<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Đạo sư Gelug</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-gelug/dao-su-truyen-thua/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Fri, 17 Apr 2026 16:09:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Cuộc đời của Choden Rinpoche, một thiền giả ẩn dật</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/cuoc-doi-cua-choden-rinpoche-mot-thien-gia-an-dat/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/cuoc-doi-cua-choden-rinpoche-mot-thien-gia-an-dat/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 01 Sep 2022 01:38:21 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Gelug]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Gelug]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11552</guid>
		<description><![CDATA[Choden Rinpoche – thuộc Tu viện Sera Je – là một trong những Lạt ma phái Gelug cao cấp nhất, trước năm 1985 ngài hầu như không được biết tới ở ngoài xứ Tây Tạng. Sau năm 1959, ngài không trốn khỏi quê hương mà cũng không bị cầm tù; ngài sống trong một căn nhà ở Lhasa, không bao giờ&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/cuoc-doi-cua-choden-rinpoche-mot-thien-gia-an-dat/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Choden Rinpoche <span style="font-weight: 400;">–</span> thuộc Tu viện Sera Je – là một trong những Lạt ma phái Gelug cao cấp nhất, trước năm 1985 ngài hầu như không được biết tới ở ngoài xứ Tây Tạng. Sau năm 1959, ngài không trốn khỏi quê hương mà cũng không bị cầm tù; ngài sống trong một căn nhà ở Lhasa, không bao giờ ra khỏi căn phòng nhỏ, tăm tối, trống trải trong mười chín năm, ngay cả khi đi vệ sinh, và không bao giờ cạo râu cắt tóc.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Thị giả của Rinpoche là tu sĩ Tseten Gelek thuộc Tu viện Sera Je nói: “Ngài dùng toàn bộ thời gian để thiền định ở trên giường. Người ta phải đổi chăn mền mỗi tháng một lần vì chúng nặng mùi mồ hôi. Bởi giả làm một người tàn phế nên ngài thường dùng một cái bô để đi vệ sinh. Trước năm 1980, ngài không trò chuyện với bất kỳ ai, ngoại trừ người mang thực phẩm vào phòng”.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>“Vấn đề chính tôi muốn làm là thực hành Pháp một cách chân thành, cho dù những điều gì đang xảy ra ở bên ngoài.” Rinpoche nói với tạp chí Mạn Đà La vào tháng Sáu trong chuyến viếng thăm Học viện Vajrapani ở California kéo dài hai tháng. “Đây là động lực của tôi, hoàn toàn đối nghịch với tám mối bận tâm thế tục”.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Ở đây, Rinpoche thuật lại cho chúng tôi về cuộc đời ngài. (Những chữ in nghiêng là của Thượng Tọa Tseten).</em></p>
<p style="text-align: justify;">Choden Rinpoche sinh năm 1933 gần Tu viện Rabten tại Rongbo miền đông Tây Tạng. Năm lên ba tuổi ngài được xác nhận là Hóa Thân của Rinpoche đời trước, bản thân vị này từng là ứng viên cho Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ Mười Hai, Thinley Gyatso. Việc ra đời của Choden Rinpoche đời trước có những dấu hiệu đầy ý nghĩa. Sau khi Hóa Thân được chọn lựa, người ta không muốn mọi người biết ngài như thế, vì thế họ tôn ngài làm Lạt ma của Tu viện Rabten.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ 3 tới 8 tuổi tôi được một người chú sống trong một ẩn thất chăm sóc, và năm lên 8 tôi vào Tu viện Rabten tại địa phương, ở đó tôi học tất cả những lời nguyện và các nghi lễ. Khi tôi 6 tuổi, lần đầu tiên tôi gặp Pabonka Rinpoche đời trước, và tại Tu viện Rabten tôi đã nhận từ ngài nhiều giáo lý. Sau đó tôi cũng thọ giới Sa Di từ ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào lúc đó tôi không biết nhiều về thực hành. Khi tôi được 10 tuổi, một cựu Tu viện trưởng của Tu viện Drepung Loseling dạy tôi lamrim và tôi dự những giảng khóa, và chính trong khoảng thời gian này tôi bắt đầu quan tâm tới việc thực hành.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi không nhớ thật rõ ràng lần đầu tiên tôi được gặp Pabongka Rinpoche, nhưng điều tôi nhớ là Rinpoche rất vui vẻ đối với tôi và tôi thực sự ngưỡng mộ mọi điều Rinpoche đã làm: cách ngài đi, cách ngài phục sức, mọi sự. Bởi thán phục ngài như thế nên tôi cảm nghĩ rằng: “Giá như tôi có thể giống như ngài”.</p>
<p style="text-align: justify;">Pabongka Rinpoche khuyên tôi đừng ở tu viện địa phương mà tới những tu viện chính gần Lhasa để tu học, như Sera, Ganden hay Drepung. Tôi vào Tu viện Sera Je năm 15 tuổi. Tất cả những tu viện Gelug địa phương trải rộng khắp Tây Tạng và trực thuộc một trong ba tu viện trung tâm, vì thế bạn tuân theo điều đó một cách phù hợp. Ngài Choden Rinpoche đời trước đã học tập tại Sera Je và nghiên cứu chương trình đào tạo geshe tại đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Cuộc hành trình tới Lhasa mất một tháng rưỡi. Bởi lúc đó không có những con đường thích hợp và bạn phải đi chậm với một bầy bò yak và nhiều người khác, giống như một đoàn lữ hành. Đó là vào mùa đông và khi đó trời rất, rất lạnh. Bạn phải mặc chuba(1) bằng da thú, vì thế bạn không thể du hành trong y phục tu sĩ.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi nhớ là mình phải ngủ bên bờ đường và đôi khi đi ngược lên những vùng hoàn toàn phủ tuyết. Trời rất lạnh nên tuyết không tan được và bạn phải phủi tuyết khi thức dậy. Không có thứ gì như một cái lều để trú thân. Bạn cũng phải mang theo mọi thứ cần dùng trên lưng những thú vật.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào lúc ấy không có dấu hiệu gì của quân đội Trung Quốc (đó là năm 1948), mặc dù đã có những trường hợp các nhóm nhỏ quân đội tiến vào Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Lúc đầu nhóm chúng tôi có ngựa để cưỡi và cũng có rất nhiều bò yak để chuyên chở vật dụng, nhưng về sau chúng tôi bắt đầu cưỡi bò yak thay vì ngựa. Tôi du hành với cha, mẹ và một người anh. Gia đình tôi tới Lhasa để thực hiện một cuộc hành hương, cúng dường và đi nhiễu tại những ngôi chùa ở Lhasa. Sau năm hay sáu tháng, chúng tôi quay trở về nhà.</p>
<p style="text-align: justify;">Năng lực của sự tranh luận như một nền tảng cho những chứng ngộ: Tôi theo những giảng khóa đều đặn của Tu viện Sera, học tập mỗi một trong năm bản văn chính. Đối với phần đầu của việc học tập, bạn cùng các tu sĩ thực hiện những đề tài nghiên cứu, nhưng khi bắt đầu việc nghiên cứu của geshe thì họ trao lại việc khởi động cho các tulku. Tôi học cùng lớp những vị như Geshe Sopa Rinpoche, Geshe Ugyen Tsetsn và Geshe Legden trong hai hay ba năm.</p>
<p style="text-align: justify;">Tại tu viện Sera chương trình chính là triết học, chương trình của geshe (Tiến sĩ Phật Học). Nhưng có những ẩn thất khác nhau của các Lạt Ma, và các ngài sẽ ban giáo lý. Tôi đã tham dự nhiều buổi giảng. Những vị Thầy chính vào thời đó là Bari Rinpoche, Trijang Rinpoche và Ling Rinpoche. Tôi rất thích những giáo lý này, mặc dù đôi khi trong chương trình học tập tại Sera, khi bạn bắt đầu một phần rất quan trọng của bản văn đang được nghiên cứu, bạn không được phép đi tới những giảng khóa khác này.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi thích tranh luận và không quá tệ môn đó. Tôi đã học với một số trong những nhà tranh luận giỏi nhất tại tu viện, như Geshe Loga và Geshe Losang Wangchuk. Sau khi được các ngài hướng dẫn tôi đã có thể tranh luận rất giỏi.</p>
<p style="text-align: justify;">Điều khiến bạn có thể được coi là một nhà tranh luận giỏi là khi tranh luận về một chủ đề được đưa ra, bạn có thể vạch ra cho người khác quan điểm sai lầm của họ; bạn có thể tranh luận về điều đó bằng cách giải thích tại sao quan điểm của họ không phải là quan điểm đúng đắn, sử dụng luận lý học, lập luận, và bằng cách trích dẫn tài liệu Kinh điển. Nhân việc tranh luận bạn cho họ thấy quan điểm sai lầm của họ và họ có thể hoàn toàn từ bỏ nó. Đó là dấu hiệu của một nhà tranh luận giỏi: có thể soi sáng cho đối thủ khuyết điểm của họ và tạo lập nền tảng cho sự hiểu biết đúng đắn nhờ luận lý học và sự thấu suốt Kinh điển.</p>
<p style="text-align: justify;">Với sự tranh luận, bản thân bạn phát triển một sự xác tín rất vững chắc về những gì bạn hiểu biết bởi bạn sử dụng luận lý học, lập luận và việc trích dẫn Kinh điển. Khi bạn có thể làm như thế thì bất kỳ điều gì bạn hiểu biết, nó cũng rất vững chắc trong tâm bạn [và vì thế nó là một nền tảng cho những sự chứng ngộ].</p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung người ta nói rằng trong sân tranh luận của các tu viện, việc bạn chỉ vỗ đôi bàn tay (cử chỉ theo nghi lễ) một lần trong cuộc tranh luận thì còn lợi lạc hơn việc thiền định trong nhiều năm – năng lực của sự tranh luận thì như thế đấy.</p>
<p style="text-align: justify;">Thường thì ở Sera, Ganden và Drepung bạn nghiên cứu ý nghĩa của tất cả Kinh điển; sau đó bạn vào một trong những Học viện Mật thừa và nghiên cứu ý nghĩa của tất cả các tantra. Đây là tất cả những gì cần phải thiền định. Có những người sau khi nghiên cứu đã trở thành ẩn sĩ, hiến dâng trọn đời mình để thiền định.</p>
<p style="text-align: justify;">Những người khác sống trong tu viện và thực hiện mọi sự thiền định trong môi trường tu viện. Những người khác chọn con đường trở về những tu viện địa phương của họ trong các làng mạc hay thị trấn nào nơi họ xuất thân để giảng dạy hay thiền định.</p>
<p style="text-align: justify;">Thầy tôi, Geshe Losang Wangchuk, thường nói rằng ở trong một tu viện và giảng dạy thì ích lợi hơn là ra đi để thiền định, bởi khi ngài biểu lộ ước muốn nhập thất, Trijang Rinpoche đã khuyên ngài cưỡng lại ước muốn đó, vạch cho ngài thấy những lợi ích của việc giảng dạy cho người khác thì hơn hẳn việc tự mình ra đi để thiền định. Khi giảng dạy bạn mang lại lợi lạc cho rất nhiều người, nhưng khi bạn thiền định thì chủ yếu là bạn làm lợi lạc cho bản thân.</p>
<p style="text-align: justify;">Triết học không được sắp đặt cho việc thiền định, vì thế những gì bạn thiền định là những điều giống như các giai đoạn khác nhau của con đường dẫn tới Giác ngộ, là điều hoàn toàn được sắp đặt cho thiền định. Khi ấy bạn có thể sử dụng mọi chất liệu vật chất, mọi thông tin của những nghiên cứu triết học và bạn có thể áp dụng nó để làm phong phú, để tô điểm cho việc thiền định của bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Một ngày tiêu biểu ở Tu viện Sera: Buổi sáng ở tu viện, ngay trước khi bình minh, những lời cầu nguyện buổi sáng đã bắt đầu và kéo dài khoảng hai giờ. Sau đó khởi đầu những khóa tranh luận. Khoảng 11 giờ bạn cùng mọi người trở vào để cầu nguyện, và trà được dọn ra. Đó là bữa trưa của bạn. Tu viện chỉ cho món trà, vì thế các tu sĩ sẽ tới với một nắm tsampa, và đó là bữa ăn trưa của họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó bạn tranh luận, rồi cầu nguyện, rồi lại tranh luận. Sau khóa tranh luận cuối cùng bạn có thể trải qua một giờ rưỡi trong phòng của bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Không có những lớp học được tiêu chuẩn hóa – bất kỳ khi nào có giờ rảnh là có lớp học. Có những thời kỳ trong tu viện không có các khóa tranh luận, và chính trong thời gian ấy những lớp triết học rất sôi nổi.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau một tiếng rưỡi giải lao bạn tụ họp để tham dự một khóa tranh luận rất dài, và tiếp theo là một khóa cầu nguyện, ở đó bạn tụng Hai mươi mốt Lời Tán thán Đức Tara và những lời cầu nguyện Bổn Tôn Dù Trắng (Bạch Tán Cái) – những bài tương tự như vậy. Sau đó bạn cố gắng thực hiện tiết tranh luận khác, và khi mặt trời sắp lặn bạn được nghỉ giải lao. Kể từ lúc mặt trời lặn, mọi điều bạn đã nhớ bạn phải tụng niệm để không quên mất. Nếu bạn học các lớp cao thì bạn được phép ở lại trong phòng bạn để tụng niệm, nhưng nếu bạn còn trẻ thì bạn phải ở tại những khoảng đất trống là nơi diễn ra những cuộc trì tụng. Bạn hát lớn tiếng một mình bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong lúc đó có thể có nhiều người tụng những bài cầu nguyện đến tận bình minh ngày hôm sau. Lớp Trung Đạo và lớp của những người nghiên cứu những sự Viên mãn (ba la mật) lần lượt diễn ra suốt đêm. Khi một lớp sắp đi ngủ, lớp khác sẽ bắt đầu khóa tranh luận của họ, và họ ở lại đó mãi cho tới khi đọc những lời cầu nguyện buổi sáng. Vì thế suốt ngày hai mươi bốn giờ luôn vang lên âm thanh của Pháp. Chẳng bao giờ có thời điểm nào mà bạn không nghe Pháp âm trong tu viện.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Rinpoche đã hoàn thành mọi việc nghiên cứu cần thiết vào năm 28 tuổi, đạt được thứ hạng Lharam cao cấp nhất. Trijang Rinpoche và nhiều Lạt ma cao cấp yêu cầu ngài nhanh chóng lấy học vị geshe (tiến sĩ Phật Học), nhưng vào lúc đó guru gốc của ngài, là Tu viện trưởng của Sera Je, không cho phép ngài trở thành một geshe. Vị Thầy này muốn Rinpoche tiếp tục nghiên cứu. Ngài lại trải qua những sự nghiên cứu, chủ yếu là các bản văn về những giới nguyện tu sĩ, Vinaya (Luật Học). Ngài nghiên cứu chúng nhiều lần. Rồi người Trung Quốc đến.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Ngài không bao giờ mặc y phục đặc biệt của tulku, và mặc dù xuất thân từ một gia đình viên chức, ngài không bao giờ có labrang riêng, căn hộ riêng, tại Sera. Ngài hòa nhập với những tu sĩ bình thường và mọi người yêu mến ngài.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Các Guru chính của Rinpoche là Pabongka Rinpoche, Trijang Rinpoche và Đức Đạt Lai Lạt Ma.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Ngay từ lúc còn trẻ mục đích chính yếu trong việc nghiên cứu của ngài là có thể thực hành những gì ngài đã học, vì thế ngài tập trung vào ý nghĩa của Kinh điển. Lúc ngài khoảng 10 tuổi, ngài có một ý hướng to lớn là thực hành những điều ngài học tập.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Tôi lưu lại lớp Lharam trong nhiều năm. Một trong những vị Thầy của tôi là một Tu viện trưởng bảo tôi: “Con còn trẻ. Lý do gì khiến con phải vội lấy học vị geshe? Hãy tiếp tục nghiên cứu”. Khi tôi có thể lấy học vị geshe thì tôi khoảng 28 tuổi. Khi người Trung Quốc tới thì tôi 29 tuổi, vì thế sau đó tôi chẳng bao giờ có sự may mắn.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi đã hoàn thành việc học tập trong khoảng mười bốn năm, nhưng nếu đi theo hệ thống của tu viện thì bạn mất khoảng ba mươi năm. Như thế những tu sĩ phải mất một thời gian dài mới lấy được học vị geshe. Đó là vì ý nghĩa của các Kinh điển thì rất, rất sâu xa. Bạn càng có thể phân tích nó thì sự hiểu biết sâu sắc của bạn càng trở nên sáng tỏ. Hệ thống này sản sinh ra một số trong những học giả xuất sắc nhất.</p>
<p style="text-align: justify;">Cuộc nổi dậy ở Lhasa năm 1959: Trong thời gian của cuộc nổi dậy chống Trung Quốc, hầu hết các tu sĩ đã trốn thoát. Vì thế nhiều binh lính đã tới và các tu sĩ lo sợ các tu viện sẽ bị phá hủy. Trước cuộc chiếm đóng có hàng ngàn tu sĩ, nhưng chỉ còn hai hay ba trăm người ở lại tu viện Sera. Tôi vẫn ở tu viện Sera.</p>
<p style="text-align: justify;">Một hôm, vào lúc rạng đông, binh lính Trung Quốc bao vây tu viện, vây bắt tất cả các tu sĩ và gom chúng tôi trong một cái sân. Sau đó họ lục soát tu viện thật kỹ lưỡng. Tất cả các tu sĩ bị quân lính trang bị vũ khí bao vây.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng tôi nghe nói rằng ở miền đông Tây Tạng quân đội đã vây bắt tất cả các tu sĩ và bắn chết họ, vì thế mọi người lo sợ điều đó sẽ xảy ra. Từ bình minh cho tới hoàng hôn tất cả các tu sĩ bị đứng trong sân. Sau đó lính Trung Quốc cho các tu sĩ sắp thành một hàng và mang tất cả đi – mọi người nói: “Chúng ta bị mang đi giết”, nhưng sự việc không xảy ra như vậy, họ chỉ cầm tù mọi người.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi ở trong tù khoảng một tháng. Bởi không có sẵn một nhà tù, họ đã dùng một trong những ngôi chùa chính của Sera Je, và họ không cho bất kỳ ai ra ngoài, ngay cả để đi tiểu! Chúng tôi phải dùng một cái thùng lớn thường được sử dụng để đựng nước cúng dường – bạn không thể quét dọn toàn thể sàn nhà.</p>
<p style="text-align: justify;">Đôi khi vào giữa trưa họ cho chúng tôi nước ấm để uống, và nếu những ai có tsampa của riêng họ thì họ dùng nó với nước. Hai hay ba trăm tu sĩ chúng tôi sống như thế trong gần một tháng.</p>
<p style="text-align: justify;">Họ bắt đầu cách ly tất cả các Lạt ma, geshe, và tất cả những ai giữ chức vụ quản lý. Họ phân loại người, và những tu sĩ bình thường bị giam giữ thành một nhóm. Họ thường nói: “Những người không có danh hiệu là bạn của chúng tôi, còn những người có tước vị thì là kẻ thù”.</p>
<p style="text-align: justify;">Họ dùng những nhóm tu sĩ bình thường để khám phá những nhóm người có tước vị. Nếu những tu sĩ bình thường nào có thể bảo đảm rằng một người có tước vị không tham gia cuộc nổi dậy và không nói điều gì về người Trung Quốc thì vị ấy cũng được thả ra.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi sống trong tu viện tôi thường hòa hợp với những tu sĩ bình thường, vì thế một số tu sĩ đã bảo đảm cho tôi, nói rằng mặc dù là một Rinpoche nhưng tôi chẳng phù hợp chút nào với danh hiệu đó, vì thế tôi được phóng thích.</p>
<p style="text-align: justify;">Họ tổ chức những bài học chính trị trong tu viện, dạy các tu sĩ phản bác tôn giáo, phản bác tu viện và mọi sự thực hành. Họ thả từng người có tước vị ra trong một lát, và mọi người – tất cả những tu sĩ bình thường – phải đánh đập người ấy. Nếu những tu sĩ này không đánh thì họ bị coi là những người ủng hộ người có tước vị. Một số vị bị đánh trầm trọng tới nỗi sau đó không đứng dậy nổi.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi bị một chứng bệnh tim nên khi nhìn thấy những điều này xảy ra tôi đã ngã bệnh trầm trọng, vì thế tôi được đưa đi bệnh viện để kiểm tra. Tôi tới Lhasa và ở đó năm hay sáu tháng.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào tháng hai năm 1960, họ vây bắt tất cả các tu sĩ sống ở Lhasa và nói rằng chúng tôi không thể ở đó mà phải trở về tu viện nơi chúng tôi xuất thân. Tôi trở về Sera. Tôi vẫn sống như một tu sĩ và đắp y.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi tôi trở lại tu viện, ở đó có một cuộc tổng phê bình và hạ nhục Đức Đạt Lai Lạt Ma. Khi bạn bị cưỡng bách dự những cuộc biểu tình này, bạn không có sự chọn lựa, bạn phải tham dự vào việc lăng nhục. Trước đó tôi không được khỏe vì thế tôi tìm cách ngủ và không phải tham dự. Người Trung Quốc đưa bác sĩ tới kiểm tra mạch của tôi, và vì bị bệnh tim nên mạch của tôi nhảy rất mạnh, tôi được miễn dự những cuộc biểu tình này.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong khi đó, điều kiện sống tại tu viện càng lúc càng căng thẳng. Khi ấy dân chúng ở Lhasa được tự do hơn những người trong tu viện một chút, vì thế khi nghe nói các tu sĩ khốn khổ như thế, các cư sĩ nói những điều như: “Tôi mong là mình không bao giờ bị tái sinh làm tu sĩ!” Đã tới thời người ta nói ngay cả những điều như thế! Sau đó tôi rời tu viện và tới Lhasa, ở đó tôi sống với một người bà con.</p>
<p style="text-align: justify;">Chẳng bao giờ tôi có ý tưởng trốn đi. Người Trung Quốc thường lập đi lập lại: “Tuyệt đối các ông không thể nào trốn thoát”, và người ta cũng có quá ít thông tin về cách thực hiện điều đó khiến cho ngay cả việc trốn đi cũng không là một chọn lựa để cân nhắc trong tâm bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhập thất mười chín năm: Tôi thực hiện nhập thất Chulen(2) trong một thời gian, nhưng người Trung Quốc ngăn tôi lại. Họ nói bạn có thể thực hành Pháp, nhưng tới khi thực hành thì có nhiều sự hạn chế, và họ cảm thấy Pháp không tốt và các thực hành không có thực chất. Vì thế tôi sống ở Lhasa tới khoảng năm 1964, làm các thực hành chính Guhyasamaja, Yamantaka và Heruka, và ban một vài giáo lý ở nơi nào có thể.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào lúc xảy ra cuộc Cách mạng Văn hóa năm 1965, mọi sự thậm chí còn trở nên căng thẳng hơn trước. Chính vào tháng 8 hay tháng 9 năm 1966 họ bắt đầu phá hủy điện Jokhang, tất cả những linh vật trong các ngôi chùa, và cũng như tất cả những linh vật mọi người cất giữ tại nhà riêng; đó là một cuộc hủy diệt tập thể. Ngoại trừ nơi có pho tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và một gian phòng của các Pháp Vương, họ đã tiêu hủy toàn thể ngôi điện.</p>
<p style="text-align: justify;">Điện Potala không bị phá hủy nhiều như những nơi khác. Tại Sera, Drepung và Ganden, một số các ngôi chùa chính có phần được bỏ mặc trong một điều kiện tốt đẹp, nhưng những đền chùa khác đã bị phá hủy. Năm 1969 là năm họ biến Ganden thành bình địa.</p>
<p style="text-align: justify;">Cùng với cuộc Cách mạng Văn hóa tôi ngừng hoàn toàn mọi thực hành bên ngoài. Tôi sống với những người thân ở Lhasa. Tôi tuyệt đối không bước ra ngoài. Trong thời gian này tôi ngủ. Tôi sống trong một căn phòng trong nhà của vợ người em họ tôi, cô ta mang hai dòng máu Tây Tạng và Nepal. Người Trung Quốc tới cả đêm lẫn ngày bất kỳ lúc nào – đôi khi rất sớm, đôi khi trễ – để kiểm tra xem tôi đang làm gì, tôi có ngủ không, tôi có thực sự bị bệnh hay không. Khi họ đi khỏi tôi ngồi dậy và thực hành.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào thời điểm đó bạn hoàn toàn không có những vật linh thánh, không có các pho tượng hay Kinh điển. Nếu họ nhìn thấy bất kỳ Kinh văn nào thì bạn sẽ bị rắc rối lớn. Cho dù bạn mấp máy môi không phát ra âm thanh thì bạn cũng bị phiền phức, bởi họ nghĩ rằng bạn đang cầu nguyện. Tôi có một vài hạt chuỗi hạt nhưng phải cất giấu đi. Tôi có một sợi chuỗi nhỏ và khi người ta tới kiểm tra tôi đã giấu nó trong một cái túi bí mật trong quần áo ngay trên đầu gối.</p>
