<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Kagyn</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-kagyn/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Fri, 17 Apr 2026 16:09:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Đi vào cửa Pháp</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/di-vao-cua-phap-2/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/di-vao-cua-phap-2/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 06 Mar 2026 12:29:51 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[thichnudieutu]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">https://kimcuongthua.org/?p=13210</guid>
		<description><![CDATA[Dù khổ đau trong Đại dương Sinh tử Được thuyết giảng, và việc rời bỏ nó được thôi thúc Nhưng chẳng mấy ai thực sự bị thuyết phục Và quyết tâm từ bỏ Sinh tử. Dù biết rằng cuộc đời đó chỉ dẫn đến cái chết, Không mấy ai cảm thấy bất an hay nghĩ rằng nó sẽ chấm dứt.&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/di-vao-cua-phap-2/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><span style="color: #000000;">Dù khổ đau trong Đại dương Sinh tử</span><br />
<span style="color: #000000;">Được thuyết giảng, và việc rời bỏ nó được thôi thúc<br />
Nhưng chẳng mấy ai thực sự bị thuyết phục<br />
Và quyết tâm từ bỏ Sinh tử.</span></p>
<p><span style="color: #000000;">Dù biết rằng cuộc đời đó chỉ dẫn đến cái chết,</span><br />
<span style="color: #000000;"> Không mấy ai cảm thấy bất an hay nghĩ rằng nó sẽ chấm dứt.</span><br />
<span style="color: #000000;"> Dù đời họ có những viễn cảnh tốt lành,</span><br />
<span style="color: #000000;"> Chẳng mấy ai có thể giữ gìn giới hạnh trong một ngày.</span></p>
<p><span style="color: #000000;">Dù Hỷ Lạc của Giải thoát được giảng dạy,</span><br />
<span style="color: #000000;"> Và khổ đau của Sinh tử được nhấn mạnh</span><br />
<span style="color: #000000;"> Chẳng mấy ai có thể thực sự đi vào cửa Pháp.</span></p>
<p><span style="color: #000000;">Dù những Giáo huấn Cốt tủy Sâu xa</span><br />
<span style="color: #000000;"> Của Dòng Nhĩ truyền được ban tặng không giới hạn</span><br />
<span style="color: #000000;"> Chẳng mấy ai dứt khoát thực hành chúng.</span></p>
<p><span style="color: #000000;">Dù giáo lý Đại Ấn được truyền dạy</span><br />
<span style="color: #000000;"> Và biểu thị trực chỉ được sử dụng,</span><br />
<span style="color: #000000;"> Chẳng mấy ai thấu hiểu Cốt tủy của Tâm.</span></p>
<p><span style="color: #000000;">Người ta có thể luôn luôn khao khát</span><br />
<span style="color: #000000;"> Cuộc đời ẩn sĩ và ước nguyện của Đạo sư</span><br />
<span style="color: #000000;"> Nhưng chẳng mấy ai có thể đưa chúng vào thực hành.</span></p>
<p><span style="color: #000000;">Con đường thiện xảo, viên mãn của Naropa</span><br />
<span style="color: #000000;"> Có thể được biểu lộ, không hề che dấu</span><br />
<span style="color: #000000;"> Nhưng những người có thể thực sự theo đuổi nó</span><br />
<span style="color: #000000;"> Thì vô cùng ít ỏi, hỡi con yêu quý.</span><br />
<span style="color: #000000;"> Hãy đi theo bước chân ta</span><br />
<span style="color: #000000;"> Nếu con muốn làm điều gì xứng đáng trong cuộc đời này.</span></p>
<p><span style="color: #000000;"><strong>Đức Jetsun Milarepa<br />
</strong><em>Việt dịch: Thanh Liên</em></span><br />
<span style="color: #000000;"> <em>Trích: Đi vào cửa Pháp</em></span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/di-vao-cua-phap-2/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Phật tử chân chính</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/phat-tu-chan-chinh/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/phat-tu-chan-chinh/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 24 Sep 2022 01:38:45 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11614</guid>
		<description><![CDATA[Khi chúng ta tự gọi mình là những Phật tử, có nghĩa là chúng ta là những người đi theo Phật. Khía cạnh quan trọng nhất của việc làm một Phật tử đó là chúng ta đi theo con đường của Phật và luôn luôn suy nghĩ như một người con Phật. Phật [Buddha] là một từ trong tiếng Phạn.&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/phat-tu-chan-chinh/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Khi chúng ta tự gọi mình là những Phật tử, có nghĩa là chúng ta là những người đi theo Phật. Khía cạnh quan trọng nhất của việc làm một Phật tử đó là chúng ta đi theo con đường của Phật và luôn luôn suy nghĩ như một người con Phật. Phật [Buddha] là một từ trong tiếng Phạn. Từ này dùng để chỉ người đã tỉnh thức thoát khỏi tâm si mê, người đã thành tựu về hiểu biết và trí tuệ. Từ này trong tiếng Tây Tạng gọi là ‘Sangye’.</p>
<p style="text-align: justify;">Mỗi Phật tử đều có mục đích là đạt được trạng thái giác ngộ của Phật. Phật quả này là sự phát triển và thành tựu khả năng của mỗi người trong việc giải thoát tất cả chúng sinh hữu tình khỏi đau khổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Những người chưa đạt được Phật quả có nhiều cảm xúc rất mâu thuẫn, ví dụ tham muốn, căm giận, ghen tỵ, mê muội và vô số xúc tình vô minh khác. Tất cả những sự vô minh này đều xuất phát từ si mê; đó là trạng thái không có trí tuệ và không nhận biết được bản chất thật sự của tâm. Sự si mê này là nguyên nhân gây ra tất cả những rắc rối phức tạp và hỗn loạn trong cõi luân hồi. Nhưng vô minh này không phải là vĩnh cửu. Nó có thể bị loại bỏ bằng cách áp dụng những phương cách của trí tuệ. Bằng cách chuyển hóa vô minh thành trí tuệ, người ta sẽ có khả năng thấu hiểu được sự thật. Điều này sẽ dần dần dẫn ta đến trạng thái của giác ngộ. Do vậy, là một người Phật tử, mục đích quan trọng nhất là phải phát triển trí tuệ và thông hiểu những giáo lý căn bản của Phật pháp, như Tứ diệu đế, Bát chánh đạo; và sau đó thực hành con đường của Bồ Tát và những phương pháp Kim Cương thừa. Hiểu được điều này sẽ giúp ta phát triển được trí tuệ.</p>
<p style="text-align: justify;">Bên cạnh việc thấm nhuần hiểu biết về Pháp, áp dụng những giáo lý này cũng vô cùng quan trọng. Bất kỳ Pháp nào mà tâm ta lĩnh hội được, ta đều phải áp dụng. Ví dụ, tất cả mọi người đều biết rằng mình cần phải hào phóng. Nhưng hiểu về điều này là chưa đủ. Ta cần phải thực hiện điều mình đã hiểu ấy và thực tập bố thí mọi lúc.</p>
<p style="text-align: justify;">Tương tự như vậy, các phẩm hạnh cũng quan trọng như vậy và ta cần rèn luyện thực hành. Chỉ bằng cách áp dụng những giáo pháp vào thực tế, ta mới có thể đạt được đến trạng thái của tỉnh thức.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta càng hiểu về Pháp, ta càng hiểu ở đâu và khi nào thì nên áp dụng. Mỗi khoảnh khắc trong bất kỳ tình huống nào của đời sống hàng ngày của ta đều là cơ hội để thực hành, để ta phát triển về mặt tâm linh. Chúng ta trải qua những tình huống càng khó khăn, thì đó là cơ hội càng lớn để ta thành công trong việc thực hành Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">Ví dụ, ta có thể có một kẻ thù, người ấy đã gây ra cho ta vô số những điều không như ý, căm hận và nguyền rủa ta. Nhìn chung, đây là một tình huống tồi tệ, không ai muốn mình bị ghét bỏ và nguyền rủa, điều này gây ra rất nhiều đau khổ. Tuy nhiên, nhìn ở khía cạnh thực hành tâm linh, đây là một thời điểm tốt để thử thách ta, nó mang lại cho ta cơ hội để phát triển và củng cố thái độ tích cực của ta đối với Pháp. Sự nhẫn nhục là một giáo lý quan trọng trong Phật pháp và ta có thể thực hành điều này trong mọi tình huống. Đặc biệt là khi ta đối mặt với kẻ thù của mình, ta cần phải kiên nhẫn và khoan dung. Nếu ta có thể áp dụng được những nguyên tắc này, ta sẽ thành công trong việc thực hành pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">Đau khổ là con đường dẫn tới hạnh phúc. Về cơ bản, ta trải qua càng nhiều khó khăn, thì kết quả mà ta đạt được càng lớn, cũng giống như ta phải làm việc chăm chỉ để đạt được những kết quả tốt. Mặc dù ta có thể gặp phải vô số thử thách, chướng ngại và cản trở, nhưng đó lại là con đường để dẫn tới thành công. Pháp rất quý giá, nó giúp ta vượt qua được tất cả những thử thách, không kể đó là thử thách thực tế hay về tinh thần. Pháp thực sự là bảo bối duy nhất dẫn ta tới thành công.</p>
<p style="text-align: justify;">Do đó, là một Phật tử không có nghĩa là lúc nào cũng có mặt ở trong chùa. Trong thực tế, một Phật tử thuần thành có thể ở bất kỳ chỗ nào, ở nơi làm việc, ở trên phố hay trong nhà hàng. Nói cách khác, khi nào ta vẫn còn áp dụng và thực hiện Pháp mọi lúc, thì ta là một Phật tử chân chính. Một người tận dụng được tất cả những thời điểm trong những trải nghiệm của họ để phát triển sự thực hành tâm linh của mình, đó là Phật tử chân chính. Những người không thể áp dụng Pháp một cách hiệu quả nhưng luôn luôn ở trong chùa, đó chỉ gọi là những Phật tử bề ngoài. Những người rèn luyện và thực tập Pháp thường xuyên một cách đúng đắn, và đồng thời, cả đi chùa, đó là người Phật tử rất tích cực và là một hành giả.</p>
<p style="text-align: justify;">Những khi vô minh xảy đến, người hành giả có thể nhận ra nó ngay lập tức. Sau khi nhận thức được nó là vô minh, ta sẽ áp dụng trí huệ để thực hiện những pháp tịnh hóa vô minh và thoát khỏi những rắc rối ấy. Như vậy, bất cứ những cảm xúc và vô minh nào xuất hiện, ta phải coi đó là một thử thách và vượt qua nó, đó là phương pháp đúng đắn nhất mà ta phải làm theo.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy nhiên, việc thực hành Pháp không dễ như ta nghĩ. Việc nhận ra khi vô minh xuất hiện có thể trở nên rất khó khăn. Thậm chí khi ta đã nhận ra nó, việc nhớ lại và dùng thuốc giải độc cũng rất khó để thực hiện một cách hiệu quả. Sức mạnh của vô minh có thể là vô cùng lớn so với phương thuốc để giải trừ nó, ta có thể không có khả năng để xóa bỏ vô minh một cách nhanh chóng. Thật ra, tất cả chúng ta đều muốn tịnh hóa một số lượng lớn những si mê của mình nhưng vô minh thì quá nhiều nên ta không thể vượt qua chúng tất cả cùng một lúc. Sự nỗ lực kiên định và tinh tấn sẽ giúp ta đẩy lùi chúng. Cuối cùng, nỗ lực của chúng ta sẽ trở thành một thói quen tích cực và một ngày nào đó ta có thể thành công.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày xưa có một thương gia Tây Tạng tên là Norbu Zangpo, người ấy đã mất tất cả tiền trong việc kinh doanh. Vì sự thất bại trong làm ăn, ông cảm thấy rất thất vọng, nản lòng và muốn rút lui. Rất buồn chán, ông ta nằm xuống đất và đã nhìn thấy một chú kiến đang cố trèo qua một cọng cỏ. Được nửa đường, nó lại ngã xuống. Nó lại cố trèo lần nữa và cứ như vậy, ông ta đếm được 79 lần chú kiến ngã. Nhưng lần cuối cùng là lần thứ 80, chú kiến đã trèo lên được đỉnh của ngọn cỏ. Đột nhiên, ông ta nhận ra nếu không có sự nỗ lực bền bỉ, thì không thể thành công được trong bất kỳ điều gì. Từ đó về sau, ông ta đã cố gắng rất nhiều và làm ăn chăm chỉ, ông đã thành công. Ông trở thành thương gia giàu có nhất và thành công nhất ở Tây Tạng. Con côn trùng nhỏ bé đã trở thành động lực cố gắng của ông.</p>
<p style="text-align: justify;">Câu chuyện nhắc ta phải nỗ lực không ngừng và không sợ thất bại. Trong quá trình ấy, dù ta không đạt được thành tựu từ lúc đầu, ta cũng cần phải thực hành đến tận khi đạt được thành tựu. Chúng ta thiếu sự tỉnh thức và sự nỗ lực lâu dài. Ta mong chờ một kết quả ngay lập tức mà không cần cố gắng nhiều. Điều đó là không thể. Pháp là sự rèn luyện về tinh thần mà không thể do ai khác mang đến hay chuyển sang cho ta được. Điều này rất đơn giản nếu ta biết cách chuyển Pháp thành hành động, thành thuốc giải để tịnh hóa vô minh. Nếu Pháp trở thành thứ gì đó khiến người ta tăng thêm danh vọng hay vô minh, thì nó sẽ phát triển thành một mặt rất tiêu cực đối với chúng ta. Nếu Pháp được thực hành một cách đúng đắn, ta có thể giảm bớt được vô minh như lòng căm giận, si mê, tham muốn và tất cả những xúc tình khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Về cơ bản, thông qua tất cả những quá trình này, ta sẽ có khả năng phân biệt được một người là Phật tử chân chính hay không. Một Phật tử thật sự là người không chỉ hiểu về giáo lý mà còn thực hành chúng và trải nghiệm được những kết quả mà điều đó mang lại. Không phải là một Phật tử chân chính có nghĩa là ta không áp dụng được giáo pháp vào thực tế và không bao giờ thay đổi được thái độ của mình trên con đường tâm linh. Thay vào đó, người ta tự hào về sự hiểu biết của mình về Pháp và nhìn xuống những người khác, điều này sẽ làm tăng những suy nghĩ tiêu cực của họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Việc lắng nghe giáo Pháp và suy ngẫm và thiền định, đó là tất cả những việc cần rèn luyện. Ta cần cố gắng hiểu được những giáo pháp của Phật, sau đó suy ngẫm và nghiên cứu về pháp. Sau khi đã tìm hiểu về logic của sự thật, ta phải áp dụng và thực hiện tất cả những gì ta đã học và thiền định về việc đó. Với những phương pháp này, việc thực hành Pháp của ta sẽ trở nên có hiệu quả và ta sẽ có thể thành tựu giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Thiền định không có nghĩa là chỉ ngồi xuống và đặt hai tay vào nhau. Thiền định có thể được thực hiện bằng rất nhiều cách khác nhau như phát triển hạnh bố thí, nhẫn nhục và phẩm hạnh. Thực tế, tất cả những thực hành này đều liên quan đến thiền định, nó đòi hỏi hiểu biết và trí tuệ. Ví dụ, nếu một người đang nấu ăn và nói rằng anh ta đang thiền định, ta sẽ không tin bởi ta nghĩ rằng thiền định không phải là như vậy. Làm sao anh ta có thể thiền được khi đang nấu nướng? Tuy nhiên, nếu anh ta áp dụng những phẩm hạnh của trí tuệ và hiểu biết vào quá trình nấu nướng, thì anh ta thực sự đang thiền.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong Kim Cương thừa, ta có rất nhiều bài kinh, những nhạc cụ và rất nhiều loại ấn khác nhau v.v… Tất cả những điều ấy đều là một phần của thiền định. Thông qua những thiền định này và sự thực hành, ta có khả năng nhận ra được bản chất của tâm một cách hiệu quả hơn.</p>
