<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Đạo sư Drikung</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-kagyn/drikung-kagyu/dao-su-drikung/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Fri, 17 Apr 2026 16:09:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Sơ lược tiểu sử Traga Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/so-luoc-tieu-su-traga-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/so-luoc-tieu-su-traga-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 06 Sep 2015 06:57:36 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Drikung Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Drikung]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=4325</guid>
		<description><![CDATA[Đại Sư Traga Rinpoche ra đời vào ngày 15 tháng 8 âm lịch Tây Tạng (năm 1954 Tây lịch). Thân phụ của Ngài là một đại hành giả cũng như các tổ phụ của Ngài từng là các hành giả danh tiếng trong giòng phái Cổ Mật. Khi được 4 tuổi, Lhotul Khakhyab Dorje thứ 9 chứng nhận Ngài là&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/so-luoc-tieu-su-traga-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Đại Sư Traga Rinpoche ra đời vào ngày 15 tháng 8 âm lịch Tây Tạng (năm 1954 Tây lịch). Thân phụ của Ngài là một đại hành giả cũng như các tổ phụ của Ngài từng là các hành giả danh tiếng trong giòng phái Cổ Mật.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi được 4 tuổi, Lhotul Khakhyab Dorje thứ 9 chứng nhận Ngài là hóa thân của chính sư phụ của mình, tức là hóa thân của Togden Tsondrue Tharchin, và đã xuống tóc cho Ngài. Tâm từ bi của Ngài đã hiển lộ ngay từ thuở nhỏ. Năm 13 tuổi, Ngài bắt đầu học Tạng văn, và năm 18 tuổi, y học Tây Tạng được cộng thêm vào chương trình học của Ngài. Năm 24 tuổi, Ngài du hành đến thủ đô Lhasa để chiêm ngưỡng tượng đức Phật Thích Ca. Và bắt đầu từ đó, Ngài đã may mắn được được thụ huấn với nhiều vị danh sư đương thời. Ngài nhập thất liên tục 7 năm để tu luyện bộ pháp Đại Viên Mãn (Dzogchen) dưới sự hướng dẫn của Ngài Khenpo Munse- một vị Thầy rất quan trọng.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 36 tuổi, Ngài tìm đến tu học với Khenchen Jigme Phuntsog và được truyền một bộ pháp cao thâm trước khi sư phụ qua đời. Sau đó Ngài nhập thất liên tục trong nhiều năm, đồng thời hoằng pháp và hướng dẫn Phật tử tụng niệm chú A Di Đà và Quán Âm. Cuối năm 1993, Ngài qua Ấn Độ được Sư Tổ của giòng Drikung Kagyu là H.H. Chetsang Rinpoche truyền dạy bộ pháp Phỉ Lạc Luân Xa (Chakrasamvara), Ngũ Cấp Đại Ấn (Five-fold Path of Mahamudra) cùng nhiều bộ pháp cao đẳng khác. Sau đó Ngài trở về Tây Tạng để hướng dẫn thiền sinh nhập thất theo lệnh của Sư Tổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1996, Ngài được mời qua Đài Loan thuyết giảng. Tại đây, ngoài những buổi giảng pháp và hành thiền, Ngài thể hiện sự khiêm cung của mình qua việc tham gia quét dọn, chấp tác trong thiền viện như mọi người. Năm 1998, kiến thức quảng bác và sự chứng nghiệm cao thâm của Ngài đã khiến Lamchen Gyalpo Rinpoche tấn phong cho chức 'Đạo Sư Cao Quý' (Lhopon). Garchen Rinpoche đã từng nói: 'Giữa ta và Traga Rinpoche không có gì khác biệt-tuy là hai thân nhưng tâm đồng nhất! Tuy hai mà một!'</p>
<p style="text-align: justify;">http://www.drikungvn.org/index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=389%3As-lc-tiu-s-traga-rinpoche&amp;catid=90%3Atiu-s-ao-s&amp;Itemid=558&amp;lang=vi</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/so-luoc-tieu-su-traga-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử của Drikung Lamchen Gyalpo Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-cua-drikung-lamchen-gyalpo-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-cua-drikung-lamchen-gyalpo-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 06 Sep 2015 06:54:59 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Drikung Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Drikung]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=4322</guid>
		<description><![CDATA[Trong văn hóa Tây Tạng, những mối liên hệ gia tộc thì vô cùng quan trọng đến nỗi ngay cả những người Tây Tạng không được hay ít nhận được sự giáo dục cũng có thể truy nguyên những thân tộc của mình qua nhiều thế hệ. Với một người là tulku (tái sinh) thì việc truy tìm tài liệu&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-cua-drikung-lamchen-gyalpo-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Trong văn hóa Tây Tạng, những mối liên hệ gia tộc thì vô cùng quan trọng đến nỗi ngay cả những người Tây Tạng không được hay ít nhận được sự giáo dục cũng có thể truy nguyên những thân tộc của mình qua nhiều thế hệ. Với một người là tulku (tái sinh) thì việc truy tìm tài liệu làm bằng chứng thậm chí còn cẩn trọng hơn nữa. Một tulku được coi là một người tái sinh có chủ đích để có thể mang những ân phước (gia hộ) của Phật Pháp đến tất cả chúng sinh. Vì thế ta sẽ không ngạc nhiên khi có thể truy nguyên dòng dõi gia tộc của Gyalpo Rinpoche hằng nhiều thế kỷ. Bởi một sự giải thích rộng rãi như thế vượt quá nhu cầu hiểu biết của chúng ta ở đây nên ta sẽ bắt đầu tiểu sử của Gyalpo Rinpoche bằng cuộc đời của vị hóa thân tiền nhiệm của ngài là Chogtul Trinley Gyatso, thường được gọi là Lạt ma Phurga (1883-1938).</p>
<p style="text-align: justify;">Lạt ma Phurga sống ở tỉnh Kham, Tây Tạng và nhận được sự yêu mến và tôn kính của tất cả những người quen biết ngài. Ngài nổi danh về sự hiến dâng trọn vẹn đối với Giáo Pháp. Ngài sùng mộ dòng Drikung Kargyu đến nỗi trong đời ngài, ngài đã ba lần cúng dường toàn bộ của cải thế gian của mình cho Garchen Trinley Yongkyab, hóa thân đời trước của Đức Garchen Rinpoche. Lạt ma Phurga là một y sĩ lỗi lạc hiếm có và nổi danh là có khả năng nhìn thấy những đời quá khứ, hiện tại và vị lai của một con người. Khi Lạt ma Phurga mất, cuộc tìm kiếm hóa thân của ngài bắt đầu một cách nghiêm chỉnh cùng việc đệ trình tên tuổi các ứng viên cho Đức Shiwai Lodro, Drikung Kyabgon thứ 34. Sau khi thiền định, Đức Shiwai Lodro trả lời rằng vị tulku được sinh vào gia đình mà tên của người cha có chữ Tây Tạng "da" và tên của người mẹ có chữ "yung." Khi các thị giả khẩn khoản Đức Shiwai Lodro giải thích rõ ràng hơn thì ngài ghi lại những dấu hiệu theo cung Hoàng đạo, năm sinh của cha mẹ cùng dấu hiệu hoàng đạo của vị tân tái sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Để giúp xác định đúng đắn hóa thân của Lạt ma Phurga, Đức Karmapa thứ 16 cũng nhập định để có một linh kiến về vị tulku trẻ tuổi. Kết quả của việc thiền định là ngài có một linh kiến tiên tri rằng vị tulku sẽ ra đời vào năm Thổ Mùi và người mẹ có tên là Tashi Yungden. Vào lúc đó, Đức Tai Situ Pema Wangchen nhập định và báo tin cho vua của Vương quốc Drong, là thân phụ của Gyalpo Rinpoche, rằng trưởng nam của nhà vua sẽ giảng dạy Phật Pháp để phụng sự chúng sinh. Đây không phải là tin mừng cho vua Behu Trigyal bởi ông đã dự định để trưởng nam (Gyalpo Rinpoche) kế nghiệp và đảm đương trách nhiệm thế tục trong Vương quốc Drong của mình. Mặc dù Behu Trigyal không đồng ý, mọi dấu hiệu đều cho thấy Gyalpo Rinpoche là hóa thân đích thực của Lạt ma Phurga quá cố.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi cân nhắc mọi tiên tri và cùng với việc Behu Trigyal miễn cưỡng đồng ý hiến dâng con trai của ông cho tu viện, Gyalpo Rinpoche đã được xác nhận là tân hóa thân của Chogtul Trinley Gyatso, Lạt ma Phurga quá cố. Ngài được tôn phong tại Tu viện Lo Lungkar Gon ở tỉnh Kham và được ban Pháp danh là Tulku Konchog Tenzin Sharling Migyur Rinchen Dorje Namgyal.</p>
<p style="text-align: justify;">Là một tulku trẻ tuổi, Gyalpo Rinpoche được gia hộ để đảm đương các Phật sự của ngài trong thời đại Giáo pháp nở rộ ở Tây Tạng, bởi lẽ ngài có thể thọ nhận các trao truyền và quán đảnh từ các Đạo sư vĩ đại của mọi dòng truyền thừa của Phật giáo Tây Tạng. Một ví dụ nhỏ tiêu biểu cho những trao truyền và quán đảnh mà ngài đã nhận lãnh là các giáo lý kho tàng và quán đảnh Kagyed, Gongdu, và Kilaya. Ngài cũng thọ nhận toàn bộ giáo lý từ các Đạo sư giác ngộ như Druwang Drubpon Gejung Rinpoche, Lo Bongtrul Konchog Tenzin Drodul, Driter Osel Dorje, Chogtul Thubten Nyingpo và Ontul Choeying Rangdrol.</p>
<p style="text-align: justify;">Việc giảng dạy trực tiếp các bản văn và giáo lý khẩu truyền được truyền từ vị Thầy xuống đệ tử từ thế hệ này sang thế hệ khác được gọi là một sự trao truyền. Trong khi nhiều hành giả Giáo pháp có thể nhận lãnh các giáo lý và quán đảnh thì chỉ có một số ít được tuyển chọn và được coi là xứng đáng để nhận những trao truyền từ các vị Thầy của họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Có vài loại trao truyền khác nhau: Trao truyền Nghiệp, một trao truyền dài ở đó các giáo lý được truyền từ vị Thầy tới đệ tử; Trao truyền Biểu hiện, một trao truyền giữa những vị Trì minh vương; và Khẩu Truyền, việc trì tụng một bản văn được tụng một cách hoàn hảo tạo thành một chuỗi không đứt đoạn từ thời gian hình thành bản văn.</p>
<p style="text-align: justify;">Cũng có một sự trao truyền bổ túc được gọi là Trao truyền Terma. Các Terma là những giáo lý "kho tàng" được khám phá, được ghi chép lại và cất dấu có chủ đích vì lợi ích của các thế hệ tương lai. Khi đến lúc được sử dụng, các terma này được khám phá và tìm thấy ở những nơi chôn dấu bởi một vị terton, là một hành giả có thiện nghiệp khám phá những giáo lý ẩn dấu quý báu này. Trong thời gian nhập thất với các vị Thầy, Gyalpo Rinpoche đã thọ nhận tất cả những loại trao truyền này từ các vị Thầy của ngài, được kết hợp với những giáo lý rộng lớn và nội quán chứng nghiệm trực tiếp.</p>
