<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kim Cương Thừa &#187; Đạo sư Sakya</title>
	<atom:link href="https://kimcuongthua.org/category/truyen-thua-sakya/dao-su-sakya/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://kimcuongthua.org</link>
	<description>Vajrayana</description>
	<lastBuildDate>Fri, 17 Apr 2026 16:09:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=4.2.38</generator>
	<item>
		<title>Đại thừa Pháp vương Sakya và lịch sử dòng truyền thừa Sakya</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/dai-thua-phap-vuong-sakya-va-lich-su-dong-truyen-thua-sakya/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/dai-thua-phap-vuong-sakya-va-lich-su-dong-truyen-thua-sakya/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 08 Apr 2022 13:53:04 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Lịch sử chung]]></category>
		<category><![CDATA[Sakya]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Sakya]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=11023</guid>
		<description><![CDATA[Truyền thừa Sakya là một trong bốn truyền thống tâm linh vĩ đại tại Tây Tạng. Truyền thống này đóng một vai trò quan trọng trong sự trì giữ và phát triển giai đoạn tân Tantra vào thế kỷ thứ 11. Truyền thống Sakya được trì giữ và hoằng dương rộng lớn, sản sinh nhiều bậc thánh tăng, Thành tựu&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/dai-thua-phap-vuong-sakya-va-lich-su-dong-truyen-thua-sakya/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Truyền thừa Sakya là một trong bốn truyền thống tâm linh vĩ đại tại Tây Tạng. Truyền thống này đóng một vai trò quan trọng trong sự trì giữ và phát triển giai đoạn tân Tantra vào thế kỷ thứ 11. Truyền thống Sakya được trì giữ và hoằng dương rộng lớn, sản sinh nhiều bậc thánh tăng, Thành tựu giả và học giả vĩ đại. Trong các thế kỷ 13 và 14, những bậc trì giữ truyền thống Sakya đồng thời đảm nhận trọng trách chính trị tại Tây Tạng. Mặc dù địa vị chính trị của truyền thống này giảm dần qua các thế kỷ, nhưng những truyền thống tâm linh siêu việt này vẫn còn được trưởng dưỡng và trì giữ nghiêm mật tới tận ngày nay. Theo sử liệu của dòng Truyền thừa Sakya, sử liệu các vị vua đời Minh, Lịch sử Phật giáo Tạng truyền đời Minh, năm 1413 bậc lãnh đạo Tâm linh dòng Sakya đã đến Nam Kinh theo lời thỉnh cầu của triều Minh, chứng kiến sự thành tựu Pháp, đạo hạnh của ngài, Minh Thành Tổ đã cúng dường ngài danh xưng Đại Thừa Pháp Vương, có nghĩa là “vạn hạnh viên dung diệu pháp tối thắng chân như tuệ trí hoằng từ quảng tế hộ quốc diễn giáo chính giác Đại Thừa Pháp vương Tây thiên thượng thiện kim cương phổ ứng đại quang minh Phật lĩnh thiên hạ Thích giáo”.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Dòng truyền thừa Sakya và các bậc Thượng sư truyền thừa</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Truyền thừa Sakya khởi nguồn từ chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Nguồn giáo pháp quan trọng nhất của truyền thống Sakya truyền thừa từ Yogi vĩ đại người Ấn Độ, Virupa (thế kỷ thứ 9), một trong 84 Đại thành tựu giả và sự thành tựu vi diệu nhất thông qua đạo sư Gayadhara (994 - 1043) tới đệ tử người Tạng là Drokmi Lotsawa Shakya Yeshe (992 - 1072). Đạo sư Drokmi Lotsawa truyền thừa cho đệ tử của mình là Khon Konchok Gyalpo (1034 - 1102), ngài là tổ sư, bậc khai sáng truyền thống Sakya.</p>
<p style="text-align: justify;">Truyền thống Sakya bắt nguồn từ dòng tộc Khon, theo sử liệu của truyền thống Sakya, đây là dòng tộc bắt nguồn từ chư thiên. Khởi đầu từ Thượng sư Khon Konchok Gyalpo (1034 - 1102), bậc khai sáng truyền thống Sakya, dòng truyền thừa vẫn phát triển và được trì giữ nghiêm mật tới tận ngày nay.</p>
<p style="text-align: justify;">Truyền thừa giáo pháp của Đại Thành tựu giả Virupa Ấn Độ vẫn được tiếp tục trì giữ thông qua đạo sư Khon Konchok Gyalpo và tiếp đến xuống Pháp tử của ngài là Sachen Kunga Nyingpo (1092 - 1158). Đạo sư Kunga Nyingpo trong đời đã hiển thị những năng lực và sự thành tựu tâm linh siêu việt, ngài trì giữ các dòng truyền thừa Tantra và Hiển giáo. Ngài có bốn Pháp tử là Kungabar, Sonam Tsemo, Jetsun Dakpa Gyeltsen và Palchen Rinpoche. Sonam Tsemo (1142 - 1182), Pháp tử thứ hai là một đại học giả ngay ở tuổi 16 và ngài có nhiều linh kiến thanh tịnh về các Bản tôn trí tuệ cùng rất nhiều đệ tử thành tựu. Đạo sư Jetsun Dakpa Gyeltsen (1147 - 1216), Pháp tử thứ ba đã hiển thị những năng lực tâm linh ngay từ khi còn trẻ tuổi. Ngay khi 11 tuổi, ngài đã truyền trao quán đỉnh Hỷ Kim cương và trở thành bậc trì giữ chính của dòng truyền thừa Sakya.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm trong số những bậc Long tượng của truyền thống Sakya là bậc Thượng sư trứ danh Sachen Kunga Nyingpo (1092 - 1158), Loppön Sonam Tsemo (1142 - 1182), Jetsun Drakpa Gyaltsen (1147 - 1216), Sakya Pandita (1182 - 1251), và Drogon Chogyal Phagpa (1235 - 1280). Các ngài được tôn kính là năm vị tổ sư của truyền thống Sakya.</p>
<p style="text-align: justify;">Tiếp theo năm vị Tổ sư là Sáu Ornaments của Tây Tạng cũng là những bậc thầy tâm linh nổi tiếng của truyền thống Sakya.</p>
<p style="text-align: justify;">Sáu Tràng hoa của xứ Tạng bao gồm ngài Yakton Sengey Phel và Rongton Sheja Künrig, những luận sư trứ danh Kinh thừa; Thượng sư Ngorchen Kunga Zangpo và Zongpa Kunga Namgyal, hai bậc thông tuệ Mật điển (Tantra); Thượng sư Gorampo Sonam Sengey và Shakya Chogden, hai bậc thông tuệ cả kinh điển và Tantra. Đạo sư Gorampa Sonam Sengey, hoằng dương môn logic trong truyền thống Sakya.</p>
<p style="text-align: justify;">Pháp tử của Palchen Rinpoche là ngài Sakya Pandita Kunga Gyeltsen (1182 - 1251). Ngài là bậc thông tuệ triết học, logic, ngôn ngữ Sanskrit, vũ trụ học, thơ ca, nghệ thuật Phật giáo và triết học của các nhiều truyền thống tôn giáo khác. Ngài đã tham học dưới sự hướng đạo của rất nhiều đạo sư vĩ đại Ấn Độ, Nepal, Kashmiri và Tây Tạng, và trở thành một trong những học giả vĩ đại nhất trong lịch sử Phật giáo Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Các nhánh chính của truyền thừa Sakya</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Không giống như những truyền thống khác của Phật giáo Tạng truyền, một số lượng lớn các nhánh đã phát triển trong truyền thống Sakya. Các truyền thừa giáo pháp dần được các đệ tử thiết lập như đạo sư Ngorchen Kunga Zangpo (1382 - 1457) và các bậc thầy tiếp nối mạch giáo pháp này như ngài Konchok Lhundrup, Thartse Namkha Palsang và Drubkhang Palden Dhondup được biết đến là truyền thừa Ngor. Nhánh truyền thừa này chú trọng nhiều tới truyền thống tự viện và những pháp thực hành giới luật. Truyền thừa từ đạo sư Tsarchen Losel Gyatso (1502 - 1556) là truyền thừa Khẩu truyền Tsar, bao gồm các học thuyết bên ngoài, bên trong, bí mật như Mahakala, Vajrayogini, Dzambala và nhiều Bản tôn khác. Một truyền thống quan trọng nữa là Dzongpa được kiến lập bởi Đạo sư Dzongpa Kuna Namgyal (1432 - 1496). Hình ảnh minh họa cho sự phát triển này là dòng truyền thừa Sakya bắt đầu từ dòng dõi Khon cao quý như một thân cây, các truyền thừa Ngorpa và Tsarpa như những nhánh cây bắt nguồn từ thân cây tỏa ra các phương hướng khác nhau.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kinh điển và giáo pháp của truyền thừa Sakya</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Ngoài dựa trên những giáo pháp Hiển giáo là nền tảng tu tập của truyền thừa, truyền thừa Sakya có nhiều những trước tác của những bậc Thượng sư Sakya, khởi nguồn từ những Đại Thành tựu giả Ấn Độ cũng như những trước tác của các Thượng sư như Sachen Kunga Nyingpo (1092 - 1158), Sonam Tsemo (1142 - 1182), Drakpa Gyeltsen (1147 - 1216), Sakya Pandita Kunga Gyeltsen (1182 - 1251) và Drogon Chogyal Phakpa (1235 - 1280) – Năm vị Tổ sư của truyền thống Sakya - và nhiều thành tựu giả và học giả khác của truyền thống.</p>
<p style="text-align: justify;">Hai trong số những luận sư trứ danh nhất của truyền thống Sakya là Gorampa Sonam Senge (1429 - 1489) và Panchen Shakya Chokden (1428 - 1507). Những trước tác của các đạo sư này bao gồm những luận giảng về Kinh điển Hiển giáo và Mật Tạng đều được tu học trong tất cả các truyền thừa Phật giáo Tạng truyền khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Giáo pháp và nghi quỹ nền tảng của truyền thống Sakya là "Lamdre (Lam/bras)" hay "Đạo và Quả". Về cơ bản, quan điểm triết học thể hiện trong "Đạo và Quả" là sự "Bất khả phân giữa Luân hồi và Niết Bàn”. Theo quan kiến này, dòng tâm thức là căn bản tạo nên Luân hồi hay Niết bàn. Khi bị che chướng, dòng tâm sẽ hiện khởi tướng trạng Luân hồi, và khi không bị vướng mắc bởi những nhiễm ô, dòng tâm sẽ hiện khởi tướng Niết bàn. Mỗi hành giả phải nỗ lực để chứng đắc cảnh giới bất khả phân căn bản này thông qua thiền định.</p>
<p style="text-align: justify;">Lamdre là một trong những pháp thiền định toàn diện nhất và có cấu trúc hệ thống nhất trong truyền thống Kim cương thừa, hợp nhất toàn bộ các thứ lớp tu tập và quả vị của Tantra tối thượng. Xét ở phương diện tuyệt đối, pháp thực hành này cho phép hành giả chứng đạt cảnh giới Bản tôn Hỷ Kim cương (Hevajra), một trong những Bản tôn chính của truyền thống Sakya. Truyền thống giáo pháp thâm diệu này bắt nguồn từ đại Thành tựu giả Ấn Độ Virupa (thế kỷ thứ 9), Đạo sư Avadhutipa, Đạo sư Gayadhara (994 - 1043), và Đạo sư Shakyamitra (một đệ tử của Bồ tát Long Thọ), ngài đã truyền trao giáo pháp xuống đại dịch giả Drokmi Lotsawa. Dòng truyền thừa không gián đoạn của những bậc kim cương thượng sư vẫn tiếp tục được trì giữ nghiêm mật đến ngày nay. Truyền thống giáo pháp Lamdre đã được Đạo sư Muchen Sempa Chenpo, một đệ tử của đạo sư Ngorchen Kunga Sangpo (1382 - 1457) phát triển thành hai nhánh: Thứ nhất: truyền trao riêng cho từng đệ tử thích hợp. Thứ hai, truyền trao cho đại chúng. Kể từ đó, giáo pháp Lamdre lần đầu tiên đã tới miền đất Tuyết và được truyền thừa không gián đoạn qua thế hệ các vị đạo sư tới ngài Sakya Trizin đời thứ 41, bậc trì giữ bảo tòa hiện đời của truyền thống Sakya.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngoài ra truyền thống Sakya cũng thực hành các pháp Kim Cương thừa khác như: Tantra Hỷ Kim cương (Hevajra), Tantra Thắng lạc Kim cương (Chakrasamvara), Mahakala và v.v… Các Đại học tự viên của truyền thừa nghiên cứu Mười tám chính luận như: Kinh Bát nhã, Luận Trung Quán, Vi Diệu Pháp, Logic…</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Trọng trách chính trị của truyền thừa Sakya tại Tây Tạng từ thế kỷ 13 đến cuối thế kỷ 14</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Trọng trách chính trị của truyền thừa Sakya bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ 13. Vào năm 1240 người cháu nội của Thành Cát Tư Hãn là Hoàng tử Godan đã ra lệnh cho quân đội tấn công xứ Tạng. Khi đang tiến hành chiến dịch này, vị hoàng tử đã mong muốn tìm cầu sự hướng đạo của một Đạo sư Phật giáo trứ danh. Một số vị tướng của ông đã gửi thông tin rằng có ba Lạt ma trứ danh tại xứ Tạng. Thượng sư của tự viên Drikhung là những bậc có nhiều bảo vật nhất; Thượng sư của tự viện Taklung hòa hợp nhất; và các Thượng sư tự viện Sakya có năng lực tâm linh nhất. Hoàng tử Godan sau đó đã gửi thư thỉnh mời và phẩm vật cúng dường lên bậc Thượng sư Kunga Gyaltsen, thỉnh cầu ngài tới nơi chốn của mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Đạo sư Kunga Gyaltsen (1182 - 1251) được tôn kính là Sakya Pandita bởi sự thông tuệ về ngôn ngữ Sanskrit, đã chấp nhận lời thỉnh mời này. Ngài rời Sakya vào năm 1244 tới khu vực Kokonor, nơi Hoàng tử Godan cắm trại. Đạo sư Sakya Pandita đã đưa cùng ngài trên hành trình hai người cháu là Phagpa Lodro Gyaltsen lên mười tuổi và Drogon Chakna lên sáu tuổi. Các đại diện Mông Cổ của Godan đã hộ tống theo ngài trong suốt hành trình. Đạo sư Sakya Pandita đã truyền trao nhiều giáo pháp trên suốt hành trình tới khu vực Kokonor. Hành trình đòi hỏi một thời gian dài, bởi vậy ngài đã gửi cho hai người cháu đi trước tới Kokonor. Trước khi ngài tới khu vực cắm trại của Godan năm 1247, hai người cháu nhỏ tuổi của ngài cũng đã cảm hóa rất nhiều người Mông Cổ tại đây. Theo các sử liệu Tây Tạng, Đạo sư Sakya Pandita đã gặp Hoàng tử Godan tại Lanchow, thủ phủ Kansu.</p>
