<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Kathok Nyingma</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Fri, 17 Apr 2026 16:09:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Cam kết trì giữ đạo đức kiên định của Chatral Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/cam-ket-tri-giu-dao-duc-kien-dinh-cua-chatral-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/cam-ket-tri-giu-dao-duc-kien-dinh-cua-chatral-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 01 Sep 2022 03:38:02 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kathok Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Kathok]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11557</guid>
		<description><![CDATA[Chatral Rinpoche nổi danh trong cộng đồng Tây Tạng bởi giới luật tâm linh vô song của ngài, đặc biệt là khi xảy ra việc ngài tự chế không ăn thịt. Ăn thịt là một phương diện kiên cố của văn hóa Tây Tạng và rất ít người có thể kiêng thịt lâu dài. Đức Đạt Lai Lạt Ma trở&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/cam-ket-tri-giu-dao-duc-kien-dinh-cua-chatral-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Chatral Rinpoche nổi danh trong cộng đồng Tây Tạng bởi giới luật tâm linh vô song của ngài, đặc biệt là khi xảy ra việc ngài tự chế không ăn thịt. Ăn thịt là một phương diện kiên cố của văn hóa Tây Tạng và rất ít người có thể kiêng thịt lâu dài. Đức Đạt Lai Lạt Ma trở thành người ăn chay vào năm 1966, nhưng khi Ngài mắc bệnh viêm gan B, các bác sĩ Tây Tạng chữa bệnh cho Ngài đã nài nỉ Ngài ăn thịt trở lại, và cho tới ngày hôm nay Ngài vẫn tiếp tục dùng thịt với mức độ vừa phải. Một ít Đạo sư đương thời – chẳng hạn như Kangyur Rinpoche – cũng nổi tiếng là những người ăn chay nghiêm túc nhưng đó chỉ là ngoại lệ.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi tôi ở Đại Học Wisconsin – trong Chương trình Nepal năm 2000, tôi nghiên cứu về cách người Tây Tạng suy nghĩ về sự hội tụ có tính chất văn hóa của Phật Giáo và việc ăn thịt, và Chatral Rinpoche là một trong những người chính yếu tôi đã phỏng vấn. Đây là một vài trích dẫn từ cuộc phỏng vấn đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Tại sao ngài ngừng ăn thịt? Ngài bao nhiêu tuổi khi lập quyết định này?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Trong nhiều bản văn của Phật Giáo Nguyên thủy và Đại thừa có nói rằng ta không nên ăn thịt. Cũng tương tự như thế, một bản văn Kim Cương thừa nói rằng ta không nên hưởng thụ thịt và rượu. Vì thế tôi đang đi theo những giáo huấn của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Là một người tu hành, tôi không dùng thịt hay rượu và đồng thời tôi cố gắng bảo những người khác tránh dùng những món này. Đây là lý do của tôi – tôi đang nỗ lực để thúc đẩy người khác. Khi tới Bodhgaya tôi 47 tuổi và trước tất cả chư Phật và Bồ Tát tôi đã lập một lời nguyện từ bỏ thịt và rượu.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Vì sao ngài nghĩ rằng thói quen ăn chay là một phương diện quan trọng của việc thực hành Pháp?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Nếu bạn dùng thịt, điều đó đi nghịch lại những giới nguyện bạn đã thọ khi tìm kiếm sự nương tựa nơi Phật, Pháp và Tăng đoàn. Bởi khi bạn ăn thịt bạn cướp đi mạng sống của một chúng sinh. Vì thế tôi từ bỏ việc này.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Một vài người tuyên bố rằng ta có thể cứu giúp các thú vật mà ta ăn bằng cách cầu nguyện cho chúng, và như thế ăn thịt là một hành động từ bi. Là một trong các yogi và Lạt ma thành tựu nhất, ngài nghĩ sao về sự khẳng định này?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Với những năng lực siêu nhiên có được nhờ một vài thiền định, quả là có một vài vị chứng ngộ có thể làm các thú vật đã chết sống lại và giúp chúng đạt được một tái sinh hay giác ngộ cao hơn bằng cách tiêu thụ một ít thịt của chúng. Nhưng điều này không được thực hiện để làm phương tiện sinh sống mà chỉ vì mục đích cứu giúp thú vật đó. Cá nhân tôi không có năng lực đó và vì thế tôi không bao giờ ăn thịt. Dùng thịt trong thực đơn hàng ngày thì khác xa việc ăn thịt để giải thoát một chúng sinh bằng những năng lực siêu nhiên. Tôi chỉ là một hành giả bình thường thực sự không có những phẩm tính này. Vì thế, nếu tôi ăn thịt thì cũng chẳng khác gì bạn hay bất kỳ cư sĩ nào khác ăn thịt. Tôi sẽ phạm tội và mắc phải nghiệp xấu. Tôi không giả vờ như thể mình có những năng lực đặc biệt và ăn thịt, tôi chỉ tránh dùng thịt.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Ngài có biết các Lạt ma khác là người ăn chay?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Tôi biết nhiều Lạt ma xứ Tây Tạng. Đó là những người ăn chay thuộc phái Nyingma, Sakya và Geluk ở Tây Tạng. Tuy vậy, so với số Lạt ma ăn thịt thì những Lạt ma ăn chay rất ít. Hiện nay tôi 88 tuổi (vào năm 2000) và trải qua kinh nghiệm của tôi, tôi đã gặp nhiều Lạt ma ở Kham, Amdo – mọi miền của Tây Tạng – là những người không ăn thịt. Có những Lạt ma ăn thịt và có những Lạt ma không ăn. Tại tu viện của tôi ở Tây Tạng cũng có những Lạt ma ăn thịt và những Lạt ma ăn chay.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Nhiều hành giả Phật Giáo ở Hoa Kỳ ăn thịt bởi các Lạt ma Tây Tạng của họ ăn thịt. Ngài nghĩ thế nào về điều này?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Nhiều đại thành tựu giả ở Ấn Độ đã uống một lượng rượu khổng lồ và phát triển những năng lực thần thông. Một trong những đại thành tựu giả này là ngài Virupa đã uống rượu suốt ngày, treo mặt trời trên không trung và ngăn không cho nó lặn.(1) Naropa, Tilopa... là những Đạo sư vĩ đại. Nếu bạn có thể đạt được những năng lực siêu nhiên, bạn không cần phải theo khuôn mẫu của những người bình thường và bạn có thể uống rượu và ăn thịt. Những vị có các năng lực siêu nhiên vẫn có thể ban những giáo lý vĩ đại và làm lợi lạc tất cả chúng sinh. Vì thế, nếu những vị Thầy ở Mỹ thuộc cấp độ đó, bạn hãy yêu cầu tất cả những bằng hữu của bạn cùng tham gia việc uống rượu và ăn thịt với họ. Việc này hoàn toàn phụ thuộc vào cấp độ chứng ngộ ta đã thành tựu. Một Lạt ma hưởng thụ thịt và rượu vẫn có thể đưa dẫn người khác trên con đường đúng đắn, với điều kiện là họ đã phát triển những năng lực siêu nhiên.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Ngài thấy các Phật tử Tây Tạng ở hải ngoại đang thực hiện một nỗ lực chân thành nhằm giảm bớt việc tiêu thụ thịt của họ và trở thành người ăn chay, hay việc ăn thịt đã trở thành một phương diện kiên cố của văn hóa Tây Tạng?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Ở Tây Tạng chỉ có thịt và tsampa(2), không có lương thực chính yếu khác. Tây Tạng ở trên cao và khí hậu như ở một lãnh nguyên (tundra). Ở đó không có nhiều rau trái. Sau khi tới miền Nam Á, bạn thực sự không phải theo tục lệ dùng thịt và tsampa của Tây Tạng. Có nhiều loại trái cây và rau, những món phụ đầy bổ dưỡng – tất cả là những thực phẩm tốt lành. Mọi sự đều sẵn sàng. Vì thế thực sự không cần nói về những tục lệ của Tây Tạng như một sự bào chữa cho việc ăn thịt. Theo kinh nghiệm của tôi thì không ăn thịt có nhiều lợi lạc. Tôi đã 88 tuổi và từ khi ngừng ăn thịt, tôi không mắc chứng bệnh trầm trọng nào. Khi ngủ, tôi ngủ ngon lành. Khi thức dậy, tôi có thể bước đi tức thì. Khi đọc Kinh điển, mắt tôi có thể nhìn thấy thật rõ ràng. Tôi có thính giác rất tốt và có thể nghe thật chăm chú. Đây là những phẩm tính mà tôi đã kinh nghiệm từ việc kiêng thịt. Tôi không mắc bệnh hay chết khi ngừng ăn thịt; tôi không gặp những hậu quả xấu. Tôi có thể du hành bằng xe hơi, máy bay hay xe lửa mà không nôn mửa hay chóng mặt và tôi chẳng bao giờ nhức đầu. Tôi là một con người được hình thành bằng thịt và máu giống như bất kỳ ai khác và là bằng chứng cho thấy việc từ bỏ thịt không làm ta bệnh tật giống như nhiều người Tây Tạng dường như nghĩ như thế. Tôi đang nói với anh bằng kinh nghiệm riêng của tôi; chỉ có những điều tốt lành đến với tôi từ việc từ bỏ thịt.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Nhiều người Tây Tạng đã trích dẫn một đoạn Kinh nói rằng nếu ta không nghe, không thấy hay không nghi ngờ về món thịt được đặc biệt dành cho ta, thì món thịt ấy có thể dùng được. Ngài trả lời ra sao về điều này?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Nếu con vật bị giết mà ta không nhìn thấy thì điều đó giống như ăn cắp một thứ gì đó mà không bị bắt. Nếu bạn sử dụng lý cứ này thì việc ăn cắp đó cũng được coi là đáng tán thưởng. Bạn có thể nói điều gì nhơ bẩn mà không bị người khác nghe thấy – như thể bạn cần có chứng cớ để xét đoán điều đó có phải là một tội lỗi hay không. Những điều họ nói là không đúng. Sát sinh, trộm cắp và những hành vi tiêu cực khác chẳng bao giờ có thể thoát khỏi hậu quả. Cho dù những người khác không nhìn thấy nhưng các Bổn tôn, chư Phật và Bồ Tát nhìn thấy bạn đang làm những điều đó. Có một câu tục ngữ Tây Tạng nói rằng cho dù bạn không bị bắt gặp đang phạm một tội lỗi, nhưng chư thiên bắt quả tang bạn trong mọi lúc. Không thể làm bất kỳ điều gì không bị nhìn thấy – bạn luôn luôn bị các Bổn tôn quan sát. Các ngài nhìn thấy và hiểu những gì bạn làm – các ngài biết rằng bạn đã trợ giúp cho việc giết chết một con vật bằng cách mua thịt. Đây là câu trả lời của tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Hỏi: Một vài tu sĩ nói với con rằng bởi các côn trùng bị giết trong quá trình sản xuất gạo và những loại rau trái khác cho nên thực sự không có gì khác biệt trong việc dùng những thực phẩm này và ăn thịt. Ngài nghĩ thế nào về điều này?</p>
<p style="text-align: justify;">Đáp: Điều này có nghĩa là bạn không ăn bất kỳ thứ gì và sẽ chết đói. Nếu bạn nói rằng bạn đi trong một tháng mà không giết côn trùng khi dùng thực phẩm thì bạn sẽ chết. Nếu bạn chết, đời người quý báu này bị uổng phí. Vì thế nếu bạn để thân thể bạn bị hủy hoại thì điều đó có nghĩa là bạn đang tự tử, bạn đang tự giết mình. Khi nhìn thấy côn trùng trong gạo, bạn có thể thường xuyên lấy ra và thả chúng. Bạn không nhất thiết phải giết hại chúng sinh để ăn. Nhưng khi ta bước đi ta dẫm nát nhiều côn trùng dưới bàn chân. Ta có thể không nhìn thấy hay nhận ra chúng, hẳn là ta đang giết hại chúng. Không tỉnh giác không có nghĩa là ta không tạo ra bất kỳ tội lỗi nào, bởi xét cho cùng thì nhân và quả luôn luôn có ở đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau cuộc phỏng vấn, Rinpoche nói với tôi: “Hôm nay bạn tới hỏi tôi những điều này và tôi đã trả lời chúng. Điều này thật tốt. Tôi rất sung sướng. Bạn đã ghi lại cuộc trò chuyện của tôi, vì thế bạn nên thuật lại cho mọi người. Chúng ta đang ở tại hang động của Guru Rinpoche. Ở nơi đây, chúng ta đang trao đổi những câu hỏi và trả lời. Cho những người khác nghe những điều này thì thật tốt. Khi bạn thực hiện cuốn sách của bạn, hãy đưa buổi phỏng vấn của tôi vào phần đầu. Cảm ơn bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Tu viện của Rinpoche ở Yangleshod có treo hai tấm biển trên đó ghi những điều liên quan tới việc ăn thịt. Tấm biển thứ nhất viết bằng tiếng Tây Tạng, Nepal và Anh ngữ và là một trong những vật đầu tiên bạn nhìn thấy khi tới gần tu viện.</p>
<p style="text-align: justify;">Tấm biển có kích thước bốn mét vuông ghi:</p>
<p style="text-align: justify;">TUYỆT ĐỐI NGĂN CẤM DÙNG THỊT, ĐỒ UỐNG CÓ CHẤT CỒN VÀ THUỐC LÁ CŨNG NHƯ ĐÁNH BÀI HAY CỜ BẠC TRONG TU VIỆN PHẬT GIÁO NÀY.</p>
<p style="text-align: justify;">Một trong những giới luật chính yếu trong Phật Giáo là kiềm chế không dùng các chất gây say, cùng với việc cố gắng không sát sinh, trộm cắp, nói dối và tà dâm. Có ít Phật tử Tây Tạng ở ngoài truyền thống tu viện trì giữ nghiêm túc giới luật này và những hành giả Nyingma được coi là có uống rượu. Rinpoche không tha thứ cho điều này trong những đệ tử của ngài. Có một việc xảy ra cách đây vài năm khi các đệ tử của một Lạt ma quá cố tới xin Rinpoche ban phước. Các đệ tử này đặt một tấm hình của Lạt ma quá cố này trong phòng của Rinpoche. Khi Rinpoche nhìn thấy tấm hình, ngài nói: “Người này là một kẻ nghiện rượu và đã gãy bể các giới luật của ông ta, đừng để tấm hình này trong phòng tôi, hãy cất nó đi!” Khi vị thị giả lấy tấm hình ra khỏi khung gỗ thì bên dưới có một tấm hình khác. Rinpoche hỏi người trong hình là ai và được cho biết đó là con trai của vị Lạt ma quá cố và cũng là một người nghiện rượu nặng. Rinpoche tuyên bố: “Cha nào con nấy. Hãy lấy cả hai tấm hình của họ ra!”</p>
<p style="text-align: justify;">Đối với việc hút thuốc, Rinpoche nói:</p>
<p style="text-align: justify;">“Khuyết điểm chính yếu của việc hút thuốc là nó sẽ đóng kín lỗ mở Brahma (Phạm Thiên) trên đỉnh đầu ta. Vì thế vào lúc chết, ta sẽ rất khó thực hành phowa(3) khi nỗ lực làm tâm thức ta xuất ra từ đó, tự giải thoát khỏi luân hồi sinh tử hay đi tới ba cõi giới cao. Vì lợi lạc của bản thân và những người khác, các hành giả Giáo Pháp hoàn toàn không nên hút thuốc!”</p>
<p style="text-align: justify;">Tấm biển thứ hai được treo bên ngoài khu vực thờ phụng chính và viết bằng chữ Tây Tạng và Anh ngữ: “Trong khi dùng thịt của một con vật để làm béo tốt thân thể ta, làm sao ta có thể thực hành lòng bi mẫn chân chính? Vì sức khỏe của bạn, vì môi trường và vì các thú vật, hãy ngừng lại tập quán dơ bẩn này”. Tấm áp phích lớn này được đặt trong một khung bảo vệ được thực hiện bởi một nhóm bảo vệ quyền lợi của thú vật tại tu viện Dzogchen ở miền Nam Ấn Độ và nó cho ta thấy Rinpoche hết sức coi trọng giới đức này.</p>
<p style="text-align: justify;">Một bạn thân của gia đình Chatral Rinpoche là Pema, con gái của vị Thầy Nyingma vĩ đại Tarthang Tulku Rinpoche. Trong cuộc phỏng vấn do tôi thực hiện vào năm 2000, bà đã cho tôi một vài hiểu biết sâu sắc về tầm quan trọng của việc ăn chay trong thực hành lòng bi mẫn của Chatral Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Bà nói: “Việc ăn thịt rất dữ dội trên hệ thống rađa tâm linh của Chatral. Rinpoche có nối kết rất khăng khít với các thú vật. Ngài yêu thương thú vật. Ngài thích xem phim ảnh trên máy truyền hình về đời sống hoang dã. Lòng đại bi đã khiến ngài ngưng ăn thịt. Ngài cống hiến tất cả tiền bạc của ngài để cứu 70 xe vận tải đầy cá ở Calcutta. Đó là hoạt động hàng năm quan trọng nhất của ngài. Ngài cầu nguyện cho từng xô cá đổ xuống biển, cố gắng đưa chúng tới những cảnh giới cao hơn. Trong Pháp, không chỉ là vấn đề không làm điều gì – chẳng hạn như ăn thịt – mà còn là bảo vệ đời sống một cách tích cực.</p>
<p style="text-align: justify;">Rinpoche đã sống điều đó. Ngài được nối kết như thế trên một bình diện rộng lớn với chúng sinh và nỗi khổ của họ. Rinpoche bị lôi tới những nơi tăm tối, tội lỗi, đầy sát khí – tới những khu vực tế lễ thú vật của tín đồ Ấn giáo. Có lần ngài đưa cô con gái Saraswati của ngài và tôi tới nơi đó. Cảnh vật bên ngoài rất đẹp với hoa và nghệ thuật điêu khắc. Ngài mua một ít chim trong một cái lồng và thả chúng trên đỉnh mái nhà. Sau đó chúng tôi đi tới nơi hiến tế dê. Thoạt đầu tôi nhắm mắt lại, nhưng sau đó tôi nhìn thấy những con dê ngây thơ bị giết và máu tung tóe khắp nơi. Tôi chết khiếp. Rinpoche bước trên máu dê thật điềm đạm như thể ngài đang thiền hành. Ngài không bối rối chút nào bởi điều đó. Tôi cho rằng ngài đang cố dạy chúng tôi bài học về sự vô úy và nhẫn nại khi đối diện với đau khổ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Zach Larson</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Thanh Liên</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguyên tác: Chatral Rinpoche’s Steadfast Commitment to Ethics</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn Anh ngữ: <a href="http://www.shabkar.org/download/pdf/Steadfast_Commitment_to_Ethics.pdf">Chatral Rinpoche’s Steadfast Commitment to Ethics</a></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn Việt ngữ: <a href="https://thuvienhoasen.org/a5182/cam-ket-tri-giu-dao-duc-kien-dinh-cua-chatral-rinpoche">Cam kết trì giữ đạo đức kiên định của Chatral Rinpoche</a></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>(1). Một buổi tối Đạo sư vĩ đại Virupa đang uống rượu ở một quán rượu và người phục vụ ở quầy rượu bảo ngài rằng cho tới khi mặt trời lặn ngài có thể uống bao nhiêu cũng được mà không phải trả tiền. Vì ngài không mang nhiều tiền, ngài cắm purba (lưỡi dao nghi lễ) của ngài trên mặt đất nơi lằn ranh giữa bóng tối và ánh nắng mặt trời, khiến chúng đứng yên một chỗ và ngăn cản không cho mặt trời lặn.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>(2). Tsampa: bột mì làm bằng lúa mạch nướng hay các loại hạt khác. Một loại thực phẩm chính ở Tây Tạng.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>(3). Phowa là thực hành phóng xuất tâm thức ta qua kinh mạch trung ương của thân, phóng nó ra ngoài qua đỉnh đầu, được gọi là “cửa Phạm Thiên”. Khi ấy, tâm thức được hình dung như đi vào trái tim của Đức Phật A Di Đà. Theo cách này, vào lúc chết, ta có thể kiểm soát tốt hơn nữa bản tánh của hóa thân kế tiếp của ta.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/cam-ket-tri-giu-dao-duc-kien-dinh-cua-chatral-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tấm gương của những điểm thiết yếu &#8211; Một bức thư tán thán tính Không</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tam-guong-cua-nhung-diem-thiet-yeu-mot-buc-tho-tan-than-tanh-khong/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tam-guong-cua-nhung-diem-thiet-yeu-mot-buc-tho-tan-than-tanh-khong/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 31 Mar 2022 07:33:19 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo Sư Kathok Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=10990</guid>
		<description><![CDATA[Con kính lễ dưới chân sen của Tenpai Nyima, Người không tách lìa với Pháp Vương Longchenpa Rabjam, Và thấy biết trạng thái tự nhiên của tính Không Của đại dương vô biên những sự vật. Một lá thư khuyên bảo con gửi cho người, bà mẹ cao quý Paldzom của con. Xin hãy nghe một lát và không xao&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tam-guong-cua-nhung-diem-thiet-yeu-mot-buc-tho-tan-than-tanh-khong/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Con kính lễ dưới chân sen của Tenpai Nyima,<br />
Người không tách lìa với Pháp Vương Longchenpa Rabjam,<br />
Và thấy biết trạng thái tự nhiên của tính Không<br />
Của đại dương vô biên những sự vật.</p>
<p>Một lá thư khuyên bảo con gửi cho người, bà mẹ cao quý Paldzom của con.<br />
Xin hãy nghe một lát và không xao lãng.<br />
Ở đây không có khó chịu gì,<br />
Con thong dong và tự do không phiền lo,<br />
Trong một trạng thái của tâm hoan hỷ.<br />
Mẹ có khỏe không, mẹ yêu dấu của con?</p>
<p>Ở đây trong xứ sở Tây phương,<br />
Có nhiều người da trắng và da đỏ,<br />
Họ có mọi loại huyễn thuật và cảnh tượng,<br />
Như bay qua những bầu trời,<br />
Và di chuyển trong nước như cá.<br />
Có quyền hành trên bốn đại,<br />
Họ ganh đua phô diễn những phép lạ<br />
Với muôn ngàn màu sắc đẹp đẽ.<br />
Có nhiều những quang cảnh không cùng,<br />
Như những thiết kế của những màu sắc cầu vồng<br />
Nhưng giống như chỉ là giấc mộng, khi được xét xem,<br />
Chúng là những thấy biết sai lầm của tâm thức.</p>
<p>Mọi hoạt động giống như những trò chơi trẻ nít.<br />
Nếu làm, chúng không bao giờ chấm dứt.<br />
Chúng chỉ là hoàn thành khi mẹ để yên đấy,<br />
Như những lâu đài bằng cát.</p>
<p>Nhưng đấy chưa phải là toàn thể câu chuyện.<br />
Tất cả những pháp của sinh tử và niết bàn<br />
Dẫu được nghĩ là thường còn, chúng không kéo dài.<br />
Khi được khảo sát, chúng chỉ là những hình sắc trống rỗng<br />
Xuất hiện mà không có hiện hữu.<br />
Dẫu không thực, chúng được nghĩ là thực,<br />
Và khi được khảo sát, chúng là không thực như một ảo tưởng.</p>
<p>Nhìn ra ngoài, những đối vật xuất hiện,<br />
Và giống như nước trong một ảo ảnh,<br />
Chúng còn huyễn hoặc hơn cả sự huyễn.<br />
Không thực như những giấc mộng và những ảo tưởng,<br />
Chúng giống như một mặt trăng phản chiếu trong nước và những cầu vồng.</p>
<p>Hãy nhìn vào tự tâm mẹ!<br />
Nó có vẻ rất kích động, khi không được khảo sát.<br />
Nhưng khi được khảo sát, không có gì trong đó cả.<br />
Xuất hiện không có thực thể, nó không là gì ngoài trống rỗng.<br />
Nó không thể được nhận dạng và nói: “Nó đây!”<br />
Mà chỉ tan biến và lẫn thoát như sương mù.</p>
<p>Hãy nhìn thẳng vào tất cả những gì xuất hiện<br />
Trong bất cứ nơi nào của mười phương.<br />
Dầu nó có vẻ như thế nào,<br />
Sự vật trong tự nó, bản tính đích thật của nó,<br />
Là bản tính như hư không của tâm,<br />
Vượt khỏi sự phóng chiếu và tan biến của tư tưởng và ý niệm.</p>
<p>Mọi sự có bản tính trống không.<br />
Khi cái trống không nhìn cái trống không,<br />
Có ai để nhìn vào cái trống không như vậy?<br />
Đâu là chỗ dùng của nhiều thứ phân loại,<br />
Như là “trống không" và “không trống không”,<br />
Vì đó là cái huyễn nhìn cái huyễn,<br />
Và hư vọng quan sát hư vọng?</p>
<p>“Bản tính không cố gắng và như hư không của tâm,<br />
Cảnh giới bao la của thấy biết,<br />
Là trạng thái tự nhiên của mọi sự.<br />
Trong nó, bất cứ điều gì bạn làm đều tốt, đúng,<br />
Dù bạn nghỉ ngơi, bạn luôn thư thái”.<br />
Điều ấy được Jetsun Padmasambhava,<br />
Và đại thành tựu giả Saraha nói ra.</p>
<p>Mọi thiết kế ý niệm<br />
Như là “Nó là hai!” hay “Nó không là hai!”<br />
Rời bỏ các ngài như những con sóng trên một dòng sông,<br />
Để giải thoát một cách tự nhiên tự bản thân chúng.</p>
<p>Con quỷ khổng lồ của tư tưởng vô minh và suy diễn<br />
Làm cho người ta chìm đắm trong đại dương của sinh tử.<br />
Nhưng khi giải thoát khỏi tư tưởng suy diễn này,<br />
Đấy là trạng thái không thể diễn tả, vượt khỏi tâm thức<br />
ý niệm.</p>
<p>Ngoài chỉ những tư tưởng diễn dịch này,<br />
Không có ngay cả những danh từ sinh tử và niết bàn,<br />
Sự lặng chìm toàn bộ tư tưởng diễn dịch<br />
Là tính Như của pháp giới.</p>
<p>Chớ làm thêm phức tạp bằng những phát biểu phức tạp,<br />
Cái bindu đơn nhất không do tạo tác này<br />
Là tính Không, trạng thái tự nhiên của tâm.<br />
Bậc Thiện Thệ, đức Phật đã nói như vậy.</p>
<p>Bản chất của cái gì có thể xuất hiện<br />
Khi chỉ để mặc cho tự nó,<br />
Là cái thấy không tạo tác và không hư hao,<br />
Pháp thân, bà mẹ tính Không.<br />
Mọi tư tưởng diễn đạt là tính Không,<br />
Và người thấy tính Không là tư tưởng suy diễn.<br />
Tính Không không hủy hoại tư tưởng suy diễn,<br />
Và tư tưởng suy diễn không ngăn ngại tính Không.<br />
Tính Không bốn phương diện của bản thân tâm thức<br />
Là cái tối hậu của mọi sự.<br />
Sâu xa và tịch tịnh, tự do với mọi phức tạp,<br />
Sự sáng tỏ tỏa ngời không hỗn hợp,<br />
Vượt khỏi tâm thức ý niệm lòng vòng:<br />
Đây là chiều sâu của tâm các bậc Chiến Thắng.</p>
<p>Trong đây không có một vật gì để trừ bỏ,<br />
Cũng không có cái gì cần thiết phải thêm vào.<br />
Chỉ thuần cái vô nhiễm,<br />
Nhìn một cách tự nhiên vào chính nó.</p>
<p>Nói tóm, khi tâm thức hoàn toàn cắt đứt<br />
Những ràng buộc bám chấp vào sự gì,<br />
Thì mọi điểm thiết yếu đều cô đọng trong đó.<br />
Đây là truyền thống của bậc tối thượng Tipola,<br />
Và của đại học giả Naropa.</p>
<p>Một trạng thái tự nhiên sâu xa như cái này<br />
Là trí huệ của đại lạc,<br />
Trong tất cả mọi loại lạc phúc.<br />
Trong tất cả mọi niềm vui sướng hài lòng,<br />
Nó là vua của vui sướng hài lòng tối thượng.<br />
Nó là sự quán đảnh truyền pháp tối cao thứ tư,<br />
Của mọi phái tantra của Mật thừa.<br />
Nó là giáo huấn tối thượng chỉ thẳng.</p>
<p>Tri kiến “sinh tử tức niết bàn”,<br />
Và tri kiến của Đại Ấn, của Đại Toàn Thiện, Trung Đạo và những cái khác,<br />
Có nhiều tên khác nhau,<br />
Nhưng chỉ một nghĩa tinh yếu.<br />
Đây là tri kiến của Lama Mipham</p>
<p>Như một sự giúp đỡ cho vua của những tri kiến này<br />
Người ta nên bắt đầu với Bồ đề tâm,<br />
Và kết thúc với hồi hướng.<br />
Để cắt đứt bằng những phương tiện thiện xảo<br />
Sự trụ định vào một bản ngã, gốc rễ của sinh tử,<br />
Vua của mọi phương tiện vĩ đại<br />
Là Bồ đề tâm không gì vượt hơn.</p>
<p>Vua của sự hồi hướng toàn hảo<br />
Là phương tiện để tăng trưởng thiện căn.<br />
Cái này là giáo lý đặc biệt của Thích Ca Mâu Ni,<br />
Nó không tìm thấy nơi những bậc thầy khác.</p>
<p>Để thành tựu giác ngộ viên mãn,<br />
Nhiều hơn thế thì không cần thiết,<br />
Nhưng ít hơn thế thì sẽ không đầy đủ.<br />
Con đường nhanh chóng của ba cái tuyệt hảo,<br />
Được gọi là lòng, mắt và sinh lực,<br />
Là lối đi của Longchenpa Rabjam.</p>
<p>Tính Không, viên ngọc như ý,<br />
Là bố thí không nhiễm chấp.<br />
Nó là sự trì giới không hư hoại.<br />
Nó là nhẫn nhục không phiền giận.<br />
Nó là tinh tấn không mê lầm.<br />
Nó là thiền định không phóng dật.<br />
Nó là tinh túy của trí huệ bát nhã.<br />
Nó là ý nghĩa của ba thừa.</p>
<p>Tính Không là trạng thái tự nhiên của tâm.<br />
Tính Không là sự quy y vô niệm.<br />
Tính Không là Bồ đề tâm tuyệt đối.<br />
Tính Không là Vajrasattva ân xá tội lỗi.<br />
Tính Không là mạn đà la của những tích tập toàn thiện.<br />
Tính Không là guru yoga của Pháp thân.</p>
<p>An trụ trong trạng thái tự nhiên của tính Không<br />
Là sự “an định” của shamatha,<br />
Và thấy biết nó rõ ràng sống động<br />
Là sự “quán thấy” của vipashyana.</p>
<p>Cái thấy của giai đoạn phát triển toàn hảo,<br />
Trí huệ của Lạc và Không trong giai đoạn thành tựu,<br />
Đại Toàn Thiện bất nhị,<br />
Và bindu đơn nhất của Pháp thân,<br />
Tất cả mọi cái này đều bao gồm trong nó.</p>