<p style="text-align: justify;">Kết lại, một Phật tử chân chính là người áp dụng những giáo lý của Phật ở trong tâm và trong cả cuộc sống hàng ngày. Bằng cách đó, ta sẽ tỉnh thức trong mọi suy nghĩ và hành động. Một khi ta đã có được hạnh đó, ta sẽ không còn mắc sai lầm và sẽ tiếp tục phát triển được những suy nghĩ tích cực cũng như công đức và trí tuệ. Khi ta đã có tất cả những hạnh đó, niềm hạnh phúc an lạc bên trong ta sẽ lớn lên và ta sẽ được hoàn toàn thỏa mãn và thành tựu được tất cả những mục đích của cuộc đời.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Shangpa Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Quỳnh Anh – Nhóm Thuận Duyên</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <a href="https://thuvienhoasen.org/a15556/phat-tu-chan-chinh">Phật Tử Chân Chính</a></em></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/phat-tu-chan-chinh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Vô minh xuất hiện như Giác tính nguyên sơ &#8211; Bốn Pháp của Gampopa</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/vo-minh-xuat-hien-nhu-giac-tanh-nguyen-so-bon-phap-cua-gampopa/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/vo-minh-xuat-hien-nhu-giac-tanh-nguyen-so-bon-phap-cua-gampopa/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 16 Sep 2022 04:38:29 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11595</guid>
		<description><![CDATA[Pháp thứ tư của Đức Gampopa là sự chuyển hóa vô minh thành Giác tính Nguyên sơ. Sự chuyển hóa nền tảng này được thực hiện trên cấp độ Anuttarayogatantra, cấp độ cao nhất trong bốn cấp độ của giáo lý Kim Cương thừa. Giải thích sự chuyển hóa này một cách lý thuyết thì không khó. Trong một trạng&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/vo-minh-xuat-hien-nhu-giac-tanh-nguyen-so-bon-phap-cua-gampopa/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Pháp thứ tư của Đức Gampopa là sự chuyển hóa vô minh thành Giác tính Nguyên sơ. Sự chuyển hóa nền tảng này được thực hiện trên cấp độ Anuttarayogatantra, cấp độ cao nhất trong bốn cấp độ của giáo lý Kim Cương thừa.</p>
<p style="text-align: justify;">Giải thích sự chuyển hóa này một cách lý thuyết thì không khó. Trong một trạng thái bình thường giác tính bị ngăn che và mê lầm; nếu chúng ta nhận ra bản tính của tâm, khi ấy ta kinh nghiệm Giác tính Nguyên sơ. Tuy nhiên, trên một bình diện thực tiễn, điều này không tự động xảy ra: ta cần phải có một loại phương tiện thiện xảo nào đó. Để chuyển hóa sự lan man thành giác tính giác ngộ, ta sử dụng rất nhiều kỹ thuật sẵn có trong Kim cương thừa, đặc biệt là các giai đoạn Phát triển và Thành tựu của thiền định.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong hoàn cảnh hiện tại của chúng ta là những chúng sinh không giác ngộ, ba năng lực thân, ngữ, và tâm của ta bị vô minh căn bản ngăn che. Để chuyển hóa vô minh đó thành giác tính, ta phải trở nên tỉnh giác về thân, ngữ, và tâm, vì thế trong Kim Cương thừa chúng ta sử dụng chính những năng lực này của toàn bộ con người chúng ta để thực hiện một sự chuyển hóa trọn vẹn.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi quán sát thân thể vật lý của ta, có thể thấy ta bị dính mắc vào nó như cái gì thường hằng, thanh tịnh và thực có ra sao. Tuy nhiên thân thể vật lý này thì nhất thời, được kết hợp bởi vô số chất thể bất tịnh và hư thối. Nó có thực một cách quy ước, không tuyệt đối.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự bám chấp vào thân thể theo tập quán và bản năng của ta làm ngăn trở sự xuất hiện của Giác tính Nguyên sơ. Ta phải đi tới chỗ nhận ra rằng thân thể này chỉ là cái gì đó xuất hiện và không có tự tính. Được dựa trên những phóng chiếu của tâm, thân thể tượng trưng cho tinh túy của phương diện thân (sắc tướng) của tâm thức. Cho tới khi ta nhận ra điều này, sự chuyển hóa vô minh thành Giác tính Nguyên sơ sẽ không xảy ra một cách tự nhiên. Trong thực hành Mật thừa, thân thể được chuyển hóa nhờ một thiền định làm cho ta đồng nhất với một thân tướng thanh tịnh hay giác ngộ, chẳng hạn như Đức Chenrezig (Quán Thế Âm), Bồ Tát của lòng Bi mẫn. Ở đây ta để sang một bên sự bám chấp vào thân thể của riêng ta và thay vào đó đồng nhất hóa với một thân tướng thanh tịnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi thực hiện điều đó, điều cũng cần thiết là phải nhận thức rằng ở một cách thế nào đó Bổn tôn là sự xuất hiện thanh tịnh và không có chút thực chất nào. Trong thiền định chúng ta trở nên hoàn toàn đồng nhất với thân tướng này, là cái gì trống không, không vững chắc, không có tự tính hay thực tại tối hậu siêu vượt hình tướng thanh tịnh của nó. Kinh nghiệm này được gọi là “Sự Hợp nhất của Hình tướng và tính Không”.</p>
<p style="text-align: justify;">Một chuyển hóa như thế được đặt nền trên sự thấu hiểu rằng mọi kinh nghiệm của ta là một phóng chiếu chủ quan của tâm, và vì thế thái độ của ta đối với các sự vật thì dứt khoát. Nhờ thay đổi thái độ của ta, chúng ta thay đổi kinh nghiệm, và khi ta thiền định theo cách đã được mô tả, sự chuyển hóa có thể xảy ra. Điều này đặc biệt là chân thật khi ta tập trung vào một thân tướng giác ngộ chẳng hạn như Bồ Tát của lòng Bi mẫn. Tự thân hình ảnh của Đức Chenrezi là một biểu lộ thực sự của trạng thái bi mẫn giác ngộ. Nó không phải là một sự tạo tác. Thực sự có một đấng giác ngộ được gọi là Chenrezi, có thể ban ân phước và sự thành tựu. Để kinh nghiệm điều này, ta phải hội tụ những điều kiện nào đó. Nó cũng tương tự như việc chụp hình cho một người nào đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Ta cho phim vào máy hình, hướng máy vào người đó và chụp một tấm hình. Hình ảnh của người ấy được chiếu vào phim, và khi rửa ảnh thì ta có một tấm hình của người ấy. Điều tương tự xảy ra khi ta thiền định về một thân tướng giác ngộ. Có một biểu lộ “bên ngoài” được gọi là Chenrezi. Nhờ các nỗ lực của ta trong thiền định, ta đi tới chỗ đồng nhất với thân tướng thanh tịnh này, có niềm tin ở thân tướng đó, và chứng ngộ lòng bi mẫn nội tại và trạng thái của giác tính mà Đức Chenrezi tượng trưng. Theo cách này chúng ta có thể trở thành một “bản sao” của Bổn tôn và nhận được sự gia hộ của Bồ Tát của lòng Bi mẫn. Đây là phương diện thứ nhất của sự chuyển hóa vô minh thành Giác tính Nguyên sơ được đặt nền trên thiền định về thân thể ta như một thân tướng giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Phương diện thứ hai của sự chuyển hóa liên quan tới ngữ (lời nói) của ta. Mặc dù có thể dễ dàng cho rằng ta không thể nắm bắt được ngữ, cho rằng ngữ chỉ đơn giản xuất hiện và biến mất, nhưng chúng ta thực sự gắn liền với nó như cái gì thật có. Đó là bởi chúng ta trở nên dính mắc vào điều ta nói và nghe tới nỗi ngữ có năng lực như thế. Lời nói đơn thuần, là cái gì không có thực tại tối hậu (không tuyệt đối xác thực), lại có thể quyết định hạnh phúc và đau khổ của ta. Chúng ta tạo nên niềm vui và nỗi khổ bằng cách bám chấp nền tảng vào âm thanh và ngôn ngữ.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong bối cảnh Kim Cương thừa, chúng ta trì tụng và thiền định về thần chú, là âm thanh giác ngộ, ngữ của Bổn tôn, sự Hợp nhất của Âm thanh và tính Không. Thần chú không có thực chất mà chỉ là sự hiển lộ của âm thanh thuần tịnh, được kinh nghiệm đồng thời với tính Không của nó. Nhờ thần chú, chúng ta không còn bám chấp vào thực tại của ngữ và âm thanh ta gặp trong cuộc đời nữa mà kinh nghiệm nó như trống không tự bản chất. Khi đó sự vô minh của phương diện ngữ của ta được chuyển hóa thành giác tánh giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước hết, sự Hợp nhất Âm thanh và tính Không chỉ đơn giản là một khái niệm tri thức của điều mà thiền định của chúng ta hướng tới. Nhờ sự áp dụng tiếp theo sau, nó trở thành kinh nghiệm thực sự của ta. Ở đây, như ở nơi khác trong thực hành, thái độ thì hết sức quan trọng, như câu chuyện này về một vị Thầy ở Tây Tạng minh họa. Vị Thầy có hai đệ tử, cả hai đã cam kết thực hiện một trăm triệu lần trì tụng thần chú OM MANI PADME HUNG của Đức Chenrezi. Trước sự hiện diện của vị Thầy, họ nguyện sẽ thực hiện cam kết, và ra đi để hoàn tất thực hành này.</p>
<p style="text-align: justify;">Một trong hai đệ tử hết sức tinh tấn, mặc dù có lẽ nhận thức của anh ta không sâu sắc lắm. Anh bắt đầu để hoàn tất thực hành càng nhanh càng tốt và liên tục trì tụng thần chú cả ngày lẫn đêm. Sau những nỗ lực lâu dài, trong ba năm anh đã hoàn tất một trăm triệu lần trì tụng. Người đệ tử kia cực kỳ thông minh, nhưng có lẽ không tinh tấn bằng, bởi chắc chắn là anh ta không lao vào thực hành với nhiệt tâm tương tự. Khi bạn của anh sắp sửa hoàn tất khóa nhập thất, người đệ tử thứ hai vẫn còn rất nhiều thần chú chưa trì tụng. Anh đi lên một đỉnh đồi, ngồi xuống và bắt đầu thiền định rằng tất cả chúng sinh đầy khắp vũ trụ được chuyển hóa thành Đức Chenrezi. Anh thiền định rằng âm thanh của thần chú không chỉ xuất phát từ miệng của mỗi một và mọi chúng sinh, mà mỗi vi trần trong thế giới đang rung động với âm thanh đó, và trong một ít ngày anh đã trì tụng thần chú trong trạng thái thiền định này.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi hai đệ tử đi tới gặp Lạt ma của họ để trình bày là họ đã hoàn tất thực hành, ngài nói: “Ồ, cả hai con đã thực hành thật xuất sắc. Con rất tinh tấn, còn con thì rất thông tuệ. Cả hai con đã thành tựu một trăm triệu lần trì tụng thần chú”.</p>
<p style="text-align: justify;">Như thế nhờ chuyển hóa thái độ và phát triển sự hiểu biết của ta, thực hành trở nên hiệu quả nhiều hơn nữa.</p>
<p style="text-align: justify;">Thần chú Sáu Âm của Đức Chenrezi, OM MANI PADME HUNG, là một biểu lộ của sự ban phước và năng lực giác ngộ của Đức Chenrezi. Sáu âm được kết hợp với những phương diện khác nhau của kinh nghiệm của chúng ta: sáu phiền não nền tảng trong tâm được chuyển hóa, sáu phương diện của Giác tính Nguyên sơ được chứng ngộ. Sáu âm và sáu phương diện này thuộc về mạn đà la của sáu Bộ Phật khác nhau hiển lộ trong tâm giác ngộ. Thần chú của Đức Chenrezi có năng lực thực hiện những sự chuyển hóa trên tất cả những cấp độ này.</p>
<p style="text-align: justify;">Cách thức khác để giải thích thần chú này là âm OM là cốt tủy của thân giác ngộ; MANI PADME, bốn âm giữa, tượng trưng cho ngữ của sự Giác ngộ; và âm cuối cùng HUNG tượng trưng cho tâm của sự Giác ngộ. Thân, ngữ, và tâm của tất cả chư Phật và Bồ Tát thì sẵn có trong âm thanh của thần chú này. Nó tịnh hóa những chướng ngại của thân, ngữ, và tâm, và đưa tất cả chúng sinh tới trạng thái Chứng ngộ. Khi thần chú được kết hợp với niềm tin và những nỗ lực của riêng ta trong thiền định và việc trì tụng, năng lực chuyển hóa của thần chú xuất hiện và phát triển. Nó thực sự có thể tịnh hóa bản thân ta theo cách này.</p>
<p style="text-align: justify;">Phương diện tâm của các trung tâm thiền định Chenrezi ở trong vùng tim, nơi thần chú và chủng tự HRIH an vị. Ánh sáng được quán tưởng như xuất phát từ thần chú và chủng tự này và cúng dường tất cả chư Phật, tịnh hóa những che chướng của tất cả chúng sinh, và an lập họ trong sự Giác ngộ. Phương diện tâm cũng được nối kết với thiền định không hình tướng, chỉ đơn giản đặt tâm trong bản tính trống không của riêng nó. Sau khi thực hành điều này một vài lần, một sự biến chuyển sẽ xảy ra: ta sẽ có kinh nghiệm rằng bất kỳ điều gì xuất hiện trong tâm, bất kỳ cảm xúc hay tư tưởng nào cũng đều xuất hiện từ tính Không và tan hòa vào tính Không. Trong khoảng thời gian đó chúng ta không ở đâu khác ngoài tính Không. Trong trạng thái này, chúng ta kinh nghiệm tâm như sự Hợp nhất của Giác tính và tính Không. Đây là Mahamudra (Đại Ấn).</p>
<p style="text-align: justify;">Như vậy ba nhánh thiền định Chenrezi sử dụng các thiền định có liên quan tới thân, ngữ, và tâm. Vào cuối của một thời khóa thực hành, sự quán tưởng tan hòa vào một trạng thái không hình tướng, và chúng ta chỉ an trụ tâm một cách bình thản trong bản tính của riêng nó. Vào lúc này, chúng ta có thể kinh nghiệm thân, ngữ, và tâm như xuất hiện từ tâm nền tảng, trống không. Chúng ta nhận ra tâm này là phương diện căn bản và thân và ngữ là những phóng chiếu thứ yếu được đặt nền trên tâm thức. Điều này tượng trưng cho sự tụ hội của mọi phương diện của kinh nghiệm của chúng ta vào tâm này, chúng ta đã chứng ngộ Pháp thứ tư của Đức Gampopa: vô minh xuất hiện như giác tánh nguyên sơ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kyabje Kalu Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Thanh Liên</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <a href="https://thuvienhoasen.org/p39a5181/phap-thu-tu-vo-minh-xuat-hien-nhu-giac-tanh-nguyen-so">Pháp Thứ Tư: Vô Minh Xuất Hiện Như Giác Tính Nguyên Sơ</a></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/vo-minh-xuat-hien-nhu-giac-tanh-nguyen-so-bon-phap-cua-gampopa/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Con đường xua tan vô minh &#8211; Bốn Pháp của Gampopa</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/con-duong-xua-tan-vo-minh-bon-phap-cua-gampopa/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/con-duong-xua-tan-vo-minh-bon-phap-cua-gampopa/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 11 Sep 2022 03:58:09 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11583</guid>