<p style="text-align: justify;">Bởi tôi sống ẩn dấu không bao giờ ra ngoài như thế nên người ta nói rằng tôi đang nhập thất. Nhưng nó không đích thực là một cuộc nhập thất với những vật cúng dường, những điều thuộc về nghi lễ, và v.v... Trong thời gian này tôi nghĩ tưởng về những giai đoạn khác nhau của con đường dẫn tới Giác ngộ, cũng như Guhyasamaya, Heruka, Yamantaka, tất cả những yoga của giai đoạn phát triển. Và khi có thời giờ thì tôi hoàn thành túc số thần chú của mỗi vị Bổn Tôn.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong bất kỳ trường hợp nào, bạn không cần tới ngoại vật để thực hành Pháp. Nó hoàn toàn ở trong tim bạn, trong tâm bạn. Đối với những sự chứng ngộ: bạn không kinh nghiệm những sự chứng ngộ của ba phương diện chính yếu của con đường,(3) nhưng bạn có một sự từ bỏ nhỏ bé, và bởi điều đó bạn có thể sống như thế.</p>
<p style="text-align: justify;">Những thuận lợi của việc sống biệt lập: Một lý do tốt đẹp khi sống ở Lhasa là nếu bạn ra ngoài, bạn phải làm những gì người Trung Quốc bảo, và như thế bạn sẽ tích tập rất nhiều nghiệp xấu. Tôi không làm bất kỳ điều gì mâu thuẫn với Pháp; tôi muốn thực hành Pháp, bởi lý do đó tôi không ra khỏi nhà. Người Trung Quốc đã dùng nhiều thủ đoạn để buộc tôi phải làm việc cho họ. Trước hết họ cố hăm dọa tôi, và khi điều đó không có hiệu quả thì họ mời tôi và nhiều geshe và Lama cao cấp chịu sự quản lý của họ; họ nói họ sẽ cấp cho một căn nhà, xe hơi, thực phẩm, tiền bạc. Nhưng tôi không muốn làm điều đó bởi khi ấy tôi sẽ phải làm mọi điều họ bảo, là những điều hoàn toàn mâu thuẫn với Pháp. Điều chính yếu tôi muốn làm là thực hành Pháp một cách chân thành, cho dù những điều gì đang xảy ra ở bên ngoài. Đây là động lực của tôi, hoàn toàn đối nghịch với tám mối bận tâm thế tục.</p>
<p style="text-align: justify;">Đời sau thì quan trọng hơn đời này – cuộc đời này hoàn toàn như một giấc mộng. Vì thế nếu bạn đi và làm như người Trung Quốc bảo, bạn sẽ có được một căn nhà và xe hơi tốt, bạn có thể hưởng thụ rất nhiều thứ, nhưng điều này sẽ khiến bạn rơi xuống những cõi thấp, ở đó bạn sẽ kinh nghiệm những đau khổ trong nhiều kiếp. Những đời sau thì quan trọng hơn cuộc đời này nhiều. Để làm việc cho những đời sau, tôi đã sống ẩn dật để thực hành.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi chết chúng ta không hoàn toàn biến mất. Chúng ta phải tái sinh, và trừ những gì nghiệp của ta định đoạt, ta không có bất kỳ chọn lựa nào trong việc tái sinh nơi những cõi thấp hay cõi cao. Nếu bạn đã từng làm những điều tốt lành trong đời này thì bạn có thể tái sinh trong cõi người, và bạn có thể vui hưởng kết quả của những hành động này. Nếu bạn làm những hành động xấu, nghiệp không biến mất, trong tương lai bạn cũng phải trải nghiệm ngay cả nghiệp nhỏ bé nhất bạn từng tích tập.</p>
<p style="text-align: justify;">Tương lai thì rất dài, kéo dài hằng nhiều kiếp. Cuộc đời này rất ngắn, nó chỉ là một điều tưởng tượng, chỉ là một giấc mộng. Tâm bạn tiếp nối vô tận, và trong đời sau khi bạn chết, một lần nữa nó không biến mất, và bạn lại tiếp tục trong đời sau, và đời kế tiếp – bạn phải trải qua nhiều cuộc đời. Vì thế tất cả những điều này là do những hành vi hiện tại định đoạt. Bạn không có sự chọn lựa. Vì thế hành động hiện tại thì rất quan trọng. Cuộc đời này rất ngắn, có lẽ chỉ một trăm năm – rất nhỏ nhoi nếu so với những đời sau. Đây là lý do tại sao những đời sau thì quan trọng hơn đời này.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu nhìn từ quan điểm của tôn giáo, của Pháp, thì việc sống theo cách này là một thành tựu vĩ đại. Và theo quan điểm của đời này thì đó cũng là lợi lạc to lớn. Trong đời này, nếu tôi không từng làm những điều tôi đã làm thì tôi đã phải đi theo người Trung Quốc và kiếm được một căn nhà, xe hơi và địa vị cao, nhưng khi ấy tôi sẽ phải hành hạ người khác và gây rất nhiều đau khổ cho chúng sinh bình thường. Và nếu tôi hành xử như một người bình thường, không có địa vị cao, v.v... tôi sẽ phải trải qua rất nhiều đau khổ, giống như tất cả những người Tây Tạng đã phải chịu đựng. Nhưng trong đời này tôi không phải trải nghiệm bất kỳ điều gì trong những việc này. Đây là những điều thuận lợi của lối sống mà tôi đã trải qua.</p>
<p style="text-align: justify;">Thuận lợi khác là tôi được nổi danh trong việc nhập thất hai mươi năm: đây cũng là một lợi lạc liên quan tới đời này! Nó sẽ khiến cho những người khác suy nghĩ: “Thật lạ lùng. Có lẽ Pháp thực sự ích lợi, có lẽ nó chân chính”. Nó có thể làm những người khác được lợi lạc theo cách này.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi đã trải nghiệm rất ít vấn đề trong những năm đó. Tôi chỉ có chút rắc rối về bao tử; và khi tôi bắt đầu bước đi thì không đau đớn gì, nhưng lúc nào tôi cũng cảm thấy chân tôi đang qụy xuống! Những người khác nhận ra rằng tôi không thể đi lại bình thường. Cũng thế, bởi trong phòng tối tăm nên tôi không thoải mái khi bước ra ngoài ánh sáng – nó chói quá. Đôi khi có một ngọn nến nhỏ, nhưng tôi không thực sự dùng nó. Ngay cả bây giờ ở Sera tôi cũng thích ngồi trong bóng tối hơn.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau năm 1979 người ta được tự do chút ít: Sau khi Mao trạch Đông mất năm 1979 thì mọi người được tự do hơn chút ít. Nhiều Lạt ma và Geshe tới nhà Rinpoche để nhận các giáo lý. Ngài đã ban một ít giáo lý, nhưng không công khai – chỉ trong gian phòng nhỏ của ngài cho một, hai hay ba người. Người ta biết tới ngài. Năm 1979, ngài đã cạo râu và cắt mái tóc dài.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó ngài nhận những bức thư của Hóa Thân của Shantideva ở Tu viện Sera tại Ấn Độ và từ tu viện này thỉnh mời ngài tới ban giáo lý, để trao truyền những điều ngài đã học. Ngài cố gắng tìm kiếm một hộ chiếu nhưng lúc đầu điều đó không thực hiện được.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ năm 1965 tới đầu năm 1980, khi tôi sống hoàn toàn ẩn dật, người em họ tôi không cho phép bất kỳ ai vào thăm tôi. Ribur Rinpoche tới thăm tôi và em họ tôi cãi nhau với ngài, không cho Ribur Rinpoche thăm viếng. Lý do chính khiến Ribur Rinpoche tới thăm tôi là bởi chính phủ đang thành lập một ủy ban gồm các tulku nhằm nghiên cứu di sản của Tây Tạng, chẳng hạn như những pho tượng và Kinh điển. Mặc dù chính phủ thành lập nó, nhưng các Lạt ma cao cấp đang thực hiện công trình vì các ngài là những người uyên bác nhất. Trong khoảng thời gian này những người trước đây bị người Trung Hoa cách chức đã được phục hồi bởi họ có năng lực và kiến thức. Họ được gọi là ủy ban Norbulingka.</p>
<p style="text-align: justify;">Người Trung Quốc muốn tôi gia nhập rất nhiều ủy ban mà họ đang thành lập, nhưng vì tôi không tham gia gì hết nên họ không thích tôi lắm. Từ năm 1981 trở đi, họ cấp visa để mọi người có thể đi Ấn Độ và Nepal, nhưng mặc dù đã xin tôi chẳng bao giờ được chấp thuận.</p>
<p style="text-align: justify;">Rinpoche đã cố gắng suốt trong ba năm để có hộ chiếu đi Ấn Độ, và cuối cùng một người bạn thân của ngài là Pagpala Gelek Mamgyal, một Lạt ma cao cấp nhất của tỉnh Kham và đứng hàng thứ ba ở Tây Tạng, đang giữ một địa vị cao trong vùng tự trị Tây Tạng (hiện vị này giữ chức vụ Ban Thiền Lạt ma), và ông đã giúp Rinpoche có hộ chiếu. Cuối cùng vào năm 1985 Rinpoche kiếm được hộ chiếu và có thể đi Ấn Độ một cách hợp pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">Ấn Độ: Khi tới Dharamsala, tôi tới đúng lúc Đức Đạt Lai Lạt Ma ban lễ nhập môn Guhyasamaja, Heruka và Yamantaka. Tôi rất sung sướng được nhìn thấy Ngài, và Ngài cũng rất vui mừng. Ngài nói: “Việc ngài đến vào một dịp tốt lành như thế để nhận những lễ nhập môn này có nghĩa là chúng ta có samaya rất thanh tịnh”.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi đã nhận nhập môn Kalachakra từ Đức Đạt Lai Lạt Ma vào năm 1985. Tôi hỏi Ngài tôi nên làm gì: trở lại Tây Tạng hay ở lại. Ngài bảo tôi ở lại và giảng dạy những gì tôi đã học và truyền bá Giáo Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">Về sau này Ngài bảo tôi rằng tại Nepal không có nhiều Lạt ma Gelug cao cấp, vì thế nếu tôi tới đó thì thật là tốt đẹp. Tôi đã ở đó trong tám hay chín tháng nhưng mắc bệnh và phải trải qua một ca mổ, vì thế tôi không làm lợi lạc nhiều. Tôi xin Ngài thứ lỗi đã không ở Nepal được vì các tu sĩ của tu viện Sera Je ở miền nam Ấn Độ thỉnh cầu tôi tới giảng dạy.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Đạt Lai Lạt Ma bảo tôi đừng bao giờ làm đứt đoạn những điều tôi hứa nguyện trong hiện tại và giảng dạy mọi điều tôi đã học, vì thế từ lúc đó tôi sống trong Tu viện Sera và tới Dharamsala bất kỳ khi nào Đức Đạt Lai Lạt Ma giảng dạy.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong mười lăm năm, Rinpoche chủ yếu giảng dạy chương trình đào tạo học vị geshe tại Tu viện Sera Je ở miền Nam Ấn Độ. Ngài thường ở tại Sera, và ngài ban những giáo lý về năm chủ đề nghiên cứu chính.Ngài có ba lớp vào buổi sáng và bốn lớp vào buổi chiều; ngài có nhiều học trò, từ những cậu bé cho tới các geshe. Vào ngày thứ Ba, ngày nghỉ tại Sera, Rinpoche dạy văn phạm, thi ca và tantra cho một vài geshe. Đôi khi Rinpoche sẽ ban những lễ nhập môn hay giáo lý lamrim tại Sera, và có rất nhiều tu sĩ tới dự nên phải sử dụng phòng hát tụng chính.</p>
<p style="text-align: justify;">Sức khỏe của ngài rất tốt. Năm 1996 chúng tôi trở về Tây Tạng, và thực hiện một chuyến hành hương suốt Trung Quốc và hầu như xuyên qua Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Rinpoche tới Tây phương lần đầu tiên vào năm 1998. Thượng Tọa Massimo Stordi mời ngài tới Ý, và một Rinpoche ở Ý, cũng như Geshe Soepa tại Đức. Trước đó Rinpoche không đi bất kỳ nơi đâu bởi Sera cần ngài, bây giờ Sera có nhiều geshe, vì thế Rinpoche có thể du hành.</p>
<p style="text-align: justify;">Lạt ma Zopa Rinpoche đã khẩn cầu một lung của toàn bộ một bản văn của Je Tsong Khapa và của ba mươi sáu vị đệ tử chính của Ngài, nhưng không có may mắn để thực hiện điều này. Lạt ma Zopa Rinpoche thỉnh cầu Choden Rinpoche tới ban một lễ nhập môn Vajrapani (Kim Cương Thủ) Bí mật tại Học viện Vajrapani ở California và giảng dạy trong khóa nhập thất.</p>
<p style="text-align: justify;">Rinpoche đã nghiên cứu Vinaya (Luật) thật sâu rộng. Tại Sera ngài được gọi là Vị Trì giữ Vinaya bởi ngài thấu suốt từng nấc thang của Vinaya. Ngài giữ giới hạnh trong sạch và đã làm lễ xuất gia cho hơn 600 người Tây Tạng – và hiện nay ngài đã cho thọ giới xuất gia tại phương Tây. Ngài rất nổi tiếng trong tu viện, và vì thế nhiều học viên tới nhận giáo lý của ngài, đặc biệt là về Vinaya, bởi giới đức của ngài rất thanh tịnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Ông cố, ông và thân phụ của Rinpoche đều là những đại hành giả. Ông cố và ông của ngài là những Kagyupa và thân phụ ngài theo dòng Gelug, nhưng họ đều là những vị trì giữ lamrim. Họ trải qua hầu hết cuộc đời trong ẩn thất, mặc dù không giống như Rinpoche, họ cũng không hề bước chân ra ngoài. Họ đều là những vị trì giữ dòng truyền thừa. Rinpoche được bao quanh bởi những hành giả này.</p>
<p style="text-align: justify;">Thân mẫu của ngài sinh tám trai và năm gái, và năm người trong số các con trai của bà đã trở thành những tu sĩ. Một người trong số đó, người anh em thứ ba, đã đạt được những chứng ngộ cao cấp. Vị này tên là Geshe Thubten Yampil, ngài thông suốt mọi giáo lý Phật Giáo, đạt được những chứng ngộ và đã sáng tác năm mươi quyển sách và ban lễ nhập môn Kalachakra ở Tây Tạng. Người thứ hai cũng là một thiền giả nổi tiếng. Phụ mẫu của Rinpoche đã qua đời và trừ một người ra, tất cả các chị em gái của Rinpoche cũng đã mất.</p>
<p style="text-align: justify;">Hiện nay có Hóa Thân của người anh em thứ hai này ở Kham, Tây Tạng, ngay trong nhà của gia đình ngài. Cũng có Hóa Thân của người anh em thứ ba ở Tây Tạng, cũng như Hóa Thân của người anh cả. Hóa Thân của người anh thứ hai có thể tụng Kinh điển Phật Giáo mà thậm chí không nhìn vào sách, chúng đến thẳng từ trái tim ngài. Khi Choden Rinpoche thuật lại cho Đức Đạt Lai Lạt Ma điều này, Ngài hỏi ông ta có phải là một tulku không, nhưng Choden Rinpoche nói là không, đó là anh thứ hai của ngài trước đây.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Choden Rinpoche &amp; Ven.Tseten Gelek</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Liên Hoa</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguyên tác: The Life of a Hidden Meditator</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn Anh ngữ: <a href="http://www.kurukulla.org/program/choden_articles/hidden.html">The Life of a hidden meditator</a></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn Việt ngữ: <a href="https://thuvienhoasen.org/p39a5515/2/cuoc-doi-cua-choden-rinpoche-mot-thien-gia-an-dat"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cuộc Đời</span> Của Choden Rinpoche, Một Thiền Giả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ẩn Dật</span></a></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>(1) Chuba: Ngoại y truyền thống của người Tây Tạng, cả nam lẫn nữ. Kiểu của người nam có các tay áo dài.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>(2) Chulen: sự trích xuất các chất tinh túy, phương pháp khiến ta không phải dùng thực phẩm thông thường, chỉ dùng những chất thể hay yếu tố nào đó với số lượng ít ỏi.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>(3) Ba phương diện chính yếu của con đường: những giáo lý cốt tủy của lamrim: sự từ bỏ, Bồ Đề tâm, và tính Không.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/cuoc-doi-cua-choden-rinpoche-mot-thien-gia-an-dat/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lama Zopa Rinpoche – Geshe Potowa trong Thế kỷ 21</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/lama-zopa-rinpoche-geshe-potowa-trong-the-ky-21/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/lama-zopa-rinpoche-geshe-potowa-trong-the-ky-21/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 18 Aug 2022 03:38:47 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Gelug]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Gelug]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11513</guid>
		<description><![CDATA[Đại Đức Thubten Jinpa, một Lạt ma Gyupa (2) ở tu viện Kopan, người thường được phụng sự Lama Zopa Rinpoche như một thị giả thứ hai và đã sống với Rinpoche trong thời gian gần đây tại Dharamsala, Ấn Độ. Trong bài này, Đại Đức tường thuật về một ngày trong đời của Rinpoche. Ngày 14 tháng Ba, 2009,&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/lama-zopa-rinpoche-geshe-potowa-trong-the-ky-21/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Đại Đức Thubten Jinpa, một Lạt ma Gyupa (2) ở tu viện Kopan, người thường được phụng sự Lama Zopa Rinpoche như một thị giả thứ hai và đã sống với Rinpoche trong thời gian gần đây tại Dharamsala, Ấn Độ. Trong bài này, Đại Đức tường thuật về một ngày trong đời của Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày 14 tháng Ba, 2009, ông viết: “Tôi tin chắc là bài này cần sửa chữa chút ít nhưng tôi muốn nói rằng tường thuật này nên được giữ nguyên. Cảm xúc mà tôi trải nghiệm là xác thực, không phải là cái gì chỉ được sắp đặt bằng ngôn từ. Tất cả những gì tôi muốn là chia sẻ làm thế nào mỗi một công hạnh của Rinpoche là bản sao đích thực công hạnh của những Bồ Tát vĩ đại, là điều mà chúng ta chỉ được nghe nói và đọc trên những bản văn, nhưng hiếm khi đích thân nhìn thấy. Tôi thực sự hy vọng rằng tường thuật này sẽ là một nguồn cảm hứng tốt đẹp cho mọi người.</p>
<p style="text-align: justify;">“Sau một chuyến đi dài và bận rộn ở Đông Nam Á và Nam Ấn Độ, do kế hoạch làm việc thay đổi bất ngờ nên chúng tôi đã tới một thung lũng nhỏ ở Himachal, một bang ở miền bắc Ấn Độ. Kyabje Lama Zopa Rinpoche, tôi, Đại Đức Sangpo và Đại Đức Kunsang đang ở trong một ngôi nhà, chủ nhân của nó là Jimi - một người đang ở tuổi lục tuần và là đệ tử rất lâu năm của Lạt ma Yeshe và Lạt ma Zopa Rinpoche. Toàn bộ ngôi nhà của ông ta làm bằng những vật liệu có thể tìm được ở quanh đó, chẳng hạn như bùn đất ở bên dưới căn nhà và tre ở khu rừng bên cạnh. Ngôi nhà nằm ngay chân núi bên dưới khu an dưỡng nhỏ ở Dharamsala. Nó rất yên tĩnh và an bình. Từ khi tới đây, chúng tôi không có khách viếng thăm và không có những cuộc hẹn".</p>
<p style="text-align: justify;">Rinpoche đặt thêm những ngọn đèn Giáng sinh ở trong và ngoài nhà, khiến căn nhà nhỏ trở thành một ngôi chùa tràn đầy ánh sáng. Chúng tôi tới đây để tham dự những buổi giảng của Denma Locho Rinpoche. Phải mất hai mươi phút đi bộ để tới nơi thuyết giảng nằm trong Tu viện Gyuto. Tôi cảm thấy sung sướng được ở trong môi trường này bởi nó khiến tôi nhớ tới trụ xứ Rolwaling của tôi. Trong khóa giảng này, chúng tôi đã dự kiến để Rinpoche đi bộ tới lui nhờ đó Rinpoche có cơ hội tập luyện đôi chút để làm giảm độ đường trong máu. Tôi rất phấn khích vì mỗi ngày được đi bộ cùng Rinpoche qua những cánh đồng lúa và lúa mạch.</p>
<p style="text-align: justify;">“Đó là một buổi sáng kỳ diệu. Mặt trời vừa mọc và những tia sáng đầu tiên đã lọt ngay vào cửa sổ phòng tôi. Thật không may, tôi không nghe tiếng đồng hồ báo thức. Có vẻ như tôi chỉ mới vừa ngủ nhưng đã 5 rưỡi sáng rồi. Tôi đi tới phòng của Rinpoche với hy vọng thấy ngài đang nghỉ ngơi bởi chúng tôi chỉ mới từ Tushita trở về lúc 3 rưỡi sáng sau một bài giảng dài và kế đó là lễ guru puja (3). Nhưng trước sự ngạc nhiên của tôi, vị Đạo sư linh thánh đang tọa thiền! Bây giờ tôi bắt đầu hoảng sợ và vội chạy về nhà bếp để pha một tách trà".</p>
<p style="text-align: justify;">“Lúc 9 giờ sáng, tách trà được mời vào lúc 6 giờ sáng được hâm lại lần thứ ba, bát cháo đặc gần giường của Rinpoche lạnh như băng và hai lát bánh mì nướng cứng như đá, tuy nhiên vị Thầy linh thánh có vẻ không chú ý tới bữa điểm tâm đang ở đó chờ ngài".</p>
<p style="text-align: justify;">“Lúc 10 giờ sáng tôi nghe tiếng cửa phòng tắm sập mạnh. Tôi đi vào phòng của Rinpoche và thấy bây giờ chỉ còn nửa bát cháo và một lát bánh mì nướng".</p>
<p style="text-align: justify;">“Không ở trong phòng tắm quá 10 phút, Rinpoche thình lình bước ra thật nhanh, lao tới những viên xá lợi được đặt trên bàn ở giữa phòng để mọi người đi nhiễu. Phía sau đầu Rinpoche có dính bọt xà bông và khóe tai của ngài không được lau khô. Một vết kem cạo râu vẫn còn dính trên cổ họng ngài; thượng y của ngài hoàn toàn ẩm ướt. Rinpoche đã nhìn thấy một con kiến nhỏ và ngài giữ nó trong bàn tay linh thánh (chắc là ngài đã nhặt nó trên sàn phòng tắm)".</p>
<p style="text-align: justify;">“Nhiều lần Rinpoche chạy quanh xá lợi. Ngài luôn luôn nhấn mạnh rằng phương pháp tốt nhất để cứu giúp chúng sinh là giúp họ tịnh hóa những tiêu cực của họ bằng năng lực của các đối tượng linh thánh. Dường như trái tim của Rinpoche có lòng bi mẫn vô bờ bến đối với sinh loài nhỏ bé đó và cảm thấy rất âu lo cho sự an toàn của chúng".</p>
<p style="text-align: justify;">“Tôi sung sướng vì ít nhất Rinpoche đang làm một ít tập luyện".</p>
<p style="text-align: justify;">“Tôi cứ nhắc ngài về thời gian, luôn luôn canh trước ít nhất mười phút so với giờ chính xác để không bị bối rối sau này. Rinpoche biết giờ thực sự và ngài không biểu lộ bất kỳ dấu hiệu dao động nào. Ngài vẫn tụng những bài nguyện và tôi biết tiếp theo sẽ là hàng trăm lễ lạy toàn thân. Càng lúc càng tới gần 2 giờ trưa và tôi nhắc Rinpoche về giờ giấc bốn lần nữa. Tôi hy vọng rằng ngay khi từ phòng ngài đi xuống ngài sẽ ngồi dùng bữa trưa nhưng thay vào đó, khi Rinpoche xuống nhà, ngài chạy thẳng ra ngoài nơi nước và thực phẩm đã sẵn sàng để cúng cho ngạ quỷ".</p>
<p style="text-align: justify;">“Rinpoche dùng toàn bộ bữa trưa của mình để cho các ngạ quỷ ăn. Tôi không rõ có còn ai khác được mời tới hay không".</p>
<p style="text-align: justify;">“Thậm chí không đầy 15 phút nữa là chúng tôi phải đi, tôi vui vì chỉ còn đủ thời gian để Rinpoche dùng bữa trưa của ngài một cách đúng đắn. Một lần nữa tôi lại lầm. Thay vì dùng bữa, Rinpoche đã sử dụng thời giờ đó để thực hiện những lễ cúng dường rộng rãi".</p>
<p style="text-align: justify;">“Lúc ngài trở lại với thực phẩm đang đợi ngài trên đĩa thì thời giờ đã hết và chúng tôi phải đi, nhưng tôi giả bộ là chúng tôi còn đủ thời giờ để ít nhất Rinpoche có thể có một bữa ăn đúng đắn".</p>
<p style="text-align: justify;">“Là một thị giả, ưu tiên hàng đầu của tôi là cố gắng chăm sóc các bữa ăn và nhu cầu cá nhân của Rinpoche, đặc biệt là khi cuối cùng Rinpoche có vẻ quan tâm tới bản thân ngài".</p>
<p style="text-align: justify;">“Cho dù tôi bào chữa thế nào chăng nữa, Rinpoche biết rõ thời giờ thực sự còn lại vì thế ngài chỉ nhai một ít cơm trong đĩa và dường như nuốt trọng phần còn lại. Tôi tự nhủ: “Như thế thì làm sao tiêu hóa được!”</p>