<p>Tính Không tịnh hóa những nghiệp.<br />
Tính Không xua đuổi những lực lượng che ám.<br />
Tính Không thuần hóa những quỷ ma.<br />
Tính Không thành tựu những hóa thần.</p>
<p>Trạng thái sâu xa của tính Không<br />
Làm khô cạn đại dương tham ái.<br />
Nó phá sụp đổ núi sân giận.<br />
Nó soi sáng bóng tối của ngu si.<br />
Nó làm lặng cơn lốc của ghen ghét.<br />
Nó đánh bại chứng bệnh của những phiền não.<br />
Nó là một người bạn trong lúc sầu muộn.<br />
Nó hủy diệt tự phụ trong sướng vui.<br />
Nó chiến thắng trong cuộc chiến tranh với sinh tử.<br />
Nó tiêu hủy bốn ma.<br />
Nó chuyển tám pháp thế gian thành vị bình đẳng.<br />
Nó hàng phục con quỷ chấp ngã.<br />
Nó chuyển những điều kiện xấu thành sự trợ giúp.<br />
Nó chuyển những điềm xấu thành tốt lành.<br />
Nó khiến hiển lộ giác ngộ viên mãn.<br />
Nó sinh ra chư Phật ba thời.<br />
Tính Không là bà mẹ Pháp thân.</p>
<p>Không có giáo lý nào cao hơn tính Không.<br />
Không có giáo lý nào nhanh chóng hơn tính Không.<br />
Không có giáo lý nào tuyệt hảo hơn tính Không.<br />
Không có giáo lý nào sâu xa hơn tính Không.</p>
<p>Tính Không là “cái biết một cái nó giải thoát cho tất cả”.<br />
Tính Không là đức vua tối thượng của dược liệu.<br />
Tính Không là cam lồ của bất tử.<br />
Tính Không là sự thành tựu tự nhiên vượt khỏi cố gắng.<br />
Tính Không là giác ngộ không thi công.<br />
Bằng thiền định tính Không<br />
Người ta cảm thấy lòng bi khủng khiếp<br />
Cho những chúng sinh mê mờ, như chúng ta, trong sự tin vào một cái ngã,<br />
Và Bồ đề tâm khởi lên không dùng sức.<br />
Mọi phẩm tính của con đường và những địa<br />
Sẽ xuất hiện tự nhiên không nỗ lực nào<br />
Và người ta sẽ cảm thấy niềm vui sâu sắc<br />
Khi nhìn luật nhân quả không sai chạy của hành động.</p>
<p>Nếu người ta chỉ có một chốc lát xác tín<br />
Vào tính Không này<br />
Xích xiềng siết chặt của chấp ngã<br />
Sẽ phá tung từng mảnh.<br />
Đây là lời của Aryadeva.</p>
<p>Còn tối cao hơn cúng dường chư Như Lai và con cái của Ngài<br />
Tất cả những hằng sa cõi Phật,<br />
Đầy ắp với sự cúng dường của chư thiên và loài người,<br />
Là thiền định về tính Không.</p>
<p>Nếu công đức của sự an trụ nhất như<br />
Chỉ một khoảnh khắc trong trạng thái tự nhiên này<br />
Mà có được hình sắc cụ thể,<br />
Thì cả không gian không chứa đựng nổi nó.</p>
<p>Bậc không ai sánh trong các hiền triết, Thích Ca Mâu Ni,<br />
Để đạt đến tính Không thậm thâm này,<br />
Đã ném thân ngài vào những giàn lửa,<br />
Cho đi đầu ngài và tay chân,<br />
Và thực hành hàng trăm khổ hạnh khác.</p>
<p>Dầu cho bạn chất đầy thế giới này<br />
Với những đống khổng lồ những tặng vật vàng ngọc,<br />
Giáo lý sâu xa này về tính Không<br />
Dù để tìm kiếm nó, cũng rất khó tìm thấy.<br />
Điều này được nói trong Trăm Ngàn Bài Kệ Bát Nhã Ba La Mật.</p>
<p>Để gặp được giáo lý tối thượng này<br />
Là sức mạnh rực rỡ của công đức<br />
Của nhiều kiếp không thể tính đếm.</p>
<p>Tóm lại, nhờ vào tính Không.<br />
Người ta, vì sự lợi lạc của chính mình,<br />
Được giải thoát vào cảnh giới của Pháp thân vô sinh,<br />
Cái giác ngộ viên mãn rõ ràng<br />
Của bốn thân và năm trí.<br />
Sự phô diễn không ngăn ngại của Sắc thân<br />
Bấy giờ sẽ không ngừng lưu xuất để chỉ dạy cho người nào cần,<br />
Bằng cách khuấy động những chiều sâu của sinh tử vì lợi lạc cho những người khác,<br />
Qua hoạt động tự nhiên thường trực, cùng khắp.<br />
Trong tất cả kinh và tantra, điều này<br />
Được nói là quả rốt ráo.</p>
<p>Làm sao một người như con có thể nói thành lời<br />
Tất cả những lợi lạc và công đức từ đó,<br />
Khi bậc Chiến Thắng, với lưỡi kim cương của ngài,<br />
Không thể làm cạn kiệt chúng, dù ngài có nói trong suốt<br />
một kiếp?</p>
<p>Bậc vinh quang, bậc thầy tối thượng,<br />
Ngài ban cho những lời dạy về tính Không,<br />
Xuất hiện trong hình thức một con người,<br />
Nhưng tâm ngài thật sự là một vị Phật.</p>
<p>Không có dối trá và đạo đức giả,<br />
Hãy khẩn cầu ngài từ sâu thẳm lòng mình,<br />
Và không cần một thủ đoạn nào khác,<br />
Mẹ sẽ đạt đến giác ngộ ngay trong đời này.<br />
Đây là viên ngọc hiện thân của tất cả,<br />
Được dạy trong những tantra của Đại Toàn Thiện.<br />
Khi mẹ đang có viên ngọc này trong lòng bàn tay,<br />
Chớ để nó uổng phí một cách vô nghĩa.</p>
<p>Giống như những sao trên bầu trời, sự học hỏi<br />
Sẽ không bao giờ chấm dứt qua những nghiên cứu.<br />
Ích gì mọi thứ phồn tạp<br />
Nhiều giáo lý thỉnh cầu xin và thọ nhận?<br />
Ích gì mọi thực hành không thể cao hơn tính Không?</p>
<p>Chớ nhắm đến có nhiều trang phục khổ hạnh,<br />
Như cầm gậy và đeo dây hay mặc da thú.<br />
Để cho con voi tự trở vào nhà mình<br />
Chớ đi tìm dấu chân nó trong núi sâu.</p>
<p>Hỡi mẹ, hãy tham thiền tinh túy của tâm,<br />
Như nó được dạy bởi guru, bậc nắm giữ kim cương,<br />
Và mẹ sẽ có tinh túy của tinh túy<br />
Của tất cả tám vạn bốn ngàn giáo lý.<br />
Nó là cam lồ cốt tủy của triệu triệu<br />
Những bậc thành tựu và hiểu biết.<br />
Nó là sự thực hành tối hậu.</p>
<p>Lời khuyên bảo này từ cốt lõi tấm lòng<br />
Của nhà sư hỏng chuyện, Jamyang Dorje,<br />
Là cái thanh tịnh nhất của tinh túy thanh tịnh<br />
Từ bindu của máu đời con.<br />
Bởi thế hãy giữ nó trong lòng, hỡi mẹ.</p>
<p>Những lời khuyên bảo tâm huyết ít ỏi này<br />
Được viết ra trong một xứ sở đẹp đẽ,<br />
Thành phố của bầu trời xanh rộng mở<br />
Ganh đua với sự rực rỡ của những cõi trời.</p>
<p>Gửi đến Chokyi Nodzom thuần thành,<br />
Bà mẹ yêu quý của con,<br />
Và đến những đệ tử sùng tín của tôi.<br />
Tôi trao tặng lá thư khuyên bảo này.</p>
<p>Lá thư này cho những đệ tử được viết bởi một người mang danh là “Khenpo”, người Tây Tạng, Jamyang Dorje, trong Thung Lũng cỏ Dordogne của Đại Lạc, nước Pháp, bên kia đại dương về hướng tây.</p>
<p>Nguyện phước đức và tốt lành từ đó!</p>
<p><strong>Nyoshul Khenpo Jamyang Dorje</strong></p>
<p><em>Anh dịch: Erik Hein Schmidt </em></p>
<p><em>Biên tập: Ani Lodroš Palmo và Ward Brisick</em></p>
<p><em>Việt dịch: Nguyễn An Cư</em></p>
<p><em>Trích: Đại Toàn Thiện Tự Nhiên - Thiền Tây Tạng và những Bài Ca Kim Cương, n</em><em>hà xuất bản Thiện Tri Thức, 1999.</em></p>
<div class="ddict_btn" style="top: 7960px; left: 275.641px;"><img src="chrome-extension://bpggmmljdiliancllaapiggllnkbjocb/logo/48.png" alt="" /></div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tam-guong-cua-nhung-diem-thiet-yeu-mot-buc-tho-tan-than-tanh-khong/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử vắn tắt Đức Khenchen Ngawang Palzangpo</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-van-tat-khenchen-ngawang-palzangpo/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-van-tat-khenchen-ngawang-palzangpo/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 30 Jun 2021 07:55:30 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kathok Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo Sư Kathok Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=10205</guid>
		<description><![CDATA[Đấng bảo hộ vinh quang, đạo sư tôn quý Khenchen Ngawang Palzangpo, sinh ra giữa những điềm tích cực, diệu kỳ trong “Năm Làm Say Sưa,” tức năm Thổ Mão cái của chu kỳ sáu mươi năm thứ mười lăm theo lịch Tây Tạng[2], vào sáng ngày Mười tháng Mười. Pematso, ngôi làng nơi Ngài chào đời, tọa lạc bên bờ Sông Dri, gần rặng Drida Zalmo Gang và&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-van-tat-khenchen-ngawang-palzangpo/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Đấng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo hộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vinh quang</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> tôn quý Khenchen Ngawang Palzangpo, sinh ra giữa những điềm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tích cực</span>, diệu kỳ trong “Năm Làm Say Sưa,” tức năm Thổ Mão cái của chu kỳ sáu mươi năm thứ mười lăm theo lịch <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftn2">[2]</a>, vào sáng ngày Mười tháng Mười. Pematso, ngôi làng nơi Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chào đời</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tọa lạc</span> bên bờ Sông Dri, gần rặng Drida Zalmo Gang và gần rặng núi Shampo Rong ở Kathok – một trong hai mươi lăm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thánh địa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">căn bản</span> ở miền Đông <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> – trên sườn Lingmok Pema Drakar, nơi mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> vị tôn quý, vĩ đại trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quá khứ</span> từng viếng thăm. Ngài sinh ra trong một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du mục</span> khiêm nhường được biết đến là Nyoshul, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hậu duệ</span> của Lingtruk Atra, một trong “bảy tên cướp của Lharu”. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Dòng dõi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span> này lại đến từ nhánh nhỏ hơn trong ba nhánh của tộc Ling (hai nhánh kia được biết đến là các nhánh lớn và trung), những vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truy nguyên</span> nguồn gốc về tộc Mukpo-dong. Cha của Ngài Ngawang Palzang là ông Namgyal và mẹ Ngài là bà [Pematso từ tộc] Jupa ở Thượng Dza.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong ba ngày, cậu bé mới sinh ngồi trong tư thế <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span>, lặp lại các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chân ngôn</span> của Phổ Ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương</span> và nhiều vị Tôn khác. Cậu bé không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">suy nghĩ</span> hay hành xử như những đứa bé cùng tuổi, mà thay vào đó, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rõ ràng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiển bày</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành vi</span> của một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu giả</span>, nhớ về các đời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quá khứ</span>, đưa ra những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyên bố</span> mang tính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiên tri</span> và v.v... không chút che giấu bất kỳ thông tin nào trong số này với kẻ khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm lên bảy, trong lúc được dạy đọc, Ngài Ngawang Palzang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lập tức</span> học được các chữ trong bảng chữ cái tiếng Tạng mà không gặp khó khăn nào. Với sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát âm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt vời</span> và sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiểu rõ</span> ràng về mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">môn học</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thảo luận</span>, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên tục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vượt trội</span> những đứa bé cùng tuổi khác. Đức Shechen Rabjam thứ năm<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftn3">[3]</a>, biết rằng cậu bé là một Tulku <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên quan đến</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> của Ngài, thấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cần phải</span> chuộc cậu ấy khỏi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quê nhà</span><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftn4">[4]</a> và trao cho cậu bé <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu</span> <b>Tenpa Rabpel</b>. Sau đấy, Đức Dzogchen thứ năm<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftn5">[5]</a> đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cử hành</span> lễ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế phát</span> cho Ngài, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban cho</span> Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu</span> <b>Zhonnu Pema Lekdrup</b>. Hơn thế nữa, nhiếp chính Dripu Shabdrung thứ mười tám đã trao cho Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu</span> <b>Ngawang Palzang</b> và thấy trước được mức độ phát triển <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Hiểu rằng sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> về ba sự tiếp cận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật giáo</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phụ thuộc</span> vào một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> hay bậc thầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span>, cậu bé sau đó <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận ra</span> rằng cậu cần nương tựa một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> đủ phẩm tính và làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hài lòng</span> vị ấy nhờ ba kiểu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phụng sự</span><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftn6">[6]</a>. Với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> nhờ lắng nghe, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán chiếu</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> về các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô cấu</span> nhiễm của Kinh và Mật, Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tìm cách</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi lạc</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản thân</span>, trong khi giảng dạy, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biên soạn</span> các bản văn và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tranh luận</span> để hoằng dương <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> của Đấng Chiến Thắng không chút <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành kiến</span> vì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi lạc</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> khác. Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm thấy</span> rằng đây là tấm gương chẳng gì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sánh bằng</span> mà một vị tôn quý có thể đưa ra.</p>
<p style="text-align: justify;">Thầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo thọ</span> đầu tiên của Ngài Ngawang Palzang – Đức Gyalse Changchub Dorje hay Lungtok Tenpai Nyima Gyaltsen Palzangpo – là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô song</span> khắp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tam giới</span>. Giữa những chòm sao học trò của Patrul Rinpoche Jigme Chokyi Wangpo<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftn7">[7]</a>, Đức Lungtok Tenpai Nyima <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi bật</span> như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mặt trăng</span> oai nghiêm, được phú bẩm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tình thương</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sức mạnh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hoàn thành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiên tri</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span>, Đức Lungtok đã đến vùng của Ngài Ngawang Palzang và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> trụ xứ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">căn bản</span> của Ngài tại thung lũng xanh tươi này. Trước đó, khi Đức Lungtok đang sống tại ẩn thất Gyaduk, cha của Ngài Ngawang Palzang đã đưa cậu bé, khi ấy mới năm tuổi, đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đỉnh lễ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị đạo</span> sư này. Quá đỗi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoan hỷ</span>, Đức Lungtok chăm sóc cậu bé, khiến cậu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> tâm tử của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Ngài Ngawang Palzang bước sang tuổi mười lăm, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thọ giới</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sa Di</span> trước sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng minh</span> của một số lượng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chí thành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cần thiết</span><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftn8">[8]</a>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trụ trì</span> – Khenchen Gyaltsen Ozer, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới sư</span> Khenpo Tsultrim Norbu từ Kulung, vị giữ các ghi chép – Karma Damcho Ozer, vị trợ giúp Tsewang Rigdzin và vị hỗ trợ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> Namdrol Gyatso, một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương thừa</span> từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Mindrolling. Ngài Ngawang Palzang nghiêm túc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giữ gìn</span> mọi điểm trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới luật</span>, không chút <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo đức giả</span> hay <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giả bộ</span> mà với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thái độ</span> của sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chắc chắn</span> đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ tâm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất ly</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đặc biệt</span>, với Lungtok Rinpoche, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lòng từ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô song</span>, Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sơ khởi</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tâm Yếu</span> Longchenpa [Longchen Nyingtik], <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> về phần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>, được hỗ trợ bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> của các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span>, thọ nhận chúng như bình này được bình khác đổ đầy. Ngài Ngawang Palzang sau đó đưa những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> này vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> để Ngài trực tiếp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trải qua</span>, như chúng được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">miêu tả</span>, các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> bên trong ở các địa và đạo. Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> như vậy đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho phép</span> Ngài chuẩn bị các ấn bản quan trọng cho những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác phẩm</span> xuất sắc của Đấng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Toàn Tri</span> Longchenpa và vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kế thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> Jigme Lingpa, cũng như các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> và nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác phẩm</span> gốc khác. Ngài được chăm sóc bởi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện thân</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác tính</span> bất tận của Đấng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Toàn Tri</span> và được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia hộ</span> bằng những linh kiến về vị này lặp đi lặp lại nhiều lần. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo sư</span> Lungtok của Ngài thường nói: “Abu già <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thân mến</span> từng bảo Ta rằng: ‘Một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hóa hiện</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vô Cấu</span> Hữu sắp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> và con sẽ gặp Ngài’. Ngài đang nhắc đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính vị</span> Ngawang đáng mến này”.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói ngắn gọn, trong sáu năm, Đức Lungtok đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban cho</span> Ngài Ngawang Palzang tất cả các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luận giải</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> cốt tủy của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Nyingtik Tịnh Quang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span>; xuất sắc nhất trong số đó là Bảy Kho Tàng vĩ đại, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tâm Yếu</span> Bốn Phần và các bộ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên quan đến</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rốt ráo</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thù thắng</span>. Ngài đã trao truyền những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> này cho học trò như bình này đổ đầy bình khác. Ngài Ngawang Palzang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> tâm tử bên trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy nhất</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> và là một vị Thầy trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dòng truyền thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rốt ráo</span> của sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span>. Không đắm chìm vào sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">suy xét</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học thuật</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thật</span> của các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện tượng</span>, Ngài đã đưa những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt đến</span> sự trải nghiệm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên tục</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý định</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hư không</span> bao trùm và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mở rộng</span>, đưa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du già</span> bốn linh kiến đến sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn hảo</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào đêm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thành</span> việc trao các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên quan đến</span> phần <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>, Đức Lungtok đã hướng dẫn Ngài Ngawang Palzang: “Hãy chú ý đến các giấc mơ của con”. Đêm đó, Ngài Ngawang Palzang nằm mơ rằng Đức Bà Yeshe Tsogyal trao cho Ngài một quyển kinh, bảo rằng đấy là kho tàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm giác</span> ngộ của chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trì Minh</span>, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> của ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span>. Sau đó trong đêm, Ngài nằm mơ về một đài kỷ niệm cổ xưa, một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo tháp</span> được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> bởi vị vua <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật tử</span> Ashoka xứ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ấn Độ</span>, thứ đổ từ ngọn trở xuống và đổ vào biển phía Tây như thể bị cuốn đi bởi một trận lũ lớn, biển <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biến thành</span> màu đỏ sậm. Từ bầu trời có tiếng nói rằng: “Hàng triệu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> sống trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đại dương</span> đã thấy được chân lý”. Giấc mơ thứ hai này dường như là một điềm báo về sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phá hủy</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> ở <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> và sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền bá</span> của chúng tại những vùng đất nước ngoài ở Tây Bán Cầu.</p>
<p style="text-align: justify;">Bước sang tuổi hai mươi, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">như đạo</span> sư chỉ dạy, Ngài Ngawang Palzang đã thọ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đại giới</span> của một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> từ một nhóm mười thành viên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tăng đoàn</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> Khenpo Thubten Gyaltsen Ozer. Từ đó về sau, tập trung vào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lý tưởng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiểu dục</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tri túc</span>, Ngài đã hành xử không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lỗi lầm</span> theo những tấm gương của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chư hành</span> giả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> cao cấp. Là một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị Kim Cương</span> Trì ba phần<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftn9">[9]</a>, Ngài giống như ngọn núi vàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vững chắc</span> và đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiên quyết</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> của Đấng Chiến Thắng.</p>