		<description><![CDATA[Pháp thứ ba của Đức Gampopa nói rằng bằng cách du hành trên Con Đường, vô minh của ta bị xua tan. Ở đây chủ đề chính yếu của giáo lý là kinh nghiệm về tính Không – sự chứng ngộ bản tính tối hậu của tâm. Trong thiền định chúng ta nhận ra rằng tâm ta và mọi kinh&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/con-duong-xua-tan-vo-minh-bon-phap-cua-gampopa/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Pháp thứ ba của Đức Gampopa nói rằng bằng cách du hành trên Con Đường, vô minh của ta bị xua tan. Ở đây chủ đề chính yếu của giáo lý là kinh nghiệm về tính Không – sự chứng ngộ bản tính tối hậu của tâm. Trong thiền định chúng ta nhận ra rằng tâm ta và mọi kinh nghiệm mà nó phóng chiếu thì không có thực tự nền tảng: chúng hiện hữu một cách quy ước, nhưng không hiện hữu trong một ý nghĩa tuyệt đối. Sự Chứng ngộ tính Không này được gọi là Bồ đề tâm Tuyệt đối.</p>
<p style="text-align: justify;">Ta có thể tìm thấy sự tương đồng giữa đại dương và tâm, là cái gì trống không tự bản chất, không có những đặc tính giới hạn hay thực tại tuyệt đối. Tuy nhiên, tâm trống không này có sự phóng chiếu của nó, là toàn bộ thế giới hiện tượng. Thân tướng (sắc), âm thanh, hương, vị, sự xúc chạm (xúc), và những tư tưởng sâu xa, tạo thành những gì chúng ta kinh nghiệm tương ứng với những con sóng trên mặt đại dương. Nhờ thiền định, một khi ta nhận ra rằng bản tính của tâm thì trống không tự nền tảng, ta tự động thấu hiểu rằng những phóng chiếu của tâm cũng trống không tự nền tảng. Những phóng chiếu này giống như những con sóng xuất hiện từ đại dương và lặng chìm vào đại dương: chúng chưa từng xa lìa đại dương. Mặc dù chúng ta có thể có một sự hiểu biết nào đó rằng tâm trống không tự bản chất, có thể ta sẽ gặp khó khăn khi liên kết ý tưởng này với sự hiện hữu hiện tượng. Một ví dụ có thể ích lợi cho ta. Ngay lúc này đây chúng ta có một thân thể vật lý, và trong đời sống khi thức của ta, chúng ta hết sức bám luyến vào thân xác đó. Chúng ta coi nó như thật có, một thực thể tự hiện hữu. Nhưng trong các giấc mộng, chúng ta sống trong một loại thân thể khác, và kinh nghiệm một trạng thái hiện hữu khác. Một hiện hữu hoàn toàn có tính chất hiện tượng được kết hợp với “thân mộng” này. Chúng ta nhìn, nghe, ngửi, xúc chạm, cảm xúc, suy nghĩ và truyền đạt – ta kinh nghiệm một thế giới trọn vẹn. Nhưng khi ta thức dậy thì rõ ràng là thế giới của giấc mộng không có thực tại tuyệt đối (không có sự xác thực tuyệt đối). Dứt khoát là nó không ở trong thế giới bên ngoài như chúng ta biết nó, cũng không ở trong phòng nơi ta ngủ, mà cũng chẳng ở trong thân thể ta; không thể tìm thấy nó ở bất kỳ nơi đâu. Khi giấc mộng trôi qua, sự ‘xác thực’ (thực tại) của nó biến mất một cách tự nhiên – nó chỉ là một phóng chiếu của tâm. Ta khá dễ dàng hiểu được điều này trong mối liên hệ với trạng thái mộng. Một điều ta cũng phải hiểu rõ là kinh nghiệm của ta trong trạng thái thức thì có cùng bản tính nói chung và xảy ra qua một tiến trình tương tự.</p>
<p style="text-align: justify;">Những Đại thành tựu giả như Tilopa và Naropa ở Ấn Độ, hay Marpa và Milarepa ở Tây Tạng, có thể thực hiện những biến hóa kỳ diệu trong thế giới hiện tượng. Các ngài có thể làm như thế bởi các ngài đã chứng ngộ toàn bộ thế giới hiện tượng thì trống không tự bản chất và là một phóng chiếu của tâm. Nhờ chứng ngộ điều này các ngài đã hiển lộ những điều thần diệu và thực sự biến hóa được thế giới hiện tượng. Sự chuyển hóa như thế không thể xảy ra khi tâm thức chúng ta bám víu vào bất kỳ những gì ta kinh nghiệm như tuyệt đối có thật và không thể biến đổi được.</p>
<p style="text-align: justify;">Giai đoạn hiện tại của hiện hữu của ta chấm dứt trong cái chết, khi nghiệp hướng dẫn tiến trình của sự hiện hữu vật lý này bị cạn kiệt.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào lúc chết có một sự tách lìa rõ ràng và dứt khoát tâm thức ra khỏi thân thể vật lý, là cái đơn thuần bị vứt bỏ. Điều vẫn còn tiếp tục là tâm thức cá nhân, tâm của ta đi vào kinh nghiệm bardo. Trong trạng thái sau cái chết đó, chúng ta kinh nghiệm loại thế giới hiện tượng khác. Mặc dù không có một nền tảng cơ thể vật lý, tâm thức có thể nhìn, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, suy nghĩ và nhận thức không khác gì cách nó đang làm hiện nay. Mặc dù không là gì ngoài một trạng thái tâm thức, tâm tiếp tục đi theo những tập quán của nó và hiển lộ theo những khuôn mẫu nhất định. Vì thế sự xác quyết theo thói quen của ta rằng kinh nghiệm thì thật có một cách tuyệt đối sẽ tiếp tục sau cái chết của thân xác, và những gì xảy ra ở đó thì giống như trong trạng thái mộng và tâm khi ta thức.</p>
<p style="text-align: justify;">Một câu chuyện về một tu sĩ ở Tây Tạng minh họa cho điều này. Gần nhà tôi ở Tây Tạng có tu viện Dzogchen thuộc phái Nyingma. Một tu sĩ của tu viện này quyết định không muốn ở đó nữa mà thích đi vào lĩnh vực kinh doanh hơn. Ông ra đi và tới miền bắc của vùng đó, trở thành một thương gia với hy vọng tích lũy được nhiều của cải. Thậm chí ông trở nên khá thành công. Bởi mối quan hệ trước đó của ông ta với một tu viện nên ở một mức độ nào đó, ông cũng được coi là một giáo thọ, vì thế ông có một nhóm đệ tử cũng như thâu thập được của cải qua việc kinh doanh.</p>
<p style="text-align: justify;">Một hôm ông gặp một thầy phù thủy có thể thực hiện một quyền năng nào đó đối với con người. Người thương gia không nhận ra năng lực của người này, và thầy phù thủy ếm bùa chú khiến người thương gia trải nghiệm việc có những đứa con; ông ta có một điền trang rộng lớn và một gia đình để chăm sóc, và trải qua cả đời theo cách sống như thế rồi già đi với mái tóc bạc trắng và hàm răng lưa thưa. Sau đó ảo tưởng tan biến: ông ta trở lại như cũ, và như thể mới chỉ một hay hai ngày trôi qua. Trong thời gian đó thầy phù thủy đã lấy cắp mọi thứ của ông. Người thương gia tỉnh dậy và không còn lấy một xu. Ông ta chỉ còn ký ức về ảo tưởng lâu dài của mình về những hoạt động, sự xao lãng và kế hoạch của một đời người.</p>
<p style="text-align: justify;">Giống như ảo tưởng của người thương gia, những kinh nghiệm hàng ngày của riêng ta có tính chất huyễn hóa. Kinh điển Đại thừa có dạy rằng mọi sự như ánh trăng trên mặt nước: mọi sự ta kinh nghiệm chỉ có một thực tại (sự xác thực) quy ước và về mặt cơ bản thì không thật có.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta kinh nghiệm Pháp thứ ba của Đức Gampopa khi trước tiên, ta xác quyết rằng ta phải xua tan vô minh của ta bằng cách thấu hiểu và kinh nghiệm sự trống không (tính Không) cốt tủy của tâm, và kế đó, khi tính Không này khám phá ra bản tính huyễn hóa của mọi hiện tượng; khi đó Con Đường xua tan vô minh.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kyabje Kalu Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Thanh Liên</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <a href="https://thuvienhoasen.org/p39a5180/phap-thu-ba-con-duong-xua-tan-vo-minh">Pháp Thứ Ba: Con Đường Xua tan Vô minh</a></em></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/con-duong-xua-tan-vo-minh-bon-phap-cua-gampopa/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Pháp trở thành con đường &#8211; Bốn Pháp của Gampopa</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/phap-tro-thanh-con-duong-bon-phap-cua-gampopa/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/phap-tro-thanh-con-duong-bon-phap-cua-gampopa/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 09 Sep 2022 14:28:44 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Tài liệu tham khảo]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11576</guid>
		<description><![CDATA[Một khi để hết tâm trí vào giáo lý, chúng ta đi tới Pháp thứ hai trong Bốn Pháp: các giáo lý của Pháp trở thành cách sống của ta, con đường của ta. Thái độ của ta đối với những gì cao trọng hơn ta – Tam Bảo – bắt đầu thay đổi, và ta cũng thay đổi thái&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/phap-tro-thanh-con-duong-bon-phap-cua-gampopa/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Một khi để hết tâm trí vào giáo lý, chúng ta đi tới Pháp thứ hai trong Bốn Pháp: các giáo lý của Pháp trở thành cách sống của ta, con đường của ta. Thái độ của ta đối với những gì cao trọng hơn ta – Tam Bảo – bắt đầu thay đổi, và ta cũng thay đổi thái độ đối với chúng sinh trong sinh tử ngang bằng ta hay thấp kém hơn ta. Thái độ thứ nhất được biểu lộ khi chúng ta Quy y Phật, Pháp và Tăng đoàn với niềm tin, lòng sùng mộ và sự tôn kính. Chúng ta nhận ra rằng trong Phật quả, chư Phật toàn trí hiện diện khắp nơi và có những khả năng vô tận. Chúng ta thấy rằng các giáo lý của Pháp xuất phát từ trạng thái giác ngộ này, là Con Đường mà mỗi chúng sinh có thể đi theo để đạt được Giác ngộ. Chúng ta nhận ra rằng Tăng đoàn, hay tập hội các hành giả chứng ngộ và truyền dạy các giáo lý, là những bạn đồng hành hay người dẫn dắt có thể chỉ cho ta Con Đường. Trong truyền thống Kim Cương thừa, ngoài Tam Bảo, chúng ta thêm vào Ba Gốc – Lạt ma, Bổn tôn, và Hộ Pháp – là những suối nguồn của sự Quy y.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Pháp trở thành Con Đường của ta, chúng ta phát triển thái độ thứ hai, là thái độ bi mẫn. Bằng cách suy niệm về những chúng sinh ở trong sinh tử với ta, chúng ta suy xét rằng không gian bao la vô tận, tràn ngập muôn phương, và cõi giới của chúng sinh cũng trải rộng như không gian. Ở một thời điểm nào đó trong quá khứ, mỗi một người trong vô số chúng sinh này đã từng là mẹ hay cha của ta. Trải qua vô số chu kỳ cuộc đời, chúng ta đã phát triển một sự nối kết về nghiệp vô cùng thân thiết với mỗi một chúng sinh đó. Khi lòng bi mẫn phát triển, chúng ta nhận thấy rằng mọi cuộc đời đều giống nhau, và mỗi một chúng sinh đều ước muốn hạnh phúc: trong mỗi hình thức của cuộc sống, một cuộc tìm kiếm căn bản truy tìm hạnh phúc luôn được tiếp diễn – nhưng bằng một cách thế mâu thuẫn và làm tiêu tan mục đích của cuộc tìm kiếm này. Một ít chúng sinh hiểu rằng hạnh phúc thực sự là kết quả của thiện hạnh. Nhiều chúng sinh đắm mình trong việc thực sự hủy diệt những cơ hội đạt được hạnh phúc của họ bằng những hành động và tư tưởng lầm lạc và có hại.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi nhận ra điều này, chúng ta phát triển lòng thương yêu và bi mẫn thực sự đối với chúng sinh. Lòng bi mẫn vô hạn này đối với mọi hình thức của cuộc sống là thái độ thứ hai cần phải có để làm cho giáo lý trở thành Con Đường. Bằng niềm tin và lòng bi mẫn, giáo lý đã hấp dẫn chúng ta trở thành toàn bộ lối sống.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Phát triển lòng Bi mẫn</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù chúng ta nhận ra được sự cần thiết phải làm việc không chỉ vì lợi ích của riêng ta mà còn vì hạnh phúc của tất cả chúng sinh, ta cần phải thành thật về những giới hạn của bản thân ta và nhận ra rằng chúng ta có ít năng lực hay khả năng để công cuộc giúp đỡ chúng sinh được giải thoát thực sự có hiệu quả. Để trở nên hữu hiệu trong việc giúp đỡ này, ta phải thành tựu Phật quả hay ít nhất, đạt được quả địa Bồ Tát nào đó. Ở những cấp độ cao cấp này chúng ta đạt được khả năng hiển lộ để dẫn dắt chúng sinh ra khỏi màn vô minh của họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Thái độ vị tha được gọi là Bồ đề tâm Tương đối; khát nguyện phát triển Bồ đề tâm này là nền tảng của thực hành Đại thừa và là Pháp khí cho mọi đức hạnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Một phương pháp để phát triển Bồ đề tâm được gọi là Tonglen, có nghĩa đen là “cho và nhận”. Thái độ ở đây là: mỗi người trong chúng ta chỉ là một chúng sinh, trong khi chúng sinh trong vũ trụ thì vô số. Nếu như một chúng sinh có thể nhận lĩnh mọi nỗi khổ của mọi chúng sinh trong vũ trụ và giải thoát mỗi một và mọi chúng sinh khỏi đau khổ thì đó không phải là một mục tiêu xứng đáng hay sao? Vì thế chúng ta kiên quyết nhận vào mình toàn bộ nỗi khổ này để cất đi nỗi khổ của tất cả chúng sinh, thậm chí nỗi khổ mới chớm hay tiềm tàng của họ, và mọi nguyên nhân của những nỗi khổ đó. Đồng thời chúng ta phát triển thái độ hiến tặng cho chúng sinh mọi đức hạnh, hạnh phúc, sức khỏe, của cải và khả năng để được trường thọ của ta. Mọi sự chúng ta vui hưởng, mọi điều cao quý hay xứng đáng, tích cực hay hạnh phúc trong hoàn cảnh của ta, ta hiến tặng một cách vô vị kỷ cho mỗi một chúng sinh. Vì thế pháp thiền định về điều này là tự nguyện nhận vào mình mọi khuynh hướng tiêu cực bám chấp vào những gì ta mong muốn cho bản thân và không để ý tới người khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta phát triển một sự cảm thông sâu xa với mọi sinh loài. Phương pháp cho và nhận là một phương cách hữu hiệu nhất để phát triển động lực của Bồ Tát.</p>