<p style="text-align: justify;">Đạo sư Sakya Pandita đã truyền trao Phật pháp cho Godan và trong một lần ngài đã thuyết phục ông từ bỏ ý định dìm chết rất nhiều Trung Quốc dưới những dòng sông. Godan có ý định này bởi vì lo ngại số lượng người Trung Quốc đông khi ấy luôn luôn đe dọa quyền lực của ông. Đạo sư Sakya Pandita đã dạy rằng, việc làm đó trái với giáo pháp của đức Thế tôn. Đạo sư Sakya Pandita ở lại nơi cư trú của Godan trong vài năm, trong thời gian này ngài truyền trao rất nhiều giáo pháp, khai thị cho Godan và các vị tướng của ông. Ngài chính là bậc đã đặt nền tảng cho Phật giáo nơi đây phát triển rực rỡ trong nhiều thế kỷ. Để tri ân giáo pháp mà Đạo sư truyền trao, Hoàng tử Godan đã thỉnh cầu Đạo sư đảm nhận trọng trách chính trị thế tục toàn bộ 13 vùng của trung tâm Tây Tạng. Ông đã gửi một trước tác của mình tới người Tạng, có tựa đề "Thub-pai Gòn-sal", có nghĩa là "Tâm nguyện của Đức Phật". Biết rằng mình không thể thọ hơn được, ông đã gửi trước tác này như món quà Pháp cho xứ Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1251, đạo sư Sakya Pandita đã viên tịch ở tuổi 70. Hoàng tử Godan qua đời sớm sau đó và hoàng tử Hốt Tất Liệt (Kublai) tiếp ngôi, ông được biết đến là Sechen của người Tạng. Năm 1253, Hốt Tất Liệt đã thỉnh mời đạo sư Chogyal Phagpa mười chín tuổi đến hoàng cung của mình và ông đã vô cùng kính sợ trước sở học uyên bác của vị thánh tăng trẻ tuổi, ngài đã hiển bày trí tuệ siêu việt trước các câu hỏi khó. Hốt Tất Liệt sau đó đã thỉnh cầu ngài truyền trao những khai thị tâm linh nhưng vị thánh tăng trẻ tuổi đã dạy rằng, trước khi ông có thể thụ nhận giáo pháp tâm linh như vậy, ông cần phải đỉnh lễ trước ngài, bậc đạo sư tâm linh của ông trong bất kỳ lần gặp gỡ nào và bảo tòa của ngài phải ở phía trên, cao hơn ngai vàng của hoàng đế. Hốt Tất Liệt trả lời rằng ông chưa thể làm công khai như vậy được trước người dân hay ở nơi công cộng, vì có thể sẽ đánh mất địa vị và quyền lực của mình. Một số nguồn tư liệu khác viết rằng, Hốt Tất Liệt đã đồng ý đặt ngai vàng của mình thấp hơn bảo tòa của bậc Đạo sư khi ông thụ nhận giáo pháp từ ngài và đặt ngang bằng nhau khi ông giải quyết công việc triều đình.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo truyền thống, Thượng sư Phagpa đã truyền trao quán đỉnh và luận giảng giáo pháp cho Hốt Tất Liệt và hai mươi lăm vị quan của ông trong ba lần. Sau lần đầu tiên, Hốt Tất Liệt đã thỉnh cầu và cúng dường ngài đảm nhận trọng trách bậc lãnh đạo tâm linh và thế tục 13 địa hạt (Trikhor Chusum) trung tâm Tây Tạng. Sau lần thứ hai, Hốt Tất Liệt đã cúng dường ngài xá lợi của Đức Phật và thỉnh cầu ngài đảm nhận trọng trách bậc lãnh đạo tâm linh và thế tục toàn bộ ba khu vực Tây Tạng (chol-ska-sum). Khi Hốt Tất Liệt trở thành Khan vào năm 1260, sau lần nhận quán đỉnh và giáo pháp lần thứ ba, ông đã cúng dường đạo sư Phagpa danh xưng "bậc vua Pháp”. Trong cùng năm, ông đã thỉnh cầu đạo sư Phagpa cử hành và chủ trì nghi thức cho buổi lễ đăng quang của mình. Lịch sử ghi lại rằng, mối quan hệ giữa bậc thượng sư với người đệ tử, giữa thượng sư với người bảo trợ là các Khan Mông Cổ được ví như “mặt trời và mặt trăng trên bầu trời".</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1265 Đạo sư Phagpa trở về Tây Tạng lần đầu tiên. Tại trung tâm tự viện truyền thống Sakya ngài đã được cung đón nồng nhiệt và được tôn kính trọng thị bởi các trưởng tộc Tây Tạng. Đạo sư Chogyal Phagpa đã thiết lập một hệ thống chính quyền quản lý tập trung ở Tây Tạng. Một chức danh là quan Thượng thư (Ponchen), có trọng trách quản lý chung toàn bộ công việc chính quyền. Dưới chức danh này là 13 tộc trưởng (Tripons), những vị quan trực tiếp quản lý địa hạt riêng của mình. Theo quy định, quan thượng thư sẽ được bổ nhiệm bởi chính đạo sư Phagpa và được đặt danh hiệu là Ponchen Shakya Sangpo. Theo phương thức này ngài Chogyal Phagpa đã hợp nhất toàn bộ xứ Tạng dưới sự điều hành của Chính quyền trung ương.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhận lời thỉnh mời của Hốt Tất Liệt, năm 1268 đạo sư Chogyal Phagpa trở lại hoàng cung Khan tại Mông Cổ. Với sự thông tuệ của mình, ngài đã gửi cho Khan một bộ chữ viết mới mà ngài đã soạn cho người Mông Cổ. Hốt Tất Liệt đã vô cùng hoan hỷ và hệ thống chữ viết mới được biết đến là "Phagpa Script" đã được chính thức được đưa vào sử dụng. Khan đã đỉnh lễ cúng dường đạo sư Phagpa tôn xưng "Pháp Tử các Bản tôn Ấn Độ”, "Pháp chủ tôn quý của Đất Trời”, “Bậc Sáng tạo chữ viết”, "Sứ giả của hòa bình trên toàn thế giới", và "Bậc Sở hữu Ngũ Minh”. Thượng sư Phagpa viên tịch tại Sakya năm 1280. Chogyal Phakpa là bậc đạo sư đầu tiên trong lịch sử Tây Tạng đảm nhận trọng trách bậc lãnh đạo cả về tâm linh và thế tục. Người em của ngài là đạo sư Chakna sau đó đã tiếp tục đảm nhận trọng trách này, tiếp đến thế hệ các lãnh đạo của truyền thừa đảm nhận trọng trách lãnh đạo Tây Tạng trong hơn một trăm năm.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào năm bậc Thượng sư Phagpa viên tịch, Hốt Tất Liệt cuối cùng đã chinh phục toàn cõi Trung Quốc, và đã lên ngôi hoàng đế của Trung Quốc. Đạo sư Dharmapala, Pháp tử của ngài Drogon Chakna được tôn xưng và nắm giữ trọng trách "Tishri" vào năm 1282. Đạo sư Tishri Kunga Lodro Gyaltsen (1299 - 1327) đã kiến lập bốn Hoàng cung (pho Brang): Zhithog, Rinchen Gang, Lhakhang, và Ducho, trong số đó ngày nay chỉ còn hai hoàng cung vẫn còn tồn tại.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào thế kỷ thứ mười lăm, hoàng cung Ducho được chia thành hai là (1) Dolma Phodrang và (2) Phuntsok Phodrang. Bậc lãnh đạo hai hoàng cung này là ngài Sakya Trizin.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1287, ngài đã tới xứ Tạng nhưng đã viên tịch trong hành trình dài. Năm 1295 Hốt Tất Liệt qua đời. Trong suốt thời gian của đạo sư Sakya Pandita và thế hệ các đạo sư sau đó, chính quyền Tây Tạng được đặt dưới sự quản lý của người Tạng. Các mối quan hệ giữa nhà cầm quyền Mông Cổ và các bậc Thượng sư Tây Tạng không nên được nhìn, xem xét ở phương diện chính trị thế tục. Tư duy và suy xét một cách sâu sắc vào thái độ, sự trân quý của các Khan tới các bậc đạo sư của mình như Chogyal Phagpa, chúng ta thấy, ông đã thành tâm thỉnh cầu, cúng dường các ngài đảm nhận trọng trách bậc lãnh đạo tâm linh và thế tục tại xứ Tạng. Mối quan hệ giữa Bậc Thầy - Đệ tử, người bảo trợ được thiết lập giữa các bậc thầy Tạng và người Mông cổ dựa vào sự trân quý, thực tâm thực hành giáo pháp vì lợi ích chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi Hốt Tất Liệt qua đời năm 1295, quyền lực của người Mông Cổ bắt đầu suy giảm tại Trung Quốc. Năm 1305 Đạo sư Dagnyi Zangpo Pal đảm nhận trọng trách bậc lãnh đạo tâm linh truyền thống Sakya trong mười ba năm. Hệ thống quản lý đất nước dưới sự điều hành bởi các Ponchen và Tripons (quan thượng thư và hạt chủ) được tiếp tục trong thời gian này. Khi trong giai đoạn chính quyền dưới sự điều hành của Thượng sư Ponchen Gawa Zangpo và Sonam Gyaltsen, trọng trách chính trị của truyền thống Sakya bắt đầu suy yếu. Hầu hết các bậc Thượng sư truyền thống Sakya các đời kế tiếp đều tập trung nhiều hơn vào trọng trách tâm linh và để lại trọng trách nhiều hơn cho các đời quan Thượng thư.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Những tự viện chính của truyền thừa Sakya</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Các tự viện chính của truyền thống Sakya là Sakya Lhakhang Chenmo, được thành lập bởi đạo sư Khon Konchok Gyelpo, nằm ở khu vực Tsang trung tâm Tây Tạng. Tự viện Ngor E-Vam Choden được thành lập bởi đạo sư E-Vam Kunga Zangpo, đây là trụ xứ chính của dòng Ngor Sakya ở miền trung Tây Tạng. Tự viện Dar Drangmoche, được thành lập bởi đạo sư Tsarchen Losal Gyatso, là trụ xứ chính của tự viện cũng nằm trong vùng Tsang.</p>
<p style="text-align: justify;">Truyền thống Sakya có các tự viện lớn khác như: Phenpo Nalanda trong khu vực Phenpo miền trung Tây Tạng, được xây dựng bởi các học giả trứ danh Rongton Sheja Kunrig, và tự viện Tsedong Sisum Namgyel, được thành lập bởi đapk siw Namkha Tashi Gyeltsen. Những tự viện lớn khác như tự viên Dhondup Ling, được thành lập bởi đạo sư Dagchen Sherab Gyeltsen; tự viện Lhundup Teng được thành lập bởi đạo sư Thangton Gyalpo, trong khu vực Derge tỉnh Kham miền đông Tây Tạng; tự viện Dzongsar - trụ xứ của Rinpoche Dzongsar Khyentse; và tự viện Deur Chode, được kiến lập bởi đạo sư Chodrak Sangpo khu vực Amdo tỉnh Kham miền đông Tây Tạng. Ngoài ra cũng có nhiều tự viện khác tại vùng Tây Tây Tạng, Trung Quốc và Mông Cổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Các tự viện lớn ngày nay của dòng tại Ấn Độ bao gồm tự viện Tsechen Tenpai Gatsal ở Rajpur, bang Uttar Pradesh, được thành lập bởi ngài Sakya Tridzin; tự viện Ngor E-Vàm Shedrup Dhargye Ling ở Bir, bang Himachal Pradesh; tự viện Tsechen Dhongag Chöling ở Mundgod, bang Karnataka; và tự viện Ngor E-Vam Choden ở Dehradun, bang Uttar Pradesh; tự viện Tashi Rabten Ling tại Lumbini, Nepal, và nhiều tự viện ở Ấn Độ, Nepal, và nhiều nước trên thế giới.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Bậc lãnh đạo hiện đời của truyền thừa Sakya</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Bậc lãnh tụ của dòng truyền thừa Sakya hiện đời là ngài Sakya Trizin (Ngakwang Kunga Thekchen Palbar Samphel Ganggi Gyalpo), đản sinh năm 1945 tại Tsedong, Tây Tạng thuộc dòng dõi bộ tộc Khon...</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài hiện đang an trú tại Rajpur, Ấn Độ và du hóa, hoằng dương giáo pháp dòng truyền thừa Sakya rộng khắp nhiều nơi trên thế giới làm lợi ích vô số hữu tình. Ngài có hai Pháp tử là Ratna Vajra Rinpoche (đản sinh năm 1974) và Jnana Vajra Rinpoche (đản sinh năm 1979).</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Việt dịch: La Sơn Phúc Cường</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: <a href="https://thuvienhoasen.org/a24057/dai-thua-phap-vuong-sakya-va-lich-su-dong-truyen-thua-sakya">Đại thừa Pháp vương Sakya và lịch sử dòng truyền thừa Sakya</a></em></p>
<div class="ddict_btn" style="top: 6555px; left: 199.109px;"><img src="chrome-extension://bpggmmljdiliancllaapiggllnkbjocb/logo/48.png" alt="" /></div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/dai-thua-phap-vuong-sakya-va-lich-su-dong-truyen-thua-sakya/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Đức Pháp Vương Chogye Trichen Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/dao-su-sakya/tieu-su-duc-phap-vuong-chogye-trichen-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/dao-su-sakya/tieu-su-duc-phap-vuong-chogye-trichen-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 23 Apr 2017 01:44:48 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Đạo sư Sakya]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7590</guid>
		<description><![CDATA[Đức Lão Pháp Vương Chogye Trichen Rinpoche là vị Lạt ma lớn tuổi nhất và cao cấp nhất dòng truyền thừa Sakya trong Phật giáo Tây Tạng. Ngài là hóa thân của Chogye Trichen đời trước và là Pháp Vương Tsharpa. Ngài không chỉ là vị Lạt ma vĩ đại đã trì giữ hoàn hảo ba loại giới nguyện mà&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/dao-su-sakya/tieu-su-duc-phap-vuong-chogye-trichen-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p class="entry-title" style="text-align: justify;">Đức Lão Pháp Vương Chogye Trichen Rinpoche là vị Lạt ma lớn tuổi nhất và cao cấp nhất dòng truyền thừa Sakya trong Phật giáo Tây Tạng. Ngài là hóa thân của Chogye Trichen đời trước và là Pháp Vương Tsharpa. Ngài không chỉ là vị Lạt ma vĩ đại đã trì giữ hoàn hảo ba loại giới nguyện mà còn là vị đạo sư mật thừa danh tiếng, bậc học giả lỗi lạc và thi hào hùng biện. Lão Pháp Vương được tôn là “bậc thầy của các bậc thầy” vì hầu hết những vị đứng đầu các dòng truyền thừa Phật giáo Tây Tạng đều là đệ tử của Ngài. Đức Đạt Lai Lạt Ma tôn Lão Pháp Vương là vị đạo sư gốc kể từ năm 1971. Đức Sakya Trizin, Đức Pháp Vương Dudjom của dòng truyền thừa Ninh Mã và Đức Shamarpa của dòng truyền thừa Kagyu cũng là học trò của Ngài. Vua Birendra, nhà vua nước Nepal, đã phong tặng cho Ngài danh hiệu cát tường cao quý “Gorkha Dakshin Babu” (Đạo sư vĩ đại của Tây Nepal). Từ trước đến nay đức vua Nepal chưa bao giờ phong tặng danh hiệu cao quý như vậy cho bất kỳ vị thầy Phật Giáo nào.</p>