<p style="text-align: justify;">Danh sách các vị Thầy và dòng truyền thừa mà từ đó Gyalpo Rinpoche đã nhận lãnh các gia hộ này thì hết sức phong phú và đa dạng. Từ các vị Giáo thọ nổi tiếng của dòng Drikung Kagyu là Gelong Pachung Rinpoche và Druwang Kyunga Rinpoche, ngài thọ nhận các giáo lý cốt tủy về Mahamudra (Đại Ấn) cùng với trao truyền nội quán chứng nghiệm sâu xa. Hiểu rằng việc thọ nhận các giáo lý chỉ là bước đầu tiên, Gyalpo Rinpoche đã thực hành mỗi giáo lý không chút sai sót từ lúc bắt đầu cho tới giai đoạn thành tựu. Theo cách đó ngài đã có thể là một kho tàng hoàn hảo lưu giữ các gia hộ và giáo lý của Đức Phật và là một cỗ xe đích thực để giải thoát chúng sinh khỏi sự thống trị của Luân hồi sinh tử.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ Đức Karmapa thứ 16, Gyalpo Rinpoche thọ nhận các giáo lý Mahamudra sâu xa và thực hành Tsig-chigma của Đức Karmapa thứ 3 Rangjung Dorje. Từ Situ Pema Wangchuk Rinpoche, ngài nhận một số quán đảnh được kết hợp với các giáo lý, luận giảng và nội quán chứng nghiệm. Từ Zigar Kongtrul Rinpoche, Gyalpo Rinpoche nhận các giáo lý và quán đảnh Rinchen Terzod, được kết hợp với các luận giảng khẩu truyền và trao truyền nội quán chứng nghiệm về tất cả các Bổn Tôn Yidam.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ Ripa Seljey Rinpoche của dòng Barom Kagyu, Gyalpo Rinpoche nhận các quán đảnh và giáo lý, đặc biệt là đối với phái Barom Kagyu của Phật giáo Tây Tạng. Từ các Đạo sư của ngài thuộc dòng Nyingma, trong đó có Dilgo Khyentse Rinpoche, ngài được gia hộ để nhận trao truyền tổng quát và nội quán vào tất cả các tantra (Mật điển) và sadhana Nyingmapa với sự chú trọng đặc biệt về giáo lý Dzogchen Nyingthik Yabshi. Dzogchen Nyingthik là một loạt kho tàng linh thánh xuất phát từ dòng của Dzogchen Khenpo Nyoshul Lungtok Tenpai Nyima vĩ đại. Nyoshul Rinpoche được coi là đệ tử giác ngộ xuất sắc nhất của Patrul Rinpoche vĩ đại. Người ta truyền tụng rằng khi Nyoshul Rinpoche mất vào năm 72 tuổi, ánh sáng cầu vồng uốn cong trên đầu cùng với nhiều hiện tượng khác được coi là các dấu hiệu kiết tường, biểu hiện cho sự thị tịch của một Đạo sư giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ các Đạo sư giác ngộ Poli Khenchen Dorje Chang, Nyoshul Khenpo Jampa Dorje và Khenpo Tauten Rinpoche, Gyalpo Rinpoche nhận nhiều phương diện của các quán đảnh, giáo lý và giáo huấn cốt tủy khẩu truyền trực tiếp Dzogchen. Các giáo huấn cốt tủy khẩu truyền trực tiếp là những giáo lý được truyền trực tiếp từ một Đạo sư giác ngộ tới đệ tử và được phân chia thành bốn giáo khóa là Giáo khóa Ngoài, Trong, Bí truyền và Bí truyền Sâu xa. Các nghiên cứu của Rinpoche nhắm vào giáo lý Longchen Nyingthik, được coi là Cốt tủy Sâu xa của giáo khóa Bí truyền Sâu xa.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ Đức Gyalwang Drukpa Thamche Kyenpa, vị cựu lãnh đạo của dòng Drukpa Kagyu, và Yogi Rigzin, Gyalpo Rinpoche nhận sự giới thiệu đầy đủ vào cốt tủy của Mahamudra (Đại Ấn) và Đại Viên mãn. Ngài cũng được ban cho các giáo lý cốt tủy Drukpa với sự nhấn mạnh đặc biệt vào Doha. Các Doha là giáo lý mật nhiệm, thường được ban truyền trong hình thức các bài kệ và bài ca. Chúng bao gồm các giáo lý sâu xa như trí tuệ của sự giác ngộ trực tiếp.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ Jigdral Khyentse Rinpoche, Gyalpo Rinpoche nhận các giáo lý là những câu trả lời của Gampopa cho những câu hỏi của Phagmo Drupa.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ Taklung Shabdrung Rinpoche và Matul Rinpoche, Gyalpo Rinpoche nhận các giáo lý Chakrasamvara Khandro Gyatso cùng những giáo khóa khác của Phái Taklung Kagyu.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ các Đức Sakya Dolma Phodrang, Sakya Phuntsog Phodrang, Luding Rinpoche, và Chogye Trichen, Gyalpo Rinpoche được gia hộ để nhận các quán đảnh và giáo lý đặc biệt về Hevajra, Vajravarahi và Vajra Bhairava.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ bổn sư Khunu Rinpoche Tenzin Gyaltsen, người được coi là mạng mạch của tất cả các hành giả Phật giáo, Gyalpo Rinpoche thọ nhận các giáo lý thuần tịnh, không bị pha trộn của cốt tủy Đại Ấn và Đại Viên mãn với sự chú trọng đặc biệt vào Trigchod và Thogal.</p>
<p style="text-align: justify;">Gyalpo Rinpoche đã thọ nhận giáo lý của tất cả những Đạo sư uyên thâm ở trên và thực hành chúng từ giai đoạn chuẩn bị cho tới các giai đoạn phát triển và thành tựu, được ngắt quãng bởi các khóa nhập thất và làm an dịu các Bổn Tôn bao gồm cả ba khóa Nhập thất Chính yếu và các nghi lễ Làm An dịu Bổn Tôn.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi đào thoát khỏi Tây Tạng, Gyalpo Rinpoche phục vụ Chính phủ Tây Tạng tại Hải ngoại mười một năm với tư cách là Bộ trưởng Cao cấp của Nội các và sau này là Giám đốc Quản trị của Trung tâm Thủ công Tự lực Tây Tạng ở Simla, Ấn Độ. Khi Gyalpo Rinpoche phục vụ được gần mười một năm, Đức Drikung Kyabgon Rinpoche thỉnh cầu Rinpoche kết hợp với ngài tại Jangchubling, trụ xứ của dòng Drikung Kagyu ở Dehra Dun, Ấn Độ. Bởi lòng sùng mộ không vơi cạn của ngài đối với Đức Drikung Kyabgon Rinpoche và do ước muốn phụng sự cho dòng Drikung Kagyu bằng mọi cách thức có thể, Gyalpo Rinpoche đã ngừng làm việc với Chính phủ Tây Tạng và du hành tới Dehra Dun.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong khi làm việc với Đức Drikung Kyabgon Rinpoche, Gyalpo Rinpoche đã phụng sự với vai trò Thư ký Riêng của ngài và Tổng Thư ký Học viện Drikung Kagyu (Jangchubling) trong thời gian xây dựng và tuyển học viên. Ngài đã thiết lập được các ngân quỹ để bắt đầu xây dựng tu viện và là một người góp phần trong mọi giai đoạn của việc xây dựng trụ xứ của truyền thống Drikung Kagyu tại hải ngoại.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong một nỗ lực vượt bậc để vươn tới các hành giả và tu viện của dòng Drikung Kagyu, Gyalpo Rinpoche đã viếng thăm tất cả các tu viện Drikung từ miền Đông Tây Tạng cho đến Núi Kailash. Ngài cũng phụ giúp Đức Drikung Kyabgon Rinpoche biên soạn và ghi chép lịch sử của truyền thống Drikung Kagyu. Đáp ứng nhu cầu của các dòng truyền thừa khác, Gyalpo Rinpoche đã thiết lập Trụ xứ Dorje Drag – mạng mạch của Truyền thống Nyingma - ở Simla, Ấn Độ.</p>
<p style="text-align: justify;">Hiện nay, Gyalpo Rinpoche làm việc không mệt mỏi, không quan tâm đến sức khỏe hay tiện nghi của riêng ngài, để mang lại kết quả trong việc xây dựng lại các tu viện Drikung, thiết lập trường học cho trẻ em Du mục Tây Tạng, thành lập các bệnh viện tân tiến và những chương trình bảo vệ sức khỏe cộng đồng tại tỉnh Kham. Rinpoche có một số trung tâm tích cực hoạt động tại Hoa Kỳ mà trụ sở chính ở Denville, New Jersey. Ngài cũng có các trung tâm Giáo pháp năng động ở Đài Loan. Bởi Phật sự của ngài rất đa dạng, ngài sử dụng hầu hết thời gian vào việc đi tới các trung tâm của ngài, chăm sóc và hướng dẫn các đệ tử tới một mức độ hiểu biết tốt hơn về giáo lý của Đức Phật, dòng Drikung Kagyu, và cách áp dụng những giáo lý đó để mỗi ngày một hoàn thiện phẩm tính của cuộc đời họ, và cuộc đời của những người xung quanh. Thật khó tìm được một Lạt ma thuần tịnh nhưng mỗi đệ tử của ngài đã nhận ra rằng họ đang có trong tay một viên ngọc quý và họ luôn luôn nguyện cầu cho Gyalpo Rinpoche được an khang và thành công trong mọi Phật sự của ngài.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguyên tác: "Drikung Lamchen Gyalpo Rinpoche"</em></p>
<p style="text-align: justify;">http://www.gampopa.org/about-us/52-drikung-lamchen-gyalpo-rinpoche.html</p>
<p style="text-align: justify;">Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên</p>
<p>http://www.drikungvn.org/index.php?option=com_content&#038;view=article&#038;id=388%3Atiu-s-ca-drikung-lamchen-gyalpo-rinpoche&#038;catid=90%3Atiu-s-ao-s&#038;Itemid=558&#038;lang=vi</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-cua-drikung-lamchen-gyalpo-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Câu Chuyện Của Sư Ông Kyunga và Sư Tổ Chetsang Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/drikung-kagyu/dao-su-drikung/cau-chuyen-cua-su-ong-kyunga-va-su-to-chetsang-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/drikung-kagyu/dao-su-drikung/cau-chuyen-cua-su-ong-kyunga-va-su-to-chetsang-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 06 Sep 2015 06:52:16 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Đạo sư Drikung]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=4319</guid>
		<description><![CDATA[Đạo sư Kyunga Sodpa Gyatso (1911-1980) xuất thân từ vùng Kham và được xem là một đạo sư chứng ngộ. Ngài là một nhân vật với cá tính mạnh mẽ, không hề biết khuất phục, và nghiêm khắc chẳng khác nào đại đạo sư Marpa. Trong cuộc đời này, ngài đã trải qua ba mươi lăm năm ẩn tu. Ngài&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/drikung-kagyu/dao-su-drikung/cau-chuyen-cua-su-ong-kyunga-va-su-to-chetsang-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Đạo sư Kyunga Sodpa Gyatso (1911-1980) xuất thân từ vùng Kham và được xem là một đạo sư chứng ngộ. Ngài là một nhân vật với cá tính mạnh mẽ, không hề biết khuất phục, và nghiêm khắc chẳng khác nào đại đạo sư Marpa. Trong cuộc đời này, ngài đã trải qua ba mươi lăm năm ẩn tu. Ngài Kyunga trở thành vị thiền sư trưởng, có trách nhiệm hướng dẫn thiền tập tại tổ đình Drikung Thil, và sau đó, đức Shiwe Lodro [vị Tổ đời trước, tức đời thứ 36, của dòng truyền thừa Drikung Kagyu] đã gửi ngài đi lên núi Lapchi để giữ trách vụ dorzin - Kim Cang thượng thủ (1).</p>
<p style="text-align: justify;">Ở tại trên núi ấy, trong suốt bảy năm, ngài đã hướng dẫn những khóa nhập thất tại Dudul Phug tức Động Hàng Ma ("Động Thất Nơi Quỷ Ma Được Nhiếp Phục"), là một trong bốn hang động chính yếu tại Lapchi. Sau khi thực hiện xong một số các cuộc hành hương, ngài đã lánh đến một  linh địa có rất nhiều liên hệ với đức Liên Hoa Sanh, và đã tu tập tại đó trong suốt mười lăm năm ròng. Về sau, ngài bỏ trốn khỏi Tây Tạng trước khi xảy ra cuộc toàn quốc nổi dậy tại kinh đô Lhasa và ngài đã làm việc lao động cùng với những người dân tỵ nạn Tây Tạng, xây cất đường xá ở xứ Sikkim. Một vị đạo sư thuộc dòng Karma Kagyu tên là Lama Sansang tình cờ đi ngang qua toán nhân công làm đường ấy và đã nhận ra được vị đạo sư khi xưa của ông ta, và qua đó mà vị dorzin – Kim Cang thượng thủ đã lại phải tái xuất hiện từ nhóm người vô danh tiểu tốt kia. Đại sư Togden Rinoche đã nghe nói về ngài Kyunga Sodpa Rinpoche từ một vị thầy khác tên là Druk Tuktse Rinpoche (1915-1983), và sau đó, đã tấn phong ngài Kyunga thành vị thiền sư trưởng, chủ đạo hướng dẫn thiền tập tại một tu viện ở gần Sharchukhul. Tại đó, ngài Kyunga hướng dẫn khoá nhập thất ba năm đầu tiên với chín thiền sinh, trong những điều kiện sinh sống cực kỳ hoang sơ. Ngài Drubwang Kyunga rất khiêm cung và suốt cả cuộc đời, đã chẳng hề đòi hỏi bất kỳ điều gì cả. Khi còn ở tại Drikung, ngài đã lập gia đình, và khi đến Ladakh, ngài sống cùng gia đình trong một căn lều, ngay cả trong những ngày tháng lạnh lẽo của mùa đông. Thật ra, ngài không hề có một chút vật sở hữu cá nhân nào cả, không có tiền để dành cũng không có lương thực dự trữ. Chẳng bao giờ ngài sử dụng tiền của cúng dường cho bản thân mình. Khi các thí chủ đem thức ăn đến cúng dường cho ngài, ngài trao lại cho chúng đệ tử và không hề giữ lại bất kỳ món nào cho mình.<br />