<p style="text-align: justify;">Cho tới nay, loại bi mẫn mà ta đã mô tả được gọi là “lòng bi mẫn có liên quan tới chúng sinh”. Tuy nhiên, một thái độ nhị nguyên vẫn còn vướng vất ở đây, bởi ta vẫn bị mắc kẹt bởi ba ý niệm (1) bản thân ta kinh nghiệm lòng bi mẫn, (2) chúng sinh là các đối tượng của lòng bi mẫn, và (3) hành vi thực sự của việc cảm thấy bi mẫn nhờ hiểu biết hay nhận thức về nỗi khổ của chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Khuôn khổ này chuẩn bị con đường của chúng ta trong Đại thừa. Một khi loại bi mẫn này được thiết lập, chúng ta đi tới một hiểu biết thứ hai: Sự nhận thức bắt đầu phát triển rằng bản ngã đang cảm nhận lòng bi mẫn, những đối tượng của lòng bi mẫn, và tự thân lòng bi mẫn, tất cả đều có một ý nghĩa huyễn hóa nào đó. Ta thấy rằng ba phương diện này thuộc vào một thực tại quy ước, không tuyệt đối. Tự thân chúng không là gì hết, mà chỉ là những ảo tưởng tạo nên hình tướng của một khuôn khổ nhị nguyên. Việc nhận thức những ảo tưởng này và bằng cách đó thấu hiểu tính Không đích thực của mọi hiện tượng và kinh nghiệm là điều chúng ta gọi là “lòng bi mẫn liên quan tới mọi hiện tượng”. Đây là con đường chính yếu của thực hành Đại thừa.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ loại bi mẫn thứ hai này, loại bi mẫn thứ ba “lòng bi mẫn không có sự liên quan” (không quy chiếu) phát triển. Ở đây chúng ta hoàn toàn vượt lên bất kỳ mối quan tâm nào liên quan tới chủ thể/đối tượng. Chính kinh nghiệm tối hậu dẫn tới Phật quả. Tất cả ba cấp độ bi mẫn này được nối kết, vì thế nếu chúng ta bắt đầu với cấp độ nền tảng bằng cách phát triển lòng từ và bi đối với mọi sinh loài thì chúng ta đặt được nền móng bảo đảm rằng con đường của chúng ta sẽ dẫn thẳng tới Giác ngộ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kyabje Kalu Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Thanh Liên</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <a href="https://thuvienhoasen.org/p39a5179/phap-thu-hai-phap-tro-thanh-con-duong">Pháp Thứ Hai: Pháp Trở thành Con Đường</a></em><img class="ddict_audio" src="chrome-extension://bpggmmljdiliancllaapiggllnkbjocb/img/audio.png" alt="" /></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/phap-tro-thanh-con-duong-bon-phap-cua-gampopa/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tâm hướng về Pháp – Bốn Pháp của Gampopa</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tam-huong-ve-phap-bon-phap-cua-gampopa/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tam-huong-ve-phap-bon-phap-cua-gampopa/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 09 Sep 2022 14:18:18 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Tài liệu tham khảo]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11573</guid>
		<description><![CDATA[Pháp thứ nhất bao gồm một sự thấu suốt về hoàn cảnh của chúng ta trong luân hồi sinh tử và những số phận khác nhau trong luân hồi, sáu trạng thái tái sinh: ba trạng thái thấp – các cõi địa ngục, ngạ quỷ, và súc sinh; và ba trạng thái cao – các cõi người, atula, và cõi&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tam-huong-ve-phap-bon-phap-cua-gampopa/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Pháp thứ nhất bao gồm một sự thấu suốt về hoàn cảnh của chúng ta trong luân hồi sinh tử và những số phận khác nhau trong luân hồi, sáu trạng thái tái sinh: ba trạng thái thấp – các cõi địa ngục, ngạ quỷ, và súc sinh; và ba trạng thái cao – các cõi người, atula, và cõi trời. Qua giáo lý này, chúng ta nghiên cứu kết quả của các thiện hạnh và ác hạnh có khuynh hướng dẫn tới những tái sinh khác nhau này, và những đau khổ mà chúng sinh trong những cõi này phải chịu đựng. Chúng ta đi tới chỗ hiểu rằng mặc dù một tiến trình nghiệp đặc biệt có thể dẫn từ những tái sinh cao xuống những tái sinh thấp hơn hay từ những tái sinh thấp lên cao hơn, nhưng tự thân luân hồi sinh tử không mang lại phương tiện để thoát khỏi, và nếu chúng ta nương tựa vào nó thì có thể ta không tiến bộ trên đường hướng tới Giác ngộ. Vào lúc bắt đầu của Con Đường, sự hiểu biết này về luân hồi sinh tử rất cần thiết để hướng tâm về Pháp, và để thực hiện điều này chúng ta suy niệm Bốn Chuẩn bị Thông thường.</p>
<p style="text-align: justify;">Chuẩn bị thứ nhất liên quan tới giá trị độc nhất vô nhị của đời người mà giờ đây ta đang kinh nghiệm. Nhờ sự gia hộ và uy lực của Tam Bảo trong những đời trước, ở một thời điểm nào đó, chúng ta đã phát triển một khuynh hướng đức hạnh dẫn đến việc được sinh ra làm người hiện tại của ta, với mọi cơ hội, thuận lợi và tự do để thực hành Pháp. Rất ít chúng sinh giữ gìn khuynh hướng đức hạnh này (bằng cách tránh những hành động, tư tưởng và lời nói tiêu cực và thực hành những điều tích cực), và rất ít chúng sinh thành tựu kết quả là được sinh ra làm người quý báu. Nếu chúng ta nghĩ về những vì sao trong bầu trời đêm như tượng trưng cho vô số chúng sinh trong sinh tử luân hồi, thì một vì sao vào ban ngày tượng trưng cho sự sinh ra làm người quý báu – đó là điều có thể được, nhưng rất ít khả năng xảy ra. Sinh ra làm người là một sự kiện vô cùng hy hữu.</p>
<p style="text-align: justify;">Chuẩn bị thứ hai trong Bốn Chuẩn bị liên quan tới sự vô thường. Giờ đây là lúc chúng ta có cơ hội quý báu được sinh làm người, chúng ta nên tận dụng cơ hội ấy và thực sự nhận thức toàn bộ khả năng của việc được làm người. Nhờ những nỗ lực của ta, điều này có thể thành tựu để hoàn toàn siêu vượt luân hồi và đạt được Phật quả. Thêm vào đó, chúng ta phải hiểu rằng cái chết và sự vô thường là một bộ phận của hiện hữu của ta, và việc sinh ra làm người của ta – mà ta đã có được với bao khó khăn – sẽ mất đi. Mọi sự chúng ta kinh nghiệm đều biến đổi trong từng giây phút và không bền vững. Giống như ngọn lửa của một cây nến bị một cơn gió mạnh thổi tắt, hiện hữu làm người của ta cũng bị tiêu tan bất kỳ lúc nào; như một bọt nước trên mặt nước, có thể bất thần vỡ tan; như giọt sương mai trên ngọn cỏ, nhanh chóng bốc hơi.</p>
<p style="text-align: justify;">Kế tiếp, để nhận thức toàn bộ khả năng của việc làm người, chúng ta phải khảo sát ý niệm nghiệp, tiến trình của nhân và quả, đặc biệt là mối liên hệ giữa những hành động của chúng ta và kết quả của chúng. Chúng ta cần hoàn toàn nhận ra mối liên hệ chắc chắn giữa những gì ta đang làm hiện nay và những gì ta sẽ kinh nghiệm sau này.</p>
<p style="text-align: justify;">Suy niệm thứ tư chuyển tâm về Pháp đề cập tới bản chất khiếm khuyết và đau khổ của luân hồi sinh tử. Không có một nhận thức sâu sắc về lẽ vô thường và cái chết sắp xảy đến của chính ta, rất có thể là ta sẽ bị xao lãng bởi những lạc thú của thế gian và đắm chìm trong xung đột cảm xúc và sự vô minh. Khi điều đó xảy ra, chúng ta bị kiệt sức bởi cuộc đời ta đang sống và không nhận ra được đâu thực sự là vấn đề. Trên thực tế, chúng ta không nhận ra được điều gì đang thực sự xảy ra trong đời ta mà cũng không tận dụng được hoàn cảnh của ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước khi ta hiểu được điều đó thì cuộc đời ta chấm dứt và cái chết đến. Nếu ta không có một nền tảng thực hành vững chắc, ta sẽ chết một cách bất lực trong sợ hãi và đau khổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhờ suy niệm về những chuẩn bị này – khả năng của một hiện hữu làm người quý báu, lẽ vô thường và sự chắc chắn của cái chết, tiến trình nghiệp của nhân và quả, những đau khổ và giới hạn của sinh tử – chúng ta chuyển tâm ta về Pháp, và nhờ đó hoàn thành Giáo lý thứ nhất trong Bốn Giáo lý, hay Pháp, của Đức Gampopa.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kyabje Kalu Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Thanh Liên</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <a href="https://thuvienhoasen.org/p39a5178/phap-thu-nhat-tam-huong-ve-phap">Pháp Thứ Nhất: Tâm Hướng về Pháp</a></em></p>
<div class="ddict_btn" style="top: 1505px; left: 358.125px;"><img src="chrome-extension://bpggmmljdiliancllaapiggllnkbjocb/logo/48.png" alt="" /></div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/tam-huong-ve-phap-bon-phap-cua-gampopa/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Hành giả vĩ đại nhất của Tây Tạng có thể dạy ta điều gì về cuộc đời</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/hanh-gia-vi-dai-nhat-cua-tay-tang-co-the-day-ta-dieu-gi-ve-cuoc-doi/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/hanh-gia-vi-dai-nhat-cua-tay-tang-co-the-day-ta-dieu-gi-ve-cuoc-doi/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 18 Aug 2022 03:38:10 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Kagyu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11516</guid>
		<description><![CDATA[Tên ngài là Milarepa và ngài là một kẻ sát nhân. Thủa đầu đời của vị hành giả vĩ đại người Tây Tạng này đã bị tổn thương bởi sự bạo lực, thù hằn và sân hận. Nhưng mỗi khi nhắc đến tên ngài, đôi mắt của mọi người Tây Tạng sẽ ướt đẫm những giọt lệ sùng mộ và&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/hanh-gia-vi-dai-nhat-cua-tay-tang-co-the-day-ta-dieu-gi-ve-cuoc-doi/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Tên ngài là Milarepa và ngài là một kẻ sát nhân. Thủa đầu đời của vị hành giả vĩ đại người Tây Tạng này đã bị tổn thương bởi sự bạo lực, thù hằn và sân hận. Nhưng mỗi khi nhắc đến tên ngài, đôi mắt của mọi người Tây Tạng sẽ ướt đẫm những giọt lệ sùng mộ và hỷ lạc. Cuộc đời của Milarepa là một câu chuyện về sự chuyển hóa. Đây là một người đã nhận ra những lỗi lầm, sai sót của mình và đã xoay chuyển cuộc đời mình. Đây là một người đã trở thành một yogi (hành giả) vĩ đại nhất mà thế giới từng nhìn thấy.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Milarepa là ai?</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kẻ sát nhân</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Milarepa sinh năm 1052 trong một gia đình giàu có ở xứ tuyết Tây Tạng. Cha ngài mất khi ngài còn nhỏ và bởi không có người cai quản điền trang, chú thím ngài đã chiếm đoạt toàn bộ di sản của ngài. Tràn ngập sự giận dữ và căm thù, chàng thanh niên Milarepa đi học huyền thuật và nhanh chóng trở về để giết hại những kẻ hãm hại gia đình mình. Trong thực tế, người ta nói rằng với sự căm thù, Milarepa sân hận tới nỗi đã giết chết 35 người trong ngôi làng của chú ngài trong đêm phục hận.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Gặp gỡ Đạo sư</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Không lâu sau những sự kiện khủng khiếp đó, cuộc đời của Milarepa bắt đầu vỡ tan thành từng mảnh. Ngài đã đi tới một chốn vô cùng tăm tối và ngài nhận thức thật sâu xa rằng cuộc đời ngài hóa ra hoàn toàn lầm lạc. Ngài xấu hổ về con người mình và những gì ngài đã làm cho gia đình ngài. Ngài nhận thức được lỗi lầm trầm trọng ngài đã phạm.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế ngài bắt đầu làm những điều tốt lành. Trong quá trình chuộc lại lỗi lầm, Milarepa gặp Đạo sư Marpa, vị Thầy đã mang toàn bộ Phật pháp từ Ấn Độ về Tây Tạng. Để đưa về Tây Tạng những giáo lý này, Marpa đã phải chịu đựng những gian khổ lớn lao và người ta nói rằng không có Marpa thì Phật giáo sẽ không tồn tại ở xứ tuyết.</p>
<p style="text-align: justify;">Giây phút Milarepa nhìn thấy Marpa lần đầu tiên thật là kỳ diệu. Truyền thuyết kể lại rằng Marpa ở ngoài đồng, bên một con đường, ngài uống một ly rượu và Milarepa đi ngang qua mặt ngài. Thoạt đầu khi Milarepa vừa nhìn thấy Marpa, toàn thể thế giới tĩnh lặng và lông tóc sau cổ ngài dựng đứng lên. Milarepa không biết người đàn ông đó là ai nhưng bởi mối nối kết mạnh mẽ từ những đời quá khứ, người ta nói rằng chỉ nhìn thấy Marpa là Milarepa đã kinh nghiệm một trạng thái thiền định sâu xa.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Marpa buộc Milarepa phải chịu những gian khổ lớn lao</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Milarepa đã tu học với nhiều Đạo sư Phật giáo nhưng dường như không vị Thầy nào có thể giúp đỡ được ngài. Trong trái tim của ngài, ngài biết ngài phải tu học với Marpa. Vì thế ngài quay trở lại để hỏi Marpa và khẩn cầu vị Thầy này giúp đỡ nhưng Marpa chỉ quở mắng và đuổi ngài đi. Mỗi lần Milarepa thỉnh cầu giáo lý thì Marpa chỉ giận dữ, đánh đập và tống cố ngài ra ngoài. Mặc dù vậy, cuối cùng Marpa nhượng bộ và đi tới một thỏa thuận với Milarepa:</p>
<p style="text-align: justify;">“Hãy xây cho ta một ngọn tháp lớn và ta sẽ dạy Pháp cho ngươi”, Marpa nói.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế Milarepa bắt đầu làm việc. Ngài thâu thập những viên đá, các tảng đá và gỗ từ khắp mọi nơi. Sau nhiều tuần làm việc kiệt lực, Milarepa trở về gặp Marpa và nói với vị Thầy rằng ngọn tháp đã hoàn tất. Marpa tới kiểm tra công việc và khi nhìn thấy ngọn tháp, Marpa bắt đầu chửi mắng Milarepa, nói rằng Milarepa đã làm sai hoàn toàn và phải bắt đầu lại!</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Sự việc này diễn ra chín lần nữa</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Ngọn tháp cuối cùng mà Milarepa xây dựng cao chín tầng và phải mất nhiều tháng để hoàn tất. Xin nhớ rằng việc này xảy ra trước khi có xe hơi, cần trục và máy trộn xi măng. Công việc này làm Milarepa bị thương và người ta nói rằng lưng ngài đầy những vết thương lở loét và giờ đây ngài thành một người gù lưng bởi phải vác những tảng đá. Nhưng ngài đã thực hiện điều Marpa yêu cầu và sự hiến dâng của ngài đối với Thầy Marpa không bao giờ lay chuyển. Ngài vô cùng khao khát giáo lý.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi ngọn tháp sau cùng được xây dựng xong, Milarepa ngần ngại trở về nhà của Marpa, nơi vị Thầy đang ban các giáo lý cao cấp cho vài hành giả khác. Milarepa phủ phục dưới chân Thầy và cầu xin giáo lý. Nhưng cũng như thường lệ, Marpa bảo Milarepa hãy ra khỏi nơi đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Hoàn toàn tuyệt vọng, Milarepa quyết định tự vẫn. Trong quá khứ, ngài đã giết chết 35 người và không có giáo lý của Đức Phật, ngài cảm thấy không thể làm những điều đúng đắn và không có cách nào để mang lại lợi ích cho những người đã chết đó. Vì thế ngài treo một sợi thừng trên cây và tròng dây quanh cổ. Ngài hít một hơi thật sâu và dốc hết nghị lực, và ngay khi ngài sắp bước vào cái chết thì Marpa tới gần và nói giờ đây Milarepa đã sẵn sàng được nhận những giáo lý tối thượng của Phật giáo. Thầy Marpa đã chấp nhận ngài là đệ tử.</p>