<p style="text-align: justify;">Bổn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sư tôn</span> quý của Ngài đã trao cho Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời khuyên</span> sau đây: “Những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> của Đấng Chiến Thắng sẽ nhanh chóng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">suy tàn</span>; vì thế, con bắt buộc phải <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">theo đuổi</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dao động</span>. Ta có <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hy vọng</span> lớn lao rằng con sẽ làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi lạc</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> khác. Con phải đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Dzogchen để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> chứ đừng chờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> khi Ta qua đời. Đừng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kết thúc</span> như Ta – một lão <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> chẳng hiểu các bản văn; vì thế cũng chẳng sao nếu ông ấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lâm bệnh</span> và qua đời”. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo sư</span> của Ngài thật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quả quyết</span>, vì lẽ đó, vào ngày Hai mươi chín tháng Chín năm Tý<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftn10">[10]</a>, Ngài Ngawang Palzang đã đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Dzogchen.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở đó, Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh tấn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> dưới sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dìu dắt</span> của hai vị: Khenzur Losel Tenkyong và Khen Sonam Chopel từ Letok, vị cũng được biết đến là Shedrup Chokyi Nangwa; Ngài Ngawang Palzang thường nói rằng hai vị này là những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> quan trọng nhất của Ngài. Ngài cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> với những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> như Jamgon Mipham Rinpoche<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftn11">[11]</a>, Lama Rigdzin Dorje từ Minyak – một học trò của Jamgon Rinpoche, Pema Dechen Zangpo từ Mura, Khenpo Yeshe Gyatso và Khenpo Apal từ Minyak. Ngài đã làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hài lòng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> bậc thầy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> bằng ba kiểu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phụng sự</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">theo đuổi</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán chiếu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mở rộng</span> bằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sức lực</span> lớn lao, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt đến đỉnh</span> cao nhất của sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học thuật</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm Dần<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftn12">[12]</a>, Ngài Ngawang Palzang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dự định</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở về</span> quê hương, nhưng trong lúc Ngài ở cao nguyên Pemaitang, một người <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đưa tin</span> từ Đức Choying Rolpai Dorje, vị Druktrul Kuchen của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Dzogchen, đã đến. Ngài Ngawang Palzang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lập tức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khởi hành</span> để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đỉnh lễ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị đạo</span> sư này, người nói rằng: “Tâm Yếu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bí Mật</span> Nhất Của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Không Hành Nữ</span> thực sự là một pho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> trao <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu</span> ‘Dzogchen’ cho bất kỳ ai giữ nó. Đức Mingyur Namkhai Dorje đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giao phó</span> cho Ta bằng các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chín muồi</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> cho pho này và bây giờ đã đến lúc Ta trao chúng cho con”. Sau đấy, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoan hỷ</span> ban trao truyền cho Đức Ngawang Palzang, vị thọ nhận như một sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên thành</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ước nguyện</span> của Ngài Choying Rolpai Dorje.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài Ngawang Palzang đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thành</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán chiếu</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span> với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> tôn quý, chẳng hạn Situ Rinpoche từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Kathok<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftn13">[13]</a>, Kathok Je-on, Khenpo Shenga từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Dzogchen, Khenpo Kunpal<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftn14">[14]</a> và Khenpo Lhagyal. Như thế, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở thành</span> một bậc thầy về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> của Đấng Chiến Thắng.</p>
<p style="text-align: justify;">Tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Kathok, Ngài được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bổ nhiệm</span> là một vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trụ trì</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị trí</span> mà Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đảm nhận</span> trong mười ba năm, đóng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vai trò</span> như là trụ cột của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> nhờ sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> và giảng dạy của Ngài. Ngài là cội nguồn của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span>, đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rèn luyện</span> ba mươi bảy Khenpo vĩ đại và chủ trì ba mươi nghìn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lễ truyền giới</span> trong nhiệm kỳ. Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành lập</span> các Shedra [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật học viện</span>] tại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Palyul và Dralak, những học viện <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giữ gìn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> của họ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> ngày nay. Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span>, Ngài Ngawang Palzang đã ban những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chín muồi</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> hỗ trợ cho Kho Tàng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Lý</span> Ẩn Giấu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Quý Báu</span> [Rinchen Terdzod] ba lần, các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> cho Terma Longsal Dorje Nyingpo ba lần, trao truyền cho các tuyển tập Nyingtik mẹ và con hai mươi bảy lần, những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Bảy Kho Tàng mười ba lần và trao truyền Kama của trường phái <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cựu Dịch</span> không rõ số lần. Theo cách này và nhiều cách khác, Ngài rút ra từ tất cả các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> – những [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>] của các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> Kama và Terma – của trường phái <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cựu Dịch</span> không ngoại lệ, như là nền tảng cho các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Hơn thế nữa, trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> của Ngài, Ngài không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sử dụng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ ngữ</span> trống rỗng của ai đó tập trung vào các điểm giả tạo hay một lối giảng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phức tạp</span> chỉ nhắm đến những vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thông tuệ</span>; Ngài cũng chẳng sa lầy trong các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chi tiết</span> vụn vặt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lôi cuốn</span> những vị ra vẻ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mô phạm</span>. Điều này <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> đúng trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trường hợp</span> của các nguyên tắc làm nền tảng cho sự trao truyền bằng miệng của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Dzogchen. Để giảng dạy sự khác biệt giữa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm bình</span> thường và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác tính</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> trong cách tiếp cận Trekchod, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thường trực</span> tiếp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới thiệu</span> cho các học trò <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thật</span> của họ là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác tính</span> bất tận một cách trần trụi, sự hợp nhất của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác tính</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính Không</span>. Về cách tiếp cận Togal, Ngài thường ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> độc đáo với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô song</span> này – các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> cốt tủy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên quan đến</span> điều được gọi là bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ngọn đèn</span> – theo cách thức <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô cùng</span> gần gũi, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên hệ</span> chúng với ba giai đoạn của nền tảng, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">con đường</span> và kết quả cùng với sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> về “hàng rào <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quý báu</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> hiện hữu”. Theo những cách như vậy, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> chiếm trọn trái tim của nhiều vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đứng đầu</span> trong những vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span>. Họ thường nói rằng: “Trước kia chưa từng nghe những sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> như vậy về Dzogchen!” và họ thường thọ những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> truyền miệng của Khenpo Ngakchung càng nhiều càng tốt. Sự ngưỡng mộ như vậy không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạn chế</span> trong trường phái Nyingma; nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> của các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> khác cũng dành cho Ngài Ngawang Palzang sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kính trọng</span> cao nhất, xem Ngài như thể ngọc báu trên đỉnh đầu họ. Thực sự, trong phần sau của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span>, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nổi tiếng</span> là “Vô Cấu Hữu từ Tromtal”.</p>
<p style="text-align: justify;"><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trong suốt</span> giai đoạn này, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tiếp tục</span> dấn thân trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh túy</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm yếu</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> và trong các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du già</span> của [giai đoạn] phát triển và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span>. Điều này giúp Ngài có các linh kiến về chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> và tập hội <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chư Tôn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tam Căn</span> Bản <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao la</span>. Đôi lúc, thân Ngài trở nên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trong suốt</span>, chẳng để lại bóng. Các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp khí</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biểu tượng</span> của năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span> Phật thường <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> trên thân Ngài và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủng tự</span> A <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> ở đầu lưỡi Ngài. Vào mọi ngày <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">linh thiêng</span>, các dấu hiệu như vậy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rõ ràng</span> trước hầu hết những vị gặp Ngài. Trong các lễ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> và giảng dạy của Ngài, người ta thấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản thân</span> khá <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">an trú</span> trong định.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài Ngawang Palzang từng có linh kiến về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Liên Hoa Sinh</span> cùng vị phối ngẫu, những vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban cho</span> Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dòng truyền thừa</span> truyền miệng của một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luận giải</span> quan trọng về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Phổ Ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương</span> – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bảo Tháp</span> Đen. Ngài cũng đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du hành</span> đến Oddiyana, vùng đất của chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Không Hành Nam</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Không Hành Nữ</span>, nơi Ngài thọ nhận các trao truyền riêng về những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> như Mật Tập [Guhyasamaja] và Thắng Lạc [Chakrasamvara]. Ngài đã đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tịnh độ</span> đỉnh cao Akanishtha, nơi Ngài thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> cho pho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tâm Yếu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Không Hành Nữ</span> và được ban <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu</span> <b>Osel Rinchen Nyingpo Pema Ledrel Tsal</b>.</p>
<div style="text-align: justify;"></div>
<p style="text-align: justify;">Ngài được dẫn dắt trong các linh kiến bởi Tổ Rigdzin Kumaradza, vị đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban cho</span> Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> cốt tủy của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Nyingtik vĩ đại và trao <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">danh hiệu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span> <b>Kunkhyen Longchen Rabjam Gangshar Rolpa Tsal</b>. Ngài cũng được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia hộ</span> bằng linh kiến về Đức Bà Kongjo, Hoàng hậu Trung Hoa của Vua Trisong Deutsen; từ vị này, Ngài thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn bộ</span> trao truyền về mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">luận giải</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> cốt tủy cho các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi thức</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoạt động</span> khác nhau <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên quan đến</span> Độ Mẫu Tara. Tại Paro Taktsang ở Bhutan, Ngài Ngawang Palzang có một linh <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiến thanh</span> tịnh về Dorje Drolo <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vinh quang</span> và đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biên soạn</span> một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi quỹ</span> quan trọng về vị Tôn này. Vua Jah với nghiệp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">may mắn</span>, Panchen Vimalamitra, Longchenpa, Jigme Lingpa, Đức Tsongkhapa, Nub Sangye Yeshe, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp chủ</span> Patrul, Jamgon Kongtrul Lodro Thaye – tất cả những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện thân</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác tính</span> bất tận này, cũng như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> tôn quý khác, đã dẫn dắt và trao truyền cho Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý định</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rốt ráo</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Ngài chủ trì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> chuẩn bị thuốc theo một pho [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>] tập trung vào Tám Mệnh Lệnh, tất cả thuốc bỗng nhiên <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> dưới dạng vị Tôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">căn bản</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vinh quang</span> và vĩ đại và nhiều bông hoa trắng, đường kính một gang tay hay hơn, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> mọc trên bề mặt của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đàn tràng</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cam lồ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> của “thuốc” và Rakta<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftn15">[15]</a> sôi và nước trong các bình <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biến thành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cam lồ</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài Ngawang Palzang đã tiến hành các khóa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhập thất</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mở rộng</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chư Tôn</span> của những pho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> như Hợp Nhất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ý Định</span> Của Chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Sư</span>, các pho về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thực Hành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nghi Quỹ</span> Tám Mệnh Lệnh, Phổ Ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vinh quang</span> và Đấng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Điều Phục</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">siêu việt</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> Yamantaka và có linh kiến về những vị Tôn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thù thắng</span> này. Chúng cùng với vô vàn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">huyễn ảo</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lạ kỳ</span> khác được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">miêu tả</span> trong tự truyện của Ngài – Vũ Điệu Hư Huyễn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tuyệt Diệu</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Như thế, sau khi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phụng sự</span> là một đấng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo hộ</span> của tất cả <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> trong sáu mươi hai năm, Ngài đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">để ý</span> định <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản thân</span> tan hòa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở về</span> cõi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">căn bản</span> bên trong, nguyên sơ. Lungtrul Shedrup Tenpai Nyima, Choktrul Gyurme Dorje và những vị khác đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hỏa thiêu</span> nhục thân Ngài, từ đó, một dòng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cam lồ</span> tuôn chảy không ngớt. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mọi người</span> đều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh ngạc</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát khởi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tín tâm</span> trước <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xá lợi</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> ở khắp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mọi nơi</span> mà khói từ lễ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trà tỳ</span> bay đến. Vào những tuần thất sau đấy, người ta nghe thấy tiếng ầm ầm, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cảm thấy</span> động đất lớn và thấy những vòm ánh sáng cầu vồng chiếu tỏa ở khắp các hướng. Một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo tháp</span> nhỏ được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> tại địa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">điểm trà</span> tỳ và trong ba năm sau đó, bất cứ khi nào người ta <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cầu nguyện</span> đến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo tháp</span> này, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tùy theo</span> phước báu riêng, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xá lợi</span> sẽ tuôn ra không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gián đoạn</span>. Chúa tể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span> Phật của tôi, Đức Lungtrul Shedrup Tenpai Nyima, đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xây dựng</span> một tháp tưởng niệm được trang trí bằng vàng và đồng và nạm nhiều loại đá quý. Trong ba năm, những đường nét về nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biểu tượng</span> khác nhau – tám <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biểu tượng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cát tường</span>, tám chất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cát tường</span> và v.v... – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tự nhiên</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> trên các bát nước phía trước.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> được dẫn dắt bởi khẩu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> của Ngài Ngawang Palzang là Penor Tulku<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftn16">[16]</a> từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Palyul, Chaktsa Tulku từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Kathok, Arik Tulku từ Tromge và Lodro Shedrup Tenpai Nyima, vị Tulku của Đức Lungtok. Bốn vị này là những tâm tử <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chính yếu</span> – “bốn cột trụ vĩ đại” – của Ngài Ngawang Palzang. Ngài cũng giảng dạy Choktrul Gyurme Dorje, vị đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> những cấp độ cao về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">uyên bác</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> âm linh, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sừng sững</span> như đỉnh ngọc của cờ chiến thắng. Bên cạnh đó, các học trò của Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> ba mươi bảy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> thực sự vĩ đại, những bức tường thành của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span>, như Khenchen Gendun Gyatso từ Thượng Nyarong, Khenchen Lekshe Jorden từ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Kathok, Khenchen Gyaltsen Ozer Trẻ, Khenchen Dorje từ Polo, Khenchen Munsel<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftn17">[17]</a> từ Golok, Khenchen Karma Tashi từ Gonjo và Khen Gonpo từ Gyara.</p>