Vào mùa thu năm 1978, khoá nhập thất 3 năm [tổ chức] lần thứ nhì đã bắt đầu tại tu viện Lamayuru dưới sự chỉ đạo của ngài Kyunga, và trong khóa nhập thất này thì có cả sự tham dự của Sư Tổ Drikung Kyabgon Chetsang Rinpoche. [Tổ Chetsang Rinpoche sinh năm 1946 nên khi ấy vào khoảng 32 tuổi]. Trước khi khoá nhập thất bắt đầu, đại sư Khenchen Konchog Gyaltshen đã ban cho Sư Tổ Chetsang những giáo huấn trong “Lá Thư Gửi Bạn của Long Thọ Bồ Tát” cùng những giáo huấn trong tập “Hạt Châu Giải Thoát” của đức Gampopa. Đây chính là tập sách mà đức Đạt Lai Lạt Ma đã ban tặng cho Sư Tổ Chetsang Rinpoche sau khi ngài trốn thoát khỏi Tây Tạng. Kế tiếp, ngài Kyunga cũng ban khẩu truyền và ban các giáo huấn trong hai tài liệu căn bản của truyền thống Drikung, đó là Gongchig (Động Lực Duy Nhất) và Tenying (Thegchen Tenpe Nyingpo) (2).  Gelek Rinpoche đã tháp tùng Sư Tổ Chetsang Rinpoche đến tận cái nơi mà ngài sẽ phải bắt đầu nhập thất ẩn tu. Khi nhìn thấy cái thất quá ư xác xơ, khiêm tốn mà Sư Tổ Chetsang Rinpoche sẽ phải lưu lại trong một số năm kế tiếp, ngài Gelek Rinpoche đã [động lòng] và muốn xin cho Tổ Chetsang Rinpoche được miễn thứ, khỏi phải trải qua toàn bộ cuộc nhập thất gắt gao đúng theo truyền thống. Gelek Rinpoche đã cố gắng điều đình với đạo sư Drubwang Kyunga, và đã thưa với đạo sư rằng, “Sư Tổ Chetsang là tái sanh của đức Shiwe Lodro, vị bổn sư gốc của ngài. Rinpoche không phải là một người phàm phu mà là một mahasiddha, một đại thành tựu giả đã quay trở lại hóa hiện trong cõi luân hồi. Rinpoche đã phải chịu đựng biết bao gian khổ trong một xứ sở Tây Tạng bị chiếm đóng! Xin ngài hãy cho phép Chetsang Rinpoche hạ bớt số lượng lễ lạy xuống, coi như là một sự cân nhắc đặc biệt, và xin hãy gấp rút ban truyền cho Chetsang Rinpoche toàn bộ những pháp môn hành trì của dòng truyền thừa!” Nhưng đạo sư Kyunga đã quyết liệt, một mực từ chối lời thỉnh cầu ấy. Chẳng những không dành cho Tổ Chetsang Rinpoche một ngoại lệ nào cả, mà ngược lại, đạo sư Khyunga đã lại trả lời rằng: “Ngài là hoá thân của Thánh Giả Shiwe Lodro, thế thì ngài bắt buộc phải thực hành nhiều hơn những người khác nữa, để chứng minh về những phẩm hạnh của ngài.” Sau khi quay trở về lại Dharamsala, Gelek Rinpoche đã rất nản lòng, và thưa lại với đức Đạt Lai Lạt Ma về cuộc đối thoại ấy. Đức Đạt Lai Lạt Ma tỏ ra cực kỳ hoan hỉ và đáp lại rằng: “Kyunga Rinpoche là một bậc guru (đạo sư) đích thực!” Đạo sư Kyunga đã nói với Sư Tổ Chetsang Rinpoche rằng Tổ cần mất bao lâu thời gian để lễ lạy cũng không quan trọng bằng việc ngài phải lễ rạp toàn thân [thay vì chỉ lạy trên hai đầu gối]. Đạo sư Kyunga giống như một ngọn núi không gì lay chuyển được, và ngược lại, Sư Tổ Chetsang Rinpoche cũng không hề muốn mình được ban cho bất kỳ đặc ân nào. [Ngang đây, tuy trong tập sách tiểu sử của ngài không nhắc đến, nhưng một huynh đệ đồng môn của Sư Tổ Chetsang Rinpoche, vị thiền sư trưởng - Lama Drupon Samten, đã có kể thêm một câu chuyện liên quan đến việc hành trì lễ lạy Ngondro của Sư Tổ Chetsang. Thầy Drupona Samten đã nhập thất ba năm cùng với Sư Tổ dưới sự hướng dẫn của đạo sư Khyunga, và thầy Drupon Samten đã kể lại rằng, Sư Ông Khyunga là một vị đạo sư vô cùng mẫu mực và khe khắt. Ngài không ban cho Sư Tổ Chetsang bất kỳ một ngoại lệ nào và nhất là không cho phép SưTổ quỳ trên hai đầu gối cúi lạy nửa người mà bắt ngài phải lạy rạp toàn thân xuống đất. Ngài Khyunga đã nói với Sư Tổ Chetsang Rinpoche rằng: “Ngài chính là hiện thân của đức Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm, và như thế thì thật ra, ngài chẳng còn cần phải lễ lạy để tích lũy công đức làm lợi lạc cho bản thân làm chi nữa. Nhưng bởi vì lợi lạc của toàn thể chúng sinh và của những nguời khác nên khi lễ lạy thì xin ngài hãy lạy rạp toàn thân!”](Ghi chú của Tâm Bảo Đàn)<br />
Trong vòng bốn mươi ngày, Sư Tổ Chetsang Rinpoche đã hoàn tất hết 100 ngàn cái lạy [của pháp tu sơ khởi Ngondro] và mỗi đêm, ngài chỉ ngủ khoảng năm tiếng đồng hồ. Đôi khi ngài phải dừng lại nửa chừng khi ngài gặp phải vấn đề khí huyết không lưu thông, hoặc khi ngài nôn mửa [vì mệt mỏi quá độ]. Đầu gối của ngài đầy vết trầy sướt, và một đôi khi, trán của ngài cũng rướm máu, nhưng Chetsang Rinpoche đã không cảm thấy hài lòng, và ngài tiếp tục lạy thêm 200 ngàn cái lạy nữa. Căn thất của Tổ Chetsang Rinpoche nằm trên tầng cao nhất của tu viện, hệt như là một căn phòng [thô sơ] của người Spartan [thời cổ Hy Lạp]; nền nhà làm bằng đất nén, với một chiếc giường hẹp và một chiếc bàn thấp bé kiểu truyền thống dùng để làm bàn ngồi đọc sách. [Trong hoàn cảnh như thế ấy,] ngay cả nếu chỉ được ban cho một tấm chăn mỏng thôi thì các hành giả cũng vô cùng biết ơn. Có một vị tăng sĩ tên Konchog Sempa được chỉ định làm thị giả cho Sư Tổ Chetsang Rinpoche, và cho đến ngày hôm nay, vị ấy vẫn tiếp tục là một thị giả của ngài. Vị ấy trồng khoai tây và đem bán khoai tây cho quân đội Ấn để có thể hộ thất cho Sư Tổ trong thời gian ngài ẩn tu. Thực đơn của Tổ Chetsang trong suốt thời gian đó phần lớn chỉ bao gồm toàn khoai tây và củ cải.</p>
<p style="text-align: justify;">Mùa đông lạnh như cắt vào những khi có những trận bão tuyết khổng lồ; tu viện bị cắt đứt khỏi toàn bộ thế giới bên ngoài, và thầy Konchog Sempa đã phải lết đi trong băng tuyết suốt ba giờ đồng hồ để đem về được một ít củi từ những người dân ở tại làng Kaltse. Những pháp môn hành trì sơ khởi [bao gồm một trăm ngàn lần lễ lạy, quy y, phát bồ đề tâm, tịnh hoá Kim Cang Tát Đoả, cúng dường mạn đà la và bổn sư du già] dẫn đến một khả năng tự chế tương đối tốt, giúp hành giả làm chủ được những khía cạnh thuộc về thân và khẩu. Ở đây, cái khó khăn hơn nữa là sau khi tâm đã trụ được trong định thì tâm ấy lại sẽ phải được thiết lập trở lại trong một hệ thống mật điển, bao gồm các pháp môn dựa trên năng lượng khí vi tế cùng với những phương pháp thiền định vô cùng phức tạp. Trong truyền thống tu tập Drikung, điều này có thể đạt được nương dựa vào các pháp môn có tên gọi là Sáu Pháp Du Già của Tổ Naropa và Con Đường Tu Năm Nhánh của Mahamudra-Đại Thủ Ấn. Sáu Pháp Du Già của Tổ Naropa gồm có: pháp khơi dậy nội hoả (tummo), trải nghiệm chính thân mình là thân huyễn ảo (gyulu), mộng du già (milam), chứng nghiệm trạng thái tịnh quang - ánh sáng trong suốt (ösel), trải nghiệm các giáo huấn thuộc thân trung ấm (bardo), và pháp chuyển di tâm thức (phowa). Đây là những pháp môn kết hợp tâm-thân phức tạp, để khơi dậy một sự chuyển hoá vi diệu trong tâm thức đi kèm với một tiến trình chuyển hoá của năng lượng vi tế. Riêng Mahamudra - Đại Thủ Ấn thì được xem như là một trong những giáo lý tối thượng của Kim Cang Thừa. Mục đích tối hậu là đạt được chứng nghiệm nội tâm về sự kết hợp toàn diện giữa tánh không rỗng rang (emptiness) và tánh thông suốt chiếu soi (clarity/luminuousity) [của bản tâm], bởi đấy chính là tinh tuý đích thực của tuệ giác nguyên sơ. Trong thiền định, tất cả mọi vọng tưởng đều được chuyển hoá để trở thành những phẩm tính rỗng rang, soi suốt, nhờ vào các phương pháp tu tập thiền chỉ (shamatha/calm-abiding), và sau đó, thì sẽ được chuyển sang những kinh nghiệm về một thực tại tối hậu, thoát khỏi mọi sự dụng công lao nhọc, dựa vào pháp môn thiền quán (vipassana/special insight). Kết quả đạt được sẽ là một sự giải thoát của tâm, siêu vượt tất cả những quy ước bình thường. Sơ Tổ Tilopa đã có nói trong những giáo huấn khẩu truyền về Mahamudra rằng, “Một cái tâm hoàn toàn thoát khỏi mọi điểm tựa [tâm vô sở trụ], đấy là Đại Thủ Ấn.” Qua đến năm thứ nhì của chương trình nhập thất của Sư Tổ Chetsang Rinpoche thì ngài Kyunga lìa đời. Đây là hậu quả muộn màng của những vết nội thương không được trị liệu mà ngài đã phải chịu đựng sau khi trải qua một tai nạn xe buýt một vài năm trước đó. Trước khi thị tịch, ngài sách tấn các đệ tử không được bỏ ngang việc nhập thất dưới bất kỳ hoàn cảnh nào, và qua đến ngày hôm sau thì ngài gặp gỡ nói chuyện riêng với Tổ Chetsang. Bằng một giọng nói hết sức yếu ớt, đạo sư Khyunga đã lên tiếng nói với Sư Tổ Chetsang Rinpoche rằng, “Nếu ngài là hoá thân của đức Shiwe Lodro thì ta không bao giờ muốn xa lìa ngài. Ta đã khẩn nguyện về điều này. Ta đã chém ngang không gian bằng một thanh kiếm báu. Thanh kiếm ấy không tìm thấy bất kỳ một chướng ngại nào trong hư không, nó tự do tuyệt đối.” Và đạo sư Khyunga đã kết thúc buổi gặp riêng Sư Tổ Chetsang Rinpoche bằng những lời sau đây: “Trong quá khứ, ngài đã chẳng thể nào vượt thoát khỏi Tây Tạng, và ta đã lo lắng về ngài. Sau khi trốn thoát, ngài đã đi qua xứ Mỹ, và ta đã lo lắng về ngài. Giờ đây, ngài đang ở Ấn Độ, đang hoàn thiện việc học tập và công phu hành trì của mình, và ta không còn gì lo lắng về ngài nữa. Và như thế thì ta sẽ có thể lìa đời với một tâm thức yên bình. Vạn pháp đều vô thường. Ngài có trọng trách đối với dòng truyền thừa Drikung Kagyu. Đây là một trách vụ khó khăn: thật là điều tốt lành ngài đã nhận lãnh trọng trách ấy. Hãy quay trở về nhập thất đi.” Sau đó, Lama Sonam Jorphel đã thay thế đạo sư Khyunga trong tư cách vị thiền sư trưởng hướng dẫn nhập thất. Vào khoảng gần cuối chương trình nhập thất ba năm, Sư Tổ Chetsang Rinpoche đã có những giấc mơ cát tường. Trong một giấc mơ, ngài thấy mình đi hành hương cùng hai vị tăng sĩ để chiêm bái xá lợi Phật. Họ đến trước một khu nghĩa địa và một toà nhà lớn với một cái mái như mái chùa. Khi họ bước chân vào bên trong thì cảnh tượng thay đổi, và bất chợt, họ thấy mình đang đứng trước một căn nhà với một văn phòng làm việc. Họ không biết ngọc xá lợi đang được đặt tại đâu và họ hỏi thăm những người trong văn phòng làm sao có thể tìm được xá lợi Phật. Một người đàn ông lấy ra một quyển sổ liệt kê hàng hoá, lật lật tìm tìm trong quyển sổ dầy cộm ấy mà chẳng tìm thấy ra được gì. Cuối cùng, ông ta đứng lên đi tìm người khác để hỏi. Sư Tổ Chetsang Rinpoche bấy giờ nhận biết ra được rằng họ đang ở trong một nghĩa trang Hồi giáo. Có một người khác giơ tay ra chỉ vào một khoảng tối và nói rằng xá lợi nằm ở đấy. Chetsang Rinpoche thất vọng vô cùng bởi vì cái khoảng tối ấy chính là một cái chuồng bò. Ngài bảo hai vị tăng đi theo ngài hãy đến đào xới đống phân bò. Họ tìm thấy có một con chó cái Tây Tạng khổng lồ đang nằm bên hông chuồng bò, và Sư Tổ Chetsang có cái cảm nhận kỳ lạ rằng con chó ấy có thể là Mahakala hay là một vị hộ pháp nào đó. Ngài đã lên tiếng phàn nàn với những người Hồi giáo rằng thật không thể nào có thể cất giữ xá lợi Phật ở một nơi tồi tàn như thế, bởi vì ở trên toàn thể thế giới, có biết bao nhiêu người muốn chiêm bái ngọc xá lợi, và ngọc xá lợi cần được cất giữ ở một nơi tôn kính, trang nghiêm. Sau đó, ngài bước lên đứng trên một cái bục gỗ, quan sát hai vị tăng trong khi họ đào xới, và người đàn ông, khi nãy đã bỏ đi để hỏi thăm về nơi đích xác lưu trữ ngọc xá lợi, ông ta quay trở lại và giận dữ la lên với ngài rằng, “Ông đã biết xá lợi nằm ở đâu, tại sao ông lại còn hỏi tôi.” Sư Tổ Chetsang Rinpoche nhìn người đàn ông ấy với sự ngờ vực, và ông ta đã đáp lại rằng, “Xá lợi nằm ngay đằng sau lưng ông, ngay chỗ ông đang đứng đấy. Xoay người lại đi.” Đằng sau Sư Tổ là một tấm phên gỗ, trên đó có một khung cửa sổ kiểu Tây Tạng có giăng một tấm màn. Sư Tổ Chetsang Rinpoche có thể nhìn xuyên qua một khe hở nhỏ khít nhưng ngài chẳng thể nhận ra cái gì [phiá sau]. Ngài bèn vén toan cánh màn cửa sổ ra và ngay lập tức, một đám mây bụi phủ chụp lấy ngài, và một vật gì đó