<p style="text-align: justify;">Người ta nói rằng Marpa bắt Milarepa phải chịu những gian khổ này để giúp Milarepa tịnh hóa ác nghiệp và khiến ngài trở thành một bình chứa (pháp khí) thích hợp đối với các giáo lý. Không có những gian khổ này, tâm thức của Milarepa sẽ không được chuẩn bị và ngài sẽ tu tập không tiến bộ do bởi những ác hạnh trầm trọng của ngài trong quá khứ. Nhờ trí tuệ, Marpa biết rằng những công việc khổ nhọc sẽ làm lợi lạc cho Milarepa và giúp cho tân hành giả này tiến bộ nhanh chóng trên con đường.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Tu học với Marpa và thiền định trong các hang động</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó Milarepa nhận lĩnh tất cả những giáo lý của Marpa. Một đêm trong một giáo lý tuyệt mật, Marpa có một giấc mơ. Trong giấc mơ một vị Phật nữ tuyệt đẹp nói với ngài rằng Milarepa sẽ trở thành vị hộ trì dòng truyền thừa của ngài và vì thế hãy nỗ lực giảng dạy cho Milarepa. Do đó Marpa đã dạy cho Milarepa mọi sự mà ngài đã học ở Ấn Độ, giống như người ta rót nước từ chiếc bình này sang chiếc bình khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Milarepa đã được giảng dạy đầy đủ, ngài từ giã mọi người và lên đường tới nơi hoang dã. Ngài nguyện sống đơn độc trong những hang động cho tới khi thành tựu giác ngộ và ngài không bao giờ vi phạm lời nguyện này. Đôi khi Milarepa bít lối vào hang để ngài không thể ra khỏi và thiền định ở đó hàng nhiều năm. Thực phẩm và nước uống được đưa vào cho ngài qua một khe nứt giữa các viên gạch.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giác ngộ trong một đời</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Các giáo lý Phật giáo nói rằng người ta có thể đạt được giác ngộ trong một đời nhưng điều đó vô cùng hiếm có. Hầu hết hành giả Phật giáo phải mất rất nhiều cuộc đời để tích lũy trí tuệ và công đức. Nhưng Milarepa đã làm được điều đó. Ngài nổi danh là người duy nhất trong lịch sử Tây Tạng thành tựu sự toàn giác trong một thân người, ngay trong một đời người. Và đó là lý do vì sao ngài là hành giả vĩ đại nhất trong mọi hành giả.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Milarepa có thể dạy chúng ta điều gì trong cuộc đời</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Milarepa nổi danh là một thi sĩ vĩ đại. Ngài thường lang thang quanh những miền quê, hát những bài ca và viết những bài thơ cho người dân địa phương. Tôi muốn chia sẻ với quý vị một vài bài thơ, giáo lý và trích dẫn nổi tiếng nhất của Milarepa với hy vọng rằng điều đó có thể mang lại lợi lạc cho một người nào đó.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>1. Hãy khiêm tốn</strong></p>
<p style="text-align: justify;">“Hãy ngồi ở chỗ thấp nhất, và các con sẽ đạt được vị trí cao nhất”. – Milarepa</p>
<p style="text-align: justify;">Milarepa nổi danh là rất khiêm tốn. Ngài không mặc gì ngoài một vài quần áo rách dơ bẩn và không bao giờ ngồi trên một Pháp tòa hay ghế cao. Ngài không có tu viện lộng lẫy, thay vào đó ngài chọn cách sống trong những hang động và núi non.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhiều bài ca của ngài nói về sự khiêm tốn. Milarepa thường nói về đức tính khiêm tốn giúp ta phát triển lòng bi mẫn và lòng yêu thương, trong khi sự kiêu ngạo khiến chúng ta cảm thấy mình tốt hơn và quan trọng hơn tất cả những người khác. Ngài thường quở trách những người dân địa phương kiêu ngạo, nói rằng sự cao ngạo là nguyên nhân của đau khổ bởi nó quá sức quy ngã. Và khi quý vị kiêu ngạo và tự cao, các sự việc không theo ý muốn của quý vị, quý vị sẽ đau khổ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>2. Tỉnh giác về cái chết</strong></p>
<p style="text-align: justify;">“Cuộc đời thật ngắn ngủi, và thời gian của cái chết thì bất định; vì thế hãy chuyên tâm thiền định. Hãy tránh những hành vi sai trái và tích tập công đức trong khả năng tốt nhất của các con, dù phải trả giá bằng cuộc đời mình. Tóm lại, hãy hành động để các con không có lý do gì phải xấu hổ về bản thân mình; và hãy tuân thủ chặt chẽ quy tắc này”. – Milarepa</p>
<p style="text-align: justify;">Một trong những chủ đề chính yếu trong các bài thơ và bài hát của Milarepa là cái chết. Dường như việc ngài là một kẻ sát nhân trong quá khứ đã lưu lại dấu vết trong tâm thức ngài và ngài luôn luôn tỉnh giác về việc cái chết có thể đến bất kỳ lúc nào. Nhưng Milarepa đã sử dụng sự hiểu biết đó như một nguồn cảm hứng chứ không phải một lý do để tuyệt vọng. Thay vì lo lắng về cái chết, ngài đối mặt với những sợ hãi của ngài và sử dụng cái chết của ngài như động lực chính yếu để tu hành miên mật.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi thường cố khuyến khích các độc giả của tôi thực hành tương tự. Chúng ta không biết khi nào chúng ta chết nhưng ta biết rằng cái chết là một điều chắc chắn. Vì thế ta nên sử dụng cơ hội quý báu này để thành tựu các mục tiêu của ta và làm một vài điều tốt đẹp nào đó. Đó là những gì Milarepa đã làm. Ngài đã sử dụng phần lớn thời gian của ngài bằng cách liên tục tỉnh giác rằng thời gian có thể cạn kiệt.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>3. Tỉnh giác về sự vô thường</strong></p>
<p style="text-align: justify;">“Mọi theo đuổi thế gian chỉ có một kết thúc chắc chắn phải xảy ra và không thể tránh khỏi, đó là sự đau khổ. Mọi thâu đạt kết thúc trong tan tác; mọi tạo lập kết thúc trong hủy diệt; mọi gặp gỡ kết thúc trong chia ly; mọi sự sinh ra kết thúc trong cái chết”. – Milarepa</p>
<p style="text-align: justify;">Một điều mà tôi mong ước cha mẹ tôi sử dụng thêm thời gian để dạy dỗ tôi là chân lý của sự vô thường. Hiểu rõ lẽ vô thường là một điều vô cùng hữu ích nhưng đáng buồn thay, đó lại là một điều mà hầu hết mọi người không bao giờ thực sự thấu hiểu.</p>
<p style="text-align: justify;">Milarepa thường nói với mọi người rằng đừng quá dính mắc vào các sự việc bởi chúng sẽ không tồn tại lâu dài. Những mối quan hệ, của cải, công việc, nhà cửa, xứ sở v.v..., tất cả sẽ biến mất như một cầu vồng. Sẽ chẳng có gì tồn tại mãi mãi. Và nhờ thấu hiểu và tôn trọng chân lý này ta sẽ có thể vui hưởng cuộc đời nhiều hơn nữa. Những mối quan hệ của ta với thế giới trở nên hiện thực và lành mạnh hơn. Ta sẽ không mê mải bám chấp vào các sự việc khi ngăn cản chúng đừng chấm dứt. Khi thấu hiểu lẽ vô thường ta có thể nhận thức sâu sắc hơn về các sự việc khi chúng hiện hữu ở đây.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>4. Đừng bị lừa gạt bởi những phóng dật thế gian.</strong></p>
<p style="text-align: justify;">“Những công việc của thế gian sẽ tiếp diễn không bao giờ ngừng nghỉ. Đừng trì hoãn thực hành thiền định”. – Milarepa</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi thích trích dẫn này. Trong thực tế, tôi dùng câu trích dẫn này làm nền màn hình máy tính của tôi. Tôi đọc nó khi cần nhắc nhở mình rằng có những điều khác đáng làm hơn là chỉ ăn, ngủ và làm việc.</p>
<p style="text-align: justify;">Tất cả chúng ta đều có thể đồng cảm với châm ngôn này, cho dù chúng ta không là những hành giả. Những công việc của thế gian sẽ tiếp diễn không bao giờ ngừng dứt. Sẽ luôn luôn có một người nào đó hay điều nào đó ngăn trở những hy vọng hay giấc mơ của quý vị. Có thể đó là công việc, tiền bạc hay một vài chướng ngại khác nhưng ngay khi quý vị vượt qua nó, một chướng ngại mới sẽ xuất hiện.</p>
<p style="text-align: justify;">Milarepa bảo chúng ta đừng lãng phí thời gian mà phải thuận thảo với nó. Sẽ luôn luôn có những phóng dật và vấn đề, nhưng dù thế nào đi nữa thì chúng ta cần phải tiến tới. Điều này vô cùng quan trọng.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Sống và chết không hối tiếc.</strong></p>
<p style="text-align: justify;">“Tôn giáo của tôi không phải là đạo Phật. Tôn giáo của tôi là sống và chết không hối tiếc”. – Milarepa.</p>
<p style="text-align: justify;">Đây luôn luôn là trích dẫn mà tôi yêu thích. Không chỉ riêng của Milarepa mà của mọi người, ở mọi nơi. Tôi đọc nó và cảm thấy hứng khởi trong việc làm một người tốt hơn và làm mọi sự tôi có thể khiến cho đời tôi ích lợi hơn và xứng đáng hơn. Tôi yêu quý trích dẫn đó bởi nó đánh mạnh vào cốt lõi của vấn đề và cho ta thấy việc đứng ở ngưỡng cửa của cái chết và hối tiếc về những điều mà ta từng làm (hay không làm!) trong tuổi thanh xuân thì khủng khiếp biết bao.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Những Bài Ca của Milarepa</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Nếu quý vị thích thú trong việc nghiên cứu thêm nữa về đại hành giả này thì tôi hết sức khuyến khích quý vị đọc quyển sách nổi tiếng tên là Một Trăm ngàn Bài Ca của Milarepa. Đây luôn luôn là quyển sách tôi thích đọc nhất. Đó là một tuyển tập tuyệt vời gồm tất cả những bài thơ, bài hát và giáo lý của Milarepa.</p>
<p style="text-align: justify;">Đó là một tác phẩm vô cùng súc tích. Đôi khi ngài hát về những điều như thể diễn ra sống động trong một hang động và quý vị cảm thấy như thể thực sự ở đó, ngay bên cạnh ngài. Những lúc khác ngài hát về lòng bi mẫn bùng cháy trong lòng ngài giống như một ngọn lửa và quý vị cảm nhận về điều gì đó như thể kinh nghiệm về lòng thương yêu đích thực.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói chung đó là một quyển sách thật đáng đọc. Quyển sách này từng hiện diện trong mọi gia đình ở Tây Tạng trong hàng trăm năm. Nó được đọc cho trẻ em khi chúng còn thơ ấu và sau đó được các tu sĩ nghiên cứu trong các tu viện.</p>
<p style="text-align: justify;">Quý vị khó tìm được một người Tây Tạng nào không thể đọc thuộc lòng ít nhất một bài thơ của Milarepa.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kết luận</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Bài viết này sẽ không thể lưu hành mãi mãi. Tiểu sử của Milarepa có thể dạy chúng ta rất nhiều về việc chúng ta là ai và chúng ta có thể trở thành cái gì. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là nó cho chúng ta thấy rằng tất cả chúng ta đều có năng lực để chuyển hóa cuộc đời và hoàn cảnh của riêng mình. Chúng ta là chủ nhân số phận của chính mình.</p>
<p><em>Nguyên tác: What Tibet’s Greatest Ever Yogi Can Teach Us About Living Life</em></p>
<p><em>Việt dịch: Thanh Liên</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn Anh ngữ: </em><a href="https://thedailymind.com/what-tibets-greatest-ever-yogi-can-teach-us-about-living-life/"><i><span style="font-weight: 400;">What Tibet’s Greatest Ever Yogi Can Teach Us About Living Life</span></i></a></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn Việt ngữ: <a href="https://thuvienhoasen.org/p39a6144/3/hanh-gia-vi-dai-nhat-cua-tay-tang-co-the-day-ta-dieu-gi-ve-cuoc-doi">Hành giả vĩ đại nhất của Tây Tạng có thể dạy ta điều gì về cuộc đời</a></em></p>
<p style="text-align: justify;"><img src="chrome-extension://bpggmmljdiliancllaapiggllnkbjocb/logo/48.png" alt="" /></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/hanh-gia-vi-dai-nhat-cua-tay-tang-co-the-day-ta-dieu-gi-ve-cuoc-doi/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Gọi Thầy từ ngàn xa trong sáu pháp du già của Naropa</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/goi-thay-tu-ngan-xa-trong-sau-phap-du-gia-cua-naropa/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/goi-thay-tu-ngan-xa-trong-sau-phap-du-gia-cua-naropa/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 27 May 2022 13:38:31 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Guru Yoga]]></category>
		<category><![CDATA[Kagyn]]></category>
		<category><![CDATA[Kim Cương Thừa]]></category>
		<category><![CDATA[Lời vàng chư đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Sùng kính Đạo Sư]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11193</guid>
		<description><![CDATA[KYÉ MA PA JE TSÜN LAMA RIN PO CHE Ôi Karmapa … *, bậc thầy quý tựa minh châu, KHYÉ SANG GYE KÜN DANG YER MÉD KYANG Dầu thầy không khác rời Phật bảo, NGÉ MÖ PEI BU LA THUG TSE WÉ Bởi từ bi như mẹ hiền thương con thảo, THRAL GYAL SÉ CHHOG GI TSHUL ZUNG NÉ Nơi&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/goi-thay-tu-ngan-xa-trong-sau-phap-du-gia-cua-naropa/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>KYÉ MA PA JE TSÜN LAMA RIN PO CHE<br />
Ôi Karmapa … *, bậc thầy quý tựa minh châu,<br />
KHYÉ SANG GYE KÜN DANG YER MÉD KYANG<br />
Dầu thầy không khác rời Phật bảo,<br />
NGÉ MÖ PEI BU LA THUG TSE WÉ<br />