<p style="text-align: justify;">“Thậm chí khi còn hơn nửa đĩa cơm ngài đã nói: ‘chúng ta đi’. Mặc dù nhiệm vụ của tôi là tìm cách để Rinpoche đi bộ và tập luyện một ít, nhưng thời gian đã hết, và ông Jimi khốn khổ phải chạy đi lấy chiếc Maruti nhỏ xíu của mình. Trong khi ngồi trên xe, hai lần Rinpoche yêu cầu Jimi tăng vận tốc. Thỉnh thoảng các bánh xe chạm vào mặt đường và những lúc khác thì xe chỉ chạy bằng hai bánh".</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng tôi phóng đi ngay trước khi buổi giảng thực sự bắt đầu. Khi nghe tiếng tụng niệm của lễ cúng dường mạn đà la vang lên từ cổng tu viện, Rinpoche càng vội vã hơn nữa.</p>
<p style="text-align: justify;">“Bài giảng bắt đầu bằng giọng nói mạnh mẽ của Denma Locho Rinpoche (4). Máy khuếch đại có công suất lớn của Gyuto được đưa về từ California và giúp cho giọng nói của ngài thật sôi nổi. Denma Locho Rinpoche đang giảng về ba giáo lý do Potowa – đại hành giả phái Kadampa – biên soạn".</p>
<p style="text-align: justify;">“Bài giảng rất mạnh mẽ và đi vào lòng người nhưng lại rất đơn giản. Giữa lúc khẩu truyền giáo lý, Rinpoche thuật lại tiểu sử của tác giả. Người ta nói rằng Geshe Potowa không phải là một học giả, và các bài giảng của ngài cũng không quá rộng lớn hay có tính chất triết lý sâu xa. Lời dạy của ngài thật đơn giản nhưng mang lại rất nhiều lợi lạc cho chúng sinh, bởi nó làm rung động trái tim của họ. Ngay cả khi Geshe Potowa thuật lại câu chuyện của những con chim hay thú vật, nó đã tác động rất mạnh lên tâm thức của mọi người".</p>
<p style="text-align: justify;">“Geshe Potowa cũng được gọi là long me thug la trung pi potowa, có nghĩa là Potowa, bậc có Trái Tim Thành tựu Chứng ngộ Không có Thời gian’, bởi Potowa không bao giờ có thời giờ để làm những hoạt động không phải là Pháp. Ngài liên tục thiền định hay giảng dạy cho những người khác, còn không thì ngài thường xuyên cầu nguyện. Ngài luôn luôn vội vã thực hành Pháp và nói: “Tôi phải thực hành Pháp ngay bây giờ, nếu không chẳng mấy chốc tôi sẽ chết”. Đối với ngài mọi sự ngài nhìn thấy hay mọi sự việc xảy ra trong đời ngài là một phương tiện để giảng dạy hay điều phục tâm thức".</p>
<p style="text-align: justify;">“Bài giảng này chủ yếu nói về Geshe Potowa vĩ đại của thế kỷ 16 (1), nhưng bây giờ tôi cho rằng Geshe Potowa vẫn còn hiện hữu trong thế gian này, trong thời đại suy hoại này của thế kỷ 21. Hơn nữa, tôi tin chắc rằng vị Đạo sư của chúng ta chính là Geshe Potowa chứ không thể là ai khác".</p>
<p style="text-align: justify;">“Denma Locho Rinpoche nói rằng vì Geshe Potowa không bám chấp chút nào vào bản ngã, ngài không bao giờ quan tâm tới thực phẩm, sức khỏe và quần áo, và dĩ nhiên là không màng tới chỗ trú ngụ, bởi việc thực hành Pháp của ngài được đặt trước mọi tiện nghi của đời này".</p>
<p style="text-align: justify;">“Khi Denma Locho Rinpoche tiếp tục câu chuyện về Potowa, ngài tụng hai dòng trích dẫn của Gungthan Jampelyang, vị Lạt ma vĩ đại xứ Amdo, bình luận về hành động của Potowa: ‘ngài có rất nhiều lời khuyên tâm huyết để ban tặng, ngài đã được điều phục nhờ thấy mọi hiện tượng mà ngài thâu đạt được như những điển hình có liên quan tới việc thực hành Pháp của ngài’."</p>
<p style="text-align: justify;">“Ngay khi nghe điều này tôi hiểu được vì sao Lạt ma Zopa Rinpoche thường nói đến những con thú ngài nhìn thấy trên Tivi, chẳng hạn như trên Kênh Animal Planet (Hành tinh Động vật) hay National Geography (Địa lý Quốc gia) trong những bài giảng của ngài. Tôi tự hỏi vì sao Rinpoche phải bỏ ra hàng giờ để nói về việc các sinh vật nhỏ bé làm những gì và làm việc như thế nào, nhưng bây giờ thì tôi hiểu rằng đối với Rinpoche tất cả những điều này không đơn thuần là các chương trình truyền hình mà đúng hơn là những lời dạy trực tiếp để phát triển Bồ đề tâm và là một sự thấu suốt về nghiệp".</p>
<p style="text-align: justify;">“Khi chúng tôi về tới nhà thì hầu như đã tối. Một tách trà và một ít thức ăn nhẹ đang chờ Rinpoche, nhưng chúng không được để ý tới. Rinpoche ngồi xuống, mở các bản văn ở gần ngài và bắt đầu ghi nhanh các chú thích".</p>
<p style="text-align: justify;">“Lúc 8 giờ tối một chiếc xe jeep từ Tushita xuống đón Rinpoche đi giảng dạy. Thình lình giọng nói linh thánh của ngài vang lên: ‘Jinpa, đi thôi’. Tôi nhặt một ít bản văn mà Rinpoche đã để sang một bên để mang theo và chộp lấy một chogo và theo Rinpoche chạy tới chiếc xe. Rinpoche giảng ở Tushita đêm nay và chúng tôi có một giờ để lái xe và một đêm dài để đi. Tôi hy vọng Rinpoche sẽ có thể dùng bữa tối của ngài lúc 3 giờ sáng”.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Thubten Jinpa</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Thanh Liên</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguyên tác: Geshe Potowa in the 21st Century</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <a href="https://thuvienhoasen.org/p39a6303/3/lat-ma-zopa-rinpoche-geshe-potoma-trong-the-ky-21">Lama Zopa Rinpoche – Geshe Potowa trong Thế kỷ 21</a></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>1. Geshe Potowa (1031 - 1106), một trong ba đệ tử chính của Dromtönpa (vị sáng lập phái Kadampa). Potowa đã sử dụng toàn bộ thời gian của ngài vào việc thực hành thiền định, giảng Pháp hoặc các loại thực hành khác nhau. Các đệ tử chính của ngài là Sharawa Yönten Drak và Geshe Langri Thangpa, là những vị được gọi là ‘Mặt Trời và Mặt Trăng của xứ Ü’. Nguyên bản Anh ngữ của bài này ghi Geshe Potowa sống vào thế kỷ 16.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>2. Lama Gyupa là một nhà sư tu học trong Học viện Mật thừa.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>3. Guru Puja (hay Lama Chöpa) là một thực hành bao gồm việc cúng dường và khẩn cầu nguồn cảm hứng từ Đạo sư Tâm linh. Những giới nguyện và hứa nguyện tâm linh có thể đã bị hư hoại cũng được phục hồi nhờ thực hành cúng dường tsog (cúng dường tiệc). Trong thực hành này, ta hợp nhất tâm ta với tâm linh thánh của Đạo sư Tâm linh, là người được coi là cội gốc và sinh lực của con đường tâm linh để nhận được những gia trì và phát triển các chứng ngộ trên con đường đi tới Giác ngộ.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>4. Denma Locho Rinpoche sinh năm 1928 tại Kham, Tây Tạng. Năm lên sáu tuổi ngài được xác nhận là hóa thân của một Đạo sư học giả nổi danh ở tu viện địa phương Selkar. Năm mười một tuổi, Lodo Rinpoche vào Tu viện Drepung Loseling ở ngoại thành Lhasa, nhận học vị Geshe (tiến sĩ Phật Học) năm 25 tuổi, và sau đó vào Học viện Mật thừa Gyume. Ngài sang Ấn Độ năm 1959. Từ năm 1986 tới 1991 ngài là Tu viện trưởng Tu viện Namgyal của Đức Đạt Lai Lạt Ma, và đã viếng thăm Hoa Kỳ vài lần, trong đó có một năm giảng dạy tại Đại Học Virginia.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/lama-zopa-rinpoche-geshe-potowa-trong-the-ky-21/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Vai trò và lời dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/vai-tro-va-loi-day-cua-duc-dat-lai-lat-ma/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/vai-tro-va-loi-day-cua-duc-dat-lai-lat-ma/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 23 Mar 2022 14:33:43 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Gelug]]></category>
		<category><![CDATA[Lịch sử chung]]></category>
		<category><![CDATA[Tài liệu tham khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Gelug]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=10972</guid>
		<description><![CDATA[Cơ chế Dòng truyền thừa tái sinh của Đạt Lai Lạt Ma được bắt nguồn từ một cậu bé Bà la môn đã gặp Đức Phật Thích Ca Mâu Ni gần Cây Giác Ngộ tại Bồ Đề Đạo Tràng và cúng dường cho ngài một xâu chuỗi pha lê. Nhiều hóa thân được đề cập đến trong lịch sử của&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/vai-tro-va-loi-day-cua-duc-dat-lai-lat-ma/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong>Cơ chế</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Dòng truyền thừa tái sinh của Đạt Lai Lạt Ma được bắt nguồn từ một cậu bé Bà la môn đã gặp Đức Phật Thích Ca Mâu Ni gần Cây Giác Ngộ tại Bồ Đề Đạo Tràng và cúng dường cho ngài một xâu chuỗi pha lê. Nhiều hóa thân được đề cập đến trong lịch sử của dòng truyền thừa ở Ấn Độ, cho đến khi hóa thân đầu tiên của người Tây Tạng, bậc thầy Phật giáo xuất gia Dromtonpa (1004 - 1064), người là đệ tử quan trọng nhất của đạo sư Atisha người Bengal và là người sáng lập tu viện Rateng và dòng Kadam.</p>
<p style="text-align: justify;">Thuyết tiến hóa về nghiệp đã tồn tại từ thuở sơ khai của Phật giáo, và khái niệm luân hồi có ý thức, tự nguyện do phát nguyện (trái ngược với tái sinh không tự nguyện, do bản năng hay nghiệp lực) phát triển khá sớm. Bản thân Đức Phật được trình bày như là nguyên tắc phổ biến trong các câu chuyện tiền thân Jataka và Avadana của Ngài, minh họa cho viễn cảnh liên tục nhiều kiếp. Trong suốt lịch sử, những đứa trẻ trong nền văn hóa Phật giáo thường khiến cha mẹ, người thân và hàng xóm kinh ngạc khi thông báo rằng chúng thực chất chỉ là sự tái sinh của một người đã khuất mà mọi người đều biết. Điều thú vị là chỉ ở Tây Tạng, theo như chúng ta biết, các dòng luân hồi chính thức được thể chế hóa như một cách để bảo tồn truyền thống lãnh đạo và thẩm quyền trong các môi trường chủ yếu là tôn giáo, nhưng cuối cùng cũng trong lĩnh vực chính trị.</p>
<p style="text-align: justify;">Điều này rõ ràng có liên quan đến quy mô tu viện đã xảy ra ở Tây Tạng, chưa từng có ở bất kỳ quốc gia nào khác trên trái đất dưới sự bảo trợ của bất kỳ tôn giáo nào. Những người xuất gia sống độc thân một cách thuần thục, dòng dõi huyết thống cuối cùng trở nên quá yếu kém trong việc cân nhắc lựa chọn các nhà lãnh đạo, và được thay thế bằng một quan niệm thường được chấp nhận về sự tiến hóa tâm linh của cá nhân trong việc tiếp tục tái sinh. Bắt đầu là một yếu tố thể chế vào thế kỷ 13, đến thế kỷ 17 thế hệ tái sinh đã trở thành yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn các nhà lãnh đạo của người Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo như chúng tôi biết thì Đức Thánh Thiện Chiến Thắng Karmapa là người đầu tiên trong số những cuộc tái sinh chính thức như vậy. Hóa thân đầu tiên của ngài, Dusum Kyenpa (1110 - 1193) đã viết một bức thư trước khi viên tịch, trong đó ngài dự đoán về sự tái sinh của mình trong những hoàn cảnh cụ thể, một dự đoán được thực hiện mười năm sau khi ngài qua đời với sự ra đời của Karmapa Lama thứ hai, Karma Pakshi (1203 - 1283), người đã sớm yêu cầu được đưa trở lại tu viện của mình tại Tsurpu để tiếp tục sự giáo huấn của mình. Các tái sinh của Karmapa đã tiếp tục phát triển thể chế của họ và thực hiện các phụng vụ tuyệt vời cho dân tộc Tây Tạng và bây giờ là toàn thế giới. Victor Karmapa thứ mười bảy hiện tại, Orgyen Trinley Dorje (1982), gần đây đã đào thoát khỏi Tây Tạng và đang sống ở Dharamsala gần Đức Đạt Lai Lạt Ma, thể hiện mọi hứa hẹn trở thành một vị thầy lớn khác của giáo Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">Cơ chế tái sinh quan trọng thứ hai là của Đạt Lai Lạt Ma. Nó chính thức bắt đầu với sự ra đời của Gendun Gyatso vào năm 1475, người đã sớm tuyên bố mình là hóa thân của Gendun Drubpa nổi tiếng (1391 - 1474), và bày tỏ nguyện vọng trở lại với các đệ tử của mình tại tu viện Tashi Lhunpo, nơi ngài đã xây dựng trong thời gian hai mươi lăm năm cuối cùng của kiếp trước. Ngài đã được cha mẹ, giáo thọ sư và những thị giả của mình chấp nhận là tái sinh thật sự, và được đưa trở lại tu viện trong vinh quang. Tuy nhiên, các vị trụ trì quyền lực của trường đại học tu viện lớn đó rõ ràng không muốn chính thức hóa sự công nhận của mình bằng cách giao vị trí đứng đầu cho cậu bé. Vì vậy, tại một thời điểm nhất định trong quá trình tu học, Ngài đã lợi dụng sự gia hộ này để cải trang, trốn tránh nhiệm vụ của mình và dành một số năm nhập thất thỉnh thoảng với vị thầy vĩ đại của Mật điển Kalachakra, là Khedrup Norzang Gyatso.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong thời gian này, vị tái sinh trẻ tuổi, Gendun Gyatso, đã xây dựng tu viện quan trọng Chokorgyal trong khu vực linh thiêng gần núi Ode Gungyel, nơi Tsong Khapa (1357 - 1419), ông nội tâm linh của ngài, đã nhập thất sáu năm của riêng mình trong những năm 1390, và ngài đã có một mối quan hệ đặc biệt với nữ thần bảo hộ hung dữ Shri Devi, người có hồ tâm linh thiêng liêng nằm ẩn mình gần đó. Cuối cùng, tình trạng tái sinh của Gendun Gyatso đã được xác lập không còn nghi ngờ gì nữa với tư cách là vị thầy chính của dòng Gelukpa, ngự tòa chính của ngài nằm trong Cung điện Ganden tại tu viện Drepung cũng như ở Tashi Lhunpo.</p>
<p style="text-align: justify;">Hóa thân thứ ba là Sonam Gyatso (1543 - 1588), người được mời đến đông bắc Tây Tạng đến nơi đóng quân của Altan Khan, một nhà cai trị quan trọng của Mông Cổ. Vào dịp này, một bước quan trọng đã được thực hiện trong việc chuyển đổi người Mông Cổ sang Phật giáo, dựa trên những thay đổi mà họ đã trải qua khi Hốt Tất Liệt cai trị ở Trung Hoa ba trăm năm trước đó. Trong bầu không khí lễ hội của sự kiện biến đổi này, Đại Hãn Mông Cổ đã gọi Sonam Gyatso là Lạt ma 'Đại dương' ('Dalai'), ('gyatso' là 'đại dương' trong tiếng Tây Tạng) và ông được gọi là 'Người thứ ba' để thừa nhận kết nối có ý thức với Gendun Drubpa và Gendun Gyatso. Sonam Gyatso đã có công lớn trong việc giảng dạy và thành lập tu viện cho người Mông Cổ và người Amdo ở đông bắc Tây Tạng, nhưng vẫn không có trách nhiệm chính trị trực tiếp ở miền trung Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ tư là Yonten Gyatso (1589 - 1617), ngài không phải là người Tây Tạng nhưng được tái sinh giữa những người Mông Cổ, với tư cách là cháu của chính Altan Khan. Ngài đã củng cố một cách vô hạn mối quan hệ giữa người Mông Cổ và người Tây Tạng, khi còn khá trẻ ngài đã trở về miền trung Tây Tạng và trụ trì tại tu viện Drepung.</p>
<p style="text-align: justify;">Đó là Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ năm, Losang Gyatso (1617 - 1682), người đã chủ trì những thay đổi quan trọng của thế kỷ 17 nhằm tạo ra hình thức xã hội hiện đại của Tây Tạng. Vào giữa thế kỷ 16, đã xảy ra xung đột không ngừng giữa những người cai trị thế tục ở miền nam Tây Tạng và những người ở miền trung Tây Tạng, mà một số nhà sử học cho là do xung đột giáo phái giữa các Karmapa Lama và các tín đồ của họ và các Lạt ma Gelukpa và các tín đồ của họ. Nhưng chính xác hơn khi công nhận đây là kết quả của cuộc xung đột giữa các lãnh chúa thế tục cai trị Tây Tạng thời phong kiến và các tổ chức tu viện liên tục gia tăng và các nhà lãnh đạo tinh thần của tất cả các giáo phái Phật giáo.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong tất cả các xã hội Phật giáo (và Thiên chúa giáo) trong suốt lịch sử, chủ nghĩa tu viện và chủ nghĩa quân phiệt đã chống lại nhau như những đối thủ thể chế về đất đai, tài nguyên, sức mạnh nam nhân và sức mạnh phụ nữ. Bất cứ khi nào và bất cứ nơi nào chủ nghĩa tu viện thống trị, chủ nghĩa quân phiệt đã bị suy yếu. Bất cứ khi nào các lãnh chúa hoặc một hoàng đế duy nhất thống trị và gia tăng các hoạt động quân phiệt của họ, thì các cơ sở tu viện bị thanh trừng, tài nguyên của họ bị tịch thu và các tu sĩ của họ bị biến thành chiến binh. Thế kỷ 15 và 16 ở Tây Tạng chứng kiến sự gia tăng đáng kể của chủ nghĩa tu viện, đạt đến mức vào năm 1600 khi các nhà cai trị quý tộc thấy quyền lực và tài nguyên của họ bị suy giảm đến mức mà họ coi là điểm nguy hiểm. Đối thủ cơ bản của họ không phải là một giáo phái hay thủ lĩnh, mà là bản thân hệ thống xã hội ‘tu viện quần chúng’ hoàn toàn mới (một thuật ngữ tôi dùng cho sự phát triển xã hội độc đáo của Tây Tạng này).</p>
<p style="text-align: justify;">Nhà lãnh đạo thế tục quyền lực nhất thời bấy giờ là Vua của Tsang, và tất nhiên ông ta phải sử dụng một nhà lãnh đạo tôn giáo quan trọng vì tính hợp pháp trong mắt một người dân ngày càng quan tâm đến các mưu cầu tâm linh và ngày càng ít quan tâm đến các cuộc tranh giành quyền lực phong kiến. Ông đã chọn Karmapa Lama, Đức Thánh Thiện Choying Gyatso (1604 - 1674), lúc đó còn trẻ và vừa mới lớn. Vua của Tsang tự xưng là đệ tử của Lạt ma để thần thánh hóa ý định hung hăng duy trì quyền lực thế tục của mình, và sau đó bắt đầu tìm cách phá bỏ sự kiềm chế của chủ nghĩa tu viện đông đảo đối với người Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Thế chế Đạt Lai Lạt Ma, cho đến thời điểm đó đã từ chối tham gia chính trường, cống hiến cho việc mở rộng liên tục các trường đại học tu viện và lối sống phi quân sự của họ, đã vươn tới sự bảo vệ của nó trước những người bảo trợ Mông Cổ, những người đã đến Tây Tạng và đánh bại liên minh lãnh chúa. Sau đó, vào năm 1642, Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ năm đã thực hiện một bước chưa từng có: Ngài đảm nhận trách nhiệm chính trị đối với cả đất nước, phi quân sự hóa và quan trường hóa các lãnh chúa thế tục, xóa bỏ quyền sở hữu đất đai và mạng lưới quan hệ giữa mọi người ở mọi cấp độ, và chính thức hóa chủ nghĩa tu viện quần chúng là hệ thống xã hội chính thức của Tây Tạng, điều được gọi là hệ thống ‘Quốc Gia Giáo Pháp Điều Phối' (Dharma-state coordination - Chos-srid zung-'brel).</p>
<p style="text-align: justify;">Sự sắp xếp chưa từng có này không nên nhầm lẫn với 'sự thống nhất giữa nhà thờ - nhà nước' đã dẫn đến cuộc đàn áp tôn giáo dữ dội ở châu Âu và do đó đã được khắc phục ở Mỹ bằng hiến pháp "tách rời nhà thờ và nhà nước". 'Pháp' có nghĩa là 'giáo huấn', lời dạy của Đức Phật về sự giải thoát cá nhân và giác ngộ khoa học, không phải 'tôn giáo', 'nhà thờ', hay thậm chí 'niềm tin tôn giáo', và vì vậy sự phối hợp giữa giáo Pháp và Nhà nước có ý định là mục đích trọng tâm của đời sống quốc gia, là nền giáo dục tiến hóa của mọi công dân, giống như 'sự thống nhất giữa trường đại học - nhà nước' hơn là 'sự thống nhất giữa nhà thờ - nhà nước’.</p>
<p style="text-align: justify;">Hơn nữa, các Phật tử không thuộc độc thần giáo, vì vậy người cai trị không được cho là đại diện cho một vị thần độc đoán, toàn năng, khó hiểu, mà tự cho mình là một hiền nhân với hạnh nguyện vị tha của một vị bồ tát. Người lãnh đạo tu viện với tư cách là một tu sĩ Phật giáo giữ những thệ nguyện trang nghiêm về sự hiền lành, khiêm hạ, trinh khiết, trung thực. Do đó, ngài tận tâm với các nguyên tắc bất bạo động, chủ nghĩa tối giản về kinh tế, ủng hộ tự do và giáo dục của các cá nhân, và phục vụ quên mình. Do đó, ngài được người dân Tây Tạng vào thời điểm này ưa thích hơn là một vị vua hay lãnh chúa với quân đội của ông ta, đòi hỏi nhu cầu về lao động một cách cưỡng bức và tự làm lớn thêm tham vọng cho dòng dõi triều đại của mình. Xã hội Tây Tạng mới này là duy nhất trên hành tinh bấy giờ và hiện tại, và do đó các thuật ngữ như ‘phong kiến’, ‘thần quyền’, thậm chí ‘truyền thống’ hay ‘tiền hiện đại’, đều không chính xác trong việc mô tả nó.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ năm bắt tay vào việc xây dựng Potala, biểu tượng của chính phủ Cung điện Ganden mới, và là sự kết hợp đáng chú ý của cung điện hoàng gia, cơ sở tu viện, Mandala Mật tông và thiên đường. Ngài bảo trợ việc xây dựng thêm nhiều tu viện cho tất cả các dòng, không chỉ riêng dòng Gelukpa, quyền lãnh đạo mà ngài đã thoái vị chức trụ trì cao cấp của tu viện Ganden để đại diện cho tất cả mọi người thuộc tất cả các dòng tu. Ngài trao cho các gia đình lãnh chúa trước đây các cấp bậc quan chức và tiền lương để phục vụ cho chính phủ, sau khi tước bỏ hầu hết các quyền phong kiến của họ đối với đất đai và nông dân của họ - quan trọng nhất là quyền duy trì một đội quân tư nhân. Ngài không chỉ trao đất đai và thực phẩm cho tất cả các đơn vị Phật giáo, mà còn bảo vệ những người theo đạo Bon, trao đất cho cư dân Hồi giáo ở Lhasa để xây dựng các đền thờ Hồi giáo và cho phép họ tự do thờ cúng, đồng thời cho phép và hỗ trợ các hoạt động truyền giáo của đạo Thiên chúa. Tiếp cận từ Tây Tạng, ngài đã thực hiện một thỏa thuận để giữ hòa bình ở Nội Á châu với các nhà cai trị Mãn Châu mới đắc thắng của Trung Hoa (1644 - 1911) và không khuyến khích người Mông Cổ xây dựng lại đế chế của họ, nhưng truyền cảm hứng hiệu quả cho họ theo đuổi lối sống Phật giáo phi quân sự hóa mà Tây Tạng đã tiếp nhận và thực hiện.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Đệ Ngũ Vĩ Đại qua đời vào năm 1682, nhưng Nhiếp Chính Vương đã che giấu cái chết của ngài trong hơn một thập niên, do sự trì hoãn lâu dài trong việc chính thức công nhận hóa thân được phát hiện bí mật, người được giữ bí mật với gia đình của mình trong một bầu không khí giống như nhà tù. Có lẽ, do sự dưỡng dục áp bức của mình, cho nên Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ sáu đã quay lưng lại với niềm đam mê tu viện của mình và từ chối các trách nhiệm nhà nước của mình. Điều này đã khiến những người Mông Cổ và Tây Tạng của ngài bất mãn, dẫn đến việc ngài bị phế truất và bị trục xuất, một cuộc xung đột dân sự nguy hiểm, và cuối cùng là sự can thiệp của người Mãn Châu vào công việc của Tây Tạng. Sau một thời gian, Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ bảy đã khôi phục lại tổ chức phần nào, tập trung vào việc giảng dạy tâm linh trao quyền cho Nội các của mình và đặt nền tảng cho một quốc hội.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ thời Đạt Lai Lạt Ma thứ tám đến đời thứ mười hai, Tây Tạng duy trì ổn định và hòa bình, mặc dù vẫn còn trong quản trị, với những đổi mới chính trong nhiều lĩnh vực đang được phát triển ở miền đông Tây Tạng và Mông Cổ, khác xa với sự bảo thủ tự mãn của chính quyền trung ương. Các nhà cai trị Mãn Châu của Trung Hoa cũng trở nên ít ủng hộ Tây Tạng hơn khi mối đe dọa của người Mông Cổ giảm bớt do tác động bình định của Phật giáo, và kỷ nguyên của chủ nghĩa đế quốc châu Âu đã đưa người Anh và người Nga, những người mà Phật giáo hoàn toàn là một bí ẩn, vào cuộc tác động xung quanh Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười ba (1876 - 1933) là Đức Đạt Lai Lạt Ma đầu tiên nắm toàn quyền trong văn phòng của mình kể từ Đời Thứ Bảy. Công việc trong đời của ngài là đối phó với những áp lực đối với Tây Tạng từ đế chế Mãn Châu đang suy tàn, Nga hoàng, Anh hoàng, Trung Hoa dân quốc và cuối cùng là những người cộng sản Nga và Trung Hoa. Ngài đã cố gắng phát triển kinh tế Tây Tạng để nó có thể chống lại chủ nghĩa quân phiệt công nghiệp. Ngài tuyên bố độc lập chính thức khỏi mối quan hệ được bảo hộ mà Tây Tạng từng có với đế chế Mãn Châu, cố gắng phát triển lực lượng phòng thủ quốc gia, và thậm chí còn có những cử chỉ hướng tới việc gia nhập Hội Quốc Liên và giới thiệu nền văn minh Tây Tạng với thế giới. Mặc dù ngài đã được hỗ trợ trong việc này bởi các nhà lãnh đạo của Anh quốc ở Ấn Độ, nhưng chính sách độc quyền thật sự của chính phủ Anh trong việc đối phó với người Mãn Châu và sau đó là những người theo chủ nghĩa dân tộc Trung Hoa đã khiến Luân Đôn làm thất vọng mọi nỗ lực của ngài để giành được sự công nhận chính thức cho Tây Tạng từ các quốc gia trên thế giới.</p>
