<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Sùng kính Đạo Sư</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/thuc-hanh/sung-kinh-dao-su-thuc-hanh/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Fri, 17 Apr 2026 16:09:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Gọi Thầy từ ngàn xa trong sáu pháp du già của Naropa</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/goi-thay-tu-ngan-xa-trong-sau-phap-du-gia-cua-naropa/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/goi-thay-tu-ngan-xa-trong-sau-phap-du-gia-cua-naropa/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 27 May 2022 13:38:31 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Guru Yoga]]></category>
		<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Lời vàng chư đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Sùng kính Đạo Sư]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11193</guid>
		<description><![CDATA[KYÉ MA PA JE TSÜN LAMA RIN PO CHE Ôi Karmapa … *, bậc thầy quý tựa minh châu, KHYÉ SANG GYE KÜN DANG YER MÉD KYANG Dầu thầy không khác rời Phật bảo, NGÉ MÖ PEI BU LA THUG TSE WÉ Bởi từ bi như mẹ hiền thương con thảo, THRAL GYAL SÉ CHHOG GI TSHUL ZUNG NÉ Nơi&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/goi-thay-tu-ngan-xa-trong-sau-phap-du-gia-cua-naropa/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>KYÉ MA PA JE TSÜN LAMA RIN PO CHE<br />
Ôi Karmapa … *, bậc thầy quý tựa minh châu,<br />
KHYÉ SANG GYE KÜN DANG YER MÉD KYANG<br />
Dầu thầy không khác rời Phật bảo,<br />
NGÉ MÖ PEI BU LA THUG TSE WÉ<br />
Bởi từ bi như mẹ hiền thương con thảo,<br />
THRAL GYAL SÉ CHHOG GI TSHUL ZUNG NÉ<br />
Nơi ngôi pháp vương tử, Thầy đã hiện thân.<br />
LAR SAM ZHIN KYE WA ZHÉ DZÉD PA<br />
Với lòng đầy xót thương, thầy đã tái sinh thêm lần nữa<br />
PAR KAR MA PA ZHÉ YONG SU DRAG<br />
Ôi Karmapa, uy danh thầy phủ khắp thế gian.</p>
<p>JÉ KHYÉD KYI JIN LAB MI MEN KYANG<br />
Thầy tôn quý! Chúng sinh vô minh, chẳng nhận được phước lành thầy ban<br />
GYÜ NYÖN MONG DRAG PÖ YONG ZUNG NÉ<br />
Bởi não phiền phủ đầy trong dòng sông tâm thức<br />
LÉ NAG PO CHÖD PA DAR WEI THÜ<br />
Và cũng vì bao nghiệp bất thiện đã gây.<br />
DÜ NYIG MA NGA DÖI SEM CHEN NAM<br />
Trong kiếp u trược này, chúng sinh từ các cõi cao<br />
OG NGEN SONG YANG SA KHO NAR LHUNG<br />
chỉ đọa rơi vào các cõi thấp khổ.<br />
PHA THUG JÉ ZUNG SHIG KAMARPA<br />
Ôi Karmapa, xin thầy nhủ lòng từ bi mà thương xót chúng con</p>
<p>LÉ NGAR JHÉ NAM LA DÖN MA CHHI<br />
Những gì con đã làm trong quá khứ thảy đều vô nghĩa<br />
CHHÖ NGAR JHÉ NAM LA CHHÖ GYÉD DRÉ<br />
Việc tu hành của con vẫn trộn lẫn vào tám pháp thế gian***.<br />
LAM NAL MAR DRUB PA CHIG MA DREN<br />
Con chưa từng ngộ một niệm nào đúng theo chánh đạo.<br />
DA KHUYED RANG MIN PA RE SA MÉD<br />
Ngoại trừ thầy ra, con không còn nơi nào để nương tựa.<br />
PHA THUG JÉ ZUNG SHIG KARMA PA<br />
Ôi Karmapa, xin nhủ lòng từ bi mà thương xót chúng con</p>
<p>LAR SHIN JÉI KHYE BÜ GYAB NÉ DÉD<br />
Sau lưng con, thần chết đang tìm rượt đuổi<br />
DÜ LO DA ZHAG GII DÜN NÉ SU<br />
Trước mặt con, ngày ngày, tháng tháng, năm năm tiếp nối trôi mau<br />
TRAL NAM YENG JHA WÉ BAR NE TRID<br />
Trong khoảng giữa, con lại để biếng lười sai xử,<br />
DE MA TSHOR LÜ SHIG JUNG NYEN DUG<br />
Nguy lắm thay con đang tự mình dối gạt mình.<br />
PHA THUG JÉ ZUNG SHIG KARMA PA<br />
Ôi Karmapa, xin nhủ lòng từ bi mà thương xót con</p>
<p>ZHÖN WANG PO SAL TSHÉ JI PÉI SEM<br />
Khi các giác quan còn trẻ trung và nhạy bén, con có tâm của một đứa trẻ dại khờ,<br />
LÜ DAR LA BAB TSHÉ DREL WÉ YENG<br />
Đến tuổi thiếu thời, con lại chạy theo chuyện thế gian.<br />
DA GÉ SHING KHOG PAR GYUR PÉI TSHÉ<br />
Giờ đây con đã tóc bạc lưng còng<br />
CHHÖ SHA MAR DREN KYANG CHHI NÉ SONG<br />
Bắt đầu nghĩ tới chuyện tu hành, e rằng đã trễ.<br />
PHA THUG JÉ ZUNG SHIG KARMA PA<br />
Ôi Karmapa, xin nhủ lòng từ bi mà thương xót chúng con</p>
<p>RANG DÖD PAR DÖD KYANG DÖD WANG MÉD<br />
Dầu con có muốn sống lâu, thọ mạng này cũng chẳng theo ý muốn<br />
NOR KHYER BAR DÖD KYANG KHYER MI TUB<br />
Dẫu con có muốn mang sang giàu vào cõi chết, con không thể nào<br />
DROG DROG PAR DÖD KYANG RANG CHIG PUR<br />
Dẫu con có muốn lưu lại cùng thân hữu, con buộc phải lên đường đơn độc<br />
SANG JIG TEN PHA ROL DRO WAR NGÉ<br />
Chắc chắn rằng một ngày con sẽ bỏ lại thế gian này, tất cả sau lưng.<br />
PHA THUG JÉ ZUNG SHIG KARMAPA<br />
Ôi Karmapa, xin nhủ lòng từ bi mà thương xót chúng con</p>
<p>TSHÉ DI I BAG CHHAG PEN PÉI THÜ<br />
Bất cứ điều gì biểu hiện trong thân trung ấm<br />
LAM BAR DOI TRANG NE CHI DRA JUNG<br />
Đều do tập khí của đời này thúc đẩy<br />
PÉ DANG SUM NYAL WÉI MI LAM ZHIN<br />
Và rất khó để con kiểm soát<br />
LAR RANG WANG THOB PA SHIN TU KAR<br />
có khác gì (kiểm soát) giấc mộng đêm qua.<br />
PHA THUG JÉ ZUNG SHIG KARMA PA<br />
Ôi Karmapa, xin nhủ lòng từ bi mà thương xót chúng con</p>
<p>CHIR KHOR WÉI CHHÖ LA NYING PO MÉD<br />
Nhìn ra mọi việc trong cõi luân hồi đều không có thực nghĩa<br />
GÖ MI TAG LÜ LA NYING PO MÉD<br />
Và chính ngay tấm thân tạm bợ này rốt cũng không thực chất<br />
DI NAM KHAR SHAR WÉI JA TSHÖN DRA<br />
Chỉ biểu hiện ra như ánh cầu vồng thoắt hiện trời cao.<br />
DÉ DEN PAR ZUNG YANG YAL NÉ DRO<br />
Dầu con cố nắm bắt các tướng như là thực có, chúng rồi tan biến.<br />
PHA THUG JÉ ZUNG SHIG KARMA PA<br />
Ôi Karmapa, xin nhủ lòng từ bi mà thương xót chúng con</p>
<p>YAR SANG GYE NAM LA DED PA MÉD<br />
Nếu đối trên chư Phật không sinh niềm kính ngưỡng<br />
MAR SEM CHEN NAM LA NYING JÉ CHHUNG<br />
Và trước dưới chúng sinh chẳng có lòng xót thương<br />
GÖ NGUR MIG GYÖN KYANG ZUG NYEN TSAM<br />
Dẫu mặc y phước điền chư phật cũng chỉ là hình thức<br />
TRA PU DRI ZHAR YANG DÖN GO MÉD<br />
Đầu cạo trọc cũng có nghĩa lý gì<br />
PHA THUG JÉ ZUNG SHIG KARMA PA<br />
Ôi Karmapa, xin nhủ lòng từ bi mà thương xót chúng con</p>
<p>CHHÖ THÖ PA MANG YANG NÉD MA TROL<br />
Con dầu nghe rất nhiều giáo pháp, điểm cốt yếu thảy đều rơi mất<br />
KHA ZHE PA MANG YANG GYÜ MA DUL<br />
Con khéo giảng nghĩa giáo pháp, nhưng lại chẳng biết điều phục tâm<br />
NÉ RI TRHÖ DRIM KYANG KHYIM LA SÉD<br />
Dẫu ở chốn u tịch, con lại vương vấn đời sống gia đình<br />
MIG TA TANG JHÉ KYANG NYAM NYONG MÉD<br />
Kẻ khác nhìn vào mắt con, tưởng rằng đang thiền định, nhưng kỳ thực không có thực chứng gì.<br />
PHA THUG JÉ ZUNG SHIG KARMA PA<br />
Ôi Karmapa, xin nhủ lòng từ bi mà thương xót chúng con</p>
<p>MI ZHEN GYI KYÖN TSHANG CHHUNG DU RIG<br />
Con, nhìn thấy hết mọi lỗi nhỏ nhặt nơi kẻ khác<br />
RANG KHONG NÉ RUL WA YONG MA TSHOR<br />
Lại chẳng nhìn ra tâm mình đã dần mục nát.<br />
KHYÖD ZHEN GYII GO WO KOR KOR NÉ<br />
Con, lừa gạt chúng sinh hết lần này tới lần khác,<br />
DUG RANG GII NYÖ PA MA LAG SAM<br />
Không nhận ra rằng chính mình đang tự chuốc lấy khổ đau.<br />
PHA THUG JÉ ZUNG SHIG KARMA PA<br />
Ôi Karmapa, xin nhủ lòng từ bi mà thương xót chúng con</p>
<p>KHONG GYAL WÉI SUNG RAB MA LÜ PA<br />
Mọi kinh điển của các đấng Thế Tôn, không có ngoại lệ<br />
SEM GYÜ LA É PHEN MI SEM PAR<br />
Liệu phải để phục vụ bản thân ta?<br />
KHÉ DRAG PA DRUB CHHIR THÖ SAM JHA<br />
Có phải con đang nghe và học giáo pháp nhằm đạt được lợi danh?<br />
DÉ THAR PÉI LAM DU E DRO AM<br />
Đây có phải là con đường giải thoát để hành trì?<br />
PHA THUG JÉ ZUNG SHIG KARMA PA<br />
Ôi Karmapa, xin nhủ lòng từ bi mà thương xót chúng con</p>
<p>KHYÖD CHHÖ PÉI TSHUL GYII JIG TEN DRUB<br />
Trên hình thức, con là bậc chân tu hoàn hảo, vậy mà con vẫn tạo nghiệp thế gian.<br />
LAR KYE WO KÜN GYI CHHÖ PA LEN<br />
Dẫu con được mọi người tôn xưng làm bậc thánh<br />
TSHE YANG YENG JHA WÉI NGANG DU TANG<br />
Con vẫn bỏ phí đời mình trong xao lãng<br />
UG THOG GER DRO DÜ CHI DRA DANG<br />
Những điều gì sẽ xảy đến cho con khi hơi thở này ngưng?<br />
PHA THUG JÉ ZUNG SHIG KARMA PA<br />
Ôi Karmapa, xin nhủ lòng từ bi mà thương xót chúng con</p>
<p>DAG DÉ LÉ KYO WA TING NÉ KYÉ<br />
Con xin thành tâm sám hối<br />
YAR SANG GYE NAM LA SOL WA DEB<br />
Con khẩn cầu chư Phật trên cao<br />
CHIR NYIG MÉI DÜ KYI SEM CHEN DANG<br />
Trong thời kỳ u tối này, xin thương tưởng đến tất cả chúng sinh<br />
GÖ CHHÖ PÉI TSHUL CHEN DAG SOG LA<br />
Nhất là những kẻ đang trầy trật trên đường tu đạo.<br />
PHA THUG JÉ ZUNG SHIG KARMA PA<br />
Với lòng xót thương, ôi Karmapa,<br />
BU NGA LA RE SA ZHEN MED PÉ<br />
Con là đứa con tâm linh của thầy, ngoại trừ thầy con không có nơi nào khác để trông cậy<br />
JHA DRAL GYI KYID DUG KHYÖD RANG SHÉ<br />
Bởi vì thầy hiểu thấu niềm vui cũng như nỗi khổ trong con<br />
YING ZAG MÉD DE CHHEN PO DRANG NA<br />
An trú nơi cung đại hỷ giữa không gian không còn sự khổ<br />
GÖN KHYÉD DANG YER MED RO CHIG SHOG<br />
Ôi đấng pháp vương, nguyện cho con được hợp nhất với thầy không thể phân ly.</p>
<p><strong>Đức Shamarpa 5</strong></p>
<p><em>Việt dịch: Sangay Kunga Chophel</em></p>
<p><em>Trích: Calling guru from afar - NXB Kagyu Institute for Buddhist Studies Kirtipur, Nepal</em></p>
<p><em>* Trong tiếng anh: đoạn này dịch là “vị cha tâm linh” - “pháp phụ”. Đối với hành giả tu tập Phật pháp, vị bổn sư cũng như người cha đã sinh ra mình lần nữa trong Giáo Pháp, đã ban cho mình giới thân và huệ mạng.</em><br />
<em>** Còn gọi là các cõi đọa, bao gồm: súc sinh, ngạ quỷ và địa ngục.</em><br />
<em>*** Tám pháp thế gian (còn gọi là bát phong, tám gió) là bốn cặp thăng trầm trong cuộc đời nhìn theo con mắt thế gian: được (thịnh) và mất (suy), danh thơm (hủy) và tiếng xấu (dự), khen ngợi (xưng) và chê bai (cơ), hạnh phúc (lạc) và đau khổ (khổ).</em></p>
<div class="ddict_btn" style="top: 4168px; left: 126.75px;"><img src="chrome-extension://bpggmmljdiliancllaapiggllnkbjocb/logo/48.png" alt="" /></div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/goi-thay-tu-ngan-xa-trong-sau-phap-du-gia-cua-naropa/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Vị Thầy tâm linh quý báu</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/vi-thay-tam-linh-quy-bau/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/vi-thay-tam-linh-quy-bau/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 07 Jan 2020 05:35:49 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Sùng kính Đạo Sư]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=9716</guid>
		<description><![CDATA[Một miếng pha lê nhận vào mọi màu sắc của miếng vải mà nó được đặt lên đó, dù là trắng, vàng, đỏ, hay đen. Cũng thế, những người mà bạn sống qua một thời gian với họ, dù ảnh hưởng của họ là xấu hay tốt, cũng sẽ có một tác động to lớn đối với đường hướng của&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/vi-thay-tam-linh-quy-bau/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Một miếng pha lê nhận vào mọi màu sắc của miếng vải mà nó được đặt lên đó, dù là trắng, vàng, đỏ, hay đen. Cũng thế, những người mà bạn sống qua một thời gian với họ, dù ảnh hưởng của họ là xấu hay tốt, cũng sẽ có một tác động to lớn đối với đường hướng của cuộc đời hay sự thực hành của bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Việc bạn sống một thời gian với những thiện tri thức đích thực sẽ làm tâm hồn bạn tràn đầy lòng thương yêu đối với tất cả chúng sinh và giúp cho bạn thấy rõ sự tham luyến và sân hận tiêu cực ra sao. Việc sống với những vị ấy, và noi theo mẫu mực của họ, sẽ làm bạn thấm đẫm những phẩm tính tốt đẹp của họ, giống như mọi thứ chim muông bay quanh một ngọn núi vàng được đầm mình trong ánh sáng vàng chói lọi của nó.</p>
<p style="text-align: justify;">Để giải thoát chính mình ra khỏi samsara, vòng luân hồi sinh tử khắc nghiệt, và đạt được sự Toàn Giác, bạn phải nương tựa một vị Thầy đích thực. Một vị Thầy như thế luôn luôn suy nghĩ, nói năng, và hành động hoàn toàn phù hợp với Pháp. Ngài chỉ cho bạn điều cần phải làm để tiến bộ trên con đường, và những chướng ngại cần phải tránh. Một thiện tri thức đích thực thì như cánh buồm cho phép con thuyền nhanh chóng vượt đại dương.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu bạn tin tưởng điều ngài nói, bạn sẽ tìm được con đường ra khỏi sinh tử một cách dễ dàng; đó là lý do khiến vị Thầy được coi là vô cùng quý báu. Sự Giác ngộ không phải là cái gì có thể thành tựu chỉ bằng cách theo đuổi những ý tưởng của riêng bạn; mỗi giai đoạn riêng biệt của việc thực hành của bạn, dù được đặt nền trên các Kinh điển hay tantra, đều đòi hỏi một sự giảng dạy từ một vị Thầy có phẩm tính.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta được dạy rằng tất cả chư Phật trong quá khứ, chư Phật trong hiện tại và chư Phật trong tương lai đều đã thành tựu hay sẽ thành tựu Phật Quả bằng cách đi theo một vị Thầy.</p>
<p style="text-align: justify;">Giáo lý của Đức Phật thật bao la, sự truyền dạy của giáo lý ấy thật không kể xiết, và những loại chủ đề mà nó bao gồm thì vô tận. Nếu không theo những giáo huấn cốt tủy của một vị Thầy thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được cách đúc kết tất cả những giáo lý ấy thành những điểm trọng yếu nhất và đưa chúng vào thực hành.</p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù vị Thầy xuất hiện với chúng ta trong thân tướng con người, và dường như hành xử trong một cách thế con người bình thường, nhưng thực ra tâm ngài không khác biệt tâm Đức Phật. Sự khác biệt duy nhất giữa vị Thầy và Đức Phật nằm ở chỗ lòng tốt của ngài đối với bạn, là điều trong thực tế vượt trội lòng tốt của tất cả chư Phật trong quá khứ – bởi lẽ mặc dù chư Phật đã hoàn toàn giác ngộ, bạn không thể gặp được các Ngài bằng xương bằng thịt mà cũng không được nghe giáo lý của các Ngài. Trái lại, vị Thầy tâm linh của bạn đã xuất hiện trong thế giới này, ngay trong thời đại của bạn. Bạn có thể gặp ngài và nhận từ ngài những giáo huấn sẽ đưa bạn ra khỏi vũng lầy sinh tử để đi tới Giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Dilgo Khyentse Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Thanh Liên</em></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Nguyên tác: </i><i>Journey to Enlightenment, The Life and World of Khyentse Rinpoche, Spiritual Teacher from Tibet - </i><i>By Matthieu Ricard</i></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/vi-thay-tam-linh-quy-bau/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Noi gương chứng ngộ và công hạnh của Thầy</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/noi-guong-chung-ngo-va-cong-hanh-cua-thay/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/noi-guong-chung-ngo-va-cong-hanh-cua-thay/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 09 Aug 2019 15:06:51 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Sùng kính Đạo Sư]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=9441</guid>
		<description><![CDATA[Khi bạn hoàn toàn thuần thục trong cách thức theo chân một vị Thầy, bạn phải giống như một con thiên nga lướt nhẹ nhàng trên mặt hồ tinh khiết, vui đùa trong nước mà không làm nước vẩn đục; hay giống như một con ong trong vườn hoa, hút mật từ những đóa hoa nhưng không làm tổn hại&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/noi-guong-chung-ngo-va-cong-hanh-cua-thay/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi bạn hoàn toàn thuần thục trong cách thức theo chân một vị Thầy, bạn phải giống như một con thiên nga lướt nhẹ nhàng trên mặt hồ tinh khiết, vui đùa trong nước mà không làm nước vẩn đục; hay giống như một con ong trong vườn hoa, hút mật từ những đóa hoa nhưng không làm tổn hại màu sắc hay hương thơm của chúng. Hãy làm bất cứ điều gì Ngài dạy bảo mà không bao giờ cảm thấy chán nản hay mệt mỏi. Hãy lãnh hội từ vị Thầy của bạn, và bằng niềm tin và sự kiên định, hãy quyết tâm thấm nhuần tất cả những phẩm tính trí tuệ, quán chiếu và thiền định của Ngài, giống như những gì chứa đựng trong một cái bình hoàn hảo được rót sang một chiếc bình khác. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Giống như một con thiên nga bơi trên mặt hồ tuyệt hảo.  </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hay con ong nếm hưởng mật hoa,  </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không bao giờ phàn nàn, mà luôn luôn lãnh hội lời Ngài,  </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hãy luôn hầu hạ Thầy trong cung cách mẫu mực.  </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nhờ lòng sùng kính như vậy, bạn sẽ trực nghiệm tất cả mọi phẩm hạnh của Ngài. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bất cứ khi nào vị Thầy siêu phàm của bạn tích lũy được những cơn sóng phước tuệ vĩ đại qua những công hạnh Bồ Tát của Ngài, thì việc chính bạn tham gia vào công đức tích lũy công đức đó – bằng những phẩm vật cúng dường tối thiểu hay qua những nỗ lực của thân hay khẩu, hoặc thậm chí chỉ với vật cúng dường là tâm hoan hỷ của bạn trước sự việc nhỏ bé nhất mà Ngài đã làm – thì điều này cũng sẽ đem lại cho bạn nhiều công đức như những công đức đã phát sinh ra từ chính tác ý vô song của Ngài. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một lần kia có hai người du hành đến trung tâm Tây Tạng. Thực phẩm duy nhất của một trong hai người là một nhúm bột tsampa nâu làm bằng đậu. Ông ta đưa bột cho người bạn đồng hành, trộn nó với một số lượng rất nhiều bột tsampa làm bằng lúa mạch trắng của người kia. Vài ngày sau, người khá giả hơn trong hai người nói với bạn rằng: “Có lẽ bây giờ bột tsampa của anh đã hết”. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Hãy nhìn xem”, người kia nói. Họ nhìn thấy vẫn còn một ít bột tsampa làm bằng đậu. Mặc dù họ kiểm điểm nhiều lần, bột tsampa làm bằng đậu vẫn không hết, nên cuối cùng họ phải chia đều tất cả bột tsampa ra. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cũng thế, chỉ nhờ cúng dường một phần các đóng góp nhỏ bé cho những hành động thiện lành của người khác, hay bằng cách tham gia bằng thân hay khẩu, bạn cũng có thể đạt được nhiều công đức như họ. Đặc biệt hơn nữa, nếu bạn phụng dưỡng cho những nhu cầu hàng ngày của Thầy, đi đưa tin cho Ngài hoặc thậm chí chỉ quét dọn phòng Ngài là cũng một cách tích lũy công đức không thể sai lầm; vì thế hãy nỗ lực làm những việc như vậy càng nhiều càng tốt trong khả năng của bạn. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mọi hành động phù hợp với mục đích của một vị thánh sư,  </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Được thật sự tiến hành trong Bồ Đề Tâm hạnh,  </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sự tích lũy công đức và trí tuệ,  </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tất cả mọi nỗ lực phụng dưỡng Thầy, đưa tin, hoặc ngay  </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">cả quét dọn phòng Ngài,  </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tất cả sẽ trổ quả lành – đây là con đường tích lũy  </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">công đức tốt lành nhất. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong tất cả những suối nguồn cao cả nhất của quy y hay của những cơ hội để tích tụ công đức thì không có thứ gì lớn lao hơn vị Thầy. Đặc biệt là trong khi Ngài ban một lễ quán đảnh hay giảng dạy, lòng bi mẫn và năng lực gia trì của tất cả chư Phật và Bồ Tát trong mười phương rót vào thân tướng vi diệu của Ngài, và Ngài trở nên bất khả phân với tất cả chư Phật. Vì thế, trong một thời điểm như vậy, việc cúng dường Ngài một miếng nhỏ thực phẩm vào lúc ấy còn giá trị hơn hàng trăm hay hàng ngàn vật cúng dường vào những lúc khác. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong giai đoạn phát triển của pháp Bổn Tôn du già (deity yoga), có rất nhiều hình tướng khác nhau của những vị </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bổn Tôn để ta có thể thiền quán, nhưng bản tính của tất cả các Ngài không là gì khác hơn ngoài chính vị Bổn Sư hay vị đạo sư gốc của bạn. Nếu biết được điều đó, năng lực gia trì sẽ đến thật nhanh chóng. Trong giai đoạn toàn thiện, tất cả những cách thức phát triển trí tuệ đều tùy thuộc duy nhất vào năng lực của lòng quy ngưỡng Bổn Sư của bạn và vào năng lực gia trì của Ngài. Điều này bao gồm cả việc trí tuệ sẽ sinh khởi ngay trong bạn từ chính sự chứng ngộ của Thầy. Như vậy, tinh túy của những gì được chứng ngộ trong tất cả những giai đoạn hành trì, bao gồm những chứng ngộ trong hai giai đoạn phát triển và toàn thiện, tất cả đều được thể hiện trong chính vị Thầy. Đó là điều tại sao tất cả Kinh điển và Mật điển đều mô tả Ngài như một vị Phật trong thân tướng của con người. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vì sao Ngài là nơi nương tựa và là ruộng công đức?  </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Do bởi những pháp du già nội và ngoại để thành tựu Bổn Sư  </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chứa đựng tinh túy của những chứng ngộ trong các giai đoạn phát triển và toàn thiện.  </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đó là lý do tại sao tất cả Kinh điển và Mật điển đều nói Ngài chính là một vị Phật. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mặc dù trí tuệ bát nhã của một vị Thầy siêu phàm thì đồng nhất với tất cả chư Phật, nhưng Ngài đã xuất hiện trong thân tướng của một người bình thường để dẫn dắt chúng ta là những đệ tử ô trược của Ngài. Vì thế, trong lúc chúng ta có được Ngài ở đây trong thân tướng con người, chúng ta phải nỗ lực hết mức để thực hiện bất kỳ điều gì Ngài dạy bảo và để hợp nhất tâm chúng ta với tâm Ngài qua ba loại phụng dưỡng khác nhau. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có những người, thay vì phụng dưỡng, tôn kính và vâng lời Thầy khi Ngài còn sống, thì giờ đây lại tự cho là Ngài đã viên tịch để ngồi thiền định trước một tấm hình ai đó đã họa Ngài. Có những người cho là đã an trụ được trong những quán chiếu về chân như và họ đi tìm kiếm tất cả những gì uyên áo cao siêu ở nơi đâu khác thay vì cầu nguyện với lòng quy ngưỡng để có thể đón nhận được những phẩm hạnh cao cả của giải thoát và chứng ngộ được trí tuệ bát nhã của Thầy. Điều này được gọi là “thực hành mâu thuẫn với pháp hành trì”. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Việc được gặp gỡ Thầy và được Ngài dẫn dắt trong trạng thái trung ấm chỉ có thể xảy ra do một sự nối kết tâm thức đã được thiết lập trước đó nương vào lòng sùng kính vô biên của chúng ta và vào năng lực của lòng từ bi và cầu nguyện của vị Thầy. Không phải là Thầy sẽ đến trong thân vật lý. Vì vậy, nếu bạn thiếu lòng quy ngưỡng thì cho dù vị Thầy có thể toàn thiện tới đâu chăng nữa, Ngài sẽ không hiện diện ở đó để dẫn dắt bạn trong trạng thái trung ấm. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hầu hết những kẻ xuẩn ngốc sử dụng hình Thầy để thiền định  </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mà không tôn kính Ngài khi Ngài hiện diện trước mặt.  </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Họ quả quyết là thiền định về chân như, mà không thấu hiểu tâm của Thầy.  </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thật là một tai hoạ khi thực hành mâu thuẫn với pháp hành trì!  </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không có lòng quy ngưỡng mà gặp được Thầy trong trạng  </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">thái trung ấm thì quả là phép lạ! </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trước hết, bạn phải cẩn thận quán sát vị Thầy. Điều này có nghĩa là trước khi cam kết đi theo Ngài qua những lễ quán đảnh và những giảng dạy, bạn phải quán sát Ngài thật kỹ lưỡng. Nếu bạn nhận ra rằng Ngài có tất cả những phẩm hạnh và tính đức của một vị Thầy, thì hãy theo chân Ngài. Nếu vị Thầy thiếu một số phẩm hạnh thì đừng nên theo. Nhưng, từ lúc bắt đầu theo Ngài trở đi, hãy học tập để có niềm tin nơi </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài và nhìn Ngài với một tri kiến thanh tịnh, chỉ nghĩ tưởng tới những công hạnh của Ngài và thấy rằng tất cả những gì Ngài làm là thiện lành. Việc đi tìm những sai lầm nơi Ngài sẽ chỉ đem lại cho bạn những bất hạnh không thể suy lường. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Quán sát vị Thầy theo ý nghĩa chung có nghĩa quán sát xem Ngài có tất cả những phẩm hạnh đã được mô tả trong các Kinh điển và Mật điển hay không. Điều tối quan trọng là Ngài phải có Bồ Đề Tâm hay tâm giác ngộ. Như vậy thì việc quán sát một vị Thầy có thể cô đọng thành một điểm duy nhất: Ngài có Bồ Đề Tâm không? Nếu Ngài có Bồ Đề Tâm, Ngài sẽ làm bất cứ những gì tốt nhất cho đệ tử trong đời này và cho những đời tương lai, và việc họ đi theo Ngài không thể mang lại điều gì khác ngoài sự lợi ích. Giáo Pháp mà một vị Thầy như thế giảng dạy được nối kết với Đại Thừa, và đưa tới con đường chân chính. Trái lại, một vị Thầy thiếu Bồ Đề Tâm vẫn còn những tham muốn ích kỷ, và vì thế không thể chuyển hóa đúng đắn những quan điểm của đệ tử. Giáo Pháp mà họ giảng dạy dù có vẻ sâu xa và kỳ diệu cũng chỉ đem lại lợi ích cho những mối quan tâm tầm thường trong đời này. Đối với những điểm cần phải quán sát về một vị Thầy thì đây là điểm cô đọng tột yếu. Nếu trái tim của Thầy tràn đầy Bồ Đề Tâm thì hãy theo chân Ngài, cho dù ở vẻ bề ngoài Ngài có thể hiển lộ ra sao chăng nữa. Nếu vị thầy không có Bồ Đề Tâm thì đừng nên theo, dù cho thoạt đầu ta nhìn thấy tâm chán ghét thế gian, tâm cầu tìm giải thoát hay công phu hành trì miên mật và cung cách hành xử của vị thầy có ra vẻ tuyệt vời tới đâu chăng nữa. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tuy nhiên, với những người bình thường như chúng ta, không thể có một khối lượng quán sát kỹ lưỡng nào có thể giúp chúng ta tìm ra được những phẩm hạnh phi thường của những bậc siêu phàm đó, là những vị luôn che ẩn chân tính của mình. Trong lúc đó, lại nhan nhản những kẻ bất tài bịp bợm giả đò làm các bậc thánh, khéo léo trong nghệ thuật lừa gạt. Bậc vĩ đại nhất trong tất cả những vị Thầy là người mà chúng ta được có duyên nối kết với Ngài từ những đời trước (duyên tiền kiếp). Đối với Ngài thì việc quán sát thật không cần thiết. Hãy chỉ đơn giản được diện kiến Ngài, chỉ lắng nghe giọng Ngài nói – hoặc thậm chí chỉ nghe danh hiệu của Ngài – là mọi sự có thể được chuyển hóa trong chốc lát và khơi dậy một niềm tin đến nỗi chúng ta phải dựng tóc gáy. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài Rongton Lhaga nói với Ngài Milarepa* rằng: “Vị Lạt Ma mà ông đã có duyên từ những kiếp trước là bậc tối hảo trong tất cả muôn loài, là vua của các dịch giả, có danh hiệu là Marpa. Ngài sống ẩn tu tại Trowolung ở miền Nam. Hãy đi và tìm gặp Ngài!” </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chỉ nghe tới tên của Ngài Marpa không thôi là cũng đã đủ để khơi dậy trong Milarepa một niềm tin phi thường tận sâu thẳm tâm hồn. Ngài nghĩ: “Ta phải tìm gặp vị Lạt Ma này và trở thành đệ tử của Ngài, dù phải trả giá bằng cả cuộc đời ta”. Ngài kể lại với chúng ta rằng vào ngày hai thầy trò gặp nhau, Marpa đã ra đến tận ngoài đường để ngóng tìm Milarepa nhưng giả vờ như đang cày ruộng. Khi thoạt nhìn thấy Marpa, Milarepa không nhận ra được đó là vị Đạo Sư của mình. Tuy nhiên, trong chốc lát, mọi niệm tưởng lăng xăng tầm thường của Milarepa ngưng bặt và Milarepa đã đứng sững cả người. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">* Tiểu sử Ngài Milarepa được thuật lại chi tiết hơn ở cuối chương này. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nói chung, vị Đạo Sư mà chúng ta được gặp là do ở tri kiến thanh tịnh hay bất tịnh của chúng ta, và năng lực của những hành nghiệp của ta trong quá khứ. Vì vậy, cho dù Ngài có thể là người như thế nào chăng nữa thì cũng không bao giờ được ngừng coi Ngài như là một vị Phật đích thực mà nhờ vào thiện tâm của Ngài, bạn mới nhận được Giáo Pháp và những chỉ dạy riêng. Nếu không nhờ những nhân duyên tốt lành được tạo nên bởi những hành nghiệp của bạn trong quá khứ thì bạn sẽ không bao giờ có may mắn gặp được vị Thầy tuyệt hảo. Hơn nữa, nếu tri kiến của bạn bất tịnh, thì cho dù bạn có thể gặp được Đức Phật trong thân người, bạn cũng vẫn không thể nhận ra được những phẩm tính phi thường của Ngài. Vị Thầy mà bạn gặp nhờ vào năng lực của những hành nghiệp trong quá khứ, là người đã gia hộ từ bi cho bạn, vị Thầy đó chính là vị Thầy quan trọng nhất trong tất cả các vị Thầy. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong giai đoạn ở giữa, hãy thực sự theo chân Thầy, tuân lời Ngài trong tất cả mọi việc và bất chấp mọi gian khổ, nóng, lạnh, đói, khát. Hãy khẩn cầu Ngài với niềm tin và lòng quy ngưỡng. Hãy thỉnh cầu lời khuyên của Ngài về bất kỳ những gì bạn làm. Bất kể điều gì Ngài nói với bạn, hãy đưa vào thực hành, hoàn toàn nương tựa nơi Ngài. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào giai đoạn cuối, hãy noi gương sự chứng ngộ và hành động của vị Thầy, kể cả trong việc quán sát kỹ lưỡng cách xử sự của Ngài và hãy làm đúng như Ngài đã làm. Như tục ngữ có nói: “Mỗi hành vi là một sự noi gương; ai noi gương giỏi nhất, thì đó là người hành xử tốt nhất”. Có thể nói việc thực hành Giáo Pháp là sự noi gương chư Phật và Bồ Tát trong quá khứ. Khi người đệ tử đang học tập để trở thành giống như Thầy mình, anh ta cần phải thực sự đồng nhất với sự chứng ngộ và phương cách hành xử của vị Thầy. Người đệ tử phải giống như một (bức tượng) tsa-tsa sản xuất ra từ cái khuôn của vị Thầy. Giống như tsa-tsa tái tạo lại một cách trung thực tất cả những hoa văn được chạm khắc trên khuôn mẫu, thì cũng thế, người đệ tử phải quyết tâm đạt cho bằng được những phẩm hạnh y hệt như của Thầy, hay tối thiểu thì cũng gần giống được bất kỳ phẩm hạnh nào mà Thầy có. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bất kỳ người nào trước tiên khéo léo quán sát vị Thầy, sau đó khéo léo theo chân của Ngài, và cuối cùng khéo léo noi gương sự chứng ngộ và hành động của Ngài, thì người ấy sẽ luôn luôn ở trên con đường chân chánh, dù có thế nào đi nữa. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lúc ban đầu, khéo léo quán sát Thầy;  </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào lúc giữa, khéo léo theo chân Ngài;  </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào lúc cuối, khéo léo noi gương chứng ngộ và hành động của Ngài.  </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Làm được như vậy thì người đệ tử đang đi trên con đường chân chánh. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một khi bạn gặp được vị Thầy tâm linh cao quý, là người có được tất cả những phẩm hạnh cần thiết, thì hãy theo chân Ngài mà không cần phải quan tâm tới bất kỳ một sự an nguy nào khác – y như khi Thường Đề Bồ Tát (Sadaprarudita) đã đi theo Pháp Khởi Bồ Tát (Dharmodgata), như khi đại học giả Naropa đi theo Ngài Tilopa tối thượng, và như khi Ngài Jetsun Mila đi theo Ngài Marpa xứ Lhodrak. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trước tiên, đây là câu chuyện làm thế nào Thường Đề Bồ Tát (Sadaprarudita) đi theo Pháp Khởi Bồ Tát(Dharmodgata).* Ngài Thường Đề Bồ Tát (Sadaprarudita) đang cầu tìm Bát Nhã Ba La Mật(Prajnaparamita), là giáo lý của trí tuệ siêu việt. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một ngày nọ, trong lúc đi tìm kiếm, Ngài đến một nơi hoang vắng cô tịch, ở đó Ngài nghe một tiếng nói từ không trung: “Ôi, hỡi đứa con may mắn, hãy đi về hướng Đông và con sẽ được nghe. Hãy đi dù ngày hay đêm, bất kể nhọc nhằn, ngủ nghỉ hay mê mệt, nóng hay lạnh của thân xác. Chớ nhìn qua trái hay phải. Chẳng mấy chốc con sẽ nhận được Bát Nhã Ba La Mật. Giáo lý này sẽ đến từ trong Kinh sách hoặc được một nhà sư, hiện thân của Giáo Pháp, sẽ giảng dạy cho con. Vào khi đó, hỡi đứa con may mắn, hãy đi theo và trung thành với vị Thầy đã dạy con Bát Nhã Ba La Mật, hãy nhận Ngài làm Thầy và tôn kính Giáo Pháp của Ngài. Ngay cả nếu con nhìn thấy Ngài hưởng thụ năm khoái lạc giác quan, hãy nhận thức rằng các vị Bồ Tát luôn luôn thiện xảo khi sử dụng phương tiện, và đừng bao giờ đánh mất lòng tin của con”. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">* Danh hiệu Sadaprarudita có nghĩa là “Thường Xuyên Than Khóc”. Dharmodgata có nghĩa là “Giáo Pháp Vi Diệu”. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nghe được những lời đó, Thường Đề Bồ Tát (Saraprarudita) bắt đầu đi về hướng Đông. Nhưng chưa đi được bao xa thì Ngài nhận ra rằng đã quên hỏi giọng nói trên không trung kia là Ngài phải đi bao lâu nữa – và vì vậy Ngài không nghĩ ra được cách làm thế nào để tìm ra cho ra được vị thầy sẽ giảng dạy về Bát Nhã Ba La Mật. Ngài than khóc và thệ nguyện rằng sẽ không quản ngại gian khổ, đói khát và ngủ nghỉ, ngày cũng như đêm cho đến khi nào nhận được giáo lý. Ngài đã bị rúng động một cách mãnh liệt, như một người mẹ lạc mất đứa con độc nhất của mình. Ngài bị ám ảnh thường xuyên bởi một câu hỏi duy nhất là khi nào thì Ngài sẽ được nghe Giáo Lý Bát Nhã Ba La Mật. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngay lúc đó, Như Lai thị hiện trong một thân tướng trước mặt Ngài và tán thán việc cầu Pháp của Ngài.Đức Như Lai nói thêm rằng: “Cách đây năm trăm lý (1 lý khoảng 4,8km), có một thành phố tên là Thành Phố Thoảng Hương. Thành phố này được xây dựng bằng bảy chất liệu quý giá, có năm trăm công viên bao quanh và có mọi phẩm tính tốt đẹp. Ở trung tâm thành phố, nơi giao nhau của bốn đại lộ, là trú xứ của Pháp Khởi Bồ Tát (Dharmodgata). Nó cũng được xây dựng bởi bảy loại chất liệu quý giá, có chu vi khoảng một lý. Ở đó, trong các khu vườn và những trụ xứ hỷ lạc khác là nơi cư ngụ của Đại Bồ Tát Pháp Khởi cùng tăng thân của Ngài. Cùng với sáu mươi tám ngàn nữ nhân, Bồ Tát thụ hưởng lạc thú của năm dục lạc là những dục lạc mà Ngài đã hoàn toàn làm chủ, hoan hỉ làm bất cứ điều gì Ngài ưa thích. Suốt trong ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai, Pháp Khởi Bồ Tát giảng dạy Giáo Pháp Bát Nhã Ba la mật cho những ai cư trú ở đấy. Hãy tới trụ xứ của Ngài, và ông sẽ được nghe giáo lý Bát Nhã Ba La Mật từ Ngài”. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Giờ đây Thường Đề Bồ Tát (Sadaprarudita) không thể nghĩ được gì ngoài những điều Ngài vừa nghe thấy. Ngay tại nơi đang đứng, Ngài đã có thể nghe được Pháp Khởi Bồ Tát (Dharmodgata) giảng dạy Bát Nhã Ba La Mật (Prajnaparamita). Ngài đã trải nghiệm vô số trạng thái thiền định. Ngài nhận ra được những cõi giới khác nhau trong mười phương thế giới, và nhìn thấy hằng hà sa chư Phật đang giảng dạy Bát Nhã Ba la mật. Chư Phật đang tán thán Pháp Khởi Bồ Tát trước khi biến mất. Tràn đầy hoan hỷ, niềm tin và lòng quy ngưỡng đối với Pháp Khởi Bồ Tát, Bồ Tát Thường Đề tự hỏi làm cách nào có thể diện kiến được Pháp Khởi Bồ Tát. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài nghĩ: “Ta nghèo quá, không có gì để dâng cúng Ngài, không y áo hay châu báu, không dầu thơm hay vòng hoa, cũng chẳng có bất kỳ vật gì khác để tỏ lòng tôn kính một vị thầy. Vậy ta sẽ bán thịt của mình, rồi lấy số tiền đó cúng dường cho Pháp Khởi Bồ Tát (Dharmodgata). Từ vô thuỷ, trong vòng luân hồi, ta đã từng bán thịt của mình không biết bao nhiêu lần; cũng vô số lần ta đã bị chặt thành từng mảnh và bị thiêu hủy trong những địa ngục là nơi ta bị tham dục lôi kéo xuống – nhưng chưa bao giờ ta thọ nhận được một Giáo lý như thế này hay tôn kính một vị Thầy cao cả như vậy!” </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thường Đề Bồ Tát (Sadaprarudita) đi đến giữa khu chợ và bắt đầu kêu lên, “Ai cần người? Ai muốn mua một con người?” </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nhưng những tinh linh xấu ác vì ghen tức với Thường Đề Bồ Tát đang được trải qua những thử thách để làm lợi lạc cho Giáo Pháp, chúng tinh linh này đã làm cho mọi người ở trong chợ không nghe được những gì Ngài nói. Không tìm thấy người mua thịt của mình, Thường Đề Bồ Tát đi tới một góc chợ và ngồi xuống khóc than, nước mắt rơi lã chã. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau đó vua Trời Đế Thích (Indra) quyết định thử thách quyết tâm của Ngài. Trong hình tướng của một người bà la môn trẻ, Thiên Vương xuất hiện trước mặt Thường Đề Bồ Tát và nói: “Ta không cần cả một thân người. Ta chỉ cần một ít thịt, ít mỡ và một ít tủy xương của một người để cúng dường. Nếu ngươi có thể bán cho ta những thứ đó, ta sẽ trả tiền cho ngươi”. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vui mừng khôn xiết, Thường Đề Bồ Tát lấy một con dao bén cắt vào tay phải cho đến khi máu phun ra. Rồi Ngài lóc tất cả thịt ở đùi phải, và khi đang chuẩn bị đập xương vào tường thì cô con gái của một thương gia giàu có từ tầng trên cùng ngôi nhà của cô đã nhìn thấy Ngài, bèn chạy bổ xuống. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Bậc tôn quý, vì sao ngài lại gây đau đớn như thế trên thân thể của mình?” cô ta hỏi. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài giải thích rằng Ngài muốn bán thịt của mình để có thể thực hiện cúng dường cho Pháp Khởi Bồ Tát(Dharmodgata). </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi cô gái trẻ hỏi Ngài sẽ được lợi ích gì từ lòng tôn kính như vậy, Thường Đề Bồ Tát (Sadaprarudita)trả lời: “Ngài sẽ dạy cho tôi những phương tiện thiện xảo của chư vị Bồ Tát và giáo lý Bát Nhã Ba la mật. Sau này nếu tôi tu tập Giáo Pháp đó, tôi sẽ đạt được toàn giác, có được nhiều phẩm hạnh phi thường của một vị Phật và có thể chia sẻ Giáo Pháp quý báu với tất cả chúng sinh”. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cô gái nói: “Chắc chắn là mỗi một phẩm hạnh trong những phẩm hạnh [của một vị Phật] hoàn toàn xứng đáng với sự cúng dường thân mạng nhiều như cát sông Hằng. Nhưng đừng nên làm tổn hại thân Ngài như vậy! Con sẽ dâng tặng Ngài bất cứ thứ gì Ngài cần để tỏ lòng tôn kính Pháp Khởi Bồ Tát và sẽ đi cùng với Ngài tới gặp Bồ Tát. Khi làm như vậy, con sẽ vun trồng cội công đức, và công đức này cũng giúp cho con đạt được những phẩm hạnh tương tự”. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi cô nói xong, vua trời Đế Thích thị hiện trong hình tướng của mình và nói với Thường Đề Bồ Tát, “Ta là vua trời Đế Thích, vua của chư Thiên. Ta đến đây để thử thách sự quyết tâm của ông. Chỉ cần ông yêu cầu là ta sẽ ban cho ông bất kỳ những gì ông muốn”. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">"Xin ban cho tôi những tính đức không thể nghĩ bàn của chư Phật!” Thường Đề Bồ Tát trả lời. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Ta không thể cho ngươi điều đó,” vua trời Đế Thích nói, “Những điều như thế không nằm trong phạm vi của ta”. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Nếu thế thì Ngài không cần phải nhọc sức làm cho thân tôi toàn vẹn trở lại”, Thường Đề Bồ Tát nói. “Tôi sẽ khẩn cầu năng lực gia trì của chân lý. Nhờ sự gia trì của lời tiên tri của chư Phật mà tôi sẽ không bao giờ quay trở lại vòng luân hồi, nhờ chân lý của sự quyết tâm siêu phàm và bất thối chuyển của tôi, cầu mong thân tôi hồi phục như cũ!” </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với những lời này, thân Ngài trở nên hoàn toàn như trước. Và vua trời Đế Thích biến mất. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thường Đề Bồ Tát đi cùng cô con gái của vị thương gia tới nhà cha mẹ cô và kể lại cho họ câu chuyện của mình. Họ cung cấp cho Ngài nhiều phẩm vật cần thiết để cúng dường. Sau đó, ngài cùng với cô con gái và cha mẹ cô cùng với năm trăm thị nữ và toàn bộ đoàn tuỳ tùng của họ khởi hành bằng xe ngựa đi về hướng Đông, và tới Thành Phố Thoảng Hương. Ở đó, Ngài nhìn thấy Pháp Khởi Bồ Tát đang thuyết Pháp cho hàng ngàn người. Ngài tràn đầy lòng quyết tâm và hỉ lạc của một vị sự khi an trú trong định. Tất cả xuống xe và đi tới diện kiến Ngài Pháp Khởi Bồ Tát. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào lúc đó, Pháp Khởi Bồ Tát đã xây dựng một điện thờ để tàng chứa và giảng Bát Nhã Tâm Kinh. Điện thờ được làm bằng bảy vật liệu quý giá, tô điểm bằng gỗ đàn hương đỏ phủ một lớp chạm trổ bằng những viên ngọc. Ở mỗi một phương trong bốn hướng có đặt những viên ngọc như ý giống như những ngọn đèn và những lư hương bạc, từ đó những nén nhang cúng dường làm bằng gỗ lô hội đen tỏa hương nhẹ nhàng. Ở chính giữa điện là bốn tủ ngọc đựng những quyển kinh Bát Nhã Ba la mật, được làm bằng vàng và viết bằng mực lưu ly xanh biếc. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nhìn thấy cả hai loài Trời và người đang hành lễ cúng dường, Thường Đề Bồ Tát bèn hỏi thăm rồi cùng với cô con gái, thương gia và năm trăm thị nữ cùng nhau trang nghiêm cúng dường. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau đó, họ tiến tới gần Pháp Khởi Bồ Tát, người đang ban truyền giáo lý cho các đệ tử, và tỏ lòng tôn kính Bồ Tát bằng tất cả những phẩm vật cúng dường của họ. Con gái của vị thương gia và những thị nữ của cô đã thọ giới của Bồ Đề Tâm tối thượng. Thường Đề Bồ Tát (Sadaprarudita) hỏi Pháp Khởi Bồ Tát(Dharmodgata) là chư Phật mà Thường Đề Bồ Tát đã thấy trước đó,ù từ đâu đến và các Ngài đi về đâu. Pháp Khởi Bồ Tát trả lời bằng cách giảng dạy một chương về đề mục chư Phật không đến cũng không đi.* Sau đó Phát Khởi Bồ Tát rời pháp toà và đi tới khu vực riêng, ở đó Bồ Tát an trú trong trạng thái thiền định nhất như trong bảy năm. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Suốt trong thời gian đó, Thường Đề Bồ Tát, con gái vị thương gia và năm trăm thị nữ không nằm hoặc ngồi nữa, mà thường xuyên đứng thẳng. Khi đứng yên hay đi kinh hành, họ chỉ đặt hết chú tâm vào thời điểm mà Pháp Khởi Bồ Tát sẽ xuất định và giảng Pháp một lần nữa. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi bảy năm gần kết thúc, Thường Đề Bồ Tát nghe chư Thiên thông báo là trong bảy ngày nữa, Pháp Khởi Bồ Tát sẽ xuất định và bắt đầu giảng dạy trở lại. Cùng với năm trăm thị nữ, Thường Đề Bồ Tát Quét dọn trong phạm vi rộng một lý tại địa điểm mà Pháp Khởi Bồ Tát sắp đăng đàn thuyết pháp. Khi Ngài bắt đầu rải nước trên nền đất cho khỏi bụi, Ma Vương làm cho tất cả những nước ấy biến mất. Vì vậy, Thường Đề Bồ Tát đã cắt mạch máu và rải máu mình trên mặt đất, con gái vị thương gia cùng năm trăm thị nữ cũng làm như vậy. Vua trời Đế Thích biến máu của họ thành gỗ đàn hương đỏ của những cõi Trời. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">* Điều này có nghĩa là chư Phật không bị những khái niệm về nơi chốn trói buộc. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cuối cùng, Pháp Khởi Bồ Tát (Dharmodgata) đã đến và ngự trên ngai sư tử mà Thường Đề Bồ Tát(Sadaprarudita) và những người khác đã chuẩn bị thật hoàn hảo, ở đó Pháp Khởi Bồ Tát thuyết giảng Bát Nhã Ba la mật. Thường Đề Bồ Tát đã trực nghiệm sáu triệu trạng thái định khác nhau và có linh kiến về vô số chư Phật – một linh kiến không bao giờ xa lìa Ngài, ngay cả trong những giấc mơ. Người ta nói rằng giờ đây Thường Đề Bồ Tát đang an trụ trong trụ xứ của đức Phật toàn giác có danh hiệu là Diệu Âm Phật. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong lúc đi theo Ngài Tilopa, đại học giả Naropa cũng phải trải qua vô vàn gian khó. Như chúng ta đã thấy trước đây, Naropa gặp Ngài Tilopa, lúc đó Ngài đang sống như một người hành khất, và Naropa xin Ngài Tilopa nhận mình làm đệ tử. Tilopa chấp nhận lời khẩn cầu này và đem Naropa theo bất cứ chỗ nào Ngài đi tới, nhưng chẳng bao giờ dạy cho đệ tử bất kỳ Giáo Pháp nào. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một ngày kia, Tilopa đem Naropa lên đỉnh một ngọn tháp chín tầng và hỏi: “Có ai tuân lời Thầy mà nhảy xuống từ ngọn tháp này không?” </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Naropa tự nghĩ, “Ở đây chẳng còn ai khác, vậy chắc Ngài muốn nói đến ta”. Ông bèn nhảy xuống từ tháp, thân đổ sầm xuống đất khiến ông cực kỳ đau đớn. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tilopa đi xuống và hỏi, “Ngươi có đau không?” </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Không chỉ đau”, Naropa rên rỉ. “Con chẳng hơn gì một xác chết …” Nhưng Tilopa từ bi gia hộ cho ông, và thân ông lại hoàn toàn lành lặn. Sau đó Ngài Tilopa lại dẫn Naropa cùng đi trong chuyến du hành. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một ngày nọ, Ngài Tilopa ra lệnh cho ông, “Naropa, hãy nhóm lửa lên!” </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi lửa đã bốc cháy, Ngài Tilopa đã chuẩn bị nhiều mảnh tre dài, tẩm dầu và đưa vào lửa để làm cứng chắc. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Nếu ngươi vẫn tiếp tục vâng lời Thầy, ngươi cũng phải trải qua những thử thách như thế này”, Ngài nói và thọc các mảnh tre vào dưới móng tay và chân của Naropa. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mọi khớp xương của Naropa hoàn toàn co cứng và ông kinh nghiệm nỗi đau đớn và khổ sở không thể chịu đựng nổi. Rồi vị Đạo Sư bỏ đi. Vài ngày sau, khi Ngài trở lại, Ngài rút những mảnh tre ra, rất nhiều máu mủ tuôn ra từ những vết thương của Naropa. Một lần nữa, Ngài từ bi gia hộ và lại cùng ông lên đường. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một ngày khác Ngài nói: “Naropa, ta đói. Hãy đi xin một ít thức ăn cho ta!” </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Naropa đi đến một nơi rất đông nông dân đang bận rộn ăn uống, ông xin được món súp đựng đầy trong một bình bát làm bằng sọ người* và mang về cho Thầy. Tilopa ăn hết sức ngon lành và dường như Ngài rất hài lòng. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Naropa nghĩ, “Ta đã phụng dưỡng Ngài trong suốt một thời gian dài, chưa bao giờ ta thấy Thầy ta hạnh phúc như vậy. Nếu hỏi xin nữa thì có lẽ ta sẽ được thêm một ít”. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cầm bình bát sọ người trong tay, ông lên đường đi khất thực lần nữa. Vào lúc này những người nông dân đã trở lại cánh đồng của họ, để lại món súp dư thừa ở chỗ cũ. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Việc duy nhất làm được là lấy trộm món súp”, Naropa tự nghĩ, rồi lấy súp và bỏ chạy. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nhưng những người nông dân thấy được. Họ túm bắt và đánh đập ông, bỏ mặc cho ông chết. Trong nhiều ngày, ông đau đớn tới nỗi không gượng dậy nổi. Một lần nữa vị Thầy lại đến, từ bi gia hộ và cùng ông lên đường như trước. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">* thod phor (Phạn: kapala). Một bình bát làm bằng sọ người. Đỉnh của một sọ người được các hành giả du già dùng làm bình bát. Bình bát này tượng trưng cho vô ngã. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một ngày khác Ngài Tilopa lại nói: “Naropa, ta cần rất nhiều tiền,99 hãy lấy trộm về cho ta một ít”. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Naropa bèn đi ăn trộm tiền của một người giàu có, nhưng bị bắt tại trận. Ông bị túm lấy, bị đánh đập và lại bị bỏ mặc cho chết. Vài ngày sau Tilopa tới và hỏi ông: “Ngươi có đau không?” Khi nhận được câu trả lời như lần trước, Ngài Tilopa lại từ bi gia hộ cho Naropa, và lại cùng nhau lên đường. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Naropa đã phải trải qua mười hai thử thách chính và mười hai thử thách phụ như thế – đây là hai mươi bốn thử thách mà ông phải chịu đựng trong một đời. Cuối cùng họ cũng đi tới chỗ kết thúc. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một hôm, Tilopa nói, “Naropa, hãy đi lấy ít nước. Ta sẽ ở đây nhóm lửa”. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi Naropa mang nước trở về, Tilopa nhảy ra từ đống lửa và dùng tay trái tóm lấy đầu Naropa. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Đưa ta xem trán của ngươi”, Ngài ra lệnh. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài lấy tay phải cởi dép ra và đánh vào trán của đệ tử. Naropa ngã ra bất tỉnh. Khi ông tỉnh dậy, tất cả những phẩm hạnh của trí tuệ bát nhã của vị Thầy đã phát khởi trong ông. Đạo Sư và đệ tử đã trở thành hợp nhất trong chứng ngộ. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tóm lại, hai mươi bốn thử thách mà đại học giả Naropa phải trải qua chính là những giáo huấn của Thầy cho nên những thử thách này đã trở thành các phương tiện thiện xảo mà qua đó các chướng nghiệp của ông đã được đoạn diệt. Bởi những thử thách này hiện ra giống như là những kinh nghiệm gian khó hoàn toàn vô nghĩa lý, khiến cho không ai nghĩ rằng đó chính là Giáo Pháp. Quả thực là vị Thầy đã không hề thốt ra một lời giảng dạy nào và đệ tử cũng chẳng thực hành một giây phút nào, ngay cả một lễ lạy duy nhất cũng không có. Tuy nhiên, một khi Naropa đã gặp được một vị Thành Tựu Giả Đắc đạo, ông đã tuân theo tất cả những huấn lệnh của Ngài bất chấp mọi khó khăn, và khi làm như thế thì ông đã hoàn tất việc tịnh hóa tất cả những chướng ngại của mình khiến kinh nghiệm chứng ngộ phát khởi trong ông. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không có một thực hành Giáo Pháp nào lớn lao hơn việc tuân theo lời Thầy. Những lợi lạc của điều này thì vô lượng như chúng ta có thể thấy ở đây. Trái lại, nếu không tuân lời Ngài dù chỉ một chút thôi cũng là một lỗi lầm cực kỳ nghiêm trọng. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có lần Tilopa cấm Naropa không được nhận trách nhiệm của một vị học giả trưởng lão trì giữ các “cánh cổng” (phân khoa) tại đại học viện Vikramasila. Nhưng ít lâu sau đó, khi Naropa đến Ma Kiệt Đa (Magadha), một trong những học giả giữ chức vụ đó đã chết. Vì không ai có khả năng tranh luận với những kẻ ngoại đạo nên tất cả các học giả van nài Naropa nhận nhiệm vụ bảo vệ cổng phía Bắc, và khăng khăng thúc bách cho đến khi ông chấp thuận. Tuy nhiên, khi một kẻ ngoại đạo xuất hiện để tranh luận, Naropa đã tranh luận trong nhiều ngày mà cuối cùng không thể đánh bại ông ta. Naropa cầu nguyện Thầy mình cho tới khi cuối cùng một ngày kia Tilopa thị hiện và nhìn Naropa bằng cái nhìn như muốn xuyên thủng ông. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Ngài quá ít lòng từ bi – sao Ngài không tới sớm hơn?” Naropa than vãn. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Không phải ta đã cấm ông nhận chức vụ trưởng lão trì giữ cổng viện hay sao?” Tilopa hỏi vặn lại. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Tuy vậy, trong khi tranh luận, hãy quán tưởng ta ở trên đầu ông và kết ấn phẫn nộ (hàng phục) trước người ngoại đạo!” </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Naropa làm theo lời Ngài, thắng thế trong cuộc tranh luận, và chấm dứt được tất cả luận cứ của những kẻ ngoại đạo. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cuối cùng, đây là cách thức Jetsun Milarepa đi theo Ngài Marpa xứ Lhodrak. Trong vùng Ngari Gungthang có một người giàu có tên là Mila Sherab Gyeltsen. Ông có một con trai và một con gái, người con trai tên là Mila Thopaga, “Mila Hoan Hỷ Khi Nghe Đến,” mà sau này trở thành Ngài Jetsun Milarepa. Khi hai người con còn nhỏ thì cha chúng mất. Người chú tên là Yungdrung Gyaltsen đã chiếm đoạt tất cả của cải và tài sản. Hai đứa bé và mẹ chúng bị bỏ mặc không tiền bạc và thực phẩm, buộc phải trải qua nhiều gian khổ. Mila đã học chú thuật và cách tạo mưa đá từ nhà huyền thuật Yungton Throgyal ở xứ Tsang và Lharje Nupchung. Bằng cách làm sập nhà, Mila gây nên cái chết cho con trai và con dâu của người chú cùng với ba mươi ba người khác. Khi tất cả dân chúng trong làng trở nên giận dữ chống lại Mila thì ông đã tạo ra một trận mưa đá dữ dội tới nỗi lớp nước đá phủ trên mặt đất dày bằng ba lớp tường đất sét. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau đó, hối hận về những ác hạnh đã tạo, Mila quyết định tu theo con đường Phật Pháp. Nghe lời khuyên của Lạt Ma Yungton, ông đi tìm gặp một vị thầy tinh thông Pháp Đại Viên Mãn tên là Rongton Lhaga, và xin được chỉ dạy. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vị Lạt Ma trả lời: “Giáo Pháp ta dạy là Đại Viên Mãn. Gốc của Pháp ấy là sự chiến thắng của nguyên sơ, ngọn của Pháp ấy là sự chiến thắng của giai đoạn thành tựu và quả của Pháp ấy là sự chiến thắng của pháp môn du già. Nếu hành giả thiền định về Pháp ấy trong ngày, hành giả có thể thành Phật trong ngày đó; nếu thiền định về Pháp ấy trong đêm, hành giả có thể thành Phật ngay trong đêm đó. Những người may mắn mà hành nghiệp trong quá khứ của họ đã tạo nên những thiện duyên thích hợp thì thậm chí không cần phải thiền định; họ sẽ được giải thoát chỉ nhờ nghe được Pháp ấy. Vì Pháp ấy là Giáo Pháp dành cho những người có căn cơ lỗi lạc xuất chúng nên Ta sẽ dạy Pháp ấy cho ngươi”. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau khi nhận được quán đảnh và những giáo huấn, Mila tự nghĩ: “Ta đã mất hai tuần để đạt được những dấu hiệu thành công quan trọng trong việc sử dụng bùa chú. Bảy ngày đủ để làm được mưa đá. Giờ đây là một giáo lý còn dễ hơn cả bùa chú và mưa đá – nếu bạn thiền định trong ngày, bạn sẽ thành Phật ngay trong ngày đó; nếu thiền định vào ban đêm bạn sẽ thành Phật ngay trong đêm đó – và nếu hành nghiệp trong quá khứ của bạn đã tạo ra những thiện duyên thích hợp, thì thậm chí bạn hoàn toàn chẳng phải cần thiền định gì hết! Nhìn thấy cách ta đã gặp được giáo lý này như thế nào thì rõ ràng ta phải là một trong những người có những thiện hạnh trong quá khứ”. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vì thế, Ngài cứ ngồi ở trên giường mà không thiền định, do đó hành giả và giáo lý tách lìa nhau. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vài ngày sau vị Lạt Ma nói với Ngài: “Những gì ta nói với người đều là sự thật. Ngươi thực sự là kẻ đại tội lỗi, và ta đã tán thán giáo lý của ta hơi thái quá. Vì thế bây giờ ta sẽ không dẫn dắt ngươi nữa. Ngươi nên đi đến ẩn thất Trowolung ở Lhodrak, ở đó có một đệ tử chân truyền của thành tựu giả Ấn Độ Naropa. Ngài là Marpa, bậc xuất sắc nhất trong các vị Đạo Sư, vua của các dịch giả. Ngài là một thành tựu giả của Truyền Thống Tân Mật, và khắp tam giới không ai sánh bằng. Vì ngươi và Ngài có mối liên kết bắt nguồn từ các hành nghiệp trong những đời trước (có nhân duyên tiền kiếp), nên ngươi hãy đi tìm gặp Ngài!” </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chỉ cần nghe tới âm thanh danh hiệu của Dịch Giả Marpa là cũng đủ làm cho tâm thức Milarepa tràn ngập niềm an lạc vô tả. Ngài hoan hỷ tới nỗi mọi lỗ chân lông trên thân Ngài đều dựng đứng, và cảm thức sùng kính bao la ngập đầy khiến mắt Ngài đẫm lệ. Milarepa lên đường, tự hỏi bao giờ mới được diện kiến vị Thầy của mình. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lúc bấy giờ Marpa và vợ Ngài có nhiều giấc mơ lạ thường, và Marpa biết rằng Jetsun Mila đang trên đường đi tới chỗ Ngài. Ngài đi xuống thung lũng để chờ Mila tới, giả vờ như đang cày ruộng. Thoạt tiên Mila gặp con trai của Marpa là Tarma Dode đang chăn trâu. Tiếp tục đi xa hơn một chút, Mila thấy Marpa đang cày ruộng. Lúc Mila nhìn thấy Ngài Marpa, Mila kinh nghiệm trạng thái hỷ lạc mãnh liệt vô tả; trong chốc lát, mọi niệm tưởng tầm thường ngưng bặt. Tuy nhiên, Mila không nhận ra được rằng đây là một Lạt ma bằng xương bằng thịt, và giải thích với người rằng mình tới đây để tìm gặp Marpa. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Ta sẽ dẫn mi tới gặp Ngài”, Marpa trả lời. “Hãy cày đám ruộng này cho ta”. Để lại cho Mila một bình bia, Marpa bỏ đi. Mila uống cạn bia rồi làm việc. Khi Mila hoàn tất công việc, con trai của vị Lạt ma tới gọi và cả hai cùng đi. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi Mila được đưa tới trước mặt vị Lạt Ma, Mila đặt hai lòng bàn chân Marpa trên đỉnh đầu mình và kêu lên: “Ôi, Đạo sư! Con là một kẻ đại tội lỗi ở phương tây! Con xin cúng dường Ngài thân, khẩu và ý của con. Xin nuôi dưỡng, cho quần áo mặc và dạy con Giáo Pháp. Xin dạy cho con cách thức để thành Phật Trong đời này!” </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Không phải là lỗi của ta khi mi tự cho mình là một kẻ xấu xa như thế,” Marpa trả lời. “Ta không yêu cầu tích luỹ những ác hạnh vì lợi ích của ta! Vậy mi đã làm những điều gì sai trái?” </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mila thuật lại cho Ngài toàn bộ chi tiết câu chuyện. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Tốt lắm”, Marpa ưng thuận, “trong bất kỳ trường hợp nào, việc cúng dường thân, khẩu và ý của mi là một điều tốt. Tuy nhiên, về phần quần áo, thực phẩm và Giáo Pháp thì mi không thể có cả ba. Hoặc ta cho mi quần áo và thực phẩm còn Giáo Pháp thì mi phải đi tìm ở nơi khác, hoặc mi nhận Giáo Pháp của ta và tìm phần còn lại ở nơi nào đó. Hãy quyết định đi. Và nếu chọn Giáo Pháp, thì việc mi có đạt được Phật Quả trong đời này hay không sẽ tùy thuộc vào hạnh nhẫn của bản thân mi”. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mila nói: “Nếu đúng như thế thì con sẽ tìm lương thực và quần áo ở nơi khác bởi con tới đây chỉ vì Pháp”. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mila ở lại vài ngày và đi xin khắp xứ Lhodrak thượng và hạ được hai mươi mốt thùng lúa mạch. Ông dùng mười bốn thùng để mua một ấm đồng có bốn quai. Đổ sáu bình lúa vào một cái bao, ông trở về cúng dường ấm và lúa cho Marpa. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi Mila đặt bao lúa mạch xuống, ông làm căn phòng rung chuyển, làm cho Marpa thức giấc. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Mi là một tên pháp sư trẻ có sức mạnh, phải vậy không?” Ngài nói. “Bộ mi định giết chết cả nhà ta bằng cách làm sập nhà với hai tay trần của mi chắc? Đem bao lúa mì đó ra khỏi đây ngay!” Ngài đá cái bao, và Mila phải đem nó ra ngoài. Lát sau, Mila đưa cho Ngài Marpa cái ấm rỗng. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một ngày nọ, Marpa nói với Mila: “Những người xứ Yamdrok Taklung và Lingpa đang tấn công những đệ tử trung thành ở U và Tsang tới thăm ta, và trộm cướp lương thực cùng đồ cúng dường của họ. Hãy trút mưa đá xuống chúng! Vì đó cũng là một loại Pháp, sau đó ta sẽ ban cho mi những giáo huấn”. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mila gây ra những trận mưa đá tàn phá cả hai vùng này và sau đó đi cầu giáo lý. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Mi nghĩ ta sẽ trao cho mi giáo lý đem về từ Ấn Độ có giá trị to lớn như vậy để đổi lấy ba hay bốn trận mưa đá hay sao? Nếu mi thật sự mong cầu Giáo Pháp, hãy làm mê hoặc dân chúng ở ngọn đồi Lhodrak. Họ tấn công những đệ tử xứ Nyaloro của ta và luôn cư xử với ta bằng thái độ xem thường ra mặt. Khi có dấu hiệu cho thấy thần chú của mi đã có tác dụng, ta sẽ ban cho mi giáo lý khẩu truyền của Naropa, giáo lý ấy sẽ dẫn đến Phật Quả chỉ trong một thân và một đời người duy nhất”. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi những dấu hiệu thành công của ác chú xuất hiện, Mila xin được ban Giáo Pháp. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Hả! Phải chăng để tỏ lòng tôn kính những ác hạnh mi đã tích lũy mà mi đòi các giáo huấn khẩu truyền còn ấm hơi thở của những vị Không-Hành nữ (dakini) này, là những gì ta đã phải tìm cầu bất chấp những hiểm nguy tới tính mạng và cuộc đời ta hay sao? Ta nghĩ rằng mi cợt đùa, nhưng ta thấy mình đã phải tự chế quá nhiều. Chính ta chứ không ai khác sẽ giết mi! Bây giờ hãy làm những người trên đồi sống lại và trả lại mùa màng cho dân xứ Yamdrok. Nếu làm được, mi sẽ nhận được giáo lý – còn không, đừng quanh quẩn bên ta nữa!” </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hoàn toàn kiệt sức bởi những lời quở trách này, Mila ngồi khóc nức nở. Sáng hôm sau, Marpa đến gặp Thầy. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Tối qua ta có hơi cộc cằn với mi”, Ngài nói. “Thôi đừng buồn. Ta sẽ ban cho mi giáo huấn từng ít một. Hãy kiên nhẫn! Vì mi là một người thợ giỏi, ta muốn mi xây cho ta một căn nhà để cho Tarma Dodé. Khi nào mi hoàn tất, ta sẽ ban cho mi những giáo huấn, và cũng sẽ cung cấp cho mi thực phẩm và quần áo”. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Nhưng nếu con chết trong thời gian đó, con sẽ làm được gì khi không có Giáo Pháp?” Mila hỏi. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Ta bảo đảm rằng điều đó sẽ không xảy ra”, Marpa nói, “giáo lý của ta không chỉ để khoe suông, và bởi rõ ràng là mi có hạnh nhẫn thật phi thường nên khi mi áp dụng những giáo huấn của ta vào thực hành, chúng ta sẽ chờ xem mi có đạt được Phật Quả chỉ trong một đời hay không”. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau khi khuyến khích đệ tử nhiều hơn nữa theo cách thức tương tự, Ngài bảo Mila xây ba căn nhà, cái này sau cái kia: một căn hình tròn ở chân ngọn đồi phía đông, một căn hình bán nguyệt ở phía tây và một căn hình tam giác ở hướng bắc. Nhưng mỗi lần khi căn nhà xây được phân nửa thì Marpa lại nhiếc móc Mila dữ dội, bắt ông phá hủy những gì đã xây và đem đất đá hoàn trả trở lại nơi Mila đã lấy chúng. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một vết thương mở hoác trên lưng Mila, nhưng ông nghĩ: “Nếu đưa cho Thầy xem, Ngài sẽ chỉ quở mắng ta một lần nữa. Ta có thể cho sư mẫu thấy, nhưng điều đó chỉ gây thêm ồn ào rắc rối”. Thế nên, không đưa cho sư mẫu xem vết thương, ông khóc lóc và van xin bà giúp ông thỉnh cầu giáo lý. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bà yêu cầu Marpa truyền dạy cho Mila, và Marpa trả lời: “Hãy cho nó được ăn ngon và đem nó tới đây!” Ngài ban cho Mila khẩu truyền và những giới nguyện quy y. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài nói: “Tất cả những điều này được gọi là Giáo Pháp nền tảng. Nếu mi muốn những giáo huấn phi thường của Mật Thừa thì những loại việc mà mi sẽ phải trải qua là như thế này…” và Ngài đọc một bài kệ tóm tắt về cuộc đời và những thử thách của Naropa. “Mi khó có thể làm được như vậy”, Ngài kết luận. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nghe những lời này, Mila cảm thấy niềm sùng kính mãnh liệt đến nỗi nước mắt ông tuôn chảy mãi không thôi, và với một quyết tâm mạnh mẽ, ông nguyện làm bất cứ những gì Thầy ông yêu cầu. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vài ngày sau, Marpa đi dạo và đem Mila theo như thị giả của Ngài. Marpa đi về hướng đông - nam và tới một miếng đất có vị trí thuận lợi. Ngài nói: “Hãy xây cho ta một tháp màu xám, có góc vuông và cao chín tầng ở đây, thêm một đỉnh nhọn nữa thì thành mười tầng. Mi không được hạ thấp tháp xuống, và khi hoàn tất ta sẽ ban cho mi những giáo huấn. Ta cũng sẽ cho mi lương thực khi mi nhập thất tu tập”. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mila đã đào xong phần móng và bắt đầu xây cất thì có ba đệ tử cao cấp của Thầy tới. Để đùa giỡn, họ lăn tới cho ông một tảng đá lớn và Mila dùng nó làm móng nhà. Khi ông hoàn tất hai tầng dưới cùng, Marpa tới thăm và hỏi tảng đá ở đâu tới. Mila kể với Ngài sự việc xảy ra. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Những đệ tử của ta đang thực hành pháp du già trong hai giai đoạn, họ không phải là những người hầu của mi!” Marpa la hét: “Hãy lấy tảng đá đó ra khỏi đây ngay và trả nó về chỗ cũ!” </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mila phá bỏ toàn bộ cái tháp, bắt đầu từ đỉnh. Ông lôi tảng đá làm móng ra và đem đặt lại chỗ cũ. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau đó Marpa lại bảo ông: “Bây giờ đem nó tới đây và đặt nó trở lại vào đây”. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vì thế, Mila lại phải lăn tảng đá trở lại và đặt đúng vào chỗ trước đó. Ông tiếp tục xây dựng cho đến khi hoàn tất tầng thứ bảy, vào lúc này ông bị một vết thương ở bên hông. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Marpa nói: “Bây giờ hãy bỏ việc xây tháp, thay vào đó hãy xây cho ta một ngôi đền với một đại sảnh mười hai cột và một điện thờ cao”. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thế là Mila xây ngôi đền, và khi hoàn thành thì một vết thương phía dưới lưng ông bị bể ra. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vào lúc đó, Meton Tsonpo xứ Tsangrong thỉnh cầu Marpa ban quán đảnh “Người Chặn Đứng Bánh Xe Luân Hồi” (Samvara hay Chakrasamvara), và Tsurton Wangé xứ Dol thỉnh cầu ban quán đảnh “Bí Mật Tập Hội” (Guhyasamaja). Trong cả hai dịp này, Mila hy vọng rằng nhờ công việc xây cất mà ông được có quyền thọ nhận quán đảnh, có được một chỗ ngồi trong hội chúng, nhưng những gì ông nhận được từ Marpa chỉ là những cú đánh và những lời mắng nhiếc, và cả hai lần ông đều bị Thầy ném ra ngoài. Lưng ông giờ đây là một vết thương khổng lồ với máu và mủ chảy ra từ ba chỗ. Tuy nhiên ông vẫn tiếp tục làm việc, thay vì đeo giỏ đất ở lưng thì ông đeo ở phía trước ngực. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi Ngokton Chodor xứ Shung tới thỉnh cầu ban quán đảnh “Hô Kim Cương” (Hevajra), vợ Ngài Marpa đưa cho Mila một viên lam ngọc lớn là vật thừa kế của riêng bà. Mila dùng nó như món cúng dường cho lễ quán đảnh, ông ngồi vào hàng những người dự lễ, nhưng như lần trước, Thầy ông đã trách mắng và đánh đập ông một trận, và ông lại không được ban cho quán đảnh. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lần này ông cảm thấy là không còn hoài nghi gì nữa: ông sẽ không bao giờ nhận được bất kỳ giáo lý nào. Ông đi lang thang vô phương hướng. Một gia đình ở Lhodrak Khok thuê ông đọc cả bộ Bát Thiên Tụng Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh. Ông đọc đến truyện của Thường Đề Bồ Tát (Sadaprarudita), và câu chuyện này làm ông phải suy nghĩ. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ông nhận ra rằng để nhận được lợi lạc của Giáo Pháp, ông phải chấp nhận mọi gian khổ và làm hài lòng Thầy bằng cách làm bất cứ những gì Ngài ra lệnh. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vì thế ông quay trở lại, nhưng một lần nữa Ngài Marpa chỉ đón chào ông bằng sự thóa mạ và những cú đánh. Mila quá tuyệt vọng đến nỗi vợ Ngài Marpa phải gửi ông tới Lạt Ma Ngokpa, vị này ban cho ông một số giáo huấn. Nhưng khi thiền định thì chẳng có điều gì xảy ra, vì Mila không được Thầy cho phép. Marpa ra lệnh cho ông phải đi về cùng với Lạt Ma Ngokpa. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một ngày nọ, trong một tiệc cúng dường, Marpa khiển trách Lạt ma Ngokpa và những đệ tử khác thậm tệ và sắp sửa tấn đánh họ. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mila tự nghĩ: “Với ác nghiệp của ta, không chỉ mình ta đau khổ vì những lỗi lầm trầm trọng và những hướng nghiệp sâu dày, mà giờ đây ta còn gây những khó khăn cho Lạt Ma Ngokpa và phối ngẫu của Đạo sư. Bởi ta chỉ đang chồng chất càng lúc càng nhiều ác hạnh mà chẳng được nhận bất kỳ giáo lý nào, nên cách tốt nhất là ta nên chết đi cho rảnh”. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mila chuẩn bị tự tử. Lạt ma Ngokpa đang cố ngăn cản ông thì Marpa dịu xuống và gọi cả hai tới. Ngài chấp nhận Mila làm đệ tử, ban cho ông nhiều lời khai thị quý báu và đặt danh hiệu cho ông là Mila Dorje Gyaltsen, “Mila Kim Cương Ngọn Cờ Chiến Thắng.” Khi Ngài ban quán đảnh Samvara cho ông, Ngài cho thị hiện một mạn đà la với sáu mươi hai Bổn Tôn thật rõ ràng. Rồi Mila nhận danh hiệu bí mật là Shepa Dorje, “Kim Cương Hỷ”, và Marpa ban tất cả những quán đảnh và giáo huấn cho ông giống như rót từ bình này sang chiếc bình khác. Sau đó, Mila đã hành trì trong những điều kiện khắc nghiệt nhất, và đạt được tất cả những thành tựu thông thường và siêu việt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cũng giống như thế, đó chính là cách mà tất cả những học giả, thành tựu giả và trì minh vương (vidyadhara) trong quá khứ của Tây Tạng lẫn Ấn Độ đã theo chân một vị Thầy tâm linh đích thực, và bằng cách làm bất cứ những gì vị Thầy dạy bảo, các Ngài đã đạt được sự chứng ngộ bất khả phân với chứng ngộ của vị Thầy. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trái lại, là một lỗi lầm hết sức trầm trọng nếu không theo chân Thầy với một tâm thức hoàn toàn chân thật, không chút giả dối. Đừng bao giờ cho rằng bất kỳ hành động nào của Ngài là một hành động tiêu cực. Chớ bao giờ nói dối Ngài dù chỉ một điều nhỏ bé nhất. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Một lần kia, có đệ tử của một đại thành tựu giả đang giảng Pháp cho một nhóm đệ tử. Khi ấy, vị Thầy của ông ta đi tới, ăn mặc như một người ăn mày. Người đệ tử quá bối rối nếu phải quỳ lạy Ngài trước đám đông, nên ông giả vờ như không thấy. Chiều hôm đó, khi đám đông đã giải tán, ông đi gặp Thầy mình và đảnh lễ. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Tại sao trước đây ngươi không đảnh lễ?” vị Thầy hỏi. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Con không thấy Ngài”, ông ta nói dối. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lập tức, hai mắt ông rơi xuống đất. Ông cầu xin được tha thứ và nói ra sự thật, và Thầy ông đã từ bi gia trì để giúp phục hồi lại đôi mắt cho ông. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Có một câu chuyện tương tự như vậy về đại thành tựu giả Ấn Độ Kan-ha-pa Kiêu Mạn (Krsnacarya). Một ngày kia, khi đang đi tàu trên biển với nhiều đệ tử, tâm ông khởi niệm: “Thầy của ta thực sự là một thành tựu giả, nhưng theo quan điểm thế gian thì ta xuất sắc hơn Ngài vì ta giàu có và có nhiều thị giả hơn”. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngay lập tức chiếc tàu chìm xuống biển. Ngụp lặn vô vọng trong nước, ông khẩn nguyện Thầy mình; Ngài xuất hiện trong thân người phàm và cứu ông khỏi chết chìm. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">“Đó là phần thưởng cho cái kiêu mạn vĩ đại của ngươi”, vị Thầy nói. “Nếu ta nỗ lực tích lũy của cải và thị giả thì ta cũng sẽ có được những thứ đó. Nhưng ta đã quyết không làm như vậy”. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vô lượng chư Phật không thể nghĩ bàn đã thị hiện, nhưng lòng đại bi của các Ngài không đủ để cứu chúng ta: chúng ta vẫn còn ở trong đại dương đau khổ của vòng sinh tử luân hồi. Từ xa xưa, vô lượng không thể nghĩ bàn những bậc Đạo Sư vĩ đại đã xuất hiện, nhưng chúng ta không đủ may mắn để được thọ hưởng sự chăm sóc đầy bi mẫn của các Ngài, hay ngay cả được gặp mặt các Ngài. Ngày nay, giáo lý của Đức Phật sắp kết thúc. Năm tình trạng suy đồi càng ngày càng hiển nhiên, và mặc dù có được một đời người hiếm quý, chúng ta vẫn hoàn toàn nằm trong móng vuốt của những ác hạnh của mình, và lầm lạc không biết điều gì nên làm và điều gì nên tránh. Khi chúng ta lang thang như một kẻ mù loà lẻ loi trong cánh đồng hoang thì những thiện hữu tri thức tâm linh của chúng ta, những vị Đạo Sư siêu việt đã nghĩ tưởng tới chúng ta với lòng bi mẫn vô biên, và tùy theo nhu cầu (căn cơ) của mỗi người trong chúng ta mà các Ngài thị hiện trong thân tướng con người. Mặc dù trong chứng ngộ thì các Ngài là những vị Phật, nhưng trong hành động thì các Ngài lại hoà hợp với hoàn cảnh của chúng ta. Bằng những phương tiện thiện xảo, các Ngài nhận chúng ta làm đệ tử, giới thiệu cho ta về Giáo Pháp chân chánh tối thượng, khai thị cho ta về những gì nên làm và không nên làm, và chỉ bày chính xác con đường tu tột cùng thâm diệu dẫn tới ï giải thoát và giác ngộ. Quả thật, các Ngài không khác gì chính Đức Phật; nhưng khi so sánh với Đức Phật thì thiện tâm của các Ngài khi từ bi quan tâm tới chúng ta thậm chí còn vĩ đại hơn. Vì thế, hãy luôn cố gắng theo chân Thầy trong cách thế đúng đắn, với ba loại niềm tin (tín tâm).* </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">* Những loại tín tâm này được giảng dạy ở phần đầu trong chương kế tiếp. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Con đã được gặp một vị Thầy cao cả,  </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">nhưng lại để cung cách hành xử tiêu cực làm mình sa ngã.  </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Con đã tìm được con đường thiện lành nhất,  </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">nhưng lại lang thang khắp nẻo chông gai.  </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Xin tư bi gia hộ cho con và tất cả những ai có tính khí xấu xa như con,  </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khiến tâm chúng con có thể được thuần hóa nương nơi Giáo Pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Đức Patrul Rinpoche</b></p>
<p style="text-align: justify;"><em><span style="font-weight: 400;">Trích: Lời vàng của Thầy tôi</span></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><span style="font-weight: 400;">Việt ngữ: Nhóm Longchenpa – Thanh Liên và Tuệ Pháp </span></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><span style="font-weight: 400;">Hiệu đính sơ khởi: Thanh Liên </span></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><span style="font-weight: 400;">Hiệu đính toàn bộ: Tâm Bảo Đàn với sự đóng góp của Từ Bi Hoa</span></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em> </em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/noi-guong-chung-ngo-va-cong-hanh-cua-thay/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lời dạy cuối cùng của Dilgo Khyentse Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/loi-day-cuoi-cung-cua-dilgo-khyentse-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/loi-day-cuoi-cung-cua-dilgo-khyentse-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 25 Apr 2019 22:00:46 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Lời vàng chư đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Sùng kính Đạo Sư]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=9328</guid>
		<description><![CDATA[“Cho dù ngày hôm nay cái chết tấn công bạn như tia chớp, bạn phải sẵn sàng chết không chút buồn phiền và hối tiếc, chẳng có bất kỳ bám chấp nào về những gì được bỏ lại. Khi an trụ trong việc nhận ra quan điểm tuyệt đối, bạn nên từ bỏ cuộc đời này như một con chim&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/loi-day-cuoi-cung-cua-dilgo-khyentse-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">“Cho dù ngày hôm nay cái chết tấn công bạn như tia chớp, bạn phải sẵn sàng chết không chút buồn phiền và hối tiếc, chẳng có bất kỳ bám chấp nào về những gì được bỏ lại. Khi an trụ trong việc nhận ra quan điểm tuyệt đối, bạn nên từ bỏ cuộc đời này như một con chim đại bàng bay vút lên bầu trời xanh”.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">—Dilgo Khyentse Rinpoche</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Dilgo Khyentse Rinpoche</i></b><i><span style="font-weight: 400;"> sinh năm 1910 tại miền Đông Tây Tạng. Ngay khi là một cậu bé, Rinpoche đã hiển lộ một khát khao mãnh liệt là hoàn toàn dâng hiến bản thân cho cuộc đời tu tập. Trước khi vị Thầy chính của ngài thị tịch, Khyentse Rinpoche đã hứa với vị Thầy rằng ngài sẽ giảng dạy rộng rãi cho bất kỳ ai khẩn cầu ngài Giáo pháp. Khi ấy ngài mười lăm tuổi và để tự chuẩn bị, hầu như ngài đã trải qua mười ba năm kế tiếp trong ẩn thất tĩnh lặng. Trong những ẩn thất hẻo lánh và hang động ở sâu trong vùng hoang vu của những đồi cây gần nơi sinh của ngài trong thung lũng Denkhok, ngài liên tục thiền định về lòng từ, bi, và ước muốn đưa tất cả chúng sinh tới sự giải thoát và giác ngộ. Các hành giả Phật giáo coi niệm tưởng về cái chết là sự khích lệ hữu hiệu nhất cho thực hành tâm linh. Trong khi ở trong ẩn thất, Khyentse Rinpoche viết:</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Giữa những đám mây</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">của sự vô thường và huyễn hóa</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Cùng với tia chớp của cuộc đời đang nhảy múa:</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Bạn có thể nói mình sẽ không chết vào ngày mai?</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Hãy thực hành Giáo pháp.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Bây giờ là lúc để chinh phục</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">thành trì của Đại Lạc.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Có lần ngài đã nói:</i></b><i><span style="font-weight: 400;"> “Vào lúc đầu, bạn nên được dẫn dắt bởi nỗi sợ sinh tử như một con nai đực thoát khỏi cái bẫy. Vào lúc giữa, bạn nên chẳng có gì để hối tiếc cho dù bạn chết, như một chủ trại đã cẩn trọng canh tác những cánh đồng của mình. Vào lúc cuối, bạn nên cảm thấy được giải thoát và sung sướng, như một người đã hoàn tất một công việc ghê gớm”. Sau mười ba năm đó, Khyentse Rinpoche nói với vị Thầy thứ hai của ngài rằng ngài ước muốn trải phần đời còn lại của mình trong ẩn thất thiền định cô tịch và nghiêm nhặt. Nhưng vị Thầy nói: “Đã đến lúc con giảng dạy và trao truyền cho người khác tất cả vô số những giáo lý quý báu mà con đã thọ nhận”. Người Tây Tạng cho rằng những Đạo sư như Khyentse Rinpoche đã thực sự siêu vượt những giới hạn của sinh và tử. Hành giả vĩ đại Milarepa đã viết:</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Khi sợ hãi cái chết, ta đã đi tới những rặng núi,</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Liên tục thiền định về cái chết xảy ra mà không thể đoán trước,</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Và canh giữ pháo đài của bản tính bất biến vô sinh</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Giờ đây ta hoàn toàn siêu vượt mọi nỗi sợ về cái chết!</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Chính Khyentse Rinpoche đã nói: “Cuối cùng khi cái chết đến, bạn sẽ đón chào nó như một người bạn cũ, tỉnh giác về toàn bộ thế giới hiện tượng thì vô thường và giống như một giấc mộng biết bao”. Ngài đã luôn luôn tỉnh giác một cách sâu sắc về sự vô thường và cái chết, và mỗi khi có ai xin ngài đến thăm họ hay khẩn cầu ngài trở lại lần nữa, ngài nói: “Nếu còn sống, ta sẽ đến”. Thậm chí sau khi ngài đã qua tuổi tám mươi, dường như khả năng chịu đựng đặc trưng của Khyentse Rinpoche chỉ bị ảnh hưởng chút ít. Tuy nhiên, vào đầu năm 1991, ngài bắt đầu biểu lộ những dấu hiệu sức khỏe sa sút. Ngài sụt ký và càng lúc càng cần được nghỉ ngơi nhiều hơn. Ngài đã trải qua nhiều thời gian trong sự cầu nguyện im lặng và thiền định, chỉ dành một ít giờ trong ngày để gặp gỡ những người cần gặp ngài nhất. Khi ngài rời Nepal đi Bhutan, nhiều đệ tử thân cận của ngài đã cảm thấy là có thể họ sẽ không gặp ngài lần nữa. Ngài trải qua ba tháng rưỡi trong ẩn thất trước mặt Hang Cọp, Paro Taktsang, ở Bhutan, một trong những thánh địa linh thiêng nhất được gia hộ bởi Đức Liên Hoa Sinh, vị Đạo sư mang Phật giáo sang Tây Tạng. Trong năm đó, ngài đã nói nhiều lần rằng chẳng bao lâu nữa ngài sẽ rời bỏ thế giới này. Đôi khi ngài đùa bỡn về điều đó, nói những điều như: “Ta có nên chết bây giờ không?”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau đó một vị Lạt ma thật già tiên đoán rằng Khyentse Rinpoche có nguy cơ thị tịch. Thật không may là điều này đã thực sự xảy ra. Khyentse Rinpoche bị đau chân và phải trải qua một cuộc giải phẫu nhẹ. Sau đó, ngài trở nên yếu và gầy hơn. Nhiều buổi lễ đã được cúng dường cho sự trường thọ của ngài. Một hôm, một cầu vồng sáng chói xuất hiện bên trên chiếc lều mà Khyentse Rinpoche thường dùng vào ban ngày. Những Lạt ma khác đã giải thích đây là thời điểm các dakini đến thỉnh mời Khyentse Rinpoche tới những cõi Phật khác. Một lần vào ban đêm, người ta nghe tiếng một phụ nữ kêu khóc lớn tiếng quanh ẩn thất của Khyentse Rinpoche, nhưng dường như không có ai ở đó. Tương tự như vậy, một cầu vồng chiếu sáng trong một lối đi dưới điện thờ của Guru Rinpoche trong tu viện của Khyentse Rinpoche ở Nepal, theo một phương cách không thể giải thích được. Tuy nhiên, sau kỳ nhập thất, sức khỏe của Rinpoche dường tốt hơn trước. Nhưng chẳng mấy chốc ngài lại cho thấy các dấu hiệu bệnh tật, và trong mười hai ngày, hầu như ngài hoàn toàn không thể ăn hay uống. Đã ba lần ngài cho biết là mình sẽ không sống lâu. Khi Rabjam Rinpoche, là cháu trai và vị kế thừa tâm linh của ngài, và Dzongsar Khyentse Rinpoche, hóa thân của một trong những vị Thầy chính yếu của ngài, khẩn cầu ngài sống trường thọ và cúng dường ngài một pho tượng, một quyển sách, và một bảo tháp như những biểu tượng của thân, ngữ, và tâm giác ngộ, Khyentse Rinpoche nhận chúng và cúng dường lại cho hai Lạt ma hóa thân. Trước khi thị tịch ba ngày, ngài viết trên một mảnh giấy: “Ta sẽ đi vào ngày mười chín”. Đệ tử thân cận nhất và bằng hữu tâm linh của ngài là Trulshik Rinpoche đã đến từ Nepal vào ngày 26 tháng Chín, 1991 và các ngài đã có một cuộc gặp gỡ vui vẻ. Ngày hôm sau, 27 tháng Chín—ngày mười chín theo tháng Tây Tạng—vào lúc sẩm tối, ngài yêu cầu các thị giả giúp ngài ngồi trong tư thế thẳng lưng và đi vào một giấc ngủ an bình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lúc tảng sáng, hơi thở của ngài dừng lại và tâm ngài tan hòa trong phạm vi tuyệt đối. Ngay sau khi một vị Thầy lớn thị tịch, thực hành chính yếu được thực hiện là “hợp nhất tâm ta với tâm của guru,” cũng được gọi là Guru Yoga. Thực hành này đặc biệt quan trọng và mạnh mẽ khi một vị Thầy vĩ đại thị tịch và tự tâm ngài hợp nhất với phạm vi tuyệt đối, Pháp giới (</span><i><span style="font-weight: 400;">dharmadhatu</span></i><span style="font-weight: 400;">). Vào lúc này, phương diện tuyệt đối của tâm ngài, mà người ta gọi là Pháp thân (</span><i><span style="font-weight: 400;">dharmakaya</span></i><span style="font-weight: 400;">), trở nên rộng khắp và hợp nhất với tâm trí tuệ của tất cả chư Phật, như nước hòa hợp với nước. Hợp nhất tâm ta với tâm của vị Thầy là chứng ngộ bản tánh tuyệt đối của tâm vị Thầy, bản tánh đó giống như bản tánh chân thật của tâm của riêng ta. Như Lạt ma Shabkar đã nói:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Vào lúc đầu tôi coi vị Thầy như vị Thầy.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Vào lúc giữa tôi coi Kinh điển như vị Thầy. </span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Cuối cùng tôi coi tự tâm mình là vị Thầy.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Ba mươi sáu giờ</b><span style="font-weight: 400;"> sau khi vị Thầy trút hơi thở cuối cùng, Trulshik Rinpoche quyết định rằng thiền định cuối cùng của Khyentse Rinpoche đã hoàn tất, và xác thân ngài, hay </span><i><span style="font-weight: 400;">kudung</span></i><span style="font-weight: 400;">, được trân trọng cất giữ và được các tulku đưa tới điện thờ chính của Thimphu Dzong, nơi mọi người, từ nhà vua và hoàng gia cho đến những con người tầm thường nhất, đã đi tới và kính lễ. Trong nhiều giờ và ngày này qua ngày khác, nhiều Đạo sư từ mọi trường phái ở Bhutan cùng đổ về để tỏ lòng tôn kính. Thể theo khẩn cầu, để các đệ tử ở Tây Tạng và khắp nơi trên thế giới có thể đến và kính lễ lần cuối cùng với vị Thầy của mình, di hài của Khyentse Rinpoche đã được bảo quản trong một năm bằng cách sử dụng những phương pháp tẩm ướp truyền thống. Mỗi ngày thứ Sáu (ngày ngài thị tịch) trong bảy tuần lễ đầu tiên, một trăm ngàn đèn bơ đã được cúng dường tại bảo tháp Bodhnath gần Tu viện Shechen ở Nepal. Cuối cùng, di hài của ngài đã được hỏa thiêu gần Paro ở Bhutan, vào tháng Mười một năm 1992, trong buổi lễ kéo dài ba ngày được tham dự bởi trên một trăm Lạt ma quan trọng, hoàng gia và các Bộ trưởng của Bhutan, năm trăm đệ tử Tây phương và một đám đông khổng lồ khoảng sáu mươi ngàn người sùng mộ, một cuộc tụ hội chưa từng xảy ra trong lịch sử xứ Bhutan.