<p><a href="http://tuyenphap.com/wp-content/uploads/2016/12/chogye-trichen-rinpoche_2.jpg"><img class=" wp-image-2347 aligncenter" title="Tóm Tắt Tiểu Sử Thánh Sư Chogye Trichen Rinpoche, Pháp Vương Nhánh Tsharpa Thuộc Dòng Truyền Thừa Sakya 1" src="http://tuyenphap.com/wp-content/uploads/2016/12/chogye-trichen-rinpoche_2.jpg" sizes="(max-width: 622px) 100vw, 622px" srcset="http://tuyenphap.com/wp-content/uploads/2016/12/chogye-trichen-rinpoche_2.jpg 1202w, http://tuyenphap.com/wp-content/uploads/2016/12/chogye-trichen-rinpoche_2-200x300.jpg 200w, http://tuyenphap.com/wp-content/uploads/2016/12/chogye-trichen-rinpoche_2-684x1024.jpg 684w" alt="Tóm Tắt Tiểu Sử Thánh Sư Chogye Trichen Rinpoche, Pháp Vương Nhánh Tsharpa Thuộc Dòng Truyền Thừa Sakya 1" width="547" height="819" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Lão Pháp Vương sinh năm 1920 gần Gyashar Kushang. Ngài sinh ra trong bộ tộc Che. Bộ tộc Che là hậu duệ của Cõi trời Abhasvara trên trái đất này. Nhiều dấu hiệu cát tường xuất hiện khi Rinpoche đản sinh. Năm 12 tuổi, Rinpoche chính thức được tấn phong là Pháp Vương thứ 26 của Tu viện Phenpo Nalendra. Kể từ khi nhậm chức cho đến khi Ngài ba mươi chín tuổi, Rinpoche đã thọ nhận thần chú và quán đảnh quý giá tối thượng “Con đường &amp; Quả” (“Path and Result”(Lamdre)), thần chú cũng như vô số quán đảnh, giáo Pháp và nghi thức từ tất cả các dòng truyền thừa của bốn dòng phái chính. Trong suốt thời gian ấy, Ngài cũng hoàn thành các khóa tu thiền, tại đó Ngài quán tưởng về các Bổn Tôn – các vị là một phần trong thực hành chủ đạo của Mật thừa. Ngài trở thành bậc thầy giảng Pháp cả Hiển thừa và Mật Thừa.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì Rinpoche tu tập miên mật trong các khóa nhập thất dài ngày nên mọi người thường cho rằng Ngài là hành giả thực hành bí mật. Khi Ngài không nhập thất, Rinpoche sử dụng hầu hết thời gian của mình để thiền định sâu sắc cả ngày lẫn đêm, thực hành các nghi lễ Mật thừa và các lễ cầu nguyện Mật tông. Kết quả là, Ngài đạt được năng lực siêu nhiên và trí tuệ vĩ đại. Rinpoche được coi là hóa thân hiện đại của bậc chứng ngộ vĩ đại trong Phật giáo Ấn Độ cổ xưa, Đại thành tựu giả Virupa. Mỗi ngày trong đời sống của Rinpoche đều là sự tu hành đáng kính không ngơi nghỉ. Ngài thực sự xứng đáng là tấm gương cho hành giả trên toàn thế giới noi theo.</p>
<p style="text-align: justify;">Rinpoche không phân biệt quốc gia và vùng lãnh thổ trong nỗ lực hoằng hóa giáo pháp. Ngài đi khắp thế giới để truyền bá giáo pháp. Với lòng từ bi, Rinpoche đã ban Pháp cao quý của Chư Phật, chẳng hạn như quán đảnh, pháp khẩu truyền, luận giảng kinh và thần chú cho những đệ tử có duyên thọ nhận chúng, bất kể họ là cư sĩ hay tu sĩ. Ngay cả các Pháp Vương và Rinpoche cũng thọ nhận giáo pháp từ Ngài. Tất cả những ai có may mắn diện kiến Ngài đều ca tụng Bồ Đề Tâm của Ngài và chứng thực tâm vị tha của Lão Pháp Vương thể hiện qua việc truyền Phật Pháp không ngơi nghỉ.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày 20 tháng 1 năm 2007 là ngày mà duyên nghiệp vĩ đại của Đức Pháp Vương dành cho việc truyền pháp và lợi lạc chúng sinh cõi trần thế này kết thúc. May sao, đó cũng là ngày những duyên nghiệp vĩ đại chín muồi liên quan đến giây phút cuối cùng của cuộc đời Ngài. Lão Pháp Vương đã đọc cuốn sách “Một kho tàng Phật Pháp đích thực” về Đức Phật Kim Cương Trì III. Ngay lập tức Ngài sử dụng quyền năng chứng ngộ của mình để nghiên cứu và vô cùng xúc động bởi những gì Ngài phát hiện ra. Ngài lập tức lệnh cho Shabdrung Rinpoche viết một bức thư chúc mừng. Trong bức thư đó Ngài ca ngợi cuốn sách “Một kho tàng Phật Pháp đích thực” – cuốn sách về Đức Phật Kim Cương Trì III Wan Ko Yeshe Norbu; Ngài nói rằng cuối sách là con đường chỉ dẫn đến Phật Pháp đích thực và là cánh cổng Pháp mang lại lợi lạc và hạnh phúc cho tất cả chúng sinh. Ngay sau khi bức thư chúc mừng được viết xong, Rinpoche đã nhập Niết Bàn. Đó là hành động linh thánh cuối cùng của Lão Pháp Vương giác ngộ tối thượng.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Shabdrung Rinpoche tôn kính hiện nay đã kế nhiệm vị trí của Đức Chogye Trichen Rinpoche.</p>
<p><span style="color: #000000;"><em>Nguồn: <a style="color: #000000;" href="http://www.highestbuddhistmasters.org/english/ebook/ebk00041.htm">http://www.highestbuddhistmasters.org/english/ebook/ebk00041.htm</a></em></span></p>
<p>Việt dịch: Vô Úy</p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/dao-su-sakya/tieu-su-duc-phap-vuong-chogye-trichen-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử của Pháp Vương Jigdal Dagchen Sakya</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/dao-su-sakya/tieu-su-cua-phap-vuong-jigdal-dagchen-sakya/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/dao-su-sakya/tieu-su-cua-phap-vuong-jigdal-dagchen-sakya/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 23 Apr 2017 01:38:30 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Đạo sư Sakya]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.org/?p=7586</guid>
		<description><![CDATA[Đức Jigdal Dagchen Sakya, một trong những vị Lạt Ma quan trọng nhất của trường phái Sakya thuộc Phật giáo Tây Tạng, là một người kế nhiệm từ các vị Lạt Ma vĩ đại trường phái Sakya, những người đã thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với các Đại Hãn Mông Cổ trong thế kỷ 13. Có thể kể&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/dao-su-sakya/tieu-su-cua-phap-vuong-jigdal-dagchen-sakya/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p class="entry-title" style="text-align: justify;">Đức Jigdal Dagchen Sakya, một trong những vị Lạt Ma quan trọng nhất của trường phái Sakya thuộc Phật giáo Tây Tạng, là một người kế nhiệm từ các vị Lạt Ma vĩ đại trường phái Sakya, những người đã thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với các Đại Hãn Mông Cổ trong thế kỷ 13. Có thể kể tới như người tiền nhiệm của Ngài, Sakya Pandita (1182 – 1251) đã từng giúp đỡ Đại Hãn, nhờ vậy mà các vị Lạt Ma thuộc phái Sakya đã cầm quyền Tây Tạng trong gần một thế kỷ.</p>
<p><a href="http://tuyenphap.com/wp-content/uploads/2016/12/jigdal-dagchen-sakya.jpg"><img class=" size-full wp-image-2338 aligncenter" title="Tiểu sử của Thánh Sư Jigdal Dagchen Sakya 1" src="http://tuyenphap.com/wp-content/uploads/2016/12/jigdal-dagchen-sakya.jpg" sizes="(max-width: 352px) 100vw, 352px" srcset="http://tuyenphap.com/wp-content/uploads/2016/12/jigdal-dagchen-sakya.jpg 352w, http://tuyenphap.com/wp-content/uploads/2016/12/jigdal-dagchen-sakya-221x300.jpg 221w" alt="Tiểu sử của Thánh Sư Jigdal Dagchen Sakya 1" width="352" height="478" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Đức Jigdal Dagchen Sakya được sinh ra thuộc nhánh Phuntsok dòng Khon, thuộc trường phái Sakya vào năm 1929 ở phía tây nam Tây Tạng. Ngài bắt đầu tu học dưới sự hướng dẫn của cha mình, Thánh Sư Trichen Ngawang Thutop Wangchuk (vị trì giữ đời thứ 40 của phái Sakya). Từ cha mình, Ngài cũng được nhận quán đảnh Sakya Vajrakilaya và Hevajra, cũng như trọn vẹn giáo lý Lamdre (con đường và kết quả) của dòng truyền thừa không gián đoạn Khon.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi cha Ngài qua đời, Đức Jigdal Dagchen Sakya du hành đến Đông Tạng, nơi Ngài theo học với Dzongsar Khyentse Chokyi Lodro Jamyang, bậc thầy của các dòng truyền thừa, và Dilgo Khyentse Rabsel Dawa Rinpoche, bậc thầy của dòng Nyigma. Ngài tiếp tục nghiên cứu giáo lý Lamdre và phương pháp Rime, kết hợp các thực hành của Phật giáo Tây Tạng chung cho tất cả bốn trường phái chính – Nyingma, Kagyu, Gelug, và Sakya.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau cuộc xâm lược của Trung Quốc vào Tây Tạng năm 1959, Đức Jigdal Dagchen Sakya, người đứng đầu của một trong hai nhánh chính dòng Sakya, đã phải rời bỏ đất nước của mình. Ngài được mời đến Mỹ để tham gia vào một dự án nghiên cứu về Tây Tạng tại một trường Đại học Washington, Seattle do Quỹ Rockefeller tài trợ. Từ đó Ngài vẫn tiếp tục ở lại Seatle. Năm 1974, Đức Jigdal Dagchen Sakya và Rinpoche Deshung đã thành lập ra Sakya Tegchen Choling, trung tâm nghiên cứu Phật giáo Tây Tạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1984, Đức Jigdal Dagchen Sakya đã mua nhà thờ Presbyterian (được xây dựng vào năm 1928), biến nó thành tu viện Tây Tạng theo phong cách truyền thống. Tu viện này không chỉ trở thành trụ sở chính của phái Sakya ở Hoa Kỳ, mà còn trở thành một trung tâm nghiên cứu văn hóa và tôn giáo quan trọng. Năm 1993, khi vẫn đang còn trong quá trình nâng cấp, tu viện đã được sử dụng làm bối cảnh cho bộ phim “Vị tiểu Phật” của Bernardo Bertolucci.</p>
<p style="text-align: justify;">Dù vẫn đang trong quá trình cải tạo nhưng các chương trình giảng dạy đã được tiến hành. Năm 1997, Viện Virupa Ecumencial dành cho việc nghiên cứu Phật giáo Tây Tạng được thành lập. Các khóa học đầu tiên được khai giảng vào mùa xuân năm 1998. Năm 2001, Đức Jigdal Dagchen Sakya thành lập cộng đồng dòng Sakya ở New Delhi với mong muốn giữ gìn truyền thống và dòng truyền thừa cho thế hệ tương lai. Ngài cũng đã thành lập nhiều tu viện khác ở Đông Nam Á.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài ban nhiều quán đảnh và thuyết giảng tại Hoa Kỳ, Canada, Châu Âu và Châu Á.<br />
Ngày 29 tháng 4 năm 2016, Đức Jigdal Dagchen Sakya nhập định thông qua thiền (Thukdam) và nhập Niết Bàn vào ngày 05 tháng 05 năm 2016.</p>
<p><em><span style="color: #000000;">Nguồn: <a style="color: #000000;" href="http://buddhismo-sakya-en.blogspot.com/2012/06/biography-of-his-holiness-jigdal.html">http://buddhismo-sakya-en.blogspot.com/2012/06/biography-of-his-holiness-jigdal.html</a></span></em></p>
<p>Việt dịch: Vũ Tâm</p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/dao-su-sakya/tieu-su-cua-phap-vuong-jigdal-dagchen-sakya/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Đức Pháp Vương Sakya Trizin đời 41</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/tieu-su-duc-phap-vuong-sakya-trizin-doi-41/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/tieu-su-duc-phap-vuong-sakya-trizin-doi-41/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 01 Sep 2015 11:25:24 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Sakya]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Sakya]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3679</guid>
		<description><![CDATA[Gia tộc Khon, dòng dõi của Dòng truyền thừa Sakya được biết đến với ba danh hiệu đặc biệt và mỗi danh hiệu gắn liền với một câu chuyện. Do là hậu duệ của vị thần Vương quốc Ánh Sáng Trắng, vị thần đã bước vào thế giới loài người, gia tộc được biết đến với danh hiệu “Gia tộc &#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/tieu-su-duc-phap-vuong-sakya-trizin-doi-41/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Gia tộc Khon, dòng dõi của Dòng truyền thừa Sakya được biết đến với ba danh hiệu đặc biệt và mỗi danh hiệu gắn liền với một câu chuyện. Do là hậu duệ của vị thần Vương quốc Ánh Sáng Trắng, vị thần đã bước vào thế giới loài người, gia tộc được biết đến với danh hiệu “Gia tộc  Thiên đường”. Sau đó, do điều phục được loài quỷ La Sát, những tinh linh độc hại, họ được gọi là “ Gia tộc của Đấng chiến thắng”. Cuối cùng, do sáng lập ra Dòng truyền thừa Sakya, họ được biết đến là “Dòng truyền thừa Sakyapa”.</p>
<p>Trong thời gian gần đây, do cung điện của dòng truyền thừa mà Đức Sakya Trizin trì giữ được xây dựng ngay cạnh Điện thờ Tara làm bằng đá quý ngọc lam ở Tu viện Sakya, Tây Tạng, gia tộc thiêng liêng này còn được biết đến với danh hiệu Dòng truyền thừa “Drolma Phodrang” hay “Cung điện Tara”.</p>
<p>Từ khi Bộ tộc Thiên đường xuất hiện, cách đây hơn một ngàn năm, dòng truyền thừa này luôn được trì giữ không gián đoạn cho tới ngày nay. Nhiều vị Đạo sư  lừng lẫy và các vị tu sĩ xuất hiện trong dòng truyền thừa này, phải kể đến Năm Đạo sư vĩ đại của Dòng truyền thừa Sakya. Đức Pháp Vương, vị trì giữ ngai vàng của trường phái Sakya là vị trì giữ đời thứ 41 của dòng truyền thừa không gián đoạn này từ 1073 sau Công Nguyên .</p>
<p>Đức Pháp Vương sinh ngày 7/9/1945, tức mồng 1 tháng 8 Âm lịch năm Mộc Điểu tại cung điện Sakya ở Tsedong. Ngay sau khi Ngài sinh ra, theo truyền thống lâu đời để tăng trưởng trí tuệ cho Ngài, trên lưỡi Ngài được vẽ linh tự DHI cùng với  những nghi lễ đặc biệt được thực hiện. Vào ngày này, người ta quan sát thấy những dấu hiệu có liên quan theo cách thức truyền thống xuất hiện cùng nhiều điềm lành như: sữa được vắt từ 100 con bò cái khác nhau và bức tượng Đạo sư Liên Hoa Sinh được cúng dường cho Cung điện một cách kỳ diệu.</p>
<p>Ban đầu, Đức Pháp Vương được đặt tên theo tiếng Phạn là Ayu Vajra và ngay sau đó Ngài có tên thật là Ngawang Kunga Thegchen Palbar Trinley Samphel Wangyi Gyalpo, chính là vào thời điểm khi cha Ngài,  Trì Minh Vương(Vajradhara) Ngawang Kunga Rinchen ban cho Ngài nhập môn  quan trọng đầu tiên về  Chín vị Bổn tôn Vô Lượng Thọ. Năm Đức Pháp Vương 4 tuổi, Ngài thọ nhận nhập môn quan trọng đầu tiên về sự bình an và phẫn nộ của pháp tu Vajrakilaya cùng những giáo lý thâm diệu khác từ cha Ngài.</p>
<p>Đức Pháp Vương mồ côi cha mẹ khi Ngài còn rất nhỏ. Sau đó, người dì bên đằng ngoại của Ngài đã dành trọn cuộc đời bà để nuôi dưỡng Ngài. Chính bà đã tìm Thầy dạy riêng cho Đức Pháp Vương học đọc, viết, ghi nhớ và cách trì tụng những bài cầu nguyện cơ bản. Ngài cũng học tụng kinh, âm nhạc, nhảy múa nghi lễ, Yoga tối thượng và nhiều môn học khác từ vị Thầy dạy riêng của Ngài. Cả hai vị Thầy của Đức Pháp Vương đều dạy Ngài cách thực hành các nghi quỹ và cầu nguyện theo truyền thống miền Bắc và miền Nam của các tu viện Sakya. Khi mỗi khóa học kết thúc, một nghi lễ kỷ niệm hoành tráng sẽ được cử hành. Khi đó, Đức Pháp Vương sẽ chính thức bước vào Tu viện Đại Thừa và Kim Cương Thừa để cử hành các nghi lễ truyền thống của trường phái Sakya. Vào năm 1950 khi Ngài được 5 tuổi, vị Thầy gốc của Ngài, Trì Minh Vương (Vajradhara) Ngawang Lödron Shenphen Nyingpo vĩ đại đã ban cho Ngài giáo lý Lamdre- Con đường và kết quả và những giáo lý thâm diệu khác.</p>