rớt trúng ngay trên đầu ngài. Ngài bắt lấy vật ấy và nhìn thấy ra đó chính là xá lợi Phật. Ngài nhìn thấy một mạn đà la màu đỏ, hình tròn, đẹp tuyệt vời, và vào ngay giây khắc đó, toàn thân ngài tràn ngập một suối nguồn hỉ lạc vô biên, cơ hồ như thân ngài đang được rót tràn, đầy ắp ngọc xá lợi. Khi cảm nhận ra được rằng mình đang được ban cho năng lực gia trì quá ư vi diệu, những giọt nước mắt đã thi nhau rơi trên đôi má của ngài. Sau đó ngài đã tỉnh dậy và vẫn còn cảm nhận được toàn thân như có kim châm; đấy chính là những phản ứng của thân vật lý đối trước năng lực gia trì. Khi ấy là vào buổi sớm mai, và không khí trong lành cũng đang thấm đẫm những bài ca sinh động của đàn chim trời. Sư Tổ Chetsang Rinpoche cảm thấy hoàn toàn hạnh phúc và có ý nguyện muốn kể lại cho thầy Khenpo Togdrol nghe về giấc mơ ấy ngay lập tức. Nhưng những cảm xúc tột độ mà ngài đang trải qua đã tràn ngập lấn át ngài; ngài đã không thể cử động được mà cũng chẳng hề muốn cử động [không muốn đi tìm Khenpo Togdrol]. Ngài tiếp tục trôi vào giấc ngủ, và liền ngay sau đó, một giấc mơ khác lại lập tức hiện ra. Ngài thấy mình băng qua những cánh đồng rộng lớn trên dốc cao, rồi đi dần xuống một thung lũng cùng với một đoàn người đông đảo. Trên đường đi, ngài đã gặp một ông lão đang ngồi trên một thân cây rỗng ruột héo khô. Khi ngài đến gần ông lão ấy thì ngài lại nhận thấy ra đó chính là vị sư già tám mươi tuổi tên Lama Konchog ở tại tu viện Lamayuru. Vị sư già chào hỏi ngài rồi trao cho ngài một đồng tiền vàng. “Cái này là của ngài,” vị sư ấy nói. Đồng tiền ấy không phải là đồng tiền tròn mà lại có nhiều góc cạnh. Tổ Chetsang Rinpoche từ chối không nhận, nhưng vị sư già nhất quyết ép ngài bởi vì ông ta còn có một đồng tiền khác. Vị sư già giở tấm áo chuba lên, để lộ ra một đồng tiền vàng thứ nhì. Sư Tổ Chetsang Rinpoche nhận lấy đồng tiền từ vị sư già và nói rằng, “Tôi sẽ giữ đồng tiền này, và nếu [khi nào] ông cần nó thì hãy cứ hỏi lại tôi.” Khi ngài bỏ đồng tiền ấy vào túi aó thì ngài nhận thấy ngài đang mặc một chiếc áo sơ-mi và mặc quần thay vì khoác y áo của một nhà tu. Rồi Sư Tổ Chetsang tiếp tục đi sâu xuống phía dưới và đi đến trước một toà nhà rất lớn. [Bị chắn đường] nên ngài phải đi quanh toà nhà [để qua đến bên kia]. Khi vừa vòng qua khỏi toà nhà ấy thì ngài lại thấy ngài đắp y tu sĩ trở lại. Ngài có xách một chiếc cặp và ngài nghĩ rằng ta phải nên cất chiếc cặp này đi bởi vì chiếc cặp này không thích hợp với một tu sĩ. Trong khi ngài chậm rãi bước đi thì có một đứa bé trai hiện ra tiến về phiá ngài. Có vẻ như là chú bé ấy nhận biết ra ngài cho dù ngài không biết chú ta là ai, hình như đấy có thể là một đứa bé từ kinh thành Lhasa đến. Ngài không có ý muốn gặp đứa bé trai ấy và quẹo qua một góc đường rồi tìm thấy mình đang đứng giữa một hội chợ khổng lồ, náo nhiệt, đầy người qua lại nói cười rổn rảng. Ngay đó cũng có một quán ăn và có một vài vị tu sĩ từ tu viện Phyang đang ngồi ở đó. Ngài cảm thấy không thoải mái ở nơi ấy nên rảo bước đi về hướng khác, đến trước một cửa hàng bán hoa quả thật tươi tốt ngon lành. Trong khi đang mua hoa quả thì ngài tỉnh dậy khỏi giấc mơ. Cho dù khi ấy, Sư Tổ có thể hiểu về ý nghĩa tổng quát của giấc mơ nhưng không thể [giải] được tất cả những chi tiết trong ấy. Những lời giải thích của thầy Khenpo Togdrol không thực sự làm ngài hài lòng. Về sau, ngài đem câu chuyện hai giấc mơ ấy kể lại cho Garchen Rinpoche nghe. Garchen Rinpoche là một đại đạo sư chứng ngộ của những hành giả Drikungpa, và ngài đã cho Sư Tổ biết rằng thật ra đây là những điều rất dễ hiểu. Thrinle Lhundrup (pháp hiệu của SưTổ Chetsang Rinpoche) đã chứng ngộ được bản tâm; nhưng điều mà ngài còn thiếu sót [vào thời điểm ấy] là đã không đủ tin tưởng vào những chứng nghiệm nội tâm của chính mình. Và đồng tiền vàng, đó chính là dấu hiệu chứng đắc cao tột, là quả vị thành tựu – siddhi (3 ) – phi thường.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Chú thích: </em><br />
<em>(1) Dorzin là từ viết tắt của Dorje Dzinpa (Kim Cang thượng thủ), là một pháp hiệu tôn quý dành cho vị đạo sư chứng ngộ có thể hướng dẫn các hành giả tại những địa điểm ẩn tu đặc biệt. Theo truyền thống Drikung Kagyu, có các vị dorzin tại núi Kalaish, Tsari và Lapchi, trong khi vị thiền sư trưởng tại tổ đình Drikung Thil thì mang pháp hiệu tripön (Đạo Sư thủ ngôi pháp toà). Vị tripön luôn luôn tự lựa chọn người kế thừa. Các vị tripön tại tổ đình Drikung Thil trong những năm vừa qua gồm có đạo sư du già vĩ đại Pachung Rinpoche (1901-1988), được kế thừa bởi Gelong Tenzin Nyima (1924-2006). Hiện tại là Gelong Tashi Rabten, một trong những đệ tử chứng đắc tối thắng của ngài Gelong Tenzin Nyima. </em><br />
<em>(2) Tài liệu mang tên Thegchen Tenpe Nyingpo do Ngoje Repa (còn được gọi là Shedang Dorje) trước tác. Ngài là một đệ tử của Sơ Tổ Jigten Sumgon. Tài liệu này trình bày toàn bộ con đường tu tuần tự của Đại Thừa, bao gồm cả những luận giải cổ xưa nhất về Con Đường Tu Năm Nhánh của Đại Thủ Ấn. </em><br />
<em>(3) Siddhi là khả năng chứng đắc phi thường (xuất thế gian) và siêu thường (thuộc phạm vi thế gian tầm thường) trong quá trình tu tập tâm linh. Trong Kim Cang Thừa có công nhận tám siddhi thông thường và một siddhi tối thượng. Tám thành tựu thông thường là: (1) thanh kiếm bất bại (lưỡi kiếm không ai địch lại), (2) nhãn thông giúp cho ta thấy được chư thiên, (3) kinh không - khả năng lướt đi cực kỳ nhanh, (4) tàng hình hoặc khả năng trở thành vô hình, (5) nghệ thuật chiết được tinh chất, nghĩa là khả năng thực hành cải lão hoàn đồng (làm trẻ lại), (6) trở thành một vị “du hành không gian” nghĩa là đạt được khả năng bay xa, (7) khả năng tạo một số pháp dược đặc biệt, và (8) năng lực nhận biết được các tàng kinh được cất dấu dưới lòng đất. Ngoài các siddhi thông thường trên thì còn có quả vị chứng đắc tối thắng hay tối thượng – là trạng thái toàn giác, hoàn toàn giác ngộ. </em><br />
__________________________<br />
Trích đoạn Chương 15 (trang 210-213 và trang 215-217) và Chú thích (trang 299-300) từ tập sách tiểu sử của đức Drikung Kyabgon Chetsang Rinpoche, mang tên “Đến Từ Giữa Lòng Tây Tạng: Tiểu Sử Của Vị Thủ Ngôi Dòng Truyền Thừa Drikung Kagyu”(From the Heart of Tibet) (Boston, Massachusetts: Shambhala Publications, 2010) do tác giả Elmar R.Gruber biên soạn.<br />
Với lòng hoan hỉ và lời nguyện cát tường, Tâm Bảo Đàn chuyển Việt ngữ để gửi tặng các thầy Konchog Dorje Dudul, Konchog Tendar, Konchog Yeshe, Konchog Gyatlshen, Konchog Tenzin, Konchog Rangdrol, chú tiểu tí hon Doje-Konchog Sherab và mẹ của chú, Konchog Sonam Wangmo, hiện đang cùng tu học tại đại học Kagyu College và thư viện Songtsen Library, Dehra Dun, Ấn Độ.<br />
California ngày 18/9/2011</p>
<p>Nguồn : http://www.drikungvn.org/index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=386%3Acau-chuyn-ca-s-ong-kyunga-va-s-t-chetsang-rinpoche&amp;catid=90%3Atiu-s-ao-s&amp;Itemid=558&amp;lang=vi</p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/drikung-kagyu/dao-su-drikung/cau-chuyen-cua-su-ong-kyunga-va-su-to-chetsang-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Đức Drupon Sonam Jorphel Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-drupon-sonam-jorphel-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-drupon-sonam-jorphel-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 05 Sep 2015 16:55:11 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Drikung Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Drikung]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=4251</guid>
		<description><![CDATA[Ladakh là một miền đất tuyệt đẹp được gia hộ bởi một chuỗi liên tục không gián đoạn các vị Vua và thượng thư thông tuệ và chứng ngộ, là hiện thân của các Đại Bồ Tát. Một trong những thung lũng trong vùng thấp của miền đất này là Bodhkharbu, tại đây Đức Drupon Jorphel Rinpoche ra đời trong&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-drupon-sonam-jorphel-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Ladakh là một miền đất tuyệt đẹp được gia hộ bởi một chuỗi liên tục không gián đoạn các vị Vua và thượng thư thông tuệ và chứng ngộ, là hiện thân của các Đại Bồ Tát. Một trong những thung lũng trong vùng thấp của miền đất này là Bodhkharbu, tại đây Đức Drupon Jorphel Rinpoche ra đời trong một gia đình tên là Gongmapa. Thân phụ ngài là Sonam Tsephel và thân mẫu là Chosnyit Zangmo, một phụ nữ có bản chất hết sức tốt lành, lịch thiệp và độ lượng. Ngài là con út trong gia đình có bốn trai và một gái.</p>
<p style="text-align: justify;">    Vào sáng sớm ngày mồng 10 tháng 2 năm Thổ Mẹo, ngài ra đời thật nhẹ nhàng với nhiều điềm kỳ diệu và tốt lành, không làm mẹ ngài đau đớn khi chuyển dạ. Theo khoa chiêm tinh, bởi ngài sinh vào ngày thứ năm nên ngài sẽ thông tuệ và thực hành Pháp. Tiên tri nói rằng bởi sao hộ mạng của ngài là Yugpa, ngài sẽ sống từ 28 tới 90 tuổi. Vào ngày mồng 10 và trong tháng 10 ngài sẽ gặp những chướng ngại bởi ngôi sao về việc ngài ra đời được in dấu trên bàn tay ngài. Dấu hiệu rõ ràng khác là một hình chữ vạn theo chiều kim đồng hồ xuất hiện trên mu bàn tay trái của ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">   Vào lúc này, Pháp Vương ở Ladakh là Choje Chosku Tsang. Ngài kiểm tra đứa trẻ thật trìu mến và thương yêu nó mặc dù nó còn rất nhỏ. Ngài thực hiện một tiên tri rõ ràng cho bà mẹ rằng nếu đứa bé được nuôi dưỡng hoàn hảo và thọ giới xuất gia, nó sẽ mang lại lợi lạc to lớn cho rất nhiều chúng sinh. Ngài đặt tên cho cậu bé là Jorphel Palzangpo và ban rất nhiều gia hộ, điều đó làm kinh ngạc những người hiện diện.</p>
<p style="text-align: justify;">    Ngay cả khi còn là một đứa trẻ, Drupon Jorphel Rinpoche đã biểu lộ lòng từ ái bẩm sinh đối với những người nghèo khó và lòng sùng mộ đối với những bậc minh triết. Đặc biệt là ngài có thiên hướng tỉnh giác của Đại thừa với sự thông tuệ kỳ diệu bẩm sinh và luôn luôn biểu lộ lòng thương yêu và chân thật một cách tự nhiên thậm chí không cần phải rèn luyện các hành vi đạo đức. Ngài thích thực hành Pháp siêu việt một cách tự nhiên. Cách ngài giảng dạy Pháp, phương pháp và trí tuệ về phương diện đi vào con đường và những nỗ lực của ngài để làm lợi lạc chúng sinh phù hợp với những biểu hiện kết quả được giảng dạy trong Abhisamayalankaranama.</p>
<p style="text-align: justify;">Có câu nói rằng:</p>
<p style="text-align: justify;"><em>  Bồ đề tâm sẽ không từ bỏ ta</em><br />
<em>  Như cò thìa từ bỏ nước và khói từ bỏ lửa </em><br />
<em>  Có thể xét đoán gia đình của một Bồ Tát minh triết</em><br />