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Giàn thiêu được quán tưởng</b><span style="font-weight: 400;"> như một mạn đà la và di hài của Đạo sư là Bổn Tôn chính yếu của mạn đà la. Vào lúc hỏa thiêu, bốn lễ “cúng dường lửa” trọng yếu, được hướng dẫn bởi các Lạt ma của bốn dòng truyền thừa chính yếu của Phật giáo Tây Tạng, được tiến hành đồng thời ở bốn hướng chính. Kinh điển Phật giáo nói rằng những lễ cúng dường được thực hiện trong tang lễ vị Thầy tâm linh của ta có những lợi lạc bao la: chúng thực hiện một sự đối trị những che chướng và nhanh chóng hoàn tất các công đức của ta; chúng tẩy sạch mọi khiếm khuyết được tạo nên qua việc bất kính với vị Thầy; bảo đảm rằng ta sẽ gặp Đạo sư tâm linh trong đời sau và nhanh chóng đạt được sự giải thoát khỏi sinh tử. Ta nên thực hiện những cúng dường này với tâm thức tràn đầy ước muốn đưa tất cả các sinh loài đến hạnh phúc tức thời và đạt được hỉ lạc tối hậu của Phật quả, và với thị kiến thanh tịnh có thể nhìn toàn thể thế giới hiện tượng như một cõi Phật thuần tịnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Xá lợi được thu thập sau khi hoàn tất tang lễ. Các hành giả Phật giáo Tây Tạng cho rằng xá lợi - thân guru của họ như những viên ngọc như ý, có thể đáp ứng những ước nguyện của chúng sinh. Những gì được nối kết với xá lợi-thân (chẳng hạn như xương, vải được dùng đắp lên thi hài, muối được dùng để bảo quản nó, tro từ lễ hỏa táng v.v..) được cho là có một năng lực gia hộ to lớn. Nhưng chúng ta không nên nghĩ rằng tâm của vị Thầy còn quẩn quanh gần xá lợi vật lý của ngài. Tâm ngài không bị vướng kẹt trong không gian giới hạn của thân thể như thể một toàn thể riêng lẻ; tâm trí tuệ của ngài thì rộng khắp, siêu vượt ý niệm “một” và “nhiều”, “đây” và “đó”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cũng có nói rằng vào lúc từ bỏ xác thân và tan hòa tâm thức trong Pháp Thân, bản tánh tuyệt đối, một vị Thầy chứng ngộ cao cấp có thể giải thoát vô số chúng sinh, đưa họ đến một cõi Phật hay dẫn dắt họ tới một tái sinh đầy ý nghĩa, trong đó họ có thể tiếp tục phát triển hướng đến sự giác ngộ. Nhân dịp này Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói: “Tất cả chúng ta, các đệ tử của ngài, nên đền đáp thiện tâm của ngài bằng sự thực hành, khiến chúng ta trở thành những đệ tử tốt lành của một Đạo sư tuyệt diệu.” Giống như những Đạo sư khác, cái chết của Dilgo Khyentse Rinpoche là giáo lý cuối cùng của ngài, giáo lý về lẽ vô thường. Khi ngài mất, về phần tôi, tôi cảm thấy như thể mặt trời đã biến mất khỏi thế giới này. Đồng thời, tôi biết rằng cái chết này là bản tánh của các sự việc, đó là lời dạy cuối cùng của ngài về sự vô thường, và trong phần còn lại của cuộc đời tôi, sự hiện diện của ngài sẽ chẳng bao giờ lìa bỏ trái tim tôi trong chốc lát. Mặc dù giờ đây, chẳng thể tìm thấy ngài ở nơi đâu trong thế giới này, ngài ở khắp nơi, trong mọi sự việc, trong tư tưởng của mỗi người chúng ta.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Như thế chúng ta có thể tiếp tục được lợi lạc từ gia hộ của ngài để tiến triển trên con đường tâm linh của ta. Quả thực, tôi cảm thấy buồn cho những người không bao giờ gặp bậc vĩ đại này và trong thực tế sẽ chẳng bao giờ gặp ngài. Về phần tôi, sau khi trải qua mười hai năm cả ngày lẫn đêm gần gũi vị Thầy của mình cùng các bằng hữu tâm linh, tôi đã nhận từ ngài nhiều giáo lý hơn bản thân mình từng ao ước. Vì thế giờ đây, việc nỗ lực thực hành những lời dạy này trong cuộc đời và hợp nhất chúng trong con người mình thì hoàn toàn phụ thuộc vào mỗi người. Như ngài đã nói: “Đừng bao giờ quên là cuộc đời này trôi qua nhanh chóng biết bao, như một ánh chớp mùa hè hay một cái vẫy tay. Giờ đây bạn có cơ hội để thực hành Pháp, đừng lãng phí một chốc lát duy nhất về bất kỳ điều gì khác”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Matthieu Ricard</b></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Việt dịch: Thanh Liên</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Nguyên tác: “Dilgo Khyentse Rinpoche’s Last Teaching”</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn Anh ngữ</em><em>: <span data-sheets-value="{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:&quot;Lời Dạy Cuối Cùng Của Dilgo Khyentse Rinpoche&quot;}" data-sheets-userformat="{&quot;2&quot;:701,&quot;3&quot;:{&quot;1&quot;:0},&quot;5&quot;:{&quot;1&quot;:[{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0,&quot;5&quot;:{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0}},{&quot;1&quot;:0,&quot;2&quot;:0,&quot;3&quot;:1},{&quot;1&quot;:1,&quot;2&quot;:0,&quot;4&quot;:1}]},&quot;6&quot;:{&quot;1&quot;:[{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0,&quot;5&quot;:{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0}},{&quot;1&quot;:0,&quot;2&quot;:0,&quot;3&quot;:1},{&quot;1&quot;:1,&quot;2&quot;:0,&quot;4&quot;:1}]},&quot;7&quot;:{&quot;1&quot;:[{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0,&quot;5&quot;:{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0}},{&quot;1&quot;:0,&quot;2&quot;:0,&quot;3&quot;:3},{&quot;1&quot;:1,&quot;2&quot;:0,&quot;4&quot;:1}]},&quot;8&quot;:{&quot;1&quot;:[{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0,&quot;5&quot;:{&quot;1&quot;:2,&quot;2&quot;:0}},{&quot;1&quot;:0,&quot;2&quot;:0,&quot;3&quot;:3},{&quot;1&quot;:1,&quot;2&quot;:0,&quot;4&quot;:1}]},&quot;10&quot;:1,&quot;12&quot;:0}"><a href="https://tricycle.org/magazine/dilgo-khyentse-rinpoches-last-teaching/">Lời dạy cuối cùng của Dilgo Khyentse Rinpoche</a></span></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/loi-day-cuoi-cung-cua-dilgo-khyentse-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Đức Thamthog Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tieu-su-duc-thamthog-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tieu-su-duc-thamthog-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 16 Nov 2016 18:22:25 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Gelug]]></category>
		<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Sùng kính Đạo Sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Gelug]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7121</guid>
		<description><![CDATA[Thamthog Rinpoche thuộc dòng tái sinh Thamthog. Ngài sinh ở miền Đông Tây Tạng vùng Lithang. Khi lên năm tuổi, giáo thọ của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Trijang Rinpoche, đã nhận ra Ngài là Thamthog Rinpoche thứ mười ba. Để nhận ra Ngài, người ta đã đưa cho Ngài nhiều đồ vật và Ngài đã nhanh chóng nhận ra&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tieu-su-duc-thamthog-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thamthog Rinpoche thuộc dòng tái sinh Thamthog. Ngài sinh ở miền Đông Tây Tạng vùng Lithang. Khi lên năm tuổi, giáo thọ của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Trijang Rinpoche, đã nhận ra Ngài là Thamthog Rinpoche thứ mười ba.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Để nhận ra Ngài, người ta đã đưa cho Ngài nhiều đồ vật và Ngài đã nhanh chóng nhận ra tất cả những món đồ Ngài đã dùng trong đời trước.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài được đưa về tu viện Lithang tỉnh Kham, do Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười ba thành lập. Lúc đó toàn bộ bảy ngàn tăng ở tu viện đã tham dự lễ công nhận Thamthog Rinpoche.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài sống ở tu viện cùng các đạo sư và bắt đầu học thuộc kinh điển và văn hoá Tây Tạng cho đến năm tám tuổi. Lúc đó cách mạng văn hoá ở Trung quốc bắt đầu, người Trung Quốc đến Lithang; Rinpoche rời Lithang về Lhasa, thủ đô Tây Tạng, trú xứ của Đức Đạt Lai Lạt Ma.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài học triết học ở tu viện Sera Je ở Lhasa. Giáo thọ của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Ling Rinpoche đã ban giới Sa Di (tiếng Tạng là Getsul) cho Ngài. Ngài cũng nhận pháp từ Đức Đạt Lai Lạt Ma ở Lhasa. Những pháp đầu tiên là Lam Rim và Kalachakra.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm 1959 Rinpoche mười một tuổi và trốn sang Ấn Độ. Cuộc hành trình đi bộ kéo dài bốn tháng; Rinpoche chỉ có quần áo mặc trên người và đã lặn lội dưới trời mưa, tuyết, dưới làn đạn của quân đội Trung Quốc suýt giết chết Ngài nhiều lần. Ngài đã trải qua nhiều sợ hãi và khó khăn gian khổ nhưng đó là một trải nghiệm quan trọng trong cuộc đời Ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bốn tháng sau, cuối cùng Ngài cũng đến được Ấn Độ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ đó Rinpoche tị nạn ở Ấn Độ như Đức Đạt Lai Lạt Ma. Ngài rất nghèo, tìm được thức ăn và quần áo rất khó khăn nên suốt ba năm liền Ngài không có giày dép để đi, vì không có tiền để mua. Nhưng một lần nữa, đó là trải nghiệm rất tốt và là bài học rất quan trọng với Ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nhờ lòng từ của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Rinpoche được đi học lại triết học Phật Giáo ở tu viện Sera Je miền Nam Ấn. Ngài đã tu học trong hơn hai mươi năm. Ở tuổi hai mươi Ngài thọ giới Tỳ Kheo (tiếng Tạng là Gelhong).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài còn nhận rất nhiều lễ quán đảnh quan trọng, pháp và luận giải của nhiều dòng truyền thừa khác nhau.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm 1982 Rinpoche trở thành tiến sĩ, một trong những bằng cấp cao nhất trong Phật học, sau đó Ngài vào trường đại học Mật để hoàn thiện kiến thức và các nghi lễ Mật giáo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rinpoche được mời đến Ý nên Ngài đến Milan, cùng với Geshe Tenzin Gonpo Ngài đã quản lý Viện Ghe Pel Ling ở Milan. Lúc mới đầu chỉ có mười, mười hai đệ tử, hiện nay đã có hơn 3.600 thành viên. Rinpoche đã tổ chức nhiều hoạt động ở Ý và cũng đã thỉnh Đức Đạt Lai Lạt Ma đến Milan thuyết pháp năm lần. Rinpoche từng trở lại Lithang cùng hơn 40 đệ tử người Ý. Ngài đã thành lập một trường học và một bệnh viện ở đó, giúp cho người dân địa phương học tập và duy trì văn hoá cũng như chăm lo cho sức khỏe của họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong suốt thời gian đó Rinpoche đã giúp đỡ, chu cấp cho nhiều tu viện ở Ấn Độ và luôn cống hiến đời mình cho người khác và nhận lãnh trách nhiệm chăm sóc họ. Ngài cũng đã đến Usa và nhiều nước phương Đông để thuyết pháp, Ngài có nhiều đệ tử ở khắp nơi trên thế giới.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm 2010 Đức Đạt Lai Lạt Ma bổ nhiệm Rinpoche làm tu viện trưởng tu viện riêng của Đức Ngài ở Dharamsala, tu viện Namgyal. Tháng tám năm đó Ngài nhậm chức tu viện trưởng và đến nay cuộc đời Ngài được cống hiến hoàn toàn cho việc quản lý tu viện và phụng sự Đức Đạt Lai Lạt Ma. Ngài cũng được bổ nhiệm điều hành một trong chín văn phòng của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Rinpoche đang nỗ lực rất nhiều cho tu viện và phụng sự Đức Đạt Lai Lạt Ma, tận hiến sức lực và thời gian cho hoạt động quan trọng này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Nguồn: http://www.phendeling.net/introduce</span></i></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tieu-su-duc-thamthog-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Bậc Thầy và Nguồn cảm hứng</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/bac-thay-va-nguon-cam-hung/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/bac-thay-va-nguon-cam-hung/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 22 Oct 2015 04:41:56 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Gelug]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Gelug]]></category>
		<category><![CDATA[Sùng kính Đạo Sư]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6279</guid>
		<description><![CDATA[By Lama Thubten Yeshe NGUỒN CẢM HỨNG THIẾT YẾU ĐỂ TU TẬP Trước khi bước lên kim cương thừa, cỗ xe tối thượng, nên biết vì sao ta phải từ bỏ lối nhìn hạn hẹp phàm tình của ta về chính mình, và làm phát sinh tự tính giác ngộ của một con người đã hoàn toàn tiến hóa. Ta&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/bac-thay-va-nguon-cam-hung/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>By Lama Thubten Yeshe</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>NGUỒN CẢM HỨNG THIẾT YẾU ĐỂ TU TẬP</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Trước khi bước lên kim cương thừa, cỗ xe tối thượng, nên biết vì sao ta phải từ bỏ lối nhìn hạn hẹp phàm tình của ta về chính mình, và làm phát sinh tự tính giác ngộ của một con người đã hoàn toàn tiến hóa. Ta phải thấy chính vì nghĩ mình thấp thỏi mà ta tiếp tục bị giam giữ trong vòng bất mãn triền miên. Chu kỳ đau khổ bất toại ấy là do ta không biết đến bản chất thuần tịnh cốt yếu của mình. Khi đã có ba yếu tố tiên quyết - từ bỏ, bồ đề tâm, thấy đúng - và an trú tâm trong sáng nguyên ủy, là ta tạo được khoảng trống cho sự chuyển hóa tự thân.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy nhiên hiểu biết như thế chưa đủ, ta phải phát sinh sức mạnh và niềm tin để đi theo pháp môn mãnh liệt đưa đến toàn giác. Nói cách khác ta cần một nguồn cảm hứng. Giác ngộ không chỉ là một khả tính trên lý thuyết, mà là một điều có thể chứng đạt và đã được chứng bởi những con người như chúng ta. Trong truyền thống mật tông, nguồn cảm hứng này là bậc thầy, hướng đạo tâm linh của ta. Trọng tâm của mật tông là hợp nhất mình với nguồn cảm hứng ấy nhờ pháp đạo sư du già.</p>
<p style="text-align: justify;">Hiện tại chúng ta không thể nào giải quyết những vấn đề mà tâm chấp ngã của ta đã gây ra. Đức Phật Thích ca mâu ni đã dạy những phương pháp để giúp ta thoát khỏi ngục tù bản ngã và tự đồng hóa với những thực thể giác ngộ của quá khứ, hiện tại và tương lai. Những thực thể giác ngộ ấy đã kiện toàn một trạng thái trong đó không có sự tách rời, phân biệt giữa cao và thấp; chỉ có sự bình đẳng hoàn toàn của kinh nghiệm giác ngộ. Pháp hành trì đạo sư du già chuẩn bị cho ta đi vào kinh nghiệm hợp nhất với sự thành tựu viên mãn. Nhờ xem mình với thầy là một, ta trừ được tâm tự bỉ như "Chư phật quá cao xa, tôi không sao sánh được." Thay vì thế, ta tập đồng nhất bản tâm mình với tâm bậc thầy, được xem như một vị phật toàn giác.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhờ hành trì pháp đạo sư du già mà trí tuệ hạn cuộc của ta đi đến viên mãn. Năng lượng đại từ bi đại trí tuệ và đại phương tiện của bậc thầy gieo hạt giống trong tâm ta để ta cũng thể hiện được những đức tính tốt lành vô hạn ấy. Chính chúng ta trở thành bậc thầy, và như vậy ta cũng có thể đem lại sự giúp đỡ vô lượng và bất tận cho tất cả chúng sinh. Nếu ta không phát sinh những đức tính của một bậc thầy chân chính trong ta, thì làm sao ta có thể đem lại lợi ích rốt ráo cho bất cứ người nào ? Ta lại còn không thể tự giúp mình cho thích đáng nữa.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>BẬC THẦY NỘI TÂM VÀ BẬC THẦY BÊN NGOÀI </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Những kinh điển mật tông thường nói rằng tất cả thực chứng đều phát sinh từ bậc thầy. Điều này đúng, nhưng ta phải hiểu rằng "thầy" có hai mức độ ý nghĩa khác nhau. Bậc thầy khách quan tương đối là người chỉ cho ta bằng nhiều cách, làm thế nào để khám phá sự toàn vẹn của chính mình. Nhưng trên phương diện sâu xa hơn, bậc thầy chính là trí tuệ, tính trong sáng căn để của tâm ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Cùng một lời dạy, cùng một bậc thầy, mà phản ứng người nghe không ai giống ai. Có người không hiểu giáo lý ngay cả trên bình diện tri thức; có người hiểu được nhưng không thể đi sâu vào ý nghĩa. Nhưng cũng có người vượt ngoài danh từ khái niệm, hoàn toàn hòa nhập với bi và trí của bậc thầy. Những phản ứng ấy đều do mỗi người đạt một trình độ khác nhau về tiến hóa tri thức và tâm linh. Càng giao cảm với bậc thầy nội tâm, người học càng thâm hiểu giáo lý sâu sắc.</p>
<p style="text-align: justify;">Trên thực tế, vị thầy tương đối bên ngoài dù nỗ lực bao nhiêu cũng không bảo đảm cho ta đạt thực chứng. Nhưng bậc thầy bên trong, trí tuệ sáng suốt của chính ta, thì có thể hoàn thành tất cả mọi sự. Bởi thế, pháp hành trì đạo sư du già cốt yếu là một phương pháp để học cách lắng nghe tiếng nói của bậc thầy nội tâm ấy.</p>
<p style="text-align: justify;">Thông thường, mặc dù ta có tiếng nói nội tâm của trí tuệ, nhưng ta không lắng nghe nó nói. Ta lại còn không biết đến tiếng nói ấy, vì ta luôn luôn bận nghe tiếng lải nhải của những tâm lý nhị nguyên thô trọng trong ta. Ta đã quá quen thuộc với tiếng nói này tới nỗi khi trí tuệ trực giác phát sinh, ta thường chối bỏ nó. Nhờ thực hành đạo sư du già, ta có thể đoạn tuyệt quan hệ thô thiển với thế gian để tiếp xúc với trí tuệ bẩm sinh. Khi ấy, ta còn có thể tương quan mật thiết sâu xa với bậc thầy bên ngoài. Nhưng khi mất liên lạc với bậc thầy nội tâm, thì dù giáo lý bậc thầy bên ngoài có sâu sắc đến đâu, ta cũng không bao giờ hội nhập được.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng nói thế không có nghĩa là vị thầy bên ngoài không quan trọng. Trái lại, vị ấy hết sức cần thiết. Mặc dù sự thực là giáo lý mật tông của đức Thích ca mâu ni đã hiện hữu trên 2500 năm, song đối với ta giáo lý ấy kể như không nếu ta không gặp được một bậc thầy mật tông đủ tư cách. Khi ấy thì giáo lý mật tông có thực đối với ta hay không? Dù chư tổ Naropa, Marpa và Tsongkapa có những lối giải thích phong phú đến đâu, ta có thể biến mật tông thành chân lý dành cho ta không, nếu ta chưa được bậc thầy nào khai thị? Dĩ nhiên là không. Về kinh giáo cũng vậy, sự kiện đức Phật giảng giáo lý Tứ đế rất lâu xa về trước cũng không làm cho giáo lý ấy là thực hữu đối với ta. Giáo lý ấy chỉ trở thành hiện thực đối với ta khi ta đã thực chứng giáo lý, nhờ gặp được một vị thầy có thể khai thị một cách sáng sủa cho ta hiểu. Nếu không có tấm gương sống động và cảm hứng từ bậc thầy bên ngoài, thì trí tuệ nội tâm ta vẫn yếu ớt, không phát triển được.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>BẬC ĐẠO SƯ VÀ GƯƠNG MẪU </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Giáo lý giác ngộ đến với chúng ta, gây được ấn tượng trên tâm thức ta, là nhờ một hệ truyền thừa không gián đoạn giữa thầy và đệ tử tiếp nối. Bậc thầy, một thành phần của hệ truyền thừa ấy, làm cho giáo lý Tứ diệu đế trở thành sinh động đối với ta nhờ nguồn cảm hứng hay sự gia trì của ngài. Nhờ biết rõ tính tình, khả năng ta, nên bậc thầy có thể làm cho chân lý trở nên sáng sủa đối với ta, làm tâm ta trở thành con đường của thực chứng. Ý nghĩa của cảm hứng hay sự gia trì chỉ có thế. Và pháp hành trì đạo sư du già hay thờ kính thầy, chỉ là để cho chúng ta mở lòng ra mà đón nhận nguồn cảm hứng này.</p>
<p style="text-align: justify;">Hơn nữa, ta cần một người dẫn đạo có kinh nghiệm để chỉ cho ta cách áp dụng những giáo lý vào thực hành. Ta sẽ không đi tới đâu nếu chỉ học từ trong sách, tự mò mẫm mà hi vọng tìm ra mọi sự. Có thể những thông tin vẫn đầy đủ trong sách, nhưng hầu hết các mật điển đều có tính mơ hồ, chỉ rõ ý nghĩa khi được giải thích. Chỉ một điều trang bị thông tin ấy như thế nào, cũng không dễ gì biết được. Ta cần một người chỉ dạy, cho ta một chứng minh thực tiễn. Người ấy là bậc thầy.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong mật tông, một bậc thầy có kinh nghiệm rất cần thiết, vì pháp tu này nặng về kỹ thuật nội tâm. Chúng ta cần được chỉ dẫn mọi sự ăn khớp với nhau như thế nào trước khi ta thực sự thân chứng điều ấy. Nếu không có sự hướng dẫn thích đáng thì ta sẽ rối ren không khác gì một người thay vì được một chiếc xe hơi lại chỉ nhận được một đống bộ phận rời rạc và một quyển sách dẫn. Nếu không phải là một thợ máy chuyên môn, thì người ấy sẽ hoàn toàn mù tịt.</p>
