Hiểu Những Nền Tảng Cơ Bản Của Phật Giáo Tây Tạng – Về Kim Cương Thừa, Chân Ngôn Thừa

1. Thưa ngài Rinpoche, như thế nào là Kim Cương Thừa hay Phật Giáo Tây Tạng?

Kim Cương Thừa hay Chân Ngôn Thừa, cách gọi khác là Mật Thừa là một nhánh của Phật Giáo Đại Thừa, được biết tới bởi sự sử dụng những phương pháp thiện xảo của Mật Giáo để theo đuổi con đường đi tới giác ngộ.

Kim Cương Thừa khởi thủy phát triển từ miền Tây Bắc của Ấn Độ vào khoảng 500 năm sau Công Nguyên. Tuy nhiên, sau đó được truyền sang và trải qua quá trình thanh lọc vĩ đại tại Tây Tạng. Đó là lí do tại sao chúng ta vẫn nhắc tới Kim Cương Thừa như là Phật Giáo Tây Tạng.

Phật Giáo hay Đạo Phật bắt đầu truyền tới Tây Tạng vào khoàng thế kỷ thứ Bảy, giai đoạn trị vì của đức vua Songtsen Gampo.Vào thế kỷ thứ Tám thì đạo Phật giữ vai trò ngự trị tại Tây Tạng, lúc đó là thời kỳ của đức vua Trisong Detsen. Hai bậc thượng sư Liên Hoa Sinh và Tịch Hộ đã giúp đức vua kiến lập ra “Pháp” ( Tức là giáo pháp của đức Phật) tại Tây Tạng, và các ngài cũng dịch nhiều bài giảng giáo lý sang ngôn ngữ Tây Tạng.

Sau đó, nhiều dòng truyền thừa khác của Đạo Phật cũng được truyền tới Tây Tạng qua nhiều thế kỷ và dần dần phát triển thành Tám phái hay dòng, bởi sự chuyển giao từ người Thầy tới những đệ tử của mình: Tám dòng thực hành chính được coi là “Tám cỗ xe vĩ đại” hay “Tám dòng tu”. Sau đó, qua vài thế kỷ, Phật Giáo tại Tây Tạng chuyển thành bốn phái hay dòng chính, được gọi là “Bốn tông phái chính của Phật Giáo Tây Tạng”.

Phật Giáo Đại Thừa (Mahayana) có hai con đường thực hành chính: Sutrayana (Kinh Thừa)-lấy sự hoàn thiện các phẩm tánh tốt làm phương pháp và Vajrayana( Kim Cương Thừa)- lấy Phật Quả có chủ định là con đường.

Kim Cương Thừa được nhận định như là Thừa (hay là cỗ xe) thứ ba song song bên cạnh 2 Thừa Theravada (Thượng Tọa Bộ, Tiểu Thừa) và Mahayana (Đại Thừa). Cũng theo cách nhìn nhận đó thì có ba lần chuyển bánh xe pháp luân. Trong lần chuyển pháp luân đầu tiên, Đức Phật Thích Ca Mầu Ni đã truyền dạy về “Tứ Diệu Đế”( Bốn Chân lý màu nhiệm) tại Varnasi ( được biết đến với tên khác là Benares, một thành phố bên bờ Tây sông Hằng ở Uttar Pradesh, Ấn Độ), nhằm hướng tới tông phái Tiểu Thừa hay Cỗ xe nhỏ, trong đó chỉ còn trường phái Theravada (Thượng Tọa Bộ, Nam Tông) lưu truyền đến ngày nay.Trong lần chuyển pháp luân thứ hai, đức Phật truyền dạy “Kinh Bát Nhã” tại đỉnh núi Linh Thứu Sơn, hướng người tu hành tới Đại Thừa. Sự giảng về việc chuyển pháp luân thứ ba được diễn ra tại Shravasti và Ngài cũng dẫn giải chi tiết về việc mọi chúng sinh đều có tự nhiên tồn tại Phật Tánh. Lần chuyển pháp luân thứ ba này được định rõ là việc hướng tới Kim Cương Thừa.

2. Thưa ngài Rinpoche, tại sao người ta nói Kim Cương Thừa chính là sự truyền dạy tối cao của đức Phật? Không phải mọi sự truyền giảng của Đức Phật đều giống nhau sao?

Nhìn nhận từ cảnh giới cao quý của sự truyền dạy của Đức Phật, chúng ta không thể nhận giáo huấn qua ai khác, mà phải xem những điều Phật dạy là hơn hết thảy những điều còn lại. Mọi điều ngài truyền thụ đều phải được trân quý ngang bằng nhau, bởi đó đều là những lời giảng dạy của Đức Phật.

