhau trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chi tiết</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành </span>guru yoga và giai đoạn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span>. Có nói rằng nhiều bậc thầy trong dòng truyền Sakya đã thấu suốt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật tánh</span> qua sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Vajrayogini hơn là qua bất cứ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> khác nào. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">so sánh</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống </span>Hevajra, Vajrayogini <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> đễ hiểu và dễ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>; vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lý do</span> này, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Sakya về Vajrayogini đã trở nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phổ biến</span> khắp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, bất chấp về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Vajrakilaya</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Truyền thống</span> Khon về Vajrakilaya đã được nhắc đến. Nó chỉ là Kama, hay Long, dòng truyền về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý </span>Vajrakilaya đã được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên tục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> ngày nay. Trong lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự quán</span> đỉnh và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> dòng truyền của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Kama khác về Vajrakilaya đã được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span>, thì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Nyingma <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ưa chuộng </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> về các terma, như Kilaya <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phạm vi</span> rộng của Rigzin Godem. Điểm đặc trưng khác là Khon Kilaya không giống như các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Kama khác về Kilaya, là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Anuyoga, hơn là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống</span> Mahayoga. Vì thế, chỉ có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống</span> Kama Anuyoga về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Kilaya vẫn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tồn tại</span>.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Mahakala</b></p>
<p style="text-align: justify;">Vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hộ pháp</span> chính của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Sakya là Đại Mahakala bắt nguồn từ Vajrapanjara-tantra, được biết đến ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> như Gurgon (Panjaranatha). Panjaranatha Mahakala là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> như cả hai dharmapala (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hộ pháp</span>) và yidam (hộ Phật). Dòng truyền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> dharmapala là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết hợp</span> dòng truyền về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Mahakala đem đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> bởi một số vị tổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Dòng truyền đầu tiên bắt nguồn từ Sri Virupa và truyền qua Drogmi. Thứ hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất phát</span> từ Pandita Amoghavajra qua Bari Lotsawa và cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> như một bổn tôn. Thứ ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất phát</span> từ đại pandita Sraddhakaravarman qua các đại dịch giả Rinchen Zangpo, Trag Tenpa, và Mal Lotsawa và là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành </span><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo vệ</span> thông thường vẫn còn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sử dụng</span> trong Sakya <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> nay. Dòng truyền thứ tư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất phát</span> từ Sakya Sri qua Sakya Pandita.</p>
<p style="text-align: justify;">Mahakala Nhỏ hơn là Chaturmukha Mahakala, được xem là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo vệ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học thuyết</span> của Sakya và đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> với Nyan Lotsawa. Dòng truyền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo vệ</span> này được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết hợp</span> với Guhyasamaja-tantra và tantra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> về Chakrasamvara.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>Những h<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ọc giả</span> sau này trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Truyền thống</span> Sakya</b></p>
<p style="text-align: justify;">Các học giả-thành tựu của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Sakya là quá nhiều để tính đếm, nhưng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ảnh hưởng</span> của các Ngài trên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn thể</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> có tính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">then chốt</span>. Các học giả-thành tựu của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống </span>Sakya như Yagton, Tagtsang Lotsawa, Rongton, Gorampa, Sakya Chogden, và trong thời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện đại</span> là Jamyang Khyentse Wangpo và Loter Wangpo như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">như học</span> giả đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kỳ diệu</span> như nhau.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Truyền thống</span> Sakya đã giữ ngọn cờ về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiến thức</span> và thấu suốt cao trong bầu trời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> từ khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành lập</span>. Những bậc thầy Sakya đã hỗ trợ và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nuôi dưỡng</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> của các phái khác trong những thế kỷ. Ví dụ, Drugpa Kagyu siddha Yangonpa là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của Sakya Pandita; Longchenpa là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của Lama Dampa Sonam Gyaltsen; Tsongkhapa là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của cả hai Lama Dampa Sonam Gyaltsen và Rendawa Zhonnu Lodo; và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gần đây</span> hơn, Đại Kongtrul và Mipham đều là các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của Jamyang Khyentse Wangpo.</p>