<p>Năm 1951, Đức Pháp Vương đã hành hương tới Lhasa và chính tại nơi này Ngài được Đức Đà Lai Lạt Ma thứ chỉ định Ngài là người trì giữ Dòng truyền thừa Sakya vĩ đại. Theo đó, vào năm tiếp theo, một buổi lễ đăng quang đã được tổ chức để chứng kiến việc Ngài chính thức chấp thuận ấn tín của Sakya. Mặc dù tuổi đời còn rất trẻ nhưng Ngài đã thể hiện mình là một người có trí tuệ xuất chúng và những kỹ năng phi thường để có thể làm tròn trách nhiệm của mình. Khi được bảy tuổi, Ngài đã vượt qua kỳ thi vấn đáp rộng rãi về mật điển gốc Hevajra tại tu viện Sakya vĩ đại. Tại tu viện Ngor, Tu viện trưởng Ngor và Thượng Sư đã ban cho Ngài những giáo lý Lamdre (Con đường và kết quả) thông dụng và không thông dụng. Vào năm 1953, để đáp lại sự mong muốn của Thượng Sư về việc nhập vào Mahaparinirvana, Đức Pháp Vương dành cả một khoảng thời gian dài trong cuộc đời mình để bắt đầu thực hành các pháp tu Tịnh Độ ở tu viện Ngor, và cũng như vậy, Ngài thực hành pháp thiền định nhập thất Hevajra ở Sakya, và tại thời điểm đó Đức Pháp Vương mới chỉ 8 tuổi.</p>
<p>Năm tiếp theo, Đức Pháp Vương được tiếp nhận quán đảnh và trao truyền những giáo lý của tuyển tập của Sadhanas từ Ngawang Tenzin Nyingpoi, nhiếp chính của Vajradhara Ngawang Lodro Shenphen Nyingpo. Ngài cũng được tiếp nhận lễ quán đành và khẩu truyền  sâu xa của ba vị Bổn tôn màu đỏ và hai Bổn tôn bảo vệ chính của dòng truyền thừa Sakya từ vị Đạo sư Ngawang Lodron Rinpoche. Ngài cũng đã chủ trì cho một nghi lễ Vajrakilaya linh thiêng ở tu viện chính của Sakya.</p>
<p>Khi được 10 tuổi, Đức Pháp Vương một lần nữa thực hiện một cuộc hành hương tới Lhasa, nơi mà Ngài thọ nhận những giáo lý ở Potala từ Đức Đalai Lama. Trước một đoàn người rộng lớn, Đức Pháp Vương đã đưa ra một lời giải thích rộng lớn về Cúng dường Mạn Đà La, điều này thể hiện trí tuệ của Ngài được khẳng định rộng khắp ở Tây Tạng. Trong cuộc hành hương tới Ấn Độ, Ngài đã thọ nhận rất nhiều lần quán đảnh và những giáo lý của truyền thống Sakya, Đại Toàn Thiện và những giáo lý của Dzogchen từ Jamyang Khyentse Chokyi Lodro. Vào năm 1957, Đức Pháp Vương một lần nữa tiếp nhận giáo lý Lamdre (Con đường và kết quả), lần này là từ Đấng vĩ đại Kim Cang Thừa Khenchen Jampal Sangpo theo như là sự chuyển giao của dòng truyền thừa Khon. Sự chuẩn bị cho nghi lễ chính thức được công nhận là Sakya Trizin của Đức Pháp Vương được tiến hành vào năm 1958. Vào năm đó, Đức Pháp Vương cũng thực hiện nghi lễ gia trì thuốc pháp (Blessing Pills) và Vị Hộ Phật (Local Deity), cũng như là mở rộng nghi lễ Kim Cang Thừa. Vào năm 1959, sau nghi lễ Mahakala trong vòng 7 ngày, một buổi lễ phức tạp kéo dài trong vòng 03 ngày với sự tham dự của đại diện Đức Đalai Lama và Chính phủ Tây Tạng, Đức Pháp Vương chính thức được công nhận là người trì giữ truyền thừa dòng Sakya. Nhân sự kiện đó, Ngài đã ban lời giái đáp về “Sự soi sáng trong tâm ý  của các bậc Thánh Hiền ” để kết nối Tăng đoàn,các vị cư sĩ và những người viếng thăm tu viện.</p>
<p>Sau cuộc xâm lược của Trung Quốc ở Tây Tạng vào năm 1959, Đức Pháp Vương chuyển tới Ấn Độ, Ngài thiết lập các tu viện của dòng Sakya Guru ở Darjeeling và bắt đầu nhiệm vụ chính là kết nối cộng đồng Sakya. Trong thời gian lưu vong đó, Ngài vẫn tiếp tục thọ nhận những giáo lý triết học sâu rộng trong lĩnh vực Logic học, Vi Diệu Pháp, Bát Nhã Tâm kinh và Sự Rõ Ràng của Ba giới nguyện từ các học giả lớn như Khenpo Dosep Thubten, Khenpo Serjong Appey và Khenpo Rinchen. Thông qua những giáo lý của Ngài Khenpo Serjong Appey, Pháp Vương đã thọ nhận những luận giảng hết sức chi tiết và rõ ràng về nguồn gốc của Mật điển gốc Hevajra và rất nhiều những giáo lý liên quan khác. Từ những giáo lý của hóa thân Nhiếp chính vương Phende Khen, Ngài cũng là một trong số những Đức Pháp Vương có nguồn gốc từ Gurues, Ngài nhận lễ nhập môn và luận giảng về Yamantaka trong truyền thống Ra Lotsawas cũng như các bài viết của Ngài Ngorchen Konchok Lhundup.</p>
<p>Năm 1962, ở tuổi mười bảy, Ngài đã ban lễ nhập môn Hevajra đầu tiên ở Kalimpong. Sau khi chuyển tới Mussoorie, vào năm 1963, Ngài có dự định tái thiết lập vị trí chính thức của dòng Sakya ở gần Rajpur. Việc kết nối lại các vị tu sĩ đã được di rời tới trung tâm mới thành lập của Sakya, nơi mà ông đã ban nhiều giáo lý và những lễ quán đảnh. Cũng trong năm đó, lần đầu tiên, Ngài đã ban giáo lý Lamdre thâm sâu (Con đường và kết quả) ở Sarnath, Varanasi. Một năm sau đó, Ngài thiết lập khu dân cư Sakya ở Puruwala, Himachal Pradesh cho các thành viên của cộng đồng Sakya.</p>
<p>Để duy trì truyền thống của gia tộc Khon, Đức Pháp Vương đã kết hôn với Dagmo Tashi Lhakee vào năm 1974. Trong vòng 1 năm, họ đã hoan hỉ chào đón sự ra đời tốt lành của người con trai lớn là Ratna Vajra. Cũng thời gian đó, Đức Pháp Vương có buổi truyền dạy giáo lý đầu tiền vòng quanh Châu Âu, Châu Mỹ và rất nhiều nước ở Châu Á. Vào năm 1976, Ngài lần thứ 2 ban giáo lý Lamdre (con đường và kết quả) tại trung tâm Sakya. Năm tiếp theo, theo yêu cầu của vị hóa thân Nhiếp Chính Vương Luding Khen, Ngài giảng về “Tập hợp những giáo lý của Sadhanas” ở tu viện Matho tại Ladakh. Năm 1977, một lần nữa Ngài tiếp tục truyền dạy các giáo lý khắp Châu Á, Châu Âu và Mỹ. Hai năm sau đó, vào năm 1979, người con trai thứ hai của Ngài là Gyana Vajra chào đời.</p>
<p>Năm 1980, Ngài thực hiện lễ khai mạc tu viện chính của Sakya. Thubten Namgyal Ling ở Purawala, và Ngài ban giáo lý Lamdre đầu tiền của mình. Năm 1982, Đức Đạt La Lạt Ma chính thức tới thăm tu viện và ban rất nhiều những giáo lý. Từ Đấng tôn quý Chogye Trichen, Pháp Vương cũng đã tiếp nhận truyền thống Tsarpa không thông dụng của giáo lý Lamde và truyền thống Jonang của “ Một trăm lời giải đáp”. Một năm sau, Đức Pháp Vương tổ chức một buổi lễ đặc biệt mừng thọ Đức Đà Lai Lạt Ma ở Dharamsala.</p>
<p>Ngài một lần nữa ban dạy những giáo lý rộng khắp Châu Á và Châu Âu năm 1984. Ở Sakya Tsechen Ling, Pháp, Ngài lần thứ 2 dạy về những giáo lý Lamdre ( con đường và kết quả). Năm kế tiếp, theo yêu cầu của Chogye Trichen Rinpoche, Đức Pháp Vương đã dâng hiến đền thờ Phật Di Lặc (Maitreya) ở Kathmandu. Cuối năm đó, Ngài đã tham dự lễ quán đản được Đức Đà Lai Lạt Ma ban thọ ở Bodh Gaya.</p>
<p>Vào năm 1986, Đức Pháp Vương một lần nữa ban dạy giáo lý Lamdre (con đường và kết quả) ở Học viện Sakya tới rất nhiều những vị tu sĩ và các đệ tử phía Tây Dharma. Năm 1988, Ngài chủ trì lễ cúng dường để xây dựng mới trung tâm Ngorpa ở Manduwala. Ngài dừng chân tại đó trong vòng một vài tháng để thực hiện ban hơn 30 lễ quán đảnh của truyền thống Sakya. Vào năm tiếp theo, thể theo yêu cầu của rất nhiều các đệ tử trên khắp Châu Âu, Mỹ và Canada, Ngài đã đi tới từng trung tâm Pháp  của dòng Sakya để ban rất nhiều những giáo lý sâu rộng. Kể từ đó, vì lợi ích của giáo lý Phật Pháp và cho các môn đệ của mình, Ngài đã ban rất nhiều lễ quán đảnh, giáo lý và những buổi chia sẻ cộng đồng rộng rãi trên khắp thế giới.</p>
<p>Bằng cách này, như là nước được đổ từ bình này sang bình khác, Đức Pháp Vương đã tiếp nhận tất cả những giáo lý sâu rộng của truyền thống Sakya, rất nhiều những giáo lý và sự chuyển giao từ các dòng truyền thừa khác của rất nhiều những Bậc Thầy từ các truyền thống khác trong Phật giáo, và Ngài đã trao truyền cho các môn đệ của Ngài trên khắp thế giới.</p>
<p>Để thúc đẩy nền giáo dục và đào tạo triết học sâu rộng, cũng như duy trì sự chuyển giao sống động của những giáo lý Sakya, Đức Pháp Vương đã thành lập trường Cao Đẳng Sakya ở Rajpur và học viện Sakya ở Puruwala. Vì lợi ích của các nữ tu sĩ dòng Sakya, Đức Pháp Vương đã thành lập Ni viện Sakya ở Dekyiling, Dehradun, nơi mà hơn 170 nữ tu sĩ vẫn đang tiếp nhận những hướng dẫn tâm linh. Bằng cách này, nhờ vào trí tuệ và sự hiểu biết của Ngài, Ngài đã làm hồi sinh cả truyền thống Kinh điển và Mật điển của dòng Sakya nói riêng và của Phật giáo Tây Tạng nói chung và luôn luôn đảm bảo sự duy trì của Phật Pháp.</p>
<p>Tiểu sử này chỉ là một phần nhỏ trong số các hoạt động của Đức Pháp Vương Sakya Trizin mà một người bình thường có thể hiểu được. Nhiều hoạt động tâm linh và bên ngoài của Ngài đã vượt qua sự bám chấp và hiểu biết của chúng ta.</p>
<p><em>Nguồn: Tạp chí Palden Sakya. </em></p>
<p><em>http://www.hhthesakyatrizin.org/tradition_founder2.html</em></p>
<p>Việt dịch : Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p>Hiệu đính : Giác nhiên</p>
<p><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với </em><em>Đức Pháp Vương</em><em> Sakya Trizin</em><em> đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này Ngài sớm quang lâm đến Việt nam.</em></p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/tieu-su-duc-phap-vuong-sakya-trizin-doi-41/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Đức Khondung Gyana Vajra Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/3674/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/3674/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 01 Sep 2015 11:09:13 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Sakya]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Sakya]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3674</guid>
		<description><![CDATA[Đức Khondung Ratna Vajra Rinpoche - Đức Sakya Trizin Rinpoche và  Đức Khondung Gyana Vajra Rinpoche Đức Khondung Gyana Vajra Rinpoche được sinh vào ngày mùng 5 tháng 7 năm 1979 tại Dehra Dun, U.P Ấn Độ. Suốt thời thơ ấu, cùng với anh trai của mình là Đức Khondung Ratna Vajra Rinpoche, Ngài đã học các bản văn tôn giáo,&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/3674/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><a href="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/12043009_10153629816326810_958871174771706536_n.jpg"><img class="  wp-image-5770 aligncenter" src="https://kimcuongthua.org/wp-content/uploads/12043009_10153629816326810_958871174771706536_n-221x300.jpg" alt="12043009_10153629816326810_958871174771706536_n" width="416" height="565" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Đức Khondung Ratna Vajra Rinpoche - Đức Sakya Trizin Rinpoche </strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong>và  Đức Khondung Gyana Vajra Rinpoche</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Đức Khondung Gyana Vajra Rinpoche được sinh vào ngày mùng 5 tháng 7 năm 1979 tại Dehra Dun, U.P Ấn Độ. Suốt thời thơ ấu, cùng với anh trai của mình là Đức Khondung Ratna Vajra Rinpoche, Ngài đã học các bản văn tôn giáo, đọc, viết, ngữ pháp và học thuộc lòng các nghi lễ và các bài cầu nguyện quan trọng dưới sự chỉ dạy của Đức Venerable Rinchen Sangpo Rinpoche. Ngài đã gia tham gia tu học tại trung tâm Sakya, tu viện chính và vị trí của Đức Sakya Trizin Rinpoche , tại đây Ngài đã học tất cả các nghi lễ và các bài cầu nguyện trong vài năm. Sau khi hoàn thành việc học tập và thực hành tại trung tâm Sakya, Ngài đã đến trường Phật học dòng Sakya học nâng cao về triết học Phật giáo trong vòng 5 năm.</p>
<p style="text-align: justify;">Suốt thời gian học tại Cao đẳng, Ngài tham gia rất nhiều các nghi lễ tôn giáo được tổ chức tại trung tâm Sakya. Ngài thọ nhận rất nhiều nhập môn chính và rất nhiều giáo lý nâng cao từ Đức Sakya Trizin Rinpoche. Ngài đã đồng hành cùng Đức Sakya Trizin Rinpoche trong nhiều chuyến đi hoằng pháp tại Ấn Độ và các quốc gia khác. Sau 5 năm học tại trường Phật học dòng Sakya, Ngài đã rời khỏi đây để thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính tôn giáo và hiện giờ đang ở tại trường Phật học dòng Sakya.</p>
<p style="text-align: justify;">Hiện tại, Ngài đưa ra sáng kiến thiết lập Dự án Học viện Sakya. Tất nhiên, mục đích chính của Học viện Sakya là truyền đạt cho những người mới tu tập trẻ tuổi nền giáo dục Phật giáo tốt nhất cũng như việc trì giữ và truyền bá những giáo Pháp quý giá của Đức Phật. Mục đích khác là trì giữ các giáo lý duy nhất và truyền thống của các vị Thầy dòng Sakya, để những giáo lý này được giữ gìn cho cho những thế hệ sau, những người sẽ nhận được lợi lạc từ kho tàng giáo Pháp quý giá này. Ngoài điều đó ra thì trong khung chương trình học, các tu sĩ trẻ sẽ được học toán, các môn khoa học và các môn học khác có liên quan. Học viện sẽ cung cấp cho những người mới tu nền giáo dục hiện đại để họ kết nối với thế giới bên ngoài và đảm bảo rằng việc học Phật Pháp có liên hệ đến tính thực tiễn. Khi hoàn thiện, học viện sẽ có đầy đủ cơ sở vật chất bao gồm cả thư viện với các phương pháp tu tập Phật giáo và các tác phẩm văn học, khoa học và máy tính.</p>