Nhưng chính Đức Phật cũng tạo nên những điều khác biệt khi ngài thuyết giảng về các cấp độ, bởi có rất nhiều cấp độ khác nhau.Ví dụ như khi Đức Phật dạy về các mức độ của chân lý tương đối, có thể được coi là các mức độ mang tính tương đối. Tại Tây Tạng, điều này được hiểu là “drang don” hay là ý nghĩa tượng trưng.

Khi Đức Phật giảng dạy về “ Thiền định” và “ Tính không”, những điều này đều chủ đích nhằm vào bản chất cốt yếu bên trong. Như những phạm trù được gọi là “ngedon”. “Ngedon” là nghĩa chính xác, nghĩa tuyệt đối.Và những nghĩa tuyệt đối này được sử dụng cho những bài thuyết giảng cơ bản cốt yếu.Theo Đức Phật thì những bài thuyết giảng chủ yếu này ở cấp cao hơn và vô cùng cao quý. Chúng ta không thể sử dụng những ngôn từ có tính chất tương đối sử dụng cho những điều cơ bản. Những lời tuyệt đối có tính không thể thay đổi được. Bởi vậy nên có hai phạm trù, “ drangdon” là cấp độ tương đối và “nghedon” là cấp độ tuyệt đối.

Kim cương thừa còn được gọi là Quả thừa hay Thừa Quả. Con đường của Thượng Tọa Bộ và Đại Thừa thì còn được gọi là Nhân Thừa, bởi vì về cơ bản phương pháp thực hành dựa trên hạt giống (nhân) để đạt được quả hay sự giác ngộ. Lấy ví dụ như một người cần phải thực hành dựa trên căn nghiệp và quả, gom góp vô lượng công đức và tịnh hóa nghiệp chướng. Và dần dần, người đó có thể tịnh thức được những giá trị tự nhiên trong tâm hồn mình và cuối cùng đạt tới giác ngộ.

Tại sao Vajayana lại được gọi là Thừa Quả? Quả là một thể của giác ngộ như Đức Phật, Dorje Sempa và nhiều Đấng Bản Tôn khác. Trong “tính Không”, chúng ta chuyển đổi thân, khẩu, ý của chúng ta trở thành thân Kim Cương, khẩu Kim Cương và ý Kim Cương. Theo cách đó, đường đi của chúng ta là thực hành dựa trên thành quả giác ngộ của Đức Phật tối thượng ngay tại đây, ngay tại khoảnh khắc này, và đạt được quả. Chính bởi vậy, sự truyền dạy của Đức Phật được xem là tuyệt đối và cao quý.

Không chỉ vậy, trong Kim Cương Thừa còn có nhiều phương pháp khác được truyền dạy bởi Đức Phật như bằng cách nào gom góp công đức, làm thế nào để dễ dàng thanh tẩy hay tịnh hóa được các nghiệp chướng, làm thế nào để vượt qua các chướng ngại, vv…Một số các phương pháp không được truyền dạy hay nhắc tới trong Thượng Tọa Bộ và nhiều bài thuyết giảng khác.

Đặc biệt khi có thể soi thấu bản chất tự nhiên của tâm, thì Kim Cương Thừa sẽ rất chuẩn xác và linh diệu. Với giáo pháp Dzogchen (Đại Toàn Thiện), Mahamudra (Đại Thủ Ấn), Kalachakra ( Bánh xe thời gian) và ở nhiều dòng trong Mật giáo khác, một người khi đã tìm thấy sự hướng dẫn thì sẽ chỉ ra đích xác được bản chất tự nhiên của tâm mình.

Đó là tại sao, dù cho nói một cách khắt khe, thì Phật Giáo Kim Cương Thừa vẫn là một cấp độ cao, Kim Cương Thừa thích hợp với những người có khả năng thực hành một cách đúng đắn, bởi Kim Cương Thừa mang tính chất chuẩn xác và rõ ràng. Kim Cương Thừa dành cho những ai đã thực sự sẵn sàng, và cũng dành cho những người đã tích góp công đức để bước vào tu tập.

Rất nhiều các bậc Thành Tựu Giả vĩ đại đã đạt tới giác ngộ trong cuộc đời đáng tôn quý của họ tại Ấn Độ, Tây Tạng hay ở những nơi khác thông qua con đường Kim Cương Thừa. Đó chính là sự khác biệt.

3. Thưa ngài Rinpoche, tại sao trong Kim Cương Thừa lại có rất nhiều nghi lễ, lễ cúng dường và đại lễ cầu nguyện vậy?

Phật Giáo Kim Cương Thừa được tạo nên trên nền tảng là sự biến đổi của mọi sự tồn tại bất định. Cách mà Kim Cương Thừa hiểu về thực thể và sự tồn tại là điểm khác biệt giữa Kim Cương Thừa với Đại Thừa và Tiểu Thừa.