<p style="text-align: justify;">Lý do ngày nay tôn giáo đã suy đồi tận gốc ở phương đông cũng như phương tây chính là vì hiếm có được những tấm gương sáng về tâm linh. Nếu chưa bao giờ gặp được những bậc thầy chứng ngộ thì người ta không cách nào biết đến những khả năng vô hạn của tâm thức mình. Đọc sách nói về hành vi và sự nghiệp những bậc thầy quá khứ chưa đủ gợi nguồn cảm hứng cho ta. Kỳ thực, lắm lúc những tiểu sử ấy càng làm ta cảm thấy mình cách xa trời vực. Ta nghĩ "Phật và Chúa đã sống mấy ngàn năm trước, sự trong sáng của các ngài thuộc về một thời đại khác. Một người như tôi sống vào thế kỷ 20 suy đồi này thực vô phương đạt đến bất cứ mức độ thanh tịnh nào giống như thế." Hoặc ta có thể hoàn toàn phủ nhận những chuyện kể về các bậc thầy quá khứ, xem như chuyện thần tiên chỉ thích hợp với trẻ nhỏ dễ tin. Cách duy nhất ta có thể dập tắt những cảm giác hoài nghi, vô năng và châm biếm ấy là, phải tiếp xúc với một người đã khơi dậy được tiềm năng cao thượng nhất nơi chính họ. Chỉ khi đó ta mới có được một tấm gương về sự thanh tịnh và tiến hóa tâm linh mà chúng ta có thể trông thấy tận mắt, để nghĩ lại chính mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Bởi thế bậc thầy bên ngoài thật vô cùng quan trọng. Ta cần một điển hình về một người cũng là con người như chúng ta, nhưng đã phát triển vượt ngoài giới hạn những gì ta xem là có thể. Khi ta thấy một người đã vượt ngoài ngã chấp, một người không còn những bận tâm nhỏ nhen về cuộc đời này mặc dù vẫn sống trên đời, một người nói và làm bằng trí trực giác và thực sự hiến mình cho sự an lạc của tất cả, thì khi ấy ta có thể tin chắc rằng ta cũng có thể đạt đến những thực chứng ấy. Nếu không, khi ta chỉ toàn thấy những điển hình của tham lam thù hận, thì tầm nhìn của ta về ta là gì và có thể trở thành gì, sẽ bị hạn cuộc một cách thê thảm.</p>
<p style="text-align: justify;">Một tấm gương sáng là điều quan trọng, không riêng chỉ đối với người đang theo một con đường tu tập. Nhu yếu khẩn thiết nhất trong thế giới ngày nay là hòa bình và hòa điệu, tất cả chúng ta đều cảm thấy nhu cầu này, dù có tôn giáo hay không. Nhưng hòa bình không thể được mang lại chỉ nhờ danh từ, và đương nhiên không thể nhờ sức mạnh mà có hòa bình được. Ngược lại ta cần tấm gương của những người mà trọng tâm của đời sống họ là hòa bình, hòa hợp. Chỉ có tấm gương của những người sống một cuộc đời vừa hùng lực vừa trong sáng như vậy, mới có thể thuyết phục được cái thế gian đang vỡ mộng, và chứng minh cho họ thấy rằng hòa bình nội tâm và ngoại giới là điều có thể thực hiện ngay bây giờ và tại đây.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>TRUYỀN ĐẠT BẰNG SỰ GIA TRÌ </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Muốn tiến trên con đường mật tông để đạt đến sự viên mãn cho tự thân, cần có sự gặp gỡ giữa bậc thầy bên trong và bậc thầy bên ngoài. Khả năng giác ngộ của chúng ta phải được thêm sức, phải được cảm hứng nhờ tiếp xúc với một người nào đã phát triển tiềm năng ấy đến chỗ viên mãn. Mỗi pháp tu Mật tông tập trung vào một vị trời thiền biểu trưng cho một khía cạnh đặc biệt của cái tâm toàn giác. Và cũng như cái tâm chấp ngã phàm tình đã tạo ra hoàn cảnh giới hạn của riêng nó, tâm hoàn toàn giác ngộ của một vị thần sẽ tạo ra hoàn cảnh đã được chuyển hóa trong đó tâm ấy vận hành để lợi lạc cho người khác. Sự phối hợp giữa vị thần và hoàn cảnh đã được chuyển hóa ấy, gọi là một Mandala, và nếu muốn thể hiện một vị thần nào đó trong tâm mình, trước hết ta phải được giới thiệu vào Mandala của vị ấy nhờ một bậc thầy mật tông đủ tư cách. Chỉ khi ấy những tu tập về chuyển hóa bản thân mới có thể thành đạt.</p>
<p style="text-align: justify;">Mỗi vị thần mật tông có một hệ truyền thừa không gián đoạn gồm những hành giả thuộc hệ phái ấy. Một hệ phái chân thực đáng tin cậy thì phải bắt nguồn từ kinh nghiệm giác ngộ của vị thầy chân chính. Hơn nữa kinh nghiệm này cần phải được truyền thừa đến chúng ta qua một chuỗi không gián đoạn gồm những hành giả uyên thâm, mỗi người đều đã thực chứng nhờ viên mãn những pháp hành trì về vị thần liên hệ. Sức mạnh của mật tông - tantra có nghĩa đen là sự tương tục - nằm trong sự duy trì và truyền đạt kinh nghiệm giác ngộ qua một hệ phái hành giả liên tục không gián đoạn. Bởi thế điều cần thiết là phải thiết lập được liên lạc với hệ truyền thừa sinh động ấy nếu muốn tự chuyển hóa mình. Cách thức để làm cuộc tiếp xúc ấy là qua một lễ nhập môn (hay quán đảnh, hay gia trì.)</p>
<p style="text-align: justify;">Thụ pháp quán đảnh hay gia trì là cốt để đánh thức một loại năng lượng đặc biệt trong tâm ta. Nhờ thiết lập một tương quan mật thiết với bậc thầy, sự tiếp xúc ấy đánh động cái tiềm năng trong tâm ta để đi con đường mật tông đến chỗ viên mãn. Nhập môn là một hành vi thiền định mà thầy trò cùng san sẻ; chứ không phải chuyện một ông thầy cổ quái nào từ Tây tạng sang làm pháp thuật để ban cho bạn những quyền năng ghê gớm như hàng phục rắn và bò cạp ! Đừng nên hiểu nghĩa gia trì theo kiểu ấy. Chúng ta cũng không bận tâm đến những khía cạnh hình thức của cuộc lễ như cầu nguyện đọc tụng, rung chuông v.v...Điều cần hiểu là sự gia trì có thâm ý lớn lao.</p>
<p style="text-align: justify;">Câu chuyện kỳ diệu về hành giả tu chứng rất cao ở Ấn vào thế kỷ thứ 10 tên Tilopa và môn đệ Naropa của ông chứng minh được bản chất cốt yếu của sự gia trì trong mật tông. Đã nhiều năm, Naropa mong muốn thọ pháp gia trì từ bậc thầy Tilopa, và thường lặp lại lời thỉnh cầu. Vốn là một bậc thầy hành tung quái dị khó dò, Tilopa không bao giờ đáp ứng lời cầu xin ấy. Lúc thì ông giả vờ không nghe, lúc lại đánh trống lấp bằng cách nói những câu hoàn toàn vô nghĩa. Nhưng Naropa vẫn kiên trì.</p>
<p style="text-align: justify;">Một ngày kia sau 12 năm chung sống- trong thời gian đó Tilopa đã đặt môn đệ vào vô số tình huống thử thách đầy hiểm nguy- khi hai thầy trò đang đi bộ qua một sa mạc nóng cháy, Tilopa đột ngột tuyên bố: "Bây giờ đúng là lúc nên làm lễ nhập môn. Hãy đem cho ta một mandala!" Trong câu này thì Mandala có nghĩa là một phẩm vật hiến dâng tượng trưng cho toàn thể vũ trụ, và theo truyền thống, khi đệ tử dâng thầy một mandala để xin được nhập môn, mandala ấy phải gồm những vật quý giá và bày biện đẹp đẽ. Nhưng giữa sa mạc mênh mông chẳng có thứ gì ngoài đất cát, Naropa bèn tiểu tiện xuống đấy để có thể nắn một hình mandala thô sơ. Tilopa nhận món lễ vật quái dị ấy và ban phép "gia trì" bằng cách ném nó vào đầu đệ tử cho vỡ nát! Tâm của Naropa lúc ấy bị cuốn hút bởi lối gia trì bất thường kia một cách sâu xa đến độ ông ta nhập ngay vào một định chứng đầy phúc lạc. Rất lâu, khi cuối cùng ông xuất khỏi định chứng sâu xa ấy, thầy ông đã biến mất. Nhưng Naropa đã nhận được cái mà ông đã bao năm chờ đợi, đó là sự trao truyền tuệ giác thực thụ.</p>
<p style="text-align: justify;">Câu chuyện này kể ra cốt để nhấn mạnh rằng một phép gia trì không phải đơn giản chỉ là nghi lễ. Hoàn toàn không phải thế. Đấy là một loại truyền thông đặt biệt giữa thầy và môn đệ; và bởi thế nó tùy thuộc rất nhiều vào sự mở lòng ra của môn đệ và trình độ tu tập của ông ta cũng như vào sự thực chứng của bậc thầy. Mối truyền thông mật thiết ấy khởi động bản chất sâu xa của chúng ta đến độ ta được thêm năng lực để thực hành không gián đoạn và viên mãn tất cả những thực chứng trên đường tu tập.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhiều người phương đông cũng như phương tây có những ý tưởng nhầm lẫn về lễ nhập môn hay gia trì của mật tông. Họ tưởng chỉ có việc tham gia cuộc lễ, bậc thầy sẽ làm tất cả mọi sự. "Ngài sẽ cho một điều gì đặc biệt, và tôi sẽ nhận được, miễn tôi có mặt." Nhưng thế là quá thụ động. Sự gia trì đích thực chỉ xảy đến khi có sự tham dự tích cực của cả thầy lẫn đệ tử. Đấy là khi hai tâm hồn cùng san sẻ một kinh nghiệm. Chỉ khi điều này xảy đến ta mới có thể nói pháp gia trì đã thực sự diễn ra.</p>
<p style="text-align: justify;">T<strong>HỌ PHÁP GIA TRÌ</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Thọ pháp cần nhiều điều hơn là chỉ có tham dự bằng thân xác, như đi đến một nơi nào đó vào một lúc nào đó để nhận một cái gì đó mà một người nào đó sẽ trao vào tay bạn. Thọ pháp gia trì còn là sự tham gia trực tiếp bằng cả tâm hồn. Chúng ta cần có khả năng buông xả để cho kinh nghiệm tự xảy đến, hơn là có thái độ căng thẳng, bị ám ảnh. Bởi vì sự quán đảnh - bao gồm tất cả những pháp thiền quán trong đó - là một phương pháp để dẫn ta đi vào một kinh nghiệm về sự toàn vẹn, và sự toàn vẹn này là một liều thuốc chữa trị cái tâm nhị nguyên của chúng ta đầy thói cục bộ bất mãn và cuồng tín. Qua kinh nghiệm nội tâm về pháp gia trì chân chính, mọi chướng ngại cho việc thực chứng cái Toàn vẹn đều bị loại trừ, không phải nhờ ta nghe được hay học thêm được điều gì, mà nhờ thực chứng bằng bản thân.</p>
<p style="text-align: justify;">Thế thì tại sao chúng ta gọi đây là một phép nhập môn hay quán đảnh? Bởi vì đấy là khởi đầu của kinh nghiệm thiền, khởi sự tác động lên việc tập trung thiền quán của ta, và thâm nhập vào thực tại của mọi sự. Qua năng lực của một pháp gia trì như thế, ta xử dụng được trí tuệ, phương tiện và từ bi mà ta đã có. Đây là sự bừng dậy của những gì có sẵn.</p>
<p style="text-align: justify;">Điều quan trọng là nhận ra mình có sẵn những đức tính trí tuệ, phương tiện thiện xảo và từ bi. Thực sai lầm khi nghĩ có người nào thiếu những đức tính ấy, nghĩ nhờ pháp gia trì họ mới nhận được những đức tính họ không sẵn có trong tận cùng bản thể. Giáo lý Phật nói chung và Mật tông nói riêng, thường nhấn mạnh rằng có một tài nguyên vô hạn về tuệ giác sâu xa và từ bi rộng lớn đã nằm sẵn trong mỗi người chúng ta. Điều cần thiết là bây giờ chúng ta phải động đến tài nguyên ấy, "cho chạy" cái năng lượng giác ngộ tiềm tàng ấy.</p>
<p style="text-align: justify;">Để sự gia trì có kết quả, cả thầy lẫn trò đều phải tham dự trong việc tạo nên không khí thích hợp. Vị thầy có bổn phận hướng dẫn lễ gia trì sao cho nó thực thụ đánh động tâm đệ tử, và phải đủ thiện xảo và mềm dẻo để uốn nắn sự gia trì cho hợp khả năng đệ tử. Những đệ tử thì phải biết làm phát sinh một thái độ khoáng đạt, và để tâm mình trong trạng thái sẵn sàng đón nhận. Nếu quá bám vào sự vật giác quan, hoặc vướng sâu ngã ái, hoặc chấp chặt tướng ngoài của sự vật, xem chúng là thực hữu, thì sẽ không có chỗ cho thực chứng len vào tâm thức. Nhưng khi đã luyện tập đầy đủ Bồ đề tâm và chính kiến về tính không, thì đệ tử sẽ dễ dàng cởi bỏ những thành kiến để mở lòng đón nhận sự trao truyền tuệ giác.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi cả thầy lẫn trò đều đủ tư cách thích hợp, thì sự gia trì thấm nhuần tuệ lạc lớn lao. Thay vì tạo điều kiện để đi vào mật tông, sự gia trì trong trường hợp ấy đã giúp đệ tử ngộ đạo, thực chứng kinh nghiệm hỉ lạc siêu việt. Quả thế trong quá khứ, đã có nhiều môn đệ đạt giác ngộ ngay trong lúc thọ phép nhập môn.</p>
<p style="text-align: justify;">Và điều quan trọng cần nhớ là, một hành giả nghiêm túc không chỉ thọ quán đảnh một lần duy nhất. Người ta có thông lệ thọ pháp quán đảnh để đi vào một pháp hành trì mật tông đặc biệt, mỗi lần như thế họ lại có thể nhận được những mức độ kinh nghiệm thực chứng càng ngày càng sâu. Bởi thế ta không nên thất vọng nếu lúc đầu thiền quán của ta chỉ dừng lại ở mức độ tưởng tượng thay vì kinh nghiệm thực thụ. Điều này cũng đã khá tốt, đừng tưởng nó không ăn thua gì. Chỉ tưởng tượng mà thôi cũng gieo được những hạt giống vào trong ruộng thức bao la của ta, và cuối cùng những hạt giống ấy sẽ phát triển thành kinh nghiệm thực thụ. Đây là một tiến trình rất tự nhiên. Bởi thế bạn phải luôn luôn cỡi mở buông thư, và hài lòng với bất cứ gì xảy đến.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>PHÁP HÀNH ĐẠO SƯ DU GIÀ </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Khi đã thọ pháp nhập môn để hành trì một pháp quán đặc biệt về vị thần nào đó, ta có thể khởi tu quán hàng ngày về "sadhana" của vị thần ấy. Một trong những pháp thiền đầu tiên của "sadhana" (những chỉ dẫn từng bước để thực hành pháp thiền quán liên hệ đến một vị thần mật tông) là Đạo sư Du già, vắn tắt như sau. Quán tưởng trước mặt hoặc trên đỉnh đầu mình, vị thần thiền chính yếu của mật điển mà ta đang thực hành, hình ảnh vị ấy được vây quanh bởi những bậc thầy trong hệ phái. Những bậc thầy hệ phái này là những người đã truyền thừa giáo lý và thực chứng pháp quán ta hành trì, gồm từ sơ tổ cho đến vị thầy hiện tại, vị thầy mà ta đã thọ pháp nhập môn.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó ta khẩn cầu những thành phần trong hội chúng ấy ban cho ta niềm cảm hứng và ân phước. Đáp ứng lời thỉnh cầu này, những vị ấy tan hòa thành ánh sáng nhập vào trong ta xuyên qua đỉnh đầu đi xuống huyệt đạo trung ương (xem chương 10) và tan vào trong tim ta. Khi điều này xảy đến thì mọi danh tướng nhị nguyên phàm tình đều tan vào khoảng không trong sáng của tính không. Khi ấy ta thiền quán cái cảm giác rằng bậc thầy, vị thần, và bản tâm ta, cả ba đã trở thành một thực thể bất khả phân.</p>
<p style="text-align: justify;">Tinh túy bậc thầy là trí tuệ, trạng thái tâm hoàn toàn trong sáng trong đó lạc và tuệ -sự thực chứng Tính Không- chỉ là một. Bởi thế khi quán tưởng vị thầy tan vào trong tim mình, ta phải có cảm giác một dấu ấn bất khả hoại của trí tuệ ấy đang ấn sâu vào đáy tim ta. Từ giây phút ấy về sau, ta phải thường xuyên nhớ lại kinh nghiệm nội tâm này về đại lạc và trí bất nhị, dù có gặp hoàn cảnh nào đi nữa. Nếu chính niệm về kinh nghiệm nội tâm này suy giảm, ta sẽ dễ dàng rơi vào ảnh hưởng của kinh nghiệm giác quan thô động, và hỉ lạc nội tâm về trí bất nhị cuối cùng sẽ hoàn toàn tan biến.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi quán tưởng bậc thầy mình như vị thần thiền, ta nên đặc biệt nghĩ đến lòng tử tế và sự quan tâm của thầy đối với ta. Nói đơn giản, mặc dù vị thầy như trời thần ấy không phải là cha, mẹ, hay người thân của tôi, vị ấy đã lo cho tôi không khác gì những người thân ấy. Dường như thầy chỉ hiện hữu vì tôi, cho tôi có thể phát triển một thân tâm lành mạnh thù thắng. Đấy là cách ta nên nghĩ về vị thầy như trời thần khi thiền quán.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhờ quán tưởng theo cách trên, nghĩ đến sự tử tế của thầy đối với ta, mà một giây liên hệ mãnh liệt được thiết lập. Thay vì quán một hình ảnh mơ hồ không có tính người, ta quán bản chất vị thần không khác gì bậc thầy từ bi vô lượng của ta. Bằng cách ấy một cảm giác thân thiết vô cùng sẽ phát sinh. Do cảm giác mật thiết này, và cũng vì vị thần được quán thành một thực thể ánh sáng tuyệt đẹp, mà cảm hứng có thể đến với bạn rất nhanh. Sự quán tưởng của bạn như nam châm cuốn hút cảm hứng và phúc lạc, nhờ vậy bạn có thể khai triển những thực chứng. Chung quy đây là toàn thể mục đích của pháp hành trì đạo sư du già. Mục đích của sự nhìn thấy bậc thầy dưới hình dạng cao siêu thù thắng hoàn toàn không cốt để làm lợi cho bậc thầy- một bậc thầy chân chính không cần gì đến sự tôn vinh ấy- mà chỉ cốt để thúc nhanh sự tiến bộ tâm linh của ta.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>LIÊN TỤC NHẬN RA TÍNH NHẤT THỂ </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Thấy bậc thầy, vị thần và bản tâm ta là một thực thể duy nhất, không phải là điều chỉ cần làm trong thời thiền quán. Ta phải thực hành đạo sư du già- tự đồng hóa với Phật tính cốt tủy của bậc thầy- trong mọi lúc của đời ta. Thay vì nghĩ đến cái tâm bất mãn khốn khổ của mình, ta nên nhận chân Nhất thể giữa bản tâm ta với bậc thầy bên trong. Khi tâm chấp ngã khởi lên, thì thay vì thêm nhiên liệu cho nó bằng cách lao mình vào tâm trạng mê muội, ta nên cố nhận ra tâm ấy có bản chất Thầy-Phật, đó là pháp thân (xem chương 10). Khi ấy năng lượng của tâm mê được xử dụng để chuyển thành trí tuệ. Đây là giáo lý nổi bật của mật tông.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng muốn thành tựu sự chuyển hóa sâu xa này, ta phải liên tục thực hành đạo sư du già. Phải thân thiết với lối nhìn bậc thầy, vị thần và bản tâm mình cốt lõi chỉ là một. Tác phẩm Cúng dường đạo sư nói: "Ngài là bậc thầy, là thần nam, thần nữ, thần hộ pháp." Để giải thích điều này ta có thể mượn hình ảnh Kitô giáo, một truyền thống tâm linh dựa trên hiện hữu của một thượng đế duy nhất, một thực tại tuyệt đối. Mặc dù thượng đế thể hiện dưới ba phương diện Cha, con và thánh thần, tinh túy thượng đế chỉ là một, đó là nguyên lý Toàn thể. Tương tự, mật điển nói đến nhiều vị thần khác nhau, nam thần, nữ thần, thần hộ pháp..., nhưng có lúc tất cả những thực thể này phải được xem như một tổng thể duy nhất. Khi đã thực chứng toàn thể tiềm năng nội tâm, thì chính bạn trở thành một vị Phật. Đấy là mục đích tối hậu của đạo sư du già.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>ĐỘNG ĐẾN TIM NHỜ CẢM HỨNG</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Vấn đề của chúng ta là thông thường, sự hiểu biết tôn giáo chỉ nằm trong đầu óc, không phải trong tim ta. Chúng ta hãnh diện đã nghiên cứu, nắm vững triết lý và thực hành của nhiều tôn giáo hoàn cầu, nhưng thâm tâm ta vẫn mê muội, không được điều phục. Những người Tây tạng thường nói: "Bơ là để thuộc da, nhưng cái bình da đựng bơ vẫn cứng trơ không nao núng." Tri kiến tâm linh là cốt để giảm bớt thành kiến hạn cuộc, khắc phục mê muội. Thế nhưng người ta có thể hiểu biết nhiều về tôn giáo mà vẫn không thay đổi chút nào nhờ hiểu biết ấy. Nghiên cứu vấn đề tâm linh bằng tri thức thì trái tim ta vẫn bất động, không ảnh hưởng gì.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta thiếu một nguồn cảm hứng hay sự gia trì cho tâm ta. Ta cần được thuyết phục bằng kinh nghiệm sống động về một thực tại tâm linh mãnh liệt cùng hiệu lực của nó, trong ta và ngoài ta. Nếu không, con mắt tuệ của ta vẫn khép lại, không thể thấy được thực tại sâu xa dù có nghiên cứu bao nhiêu sách vở.</p>
<p style="text-align: justify;">Như chúng ta đã nói, chính bậc thầy là người cung cấp nguồn cảm hứng cần thiết ấy, cung cấp mối liên lạc giữa tâm ta và kinh nghiệm tâm linh thực thụ. Trong lối hành xử của bậc thầy, ta có thể trông thấy tận mắt những hiệu quả tốt lành của sự luyện tâm theo từ bi và trí tuệ. Nhờ nghĩ đến cuộc đời tận tụy của thầy ta đối với mọi người, không chút ngã ái, cũng như nghĩ đến nhiều đức tính khác nơi thầy, rồi nhờ tan hòa hệ phái của thầy vào tim ta, mà ta có thể thấm nhuần những đức tính giác ngộ. Nhiều thế hệ bậc thầy đã kinh nghiệm rằng thực hành những pháp quán ấy, đồng thời buông bỏ ngã chấp, sẽ có hiệu quả sâu xa, chuyển hóa được tri thức khô khan thành tuệ giác.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi thực hành đạo sư du già, cần phải kiên nhẫn tiến hành tuần tự, không nên miễn cưỡng làm cho xong việc. Nhất là việc xem thầy như vị thần trong thiền quán. Trong thực tế ta không thể đồng nhất như vậy, nếu chưa phát triển được phần nào những đức tính của vị thần trong chính tâm ta. Bởi thế không nên gắng gượng. Nếu sự tu tập những kỷ thuật mật tông sâu xa này mà phải thoái hóa thành một lễ tục bắt buộc, thì thật là điều quá tệ, không khác nào chỉ đi nhà thờ vì tục lệ xã hội bắt buộc. Để tránh điều này, ta phải làm cho việc tu tập phát triển từ từ. Cuối cùng khi đã quen thuộc với bản chất của tâm, với những đức tính của bậc thầy, với hiệu nghiệm của việc quán tưởng vị thần bằng ánh sáng, ta sẽ bắt đầu cảm thụ được sự thâm thúy của Đạo sư du già.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>BỎ THÓI QUEN CHẤP TƯỚNG</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Những pháp hành mật tông chẳng những giúp ta hết lệ thuộc khoái lạc giác quan, mà còn khỏi thói chấp tướng và các khái niệm phàm tình. Từ vô thủy đến nay, ta đã bị "tẩy não" để tin cái thế giới thuộc cảm quan là tuyệt đối có thực. Bây giờ tu mật tông là ta cố phá hủy thói quen thâm căn cố đế này. Việc ấy không phải dễ; trí chân không còn ấu trĩ nơi ta rất dễ dàng bị sự áp đảo của cái biết thô thiển thuộc giác quan. Cũng như nhà khoa học đã biết cái bàn chỉ là một tập hợp tạm thời của những năng lượng không ngừng chuyển động, nhưng trên thực tế ông lại thấy nó là vật thể tĩnh và đặc. Bởi thế ta cần thường xuyên thực hành quán chiếu để đánh tan quan niệm sai lầm về tính thực hữu của các pháp, tăng cường chính kiến về bất nhị.</p>
<p style="text-align: justify;">Một khó khăn lớn là ta dễ chấp nhận thực tại thuộc kinh nghiệm giác quan hơn là thực tại do quán tưởng. Ta thường nghĩ: "Tôi có thể quán thân mình thành ánh sáng, song đây chỉ là một trò chơi của tâm tôi. Nó không có thực, trong khi thân vật lý của tôi thì có thực; tôi có thể sờ chạm nó, thấy nó trong gương."</p>