<em>  Bằng những đặc điểm của ngài.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Phù hợp với những điều này, bởi Drupon Jorphel Rinpoche là một Bồ Tát với một tâm hồn cao quý và những ý hướng phi thường, mọi người trong làng nói rằng ngài hẳn là một hóa thân vĩ đại. Đặc biệt, thông tin ầm ĩ như gió nói rằng ngài là hóa thân của Trì minh vương Tashi Wangdan hay Balok Gelong, một đệ tử thành tựu của Drupon Choskyab Rinpoche. Tuy nhiên, đối với ngài, danh hiệu Tulku này tan biến như một cầu vồng, bởi ngài không quan tâm tới một địa vị như thế và thân phụ của ngài xuất thân từ một gia đình nghèo khó chắc chắn là không chú tâm tới vấn đề này. Đặc biệt là thân phụ và ông của ngài không ích kỷ và vô minh như nhiều người thời nay.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ bốn tới năm tuổi, Drupon Jorpehel Rinpoche bắt đầu học đọc với thân phụ. Ngài đọc Tuyển tập các Đà-ra-ni; 8000 câu kệ; Kinh Súc tích; Tiểu sử của Đức Liên Hoa Sanh. Sau đó ngài học thuộc lòng toàn bộ các nghi thức và những cách thức cử hành Pháp của dòng Drikung Kagyu. Ngài nổi tiếng bởi rất thông tuệ khi học tập rộng rãi như thế. Không chỉ học tập xuất sắc vào ban ngày, ngài cũng có thể học thuộc lòng các trì tụng trong các giấc mơ mà không cần đọc các bản văn.</p>
<p style="text-align: justify;">Khả năng đọc các bản văn vào ban ngày cũng như trong các giấc mộng thì giống với tiểu sử của Đức Karmapa Rolpe Dorje trong quá khứ. Theo tiểu sử của Karmapa Rolpe Dorje, mỗi đêm ngài mở nhiều bản văn và sắp xếp chúng quanh giường và trong giấc mộng, ngài có thể học thuộc lòng những từ trong các bản văn và hiểu ý nghĩa của chúng. Tương tự như vậy, Drupon Sonam Jorphel Rinpoche siêu phàm đã học thuộc lòng các bài Pháp trong và ngoài giấc mơ. Một trong nhiều bản văn mà ngài hoàn toàn học thuộc lòng trong các giấc mơ mà không phụ thuộc vào việc đọc bản văn vào ban ngày là  ‘Hai mươi Lời Tán thán Shinskyong’. Như thế ngài đã hết sức nỗ lực không chút xao lãng trong việc học tập, cả ngày lẫn đêm trong các giấc mộng, với sự thông tuệ và kiên nhẫn bẩm sinh, theo cách thế của những bậc siêu phàm thủa trước.</p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù sinh trong một gia đình có bề ngoài nghèo khó,<br />
Tâm ngài thấm đẫm vẻ đẹp tận thâm sâu<br />
Của sự thông tuệ và kiên nhẫn bẩm sinh.<br />
Bất biến trong bản tánh siêu phàm của ba bí mật,<br />
Ngài là một Bồ Tát vô úy không khác một núi vàng.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm lên tám, Drupon Jorphel Rinpoche cúng dường tóc trên đỉnh đầu cho Ladakh Cheje Togden Rinpoche và nhận Pháp danh “Konchok Samtan.” Đối với việc tu học, sau đó ngài được thu nhận và trở thành một Sa di trong tu viện Yungdrung Tharpa Ling, một địa điểm tốt lành phi thường mà các học giả và thành tựu giả trong quá khứ như A La Hán Nyima Gungpa, Đại Thành tựu giả Naropa và Dịch giả Rinchen Zangpo đã thăm viếng. Một lần nữa ngài học các nghi lễ, các tác phẩm Giáo Pháp và phụng sự tu viện phù hợp với những truyền thống cổ xưa và trở nên nổi tiếng như một tiểu Sa di xuất sắc mà mọi người đặt rất nhiều kỳ vọng.</p>
<p style="text-align: justify;">Nơi người ta thành tựu Trí tuệ Nguyên sơ Đại Lạc của Dharmadhatu (Pháp giới),<br />
Suối nguồn của mọi điều tốt lành nhờ thấy, nghe và xúc chạm,<br />
Yungdrung Tharpa Ling, Giáo Pháp, suối nguồn của sự giảng dạy và thực hành.<br />
Kỳ lạ thay! Trụ xứ này của những bậc siêu phàm thật tuyệt diệu.<br />
Việc nghiên cứu, suy niệm và thiền định</p>
<p style="text-align: justify;">Để có sự xác tín nơi truyền thống của các Đạo sư vĩ đại thủa trước, sự thực hành của những môn đồ uyên bác của các ngài và những tuyển tập giáo lý Kinh điển và Mật điển bao la, năm Drupon Jorphel Rinpoche mười sáu tuổi, ngài ao ước được đến Drikung Thil, Kim Cương Tòa thứ hai, là trung tâm đối với Ý nghĩa Cốt tủy của Dòng Thực hành trong Xứ Tuyết và trụ xứ của Đức Gyalwa Jigten Sumgon. Một cuộc du hành như thế cũng là một thông lệ và ngài muốn trung thành với điều đó. Để thực hiện chuyến đi này, ngài đã bất chấp gian khổ và đón nhận những khó khăn. Không quan tâm tới thân mạng, ngài khởi hành qua Kashmir, Ấn Độ, Nepal, Sikkim, Bhutan và Dromolung. Trên đường đi, ngài mặc áo giáp xác tín không khiếp sợ trước bất kỳ điều gì xảy ra như địa hình khắc nghiệt, các sông băng thăm thẳm tận chân trời, những lối đi lởm chởm đá, các vách đứng, những con sông khổng lồ và kẻ cắp. Như thế với hai mươi lăm bạn đồng hành, ngài đã khởi hành để đến nhận các quán đảnh và khẩu truyền Giáo lý Năm Thân. Ngài đến nơi an toàn và xin phép tới Tu viện Drikung Thil lộng lẫy và trở thành một người lão luyện các vũ điệu tâm linh, các giai điệu, tranh vẽ, mạn đà la cát, điêu khắc bơ, các nhạc khí, nghi lễ và Phật sự.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài gặp Chetsang và Chungtsang, các Kyabgon (đấng Quy y và Bảo hộ), và cũng đi hành hương tới tất cả những thánh địa ở Utsang và quanh vùng Utsang chẳng hạn như Tsukakhang vĩ đại ở Lhasa. Quan trọng hơn nữa là từ Choje Balok Thubten Choedak Rinpoche, một trong ba mươi đệ tử của Đức Jigten Sumgon, ngài nhận khẩu truyền Kinh điển Phật Pháp và những quán đảnh, khẩu truyền và giáo lý nền tảng của toàn bộ những bản văn nghi lễ và thực hành, giống như một chiếc bình trút sang chiếc bình khác. Sau đó ngài tìm kiếm sự hỗ trợ từ Nhà Ngari ở Drikung Thil và kiên trì thực hành thiền định, giống như cách thức của Đức Atisha xứ Ấn Độ. Trong thời gian này xảy ra những biến động của thời đại, những trận chiến và cách mạng tiếp diễn khiến ngài khó có thể trụ vững. Mặc dù thế, ngài vẫn duy trì phẩm chất của một hành giả và tiếp tục việc nghiên cứu và thiền định với sự xác quyết kiên cố trong chín tháng nữa.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó Drupon Jorphel Rinpoche trở về Ladakh và trở thành tổng quản của Tu viện Hensku, một chi nhánh của Yungdrung Tharpa Ling trong ba năm. Đối với mọi người ngài có vẻ là một bậc phi thường tuân giữ nghiêm cẩn định luật nghiệp quả và thực hiện nỗ lực nhanh chóng nhất để làm lợi lạc cho người khác trước khi cho bản thân ngài. Họ khẩn nài ngài làm tổng quản thêm một lần nữa và ngài đồng ý làm thêm hai năm. Về sau ngài trở thành tổng quản của Tu viện Sangngak Choeling ở Bodhkharbu trong ba năm và đã thực hiện những hoạt động rộng lớn. Sau đó, phụ mẫu của ngài qua đời và ngài hiến dâng phụng sự đức hạnh rộng lớn của hai tích tập và đã thực hiện sự hồi hướng và cầu nguyện sâu rộng.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì lợi lạc của Phật Pháp và hạnh phúc của chúng sinh, ngài đi gặp Taklung Tsetrul Rinpoche ở Tu viện Zang Zang Palri tại Chushul. Từ vị Thầy này ngài nhận những quán đảnh, khẩu truyền, giáo huấn cốt tủy cũng như các giáo lý nền tảng Bảy Kho tàng của Longchenpa, Ba Chuỗi Nghỉ ngơi, Ba Chuỗi Tự-giải thoát.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ học giả và bậc chứng ngộ Gelong Gyaltsen Rinpoche ở Tu viện Sharkhul Phuntsog Choling ở Ladakh thượng, ngài nhận những lời dạy về nhiều giáo lý y học chẳng hạn như bốn Mật điển y học.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài cũng nhận các giáo lý cikitsavidya (y học) từ bác sĩ Thinle Odzer. Từ Khenchen Noryang Rinpoche, một bậc Thầy đã phổ biến rất nhiều giáo lý Kagyu trong thời đại suy hoại, ngài đã nhận các giáo lý về sách giáo khoa ngữ pháp, Abhisamayalankara (Trang nghiêm Chứng ngộ của Trí tuệ Ba la mật), Uttaratantra (Mật điển Ðại Thừa Tối Thượng), Madyamikaavatara (Nhập Trung Đạo) và v.v…</p>
<p style="text-align: justify;">Khi đã phát triển mối quan tâm lớn lao trong việc nghiên cứu và thiền định, ngài tới thánh địa Rewalsar, nơi an trú của Khenchen Thupten Choezang Rinpoche, một học giả và bậc chứng ngộ với những phẩm hạnh vô song về kiến thức, sự tận tâm, và tốt lành, bậc soi sáng giáo lý kho tàng phương bắc của truyền thống Mật thừa cổ xưa Dorje Dak. Cùng với hóa thân của Shabtrung Ngawang Namgyal xứ Bhutan, Drupon Jorphel Rinpoche làm hài lòng Khenchen Rinpoche với thân, ngữ, và tâm ngài và nhận nhiều giảng dạy về văn học như ba pho sách giáo khoa về ngữ pháp, thi ca, khoa nghiên cứu về vần luật và hình thức thi ca, các từ đồng nghĩa và cả Giáo pháp về nội khoa chẳng hạn như Cổng vào Kiến thức; Nhập Bồ Tát Hạnh; Pháp Tu Chuẩn bị; Những Câu Kệ Gốc và Luận giảng về sự Trang nghiêm Trung Đạo; Trang nghiêm Chứng ngộ của Trí tuệ Ba la mật, trong thời gian bốn năm.</p>
<p style="text-align: justify;">Hết sức hài lòng vì bản chất đáng kính của ngài, Khenchen Thupten Choezang Rinpoche nói: “Ta đã phơi bày mọi ngôn từ của trái tim ta cho ông, Sonam Jorphel.” Như thế, ngài hết sức may mắn được nhận nhiều giáo huấn cốt tủy sâu rộng, sự làm thuần thục và giải thoát, cùng với lòng từ ái và thương yêu to lớn.</p>
<p style="text-align: justify;">Có lần trong thời gian này, Drupon Jorphel Rinpoche có việc phải đi Manali. Ngài cư ngụ tại nhà của một gia đình và ban đêm ngài ngủ trong một gian phòng ở tầng trên. Ngài thấy vô số giấc mơ, trong đó có những giấc mơ khác thường nhưng ngài không muốn để lộ ra. Sau này, ngay khi ngài biết là có một đại yogi đang ở tầng dưới, ngài đi gặp vị đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Giây phút ngài nhìn thấy vị yogi, trong lòng ngài dấy lên một cảm giác buồn vui lẫn lộn và lòng sùng mộ không thể tưởng tượng nổi. Ngài tràn ngập niềm vui khi nhìn thấy một Lạt ma đích thực nhưng buồn vì đã tạo nghiệp xấu bởi ngài đã ngủ phía trên Lạt ma trong phòng ở tầng trên. Drupon Jorphel Rinpoche nói rằng ngài khó có thể nói được ngay cả danh hiệu của vị Thủ hộ của các Yogi siêu phàm đó, nhưng nếu ngài làm điều đó thì đó là vì lợi lạc của chúng sinh. Ngài nói yogi đó là Drubwang Konchok Zodpa Gyatso hay Chunga Rinpoche, một hiện thân của Đại Thành tựu giả Dombi Heruka, vị Thủ hộ của các Yogi và là một Viên Ngọc Như ý.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào lúc đó, khi Drupon Jorphel Rinpoche cảm thấy một sự sùng mộ trọn vẹn, những tư tưởng tầm thường, khinh xuất hoàn toàn tự ngừng bặt và ngài an trụ trong trạng thái đó một thời gian. Ngài cúi đầu dưới chân Lạt ma và khẩn cầu Lạt ma coi ngài là đệ tử. Lạt ma chấp nhận điều đó và hỏi ngài từ đâu tới. Khi ngài trả lời là từ Ladakh tới, Lạt ma nói: “Ồ! Ồ! Đó là một trùng hợp ngẫu nhiên tương thuộc hết sức tốt lành.” Vị Lạt ma ban cho ngài một ít rượu để uống trong một chén sọ người mà ngài luôn luôn mang theo. Khi ngài uống cạn chén rượu không chút nghi ngờ, vị Lạt ma hết sức âu yếm ban cho ngài một vài giáo huấn cốt tủy và tiên tri: “Hai chúng ta có mối tương thuộc hoàn hảo, ta sẽ gặp lại nhau sau này.” Như thế họ chia tay nhau với sự miễn cưỡng.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm ba mươi lăm tuổi, Drupon Jorphel Rinpoche tới Bodhgaya (Bồ Đề Đạo Tràng). Ở đó ngài gặp Khunu Lama Tenzin Gyaltsen, một yogi ẩn dật vĩ đại, một bậc siêu phàm không-bộ phái tinh thông đại dương các giáo lý Phật giáo và phi-Phật giáo. Khi Drupon Jorphel Rinpoche khẩn cầu vị Thầy này một vài giáo lý, ngài hỏi: “Thầy ông là ai?” Drupon Jorphel trả lời: “Thầy con là Gegen Choszang Rinpoche.” Khunu Rinpoche chắp hai bàn tay và tán thán: “Ngài là một học giả uyên bác và là bậc chứng ngộ.” Khunu Rinpoche dạy Drupon Jorphel Rinpoche luận giảng ngag sgron (Ngọn Đèn Ngôn ngữ) là tác phẩm của ngài và ban cho Drupon Jorphel Rinpoche khẩu truyền byang chub sems bstod (Tán thán Bồ đề tâm), vài hạt giống của cây Bồ đề và các ngài đã cùng nhau thảo luận thật lâu.</p>