Trong Kim Cương Thừa, mọi hiện tượng đều được vãng sanh vào nơi mà người ta gọi là cõi Tịnh Độ hay cảnh giới Phật. Điều đó nói lên rằng, toàn cõi vũ trụ chính là Mạn đà la của đức Bổn tôn; hình dạng của con người, thân người là hình dạng của đức Bổn Tôn; khẩu là thanh âm thần chú; Ý là Pháp thân của đức Bổn Tôn, là tự tính chân thật của đức Bổn Tôn, là Pháp Giới (cõi của Chân lý tuyệt đối). Những điểm trên đã được giới thiệu và truyền thụ qua phương pháp thực hành của Kim Cương Thừa. Lễ nghi, về cơ bản, là sự mô phỏng lại những hiện tượng xung quanh chúng ta như môi trường sống, thân người của chúng ta, thân ngũ uẩn của ta, âm thanh và tinh thần được chuyển đổi thành thể của các vị Bổn Tôn thông qua sự quán tưởng. Điều này được định ra trong hầu hết các nghi quỹ thực hành.

Trong suốt quá trình thực hành, thông qua nghi lễ, trì tụng và âm nhạc sẽ tạo thành vật phẩm cúng dường thiêng liêng cho Mạn Đà La. Trên thực tế, chúng ta thấy các lễ nghi luôn có mặt trong truyền thống Phật Giáo. Dù vậy, sự thực, trong Kim Cương Thừa, các nghi lễ thường diễn ra lâu hơn.

Tuy nhiên, các nghi lễ đó không phải là các nghi lễ bình phàm. Bề ngoài thì cách mà các nghi lễ của Kim Cương thừa khi biểu diễn, có vẻ như không khác so với các nghi lễ khác. Song, khi hiểu thấu thì con sẽ thấy nó hoàn toàn về Thiền định và Tịnh thức. Nó không phải là những nghi lễ đơn thuần chỉ có đọc tụng kinh và cầu nguyện. Nó chất chứa những ý nghĩa sâu xa hơn và bản chất cốt lõi của nó là sự chuyển hóa. Chúng ta thậm chí còn không sử dụng được từ “chuyển hóa” khi chúng ta nhắc tới Thân Kim Cương, Khẩu Kim Cương và Ý Kim Cương. Nó là sự kế thừa lại những nhận thức nguyên sơ: Nguyên thủy là như thế nào thì nó là như thế. Vậy đó là vì sao đó lại là các nghi lễ. Nhưng chúng ta cũng cần thông hiểu những nghi lễ mang ý nghĩa gì và họ đang mô tả những gì.

Và thực sự, đúng như con nói, ở Kim Cương Thừa có nhiều nghi lễ hơn các dòng khác.

4. Thưa ngài Rinpoche, Có thể nào trở thành một hành giả Kim Cương Thừa nhưng lại không muốn tham dự vào những nghi lễ này?

Có thể. Con không nhất thiết phải sử dụng âm nhạc và mọi nhạc khí để tiến hành các buổi lễ, như các nghi lễ.

Con có thể trở thành một hành giả theo một cách đơn giản. Bởi thực ra, Kim Cương Thừa có rất nhiều dạng thực hành.Một trong các cách là hãy nhìn sâu vào bản chất chân thực của Tâm và thiền định về nó. Và khi con thấu hiểu sự cốt lõi sâu bên trong, con có thể trở thành một trong những hành giả Mật Tông hàng đầu. Để đạt tới ngưỡng cảnh đó thì một vài người phải có các pháp tu (theo) Bổn Tôn – gọi là “ giai đoạn phát triển” và “giai đoạn hoàn thiện”.

“Giai đoạn phát triển” mang ý nghĩa là sự quán tưởng về chư Bản Tôn. “Giai đoạn hoàn thiện” là nghĩa là sự thiện định về tự tính chân thật của tâm. Sự kết hợp “giai đoạn phát triển” và “giai đoạn hoàn thiện” gọi là 2 con đường của Kim Cương Thừa

Tất nhiên, con cũng cần thực hành những cấp độ đầu tiên như phép tu mở đầu Ngondro, được hiểu là bốn pháp tu căn bản. Phương pháp tu tập tịnh hóa nghiệp chướng là vô cùng cốt yếu bởi qua vô số kiếp, chúng ta đã tích lũy vô lượng các nghiệp, và nếu như nghiệp đó không được tịnh hóa thì sẽ gây ra chướng ngại cho sự phát triển con đường của chúng ta.