<p style="text-align: justify;">Cũng từ bên trong, sự lãnh đạo tu viện bảo thủ của chính ngài đã làm nản lòng những nỗ lực của ngài trong việc tạo ra một hệ thống trường học thế tục hiện đại hóa, xây dựng một lực lượng quốc phòng khả thi và phát triển ngay cả một cơ sở hạ tầng công nghiệp khiêm tốn. Sau khi nghe các báo cáo chi tiết về số phận của các Phật tử Mông Cổ dưới bàn tay của những người cộng sản Nga vào đầu những năm 1930, ngài đã tuyên bố rằng ngài sẽ qua đời trước thời hạn một thập niên để vị tái sinh và trưởng thành đủ sớm để giúp đỡ Tây Tạng khi nó sẽ bị nhấn chìm dưới Làn Sóng Đỏ của Chủ nghĩa Cộng sản mà ngài dự đoán sẽ xuất hiện từ Trung Hoa. Ngài viên tịch năm 1933.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười bốn được nhiều người biết đến và đã đạt được danh hiệu ‘Đức Thứ Mười Bốn Vĩ Đại’ do sự phát triển nội tâm sâu sắc và những tác phẩm tuyệt vời về giảng dạy, viết lách, lãnh đạo chính trị và tham gia xã hội. Ngài đã kiên quyết tuyên bố ý định thoái vị khỏi các trách nhiệm chính trị của thể chế Đạt Lai Lạt Ma sau khi đối thoại được nối lại với một chính phủ Trung Quốc ít đế quốc hơn và thực dụng hơn để có thể giải quyết vấn đề của Tây Tạng một cách công bằng và hợp lý.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài đã kiên quyết bác bỏ đề xuất của tôi về một ‘chế độ tam quyền phân lập’, và vì vậy rõ ràng là ngài cho rằng nghĩa vụ của mình sẽ thay đổi khi việc chiếm đóng và lưu vong kết thúc và một nền dân chủ Tây Tạng khả thi đã bắt đầu hoạt động ở một Tây Tạng tự do. Tôi vẫn tự hỏi liệu có cách nào để tiếp tục thử nghiệm cao quý do Đức Đệ Ngũ Vĩ Đại bắt đầu, và tạo ra một ‘nền dân chủ tinh thần’ thay vì chỉ phù hợp với mô hình dân chủ thế tục của Mỹ và Ấn Độ, trong đó thần Mammon[1] có khuynh hướng tiếp quản. Nền 'dân chủ tinh thần' này rõ ràng sẽ không ưu đãi bất kỳ tôn giáo, trật tự hay giáo phái cụ thể nào lên thành 'nhà thờ nhà nước', nhưng nó sẽ giáo dục người dân áp dụng một trình độ đạo đức cao hơn, một mức độ giáo dục tinh thần cao hơn cả về tinh thần lẫn tâm linh và khoa học, và sẽ giúp cân bằng vật chất và tinh thần cho người dân ở Tây Tạng mới.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó, Tây Tạng có thể đảm nhận vai trò chính đáng của mình trên thế giới như một trung tâm nghiên cứu bất bạo động, cho các phương pháp luận thực hiện công bằng xã hội, phương pháp luận môi trường, nghệ thuật chữa bệnh khoa học nhưng tự nhiên, giáo dục và phát triển tâm linh. Thể chế Đạt Lai Lạt Ma, có lẽ, theo mong muốn của Đức Đệ Thập Tứ Vĩ Đại, có thể trở nên tương đối miễn trách nhiệm chính trị và phát triển mạnh mẽ như một nguồn giáo huấn tâm linh cho thế giới rộng lớn hơn. Các Đức Đạt Lai Lạt Ma trong tương lai sẽ tiếp bước ngài và kêu gọi các tín đồ của tất cả các tôn giáo, không chỉ Phật tử, và truyền cảm hứng cho họ để hạn chế các khuynh hướng nguy hiểm đối với sự không khoan dung tôn giáo và sự cuồng tín về tư tưởng, đồng thời thúc đẩy các yếu tố có lợi trong đức tin đáng kính của họ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Vĩ Đại Thứ Mười Bốn: Phát triển cá nhân</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Tôi sẽ kể lại một số khía cạnh của các cuộc gặp ban đầu của tôi với Đức Vĩ Đại Thứ Mười Bốn trong ba mươi tám năm qua. Điều này có thể hữu ích để phác họa sự phát triển cá nhân của ngài bởi vì tôi là một trong số ít những người không phải là người Tây Tạng đã liên tục biết đến Đức Ngài trong một thời gian dài như vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Thánh Thiện là một người khổng lồ về sự phát triển tâm linh - một gương mẫu sống động về những phẩm chất tốt nhất của một tu sĩ Phật giáo, một hành giả và người thầy được truyền cảm hứng về các con đường đạo đức, tôn giáo và triết học của Bồ tát, và một người sử dụng quyền trượng kim cang trang nhã và tràn đầy năng lượng lão luyện của Mật thừa. Tất nhiên, ngài cũng là một hóa thân có ý thức của Avalokiteshwara (Quán Thế Âm), vị bồ tát của lòng từ bi phổ quát. Như vậy, có vẻ như những thành tựu vĩ đại và những việc làm to lớn của ngài trong kiếp này đã xuất hiện một cách tự nhiên từ sự thực hành của ngài trong những kiếp trước, giống như ngài đã không làm gì đặc biệt để phát triển bản thân trong kiếp này.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu chúng ta nghĩ theo cách đó, chúng ta có thể cảm thấy ngài vượt quá khả năng của chúng ta đến nỗi mặc dù chúng ta có thể thích sự hiện diện của ngài, học hỏi từ sự dạy dỗ của ngài và cảm thấy hết lòng vì ngài, nhưng thật khó để bắt chước ngài. Điều này sẽ không làm hài lòng Đức Thánh Thiện chút nào. Khi dựa vào một kalyanamitra (dge bai bshes gnyen hay geshe hay tiến sĩ Phật giáo Tây Tạng), một người bạn tâm linh của Phật giáo, sự ủng hộ thông qua lòng sùng kính và phục vụ thông qua hành động là quan trọng, nhưng điều quan trọng hơn là hiện thực hóa những lời dạy của ngài bằng cách đưa chúng vào thực hành trong cuộc sống của chúng ta. Một điểm quan trọng thường được nói về Đức Phật Thích Ca là Ngài không phải là một thần tính nguyên thủy, một vị Phật ngay từ đầu. Ngài là con người giống như chúng ta, thậm chí là một con vật, trong nhiều kiếp trước. Ngài đấu tranh với những đam mê và khuyết điểm, sự hiểu lầm và sự kém cỏi, giống như chúng ta. Tuy nhiên, Ngài đã thực hành Pháp và cuối cùng đã vượt qua mọi điều bất cập, và kết cuộc trở thành vị Phật hoàn hảo, sáng chói, người đã chỉ cho chúng ta con đường dẫn đến tự do, tình yêu và hạnh phúc.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi tôi lần đầu tiên gặp Đức Thánh Thiện trong một buổi yết kiến riêng, Ngài là một thanh niên hai mươi chín tuổi. Chúng tôi gặp nhau trong phòng hội kiến tại khách sạn của ngài ở Sarnath, Ấn Độ, nơi ngài là khách mời danh dự tại Đại hội Liên kết Phật tử Thế giới năm 1964. Tôi nhớ cảm giác bị canh gác căng thẳng về ngài, cảm giác ngài đang ở từ rất xa và ở trên cao, và ngài không hoàn toàn thoải mái trong môi trường xung quanh. Tôi cũng nhớ sự thân thiện của ngài đối với tôi, đặc biệt là khi ngài nghe tôi nói bằng tiếng Tây Tạng rõ ràng, điều mà tôi đã có thể sử dụng được ở một mức độ nào đó. Tôi đã được giới thiệu với ngài như một học sinh sơ khai về Phật giáo (khoảng hai năm sau đó với người bạn tâm linh đầu tiên của tôi, geshe người Mông Cổ, Ngawang Wangyal), người muốn học dưới sự dạy dỗ của ngài và nếu có thể trở thành một nhà sư Phật giáo. Ngài nói rằng tôi nên đến và gặp lại ngài ở Dharamsala sau khi hội nghị kết thúc và ngài sẽ xem việc học của tôi sẽ tiến hành như thế nào. Sau đó ngài biến vào ánh nắng mùa thu để đi đến khán đài được thiết lập gần bảo tháp lớn nơi giảng dạy đầu tiên của Đức Phật để đọc diễn văn của mình tại hội nghị.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi không nhớ rõ bài phát biểu khi ngài đã đưa nó qua một phiên dịch viên và nó nghe có vẻ lý thuyết nhưng trang trọng. Đức Thánh Thiện đã có một nhiệm vụ khó khăn phía trước. Trong những năm đó, ngài bắt đầu giới thiệu Phật giáo Tây Tạng với công chúng Phật giáo quốc tế, những người xem (không may là nhiều người trong số họ vẫn làm) Phật giáo Tây Tạng là 'Lạt ma giáo', một sự băng hoại giáo đoàn của Phật giáo thật sự, nơi họ nghĩ rằng vấn đề thật sự là Thượng Tọa bộ (Theravada) hoặc Đại thừa. Chỉ có một số tương đối ít Phật tử Chân Ngôn Tông của Nhật Bản được thật sự lưu tâm là Mật tông Phật giáo, và thậm chí họ còn hơi sợ hãi trước Mật điển Du Già (Yoga) vô thượng, sở trường của Phật tử Tây Tạng. Nhưng không còn nghi ngờ gì nữa, ngay cả như vậy, thì đích thân ngài đã điều khiển rất quan tâm và sự kết hợp giữa ngài là một tu sĩ Phật giáo giản dị cũng như một người phát ngôn chân thành và tận tụy cho dân tộc đau khổ của Ngài đã có hiệu quả trong việc lay động trái tim mọi người một cách chậm rãi nhưng chắc chắn.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong suốt một năm tiếp theo, tôi hầu như không nhận ra (ở tuổi hai mươi ba, tôi hạnh phúc nhưng không nhận thức được nhiều thứ, mặc dù tôi đã hết sức cố gắng để giác ngộ!) may mắn lớn của tôi là được gặp Đức Thánh Thiện thường xuyên, gần như là hàng tuần, để thảo luận về việc học và sự tiến bộ của tôi, cũng như một số điều khác, khi nó đã xảy ra. Đức Thánh Thiện lúc đó sống ở McLeod Ganj, trong Svarg Ashram. Khi chúng tôi gặp nhau, các cuộc trò chuyện của chúng tôi theo một khuôn mẫu bất biến. Đầu tiên, Đức Thánh Thiện sẽ nghe tôi kể lại một cách ngắn gọn về những gì tôi đã học được từ những người thầy bình thường của tôi (ngài đã giao tôi cho vị giáo thọ cao cấp của ngài Kyabjey Ling Rinpoche và trụ trì tu viện Namgyal). Sau đó, tôi sẽ giải đáp một số câu hỏi với ngài, đặc biệt là về chủ đề yêu thích của tôi thời đó, triết lý Trung luận (Madhyamika), về tánh không và thuyết tương đối. Đức Thánh Thiện luôn có một vài điểm đặc biệt để đưa ra, phản biện lại các câu hỏi và quan sát, nhưng sau đó Ngài sẽ giới thiệu tôi với các vị thầy được chỉ định của tôi và bắt tay vào đặt câu hỏi cho tôi về nhiều điều mà ngài rất quan tâm. Ngài sẽ hỏi về Darwin và Freud, Einstein và Thomas Jefferson, cuộc sống ở châu Mỹ và châu Âu. Tôi sẽ trả lời tốt nhất như có thể, đặt ra những từ mới bằng tiếng Tây Tạng cho một số khái niệm - tiềm thức, Id[2] thuyết tương đối, chọn lọc tự nhiên - và liệt kê các thuật ngữ tiếng Anh trong các trường hợp khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Việc cố gắng giải thích những chủ đề phức tạp cho trí óc thông minh và háo hức của Đức Thánh Thiện là một thách thức khá lớn và nó khiến tôi phải suy nghĩ lại nhiều ý tưởng của riêng mình. Tôi e rằng tôi đã làm ngài thất vọng về các môn học liên quan đến khoa học khó, vì tôi đã từng là một sinh viên chuyên ngành tiếng Anh và là một nhà thơ sẽ trở thành một nhà thơ có khuynh hướng triết học và tâm lý mạnh mẽ. Nhưng chúng tôi đã có một khoảng thời gian vui vẻ, thường làm phiền các vị giáo thọ sư và thư ký của ngài bằng cách dành quá nhiều thời gian để nói chuyện, có lẽ làm mất thời gian cho các nhiệm vụ khác của Đức Thánh Thiện. Ngài dường như hơi căng thẳng đối với tôi, cô đơn và một chút buồn buồn, mặc dù về cơ bản là tràn đầy năng lượng và vui vẻ. Tôi rất quan tâm đến triết lý và việc quán chiếu Phật giáo, và tôi biết quá ít về Tây Tạng và những đau khổ của người dân của ngài dưới bàn tay của Trung Quốc, đến nỗi tôi không thể thực sự hiểu được hoàn cảnh của ngài. Và tôi biết rất ít rằng những cuộc gặp gỡ đó mang lại cho tôi một phước lành to lớn như thế nào.</p>
<p style="text-align: justify;">Cuối cùng tôi cũng được xuất gia, và một thời gian sau đó tôi trở về Mỹ để sống trong tu viện ở New Jersey. Khi những năm 1960 nóng lên với các cuộc biểu tình chiến tranh và phong trào dân quyền, tôi bị thu hút trở lại xã hội thông qua những người bạn đồng trang lứa, và đến đầu năm 1967, tôi đã từ bỏ việc đi tu và trở lại đời sống cư sĩ. Tôi sợ rằng Đức Thánh Thiện đã rất thất vọng về tôi trong một thời gian khá dài sau đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi trở lại trường đại học của mình và tiếp tục học cao học về Nghiên cứu Phật học, đạt đến giai đoạn luận án vào năm 1970. Một lần nữa tôi đến gặp Đức Thánh Thiện ở Dharamsala, Người sau đó đã chuyển đến sống ở những khu đầy đủ hơn gần tu viện trung tâm mới được xây dựng.</p>
<p style="text-align: justify;">Đề tài luận văn của tôi là bản dịch và Nghiên Cứu Bản Chất Của Tài Hùng Biện Đích Thực của Jey Lama Tsong Khapa (Drang Nges Legs Bshad Snying po), mà Geshe Wangyal đã bất ngờ hướng dẫn tôi thực hiện ngay khi tôi lên đường đến Ấn Độ. Đây hóa ra là tác phẩm triết học yêu thích của Đức Thánh Thiện, và trên thực tế, tôi đã phát hiện ra trong số những cuốn sách đóng gói vội vàng của mình có bản in hiện đại của chính văn bản mà ngài đã từng đưa cho tôi vào năm 1965. Khi tôi đến với sự hiện diện của ngài, chỉ mất vài phút, để phá vỡ sự lúng túng của một nhà sư đã hoàn tục trở về với tư cách là một cư sĩ đã lập gia đình với hai đứa con. Ngài đã hào phóng chúc phúc cho vợ và gia đình tôi, đồng thời đưa ra những lời khuyên nghiêm túc để giữ cho mối quan hệ của chúng tôi ổn định và lành mạnh. Một khi ngài phát hiện ra tôi đang làm gì cho luận văn của mình (tôi đổ lỗi cho Geshe Wangyal vì đã đưa tôi vào một công việc khó khăn như vậy), Ngài đã giao tôi cho một giáo thọ, như trước, và sau đó mời tôi tham gia một loạt các cuộc thảo luận với ngài về văn bản này và các vấn đề triết học mà nó đề ra.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong loạt trò chuyện thứ hai này vào năm 1971, tôi nhận thấy một sự thay đổi đáng kinh ngạc nơi Đức Thánh Thiện, một điều rất gây cảm hứng. Ngài đã trở nên sống động về mặt triết học. Ngài không còn viện dẫn những câu hỏi của các giáo thọ khác. Ngài có nhiều điểm cần nói về luận thuyết của Tsong Khapa, được coi là khó nhất của ngài. Ngài đã trích dẫn thuộc lòng nhiều đoạn văn, rất sáng suốt và trữ tình trong việc giải thích tác động sâu sắc và sự phân chia sâu rộng của các điểm trọng tâm tế nhị, đặc biệt là sự khác biệt quan trọng giữa các phương pháp tiếp cận theo lối biện chứng và giáo điều đối với đường lối trung tâm của Trung Luận (Madhyamika) nổi tiếng. Thoáng chốc quên mất rằng Ngài là Đức Đạt Lai Lạt Ma và vì vậy nên biết tất cả một cách tự nhiên, thật ngoạn mục khi quan sát được cái nhìn sâu sắc triết học mạnh mẽ tỏa sáng qua sự nhiệt tình truyền cảm của Ngài. Cuộc nói chuyện của chúng tôi vào năm đó rất thú vị đến nỗi ngài quyết định làm việc với tôi để đưa ra một cuốn sách về phương pháp trung tâm bằng tiếng Anh, một dự án mà chúng tôi bắt đầu. Thật không may, tôi đã không nhận được bản thảo cho đến phút cuối cùng và không thể tự mình hoàn thành bản dịch vì tôi phải quay lại Mỹ để làm công việc giảng dạy và một dịch giả khác đã thay thế.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi đã dành tám năm tiếp theo để múa kiếm trong quá trình học tập quá mức cần thiết để có được nhiệm kỳ giáo sư đại học. Tôi không có cơ hội đến thăm Dharamsala, và Đức Thánh Thiện liên tục bị từ chối cấp thị thực vào Hoa Kỳ như một phần của sự quan tâm thái quá đối với cảm tính theo chính sách Trung Hoa của Kissinger. Năm 1979, tôi có thời gian hưởng dụng và Đức Thánh Thiện đã nhận được thị thực đầu tiên, nhờ Cyrus Vance. Tôi đã có kỳ nghỉ trong năm ở Ấn Độ với cả gia đình. Vào mùa thu năm đó, tôi đã may mắn được đón tiếp Đức Thánh Thiện tại Amherst và Harvard trong chuyến đi đầu tiên của ngài, và sau đó đi cùng chuyến bay với ngài trở lại Ấn Độ để tiếp tục kỳ nghỉ ở Delhi và Dharamsala.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi ngài đến New York trong chuyến đi đó, tôi không thể tin được rằng dường như ngài đã phải trải qua những thay đổi lớn hơn nữa. Tôi nhớ có một giấc mơ sáng sớm về ngài vào ngày hôm đó, như thể là Đức Phật Thời Luân Kalachakra khổng lồ, đang đứng trên đỉnh Waldorf-Astoria, tỏa sáng rực rỡ trong màu phấn phát quang đặc biệt của một vị bổn tôn, năng lượng thu hút một đám đông với những bộ đồ lớn sọc ong nhuyễn phù hợp của các nhà ngoại giao, chính trị gia, doanh nhân, hoàng tử của nhà thờ[3] và các loại nhân vật quan trọng khác. Trong suốt chuyến đi đó và cả năm sau đó, tôi không thể nào vượt qua được sức mạnh dồi dào của năng lượng lôi cuốn của ngài. Đức Thánh Thiện luôn có oai lực hấp dẫn - bây giờ ngài có sức hút cá nhân gấp mười lần. Rõ ràng là ngài đã học và thực hành các Mật điển Yoga vô song, đặc biệt là Bánh xe Thời gian Kalachakra.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong suốt mùa đông ở Ấn Độ đó, chúng tôi đã có loạt cuộc trò chuyện thứ ba. Ngài lúc này đã bốn mươi bốn tuổi, đã hai mươi năm sống lưu vong hoàn toàn. Khoảng thời gian trong những năm 1970 (khi áp lực của Trung Hoa đối với các chính phủ hạn chế việc đi lại trên thế giới của ngài) đã được sử dụng một cách hiệu quả - chuỗi khóa tu tập liên tục của ngài, giới hạn ba mươi năm nghiên cứu căng thẳng về tất cả các cấp độ giáo lý của Đức Phật, đã đưa ngài đến một kết quả hiển nhiên. Người ta muốn tin rằng một Đạt Lai Lạt Ma đương nhiên có tất cả kiến thức, khả năng và lòng từ bi. Tuy nhiên, tôi có thể làm chứng rằng đã có sự xuất hiện rõ ràng của sự phát triển vượt bậc nhờ trí thông minh tập trung to lớn và nỗ lực không mệt mỏi.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong những cuộc họp này, chúng tôi đã thảo luận về mọi chủ đề dưới ánh mặt trời. Mối quan tâm của tôi là Mật điển, và Đức Thánh Thiện có nhiều điều sâu sắc và hữu ích để nói. Ngài dường như vẫn quan tâm đến mọi thứ, đặc biệt là lịch sử, chính trị, xã hội học, đạo đức học, và cái mà tôi có thể gọi là tâm lý từ bi. Các cuộc đối thoại của chúng tôi rất khó được công bố, vì ngài đã khiến tôi nói quá nhiều, trả lời những câu hỏi thâm thúy của ngài, thay vì tự mình nói nhiều hơn. Những gì ngài phải nói thú vị hơn nhiều đối với mọi người, trừ chính bản thân của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong hai mươi ba năm kể từ đó, Đức Thánh Thiện đã viết nhiều sách, đối thoại với nhiều nhà tư tưởng và tác giả, đưa ra vô số giáo lý và bài phát biểu. Sự tiến bộ không ngừng mà tôi quan sát được trong suốt mười bảy năm đầu tiên đó vẫn tiếp tục diễn ra, vẫn tiếp tục tiến bộ bằng những bước nhảy lượng tử. Đặc biệt là kể từ khoảng thời gian ngài đoạt giải Nobel năm 1989, các chủ đề nói chung của ngài - về lòng ân cần tử tế, tôn giáo chung của con người, bất bạo động, giải trừ quân bị, khoa học, sinh thái và môi trường, và so sánh tôn giáo - tốt đẹp hơn, cảm động hơn, sáng suốt hơn, và mạnh mẽ hơn trong sự hiểu biết và niềm đam mê. Tôi có thể thành thật nói rằng tôi chưa bao giờ thấy một bài phát biểu nào của ngài chỉ là sự lặp lại được đóng hộp như một thông điệp của một chính trị gia. Mặc dù ngài có một số chủ đề chính, nhưng mỗi lần ngài mang đến điều gì đó mới mẻ và làm mới mẻ cho chúng, chẳng hạn như một ví dụ khác từ các bài đọc và cuộc trò chuyện đang diễn ra của Ngài hoặc một điểm được đưa ra theo cách hấp dẫn hơn. Vì vậy, có vẻ như sự tái sinh liên tục của ngài có thể tạo ra một sự thăng tiến bất tận, phát triển và làm giàu thêm kỹ năng của Ngài trong nghệ thuật của tự do khai phóng.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Vĩ Đại Thứ Mười Bốn: Vai trò và giáo huấn</strong></p>
<p style="text-align: justify;">'Một tu sĩ Phật giáo giản dị' hay 'chỉ là một tu sĩ Phật giáo giản dị!' - Đức Thánh Thiện thường dùng những từ ngữ này, và mọi người thường mỉm cười và nghĩ rằng ngài quá từ tốn, thể hiện một tư thế khiêm cung được học, và nghiêm túc trái ngược với thần thái to lớn, rạng rỡ của ngài rất tiếu lâm và thông minh nhanh nhẹn. Ngài có quả quyết quá không? Trong cuộc phỏng vấn đáng chú ý với Spalding Gray, ngài tiết lộ rằng ngài thật sự có ý nghĩa như thế nào.</p>