<p style="text-align: justify;">Nguồn : http://www.hhthesakyatrizin.org/bio_hegvr.html</p>
<p style="text-align: justify;">Việt ngữ: Nhóm Rigpa Lotsawas</p>
<p style="text-align: justify;">Hiệu đính : Giác nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng cho những ai có duyên với </em><em>Đức Khondung Gyana Vajra Rinpoche </em><em>đều được Ngài dẫn dắt sớm liễu thoát sinh tử và cầu mong nhờ công đức này Ngài sớm quang lâm đến Việt nam</em></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/3674/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử nữ Đạo sư Dagmola Jamyang Sakya Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/tieu-su-nu-dao-su-dagmola-jamyang-sakya-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/tieu-su-nu-dao-su-dagmola-jamyang-sakya-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 01 Sep 2015 11:05:01 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Sakya]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Sakya]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3670</guid>
		<description><![CDATA[Nữ Đạo sư Dagmola Jamyang Sakya (Sakya Dagmo Kusho) - thường được các bạn hữu của bà gọi một cách trìu mến là Dagmola - sinh ở tỉnh Kham, miền Đông Tây Tạng. Những dấu hiệu tốt lành trước và trong khi Dagmola ra đời cho thấy đứa trẻ là một Lạt ma và gia đình Dagmola đã bối rối&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/tieu-su-nu-dao-su-dagmola-jamyang-sakya-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Nữ Đạo sư Dagmola Jamyang Sakya (Sakya Dagmo Kusho) - thường được các bạn hữu của bà gọi một cách trìu mến là Dagmola - sinh ở tỉnh Kham, miền Đông Tây Tạng. Những dấu hiệu tốt lành trước và trong khi Dagmola ra đời cho thấy đứa trẻ là một Lạt ma và gia đình Dagmola đã bối rối khi đứa trẻ vừa chào đời là một bé gái. Là cháu của Deshung Rinpoche III (1906-1987), một trong những Đạo sư chứng ngộ cao cấp nhất của dòng Sakya trong thế kỷ 20, Dagmola có may mắn khác thường là được hấp thụ một nền giáo dục Phật Giáo tốt đẹp. Ngay từ thời thơ ấu Dagmola đã bắt đầu việc tu hành. Khi mới lên tám, bà đã nhận lãnh các giáo lý của cả bốn trường phái Phật Giáo Tây Tạng và hiển lộ nhiều khả năng đặc biệt. Bà có thể nhìn thấy và liên lạc với những địa thần và nổi danh nhờ những giấc mơ thường có tính chất tiên tri và sâu sắc.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 15 tuổi, Dagmola kết hôn với một thanh niên của gia đình Sakya Khon, một trong những dòng truyền thừa tâm linh vương giả của Tây Tạng, trở thành Dagmo Kushog Sakya (Bà Mẹ Thiêng liêng Tôn kính), vợ của Đức Jigdal Dagchen Rinpoche, một trong những Lạt ma lãnh đạo của Dòng Sakya của Phật Giáo Tây Tạng, một truyền thống xuất phát từ thế kỷ 12 và vẫn còn tồn tại tới ngày nay. Kết quả của cuộc hôn nhân này là bà đảm đương gánh nặng khi gia nhập vào hàng ngũ của tầng lớp quý tộc Tây Tạng và đại diện cho truyền thống cổ xưa của dòng truyền thừa tâm linh này. Bà đã nhận lãnh những giáo lý rộng lớn và quán đảnh từ nhiều Lạt ma tôn kính và kiệt xuất kể cả Đức Dilgo Khyentse Rinpoche và Kalu Rinpoche. Bà đã làm thuần thục dòng tâm thức của mình bằng những khóa nhập thất và thực hành.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1959, Dagmola cùng chồng là Đức Jigdal Dagchen Sakya và gia đình đào thoát khỏi Tây Tạng. Trải qua những gian khổ và sợ hãi cùng cực trong chuyến đi, gia đình bà thường xuyên nương tựa vào việc cầu xin sự an toàn và tin vào những tiên tri cùng những điềm triệu dẫn dắt mọi người tới sự tự do. Trên đường đi, mẹ và người dì thân yêu của bà bị bắt giữ và đã chết trong nhà tù. Ngay cả trong những hoàn cảnh thảm khốc như thế gia đình bà đã biểu lộ sự kiên cường và can đảm thường có trong những người tị nạn Tây Tạng. Và như vậy chính định mệnh đã đưa người phụ nữ có nụ cười thanh thản và mái tóc đen nhánh này tới Hoa Kỳ để giảng dạy Phật Giáo Tây Tạng. Với niềm tin bất biến nơi Đức Phật và Đức Tara, tương lai không thể biết trước đã mang lại cơ hội cho Dagmola và gia đình bà. Năm 1961, dưới sự bảo trợ của Quỹ tài trợ Rockefeller, bà và gia đình rời trại tị nạn ở Ấn Độ tới Seattle để giảng dạy lịch sử và văn hóa Tây Tạng. Khi thời hạn ba năm trợ cấp đã hết, những người quý tộc thuộc giai cấp lãnh đạo của dòng Sakya phải lăn mình vào đời để có thể tồn tại. Chồng bà tìm được một công việc bán thời gian tại một viện bảo tàng của trường đại học, bà bắt đầu làm việc tại một ngân hàng máu, và năm cậu con trai đi cắt cỏ và rửa xe.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1974, Đức Jigdal Dagchen Sakya và Dagmola thành lập Tu viện Sakya ở Seattle. Không lâu sau đó, nhiều hành giả Hoa Kỳ tìm đến không chỉ khẩn cầu giáo lý và những sự ban phước, mà còn xin những chỉ dẫn về các vấn đề hôn nhân và những chuyện khác - là những vấn đề chẳng bao giờ họ hỏi các Lạt ma của họ. “Tôi không biết'' – bà trả lời cho họ. Các Lạt ma nói với bà bằng tiếng Tây Tạng, và bà bắt đầu đóng một vai trò không chính thức như một cố vấn tâm linh. Bà tiếp tục kháng cự lại những lời khẩn nài bà chính thức giảng dạy mãi cho tới năm 1985. Khi ấy, khi một nhóm nữ hành giả thỉnh cầu chú của bà (Deshung Rinpoche III) ở Ấn Độ cho phép bà giảng dạy. Vị Thầy này đã đồng ý và Dagmola quyết định rằng bà không thể từ chối được nữa. Bà nói: “Tôi nhận ra rằng Đức Tara muốn tôi làm điều này, và có vẻ như giáo lý mang lại cho mọi người sự cứu giúp, chữa lành và đáp ứng vô cùng to lớn theo ước nguyện của họ.”</p>
<p style="text-align: justify;">Như thế, bà đã được một trong những Đạo sư Phật Giáo Tây Tạng lỗi lạc nhất của Dòng Sakya và những Lạt ma Tây Tạng tôn quý khác cho phép đảm đương vai trò của Lạt ma (Đạo sư).</p>
<p style="text-align: justify;">Teresa Watanabe thuật lại như sau trong tờ Los Angeles Times, thứ Bảy 27 tháng Năm 2000: “Ngồi giữa một tranh thanka Tara Tây Tạng và một chiếc bàn chất đầy trái cây cúng dường, bà Sakya, 66 tuổi, nói: ‘Đức Tara như bà mẹ hiền chăm sóc tất cả chúng sinh. Khi bạn kêu cầu, ngài sẽ che chở bạn.’ (…) Về sau, trong một cuộc phỏng vấn, Sakya giải thích rằng Đức Tara tượng trưng cho những phẩm tính tương tự như lòng nhân từ và bi mẫn của Kuan Yin (Đức Quán Thế Âm) trong Phật Giáo Trung Hoa, Kannon (Đức Quan Âm) của Phật Giáo Nhật Bản và ngay cả Đức Mẹ Đồng Trinh của Thiên Chúa Giáo. Có lần Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói rằng Mẹ Teresa quá cố cũng là một hiện thân của Đức   Tara.”</p>
<p style="text-align: justify;">Từ khi tới Hoa Kỳ, trong nhiều năm, Dagmola và chồng đã thiết lập một tu viện và trung tâm văn hóa Tây Tạng hoạt động hữu hiệu ở Seattle, Washington. Trong khi chờ đợi, trong sự sâu thẳm của nội tâm, Dagmola đã lặng lẽ hiến mình cho việc thực hành tâm linh dưới sự dẫn dắt của người chú tôn kính của bà là Deshung Rinpoche quá cố. Dagmola duyên dáng, nhân từ, sâu sắc, nói tiếng Anh lưu loát và rất dễ gần. Bà đã hết lòng nuôi dạy năm người con trai và giúp đỡ chồng trong nhiều Phật sự.</p>
<p style="text-align: justify;">Hạnh nguyện của Dagmola Dagmola ban quán đảnh và giảng dạy đều đặn tại Tu viện Sakya. Bà đã sáng lập Trung tâm Mother Tara Sakya tại Pasadena, California và đã thiết lập các trung tâm tại Kona, Hawaii, Flagstaff, Arizona, và Mexico City.</p>
<p style="text-align: justify;">Dagmola là một mẫu mực đầy cảm hứng của một cuộc đời thấm đẫm Giáo Pháp – bà đã hiến mình cho việc nghiên cứu, thực hành, và giảng dạy Phật Pháp với kinh nghiệm sâu rộng về Đức Tara. Dagmola là đồng-tác giả quyển <em>Princess in the Land of Snows </em>(Công chúa Xứ Tuyết), một quyển sách làm say đắm lòng người, viết về đời bà ở Tây Tạng và cuộc đào thoát của gia đình bà khi vượt qua Rặng Himalaya vào năm 1959.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Đây là câu chuyện của bà:</strong></p>
<p style="text-align: justify;"> Tôi sinh ra ở Tây Tạng. Ngay từ thời thơ ấu tôi đã được chú tôi là ngài Deshung Rinpoche dẫn dắt vào Phật Giáo Tây Tạng. Tôi đã sống nhiều năm ở ba quốc gia khác nhau và đã chứng kiến nhiều cuộc đổi dời kể cả việc đất nước tôi bị mất vào tay Trung quốc, chuyến du hành của con người lên mặt trăng, sự sụp đổ của Liên Bang Sô viết vĩ đại và vô số những sự kiện khác mà bề ngoài dường như không thể xảy ra. Tuy nhiên, một điều luôn luôn bất biến trong đời tôi là niềm tin của tôi nơi Phật Pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">Có nhiều vị Phật, Bồ Tát và Bổn Tôn trong Phật Giáo Tây Tạng. Bổn Tôn riêng của tôi là Đức Tara, là vị mà tôi đã thực hành trong nhiều năm. Đức Tara là một nữ Bồ Tát hay một đấng giác ngộ. Tôi đã thọ nhận những nhập môn, giáo lý và những khẩu truyền về Đức Tara từ nhiều Đạo sư uyên bác và cuối cùng do sự khẩn nài của các vị Thầy và của chồng tôi, Đức Dagchen Rinpoche, tôi đã bắt đầu giảng dạy. Là một trong số ít những nữ Đạo sư Phật Giáo Tây Tạng, tôi cảm thấy mình thật may mắn được đứng ở một vị trí làm lợi lạc cho người khác ở khắp nơi trên thế giới. Đồng thời, đó là một kinh nghiệm khiêm tốn về việc tôi thường được nhắc đến như một hiện thân của Đức Tara. Là những Phật tử, một trong những điều trước tiên chúng ta cần phải học là tánh khiêm tốn. Bởi cái tôi hay bản ngã là gốc rễ của mọi đau khổ trong thế gian nên điều quan trọng là phải hạn chế cái tôi đó. Tuy nhiên, bởi các đệ tử của tôi cứ khăng khăng ám chỉ tôi là một hiện thân của Tara nên tôi phải gánh thêm trách nhiệm là đóng vai trò của Đức Tara trong mọi phẩm tính tốt lành của ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Lúc ban đầu, tôi hơi do dự trong việc giảng dạy cho những đệ tử có nền giáo dục cao cấp, nhưng không lâu sau đó tôi đã nhận ra rằng tôi có thể thực sự chìa tay ra cho mọi người và chạm vào cuộc đời của họ để làm lợi lạc cho họ theo cách thế mà không có nền giáo dục hay của cải nào có thể mang lại được. Điều có thể thực sự đúc kết được là niềm tin. Tôi đã nhìn thấy những điều thần diệu xảy ra trong đời tôi, và rõ ràng là niềm tin tự nó đã là một điều nhiệm màu. Nhiều đệ tử của tôi là những bác sĩ, khi thì là những người thực hành y khoa, khi khác lại là những thầy thuốc. Họ tới gặp tôi, nhận các nhập môn, giáo lý và thực hành Tara, và tôi thấy niềm tin của họ phản chiếu trong công việc và những mối quan hệ của họ với các bệnh nhân. Với sự hiểu biết về những nguyên lý căn bản của Phật Pháp và với một cam kết kiên quyết thực hành Tara, tôi đã cảm nhận được lòng bi mẫn của những bác sĩ này đối với bệnh nhân của họ. Tôi đã nhìn thấy sự nhẫn nại của những nhà trị liệu này trong khi chữa trị cho bệnh nhân, và tôi cảm nhận được lòng bi mẫn của những thầy thuốc này khi họ sử dụng tài năng đặc biệt của họ để chữa bệnh. Tôi đã gặp các phụ nữ có những vấn đề trong việc mang thai và sau khi thực hành Tara họ may mắn có được một đứa con. Có những người bị rối loạn tinh thần đã cảm thấy thư thản hơn nhờ tập trung trì tụng các thần chú tán thán Đức Tara. Những điều huyền nhiệm như thế không xảy ra mỗi ngày trong đời tôi, nhưng khi xảy tới chúng mang lại cho tôi niềm vui và sự mãn nguyện.</p>
<p style="text-align: justify;">Là một nữ Đạo sư, tôi cảm thấy các phụ nữ có thể gắn bó trực tiếp và thẳng thắn với tôi hơn nữa và nhờ đó đã giúp cho tôi củng cố nhiều tình bạn với một vài phụ nữ kỳ diệu, tốt lành và tràn đầy bi mẫn, và tới lượt họ, họ đã hộ trì để quảng bá thông điệp của Đức Tara. Là những chúng sinh, tất cả chúng ta đều tùy thuộc vào những người khác. Giống như các đệ tử của tôi nương tựa nơi tôi để nhận được sự hướng dẫn và các giải pháp, tôi phụ thuộc vào họ để thực hành lòng kiên nhẫn và bi mẫn. Tôi học được rất nhiều từ cuộc đời và những kinh nghiệm của họ, và tôi dành dụm một mẩu nhỏ của những điều ấy trong trái tim tôi để nhớ tới họ và cầu nguyện cho hạnh phúc của họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi là mẹ của năm cậu con trai và có bảy đứa cháu, và vì thế tôi tiếp tục học tập những điều mới mẻ vào mỗi bước ngoặt của đời tôi. Việc thực hành Phật Pháp và đặc biệt là thực hành Tara đã làm cuộc đời tôi thêm phong phú, và ước nguyện thiết tha nhất của tôi là muốn được chia sẻ cảm xúc quý báu này với tất cả những ai đến với tôi.. »</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Trung tâm Mother Tara Sakya “Tara Ling”</strong></p>