<p style="text-align: justify;">Các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đệ tử</span> của Ngài cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bao gồm</span> Choktrul Orgyen Chemchok (con trai của một Terton), Jadral Yoru Gyalpo, Jadral Dronma Tsering, Jadral Lama Orgyen Rigdzin, Chatral Sangye Dorje<a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftn18">[18]</a>, Zhichen Bairo Rinpoche, Tokden Lama Yondri, Lakar Tokden và các Dakini Samten Dronma và Tsultrim Dronma. Cũng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">công bằng</span> khi nói rằng khi ấy, ở khắp miền Đông <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span>, từ Golok về phía Bắc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho đến</span> Tsawa Rong, Mesa-ngen và Gonjo về phía Nam, không ai trong tất cả những Lama, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền gia</span> quan trọng, các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">học giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đáng kính</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu giả</span> mà không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span> dưới chân Ngài Ngawang Palzang.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô số</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cá nhân</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thù thắng</span>, những vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sinh lực</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> dưới sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">dìu dắt</span> của Ngài, Ngài khiến cho sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> vĩ đại của các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> cốt tủy được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền bá</span> khắp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mười phương</span>. Các tâm tử của Ngài – “bốn cột trụ vĩ đại”, “tám xà nóc”, “hai mươi mái vòm”, “hai mươi tám xà”, “nghìn rầm” và “vô số thanh giằng” – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xuất hiện</span> như Ngài tiên đoán. Trong số chư vị, chính chúa tể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span> Phật của tôi, Đức Lungtrul Shedrup Tenpai Nyima, là vị được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiết lập</span> trên tòa vàng của vị cai quản <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tam giới</span> và được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giao phó</span> trụ xứ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">căn bản</span> của Ngài Ngawang Palzang, đóng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vai trò</span> là nhiếp chính về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tam mật</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span>.</p>
<p style="text-align: justify;">Như vậy, đấng tôn quý Ngawang Palzang thực sự là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn giả</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vô Cấu</span> Hữu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trở về</span> theo đúng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời hứa</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vị đạo</span> sư ấy về việc quay lại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tây Tạng</span> mỗi thế kỷ. Trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuộc đời</span>, Ngài đã có ba linh kiến về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp Vương</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn tri</span> Longchenpa, vị truyền cho Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý định</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rốt ráo</span> – sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span> Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span> – để Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thành tựu</span> (<i>siddhi</i>) <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thù thắng</span> nhất. Trong linh kiến đầu tiên, trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trạng thái</span> mộng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng tỏ</span>, Ngài Ngawang Palzang thấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn giả</span> Longchenpa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đắp y</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span>, đang ngồi, cầm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">pha lê</span> hình trái tim và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">áp dụng</span> kỹ thuật cái nhìn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp thân</span>. <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn giả</span> Longchenpa đã <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban cho</span> Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> ngữ về ba phần của Đại <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Viên Mãn</span>. Trong một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> hư huyễn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> của tịnh quang trong lúc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span> Togal, Ngài Ngawang Palzang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">diện kiến</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp Vương</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Toàn Tri</span> lần thứ hai; Đức Longchenpa đã truyền cho Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác tính</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rốt ráo</span>. Bởi đang an trụ trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý định</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> này trong tất cả sự trần trụi của nó – sự hợp nhất của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác tính</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tính Không</span>, linh kiến <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vô lượng</span> về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> của các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện tượng</span> – Ngài Ngawang Palzang đã không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">miêu tả</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chi tiết</span> của linh kiến, khuôn mặt và tay của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> trông ra sao và v.v... Lần thứ ba, Ngài <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">diện kiến</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn giả</span> Longchenpa trực tiếp bằng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác quan</span> thông thường, khi mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cho phép</span> Ngài viết các cuốn sách, nói rằng: “Nếu con soạn các bộ luận về những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">then chốt</span> của cách tiếp cận Dzogchen, con sẽ làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi lạc</span> nhiều <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> như số hạt vi trần”. Theo đó, Ngài đã soạn các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác phẩm</span> như <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Luận Giải</span> Về <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tâm Giác</span> Ngộ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phổ Hiền</span> và Ghi Chép <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bí Mật</span> Nhất – Bình Giảng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Chi Tiết</span> Về Cõi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vô Cùng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bao La</span> Của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hư Không</span>. Trong linh kiến thứ ba đó, với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện thân</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác tính</span> bất tận của Đấng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Toàn Tri</span> Ngagi Wangpo là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng minh</span>, Ngài đã soạn Đem <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ý Nghĩa</span> Đến Cho Tất Cả Những Vị Kết Nối, một <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời nguyện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên quan đến</span> các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rốt ráo</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thù thắng</span> và các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác phẩm</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tôn giả</span> Longchenpa:</p>
<p style="text-align: justify;"><i><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tuyệt vời</span> thay!</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Pháp thân</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phổ Hiền</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Báo thân</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương</span> Trì,</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Mười hai <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm truyền</span> tâm, những vị Phật <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">viên mãn</span>,</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Garab Dorje và những vị còn lại trong năm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trì Minh</span> trao truyền nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biểu tượng</span>, Tingdzin Zangpo, Dangma Lhungyal,</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Và những vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trì Minh</span> khác – <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khẩu truyền</span> – chú ý đến con, con cầu nguyện!</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đặc biệt</span> là Ngài, Đấng Chiến Thắng, Longchen Rabjampa,</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Đấng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo hộ</span> của con, xin hãy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghe lời</span> nguyện này.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Từ nay và trong mọi đời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuần tự</span>, nguyện con nhớ mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chủ đề</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mở rộng</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Được <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> trong mười bảy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> – cô đọng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhất tâm</span> yếu tịnh quang – Bảy Kho Tàng và các pho Yangtik.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Nguyện <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">từ ngữ</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> đằng sau khởi lên trong tâm con nhờ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sức mạnh</span> của sự hồi nhớ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trọn vẹn</span>.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Nguyện con, với sự tự tin lớn lao, khai mở cánh cửa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giáo Pháp</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Nguyện <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác tính</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> của con, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bản tính</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chân thật</span> của các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện tượng</span>, không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gián đoạn</span>.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Hỡi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vô Cấu</span> Hữu! Hỡi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vô Cấu</span> Quang!</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Trực tiếp được dẫn dắt bởi các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện thân</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác tính</span> bất tận của Ngài,</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Nguyện con thọ nhận <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý định</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span> của sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chứng ngộ</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thừa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rốt ráo</span>.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Nguyện con trở nên giống như Ngài, chư <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạo sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">toàn tri</span> của con.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Khi những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> tăng và giảm trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">vũ trụ</span> này,</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Ba cội nguồn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trưởng dưỡng</span> chúng sẽ trút xuống cõi Dzeden Kopa.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Ở đó, nguyện con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghiên cứu</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán chiếu</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thiền định</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Để con có thể <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giữ gìn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thù thắng</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Và đưa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span> qua cánh cửa đó.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Sau đấy, trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tịnh độ</span> Yangpa Kyopa ở phía Bắc,</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Trước sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hiện diện</span> của Phật Utpala Metok Dzepa,</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Nguyện con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tái sinh</span> là vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đứng đầu</span> trong đoàn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tùy tùng</span> của vị Phật đó.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Nguyện con nương tựa một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đúng đắn</span> vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thiện Thệ</span> ấy,</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hoàn toàn</span> uống <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cam lồ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">quán đỉnh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chín muồi</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phụng sự</span> những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> của chư Phật.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Sau đó, ba cội nguồn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trưởng dưỡng</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> sẽ về phía Tây,</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Trút xuống <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế giới</span> Tsukpu Ying được dẫn dắt bởi Phật Krakuchanda [<span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Câu Lưu Tôn</span>],</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Nơi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> sẽ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tồn tại</span> trong bảy trăm nghìn năm.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ban đầu</span>, nguyện con xuất sắc trong những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trưởng tử</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> của vị Phật ấy.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Sau đấy, nguyện con là nhiếp chính của Đấng Chiến Thắng này.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cuối cùng</span>, nguyện <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">một mình</span> con đưa tất cả những vị còn lại cần dẫn dắt, không ngoại lệ,</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Đến sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trưởng thành</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span>, để họ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">du hành</span> đến vùng đất <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thoát</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">linh thiêng</span>.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trong đời</span> này và mọi đời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuần tự</span>, nguyện con làm chủ,</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Bằng sự hồi nhớ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn hảo</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thông tuệ</span> và tự tin, mười bảy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> của tịnh quang, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span> trong mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span>.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Giống như vua và dân chúng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xung quanh</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm yếu</span> của các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bao gồm</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giác Tính</span> Tự Sinh, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tự Nhiên</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giải Thoát</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giác Tính</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật Điển</span> Không Từ.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Nguyện con giữ chúng trong ký ức bằng sự hồi nhớ không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lầm</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Và tự tin trút xuống cơn mưa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Ba <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tinh túy</span>, thứ làm <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sáng tỏ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tuyệt vời</span>, là</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Hàng Ngọc Khảm, Gương <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tâm Giác</span> Ngộ và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương Tát Đỏa</span> Gương Tim.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Nguyện con giữ chúng trong ký ức bằng sự hồi nhớ không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lầm</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Và tự tin trút xuống cơn mưa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Ba sự nở hoa của các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> là</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Tràng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ngọc Trai</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Năng Lượng</span> Mãnh Liệt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hoàn Hảo</span> Của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sư Tử</span> và Vẻ Đẹp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cát Tường</span>.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Nguyện con giữ chúng trong ký ức bằng sự hồi nhớ không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lầm</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Và tự tin trút xuống cơn mưa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Toát yếu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy nhất</span> của mọi <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Hoàn Hảo</span> Tự Sinh.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn thiện</span> của các linh kiến là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Trang Hoàng</span> Nhờ Trực Tiếp <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giới Thiệu</span>.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Giác tính</span> bất tận chiến thắng trong trận chiến trong <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Nhật Nguyệt</span> Hợp Nhất.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Điều không đầy đủ được bổ sung trong hai nhánh của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span>,</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Ngọc Báu Xếp Chồng Và Phần Thừa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Rực Rỡ</span>.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Nguyện con giữ chúng trong ký ức bằng sự hồi nhớ không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lầm</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Và tự tin trút xuống cơn mưa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Ngọn Đèn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Rực Rỡ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">liên quan đến</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sự giải thoát</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span>.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> Sáu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Cõi Giới</span> giống như tim.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">căn bản</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Âm Thanh</span> Dội Vang là bản văn gốc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">truyền thống</span> riêng này.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phật Mẫu</span> Đen <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Phẫn Nộ</span> là <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> để nghiền nát các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thế lực</span> phản <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tác dụng</span>.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Nguyện con giữ chúng trong ký ức bằng sự hồi nhớ không <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sai lầm</span></i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Và tự tin trút xuống cơn mưa <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> cho <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chúng sinh</span>.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Bảy Kho Tàng vĩ đại, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span> trình bày những minh chứng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">mở rộng</span>,</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Cùng bốn tuyển tập mẹ và con của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> Nyingtik</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Tạo thành các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> cốt tủy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span>.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Từ đời này trở đi, nguyện con không bao giờ</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Tách rời <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm yếu</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kim cương</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thù thắng</span>.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Nguyện chư vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bảo vệ</span> bị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời thề</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trói buộc</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Không Hành Nữ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ban cho</span> con điều này,</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Và nguyện <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Đạo Sư</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Toàn Tri</span> thực sự trao những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giáo lý</span> này.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Nguyện con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đạt được</span> sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thông tuệ</span> hư huyễn của sáu <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giải thích</span> và bốn <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phương pháp</span>,</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Thứ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hoàn toàn</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phát lộ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý nghĩa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span> của các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Mật điển</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chỉ dẫn</span> cốt tủy.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Nguyện con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">khám phá</span> mắt <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">trí tuệ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span>, thứ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhận thức</span> theo ba cách,</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Và nhờ đó, làm chủ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác tính</span> được phú bẩm sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thanh tịnh</span> ba phần.</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Hỡi Đức <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Vô Cấu</span> Quang, nguyện <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tri kiến</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">ý định</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giác ngộ</span>,</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i><span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Thiền định</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành vi</span> của Ngài là của con,</i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Và nguyện con <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đảm bảo</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lợi lạc</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hạnh phúc</span> cho chúng sinh!</i></p>