<p style="text-align: justify;">Gray hỏi ngài rằng ngài có bao giờ có những giấc mơ khiêu dâm, có bao giờ bị cám dỗ bởi những ham muốn trần tục hay không, điều mà Gray quả quyết là chính cuộc sống của Ngài. Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời một cách khá trầm ngâm, tiết lộ rằng hình ảnh như vậy có thể xuất hiện trong giấc mơ, nhưng ngài giữ gìn khỏi việc mất kiểm soát với nó bằng cách nhớ rằng mình là một tu sĩ Phật giáo và rút lui vào thành trì xuất gia của ngài. Ngài tiếp tục đề cập rằng đôi khi Ngài mơ thấy mình gây hấn, thấy mình phải đối đầu với dao hoặc súng, nhưng một lần nữa phản chiếu vào bản chất sâu sắc nhất của ngài là một tu sĩ Phật giáo giản dị, và rút khỏi hình thức của sự thù địch. Ngay cả trong những giấc mơ của mình, ngài không bao giờ nghĩ rằng ‘Tôi là Đạt Lai Lạt Ma!’ Điều này thật đáng chú ý.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Đạt Lai Lạt Ma có nhiều hình thái nhận dạng. Tất nhiên, ngài là một con người, là nam giới, hậu duệ của những người nông dân, những người chăn gia súc và những phụ nữ lao động mạnh mẽ của tỉnh Amdo ở vùng cực đông bắc Tây Tạng, sinh ra ngay trên biên giới với Mông Cổ về phía bắc, Trung Hoa về phía đông và Turkestan phía tây bắc. Ngài là người Tây Tạng, gia đình ngài nói một cách tự nhiên phương ngữ miền đông đặc sệt, cũng quen thuộc với tiếng Tây Tạng miền Trung và thậm chí còn nói chuyện từ nhỏ với người Hoa tỉnh lẻ ở huyện Seeling. Mặc dù bà không biết ngài là Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhưng mẹ của ngài đã mơ thấy hóa thân của ngài đến với bà từ phía Tây Nam dưới hình dạng một con rồng màu xanh sáng, được hộ tống bởi hai con sư tử tuyết màu xanh lá cây vui tươi! Ngài thường nói rằng màu xanh lá cây là màu yêu thích của ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhận dạng tiếp theo của ngài là một tu sĩ Phật giáo, một người đã thực hiện và duy trì thệ nguyện bất bạo động cá nhân, nghèo khó, độc thân và trung thực về tâm linh, và người dành phần lớn năng lượng tỉnh thức của mình để theo đuổi một sự giác ngộ hoàn toàn được cho là tồn tại cho mọi thời đại, để toại nguyện tự thân với sự viên mãn không thể tưởng tượng, và làm lợi ích cho vô số chúng sinh khác với lòng từ bi vị tha. Đơn giản là đức tính cơ bản của một tu sĩ: nó tối giảm sự phân tâm của Ngài và tối đa hóa việc ngài sử dụng những năng lượng quan trọng thiết yếu nhất của mình trong quá trình phát triển tiến hóa. Là một tu sĩ, ngài làm việc để tan biến thói quen ích kỷ, bao gồm cả sự cứng nhắc về bản sắc cá nhân, tình dục và quốc gia của mình. Là một nhà sư, ngài sống thật hăng hái và phấn đấu để trở thành một chúng sinh của tất cả.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài cũng không ngừng sáng tạo - ngài gọi đó là 'động lực định hình của ngài' - định tính làm việc của ngài như một vị bồ tát, một đấng cứu độ, người đã cống hiến tất cả cuộc đời mình để đạt được giác ngộ hoàn hảo, trí tuệ hoàn chỉnh và lòng từ bi vô tận, để có thể giúp tất cả chúng sinh khác tìm thấy tự do khỏi đau khổ. Mặc dù những người khác xem ngài là hóa thân của Quán Thế Âm (Avalokiteshwara), vị bồ tát thiêng liêng tinh túy của lòng từ bi - và chắc chắn ngài dường như đã phát triển thành biểu hiện của tính cách mạnh mẽ đó - rõ ràng ngài không cố chấp với hình ảnh bản thân như vậy. Ngài nói rằng tôn giáo của ngài là tôn giáo chung của con người về lòng tốt, về tình yêu, về lòng từ bi, về trách nhiệm chung. Ngài được hỏi rằng ngài nghĩ về ai trên hành tinh như những người bạn tâm linh đồng đẳng của mình. Ngài suy nghĩ một lúc, và sau đó trả lời với sự chân thành không thể nhầm lẫn, như thể ngài vừa khám phá lại sự thật này một cách mới mẻ, rằng 'thật sự mọi người trên thế giới đều là đồng đẳng tâm linh như tôi!' như Kinh Tuệ Trí Siêu Việt (Kim Cang Bát Nhã), tuyên bố nhiều lần rằng, người tự nghĩ 'Tôi là một vị bồ tát', thì người đó không phải là một vị bồ tát. Chỉ ai thấy không có bồ tát, thấy không có chúng sinh, người đó mới là bồ tát với lòng từ bi chân thật đối với tất cả chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Đạt Lai Lạt Ma hàng ngày làm việc để hướng dẫn người dân của mình và hoàn thành trách nhiệm bảo tồn cùng lãnh đạo quốc gia của mình - quốc gia Tây Tạng đã chịu áp lực diệt chủng trong hơn nửa thế kỷ, trong tình trạng nguy hiểm đến mức người Tây Tạng phải nằm trong danh sách loài người có nguy cơ tuyệt chủng. Ngài là một chính khách, một chính trị gia, một nhà ngoại giao, một nhà quản lý nhân sự, một giám đốc điều hành. Ngài duy trì những nhiệm vụ này khi sống lưu vong như một người tị nạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài là một học giả tận tụy và là một nhà văn giỏi, nghiên cứu sâu về văn học triết học, tâm lý và văn học tôn giáo của nền văn minh tinh vi của mình cũng như khám phá các khoa học và văn học hiện đại. Ngài không ngừng học tập với nhiều giáo thọ sư khác nhau, và giảng dạy rộng rãi, cả những học viên cao cấp trong cộng đồng tu sĩ Phật giáo Tây Tạng và toàn thể dân chúng Tây Tạng, cũng như công chúng ngày càng đông đảo những người tìm kiếm tâm linh trên khắp thế giới. Ngài nói chuyện với tất cả mọi người một cách rõ ràng và chân thành, với khiếu tiếu lâm và sự lạc quan không ngừng.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài cũng là một bậc thầy Kim Cang thừa thành tựu, người thầy của các nghi lễ bí truyền và các truyền thống quán chiếu mà người dân của Ngài coi là những viên ngọc quý của truyền thống Phật giáo Ấn Độ mà họ kế thừa và đã làm rất nhiều để gìn giữ, tinh lọc và mở rộng. Kiến thức chính xác của Ngài về kiến trúc của môi trường mạn đà la linh thiêng, về các chi tiết của các thủ tục và nghệ thuật nghi lễ phức tạp, cử chỉ duyên dáng, tán tụng tuyệt vời và sự giải thích hùng hồn về ý nghĩa sâu sắc và thấm thía của các thực hành quán chiếu cao cấp khiến ngay cả các đệ tử lâu năm của ngài cũng phải kinh ngạc.</p>
<p style="text-align: justify;">Và cuối cùng, ngài là một nhà kiến tạo hòa bình cho thế giới, một người đoạt giải Nobel, một người truyền cảm hứng cho các nhà lãnh đạo thế giới cả về chính trị và tôn giáo, những người đã may mắn gặp ngài, ngài khuyến khích họ không tin theo những loại sản phẩm thứ yếu có hại của các động lực tuyên truyền mù quáng mà có trách nhiệm đối với người nghèo và những người bị áp bức, sử dụng ý thức và thiện chí để giải quyết các vấn đề đang bao phủ thế giới của chúng ta, và không chịu thua với sự tuyệt vọng và hoài nghi cũng như ẩn sau quyền lực và đặc quyền đặc lợi của họ. Ngài sẵn sàng trở thành một người bạn tốt với tất cả mọi người, kể cả những người đã làm hại mình hoặc những người khác, và kiên nhẫn đưa ra giải pháp thay thế đối thoại mang tính xây dựng như một biện pháp xoa dịu bạo lực và định kiến.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong tư tưởng triết học và đạo đức của mình, Đức Thánh Thiện đã nổi lên mạnh mẽ như một nhà lãnh đạo thế giới với tầm nhìn thuyết phục về một cộng đồng hành tinh khả thi. Kêu gọi một cuộc cách mạng về tinh thần và đạo đức, Ngài thậm chí còn đi trước thời đại của mình một chút, một thực tế cực kỳ mỉa mai đối với những ai cho rằng ngài nói đến từ một nền văn minh ‘kém phát triển’ nằm ngoài dòng chảy hiện đại tiến bộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Luận điểm trọng tâm của ngài là bản chất con người vốn là lòng ân cần tử tế và tình yêu thương, lòng vị tha là chìa khóa của hạnh phúc. Lòng từ bi không chỉ là tình cảm, mà còn là một phương pháp thông minh và hiệu quả để sống tốt đẹp và đạt được hạnh phúc thật sự: nó không chỉ là một lợi ích tinh thần mà nó còn là một nhu cầu sinh học cần thiết cho con người. Thực tế tự nhiên này quy định một đạo đức về lòng từ bi và trách nhiệm phổ quát trên bình diện xã hội. Sức ép của cuộc khủng hoảng hành tinh hậu hiện đại đòi hỏi một phản ứng tinh thần và đạo đức như một điều cần thiết để tồn tại. Ý tưởng chính của Ngài là, với việc áp dụng rộng rãi cái nhìn tâm linh hơn và các hành động đạo đức hơn, thì hành tinh có thể tiếp tục sống còn trong những thế kỷ tới, mọi thứ có thể diễn ra tốt đẹp cho nhân loại trong tương lai.</p>
<p style="text-align: justify;">Chủ đề chính thứ hai mà Đức Thánh Thiện nêu rõ trong các bài phát biểu và bài viết là tâm linh rộng hơn bất kỳ hình thức tôn giáo cụ thể nào và là điều cần thiết cho hạnh phúc cá nhân và để giữ cho thế giới có thể sống còn được. Ngài không khuyến khích chương trình nghị sự biến bất kỳ ai trở thành Phật tử, và lên án mọi sự cạnh tranh giữa các tổ chức tôn giáo. Để phù hợp với điều này, Ngài lập luận rằng các nguyên tắc đạo đức phổ biến hơn các quy định cụ thể về tôn giáo. Ngài coi bất bạo động là điều cần thiết để khắc phục những thảm họa do con người tạo ra do xung đột và chiến tranh, đồng thời luôn kêu gọi đối thoại để giải quyết căng thẳng. Ngài nhấn mạnh rằng chủ nghĩa lý tưởng [duy tâm] như vậy không viển vông như một số lý thuyết thế tục hiện đại về tâm lý và xã hội đã làm cho nó trở thành hiện thực.</p>
<p style="text-align: justify;">Tiếng nói tiên tri của ngài đã bắt đầu nổi lên với sự phê phán mạnh mẽ về tiến bộ vật chất và công nghệ máy móc vô hồn. Trong cuốn Đạo Đức Cho Thiên Niên Kỷ Mới, ngài nói: Mặc dù tôi chưa bao giờ tưởng tượng rằng chỉ riêng của cải vật chất có thể vượt qua đau khổ, nhưng tôi vẫn nhìn về phía thế giới phát triển từ Tây Tạng, một đất nước hiện giờ rất nghèo trong sự tôn trọng này, tôi phải thừa nhận rằng tôi đã nghĩ rằng nó phải đi xa hơn để làm như vậy. Tôi kỳ vọng rằng, với sự đau khổ về thể chất giảm đi nhiều, như đối với đa số người sống ở các nước công nghiệp phát triển, thì hạnh phúc sẽ dễ dàng đạt được hơn nhiều ... [nhưng] những tiến bộ phi thường của khoa học và công nghệ đã đạt được nhiều hơn một chút so với cải thiện đường dài và những con số... nhưng tiến bộ hầu như không có nghĩa là nhiều hơn số lượng lớn các ngôi nhà sang trọng ở nhiều thành phố hơn, với nhiều xe hơi chạy giữa chúng. Chắc chắn rằng đã có sự giảm bớt một số loại đau khổ bao gồm một số bệnh tật. Nhưng không có sự giảm thiểu tổng thể.</p>
<p style="text-align: justify;">Hơn nữa, trong lời kêu gọi nhiệt thành về một cuộc cách mạng tinh thần và đạo đức, ngài lập luận kiên quyết về việc giải trừ vũ khí toàn cầu, phác thảo một loạt các bước có hệ thống hướng tới việc ngăn chặn hoàn toàn chiến tranh và các ngành chiến tranh, ví chiến tranh như một đống lửa mà trên đó con người chất thành đống như khúc gỗ, và nhớ lại một cách sâu sắc những chuyến thăm của mình đến Auschwitz và Hiroshima. Theo truyền thống lâu đời như Đại sư Long Thọ (Nagarjuna - thế kỷ thứ 2 ), ngài đã can đảm tố cáo lối sống xa hoa thái quá dẫn đến khoảng cách cực đoan giữa người giàu và người nghèo, đồng thời đưa ra lời kêu gọi rõ ràng về lòng vị tha và trách nhiệm phổ quát trong chính sách kinh tế. Ngài thực tế và lạc quan về toàn cầu hóa, nhưng không phải toàn cầu hóa mất cân bằng khiến người giàu giàu hơn và người nghèo trở nên nghèo hơn.</p>
<p style="text-align: justify;">Về tâm linh, ngài theo chân hoàng đế Ấn Độ Ashoka (thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên) trong việc kêu gọi các tôn giáo tập trung vào thực hành cá nhân thay vì tăng cường thể chế, chủ nghĩa đa nguyên khoan dung hơn chủ nghĩa độc quyền cố chấp. Ngài nhấn mạnh về sự ưu tiên của tâm linh và đạo đức trong thực hành cá nhân hơn sự thuần khiết về mặt giáo lý và chủ nghĩa hình thức nghi lễ. Ngài thể hiện sự sẵn sàng từ bỏ hoàn toàn với tôn giáo nếu nó chỉ làm tăng thêm gánh nặng mà mọi người phải đấu tranh. Ngài thừa nhận lợi ích của tôn giáo được áp dụng một cách chân thành, và đưa ra đề xuất khéo léo rằng đối với trạng thái đặc biệt trong niềm tin cá nhân, nên thêm đa nguyên vào thực tiễn xã hội.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói tóm lại, là những nhà lãnh đạo thế giới hãy nghiêm túc xem xét những giáo huấn của Người đoạt giải Nobel này, chúng ta có thể chắc chắn rằng thế kỷ 21 này sẽ không lặp lại thế kỷ 20 do chiến tranh tàn phá, mà sẽ là một thế kỷ hòa bình, hòa giải, phục hồi môi trường, đầy đủ kinh tế và tiến bộ tinh thần cho tất cả nhân loại, với lợi ích bổ sung của việc gia tăng lòng tốt với động vật. Điều đáng kinh ngạc là mặc dù gần đây đã chuyển sang bạo lực, với chủ nghĩa khủng bố và các cuộc chiến chống khủng bố đang tiến tới hòa bình trên nhiều mặt, Đức Thánh Thiện vẫn không dao động trong đức tin của mình vào bản chất con người, không nản lòng trong lời kêu gọi bất bạo động và đối thoại, và tích cực trong triển vọng của mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Việc từ chối đầu hàng trong tuyệt vọng này còn có sức mạnh lớn hơn nữa khi chúng ta nhớ rằng nó đến từ lãnh đạo của Tây Tạng, một quốc gia và dân tộc đã phải chịu quá nhiều khổ đau vì nạn diệt chủng, phá hủy hàng loạt và áp bức đang diễn ra. Vì vậy, ngài là hiện thân của những lời dạy thông minh của mình về không trả đũa, hòa bình, hiểu biết và đối thoại, và thật sự làm cho lý tưởng [duy tâm] có vẻ thực tế, bộc lộ cái tối ưu cũng như thực tế!</p>
<p style="text-align: justify;">Cầu mong ngài tiếp tục không bị gián đoạn miễn là ngài cảm thấy thoải mái! Cầu mong ước nguyện sâu xa cho sự giải thoát đặc biệt của ngài, những người dân cao quý của Tây Tạng, sớm được hoàn thành một cách kỳ diệu, trước sự kinh ngạc của tất cả! Và cầu mong cho nỗ lực từ bi không ngừng nghỉ của ngài đối với tất cả các dân tộc, bao gồm cả người Trung Hoa, cũng thành hiện thực, khi ngài trở thành Đức Đạt Lai Lạt Ma, người phục vụ như một Vị Thầy Đại Dương Tuệ Trí cho toàn thế giới, dẫn dắt các quốc gia trở lại hòa hợp với thiên nhiên, công bằng và hòa bình với nhau, và các cá nhân của mình vì tự do, trí tuệ và hạnh phúc cho bản thân và mọi chúng sinh.</p>
<p><strong>Robert A.F. Thurman</strong></p>
<p><em>Việt dịch: Quảng Cơ</em></p>
<p><em>Hiệu đính: Tuệ Uyển</em></p>
<p><em>Nguyên tác: The Dalai Lama’s Roles and Teachings</em></p>
<p><em>Trích: Understanding The Dalai Lama</em></p>
<p><em>Nguồn: <a href="https://thuvienhoasen.org/a37447/vai-tro-va-loi-day-cua-duc-dat-lai-lat-ma">Vai Trò Và Lời Dạy Của Đức Đạt Lai Lạt Ma</a></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>[1] Mammon /ˈmæmən/ trong Tân Ước của Kinh Thánh thường được định nghĩa là tiền bạc, giàu có vật chất, hoặc bất kỳ thế lực nào hứa hẹn sự giàu có, và được kết hợp với theo đuổi lợi nhuận một cách tham lam.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>[2] Id là thứ thúc đẩy nhu cầu và mong muốn của chúng ta và siêu ngã phấn đấu cho đạo đức và sự hoàn hảo. Bản ngã là người trung gian giữa hai cái, cố gắng đáp ứng nhu cầu của cả cái tôi và cái siêu phàm trong khi giải quyết những đòi hỏi của thực tại.- Sigmund Freud -</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>[3] Hoàng tử của Giáo hội ngày nay được sử dụng gần như dành riêng cho các hồng y Công giáo. Tuy nhiên, thuật ngữ này quan trọng hơn về mặt lịch sử như là một thuật ngữ chung cho các giáo sĩ có văn phòng giữ thứ hạng thế tục và đặc quyền của một hoàng tử hoặc được coi là tương đương.</em></p>
<div class="ddict_btn" style="top: 14884px; left: 379.625px;"><em><img src="chrome-extension://bpggmmljdiliancllaapiggllnkbjocb/logo/48.png" alt="" /></em></div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/vai-tro-va-loi-day-cua-duc-dat-lai-lat-ma/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử vắn tắt Đức Tsongkhapa Lobzang Drakpa</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tieu-su-van-tat-duc-tsongkhapa-lobzang-drakpa/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tieu-su-van-tat-duc-tsongkhapa-lobzang-drakpa/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 31 Dec 2021 04:17:13 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Gelug]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Gelug]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=10696</guid>
		<description><![CDATA[Ngài Tsongkhapa Lobzang Drakpa sinh ở vùng Tsongkha của Amdo vào năm 1357. Mẹ Ngài là Shingza Acho và cha Ngài là Lubum Ge. Trong vô số sự kiện và điềm diệu kỳ được tin là xảy ra xung quanh sự chào đời của Ngài, nổi tiếng nhất có lẽ là một giọt máu từ dây rốn của Ngài Tsongkhapa được cho là đã rơi xuống đất, mọc thành&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tieu-su-van-tat-duc-tsongkhapa-lobzang-drakpa/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Ngài Tsongkhapa Lobzang Drakpa sinh ở vùng Tsongkha của Amdo vào năm 1357. Mẹ Ngài là Shingza Acho và cha Ngài là Lubum Ge. Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự kiện</span> và điềm diệu kỳ được tin là xảy ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xung quanh</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chào đời</span> của Ngài, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> nhất có lẽ là một giọt máu từ dây rốn của Ngài Tsongkhapa được cho là đã rơi xuống đất, mọc thành một cây <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chiên đàn</span> mà lá mang các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biểu tượng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên quan đến</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa hiện</span> Simhanada của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi</span> – vị Tôn mà Ngài Tsongkhapa sau này được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công nhận</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa hiện</span>. Mẹ Ngài sau này đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo tháp</span> tại chính địa điểm này và theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span>, nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công trình</span> và chùa chiền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> được thêm vào. Ngày nay, địa điểm nơi Ngài Tsongkhapa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chào đời</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đánh dấu</span> bằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Kumbum, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành lập</span> vào năm 1583 bởi Đức Dalai Lama thứ Ba – Sonam Gyatso (1543 - 1588) tại địa điểm của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo tháp</span> gốc.</p>
<p style="text-align: justify;">Lên ba tuổi, Ngài Tsongkhapa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thọ giới</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cư sĩ</span> từ Đức Karmapa thứ Tư – Rolpai Dorje (1340 - 1383) và nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu</span> Kunga Nyingpo. Sau đó, lên tám tuổi, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thọ giới</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sa Di</span> cùng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu</span> Lobzang Drakpa từ Choje Dondrub Rinchen (vị sinh năm 1309), một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> Kadam. Đức Dondrub Rinchen, một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> vĩ đại về Vajrabhairava, vốn đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên hệ</span> với Ngài Tsongkhapa và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span> từ khi cậu bé mới <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chào đời</span> và được cho là đã nhận được nhiều tiên đoán về tầm quan trọng của cậu bé từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính đạo</span> sư và vị Tôn.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài Tsongkhapa dành nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thời gian</span> lúc trẻ để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> với Đức Dondrub Rinchen; Ngài được cho là đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thông tuệ</span> đến mức Ngài dễ dàng hiểu và ghi nhớ ngay cả những bản văn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phức tạp</span> nhất. Từ Đức Dondrub Rinchen, Ngài thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> Mật thừa, quan trọng nhất trong đó là Vajrabhairava. Theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiểu sử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span>, lên bảy tuổi, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trải qua</span> các linh kiến về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn giả</span> Atisha Dipamkara (khoảng 982 - 1054) và vị Tôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương Thủ</span>. Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trao đổi</span> với các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong lịch sử</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chư Tôn</span> khác nhau <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuối cùng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> điều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> trong việc phát triển sự hiểu về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo</span> của Ngài Tsongkhapa.</p>
<p style="text-align: justify;">Mười sáu tuổi, Ngài Lobzang Drakpa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du hành</span> đến U-Tsang, không bao giờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở về</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quê nhà</span>. Ở U-Tsang, Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> với hơn năm mươi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả Phật giáo</span> khác nhau. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Như tự</span> truyện của Ngài – “Mục Tiêu Được Hoàn Thành” ghi lại, Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> tỉ mỉ các bản văn và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủ đề</span> như “Di Lặc Ngũ Luận” và những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác phẩm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên quan</span> của Tổ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vô Trước</span> (Asanga – thế kỷ 4), A tỳ đạt ma của Tổ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thế Thân</span> (Vasubhandu – thế kỷ 4), các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống</span> logic của Tổ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trần Na</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp Xứng</span> (thế kỷ 6) và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hệ thống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Đạo</span> của Tổ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Long Thọ</span> (khoảng 150 - 250) và những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">môn đồ</span> như Tổ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thánh Thiên</span> (thế kỷ 3). Noi theo các vị như Sakya Pandita Kunga Gyaltsen (1182 -1 251) và Buton Rinchen Drub (1290 - 1364), chính sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhấn mạnh</span> của Ngài Tsongkhapa vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">triết học</span> và logic <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuối cùng</span> đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> một vài trong số những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc tính</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi bật</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Gelug.</p>