Bởi từ bi như mẹ hiền thương con thảo,<br />
THRAL GYAL SÉ CHHOG GI TSHUL ZUNG NÉ<br />
Nơi ngôi pháp vương tử, Thầy đã hiện thân.<br />
LAR SAM ZHIN KYE WA ZHÉ DZÉD PA<br />
Với lòng đầy xót thương, thầy đã tái sinh thêm lần nữa<br />
PAR KAR MA PA ZHÉ YONG SU DRAG<br />
Ôi Karmapa, uy danh thầy phủ khắp thế gian.</p>
<p>JÉ KHYÉD KYI JIN LAB MI MEN KYANG<br />
Thầy tôn quý! Chúng sinh vô minh, chẳng nhận được phước lành thầy ban<br />
GYÜ NYÖN MONG DRAG PÖ YONG ZUNG NÉ<br />
Bởi não phiền phủ đầy trong dòng sông tâm thức<br />
LÉ NAG PO CHÖD PA DAR WEI THÜ<br />
Và cũng vì bao nghiệp bất thiện đã gây.<br />
DÜ NYIG MA NGA DÖI SEM CHEN NAM<br />
Trong kiếp u trược này, chúng sinh từ các cõi cao<br />
OG NGEN SONG YANG SA KHO NAR LHUNG<br />
chỉ đọa rơi vào các cõi thấp khổ.<br />
PHA THUG JÉ ZUNG SHIG KAMARPA<br />
Ôi Karmapa, xin thầy nhủ lòng từ bi mà thương xót chúng con</p>
<p>LÉ NGAR JHÉ NAM LA DÖN MA CHHI<br />
Những gì con đã làm trong quá khứ thảy đều vô nghĩa<br />
CHHÖ NGAR JHÉ NAM LA CHHÖ GYÉD DRÉ<br />
Việc tu hành của con vẫn trộn lẫn vào tám pháp thế gian***.<br />
LAM NAL MAR DRUB PA CHIG MA DREN<br />
Con chưa từng ngộ một niệm nào đúng theo chánh đạo.<br />
DA KHUYED RANG MIN PA RE SA MÉD<br />
Ngoại trừ thầy ra, con không còn nơi nào để nương tựa.<br />
PHA THUG JÉ ZUNG SHIG KARMA PA<br />
Ôi Karmapa, xin nhủ lòng từ bi mà thương xót chúng con</p>
<p>LAR SHIN JÉI KHYE BÜ GYAB NÉ DÉD<br />
Sau lưng con, thần chết đang tìm rượt đuổi<br />
DÜ LO DA ZHAG GII DÜN NÉ SU<br />
Trước mặt con, ngày ngày, tháng tháng, năm năm tiếp nối trôi mau<br />
TRAL NAM YENG JHA WÉ BAR NE TRID<br />
Trong khoảng giữa, con lại để biếng lười sai xử,<br />
DE MA TSHOR LÜ SHIG JUNG NYEN DUG<br />
Nguy lắm thay con đang tự mình dối gạt mình.<br />
PHA THUG JÉ ZUNG SHIG KARMA PA<br />
Ôi Karmapa, xin nhủ lòng từ bi mà thương xót con</p>
<p>ZHÖN WANG PO SAL TSHÉ JI PÉI SEM<br />
Khi các giác quan còn trẻ trung và nhạy bén, con có tâm của một đứa trẻ dại khờ,<br />
LÜ DAR LA BAB TSHÉ DREL WÉ YENG<br />
Đến tuổi thiếu thời, con lại chạy theo chuyện thế gian.<br />
DA GÉ SHING KHOG PAR GYUR PÉI TSHÉ<br />
Giờ đây con đã tóc bạc lưng còng<br />
CHHÖ SHA MAR DREN KYANG CHHI NÉ SONG<br />
Bắt đầu nghĩ tới chuyện tu hành, e rằng đã trễ.<br />
PHA THUG JÉ ZUNG SHIG KARMA PA<br />
Ôi Karmapa, xin nhủ lòng từ bi mà thương xót chúng con</p>
<p>RANG DÖD PAR DÖD KYANG DÖD WANG MÉD<br />
Dầu con có muốn sống lâu, thọ mạng này cũng chẳng theo ý muốn<br />
NOR KHYER BAR DÖD KYANG KHYER MI TUB<br />
Dẫu con có muốn mang sang giàu vào cõi chết, con không thể nào<br />
DROG DROG PAR DÖD KYANG RANG CHIG PUR<br />
Dẫu con có muốn lưu lại cùng thân hữu, con buộc phải lên đường đơn độc<br />
SANG JIG TEN PHA ROL DRO WAR NGÉ<br />
Chắc chắn rằng một ngày con sẽ bỏ lại thế gian này, tất cả sau lưng.<br />
PHA THUG JÉ ZUNG SHIG KARMAPA<br />
Ôi Karmapa, xin nhủ lòng từ bi mà thương xót chúng con</p>
<p>TSHÉ DI I BAG CHHAG PEN PÉI THÜ<br />
Bất cứ điều gì biểu hiện trong thân trung ấm<br />
LAM BAR DOI TRANG NE CHI DRA JUNG<br />
Đều do tập khí của đời này thúc đẩy<br />
PÉ DANG SUM NYAL WÉI MI LAM ZHIN<br />
Và rất khó để con kiểm soát<br />
LAR RANG WANG THOB PA SHIN TU KAR<br />
có khác gì (kiểm soát) giấc mộng đêm qua.<br />
PHA THUG JÉ ZUNG SHIG KARMA PA<br />
Ôi Karmapa, xin nhủ lòng từ bi mà thương xót chúng con</p>
<p>CHIR KHOR WÉI CHHÖ LA NYING PO MÉD<br />
Nhìn ra mọi việc trong cõi luân hồi đều không có thực nghĩa<br />
GÖ MI TAG LÜ LA NYING PO MÉD<br />
Và chính ngay tấm thân tạm bợ này rốt cũng không thực chất<br />
DI NAM KHAR SHAR WÉI JA TSHÖN DRA<br />
Chỉ biểu hiện ra như ánh cầu vồng thoắt hiện trời cao.<br />
DÉ DEN PAR ZUNG YANG YAL NÉ DRO<br />
Dầu con cố nắm bắt các tướng như là thực có, chúng rồi tan biến.<br />
PHA THUG JÉ ZUNG SHIG KARMA PA<br />
Ôi Karmapa, xin nhủ lòng từ bi mà thương xót chúng con</p>
<p>YAR SANG GYE NAM LA DED PA MÉD<br />
Nếu đối trên chư Phật không sinh niềm kính ngưỡng<br />
MAR SEM CHEN NAM LA NYING JÉ CHHUNG<br />
Và trước dưới chúng sinh chẳng có lòng xót thương<br />
GÖ NGUR MIG GYÖN KYANG ZUG NYEN TSAM<br />
Dẫu mặc y phước điền chư phật cũng chỉ là hình thức<br />
TRA PU DRI ZHAR YANG DÖN GO MÉD<br />
Đầu cạo trọc cũng có nghĩa lý gì<br />
PHA THUG JÉ ZUNG SHIG KARMA PA<br />
Ôi Karmapa, xin nhủ lòng từ bi mà thương xót chúng con</p>
<p>CHHÖ THÖ PA MANG YANG NÉD MA TROL<br />
Con dầu nghe rất nhiều giáo pháp, điểm cốt yếu thảy đều rơi mất<br />
KHA ZHE PA MANG YANG GYÜ MA DUL<br />
Con khéo giảng nghĩa giáo pháp, nhưng lại chẳng biết điều phục tâm<br />
NÉ RI TRHÖ DRIM KYANG KHYIM LA SÉD<br />
Dẫu ở chốn u tịch, con lại vương vấn đời sống gia đình<br />
MIG TA TANG JHÉ KYANG NYAM NYONG MÉD<br />
Kẻ khác nhìn vào mắt con, tưởng rằng đang thiền định, nhưng kỳ thực không có thực chứng gì.<br />
PHA THUG JÉ ZUNG SHIG KARMA PA<br />
Ôi Karmapa, xin nhủ lòng từ bi mà thương xót chúng con</p>
<p>MI ZHEN GYI KYÖN TSHANG CHHUNG DU RIG<br />
Con, nhìn thấy hết mọi lỗi nhỏ nhặt nơi kẻ khác<br />
RANG KHONG NÉ RUL WA YONG MA TSHOR<br />
Lại chẳng nhìn ra tâm mình đã dần mục nát.<br />
KHYÖD ZHEN GYII GO WO KOR KOR NÉ<br />
Con, lừa gạt chúng sinh hết lần này tới lần khác,<br />
DUG RANG GII NYÖ PA MA LAG SAM<br />
Không nhận ra rằng chính mình đang tự chuốc lấy khổ đau.<br />
PHA THUG JÉ ZUNG SHIG KARMA PA<br />
Ôi Karmapa, xin nhủ lòng từ bi mà thương xót chúng con</p>
<p>KHONG GYAL WÉI SUNG RAB MA LÜ PA<br />
Mọi kinh điển của các đấng Thế Tôn, không có ngoại lệ<br />
SEM GYÜ LA É PHEN MI SEM PAR<br />
Liệu phải để phục vụ bản thân ta?<br />
KHÉ DRAG PA DRUB CHHIR THÖ SAM JHA<br />
Có phải con đang nghe và học giáo pháp nhằm đạt được lợi danh?<br />
DÉ THAR PÉI LAM DU E DRO AM<br />
Đây có phải là con đường giải thoát để hành trì?<br />
PHA THUG JÉ ZUNG SHIG KARMA PA<br />
Ôi Karmapa, xin nhủ lòng từ bi mà thương xót chúng con</p>
<p>KHYÖD CHHÖ PÉI TSHUL GYII JIG TEN DRUB<br />
Trên hình thức, con là bậc chân tu hoàn hảo, vậy mà con vẫn tạo nghiệp thế gian.<br />
LAR KYE WO KÜN GYI CHHÖ PA LEN<br />
Dẫu con được mọi người tôn xưng làm bậc thánh<br />
TSHE YANG YENG JHA WÉI NGANG DU TANG<br />
Con vẫn bỏ phí đời mình trong xao lãng<br />
UG THOG GER DRO DÜ CHI DRA DANG<br />
Những điều gì sẽ xảy đến cho con khi hơi thở này ngưng?<br />
PHA THUG JÉ ZUNG SHIG KARMA PA<br />
Ôi Karmapa, xin nhủ lòng từ bi mà thương xót chúng con</p>
<p>DAG DÉ LÉ KYO WA TING NÉ KYÉ<br />
Con xin thành tâm sám hối<br />
YAR SANG GYE NAM LA SOL WA DEB<br />
Con khẩn cầu chư Phật trên cao<br />
CHIR NYIG MÉI DÜ KYI SEM CHEN DANG<br />
Trong thời kỳ u tối này, xin thương tưởng đến tất cả chúng sinh<br />
GÖ CHHÖ PÉI TSHUL CHEN DAG SOG LA<br />
Nhất là những kẻ đang trầy trật trên đường tu đạo.<br />
PHA THUG JÉ ZUNG SHIG KARMA PA<br />
Với lòng xót thương, ôi Karmapa,<br />
BU NGA LA RE SA ZHEN MED PÉ<br />
Con là đứa con tâm linh của thầy, ngoại trừ thầy con không có nơi nào khác để trông cậy<br />
JHA DRAL GYI KYID DUG KHYÖD RANG SHÉ<br />
Bởi vì thầy hiểu thấu niềm vui cũng như nỗi khổ trong con<br />
YING ZAG MÉD DE CHHEN PO DRANG NA<br />
An trú nơi cung đại hỷ giữa không gian không còn sự khổ<br />
GÖN KHYÉD DANG YER MED RO CHIG SHOG<br />
Ôi đấng pháp vương, nguyện cho con được hợp nhất với thầy không thể phân ly.</p>
<p><strong>Đức Shamarpa 5</strong></p>
<p><em>Việt dịch: Sangay Kunga Chophel</em></p>
<p><em>Trích: Calling guru from afar - NXB Kagyu Institute for Buddhist Studies Kirtipur, Nepal</em></p>
<p><em>* Trong tiếng anh: đoạn này dịch là “vị cha tâm linh” - “pháp phụ”. Đối với hành giả tu tập Phật pháp, vị bổn sư cũng như người cha đã sinh ra mình lần nữa trong Giáo Pháp, đã ban cho mình giới thân và huệ mạng.</em><br />
<em>** Còn gọi là các cõi đọa, bao gồm: súc sinh, ngạ quỷ và địa ngục.</em><br />
<em>*** Tám pháp thế gian (còn gọi là bát phong, tám gió) là bốn cặp thăng trầm trong cuộc đời nhìn theo con mắt thế gian: được (thịnh) và mất (suy), danh thơm (hủy) và tiếng xấu (dự), khen ngợi (xưng) và chê bai (cơ), hạnh phúc (lạc) và đau khổ (khổ).</em></p>
<div class="ddict_btn" style="top: 4168px; left: 126.75px;"><img src="chrome-extension://bpggmmljdiliancllaapiggllnkbjocb/logo/48.png" alt="" /></div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/goi-thay-tu-ngan-xa-trong-sau-phap-du-gia-cua-naropa/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Con tàu giải thoát chúng sinh</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/shangpa/con-tau-giai-thoat-chung-sinh/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/shangpa/con-tau-giai-thoat-chung-sinh/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 17 May 2022 06:38:40 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kinh sách Shangpa]]></category>
		<category><![CDATA[Shangpa Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Truyền thừa Shangpa]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11158</guid>
		<description><![CDATA[Ôi Đức Vajradhara(1) và hai dakini hiện thân sự nhận thức nguyên sơ, Khyungpo Naljor,(2) các Đạo sư gốc và Đạo sư dòng truyền thừa, Ôi Samvara, Hevajra, Guhyasamaya, và Mahamaya, Ôi các dakini của năm bộ, Đấng Bảo hộ Hành động - Nhanh chóng và Remati, Bốn thị giả vâng lời và tập hội như đại dương những vị&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/shangpa/con-tau-giai-thoat-chung-sinh/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Ôi Đức Vajradhara(1) và hai dakini hiện thân sự nhận thức nguyên sơ,<br />
Khyungpo Naljor,(2) các Đạo sư gốc và Đạo sư dòng truyền thừa,<br />
Ôi Samvara, Hevajra, Guhyasamaya, và Mahamaya,<br />
Ôi các dakini của năm bộ, Đấng Bảo hộ Hành động - Nhanh chóng và Remati,<br />
Bốn thị giả vâng lời và tập hội như đại dương những vị bảo hộ kết buộc lời thệ nguyện,<br />
Mọi suối nguồn của sự quy y, Tam Bảo và Tam Căn,(3)<br />
Con khẩn cầu, xin nghĩ tưởng tới con từ phạm vi của sự vô hình.</p>
<p>Nhờ năng lực của chân lý trong sự gia hộ và lòng bi mẫn của ngài<br />
Và nhờ năng lực của mọi đức hạnh mà con tích tập trong ba thời,<br />
Con khẩn cầu, xin nhanh chóng đáp ứng mọi ước nguyện con biểu lộ<br />
Trong đời này và mọi cuộc đời sắp tới của con.</p>
<p>Sự sinh ra cao quý, tự do và thuận lợi này thật khó có được.<br />
Cầu mong con không lãng phí mà sử dụng nó một cách có ý nghĩa.<br />
Trong việc quán chiếu về những điều phù du, không bền vững, và biến đổi,<br />
Nguyện con không màng đến sự nhàn nhã và cắt đứt những mối bận tâm.</p>
<p>Bằng cách đi đến chỗ nhận thức sâu sắc những kết quả của thiện hạnh và ác hạnh, bất kể tầm quan trọng của chúng,<br />
Nguyện con có thể duy trì những hoạt động của nhân và quả.<br />
Bằng cách thấu hiểu nỗi khổ trong ba cõi sinh tử,<br />
Nguyện con phát triển sự xả ly để lìa bỏ phạm vi sinh tử luân hồi,</p>
<p>Trong đời này, trong những đời sau, và trong bardo,(4) trong mọi lúc,<br />
Nguyện con và những người khác tìm ra nơi trú ẩn trong việc quy y Tam Bảo và Tam Căn.<br />
Nguyện lòng từ và bi phát khởi tận đáy lòng con<br />
Đối với tất cả sáu loài chúng sinh, những cha mẹ của con, bao la như bầu trời vô hạn.</p>
<p>Ở một chốn không người trong núi non, nơi có đủ mọi điều kiện thuận lợi<br />
Nguyện con nhất tâm thực hành và đạt được chóp đỉnh của kinh nghiệm và chứng ngộ.<br />
Nguyện các Lạt ma linh thánh phú tặng những năng lực viên mãn<br />
Xin đoái tưởng tới con trong mọi cuộc đời sắp tới.</p>
<p>Nguyện trong tim con phát khởi lòng tôn kính và sùng mộ không giả tạo<br />
Đối với Lạt ma gốc (Bổn sư), thân tướng thực sự của Đức Phật.<br />
Mạn đà la của các Bổn Tôn xuất hiện tự nhiên và luôn luôn hiện diện;<br />
Khi hiểu rằng con là mạn đà la này, nguyện con củng cố hình tướng chói lọi của nó.<br />
Chỉ bằng cách thực hiện các thực hành nghi lễ của các Lạt ma, Bổn Tôn, dakini và vị bảo hộ,<br />
Nguyện con diện kiến các ngài thật rõ ràng.</p>
<p>Với hỉ lạc và hơi ấm không thể cưỡng nổi hừng hực trong thân con<br />
Nguyện thiền định về lạc không được củng cố trong tâm con.<br />
Nhờ thấu hiểu rằng mọi hiện tượng như những giấc mộng và mê hoặc<br />
Nguyện sự mê lầm và bám chấp vào các ý niệm về thực tại hoàn toàn bị tiêu diệt.<br />
Vào ban đêm nguyện con nhận ra rõ ràng trạng thái mộng mà không cần nỗ lực<br />
Và thực hành sự tinh lọc, tăng trưởng, hóa hiện, chuyển hóa, và chính xác trong việc tri giác các đối tượng đặc biệt.</p>
<p>Trong bóng tối sâu dày của vô minh, ngu si và giấc ngủ<br />
Nguyện con nhận ra và trì giữ các trạng thái sâu xa và chói sáng của sự quang minh tuyệt đối,<br />
Nguyện con thông suốt những loại khác nhau của sự chuyển di,<br />
Pháp Thân, Lạt ma, Bổn Tôn, ánh sáng Pháp giới, cõi trời, và những thứ khác.<br />
Nhờ sự xuất hiện tự nhiên của mỗi một trong ba thân và bằng việc thực hành không trệch hướng<br />
Nguyện ba thân được thể nhập trong trạng thái hiện hữu trung gian.</p>
<p>Bốn lỗi lầm lắng dịu một cách tự nhiên, bốn thân hiện diện đầy đủ:<br />
Trong đời này nguyện con trực tiếp thấu suốt mahamudra (Đại Ấn), bản tánh của sự hiện hữu.<br />
Nhờ sự tôn kính và sùng mộ Lạt ma của con, nhờ hiểu rõ các hình tướng và âm thanh là các Bổn Tôn và thần chú,<br />
Và nhờ hiểu rằng các hình tướng và trạng thái tâm thì giống như những mê hoặc và giấc mộng,<br />
Nguyện con đưa mọi kinh nghiệm vào con đường tâm linh.</p>