<p style="text-align: justify;">Đây là những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lời nguyện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">đặc biệt</span> mà Ngài đã phát.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Nyoshul Khen Rinpoche </strong><a href="https://thuvienhoasen.org/p38a35078/tieu-su-van-tat-nyoshul-khenpo-jamyang-dorje.">[1]</a></p>
<p><em><i>Anh dịch: Richard Barron (Lama Chokyi Nyima)</i></em></p>
<p><em><i>Việt </i></em><em><i>dịch</i></em><em><i>: Pema Jyana</i></em></p>
<p><em><i>Nguồn </i></em><em><i>Anh ngữ</i></em><em><i>: Nyoshul Khenpo Jamyang Dorje, </i></em><strong><em><b><i>A Marvelous Garland of Rare Gems – Biographies of Masters of Awareness in the Dzogchen Lineage</i></b></em></strong><em><i> [tạm dịch: Tràng Ngọc Báu Hiếm Có Tuyệt Diệu – Tiểu Sử Chư Đạo Sư Giác Tính Trong Truyền Thừa Dzogchen], Padma Publishing.</i></em></p>
<p><em>Nguồn Việt ngữ: <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a36220/2/tieu-su-van-tat-khenchen-ngawang-palzangpo">Tiểu sử vắn tắt Khenchen Ngawang Palzangpo</a></em></p>
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftnref1">[1]</a> Về Nyoshul Khen Rinpoche, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a35078/tieu-su-van-tat-nyoshul-khenpo-jamyang-dorje">https://thuvienhoasen.org/p38a35078/tieu-su-van-tat-nyoshul-khenpo-jamyang-dorje</a>.</em></p>
<div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftnref2">[2]</a> Đầu năm 1879 đến đầu năm 1880.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftnref3">[3]</a> Theo <b>Rigpawiki</b>, Gyurme Pema Thekchok Tenpe Gyaltsen (1864-1909) là vị Shechen Rabjam thứ năm của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> Shechen.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftnref4">[4]</a> Khi một Tulku sinh ra ở vùng thuộc <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phạm vi</span> khác với <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> gốc của Ngài, thông thường thì <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cần phải</span> dâng cúng lớn cho chính quyền địa phương đang <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kiểm soát</span> nơi mà <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span> Tulku đang sống. Điều dẫn đến việc được ‘thả’ và như thế, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span> có thể đưa Tulku và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">gia đình</span> về vùng của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tu viện</span>, nơi cậu ấy <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cuối cùng</span> được tấn phong và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rèn luyện</span>, một cách <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hợp pháp</span>.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftnref5">[5]</a> Về Dzogchen Rinpoche thứ năm, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a36019/tieu-su-van-tat-dzogchen-rinpoche-thu-nam-thupten-chokyi-dorje-1872-1935-">https://thuvienhoasen.org/p38a36019/tieu-su-van-tat-dzogchen-rinpoche-thu-nam-thupten-chokyi-dorje-1872-1935-</a>.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftnref6">[6]</a> Nhờ sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thực hành</span>, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">phụng sự</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cá nhân</span> và hỗ trợ tài chính của Ngài.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftnref7">[7]</a> Về Patrul Rinpoche, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/a26125/tieu-su-van-tat-dai-su-dza-patrul-rinpoche-1808-1887-">https://thuvienhoasen.org/a26125/tieu-su-van-tat-dai-su-dza-patrul-rinpoche-1808-1887-</a>.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftnref8">[8]</a> Các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">lễ truyền giới</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Sa Di</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tỳ Kheo</span> cần số lượng <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tỳ Kheo</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nhất định</span> (thông thường <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tối thiểu</span> là 5) để <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cử hành</span>.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftnref9">[9]</a> Vị <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">duy trì</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">giới luật</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tu sĩ</span> ở cấp độ bên ngoài, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">xã hội</span>; sự <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">rèn luyện</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Bồ Tát</span> ở cấp độ bên trong, động cơ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cá nhân</span>; và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">thệ nguyện</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">hành giả</span> Mật thừa ở cấp độ <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">bí mật</span> của <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">kinh nghiệm</span> và <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">chuyển hóa</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tâm linh</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">sâu xa</span>.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftnref10">[10]</a> Năm Kim Tý đực (đầu năm 1900 đến đầu năm 1901).</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftnref11">[11]</a> Về Jamgon Mipham Rinpoche, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/a32261/tieu-su-duc-mipham-jamyang-namgyal-gyatso-1846-1912-">https://thuvienhoasen.org/a32261/tieu-su-duc-mipham-jamyang-namgyal-gyatso-1846-1912-</a>.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftnref12">[12]</a> Năm Thủy Dần đực (đầu năm 1902 đến đầu năm 1903).</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftnref13">[13]</a> Tức Kathok Situ thứ ba – Chokyi Gyatso (1880-1923?).</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftnref14">[14]</a> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Tham khảo</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a35960/tieu-su-van-tat-khenchen-kunzang-palden-chodrak-1872-1943-">https://thuvienhoasen.org/p38a35960/tieu-su-van-tat-khenchen-kunzang-palden-chodrak-1872-1943-</a>.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftnref15">[15]</a> “Thuốc” (cũng được gọi là ‘nội cúng dường’) và Rakta là những <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">cúng dường</span> mang tính <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">biểu tượng</span> trong các cốc sọ nhỏ đặt ở mỗi bên của cúng phẩm Torma chính trong các <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">nghi lễ</span> <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">Kim Cương thừa</span>.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftnref16">[16]</a> Tức vị Drubwang Pema Norbu thứ hai.</em></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftnref17">[17]</a> Về Khenchen Munsel, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo</span> <a href="https://thuvienhoasen.org/p38a35232/2/tieu-su-van-tat-golok-khenchen-munsel-1916-1993-">https://thuvienhoasen.org/p38a35232/2/tieu-su-van-tat-golok-khenchen-munsel-1916-1993-</a>.</em></p>
</div>
<div>
<p style="text-align: justify;"><em><a title="" href="file:///C:/Users/Ngawang%20Thogme/Documents/Nyoshul%20Khenpo.%20Ti%E1%BB%83u%20S%E1%BB%AD%20V%E1%BA%AFn%20T%E1%BA%AFt%20Khenchen%20Ngawang%20Palzangpo.docx#_ftnref18">[18]</a> Về Chatral Rinpoche, <span class="nw_linkedtag" data-id="1" data-type="1">tham khảo</span> </em><a href="https://thuvienhoasen.org/a30967/chatral-rinpoche-cuoc-doi-cua-mot-huyen-thoai"><em>https://thuvienhoasen.org/a30967/chatral-rinpoche-cuoc-doi-cua-mot-huyen-thoai</em></a><em>.</em></p>
</div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-van-tat-khenchen-ngawang-palzangpo/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Trưởng dưỡng Bồ Đề Tâm</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/truong-duong-bo-de-tam/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/truong-duong-bo-de-tam/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 25 Sep 2017 06:49:17 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kathok Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Kathok]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7950</guid>
		<description><![CDATA[Bởi vì tâm thức có tiềm năng này để trở thành giác ngộ, qua thực hành, tiềm năng lớn lên dần dần. Đấy là lý do tại sao Bồ đề tâm có thể bừng nở và trải rộng không bờ. Và một khi nó trở nên bao la, nó có năng lực vô biên. Chúng ta cần trưởng dưỡng Bồ&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/truong-duong-bo-de-tam/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Bởi vì tâm thức có tiềm năng này để trở thành giác ngộ, qua thực hành, tiềm năng lớn lên dần dần. Đấy là lý do tại sao Bồ đề tâm có thể bừng nở và trải rộng không bờ. Và một khi nó trở nên bao la, nó có năng lực vô biên.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta cần trưởng dưỡng Bồ đề tâm như là một phương cách để trừ khử vô minh căn bản nó tạo ra những tư tưởng tiêu cực. Có nhiều giáo lý đề cập đến việc làm sao từ bỏ những tư tưởng tiêu cực và chuyển hóa những tư tưởng trung tính. Nhưng bởi vì đây là một chủ đề rộng lớn, chúng ta sẽ chỉ có một ít lời về Bồ đề tâm quý báu, cội gốc của mọi tư tưởng tích cực.</p>
<p style="text-align: justify;">Để thiền định về Bồ đề tâm, trước tiên chúng ta phải có một cái hiểu rất đầy đủ, bởi vì đây là một chủ đề rộng lớn vô cùng. Vì nó liên hệ với sự hiểu biết cái mê lầm phổ khắp của tất cả chúng sinh trong những vũ trụ vô số. Không chỉ chúng ta, mà cha mẹ chúng ta và tất cả chúng sinh đã mê lầm từ vô số đời, và vì sự mê lầm ấy, họ đã khổ đau to tát không trừ một ai. Bởi thế, sự trưởng dưỡng căn bản Bồ đề tâm đòi hỏi một hiểu biết về tính cách rộng lớn của mê lầm và những khổ đau của chúng sinh. Khi người ta ý thức được độ dài rộng vô biên của những đời và những vũ trụ trong đó chúng sinh rơi vào mê lầm và khổ đau, chỉ lúc ấy những cảm nhận đích thực về lòng bi và những mong muốn giải thoát cho những chúng sinh ấy mới có thể phát triển trong tâm thức chúng ta. Như thế, chúng ta cần ý thức độ dài rộng của mê lầm và khổ đau, không phải để trở nên chán chường hay yếm thế, mà để thấy mọi sự như chúng là và để đem lại cái tốt nhất cho chính chúng ta và tất cả chúng sinh ở khắp nơi.</p>
<p style="text-align: justify;">Với chúng ta Bồ đề tâm có nghĩa là gì? Bồ đề tâm tiếng Tây Tạng là changchub. Từ này có hai nghĩa căn bản. Trước hết, chang nghĩa là “làm sạch”. Trong ngôn ngữ giáo pháp chúng ta thường nói “làm sạch hai cái che chướng”. Trong ngôn ngữ bình thường nó có nghĩa là trừ sạch mọi lỗi lầm, vết bẩn, bất toàn và khuyết điểm của tâm thức chúng ta. Khi chúng ta nói đến chub, nó có nghĩa là khai triển đến mức rốt ráo mọi phẩm tính bẩm sinh vốn có, hay mọi tiềm năng, trong lòng và tâm. Bởi thế, Bồ đề tâm, changchub, nghĩa là trừ sạch bất cứ lỗi lầm nào có thể có và khai triển mọi phẩm tính giác ngộ đã vốn có. Tạo sao chúng ta nói Bồ đề tâm hay tâm giác ngộ? Bởi vì điểm bắt đầu là cái tâm tối tăm, mê lầm, và điểm kết thúc là tâm giác ngộ. Thế nên Bồ đề tâm liên hệ với sự tịnh hóa và sự khai triển rốt ráo của tâm thức.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi sự tịnh hóa của tâm thức và sự khai triển tất cả những phẩm tính giác ngộ ấy đạt đến điểm rốt ráo hiện thực hóa tất cả những phẩm tính của tâm và trạng thái này đã gỡ bỏ mọi tấm màn che chướng được gọi là Phật, hay Guru Rinpoche, hay Chenrezig hay Quán Thế Âm. Không có gì ngoài trạng thái giác ngộ trong đó mọi phẩm tính đã được khai triển, không có chút mê mờ nào do vô vàn hình tướng, bởi vì tất cả là một bản tính tinh túy đơn nhất.</p>
<p style="text-align: justify;">Tạo sao chúng ta cần thiền định về Bồ đề tâm, tâm giác ngộ? Bởi vì điều kiện giới hạn của chúng ta, sự khổ đau và mê lầm của chúng ta. Khi mọi mê lầm đã được trừ sạch, đây là trạng thái được gọi là “Phật tính”: trạng thái của người đã hiện thực hóa những phẩm tính rốt ráo và đã trừ sạch mọi lỗi lầm. Người ta có thể tiến hành từ trạng thái mê lầm bình thường đến trạng thái giác ngộ; đây được gọi là “con đường”. Nhưng bản tính giác ngộ này hiện ở trong mỗi chúng ta, vì nó là bản tính chân thật của chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Bản tâm giác ngộ nền tảng trong tính Phật vốn sẵn có này thì giống như bầu trời, như hư không, nó - mỗi chúng ta bao la, thanh tịnh và bất biến một cách không khuyết hụt. Trong bản tính tự nhiên và sâu xa này, những phẩm tính của Phật tính giống như những tia sáng tỏa ra từ mặt trời. Sự diễn đạt không thể quan niệm và phong phú những phẩm tính giác ngộ thì giống như đại dương, trong đó mọi ngôi sao và hành tinh đồng phản chiếu. Trong cùng một cách, những phẩm tính giác ngộ của Phật đều tự nhiên hiện diện trong mỗi chúng ta. Chúng ta chỉ thể hiện chúng, khai mở và khám phá chúng, giải thoát tâm thức chúng ta khỏi mê lầm bằng phương cách thực hành Bồ đề tâm trên con đường.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự khác biệt giữa tâm không trong sạch và tâm trong sạch, tâm mê lầm và tâm giác ngộ, chủ yếu là sự khác biệt của chật hẹp và rộng mở. Trong trạng thái mê lầm hiện thời của chúng ta, tâm thức chúng ta thì cực kỳ chật hẹp. Chẳng hạn, chúng ta sống cô độc và hiếm khi, nếu không nói là chưa bao giờ, nhìn xem sự vô biên của chúng sinh. Tâm thức càng co rút và chật hẹp, càng chỉ nghĩ đến chính nó, hoàn toàn chẳng để ý gì đến sự an vui, hạnh phúc và những đau khổ của những người khác. Ngược lại, Phật giác ngộ là người xem thấy sự vô biên của chúng sinh hơn là lưu tâm tới bản ngã và cá thể của ngài. Như thế, toàn bộ  từ một chúng sinh bình thường tới Phật tính - con đường là sự mở rộng dần dần của tâm thức! Và đó chính là cái chúng ta gọi là changchub hay semkye: nghĩa đen là làm lớn và khai triển thái độ giác ngộ này. Khái niệm “làm lớn lên” được dùng ở đây để chỉ sự đi từ một thái độ hoàn toàn chật hẹp, chỉ chủ yếu nhắm vào chính mình, đến một tấm lòng thương yêu rộng mở mà khung cảnh của nó tự động bao trùm vô biên chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Khởi từ một thái độ hoàn toàn ích kỷ, chúng ta cần tìm ra một cách thức để rộng mở và phá thủng qua sự chật hẹp bó chặt này. Làm sao để chúng ta thực sự bắt đầu quan tâm một cách thành thật đến sự an vui, của những người khác, nhận ra họ không quá khác với chúng ta? Căn bản, chúng ta có thể tiến hành như thế này: Như một kết quả của sự ích kỷ của chúng ta, chúng ta có một thương mến tự nhiên đối với cha mẹ chúng ta, họ đã cho chúng ta cuộc sống và nuôi nấng chúng ta trong đời này. Nếu chúng ta sử dụng cảm giác tự phát đã sẵn có này, chúng ta có thể trải dài nó một cách chầm chậm và tiệm tiến đến những chúng sinh khác. Với những phương tiện thiện xảo, trước tiên chúng ta nghĩ đến lòng tốt của mẹ chúng ta sinh ra chúng ta, chăm sóc chúng ta, giáo dục chúng ta v.v… Từ sự cảm kích này đối với lòng tốt của mẹ chúng ta sẽ khởi lên ước muốn đền đáp lòng tốt của mẹ, và tâm thức sẽ bắt đầu mở ra với thái độ vị tha. Lấy nó như là căn cứ, chúng ta có thể chủ động trải rộng sự nồng ấm căn bản này đến thân thuộc và những chúng sinh khác. Đây là căn cứ của tiến trình thiền định làm tăng trưởng tình thương cho tất cả chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Một trong những bước đầu tiên trong thiền định về Bồ đề tâm là trở nên ý thức đến lòng tốt của những người khác. Như Phật đã dạy, điều này bắt đầu bằng sự cảm kích lòng tốt của chính bà mẹ của chúng ta. Chẳng hạn, nếu người nào cho chúng ta một trăm đô la hay chở chúng ta đi đến chỗ mình, chúng ta nghĩ người ấy là một người rất tốt. Nhưng thật ra điều ấy quá nhỏ so với lòng tốt của mẹ chúng ta, người đã cho chúng ta thân thể từ chính thịt xương của bà và chăm sóc chúng ta ngày đêm khi chúng ta không thể làm gì được. Một khi chúng ta đã được sinh ra, chúng ta không thể tồn tại chỉ mười phút nếu không có mẹ chúng ta thường trực chăm nom chúng ta. Như chính đức Phật đã nói rằng trao một quà tặng là một thân thể là một trong những lòng tốt vĩ đại nhất chúng ta có thể tìm thấy trong thế giới. Chúng ta cần ý thức và cảm kích lòng tốt này. Nếu chúng ta chỉ nghĩ, “Rốt cuộc, điều đó chẳng có nghĩa gì cả. Bà làm điều đó cho ích lợi riêng của bà, chỉ sự tốt đẹp riêng của bà”, đó là một sai lầm rất nghiêm trọng. Để khai triển Bồ đề tâm, trước tiên chúng ta phải ý thức và biết ơn, và cảm kích lòng tốt bao la của người đã cho chúng ta đời sống này, cũng như người nào khác làm lợi lạc cho chúng ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngay trong thế giới bình thường, một cảm thức chung khi một ai đó làm một điều gì cho chúng ta từ lòng tốt lớn lao của họ, và chúng ta biết ơn và cư xử theo một cách đền đáp lòng tốt của họ, ai cũng nghĩ điều chúng ta làm là đúng. Nhưng nếu người nào làm điều gì rất tốt cho chúng ta, và đáp lại chúng ta đối xử với họ theo một cách rất xấu, bấy giờ ai cũng nghĩ chúng ta là một người xấu.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta cần bắt đầu cảm kích lòng tốt của những người khác, đặc biệt là của mẹ chúng ta. Rồi chúng ta nên nhận thấy rằng qua khắp các đời của mình, không có một chúng sinh nào không từng là mẹ hay cha chúng ta vào một lúc này hay lúc khác. Bởi thế, không có lý do gì chúng ta không nên cảm thấy cùng một tình thương và biết ơn tự nhiên mà chúng ta có cho cha mẹ trong đời này, đối với tất cả chúng sinh. Điều này dẫn đến một thái độ bao la, Bồ đề tâm có cùng một lòng biết ơn đối với mỗi một chúng sinh không phân biệt, và mong muốn cho họ mọi điều tốt đẹp như chúng ta mong muốn mọi điều tốt đẹp cho cha mẹ chúng ta trong đời này.</p>
<p style="text-align: justify;">Bởi vì tâm thức có tiềm năng này để trở thành giác ngộ, qua thực hành, tiềm năng lớn lên dần dần. Đấy là lý do tại sao Bồ đề tâm có thể bừng nở và trải rộng không bờ. Và một khi nó trở nên bao la, nó có năng lực vô biên.</p>
<p style="text-align: justify;">Có nhiều điển hình về sức mạnh của lòng bi trong đời những bậc thánh. Chẳng hạn có một vị thánh nổi tiếng tên là Libpon Pawo, ngài thiền định về lòng bi trong mọi lúc. Một lần nọ, ngài gặp một con cọp cái gần chết đói không thể nuôi sống những con của nó. Ngài nghĩ đến việc cho cọp thân ngài. Nhưng dù ngài là một bồ tát hoàn hảo, khi đến lúc cho thân thể, ngài cảm thấy một ngại ngần và nghi ngờ tự nhiên. Ngài chuyển hóa sự nghi ngờ này thành một sự mở rộng đầy đủ cho khả năng biếu tặng thân thể. Để diễn tả sự nở hoa trọn vẹn này của Bồ đề tâm, lòng bi của ngài, trước khi cho con cọp máu của ngài, ngài dùng chính máu mình viết những câu kệ về cách làm thế nào khai triển Bồ đề tâm trên đá. Những câu kệ này còn được tìm thấy trong tạng Tengyur. Rồi ngài cho những con cọp thân thể mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Một bồ tát Tây Tạng thế kỷ thứ mười một, một hóa thân ngài đã tạo - của Shantideva có tên là Gyalse Ngulchu Thomay - ra Ba Mươi Bảy Thực Hành Của Bồ Tát rất nổi tiếng nơi ẩn tu của ngài, tất cả thú vật đều sống trong hòa bình với nhau. Ngay cả chó sói và cừu cũng chơi đùa với nhau, cho dù chúng thường là những kẻ thù hung tợn của nhau. Đây bởi vì sự thiền định liên tục về Bồ đề tâm và lòng từ của ngài quá mạnh đến nỗi nó có thể biến đổi tâm thức của những thú vật hoang dã và dữ tợn.</p>
<p style="text-align: justify;">Thực sự có thể khai triển Bồ đề tâm qua sự thực hành của chúng ta. Có đại sư tên là Nyoshul Lungtok là một đại đệ tử của Paltrul Rinpoche. Ngài bắt đầu thiền định mười năm trong một cái hang, chỉ tham thiền về Bồ đề tâm. Một hôm Nyoshul Lungtok ở trong rừng trên một ngọn đồi nhỏ, ngài nghe dưới đồng bằng một âm thanh, như có người đang cưỡi ngựa và hát những bài ca vui vẻ. Dù Nyoshul Lungtok không thấy anh ta, nhưng có thể nghe. Bởi vì ngài là một thiền giả cao cấp, Lungtok nhìn thấy qua thiên nhãn của mình rằng người cưỡi ngựa chỉ còn sống thêm một ngày nữa. Khi nghĩ đến con ngựa, ngài thấy con ngựa chỉ sống được một tuần nữa. Thình lình ngài nhận ra rằng người đàn ông kia, không nghĩ đến và không lo âu gì về chuyện đó, không thấu hiểu sự ngắn ngủi và mong manh của cuộc đời, sự bất toàn của sinh tử, và nghiệp của người ấy đang kéo anh ta ra khỏi cuộc đời này sang một đời khác trong khổ đau như thế nào. Điều này chạm đến Nyoshul Lungtok một cách vui - sâu xa đến độ từ lòng bi hoàn toàn cho người đó - vẻ một cách vô ý thức trong đại dương khổ đau này ngài không thể ngừng khóc trong bảy ngày. Ngài trở nên được biết đến do lòng bi bất khả tư nghì tự phát và lòng tốt đối với mọi chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Chính bản tính đích thực của tâm thức khiến nó có thể phát triển và tiến bộ vượt qua những giới hạn hiện thời của nó. Tuy nhiên nó có thể phát triển theo cả hai cách tích cực và tiêu cực. Nếu chúng ta thường xuyên nhắm vào sự tiêu cực, tâm thức lớn lên rất mạnh trong sự tiêu cực. Ban đầu có vẻ rất khó giết một người nào; nhưng dần dần, trở nên hung bạo và quen với chuyện đó, không chỉ nghĩ mà thôi, chúng ta còn có thể lấy đi hàng trăm hàng ngàn mạng sống mà không có dằn vặt xung đột nào trong chúng ta. Cũng như thế, chúng ta có thể phát triển tâm thức trong đức hạnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Bởi thế, điều chính yếu là tịnh hóa và tu hành tâm thức chúng ta, để chuyển hóa thái độ và động lực của chúng ta thành tích cực. Điều này được gọi là lojong trong tiếng Tây Tạng - tu hành tâm thức.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta không nên nghĩ rằng chúng ta chỉ là một công chức hay một nông gia, và do đó không thể là những hành giả thật sự. Một mặt, quả thật nếu chúng ta có những trách nhiệm và bó buộc thì chắc chắn chúng ta sẽ không dùng nhiều thì giờ của đời mình để dấn mình trong định hay trong chốn ẩn cư. Nhưng mặt khác, điều đó không đúng, bởi vì tinh túy của Pháp là Bồ đề tâm quý báu, nó có thể được trau dồi trong bất cứ hoàn cảnh nào và qua bất cứ hoạt động nào. Đó là cái mà ai cũng có thể khai triển trong bất cứ công việc gì họ dấn thân. Đó chính là Pháp chân thật. Như thế chúng ta có thể hoàn toàn thực hành Pháp trong tâm thức, trong khi vẫn dấn thân vào bất cứ loại hoạt động nào với thân và lời.</p>
<p style="text-align: justify;">Như có nói, “Nếu ý định là tốt, bấy giờ mọi cấp độ của con đường sẽ tốt. Nếu không, mọi cấp độ sẽ xấu”. Nếu chúng ta có một tấm lòng rất trong sạch và một tâm thức trong sáng vị tha, thì dù chúng ta có thể gặp những khó khăn hay đau khổ, nhưng cuối cùng chúng ta chắc chắn đạt đến an lạc: nó là kết quả không thể tránh được của việc có ý định tốt, thái độ tích cực, và sự trong sạch của lòng. Nếu chúng ta có một tâm thức rất xấu, bất hòa và tiêu cực, chúng ta có thể gặp những thành công tạm thời, nhưng cuối cùng chúng ta sẽ nếm trái cây của khổ đau, cả cho chính chúng ta và cho những người khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Bồ đề tâm chắc chắn có thể được khai triển qua sự trưởng dưỡng có chủ định, để làm thế, chúng ta có thể tham chiếu những lời dạy khác biệt, như Ba Mươi Bảy Thực Hành của Bồ tát của Nyulchu Thomay đã nói ở trên, hay Bảy Điểm Tu Hành Tâm Thức của Atisha, hay Bồ Tát Hạnh của Shantideva, và những lời dạy rõ ràng khác chuyển hóa tâm thức thành từ và bi. Điều này thiết lập một nền tảng tuyệt hảo cho sự thực hành tâm linh.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đức Nyoshul Khenpo Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: Nguyễn An Cư</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Trích: Đại Toàn Thiện Tự Nhiên, NXB Thiện Tri Thức, 1999</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/truong-duong-bo-de-tam/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Một Thông điệp của Dzongsar Jamyang Khyentse Về việc Đức Chatral Rinpoche Thị tịch</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/mot-thong-diep-cua-dzongsar-jamyang-khyentse-ve-viec-duc-chatral-rinpoche-thi-tich/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/mot-thong-diep-cua-dzongsar-jamyang-khyentse-ve-viec-duc-chatral-rinpoche-thi-tich/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 01 Apr 2016 10:42:20 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kathok Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Kathok]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6657</guid>