<p style="text-align: justify;">Các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> của Ngài Tsongkhapa chủ yếu tập trung vào những luồng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học thuật</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tồn tại</span> khi ấy – quan trọng nhất là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Sakya và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> của Sangphu, một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Kadam quan trọng. Một trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> chính của Ngài Tsongkhapa là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> Sakya – Rendawa Zhonnu Lodro (1349 - 1412), người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ủng hộ</span> mạnh mẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan điểm</span> Prasangika của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Đạo</span>. Lòng sùng mộ của Ngài Tsongkhapa với Đức Rendawa lớn đến mức Ngài đã soạn đoạn kệ Miktsema <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tán thán</span>. Theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span>, Đức Rendawa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm thấy</span> rằng đoạn kệ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thích hợp</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">miêu tả</span> các phẩm tính của Ngài Tsongkhapa hơn, do đó, đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> lại lời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cầu nguyện</span> này cho Ngài. Ngày nay, đoạn kệ này vẫn được những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tín đồ</span> Gelug xem là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">căn bản</span> để khơi dậy sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> của Ngài Tsongkhapa.</p>
<p style="text-align: justify;">Bên cạnh Đức Dondrub Rinchen, một vài trong số những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> Mật thừa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> của Ngài Tsongkhapa gồm Chennga Sonam Gyaltsen (1378 - 1466) – một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> Drikung mà từ vị này, Ngài thọ Sáu Pháp Của Naropa; Chokle Namgyal (1306 - 1386) – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> Jonang mà từ vị này, Ngài thọ pho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thời Luân</span>; và Rinchen Dorje, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> Sakya mà từ vị này, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thọ giáo</span> lý Lamdre và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> Hevajra.</p>
<p style="text-align: justify;">Có lẽ quan trọng hơn cả, Ngài đã thọ pho Guhyasamaja (Mật Tập) từ Đức Khyungpo Lepa Zhonnu Sonam, một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của Tổ Buton Rinchen Drub và pho về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đàn tràng</span> thân của Heruka Chakrasamvara (Thắng Lạc) từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> Sakya – Lama Dampa Sonam Gyaltsen Palzangpo (1312 - 1375). Các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> của Ngài Tsongkhapa về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> không bị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới hạn</span> ở những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> Anuttarayoga; Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mở rộng</span> về cả Kriya, Carya và Yoga, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lưu ý</span> tầm quan trọng của sự tiếp cận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dần dần</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương thừa</span> trong tự truyện ngắn gọn của mình. Hơn thế nữa, mặc dù [Dzogchen] không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Gelug sau này, Ngài Tsongkhapa cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Dzogchen với Đức Lodrak Drubchen Namkha Gyaltsen (1326 - 1401).</p>
<p style="text-align: justify;">Nhờ các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span>, sự hiểu của Ngài Tsongkhapa về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">triết học</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Đạo</span> trở nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vững chắc</span> và mang tính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> hơn. Ngoài hai mươi tuổi, Ngài đã bắt đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biên soạn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác phẩm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sơ khai</span> quan trọng nhất của mình – Tràng Vàng, điều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên quan đến</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bát Nhã</span>. Ngài Tsongkhapa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biên soạn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong suốt</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span>, tạo ra một tuyển tập bản văn gồm mười tám tập.</p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù Ngài Tsongkhapa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi danh</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác giả</span> của nhiều trước tác, người ta tin rằng nhiều trước tác được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biên soạn</span> nhờ sự hướng dẫn và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia trì</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chư Tôn</span> mà Ngài thấy trong các linh kiến, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Văn Thù Sư Lợi</span>, như được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">miêu tả</span> trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiểu sử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span>. Ngài Tsongkhapa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban đầu</span> nương tựa chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trao đổi</span> với các vị Tôn khác nhau. Ví dụ, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> Nyingma của Ngài – Đức Namkha Gyaltsen được tin là có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trao đổi</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương Thủ</span> và đã đóng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vai trò</span> là người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung gian</span> giữa vị Tôn và Ngài Tsongkhapa. Sau đấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong đời</span>, Ngài Tsongkhapa thích <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du hành</span> đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> và nhưng bị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thuyết phục</span> không làm vậy bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương Thủ</span> qua <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính trung</span> gian này.</p>
<p style="text-align: justify;">Giống như vậy, Ngài Tsongkhapa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban đầu</span> nương tựa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> Umapa Pawo Dorje là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trung gian</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Văn Thù Sư Lợi</span>. Ngài đã gặp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị đạo</span> sư Kagyu này năm ba mươi ba tuổi. Trước lúc này, Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác phẩm</span> về Tràng Vàng và với Đức Pawo Dorje, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> Nhập <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Đạo</span> của Tổ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nguyệt Xứng</span> (thế kỷ 7). Đức Pawo Dorje và Ngài Tsongkhapa tiến hành một khóa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> cùng nhau trong giai đoạn này và Ngài Tsongkhapa được cho là đã đưa ra <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> câu hỏi với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Văn Thù Sư Lợi</span> thông qua Đức Pawo Dorje. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tuy nhiên</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuối cùng</span>, Ngài Tsongkhapa đã bắt đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trải qua</span> các linh kiến và có thể trực tiếp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trao đổi</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Văn Thù Sư Lợi</span>, thọ nhận các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> Mật thừa, quan trọng nhất là về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Văn Thù</span> và Vajrabhairava. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trong đời</span>, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> có các linh kiến về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Văn Thù</span> cũng như tập hội <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chư Tôn</span> khác và chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> như Tổ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vô Trước</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Long Thọ</span>. Mặc dù Ngài được xem là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa hiện</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Văn Thù</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản chất</span> của các linh kiến của Ngài vẫn bị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi ngờ</span> bởi một số <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> ngoài Gelug, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> Sakya – Gorampa Sonam Senge (1429 - 1489), vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ trích</span> Ngài Tsongkhapa và cách tiếp cận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Đạo</span> của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngoài một giai đoạn giảng dạy ngắn, Ngài Tsongkhapa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham gia</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mở rộng</span>. Ngài và một nhóm tám <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> bắt đầu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> dài tại Ẩn thất Chadrel vào năm 1392, chuyển đến Olkha Cholung nhiều năm sau đó. Trong khóa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> này, họ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thành</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sơ khởi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mở rộng</span>, ví dụ, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thành</span> 3500000 <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lễ lạy</span> theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Triskandhadharmasutra.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khóa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span>, Ngài Tsongkhapa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du hành</span> đến Dzingji, nơi Ngài tiến hành <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> đầu tiên trong bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> vĩ đại: <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phục hồi</span> bức tượng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Di Lặc</span> vĩ đại. Trong giai đoạn này, vào năm 1398, Ngài được tin là đã đạt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> và sự hiểu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn hảo</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Đạo</span> nhờ một linh kiến về tập hội chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> Prasangika <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span> vĩ đại. Ngay sau trải nghiệm này, Ngài đã soạn Lời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tán Thán</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Duyên Khởi</span>. Trải nghiệm này bắt đầu một kỷ nguyên mới trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span> Ngài, chuyển sang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biên soạn</span> và giảng dạy cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> khác điều mà Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khám phá</span>. Như thế, năm 1402, ở tuổi bốn mươi sáu, trong lúc ở tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Reting, Ngài đã soạn Lamrim Chenmo, Đại Luận Về Các Giai Đoạn Của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con Đường</span> Đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giác Ngộ</span>; không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi ngờ</span> gì, đây là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác phẩm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> nhất của Ngài. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Dựa trên</span> Bodhipathapradīpa [Đèn Soi Nẻo Giác] của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn giả</span> Atisha Dipamkara, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác phẩm</span> này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">miêu tả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chi tiết</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuần tự</span> đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quan điểm</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kinh thừa</span>. Lặp lại sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi ngờ</span> mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đức Phật</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm thấy</span> sau khi đạt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> rằng liệu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> có hiểu được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>, người ta nói rằng Ngài Tsongkhapa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban đầu</span> nản lòng bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩ</span> rằng hầu hết <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">độc giả</span> sẽ không thể hiểu những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> của Ngài về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính Không</span>, điều tạo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành phần</span> sau của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác phẩm</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tuy nhiên</span>, một linh kiến về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Văn Thù Sư Lợi</span> đã truyền <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm hứng</span> để Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thành</span> việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biên soạn</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1402, Ngài Tsongkhapa tiến hành <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> vĩ đại thứ hai. Lúc ở tại Namtsedeng trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mùa an cư</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> Rendawa và Kyabchok Palzangpo, Ngài trao một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luận giải</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chi tiết</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Luật Tạng</span> cho đông đảo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chư Tăng</span>. Ngoài sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhấn mạnh</span> vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span>, Ngài có lẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> về việc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhấn mạnh</span> tầm quan trọng của sự trì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giữ giới</span> luật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biên soạn</span> Lamrim Chenmo, Ngài đã soạn nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác phẩm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vào khoảng</span> năm 1407 và 1408, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luận giải</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Căn Bản</span> Kệ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Đạo</span> của Tổ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Long Thọ</span> gọi là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại Dương</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Lý Luận</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tinh Túy</span> Hùng Biện. Vào năm 1415, Ngài soạn Lamrim Dring, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Luận</span> Về Các Giai Đoạn Của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con Đường</span> Đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giác Ngộ</span>, một phiên bản cô đọng hơn của Lamrim Chenmo.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài Tsongkhapa là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác giả</span> với nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác phẩm</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">văn học</span> Mật thừa. Như một cuốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đồng hành</span> với Lamrim Chenmo, Ngài soạn Ngakrim Chenmo – Đại Luận Về Các Giai Đoạn Mật Thừa Của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Con Đường</span> Đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giác Ngộ</span> vào năm 1405, bao trùm cả bốn bộ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> theo các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tân Dịch</span> Sarma, với sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chi tiết</span> về hai giai đoạn của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> Anuttarayoga. Các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác phẩm</span> Mật thừa quan trọng khác <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác phẩm</span> về Guhyasamaja, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Luận Giải</span> Về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Điển</span> Vajrajñānasamuccayanāma và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giải Thích</span> Năm Giai Đoạn Của Mật Tập. Các bản văn về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> Mật Tập tạo thành nét <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi bật</span> trong tuyển tập trước tác của Ngài Tsongkhapa, chiếm phần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> trong mười tám quyển trước tác.</p>