<p style="text-align: justify;"> Sau 33 năm làm việc tại ngân hàng máu ở Seattle, Dagmola mơ tới việc thành lập một Trung tâm Tara tại Los Angeles. Một nhóm người ủng hộ đã bắt đầu nỗ lực thiết lập một địa điểm để bà có thể giảng dạy, hướng dẫn việc thực hành và tổ chức các khóa nhập thất về Đức Tara. Trong số những người ủng hộ này có cả trưởng nam của bà là David Minzu Khon - người có thể trở thành nhà lãnh đạo của Dòng Sakya, giờ đây đang sống ở Beverly Hills. Ông đã tìm ra con đường để giúp đỡ Tây Tạng không phải bằng cách trùm lên đầu chiếc mũ Lạt Ma mà như một giám đốc ngân hàng và hiện nay là nhà tài trợ cho cuộn phim có ngân sách khổng lồ “Bảy Năm ở Tây Tạng,” trong số những đề án khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Trung tâm Mother Tara Sakya do Dagmo Kusho Sakya thành lập vào ngày 30 tháng Sáu năm 2000 với những điều tốt lành và sự ban phước của Đức Đạt Lai Lạt Ma và chồng bà - Đức Jigdal Dagchen Sakya (Dagchen Rinpoche).</p>
<p style="text-align: justify;">Dagchen Rinpoche đã đặt tên cho trung tâm là “Mother Tara Sakya Center” và Đức Đạt Lai Lạt Ma ban tặng danh hiệu là “Tara Ling”. Dagmola đã mang  giáo lý và sự ban phước đến cho nhiều đệ tử của bà khắp mọi nơi trên thế giới.</p>
<p style="text-align: justify;">Trung tâm Mother Tara Sakya là một trung tâm Phật Giáo Tây Tạng được tổ chức trên căn bản tự nguyện, không bộ phái, phi lợi nhuận, có hai địa điểm tại Pasadena và Los Angeles thuộc tiểu bang California. Đức Sakya Trizin đã ban phước cho trung tâm và giảng dạy giáo lý. Dagchen Rinpoche cũng ban  phước, ban các quán đảnh và một giáo lý Ngon-dro.</p>
<p style="text-align: justify;">Sứ mệnh của “Tara Ling” là góp phần vào việc bảo tồn và giảng dạy văn hóa và triết học Tây Tạng cho tất cả những ai quan tâm.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Thông tin liên lạc</strong></p>
<p style="text-align: justify;"> Mother Tara Sakya Center "Tara-Ling"</p>
<p style="text-align: justify;">65 N. Raymond Avenue, # B001, Pasadena, CA 91103 Jamyang (323) 254-7805</p>
<p style="text-align: justify;">Sue Hall (310) 985-0181</p>
<p style="text-align: justify;">E-mail: <a href="mailto:info@taraling.org">info@taraling.org</a> Website: <a href="http://www.taraling.org/">http://www.taraling.org</a></p>
<p style="text-align: justify;">Yujean Kang, President (714) 662-1098</p>
<p style="text-align: justify;">Steve Gomberg-Sunday Chenrezi Practice Leading Monk</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Thanh Liên biên dịch từ các bài:</em></p>
<p style="text-align: justify;">- “Lamas”</p>
<p style="text-align: justify;"> <a href="http://sakya.org/Lamas.htm">http://sakya.org/Lamas.htm</a></p>
<p style="text-align: justify;"> - Mother Tara Sskya Center   "Tara-Ling"</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.sakya.org/Other_Sakya_Centers.htm">http://www.sakya.org/Other_Sakya_Centers.htm</a></p>
<p style="text-align: justify;">- “Jamyang Sakya : General Reviews”</p>
<p style="text-align: justify;"> <u>http://www.devaworld.com/index.cfm/fuseaction/review.general/review_id/214</u></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/tieu-su-nu-dao-su-dagmola-jamyang-sakya-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử ngắn của Đức Ratna Vajra Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/tieu-su-ngan-cua-duc-ratna-vajra-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/tieu-su-ngan-cua-duc-ratna-vajra-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 01 Sep 2015 10:57:23 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Sakya]]></category>
		<category><![CDATA[Thực Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm kiếm]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Sakya]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3667</guid>
		<description><![CDATA[Trước hết, tôi muốn giải thích ngắn gọn về lịch sử Phật giáo Tây Tạng. Như các bạn đã biết, để dẫn dắt chúng sinh khỏi những khổ đau và sự không thỏa mãn về hạnh phúc tạm bợ thế gian, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni vì chúng sinh mà đã chuyển bánh xe Pháp, truyền bá các giáo&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/tieu-su-ngan-cua-duc-ratna-vajra-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Trước hết, tôi muốn giải thích ngắn gọn về lịch sử Phật giáo Tây Tạng. Như các bạn đã biết, để dẫn dắt chúng sinh khỏi những khổ đau và sự không thỏa mãn về hạnh phúc tạm bợ thế gian, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni vì chúng sinh mà đã chuyển bánh xe Pháp, truyền bá các giáo lý phù hợp với tâm tính của các đệ tử tùy mức độ và căn cơ của họ.<br />
Ngài đã giảng Pháp ở nhiều địa điểm khác nhau, nhiều thời điểm khác nhau và bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau. Toàn bộ Giáo lý của Đức Phật được lưu giữ lại trong Kinh Điển được gọi là Tam Tạng Kinh Điển (Tripitaka hay Ba Cái Rổ) đó là Luật Tạng, Kinh Tạng và Vi Diệu Pháp Tạng.<br />
Về sau, những bình giảng thâm sâu được soạn ra bởi các vị Đạo sư cao cấp và các học giả Ấn Độ. Đã hàng trăm năm nay, giáo lý của Đức Phật được truyền bá tới nhiều quốc gia làm lợi lạc cho vô số chúng sinh. Vào thế kỉ thứ tư sau Công Nguyên, trong suốt thời gian trị vì của Vua Pháp Lha Tho Tho Ri Nyen Tsen, giáo Pháp Đức Phật đã được đưa đến Xứ Tuyết này.<br />
Năm thế hệ sau, Vua Pháp Songtsen Gampo đã chính thức tôn vinh Đạo Phật là tôn giáo chính thức của Tây Tạng. Năm thế hệ sau nữa, Vua Pháp Trison Detsen đã mời Bồ Tát Tịch Hộ (Shantarakshita) và Đạo sư lừng lẫy Liên Hoa Sinh (Padmasambhava) đến Tây Tạng để hoằng truyền Phật pháp và thống nhất quy tắc chung trong việc lưu giữ Kinh điển, Mật điển và các tài liệu bằng tiếng Tạng. Những giáo lý này vẫn được trì giữ bởi các Đạo sư vĩ đại của Phật giáo Tây Tạng cho đến ngày nay.<br />
Bây giờ tôi sẽ viết về bối cảnh gia tộc và dòng truyền thừa của tôi. Gia tộc chúng tôi được biết đến là gia tộc Khon. Dòng truyền thừa của gia tộc chúng tôi đã được trì giữ hàng nghìn năm nay. Dòng dõi tổ tiên của gia tộc là người cõi trời, các vị trời đã giáng sinh từ cõi Tịnh Quang trong cõi trời Sắc giới. Sau một vài thế hệ, một thành viên trong gia tộc Khon là Yapang Kye đã điều phục được rất nhiều yêu tinh, quỷ dữ nên gia tộc đã được ban danh “Khon”.</p>
<p>Vài thế hệ sau, vào năm 1073, một thành viên trong gia tộc Khon, một vị Đạo sư lừng lẫy với Pháp hiệu là Khön Könchok Gyalpo, đã thiết lập trường phái Sakya vinh quang, một trong 4 trường phái của Phật giáo Tây Tạng. Kể từ đó, các thế hệ tiếp theo của gia tộc Khon đã tiếp nối dòng truyền thừa không gián đoạn này. Nhiều Đạo sư chứng ngộ vĩ đại đã xuất hiện để trì giữ dòng truyền thừa Khon lừng lẫy này, gồm cả 5 người sáng lập vĩ đại của dòng Sakya là Đức Sachen Kunga Nyingpo vĩ đại (1092-1158), Loppon Rinpoche Sonam Tsemo (1142-1182), Jetsun Rinpoche Dragpa Gyaltsen, (1147-1216), Chöje Sakya Pandita (1182-1251) và Drogön Chögyal Phagpa (1235-1280). Tất cả các ngài đều là hiện thân của Đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (sự thị hiện cho trí tuệ của Chư Phật), Đức Quán Thế Âm Bồ Tát (sự thị hiện của tâm từ bi của Chư Phật) và Đức Kim Cương Thủ (sự thị hiện cho sức mạnh của Chư Phật).</p>
<p style="text-align: justify;">Vua Mông Cổ Godan Khan, cháu trai của Gingis Khan đã mời Choje Sakya Pandita và Drongon Chogyal Phagpa tới Trung Quốc và cùng nhau ở đó một thời gian. Chính điều này đã tạo ra sự kết nối về Pháp giữa trường phái Sakya và những người Mông Cổ và Trung Quốc. Drogon Chögyal Phagpa đã phát minh ra các kí tự Mông Cổ. Theo thỉnh cầu của một trong các vua Mông Cổ, Chögyal Phagpa đã được tôn lên làm vua Tây Tạng.<br />
Từ lúc khởi xướng trường phái Sakya cho đến nay, các thành viên trong gia tộc Khon đã đóng vai trò quan trọng, đặc biệt đối với trường phái Sakya nói riêng và Phật giáo Tây Tạng nói chung. Họ đã trì giữ và truyền bá các giáo lý quý giá và thâm diệu của Đức Phật dưới nhiều hình thức khác nhau. Họ đã soạn ra rất nhiều bản văn. Qua việc soạn thảo các luận thuyết và tham gia vào các cuộc tranh biện, họ đã thiết lập ra nền tảng logic và niềm tin vào giáo lý Đức Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Trường phái Sakya vinh quang đã phát triển nhờ dòng truyền thừa không gián đoạn của nhiều Học giả và các Đại thành tựu giả. Sức ảnh hưởng của Trường phái Sakya vinh quang lan rộng tới nhiều vùng miền. Nhiều bản văn và lịch sử cổ đại được soạn ra bới các Học giả vĩ đại của nhiều trường phái đã mô tả rõ nét cách họ nỗ lực và thúc đẩy các hoạt động như thế nào để truyền bá ánh sáng giáo lý quý giá của Đức Phật tới chúng sinh, mà không hề khoa trương hay thiên vị bất cứ dòng phái nào. Đức Vajradhara Ngawang Kunga Theckchen Palbar Trinley Samphel Wangi Gyalpo, vị đứng đầu tối cao của trường phái Sakya (Đức Sakya Trizin đời thứ 41) là người kế nhiệm của Đức Vajradhara Ngawang Kunga Rinchen tại cung điện Dolma Phodrang để duy trì và phát triển dòng truyền thừa quý giá này vị lợi ích chúng sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1974, để duy trì dòng truyền thừa không gián đoạn của gia tộc Khon, Đức Sakya Trizin đã chấp nhận lời thỉnh cầu của nhiều Lama và người dì, kết hợp với Khandro Tashi Lhakee, là vị phối ngẫu tâm linh của Ngài. Bà là con gái bộ trưởng của Vua Dege ở tỉnh Kham, thuộc miền Đông Tây Tạng. Khandro Tashi Lhakee đến Dolma Phodrang cùng với nhiều dấu hiệu tốt lành. Vào ngày 19 tháng 11 năm 1974, tức ngày mùng 5 tháng 10 Âm lịch, lúc 9.10 sáng theo giờ Ấn Độ, Dagmo Kusho Tashi Lhakee đã sinh ra tôi tại bệnh viện Kalhan ở Dehra Dun, Ấn Độ. Do lòng tốt của Mẹ tôi Tashi Lhakee, tôi đã có được cuộc sống quý giá của một con người, có cơ hội gặp gỡ nhiều vị Thầy thiêng liêng và thọ nhận những giáo lý quý giá và thâm diệu từ các Ngài. Bà cũng đối với tôi rất tốt ở nhiều phương diện khác nhau.</p>
<p style="text-align: justify;">Chẳng bao lâu sau khi được sinh ra, cha tôi Đức Sakya Trizin đã đến thăm tôi. Ngài đã thực hiện các nghi lễ truyền thống và ban cho tôi rất nhiều thuốc quý với nhiều phước lành. Ngài cũng vẽ một chữ cái Tây Tạng DHI (chủng tử Đức Văn Thù ) trên lưỡi của tôi cùng với thuốc trí tuệ và nước nghệ tây để giúp tôi phát triển trí tuệ. Ngày 23 tháng 11 tôi được đưa đến Dolma Phodrang lần đầu tiên. Đức Sakya Trizin đã thực hiện các nghi lễ và các nhập môn cho tôi và cũng đã ban cho tôi pháp danh là Ratna Vajra.</p>
<p>Vào ngày 23 tháng 12, khi lần đầu tiên đến thăm trung tâm Sakya ở Rajpur, tôi đã nhận được sự chào đón của tăng đoàn và những người dân ở đây theo cách truyền thống. Sau đó, tôi cùng cha mẹ và những người tùy tùng tới Lumbini – Nepal, cung điện nơi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đản sinh. Tại đây, sau khi thảo luận với Đức Kyabje Chogye Trichen Rinpoche, họ đã quyết định ban danh chính thức cho tôi là Ngawang Kunga Lodroe Wangchuk Rinchen Jigmed Trinley, đây là sự kết hợp tên các vị Thầy gốc của cha tôi và các Đạo Sư của Dolma Phodrang. Dựa vào điều này, Đức Chogey Trichen Rinpoche đã viết bài cầu nguyện trường thọ cho tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó tôi đã đến thăm Đại Bảo Tháp Boudha ở Nepal. Vào ngày 29 tháng 2 Âm Lịch, lễ kỉ niệm Jamgon Loter Wangpo, tôi đã thọ nhận nghi lễ tôn phong truyền thống tại Tu viện của Đức Tharig Rinpoche. Lúc đó, tôi khoảng 5 tháng tuổi. Trong suốt thời gian đó, bài cầu nguyện trường thọ cho tôi đã được trì trụng lần đầu tiên. Trong lúc mọi người đang trì tụng bài cầu nguyện, có một vị đã trao cho tôi tiểu sử của Đức Vajradhara Ngorchen Kunga Sangpo được viết bằng vàng. Tôi đã vô cùng may mắn khi nhận được tiểu sử thiêng liêng này mà không hề có sự sắp đặt từ trước.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày mùng 5 tháng 6 năm 1975, cha tôi Đức Sakya Trizin đã ban cho tôi những giới nguyện Quy Y trước bức tượng Đức Phật quý giá. Năm 1976, tôi đã đến thăm Darjeeling, Ladhak và miền nam Ấn Độ cùng với cha tôi Đức Sakya Trizin và Mẹ tôi Tashi Lhakee. Năm 1977, tôi cùng cha mẹ đến thăm nhiều quốc gia ở hải ngoại, và đã tới Đông Nam Á, châu Âu và Bắc Mĩ hơn 16 tháng. Khi ở những quốc gia này, tôi bắt đầu nói tiếng Anh nhưng không thể đọc được từ nào vào thời điểm đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Kể từ đó, tôi đã đồng hành cùng cha tôi đến nhiều địa điểm của Ấn Độ và nước ngoài, như Úc, Áo, Canada, Anh, Pháp, Đức, Hung-ga-ri, Ý, Malai, Monaco, Nepal, Phần Lan, Niu-Zi-Lân, Xờ-Cốt-len, Singapo, Tây Ban Nha, Thụy Điển và Mỹ. Vào ngày mùng 5 tháng 7 năm 1979, tức mùng 10 tháng 5 Âm Lịch, kỉ niệm ngày đản sinh của Đức Liên Hoa Sinh, em trai tôi Gyana Vajra Rinpoche được sinh ra với những dấu hiệu tốt lành.<br />