		<description><![CDATA[Ngày 5 tháng Giêng, 2016 Dzongsar Khyentse Rinpoche đã yêu cầu Khyentse Foundation and Siddhartha’s Intent công bố thông điệp này vào ngày 5 tháng Giêng, 2016. By Dzongsar Khyentse Rinpoche Việc thị tịch của Chatral Sangye Rinpoche đánh dấu sự chấm dứt của một kỷ nguyên. Bỗng nhiên chúng ta mất đi một lính gác nhiệt tâm canh giữ&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/mot-thong-diep-cua-dzongsar-jamyang-khyentse-ve-viec-duc-chatral-rinpoche-thi-tich/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><i>Ngày 5 tháng Giêng, 2016</i></p>
<p style="text-align: center;"><i>Dzongsar Khyentse Rinpoche đã yêu cầu Khyentse Foundation and Siddhartha’s Intent công bố thông điệp này vào ngày 5 tháng Giêng, 2016.</i></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/dzongsar2.jpg"><img class="alignnone  wp-image-6662" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/dzongsar2-300x245.jpg" alt="05_011" width="394" height="322" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><i>By Dzongsar Khyentse Rinpoche</i></p>
<p style="text-align: center;">Việc thị tịch của Chatral Sangye Rinpoche đánh dấu sự chấm dứt của một kỷ nguyên. Bỗng nhiên chúng ta mất đi một lính gác nhiệt tâm canh giữ Phật pháp nói chung, Kim cương thừa nói riêng, và đặc biệt là Phật giáo Tây Tạng và dòng truyền thừa Nyingma.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ <i>chatral</i> ngụ ý về một yogi (hành giả) khổ hạnh từ bỏ tất cả. Thường thì các tên gọi được đưa ra như những danh hiệu. Nhưng ở vị đang thị nhập Niết bàn này, cái tên Chatral không chỉ là một danh hiệu. Ngài là mẫu mực và hiện thân của điều mà từ <i>chatral</i> thực sự muốn nói tới.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/3921_1069074213136880_7154974174450428083_n.jpg"><img class="  wp-image-6659 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/3921_1069074213136880_7154974174450428083_n-212x300.jpg" alt="3921_1069074213136880_7154974174450428083_n" width="316" height="447" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Trong thọ mạng dài hơn 102 năm của ngài, đây là một người đã làm rất nhiều, đã liên kết với một số những đấng vĩ đại, và đã trở thành Đạo sư của các Đạo sư, kể cả việc giảng dạy và trở thành guru (Đạo sư) của Yongzin Gyaltsab Radreng Rinpoche, là vị đã tìm ra Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 Tenzin Gyatso. Chính ngài lại đang quản lý một tu viện, học viện, hay trung tâm Giáo pháp trong tình trạng nghèo nàn. Quanh ngài, đồ dùng cá nhân như các mái mạ vàng và Pháp tòa chẳng được tìm thấy ở nơi đâu. Ngài là một <i>Chatral</i> trong ý nghĩa đích thực.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng chớ có lầm lẫn: Nhiều Lạt ma như bản thân tôi, những kẻ tạo nên những tiếng vang ầm ĩ, phô diễn những hình ảnh mâu thuẫn nhất, và du hành trên mọi tấc đất và xó góc trong thế giới, lại hầu như không thành tựu được gì so với vị này, người dường như chẳng bao giờ làm gì ngoài việc giữ nệm thiền không bị thấm lạnh. Và nếu ngài thể hiện bằng hành động, đây là người đã dành ra 99,99% công sức để cứu vớt sinh mạng của các thú vật. Vì thế đối với những kẻ vô minh như chúng ta đang cố gắng và biểu lộ những phẩm tính vĩ đại của đấng giác ngộ này, điều đó không khác gì đang cố gắng đo lường sự thẳm sâu và rộng lớn của bầu trời.</p>
<p style="text-align: justify;">Và tuy thế, nếu tôi có thể diễn tả từ vốn liếng ít ỏi mà tôi biết về con người này thì đó là: Phật pháp có rất nhiều thách thức, bao gồm mọi kẻ bất tài hoàn toàn làm tổn hại hình ảnh của Giáo pháp. Những điều này có thể được chiến thắng bởi những vị dường như làm điều tốt lành, những vị có vẻ an tĩnh, đúng đắn, đạo đức, và những vị không bao giờ gây phiền nhiễu cho bất kỳ ai. Nhưng điều đó thường đưa ta đến thách thức khác khó vượt qua hơn nữa. Bởi trong khi làm các sự việc một cách nghiêm chỉnh, đúng đắn và đạo đức, và trong khi chịu đựng gánh nặng của việc không làm chúng sinh đau khổ, ta trở thành nạn nhân của sự đúng đắn có tích cách chính trị và trở nên đạo đức giả.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong cuộc đời hữu hạn của tôi, tôi đã nhìn thấy rất ít người chống lại thói đạo đức giả, và ngài là một người trong số đó. Ngài có ý định nghiêm túc, không có thỏa hiệp, và dĩ nhiên là ngài không bao giờ đổi chác dù chỉ một từ về Pháp để lấy tiền. Đã nhiều lần ngài từ chối cúi đầu trước kẻ uy quyền.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài đã làm cho rất nhiều kẻ đạo đức giả trong chúng ta phải rùng mình. Chỉ nghĩ đến việc ngài đã sống và thở ở nơi nào đó giữa Siliguri và Pharping đã khiến trái tim chúng ta run lên. Mặc dù chúng ta không bao giờ được gặp ngài, đặc biệt là vào khoảng thời gian cuối đời ngài – và bản thân tôi đã bị từ chối tiếp kiến 20 lần hay hơn nữa – sự hiện diện đơn thuần của ngài trên trái đất này đã đập tan thói đạo đức giả.</p>
<p style="text-align: justify;">Để bày tỏ sự sùng kính, tôn trọng và khẩn cầu của chúng ta, cầu mong chúng ta, các đệ tử của vị Thầy này, duy trì sự thực hành giải thoát chúng sinh hữu tình trong cuộc đời mình, chẳng hạn việc phóng sanh cá, và đặc biệt là trong tháng này./.</p>
<p style="text-align: justify;">Nguyên tác: “A Message from Dzongsar Jamyang Khyentse Upon the Passing of Chatral Rinpoche” by <em>Dzongsar Khyentse Rinpoche</em></p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://khyentsefoundation.org/2016/01/losingasentry/">http://khyentsefoundation.org/2016/01/losingasentry/</a></p>
<p style="text-align: justify;">Thanh Liên dịch sang Việt ngữ</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/mot-thong-diep-cua-dzongsar-jamyang-khyentse-ve-viec-duc-chatral-rinpoche-thi-tich/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Thông Điệp Hùng Hồn Của Một Yogi Tây Tạng</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/thong-diep-hung-hon-cua-mot-yogi-tay-tang/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/thong-diep-hung-hon-cua-mot-yogi-tay-tang/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 27 Sep 2015 18:33:58 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kathok Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Kathok]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=6020</guid>
		<description><![CDATA[By Kyabje Chatral Sangye Dorjee Rinpoche Kyabje Chatral Sangye Dorjee Rinpoche là một trong những Yogi thành tựu nhất hiện còn sống của Phật Giáo Tây Tạng. Ngài sinh vào tháng Sáu năm 1913 tại Kham, Tây Tạng. Mỗi năm ngài cứu thoát hàng triệu thú vật và là một người ăn chay nghiêm nhặt trong hơn bốn mươi năm.&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/thong-diep-hung-hon-cua-mot-yogi-tay-tang/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><i>By Kyabje Chatral Sangye Dorjee Rinpoche </i></p>
<p style="text-align: justify;"><i>Kyabje Chatral Sangye Dorjee Rinpoche là một trong những Yogi thành tựu nhất hiện còn sống của Phật Giáo Tây Tạng. Ngài sinh vào tháng Sáu năm 1913 tại Kham, Tây Tạng. Mỗi năm ngài cứu thoát hàng triệu thú vật và là một người ăn chay nghiêm nhặt trong hơn bốn mươi năm. Giờ đây ở tuổi cửu tuần, ngài hết sức tích cực trong việc giúp đỡ con người và những thú vật với lòng bi mẫn sâu xa vô lượng. TVA (Những Tình nguyện viên Tây Tạng Bảo vệ Thú vật) có một cuộc phỏng vấn độc quyền với Rinpoche vào ngày 29 tháng Năm, 2005 tại Nepal. Khenpo Dorjee Tsering và Jamphel Rabten ghi lại lời của Rinpoche và Chonyid Zangmo dịch sang Anh ngữ.<br />
</i><br />
Từ khi chúng tôi tới Ấn Độ, tôi là người đầu tiên trở thành người ăn chay. Năm đầu tiên của Nyingma Monlam (1) ở Bodh Gaya không dùng món chay. Qua năm sau tôi tới đó và phát biểu tại một hội nghị của tất cả các Lạt ma Nyingma cao cấp.</p>
<p>Tôi nói với các ngài rằng Bodh Gaya là một địa điểm hết sức đặc biệt, nó thật thiêng liêng đối với tất cả các Phật tử, và nếu ta nói chúng ta tụ họp ở đây để dự Nyingma Monlam nhưng ta lại ăn thịt thì đây là một điều đáng hổ thẹn và là một sỉ nhục to lớn nhất đối với Phật Giáo. Tôi nói từ giờ trở đi họ nên bỏ hẳn món thịt trong Nyingma Monlam. Ngay cả những Lạt ma và tu sĩ Tây tạng cũng ăn thịt! Thật xấu hổ biết bao nếu ngay cả các Lạt ma cũng không thể từ bỏ thịt! Trước tiên các Lạt ma nên cam kết là những người ăn chay trường. Nếu các Lạt ma trở thành người ăn chay thì quý vị có thể nói với các cư sĩ. Khi ấy quý vị cũng nên thuyết phục các tu sĩ trở thành người ăn chay. Nếu những người tu hành hiểu biết nhiều mà lại ăn thịt thì làm thế nào ta có thể trông chờ ở quần chúng ít học, là những người chỉ biết đi theo sau giống như đàn cừu, trở thành người ăn chay?</p>
<p>Trước đây trong phái Sakya, ngài Sachen Kunga Nyingpo đã kiêng thịt và rượu. Từ đó trở đi dần dần trong phái Nyingma có ngài Ngari Pandita Pema Wangyal, một hiện thân của Vua Trisong Detsen. Ngài là người ăn chay trọn đời. Ngoài ra còn có Lạt ma không bộ phái Zhabkar Tsogdrug Rangdrol, ngài sinh ở Amdo và là một người ăn thịt rất nhiều, nhưng khi ngài tới Lhasa và thấy nhiều súc vật bị làm thịt trong lò sát sanh, ngài đã trở thành người ăn chay trong những ngày còn lại của đời ngài. Nhiều đệ tử của ngài cũng trở thành người ăn chay. Nhiều người khác – những hành giả trong phái Sakya, Geluk, Kagyud và Nyingma – đã làm như thế và trở thành người ăn chay.</p>
<p>Ở Kongpo, Gotsang Natsog Rangdrol bảo các tu sĩ kiêng thịt và rượu. Bởi các tu sĩ Kongpo Tsele Gon không tuân lệnh ngài, ngài giận họ và đi tới Gotsang Phug ở Kongpo hạ, và ở đó trong ẩn thất cô tịch trong 20-30 năm. Tránh không làm những ác hạnh như ăn thịt và uống rượu, ngài đã thành tựu chứng ngộ và nổi danh là Gotsang Natsog Rangdrol, một vị Thầy có đầy đủ phẩm tính cao cấp. Tương tự như thế, Nyagla Pema Dudul kiêng thịt và rượu. Ngài đã thiền định trong ẩn thất cô tịch trong 20-30 năm, không nhờ tới thực phẩm của người khác mà tự nuôi sống bằng tinh chất của đá và đất, và đã đạt được thân cầu vồng. Ngài nổi danh là “Pema Duddul thành tựu thân cầu vồng.” Ngài sống vào thời của Nyagke Gonpo Namgyal. Câu chuyện đã xảy ra như vậy.</p>
<p>Khi tôi ở Bhutan, đôi khi thịt được phục vụ trong những buổi lễ lớn hay những lễ cúng dường cho người quá cố. Việc sát sinh cho người quá cố này là một chướng ngại cho sự phát triển tâm linh của người chết và là một trở ngại trên con đường dẫn tới giải thoát. Điều đó không có lợi cho người quá cố.</p>
<p>Tất cả những người sống trong vùng Himalaya đều là Phật tử. Một vài Lạt ma Tamang và Sherpa là người vô minh. Vì muốn ăn thịt và uống rượu, họ nói rằng điều đó là cần thiết bởi họ là tín đồ của Guru Rinpoche, Ngài đã ăn thịt và uống rượu. Nhưng Guru Rinpoche đã hóa sinh một cách kỳ diệu chứ không như các Lạt ma đó sinh ra từ những cha mẹ trong loài người. Guru Rinpoche lừng danh là Đức Phật Thứ Hai. Vị Thầy của các Kinh điển là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và vị Thầy của các tantra (Mật điển) là Guru Rinpoche toàn trí, bậc đã tiên tri thật chính xác những điều sẽ xảy ra trong tương lai. Kiêng thịt là một phương tiện để thế giới được hòa bình. Tôi đã từ bỏ thịt, và tôi cũng không dùng bánh ngọt vì nó có trứng. Ăn thịt và ăn trứng thì giống như nhau. Một quả trứng sẽ nở thành một con gà. Một con gà là một chúng sinh hữu tình. Ví dụ như không có gì khác biệt trong việc giết một bào thai chưa ra đời trong bụng một phụ nữ mang thai và việc giết một đứa trẻ sau khi nó được sinh ra; việc sát sinh đều là một ác hạnh. Đây là lý do tại sao tôi không ăn trứng.</p>
<p>Việc làm của các bạn không vô ích – nó rất hữu ích. Thông điệp này không chỉ dành cho Phật tử; mọi người có suy nghĩ và lập luận đều có thể hiểu được thông điệp này. Đặc biệt là tất cả những khoa học gia và bác sĩ uyên bác hãy suy nghĩ về điều này: hút thuốc lá và ăn thịt có lợi lạc gì không? Như một biểu thị của điều này, người hút thuốc và người không hút thuốc, ai sống thọ hơn? Người hút thuốc và người không hút thuốc, ai có nhiều bệnh tật hơn? Các bạn sinh viên đại học có thể nghĩ về tất cả những lý lẽ và tìm hiểu chúng. Tôi chỉ nói tiếng Tây Tạng; tôi không nói các ngôn ngữ khác, nhưng tôi đã nghiên cứu những giáo lý Luật ngoại và Kim cương thừa nội của Đức Phật. Đặc biệt là tôi từng nghiên cứu các tác phẩm Dzogchen (Đại Viên mãn) của nhiều học giả và yogi. Tất cả các ngài đều nói rằng việc kiêng thịt có lợi cho sự trường thọ.</p>
<p>Nếu tôi nghĩ về gia đình của tôi, chẳng có ai sống quá 60 tuổi; tất cả những thân quyến của tôi đã mất. Nhưng vì tôi rời bỏ quê hương và kiêng thịt và không hút thuốc, hiện nay tôi đã 93 tuổi. Tôi vẫn có thể đi bộ, ngồi và đi đó đây bằng xe hơi hay máy bay. Trước đây ít ngày tôi đã đi Lhakhang Gon ở Helambu, ở đó người ta đang xây mới một tu viện Sherpa.</p>
<p>Các bạn đã yêu cầu tôi nói về những lý do khiến tôi trở thành người ăn chay, và những gì tôi nói với các bạn có thể công bố cho mọi người biết. Những điều tôi nói với các bạn hoàn toàn là sự thật, không phải là điều dối trá. Nó được dựa trên Kinh điển Phật giáo, những giáo lý của các guru, và căn cứ trên kinh nghiệm của riêng tôi, chứ không dựa trên lời lẽ của một ít người tuyên bố mình là học giả.</p>
<p>Đó là lý do tại sao các bạn nên công bố thông điệp này. Tôi cũng rất hoan hỉ trước công đức của các bạn. Những hành động của các bạn chắc chắn là rất tốt lành. Các bạn nên tiếp tục cuộc vận động của các bạn để giáo dục các cư sĩ, và cả những tu sĩ nữa. Các bạn nên nói điều đó cho các Lạt ma và Tulku ngự trên ngai cao và nghĩ rằng mình thật quan trọng, và cũng nói với những người ở địa vị thấp kém nhất, nói với cộng đồng tu sĩ và cả với công chúng, với những người thế tục ở địa vị cao cấp có lương tri tự mình có thể suy luận và cũng nói với những người không có lương tri. Đây là những gì tôi phải nói. Các bạn đã yêu cầu lão già nhu nhược này nói, vì thế tôi đã nói cho các bạn nghe lời khuyên tâm huyết của tôi.</p>
<p>Thông điệp và lý lẽ này phải được công bố; không được che dấu điều gì trong thông điệp này.</p>
<p>Hồi hướng:</p>
<p>Cầu mong mọi chúng sinh đều được hạnh phúc.<br />
Cầu mong mọi cõi thấp mãi mãi trống không,<br />
Bất kỳ nơi đâu có các Bồ Tát,<br />
Cầu mong lời nguyện này được thực hiện./.</p>
<p>Nguyên tác: “A Powerful Message by a Powerful Yogi” by Kyabje Chatral Rinpoche http://www.semchen.org/articles/chatral-rinpoche.htm<br />
Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên</p>
<p>Chú thích:</p>
<p>(1). Monlam, cũng được gọi là Lễ Hội Cầu nguyện Vĩ đại của Phật Giáo Tây Tạng, từ ngày 4 tới 11 tháng 1 theo lịch Tây Tạng. Nyingma Monlam là Lễ hội Cầu nguyện Vĩ đại do phái Nyingma tổ chức.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/thong-diep-hung-hon-cua-mot-yogi-tay-tang/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lợi ích của việc cứu vớt các sinh mạng</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/loi-ich-cua-viec-cuu-vot-cac-sinh-mang/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/loi-ich-cua-viec-cuu-vot-cac-sinh-mang/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 17 Sep 2015 05:07:54 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kathok Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh sách Kathok]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5556</guid>
		<description><![CDATA[Đạo sư lừng danh Pháp Vương Chatral Rinpoche Con đảnh lễ Lạt ma, Đức Phật Amitayus (Vô Lượng Thọ), Và chư vị Bồ Tát trong Pháp hội. Giờ đây con mô tả vắn tắt những lợi lạc Của việc phóng thích và chuộc mạng thú vật. Cứu thoát thú vật khỏi tay kẻ đồ tể và mọi nguy hiểm đe&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/loi-ich-cua-viec-cuu-vot-cac-sinh-mang/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>Đạo sư lừng danh Pháp Vương Chatral Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: center;">Con đảnh lễ Lạt ma, Đức Phật Amitayus (Vô Lượng Thọ),<br />
Và chư vị Bồ Tát trong Pháp hội.<br />
Giờ đây con mô tả vắn tắt những lợi lạc<br />
Của việc phóng thích và chuộc mạng thú vật.</p>
<p style="text-align: center;">Cứu thoát thú vật khỏi tay kẻ đồ tể và mọi nguy hiểm đe dọa tính mạng,<br />
Với một động lực và hành vi hoàn toàn thanh tịnh,<br />
Thì không còn nghi ngờ gì nữa, chính là một pháp tu tập<br />
Được tất cả những môn đồ của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thực hành.<br />
Nhiều Kinh điển, Tantra (Mật điển) và các luận giải<br />
Mô tả chi tiết những lợi lạc mà thiện hạnh này mang lại,<br />
Và vô số Đạo sư uyên bác và thành tựu của Ấn Độ và Tây Tạng<br />
Đã nhấn mạnh giá trị và tầm quan trọng của việc làm lợi lạc chúng sinh.</p>
<p style="text-align: center;">Ngay cả trong thừa căn bản, hành giả cũng tránh làm hại người khác,<br />
Trong Đại thừa thì đây chính là việc tu hành của một Bồ Tát,<br />
Và trong Mật thừa, đó là một samaya chính yếu của Bảo Sanh bộ<br />
Lý lẽ của việc này như sau: trong thế giới này,<br />
Đối với một chúng sinh thì không có gì quý báu hơn mạng sống của họ,<br />
Vì thế không tội lỗi nào to lớn hơn việc lấy đi mạng sống,<br />
Và không đức hạnh có điều kiện nào mang lại lợi ích lớn lao hơn<br />
Hành vi cứu thoát và chuộc mạng chúng sinh.</p>
<p style="text-align: center;">Vì thế bạn nên ước muốn hạnh phúc và điều tốt lành,<br />
Nỗ lực thực hiện thiện hạnh này - siêu việt nhất trong mọi con đường,<br />
Là điều được Kinh điển và lý lẽ chứng minh,<br />
Và không gặp những chướng ngại và nguy hiểm tiềm tàng.<br />
Hãy khảo sát thân thể bạn và lấy nó làm một gương mẫu,<br />
Tránh làm mọi sự có thể làm hại người khác.</p>
<p style="text-align: center;">Hết sức nỗ lực không giết hại mọi sinh loài,<br />
Chim, cá, hươu nai, gia súc và ngay cả những côn trùng nhỏ xíu,<br />
Và thay vào đó cố gắng cứu mạng chúng,<br />
Hiến tặng chúng sự che chở khỏi mọi sợ hãi.</p>
<p style="text-align: center;">Lợi lạc của việc này không thể tưởng tượng nổi.<br />
Đây là thực hành tối hảo để bạn có thể trường thọ,<br />
Và nghi lễ vĩ đại nhất cho người sống hay người chết.<br />
Đó là thực hành chính của tôi để làm lợi lạc người khác.</p>
<p style="text-align: center;">Nó xua tan mọi nghịch cảnh và chướng ngại ngoài và trong,<br />
Mang lại những thuận duyên thật tự nhiên chẳng phải dụng công,<br />
Và khi được hứng khởi bởi Bồ đề tâm cao quý<br />
Và viên mãn với sự hồi hướng và những nguyện ước thanh tịnh,<br />
Ta sẽ được dẫn tới sự Toàn Giác,<br />
Và thành tựu hạnh phúc của riêng ta và chúng sinh-<br />
Bạn không được hồ nghi chút nào về điều đó!</p>
<p style="text-align: center;">Những người có thiên hướng đức hạnh và hành vi công đức,<br />
Nên ngăn cấm việc săn bắn và đánh cá trên lãnh địa của họ.<br />
Một vài loài chim, đặc biệt là ngỗng và sếu,<br />
Do nghiệp lực, bị buộc phải di cư<br />
Về phương nam vào mùa thu, phương bắc vào mùa xuân.<br />
Đôi khi, kiệt sức vì nỗ lực trong chuyến bay,<br />
Hay lạc hướng, nhiều con bị buộc phải đáp xuống đất,<br />
Khốn khổ, sợ hãi và âu lo; khi điều này xảy ra,<br />
Bạn không nên ném đá hay bắn chúng,<br />
Cũng không cố giết hay làm hại chúng,<br />
Mà bảo vệ để chúng có thể dễ dàng tiếp tục cuộc hành trình.</p>
<p style="text-align: center;">Học giả Atisha Dipankara vinh quang xứ Bengal đã nói:<br />
Việc hiến tặng sự chăm sóc và thương yêu<br />
Cho người không được che chở trong những hoàn cảnh tuyệt vọng<br />
Mang lại rất nhiều công đức như khi bạn thiền định<br />
Về tánh Không mà cốt tủy là lòng bi mẫn-<br />
Các Lạt ma, các viên chức, tăng, ni, người nam và nữ,<br />
Ở tất cả những nơi thuộc thẩm quyền của họ,<br />
Hãy tận lực tạo mọi ảnh hưởng và làm mọi sự trong khả năng của mình<br />
Để giải thoát và chuộc mạng sống thú vật,<br />
Trong khi khuyến khích người khác cũng làm như thế.</p>
<p style="text-align: center;">Nơi nào thiện hạnh này được thực hành,<br />
Bệnh tật của con người và gia súc sẽ ngừng dứt,<br />
Mùa màng sẽ trù phú và đời sống trường thọ.<br />
Mọi người vui hưởng hạnh phúc và an lạc dồi dào,<br />
Và vào lúc chết buông bỏ kinh nghiệm mê lầm,<br />
Trước khi tìm thấy một tái sinh tuyệt hảo trong những cõi giới cao.<br />
Cuối cùng, không còn nghi ngờ gì, điều này sẽ dẫn dắt ta<br />
Dễ dàng tìm thấy trạng thái siêu việt và viên mãn của sự giác ngộ.</p>
<p style="text-align: center;">Để đáp lại lời khẩn cầu của Bác sĩ Dordrak,<br />
Đã cúng dường một khăn lụa thanh tịnh và một trăm ru-pi Nepal,<br />
Người được gọi là Chadral Sangye Dorje,<br />
Kẻ liên tục nỗ lực chuộc lại các mạng sống<br />
Đã ghi lại thật tự nhiên những gì xuất hiện trong tâm.<br />
Nhờ công đức của việc này, cầu mong tất cả chúng sinh<br />
Thực hành những hành động giác ngộ!</p>
<p style="text-align: center;">Mamakoling samanta!</p>
<p style="text-align: center;"><i>Nguyên tác: “The Benefits of Saving Lives”</i><br />
<i>by Chadral Rinpoche</i><br />
<i><a href="http://lotsawahouse.org/id21.html">http://lotsawahouse.org/id21.html</a></i><br />
<i>Tham khảo:</i><br />
<i><a href="http://www.purifymind.com/SaveBeings.htm">http://www.purifymind.com/SaveBeings.htm</a></i></p>
<p style="text-align: center;"><i>Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên</i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/loi-ich-cua-viec-cuu-vot-cac-sinh-mang/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử ngắn Đạo sư Nyoshul Khenpo Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/tieu-su-ngan-dao-su-nyoshul-khenpo-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/tieu-su-ngan-dao-su-nyoshul-khenpo-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 14 Sep 2015 05:19:35 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kathok Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Kathok]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=5215</guid>
		<description><![CDATA[Đạo sư Đại Viên Mãn Nyoshul Khenpo Rinpoche và Đức Sogyal Rinpoche Đây hoàn toàn không phải là một namthar – một tiểu sử tâm linh – nó chỉ là một chuỗi những chuyện rủi ro. Tôi sinh ở miền đông Tây Tạng năm 1932. Cha tôi là một kẻ cướp lang thang, một kẻ cướp đường. Ông ta đánh&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/tieu-su-ngan-dao-su-nyoshul-khenpo-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>Đạo sư Đại Viên Mãn Nyoshul Khenpo Rinpoche và Đức Sogyal Rinpoche </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Jamyang-Dorje1.jpg"><img class="  wp-image-5219 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Jamyang-Dorje1-247x300.jpg" alt="Jamyang Dorje" width="365" height="443" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Đây hoàn toàn không phải là một namthar – một tiểu sử tâm linh – nó chỉ là một chuỗi những chuyện rủi ro. Tôi sinh ở miền đông Tây Tạng năm 1932. Cha tôi là một kẻ cướp lang thang, một kẻ cướp đường. Ông ta đánh đập, cướp giật và ngay cả giết người. Tôi thực sự không biết cha tôi, vì ông đã bỏ gia đình khi tôi còn rất nhỏ. Cha tôi giống như người các bạn thấy trong phim cao bồi, sống ngoài luật lệ trên lưng ngựa. Ông thường sống trong những miền hoang dã xứ Kham, miền đông Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong gia đình tôi có ba trai và bảy gái. Hai người anh tôi thì rất mạnh và thô lỗ, như cha vậy ; ông cũng rất yêu quý hai đứa con cứng rắn này. Tôi là đứa thứ ba, có hơi yếu đuối và nhút nhát. Cha tôi thường chê tôi, nói rằng tôi giống một đứa con gái và chẳng được gì. Cha tôi dạy các con mình chiến đấu, nhưng những đứa con gái và tôi không thích lắm sự đánh nhau, cho nên cha chúng tôi không để ý đến chúng tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Mẹ tôi là một tâm hồn dịu dàng và từ ái, một con người mộ đạo, với nhiều kiên nhẫn và chịu đựng. Bà có những ước mong thành thật thực hành Pháp, dù bà có quá nhiều con và nhiều chuyện để đối phó trong nhà. Bà nuôi hy vọng lớn lao rằng tôi sẽ đáp ứng những ước mong về Pháp của bà, bởi vì tôi giống bà ở tính cách dịu dàng và từ ái. Mẹ tôi tự bằng lòng với những phần thưởng đơn giản của đạo đức, cầu nguyện và sự hiến mình cho gia đình.</p>