<p>Nhờ các nữ hoàng tôn quý nhảy múa trong cõi lạc không<br />
Nguyện con thông suốt con đường phát triển và thành tựu và du hành tới cõi linh thiêng của các ngài.<br />
Thân xác tự nó không có sự sống, tâm thức thấu rõ sự bất sinh bất tử:<br />
Nguyện con trực tiếp thấu hiểu sự bất tử và kết quả không sai lạc.</p>
<p>Nguyện con nhìn thấy rõ ràng thân tướng cao quý của Lạt ma và vị bảo hộ là một<br />
Và đạt được thành tựu siêu việt và thành tựu bốn loại hoạt động.</p>
<p>Bằng phương tiện của các năng lực làm an định và gia hộ ngang bằng chư Phật,<br />
Nguyện con xua tan mọi bệnh tật và thống khổ của chúng sinh.<br />
Nguyện cuộc đời, công đức, năng lực, ảnh hưởng, kinh nghiệm, và sự hiểu biết trực tiếp của con<br />
Dâng trào như những con sông trong mùa mưa lũ.<br />
Để con là sự hỗ trợ tối hảo cho Giáo lý và chúng sinh<br />
Nguyện năng lực của con trải rộng khắp ba cõi và ba thế giới.<br />
Để có thể tiêu diệt những kẻ thù phát triển khắp mười lĩnh vực<br />
Nguyện sức mạnh và năng lực của con trong các thần chú phẫn nộ hừng hực như lửa đỏ.</p>
<p>Nguyện con và chúng sinh hoàn toàn tịnh hóa mọi hành vi bất thiện<br />
Mà chúng con đã mắc phạm, dù là sự bất thiện trong bản chất hay bởi việc thọ giới.</p>
<p>Nguyện con có thể làm cho nhiều chúng sinh được hạnh phúc<br />
Bằng cách hiến tặng họ của cải, Giáo Pháp, và sự an toàn.<br />
Nguyện con luôn luôn có thể duy trì các kỷ luật đức hạnh<br />
Của các giới nguyện giải thoát cá nhân (Biệt giải thoát) và sự thọ giới Bồ Tát và những hứa nguyện Kim Cương thừa.<br />
Ngay cả vì lợi lạc của một chúng sinh duy nhất, nguyện con nhẫn nại kham chịu<br />
Việc bằm nát thân con thành mười triệu mảnh trong vô số kiếp.<br />
Trong việc thực hành con đường siêu việt dẫn tới tự do cho tất cả chúng sinh<br />
Nguyện con cũng có sự kiên trì nồng nhiệt như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.<br />
Nguyện con củng cố sự tĩnh lặng, nội quán và thiền định vững chắc<br />
Trong Pháp Thân, hiện thể thuần tịnh của tâm, sự quang minh tuyệt đối không giới hạn.<br />
Nguyện con có một trí tuệ viên mãn như Đức Văn Thù<br />
Về mọi hiện tượng trong sinh tử và niết bàn.</p>
<p>Nguyện con viên mãn mọi Giáo Pháp mà con thực hành,<br />
Dù đó là Kinh điển hay Mật điển của Tân Phái hay Cựu Phái.<br />
Nguyện con có một thân tướng hảo hạng, ngôn ngữ du dương, một cuộc đời vinh quang,<br />
Năng lực và của cải, một trái tim từ ái, và cuốn hút tất cả những ai nhìn thấy con.</p>
<p>Nguyện con trở thành sáu viên bảo ngọc của thế giới và như tám người đánh xe<br />
Cho Giáo lý của Đấng Chiến Thắng và đặc biệt là dòng truyền thừa Shangpa.</p>
<p>Vào lúc chết, nguyện không có nỗi thống khổ,<br />
Với những cầu vồng và xá lợi xuất hiện, nguyện con là một người dẫn dắt chúng sinh.<br />
Ngay khi con lìa bỏ cuộc đời, nguyện con được sinh ra<br />
Trong Cõi Cực lạc trước sự hiện diện của Khyungpo và con cái ngài.<br />
Ngay khi con sinh ra ở đó, nguyện con thành tựu quả vị thứ mười (thập địa)<br />
Và sau đó đạt được giác ngộ siêu việt viên mãn.</p>
<p>Không ngơi nghỉ trong các trạng thái tận diệt của sự hiện hữu hay an bình,<br />
Nguyện con làm lợi ích tất cả chúng sinh như các Đấng Chiến Thắng và con cái của các ngài.<br />
Nguyện tất cả những ai có mối quan hệ với con<br />
Qua việc nhìn thấy, lắng nghe, hồi tưởng, xúc chạm, qua thực phẩm hay Giáo Pháp<br />
Được sinh trong hàng đệ tử đầu tiên được điều phục của con.<br />
Nguyện con đổ xuống một trận mưa giáo lý Đại thừa<br />
Và con đường trực tiếp của Kim Cương thừa trên tất cả những ai được điều phục.<br />
Cuối cùng, nguyện một mình con an lập<br />
Mỗi một và mọi chúng sinh trong Phật quả.<br />
Chừng nào con và những người khác chưa đạt được Phật quả<br />
Nguyện chúng con không gặp các chướng ngại về Giáo Pháp dù chỉ trong chốc lát.</p>
<p>Nguyện tất cả sáu loài chúng sinh nhận được<br />
Mọi hạnh phúc và đức hạnh mà con có.<br />
Trên nền tảng của hạnh phúc và đức hạnh đã có được như thế<br />
Nguyện họ luôn luôn hạnh phúc và hỉ lạc.<br />
Nguyện mọi hành vi bất thiện, che chướng và đau khổ mà chúng sinh có<br />
Được thẩm thấu trong con; nguyện con kinh nghiệm khổ đau.<br />
Bởi con kinh nghiệm khổ đau đó, nguyện tất cả chúng sinh<br />
Không bao giờ gặp khổ đau, điều bất thiện hay sự che chướng.</p>
<p>Nhờ cảm hứng và gia hộ của Tam Bảo và Tam Căn,<br />
Nhờ sức mạnh và năng lực của các dakini, các vị bảo trợ và Hộ Pháp,<br />
Nhờ năng lực của điều bất biến và chân thực tối thượng<br />
Nguyện mọi ước nguyện mà con đã biểu lộ được đáp ứng nhanh chóng.</p>
<p>Con hồi hướng những hạt giống đức hạnh của sự hình thành các ước nguyện như thế<br />
Cho tất cả những bà mẹ của con như không gian vô hạn.<br />
Nguyện tất cả chúng con thoát khỏi đau khổ, đạt được hạnh phúc siêu phàm,<br />
Và đồng thành tựu Phật quả.</p>
<p>Lời cầu nguyện này được biên soạn vào năm Thổ Thìn (1928) bởi Karma Rangjung Kunchab (Kalu Rinpoche), người giữ vị trí cuối cùng trong dòng truyền thừa của Truyền thống Shangpa Vinh quang.</p>
<p style="text-align: justify;">Cầu mong lời nguyện này mang lại lợi ích to lớn cho chúng sinh.</p>
<p>MANGALAM</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Kalu Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Anh dịch: Kenneth I. McLeod </em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Thanh Liên</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguyên tác: The Chariot for Travelling the Path to Freedom – The Life Story of Kalu Rinpoche</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>(1) Vajradhara (Kim Cương Trì): hiển lộ của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong Kim Cương thừa. Ngài có sắc xanh dương và cầm một chày và chuông bắt chéo trên trái tim, tượng trưng cho sự hợp nhất của phương tiện thiện xảo và trí tuệ. Trong các truyền thống Kagyu và Shangpa Kagyu, đệ tử đồng nhất Lạt ma của họ với hiển lộ này của tâm giác ngộ.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>(2) Khyungpo Naljor: Đạo sư và học giả Tây Tạng thế kỷ mười một, người thiết lập truyền thống Shangpa Kagyu trên nền tảng các giáo lý ngài đã nhận từ Niguma, Sukhasiddhi và những vị Thầy khác ở Ấn Độ.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>(3) Tam Căn: Ba Cội gốc, đó là Guru (Đạo sư), cội gốc của các sự gia hộ; Yidam (Bổn Tôn), cội gốc của sự thành tựu; và Dakini, cội gốc của hoạt động giác ngộ.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>(4) Bardo: Theo “Giải thoát nhờ sự Lắng nghe Trong Trạng thái Trung gian” do Đức Liên Hoa Sanh biên soạn, có sáu bardo (trạng thái trung gian): bardo lúc chết, bardo kinh nghiệm thực tại, bardo tái sinh, bardo cuộc đời (hay bardo tâm thức bình thường khi thức), bardo thiền định và bardo giấc mộng.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/shangpa/con-tau-giai-thoat-chung-sinh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Hãy quy y từ tận đáy lòng</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/hay-quy-y-tu-tan-day-long/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/hay-quy-y-tu-tan-day-long/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 27 Apr 2022 08:58:52 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Drikung Kagyu]]></category>
		<category><![CDATA[Kagyn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11096</guid>
		<description><![CDATA[Tam Bảo như lĩnh vực hoạt động của mặt trời. Lòng bi mẫn của các ngài thì vô tư và không bao giờ cạn kiệt. Hãy quy y từ tận đáy lòng bạn. Đây là lời khuyên tâm huyết của tôi. TAM BẢO là Phật, Pháp, và Tăng. Trong Phạn ngữ, Tam Bảo được gọi là Triratna, những viên ngọc&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/hay-quy-y-tu-tan-day-long/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Tam Bảo như lĩnh vực hoạt động của mặt trời.<br />
Lòng bi mẫn của các ngài thì vô tư và không bao giờ cạn kiệt.<br />
Hãy quy y từ tận đáy lòng bạn.<br />
Đây là lời khuyên tâm huyết của tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">TAM BẢO là Phật, Pháp, và Tăng. Trong Phạn ngữ, Tam Bảo được gọi là Triratna, những viên ngọc quý mang lại hỷ lạc. Lĩnh vực hoạt động của mặt trời là một phép ẩn dụ để chỉ điều gì hoàn hảo, tràn ngập khắp nơi và không bao giờ cạn kiệt, nó xua tan bóng tối và soi sáng một cách vô tư trên tất cả. Phật, Pháp, và Tăng có những phẩm tính đầy đủ và hoàn hảo, và sở hữu mọi khả năng để xua tan đau khổ và ban những gia hộ trên chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Phật có nghĩa là đấng đã hoàn toàn giác ngộ. Nói cách khác, một vị Phật đã hoàn toàn tỉnh giác khỏi giấc ngủ của sự mê lầm. Ngài thoát khỏi mọi che chướng thô lẫn tế, và đã khám phá hai giác tánh trí tuệ nội tại. Phật quả là bản tính được thiết lập một cách tự nhiên, không pha trộn, không phụ thuộc vào những điều kiện khác. Một vị Phật có trí tuệ toàn hảo, đã hoàn toàn thành tựu bản tính của lòng bi mẫn, và có mọi năng lực để hiển lộ mọi hoạt động xuất sắc. Có nhiều vị Phật trong quá khứ, hiện tại, và tương lai. Thực ra, có nhiều vị Phật như vô số hạt bụi. Về cơ bản, thuật ngữ Phật ám chỉ bất kỳ ai có tâm hoàn toàn giác ngộ và ám chỉ những vị thoát khỏi mọi đau khổ và những nguyên nhân của nó. Khi ta chỉ rõ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là một vị Phật, Ngài là một khuôn mẫu của điều này. Một vị Phật có bốn thân tướng, tất cả hóa hiện từ Pháp Thân:</p>
<p style="text-align: justify;">1. Hóa Thân (Nirmanakaya) là một vị Phật hóa hiện trong một thân tướng vật lý. Một Hóa Thân có thể hóa hiện ở bất kỳ nơi đâu như điều gì có sinh khí hay vô tri vô giác - như một con người, một con vật, hay thậm chí một chiếc cầu, nếu cần thiết. Ví dụ như, ta thấy trong tiểu truyện của ngài Asanga (Vô Trước) là Đức Phật Di Lặc đã hóa hiện làm một con chó bị những con dòi phủ kín để tạo ra những điều kiện qua đó Asanga có thể có cơ hội nhìn thấy Ngài. Trong thực tế, những hiển lộ của một vị Phật không thể bị đo lường, bởi chúng thật vô hạn.</p>
<p style="text-align: justify;">2. Báo Thân (Sambhogakaya) là sự biểu lộ của hiển lộ đầy đủ, toàn hảo của những phẩm tính xuất sắc, vô hạn của Đức Phật, được gọi là thân lạc thú - huy hoàng và chói lọi. Mọi vị Phật xuất hiện và hiển lộ trong những cõi Phật vô hạn trong hình thức này. Các Ngài không tụ họp ở đó, các Ngài cũng không nhỏ bé hơn. Báo Thân thì không thể nghĩ bàn và siêu vượt tư tưởng hay sự đo lường tầm thường. Tuy thế, các đại Bồ Tát là những vị đã thành tựu sự chứng ngộ cao cấp có thể hiểu được hình thức này. Báo Thân có ngôn ngữ vô hạn, nó hòa hợp, du dương và thích hợp với tâm thức của mọi chúng sinh. Hóa Thân và Báo Thân hiển lộ để làm lợi lạc mọi chúng sinh qua lòng bi mẫn tinh khiết, trùm khắp.</p>
<p style="text-align: justify;">3. Pháp thân (Dharmakaya) là sự toàn thiện của riêng ta, hoàn toàn thoát khỏi mọi mê lầm và đau khổ. Pháp Thân vô hạn và siêu vượt mọi ranh giới. Ta không thể nhìn thấy nó bằng đôi mắt vật lý hay xúc chạm nó bằng bàn tay. Tuy thế nó là căn bản của mọi phẩm tính tuyệt vời, vô hạn - trí tuệ bao la, vô hạn, giác tính nguyên sơ, và lòng bi mẫn. Nó là căn bản cho sự hiển lộ của an bình, hòa hợp, và đức hạnh, ngay cả trong trạng thái tương đối. Mọi hình tướng hay thân khác nhau của một vị Phật hóa hiện từ Pháp Thân.</p>
<p style="text-align: justify;">4. Thân Tự tính (Svabhavikakaya) là bản tính bất khả phân của ba thân tướng khác. Nói cách khác, bản tính trống không của thân là Pháp Thân. Từ đó, hiển lộ không ngừng nghỉ của mọi thân tướng là Hóa Thân, và sự không thể chia lìa của hai thân này là Báo Thân. Hóa Thân và Báo Thân cùng được gọi là rupakaya (Sắc Thân). Sắc Thân và Pháp Thân thì không thể tách lìa và được bao gồm trong Báo Thân. Ví dụ như, tâm trí tuệ của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là Pháp Thân, ngữ của Ngài là Báo Thân, thân Ngài là Hóa Thân, và bản tính không thể tách lìa của Ngài là Báo Thân.</p>
<p style="text-align: justify;">Giáo pháp có nghĩa là phương pháp để bảo vệ tâm khỏi các klesha (các phiền não trong tâm). Các Giáo pháp có liên quan tới chân lý tuyệt đối và tương đối, trước hết được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giới thiệu là Bốn Chân lý Cao quý:</p>
<ul>
<li style="text-align: justify;">Chân lý Đau khổ</li>
<li style="text-align: justify;">Chất lý Nguồn gốc của Đau khổ</li>
<li style="text-align: justify;">Chân lý Ngừng dứt Đau khổ</li>
<li style="text-align: justify;">Chân lý Con đường Thành tựu sự Ngừng dứt</li>
</ul>
<p style="text-align: justify;">Bốn điều này bao gồm hai chân lý - điều thứ nhất, thứ hai và thứ tư được bao gồm dưới chân lý tương đối, và điều thứ ba là chân lý tuyệt đối. Chân lý tương đối là một chiếc cầu dành cho chúng sinh bình thường sử dụng để thể nhập chân lý tuyệt đối. Chân lý tương đối cũng được gọi là “Chân lý của Con Đường”, nghĩa là nó là một phương pháp để tịnh hóa những che chướng thô và tế. Con đường khám phá mọi phẩm tính toàn hảo của Đức Phật, bao gồm lòng đại bi và trí tuệ nội tại. Con đường là cách đối trị tối thượng đối với mọi phiền não trong tâm không loại trừ điều nào. Chân lý tuyệt đối thì không thể nhận thức được, nghĩa là nó không thể được giải nghĩa bởi tâm phiền não. Sự không nhị nguyên không thể được tri giác bởi tâm nhị nguyên. Tâm bận rộn của ta không thể định nghĩa được ý nghĩa tối thượng, tuy nhiên tự bản chất chúng không thể chia lìa - không có chân lý tương đối thì không có chân lý tuyệt đối.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta nghiên cứu Giáo pháp và thực hành chân lý tương đối để kinh nghiệm và chứng ngộ chân lý tuyệt đối, sự giác ngộ. Mọi sự ta nghiên cứu và thực hành có quan hệ với hai chân lý: ngay từ lúc đầu khi ta bắt đầu đọc bảng mẫu tự abc và học đếm, rồi sau đó khi ta nhận ra mười đức hạnh và bắt đầu tránh mười ác hạnh. Sau đó ta cố gắng từng bước một và vượt qua Năm Con Đường. Bốn con đường đầu tiên (con đường tích tập, con đường chuẩn bị, con đường nội quán sâu sắc, và con đường thiền định) có liên quan tới chân lý tương đối. Chân lý tuyệt đối (con đường vô học hay con đường của sự toàn thiện) được nhận ra khi ta thành tựu Phật quả.</p>