Buổi sáng ngày mùng 3 tháng 10, sau nghi lễ truyền thống đánh dấu sự khởi đầu về việc tu học chính thức của tôi, cha tôi Đức Sakya Trizin đã ban trao truyền đọc về sự kính trọng Đức Văn Thù và dạy tôi bảng chữ cái tiếng Tạng trong vài tháng. Năm 1980, Thầy dạy riêng của tôi Đức Rinchen Sangpo từ Kalimpong đến. Ngài dạy tôi đọc, viết, lịch sử và ngữ pháp trong vài năm. Ngài đối với tôi rất tốt và đã rất nỗ lực giúp tôi nắm được kiến thức.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày 14 tháng 11 tháng Âm lịch, ngày kỉ niệm với nhiều dấu hiệu tốt lành của Jamgon Sakya Pandita (20 tháng 12 năm 1980), tại Tu viện Sakya Thubten Namgyal Ling monastery, Puruwala, Ấn Độ, tôi bắt đầu thọ nhận giáo lý Lamdre - Con đường và kết quả quý giá từ Đức Sakya Trizin cùng với nhiều vị Lama, Tulkul, Tu viện trưởng cao cấp, hơn 700 tăng ni và khoảng 500 tín đồ trong đó có rất nhiều người đến từ hải ngoại.<br />
Vào ngày 10 tháng 10 năm 1981với sự hiện diện của người cha tôn quý của tôi, giáo thọ và các thành viên xuất sắc của Trung tâm Sakya. Tôi đã tham gia kì thi vấn đáp đầu tiên với các bản kinh như: Kinh Niệm Ân Đức Tam Bảo (Remembrance of the Triple Gem), Kinh ba phần sám hối (Three Heap Sutra), Kinh Sám hối các tội đọa (Confession Sutra) và Những lời cầu nguyện của Đạo sư Truyền thừa v.v.. Kể từ đó tôi đã tham gia nhiều kì thi vấn đáp, gồm các kì thi đọc tụng mà tôi phải là người làm chủ các nghi thức đặc biệt ở trung tâm Sakya. Năm 1986 tôi đã thực hiện ẩn tu cùng với mẹ tôi. Vào ngày 14 tháng 1 năm 1987, tôi bắt đầu học các giai điệu nghi thức từ cha tôi Đức Sakya Trizin.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1990, tôi đã nhập học cao đằng Sakya và học triết học chủ yếu dưới sự chỉ dạy của Khenpo tôn quý Ngawang Lekshey Kunga Rinpoche (sau này là Khenpo Migmar Tsering) khoảng vài năm. Tôi đã nhận bằng Kachupa, tương đương với bằng BA. Tôi đã thọ nhận nhiều giáo lý bí truyền, như các lễ quán đảnh, các lễ ban phước, lễ nhập môn, khẩu truyền, giảng giải và hướng dẫn từ cha tôi Đức Sakya Trizin. Tôi không thể giải thích bằng lời lòng tốt và sự hướng dẫn mà Ngài đã dành cho tôi. Thật sự không thể diễn tả và tưởng tượng được. Ngài chính là vị Thầy gốc, là Phật, Bổn tôn, là Pháp là Tăng của tôi. Tôi cũng đã thọ nhận rất nhiều giáo lý bí mật, thiêng liêng từ các Đạo sư Kim Cương (Vajradharas), như là Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, Đức Kyabje Chogey Trichen Rinpoche, Kyabje Luding Khenchen Rinpoche, Kyabje Dungsay Gyana Vajra Rinpoche, Kyabje Luding Khen Rinpoche và Late Kyabje Deshung Rinpoche. Đức Jamgon Lama. Sakya Pandita vĩ đại đã nói rằng “Người mà nhận được giáo lý Đại thừa cao cấp chính là Đức Phật thực sự” Vì thế những vị Thầy vĩ đại này vô cùng thiêng liêng đối với tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ rất nhiều nhà thông thái vĩ đại và những Khenpo tôn kính của trường phái Sakya như Đức Appey Khen Rinpoche, Khenpo Kunga Wangchuk Rinpoche, Khenpo Ngawang Lekshey Kunga Rinpoche and Khenpo Lungrik Senge Rinpoche, tôi đã thọ nhận các giáo lý về các chủ đề chính của triết học Phật giáo như Vi Diệu Pháp (Abhidharma), Bát Nhã Tâm Kinh (Prajnaparamita), Lượng học (Pramana), Trung Luận (Madhyamaka) và Trisamvaraprakarana (Bản văn nổi tiếng tạm dịch “Sự khác biệt của ba giới nguyện - Differentiation of Three Vows” của Bậc Thầy lừng danh Sakya Pandita). Tôi cảm thấy mang ơn những bậc Đạo sư này vì lòng tốt không sao kể xiết, các vị đã ban truyền những giáo lý thâm diệu, quý giá, còn quý giá và hiếm hơn cả ngọc như ý. Tôi đã học rất nhiều giai điệu của các nhạc khí dành cho các nghi lễ từ Tỳ khưu Nyima Woser và tôi học tiếng Anh từ 10 giáo viên, mỗi người trong số họ dạy tôi một khoảng thời gian.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì thế tôi đã có được cuộc sống vô cùng quý giá của một con người và tôi cũng đã gặp và thọ nhận các giáo lý thậm thâm như đại dương của Đức Phật từ rất nhiều Đại sư vĩ đại. Tuy nhiên, do thiếu đam mê và nỗ lực, nền học vấn của tôi không mấy khả quan và tôi cũng không phải người thực hành Pháp tinh tấn. Tiểu sử này được viết ra là dựa vào mặt tích cực của cuộc đời tôi. Tôi đã viết điều này vào tháng 10 năm 2001 và được hiệu đính bởi Ngài Tsering Migyur. Tiểu sử này được chỉnh sửa năm 2002 cùng với Dolma Lhamo.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nguồn: http://www.hhthesakyatrizin.org/bio_hervr.html</em></p>
<p style="text-align: justify;">Việt ngữ: Nhóm Viet Rigpa Lotsawas<br />
Hiệu đính: Giác Nhiên</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Mọi sai sót đều do người dịch và người hiệu đính. Có chút phước đức nhỏ nhoi nào xin hồi hướng tới sự trường thọ Đức Sakya Trizin thứ 42 - Đức Ratna Vajra Rinpoche và cầu chúc cho giáo Pháp của truyền thừa Sakya sẽ lan rộng khắp Việt nam và chuyến hoằng pháp của Ngài tại Việt nam tháng 10 năm 2017 sẽ làm lợi lạc cho vô số hữu tình chúng sinh. Mong mọi sự tốt lành.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-sakya/tieu-su-ngan-cua-duc-ratna-vajra-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử Đức Gaton Ngawang Lekpa Rinpoche</title>
		<link>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-gaton-ngawang-lekpa-rinpoche/</link>
		<comments>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-gaton-ngawang-lekpa-rinpoche/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 01 Sep 2015 10:49:30 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[Vajrayana Vietnam]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Nyingma]]></category>
		<category><![CDATA[Sakya]]></category>
		<category><![CDATA[Đạo sư Sakya]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://kimcuongthua.vn/?p=3658</guid>
		<description><![CDATA[Khi đọc tiểu sử của những Đạo sư tâm linh Phật Giáo vĩ đại, ta thấy rất nhiều vị ngay từ khi còn nhỏ đã được xác nhận là Hóa Thân của những Đạo sư Phật Giáo nổi tiếng và chứng ngộ cao cấp. Đôi khi ta có thể có cảm tưởng rằng chúng ta không thể đạt được những&#160;<a href="https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-gaton-ngawang-lekpa-rinpoche/" class="read-more">Continue Reading</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Khi đọc tiểu sử của những Đạo sư tâm linh Phật Giáo vĩ đại, ta thấy rất nhiều vị ngay từ khi còn nhỏ đã được xác nhận là Hóa Thân của những Đạo sư Phật Giáo nổi tiếng và chứng ngộ cao cấp. Đôi khi ta có thể có cảm tưởng rằng chúng ta không thể đạt được những thành tựu của các ngài. Ta có thể nghĩ rằng những Đạo sư này, là những tái sinh của các hành giả vĩ đại, đã đạt được những đỉnh cao của thành tựu tâm linh mà chúng ta chẳng bao giờ có thể chạm tới trong đời này. Tiểu sử của Gaton Ngawang Lekpa Rinpoche vĩ đại đã gây hứng khởi cho chúng ta, nhờ đó chúng ta tin vào những khả năng và sự nhẫn nại của mình, bởi cuộc đời ngài là một tấm gương sáng cho ta thấy làm thế nào một người sinh ra trong những hoàn cảnh bình thường đã đạt được tuyệt đỉnh của sự chứng ngộ tâm linh.</p>
<p style="text-align: justify;"> Lekpa Rinpoche là một hành giả vĩ đại và là Đạo sư của Dezhung Rinpoche III (1906-1987), một Đạo sư cao cấp của truyền thống Sakya. Ngài sinh tại làng Dzinda thuộc tỉnh Kham, Tây Tạng vào năm Mộc Tí (1864) trong một gia đình bình thường. Ngài được nuôi dạy như bất kỳ đứa trẻ trung bình nào khác, không có những thuận lợi và của cải vật chất lớn lao. Thân phụ của ngài là Kunga Trakpa và thân mẫu là Lhamo Dronma. Khi mang thai ngài, mẹ ngài mơ thấy thân bà là một tu viện. Lhamo Dronma cũng có một linh kiến về vị bảo hộ Citipati nhảy múa kế bên hang động của Ngawang Shedrup Gyatso. Vị Thầy này nói với bà rằng Lekpa Rinpoche là hóa thân của Ngor Ewam Ponpop. Lạt ma Ngawang Shedrup rất thông thạo các thực hành Vajrayogini, đã dạy Lekpa Rinpoche đọc. Citipati, vị bảo hộ vĩ đại của Lekpa Rinpoche, đã xuất hiện. Trong giai đoạn này của cuộc đời ngài, mặc dù sống gần một tu viện của phái Drikung, Rinpoche luôn luôn trốn khỏi nhà và cố gắng đi tới tu viện Tharlam (1) ở cách đó khá xa. Năm lên bảy tuổi, ngài nhận những giới nguyện cư sĩ, những nhập môn Hevajra Nguyên nhân và Con Đường và Sarasvati Trắng từ Đạo sư Ngor Khenchen Dorje Chang Kunga Tenpa’i Lodro. Khi thọ giới cư sĩ ngài được ban pháp danh Tsultrim Gyaltsen. Vào lúc này Ngor Khenchen nói rằng trong đời trước Tsultrim Gyaltsen là một tulku của tu viện Tharlam. Việc xác nhận ngài là một Hóa Thân của Ngor Ewam (2) chỉ là thứ yếu. Không lâu sau đó vị Thầy linh thánh này qua đời. Năm lên chín tuổi, Rinpoche hoàn tất các khóa nhập thất Tara Trắng và Bhutadamara Vajrapani. Năm lên mười tuổi, ngài nhận lãnh đầy đủ nhập môn và những giáo huấn của Nara Khachodma. Từ mười hai tới mười sáu tuổi ngài được Oumsey Lodro Zangpo chăm sóc và đó là một giai đoạn khó khăn trong đời ngài. Năm mười sáu tuổi ngài nhận từ Kenpo Thutop Wangchug Jamyang Tenzin Thinley toàn bộ Bốn Dòng Mahakala trong thân tướng hai tay, bên ngoài, bên trong và bí mật. Sau khi thực hiện xong một khóa nhập thất ba tháng hoàn thành 100.000.000 thần chú ngắn và 6.400.000 thần chú dài, Rinpoche thực sự nhìn thấy Mahakala. Trong khóa nhập thất, torma cúng dường phát triển thành lông đen và dày giống như lông của một con bò yak, và dưới ánh nắng mặt trời chúng phản chiếu nhiều màu sắc khác nhau như một cầu vồng. Trong bản văn lịch sử Caturmukha Mahakala, torma phát triển thành lông đen là một dấu hiệu của việc đạt được những siddhi (thành tựu). Điều này cũng được tìm thấy trong những tiểu sử của nhiều Lạt ma vĩ đại. Bốn Dòng Mahakala là từ Vajrasana, Gyadhara, Mal Lotsawa, và Kashmiri Pandita Shakyashri. Từ Khenpo Thutop Wangchug ngài cũng nhận nhập môn và những giáo huấn rất rộng lớn của Naro Kachodma, việc đọc Kinh sách (lung) đối với Tuyển tập của Morchen, Yogini, và nhập môn Citipati, v.v..</p>
<p style="text-align: justify;"> Năm mười tám tuổi, sau khi chứng kiến cảnh các thú vật bị làm thịt, ngài trở thành người ăn chay. Du hành tới Tu viện Ngor Ewam Choden, ngài ở đó hai năm, nhận từ Khangsar Khenpo Chetsun Ngawang Lodro Nyingpo ba nhập môn chuẩn bị Bhutadamara, Ushnishavijaya và Parnashavari. Sau đó ngài nhận lung (tụng đọc Kinh sách) Lamdre Tsoshe, Pod Ser, Pod Mar, Thartse Panchen Cho Chod, và nhập môn cùng các giáo huấn đối với Shri Caturmukha. Như tập quán tại tu viện Ngor Ewam, trong Lamdre này, Rinpoche thọ giới Tỳ Kheo và được ban Pháp danh Ngawang Lekpa. Từ lúc này cho tới cuối đời ngài triệt để giữ gìn giới luật thật hoàn hảo và không ăn sau giờ ngọ.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó, Rinpoche du hành tới Sakya, ở đó ngài nhận giáo huấn về Luật từ Rabjam Sherab Chophel, và “Ba Giới nguyện” của Sakya Pandita trước mặt Tu viện trưởng Lhakang Chenmo Champa Cho Tashi. Ngài nhận những sự ban phước từ Sakya Trizin Kunga Tashi. Trong mùa hè ngài nhận giáo lý Vajramala cùng với việc tụng đọc Kinh sách (lung).</p>
<p style="text-align: justify;">Trở về Ngor, trước mặt Kunu Lama vĩ đại của Ngor là ngài Chogtrul Jamyang Sherab Gyatso, ngài nhận Lamdre thật chi tiết; “Ba Thị Kiến,” và “Ba Tantra” của Ngorchen Konchog Lhundrup và “Những Tia sáng Mặt trăng” của Ngorchen Kunga Zangpo, và “Tia sáng Mặt trời” của Tsarchen Losal Gyatso, Dòng Thành tựu Vương giả của Hevajra cùng những giáo huấn về Các Giai đoạn Phát triển và Thành tựu, cùng nhiều giáo lý khác; Tám Bổn Tôn Mahakala của truyền thống Ngor; việc tụng đọc Bodhicaryavatara (Bồ Tát Hạnh). Lekpa Rinpoche rất được ngưỡng mộ ở Ngor và khi tới lúc trở về Kham thì các Dharmapala (Hộ Pháp) làm cho ngài bị thương ở đầu gối khiến ngài không thể trở về.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi viếng thăm pho tượng Jowo ở Lhasa lần đầu tiên, Rinpoche trở về nhà tới tu viện Tharlam ở Kham và nhập thất Hevajra trong tám tháng. Sau đó, năm hai mươi mốt tuổi, ngài đi gặp Jamyang Khyentse Wangpo. Trên đường ngài viếng thăm Drolma Lhakang (chùa của những công chúa, con của các vị Vua Tây Tạng). Ở đó, ngài cúng dường đèn bơ thật thịnh soạn. Dùng tất cả tiền của mình, ngài cầu xin chư vị gia hộ cho ngài trong việc nghiên cứu và thành tựu giác ngộ. Lekpa Rinpoche không thể sắp xếp để được gặp Khyentse Rinpoche nhưng đã tham dự năm nhập môn do vị Thầy này ban cho và ngay lập tức bị ném ra ngoài tất cả năm lần. Với lòng sùng mộ Guru hoàn hảo, ngài coi những hành động của vị Thầy đều là những hành động giác ngộ và vượt lên những trói buộc của sự nhiễm ô sinh tử. Lekpa Rinpoche không giận dữ mà coi việc này như một sự tịnh hóa cần thiết cho nghiệp tiêu cực của ngài. Lekpa Rinpoche rất nhẫn nại và cuối cùng ngài đã nhận nhiều giáo lý từ Dzongsar Khenpo Yontan Dondrup; nhận Madhyamika (Trung Đạo) từ Minyak Khenpo Norbu Tenzin. Từ Tsering Tashi, thư ký của Khyentse Rinpoche, ngài nhận những giáo lý về văn phạm, thi ca v.v.. Ba vị Khenpo này nói với Khyentse Rinpoche về Lekpa Ngawang và sau đó khi Jamgong Kongtrul tới thỉnh cầu nhiều giáo lý thì Lekpa Rinpoche được phép tham dự - Khyentse Rinpoche ở trong ẩn thất từ năm 40 tới 73 tuổi. Lekpa Rinpoche cũng nhận 95 nhập môn và giáo huấn từ Kongtrul Rinpoche.</p>