<p style="text-align: justify;">Ta cần tập coi những kinh nghiệm do tưởng tượng không khác gì những kinh nghiệm giác quan. Cả hai chỉ hiện hữu với cái tâm đang kinh nghiệm chúng, không có thực tại tối hậu, tự tồn. Nhưng chỗ khác nhau là : kinh nghiệm giác quan phàm tình tiếp tục trói buộc ta vào chu kỳ khổ đau bất mãn, còn kinh nghiệm do thiền quán đưa chúng ta đi sâu vào tầng vi tế của bản thể. Với tâm rất vi tế bằng ánh sáng trong suốt này, ta có thể phá vỡ ngục tù khái niệm phàm tình, và kinh nghiệm được hạnh phúc bất tận của toàn giác.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu chưa từng nếm vị phúc lạc của bản tâm và chưa từng thấy tận mắt làm thế nào để đạt đến trạng thái tỉnh giác và khoáng đạt sâu xa vượt ngoài cảm nghĩ, thì dĩ nhiên bạn rất hoài nghi. Có lẽ bạn nghĩ rằng niềm vui bạn có khi được ăn kem chẳng hạn là có thực, còn bất cứ hỷ lạc nào bạn có thể cảm nghiệm trong thiền định chỉ là ảo tưởng. Cách duy nhất để vượt qua hoài nghi này là tập quen thuộc với thực tại nội tâm của mình cho đến khi nó thành một thực tại không thể chối cãi. Và nhờ thực hành đạo sư du già và những phương pháp chuyển hóa kế tiếp, ta có thể quen thuộc với tính phúc lạc sâu xa của tâm ta.</p>
<p><em>Nguyên tác: Introduction to Tantra</em></p>
<p><em>Tác giả: Lama Thubten Yeshe - Biên tập: Jonathan Landaw</em></p>
<p><em>Việt ngữ: Thích Nữ Trí Hải </em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/bac-thay-va-nguon-cam-hung/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Chuyển hóa cảm xúc, tình cảm thành tâm chí thành</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/chuyen-hoa-cam-xuc-tinh-cam-thanh-tam-chi-thanh/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/chuyen-hoa-cam-xuc-tinh-cam-thanh-tam-chi-thanh/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 13 Oct 2015 17:54:47 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Sùng kính Đạo Sư]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức mới]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6164</guid>
		<description><![CDATA[                                   Tình Thầy trò giữa Đức Dudjom Rinpoche và Sogyal Rinpoche  Nếu những phẩm hạnh của bậc Thầy là điều kiện cần thì tâm chí thành mà chúng ta đã trưởng dưỡng với Ngài qua thực hành Thượng sư tương ưng pháp là điều kiện&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/tin-tuc/chuyen-hoa-cam-xuc-tinh-cam-thanh-tam-chi-thanh/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">                                   <strong>Tình Thầy trò giữa Đức Dudjom Rinpoche và Sogyal Rinpoche </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Nếu những phẩm hạnh của bậc Thầy là điều kiện cần thì tâm chí thành mà chúng ta đã trưởng dưỡng với Ngài qua thực hành Thượng sư tương ưng pháp là điều kiện đủ để bạn tiến tu trên hành trình giác ngộ. Bề ngoài, bạn tu tập theo một bậc Thượng sư, từ Thượng sư bạn nhận được nhiều chỉ dẫn nhập môn và hướng đạo, nhưng sự thực hành sẽ không đúng và không mang lại kết quả nếu về phía mình, bạn thiếu đi tâm chí thành thực sự.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta có thể phân chia tâm chí thành làm ba cấp độ:</p>
<p style="text-align: justify;"><b>- </b><i>Tâm chí thành truyền cảm</i> gắn với cảm xúc.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>- </b><i>Tâm chí thành tín nguyện</i>, dựa vào sự hiểu biết chính xác và đức tin chân thật.</p>
<p style="text-align: justify;"><b>- </b><i>Tâm chí thành</i> không phụ thuộc vào sự hiểu biết mà là thành tựu thực sự, sự thành tựu của trí tuệ không có quan hệ gì với cái gọi là quy luật tình cảm.</p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Từ Tâm chí thành truyền cảm </i></b></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Tâm chí thành truyền cảm</i> là cảm xúc tôn kính được khơi gợi từ các phẩm hạnh của Guru. Đôi lúc, khi hướng về phẩm hạnh của Thượng sư, nghĩ đến các giáo lý hay lời huấn từ của Thầy, hoặc khi được lân mẫn Ngài, bạn cảm thấy trào dâng lòng kính ngưỡng sâu sắc thúc đẩy niềm mong muốn thực hành nơi bạn. Đó là phương diện của tâm chí thành truyền cảm hay cảm xúc.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy nhiên, ta chỉ có thể thực sự gọi đó là tâm chí thành nếu cái tâm ấy thúc đẩy bạn đến với thực hành. Đây là một khía cạnh thâm mật mà bạn cần hiểu. Nếu tâm chí thành không khích lệ bạn thực hành thì đó không còn là gì ngoài một cảm xúc nhất thời, một trạng thái tình cảm không dẫn bạn đến với tư duy về vô thường, tính không,... tóm lại không khích lệ bạn thay đổi cuộc đời mình. Cảm hứng nhất thời khiến bạn thốt lên: “Ôi, Giáo lý an vui! Chúng ta đã trải qua giây phút tuyệt vời làm sao!” Bạn tự cảm thấy rõ như vậy. Tôi đồng ý với bạn như thế là không có gì xấu cả. Nhưng đó chưa được coi là tâm chí thành mà chỉ đơn thuần là cảm xúc nhất thời.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì vậy, chúng ta bắt đầu với tâm chí thành được khơi gợi từ cảm hứng. Chúng ta gọi đó là tâm chí thành cảm xúc, vì nó gắn với cảm xúc, ngập tràn và chồng chéo trong cảm xúc. Đây là một giai đoạn thực sự gian nan để nhận diện bản chất của các loại xúc tình mà bạn trải nghiệm. Vậy, đôi khi bạn có thể ở trong trạng thái ngập tràn một loại cảm xúc rất mạnh, không giống với tâm chí thành và hơi có vẻ không đúng chỗ, nhưng không có nghĩa đó không thể là tâm chí thành. Phương tiện duy nhất để kiểm chứng là bạn hãy tự hỏi tình cảm đó có khích lệ mình đến với sự thực hành Phật pháp hay không. Chỉ khi cảm xúc đưa bạn đến với thực hành thì đó mới thực là một chỉ dẫn đáng giá. Nếu không, đấy chỉ là một sự lãng phí thời gian.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong giai đoạn này của tâm chí thành xúc cảm, bạn cần dè chừng sao cho cảm xúc không kéo mình sa vào các thái độ đối nghịch với con đường tâm linh, ví dụ như sân giận, tị hiềm, tự mãn một cách trực diện hay phi trực diện. Càng gần gũi thân cận Thượng sư, bạn càng cần dè chừng không cho tính vị kỷ, tự mãn chi phối mình. Dĩ nhiên, những xúc tình đó đang hiện hữu nơi chúng ta! Vấn đề là phải biết được liệu sự xáo trộn đó có phải là do nhãn quan không thanh tịnh của chúng ta về Thượng sư khơi dậy hay không? Nếu không phải thế thì có thể chấp nhận được bởi chúng ta vẫn luôn mắc phải tâm xáo trộn do các tập khí phóng dật của cõi ta bà; bởi thế nên những sự xáo trộn trong tâm đó không có gì là kỳ lạ. Điều quan trọng là không bao giờ được để những xúc tình tiêu cực bị khơi dậy bởi các liên hệ dù là trực tiếp hay gián tiếp tới Thượng sư: như thái độ tràn đầy kiêu hãnh chỉ vì chúng ta được gần với Thượng sư, hay sự dày vò ghen tị đối với bằng hữu nhận nhiều giáo lý hay sự quan tâm bên ngoài hơn chúng ta...</p>
<p style="text-align: justify;">Ví dụ như Đức Milarepa, trong suốt nhiều năm đi theo Thượng sư của mình, Ngài chưa bao giờ được thụ nhận giáo lý từ Ngài Marpa, trong khi Ngài Marpa lại thâu nhận hàng trăm đệ tử, truyền pháp và đối đãi với họ bằng ly trà và những món quà hậu hĩnh. Về phần mình, Ngài Milarepa không nhận được bất cứ thứ gì: không quà, không giáo lý, không thụ giới. Thay vì thế, Ngài đã bị hành hạ một cách phũ phàng. Ngài Marpa đã đích thân đánh đập và tống cổ Ngài Milarepa ra ngoài, thậm chí không cho phép Ngài Milarepa vào ở trong đền. Ngài Marpa đã nói với Ngài Milarepa rằng Ngài còn chưa thanh tịnh, rằng Ngài không thể so sánh mình với những người khác, rằng Ngài không là gì hết, và Ngài không có quyền cũng không xứng đáng được hưởng điều gì. Tuy bị đối xử nghiệt ngã thế nhưng Ngài Milarepa không bao giờ sinh lòng tị hiềm, oán thán.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài hẳn đã rất thất vọng và đau khổ, đến mức muốn tự sát. Nghĩ rằng mình không nhận được giáo pháp gì từ bậc Thượng sư, Ngài đã muốn chết với một tâm nguyện sẽ được tái sinh để có cơ hội hạnh ngộ Thượng sư Marpa một lần nữa và cuối cùng sẽ được thụ nhận giáo lý từ Thượng sư. Ngài đã tin rằng trong cuộc đời này, do đã phạm nhiều sai lầm quá nặng, Ngài sẽ không nhận được điều gì hết, đối với Ngài đó là những lỗi lầm không thể lượng thứ. Đó chỉ là một cái cớ cho ý muốn tự tử của Ngài Milarepa chứ không phải là lòng ghen tị, oán thán, tự mãn hay sân giận.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì vậy, bạn cần chắc chắn rằng những xáo động này không bị khơi dậy do bậc Thầy hay bởi sự hiện diện của Thầy dù là trực tiếp hay gián tiếp. Đây là điểm thứ hai cần kiểm chứng. Điểm thứ nhất là xem xét tâm chí thành có nằm ngoài giới hạn một cảm xúc thuần tuý hay không, có thúc đẩy bạn thực hành Phật pháp hay không. Nếu bạn nhận thấy thái độ của mình đúng mực trong cả hai trường hợp thì mọi thứ còn lại đều không quan trọng.</p>
<p style="text-align: justify;">Bạn nên nhớ các nghịch cảnh và gian truân phải trải qua đều không ảnh hưởng tới tâm chí thành của Ngài Milarepa đối với bậc Thầy của mình, cũng không ảnh hưởng tới tâm nguyện được thụ nhận giáo lý, thực hành và chứng đạt giác ngộ của Ngài Milarepa. Tâm chí thành cảm hứng của Ngài không bao giờ bị dao động, bất chấp những khổ đau mà Ngài đã trải qua và những thử thách mà Ngài đã gặp phải. Thậm chí ý tưởng tự vẫn cũng là một phần trong tâm chí thành của Ngài: rời bỏ cuộc đời này đối với Ngài chỉ là một phương tiện để tái sinh dưới hình tướng một con người tốt hơn, để cuối cùng sẽ được thụ nhận giáo lý của Thượng sư Marpa; Theo hướng đó, Ngài đã cầu nguyện và tin tưởng tâm nguyện của mình sẽ được chấp thuận. Do đó, động cơ của Ngài khác nhiều so với loại động cơ dẫn những người phàm tình đến với sự tự sát, bị thúc đẩy bởi tâm sân giận phiền não của chính họ.</p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Đến tâm chí thành tín nguyện và bất diệt</i></b></p>
<p style="text-align: justify;">Như vậy là mức độ thứ nhất của tâm chí thành là tâm chí thành cảm hứng, một dạng tình cảm khởi phát ở mức độ bề mặt, không thật sâu sắc. Một khi đã vượt qua nấc thang này rồi, không còn lý do gì để cảm xúc cứ dai dẳng bám mãi trong sự sùng kính, và cảm xúc sẽ chuyển hóa thành một dạng hiểu biết chân thật bền vững ở một giai đoạn cao hơn. Ta có thể gọi là giai đoạn này là <i>tâm chí thành tín nguyện</i> dựa trên hiểu biết thâm sâu, chân xác.</p>
<p style="text-align: justify;">Cuối cùng, ta đạt tới <i>tâm chí thành bất diệt</i> hay đức tin chân thật, hoàn toàn không còn lệ thuộc vào một nguồn cảm hứng bên ngoài nào nữa. Đây là một dạng tâm chí thành thanh tịnh, hết sức mạnh mẽ, ổn định, bất khả xâm phạm, chỉ còn lại đó bản chất chân xác của tâm chí thành được gợi lên trong vô thường. Chúng ta gọi đó là đức tin chân thật hay tâm chí thành bất diệt. Đến đây có thể nói chúng ta đã tiến tu một mức độ cao trên con đường Mật thừa.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ tâm chí thành bên ngoài, chúng ta đã vượt qua cả tâm chí thành bên trong, dựa trên sự hiểu biết thâm sâu để cuối cùng đạt tới được chân lý, tỉnh giác hoàn toàn trong đức tin chân thật!</p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Phụng sự Thượng sư </i></b></p>
<p style="text-align: justify;">Bởi vì mọi phẩm chất tâm linh của bạn phụ thuộc vào Thượng sư, nên hãy nghĩ rằng mọi hành động thân khẩu ý của bạn đều phụng sự Thượng sư. Hãy luôn nghĩ đến Thượng sư với lòng kính ngưỡng và cầu nguyện Ngài trường thọ và phát nguyện thúc đẩy, hỗ trợ, mở rộng các hoạt động hoằng pháp tâm linh của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu có niềm tin với bậc Thượng sư như vậy, bạn sẽ đạt được giải thoát. Trong kinh điển dạy rằng:</p>
<p style="text-align: justify;"><i>Việc quán tưởng một trăm nghìn sắc tướng Bản tôn khác nhau,</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Được thực hiện hàng trăm nghìn lần</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Cũng không bằng nhất tâm quán tưởng Căn bản Thượng sư.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Hàng triệu pháp thực hành giai đoạn Thành tựu được thực hiện hàng trăm ngàn lần</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Cũng không có kết quả bằng ba lần cầu nguyện và thành tâm cúng dàng lên Thượng sư.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Một người thực hành thiền định của giai đoạn Thành tựu trong một kỳ kiếp, thực hành hai mươi nghìn lần</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Không bằng một hành giả trong tâm luôn xuất hiện Thượng sư.</i></p>
<p style="text-align: justify;">Thực hành con đường chí thành bao gồm hai hướng dẫn dưới đây:</p>
<p style="text-align: justify;">- Thực hiện bất kỳ điều gì Thượng sư dạy bạn làm</p>
<p style="text-align: justify;">- Thực hiện bất cứ điều gì Thượng sư muốn làm</p>
<p style="text-align: justify;">Như thế, trên phương diện Thân, bạn đỉnh lễ, lân mẫn Thượng sư, khiêm cung tự đảm nhận những việc vặt như chắp tác, gánh nước, lau dọn...</p>
<p style="text-align: justify;">Trên phương diện Khẩu, bạn cầu nguyện và tán tụng để mọi người cùng biết đến phẩm hạnh giác ngộ của Thượng sư. Hãy thỉnh cầu Ngài muốn bạn làm những gì với lời nói tôn kính, lịch sự và trung thực. Dù ở công cộng hay riêng tư, không bao giờ được tỏ thái độ bất kính với Thượng sư trên mọi phương diện Thân - Khẩu - Ý.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu áp dụng đúng những gì ở trên, bạn sẽ thực sự vững bước trên con đường thực hành Guru Yoga. Thiếu lòng tôn kính đối với bậc Thầy xuất phát từ tâm không trân trọng giáo pháp. Nếu thiếu tôn trọng giáo pháp, sự thực hành sẽ trở nên không hiệu quả và không giúp hoàn thiện các phẩm chất giác ngộ. Nếu không có lòng thành kính hướng về bậc Thầy và giáo pháp, bạn sẽ ngạo mạn cho rằng không bậc Thượng sư nào có thể trao truyền cho bạn phẩm chất giác ngộ và sẽ hành thiền với thái độ sai lệch. Bởi đã phạm nhiều lỗi lầm, tất cả công đức bạn tích lũy trước đây đều bị thiêu hủy. Kính trọng Thượng sư và giáo pháp làm tăng trưởng ý chí của bạn. Nếu biết trân trọng những thiện hạnh của Thượng sư, tất cả phẩm chất giác ngộ theo đó sẽ tăng trưởng mà không cần bất kỳ nỗ lực nào.</p>
<p style="text-align: justify;">Tâm chí thành và tín tâm với Thượng sư không dễ dàng có được. Hãy biết cúng dàng Bậc Thế Tôn, phụng sự chư Phật, thực hành các thiện hạnh. Sau đó bạn nên thiền định và cầu nguyện rằng: “Mọi công đức con tích lũy đều truyền cảm hứng mạnh mẽ cho việc phát triển tâm chí thành và lòng thành kính lên Thượng sư”. Người có tâm chí thành và lòng thành kính vĩ đại sẽ có nhiều hoạt động đem lại lợi ích lớn lao cho nhiều người. Người có tâm chí thành và lòng thành kính trung bình sẽ chỉ thực hiện hoạt động với lợi ích ở mức trung bình. Người có tâm chí thành và lòng thành kính nhỏ hẹp sẽ chỉ thực hiện hoạt động lợi ích trong phạm vi nhỏ hẹp.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Naropa, Maitripa, Milarepa… và những thành tựu giả khác đã đạt được giác ngộ đều nhờ bài tập khổ luyện về phụng sự và làm thế nào để tuân theo sự hướng đạo của Thượng sư. Phàm phu chúng ta không thể làm gì khác những gì chư Thượng sư trong quá khứ đã làm để quy y và phụng sự bậc Thầy. Tâm chí thành chân thật và lòng tôn kính không đến một cách dễ dàng, song các bậc Thầy trứ danh đều đã trưởng dưỡng và luyện rèn phẩm chất này thông qua sự cầu nguyện và nhất tâm tuân theo giáo huấn Thân - Khẩu - Ý của bậc Thượng sư giác ngộ !</p>
<p>http://daibaothapmandalataythien.org/giao-phap-kim-cuong-thua-phat-giao-moi-lien-he-thuong-su-de-tu/chuyen-hoa-cam-xuc-tinh-cam-thanh-tam</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/tin-tuc/chuyen-hoa-cam-xuc-tinh-cam-thanh-tam-chi-thanh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Từ sâu thẳm trái tim</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tu-sau-tham-trai-tim/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tu-sau-tham-trai-tim/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 26 Sep 2015 13:59:44 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Drukpa Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Drukpa]]></category>
		<category><![CDATA[Sùng kính Đạo Sư]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5962</guid>
		<description><![CDATA[By Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa 12 Chuyến viếng thăm Đức Thượng Sư Trulshik Rinpoche của Pháp Vương Gyalwang Drukpa 12 tại tự viện của Đức Thượng Sư Trulshik Rinpoche năm 1990, trong mưa hoa và tuyết cát tường Dù bạn có tin hay không, khi bạn được hạnh ngộ một bậc Thầy vĩ đại chân tu thực chứng và khi&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tu-sau-tham-trai-tim/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>By Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa 12</strong></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/tusauthamtraitim.jpg"><img class="alignnone  wp-image-5963" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/tusauthamtraitim.jpg" alt="tusauthamtraitim" width="387" height="387" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><em>Chuyến viếng thăm Đức Thượng Sư Trulshik Rinpoche của Pháp Vương Gyalwang Drukpa 12 tại tự viện của Đức Thượng Sư Trulshik Rinpoche năm 1990, trong mưa hoa và tuyết cát tường</em></p>
<p style="text-align: justify;">Dù bạn có tin hay không, khi bạn được hạnh ngộ một bậc Thầy vĩ đại chân tu thực chứng và khi bạn có thể dùng cuộc đời mình để thực hành giáo pháp một cách chân thành vì lợi ích hết thảy sinh linh, thì cuộc đời của bạn thật sự giống như viên ngọc như ý. Chừng nào bạn đặt trọn lòng tín tâm nơi Thượng sư, ngài sẽ chăm sóc mọi điều cho bạn, ngài hiện diện ở khắp mọi nơi và bạn được săn sóc trên cả bình diện thế gian và xuất thế gian.</p>
<p style="text-align: justify;">Đáng buồn thay, mặc dù sau khi đã được hạnh ngộ bậc Thượng sư với những phẩm hạnh giác ngộ chân thực nhất, hoặc bậc đã hoàn toàn giác ngộ như Đức Phật Vajradhara (Phật Kim Cương Trì), hầu hết chúng ta lại không đủ phúc duyên để hiểu, nhận ra và biết trân quý mối pháp duyên hy hữu ấy. Thượng sư có thể yêu cầu bạn làm những việc thật khó khăn nặng nhọc, có thể đặt bạn trong tình huống dường như không thể, thậm chí ngoài sức tưởng tượng, nhưng nếu bạn làm theo hết thảy lời chỉ dạy của ngài, thì dù những gì ngài yêu cầu bạn nghe có vẻ ngu ngơ, phi lý, không tưởng, bạn vẫn có thể hoàn thành tốt mọi việc. Chướng ngại vẫn có mặt nhưng bạn sẽ tìm được cách hóa giải chúng, đôi khi sẽ phải chịu một vài thương tích nhỏ, đôi khi hoàn toàn lành lặn không một vết xước. Nhưng chắc chắn là bạn sẽ luôn trở nên tiến bộ hơn. Nếu ngài Marpa không giao thật nhiều việc nặng nhọc cho ngài Milarepa thì ngài Milarepa làm sao có thể đạt thành giác ngộ, làm sao nghiệp sát sinh kẻ thù của ngài được tịnh hóa thanh tẩy. Thực sự không có cách nào. Nhưng nếu ngài Marpa tại thế trong thời đại này và rèn luyện chúng ta theo phương cách đó, tôi cho rằng có lẽ sẽ chẳng có người đệ tử nào theo được ngài, sẽ chẳng có hoa của ai cúng dường ngài, và sẽ chẳng có ai xứng đáng để ngài ban trao giáo pháp truyền thừa.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/AH-87.jpg"><img class="  wp-image-5971 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/AH-87-200x300.jpg" alt="AH (87)" width="346" height="519" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Đôi khi tôi cảm thấy mình chưa phải là một hành giả trọn vẹn. Tôi có rất nhiều khiếm khuyết và dường như vẫn chưa hoàn thành viên mãn được những tâm nguyện của chư Thượng sư trong sự tu tập thực hành cũng như trong các Phật sự lợi ích hữu tình bởi vì, giống như rất nhiều người thời hiện đại ngày nay, tôi có rất nhiều thế sự phải ưu tiên. May mắn thay tôi đã được hạnh ngộ một số bậc Thượng sư vĩ đại nhất thế kỷ này và thế kỷ trước. Có một vài ngài vẫn còn trụ thế và luôn hướng đạo giúp tôi nhận ra được tự tính tâm của mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Như bài viết trước chia sẻ, tôi đã có một kỳ nhập thất tương đối ngắn. Vừa khi tôi định xả thất vào khoảng lúc 3 giờ chiều, thị giả của tôi không ngừng gõ cửa bạch rằng thị giả của Thầy tôi mang đến tặng tôi một chiếc khăn. Tôi giữ kín việc mình nhập thất, coi đây là việc riêng, nên ngoại trừ những thị giả thân tín nhất, không một ai biết về việc này, hầu hết mọi người đều nghĩ tôi không có mặt ở đây. Nên đáng lẽ Thượng sư và thị giả của ngài cũng không thể biết được, trừ phi chỗ tôi bị gắn camera. Mặc dù nhập thất là phải phát nguyện về thời gian, bản thân tôi cũng không theo dõi sát sao được thời gian. Sau khi thị giả của Thầy tôi tới vào lúc 3 giờ chiều ngày hôm đó để trao tặng tôi chiếc khăn, tôi mới nhận ra rằng đó cũng chính là lúc kết thúc thời gian phát nguyện nhập thất.</p>
<p style="text-align: justify;">Điều này cho thấy hết thảy chư Thượng sư giác ngộ đều có tâm toàn tri, giống như chiếc máy camera hiện đại vậy, có thể quan tâm tới chúng ta ở khắp mọi nơi, và điều này có nghĩa rằng nếu chúng ta đặt trọn lòng tin kính nơi các ngài, thì bất cứ khi nào chúng ta cần tới sự gia hộ của các ngài, các ngài lập tức sẽ có mặt. Namo Kim cương Thượng sư!</p>