<p style="text-align: justify;">Ta đi theo năm con đường này với sự hỗ trợ của ba tu tập: shila (giới), samadhi (thiền định quân bằng, định), và prajña (giác tính thấu suốt phân biệt, tuệ). Khi ta xây một căn nhà, ta cần những vật liệu để làm cột, xây tường, và trần nhà. Bằng cách kết hợp những điều kiện này, ta có thể xây một căn nhà đẹp. Tương tự như vậy, để xây ngôi nhà giác ngộ, ba tu tập này là những vật liệu thô sơ, thiết yếu. Nếu một trong ba điều này bị bỏ quên, lâu đài giác ngộ không thể được xây dựng. Vì thế mọi hành giả Pháp phải cẩn trọng từng phần trong ba tu tập và như nhau. Hãy yêu quý chúng trong trái tim bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Sangha (Tăng) ám chỉ cộng đồng những người tận tụy với việc nghiên cứu và thực hành Giáo pháp. Có nhiều cách xếp loại Tăng đoàn: Các Shravaka (Thanh Văn), Pratyekabuddha (Phật Độc Giác), và các Bồ Tát, những vị đã thành tựu những giai đoạn khác nhau chẳng hạn như những con đường khác nhau hay mười bhumi (thập địa). Tất cả các ngài đã có những phẩm tính khác nhau, tùy thuộc vào những thành tựu của các ngài trong con đường tâm linh. Tăng đoàn các hành giả cư sĩ giữ năm giới và có niềm tin không thể lay chuyển nơi Phật, Pháp, và Tăng. Tăng đoàn các tăng và ni là những hành giả giữ các giới luật xuất gia và cam kết hướng cuộc đời mình vào việc nghiên cứu và thực hành Giáo pháp. Những tăng đoàn này là những ví dụ lớn lao về những hành giả thành công, là những vị đi theo bước chân của Đức Phật. Các ngài là những đối tượng của sự tôn kính, sùng mộ, và khát khao. Các ngài hoàn toàn dâng hiến cho việc tịnh hóa những mê lầm trong tâm, những tư tưởng tiêu cực và dâng hiến cho việc duy trì thái độ giác ngộ. Ta có thể quy y Tăng là những vị đã thể nhập Con Đường thứ Ba và ở trên, những vị đã thành tựu sự hiểu biết phê bình sâu sắc. Đặc biệt là, ta quy y Tăng đoàn bao gồm những vị đã thành tựu cao cấp trong sự chứng ngộ về hai loại trí tuệ và đã thoát khỏi sinh tử. Vì thế, ba quy y này -Phật, Pháp, và Tăng - thì quý báu và là suối nguồn của mọi lợi lạc trong thế gian.</p>
<p style="text-align: justify;">Một viên ngọc như ý có những phẩm tính này:</p>
<ul>
<li style="text-align: justify;">nó rất khó tìm trong thế gian</li>
<li style="text-align: justify;">có bản chất thanh tịnh</li>
<li style="text-align: justify;">có khả năng đáp ứng những ước nguyện của con người trong vùng lân cận</li>
<li style="text-align: justify;">là vật trang sức vô song của một quốc gia</li>
<li style="text-align: justify;">là của cải siêu việt trong mọi loại của cải</li>
<li style="text-align: justify;">có bản tính không bao giờ biến đổi</li>
</ul>
<p style="text-align: justify;">Tương tự như vậy, Phật, Pháp, và Tăng sở hữu những phẩm tính tương tự như những phẩm tính của một viên ngọc như ý:</p>
<ul>
<li style="text-align: justify;">chúng quý hiếm trong sinh tử</li>
<li style="text-align: justify;">hoàn toàn tịnh hóa mọi che chướng thô và tế</li>
<li style="text-align: justify;">có mọi khả năng đem lại sự an bình tương đối và tuyệt đối và mọi phẩm tính xuất sắc</li>
<li style="text-align: justify;">là những vật trang sức siêu việt của thế giới, có thể tạo nên sự hòa hợp tuyệt đối</li>
<li style="text-align: justify;">lỗi lạc nhất trong chúng sinh</li>
<li style="text-align: justify;">không bao giờ nao núng trong việc làm lợi lạc chúng sinh qua trí tuệ, lòng bi mẫn, và các hoạt động.</li>
</ul>
<p style="text-align: justify;">Trên căn bản của bốn nền tảng, hãy thấu hiểu rằng ba điều này - Phật, Pháp và Tăng - là nơi quy y (nương tựa) không bao giờ vơi cạn và bi mẫn. Vì thế tự đáy lòng bạn, hãy quy y ba điều này. Đặc biệt là, Đức Phật có lòng bi mẫn vô điều kiện đối với mọi chúng sinh. Lòng bi mẫn và trí tuệ của Đức Phật đến với mọi chúng sinh không loại trừ ai. Trong tâm Đức Phật không có chút phân biệt nào, ngay cả giữa con người và chúng sinh phi nhân. Ngài đã nuôi dưỡng lòng từ ái một cách không phân biệt. Những gia hộ của Đức Phật không lớn hơn đối với Đạo sư cao cấp, và không suy kém đối với chúng sinh bình thường, ngay cả đối với những côn trùng nhỏ bé. Ta có thể nghe nói rằng một Đạo sư nào đó có một thị kiến của Đức Phật, vì thế ta có thể nghĩ rằng Đức Phật gần vị Thầy này hơn và ở xa ta hơn. Điều này không đúng. Ta nên cảm thấy hoàn toàn tin tưởng rằng Đức Phật thì vô phân biệt và không bao giờ vơi cạn. Mặt trời chiếu sáng một cách vô phân biệt trên ngọn núi cao và trong thung lũng hẹp. Mặt trời có thể được phản chiếu trong hàng ngàn ao hồ không loại trừ cái nào. Tương tự như thế, các gia hộ của Tam Bảo đến với mọi chúng sinh đều ngang bằng nhau.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu ta thực hiện một nỗ lực, sự hỗ trợ của Đức Phật luôn luôn có đó. Bản tính không phân biệt của Đức Phật thì chân chính đối với tất cả chúng sinh. Điều này giảng nghĩa vì sao Giáo pháp không chỉ dành cho tăng và ni, nhưng có thể được thực hành bởi bất kỳ chúng sinh bình thường nào. Giáo pháp dạy ta làm thế nào giải thoát khỏi đau khổ phổ quát. Đức Phật luôn luôn có mặt bất kỳ nơi nào có cơ hội để giúp đỡ. Khi ta ở trong khí hậu nóng và chạm vào một cơn gió lạnh, ta có thể cảm thấy rằng điều này là gia hộ khỏe khoắn của Đức Phật. Khi trời lạnh và ta cảm thấy một xúc chạm với ánh nắng ấm áp, điều đó cũng là hoạt động gia hộ không bao giờ vơi cạn của Đức Phật. Những gia hộ của Phật, Pháp, và Tăng đồng xuất hiện với khát khao giải thoát khỏi đau khổ và sự quy y của ta. Cả hai đều cần thiết đối với kết quả hoàn hảo.</p>
<p style="text-align: justify;">Ta biết rằng sinh tử là lầm lạc và đau khổ và ta muốn thoát khỏi trạng thái đó, nhưng ta không biết phải làm sao. Vì thế, ta cần một người hướng dẫn có thể cho ta một phương pháp hoàn hảo, có thể chỉ cho ta phương cách để hoàn toàn thoát khỏi mọi mê lầm. Về điều này, ta hướng về sự quy y Phật, Pháp, và Tăng. Đây là những lợi lạc của sự quy y:</p>
<p style="text-align: justify;">* Ta trở thành một Phật tử và có mọi cơ hội để nghiên cứu và thực hành Giáo pháp cao quý.</p>
<p style="text-align: justify;">* Sự quy y trở thành nền tảng để thọ nhận mọi giới nguyện khác và soi sáng con đường giải thoát.</p>
<p style="text-align: justify;">* Quy y tịnh hóa và xua tan mọi che chướng không loại trừ điều gì, giống như nước rửa sạch sự bất tịnh.</p>
<p style="text-align: justify;">* Việc hãm hại từ người và các phi nhân trở nên bất lực.</p>
<p style="text-align: justify;">* Quy y không chỉ thuộc về trí tuệ; đúng hơn, quy y bao hàm toàn bộ con người của ta.</p>
<p style="text-align: justify;">* Phật là thân của sự tịnh hóa mọi che chướng, Pháp là phương pháp để tịnh hóa các che chướng, Tăng là nhóm người trong đó ta thực hành Pháp. Vì thế khi ta quy y Tam Bảo và thực hành Pháp, các che chướng không thể hoạt động, giống như bóng tối phai lạt khi mặt trời mọc.</p>
<p style="text-align: justify;">* Ta thành tựu mọi điều mong muốn. Chẳng hạn như, ta có thể thành tựu sự toàn thiện của bản tính nội tại, thuần tịnh của trí tuệ. Ta có thể hiển lộ sự an bình, hạnh phúc, danh vọng, và của cải mà không cần nỗ lực và cuối cùng đạt được Phật quả. Trong khi ấy, ta sẽ tái sinh trong các cõi trời và người.</p>
<p style="text-align: justify;">* Nhờ quy y, mọi phẩm tính của trí tuệ và lòng bi mẫn sẽ tăng trưởng vô hạn.</p>
<p style="text-align: justify;">* Bằng cách quy y Tam Bảo, ta nhanh chóng đạt được Phật quả. Việc nghiên cứu và thực hành Giáo pháp, từng bước một, tịnh hóa mọi che chướng không loại trừ điều gì và cuối cùng dẫn tới mục đích tối hậu.</p>
<p style="text-align: justify;">* Khi ta thực hành một cách đúng đắn và chân thành, ta sẽ không tái sinh trong những cõi thấp.</p>
<p style="text-align: justify;">Câu chuyện dưới đây minh họa vấn đề này:</p>
<p style="text-align: justify;">Norbu là một vị thần đầy năng lực, một nhà lãnh đạo trong các vị trời. Ông chơi đùa trong vườn của Cõi Trời thứ Ba mươi ba, ở đó nhiều con trai và con gái của những vị trời khác vây quanh ông. Một hương thơm dễ chịu tỏa ra từ thân ông và những vật trang sức của ông luôn luôn tươi tắn. Những người khác không thể chịu đựng nổi việc xa lìa ông. Họ miệt mài trong hoan lạc đến nỗi một trăm năm đã trôi qua trong một chốc lát ngắn ngủi.</p>
<p style="text-align: justify;">Thật không may, những điềm triệu xấu đã bắt đầu xuất hiện trên thân của Norbu. Những bông hoa và vật trang sức của ông đã phai tàn, và một mùi hôi xuất hiện từ thân ông. Ông trở nên bất mãn với vị trí của mình. Các con trai và con gái của các vị trời nhận ra điều này và từ bỏ ông ta. Norbu quán chiếu và tự hỏi: “Điều gì đang xảy đến cho ta?” Bởi các vị trời có sự thấu thị phân biệt, ông nhận ra tình huống và khám phá rằng mọi đức hạnh và thiện nghiệp mà ông đã thiết lập trong quá khứ đã bị hủy hoại và cạn kiệt. Bận rộn với những lạc thú, ông đã không tích tập công đức mới mẻ trong đời mình. Khi đó ông tìm kiếm nơi ông sẽ tái sinh sau khi chết và nhận ra rằng ông sẽ bị thụ thai làm một con heo trong một vũng bùn khổng lồ. Việc đề phòng số phận này khiến ông đau khổ không thể chịu đựng nổi.</p>
<p style="text-align: justify;">Norbu đi tới Indra (trời Đế Thích), vua của các vị trời, và xin được bảo vệ để thoát khỏi sự tái sinh khủng khiếp này. Nhưng trời Indra nói: “Ta không có khả năng để giúp ông. Ông nên đi tới Đức Phật để xin cứu giúp”. Trong giây lát, Norbu xuất hiện trước Đức Phật và khẩn cầu một cách chân thành và tuyệt vọng. Khi lễ lạy, ông cầu xin được bảo vệ để khỏi bị tái sinh trong những cõi thấp. Đức Phật khuyên: “Hãy quy y Phật, Pháp, và Tăng”, và ban cho ông giới nguyện quy y và giáo huấn trong việc thiền định. Norbu đã nhất tâm thực hành một cách chân thành. Ngay lập tức sau khi chết, Norbu được tái sinh làm vua của cõi Brahma (Phạm thiên).</p>
<p style="text-align: justify;">Indra (trời Đế Thích) tự hỏi không biết con trai của các vị trời tái sinh ở đâu, vì thế ông hỏi Đức Phật. Đức Phật bảo ông ta tìm kiếm trong cõi Phạm Thiên bởi Norbu đã được sinh ra làm một vị vua ở đó. Khi Indra nhìn thấy điều này là sự thực, ông ngạc nhiên trước năng lực phi thường của sự quy y, và ông đã hát tụng lời tán thán này:</p>
<p style="text-align: justify;">Người quy y Phật, Pháp, và Tăng -<br />
mặc dù được dự định sẽ tái sinh trong một cõi thấp,<br />
thay vào đó, ông được sinh trong một cõi trời khác<br />
bởi ông ta đã quy y khi ở đây trong một cõi trời.</p>
<p style="text-align: justify;">Cao quý biết bao, phi thường biết bao, năng lực và gia hộ của sự quy y!</p>
<p style="text-align: justify;">Hơn nữa, nếu ta quy y Tam Bảo và đi theo con đường, những đời sau của ta sẽ được những lợi lạc:</p>
<p style="text-align: justify;">* Ta sẽ được đối diện các vị Phật được tô điểm những dấu hiệu chính và phụ, hay gặp những Đạo sư kim cương vĩ đại.</p>
<p style="text-align: justify;">* Trong liên tục những cuộc đời, ta sẽ không bao giờ xa lìa việc nghe Giáo pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">* Ta sẽ gia nhập tập hội Tăng đoàn.</p>
<p style="text-align: justify;">Hãy thư thản trong chốc lát và thở một hơi dài. Trong không gian trước mặt bạn, hãy quán tưởng Đức Phật, hiện thân của trí tuệ và lòng bi mẫn; Pháp, giáo lý toàn hảo; và Tăng, các Bồ Tát và A La Hán vĩ đại. Hãy phát khởi lòng sùng mộ vĩ đại và khát khao thoát khỏi sinh tử. Hãy quy y một cách chân thành và tụng lời cầu nguyện này hai mươi mốt lần hay hơn nữa:</p>
<p style="text-align: justify;">Nam mô Phật.<br />
Nam mô Pháp.<br />
Nam mô Tăng.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó, hãy tan hòa sự quán tưởng thành ánh sáng, sau đó ánh sáng này tan vào bạn. Hãy thiền định rằng bạn thọ nhận những gia hộ về trí tuệ và lòng bi mẫn, chúng tịnh hóa mọi che chướng của bạn. Hãy ngơi nghỉ tâm thức trong trạng thái tự nhiên, là tâm Phật, trong một thời gian. Cuối cùng, hãy hồi hướng công đức.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Khenchen Konchog Gyaltshen Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Thanh Liên</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Trích: “A Complete Guide to the Buddhist Path” (Một Hướng dẫn Đầy đủ về Con Đường Phật pháp)</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn:</em> <a href="https://thuvienhoasen.org/a25260/hay-quy-y-tu-tan-day-long"><em>Hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quy y</span> từ tận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đáy lòng</span></em></a></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-kagyn/hay-quy-y-tu-tan-day-long/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