<p style="text-align: justify;">Với mục đích ban Lamdre (3), Ngor Khenpo Rinchen Dorje viếng thăm Tu viện Gigu cùng 173 vị sư. Lekpa Rinpoche giảng dạy ‘Mangtri’ và nhận Lamdre một lần nữa. Tại Tu viện Tharlam, ngài nhập thất ‘Yung Nas của Đức Avalokiteshvara (Quán Thế Âm) trong hai trăm ngày liên tiếp không gián đoạn. Trong một ít năm, do sự đòi hỏi của nhiều thỉnh cầu ‘shapten’ và những giáo lý nên việc nhập thất không thể tổ chức được. Trong thời gian này thân phụ ngài và nhiều Lạt ma gốc qua đời. Sau sự kiện này ngài ước muốn nhập thất Guruyoga Sakya Pandita Kunga Gyaltsen và đi tới chỗ ở của Khyentse Rinpoche, nhận được những giáo huấn. Lekpa Rinpoche có một giấc mơ trong đó Lama Nyika Dorje Chang mặc y màu đen ngồi giữa một mạn đà la, vây quanh là mười guru cũng mặc y đen. Nghe được điều này, để bảo vệ cho cuộc nhập thất không bị những chướng ngại, ngài Nyika Dorje Chang đã ban cho Rinpoche nhập môn Panjarnatha Mahakala.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi thân phụ ngài mất, Lekpa Rinpoche thực hiện một khóa nhập thất dài hạn từ năm 37 tới 52 tuổi, tập trung vào giáo lý “Con Đường và Quả”. Suốt thời gian này, cửa thất được đóng kín, chỉ chừa một lỗ nhỏ để đưa thực phẩm vào. Ngồi trong hộp thiền định, ngài nguyện không bao giờ nằm. Như một chuẩn bị cho các thiền định về “Con Đường và Quả”, Lekpa Rinpoche quyết định rằng trước hết ngài cần phát triển trí tuệ thích đáng. Để làm được điều này, ngài tụng 2.400.000 lời nguyện Quy y, lễ lạy Đạo sư vĩ đại Sakya Pandita (1182-1252) - hiện thân của Đức Phật Văn Thù – và tụng bài nguyện bốn dòng của Sakya Pandita 4.100.000 lần.</p>
<p style="text-align: justify;"> “Với đôi mắt mở lớn tri giác mọi sự,<br />
Và thành tựu một cách bi mẫn điều tốt lành của tất cả chúng sinh;<br />
Có năng lực để thực hiện những công hạnh không thể nghĩ bàn.<br />
Guru Manjunatha, con đảnh lễ dưới chân Ngài.”</p>
<p style="text-align: justify;"> Trong thất, ngài cũng tụng 1.800.000 thần chú Vajrasattva (Kim Cương Tát Đỏa) và chữa khỏi những vấn đề tiêu hóa trong khóa nhập thất. Đối với pháp Guru Yoga, một lần nữa với Sakya Pandita như một suối nguồn của sự sùng mộ, ngài đã tụng 2.500.000 lời nguyện guru yoga, cúng dường mạn đà la 1.000.000 lần. Đối với Mahakala, ngài tụng 10.000.000 thần chú ngắn và 2.200.000 thần chú dài. Đối với Đức Tara Xanh, ngài tụng 10.000.000 thần chú. Ngài cũng tụng 100.000.000 thần chú của Đức Avalokiteshvara. Ngài bỏ cả năm để thiền định về sự vô thường. Thêm vào đó, ngài cúng dường 700.000 chén nước và 1.500.000 ngọn đèn. Suốt thời gian nhập thất, ngài không cắt tóc.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong khóa nhập thất có nhiều giấc mộng và dấu hiệu tốt lành. Từ Lạt ma Nyika ngài mơ thấy được ban cho một tượng Đức Văn Thù bằng vàng, tượng trưng cho sự thấu suốt của ngài về Lamdre và tất cả những giáo lý của dòng Sakya, và được ban cho mực Tàu để biên soạn nhiều luận giảng. Từ Ngawang Shedrup Gyatso ngài được ban hột đầu tiên của một xâu chuỗi và một con mắt là biểu tượng của việc ngài là đệ tử xuất sắc. Một hôm, khi uống bảy viên thuốc Văn Thù, ngài mơ thấy được ban một hoa sen làm bằng ‘tsampa’ màu vàng, thần chú Văn Thù được viết trên khắp hoa sen. Sau khi ăn hoa sen này thì toàn thân ngài phủ đầy thần chú Văn Thù. Một lần khác, khi đang lễ lạy Sakya Pandita, từ miệng của vị Thầy này trên bức tranh ánh sáng tỏa ra tràn ngập gian phòng. Sau sự kiện này ngài cầu nguyện thật mãnh liệt và thấy những ngón tay trong bức tranh chuyển động. Sau này ngài không chỉ nhìn thấy những ngón tay chuyển động mà còn thấy bức hình trong tranh mỉm cười, đủ để ngài nhìn thấy những chiếc răng của Sakya Pandita. Những sự kiện này xảy ra tổng cộng ba lần. Một đêm, Lekpa Rinpoche mơ thấy Lama Namza Ritrupa. Vị Lạt ma vĩ đại được cho là hiện thân của Virupa (4) và đã tụng tổng cộng 26.000.000 thần chú dài của Hevajra. Trong giấc mơ, Lekpa Rinpoche đi tới nhà của vị Thầy này và gặp ngài ở cửa. Ritrupa mời Lekpa Rinpoche vào, mời Rinpoche ngự trên một chiếc ngai cao và cúng dường đủ thứ cho Rinpoche. Sau giấc mơ này, trong đời sống hàng ngày, Lekpa Rinpoche luôn luôn có tất cả những gì ngài cần. Giấc mơ này xảy ra trong lễ cúng dường mạn đà la. Rinpoche cũng mơ thấy mình cúng dường cho một bức tranh tường của Virupa tại Ngor Ewam; Ngài Virupa biến thành người thực và bảo ngài: “Pháp của ta sẽ không tồn tại lâu ở Tây Tạng.” Ngài cũng có nhiều giấc mơ về Năm Đạo sư Siêu việt và về Đức Jamyang Khyentse Wangpo. Lekpa Rinpoche cũng có thể quán tưởng rõ ràng tất cả 157 Bổn Tôn của mạn đà la thân bên trong của Hevajra, và tất cả những vị Thầy nói rằng hầu như không ai có thể quán tưởng điều đó hết sức rõ ràng như thế.</p>
<p style="text-align: justify;">Khóa nhập thất kết thúc sau mười lăm năm. Lekpa Rinpoche ra khỏi thất. Tóc ngài phủ tới ngực và móng tay mọc rất dài. Bởi quá nhiều năm thiếu ánh nắng mặt trời, nước da ngài ngả sang màu xanh. Tuy nhiên, sự chứng ngộ cao vút của ngài bắt đầu hấp dẫn nhiều đệ tử và ngài được thừa nhận là một Đạo sư Phật Giáo có những chứng ngộ vô song. Lekpa Rinpoche sử dụng phần đời còn lại của mình để giảng dạy nhiều đệ tử và tham gia nhiều họat động làm lợi lạc vô số chúng sinh. Ngài trông nom việc xây dựng các đền chùa, stupa (tháp), các pho tượng và là Đạo sư của nhiều đệ tử mà sau này họ trở thành những Đạo sư vĩ đại. Vào lúc này Dezhung Rinpoche lên mười tuổi. Lekpa Rinpoche ban Drup Thab Kuntus và một năm sau ban Lamdre Lobshe. Sau đó ngài du hành tới Tu viện Dezhung, ban Lamdre và trải qua vài năm ở đó. Khi trở về Tharlam ngài bắt đầu dùng tất cả tiền bạc được cúng dường cho việc tái thiết Tu viện Tharlam. Ngài xây dựng một pho tượng Đức Phật bằng vàng cao ba tầng, bên phải là Đức Sakya Pandita và bên trái là Ngorchen Kunga Zangpo, cả hai đều bằng vàng và cao hai tầng. Ngài ban Lamdre Lopshe tất cả chín lần, bốn lần trong số đó được ban liên tục trong hai mươi ngày tại Tu viện Dezhung. Jamyang Khyetse Chokyi Lodro đã thọ nhận và hộ trì dòng Lamdre của Lekpa Rinpoche cùng với nhiều Lạt ma vĩ đại khác như Dezhung Ajam, Dezhung Lungrig Nyima và Phende Shabdrung Rinpoche. Lekpa Rinpoche đã ban nhập môn và những giáo lý viên mãn Naro Kachodma hai mươi hai lần, nhập môn và những giáo lý viên mãn Mahakala ‘Drag Dzong’ mười lần, Chín Bổn Tôn Vajrabhairava của Truyền thống Rwa và những giáo lý của Rwa Tse Sems tám lần, Mười Ba Bổn Tôn Bhairava của truyền thống Tsar ba lần, Tara Trắng Cintacakra tám lần và ‘Drup Thab Kuntus’ một lần. Những giáo lý này được ban dạy hết sức cặn kẽ trong những cơ hội tốt lành.</p>
<p style="text-align: justify;">Lekpa Rinpoche cũng cảm thấy có một mối liên hệ sâu xa với Đức Avalokiteshvara. Thậm chí có lần ngài bật khóc khi đọc “Mani Kabum”, một bản văn về Đức Avalokiteshvara. Mỗi ngày ngài tụng ít nhất 5000 ‘mani’ (Thần chú Sáu Âm) “OM MANI PADME HUM” của Đức Avalokiteshvara. Ngài thường tụng chậm rãi nhưng phát âm hết sức rõ ràng. Các đệ tử của ngài đã lập nguyện tụng 5.000 Thần chú Sáu Âm mỗi ngày trong đời họ. Ngài ban cho mỗi người trong số đệ tử này một viên thuốc ‘mani’ đặc biệt. Mãi cho tới ngày Dezhung Rinpoche viên tịch - vị Thầy này cũng đã hứa nguyện – Dezhung Rinpoche vẫn tiếp tục tụng 5.000 ‘mani’ mỗi ngày.</p>
<p style="text-align: justify;"> Trong lịch sử, năm Lạt ma vĩ đại nhất mang lại sự hứng khởi cho Lekpa Rinpoche là Sakya Pandita, Ngorchen Kunga Zangpo, Rabjam Kunga Yeshe, Gyalse Thogmed và Milarepa. Bản văn ngài ưa thích nhất là Bodhicaryavatara (Bồ Tát Hạnh).</p>
<p style="text-align: justify;">Vào một lúc nào đó trong đời, Lekpa Rinpoche muốn lại tái sinh làm một tu sĩ Sakya để giúp cho truyền thống Sakya nở rộ trong xứ Tây Tạng. Tuy nhiên, bằng sự thấu thị, ngài thấy rằng trong thời gian không lâu Tây Tạng sẽ bị xâm chiếm và các tu viện Sakya sẽ bị phá hủy. Thấy rằng việc trở lại như một tu sĩ Sakya không có lợi lạc, Lekpa Rinpoche quyết định đi tới cõi Sukhavati, cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà. Lekpa Rinpoche đã dạy các đệ tử rằng muốn tái sinh vào cõi Tịnh Độ của Đức A Di Đà thì phải hội đủ bốn điều kiện. Trước tiên, phải có Bồ Đề tâm, động lực muốn thành Phật để giải thoát tất cả chúng sinh khỏi nỗi khổ của họ. Thứ hai, cần phải dấn mình vào việc tích tập công đức và trí tuệ. Thứ ba, phải thường xuyên ghi khắc trong tâm hình ảnh của Đức Phật A Di Đà và cõi Tịnh Độ của Ngài. Cuối cùng, cần phải liên tục cầu nguyện được tái sinh vào cõi Tịnh Độ.</p>
<p style="text-align: justify;">Buổi sáng ngày Lekpa Rinpoche thị tịch, trước hết ngài tụng những lời cầu nguyện như thường lệ và những thực hành thiền định. Lekpa Rinpoche có nhiều viên thuốc của Khyentse Rinpoche, Kongtrul, v.v.. và của Guru Rinpoche, Đức Manjushri (Văn Thù) v.v.. Ngài trộn chung tất cả những viên thuốc này vào một chiếc bình và cầu nguyện được tái sinh trong Cõi Phật Sukhavati và thị tịch nhanh chóng. Ngài biểu lộ vẻ đau bệnh trầm trọng và di chuyển tới phòng của Dezhung Rinpoche ngay bên ngoài tu viện. Vào thời điểm đó Dezhung Rinpoche không có ở nhà. Một bức hình Đức Phật A Di Đà được đặt trước mặt ngài. Lekpa Rinpoche dùng vài viên thuốc ban phước và chăm chú nhìn bức họa Đức Phật A Di Đà và cõi Cực Lạc. Ngài bảo những người ở xung quanh rằng ngài sắp thị tịch. Ngài bảo mọi người ra ngoài, ngoại trừ Khenpo Ngawang Rinchen. Nghĩ rằng ngài sắp mất, Ngawang Rinchen bắt đầu khóc, nhưng Lekpa Rinpoche bảo ông là không cần phải khóc, bởi ngài sắp tái sinh trong Cõi Cực Lạc, chứ không vào cõi địa ngục “là nơi có lý do để khóc.”</p>
<p style="text-align: justify;">Ngài tụng lời nguyện được tái sinh vào cõi Tịnh Độ. Ngồi thẳng lưng, Lekpa Rinpoche tụng một chuỗi OM MANI PADME HUM trước khi ngừng lại và đi vào thiền định. Thân ngài giật ba lần, và người ta nghe thấy một âm thanh ‘hic’ yếu ớt. Lekpa Rinpoche đã thị tịch, hoàn toàn tự chủ trong trạng thái thiền định. Việc thị tịch của ngài là một lời giảng dạy rằng với thực hành tâm linh, ta cũng có thể hoàn toàn làm chủ và kiểm soát được cái chết, và sẽ có thể ra đi một cách bình an, thoải mái, và làm chủ được sự tái sinh kế tiếp của ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Thân ngài được giữ gìn trong ba ngày theo phong tục Phật Giáo, và sau đó được trà tỳ. Những nghi lễ lửa của nhiều Bổn Tôn khác nhau được cử hành và một stupa được xây dựng để thờ tro cốt của ngài. Những vật dụng còn lại của ngài được ban tặng cho các tu sĩ của nhiều tu viện. Nhiều món trong số những vật phẩm tôn giáo cá nhân của ngài được để lại cho Dezhung Rinpoche Lungrig Nyima, là đệ tử đã sống cạnh Lekpa Rinpoche từ khi lên mười cho tới ba mươi tuổi.</p>
<p style="text-align: justify;">Lekpa Rinpoche cũng để lại một lá thư cho Dezhung Rinpoche, người kế nhiệm và đệ tử thân thiết nhất của ngài. Trong lá thư này, ngài bảo Dezhung Rinpoche làm điều thiện, tránh làm điều ác, và tụng thần chú OM MANI PADME HUM của Đức Avalokiteshvara.</p>
<p style="text-align: justify;">Lekpa Rinpoche là một trong những Đạo sư vĩ đại nhất mà Phật Giáo từng sản sinh được. Cuộc đời của ngài là một nguồn cảm hứng cho tất cả chúng ta, và chỉ cho ta thấy rằng chúng ta chắc chắn đạt được giác ngộ và sự thành tựu tâm linh viên mãn với điều kiện là ta quyết chí đặt mọi nỗ lực cần thiết vào việc tu hành./.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><em><br />
Chú thích:</em></p>
<p style="text-align: justify;">- (1) Tu viện Tharlam: Lúc ban đầu tu viện Tharlam được xây dựng ở miền Đông Tây Tạng vào năm 1436 và bị phá hủy năm 1959. Dezhung Rinpoche đã xây dựng lại tu viện 500 tuổi này tại một địa điểm mới tại Kathmandu, Nepal.</p>
<p style="text-align: justify;">- (2) Ngor Ewam: Tu viện chính của Phái Ngor ở Tỉnh Tsang, Tây Tạng. Hiện nay Ngor Ewam thứ hai được thiết lập ở Manduwala, U.P. Ấn Độ.</p>
<p style="text-align: justify;">- (3) Lamdre: (Con Đường và Quả) – giáo lý cốt tủy của đại thành tựu giả Virupa giới thiệu một khuôn mẫu để đạt được Giác ngộ dựa trên Hevajra Tantra, giáo lý siêu việt của Phái Sakya.</p>
<p style="text-align: justify;">- (4) Virupa: Pháp Vương của Yoga (TT: nal jor wang chug), một trong 84 đại thành tựu giả kiệt xuất nhất của Ấn Độ. Sống vào thế kỷ thứ 8 tại Ấn Độ, ngài nổi tiếng trong việc giảng dạy những giáo khóa Hevajra Tantra, Vajrayogini và Rakta Yamari.</p>
<p style="text-align: justify;">Thanh Liên biên dịch theo các bài:<br />
- “Ngawang Lekpa Rinpoche - Biography (1864 - 1941)”<br />
http://mypage.direct.ca/w/wattj/jw/lekpa-1.htm<br />
- “Gaton Ngawang Lekpa Rinpoche”<br />
http://www.thekchencholing.org/index.php?option=com_content&#038;task=view&#038;id=69&#038;Itemid=49</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://kimcuongthua.org/truyen-thua-nyingema/tieu-su-duc-gaton-ngawang-lekpa-rinpoche/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