<p style="text-align: justify;">Một đệ tử của Bồ Tát Tenzin Gyaltsen Rinpoche là Drikung Khandro hay Nene Rinpoche; một yogini (nữ hành giả) trong hình tướng con người. Bà nói với Drupon Jorphel Rinpoche: “Ngay bây giờ đây, Dòng Drikung vô cùng suy yếu và bị thiệt thòi. Tôi khẩn nài ngài lưu ý để Dòng Drikung càng lúc càng phát triển hơn và những tổn hại được sửa chữa trong tương lai.” Đặc biệt là bà nói: “Tôi rất hy vọng là ngài sẽ làm lợi lạc Phật Pháp và chúng sinh. Đừng bỏ lỡ điều đó. Đừng bỏ lỡ điều đó.” Đúng như bà đã tiên tri, như một điều rất hiển nhiên đối với chúng ta, hãy nhìn các hoạt động giảng dạy và thực hành của Drupon Jorphel Rinpoche. Những ai là bậc minh triết nhất định sẽ phải chú ý tới những điều này.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó, tiên tri của Drubwang Chunga Rinpoche dường như trở thành hiện thực, biểu lộ tính chất không thể sai lạc của mối tương thuộc hoàn hảo nhân và quả. Với những nguyện ước vô song, Ladakh Choeje Togden Rinpoche và Khenchen Konchok Tenzin đồng lòng quyết định thỉnh mời Viên Ngọc Như ý Drubwang Chunga Rinpoche tới Ladakh để có thể thắp lại ngọn lửa sắp tàn của Dòng Drikung. Họ phái Gelong Tsetan tới Himachal, đặc biệt để mời Drubwang Chunga Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Bởi những nguyện ước và hứa nguyện kiên cố trong quá khứ, Drubwang Chunga Rinpoche đã hết sức ân cần chấp thuận lời cầu thỉnh và tới Chusul ở Ladakh, chỉ vì lợi lạc của các giáo lý vô cùng quý báu của Dòng Thực hành mà ngài không ngừng ấp ủ trong tim.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Drubwang Chunga Rinpoche đã có mặt ở Ladakh, Choeje Togden Rinpoche chỉ định một vài tu sĩ nhập thất và đặc biệt là đã gọi Drupon Jorphel Rinpoche lại và thuyết phục ngài thực hành trong ẩn thất để truyền bá yếu nghĩa của Dòng Thực hành.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào lúc đó, ngài nghĩ rằng đã tới thời điểm ngài đặc biệt ao ước để kiên nhẫn trong việc thực hành yếu nghĩa và cũng có thể mang lại lợi lạc cho Phật Pháp và chúng sinh. Vì thế Drupon Jorphel Rinpoche tự quyết định và đồng ý với lời khẩn cầu của Choeje Togden Rinpoche. Phương tiện sinh sống của  Drupon Jorphel Rinpoche trong thời gian nhập thất sẽ được bảo trợ bởi Chushul Meme Gawa Tsang, Lhobzur Konchok Gyatso - bạn ngài - và mẹ của ngài. Ngoài ra, bản thân Drupon Jorphel đã chữa trị cho một vài bệnh nhân và kiếm được một ít tiền.  Như thế phương tiện sinh sống trong thời gian nhập thất của ngài được sắp xếp một cách tự nhiên.</p>
<p style="text-align: justify;">Khóa nhập thất đầu tiên được thực hiện ở Zang Zang Palri tại Chushul, nơi một đệ tử thiết lập một tu viện theo tiên tri của Guru là ngài Kyabgon Thugje Nyima.    Khóa nhập thất này gồm có Drupon Jorphel Rinpoche và các bạn đồng tu của ngài như Lhobzur Konchok Gyatso, Lhobzur Konchok Tenzin, Gelong Tseten, Gelong Choejor, Gezur Konchok Thusten, Uzur Konchok Dorje, Dezur Konchok Lhundup, Gelong Gatsul, Gelong Trimten và Amje Rabten.</p>
<p style="text-align: justify;">Tại Zang Zang Plari ở Chushul, Drubwang Chunga Rinpoche đã giảng dạy các giáo lý tổng quát như Pháp Bảo của sự Giải thoát; Chuỗi Ngọc của Con Đường Siêu việt; Hai Luận giảng của Gongchik; Ba mươi bảy Thực hành của các Bồ Tát.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài cũng dạy các giáo lý về thực hành thiền định như Quán đảnh và Thực hành pháp Trường thọ; Năm nhánh Đại Ấn; Các Câu Kệ Kim cương của Dòng Lắng nghe; Mật điển Sánh tợ Không gian; Đại Ấn Sông Hằng; Dòng Lắng nghe của Milarepa. Như thế, Drupon Jorphel Rinpoche cùng mười một hành giả đầy đủ phẩm tính đã nhận những quán đảnh, khẩu truyền và giáo huấn cốt tủy làm thuần thục và giải thoát phù hợp với các giai đoạn của con đường. Các ngài đã nhất tâm nhẫn nại trong việc nghiên cứu và thực hành, giương cao ngọn cờ giáo lý chiến thắng của các Đạo sư siêu phàm thủa trước của Dòng Thực hành trên chóp đỉnh của ba cõi và làm cho giáo lý của Đức Phật lan rộng khắp muôn phương.</p>
<p style="text-align: justify;">Lần thứ hai, Drupon Jorphel Rinpoche nhập thất tại Lamayuru hay Dansa Chenpo Yungdrung Tharpa Ling, một địa điểm phi thường, nơi nhiều bậc siêu phàm như A La Hán Nyimagungpa và Đại Thành tựu giả Naropa v.v.. đã viếng thăm. Lần này Drubwang Chunga Rinpoche có mười lăm đệ tử trong đó có Đức Drikung Kyabgon Chetsang.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi đã tới lúc Lạt ma Drubwang Chunga Rinpoche thị tịch vì lợi ích của chúng sinh, người duy nhất mà Lạt ma có thể tin tưởng được là Drupon Jorphel Rinpoche. Ngài được ban một vài giáo huấn cốt tủy dưới hình thức di chúc của Lạt ma. Sợ rằng các giáo huấn cốt tủy có thể trở thành sự cường điệu và phỉ báng, ngài đã gìn giữ chúng ở tận đáy lòng mình. Drubwang Chunga Rinpoche nắm tay Drupon Jorphel Rinpoche trong bàn tay phải của mình và nói: “Hãy thực hành theo cách ta đã dạy cho con. Ta hiểu niềm vui và nỗi buồn của con. Nhờ Bổn tôn và Lạt ma, hành giả không bao giờ bị sai lạc.” Sau này, Drubwang Chunga Rinpoche ra lệnh: “Bây giờ con cũng hợp nhất với ta và hãy tụng ‘Gọi thầy Từ Xa.’” Trong khi hai Thầy trò đang tụng ‘Gọi Thầy Từ Xa’, Lạt ma cầm tay Drupon Jorphel Rinpoche bằng bàn tay phải và nói “Shewe Lodro Khenno!” Rồi với đôi mắt mở lớn đăm đăm nhìn lên không trung, Lạt ma nhập Niết bàn.</p>
<p style="text-align: justify;">Các đệ tử chìm đắm trong buồn đau và được hướng dẫn thực hiện các tang lễ thích hợp. Một hội nghị được tổ chức trong mọi đệ tử và những người đồng lòng tuân theo lời dạy của Lạt ma Tôn quý. Đức Drikung Kyabgon cũng khuyên rằng cách hay nhất là thực hành pháp trường thọ và duy trì việc thực hành cá nhân trong các phòng nhập thất thích hợp.</p>
<p style="text-align: justify;">Đúng như Drubwang Chunga Rinpoche đã dự định, Drupon Jorphel Rinpoche ban các quán đảnh, khẩu truyền và giáo huấn cốt tủy cho những hành giả sau đây: Khenchen Konchok Gyaltsen, Gelong Tashi Gyatso quá cố, Gelong Konchok quá cố, Lobzur Tondup, Drupon Sonam Kunga, Gelong Tsering, Drupon Chamba Rigzin, Drupon Konchok Samten, Gelong Paldan, Lama Konchok Tharchan, Gelong Dawa, Nangchen Gelong Tsulten, Gelong Samtan, Lhopon Tondup – người anh quá cố của Drupon Jorphel Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau này, Đức Drikung Kyabgon Chetsang, vị kế thừa giáo lý của Gyalwa Drikungpa tượng trưng cho trái tim của Dòng Ý nghĩa, với bản tánh tự nhiên của một đấng siêu phàm, đã làm vui lòng thân, ngữ và tâm của Drupon Jorphel Rinpoche và nhận các giáo huấn cốt tủy dành cho thiền định về Lạt ma như Pháp Thân v.v.. cho tới thực hành hồi hướng. Đức Drikung Kyabgon Chetsang cũng nhận các quán đảnh, khẩu truyền và giáo huấn cốt tủy Vajrayogini, phù hợp với lời dạy của Lạt ma cùng với Sáu Yoga của Naropa và những bài tập du già và v.v…Những giáo lý này được từ từ dâng lên Đức Drikung Kyabgon Chetsang, phù hợp với lời dạy của các Đạo sư thủa trước của Dòng Kagyu.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước đó, Drupon Jorphel Rinpoche làm thị giả khi Đức Drikung Kyabgon Chetsang thực hiện các trì tụng thiền định trong trụ xứ chính của ngài tại Yungdrung Tharpaling, kế đó là một vài giáo huấn cốt tủy được Drubwang Chunga Rinpoche dâng cho Đức Chetsang Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Tóm lại, Lạt ma và các đệ tử đã duy trì samaya (hứa nguyện) kiên cố hơn một cái nút vàng; đã thực hành con đường hai giai đoạn; nghiên cứu và giảng dạy bốn bộ tantra (Mật điển); ngăn ngừa việc biến mất của dòng quán đảnh không khiếm khuyết và không bao giờ đánh mất sự chính xác trong thực hành của Đạo sư thủa trước của Dòng Thực hành. Không chút sai lầm trong cái thấy (kiến), thiền định (thiền) và hành động (hành), các ngài nghiên cứu và thực hành đại dương giáo lý gắn liền với Mật thừa vĩ đại.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong mọi lúc, các ngài đã bảo tồn trong giai đoạn phát triển, các trì tụng thiền định và giai đoạn thành tựu và đã xem thân thể mình như thân của Bổn tôn, ngữ như các thần chú và tâm như sự hợp nhất của đại lạc và tánh Không một cách tương ứng, hoàn toàn phù hợp với các giáo huấn cốt tủy của các Đạo sư siêu phàm của Dòng Thực hành, là tập hội kiệt xuất nhất đã đáp ứng mọi ước nguyện của bản thân và chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Đối với nhóm hành giả được đề cập ở trên,  Drupon Jorphel Rinpoche đã ban các quán đảnh, khẩu truyền và giáo huấn cốt tủy Vajrayogini và Sáu Yoga của Naropa, kể cả các giáo lý nền tảng, hoàn toàn phù hợp với phương pháp của Lạt ma siêu phàm. Vì lợi ích của Phật pháp và chúng sinh, ngài đã biểu thị những hoạt động vĩ đại đáng kinh ngạc như đề xướng việc hồi sinh các giáo lý truyền dạy và chứng ngộ nói chung và một lần nữa truyền bá các giáo lý của Gyalwa Drikungpa nói riêng. Như thế, ngài đã bảo tồn các kỹ thuật của Đạo sư thủa trước của Dòng Thực hành, là dòng truyền thừa như sợi xích vàng không có những vết nhơ của các vi phạm samaya. Những lợi lạc to lớn được thành tựu bởi các đệ tử phi thường như thế, là các bậc hộ trì, bảo tồn và truyền bá Kinh điển và Mật điển cùng những luận giảng được mô tả rõ ràng trong các Kinh điển và Mật điển, và vì thế tôi không ghi lại những điều đó ở đây.</p>
<p style="text-align: justify;">Drupon Jorphel Rinpoche đã nhận kho tàng bao la giáo lý của Đức Phật, các quán đảnh, khẩu truyền và giáo huấn cốt tủy, kể cả các giáo lý nền tảng cũng như nhiều giáo huấn sâu rộng như khrid yig yeshes blama của Đức Dilgo Khentse Rinpoche, hiện thân của Đức Liên Hoa Sanh và vị lãnh đạo tâm linh của truyền thống Cựu Dịch. Ngài đã nhận Kho tàng Quý báu các giáo lý-kho tàng (terma) từ Đức Kyabje Drubwang Penor Rinpoche. Ngài đã nhận nhiều quán đảnh, khẩu truyền và giáo huấn cốt tủy từ Taklung Matrul Rinpoche, Shabtrung Rinpoche, Đức Kyabje Dudjom Rinpoche, Đức Karmapa Thứ 16 Rigpe Dorje, Đức Đạt Lai Lạt Ma, biểu tượng của nền hòa bình thế giới và vị thủ hộ của trời và người, và nhiều Lạt ma chân chính khác. Về tên của những giáo lý này, quý vị có thể tham khảo danh mục các giáo lý ngài đã thọ nhận. Bởi không đủ thời gian, tôi không liệt kê các giáo lý đó ở đây và xin tạ lỗi về điều đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Những Hoạt động Rộng lớn của Rinpoche để Truyền bá Phật pháp</p>