Con mặc dầu có thể có ít “giai đoạn hoàn thiện” nhưng có nhiều sự thiền định hơn, và cũng có nhiều nghi lễ con không phải thực hành. Milarepa là bậc hành giả yogi không thực hành hết các nghi lễ song Ngài vẫn đạt tới giác ngộ. Không chỉ ngài Milarepa, mà nhiều bậc Thành Tựu Giả khác cũng tìm tới nơi hang động để thiền định. Họ cũng không cần tới mọi những nghi thức này.

Vậy tại sao mọi nghi lễ đều được tiến hành? Có hai dạng thực hành, một là tại các tu viện với sự tập họp đông đảo, tạo nên sức mạnh lớn và có những phương thức trình diễn phức tạp, yếu tố mà phần lớn các nghi lễ yêu cầu. Nghi lễ trở thành phương pháp thực thành chung của tu viện. Ví dụ như phương pháp tu trì Chakra Sambara, chỉ một cá nhân tu tập cách ly với hết thảy trong một hang động, đó là theo phong cách hành giả Mật Tông đơn giản. Hoặc nếu tiến hành trong tu viện theo phần lớn các nghi lễ, chư tăng ni quần tụ trong cùng một buổi lễ, tụng kinh và tạo ra một Mạn Đà La lớn bằng cát. Không chỉ đơn giản như vậy mà là tạo ra một Mạn Đà La thông qua quán tưởng. Đó cũng là cách nghi lễ trở thành một vật phẩm cúng dường vĩ đại, là thời khắc của sự hòa hợp, là khi sự thực hành chung được tiến hành cùng nhau.

Do đó, có hai phương pháp thực hành truyền thống: Một là phương pháp tu tập mang tính chất theo tu viện với việc thực hiện các lễ cúng dường lớn thông qua các nghi lễ, và tu tập cá nhân trong hang động hay trong môi trường cô lập. Và con cũng nên nhận lấy một bổn tôn như là bổn tôn hộ pháp (có bản chất tương ứng với tâm lý trong mỗi hành giả) và thực hành theo Bổn tôn đó, mà con sẽ thiền định được bản chất thực sự của tâm. Đó là điều tốt nhất.

5. Thưa ngài Rinpoche, vậy điều gì là bản chất của Kim Cương Thừa?

Bản chất của Kim Cương Thừa chính là điều mà ta đã vừa đề cập tới: Thân ngũ uẩn, Thân Khẩu Ý của chúng ta phải được hoàn thiện chín muồi thông qua việc tu tập, trở thành Thân của Đức Phật, Khẩu của Đức Phật, Tâm của Đức Phật. Điều này đã được nói tới trong phương pháp tu “giai đoạn phát triển”, được bắt đầu bởi sự truyền Quán Đảnh từ một bậc thầy - người đã đạt tới trình độ giác ngộ không gián đoạn từ các dòng truyền thừa và qua quá trình tu tập.

Một trong những căn bản của phương pháp tu tập theo Kim Cương Thừa, đó là chúng ta nhận ra được bản tính chân thật của Tâm như là Đức Phật Nguyên Thủy, qua việc được vạch ra các sự chỉ dẫn.

Dòng Kagyu dựa vào thuyết giảng về pháp tu Đại Thủ Ấn, được nâng lên bởi pháp thực hành “Sáu Pháp Yoga của Naropa” và “Sáu pháp vị bình đẳng”.

Ở dòng Sakya, việc thấu hiểu bản tính chân thực của tâm thông qua sự truyền dạy được gọi là Lamdre ( Giáo pháp về đạo và quả), con đường và kết quả. Ở dòng Nyingma, thông qua giáo pháp Dzongchen (Giáo Pháp Đại Toàn Thiện), với “katag” ( sự thuần khiêt nguyên sơ) được coi là giáo pháp chính và “thogal” (sự biến đổi chuẩn xác) là phương pháp, họ đã tiến tới tỉnh thức được giai đoạn giác ngộ hoàn toàn của Tâm, được biết đến là Samanthabadra, Rangjung Yeshe (tự tính tồn tại của trí tuệ) or Rigpa (sự tỉnh thức tinh túy). Tất cả đều làphương pháp thực hành của Kim Cương Thừa. Về cơ bản là: Hiểu được mình là ai.

Kyabje Drukpa Choegon

Việt dịch: Nhóm Thuận Duyên

Nguồn: Hiểu Những Nền Tảng Cơ Bản Của Phật Giáo Tây Tạng – Về Kim Cương Thừa, Chân Ngôn Thừa

Comments are closed.