<p style="text-align: justify;">Ngay sau đó, tôi lập tức viếng thăm đỉnh lễ đức Thượng sư tôn quý, đã một thời gian sức khỏe của ngài không được tốt. Khi gặp tôi, ngài vô cùng vui mừng hoan hỷ. Tôi không viếng thăm ngài đã lâu vì không muốn quấy rầy sự yên tĩnh an bình của ngài. Dĩ nhiên, chúng tôi không nhất thiết phải gặp gỡ trực tiếp mà có những cách kết nối tâm linh khác. Nhưng được diện kiến ngài trực tiếp như thế này thực sự khiến tôi vô cùng cảm động, nhất là khi ngài nói lời cảm ơn tôi đã làm được một việc tốt ngay cả trước lúc tôi kịp bạch với ngài về kỳ nhập thất của mình. Điều này có nghĩa là nếu người đệ tử tu tập tinh tiến với tâm nguyện lợi tha, bậc Thượng sư sẽ biết và đón nhận như một niềm hạnh phúc an vui mãn nguyện lớn lao. Đệ tử còn mong cầu điều gì nữa hơn là làm Thượng sư mãn nguyện theo cách này. Điều này phải diễn ra một cách tự nhiên không gò ép, tuyệt đối vắng bặt tâm hy vọng mong cầu, vắng bặt sự ngụy tạo hư dối. Khi thực hành bất cứ pháp tu nào, nếu tâm bạn còn nghi báng, hy vọng, mong cầu và sợ hãi, thì cuộc đời bạn sẽ chiêu vời chướng ngại. Bản thân tôi đã bở lỡ nhiều duyên lành chỉ vì tâm mong cầu và sợ hãi. Đó là duyên do Đức Phật đã dạy rằng phẩm vật cúng dường vĩ đại nhất là sự thực hành và giác ngộ của chính mỗi hành giả. Tôi cảm động rưng rưng nước mắt khi được chứng kiến Thầy mình xiết bao hạnh phúc vui mừng và vô cùng trân quý kỳ nhập thất ngắn ngủi tôi vừa hoàn thành.</p>
<p style="text-align: justify;">Thị giả của Thầy tôi kể rằng đã từ lâu lắm rồi không thấy ngài tươi cười như vậy, có lẽ vì sức khỏe của ngài không được tốt. Vị thị giả không ngừng cám ơn tôi vì đã viếng thăm và khiến ngài hoan hỷ. Tôi thực sự nguyện cầu là mình có thể thực hiện được nhiều hơn những gì đang làm. Những ai trong số chúng ta có phúc duyên được hạnh ngộ Minh Sư thật không nên uổng phí cuộc đời của mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Mỗi khi xem các kênh truyền hình National Geographic hay Discovery, nhất là mỗi khi họ chiếu phim về chuỗi thức ăn sinh học, loài động vật này là thức ăn của loài kia, tôi thực sự cảm thấy chúng ta quá đỗi may mắn được sinh ra làm người. Sư tử, hổ, cá sấu, và tất cả những loài thú ăn thịt khác không có được may mắn làm người để hiểu được luật nhân quả nên chúng lúc nào cũng bị thói quen thú tính ngu ngốc điều khiển. Một số loài khác như ngựa vằn và voi phải di cư từ miền bắc xuống miền nam, và cứ mỗi lần chúng vượt qua con sông nào có đầy cá sấu là mỗi lần rất nhiều con phải bỏ mạng. Nhưng đến năm sau, bởi thói quen nghiệp lực đã khắc sâu, chúng lại tiếp tục di cư để rồi lại thiệt mạng. Những câu chuyện đáng buồn cứ tiếp diễn hết lần này đến lần khác, chuỗi thức ăn sinh học không thể phá vỡ bởi lẽ những loài vật đáng thương ấy không có phương cách nào mà thoát ra khỏi vòng luân hồi này.</p>
<p style="text-align: justify;">Là loài người, chúng ta có trí thông mình và tri giác để hiểu được luật nhân quả, để chấm dứt vòng luân hồi và thành tựu giác ngộ, đặc biệt là đối với những ai có đại thiện duyên được hạnh ngộ rất nhiều bậc Thượng sư thành tựu tâm linh chân thật, những ngài sẵn sàng rời chốn niết bàn an vui đến với thế gian trần lụy để hướng đạo chỉ dạy cho hữu tình chúng ta. Một vài người trong chúng ta được chỉ dạy rất nhẹ nhàng nhưng một số khác thì lại được yêu cầu khắt khe khó nhọc hơn, nhưng tất cả chúng ta đều có MỘT cơ hội hy hữu trong CHÍNH ĐỜI SỐNG HIỆN TẠI NÀY.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi xin được chia sẻ với các bạn đôi điều về những trải nghiệm nho nhỏ của mình. Để tạm dừng tại đây, tự sâu thẳm trái tim mình, tôi xin được thỉnh cầu tha thiết tới hết thảy chư vị Thượng sư khắp mười phương thế giới, nguyện cầu các ngài pháp thể khinh an và thường trụ tại thế!</p>
<p style="text-align: justify;">Nguồn: www.drukpa.org</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tu-sau-tham-trai-tim/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Mối Quan Hệ Với Một Vị Thầy Tâm Linh Trong Hai Kiếp Sống</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/moi-quan-he-voi-mot-vi-thay-tam-linh-trong-hai-kiep-song/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/moi-quan-he-voi-mot-vi-thay-tam-linh-trong-hai-kiep-song/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 20 Sep 2015 09:57:54 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Sùng kính Đạo Sư]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5783</guid>
		<description><![CDATA[Ảnh minh họa mối quan hệ Thầy và Trò nhiều kiếp giữa Đức Dilgo Khyentse Rinpoche và Đức Dzongsar Rinpoche By Alexander Berzin Mối quan hệ sâu đậm với một vị thầy tâm linh có thể là sự nối kết thăng hoa và quan trọng nhất trong một đời người. Nó cũng có thể là nguồn gốc của sự lừa&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/moi-quan-he-voi-mot-vi-thay-tam-linh-trong-hai-kiep-song/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>Ảnh minh họa mối quan hệ Thầy và Trò nhiều kiếp giữa </strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Đức Dilgo Khyentse Rinpoche và Đức Dzongsar Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong>By Alexander Berzin</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Mối quan hệ sâu đậm với một vị thầy tâm linh có thể là sự nối kết thăng hoa và quan trọng nhất trong một đời người. Nó cũng có thể là nguồn gốc của sự lừa dối bản thân, đau đớn và tuyệt vọng tinh thần. Tất cả đều dựa vào việc chủ động tạo ra một quan hệ lành mạnh. Điều này lại tùy thuộc vào một thái độ thực tiễn về trình độ của chính mình và vị thầy, về mục đích, động lực và ranh giới của mối quan hệ.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi đã viết cuốn sách <em>Liên Hệ Với Một Vị Thầy Tâm Linh: Xây Dựng Mối Quan Hệ Lành Mạnh</em> (Ithaca: Snow Lion, 2000; bản in lại: <em>Thầy Thông Tuệ, Trò Thông Tuệ: Tiếp Cận Của Người Tây Tạng Về Mối Quan Hệ Lành Mạnh.</em> Ithaca: Snow Lion, 2010), chủ yếu là vì mối quan hệ với các vị thầy chánh của tôi như Tsenzhab Serkong Rinpoche, Đức Dalai Lama, Geshe Ngawang Dhargyey, đã mang lại cho tôi nhiều lợi lạc rất đáng kể, và vì trong những chuyến hoằng pháp trên thế giới, tôi thấy buồn là đã gặp rất nhiều người đi tìm đời sống tâm linh, nhưng lại có những kinh nghiệm không mấy tốt đẹp.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhiều người bị lạm dụng về tình dục, tiền bạc hay quyền lực và tự nhận mình là nạn nhân vô tội. Sau khi đã đổ hết tội cho những vị thầy lạm dụng học trò, họ lánh xa tất cả các vị thầy tâm linh, và đôi khi còn lìa bỏ cả con đường tâm linh. Một số khác thì sống trong sự phủ nhận về quan hệ không lành mạnh của mình và cảm thấy “lòng sùng mộ đạo sư” đúng đắn không chỉ hợp lý, mà còn thần thánh hóa mọi hành vi của vị thầy, dù điều này có thể tạo ra bao nhiêu sự tổn thương theo tiêu chuẩn thông thường. Cả hai thái cực đều khiến cho người đệ tử gặp trở ngại để tiếp nhận đầy đủ lợi lạc từ mối quan hệ thầy trò lành mạnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong trường hợp đệ tử là người Tây phương và vị thầy là người Tây Tạng, một trong những nguồn gốc của vấn đề là sự hiểu lầm về văn hóa, cộng thêm những kỳ vọng không thực tế là người kia sẽ hành động theo chuẩn mực văn hóa của mình. Một nguồn gốc của sự nhầm lẫn khác là lấy sự trình bày về chuẩn mực quan hệ thầy trò trong Kinh điển ra khỏi bối cảnh chính gốc, suy diễn nó theo nghĩa đen và nhầm lẫn ý nghĩa của các thuật ngữ chuyên môn, thường là do việc dịch thuật sai lầm.</p>
<p style="text-align: justify;">Ví dụ như bản văn <em>lam-rim</em> (<em>trình tự đường tu giác ngộ</em>) trình bày quan hệ thầy trò như “cội nguồn của đường tu”, và bàn luận về điều này như chủ đề chánh đầu tiên. Tuy nhiên, điểm quan trọng trong phép ẩn dụ là cây hút chất dinh dưỡng từ rễ, chứ không phải nó mọc từ rễ. Cây thì mọc từ hạt giống, và ngài Tông Khách Ba (Tsongkhapa) không gọi mối quan hệ thầy trò là “hạt giống của đường tu”. Dù sao đi nữa, thính chúng chính gốc của lam-rim không phải là những hành giả sơ cơ. Họ là các vị Tăng Ni tụ họp lại để thọ nhận một lễ quán đảnh Mật điển, và để chuẩn bị cho việc này, chư vị cần phải ôn lại những giáo huấn trong Kinh điển. Đối với những hành giả như vậy, những người trước đó đã dấn thân vào đường tu Phật pháp bằng việc tu học và hành trì thì mối quan hệ lành mạnh với vị thầy tâm linh là nguồn cảm hứng để duy trì đường tu trọn vẹn, đưa đến giác ngộ. Chủ ý ở đây không bao giờ ngụ ý là những người mới tu tập ở các trung tâm Phật giáo Tây phương cần phải bắt đầu bằng cách xem các vị thầy tâm linh ở đó như các vị Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong trường hợp của tôi, mối quan hệ sâu đậm nhất mà tôi có được với một vị thầy trải qua hai kiếp sống của ngài. Tôi đã trải qua chín năm làm đệ tử, thông dịch viên, thơ ký tiếng Anh, và giám đốc du lịch ngoại quốc cho Tsenzhab Serkong Rinpoche, cố Đạo Sư Đối Tác Tranh Luận và Trợ Giáo của Đức Dalai Lama. Rinpoche viên tịch năm 1983, tái sanh đúng chín tháng sau và đã được nhận diện, rồi trở về Dharamsala lúc bốn tuổi. Cả ngài và tôi đều tái khẳng định quan hệ sâu đậm giữa hai người khi chúng tôi gặp lại nhau vài tháng sau. Khi một thị giả hỏi ngài có biết tôi là ai không, vị tulku (lama tái sanh) trẻ đã trả lời rằng, “Đừng có ngốc. Dĩ nhiên ta biết ông ấy là ai.” Kể từ đó, Rinpoche đã xem tôi như một thành viên gần gũi trong gia đình tâm linh của ngài, điều mà một đứa trẻ bốn tuổi không thể nào giả tạo. Về phần mình, tôi không hề nghi ngờ gì về mối liên hệ sâu đậm của chúng tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào mùa hè năm 2001, tôi đã ở gần Rinpoche một tháng trong Tu Viện Ganden Jangtse của ngài ở miền Nam Ấn Độ, nơi mà ở tuổi mười bảy, ngài đã tranh luận giáo pháp trước tập hội tăng già, trong một buổi lễ đánh dấu sự gia nhập chánh thức của ngài vào hàng ngũ học giả. Suốt một tháng, tôi đã thọ nhận giáo huấn của ngài, từ những gì ngài đã học được từ khóa tu Geshe, và đã thông dịch một bài truyền khẩu và giảng giải của một bản văn mà ngài đã ban cho một đệ tử Tây phương thân cận khác của Serkong Rinpoche đời trước. Khi tôi nói với Rinpoche thật tuyệt vời là tôi được thông dịch cho ngài một lần nữa, ngài trả lời rằng, “Dĩ nhiên, đó là nghiệp của con mà.” Không theo nghi thức trịnh trọng, tôi cũng tiếp tục quá trình trao lại cho ngài nhiều tác phẩm giáo pháp và những lời khuyên thế tục mà ngài đã ban cho tôi trong kiếp trước.</p>
<p style="text-align: justify;">Mối quan hệ cá nhân của tôi với Serkong Rinpoche qua hai kiếp sống đã mang lại cho tôi nhiều niềm tin vào Phật pháp và sự tái sanh hơn tất cả những điều tôi có thể thu thập được từ việc tu học và hành thiền. Điều này thật sự là một nguồn cảm hứng liên tục trên đường tu. Cả ngài và tôi đều không hề tự lừa dối mình về vai trò của mình đối với người kia trong mỗi một kiếp sống của ngài. Chúng tôi không hoàn toàn giống như trước, mà cũng chẳng hoàn toàn khác với con người trong quá khứ. Mỗi người chúng tôi là một sự tiếp nối. Với sự tương kính sâu đậm dành cho nhau, dựa trên thái độ thực tế về sự khác biệt giữa những giai đoạn của cuộc sống trước kia và hiện nay, mỗi một người trong chúng tôi đều giảng dạy và học hỏi lẫn nhau trong hiện tại. Điều này có vẻ hoàn toàn tự nhiên.</p>
<p style="text-align: justify;">Là một người hâm mộ phim <em>Star Trek</em>, tôi xem kinh nghiệm này như thể mình là một thành viên của phi hành đoàn trong cả hai phim, bộ phim chánh nhiều tập và <em>Next Generation</em> (<em>Thế Hệ Sau</em>), dưới sự chỉ huy của Thuyền Trưởng Kirk trước đây, và bây giờ vị tái sanh của ông là Thuyền Trưởng Picard, đang được đào tạo như một thiếu sinh quân trẻ. Thử thách chánh của tôi là tiếp tục tạo dựng nghiệp lực để làm việc trong phi hành đoàn của tất cả <em>Enterprises (Những Cuộc Mạo Hiểm)</em>trong tương lai.</p>
<p style="text-align: justify;">Alexander Berzin, tháng Hai, 2002<br />
Lozang Ngodrub dịch; Chân Thông Tri hiệu đính</p>
<p>http://www.berzinarchives.com/web/vi/archives/approaching_buddhism/teachers/tsenzhab_serkong_rinpoche/relationship_spiritual_teacher_2_lives.html</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/thuc-hanh/moi-quan-he-voi-mot-vi-thay-tam-linh-trong-hai-kiep-song/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Để Pháp được thanh tịnh phải có chân Đạo sư</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/de-phap-duoc-thanh-tinh-phai-co-chan-dao-su/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/de-phap-duoc-thanh-tinh-phai-co-chan-dao-su/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 05 Sep 2015 15:58:50 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Drikung Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Sùng kính Đạo Sư]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=4236</guid>
		<description><![CDATA[Đức Sonam Jorphel Rinpoche "Để dòng truyền thừa không gián đoạn Pháp được truyền phải thanh tịnh. Để Pháp được thanh tịnh phải có chân Đạo sư”. Trong truyền thống Phật Giáo Tây Tạng có bốn dòng phái lớn: Nyingma (Cổ Mật - Mũ đỏ), Kagyu (Mũ đen), Gelug (Mũ vàng), Sakya. Các dòng phái lớn này còn chia thành&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/de-phap-duoc-thanh-tinh-phai-co-chan-dao-su/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>Đức Sonam Jorphel Rinpoche </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em><strong>"Để dòng truyền thừa không gián đoạn Pháp được truyền phải thanh tịnh. Để Pháp được thanh tịnh phải có chân Đạo sư”.</strong></em></p>
<p style="text-align: justify;">Trong truyền thống Phật Giáo Tây Tạng có bốn dòng phái lớn: Nyingma (Cổ Mật - Mũ đỏ), Kagyu (Mũ đen), Gelug (Mũ vàng), Sakya. Các dòng phái lớn này còn chia thành nhiều nhánh nhỏ.</p>
<p style="text-align: justify;">Các dòng truyền thừa đều có chung một nguồn gốc là giáo lý của đức Phật Thích Ca Mâu Ni.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy mỗi dòng truyền thừa đều phát xuất từ một vị tổ riêng biệt nhưng về căn bản giáo lý là giống nhau. Giáo lý dòng Mũ đen được ngài Kim Cương Trì truyền xuống cho tổ Tilopa là người Ấn Độ. Sau đó giáo pháp được truyền xuống tới ngài Naropa (cũng là người Ấn Độ). Ngài Naropa đã vượt qua tất cả 24 thử thách và thọ được toàn bộ các giáo lý do tổ Tilopa trao truyền. Sau đó giáo lý được truyền tới tổ Marpa. Ngài Marpa sinh ra tại Tây Tạng và sau đó Ngài sang Ấn độ ba lần để học giáo lý. Ngài học giáo lý, tu trì liên tục trong suốt 16 năm theo tổ Naropa và đạt được chứng ngộ sau nhiều thử thách cam go. Ngài nổi tiếng là đại dịch giả đã dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Tây Tạng phần giáo lý căn bản của Kim Cương Thừa được gọi là giáo lý dòng Nhĩ truyền (“Oral Lineage”  hay “Whispering lineage”). Đệ tử nối Pháp của tổ Marpa là ngài Milarepa. Đệ tử của tổ Milarepa là ngài Gampopa.  Tổ Gampopa đầu tiên tu theo dòng Kadampa. Sau khi gặp tổ Milarepa ngài Gampopa thọ Pháp, thực hành Đại thủ ấn và chứng đắc. Giống như hai dòng sông hòa vào làm một, Ngài đã thọ giáo lý của cả hai dòng Kadampa và Kagyupa rồi tổng hợp giáo lý của cả hai dòng lại hòa thành một.</p>
<p style="text-align: justify;">Tổ Gampopa có nhiều đệ tử trong đó có bốn đệ tử chính là Dusum Khyenpa (sáng lập ra dòng Karma Kagyu), Barompa, Stalpa, Phagmo Drupa . Ngài Phagmo Drupa cũng có rất nhiều đệ tử, trong đó có 500 đệ tử đạt chứng ngộ cao nhất và có những chiếc lọng vàng trên đỉnh đầu, nhưng Ngài vẫn nói rằng đệ tử của Ngài chưa đầy đủ. Chỉ khi Ngài Jigten Sumgon, tới từ miền đông Tây tạng, xuất hiện và thì Ngài Phagmo Drupa mới nói rằng đệ tử của Ngài đã đầy đủ.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi đức Phagmo Drupa hấp hối, từ trong tim của Ngài một chày kim cương vàng bay ra và tan hòa vào trong tim của ngài Jigten Sumgon. Lúc đó tất cả mọi người đều nhìn thấy. Và nói với ngài Jigten Sumgon rằng : “Con sẽ là người thừa kế ta”.  Sau khi Ngài Phagmo Drupa viên tịch, tổ Jigten Sumgon thay Guru lãnh đạo dòng truyền thừa. Ngài có được sự tiên tri từ Bổn sư của Ngài rằng: “Con phải chuyển tới Drikung”. Tổ  Jigten Sumgon đã làm theo lời Sư phụ dặn và tới Drikung Thil, phía đông của Lhasa (60km từ Lhasa) - nơi sau này Tu Viện chính của dòng Drikung được xây dựng. Ngài đã được một con bò Yak cái dẫn đường ; khi đến nơi thì con bò biến mất. “Dri” có nghĩa là “con bò Yak cái”. Cái tên “Drikung” của dòng truyền thừa xuất hiện từ đó. Một nguồn gốc khác của chữ “Drikung” có từ một vị thượng thư của vua Songsen Gampo có tên là Dri Serukhung Ston. Vị này sống trong vùng vì thế tên “Drikung”xuất phát từ đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài Jigten Sumgon, tổ của dòng Drikung, là hóa thân của Ngài Long Thọ và được gọi là Long Thọ thứ hai. Trong Tu viện của Ngài Jigten Sumgon thời đó lúc đầu có 100.000 vị tăng và con số đó còn tiếp tục tăng lên. Vào thời đó các tu viện thường rất lớn ; lớn đến nỗi bầu trời vốn màu xanh nhưng vì quá nhiều tăng sĩ nên màu áo vàng hắt lên nền trời khiến cho bầu trời ngả sang màu vàng. Do vậy mỗi khi muốn thông báo vấn đề gì đó thì phải cho người lên đỉnh núi đánh cồng (gong) thì mới thông báo được cho cả một vùng rộng lớn.</p>
<p style="text-align: justify;">Một ngày kia tổ Jigten Sumgon nói với tất cả các vị tăng trong Tu viện: “Tất cả các con phải nhập thất tu tập, ta sẽ lo lắng và quản lý Tu viện. Nếu các con không đi thì chính Ta sẽ đi nhập thất và các con ở lại trông coi Tu viện”. Sau đó Ngài bí mật rời khỏi Tu viện và tới một hang động để nhập thất, không ai biết Ngài ở đâu. Sau đó các vị Daka, Dakini từ ba nơi chốn linh thiêng gắn với thân, khẩu, ý của đức Chakra Samvara tới thỉnh Ngài Jigten Sumgon gửi những hóa thân của Ngài tới ba nơi đó để ban truyền Giáo Pháp. Sau khi tổ Jigten Sumgon gửi các hóa thân của Ngài tới ba nơi đó để truyền Pháp rồi thì các vị Daka, Dakini lại thỉnh Ngài ở lại với họ và không đi đâu nữa. Lúc đó Ngài nói rằng Ngài vẫn còn các đệ tử ở nhà và Ngài muốn tổ chức một đợt nhập thất cho họ. Ngài đề nghị triệu tập mọi người đến ba địa điểm linh thiêng đó: thứ nhất là núi thiêng Kailash, thứ hai là Sari, thứ ba là Lapchi. Mỗi địa điểm có 55 525 vị Tăng sĩ đến nhập thất. Tổng số tăng sĩ nhập thất lên tới gần 180.000 người, một con số khổng lồ mà đời nay khó có thể tin được.</p>
<p style="text-align: justify;">Dòng Drikung Kagyu đã được thành lập từ cách đây 865 năm, sớm hơn một chút nhưng cùng thế hệ với dòng truyền thừa Drukpa Kagyu. Ngài Phagmo Drupa nắm giữ 8 dòng truyền thừa, Drikung Kagyu, Drukpa Kagyu, Yazang Kagyu, Shugseb Kagyu, Taglung Kagyu, Trophu Kagyu, Yerpa Kagyu, Smarpa Kagyu. Hiện giờ chỉ còn bốn dòng truyền thừa thuộc Kagyupa là Drikung Kagyu, Drukpa Kagyu, Taglung Kagyu, Barom Kagyu. Hai dòng mạnh nhất, về số lượng, hiện nay là Drukpa Kagyu và Drikung Kagyu, còn hai dòng Taglung Kagyu và Barom Kagyu ít hơn về số lượng. Các dòng kia không còn tồn tại nữa.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ Ngài Jigten Sumgon cũng có nhiều dòng truyền thừa Kagyupa khác nữa.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong lịch sử Đạo Phật đầu tiên phát triển ở Ấn Độ, rồi từ Ấn Độ lan truyền sang những nước khác. Kim Cang Thừa được truyền bá sang Tây Tạng, và phát triển rất mạnh ở Tây Tạng. Sau đó Đạo Phật từ Tây Tạng lại được truyền bá ngược lại Ấn Độ và chủ yếu tập trung ở vùng Ladakh. Thực tế bây giờ ở Ấn Độ Đạo Phật cũng đã bị suy tàn rất nhiều, không còn được như trước nữa ; nhiều nơi chỉ còn lại cái tên, trên thực tế không còn sự tu tập nữa. Tuy nhiên hiện giờ đang có dấu hiệu của sự hưng thịnh trở lại.</p>
<p style="text-align: justify;">Tại Ladakh, những giáo lý đức Phật đã truyền dạy vẫn còn được phát triển khá mạnh. Bốn dòng phái lớn của Kim Cang Thừa là dòng Mũ đỏ (Nyingmapa), Mũ vàng (Gelugpa), Mũ đen (Kagyupa), Mũ trắng (Sakyapa) đều có đại diện của mình ở đó, nhưng số lượng đông nhất là dòng Kagyupa. Trong dòng Kagyupa thì mạnh nhất về số lượng là hai dòng Drukpa và Drikung. Các dòng truyền thừa thuộc Kagyupa đã từ Tây Tạng tới Ladakh từ khoảng hơn 500 năm trước đây. Dòng Drikung bắt đầu phát triển ở Ladakh cách đây khoảng hơn 500 năm. Sau phái Kagyupa là phái Gelugpa cũng có số lượng khá lớn ở Ladakh. Phái Nyingmapa và Sakyapa không phát triển mạnh lắm, tính theo số lượng, tại Ladakh.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở Kathmandu trước đây chưa từng xuất hiện tên dòng Drikung Kagyu. Cách đây hơn 10 năm thì chính Sonam Rinpoche đã tới Kathmandu và xây dựng hai Tu viện Drikung tại Kathmandu và Lumbini (Lâm Tì Ni). Từ đó tên tuổi dòng Drikung mới bắt đầu được lan truyền tại Nepal.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Sonam Jorphel Rinpoche giảng tại Tu viện Palri - Kathmandu, Nepal Tháng 3/2010</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/de-phap-duoc-thanh-tinh-phai-co-chan-dao-su/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