<p style="text-align: justify;">Lúc này, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh tiếng</span> của Ngài là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> vĩ đại và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> đã lan khắp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> và thậm chí là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span>. Năm 1408, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàng đế</span> Vĩnh Lạc (trị vì từ 1402 đến 1424) của Triều Minh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span> đã gửi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời mời</span> Ngài Tsongkhapa đến viếng thăm triều đình và kinh đô ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nam Kinh</span>. Ngài Tsongkhapa từ chối và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời mời</span> thứ hai được gửi đến vào năm 1413. Mặc dù lại từ chối, Ngài đã phái <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> Shakya Yeshe (1354 - 1435) đi thay. Shakya Yeshe đã có chuyến viếng thăm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành công</span> đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span>, nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu</span> Jamchen Choje từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàng đế</span>. Sau khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàng đế</span> Vĩnh Lạc băng hà vào năm 1424, Shakya Yeshe viếng thăm kinh đô mới ở Bắc Kinh của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàng đế</span> Tuyên Đức (trị vì từ năm 1425 đến 1435). Trong các chuyến viếng thăm này, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên hệ</span> đầu tiên giữa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> của Ngài Tsongkhapa với các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàng đế</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trung Quốc</span> đã được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tồn tại</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> khi nhà Mãn Thanh sụp đổ vào năm 1911.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1409, Ngài Tsongkhapa khởi xướng Monlam Chenmo hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại Lễ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cầu Nguyện</span> ở Lhasa, điều được kỷ niệm vào dịp Năm Mới <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> – Losar. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Lễ kỷ niệm</span> này theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> diễn ra tại Chùa Jokhang ở Lhasa và được xem là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> vĩ đại thứ ba của Ngài. Cũng vào lúc này, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> trang sức ngọc báu và vương miện lên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tôn tượng</span> Jowo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thích Ca Mâu Ni</span>, bức tượng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">linh thiêng</span> nhất ở Jokhang và toàn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>. Nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> trang sức này, bức tượng được chuyển từ một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại diện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hóa thân</span> của Phật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thích Ca Mâu Ni</span> thành một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại diện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Báo thân</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thỉnh cầu</span> của các học trò, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành lập</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span>, điều được thánh hóa vào năm 1410, năm sau khi khởi xướng Monlam Chenmo. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> được trao <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu</span> Ganden, tức Tusita (<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đâu Suất</span>) trong Tạng ngữ – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cõi Tịnh độ của Phật</span> tương lai – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đức Di</span> Lặc. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuối cùng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> lớn nhất ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, có lẽ là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế giới</span>, và được xem là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Gelug. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mong ước</span> của Ngài là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại diện</span> ba tầng cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đàn tràng</span> của ba vị Tôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> Anuttarayoga <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> của Ngài: Guhyasamaja, Vajrabhairava và Chakrasamvara. Các ngôi chùa cho chúng được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thành</span> vào năm 1415; các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đàn tràng</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chư Tôn</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an vị</span> vào năm 1417. Những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> này được xem là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> vĩ đại thứ tư của Ngài. Ngài được xem là vị trì giữ ngai tòa đầu tiên của Ganden hay Ganden Tripa, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu</span> mà các vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trụ trì</span> nối tiếp của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> nắm giữ.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài Tsongkhapa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên tịch</span> năm 1419 tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Ganden, sau khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thành</span> Làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sáng Tỏ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tư Tưởng</span> vào năm 1418. Ngài 62 tuổi và được tin là đạt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> nhờ các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du già</span> trong quá trình chết, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">huyễn thân</span>. Thân Ngài được lưu giữ trong một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo tháp</span> ngọc tại Ganden. Sự qua đời của Ngài được kỷ niệm bằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lễ hội</span> Ganden Ngachod <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thường niên</span>, tức “Cúng Dường Ngày Hai Mươi Lăm Của Ganden”, trong đó, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tín đồ</span> đốt đèn bơ trên mái nhà và bệ cửa sổ. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bổ nhiệm</span> Gyaltsab Je Darma Rinchen (1364 - 1432) là vị kế nhiệm, người lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bổ nhiệm</span> Khedrub Je Gelek Palzang (1385 - 1438) là vị trì giữ ngai tòa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kế tiếp</span> của Ganden.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngoài các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> của mình, nhiều vị trong đó Ngài Tsongkhapa cũng giảng dạy lại, Ngài có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lỗi lạc</span> khác. Chư vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> Gyaltsab, Khedrub và Shakya Yeshe. Các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> khác gồm Gendun Drub, vị sau khi qua đời được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công nhận</span> là Dalai Lama thứ Nhất (1391 - 1474) và Jamyang Choje Tashi Palden (1379 - 1449), vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng lập</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Drepung vào năm 1416. Ngày nay, Khedrub Je và Gyaltsab Je được xem là những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> xuất sắc nhất của Ngài Tsongkhapa, mặc dù điều này thực sự có đúng hay không còn bị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi ngờ</span> bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới học</span> thuật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện đại</span>. Duldzin Drakpa Gyaltsen (1374 - 1434), một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> thân cận, lấy ví dụ, đã bị đẩy xuống một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">địa vị</span> thấp hơn bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> sau đó. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tuy nhiên</span>, tất cả những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> này đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> hoằng dương <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> của Ngài nhờ giảng dạy và trước tác cũng như các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span> khác như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành lập</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span>, điều giúp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> Gelug định hình.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Joona Repa </strong>[1]
<p style="text-align: justify;"><em>Việt ngữ: Pema Jyana</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn Anh ngữ: <a href="https://treasuryoflives.org/biographies/view/Tsongkhapa-Lobzang-Drakpa/8986">Tsongkhapa Lobzang Drakpa</a></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>[1] Joona Repa hiện đang là một nhà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Khoa Văn</span> Hóa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thế Giới</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại Học</span> Helsinki.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tieu-su-van-tat-duc-tsongkhapa-lobzang-drakpa/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử ngắn Đức Sharpa Chojey Jetsun Lobsang Tenzin Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/dao-su-truyen-thua/tieu-su-ngan-duc-sharpa-chojey-jetsun-lobsang-tenzin-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/dao-su-truyen-thua/tieu-su-ngan-duc-sharpa-chojey-jetsun-lobsang-tenzin-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 23 Apr 2017 01:56:58 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Đạo sư Gelug]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7594</guid>
		<description><![CDATA[Đức Sharpa Chojey Jetsun Lobsang Tenzin Rinpoche sinh năm 1937 trong gia đình Sesha tại làng Yara nằm ở phía đông nam của tu viện Yagra Tsem thuộc tỉnh Dechen, miền Đông Tây Tạng. Ngài gia nhập Tu vện Tsem khi lên 9 để học các chương trình căn bản. Sau đó, Ngài gia nhập Đại Tu Viện Drepung Loseling&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/dao-su-truyen-thua/tieu-su-ngan-duc-sharpa-chojey-jetsun-lobsang-tenzin-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/12108848_428320774045097_1006745502447144983_n.jpg"><img class="  wp-image-7596 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/12108848_428320774045097_1006745502447144983_n-203x300.jpg" alt="12108848_428320774045097_1006745502447144983_n" width="328" height="485" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Đức Sharpa Chojey Jetsun Lobsang Tenzin Rinpoche sinh năm 1937 trong gia đình Sesha tại làng Yara nằm ở phía đông nam của tu viện Yagra Tsem thuộc tỉnh Dechen, miền Đông Tây Tạng. Ngài gia nhập Tu vện Tsem khi lên 9 để học các chương trình căn bản. Sau đó, Ngài gia nhập Đại Tu Viện Drepung Loseling để học nâng cao. Tại đây, Ngài đã nhận được rất nhiều Giáo lý từ nhiều Bậc Đạo sư tâm linh như Đức Khensur Pema Gyaltsen Rinpoche, Đức Shakor Khen Rinpoche Nyima Gyaltsen, Đức Kyabje Denma Loche Rinpoche hay Đức Tehor Gen Lobsang Dhondup. Ngài cũng nhận được rất nhiều chỉ dậy trực tiếp từ Đức Dalai Lama và từ hai Bổn sư của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1959, Ngài dời Tây Tạng theo bước chân của Đức Dalai Lama  14 và tiếp tục học tập tại Buxar. Năm 1964, Ngài thọ giới tỳ kheo từ Đức Dalai Lama  14 tại Dharamshala. Cùng với việc rất nhiều tu viện lớn từ Tây Tạng di chuyển về miền Nam Ấn Độ, Ngài đã chọn Tu Viện Drepung Loseling là nơi để Ngài tiếp tục nghiên cứu và phụng sự.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1982, Ngài nhận Học vị Geshe Lharampa, bằng Tiến sĩ về Phật học, mức độ đào tạo cao nhất của Phật giáo Tây Tạng [ND: Học vị Geshe có bốn cấp: Dorampa, Lingtse, Tsorampa và cao nhất là Lharampa]. Năm 1983, Ngài gia nhập Tu viện Gyuto Tantric để nghiên cứu thêm về Mật điển. Từ năm 1987 đến năm 1989, Ngài làm hiệu trưởng của Tu viện Drepung Tsokchen và Tu viện Loseling.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào năm 1990, Đức Dalai Lama  14 đã chỉ định Ngài là Lama Umse, trợ tá tu viện Gyuto và sau đó bổ nhiệm Ngài làm trụ trì tu viện Gyuto vào năm 1993. Sau khi hoàn thành nhiệm kỳ trụ trì thứ 119 của tu viện Gyuto, Ngài quay trở lại tu viện Drepung để tiếp tục giảng dậy và đào tạo các Tăng sĩ để họ có thể đạt được học vị Geshe.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 2003, Ngài được phong tước vị Sharpa Chojey của Tu viện Gaden. Tu viện Gaden có hai vị trụ trì, trụ trị của Gaden Shartse và trụ trì của Gaden Jangtse. Ganden Tripa có nghĩa là bậc trì giữ ngôi báu của Tổ Đình Ganden, việc phong tước hiệu này được diễn ra định kỳ bảy năm một lần, từ một trong hai vị trụ trì – Chojey xen kẽ nhau, và Đức Jetsun Lobsang Tenzin Rinpoche được Đức Dalai Lama 14 bổ nhiệm làm Ganden Tripa vào tháng 10/2016.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn:http://tibet.net/2017/04/103rd-gaden-tripa-h-e-jetsun-lobsang-tenzin-rinpoche-passes-away/</em></p>
<p style="text-align: justify;">Việt ngữ: Padma Trinle</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính: Giác nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với Đức Sharpa Chojey Jetsun Lobsang Tenzin Rinpoche đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong mọi pháp sự lợi sanh của Ngài đều viên mãn thành tựu. </em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/dao-su-truyen-thua/tieu-su-ngan-duc-sharpa-chojey-jetsun-lobsang-tenzin-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử sơ lược Đức Lama Zopa Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/7254/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/7254/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 15 Feb 2017 14:07:06 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Gelug]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Gelug]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7254</guid>
		<description><![CDATA[Lama Zopa Rinpoche, bậc Thầy dẫn dắt tâm linh của Tổ chức Bảo Tồn Truyền Thống Phật Giáo Đại thừa (FPMT), Ngài là Hóa thân của hành giả Sherpa Nyingma Kunsang Yeshe, Lawudo Lama. Đức Lama Zopa Rinpoche sinh năm 1946 tại Thami, cách hang động Lawudo không xa lắm, thuộc vùng núi Everest - Nepal, nơi tiền thân của&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/7254/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Lama Zopa Rinpoche, bậc Thầy dẫn dắt tâm linh của Tổ chức Bảo Tồn Truyền Thống Phật Giáo Đại thừa (FPMT), Ngài là Hóa thân của hành giả Sherpa Nyingma Kunsang Yeshe, Lawudo Lama. Đức Lama Zopa Rinpoche sinh năm 1946 tại Thami, cách hang động Lawudo không xa lắm, thuộc vùng núi Everest - Nepal, nơi tiền thân của Ngài đã hành thiền suốt 20 năm cuối đời. Trong khi vị tiền thân thực hành theo Truyền thống Sakya, thì Lawudo Lama là một Đạo sư vĩ đại nắm giữ các giáo lý ẩn mật của truyền thống Nyingma.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Lama Zopa Rinpoche đã rời khỏi Thami khi Ngài khoảng 4 tuổi và được đưa đến Tu viện rất gần biên giới Nepal và Tây Tạng. Lama Zopa Rinpoche đã ở Tu viện khoảng vài năm cho đến khi đến Tây Tạng để thọ giới Sadi vào năm 1958 và tiếp tục việc nghiên cứu tu học tại Tu viện của Domo Geshe ở Phagri, Tây Tạng.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Đức Dalai Lama 14 và Lama Zopa Rinpoche</i></b></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Năm 1959, Lama Zopa Rinpoche đã vượt thoát khỏi Tây Tạng và tiếp tục việc tu học tại Tu viện Sera Jhe ở Buxa Duar thuộc miền Bắc Ấn Độ. Tại đây, chính phủ Ấn Độ đã cung cấp nơi ở cho các tu sĩ đến từ Tu viện Sera, Ganden và Drepung những người muốn tiếp tục việc nghiên cứu tu học cùng các tu sĩ thuộc các môn phái khác. Chính tại Buxa Duar, Lama Zopa Rinpoche đã trở thành đệ tử của Đức Geshe Rabten Rinpoche và sau đó là đệ tử của Lama Thubten Yeshe. Frida Bedi sau đó đã mời Đức Lama Zopa Rinpoche đến tham gia tu học tại ngôi trường bà xây dựng dành cho các vị Lama Hóa thân.Việc tiếp xúc với người phương Tây của Lama Zopa Rinpoche bắt đầu năm 1965 tại Darjeeling. Khi gặp công chúa Zina Rachevsky người Nga, Cô đã trở thành đệ tử phương Tây đầu tiên của Rinpoche. Năm 1969, Ngài đã thành lập Trung tâm Mahayana Gompa tại Kopan, phía trên Đại Bảo tháp Boudhnath ở Kathmandu, Nepal.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><b><i>Lama Yeshe Rinpoche và Lama Zopa Rinpoche</i></b></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Theo sự thỉnh cầu của Zina Rachevsky, các vị Lama bắt đầu giảng dạy các khóa học Phật giáo cho người phương Tây ở Kopan. Năm 1971, Lama Zopa Rinpoche đã thọ giới Tỳ khưu từ Đức Pháp Vương Ling Rinpoche tại Bồ Đề Đạo Tràng. Trước năm 1975, có 12 trung tâm đã bắt đầu đi vào hoạt động. Năm 1976, tổ chức được đặt tên là Tổ chức Bảo tồn truyền thống Phật Giáo Đại thừa (FPMT).</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Lama Zopa Rinpoche có rất nhiều dự án khác nhau trên thế giới, một trong những dự án quan trọng là Tôn tượng Phật Di Lặc cao 500 foot mà Rinpoche đang xây dựng tại Bồ Đề Đạo Tràng, bao gồm các trường học, bệnh viện và các dự án xã hội như các phòng khám bệnh cùi và những dự án xã hội này đã tồn tại và đi vào hoạt động được 15 năm. Một số dự án khác mà Lama Zopa Rinpoche đang thực hiện là quỹ thực phẩm Sera Jhe - cung cấp thức ăn, các bữa ăn sáng, trưa, tối hàng ngày cho 2500 tu sĩ. Quỹ mang tên Lama Tsongkhapa đã cung cấp nguồn trợ cấp cho 100 vị Thầy chính thuộc Truyền thống Gelugpa từ các tu viện khác nhau. Lama Zopa Rinpoche cũng có rất nhiều quỹ xây dựng các Dự án tâm linh như Bảo tháp, Kinh luân ... Lama Zopa Rinpoche có một đam mê mạnh mẽ trong việc thu thập các bản văn Giáo Pháp từ tất cả các truyền thống khác nhau.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Nguồn: http://www.buddhanet.net/masters/zopa.htm</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Việt ngữ: Sonam Lhamo (Nhóm Viet Rigpa Lotsawas)</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Hiệu đính: Giác nhiên</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với Đức Lama Zopa Rinpoche đều được Ngài dẫn dắt liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này cầu mong Ngài sớm quang lâm đến Việt Nam.</span></i></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/7254/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Lama Tenzin Khenrab Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tieu-su-lama-tenzin-khenrab-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tieu-su-lama-tenzin-khenrab-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 16 Nov 2016 18:25:25 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Gelug]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Gelug]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7124</guid>
		<description><![CDATA[Cùng với Ngài Tu viện trưởng Tu viện Namgyal ở Bắc Ấn Độ là Thamthog Rinpoche, Lama Tenzin Khenrab Rinpoche thuộc dòng truyền thừa Thamthog. Giữa hai vị là mối quan hệ tương hỗ Thầy – Trò qua nhiều đời tái sinh, cho đến nay Lama Tenzin Khenrab Rinpoche là đời tái sinh thứ 13. Lama Tenzin Khenrab Rinpoche được&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tieu-su-lama-tenzin-khenrab-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Cùng với Ngài Tu viện trưởng Tu viện Namgyal ở Bắc Ấn Độ là Thamthog Rinpoche, Lama Tenzin Khenrab Rinpoche thuộc dòng truyền thừa Thamthog. Giữa hai vị là mối quan hệ tương hỗ Thầy – Trò qua nhiều đời tái sinh, cho đến nay Lama Tenzin Khenrab Rinpoche là đời tái sinh thứ 13.</p>
<p style="text-align: justify;">Lama Tenzin Khenrab Rinpoche được công nhận là tái sinh của Ngài Lhalung Pelgyi Dorje, một trong 25 đệ tử trực tiếp của Đại sư Liên Hoa Sinh (người đã đưa Phật Giáo du nhập từ Ấn Độ vào Tây Tạng thế kỷ thứ 8.) Vào thời đó, Ngài Lhalung Pelgyi Dorje đã chặn đứng việc phá hoại Phật Giáo ở Tây Tạng bằng cách tiêu diệt vị vua tàn độc Langarma.</p>
<p style="text-align: justify;">Sinh tại Ấn Độ năm 1978, Lama Tenzin Khenrab Rinpoche lớn lên và học tại Tu viện Sera Jhe. Mặc dù còn trẻ, Ngài đã hoằng pháp và hướng dẫn tu tập từ rất sớm cho các Phật tử ở Ấn Độ và nhiều nước phương Tây.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 2010, Ngài trở thành Giáo thọ tại Viện Nghiên cứu Phật Giáo Tây Tạng mang tên Ghe Pel Ling (thuộc thành phố Milan, Ý) và Ngài cũng thường giảng dạy tại hai ni viện ở Sondrio và Bordighera.<br />
Năm 2012, Khenrab Rinpoche lập ra Trung tâm Canary Ghe Pel Ling và giảng dạy thường xuyên tại đây. Cùng với Ngài Thamthog Rinpoche, Khenrab Rinpoche đã tham gia tổ chức chuyến hoằng pháp của Đức Dalai Lama đến Milan với hơn 10.000 người tham dự.</p>
<p style="text-align: justify;">
Do Lama Khenrab Rinpoche rất am hiểu cách tư duy của người phương Tây, gần đây Ngài thường xuyên được Trường Đại học Trento thỉnh giảng và tham gia vào chương trình hợp tác đa tôn giáo để đưa pháp tu thiền vào việc cải thiện sức khỏe tâm lý, thu hút đông đảo người theo học ở Ý và nhiều nước khác.</p>
<p><em>Nguồn: http://www.phendeling.net/introduce#Tenzin-Khenrab-Rinpoche</em></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tieu-su-lama-tenzin-khenrab-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Đức Thamthog Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tieu-su-duc-thamthog-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tieu-su-duc-thamthog-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 16 Nov 2016 18:22:25 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Gelug]]></category>
		<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Sùng kính Đạo Sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Gelug]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7121</guid>