<p style="text-align: justify;">Từ năm 1983, Drupon Jorphel  đã du hành tới nhiều quốc gia. Ngài đã thiết lập nhiều trung tâm Giáo Pháp như Drikung Tahijong ở Đức, Drikung Phuntsogling tại Áo và trung tâm Giáo Pháp Drikung Kagyu ở Nga và bằng cách chuyển Pháp luân, ngài đã giúp cho nhiều người chuyển tâm về Pháp. Trong số các đệ tử của ngài, nhiều người là những đại thí chủ của Giáo Pháp. Những người thượng căn đã đạt được giải thoát trong đời này. Những người trung căn đạt được giải thoát vào lúc chết và những người hạ căn đạt được giải thoát trong trạng thái trung ấm.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong số các đệ tử hiện tại của ngài có Tara ở Áo và Ngakpa Rinchen Phuntsok là những người đã hiến dâng toàn bộ đời mình cho việc phụng sự Drupon Jorphel Rinpoche. Đa số các đệ tử của ngài thuộc các truyền thống Sakya, Gelug, Kagyu và Nyingma cũng như ở Ấn Độ, Trung quốc, Nepal và Tây Tạng, là những người tìm kiếm sự toàn giác, nỗ lực nghiên cứu và thực hành Pháp và bước đi trên con đường tam học (Giới, Định, Huệ) và nghiên cứu Tam Tạng Kinh điển (Kinh, Luật Luận). Ngay cả một kẻ ngu si như bản thân tôi cũng đã để ý xem làm thế nào hầu hết đệ tử của ngài nhẫn nại liên tục, cả ngày lẫn đêm, trong việc thực hành Pháp bằng cách cưỡi trên con ngựa trí tuệ và đốc thúc nó gia tăng tốc độ bằng chiếc roi da của sự nỗ lực tinh tấn.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngoài ra, Drupon Jorphel Rinpoche đã du hành khắp thế giới, ở những quốc gia như Hoa Kỳ, Thụy sỹ, Đài Loan, Mã Lai và Nga và mang lại nhiều lợi lạc cho tất cả chúng sinh bằng cách xoay chuyển tâm họ về Pháp. Tôi đề nghị các bạn xem video để hiểu thêm về những hoạt động soi sáng toàn thể ba cõi của ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">   Vào năm 2000, trong Khóa Giảng Năm Tỵ tại Jangchub Ling, Ấn Độ, Drupon Jorphel Rinpoche đã thực hiện một công hạnh bố thí vĩ đại bằng cách ban Giáo Pháp như-cam lồ là bảy Mật điển của Ngok Lotsawa, chẳng hạn như Hey Vajra, cùng nhiều sadhana (nghi quỹ) và những luận thuyết, cho một tập hội hơn một ngàn tu sĩ, trong đó có nhiều Khenpo và Tulku.</p>
<p style="text-align: justify;">Để không phí phạm những hiến cúng nhận được ở ngoại quốc, Drupon Jorphel Rinpoche đã sử dụng chúng để thiết lập các trường Phật học và các trung tâm thiền định và xây dựng các biểu trưng của thân, ngữ và tâm theo cách thức sau đây:</p>
<p style="text-align: justify;">Để tổ chức các Đại lễ Cầu nguyện bất bộ phái hàng năm ở Ladakh, ngài đã hiến tặng tận tay Chủ tịch Wangchuk số tiền 7.000.000 ru-pi. Bằng cách tạo điều kiện thuận tiện cho việc tổ chức Đại lễ Cầu nguyện được toàn hảo, việc này mang lại một lợi lạc to lớn cho Phật pháp và chúng sinh. Ngoài ra, ngài đã hiến tặng hàng trăm và hàng ngàn ru-pi để làm quỹ xây mới các tu viện của mọi tông phái.</p>
<p style="text-align: justify;">Tại Bodkharbu, ngài đã hiến tặng 8.000.000 ru-pi cho quỹ xây dựng dinh thự cho Đức Đạt Lai Lạt Ma.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài đã tặng 400.000 ru-pi cho Tu viện Gangngon Tashi Chedzong để thực hiện nghi lễ kun rigs (sarvavid) và Một Trăm Triệu Trì tụng Thần chú Mani hàng năm.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài đã tặng một Thanka (tranh cuộn Tây Tạng) thêu khổng lồ và sáu mươi tượng mạ vàng của chuỗi vàng các Đạo sư Kagyu kể cả những chất thể linh thiêng cho Tu viện Yungdrung Tharpa Ling.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài đã tặng trọn bộ Bản dịch Giáo lý của Đức Phật và 100.000 ru-pi cho Tu viện Shachul Phuntsok Choeling.</p>
<p style="text-align: justify;"> Ngài đã tặng 100.000 ru-pi cho Sani Gonpa tại Zangskar.</p>
<p style="text-align: justify;"> Ở Đề Li, ngài đã khai mạc Đề án Bản văn Drikung Kagyu, là đề án đã in ấn nhiều tác phẩm quan trọng.</p>
<p style="text-align: justify;"> Dinh thự của Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Bodkharbu là một mô hình của Yumbu Lhakhang ở Tây Tạng. Trong lễ khánh thành dinh thự này, Đức Đạt Lai Lạt Ma vô cùng hoan hỉ và với thiện tâm to lớn, ngài đã ban nhiều giáo lý sâu xa. Trong bài diễn văn, Đức Đạt Lai Lạt Ma hứa sẽ viếng thăm nơi đây một lần nữa. Là những hoạt động vĩ đại đã thực hiện được, dinh thự giống như một vật trang hoàng tuyệt đẹp để nhân dân Ladakh tích tập công đức mới.</p>
<p style="text-align: justify;"> Ngoài ra, Drupon Jorphel Rinpoche đã thành lập các ni viện và trung tâm nhập thất mới; hiến cúng rộng rãi cho Drikung Thil, Kim Cương Tòa thứ hai; cúng dường một trụ xứ và các vật thể tượng trưng cho thân, ngữ và tâm của Đức Drikung Kyabgon Chungtsang, vương miện của toàn bộ dòng Dagpo Kagyu, vị lãnh đạo của toàn thể chúng sinh, bậc chỉ ra con đường siêu việt và đại diện của Đấng Chiến Thắng. Thêm nữa, Drupon Jorphel Rinpoche đã thực hiện những công hạnh bố thí vĩ đại cho nhiều tu viện và cộng đồng Drikung Kagyu. Tại Ngari, Tây Tạng, ngài đã giúp tái thiết tu viện Gyandrak và bảo trợ việc cung cấp thực phẩm cho các tu sĩ.</p>
<p style="text-align: justify;">Tại Nepal, ngài đã thiết lập một trung tâm nhập thất tại Tatopani và Tổ chức Drikung Kagyu Dharamraja Foundation, trụ xứ của khoảng một trăm tăng sinh và thầy giáo của họ. Ngài có kế hoạch thiết lập một Học viện biện chứng trên ngọn đồi thiêng phía sau Đại Bảo Tháp Syambunath.</p>
<p style="text-align: justify;">Dựa trên bản chi tiết kỹ thuật được thiết lập, ngài đang xây dựng nhiều bảo tháp chứa đầy những chất thể xác thực:</p>
<p style="text-align: justify;">Việc xây dựng một trung tâm nhập thất và một Đại Bảo Tháp Liên Hoa đang tiến hành tại Lâm Tì Ni, để tưởng nhớ Đạo sư Vô cùng Thiện xảo và Đại Bi của chúng ta, Đấng Toàn Giác, Quốc Vương vô song của bộ tộc Thích Ca.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài cũng xây dựng một Bảo Tháp Thuận Hòa ở Đức; một Bảo Tháp Chiến Thắng Không Chướng ngại tại Áo; một Bảo Tháp Giáng Thế ở Nepal tại Đại Bảo tháp Swyambhunath; một Bảo Tháp Giác ngộ tại Tatopani; một Bảo Tháp Thuận Hòa tại trung tâm nhập thất ở Lamayuru như các món cúng dường cho Drubwang Chunga Rinpoche; một Bảo Tháp Giác ngộ và các pho tượng của Đức Văn Thù, Kim Cương Thủ và Quán Thế Âm tại Henassku; một Bảo Tháp Giác ngộ và các pho tượng của Đức Văn Thù, Kim Cương Thủ và Quán Thế Âm tại Shachukul; một Đại Bảo Tháp Liên Hoa tại Pithodgar ở bắc Ấn Độ và một Bảo Tháp Giác ngộ như món cúng dường cho Thupstan Choszang Rinpoche, trong mộ địa vĩ đại tại Sani, Zangskar, nơi vị Thầy này viên tịch.</p>
<p style="text-align: justify;">Drupon Jorphel Rinpoche cũng liên tục truyền bá các thiền định và trì tụng trong bốn thời khóa. Như thế ngài phụng sự như một sứ giả làm chói ngời các hoạt động vĩ đại để truyền bá và thâm nhập khắp ba cõi. Như đã đề cập ở trên, ngài là một đệ tử đích thực của Drubwang Chunga Rinpoche, đã thực hiện mọi sự phù hợp với lời dạy của Lạt ma. Nhờ bản chất và sự hiến dâng toàn hảo cho Phật pháp và chúng sinh, ngài đã thiết lập các tu viện như những biểu trưng cho thân Phật; các thư viện giáo lý của Đức Phật và những luận giảng như các biểu trưng cho ngữ Phật; các Học viện biện chứng và trung tâm nhập thất cùng những cộng đồng tâm linh như những biểu trưng cho tâm Phật. Ngài là một thiện tri thức đích thực hiện diện trong cuộc đời như sự vinh quang và vị thủ hộ của Phật pháp và chúng sinh với thân tướng vĩ đại chói ngời, ngôn ngữ lộng lẫy không mỏi mệt và tâm thức bất biến trong sự xả bỏ hoàn hảo.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguyên tác: Most Venerable Drupon Sonam Jorphel Rinpoche</em><br />
<em>Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-drupon-sonam-jorphel-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Đức Garchen Triptrül Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-garchen-triptrul-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-garchen-triptrul-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 05 Sep 2015 16:44:32 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Drikung Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Drikung]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=4246</guid>
		<description><![CDATA[ "Có những vết thương còn tệ hại hơn cả sự chết chóc. Tâm thức của Garchen Rinopche đã bị chấn thương khi chứng kiến cảnh những người vô tội, gia đình và bằng hữu bị giết hại. Đại sư Garchen trước đây thường nghĩ rằng chẳng có ai trên thế giới này lại có nhiều sự oán ghét và sân&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-garchen-triptrul-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"> "Có những vết thương còn tệ hại hơn cả sự chết chóc. Tâm thức của Garchen Rinopche đã bị chấn thương khi chứng kiến cảnh những người vô tội, gia đình và bằng hữu bị giết hại. Đại sư Garchen trước đây thường nghĩ rằng chẳng có ai trên thế giới này lại có nhiều sự oán ghét và sân hận bằng ngài! Ngay cả đối với một con người bình thường trong những hoàn cảnh bình thường, thì lòng oán ghét, sân hận cũng đã là điều không ai muốn, huống hồ đây lại là trong trường hợp của một vị tái sinh và tăng sĩ thì sự phô bày các bản tánh có vẻ xấu xa không thiện lành kia lại càng là điều không thể nào tưởng tượng nổi.</p>
<p style="text-align: justify;">Cho dù là như thế thì những bài học mà Garchen Rinpoche phải học, và những thử thách mà ngài đã vượt qua, thực sự đã đưa ngài đến với chiến thắng vẻ vang—là sự bứt phá và chiến thắng vẻ vang của con tim và của tâm thức, và là sự kiệt quệ và bại trận của nội ma, của những kẻ thù bên trong chứ không phải kẻ thù bên ngoài, những kẻ thù nội tại phát xuất từ tham ái, sân hận, oán ghét và mê lầm!</p>
<p style="text-align: justify;">“Nếu con thực sự là học trò của thầy,” Garchen Rinpoche đã nhiều lần nói, “thì con sẽ không phát khởi sân hận, ngay cả đối với cái người sẽ đến cướp đi mạng sống của thầy. Nếu khi ấy con phát lòng sân hận, thì nghĩa là thầy đã thất bại trong tư cách làm thầy của con rồi!  Nếu nghiệp của người kia là nghiệp sát hại và nghiệp của thầy là nghiệp bị sát hại, thì hãy cứ để nó là như thế, nhưng là đệ tử của Garchen Rinpoche thì con không được đánh mất Bồ Đề tâm, và phải tiếp tục trưởng dưỡng tình yêu thương cùng lòng đại bi dành cho kẻ ấy.”</p>
<p style="text-align: justify;">“Nếu có một ai đó con đã từng thương yêu chăm sóc như đứa con dại của mình, kẻ ấy lại đối xử tàn tệ với con, hãm hại con, làm đau lòng con, đánh đập con, hoặc bức bách con, thì cũng chẳng có gì phải thắc mắc, con phải dứt khoát không được đánh rơi mất Bồ Đề tâm! Xác thân này là cái con sẽ phải bỏ lại vào cuối cuộc đời, nhưng tình yêu thương bình đẳng trong suối nguồn tâm thức của con là cái mà con muốn bảo vệ và đem theo với con suốt muôn đời.”</p>