<p style="text-align: justify;">Bà nội tôi, mẹ của người cướp đường, cũng thuần thành. Bà là một đệ tử không thường xuyên của đại sư Đại Toàn Thiện Nyoshul Lungtok Nyima, người là đệ tử ruột của Patrul Rinpoche. Rất say mê Pháp và thực hành, bà không học nhiều nhưng đã nhận những giáo lý và thực hành và hiểu chúng, như thế chuyển hóa bản chất bà. Bà cầu nguyện thường trực cho đứa con cướp bóc ương ngạnh của bà chuyển biến và thay đổi cuộc đời của nó.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi tôi còn là một em bé, bà nội tôi và mẹ tôi thường hát đi hát lại bên nôi, “Chúng con quy y Phật, chúng con quy y Pháp, chúng con quy y Tăng.” Cũng thế, họ thường cầu nguyện và nói với người khác về những giáo lý, và cầu nguyện đến Nyoshul Lungtok Tenpai Nyima, dù ngài ở đâu – họ thường không biết ngài ở đâu – một cách nhiệt thành, biểu lộ mong muốn tha thiết ngài sẽ đến để dạy và ban phước cho họ. Họ nhắc nhở mọi người ngài là một đại đạo sư như thế nào. Đó là lần đầu tiên tôi nghe đến tên thiêng liêng của vị guru này, Nyoshul Lungtok, – một cái tên gây cảm hứng cho tôi đến tận ngày nay.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi tôi lớn lên, bà nội tôi giải thích cho tôi Nyoshul Lungtok là lama gốc tôn kính của bà, và ngài đã cho bà một đời sống mới. Dù không học kinh điển, bà có kinh nghiệm trong Đại Toàn Thiện, và cũng thực hành những giáo lý bồ đề tâm. Bà hát tụng thần chú của lòng đại bi, Om mani padme hung, ba trăm triệu lần trong đời bà. Nếu người ta trì tụng một trăm triệu lần một thần chú, đếm mỗi lần với một xâu chuỗi, đó gọi là một toong-jor. Bà đã làm ba lần như thế trong đời bà – ba trăm triệu trì tụng thần chú của lòng đại bi, thần chú của Quán Thế âm, Om mani padme hung, thực hành thiền định và từ bi như vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Bà nội tôi khuyên tôi, bởi vì bản tánh tôi hiền lành, thực rất thích hợp để theo lối sống của mẹ tôi hơn là bắt chước cha tôi. Bà còn khuyến khích tôi tìm một lama-bồ tát thông thạo để dạy và huấn luyện tôi, và cố gắng trở nên giác ngộ như chính vị lama ấy – vì đó là điều Phật dạy.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong ba năm tôi chăm sóc gia súc của gia đình và những việc lặt vặt khác. Tôi chẳng học thứ gì, nhưng tôi nhớ nghĩ về vị lama mà tôi đã nghe tên. Trong thời gian này, khi tôi lên năm, mẹ tôi và bà đưa tôi đến tu viện Sakya gần đấy, nơi tôi được cắt tóc và cho một pháp danh. Năm tám tuổi, tôi vào tu viện. Có khoảng một trăm nhà sư, người thực hành và những lama trong tu viện ấy ở xứ Kham. Pháp danh của vị trụ trì là Jamyang Khenpa Tapkye ; ngài là ông cậu họ của tôi.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>NHỮNG NĂM ĐẦU TIÊN Ở TU VIỆN</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Là bà con, Jamyang Khenpa Tapkye quan tâm đến tôi. Tôi liền được dạy cho biết đọc và viết, chuyện đó là dễ dàng đối với tôi. Không phải đứa trẻ nào cũng có một dịp may như vậy. Để ở trong tu viện này, những người tập sự trẻ phải đi khất thực mỗi ngày chung quanh những làng lân cận. Tôi vẫn còn những vết sẹo nơi chân vì những con chó Tây Tạng khổng lồ, chó giữ nhà dữ tợn, chúng cắn tôi khi đi ngang qua cửa để xin tsampa, một loại bột nướng khô, thức ăn chủ yếu của người Tây Tạng. Khi những đứa trẻ tập sự không có gì, chúng sẽ bị đánh và bắt phải ngồi ở bên ngoài không có gì để chống lại với giá lạnh. Đó là một cuộc sống gian khổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào khoảng mười tuổi công việc của tôi là chăn cừu của tu viện, đôi khi ở trong chùa và đôi khi chăn ở ngoài, nơi những chỗ hoang vu. Khi trời nắng tôi được ra ngoài, rất thoải mái, cảm thấy rất hạnh phúc, chỉ xem chừng cừu gặm cỏ. Nhưng đôi khi trời mưa và lạnh cóng, với mưa đá và gió, tôi không chỗ ẩn núp. Hơn nữa tôi không thể thấy cừu biến mất trong sương mù và hẻm núi. Tôi phải tìm chúng để gom chúng lại và đưa về vào ban tối. Tôi biết chính xác chúng có bao nhiêu con. Tôi nhận ra từng khuôn mặt chúng và gọi mỗi con bằng tên nó.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào mùa xuân và mùa hè ngắn ngủi, có nhiều hoa dại và đủ loại chim ca hát. Kham rất đẹp vào thời kỳ ấy trong năm. Thời gian còn lại, khí hậu khá lạnh và khắc nghiệt. Tôi nhớ rõ ràng những ngày hè an vui của tuổi thơ khi khí hậu đáng yêu và tôi hoàn toàn sung sướng, ngồi ngoài nắng, hoàn toàn thoải mái và buông xả, khi đàn cừu gặm cỏ và tôi nhìn vào bầu trời xanh đậm màu ngọc bích và chỉ để tâm thức tôi tự do như nó là. Đấy là sự khởi đầu tự nhiên, không tạo tác của sự khai triển thiền định nơi tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Đôi khi những con chim ríu rít, và vài tư tưởng bắt đầu đến trong tâm, đại loại : Tôi làm gì ở đây, nghe những con chim chăng ? Tại sao tôi ở đây ? Bà tôi bảo với tôi rằng chỉ sự việc độc nhất đáng làm là thực hành và chứng nghiệm Pháp thánh, tuy nhiên dù tôi đã vào tu viện, hình như bây giờ tôi chỉ là một người chăn cừu. Làm sao tôi có thể theo những giáo lý và gặp một vị thầy đích thực, hơn là chỉ làm một người chăn cừu mặc đồ thừa rách rưới, phí phạm thời gian trong những cánh đồng ?</p>
<p style="text-align: justify;">Thu hết can đảm, tôi nói với mẹ tôi muốn học với một lama thật sự, có được những giáo lý tâm linh đích thực, và tìm ra Pháp thiêng liêng thật sự là gì. Rồi tôi bỏ tu viện và đến một thung lũng khác, nơi ấy có một đại lama cao cấp là Lama Rigdzin Jampel Dorje. Vị lama này quả thật là một đại sư giác ngộ, một đại thành tựu giả đã chứng ngộ sự hợp nhất của hai dòng giáo lý Đại Ấn (Mahamudra) và Đại Toàn Thiện (Dzogchen).</p>
<p style="text-align: justify;">Khi tôi khoảng mười hai tuổi, tôi bắt đầu và hoàn thành năm trăm thực hành sơ bộ hay ngondro, dưới sự hướng dẫn cá nhân của vị đại lama này. Rồi tôi cầu thỉnh và nhận lãnh từ Jampel Dorje những giáo lý chi tiết về sự không tách lìa của thực hành thiền shamatha (chỉ) và thiền vipashyana (quán). Tôi áp dụng những giáo huấn Kim Cương thừa về thiền định này trong kiểu mẫu Đại Ấn, theo Dòng Thực Hành. Sự thực hành này gồm bốn yoga nổi tiếng của Đại Ấn – nhất tâm, đơn giản, một vị và siêu vượt khỏi thiền định – chúng được soi sáng hơn trong ba thể thức không-thiền-định, không-tạo-tác (vượt khỏi hành động và không hành động), và không-phóng-dật.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi bắt đầu dần dần nhận ra rằng có lẽ thật khó khăn để thực sự tiến bộ trong thực hành tâm linh mà không có một nền tảng hiểu biết vững chắc những giáo lý tổng quát của kinh và tantra, và đặc biệt là Bồ đề tâm quý báu. Có nói rằng, “Thiền định mà không học thì giống như leo một ngọn núi mà không có đôi mắt ; học mà không thiền định thì giống như cố gắng leo một ngọn núi mà không có tay và chân.” Rigdzin Jampel Dorje chấp nhận. Thế nên tôi bắt đầu học với một vị khenpo quan trọng ở tu viện, một giáo sư tu viện trưởng uyên bác và thành tựu tâm linh. Tôi phải học và tụng đọc thuộc lòng vô số lời cầu nguyện, sadhana, kinh văn và bình giải trước chúng hội – một công việc khổng lồ.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi nghiên cứu ba lời nguyện của ba thừa, gồm những lời nguyện pratimoksha hay những lời nguyện giải thoát cá nhân từ Luật, những cam kết bồ tát và những samaya Mật thừa. Tôi nghiên cứu Bồ tát hạnh của đạo sư Đại thừa Ấn Độ Shantideva, những giáo lý Bồ đề tâm về tu hành tâm thức (sự chuyển hóa thái độ), của Atisha và rất nhiều giáo lý tương đối và tổng quát của Phật pháp, theo những kinh điển và bình giải của truyền thống Phật giáo. Tôi nhớ Mười Ba Đại Bản Văn. Về sau tôi nghiên cứu sâu về triết học Trung Đạo của Nargarjuna, biện chứng Trung Quán, ngữ nguyên học, luận lý, văn học Bát Nhã ba la mật, Năm Trang Hoàng của Asanga, A tỳ đạt ma câu xá của Vasubandhu và v.v… Cuối cùng tôi nghiên cứu toàn bộ Ba Tạng, gồm trong toàn bộ Tây Tạng gọi là Kangyur trong một trăm lẻ tám bộ lớn, cũng như những luận giải chi tiết của các pháp sư Ấn và Tạng trong một toàn bộ còn lớn hơn là Tangyur. Theo cách này, phối hợp với thực hành, tôi thông thạo ba thừa, gồm kinh và tantra – tất cả những giáo lý của đức Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Được phấn khích mạnh mẽ, tôi theo đuổi sự tu hành học giả này một cách cần cù. Dưới đạo sư phi thường Rigdzin Jampel Dorje và khenpo của tôi, tôi trải qua mười hai năm acharya hay tu học khenpo theo đúng truyền thống phối hợp với thiền định và hành thiền của Dòng Thực Hành Rimé không bộ phái, cho đến năm hai mươi bốn tuổi. Tôi nghiên cứu mọi giáo lý cần thiết để trở thành một khenpo, một tu viện trưởng và một giáo sư và đảm nhận mọi thực hành Đại thừa và Kim Cương thừa và những nhập thất trong đơn độc để thực hiện chúng. Tôi còn nhớ tôi là một chú bé nhỏ con và đơn độc, trong một vùng tôi không quen biết một ai, và người ta thường giễu cợt tôi như thế nào. Tôi cũng nhớ một cách biết ơn lòng tốt khó tin và sự rộng lượng hào phóng của vị thầy vô ngã của tôi khi tôi theo đuổi tất cả những học hành và tu tập này trải hơn mười hai năm.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>NHẬN NHỮNG GIÁO HUẤN CỐT LÕI</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Khi tôi mười tám, tôi nhận lãnh những giáo lý sâu xa và độc nhất, bí mật về bản tánh chính yếu của tâm, những giáo huấn cốt lõi của Longchen Nyingthig, tinh túy tâm yếu của những giáo lý Đại Toàn Thiện. Tôi đã nhận những giáo lý biệt truyền quý báu này về cái thấy, thiền định và hành động của Đại Toàn Thiện từ tái sanh (tulku) của guru của bà nội tôi – những giáo lý làm rõ nghĩa tối hậu của Phật Pháp và của rigpa, tâm Phật bẩm sanh, theo sự sắp xếp nền tảng, con đường và quả, một bộ ba được xem là một và không thể phân chia. Tôi sớm đạt được niềm tin không lay chuyển bên trong và sự xác tín về Đại Toàn Thiện tự nhiên này, những giáo lý bất nhị của Đại Toàn Thiện về tánh thanh tịnh bổn nhiên và sự hiện tiền tự nhiên hiện thân trong những thực hành Trekchod – Cắt Đứt, và Togal – Siêu Xuất.</p>
<p style="text-align: justify;">Nyoshul Lungtok Tenpai Nyima, người nối pháp của Patrul Rinpoche, đã chết những năm trước đó. Tái sanh tulku của ngài đã sanh lại, lên ngôi và được các đệ tử của vị đời trước gồm cả Khenpo Ngakga dạy dỗ. Chính vị tulku này, pháp danh là Nyoshul Lungtok Tenpai Nyima, đã đưa tôi vào bản tánh của tâm thức khi trao truyền những giáo lý này. Ngài là guru gốc của tôi. Tôi nhận pháp danh từ ngài và từ tu viện Nyoshul nơi chúng tôi sống với nhau, trong một quận ngoại ô vùng đại tu viện Kathok của Nyingma. Từ những lama này tôi thừa hưởng tất cả những giáo lý của Longchenpa và Jigme Lingpa. Tôi nhớ toàn bộ Bảy Kho Tàng của Longchenpa, cũng như hai bộ ba nổi tiếng của Longchenpa là Bộ Ba của Giải Thoát Tự Nhiên và Bộ Ba của Tự Do Bổn Nhiên của Tâm và Yonten Dzod, Kho Tàng của Những Phẩm Tính Giác Ngộ của Jigme Lingpa, giải nghĩa tất cả chín thừa theo truyền thống Nyingma của Phật pháp. Tôi hoàn toàn hạnh phúc.</p>
<p style="text-align: justify;">Tulku Shedrup Tenpai Nyima trao truyền cho tôi Nyengyud Men Ngag Chenmo, những giáo huấn cốt lõi nói nhỏ bên tai của Đại Toàn Thiện. Tulku Shedrup Tenpai Nyima là đệ tử chính của Khenpo Ngakga vĩ đại : Ngakgi Wangpo, một đạo sư Đại Toàn Thiện trí huệ-điên cuồng còn nổi tiếng đến ngày nay – một đạo sư Togal thấu suốt và là một hiện thân của tổ Đại Toàn Thiện Ấn Độ Vimalamitra. Khi tôi còn rất nhỏ, tôi đã gặp Khenpo Ngakga và nhận vài trao truyền từ ngài. Tôi còn quá nhỏ để học hỏi thực sự sâu xa với ngài Khenpo Ngakga, thế nên tôi dần dần nhận riêng những giáo lý của ngài Khenpo Ngakga từ Nyoshul Lungtok Shedrup Tenpai Nyima.</p>
<p style="text-align: justify;">Khenpo Ngakga có một phương cách uy nghi và sự lôi cuốn phi thường, một sự hiện diện khó tin nổi. Chỉ đi vào phòng ngài là những tư tưởng và ý niệm chấp ngã của người ta dừng lặng, mở ra cảnh giới trống trải vô ngã của rigpa một cách không cố gắng. Dù tôi chỉ là một đứa trẻ, tôi cũng còn nhớ lại đầy biết ơn thời kỳ đó, “Sự hiện diện đích thực của một đạo sư Phật giáo chân thật thực sự là thế ấy. Ai cũng hoàn toàn kinh ngạc và cảm ứng bởi sự rực rỡ tự nhiên và sự tinh thông tâm linh như vậy. Phước đức làm sao khi gặp một vị Phật sống ngay nơi thế gian này !”</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài Khenpo Ngakga nổi tiếng nhiều vì nhiều lý do. Một lần ngài ngồi ba năm trên đệm thiền, không đi đâu cả. Khi vị đại lama này làm một cuộc nhập thất ba năm, ngài ở trong trạng thái trong vắt của rigpa gọi là zangtal suốt cả thời kỳ ; không ai có thể thấy một cái bóng in xuống từ thân ngài trong suốt ba năm. Điều này tuyệt đối chân thật.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Khenpo Ngakga đang trong thiền định, vào những ngày tốt lành như ngày mồng mười mỗi tháng – ngày mỗi tháng của Guru Rinpoche, và ngày mười lăm – ngày trăng tròn, tám dấu hiệu xuất hiện trên thân ngài Ngakga, bởi vì thân ngài là hóa thân, sắc thân thực sự, sự biểu lộ trên trái đất của một vị Phật. Khenpo Ngakga có những phẩm tính không thể nghĩ bàn như vậy đến mức mà phẩm tính nào nghe ra cũng khó tin, nhưng có nhiều lama là đệ tử của ngài đã thành tựu giác ngộ hết lời ca tụng ngài. Jatral Rinpoche và Bairo Tulku Rinpoche ở Nepal là những đệ tử vĩ đại còn sống hiện giờ của Khenpo Ngakga.</p>
<p style="text-align: justify;">Truyền thống Đại Toàn Thiện nói rằng mỗi một trăm năm một đại sư giác ngộ của Đại Toàn Thiện xuất sanh từ trái tim của Vimalamitra để làm việc cho ý định của Phật trong thế giới này. Trong thế kỷ mười chín, đó là Jamyang Khyentse Wangpo, và trong thế hệ vừa rồi đó là Khenpo Ngakga. Khenpo Ngakga có hàng ngàn đệ tử chứng ngộ, nhưng Nyoshul Lingtok Shedrup Tenpai Nyima, guru gốc của tôi là người kế pháp của ngài, người nắm giữ những giáo huấn cốt lõi của Đại Toàn Thiện đặc biệt gọi là Nyengyud Men Ngag Chenmo, Dòng Những Giáo Huấn Cốt Lõi Truyền Tải về Tinh Túy Tâm Yếu. Đấy là dòng và giáo lý đặc biệt của tôi, giáo lý thể nghiệm (nyongtri) căn cứ vào những giáo huấn cốt lõi truyền tai của Nyingthig, tinh túy tâm yếu của Longchenpa và Jigme Lingpa toàn giác, cốt tủy của Đại Toàn Thiện vốn sẵn đủ, Dzochen. Đây là một dòng truyền thừa chỉ nói thầm cho một đệ tử vào một thời gian nào, không bao giờ cho đám đông. Nó được xem là cực kỳ hiếm có và quý báu. Tôi cũng truyền nó cho rất ít lama đệ tử thân thiết riêng tư.</p>
<p style="text-align: justify;">Những vị nắm giữ dòng và những đạo sư của giáo lý đặc biệt này đều đã giác ngộ, là những thành tựu giả triệt ngộ với những phẩm tính tâm linh không thể nghĩ bàn, nhưng những lama ngày nay như tôi chỉ là một cái bóng của những thiên thể sáng ngời tâm linh ấy. Những đạo sư thân thể ánh sáng cầu vòng ấy không dọi bóng ; ngày nay những người thân thể khuyết điểm như Nyoshul Khenpo tự cho là trao truyền giáo lý siêu việt ấy – vô lý biết bao ! Thuốc trường sanh của những giáo huấn cốt lõi để giải thoát trong dòng độc nhất này giống như hơi thở tươi mát của của những dakini trí huệ. Tiếng rống sư tử của Pháp đã được tuyên bày bởi những yogi như những sư tử tuyết vĩ đại trong đất nước Tây Tạng từ hàng ngàn năm nay, nhưng ngày nay chỉ có vài con chó như Nyoshul Khenpo đang sủa. Và không chỉ có vậy, họ đang đi đây đi đó đến mọi nước trong thế giới, sủa, ăn thức ăn của những người khác, làm rầm rĩ không biết hổ thẹn – đáng nực cười quá chừng !</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi đã ở vài năm tại tu viện Kathok, một trong sáu tu viện chính của phái Nyingma. Trong tiếng Tây Tạng Kathok được gọi là Kathok Dorje Den, nghĩa là Kathok Bodhgaya hay Kathok tòa kim cương của giác ngộ. Ngôi chùa đã bảy trăm năm ở Kham này nổi tiếng như Bodhgaya thứ hai. Kể lại rằng một trăm ngàn yogi đã đạt được thân thể cầu vồng ở đó. Một câu chuyện khác nhắc đến màu trời vàng thần thoại của Kathok, nơi nhiều vị tỳ kheo sống đến nỗi bầu trời thường trực phản chiếu màu vàng sáng của y các ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở Kathok những lama của tôi gồm mười hai đại tulku ; tám khenpo thành tựu tâm linh và uyên bác, những khenpo (khác với nhiều vị ngày nay) biết mọi thứ và nhớ toàn bộ đại tạng Kangyur và nhiều bình giải ; và năm lama giác ngộ không phải là tulku cũng không là khenpo, nhưng đã thành tựu những chứng đắc lớn lao qua nỗ lực tâm linh, trong khi vẫn là những hành giả tầm thường và là những cột trụ vững chắc của tăng đoàn.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi nhận sự trao truyền giáo huấn cốt lõi từ Tulku Shedrup Tenpai Nyima, tôi làm một năm ẩn tu trong hang, thực hành tummo, yoga nội nhiệt bí mật, và tập trung vào những giáo lý cốt lõi truyền tai này. Tôi còn tiếp tục theo đuổi việc học cho đến giữa những năm hai mươi. Tôi thực hành tummo trong nơi hoang dã đầy tuyết cho đến khi tuyết chảy tan quanh tôi. Trong thời kỳ thực hành mãnh liệt khác tôi sống một thời gian như một con thú hoang trong rừng sâu tự do thực hành rushen, những thực hành sơ khởi của Đại Toàn Thiện, với vài yogi khác dưới sự hướng dẫn của guru. Tôi còn nhớ việc sống tự do và buông xả như thế nào, vượt khỏi mọi câu thúc ý niệm và quy ước xã hội – giống như những đại thành tựu giả của thời xưa ! Đó là một thời kỳ tuyệt diệu của thực hành tâm linh. Emaho !</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi thực hành những sadhana Bát Nhã ba la mật đa thuộc Mật thừa gọi là Chošd hay Cắt Đứt Bản Ngã, thiền định suốt đêm trong những nghĩa địa khủng khiếp, hiến thân cho những hồn ma đói khát và những chủ nợ về nghiệp. Những thời kỳ khác tôi dùng để thiền định một mình trên những đỉnh núi đầy gió và trong những hang động đã được những đại sư ngày xưa làm phép để dùng, hay hành hương đến những cảnh trí thiêng liêng và những thung lũng giống như Shangri-la nơi các vị tổ nam và nữ của Phật giáo Kim Cương thừa đã thiền định, ở đó tôi làm những lễ cúng và những hoạt động công đức. Tôi hoàn thành sự tu tập Sáu Yoga của Naropa và Đại Ấn theo hệ thống Kagyu, cũng như Lamdray của phái Sakya – Con Đường và Quả, và Korday Yermay – sự Không Tách Lìa của Sanh tử và Niết bàn, và tantra anuttara yoga Kalachakra. Lama của tôi biết rằng tôi đã hoàn thành những thực hành khác nhau này, gặp gỡ những hóa thần bổn tôn ; và nhận những ban phước, trao truyền và quán đảnh trực tiếp từ các vị ấy, giống như những đạo sư gốc của dòng phái trong thời trước.</p>
<p style="text-align: justify;">Rồi tôi du hành, nhận những giáo lý và những trao truyền từ mười hai vị đạo sư giác ngộ khác từ mọi truyền thống và dòng phái khác nhau có ở Tây Tạng. Những vị đạo sư này tôi xem là những lama gốc của tôi. Lúc đó tôi biết tôi tìm kiếm cái gì và tìm ra nó ở đâu. Tôi thực hành và hoàn thành những giáo lý này, như thế trở thành một lama Rimé không bộ phái, kẻ thừa kế mọi giáo lý thiêng liêng của Tám Cỗ Xe Lớn của Phật giáo Tây Tạng, chúng hiện giờ được xếp vào bốn phái chính : Nyingma, Kagyu, Sakya và Gelug.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>ĐI KHỎI TÂY TẠNG</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Những người đồng tu và tôi phải đi khỏi Tây Tạng vào năm 1959. Sự thực hành tôn giáo vào những năm sáu mươi, bảy mươi được xem là chống phá chính trị. Tôi mất tiếp xúc với những người ở lại, kể cả những dấu vết của gia đình tôi. Tôi chỉ tái hợp với những anh chị em còn sống vào một chuyến viếng thăm miền đông Tây Tạng vào năm 1992.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở Ấn Độ, tôi đã thỉnh cầu và nhận được những giáo lý và trao truyền đầy đủ từ những vị đại đạo sư, gồm vị nhiếp chính của Padmasambhava tái sanh là đức Dudjom Rinpoche ; Dilgo Khyentse Rinpoche – hiện thân của Văn Thù và vị Phật sống, đức Gyalwa Karmapa thứ mười sáu. Về sau, những vị lama này, cũng như những vị khác Tai Situ Rinpoche, Pema Norbu Rinpoche, Sakya Trichen, và Dzigchen Rinpoche yêu cầu tôi làm Khenpo hay giáo sư tại các tu viện của ngài, để giáo dục tăng chúng và huấn luyện để thành khenpo trong các trường.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi vẫn cầu nguyện thường xuyên đến hai mươi lăm đạo sư gốc này, các vị đã cho tôi mọi sự tôi biết và tôi có. Cho dù người ta biết hàng trăm ngàn người tuyệt hảo – hay hàng trăm ngàn người xấu – thì tsawai lama hay guru gốc của mình vẫn là người quan trọng nhất trong cuộc đời. Thật ra, cái thực sự làm tôi kinh ngạc nhất không phải là các vị thầy của tôi, mà là giáo lý của Đại Toàn Thiện tự nhiên, Dzogchen : đó thật là sự lạ lùng kỳ diệu, thần tình và không thể quan niệm nhất trong kinh nghiệm của tôi, và là cái tôi biết ơn nhất. Tôi không thể diễn bày nổi sự biết ơn đối với các vị thầy, các vị đã ban cho tôi những giáo lý. Tôi cố gắng làm tất cả những gì tôi có thể để đền đáp lòng tốt của các ngài bằng cách truyền nó cho những người khác, bất cứ nơi nào tôi đã ở. Vì tôi thực sự tin rằng chính cái này, và chỉ cái này là lợi lạc sâu thẳm nhất.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi đã sống ở Ấn Độ một mình hai mươi lăm năm, không gom chứa vật gì, chỉ là một người già đơn độc, đôi khi đi dạo quanh với y áo kiểu lama Tây Tạng màu đỏ, đôi khi trong màu vàng cam hay màu vàng khất sĩ hay chỉ là những mảnh vải quấn. Đôi khi tôi thuyết pháp trong những tu viện. Tôi cũng có khi ở với những nhà khất sĩ ở Rishikesh và Haridwar, dọc sông Hằng, trong các tự viện, lều, mái che, dưới những tàng cây, bất cứ chỗ nào khi đêm xuống. Biết bao kinh nghiệm khác nhau như mộng ! Đôi khi tôi được tán dương và hoàn toàn thoải mái tiện nghi, thường hơn tôi bị bỏ quên và nghèo đói. Tuy nhiên sự giàu có vô cùng của chân lý và bình an bên trong chính là Pháp, nó luôn luôn nâng đỡ tôi sống hạnh phúc. Đôi khi tôi làm lễ quán đảnh cho những hội chúng lớn, gồm mười hai vị tulku và lama, nơi đó các vị để một cái bình vàng của lễ nhập môn vào tay tôi và tôi đặt nó lên đầu của hàng ngàn vị sư. Những khi khác tôi hoàn toàn nghèo khó, sống bằng tay nuôi miệng trên những con đường của Calcutta, lang thang lòng vòng ngửa tay xin đồng xu. Quá nhiều thăng trầm không ngờ nổi, ai có thể diễn tả cho hết ? Đời sống là như vậy, đầy những quanh co khúc khuỷu không mong đợi – như huyễn, vô thường, không chủ định, và không vững bền. Và cuối cùng, tất cả chúng ta đều chết. Thật là một quang cảnh !</p>
<p style="text-align: justify;">Quá nhiều những trải nghiệm, ký ức, và suy tưởng khác nhau – một số tốt và một số xấu – như nhiều loại giấc mộng khác nhau. Một đêm năm 1959 tôi cùng với bảy mươi người thoát khỏi Tây Tạng, và một vài ngàn binh lính ngoại quốc ở trên những ngọn núi chung quanh, tìm kiếm những người trốn thoát trong đêm tối. Quân lính thình lình khai hỏa, và đạn súng máy và đạn sáng khắp nơi. Bảy mươi người trong đoàn, chỉ tìm thấy lại năm người còn sống qua ngày sau. Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra cho số còn lại. Nhóm năm người chúng tôi tiếp tục đi bộ qua Hy Mã Lạp Sơn, Bhutan, Darjeeling, và Kalimpong – nơi nào có thức ăn, chỗ ở, và an toàn có thể tìm thấy.</p>
<p style="text-align: justify;">Rồi tôi sống nơi vùng thấp nhiều năm như một người tỵ nạn, lưu đày khỏi xứ Tuyết, chen chúc với những người khác trong những trại tỵ nạn đông đặc, những chuyến xe lửa ẩm thấp, xin thức ăn trong những đường xá nóng bức và bụi bặm Ấn Độ. Vài năm sau tôi không ngờ lại thấy mình vượt qua đại dương trong những chiếc phản lực khổng lồ, lên xuống dọc chiều dài của những ngôi nhà chọc trời như cây kim vĩ đại trong những thang máy điều hòa không khí ở những đô thị lớn của thế giới hiện đại, ngủ trong những khách sạn lớn trên nệm dày của những căn phòng hiện đại, ăn trong những nhà hàng và những hàng hiên ngập nắng, được phục vụ như một ông vua.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong những năm đầu thập niên bảy mươi, tôi bị một cơn bệnh suýt chết. Một số người nghĩ rằng tôi bị trúng độc trong một hiệu ăn ở Kalimpong. Hệ thống thần kinh của tôi bị tê liệt ; tôi hoàn toàn là một phế nhân trong vài năm. Trước đó, tôi đã ban những giáo lý rộng và sâu và những quán đảnh cho nhiều người, gồm những nhà sư, lama, tulku và cư sĩ khắp vùng Hy Mã Lạp Sơn. Sau đó tôi không thể thấy rõ, đi khập khiểng, tay run, và tôi chờ chết. Trong thời gian khó khăn ấy, tôi được chăm sóc trong tu viện của Kangyur Rinpoche ở Darjeeling. Kangyur Rinpoche và gia đình ngài đã chăm sóc ân cần cho tôi. Tôi luôn luôn nghĩ đến họ với lòng biết ơn và kính trọng sâu xa. Lama Sonam Tobgyal từ chùa Riwoché là thị giả tin cẩn của tôi trong sáu năm của thời kỳ ấy, ở Ấn Độ và sau này ở Châu Âu.</p>
<p style="text-align: justify;">Thời gian sau tôi được đưa đến Thụy Sĩ để chữa thuốc. Tôi ở hai năm với những người Tây Tạng theo tôi trong cộng đồng Tây Tạng ở đấy, rồi bảy đến tám năm ngơi nghỉ trong trung tâm Nyingma ở thung lũng Dordogne miền tây nam nước Pháp, chỉ thỉnh thoảng mới dạy. Trong bốn năm tôi ở và dạy trong trung tâm ẩn cư ba năm Chantelouse ở đó cho đến năm 1984.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì lúc ấy sức khỏe tôi được cải thiện và tôi hoạt động hơn, đi dạy khắp thế giới, cả Đông lẫn Tây, được những trung tâm của nhiều dòng phái khác nhau mời đến. Tôi có hai cuộc viếng thăm Tây Tạng : một lần với đức Khyentse Rinpoche và một đoàn tùy tùng năm 1990, và rồi với Penor Rinpoche năm 1992, khi tôi gặp những thành viên gia đình còn ở đây. Tôi hiện giờ đang làm việc để trùng tu ba tu viện của tôi và xây dựng vài bệnh viện ở Kham. Tôi hiện ở Thimpu, thủ đô của Bhutan, xứ sở Phật giáo độc lập cuối cùng còn lại trong dãy Hy Mã Lạp Sơn.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>NHƯ MỘT GIẤC MỘNG, NHƯ MỘT ẢO ẢNH</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Có phải cuộc đời giống như một cuốn phim hay một giấc mộng, như một chuỗi giấc mộng ở trong ảo ảnh như mộng bao la ? Làm thế nào để nhớ hết những màn khác nhau tất yếu lộ ra từ thời gian từ lúc tôi là một đứa bé tinh quái nhỏ con thất học cho đến bây giờ, khi tôi đã là một người lang thang đã già và lắm mồm với tóc bạc, kiếng lão và nếp nhăn ? Thật là một điều lạ lùng ! Già và còng. Một cảnh tượng ! Một du khách Tây Tạng đã già, mờ mắt nhìn ngó chung quanh ở những miền đất ngoại quốc ! Emaho ! Lạ lùng ! Kỳ diệu !</p>
<p style="text-align: justify;">Làm sao để giải thích những thất thường vô cùng của trải nghiệm, trừ phi xem tất cả là những công việc của luật nhân quả nghiệp báo không sai chạy ? Và ai tạo ra nghiệp này, ngoài chính chúng ta ? Khi chúng ta nhận thức rằng chúng ta tạo ra nghiệp của chính mình, và do đó chịu trách nhiệm về sự trải nghiệm riêng của chúng ta, tốt lẫn xấu, ưng ý và không ưng, có phải cái nhìn soi suốt này giải phóng chúng ta khỏi bực tức và thất vọng, thấm nhuần một ý nghĩa của tự do và trách nhiệm, cũng như lòng từ bi đối với những ai khổ đau vì thiếu vắng một tỉnh giác như thế ?</p>
<p style="text-align: justify;">Hẳn là chẳng có ý nghĩa gì với tôi khi nói về cuộc đời này, nhưng nó nhắc lại cho tôi tất cả giáo pháp thiêng liêng mà tôi đã thọ hưởng – một nguyên nhân đích thực cho sựï hưởng thụ trong những màn ồn náo rộn ràng này. Pháp đến trong nhiều hình thức, nhưng tất cả đều có một vị đơn nhất của bình an<br />