		<description><![CDATA[Thamthog Rinpoche thuộc dòng tái sinh Thamthog. Ngài sinh ở miền Đông Tây Tạng vùng Lithang. Khi lên năm tuổi, giáo thọ của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Trijang Rinpoche, đã nhận ra Ngài là Thamthog Rinpoche thứ mười ba. Để nhận ra Ngài, người ta đã đưa cho Ngài nhiều đồ vật và Ngài đã nhanh chóng nhận ra&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tieu-su-duc-thamthog-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Thamthog Rinpoche thuộc dòng tái sinh Thamthog. Ngài sinh ở miền Đông Tây Tạng vùng Lithang. Khi lên năm tuổi, giáo thọ của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Trijang Rinpoche, đã nhận ra Ngài là Thamthog Rinpoche thứ mười ba.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Để nhận ra Ngài, người ta đã đưa cho Ngài nhiều đồ vật và Ngài đã nhanh chóng nhận ra tất cả những món đồ Ngài đã dùng trong đời trước.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài được đưa về tu viện Lithang tỉnh Kham, do Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười ba thành lập. Lúc đó toàn bộ bảy ngàn tăng ở tu viện đã tham dự lễ công nhận Thamthog Rinpoche.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài sống ở tu viện cùng các đạo sư và bắt đầu học thuộc kinh điển và văn hoá Tây Tạng cho đến năm tám tuổi. Lúc đó cách mạng văn hoá ở Trung quốc bắt đầu, người Trung Quốc đến Lithang; Rinpoche rời Lithang về Lhasa, thủ đô Tây Tạng, trú xứ của Đức Đạt Lai Lạt Ma.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài học triết học ở tu viện Sera Je ở Lhasa. Giáo thọ của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Ling Rinpoche đã ban giới Sa Di (tiếng Tạng là Getsul) cho Ngài. Ngài cũng nhận pháp từ Đức Đạt Lai Lạt Ma ở Lhasa. Những pháp đầu tiên là Lam Rim và Kalachakra.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm 1959 Rinpoche mười một tuổi và trốn sang Ấn Độ. Cuộc hành trình đi bộ kéo dài bốn tháng; Rinpoche chỉ có quần áo mặc trên người và đã lặn lội dưới trời mưa, tuyết, dưới làn đạn của quân đội Trung Quốc suýt giết chết Ngài nhiều lần. Ngài đã trải qua nhiều sợ hãi và khó khăn gian khổ nhưng đó là một trải nghiệm quan trọng trong cuộc đời Ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bốn tháng sau, cuối cùng Ngài cũng đến được Ấn Độ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Từ đó Rinpoche tị nạn ở Ấn Độ như Đức Đạt Lai Lạt Ma. Ngài rất nghèo, tìm được thức ăn và quần áo rất khó khăn nên suốt ba năm liền Ngài không có giày dép để đi, vì không có tiền để mua. Nhưng một lần nữa, đó là trải nghiệm rất tốt và là bài học rất quan trọng với Ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nhờ lòng từ của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Rinpoche được đi học lại triết học Phật Giáo ở tu viện Sera Je miền Nam Ấn. Ngài đã tu học trong hơn hai mươi năm. Ở tuổi hai mươi Ngài thọ giới Tỳ Kheo (tiếng Tạng là Gelhong).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngài còn nhận rất nhiều lễ quán đảnh quan trọng, pháp và luận giải của nhiều dòng truyền thừa khác nhau.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm 1982 Rinpoche trở thành tiến sĩ, một trong những bằng cấp cao nhất trong Phật học, sau đó Ngài vào trường đại học Mật để hoàn thiện kiến thức và các nghi lễ Mật giáo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Rinpoche được mời đến Ý nên Ngài đến Milan, cùng với Geshe Tenzin Gonpo Ngài đã quản lý Viện Ghe Pel Ling ở Milan. Lúc mới đầu chỉ có mười, mười hai đệ tử, hiện nay đã có hơn 3.600 thành viên. Rinpoche đã tổ chức nhiều hoạt động ở Ý và cũng đã thỉnh Đức Đạt Lai Lạt Ma đến Milan thuyết pháp năm lần. Rinpoche từng trở lại Lithang cùng hơn 40 đệ tử người Ý. Ngài đã thành lập một trường học và một bệnh viện ở đó, giúp cho người dân địa phương học tập và duy trì văn hoá cũng như chăm lo cho sức khỏe của họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong suốt thời gian đó Rinpoche đã giúp đỡ, chu cấp cho nhiều tu viện ở Ấn Độ và luôn cống hiến đời mình cho người khác và nhận lãnh trách nhiệm chăm sóc họ. Ngài cũng đã đến Usa và nhiều nước phương Đông để thuyết pháp, Ngài có nhiều đệ tử ở khắp nơi trên thế giới.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm 2010 Đức Đạt Lai Lạt Ma bổ nhiệm Rinpoche làm tu viện trưởng tu viện riêng của Đức Ngài ở Dharamsala, tu viện Namgyal. Tháng tám năm đó Ngài nhậm chức tu viện trưởng và đến nay cuộc đời Ngài được cống hiến hoàn toàn cho việc quản lý tu viện và phụng sự Đức Đạt Lai Lạt Ma. Ngài cũng được bổ nhiệm điều hành một trong chín văn phòng của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Rinpoche đang nỗ lực rất nhiều cho tu viện và phụng sự Đức Đạt Lai Lạt Ma, tận hiến sức lực và thời gian cho hoạt động quan trọng này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span style="font-weight: 400;">Nguồn: http://www.phendeling.net/introduce</span></i></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tieu-su-duc-thamthog-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử sơ lược Đức Samdhong Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tieu-su-so-luoc-duc-samdhong-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tieu-su-so-luoc-duc-samdhong-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 26 Sep 2016 04:30:39 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Gelug]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Gelug]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7053</guid>
		<description><![CDATA[Đức Samdhong Rinpoche sinh trưởng tại vùng Jol thuộc miền Đông Tây Tạng vào năm 1939. Khi lên 5 tuổi, Đức Samdhong Rinpoche được công nhận bởi các bậc Đạo sư siêu phàm trong vùng là Hóa thân của Đức Samdhong Rinpoche đời thứ 4, và buổi lễ đăng quang chính thức đã được tổ chức tại Tu viện Jol&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tieu-su-so-luoc-duc-samdhong-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Đức Samdhong Rinpoche sinh trưởng tại vùng Jol thuộc miền Đông Tây Tạng vào năm 1939. Khi lên 5 tuổi, Đức Samdhong Rinpoche được công nhận bởi các bậc Đạo sư siêu phàm trong vùng là Hóa thân của Đức Samdhong Rinpoche đời thứ 4, và buổi lễ đăng quang chính thức đã được tổ chức tại Tu viện Jol Gadhan Dhechenling. Sau 2 năm, Đức Samdhong Rinpoche đã thọ giới nguyện tu sĩ và bắt đầu vào nghiên cứu tu học, học các môn học cơ bản như ngữ pháp ... và nghiên cứu thực hành tâm linh theo Lộ trình Lamrim (Đạo lộ giác ngộ) và các bản văn khác, dưới sự dẫn dắt của vị Thầy vĩ đại, Đức Ngawang Jinpa Rinpoche tôn kính và 6 vị Thầy khác. Sau cuộc đổ bộ của người Trung Quốc vào Tây Tạng, cùng với Đức Pháp Vương Dalai Lama thứ 14, Tenzin Gyatso. Đức Samdhong Rinpoche bị buộc phải lưu vong và là tị nạn ở Dharamsala - Ấn Độ.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/alai-Lama-speaks-with-Tib-006.jpg"><img class="  wp-image-7054 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/alai-Lama-speaks-with-Tib-006-300x199.jpg" alt="alai-lama-speaks-with-tib-006" width="617" height="409" /></a><strong>Đức Dalai Lama 14th và Đức Samdhong Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Cũng vào mùa đông năm 1959, năm đó Đức Samdhong Rinpoche 20 tuổi và Ngài đã thọ nhận toàn bộ giới nguyện Tỳ kheo (Bhiksu) tại Bồ Đề Đạo Tràng từ Đức Pháp Vương Dalai Lama 14 đang là Tu viện trưởng;  Vị Thầy dạy riêng - Nhiếp  Chính Vương Kyabjey Ling Dorjechang là thầy dạy về các thủ tục trong nghi lễ; Đức Tsenshab Serkong Dorjechang là người hỏi bí mật; cùng sự hiện diện của Nhiếp Chính Vương - Thầy Kyabjey Trijang Dorjechang, đại diện cho hội chúng Tăng già.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/19october20091.jpg"><img class="  wp-image-7055 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/19october20091-300x204.jpg" alt="19october20091" width="601" height="409" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Đức Karmapa 17th và Đức Samdhong Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1960, Đức Samdhong Rinpoche đã được chính Đức Pháp Vương Dalai Lama 14 khuyên phụng sự cho Ban quản lý Tây Tạng ở Dharamshala - Ấn Độ, nơi Đức Samdhong Rinpoche đã thọ nhận các giáo lý từ các Nhiếp Chính vương hai vị Thầy dạy riêng và Đức Tehor Kyorpon Rinpoche.</p>
<p style="text-align: left;"><em>Nguồn: http://samdhongrinpoche.com/en/an-brief-biography-of-prof-samdhong-rinpoche/</em></p>
<p style="text-align: left;">Việt ngữ: Tara Devi (Nhóm Viet Rigpa Lotsawas)<br />
Hiệu đính: Giác nhiên</p>
<p style="text-align: left;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với Đức Samdhong Rinpoche đều được Ngài dẫn dắt liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này mọi Ngài hạnh nguyện của Ngài đều Viên Thành.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/tieu-su-so-luoc-duc-samdhong-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Hóa thân của Đức Dalai Lama</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/hoa-than-cua-duc-dalai-lama/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/hoa-than-cua-duc-dalai-lama/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 27 Jun 2016 08:00:04 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Gelug]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Gelug]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6888</guid>
		<description><![CDATA[Danh từ Hoá thân được dịch từ chữ Tulkus và được hiểu như đã nói trên. Thật sự từ Hóa thân chỉ dùng cho những vị Bồ tát còn muốn tái sanh trở lại. Nhiều sách vở đôi khi còn dịch chữ Hóa thân qua từ “Reincarnation”. Từ “Reincarnation” chỉ sự đầu thai lại của tất cả những chúng sanh&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/hoa-than-cua-duc-dalai-lama/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Danh từ Hoá thân được dịch từ chữ Tulkus và được hiểu như đã nói trên. Thật sự từ Hóa thân chỉ dùng cho những vị Bồ tát còn muốn tái sanh trở lại. Nhiều sách vở đôi khi còn dịch chữ Hóa thân qua từ “Reincarnation”. Từ “Reincarnation” chỉ sự đầu thai lại của tất cả những chúng sanh còn bị nghiệp quả luân hồi tác động. Trái lại từ Tulkus chỉ sự đầu thai trở lại theo ý muốn, vì người đầu thai này thật sự đã thoát khỏi sự ràng buộc của luân hồi. Những vị này sau khi đã đầu thai rồi, họ vẫn ý thức được rất rõ ràng về kiếp trước của mình và biết rằng mình tái sanh trở lại là để thực hiện một ý tưởng vị tha cao cả cho chúng sanh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Theo các tài liệu nghiên cứu về Phật giáo Tây Tạng và nhất là những cuộc đời của Đức Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng mà chúng tôi may mắn đã có được một tài liệu giá trị của tác giả Phương Dung viết về đề tài này trên báo Hồn Việt và báo Việt Nam (1993), thì từ năm 1419 Tây Tạng đã có truyền thống về sự Hóa thân khi Đại sư Tsong Khapa qua đời. Vị này đã chỉ định Gedun Truppa thay thế mình. Chính vị sư này đã nguyện rằng sau khi chết, sẽ tái sanh trở lại để cứu độ chúng sanh và hoàn tất những gì mình chưa làm xong, cũng như phát triển việc huấn luyện các tu sĩ phái Gelugpas thường được gọi là phái Mũ Vàng, lúc đó đang gặp nhiều khó khăn trở ngại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Theo Đại sư Gedun Truppa thì khi hóa thân trở lại trần gian, ông sẽ đầu thai trở lại qua các vị Đạt Lai Lạt Ma. Để các đệ tử biết được mình sẽ hóa thân vào người nào, Đại sư đã chỉ rõ một vài thứ đồ dùng hàng ngày của mình và viết một bài kệ đặc biệt. Ngày sau cứ theo đó mà suy đoán. Sau khi Đại sư Gedun Truppa viên tịch được hai năm, các đệ tử đã thăm dò, theo dõi, tìm kiếm khắp nơi những gì khả dĩ nói lên được sự tái sanh của Đại sư.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Lúc bấy giờ ở một vùng kế cận thủ đô, có một bé trai mới hai tuổi, nhưng ăn nói và hiểu biết thông thạo như người lớn. Nghe được tin này, các đệ tử của Đại sư đã tìm đến tiếp xúc. Họ thấy đứa bé trả lời những câu hỏi do họ đưa ra rất trôi chảy. Sau đó là cuộc thử thách, họ đặt những di vật của Đại sư Gedun Truppa lẫn lộn với nhiều đồ vật của những vị sư khác trong tu viện trước mặt cậu bé, rồi hỏi như sau:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">- Hãy cho biết những thứ nào người đã thường dùng ngày xưa?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cậu bé nhìn tất cả các thứ, rồi lựa những di vật của Đại sư Gedun Truppa để riêng ra một bên và nói:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">- Đây là những thứ tôi thường dùng ngày trước.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Các đệ tử vô cùng kinh ngạc, một người nhớ lại bài kệ liền đưa cho cậu bé đọc thử. Không ngờ vào tuổi nhỏ như vậy mà cậu bé lại đọc được cả bài kệ và còn giải thích luôn những đoạn khó hiểu cho mọi người nghe.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Sau khi đã chắc chắn đó là vị Hóa thân của Đại sư Gedun Truppa. Các đệ tử đã rước cậu bé về tu viện và tôn lên làm Sư trưởng với danh hiệu là Gedun Gyatso. Tại tu viện, cậu bé được huấn luyện rất kỹ về giáo lý, quy luật và mọi thứ dành cho một vị sư trưởng sau này. Gedun Gyatso rất thông minh, học một biết mười, có lần cậu bé thấy nhiều người trong tu viện kinh ngạc về trí thông minh của mình, nên đã nói một câu như sau:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">- Thế các người không biết ta chính là Đại sư Gedun Truppa hay sao?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Về sau, cậu bé đã lớn lên trong tu viện cùng với các tài năng xuất chúng của mình. Lúc bấy giờ ông là một Sư trưởng nổi danh về tài đức, thông suốt mọi kinh điển Phật giáo và đã đi rao giảng, giúp đỡ mọi người từ những làng mạc xa xôi đến những nơi heo hút, khiến mọi người dân ở Tây Tạng đều tôn sùng kính nể. Sư trưởng có nhiều ước nguyện trong vấn đề cứu độ chúng sanh. Nhưng chưa thực hiện được bao nhiêu thì bị bệnh bất ngờ và qua đời. Trước khi tắt hơi, vị Sư trưởng này đã trăn trối lại là mình sẽ tái sanh lần nữa để mong hoàn tất ý nguyện. Lần này, ông để lại một số di vật khác trước và một bài kệ mới, để các đệ tử dùng trong việc tìm ra người mà Sư trưởng sẽ đầu thai vào.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Không đầy một năm rưỡi sau, người ta phát hiện được ở một ngôi làng rất xa thủ đô có một cậu bé ra đời trong một gia đình nghèo. Bé này có những cử chỉ và lời nói rất lạ lùng, luôn luôn tỏ vẻ nôn nóng và yêu cầu được về đến tu viện chính để gặp mặt một số vị sư ở đó. Tu viện chính liền cử ba người đến ngôi làng ấy. Khi đi, họ đem theo các di vật của Sư trưởng cùng bài kệ. Trước lúc phái đoàn đến nhà một ngày, cháu bé này đã báo cho gia đình biết là: "Ngày mai sẽ có khách quí đến thăm, hãy chuẩn bị trà nước đón khách".</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Quả nhiên ngày hôm sau phái đoàn tu sĩ của tu viện chính đến, cháu bé đã nhận ra một người trong đoàn, đó là một vị sư già thường lo việc giao tiếp giữa các ngôi chùa, các tu viện. Cháu bé đã hỏi thăm về tình hình ở tu viện cùng những việc mà lúc sanh tiền, Sư trưởng Gedun Gyatso đã biết qua. Các vị sư lại bày ra các di vật của Sư trưởng chen lẫn với những thứ khác vào và yêu cầu cháu bé chọn ra hai đồ vật mà trước đây Sư trưởng Gedun Gyatso thường dùng. Cháu bé đã lấy ra hai vật đúng là của vị Sư trưởng và còn chỉ vào một vật thứ ba mà bảo rằng:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">- Vật này ta thường dùng hàng ngày. Nhớ giữ gìn cẩn thận kẻo sứt mẻ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Riêng bài kệ, cháu đọc thông suốt và còn bảo rằng: "Bài kệ ngày xưa vẫn còn lưu trữ tại tu viện chứ?"</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cháu bé được tôn vinh sau đó làm vị Đại sư tên là Sonaw Gyatso. Đây là vị Đại sư tài ba lỗi lạc còn hơn cả vị Sư trưởng trước. Điều này được các vị Trưởng lão giải thích rằng: qua nhiều lần tái sanh và học hỏi, lần tái sanh sau bao giờ cũng đặc sắc hơn vì đây là một sự tiến hóa, trong đó có sự tiến hóa rõ ràng về kiến thức. Hơn nữa vì sự hóa thân, các vị này luôn luôn tu bồi thêm công quả và sự học hỏi của mình. Đại sư Sonaw Gyatso đã là người tạo sự giác ngộ lạ lùng cho danh tướng hung dữ Đại Hãn và cũng từ đó, tướng Mông Cổ này đã phong Đại sư làm Đạt Lai Lạt Ma và cầu mong Đại sư bảo vệ và giáo hóa cho người Mông Cổ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Năm 1588, Đại sư Sonaw Gyatso qua đời, lần này vị Đại sư căn dặn các đệ tử trước khi xuôi tay là mình sẽ lại tái sanh một lần nữa để cứu độ người Mông Cổ. Vị Đại sư đã để lại một số di vật và một bài kệ ngắn để các đệ tử đối chiếu và tìm kiếm người hóa thân.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Đến khoảng năm 1593, các đệ tử mới tìm gặp một bé trai năm tuổi có những điều rất phù hợp với cuộc thử nghiệm. Đứa bé này được đưa về tu viện và phong danh hiệu là Yonsten Gyatso. Tưởng nên biết rằng bé trai này gốc gác là cháu nội của Đại Hãn Mông Cổ. Về sau, bé trai này trở thành vị Đạt Lai Lạt Ma và chính nhờ vị này mà nhân dân Mông Cổ trải qua được một thời đại vững bền, an cư lạc nghiệp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Khi Yonsten Gyatso, vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 4 này qua đời, các đệ tử lại theo truyền thống như trình bày từ trước để tìm ra người kế vị. Đó là Hóa thân của chính Yonsten Gyatso. Đây là vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 danh hiệu là Lobsang Gyatso. Trong đời ngài, cung điện Potala được xây dựng cùng với nhiều tu viện và đào tạo nhiều tu sĩ có nhiều khả năng từ đạo đức đến học vấn. Tây Tạng nhờ đó ngày càng phát triển mạnh mẽ về nhiều mặt. Các vị Đạt Lai Lạt Ma tuần tự nối tiếp theo phương thức Hóa thân đã cố gắng chăm sóc nhân dân và gìn giữ đất nước được độc lập lâu dài trong suốt mấy trăm năm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Nhưng rồi tai họa lại xảy đến cho toàn dân vì Tây Tạng nằm bên áp lực của những nước lớn như Nga và Trung Quốc, ngoài ra còn chịu áp lực của những nước khác nữa. Lúc bấy giờ, vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 của Tây Tạng là Thupten Gyatso đã tìm đủ mọi cách để chống đỡ đất nước, nhưng càng ngày Tây Tạng càng bị ngoại bang dòm ngó. Ngài biết trước thế nào đất nước ngài cũng gặp thảm họa, nhưng ngài lại không thể sống thêm để cứu nguy dân tộc và đạo pháp. Sau khi ngài qua đời, Trung Quốc tung quân xâm lược, đàn áp người dân Tây Tạng và tìm cách triệt hạ tôn giáo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Tục truyền rằng, khi vị Đạt Lai Lạt Ma Thupten Gyatso qua đời, nhục thân ngài ở vị thế ngồi tĩnh tọa và được ướp xác theo phương thức cổ truyền. Nhưng sau đó, các vị tu sĩ thấy mặt ngài đã chuyển về hướng Đông Bắc. Vị sư già nhiều kinh nghiệm đã suy ra rằng đức Đạt Lai Lạt Ma đã chỉ hướng, nơi mà ngài sẽ lại tái sanh. Từ đó cuộc tìm kiếm vị Hóa thân của ngài được tiến hành. Phái đoàn lên đường nhằm hướng Đông Bắc mà đi. Trên đường họ thu thập thêm các sự kiện có liên hệ. Một hôm, họ nghe đồn về một cháu trai độ ba tuổi rất thông minh và thường nhắc đến các vị sư cũng như thích kinh điển. Phái đoàn đến ngôi nhà đó. Đây là một ngôi nhà xây bằng đất, tọa lạc bên một cây cổ thụ xum xuê. Khi phái đoàn bước vào thì gặp cháu bé. Cháu bé rất vui mừng khi thấy các nhà sư vào nhà mình nên chạy vội đến và ngồi lên đùi một vị Trưởng lão hòa thượng, vì vị này có đeo một chuỗi hạt rất đẹp. Vị sư hỏi:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">- Tên người là gì?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cháu bé đáp:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">- Tôi là Lhamo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Vị sư lại chỉ một nhà sư đứng bên cạnh và hỏi:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">- Đây là ai?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cháu bé đáp:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">- Đây là Lạt Ma Scra.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Phái đoàn đã biết được phần nào kết quả khi trắc nghiệm cháu bé Lhamo, nhưng họ còn phải tìm hiểu thêm nữa trước khi quyết định tháp tùng Lhamo về tu viện. Lần sau, họ đưa ra một số xâu chuỗi khác nhau và yêu cầu Lhamo phân biệt thử xâu chuỗi nào là của đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 thường dùng. Lhamo liền bước đến dùng tay gạt những xâu chuỗi không đúng của đức Đạt Lai Lạt Ma ra và chỉ giữ lại xâu chuỗi của ngài đã dùng trước đây. Các vị tu sĩ đều kinh ngạc vì quả thật xâu chuỗi đó chính là xâu chuỗi của đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13. Các cuộc trắc nghiệm kế tiếp đều được Lhamo làm đúng hoàn toàn. Do đó, phái đoàn quyết định đưa Lhamo về kinh đô. Mặc dù đường sá khó khăn, lại thêm quân đội Trung Cộng gây cản trở, nhưng cuối cùng phái đoàn cũng đưa được Lhamo về cung điện Potala. Đến lúc gần năm tuổi, bé Lhamo chính thức được tôn vinh là đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14. Trong suốt 20 năm, vị Phật sống này phải được huấn luyện kỹ càng về mọi mặt. Tuy nhỏ tuổi nhưng ngài phải qua nhiều cuộc thử thách cam go về giờ giấc, học hành và nhất là thực hành các pháp môn và giáo lý Phật giáo... trong khi đó tình hình chính trị không yên, Trung Quốc tìm đủ cách để gây hấn. Vì thế năm 1959, đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 đã phải trong đêm khuya trốn khỏi điện Potala để vượt biên giới đến lánh nạn ở Ấn Độ.</span></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-gelug/hoa-than-cua-duc-dalai-lama/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