<p style="text-align: justify;">"Đối với tôi, trong cuộc đời này có hai loại chúng sinh hữu tình: những ân nhân của ‘thương yêu’ và những ân nhân của ‘nhẫn nhục’ của tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Đa số là các ân nhân thương yêu; họ rất tử tế và giúp đỡ tôi. Một số người khác lại tìm cách hãm hại và gây trở ngại; đó là những ân nhân ‘nhẫn nhục’ của tôi. Sự tử tế của mỗi ân nhân ngang bằng nhau và do đó, tình yêu thương mà tôi dành cho họ cũng bình đẳng như nhau. Những ân nhân ‘nhẫn nhục’ lại còn có thể tử tế với tôi hơn thế nữa bởi vì họ tạo điều kiện cho tôi thực hành và hoàn thiện hạnh nhẫn nhục"</p>
<p style="text-align: justify;">Dòng truyền thừa Phật giáo Kagyu được kế thừa bởi những Lạt ma đức cao vọng trọng. Đó là sự thật đặc biệt của dòng truyền Drikung Kagyu, được sáng lập bởi Kyoba Jigten Sumgon. Một trong những đệ tử tâm yếu của Kyoba Jigten Sumgon là thành tựu giả Gar Dampa Chodingpa, mà dòng truyền tái sinh của ngài được trì giữ bởi đức Garchen Rinpoche hiện nay.</p>
<p style="text-align: justify;">Gar Dampa Chodingpa được sinh vào năm 1180 sau công nguyên. Ngài được công nhận là một tái sinh của Acharya Aryadeva  Bodhisattva (Thánh Thiên Bồ Tát), một đệ tử của đức Long Thọ. Vừa được sinh ra ngài đã có thể cầm một chiếc gậy, và trì tụng thần chú lục tự. Mẹ ngài đã quá kinh hãi đến mức phải kể với những người khác về những khả năng của con trai mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó, ngài thực hành mật chú tại Tsari ở Tây Tạng. Trong khi ngụ tại một hang động của Gar ở Dagpo, tất cả chư thiên và quỷ thần của Tây Tạng hội tụ quanh ngài. Đầu tiên họ ném những vũ khí sắc nhọn và làm thương tổn ngài, nhưng sau đó quy y ngài, cúng dường ngài thần chú tinh túy sống của họ</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Gar Dampa Chodingpa còn trẻ, ngài nghe về những thành tựu vinh quang của Đại thành tựu giả Kyobpa Jigten Sumgon. Vì vậy, ngài quyết định lên đường đến Drikung. Ngài đã ở lại đó và thọ nhận nhiều giáo lý và thực hành dưới sự hướng dẫn của đạo sư của mình, Kyoba Jigten Sumgon. Rất nhanh chóng ngài đã đạt được giác ngộ hoàn toàn, và ngài đã trở thành một trong ba đại thành tựu giả quan trọng  - Gar, Nyo và Chosum – của Kyobpa Jigten Sumgon.  Gar Dampa Chodingpa trình diễn nhiều năng lực phi thường vào nhiều dịp  và thông qua những giáo lý thâm sâu của ngài truyền cho vô số chúng sinh  về con đường của Pháp. Nhiều đệ tử bắt đầu tụ tập quanh ngài, nhưng vẫn còn là quá sớm để thu nhận họ, thế nên ngài rầy họ và bảo họ rời đi. Ngài đã sáng lập một tu viện tại Drikung. Rốt cuộc, nhiều đệ tử tụ tập quanh ngài hơn, ngài đã rời đi để sáng lập tu viện của Phurgon Rinchen Ling.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong những tái sinh tiếp theo của Gar Dampa Chodingpa, Gar Tenpe Gyaltsen trở thành nhiếp chính của hai vị Drikung Kyabgon, người nắm giữ dòng truyền thừa Drikung Kagyu. Trong cương vị đó ngài làm lợi lạc cho tất cả chúng sinh. Một tái sinh khác, Gar Chokyi Nyima, trì tụng thần chú của Chakrasamvara (Thắng Lạc Kim Cang) hơn 13 triệu lần và trở thành một thành tựu giả. Ngài có thể thị hiện nhiều phép màu như là trị bệnh, ngăn chặn chiến tranh, tiêu trừ nạn đói….</p>
<p style="text-align: justify;">Garchen Triptrul Rinpoche được sinh vào năm 1936 ở Nangchen, miền đông Tây Tạng. Vua của Nangchen đích thân lãnh nhận trách nhiệm để tìm kiếm tái sinh của đức Garchen Rinpoche trước, Trinle Yongkhyab. Đức Garchen Rinpoche hiện nay được phát hiện và tôn phong bởi đức Drikung Kyabgon Zhiwe Lodro.</p>
<p style="text-align: justify;">Garchen Rinpoche được đem đến Lho Miyalgon lúc bảy tuổi, là nơi mà ngài được cúng dường những bộ lễ phục và những thứ khác.  Được dẫn đến một điện thờ lưu giữ nhiều hình ảnh của những đạo sư dòng truyền thừa, ngài được hỏi để xác nhận đạo sư của mình. Ngài chỉ vào một tấm ảnh của Kyobpa Jigten Sumgon và nói rằng “Vị này là đạo sư của ta.” Vì thế, mọi người tin rằng ngài là một tái sinh thực sự của đấng trì gữ dòng truyền Gar.</p>
<p style="text-align: justify;">Dưới sự dạy dỗ của Chime Dorje, Rinpoche đã thọ nhận nhiều giáo lý. Ở độ tuổi 13 ngài thọ nhận những giáo lý của dòng truyền Drikung Kagyu từ Lho Thubten Nyingpo Rinpoche của Lho Lunkargon. Ngài đã nhận khẩu truyền, luận giảng và quán đảnh về  Đại Thủ Ấn và Sáu Yoga của Naropa. Ngài đã hoàn thành những thực hành tiên yếu và hoàn tất khóa nhập thất ba năm.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài sau đó ẩn tu hai mươi năm, cho đến thời gian ngài gặp được Khenpo Munsel, một đệ tử vĩ đại của Nyingma Khenpo Ngagchung lừng danh. Từ Khenpo Munsel ngài thọ nhận giáo lý Dzogchen và tham gia vào thực hành các pháp tu bí mật. Khenpo Munsel đã ngạc nhiên bởi thành tựu vĩ đại của Rinpoche và ngợi khen ngài rằng “Ngài là một hiện thân bồ tát vĩ đại”</p>
<p style="text-align: justify;"> Từ 1979, Garchen Rinpoche tìm kiếm nguồn trợ cấp cho tu viện của ngài, cho nữ tu viện và thôn làng, ban tặng hết tất cả những vật cúng dường ngài nhận được vì lợi ích của họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngoài ra, Garchen Rinpoche vẫn đảm nhận trách nhiệm tái thiết lại nhiều tu viện Drikung Kagyu ở miền Đông Tây Tạng, cũng đồng thời ngài toàn tâm ban tặng những giáo lý thâm diệu của dòng truyền thừa cho những người khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Những năm gần đây, Rinpoche thiết lập Ari Gar Zangchup Choling, một trung tâm ở Mỹ quốc để dạy dỗ và thực hành Phật pháp. Garchen Triptrul Rinpoche rất lưu tâm và khiêm hạ với tất cả mọi người bất kể địa vị, tuổi tác và giới tính. Lời khuyên của ngài cho những ai uống rượu, hút thuốc, cờ bạc và tham gia vào những hoạt động sai trái rất có hiệu quả cho việc chỉnh sửa đúng lại tư cách của họ. Ngài không ngừng nỗ lực vì lợi ích của những người khác và đã nhận được sự tôn kính lớn lao từ cộng đồng. Ngài thật phi thường trong thời mạt pháp này.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi được tuyên nhận là một hoá thân đời thứ 8 của đại sư Garchen Rinpoche vào năm lên 7 tuổi, cậu bé Konchog Gyaltsen thuộc giòng Drikung Kagyu không bao giờ ngờ được rằng cuộc đời của một hoá thân được nhiều người trọng vọng lại có thể phải trải qua nhiều cay đắng thăng trầm đến vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 22 tuổi, vừa hoàn tất xong hai năm rưỡi chương trình tu ẩn thất thì vị hoá thân trẻ tuổi đã bị Trung Cộng bắt giam cầm và nhờ phải trải qua 20 năm trong lao tù Cộng Sản, trải qua biết bao khổ đau, tủi nhục mà vị hoá thân ấy đã được có cơ hội thực hành hạnh nhẫn nhục,  chuyển hoá được tâm mình thành tâm từ bi vô lượng, đối với kẻ thù cũng như đối với người thân, lúc nào cũng sáng rỡ tình yêu thương và lòng từ bi vô giới hạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong những ngày bị giam cầm và bắt buộc phải lao động cực nhọc, cả trại tù thường được cho nghỉ phép không phải lao động vào ngày Chủ Nhật.  Trại tù bao gồm rất nhiều những vị đại sư và hoá thân bị Trung Cộng bắt giam.  Ngày Chủ Nhật, các bạn tù thường tụ họp nhau, nghỉ ngơi, chuyện vãn và nhất là, bày bàn cờ ra để chơi cờ, chơi bài với nhau để giết thời giờ.  Thay vì ngồi chơi cờ với các bạn tù thì suốt cả ngày Chủ Nhật, đại sư Garchen Rinpoche nằm dài trên giường và để cho các bạn tù đặt lên trên người mình một miếng ván gỗ dài rộng dùng làm bàn cờ.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong khi các bạn tù chơi cờ, chơi bài trên miếng ván gỗ đặt trên người mình thì đại sư Garchen Rinpoche nằm yên ở bên dưới, hoặc là thiền định, hoặc là liên tục lầm thầm trì tụng minh chú Quan Âm (Tara) trong đầu, hướng tâm mình đến tâm của đức Quan Âm để tịnh hoá thân khẩu ý.  Mỗi lần đại sư Garchen Rinpoche hơi cử động nhúc nhích thân mình thì các bạn tù lại la lên, “Nằm yên nào!”  Đại sư Garchen Rinpoche nói, “Dó là lúc thầy bị lạc định nên mới nhúc nhích như vậy!”</p>
<p style="text-align: justify;">Trong tù, khi đói, đại sư đã nhịn ăn và nhường thức ăn của mình cho bạn đồng tù. Khi lao động, phải cuốc đất, vác bùn, bưng gạch, v.v.,  đại sư đã làm việc giúp bạn tù cho xong công việc của họ trước khi làm nốt cho xong phần việc của mình. Tất cả các bạn tù đều gọi đại sư bằng cái tên trìu mến “Abei,” đại ý có nghĩa là “cưng”!  Từ bạn tù cho đến cả cai tù, trong lòng ai ai cũng quý mến đại sư Garchen vì biết là người bạn tù này không bao giờ câu nệ, không bao giờ oán trách, luôn luôn hy sinh, quan tâm đến người khác nhiều hơn là chính bản thân mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng thật ra, đó chính là cả một quá trình tu tập và chuyển hoá rất lao khổ, rất công phu. Vị thầy hay vị bổn sư mà đại sư Garchen đã được hội ngộ trong tù, vị ấy có tên là Khenpo Munsel,  một đại danh tăng thuộc giòng Nyingma.  Chính bổn sư Khenpo Munsel đã hướng dẫn, dạy dỗ, khai thị, giúp cậu thanh niên-hoá thân 22 tuổi chuyển hoá tâm sân hận của mình đối với kẻ thù thành từ bi và trí tuệ.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhờ hết lòng miên mật tu tập và quyết tâm chuyển hóa tam độc của chính mình mà đại sư Garchen Rinpoche đã trở nên hoàn toàn vô ngã, đạt được trí  tuệ  viên mãn c ùng những chứng đắc sâu dày và hiến trọn đời mình để đem lại lợi lạc cho chúng sinh. Nhiều năm sau đó, chính bổn sư Khenpo Munsel khi nhắc đến người đệ tử đặc biệt này của mình cũng đã nhiều lần lên tiếng phát biểu, “Garchen Rinpoche là một đại bồ tát. Một đại bồ tát đích thực!”</p>
<p style="text-align: justify;">Lần đầu tiên khi đến được thủ đô tỵ nạn Dharamsala của người Tây-tạng và được diện kiến đức Đạt Lai Lạt Ma vào khoảng thập niên 1980, đại sư Garchen Rinpoche đã thỉnh cầu đức Đạt Lai Lạt Ma ban cho mình Bồ-Tát giới vì đại sư Garchen nghĩ rằng trong thời chiến tranh khi Trung Cộng xâm chiếm Tây-Tạng, mình đã nhiều lần để cho Bồ Đề Tâm bị hư hoại.</p>
<p style="text-align: justify;">Lời thỉnh cầu này là một điều vô cùng đặc biệt và đã làm cho đức Đạt Lai Lạt Ma rất hoan hỉ.  Qua ngày hôm sau, trong khi thuyết giảng, đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói với đại chúng, đại ý rằng, hôm qua, có một vị đại tăng đến từ Tây-Tạng. Vị ấy không xin tôi điều gì ngoại trừ xin thọ Bồ-Tát giới với tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Thông thường, khi có các vị cao tăng đến diện kiến đức Đạt Lai Lạt Ma, các vị ấy thường xin ngài ban cho các lễ quán đảnh hay gia hộ, ban cho các pháp tối thượng của Mật thừa, xin ngài gia lực và hướng dẫn tu tập, v.v… nhưng chưa  có vị cao tăng nào lặn lội từ Tây-Tạng qua  đến Ấn Độ và gặp đức Đạt Lai Lạt Ma để  chỉ xin thọ Bồ-Tát giới.  Đức Đạt Lai Lạt Ma nói thêm rằng, vị đại sư này đã phải trải qua biết bao gian khổ mà không sờn lòng tu tập và là một vị Bồ-Tát thị hiện để hoá độ chúng sinh bằng chính kinh nghiệm cuộc đời mình.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn : Thư viện hoa sen </em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tieu-su-duc-garchen-triptrul-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