vĩ đại.</p>
<p style="text-align: justify;">Thật ra tôi chỉ là một con người tầm thường ; sự quan tâm duy nhất của tôi là phụng sự, giúp đỡ những người khác và phụ vào việc duy trì truyền bá Pháp. Tuyệt đối tôi không có công việc đăïc biệt nào để làm, nhưng tôi cảm thấy bởi vì Phật giáo đã giúp tôi quá nhiều trong cuộc đời này, nên tôi rất sung sướng khi giúp đỡ bằng cách đưa chính kinh nghiệm của tôi cho bất kỳ ai thích thú với Pháp. Tôi hy vọng trong tương lai, Pháp cao cả, những giáo lý giải thoát, sẽ nở rộ và làm lợi lạc cho mọi người dù họ là ai ở bất kỳ nơi đâu. Tôi không phải là một dịch giả, nên tôi không thể nói với người Tây phương trong ngôn ngữ của họ ; tôi chỉ cố gắng trình bày Pháp trong mọi cách tốt nhất mà tôi có thể làm.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi vui sướng khi thấy nhiều người Tây phương cũng cảm xúc khi thấy Pháp là lợi lạc, quan trọng và thâït sự ơn ích như thế nào. Đó là cái duy nhất mà tôi thực sự biết trong cuộc đời : những công đức tuyệt vời của Phật pháp. Bởi thế tôi cũng hoan hỷ thấy rằng người khác cũng cảm nhận như thế, và tôi biết rằng nếu họ áp dụng nó trong thực hành cụ thể, với sự soi chiếu vào trong, họ sẽ có thể rút ra lợi lạc từ những giáo lý sâu xa và ý nghĩa này. Không vĩ đại sao khi thấu hiểu cái Tự Biết độc nhất, trị bá bệnh này nó giải thoát và giải phóng mỗi một và tất cả, thay vì cứ tiếp tục trong sự theo đuổi không cùng vô tận những hình thức của cái biết, mà không có cái nào trong ấy có lợi lạc tối hậu cho mình và cho người ?</p>
<p style="text-align: justify;">Ngay trên những ga xe điện ngầm ở Paris và London tôi đã thấy những người – họ không phải là Phật tử – mà những khả năng tâm linh đã sắc bén để có thể làm cho họ trực tiếp nắm lấy nội dung chân thật của Pháp bất nhị, nếu họ chỉ cần được giới thiệu với nó bởi một vị thầy đủ phẩm chất. Khi giây phút của Đại Toàn Thiện xảy tới, à, nó đấy ! Đó không phải là vấn đề văn hóa hay nghiên cứu ; mà là hấp lực tâm linh và sự chín thành nghiệp quả của mỗi người.</p>
<p style="text-align: justify;">Những ngày hôm nay tôi phấn khởi được gặp các người thực hành Pháp của Tây phương, họ thành thực tìm kiếm hiểu biết kinh nghiệm đích thực và không bằng lòng với chỉ những nhạt nhẽo vô vị và sự kiện tôn giáo bên ngoài. Đấy là những người mong muốn và thiết tha phóng mình sâu vào trong chính họ, để học và hành những giáo lý, thậm chí làm những việc hy sinh, để nỗ lực trong sự trau dồi tỉnh giác tâm linh. Chẳng phải là Pháp ở khắp mọi nơi sao ? Chẳng phải là không có nơi nào khác để tìm kiếm và thấy ra nó, chỉ trừ trong chính mình, trong tâm và lòng của chính mình sao ?</p>
<p style="text-align: justify;">Như terma sadhana tối thượng Longchen Nyingthig Guru Yoga, Tigle Gyachen của Jigme Lingpa bắt đầu với :</p>
<p style="text-align: justify;">Không chư Phật không chúng sanh, vượt khỏi có và không có,<br />
Bản thân tánh giác bổn nhiên là guru tuyệt đối, chân lý tuyệt đối.<br />
Bằng cách an trụ tự nhiên, vượt ngoài bám trước, trong Bồ đề tâm vốn sẵn tự do và bẩm sinh toàn thiện này,</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi quy y và làm lộ bày Bồ đề tâm tuyệt đối.</p>
<p style="text-align: justify;">Một Vidhyadhadra hay đạo sư rigpa như Rigdzin Jigme Lingpa đã thực sự chứng ngộ Phật tánh qua con đường Đại Toàn Thiện. Bấy giờ, dù chưa từng học nhiều, bởi vì luân xa trí huệ của ngài nở bừng trọn vẹn, ngài có thể tự phát viết ra những bình giải vô giá, hát những bài ca giác ngộ doha rạng ngời, phát giác những terma quý giá của Longchen Nyingthig bằng sự phát hiện huyền bí, và chỉ dạy rộng rãi, soi sáng con đường chúng ta đi cho tới tận ngày nay, ba thế kỷ sau đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Cá nhân tôi không đạt đến Phật tánh và tôi không biết tôi sẽ ở đâu trong tương lai, trong đời này cũng như trong đời tới. Nhưng đấy thực sự không phải là vấn đề, hoàn toàn không ! Dù gì cái xảy ra, cứ xảy ra. Tuyệt đối không có cái gì để phải quan tâm. Tôi chỉ cảm thấy biết ơn những vị thầy của tôi, biết ơn giáo lý và biết ơn đức Phật, và tôi mong muốn rằng tất cả đều có thể tham dự vào nguồn ban phước này, những công đức này, nó thực sự thuộc về tất cả không trừ một ai. Bởi thế tôi liên tục cầu nguyện rằng tất cả chúng sanh có thể tạo nên sự tiếp xúc, kết hợp tốt lành này, qua bất kỳ phương tiện gì lợi lạc và thích hợp.</p>
<p style="text-align: justify;">Nguyện tất cả chúng sanh thức tỉnh trong ánh sáng của Đại Toàn Thiện vốn sẵn và thực hiện tự do, an bình và mãn nguyện toàn hảo !</p>
<p style="text-align: justify;">Sarva mangalam ! Nguyện mọi sự đều tốt lành toàn thiện, và nguyện hòa bình có trong thế giới này và phổ khắp toàn thể vũ trụ.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguyên tác: Một kẻ lang thang chứng ngộ - </em><em>Một phác họa tiểu sử của </em><em>Nyoshul Khenpo Rinpoche</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Trích dịch từ cuốn Đại Toàn Thiện tự nhiên  - </em><em>Nguyễn An Cư dịch - </em><em>N.X.B Thiện Tri Thức, 1999</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em> </em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/tieu-su-ngan-dao-su-nyoshul-khenpo-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Đức Zhichen Ontrul Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/tieu-su-duc-zhichen-ontrul-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/tieu-su-duc-zhichen-ontrul-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 06 Sep 2015 07:49:15 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kathok Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Kathok]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo Sư Kathok Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=4356</guid>
		<description><![CDATA[Ngài được xác chứng là hóa thân của đức Thangton Gyalpo, một trong những hành giả yogi vĩ đại nhất của Tây Tạng. Trong kiếp trước, Ngài là một trong những đạo sư đứng đầu dòng Nyingma Kathok có trụ xứ tại chùa Zhichen cũng chính là ngôi chùa cha tôi ở. Sau khi hoàn thành xong chương trình giáo&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/tieu-su-duc-zhichen-ontrul-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Ngài được xác chứng là hóa thân của đức Thangton Gyalpo, một trong những hành giả yogi vĩ đại nhất của Tây Tạng. Trong kiếp trước, Ngài là một trong những đạo sư đứng đầu dòng Nyingma Kathok có trụ xứ tại chùa Zhichen cũng chính là ngôi chùa cha tôi ở.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi hoàn thành xong chương trình giáo dục của tự viện năm mười tám tuổi, Ngài phụ trách việc trông nom nhiều ngôi chùa chi phái của ngôi chùa chính Zhichen. Ngài mang trọng trách tìm kiếm hóa thân của Zhichen Vairochana ở Derge và Dzongsar, đồng thời Ngài cũng tìm ra cha tôi với sự giúp đỡ của cố Dzongsar Jamyang Khyentse Rinpoche. Sau này, Ngài là người thực hiện lễ đăng quang cho cha tôi ở chùa Zhichen.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhận thấy rằng việc trông nom chùa chiền cũng chẳng khác nào thế sự tầm thường, Ngài muốn ẩn cư và tìm theo những bậc đạo sư chân thật để tu học đạo pháp. Nhưng mọi người thỉnh cầu Ngài không bỏ trọng trách ở chùa. Ngài bèn quyết định lâm bệnh và nói với chúng đệ tử rằng: "Nếu mọi người không cho ta đi theo con đường đạo pháp, thì sống như thế này với ta thật chẳng ích gì. Tùy các người lựa chọn hoặc để ta đi hoặc ở lại."</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi cho rằng, giống như nhiều bậc thầy giác ngộ khác, Ontrul Rinpoche đã biết được là đất nước Tây Tạng đang sắp lâm nạn nên chẳng có lý do gì để xây dựng thêm chùa chiền làm điều Phật sự. Vì thế, Ngài muốn tiếp tục tu trì Phật đạo để lợi ích chúng hữu tình về mặt đạo tâm hơn là theo phương cách phát triển chùa chiền.</p>
<p style="text-align: justify;">Nơi dừng chân đầu tiên của Ontrul Rinpoche là chốn ẩn cư Baney. Nơi đây, Ngài đi theo đạo sư Choktrul và thụ nhận giáo pháp Changthir của dòng Nyingma. Sau khi ở đây một vài năm, Ngài nghe đến danh tiếng của Ngài Shugchung Tsullo, một trong những vị đạo sư vĩ đại nhất hồi cuối thế kỷ thứ XIX. Và Ngài quyết định tìm đến giáo pháp của Shugchung Tsullo.</p>
<p style="text-align: justify;">Ontrul Rinpoche thụ trì pháp tu Dzogchen siêu việt cùng những giáo pháp căn bản của cả ba thừa với Shugchung Tsullo trong suốt mười tám năm. Ngay sau cuối buổi lễ quán đỉnh siêu việt về Đại Thiền Kiến Dzogchen, Shugchung Tsullo ấn chứng Ngài là đạo sư của dòng phái và cho phép Ngài truyền dạy cho bất cứ ai tìm học. Nhưng Ontrul Rinpoche không rời xa chốn ẩn cư của đạo sư Shugchung cho tới khi đạo sư viên tịch.</p>
<p style="text-align: justify;">Shugchung Tsullo là một trong những trưởng dòng chính của dòng Do Drupchen và Changthir. Ngài không những là một học giả uyên bác mà một là một đạo sư Dzogchen giác ngộ; về phương diện bí mật, Ngài còn là một Bậc Khám Phá Kho Tàng mặc dù bên ngoài Ngài thường không tỏ lộ những phẩm chất của mình. Ontrul Rinpoche nhớ lại vào trước ngày Đạo sư Shugchung Tsullo viên tịch, khi ấy xảy ra một cuộc tranh cãi nội bộ giữa cháu gái của đạo sư với tăng chúng đệ tử. Sau khi nghe thuật lại sự việc, Đạo sư thấy rằng: "Ta đã truyền dạy giáo pháp hơn ba mươi năm, vậy mà giáo pháp của ta chẳng giúp ích gì được cho những người này, ngay cả những người của ta còn không thể sống trong lục hòa thì sống tiếp còn ích gì nữa đây."Thế là Shugchung Tsullo ‘lâm’ bệnh đúng vào đêm xảy ra cuộc cãi vã. Ngày hôm sau, đạo sư an nhiên thị tịch trong tư thế thiền định. Sau đó, Đạo sư an trú sáu tuần trong thiền định, hương thơm kỳ diệu tỏa ra từ nhục thân của Ngài tràn ngập khắp không gian với bán kính một cây số. Ngay khi đạo sư vừa xuất định, đại chúng đã thỉnh cầu Ontrul Rinpoche đảm nhiệm lễ trà tỳ.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào đêm diễn ra lễ hỏa táng trà tỳ, Ontrul Rinpoche mộng thấy đạo sư của Ngài đang tự do tự tại cưỡi trên lưng một con ngựa bạch về hướng một ngọn núi cao khổng lồ hình xoáy ốc. Đạo sư bảo với Ngài rằng: "Ta đang đi về phía núi Đồng để hợp nhất với Đức Liên Hoa Sinh. Con cũng sẽ theo chân ta nhưng không phải bây giờ".</p>
<p style="text-align: justify;">Vào đầu những năm 1960, Ontrul Rinpoche tị nạn đến Ấn Độ cùng với chúng đệ tử và nhiều đạo sư khác. Ngài kể lại rằng Ngài vẫn có thể tu tập trên đường sang xứ Ấn mặc dù hoàn cảnh khi đó rất nguy hiểm trong chiến tranh và giữa những làn đạn. Ngài không hề sợ hãi vì Ngài tin tưởng vào sự chỉ dạy của Đạo sư. Song Ngài cũng cảm thương thay cho những sinh linh phải bỏ mạng quá dễ dàng, chẳng hạn như những loài vật bị giết thịt để nuôi những người đói khát và con người thì bị giết hại bởi khí hậu khắc nghiệt và chiến tranh tàn khốc. Đồng thời, qua đây Ontrul Rinpoche cũng phân biệt được trong số đoàn người tị nạn, những hành giả chân chính vẫn an nhiên tự tại và từ bi trước nghịch cảnh với những người không tu đạo chỉ biết sợ hãi và buồn đau trước nỗi đau, mất mát của cải và người thân, trong số những người này, rất nhiều người là Đạo sư trứ danh vào thời gian đó. Vì vậy, thông qua kinh nghiệm này, Ontrul Rinpoche đã có dịp học hỏi từ những bậc thầy chân thật như là tấm gương sáng cho Ngài noi theo suốt quãng đời còn lại và tránh xa những kẻ giả danh tự lộ mặt xấu của mình trước những thử thách.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau này, tại Kalimpong, Ấn Độ, Ontrul Rinpoche thụ quán đỉnh Dzogchen với Ngài Dudjom Rinpoche đời trước và trao đổi đạo pháp với rất nhiều đạo sư Dzogchen chân chính khác. Ngài từng kể với tôi rằng, ngài muốn ở trong chùa của dòng Nyingma. Nhưng hồi đó Ngài không tìm được ở đâu. Do đó, Ngài có ý định nương theo một vị đại trụ trì - đạo sư Dzogchen Polokhen Rinpoche, nhưng rồi Ngài thấy rằng Polochen Rinpoche không có nơi ẩn cư lâu dài nào để Ngài an trú và tu trì. Nên Ngài quyết định ở tại Drepung Gomang vì như Ngài đã nói với tôi: "Nhờ ở chung trong chùa với đại chúng, ta sẽ không gặp những chướng ngại, chẳng hạn như những cám dỗ thế tục trong sự tu hành."</p>
<p style="text-align: justify;">Ontrul Rinpoche an trú tại chùa Drepung Gomang cho đến cuối những năm 1980. Sau đó, khi cha tôi và tôi thỉnh cầu Ngài làm thầy cho tôi, Ngài chuyển tới ngôi chùa của tôi. Nhiều năm sau, Ngài trở lại Tây Tạng để hoàn tất những trọng trách cuối cùng của mình và Ngài đã làm lợi lạc cho rất nhiều người ở đây. Không may thay, sau khi ở Tây Tạng một thời gian ngắn, Ngài viên tịch. Tất cả những người chúng tôi đi theo Ngài đều không có đủ phúc duyên để được lân mẫn bên Ngài lâu hơn.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi cho rằng, hiện giờ Ontrul Rinpoche hẳn là đang ở cõi tịnh độ của Đức Phật A Di Đà bởi vì Ngài luôn chuẩn bị cho việc vãng sinh miền tịnh độ của Phật A Di Đà sau khi từ giã thế giới này. Khi ở bên tôi, đôi khi Ngài đùa vui: "Ta không nghĩ là những vị Dakini ở Núi Đồng sẽ chào đón ta bởi vì ta không phải là một hành giả yogi nên ta sẽ không thể hoàn thành những tâm nguyện của các vị đó được. Bởi vậy, ta cho rằng cõi tịnh độ của Đức Phật A Di Đà sẽ chào đón ta hơn bởi vì ở đó có nhiều chư Tăng và ta có thể hòa hợp hơn". Ngài cũng còn nói rằng: "Một khi ta đã an trú cõi tịnh độ A Di Đà rồi thì viếng thăm Núi Đồng cũng là chuyện dễ dàng." Ontrul Rinpoche không bao giờ tuyên bố những điều tương tự như thế này với mọi người, ngoại trừ tôi và thị giả thân tín nhất của Ngài. Trước lúc viên tịch, Ngài dạy vị thị giả rằng: "Con không phải lo lắng cho ta, ta sắp vãng sinh miền tịnh độ của Đức A Di Đà." Sau đó, Ngài còn dặn dò thêm vài lời với thị giả.</p>
<p class="csscontent" style="text-align: justify;"><a href="http://www.drukpa.org/gurus/ontrul.html" target="_blank">Nguồn: Zhichen Ontrul Rinpoche - Guru, www.drukpa.org</a></p>
<p>http://www.drukpavietnam.org/index.php/phap-vuong-gyalwang-drukpa-xii/thuong-su/25-zhichen-ontrul-rinpoche</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/kathok-nyingma/tieu-su-duc-zhichen-ontrul-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Phụ Thân Tôi &#8211; Ngài Zhichen Bairo Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/phu-than-toi-ngai-zhichen-bairo/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/phu-than-toi-ngai-zhichen-bairo/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 06 Sep 2015 07:34:01 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Kathok Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Kathok]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo Sư Kathok Nyingma]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=4344</guid>
		<description><![CDATA[Ngài Zhichen Bairo Rinpoche Lotsawa Vairochana nổi tiếng là một đại dịch giả giác ngộ và Ngài đã phiên dịch tất cả các giáo pháp Tam Thừa sang tiếng Tạng với tài năng dịch thuật xuất chúng của mình. Trụ xứ chính hay tự viện của cha tôi là Zhichen Kharmar Sangag Tangye Ling ở Gulok, một trong những chi&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/phu-than-toi-ngai-zhichen-bairo/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Zhichen-Bairo-Rinpoche.jpg"><img class="  wp-image-4345 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/Zhichen-Bairo-Rinpoche-250x300.jpg" alt="Zhichen Bairo Rinpoche" width="322" height="386" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Ngài Zhichen Bairo Rinpoche </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Lotsawa Vairochana nổi tiếng là một đại dịch giả giác ngộ và Ngài đã phiên dịch tất cả các giáo pháp Tam Thừa sang tiếng Tạng với tài năng dịch thuật xuất chúng của mình. Trụ xứ chính hay tự viện của cha tôi là Zhichen Kharmar Sangag Tangye Ling ở Gulok, một trong những chi nhánh chính của Kathog Dorje Dhan ở miền đông Tây Tạng. Zhichen gồm khoảng hơn hai mươi tự viện có mặt trên khắp vùng.</p>
<div>
<p style="text-align: justify;">Cha tôi rời xứ Gulok vào khoảng đầu năm 1958 mà không nói cho ai biết mình sẽ đi đâu vì mọi người đều không muốn xa Ngài. Cha tôi kể lại: Ngài biết trước rằng nếu chỉ cứ tiếp tục loanh quanh với những việc thường ngày trong tự viện thì không lợi ích được nhiều. Vì vậy, ông đã rời tự viện, tới Lhasa, xuống biên giới Bhutan từ Lhodrak ở miền nam Tây Tạng quê hương của mẹ tôi. Cha mẹ tôi gặp nhau lần đầu tiên khi mẹ tôi mười chín tuổi. Ba năm sau, họ lại gặp nhau tại Beyul (thung lũng ẩn tàng) là thánh địa của Đạo sư Liên Hoa Sinh nằm trên vùng biên giới giữa Tây Tạng và Bhutan. Tại đây, họ nhập thất trong một vài năm. Tôi được sinh ra trong khoảng thời gian trên đường cha mẹ tôi hành hương về Ấn Độ.</p>
<p style="text-align: justify;">Cha tôi là một bậc Thầy tâm linh cho những ai có duyên pháp với ông. Đối với tôi, được trở thành con trai duy nhất của ông là một món quà tuyệt vời. Tôi yêu quí ông không chỉ vì ông là một người cha mà còn là một người bạn đạo trong mọi giây phút của cuộc đời tôi. Mặc dù phải trải qua vô vàn khó khăn trong những ngày thơ ấu, tôi không bao giờ cảm thấy đơn độc trong đời, và giờ đây tôi hiểu được rằng chính ông là người truyền cho tôi sức mạnh để vượt qua tất cả những giai đoạn khó khăn đó. Tôi cho rằng, không phải bất kỳ ai trong chúng ta cũng có thể nghĩ đến việc trở thành một người cha tốt như cha tôi! Khi tôi còn nhỏ, ông thường sáng kiến làm rất nhiều đồ chơi thú vị từ những đồ đã hỏng như chiếc đồng hồ đeo tay, đài radio, catsette, …Tôi chẳng bao giờ thích những món đồ chơi thương mại khác. Tôi thấy đồ chơi thủ công cha tôi làm thú vị hơn những đồ chơi điện tử đắt tiền kia nhiều. Khi tôi lớn hơn một chút, cha tôi đã dành rất nhiều sức lực, kiên nhẫn hàng giờ liền chơi với tôi, chạy nhảy, chơi bóng, cầu lông, chơi ném đĩa Frisbee và những trò chơi tương tự. Tôi vẫn còn nhớ ông đã làm một con đường ngoằn ngoèo dài gần một cây số trên một quả đồi lớn cạnh nhà tôi và đẩy tôi trên chiếc xe ba bánh suốt ngày lên lên xuống xuống, chơi trò giả vờ đi lên thăm bố mẹ và cùng bố mẹ đi xuống trở về nhà. Ông còn chơi với tôi bất chấp cả những ngày mưa gió. Đẩy tôi trên mặt đường trơn đầy bùn hẳn khó khăn hơn nhiều nên ông nhấc bổng cả tôi lẫn chiếc xe trên tay từ phía sau và cho tôi đi lên lên xuống xuống quả đồi kỳ diệu ấy. Ông còn giả vờ gây tiếng ồn ầm ĩ bắt chước xe tải bốn bánh đang ì ạch leo trên đường dốc đầy bùn lầy. Sau này khi trưởng thành hơn, tôi rất thích ngựa nên ông thường bắt về những con ngựa hoang chưa được thuần phục từ trên núi để cho tôi ngắm nhìn và vuốt ve nó. Đôi khi ông còn đặt tôi ngồi lên lưng ngựa nếu chú ngựa đó không quá to và hung hăng. Cuối cùng, ông mua cho tôi một con ngựa để cưỡi. Ông đã ban tặng cho mọi thứ mà tôi muốn trên đời. Có được một người cha không những là một bậc Thánh mà còn là một người cha giàu lòng thương yêu như ông thật là một vinh hạnh lớn với tôi. Tôi cảm thấy vinh hạnh hơn và rất mãn nguyện khi thấu tỏ được sự thật rằng ông là một người cha tuyệt vời như vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Jamyang Khyentse Chokyi Lodro ấn chứng cha tôi là hóa thân của Vairotsana khi ông lên tám tuổi. Cha tôi sống và tu học ở trụ xứ chính Zhichen Kharmar Sangag Tengye Ling của ông ở Gulok, miền đông Tây Tạng. Tôi cho rằng, ông hẳn đã phải trải qua một thời thơ ấu đầy khó khăn, điều này tôi góp nhặt được từ những câu chuyện kể của ông cùng một số nguồn thông tin khác. Trong suốt tuổi thơ từ lúc cha tôi được ấn chứng là một hóa thân và gửi đến Gulok, ông bà nội tôi cũng như không một thành viên nào trong gia đình ở bên ông. Thực ra, tôi chưa bao giờ nghe thấy một lời phàn nàn nào của ông về thái độ cùng cách cư xử của người khác đối với mình. Ông cũng không hay nói tốt về người khác, tôi nghĩ ông không bận tâm nhiều như chúng ta. Chúng ta nên ghi nhớ rằng những điều này không dễ dàng ảnh hưởng đến nhân cách của ông bởi vì nhân cách của ông đã được tích lũy một cách kỹ càng trong nhiều đời trước khi quyết định chuyển thế vì lợi ích của người khác. Tuy nhiên, là một người con, tôi vẫn cảm thấy thương ông mặc dù giờ đây tôi chẳng thể làm gì cho ông. Thêm nữa, mặc dù ông không bao giờ bình luận gì về những khó khăn khi còn thơ ấu cũng như cuộc sống hạnh phúc về sau này nhưng tôi thực sự thu lượm được rằng: Về sau, với sự hỗ trợ về mặt tinh thần của mẹ tôi và tình yêu chân thật mà cha mẹ tôi dành cho nhau nên cuộc sống của cha tôi đã tràn ngập trong niềm vui và an bình. Từ sâu thẳm trái tim mình, tôi luôn biết ơn mẹ tôi đã yêu thương, cảm thông vun đắp cho gia đình. Tôi cũng xin chia sẻ lòng biết ơn với cha tôi vì đã trân trọng và đánh giá cao điều này. Họ thực sự là một sự hợp nhất hoàn hảo! Đặc biệt, tôi rất coi trọng trí tuệ sâu xa của cha tôi đã phân biệt rõ ràng đâu là cuộc sống chân hạnh phúc, đâu là cuộc sống khổ đau. Không như chúng ta chỉ biết chạy theo những cám dỗ và tự giam mình trong bể khổ, ông biết đặt ra ranh giới để tránh xa mọi cạm bẫy của những cám dỗ thế tục. Tôi cho rằng, đây là một trong rất nhiều đại phương tiện mà ông đã áp dụng để gìn giữ chân hạnh phúc và sự bình an trong gia đình cũng như cho mọi người xung quanh. Mặc dù nổi tiếng là trưởng một dòng truyền thừa quan trọng với hơn hai mươi tự viện gồm hàng nghìn hộ gia đình và tăng chúng, cha tôi thích sống một cuộc đời khiêm cung giản dị không bị ràng buộc vào những tổ chức, những hiệp hội của những chủng tộc, trường phái và tông phái khác nhau. Ông nói rằng: Nếu bị vướng chấp vào những hoạt động này thì cuối cùng sẽ khiến cuộc sống của chính mình và người khác khổ đau: "Đó chính là nguyên nhân gây tích lũy tội nghiệp. Vậy tại sao lại phải bận tâm vướng chấp vào nó? Tốt hơn là nên lo công việc của mình đã."</p>
<p style="text-align: justify;">Cha tôi không bao giờ quan tâm tới danh tiếng của mình. Ưu tiên hàng đầu của ông là tạo dựng một môi trường thân thiện cho tất cả mọi người và tránh không để nó bị những hoàn cảnh tiêu cực tác động. Vì thế, chúng ta không bao giờ thấy ông nói về hiểu biết của mình. Trong thực tế, ông sẽ cho bạn thấy là ông chẳng hề biết gì! Chẳng hạn như, ở Tây Tạng lúc ông còn nhỏ sau khi kết thúc khóa học, cha tôi để lại nhiều dấu bàn tay và bàn chân in trên đá như những dấu hiệu chứng đắc của ông mà tới nay vẫn còn và trở thành thánh tích để những tín đồ hành hương chiêm bái. Tuy nhiên, là con trai ông nhưng tôi chưa bao giờ nghe ông kể một lời nào về việc này cho đến mãi bây giờ. Tôi rất muốn được nghe ông kể về trí tuệ siêu việt của ông và làm thế nào ông có thể in dấu lên đá nhưng mẹ tôi nhắc nhở nhiều lần không được trực tiếp hỏi vì ông không thích bị quấy rầy và muốn giữ bí mật. Tôi hiểu ly do tại sao bởi vì không giống chúng ta, ông không thích khoe khoang và sự nổi tiếng. Không những thế, có lẽ không có nghĩa lí gì khi kể về những điều này vào thời đại hiện nay và khi mà với những người như tôi, ông đơn thuần chỉ là một người cha đáng yêu, đáng kính. Bản thân tôi cũng không cảm thấy thoải mái khi hỏi ông những điều này vì đối với tôi, ông thật lân mẫn ấm áp. Bởi vậy, tôi không nên hỏi thẳng thêm nữa.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhờ sự chứng đắc và lòng từ bi, những ai được gặp và thụ pháp với ông luôn cảm thấy được khích lệ trên con đường đạo pháp và nhất tâm phụng sự vì lợi ích chúng sinh. Tôi thực sự rất ngưỡng mộ ông ở điểm này, vì thế gần đây, tôi thỉnh cầu ông giảng dạy thêm giáo pháp cho tăng ni, Phật tử từ khắp nơi trên thế giới. Ông không nói gì, chỉ cười lớn. Cuối cùng, mẹ tôi kể cha tôi nói rằng ông nhận lời vì tôi đã thỉnh cầu. Giờ đây, đúng là ông dành ra khoảng một tháng mỗi năm để giảng dạy giáo pháp tại trụ xứ mới của ông ở Kathmandu (chùa Zhichen Bairo Ling). Tôi cảm thấy rất hối hận vì đã không thỉnh cầu ông giảng Pháp ngay từ những năm đầu. Thật là một tổn thất! Không một ai trong chúng tôi từng phát tâm thỉnh cầu ông chỉ dạy về chứng ngộ. Thay vào đó, nhiều người chỉ nhờ ông sửa đồng hồ, băng đĩa, radio và những thứ linh tinh khác chỉ bởi vì ông có thể sửa được hầu hết tất cả mọi máy móc bằng tay. Tôi vẫn còn nhớ có lần cha tôi rất thích rửa ảnh. Ông có một vài cái máy tráng phim để thử nghiệm. Dĩ nhiên, mọi người thích nhờ ai đó làm giúp hộ cho mình. Ngày nào ông cũng có việc gì để làm. Mẹ tôi không vui lắm khi thấy ông làm việc dưới ánh sáng quá chói, đeo kính từ và ngồi lâu hàng giờ mỗi ngày nhìn chăm chăm vào cái máy. Bà cho rằng nó sẽ giảm thị lực và hệ thống tuần hoàn của ông. Do đó, bà yêu cầu ông không tiếp tục làm việc này nữa. Thông thường cha tôi sẽ không bao giờ từ bỏ sở thích của mình nhưng biết rằng yêu cầu của mẹ tôi xuất phát từ tình yêu và sự quan tâm chân thành, cha tôi từ bỏ sở thích này trong vòng chỉ một tháng. Kể từ đó, tôi không còn trông thấy những cái máy đó nữa. Hẳn là chúng đã bị hư hỏng do độ ẩm cao của thung lũng Himalaya sau nhiều năm không được dùng đến.</p>
<p style="text-align: justify;">Thực ra còn rất nhiều điều tôi muốn viết hơn nữa nhưng nay xin tạm dừng ở đây.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Chúc các bạn an vui!</strong></p>
<p class="csscontent" style="text-align: justify;"><a href="http://www.drukpa.org/biography/father.html" target="_blank">Nguồn: My father - Zhichen Bairo - Family, www.drukpa.org</a></p>
<p>http://www.drukpavietnam.org/index.php/phap-vuong-gyalwang-drukpa-xii/19-cha-toi-ngai-zhichen-bairo</p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/phu-than-toi-ngai-zhichen-bairo/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