<p style="text-align: justify;"><i></i><b>Acharya Lama Migmar Tseten</b></p>
<p><em>Việt dịch: Tuệ Pháp</em></p>
<p><em>Nguyên tác: Kho báu của dòng truyền thừa Sakya </em> -<em> Treasures of the Sakya Lineage </em></p>
<p><i>1. Dong, sBra, ‘Bru, và sGa là sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> rus chen bzhi (bốn thị tộc lớn). Chogyal Namkhai Norbu.</i><br />
<i>2. Mu là một bộ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thần thánh</span> cổ của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>.</i><br />
<i>3. Người Mon thường được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận dạng</span> với khu vực của Bhutan.</i><br />
<i>4. Bảy người mà Shantarakshita <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thọ giới</span> để xem người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới luật</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu viện</span> hay không.</i><br />
<i>5. Hai mươi tám <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiên nữ</span> thường <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi quỹ</span> của Nyingma Mahayoga.</i><br />
<i>6. Nữ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hộ pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đứng đầu</span> của phái Nyingma và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo vệ</span> chính của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Dzogchen.</i><br />
<i>7. Avalokiteshvara, Manjushri, và Vajrapani.</i><br />
<i>8. Cyrus Stearn, Cuộc Sống <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Minh Bạch</span> (Boston: Nhà Xuất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bản Trí</span> tuệ, 2001).</i><br />
<i>9. Zhangton Chobar.</i><br />
<i>10. Saha, hay “không thể chịu nổi”, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">pháp giới</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ám chỉ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vũ trụ</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng ta</span> với các hành tinh, những thiên hà, và còn nữa.</i><br />
<i>11. Stearn, 2001.</i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/lich-su-cua-phai-sakya/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lịch sử sơ lược Truyền thống Sakya</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/lich-su-so-luoc-truyen-thong-sakya/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/lich-su-so-luoc-truyen-thong-sakya/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 01 Sep 2015 09:13:34 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Lịch sử chung]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Sakya]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3648</guid>
		<description><![CDATA[ Pháp Vương Jigdal Dagchen Sakya và Pháp Vương Sakya Trizin Cây truyền thừa dòng Sakya Sakya có nghĩa là Đất Màu Xám hay dòng truyền thừa Lam Thổ... Ngài Sakya Trizin đời thứ 41 hiện là Pháp Vương nắm giữ dòng truyền thừa Sakyapa Quý Tộc Họ Khon và Khon Lui Wangpo Sunga Từ thế kỷ tứ 8 đến nay, dòng&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/lich-su-so-luoc-truyen-thong-sakya/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"> Pháp Vương Jigdal Dagchen Sakya và Pháp Vương Sakya Trizin</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Truyền-thừa-Sakya-2.jpg"><img class="  wp-image-5852 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Truyền-thừa-Sakya-2-200x300.jpg" alt="Truyền thừa Sakya" width="365" height="548" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Cây truyền thừa dòng Sakya</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"><em>Sakya có nghĩa là Đất Màu Xám hay dòng truyền thừa Lam Thổ... Ngài Sakya Trizin đời thứ 41 hiện là Pháp Vương nắm giữ dòng truyền thừa</em><em> Sakyapa </em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="color: #000000;">Quý Tộc Họ Khon và Khon Lui Wangpo Sunga</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Từ thế kỷ tứ 8 đến nay, dòng họ Khon nổi danh là  dòng dõi quý tộc ở miền Nam xứ Tây Tạng.  Trong gia tộc họ Khon,  Khon Lui Wangpo Sunga là một trong bảy người Tây Tạng đầu tiên đã  đuợc thọ giới tỳ kheo dưới triều đại của vua Trisong Detsen và đã tu tập miên mật dưới sự hướng dẫn của đại đạo sư Liên Hoa Sanh. Cả dòng họ Khon đều là những đại thí chủ và hành giả theo truyền thống Nyingma tại vùng Tsang.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Đến thế kỷ thứ 11, truyền thống Nyingma tại vùng Tsang gặp nhiều biến thoái. Vị trưởng gia tộc họ Khon lúc bấy giờ, Khon Konchog Gyalpo, đã quyết định đi tầm thầy học đạo và đã có duyên hội ngộ với các vị Drogmi, Bari và Mal.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="color: #000000;">Drogmi và Những Giáo Huấn Của Đại Thành Tựu Giả Virupa</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Ngài Drogmi là một một dịch giả và hành giả danh tiếng đã  tu học  suốt mười tám năm tại Ấn Độ với đại học giả Shantipa tại đại học viện Vikramashila.  Một trong những giáo huấn quan trọng nhất mà ngài Drogmi đã thọ nhận và đã truyền lại cho vị trưởng tộc Khon Konchong Gyalpo chính là các giáo huấn của Mật Điển Hô Kim Cương (Hevajra Tantra) và giáo huấn Lamdré <em>- Đạo và Quả.  </em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Trải qua nhiều thế hệ truyền thừa, ngài Shantipa đã thọ nhận những giáo huấn về Hô Kim Cương và Lamdré  từ đại thành tựu giả Virupa, là một trong 84 vị đại thành tựu giả du già lừng danh nhất xứ Ấn. Ngài Virupa đã sống gần suốt cuộc đời mình ở tại  đại học viện Nalanda, ban ngày giảng dạy về hiển giáo và các giáo huấn của truyền thống Nguyên Thuỷ và Đại Thừa, nhưng ban đêm ngài bỏ giấc ngủ hằng đêm để tu tập theo các pháp tu của Mật Thừa, nhất là trì tụng mật chú của vị Hộ Phật Vajravarahi (Tib. Dorje Phagmo). Đến năm ngài 71 tuổi thì Virupa mới đạt được những  chứng đắc viên mãn; ngài lang thang khắp nơi như một hành giả du già và bắt đầu giảng dạy về các giáo huấn của Hô Kim Cương và Lamdré.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"><em>Trích từ Trang</em> <em><em><a style="color: #000000;" href="http://www.vietnalanda.org/linsakya.html">www.vietnalanda.org/linsakya.html</a> </em></em></span></p>
<p><span style="color: #ff0000;"><em>Mời các bạn đọc thêm về Truyền thừa Sakya 2 file dưới:</em></span></p>
<p><em><span style="color: #0000ff;"><span style="color: #0000ff;">01.</span> <a style="color: #0000ff; text-decoration: underline;" href="http://kimcuongthua.vn/wp-content/uploads/Vài-nét-về-dòng-truyền-thống-Sakya.pdf">Vài nét về dòng truyền thống Sakya</a></span></em></p>
<p><span style="color: #0000ff;">02. <em><a style="color: #0000ff; text-decoration: underline;" href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Vai-tro-tuong-lai-cua-Sakya-Trizin_TL-2014-FINAL-4.pdf">Vai tro tuong lai cua Sakya Trizin_TL 2014 FINAL 4</a></em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #0000ff;"> </span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/lich-su-so-luoc-truyen-thong-sakya/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
